DMCA.com Protection Status

BẢN TIN CẬP NHẬT THỊ TRƯỜNG LAO ĐỘNG VIỆT NAM Số 15, quý 3 năm 2017( ST)   quan tâm

Được đăng bởi: Trần Việt Thao

Cập nhật lúc 09:08 ngày 05/01/2018

BẢN TIN CẬP NHẬT THỊ TRƯỜNG LAO ĐỘNG VIỆT NAM Số 15, quý 3 năm 2017( ST)

( theo nguồn: http://www.molisa.gov.vn/Images/FileAnPham/fileanpham201712261740872.pdf )

PHẦN 1. MỘT SỐ CHỈ TIÊU THỊ TRƯỜNG LAO ĐỘNG

1. Một số chỉ tiêu chủ yếu

Quý 3/2017 kinh tế có nhiều khởi sắc, tăng trưởng GDP đạt 7,5%, là mức kỷ lục sau nhiều năm với các điểm sáng của ngành công nghiệp chế biến chế tạo, ngành thủy sản và dịch vụ đã tác động tích cực tới thị trường lao động; việc làm tăng, đặc biệt trong các ngành công nghiệp và dịch vụ; tỷ lệ thất nghiệp giảm, thu nhập của lao động làm công hưởng lương tăng.

Dân số từ 15 tuổi trở lên và lực lượng lao động Quý 3/2017, dân số từ 15 tuổi trở lên là 72,04 triệu người, tăng 1,42% so với quý 3/2016, nữ tăng 1,36%; khu vực thành thị tăng 1,55%. Quy mô LLLĐ từ 15 tuổi trở lên là 54,88 triệu người, tăng 0,82% so với quý 3/2016; nữ tăng 0,27%; khu vực thành thị tăng 0,84%.

  1.  

Quý 3/2017, tỷ lệ tham gia LLLĐ của dân số từ 15 tuổi trở lên là 76,75%, tăng nhẹ so với quý 2/2017 và cùng kỳ năm trước. Trong số lao động đã qua đào tạo quý 3/2017, nhóm có trình độ sơ cấp nghề và đại học trở lên có sự gia tăng nhanh hơn. LLLĐ từ 15 tuổi trở lên đã qua đào tạo có bằng cấp/chứng chỉ từ 3 tháng trở lên 2 quý 3/2017 là 12,07 triệu, tăng 649 nghìn người (5,68%) so với quý 3/2016. Trong đó, tăng mạnh nhất ở nhóm sơ cấp nghề (18,63%), tiếp đến nhóm đại học và trên đại học (8,91%); giảm ở nhóm trung cấp (-3,74%) và nhóm cao đẳng (-0,28%)

Quý 3/2017, tỷ lệ lao động đã qua đào tạo có bằng cấp/chứng chỉ từ 3 tháng trở lên là 21,99% trong LLLĐ, tăng 1,01 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước. Theo các cấp trình độ, tỷ lệ lao động có trình độ đại học trở lên trong tổng LLLĐ là 9,84%; cao đẳng là 3,28%; trung cấp là 5,15%; và sơ cấp nghề là 3,73%. 3.

3. Việc làm

Số người có việc làm tăng lên so với quý trước và cùng kỳ năm trước, đặc biệt trong ngành công nghiệp chế biến chế tạo, xây dựng và dịch vụ. Tuy nhiên, chuyển dịch cơ cấu lao động theo ngành còn chậm. Quý 3/2017, số người có việc làm là 53,77 triệu, tăng 365,9 nghìn người (0,69%) so với quý 2/2017 và 496,9 nghìn người (0,93%) so với quý 3/2016. Quý 3/2017, tỷ lệ lao động đang làm việc khu vực thành thị chiếm 31,9% và không tăng nhiều so với quý trước và cùng kỳ năm trước. Mặc dù số lượng lao động làm công hưởng lương quý 3/2017 cao hơn quý 2/2017 (22,92 triệu người so với 22,84 triệu người) nhưng tỷ lệ lao động làm công hưởng lương giảm nhẹ từ 42,77% xuống 42, 62%.

Cơ cấu lao động thành thị- nông thôn về cơ bản không thay đổi. Cơ cấu lao động theo ngành có tiến bộ hơn trong năm 2017 nhưng vẫn chậm. Lao động làm việc trong ngành NLTS giảm từ 41,6% quý 3/2016 xuống 40,4% quý 3/2017. Quý 3/2017, cùng với mức tăng trưởng cao của ngành “Công nghiệp chế biến chế tạo” (12,8%) số người có việc làm trong ngành này có mức tăng cao nhất trong tất cả các ngành (tăng 96 nghìn người so với quý trước và 316 nghìn người so với cùng kỳ năm trước). Tiếp đến là các ngành: “Xây dựng” (53 nghìn người và 228 nghìn người); “Vận tải, kho bãi” (37 nghìn người và 101 nghìn người); “Hoạt động kinh doanh bất động sản” (45 nghìn người và 71 nghìn người); “Bán buôn và bán lẻ; sửa chữa ô tô, mô tô, xe máy và xe có động cơ khác” (23 nghìn người và 81 nghìn người). Mặc dù tỷ trọng lao động quý 3/2017 trong ngành NLTS tiếp tục giảm nhưng số lượng lao động làm việc trong ngành này vẫn tăng so với quý trước 101 nghìn người. So với quý trước và cùng kỳ năm trước, một số ngành có số người làm việc giảm nhiều nhất là: “Dịch vụ lưu trú và ăn uống” (giảm tương ứng 41 nghìn người và 93 nghìn người); “Hoạt động làm thuê các công việc trong các hộ gia đình, sản xuất sản phẩm vật chất và dịch vụ tự tiêu dùng của hộ gia đình” (giảm tương ứng 33 nghìn người và 55 nghìn người). Ngành NLTS có số người làm việc tăng 101 nghìn người so với quý trước nhưng vẫn giảm 469 nghìn người so với cùng kỳ năm trước.

….

5.Thất nghiệp và thiếu việc làm

a. Thất nghiệp Thất nghiệp giảm nhẹ về số lượng và tỷ lệ; tỷ lệ thất nghiệp của nhóm trình độ“đại học trở lên”tăng mạnh so với quý 2/2017 Quý 3/2017, cả nước có 1.074,8 nghìn lao động trong độ tuổi thất nghiệp, giảm 6,8 nghìn người so với quý 2/2017 và 42,9 nghìn người so với quý 3/2016. Tỷ lệ thất nghiệp của lao động trong độ tuổi giảm còn 2,21%.

Số người thất nghiệp có trình độ “đại học trở lên” là 237 nghìn người, tăng 53,9 nghìn người so với quý 2/2017; tỷ lệ thất nghiệp của nhóm này là 4,51% (quý trước là 3,63%). Nhóm trình độ “cao đẳng” có 84,8 nghìn người thất nghiệp, tăng 2,2 nghìn người so với quý 2/2017; tỷ lệ thất nghiệp nhóm này giảm nhẹ xuống còn 4,88% nhưng vẫn ở mức cao nhất. Nhóm trình độ “trung cấp” có 95,5 nghìn người thất nghiệp, tăng 2,8 nghìn người, tỷ lệ thất nghiệp là 3,77%

Quý 3/2017 có 610,9 nghìn lao động thanh niên thất nghiệp, tăng 35,8 nghìn so với quý 2/2017, tỷ lệ thất nghiệp tăng nhẹ lên 7,80%. Tỷ lệ thất nghiệp cao nhất là ở vùng đồng bằng sông Cửu Long (2,91%, mặc dù giảm nhẹ so với 2,95% của quý trước); tiếp đến vùng Đông Nam Bộ (2,68%); tỷ lệ thất nghiệp thấp nhất ở vùng Trung du miền núi phía Bắc (0,97%) và Tây Nguyên (1,32%). Số người thất nghiệp dài hạn (12 tháng trở lên) chiếm 27,4% tổng số người thất nghiệp.

b. Thiếu việc làm

Thiếu việc làm của lao động trong độ tuổi giảm nhẹ cả về số lượng và tỷ lệ so với quý 2/2017 Quý 2/2017, cả nước có 742 nghìn lao động trong độ tuổi thiếu việc làm5 , giảm 14 nghìn người so với quý 2/2017 và giảm 32 nghìn người so với quý 3/2016. Tỷ lệ thiếu việc làm của lao động trong độ tuổi là 1,57%, giảm 0,05 điểm phần trăm so với quý 2/2017. Trong tổng số người thiếu việc làm, có 81,1% lao động nông thôn, 74,1% làm việc trong ngành NLTS. Số giờ làm việc bình quân một tuần của lao động thiếu việc làm là 22,7 giờ, bằng 50,1% tổng số giờ làm việc bình quân của lao động cả nước (45,3 giờ/tuần). 5Người thiếu việc làm là người mà trong tuần điều tra có thời gian làm việc dưới 35 giờ, có mong muốn và sẵn sàng làm thêm.

6. Kết nối cung cầu lao động Tổng hợp thông tin về nhu cầu tuyển dụng và nhu cầu tìm việc từ cổng thông tin điện tử việc làm của Bộ LĐ-TBXH trong quý 3/2017 như sau: - Về nhu cầu tuyển dụng lao động: Quý 3/2017 có 164,7 nghìn chỗ làm việc được các doanh nghiệp đăng để tuyển dụng, giảm 89,6 nghìn người (35,2%) so với quý 2/2017. Nhu cầu tuyển dụng lao động nam chiếm 47,4% tổng số, tăng 3,8 điểm % so với quý 2/2017 (43,6%). Nhu cầu tuyển dụng của: các công ty “ngoài nhà nước” là 129,7 nghìn người (chiếm 78,8% trong tổng nhu cầu), giảm 38,1% so với quý 2/2017.

Quý 3/2017, một số công việc có nhu cầu tuyển dụng lớn là: “công việc giản đơn” (chiếm 58,7%, tăng 8,9 điểm % so với quý 2/2017); “dệt, may mặc” (chiếm 18,6%, tăng 1,4 điểm % so với quý 1/2017). - Về nhu cầu tìm việc làm: Số người có nhu cầu tìm việc làm là 41,0 nghìn người, tăng 35,0% so với quý 2/2017. Trong đó, lao động nữ có nhu cầu tìm việc là 18,5 nghìn người (chiếm 45,1%), tăng 4,9 nghìn người (36,0%) so với quý 2/2017. Số lượt người có bằng trung cấp tìm việc nhiều nhất, 12,0 nghìn người (chiếm 29,4%) tăng 3,0 nghìn người so với quý 2/2017; tiếp theo là người có trình độ cao đẳng (chiếm 21,2%) và đại học trở lên (chiếm 18,6%), tăng lần lượt là 2,3 và 2,2 nghìn người so với quý 2/2017. Số người tìm việc không có bằng cấp chiếm 19,0%, tăng 2,6 nghìn người so với quý 2/2017. Nghề “kế toán-kiểm toán” có số lượt người tìm việc nhiều nhất (8,9 nghìn người, chiếm 21,7%), tăng 1,8 nghìn người so với quý 2/2017; tiếp đến là “công việc giản đơn” (4,5 nghìn người, chiếm 10,9%) tăng 2,1 nghìn người so với quý 2/2017 và nghề “nhân sự” (2,7 nghìn người, chiếm 6,5%) tăng 0,8 nghìn người so với quý 2/2017.

PHẦN 2. KẾT QUẢ THỰC HIỆN MỘT SỐ CHÍNH SÁCH THỊ TRƯỜNG LAO ĐỘNG

Giới thiệu việc làm qua các TTDVVL ngành LĐTBXH: Trong quý 3/2017, 63 Trung tâm dịch vụ việc làm (DVVL) do ngành LĐTBXH quản lý (trên tổng số 98 trung tâm DVVL cả nước) đã tổ chức được 314 phiên giao dịch việc làm, tăng 23 phiên so với quý 2/2017 và tăng 03 phiên so với cùng kỳ năm 2016. Số lượt người được tư vấn, giới thiệu việc làm là 753.021 lượt người (tăng 1.021 lượt người so với quý 3/2016 và tăng 23.783 lượt người so với quý 2/2017), trong đó có có 238.774 lượt người nhận được việc làm do Trung tâm giới thiệu và cung ứng (tăng 6.774 lượt người so với quý 3/2016 và tăng 1.874 lượt người so với quý 2/2017). Đưa người lao động đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài theo hợp đồng: Tổng số lao động đi làm việc ở nước ngoài trong quý 3/2017 là 35.247 lao động (38,8% nữ), tập trung chủ yếu ở các thị trường Đài Loan và Nhật Bản, tương ứng là 19.709 lao động (chiếm 55,9%) và, 13.041 lao động (37%). Số doanh nghiệp được cấp phép hoạt động đưa lao động đi làm việc ở nước ngoài đến hết quý 3/2017 là 291 doanh nghiệp, tăng 6 doanh nghiệp so với quý trước. Đến tháng 10/2017, Bộ LĐ-TB&XH đã thu hồi giấy phép của 43 công ty hoạt động đưa người lao động đi làm việc tại nước ngoài do đã vi phạm các quy định trong Luật Người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng….

PHẦN 3. TRIỂN VỌNG THỊ TRƯỜNG LAO ĐỘNG Dự báo tăng trưởng GDP trong quý 4 khoảng 7,5-7,7%, cả năm có thể đạt trên 6,7%6 sẽ tiếp tục tác động tích cực đến thị trường lao động. Xu hướng thành lập mới và quay lại hoạt động của các doanh nghiệp và xuất khẩu tăng do những diễn biến thuận lợi của tình hình kinh tế thế giới và thương mại toàn cầu sẽ có tác động tích cực đến nhu cầu việc làm trong một số ngành. 6 UBGSTCQG (2017), Báo cáo Tình hình kinh tế 10 tháng đầu năm và dự báo đến cuối năm Quý 4/2017, dự báo tổng số việc làm đạt khoảng 53,9 triệu, tăng so với quý 3 ở một số ngành như: công nghiệp chế biến, chế tạo dự báo tăng 139 nghìn; xây dựng tăng 136 nghìn; vận tải kho bãi tăng 61 nghìn; kinh doanh bất động sản 47 nghìn. Một số ngành việc làm dự báo giảm như: khai khoáng; việc làm trong ngành nông nghiệp không biến động nhiều

Bản tin Cập nhật thị trường lao động hằng quý, số 15, quý 3 năm 2017.

Tình hình kinh tế - xã hội VN năm 2017

III. MỘT SỐ VẤN ĐỀ XÃ HỘI

1. Dân số, lao động và việc làm

Dân số trung bình năm 2017 của cả nước ước tính 93,7 triệu người, tăng 987,3 nghìn người, tương đương tăng 1,07% so với năm 2016, bao gồm dân số thành thị 32,9 triệu người, chiếm 35,1%; dân số nông thôn 60,8triệu người, chiếm 64,9%; dân số nam 46,2 triệu người, chiếm 49,3%; dân số nữ 47,5 triệu người, chiếm 50,7%.

Theo kết quả Điều tra biến động dân số và kế hoạch hóa gia đình năm 2017, tổng tỷ suất sinh năm nay ước tính đạt 2,04 con/phụ nữ và ở dưới mức sinh thay thế. Tỷ số giới tính của trẻ em mới sinh là 112,4 bé trai/100 bé gái; tỷ suất sinh thô là 14,71‰; tỷ suất chết thô là 6,84‰. Tỷ suất chết của trẻ em dưới 1 tuổi (số trẻ em dưới 1 tuổi tử vong/1.000 trẻ sinh ra sống) là 14,35‰. Tỷ suất chết của trẻ em dưới 5 tuổi (số trẻ em dưới 5 tuổi tử vong/1.000 trẻ sinh ra sống) là 21,55‰. Tỷ suất chết ở mức thấp thể hiện rõ hiệu quả của chương trình chăm sóc sức khỏe bà mẹ và trẻ em nói riêng và công tác bảo vệ sức khỏe, nâng cao mức sống cho người dân nói chung trong thời gian qua. Tuổi thọ trung bình của dân số cả nước năm 2017 là 73,5 năm, trong đó nam là 70,9năm và nữ là 76,2 năm.

Lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên của cả nước năm 2017 ước tính là 54,8 triệu người, tăng 394,9 nghìn người so với năm 2016, bao gồm: Lao động nam 28,4 triệu người, chiếm 51,9%; lao động nữ 26,4 triệu người, chiếm 48,1%. Xét theo khu vực, lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên khu vực thành thị là 17,6 triệu người, chiếm 32,2%; khu vực nông thôn là 37,2 triệu người, chiếm 67,8%.

Lực lượng lao động trong độ tuổi lao động của cả nước năm 2017 ước tính 48,2 triệu người, tăng 511 nghìn người so với năm trước, trong đó lao động nam 26,1 triệu người, chiếm 54,1%; lao động nữ 22,1 triệu người, chiếm 45,9%. Lực lượng lao động trong độ tuổi lao động khu vực thành thị là 16,1 triệu người, chiếm 33,4%; khu vực nông thôn là 32,1 triệu người, chiếm 66,6%.

Lao động 15 tuổi trở lên đang làm việc trong các ngành kinh tế năm 2017 ước tính 53,7 triệu người, tăng 416,1 nghìn người so với năm 2016. Trong tổng số lao động từ 15 tuổi trở lên đang làm việc năm 2017, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản chiếm 40,3% (Năm 2016 là 41,9%); khu vực công nghiệp và xây dựng chiếm 25,7% (Năm 2016 là 24,7%); khu vực dịch vụ chiếm 34,0% (Năm 2016 là 33,4%). Lao động từ 15 tuổi trở lên đang làm việc năm 2017 khu vực thành thị chiếm 31,9% (Năm 2016 là 31,7%); khu vực nông thôn chiếm 68,1% (Năm 2016 là 68,3%). Tỷ lệ lao động trong độ tuổi đã qua đào tạo năm 2017 ước tính đạt 21,5%, cao hơn mức 20,6% của năm trước.

Số người có việc làm trong quý I năm nay ước tính là 53,4 triệu người, tăng 74,7 nghìn người so với cùng kỳ năm trước; quý II là 53,4 triệu người, tăng 164,3 nghìn người; quý III là 53,8 triệu người, tăng 496,9 nghìn người; quý IV là 54,1 triệu người, tăng 671,8 nghìn người.

Tỷ lệ thất nghiệp của lao động trong độ tuổi năm 2017 là 2,24% (Năm 2016 là 2,30%; năm 2015 là 2,33%), trong đó khu vực thành thị là 3,18% (Năm 2016 là 3,23%; năm 2015 là 3,37%); khu vực nông thôn là 1,78% (Năm 2016là 1,84%; năm 2015 là 1,82%). Tỷ lệ thất nghiệp của thanh niên (Từ 15-24 tuổi) năm 2017 là 7,51%, trong đó khu vực thành thị là 11,75%; khu vực nông thôn là 5,87%.

Tỷ lệ thiếu việc làm của lao động trong độ tuổi lao động năm 2017 là 1,63%, thấp hơn mức 1,66% của năm 2016 và 1,89% của năm 2015, trong đó khu vực thành thị là 0,85% (Năm 2016 là 0,73%; năm 2015 là 0,84%); khu vực nông thôn là 2,07% (Năm 2016 là 2,12%; năm 2015 là 2,39%).

 Tỷ lệ lao động có việc làm phi chính thức phi nông nghiệp[27] năm 2017 ước tính là 57% (Năm 2016 là 57,2%; năm 2015 là 58,3%), trong đó khu vực thành thị là 48,5%; khu vực nông thôn là 64,4%.

 …………….

4. Giáo dục, đào tạo

Tính đến nay, tất cả 63 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương đạt chuẩn phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em 5 tuổi; 63 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương đạt chuẩn phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi mức 1 được quy định tại Thông tư 36 của Bộ Giáo dục, trong đó có 12 địa phương được công nhận chuẩn phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi mức độ 2.

Năm học 2017-2018, cả nước có gần 23 triệu học sinh, sinh viên; trong đó gần 5,2 triệu trẻ em bậc mầm non (0,7 triệu trẻ em đi nhà trẻ và 4,5 triệu trẻ em đi học mẫu giáo); 7,8 triệu học sinh tiểu học; 5,5 triệu học sinh trung học cơ sở; 2,4 triệu học sinh trung học phổ thông và 1,8 triệu sinh viên cao đẳng, đại học.

Mạng lưới cơ sở giáo dục nghề nghiệp tiếp tục phát triển theo hướng đa dạng về loại hình đào tạo và mô hình hoạt động. Hiện nay, cả nước có 1.974 cơ sở giáo dục nghề nghiệp, bao gồm 388 trường cao đẳng, 551 trường trung cấp và 1.035 trung tâm giáo dục thường xuyên. Đào tạo nghề tính đến cuối năm nay đã tuyển mới được 2.090 nghìn người, trong đó trình độ cao đẳng, trung cấp tuyển sinh được 540 nghìn người; trình độ sơ cấp và đào tạo dưới 3 tháng tuyển sinh được 1.550 nghìn người. Bên cạnh đó, trong năm 2017 đã có khoảng 600 nghìn lao động nông thôn và 19 nghìn người khuyết tật được hỗ trợ đào tạo nghề theo Đề án Đào tạo nghề cho lao động nông thôn đến năm 2020. Học sinh tốt nghiệp trung học cơ sở và trung học phổ thông chuyển sang học nghề hiện nay còn chiếm tỷ lệ thấp. Năm 2017, tỷ lệ học sinh tốt nghiệp trung học phổ thông vào đại học, cao đẳng là 50%; vào cao đẳng nghề và trung cấp chuyên nghiệp là 23%; học nghề tại trung tâm đào tạo nghề là 13%.“ ( Theo nguồn: https://www.gso.gov.vn/default.aspx?tabid=621&ItemID=18668 )

 

Tình hình kinh tế - xã hội Việt Nam năm 2017:

https://www.gso.gov.vn/default.aspx?tabid=621&ItemID=18668

Thị trường lao động Việt Nam quý III/2017:

http://www.molisa.gov.vn/Images/FileAnPham/fileanpham201712261740872.pdf

"Toàn cảnh" thị trường lao động quý III/2017:

http://tapchibaohiemxahoi.gov.vn/tin-tuc/toan-canh-thi-truong-lao-dong-quy-iii-2017-18189