DMCA.com Protection Status

CÂU HỎI ÔN TẬP MÔN HỌC PHƯƠNG PHÁP CÔNG TÁC ĐOÀN - ĐỘI  quan tâm

Được đăng bởi: Trần Việt Thao

Cập nhật lúc 16:24 ngày 18/01/2018

Đề cương môn học Phương pháp công tác Đội TNTP HCM 

CÂU HỎI ÔN TẬP
MÔN HỌC PHƯƠNG PHÁP CÔNG TÁC ĐOÀN - ĐỘI

 

1. Phương pháp công tác Đội là môn học về cái gì? Tại sao nói Phương pháp công tác Đội vừa có tính khoa học, vừa có tính nghệ thuật?

2. Phân tích các quan điểm về chăm sóc, giáo dục trẻ em ở các thời kỳ lịch sử nhân loại?

3. Công ước của LHQ về quyền trẻ em được ra đời khi nào? Những nội dung cơ bản của Công ước LHQ về quyền trẻ em?

4. Truyền thống giáo dục trẻ em ở nước ta được thể hiện như thế nào?

5. Sơ lược tiểu sử Chủ tịch Hồ Chí Minh?

6. Trình bày những hoạt động tiêu biểu trong sự nghiệp hoạt động cách mạng của Bác để thể hiện Người rất quan tâm đến thiếu nhi?

7. Bằng các sự kiện và văn kiện, chứng minh Đảng và Nhà nước Việt Nam rất quan tâm đến công tác thiếu niên – nhi đồng? Nội dung cơ bản của Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em ( Luật 2004)?

8. Bằng các sự kiện và văn kiện, chứng ming Đảng và Bác Hồ luôn quan tâm đến công tác bồi dưỡng giáo dục thanh niên?

9. Sơ lược lịch sử phát triển và cống hiến của Đoàn TNCS Hồ Chí Minh?

10. Những truyền thống vẻ vang của tổ chức Đoàn TNCS Hồ Chí Minh?

11. Bằng cơ sở lý luận và thực tiễn, Đoàn TNCS Hồ Chí Minh là tổ chức thích hợp nhất trong việc trực tiếp chăm lo tổ chức Đội TNTP Hồ Chí Minh?

12. Trình bày các vấn đề về chỉ đạo của Đoàn đối với Đội? Nhiệm vụ chủ yếu của Đoàn đối với Đội?

13. Vì sao Đoàn phải chọn chăm lo công tác cán bộ phụ trách Đội cũng như cơ sở, vật chất, thiết bị cho Đội hoạt động? Quy trình chọn cử cán bộ phụ trách Đội của Đoàn?

14. Hội đồng phụ trách Đội là gì? Chức năng, nhiệm vụ của Hội đồng phụ trách Đội?

15. Sơ lược lịch sử và những phong trào hoạt động của Đội TNTP Hồ Chí Minh?

16. Trình bày mục đích, tính chất, chức năng, nhiệm vụ của Đội TNTP Hồ Chí Minh?

17. Trình bày cơ cấu tổ chức cơ sở Đội? Vì sao ở trường tiểu học phải có sao nhi đồng? Hình thức hoạt động của sao nhi đồng như thế nào?

18. Nêu những nguyên tắc hoạt động của Đội TNTP Hồ Chí Minh? Trong các nguyên tắc đó, nguyên tắc nào mang tính chủ đạo, nội dung cụ thể?

19. Phương pháp công tác Đội TNTP Hồ Chí Minh là gì? Trong công tác Đội thường sử dụng những phương pháp gì?

20. Tự quản của Đội là gì? Tự quản của Đội được thể hiện ở hoạt động nào?

21. Trình bày những nội dung và hình thức hoạt động Đội?

22. Nghi thức Đội là gì? Trình bày các biểu trưng và động tác trong nghi thức Đội?

23. Các nghi lễ thường dùng trong sinh hoạt đội?

24. Phương pháp tổ chức hoạt động trại cho thiếu niên, nhi đồng?

25. Phương án tổ chức hoạt động trò chơi lớn?

26. Phân tích chức năng, nhiệm vụ của Tổng phụ trách Đội (PTĐ) trong trường phổ thông? Để làm tốt nhiệm vụ của mình, người Tổng PTĐ cần phải giải quyết các mối quan hệ nào?

27. Trình bày các phương pháp công tác của Tổng phụ trách Đội TNTP Hồ Chí Minh?

28. Chương trình, kế hoạch công tác của Tổng PTĐ là gì? Ý nghĩa, tác dụng, tính chất của việc xây dựng chương trình, kế hoạch?

 

GỢI Ý ĐỀ CƯƠNG ĐÁP ÁN

 

Câu 1. Phương pháp công tác Đội là môn học về cái gi? Tại sao nói Phương pháp công tác Đội vừa có tính khoa học, vừa có tính nghệ thuật?

* Phương pháp công tác Đội khoa học nghiên cứu về tổ chức hoạt động xã hội nói chung và công tác Đội nói riêng, môn học này chỉ ra các nguyên tắc, phương pháp, nội dung, hình thức hoạt động của tổ chức Đoàn và Đội, thông qua đó giáo dục thanh thiếu niên, nhi đồng theo mục tiêu giáo dục của Đảng CSVN và lý tưởng của Bác Hồ.

* Phương pháp công tác Đội có tính khoa học vì:

- Mục đích của tổ chức Đội là giáo dục thế hệ trẻ Việt Nam trở thành con người mới XHCN, phát triển toàn diện (trí, đức, thể, mỹ). Để làm được điều đó, công tác Đội cần phải dựa vào cơ sở của lý luận giáo dục học; nội dung, phương pháp, hình thức của hoạt động Đội phải được thiết kế sao cho phù hợp với quá trình giáo dục để đạt được mục đích trên. Môn học Phương pháp công tác Đội nghiên cứu những kiến thức về lý luận và phương pháp công tác Đội, trên cơ sở đó thông qua hình thức giáo dục mà tác động vào đối tượng con người, vì vậy nó phải tuân thủ những nguyên tắc, phương pháp, hình thức, nội dung lý luận giáo dục học. (nói cách khác đó là Khoa học giáo dục)

- Đối tượng của tổ chức Đội là thiếu niên, nhi đồng (trẻ em), vì vậy, hoạt động của Đội bao giờ cũng phái tính đến đặc điểm lứa tuổi, đặc điểm tâm sinh lý, đặc điểm cá nhân, nhu cầu hoạt động tập thể.. của thiếu niên nhi đồng, đó chính là khoa học tâm lý.

- Mặt khác Công tác Đội có tính đặc thù, có đối tượng cụ thể, tuy dựa trên cơ sở khoa học giáo dục nhưng không thực hiện theo những nguyên tắc, phương pháp của khoa học giáo dục một cách máy móc; cũng không thực hiện một cách cứng nhắc những lý luận của khoa học tâm lý, mà tất cả đều được vận dụng sao cho phù hợp với mục tiêu giáo dục, nguyên tắc, phương pháp của một tổ chức chính trị quần chúng của trẻ em, vì vậy nó còn mang tính khoa học xã hội nhân văn.

* Phương pháp công tác Đội có tính nghệ thuật vì:

Mục tiêu của công tác Đội là giáo dục trẻ em nhưng khác với giáo dục học đường , hoạt động Đội mang tính tự giác, tự quản, các em thiếu niên chủ động thực hiện nhiệm vụ, không bị gò bó, áp đặt bởi những gì do người lớn định trước. Hoạt động của các nhà sư phạm, các anh chị phụ trách chỉ có tính định hướng, hướng dẫn. Sự phối hợp đó là cả một nghệ thuật, đòi hỏi cả 2 phía không ngừng tích luỹ kinh nghiệm và học tập nghiên cứu mới đạt được.

Hoạt động Đội tồn tại và phát triển được là nhờ các hoạt động bổ ích, hấp dẫn, với nhiều hình thức nội dung phong phú đa dạng, thu hút đông đảo thiếu nhi tham gia. Để làm được điều đó là cả một nghệ thuật. Ví dụ như việc đặt tên cho các phong trào như: Công tác Trần Quốc Toản, Hành quân theo bước chân những người anh hùng, hay Bông hoa điểm mười, Áo lụa tặng bà... cũng đã là một nghệ thuật.

Hoạt động Đội mang tính xã hội. Tuy nhiên, việc người làm công tác Đội tìm và đưa ra những con đường, biện pháp, hình thức để huy động mọi lực lượng trong xã hội tham gia công tác Đội, tham gia chăm sóc, bảo vệ trẻ em là một nghệ thuật mà không phải người nào cũng làm được.

Câu 2. Phân tích các quan điểm về chăm sóc, giáo dục trẻ em ở các thời kỳ lịch sử nhân loại?

* Quan điểm chung: Quan điểm của nhân dân ta là “tre già măng mọc”, thể hiện niềm hy vọng, tin tưởng ở lớp người đi trước đối với thế hệ trẻ, vì trẻ em là nguồn hạnh phúc của mọi gia đình, là chủ nhân tương lai của đất nước, là lớp người kế tục sự nghiệp xây dựng bảo vệ đất nước.

* Quan điểm ở từng giai đoạn lịch sử :

- Chế độ cộng sản nguyên thuỷ: Giáo dục trẻ em để sinh tồn và phát triển.

- Chế độ chiếm hữu nô lệ và phong kiến: giáo dục theo quan điểm giai cấp (Khổng Tử), tuy nhiên bên cạnh đó cũng có những quan điểm tiến bộ, tiêu biểu:

+ Phương Tây có Aristopher với thuyết lý luận giáo dục thể chất, đạo đức, tinh thần trên cơ sở đặc điểm tự nhiên của con người (xương thịt, ý chí, lý trí).

+ Phương Đông có Mặc Tử (490 – 403) với thuyết Kiêm ái, chủ trương mọi người đều được giáo dục, kể cả con em nhân dân lao động.

- Cuối phong kiến, tiền tư bản (thời kỳ văn hoá phục hưng), đại diện có:

+ Thomas More với quan điểm tôn trọng trẻ em, giáo dục và phát triển trẻ em ở nhiều mặt (trí, đức, thể, lao động)

+ J.A Comenxki với tư tưởng quyền được giáo dục của trẻ em.

- Tư bản: Đại diện có:

+ J.J. Russo (1712 – 1718): Thực hiện nội dung, phương pháp, hình thức giáo dục trẻ em trên 3 mặt: Trái tim (tình cảm, đạo đức), khối óc (trí tuệ), đôi tay (kỹ năng lao động). Trọng tâm lý luận và thực tiễn là tôn trọng trẻ em, dựa vào sự phát triển của trẻ em để giáo dục, giành cho trẻ quyền tự do trong phát triển cá thể của mình.

+ Xanh-xi-mông, O-oen, Phu-ri-ê: Kêu gọi xã hội giải phóng con người, giải phóng trẻ em, trả lại cho trẻ em quyền làm con người và những quyền cơ bản nhất, nhất là quyền được sống, được học tập và vui chơi.

- Quan điểm của các nhà cộng sản: Mác và Ăng-ghen đặt nền móng cho việc giáo dục trẻ em theo nguyên tắc: Bình đẳng về mọi giáo dục cho trẻ em, bảo vệ con em nhân dân lao động khỏi sự bóc lột của tư bản, trẻ em cũng có nghĩa vụ lao động để rèn luyện, cải tạo bản thân.

Câu 3. Công ước của LHQ về quyền trẻ em được ra đời khi nào? Những nội dung cơ bản và các quyền của trẻ em được nêu ở Công ước?

Chăm lo cho trẻ em là mối quan tâm của cộng đồng nhân loại và từng nước trên thế giới. Tuy nhiên vấn đề quyền trẻ em mới chỉ được đặt ra từ sau thế chiến thứ nhất bằng việc thành lập tổ chức cứu trợ trẻ em ở Anh và Thuỵ Điển (năm 1919). Trước khi Công ước ra đời, trên thế giới đã có nhiều văn kiện quốc tế đề cập đến vấn đề trẻ em nhưng không đầy đủ, không đề cập riêng đến vấn đề trẻ em mà thường nằm chung trong các văn kiện như công ước chữ thập đỏ, công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội...Nỗi bật nhất ở thời kỳ này là ngày 20/11/1959, lần đầu tiên LHQ thông qua “Tuyên ngôn về quyền trẻ em”, tinh thần cơ bản của Tuyên ngôn là “Loài người phải giành cho trẻ em những gì tốt đẹp nhất mà mình có”.

Sau hơn 10 năm nghiên cứu soạn thảo, ngày 26/1/1990, công ước của LHQ về quyền trẻ em đã được mở cho các nước ký.

* Những nội dung cơ bản và các quyền của trẻ em:

+ Công ước có 54 điều chia làm 3 phần, phần 1 quy định các quyền của trẻ em và trách nhiệm của các quốc gia thành viên trong việc thực hiện công ước. Phần 2 và 3 quy định việc thực hiện công ước. Đây là văn bản quốc tê đầu tiên đề cập toàn diện và xác định về mặt pháp lý các quyền của trẻ em theo hướng tiến bộ, thừa nhận trẻ em có quyền được chăm sóc, bảo vệ và giúp đỡ đặc biệt.

+ Các quyền của trẻ em được thừa nhận trong Công ước:

Quyền được sống và phát triển.

Quyền có họ tên và quốc tịch

Quyền được giữ gìn bản sắc.

Quyền được sống với cha mẹ.

Quyền được đoàn tụ gia đình

Quyền được tự do biểu đạt.

Quyền được tự do tư tưởng, tín ngưỡng và tôn giáo.

Quyền được bảo vệ đời tư.

Quyền được tự do kết giao và hội họp hoà bình.

Quyền được tiếp xúc thông tin nhiều nguồn.

Quyền được bảo vệ khỏi bị áp bức và tổn thương về thể chất và tinh thần.

Quyền được chăm sóc và nuôi dưỡng khi bị tước mất môi trường gia đình.

Quyền được nhận làm con nuôi.

Quyền được nhận sự giúp đỡ nhân đạo đối với trẻ em tị nạn.

Quyền được hưởng sự chăm sóc đặc biệt đối với trẻ em bị tàn tật về tinh thần và thể chất.

Quyền được hưởng trạng thái sức khoẻ cao nhất và các dịch vụ chữa bệnh, phục hồi sức khoẻ.

Quyền được hưởng an toàn xã hội.

Quyền có được mức sống để phát triển về thể chất, tinh thần, tâm hồn, đạo đức và xã hội.

Quyền được học hành và tiếp thu một nền giáo dục tiến bộ.

Quyền được hưởng nền văn hoá của mình, thực hành tôn giáo của mình, sử dụng tiếng nói của mình...

Quyền được nghỉ ngơi, giải trí, vui chơi, sinh hoạt văn hoá.

Quyền được bảo vệ khỏi bị bóc lột kinh tế và các công việc nguy hiểm độc hại.

Quyền được bảo vệ chống lại việc sử dụng các chất ma tuý và an thần.

Quyền được bảo vệ chống bóc lột, cưỡng bức và lạm dụng tình dục.

Quyền được bảo vệ chống bị bắt cóc và buôn bán.

Quyền được đối xử nhân đạo khi bị giam giữ và không phải chịu tra tấn...

Quyền được không phải trực tiếp tham gia chiến sự khi chưa đến 15 tuổi ...

Quyền được phục hồi thể chất, tâm lý và tái hoà nhập xã hội.

Câu 4. Truyền thống giáo dục trẻ em ở nước ta được thể hiện như thế nào?

- Truyền thống giáo dục trẻ em trong nhân dân lao động được thông qua kho tàng tri thức kinh nghiệm vô cùng phong phú của nhân dân, đó là những bài học luân lý ngắn gọn, rõ ràng, những quan điểm đạo đức thông qua những câu chuyện ngụ ngôn, những câu ca dao, tục ngữ... bồi dưõng cho trẻ các đức tính nhân nghĩa, lòng hiếu thảo, lòng yêu nước...

- Truyền thống giáo dục của các nhà giáo dục, các bậc sĩ phu, túc nho... thông qua trí tuệ, tài năng, phẩm chất, đạo đức của các nhà giáo dục như Chu Văn An, Nguyễn Trãi, Nguyễn Đình Chiểu, Võ Trường Toản... trở thành những tấm gương soi sáng, giáo dục cho học trò về đạo lý làm người, cách ứng xử trong đời sống và trên hết là tấm lòng yêu nước thương dân.

Câu 5. Trình bày sơ lược tiểu sử Chủ tịch Hồ Chí Minh?

Chủ tịch Hồ Chí Minh (lúc nhỏ tên là Nguyễn Sinh Cung, khi đi học là Nguyễn Tất Thành, trong nhiều năm hoạt động cách mạng lấy tên là Nguyễn Ái Quốc và nhiều bí danh, bút danh khác) sinh ngày 19/5/1890 ở xã Kim Liên, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An, mất ngày 2/9/1969 tại Hà Nội.

Người sinh ra trong một gia đình nhà nho yêu nước, lớn lên ở một địa phương có truyền thống yêu nước, anh dũng chống giặc ngoại xâm. Sống trong hoàn cảnh đất nước chìm dưới ách đô hộ của thực dân Pháp, thời niên thiếu và thanh niên của Người đã chứng kiến nỗi khổ cực của đồng bào và những phong trào đấu tranh chống thực dân, Người sớm có chí đuổi thực dân, giành độc lập cho đất nước, đem lại tự do, hạnh phúc cho đồng bào.

Với tình cảm yêu nước thương dân vô hạn, năm 1911 Người đã rời Tổ quốc đi sang phương Tây để tìm con đường giải phóng dân tộc.

Từ năm 1912 - 1917, Nguyễn Tất Thành đến nhiều nước ở châu Á, châu Âu, châu Mỹ, châu Phi, sống hoà mình với nhân dân lao động, Người thông cảm sâu sắc cuộc sống khổ cực của nhân dân lao động và các dân tộc thuộc địa cũng như nguyện vọng thiêng liêng của họ. Người sớm nhận thức được cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc của nhân dân Việt Nam là một bộ phận trong cuộc đấu tranh chung của nhân dân thế giới. Người đã hoạt động tích cực nhằm đoàn kết nhân dân các dân tộc giành tự do, độc lập.

Cuối năm 1917, Người từ Anh trở lại Pháp hoạt động trong phong trào Việt kiều, phong trào công nhân Pháp.

Năm 1919, lấy tên là Nguyễn Ái Quốc, Người thay mặt những người Việt Nam yêu nước tại Pháp gửi tới Hội nghị Vécxây (Versailles) bản yêu sách đòi quyền tự do cho nhân dân Việt Nam và cũng là quyền tự do cho nhân dân các nước thuộc địa.

Dưới ảnh hưởng của Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917 và Luận cương của Lênin về vấn đề dân tộc và thuộc địa, tháng 12 năm 1920 Nguyễn Ái Quốc tham dự Đại hội lần thứ XVIII Đảng Xã hội Pháp và bỏ phiếu tán thành Đảng gia nhập Quốc tế III (Quốc tế Cộng sản), trở thành một trong những người sáng lập Đảng Cộng sản Pháp. Từ một người yêu nước trở thành một người cộng sản, Người khẳng định: “Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc, không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản”.

Năm 1921, cùng với một số người yêu nước của các thuộc địa Pháp, Nguyễn Ái  Quốc sáng lập Hội Liên hiệp thuộc địa. Tháng 4-1922, Hội xuất bản báo “Người cùng khổ” (Le Paria) nhằm đoàn kết, tổ chức và hướng dẫn phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc ở các thuộc địa. Nhiều bài báo của Người đã được đưa vào tác phẩm “Bản án chế độ thực dân Pháp”, xuất bản năm 1925. Đây là một công trình nghiên cứu về bản chất của chủ nghĩa thực dân, thức tỉnh và cổ vũ nhân dân các nước thuộc địa đứng lên tự giải phóng.

Tháng 6-1923, Nguyễn Ái Quốc từ Pháp sang Liên Xô, Người làm việc trong Quốc tế Cộng sản. Tháng 10 năm 1923, tại Hội nghị Quốc tế Nông dân lần thứ nhất, Nguyễn Ái Quốc được bầu vào Hội đồng Quốc tế Nông dân. Người là đại biểu duy nhất của nông dân thuộc địa được cử vào Đoàn Chủ tịch của Hội đồng. Người tham dự Đại hội Quốc tế Cộng sản lần thứ V, Đại hội Quốc tế Cộng sản Thanh niên lần thứ IV, Đại hội Quốc tế Công hội đỏ. Người kiên trì bảo vệ và phát triển sáng tạo tư tưởng của V.I. Lênin về vấn đề dân tộc và thuộc địa, hướng sự quan tâm của Quốc tế Cộng sản tới phong trào giải phóng dân tộc.

Tháng 11 năm 1924 với tư cách là Uỷ viên Ban Phương Đông Quốc tế Cộng sản và Uỷ viên Đoàn Chủ tịch Quốc tế Nông dân, Nguyễn Ái Quốc về Quảng Châu (Trung Quốc). Tại Quảng Châu Nguyễn Ái Quốc vừa làm việc trong đoàn cố vấn Bôrôđin của Chính phủ Liên Xô bên cạnh Chính phủ Tôn Dật Tiên; vừa tìm hiểu và tiếp xúc với những người Việt Nam đang hoạt động tại đây. Nguyễn Ái Quốc đã chọn một số thanh niên Việt Nam yêu nước, trực tiếp mở lớp huấn luyện đào tạo cán bộ cách mạng. Các bài giảng của Người được tập hợp in thành cuốn sách “Đường Kách mệnh” -  một văn kiện lý luận quan trọng đặt cơ sở tư tưởng cho đường lối cách mạng Việt Nam.

Năm 1925, Người thành lập Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên, ra tuần báo “Thanh niên”, tờ báo cách mạng đầu tiên của Việt Nam nhằm truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin về Việt Nam, chuẩn bị thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam.

Tháng 5 năm 1927, Nguyễn Ái Quốc rời Quảng Châu đi Mátxcơva (Liên Xô), sau đó đi Béclin (Đức), đi Brúcxen (Bỉ), tham dự phiên họp mở rộng của Đại hội đồng Liên đoàn chống chiến tranh đế quốc, sau đó đi Ý và từ đây về châu Á.

Từ tháng 7 năm 1928 đến tháng 11 năm 1929, Người hoạt động trong phong trào Việt kiều yêu nước ở Xiêm (Thái Lan), tiếp tục chuẩn bị cho sự ra đời của Đảng CSVN.

Mùa xuân năm 1930, Người chủ trì Hội nghị thành lập Đảng họp tại Cửu Long (Hồng Kông). Hội nghị đã thông qua Chính cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt, Điều lệ vắn tắt của Đảng CSVN (Hội nghị của Đảng tháng 10/1930 đổi tên thành Đảng CS Đông Dương), đội tiên phong của giai cấp công nhân và toàn thể dân tộc Việt Nam. Ngay sau khi ra đời, Đảng CSVN đã lãnh đạo Cao trào Cách mạng 1930 - 1931, đỉnh cao là Xô viết - Nghệ Tĩnh, cuộc tổng diễn tập đầu tiên của Cách mạng Tháng Tám năm 1945.

Tháng 6 năm 1931, Nguyễn Ái Quốc bị chính quyền Anh bắt giam tại Hồng Kông. Mùa xuân năm 1933, Người được trả tự do.

Từ 1934 đến 1938, Người nghiên cứu tại Viện Nghiên cứu các vấn đề dân tộc thuộc địa tại Mátxcơva. Kiên trì con đường đã xác định cho cách mạng Việt Nam, Người tiếp tục theo dõi chỉ đạo phong trào cách mạng trong nước.

Tháng 10/1938 Người về Trung Quốc, bắt liên lạc với tổ chức Đảng chuẩn bị về nước.

Ngày 28/1/1941, Người về nước sau hơn 30 năm xa Tổ quốc. Tháng 5-1941, Người triệu tập Hội nghị lần thứ VIII BCH Trung ương Đảng, quyết định đường lối cứu nước trong thời kỳ mới, thành lập Việt Nam độc lập đồng minh (Việt Minh), tổ chức lực lượng vũ trang giải phóng, xây dựng căn cứ địa cách mạng.

Tháng 8-1942, lấy tên Hồ Chí Minh, Người đại diện cho Mặt trận Việt Minh và Phân hội Việt Nam thuộc Hiệp hội Quốc tế chống xâm lược sang Trung Quốc tìm sự liên minh quốc tế, cùng phối hợp hành động chống phát xít trên chiến trường Thái Bình Dương. Người bị chính quyền địa phương của Tưởng Giới Thạch bắt giam trong các nhà lao của tỉnh Quảng Tây. Trong thời gian một năm 14 ngày bị tù, Người đã viết tập thơ “Nhật ký trong tù” với 133 bài thơ chữ Hán. Tháng 9-1943, Người được trả tự do.

Tháng 9-1944, Người trở về căn cứ Cao Bằng. Tháng 12-1944, Người chỉ thị thành lập Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân, tiền thân của Quân đội nhân dân Việt Nam.

Cuộc chiến tranh thế giới thứ II bước vào giai đoạn cuối với những thắng lợi của Liên Xô và các nước Đồng minh. Tháng 5-1945, Hồ Chí Minh rời Cao Bằng về Tân Trào (Tuyên Quang). Tại đây theo đề nghị của Người, Hội nghị toàn quốc của Đảng và Đại hội Quốc dân đã họp quyết định Tổng khởi nghĩa. Đại hội Quốc dân đã bầu ra Uỷ ban giải phóng dân tộc Việt Nam (tức Chính phủ lâm thời) do Hồ Chí Minh làm Chủ tịch.

Tháng 8-1945, Người lãnh đạo nhân dân khởi nghĩa giành chính quyền trong cả nước. Ngày 2-9-1945, tại Quảng trường Ba Đình lịch sử, Người đọc “Tuyên ngôn độc lập”, tuyên bố thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, Người trở thành vị Chủ tịch đầu tiên của nước Việt Nam độc lập.

Ngay sau đó, thực dân Pháp gây chiến tranh, âm mưu xâm chiếm Việt Nam một lần nữa. Trước nạn ngoại xâm, Chủ tịch Hồ Chí Minh kêu gọi cả nước đứng lên bảo vệ độc lập, tự do của Tổ quốc với tinh thần: “Chúng ta thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ”. Người đã khởi xướng phong trào thi đua yêu nước, cùng Trung ương Đảng lãnh đạo nhân dân Việt Nam tiến hành cuộc kháng chiến toàn dân, toàn diện, trường kỳ, dựa vào sức mình là chính, từng bước giành thắng lợi.

Tháng 2/1951 Chủ tịch Hồ Chí Minh triệu tập Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ II của Đảng nhằm đưa cuộc kháng chiến đến thắng lợi. Tại Đại hội Người được bầu làm Chủ tịch Đảng LĐVN. Dưới sự lãnh đạo của Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, cuộc kháng chiến thần thánh của nhân dân Việt Nam chống thực dân Pháp xâm lược đã giành thắng lợi to lớn, kết thúc vẻ vang bằng chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ (1954), giải phóng hoàn toàn miền Bắc.

Từ năm 1954, Người cùng Trung ương Đảng LĐVN lãnh đạo nhân dân xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và đấu tranh giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc.

Đại hội Đảng LĐVN lần thứ III, họp vào tháng 9/1960, Người khẳng định: “Đại hội lần này là Đại hội xây dựng CNXH ở miền Bắc và đấu tranh hoà bình, thống nhất nước nhà”. Tại Đại hội Người được bầu làm Chủ tịch BCH Trung ương Đảng.

Năm 1964, đế quốc Mỹ mở cuộc chiến tranh phá hoại bằng không quân đánh phá miền Bắc Việt Nam. Người động viên toàn thể nhân dân Việt Nam vượt mọi khó khăn gian khổ, quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược. Người nói: “Chiến tranh có thể kéo dài 5 năm, 10 năm, 20 năm hoặc lâu hơn nữa. Hà Nội, Hải Phòng và một số thành phố, xí nghiệp có thể bị tàn phá, song nhân dân Việt Nam quyết không sợ ! Không có gì quí hơn độc lập, tự do! Đến ngày thắng lợi, nhân dân ta sẽ xây dựng lại đất nước ta đàng hoàng hơn, to đẹp hơn!”.

Từ năm 1965 đến tháng 9-1969, cùng với Trung ương Đảng, Người tiếp tục lãnh đạo nhân dân Việt Nam thực hiện sự nghiệp cách mạng trong điều kiện cả nước có chiến tranh, xây dựng và bảo vệ miền Bắc, đấu tranh giải phóng miền Nam, thực hiện thống nhất đất nước.

Trước khi qua đời, Chủ tịch Hồ Chí Minh để lại cho nhân dân Việt Nam bản Di chúc lịch sử, căn dặn những việc nhân dân Việt Nam phải làm để xây dựng đất nước sau  chiến tranh. Người viết: “Điều mong muốn cuối cùng của tôi là: Toàn Đảng, toàn dân ta đoàn kết phấn đấu, xây dựng một nước Việt Nam hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh, và góp phần xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng thế giới”.

Thực hiện Di chúc của Người, toàn dân Việt Nam đã đoàn kết một lòng đánh thắng cuộc chiến tranh phá hoại bằng máy bay B52 của đế quốc Mỹ, buộc Chính phủ Mỹ phải ký Hiệp định Pari ngày 27-1-1973, chấm dứt chiến tranh xâm lược, rút hết quân đội Mỹ và chư hầu ra khỏi miền Nam Việt Nam. Mùa xuân năm 1975, với Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, nhân dân Việt Nam đã hoàn thành sự nghiệp giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc, thực hiện được mong ước thiêng liêng của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Chủ tịch Hồ Chí Minh là lãnh tụ vĩ đại của dân tộc Việt Nam. Người đã vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện cụ thể của Việt Nam, sáng lập Đảng Mác - Lênin ở Việt Nam, sáng lập Mặt trận dân tộc thống nhất Việt Nam, sáng lập lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam và sáng lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà (nay là Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam). Người luôn luôn gắn cách mạng Việt Nam với cuộc đấu tranh chung của nhân dân thế giới vì hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội. Người là tấm gương đạo đức cao cả, cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, vô cùng khiêm tốn, giản dị.

Năm 1987, Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hoá Liên hợp quốc (UNESCO) đã tôn vinh Hồ Chí Minh là anh hùng giải phóng dân tộc Việt Nam, nhà văn hoá kiệt xuất.

Ngày nay, trong sự nghiệp đổi mới đất nước, hội nhập với thế giới, tư tưởng Hồ Chí Minh là tài sản tinh thần to lớn của Đảng và dân tộc Việt Nam, mãi mãi soi đường cho cuộc đấu tranh của nhân dân Việt Nam vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.

Câu 6. Trình bày những hoạt động tiêu biểu của Bác Hồ trong sự nghiệp hoạt động cách mạng thể hiện Bác rất quan tâm đến thiếu nhi?

- Khi đi dạy ở trường Dục Thanh (Phan Thiết), dù chỉ một thời gian ngắn, nhưng thông qua các hoạt động cụ thể, thầy giáo Nguyễn Tất Thành đã khích lệ lòng yêu nước và ý thức dân tộc cho học sinh, để lại cho thầy cô giáo tấm gương sáng về giáo dục trẻ em.

- Năm 1919, trong “Yêu sách 8 điểm” gởi Hội nghị Vec-xây, Nguyễn Ái Quốc đã yêu cầu đáp ứng quyền học tập cho trẻ em bản xứ, nhấn mạnh đến quyền tự do giáo dục của nhân dân thuộc địa.

- Những năm 1925 đến 1929 khi còn ở Quảng Châu - Trung Quốc, Bác đã chú ý tập hợp, giáo dục và bồi dưỡng lý tưởng cách mạng cho thiếu nhi Việt Nam yêu nước, đào tạo họ trở thành hạt nhân của Đảng. Với tư cách là phái viên của quốc tế cộng sản, Bác Hồ đã viết thư đề nghị cho 8 thiếu nhi Việt Nam sang học tập ở Liên Xô.

- Khi Đảng Cộng sản Việt Nam được thành lập (1930), trong “Chánh cương vắn tắt của Đảng” do Người soạn thảo xác định chủ trương “phổ thông giáo dục theo công nông hoá”, tức là nhấn mạnh đến việc đảm bảo quyền học tập của con em nhân dân lao động.

- Năm 1941, khi Bác Hồ về nước trực tiếp lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Bác đã có dịp thực hiện tư tưởng của mình về chăm sóc giáo dục thiếu nhi Việt Nam như thành lập Đội Thiếu niên tiền phong, đề xướng những quan điểm, chủ trương về chăm sóc giáo dục trẻ em.

- Từ năm 1945 đến khi qua đời (1969), Bác Hồ đã viết hơn 40 bài thơ, bài báo, thư thăm hỏi và nhiều tài liệu đề cập đến thiếu nhi, tổ chức gặp gỡ thăm hỏi nhiều đoàn thiếu nhi Việt Nam (từ miền Nam ra và thiếu nhi quốc tế) .

Câu 7. Đảng và Nhà nước Việt Nam quan tâm đến công tác TN-NĐ như thế nào? Dẫn chứng? Nội dung cơ bản của Luật chăm sóc, bảo vệ và giáo dục trẻ em?

(Về lãnh đạo của Đảng đối với với công tác TN-NĐ xem ở giáo trình)

Về nhà nước, trong quá trình soạn thảo Công ước (1979-1989), Việt Nam đã có tham gia và đóng góp tích cực. Khi Công ước được mở ra cho các nước ký, Việt Nam đã ký ngay trong ngày đầu tiên, là nước đầu tiên của châu Á và là nước thứ hai trên thế giới ký và phê chuẩn để trở thành quốc gia thành viên của Công ước (ngày 20/2/1990). Đến tháng 8/1991, Quốc hội nước ta đã thông qua 2 bộ Luật quan trọng “vì trẻ em”, đó là Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em và Luật phổ cập giáo dục tiểu học”. Đến ngày 15/6/2004. để đáp ứng với tình hình yêu cầu mới, Quốc hội đã thông qua Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em, trong đó có nhiểu sửa đổi bổ sung so với Luật năm 1991. Điều đó chứng tỏ thái độ và chính sách của Nhà nước Việt Nam đối với quyền con người nói chung và quyền trẻ em nói riêng.

* Nội dung cơ bản của Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em.

Chương I. NHỮNG QUI ĐỊNH CHUNG.

Điều 1. Trẻ em quy định trong Luật này là công dân Việt Nam dưới mười sáu tuổi.

Điều 2. Phạm vi điều chỉnh, đối tượng áp dụng

Điều 3. Giải tích từ ngữ.

Điều 4. Không phân biệt đối xử với trẻ em

Điều 5. Trách nhiệm bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em

Điều 6. Thực hiện quyền của trẻ em

Điều 7. Các hành vi bị nghiêm cấm

Điều 8. Trách nhiệm quản lý nhà nước về bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em

Điều 9. Nguồn tài chính cho công tác bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em

Điều 10. Hợp tác quốc tế về bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em

Chương II.CÁC QUYỀN CƠ BẢN VÀ BỔN PHẬN CỦA TRẺ EM

Điều 11. Quyền được khai sinh và có quốc tịch

Điều 12. Quyền được chăm sóc, nuôi dưỡng

Điều 13. Quyền sống chung với cha mẹ

Điều 14. Quyền được tôn trọng, bảo vệ tính mạng, thân thể, nhân phẩm và danh dự

Điều 15. Quyền được chăm sóc sức khoẻ

Điều 16. Quyền được học tập

Điều 17. Quyền vui chơi, giải trí, hoạt động văn hoá, nghệ thuật, thể dục, thể thao, du lịch

Điều 18. Quyền được phát triển năng khiếu

Điều 19. Quyền có tài sản

Điều 20. Quyền được tiếp cận thông tin, bày tỏ ý kiến và tham gia hoạt động xã hội

Điều 21. Bổn phận của trẻ em

Điều 22. Những việc trẻ em không được làm

Chương III. TRÁCH NHIỆM BẢO VỆ, CHĂM SÓC VÀ GIÁO DỤC TRẺ EM

Điều 23. Trách nhiệm đăng ký khai sinh

Điều 24. Trách nhiệm chăm sóc, nuôi dưỡng

Điều 25. Trách nhiệm bảo đảm cho trẻ em sống chung với cha mẹ

Điều 26. Trách nhiệm bảo vệ tính mạng, thân thể, nhân phẩm, danh dự

Điều 27. Trách nhiệm bảo vệ sức khỏe

Điều 28. Trách nhiệm bảo đảm quyền được học tập

Điều 29. Trách nhiệm bảo đảm điều kiện vui chơi, giải trí, hoạt động văn hóa, nghệ thuật, thể dục, thể thao, du lịch

Điều 30. Trách nhiệm bảo đảm quyền phát triển năng khiếu

Điều 31. Trách nhiệm bảo đảm quyền dân sự

Điều 32. Trách nhiệm bảo đảm quyền được tiếp cận thông tin, bày tỏ ý kiến và tham gia hoạt động xã hội

Điều 33. Trách nhiệm của cơ quan, tổ chức trong công tác bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em

Điều 34. Trách nhiệm của MT TQ Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận

Điều 35. Trách nhiệm của cơ quan thông tin tuyên truyền

Điều 36. Trách nhiệm của cơ quan bảo vệ pháp luật

Điều 37. Trách nhiệm của Nhà nước

Điều 38. Bảo trợ các hoạt động vì sự nghiệp bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em

Điều 39. Quỹ bảo trợ trẻ em

Chương IV. BẢO VỆ, CHĂM SÓC VÀ GIÁO DỤC TRẺ EM COÁ HOÀN CẢNH ĐẶC BIỆT

Điều 40. Trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt

Điều 41. Công tác bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt

Điều 42. Chính sách của Nhà nước đối với trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt

Điều 43. Hình thức trợ giúp trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt

Điều 44. Điều kiện thành lập cơ sở trợ giúp trẻ em

Điều 45. Hồ sơ xin phép thành lập cơ sở trợ giúp trẻ em

Điều 46. Thời hạn cho phép thành lập cơ sở trợ giúp trẻ em

Điều 47. Thẩm quyền thành lập, tạm đình chỉ, thu hồi giấy phép hoạt động của cơ sở trợ giúp trẻ em

Điều 48. Nhiệm vụ, quyền hạn của cơ sở trợ giúp trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt

Điều 49. Kinh phí hoạt động của cơ sở trợ giúp trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt

Điều 50. Hoạt động dịch vụ của cơ sở trợ giúp trẻ em

Điều 51. Trẻ em mồ côi không nơi nương tựa, trẻ em bị bỏ rơi

Điều 52. Trẻ em khuyết tật, tàn tật, trẻ em là nạn nhân của chất độc hoá học

Điều 53. Trẻ em nhiễm HIV/AIDS

Điều 54. Trẻ em phải làm việc nặng nhọc, nguy hiểm, tiếp xúc với chất độc hại, trẻ em phải làm việc xa gia đình

Điều 55. Trẻ em lang thang

Điều 56. Trẻ em bị xâm hại tình dục

Điều 57. Trẻ em nghiện ma túy

Điều 58. Trẻ em vi phạm pháp luật

Câu 8. Bằng các sự kiện và văn kiện, chứng ming Đảng và Bác Hồ luôn quan tâm đến công tác bồi dưỡng giáo dục thanh niên?

(Nghiên cứu ở Giáo trình)

Câu 9. Sơ lược lịch sử phát triển và cống hiến của Đoàn TNCS Hồ Chí Minh?

* Sự ra đời của Đoàn TNCS HCM

Năm 1931, từ ngày 20 - 26/3, tại Hội nghị BCH Trung ương Đảng lần thứ 2, Trung ương Đảng đã giành một phần quan trọng trong chương trình làm việc để bàn về công tác thanh niên và đi đến những quyết định có ý nghĩa đặc biệt, như các cấp ủy Đảng từ Trung ương đến địa phương phải cử ngay các ủy viên của Đảng phụ trách công tác Đoàn.

Từ ngày 26/3/1931 đến nay, để phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ của từng thời kỳ cách mạng, Đoàn đã đổi tên nhiều lần:

Từ 1931 - 1936: Đoàn TNCS Việt Nam, Đoàn TNCS Đông Dương

Từ 1937 - 1939: Đoàn Thanh niên Dân chủ Đông Dương

Từ 11/1939 - 1941: Đoàn Thanh niên phản đế Đông Dương

Từ 5/1941 - 1956: Đoàn Thanh niên cứu quốc Việt Nam

Từ 25/10/1956 - 1970: Đoàn Thanh niên Lao động Việt Nam

Từ 2/1970 - 11/1976: Đoàn Thanh niên lao động Hồ Chí Minh

Từ 12/1976 đến nay: Đoàn Thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh

Những thế hệ thanh niên kế tiếp nhau đã chiến đấu anh dũng vì độc lập tự do của Tổ Quốc, vì CNXH đã liên tiếp lập nên những chiến công xuất sắc và trưởng thành vượt bậc.

* Quá trình rèn luyện, cống hiến và trưởng thành của Đoàn TNCS HCM

Ngay từ khi mới ra đời, dưới sự lãnh đạo của Đảng và Hồ Chủ Tịch, Đoàn đã phát huy được vai trò xung kích, với những gương đoàn viên hy sinh, chiến đấu để hoàn thành thắng lợi nhiệm vụ của Đảng, xứng đáng là cánh tay đắc lực và là đội dự bị của Đảng.

1.- Cao trào đấu tranh những năm 1930 - 1931 - với đỉnh cao Xô Viết - Nghệ Tĩnh - là trận thử lửa đầu tiên đối với lớp đoàn viên, thanh niên cộng sản đầu tiên của Đoàn ta. Trong cuộc đối đầu đó, biết bao đồng chí đã tỏ rõ khí phách anh hùng và quyết tâm một lòng theo Đảng làm cách mạng, đã mở đầu cho truyền thống cách mạng vẻ vang của Đoàn, như: Cao Xuân Quế, Lê Cảnh Nhượng và nhiều đoàn viên ưu tú khác. Cũng trong trận thử lửa này, lịch sử đã để lại tấm gương oanh liệt của người đoàn viên thanh niên cộng sản Lý Tự Trọng với câu nói bất hủ "Con đường của thanh niên chỉ có thể là con đường cách mạng chứ không thể có con đường nào khác" – câu nói đã trở thành phương châm hành động của tuổi trẻ Việt Nam.

2.- Trong phong trào đấu tranh chống bọn phản động thuộc địa, đòi tự do, dân chủ, cải thiện đời sống, Đoàn thanh niên Dân chủ tiếp nối Đoàn Thanh niên cộng sản Đông Dương trong sự nghiệp tổ chức, giáo dục động viên tuổi trẻ đi đầu thực hiện nhiệm vụ của Đảng giao cho. Phong trào đấu tranh của các tầng lớp thanh niên đã trở thành làn sóng mạnh mẽ, đòi nhà toàn quyền Pháp ở Đông Dương phải ban hành một số quyền lợi của công nhân và lao động như giảm giờ làm, tăng tiền lương tối thiểu, cấm cúp phạt bằng tiền, có chế độ nghỉ thai sản cho phụ nữ, ra sắc lệnh "ân xá" tù chính trị...

3.- Trong cao trào giải phóng dân tộc mà đỉnh cao là tổng khởi nghĩa tháng Tám 1945, dưới ngọn cờ của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đoàn đã động viên tuổi trẻ cả nước góp phần xứng đáng vào thành công to lớn của tổng khởi nghĩa, xứng đáng là quân đội xung kích cách mạng, là lực lượng tiên phong, là hạt nhân chính trị tập hợp đông đảo lực lượng, nam, nữ thanh niên Việt Nam đứng lên cùng toàn dân đấu tranh kiên cường vì độc lập tự do của Tổ quốc. Thanh niên Việt Nam đã cùng toàn quân, toàn dân dưới sự lãnh đạo của Đảng, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh: "Quyết tâm đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do độc lập" . Thắng lợi của cách mạng tháng Tám 1945 dẫn đến sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, một Nhà nước công nông đầu tiên ở Đông Nam Á.

4.- Trong cuộc đấu tranh bảo vệ củng cố chính quyền cách mạng và trong kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đoàn Thanh niên hoạt động một cách công khai dưới chế độ mới và trưởng thành nhanh chóng về tư tưởng, tổ chức. Đoàn tập hợp hàng triệu đoàn viên, thanh niên làm nhiệm vụ xung kích bảo vệ và củng cố chính quyền dân chủ nhân dân, xây dựng chế độ mới, chuẩn bị cho cuộc kháng chiến lâu dài của dân tộc. Tháng 12/1946, hưởng ứng lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến chống thực dân Pháp của chủ tịch Hồ Chí Minh, với ý chí "cảm tử cho Tổ quốc quyết sinh", thanh niên cả nước đã một lòng cùng toàn dân nêu cao tấm gương sáng ngời về tinh thần xả thân vì độc lập tự do, như Lê Gia Định - người chiến sĩ cộng sản trẻ tuổi đã hy sinh anh dũng và được truy tặng danh hiệu cao quý "Cảm tử quân số 1 của Thủ đô". Tinh thần của anh cũng là khẩu hiệu hành động của tuổi trẻ:

"Không có việc gì khó

Chỉ sợ lòng không bền

Đào núi và lấp biển
Quyết chí ắt làm nên"

Đoàn đã động viên thanh niên trên các mặt trận nêu cao chủ nghĩa anh hùng cách mạng, chiến đấu ngoan cường, đồng thời phát động trong tuổi trẻ cả nước phong trào toàn quân giết giặc, đưa cuộc kháng chiến đến thắng lợi hoàn toàn với một Điện Biên phủ oanh liệt. Qua 9 năm trường kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, Đoàn thanh niên và tuổi trẻ cả nước đã hiến dâng cho Tổ quốc hàng chục vạn đoàn viên, thanh niên ưu tú, gần 3 triệu người tham gia bộ đội chủ lực, 5 triệu lượt người tham gia dân quân du kích, công nhân hỏa tuyến … và biết bao tấm gương chiến đấu ngoan cường, góp phần làm rạng rỡ gương mặt Tổ quốc ta và làm cho thực dân Pháp phải chuốc lấy thất bại thảm hại.

"Lần đầu tiên trong lịch sử; một nước thuộc địa nhỏ yếu đã đánh thắng một nước thực dân mạnh. Đó là thắng lợi của dân tộc Việt Nam, đồng thời là thắng lợi của các thế lực hòa bình, dân chủ và chủ nghĩa xã hội trên thế giới" đưa cách mạng nước ta bước vào thời kỳ đấu tranh mới - thời kỳ xây dựng CNXH ở miền Bắc và hoàn thành cách mạng ở miền Nam, thời kỳ chống Mỹ, cứu nước giải phóng miền Nam thống nhất đất nước. Với tinh thần lao động quên mình xây dựng CNXH ở miền Bắc, Đoàn đã động viên các tầng lớp thanh niên tham gia vào công cuộc cải cách ruộng đất, xây dựng phát triển kinh tế, văn hóa xã hội. Phong trào "Lao động tình nguyện vượt mức kế hoạch nhà nước" 5 năm lần thứ nhất (1961 - 1965) đã có 2 triệu đoàn viên, thanh niên đăng ký tình nguyện, 6 vạn đoàn viên thanh niên thực hiện vượt mức kế hoạch, 22 ngàn thanh niên là chiến sĩ thi đua, 37 đoàn viên thanh niên được tặng danh hiệu anh hùng lao dộng, nhiều điển hình "Người tốt, việc tốt" trên các lĩnh vực, làm hậu thuẫn cho sự nghiệp giải phóng miền Nam.

5.- Trong công cuộc giải phóng miền Nam thống nhất Tổ quốc, với ý chí "không có gì quý hơn độc lập tự do", với tinh thần "xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước", dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đoàn đã động viên các tầng lớp thanh niên tham gia vào 2 phong trào "3 sẵn sàng" và "5 xung phong". Có 7 triệu đoàn viên thanh niên đã đăng ký tình nguyện; 21.000 đoàn viên thanh niên tham gia chống Mỹ, cứu nước; 1,5 triệu đoàn viên thanh niên nhận nhiệm vụ khó mà Đảng yêu cầu. Phong trào "3 sẵn sàng" và "5 xung phong" đã đáp ứng được nhiệt huyết của thanh niên, khao khát được cống hiến sức lực và trí tuệ cho đất nước, Đoàn đã động viên thanh niên cả nước góp phần đánh bại "chiến tranh đặc biệt", "chiến tranh cục bộ", "Việt Nam hóa chiến tranh" và đặc biệt, với chiến dịch thần tốc mùa xuân 1975, cuộc đối đầu lịch sử của dân tộc Việt Nam với đế quốc Mỹ đã làm cho đế quốc Mỹ, thất bại thảm hại trước sức mạnh và ý chí đấu tranh kiên cường của nhân dân Việt Nam dưới ngọn cờ của Đảng và Bác Hồ vĩ đại. Đoàn Thanh niên xứng đáng là đội dự bị tin cậy của Đảng, đội tiên phong chiến đấu và chiến thắng. Đại thắng mùa xuân 1975 lại tô thắm thêm truyền thống của Đoàn.

6.- Đất nước thống nhất, cả nước đi lên CNXH, tuổi trẻ Việt Nam tiếp tục gánh vác sứ mệnh to lớn là xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN, theo đường lối đổi mới của Đảng, Đoàn phát động thanh niên phong trào "tình nguyện xây dựng và bảo vệ Tổ quốc", có 1,5 triệu đoàn viên đăng ký tình nguyện xây dựng: 23.639 công trình thanh niên, 10 vạn đoàn viên thanh niên tham gia xây dựng tuyến đường sắt Bắc - Nam dài 1.720km; xây dựng 56 công trường, 35 khu kinh tế mới, 30 công trình thủy lợi, 300.000 sáng kiến.

Trong phong trào "3 xung kích làm chủ tập thể" có 2 triệu ĐV-TN tham gia đăng ký, 62.715 công trình thanh niên, 6.000 tập thể đạt danh hiệu tập thể học sinh XHCN, 1.195 đoàn viên thanh niên được tặng Huy chương tuổi trẻ anh hùng bảo vệ Tổ quốc.

7.- Trong công cuộc đổi mới của Đảng, tuổi trẻ Việt Nam đã "hành quân theo bước chân những người anh hùng", "hành quân theo chân Bác", tiếp bước cha anh đi đầu trong công cuộc đổi mới, 2 phong trào "thanh niên lập nghiệp", "tuổi trẻ giữ nước" đã động viên hàng triệu đoàn viên thanh niên tham gia, đã xuất hiện nhiều tấm gương điển hình trong lao động, chiến đấu, học tập, xây dựng cuộc sống mới.

Các phong trào "Xứng danh anh bộ đội cụ Hồ" thực hiện "6 điều Bác Hồ dạy", "Đoàn kết 3 lực lượng", "Đền ơn đáp nghĩa", "Sản xuất, kinh doanh giỏi", "3 mục tiêu dân số, sức khỏe, môi trường", "Dạy tốt, học tốt". "Học vì ngày mai lập nghiệp" … là biểu hiện cụ thể những cố gắng, nỗ lực vượt bậc của tuổi trẻ Việt Nam trong, thời kỳ công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước, thực hiện mục tiêu "dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh". Đại hội Đoàn TNCS Hồ Chí Minh toàn quốc lần thứ VII (1997) một lần nữa khẳng định khẩu hiệu hành động của tuổi trẻ trong thời kỳ mới "Thanh niên VN xung kích, sáng tạo vì sự nghiệp CNH - HĐH đất nước; vì tương lai tươi sáng của tuổi trẻ".

Để ghi nhận công lao to lớn của tuổi trẻ Việt Nam những năm qua, Đảng và Nhà nước đã tặng cho Đoàn và phong trào thanh niên nước ta: 10 huân chương kháng chiến, 13 huân chương lao động, 1 huân chương Độc lập, 3 huân chương Hồ Chí Minh, 1 huân chương Sao vàng và hàng trăm đoàn viên thanh niên được Nhà nước tặng danh hiệu anh hùng…

Câu 10. Nêu những truyền thống vẻ vang của Đoàn TNCS Hồ Chí Minh?

Suốt 76 năm cống hiến và trưởng thành dưới ngọn cờ của Đảng quang vinh và Bác Hồ kính yêu, tổ chức Đoàn và tuổi trẻ nước ta đã xây đắp nên những truyền thống vẻ vang. Đó là:

1. Truyền thống yêu nước nồng nàn, gắn bó thiết tha, trung thành tuyệt đối với Đảng, với nhân dân, với chế độ XHCN. Truyền thống quý báu này đã tạo nên động lực vô giá xuyên suốt các thời kỳ lịch sử được thể hiện trong hành động cách mạng, nhất là ở những bước ngoặt của lịch sử. Trong bất kỳ hoàn cảnh nào, điều kiện nào, tuyệt đại bộ phận thanh niên ta luôn siết chặt hàng ngũ xung quanh Đảng lãnh đạo, chấp hành nghiêm chỉnh các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước.

2. Truyền thống của đội quân xung kích cách mạng, dám đón lấy những nhiệm vụ nặng nề, dám đi đến những nơi khó khăn, gian khổ, dám suy nghĩ sáng tạo… để hoàn thành nhiệm vụ được giao. Thực hiện lời dạy của Bác Hồ: “Đâu cần thanh niên có, việc gì khó thanh niên đi đầu”, thế hệ trẻ nước ta luôn nêu cao tinh thần hăng hái sẵn sàng xung phong đến những nơi Tổ quốc cần, dù đó là biên cương hay hải đảo, dù công việc đó là mới mẻ hay khó khăn.

3. Truyền thống gắn bó đoàn kết trong lớp người cùng lứa tuổi, trong các tổ chức Đoàn và Hội; đoàn kết gắn bó với nhân dân; thương yêu giúp đỡ lẫn nhau trong hoạn nạn, đặc biệt là vào những thời điểm phải đối mặt với kẻ thù hay thiên tai. Đoàn kết dân tộc và đoàn kết quốc tế luôn hòa quyện với nhau, thông cảm và đồng tâm hợp lực vì những mục tiêu cao cả của dân tộc và thời đại.

4. Truyền thống hiếu học, ham hiểu biết để tự mình nâng cao trình độ chính trị, văn hóa, khoa học kỹ thuật, quản lý và quân sự… say mê sáng tạo trong hoạt động thực tiễn, để cống hiến cho sự nghiệp của dân tộc và của Đảng. Học ở nhà trường, học trong cuộc sống, học để làm người có ích cho xã hội luôn được các thế hệ thanh niên ta phấn đấu, thực hiện ngày càng tốt hơn.

Phát huy những truyền thống quý báu nêu trên, các thế hệ đoàn viên, hội viên, thanh niên, đội viên thiếu niên và nhi đồng ở nước ta đã tiếp bước theo nhau góp phần đưa sự nghiệp cách mạng của nước ta ngày càng phát triển mạnh mẽ, vượt qua mọi khó khăn, thử thách đạt nhiều thắng lợi hết sức to lớn, những kỳ tích vẻ vang trong thế kỷ XX làm cho Tổ quốc XHCN của chúng ta có vị thế xứng đáng trong cộng đồng quốc tế, vững bước tiến vào thế kỷ XXI.

Câu 12. Bằng cơ sở lý luận và thực tiễn chứng minh Đoàn TNCS là tổ chức thích hợp trong việc quan tâm chăm lo tổ chức Đội TNTP Hồ Chí Minh?

* Cơ sở lý luận: Đất nước VN phát triển theo con dường XHCN tất yếu phải đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng CSVN, người đại biểu chân chính duy nhất cho lợi ích dân tộc. Để đảm bảo tính thừa kế cách mạng liên tục, cần có một lực lượng hậu bị của Đảng, đó chính là Đoàn TNCS Hồ Chí Minh. Đến lượt mình, Đoàn cũng phải có một đội hậu bị xứng đáng, đó là Đội TNTP Hồ Chí Minh. Do đó, trong mối tương quan chung của xã hội, không có một lực lượng nào khác ngoài Đoàn TNCS Hồ Chí Minh có đủ điều kiện và khả năng để đảm nhận nhiệm vụ phụ trách đội.

“Bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau là một việc làm rất quan trọng và cần thiết”. Luận điểm quan trọng đó của Chủ tịch Hồ Chí Minh chính là cơ sở để định hướng hoạt động của Đảng và của Đoàn, cũng là chìa khoá để hiểu lý do tại sao Đoàn lại có một nhiệm vụ đặc biệt là trực tiếp phụ trách Đội TNTP Hồ Chi Minh. Chính vì vậy, Điều lệ Đoàn đã khẳng định” Đoàn TNCSHCM phụ trách Đội TNTP HCM, hướng dẫn thiếu nhi làm theo 5 điều Bác Hồ dạy và phấn đấu để trở thành công dân tốt của đất nước, người đoàn viên TNCS Hồ Chí Minh,

* Cơ sở thực tiễn: Thực tiễn lịch sử cách mạng Việt Nam hơn 75 năm qua cho thấy, Đoàn TNCS Hồ Chí Minh dưới sự lãnh đạo trực tiếp và toàn diện của Đảng, hoàn toàn có thể thực hiện tốt nhiệm vụ phụ trách Đội. Trong sự nghiệp CNH-HĐH đất nước hiện nay, tất yếu phải tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với Đoàn và coi trọng công tác phụ trách Đội của Đoàn TNCS Hồ Chí Minh.

Câu 17. Những nhiệm vụ chủ yếu và một số vấn đề về chỉ đạo của Đoàn đối với Đội?

1. Về nhiệm vụ:

* Chăm lo xây dựng tổ chức Đội: BCH các cấp cần phải quyết định phương hướng nhiệm vụ, biện pháp công tác Đội và phong trào thiếu nhi trong phạm vi phụ trách. Đoàn hướng dẫn, tạo điều kiện và tham mưu cho Đảng, chính quyền tạo điều kiện cho Đội hoạt động, đề cao vị trí của Đội. Nâng cao chất lượng hoạt động Đội, tập hợp thu hút các em vào các hoạt động của Đội, giáo dục các em làm theo 5 điều Bác Hồ dạy.

* Chăm sóc, giáo dục thiếu niên nhi đồng: Đoàn phải đẩy mạnh việc xã hội hoá sự nghiệp bảo vệ, chăm sóc thiếu niên, nhi đồng. Chủ động phối hợp với các cơ quan, các ngành, đoàn thể khác tạo điều kiện về cơ sở vật chất, cơ chế, chính sách và đầu tư thoả đáng cho công tác Đội. Đại diện lãnh đạo Đoàn phải tham gia tích cực trong các uỷ ban bảo vệ và chăm sóc trẻ em ở cấp mình. Mặt khác, Đoàn phải tham mưu cho Đảng, làm nòng cốt trong phong trào toàn Đảng, toàn dân, toàn xã hội bảo vệ, chăm sóc và giáo dục thiếu niên nhi đồng.

* Xây dựng đội ngũ cán bộ phụ trách Đội: Đoàn phải xây dựng và phân công những cán bộ, đoàn viên ưu tú phụ trách Đội, ưu tiên cả về số lượng lẫn chất lượng. Đoàn cần chú ý chăm lo việc đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ phụ trách Liên đội, Chi đội.

2. Một số vấn đề về chỉ đạo của Đoàn đối với Đội TNTP Hồ Chí Minh:

Sự lãnh đạo của Đoàn đối với Đội chính là nhằm mục đích “Bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau”. Do vậy, Đoàn phải nắm vững đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước, xác định phương hướng hoạt động của Đội trong từng thời kỳ phù hợp với chủ trương chung của Đoàn và phục vụ đắc lực cho nhiệm vụ chính trị của địa phương và xã hội. Đoàn lãnh đạo Đội thông qua xác lập mô hình hệ thống tổ chức Đội, các chủ trương công tác lớn và phân công cán bộ Đoàn trực tiếp phụ trách Đội.

Sự chỉ đạo của Đoàn đối với Đội là quá trình BCH Đoàn hướng dẫn Hội đồng Đội cùng cấp và BCH Đoàn cấp dưới thực hiện một chủ trương, nhiệm vụ nào đó liên quan đến hoạt động Đội. Đây là một khâu đặc biệt trong toàn bộ công tác lãnh đạo của Đoàn đối với Đội TNTP. Trong công tác chỉ đạo, cần lưu ý nội dung và phương pháp chỉ đạo.

* Nội dung chỉ đạo tập trung 4 vấn đề sau:

+ Công tác giáo dục Đội.

+ Tổ chức các hoạt động Đội.

+ Xây dựng tổ chức Đội.

+ Chăm sóc giáo dục thiếu niên nhi đồng.

* Để thực hiện nội dung chỉ đạo, có một số phương pháp chỉ đạo tiêu biểu:

+ Phương pháp chỉ đạo điểm: là phương pháp thông qua việc tạo dựng các mô hình, thực nghiệm trong phạm vi hẹp để rút kinh nghiệm rồi nhân ra diện rộng.

+ Phương pháp chỉ đạo cụm: là phương pháp chỉ đạo theo vùng, lãnh thổ mà có những điều kiện, đặc điểm giống nhau về hoàn cảnh địa lý, kinh tế - xã hội.

+ Phương pháp chỉ đạo bằng kế hoạch: là phương pháp đòi hỏi thực hiện các công việc được dự kiến trước về lực lượng thực hiện, điều kiện đảm bảo, cơ sở vật chất, kinh phí, địa điểm, thời gian..

+ Phương pháp chỉ đạo bằng văn bản: Đó là các Nghị quyết, Chỉ thị, Kế hoạch hướng dẫn. Bằng sự liên kết với các ngành để thông qua các Hội nghị liên tịch, có văn bản do các bên cùng ký và chịu trách nhiệm phối hợp thực hiện.

Câu 18. Vì sao Đoàn phải chọn chăm lo công tác cán bộ phụ trách Đội cũng như chuẩn bị cơ sở vật chất cho Đội hoạt động? Quy trình chọn cử cán bộ phụ trách Đội của Đoàn?

1. Đoàn phải chọn và chăm l công tác cán bộ phụ trách đội vì:

* Thiếu nhi bao gồm những em có độ tuổi từ 9 -14, do đặc điểm về độ tuổi, các em chưa thể đứng ra thành lập tổ chức riêng của mình, quản lý điều hành độc lập như người lớn, Mặt khác, bản thân các em rất năng động, có nhiều sáng kiến, song không thể hoàn toàn tự quản mà tất yếu phải có sự giúp đỡ của người lớn. Do đó, công tác cán bộ phụ trách Đội có một ý nghĩa đặc biệt quan trọng, đó phải là người đoàn viên ưu tú, được cử sang nhận nhiệm vụ trực tiếp phụ trách Đội.

Trong toàn bộ các khâu công tác của tổ chức Đội, thì công tác cán bộ phụ trách Đội là mắt xích quan trọng nhất, quyết định hiệu quả của hoạt động, sự thành bại của công tác Đội và phong trào thiếu nhi.

2. Đoàn phải chuẩn bị cơ sở vật chất chp Đội hoạt động vì:

Trong điều kiện hiện nay, cùng với sự phát triển kinh tế xã hội của đất nước, việc mở rộng giao lưu, hợp tác quốc tế và khu vực, nhu cầu của thanh thiếu niên ngày càng cao. Để đáp ứng nhu cầu chính đáng đó, hoạt động thanh thiếu niên nói chung và hoạt động Đội nói riêng phải được đảm bảo bởi một cơ sở vật chất, phương tiện, trang thiết bị và kinh tế tối thiểu.

Với tư cách là người phụ trách Đội, Đoàn TNCS phải quan tâm đầu tư cơ sở vật chất và kinh phí vì các lý do sau:

- Thứ nhất, do đặc điểm độ tuổi, các em có thể tự quản trong tổ chức hoạt động Đội, nhưng không thể tự tạo được cơ sở vật chất và kinh phí.

- Thứ hai, chỉ có tổ chức Đoàn mới đủ tư cách pháp nhân trong mối quan hệ với tổ chức Đảng, chính quyền và các ban ngành, đoàn thể khác, tạo cơ chế phối hợp trong việc chăm sóc giáo dục trẻ em, trong đó có việc tìm nguồn kinh phí và đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị cho hoạt động Đội.

- Thứ ba, trong điều kiện ngày nay, khi mà cơ chế thị trường đang phát huy tác dụng mạnh mẽ, bên cạnh mặt tích cực, còn có mặt trái của nó đang tác động tiêu cực tới nhiều mặt của đời sống xã hội, những hiện tượng lấn chiếm sân chơi của trẻ em, cơ sở dành cho trẻ em ngày càng xuống cấp... đòi hỏi tổ chức Đoàn càng phải quan tâm chăm lo nhiều hơn đến vấn đề kinh phí, cơ sở vật chất và trang thiết bị cho hoạt động Đội.

3. Quy trình chọn cử cán bộ phụ trách Đội:

Chọn cử cán bộ phụ trách Đội là khâu trọng yếu nhất của công tác cán bộ, bởi vì chọn đúng người, giao đúng việc là đã thành công tới 50%. Vì vậy, một đòi hỏi tất yếu đặt ra là trước hết phải chọn đúng những người làm công tác cán bộ Đoàn, hiểu người hiểu việc, biết người biết việc, luôn đặt công việc lên hàng đầu. Trong thực tiễn, đối tượng để chọn làm cán bộ phụ trách Đội là bí thư đoàn các cấp hoặc cán bộ Đoàn chuyên trách công tác cán bộ từ cấp huyện trở lên và được lựa chọn thông qua một quy trình có thể khái quát qua 4 bước sau:

Bước 1: Hình dung thật cụ thể những tiêu chuẩn thuộc về năng lực và phẩm chất của đoàn viên được cử làm phụ trách Đội.

Bước 2: Khảo sát thông qua đọc hồ sơ lý lịch, quan sát hoạt động thực tế của người trong diện xét chọn và giao việc để thử thách.

Bước 3: Xác định những điều kiện chủ quan và khách quan cho phép người được xét chọn có thể đảm nhận cương vị phụ trách Đội (ví dụ: mối quan hệ xã hội, hoàn cảnh cá nhân..)

Bước 4: Giao việc, tiếp tục theo dõi để đánh giá, sàng lọc.

Câu 10. Hội đồng phụ trách Đội là gì? Chức năng, nhiệm vụ của Hội đồng?

* Hội đồng phụ trách Đội TNTP Hồ Chí Minh (gọi tắt là Hội đồng Đội) được thành lập theo tinh thần Nghị quyết của Đại hội Đoàn toàn quốc lần thứ IV ngày 19/1/1981. Hệ thống tổ chức của Hội đồng Đội có 4 cấp theo hệ thống tổ chức hành chính. Hội đồng Đội là cơ quan đại điện cho tổ chức Đội nằm trong hệ thống tổ chức Đội, có cơ sở từ phường, xã đến Trung ương do BCH Đoàn TNCS Hồ Chí Minh cùng cấp lập ra.

Hội đồng Đội có quy chế tổ chức và hoạt động theo quyết định của Ban thường vụ Trung ương Đoàn TNCS Hồ Chí Minh.

* Hội đồng Đội có 3 chức năng:

- Tham mưu giúp Ban chấp hành, Ban thường vụ Đoàn cùng cấp những chủ trương, nội dung, biện pháp về công tác đội và phong trào thiếu nhi.

- Tổ chức thực hiện các chủ trương, nhiệm vụ của Đoàn về công tác Đội, công tác thiếu nhi trong hệ thống Đoàn, Đội.

- Thay mặt tổ chức Đoàn và Đội để quan hệ, phối hợp công tác với các cơ quan nhà nước, các đoàn thể, lực lượng xã hội, các tổ chức quốc gia và quốc tế vì lợi ích của trẻ em.

* Hội đồng Đội có 6 nhiệm vụ:

- Giúp BCH Đoàn phụ trách công tác Đội, phát triển phong trào thiếu nhi theo đường lối giáo dục của Đảng.

- Nghiên cứu, đề xuất với BCH, BTV Đoàn những chủ trương, nhiệm vụ, biện pháp công tác Đội và phong trào thiếu nhi trong từng thời kỳ.

- Xây dựng kế hoạch, triển khai thực hiện các chủ trương của BCH, BTV Đoàn về công tác Đội và phong trào thiếu nhi, hướng dẫn nghiệp vụ cho Hội đồng Đội cấp dưới, hướng dẫn nội dung và phương pháp hoạt động cho các trung tâm giáo dục ngoài nhà trường.

- Tổng kết, phổ biến, áp dụng kinh nghiệm tiên tiến, báo cáo tình hình phong trào thiếu nhi, hoạt động của Hội đồng với BCH cùng cấp và Hội đồng Đội cấp trên.

- Phối hợp với các ban chức năng, các cơ quan nghiệp vụ của Đoàn trong việc xây dựng Đội và phong trào thiếu nhi.

- Là thành viên trong Uỷ ban bảo vệ và chăm sóc trẻ em ở các cấp, chủ động tác động tới các ngành, các cấp để có sự quan tâm thích đáng đến nhiệm vụ xây dựng Đội và sự nghiệp phát triển của trẻ em.

Câu 15. Sơ lược lịch sử và những phong trào hoạt động của Đội TNTP Hồ Chí Minh?

1. Sơ lược lịch sử:

- 1926 – 1929: ở Quảng Châu (Trung Quốc), Nguyễn Ái Quốc đã tập hợp và giáo dục các thiếu nhi từ 12 – 15 tuổi, liên hệ với Đảng Cộng sản Liên Xô để gởi một nhóm thiếu nhi sang học tập. Nhóm thiếu nhi đầu tiên được Trung ương Đoàn TNCS Lê-nin tiếp nhận nhưng do tình hình ở Quảng Châu có diễn biến xấu nên việc gởi thiếu nhi không thực hiện được.

- Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ nhất (10/1930) và lần thứ hai (3/1931) có quyết định về tổ chức thanh niên và tổ chức “ Đồng tử quân”, “Thiếu niên cách mạng” cho thiếu nhi Việt Nam.

- Từ năm 1931 trở đi, nơi nào có tổ chức cơ sở Đảng và Đoàn Thanh niên thì nơi đó có tổ chức Đồng tử quân, Thiếu niên cách mạng và một số tổ chức thiếu niên khác. Nhiệm vụ chủ yếu của các tổ chức này là làm giao liên, bảo vệ các cuộc họp Đảng, khi cần thì cùng người lớn đấu tranh cách mạng. Đó là những tổ chức tiền thân của tổ chức Đội ngày nay.

- Năm 1941, cách mạng Việt Nam bước sang giai đoạn mới. Bác Hồ về nước (2/3/1941), Mặt trận Việt Minh được thành lập (5/1941). Đảng chỉ thị cho Đoàn thanh niên tập hợp thiếu nhi vào một tổ chức thống nhất. Hội nghị lần thứ 8 (5/1941) đã ghi: Tổ chức ra các đoàn thể cứu quốc như Nhi đồng cứu vong, là đoàn thể cứu quốc của trẻ em từ 10 – 11 tuổi trở lên đến 15 – 16 tuổi.

- 15/5/1941 Đội nhi đồng cứu quốc được thành lập tại thôn Nà Mạ, xã Trường Hà, huyện Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng. Đội là thành viên của Măt trận Việt Minh, hoạt động theo điều lệ của Mặt trận nhằm “Giúp đánh Tây, đuổi Nhật, làm cho Việt Nam hoàn toàn độc lập”.

Đội nhi đồng cứu quốc lúc đó có 05 đội viên, là: Nông Văn Dền (Kim Đồng - đội trưởng), Nông Văn Thân (Cao sơn), Lý Văn Tịnh (Thanh Minh), Lý Thị Ni (Thanh Thuỷ), Lý Thị Xậu (Thuỷ Tiên) do anh Đức Thanh phụ trách (trong ngoặc là bí danh do tổ chức đặt để đảm bảo bí mật hoạt động.

- Các tên gọi của Đội:

+ Đội Thiếu nhi cứu quốc (đầu chống Pháp)

+ Đội Thiếu nhi Tháng tám (3/1951 tại Hội nghị cán bộ Đoàn Thanh niên cứu quốc, thống nhất một số điểm liên quan đến biểu trưng nghi thức, tổ chức đội như: khăn quàng đỏ, bài ca chính thức, khẩu hiệu, cấp hiệu, phiên chế tổ chức Đội)

+ Đội thiếu niên tiền phong Việt Nam (25/10 – 29/10/1960 tại Đại hội Đoàn toàn quốc lần thứ 2. Khẩu hiệu: “Vì sự nghiệp XHCN và thống nhất tổ quốc - sẵn sàng” )

+ Đội TNTP Hồ Chí Minh, Đội nhi đồng Hồ Chí Minh (30/1/1970 theo Quyết nghị của Ban chấp hành Trung ương Đảng).

+ Tháng 6/1976 Hội nghị BCH TW Đoàn lần thứ 23 đã thống nhất tổ chức Đội TNTP Hồ Chí Minh trong cả nước và đề nghị BCH TW Đảng trao cho Đội khẩu hiệu: “Vì tổ quốc XHCN, vì lý tưởng của Bác Hồ vĩ đại - sẵn sàng”.

2. Những phong trào hoạt động tiêu biểu của Đội TNTP Hồ Chí Minh:

Bên cạnh việc tham gia tích cực vào các hoạt động cứu nước, kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ tuỳ theo sức của mình, để lại nhiều tấm gương tiêu biểu trong trang sử vàng của dân tộc như Kim Đồng (Cao Bằng), Lê Văn Tám (Sài Gòn), Phạm Ngọc Đa (Hải Phòng), Vừ A Dính (Lai Châu)... thì Đội TNTP Hồ Chí Minh đã có nhiều phong trào hoạt động sôi nổi, tiêu biểu sau:

- Năm 1957, Phong trào “Hợp tác xã măng non” ra đời và phát triển cùng với phong trào hợp tác hoá nông nghiệp ở miền Bắc. Mở đầu là HTX măng non Thạch Khối (Hải Hưng), sau đó lan rộng ra nhiều nơi và được Bác Hồ viết thư khen ngợi.

- Năm 1959, Phong trào “Kế hoạch nhỏ” là sáng kiến của thiếu nhi Hải Phòng, Sơn Tây. Các em tham gia phong trào bằng cách chăn nuôi, sản xuất, tiết kiệm ... để lấy tiền góp xây dựng nhà máy nhựa Thiếu niên tiền phong Hải Phòng” để sản xuất đồ chơi, đồ dùng cho thiếu nhi. Phong trào lan rộng nhiều nơi, thu hút hàng triệu thiếu nhi tham gia. Nhiều công trình thiếu nhi được xây dựng nhiều nơi ở các địa phương trong phong trào kế hoạch nhỏ.

- Năm 1961, Phong trào “Nghìn việc tốt” được thực hiện thí điểm ở Tam Sơn (Tiên Sơn – Bắc Ninh) và sau đó phát triển rộng trong cả nước trong những năm tiếp theo với những nội dung phong phú, như năm 1965 – 1996 có phong trào “Làm nghìn việc tốt chống Mỹ cứu nước”, đã xuất hiện nhiều tấm gương thiếu nhi xuất sắc Nguyễn Bá Ngọc (Thanh Hoá) hy sinh để cứu 2 em bé khỏi bom Mỹ, Hoa Xuân Tứ (Nghệ Tĩnh) cụt hai tay vẫn học giỏi, Trần Thị Vệ (Thanh Hoá) dũng cám cứu bạn khi Mỹ ném bom...

Cũng giai đoạn này, ở miền Nam, cùng với Mặt trận DTGPMN VN ra đời, Đội TNTP Miền Nam được thành lập với phong trào “Việc nhỏ chí lớn chống Mỹ cứu nước”, đã xuất hiện nhiều gương thiếu nhi anh dũng, được tặng danh hiệu Dũng sỹ diệt Mỹ như Hồ Thị Thu, Nguyễn Văn Nết (Q. Nam), Nguyễn Thị Liên, Đoàn Văn Luyện (Quảng Ngãi), Hồ Văn Mên (Long An), K’Pa K’Lơn (Tây Nguyên)...

Nhân kỷ niệm 25 năm thành lập Đôi, Đội đã được Bác Tôn trao cờ Đội thêu lời căn dặn: “Vâng lời Bác dạy, Làm nghìn việc tốt, chống Mỹ cứu nước, Thiếu nhi sẵn sàng. Ngày nay, phong trào được phát triển với tên gọi mới là “Nói lời hay, làm việc tốt, phấn đấu trở thành cháu ngoan Bác Hồ”.

Sau ngày miền Nam giải phóng, năm 1976, một phong trào “Kế hoạch nhỏ” khác được phát động theo sáng kiến của thiếu nhi thành phố Hồ Chí Minh, đó là chiến dịch thu nhặt 4 triệu Kilô gam giấy vụn và phế liệu để lấy tiền đóng “Đoàn tàu thiếu niên tiền phong”. Sau 2 năm thực hiện, ngày 31/12/1978 đoàn tàu được đóng xong. Cũng bằng kế hoạch nhỏ, khách sạn Khăn quàng đỏ của thiếu nhi ở Thủ đô Hà Nội được xây dựng, đó là sáng kiến của xã Thái Thịnh, huyện Thái Thuỵ. tỉnh Thái Bình được thiếu nhi cả nước hưởng ứng.

Từ năm 1981, phong trào thiếu nhi cả nước phát triển thể hiện qua các Đại hội “ Cháu ngoan Bác Hồ”, các cuộc liên hoan gặp mặt thiếu nhi hàng năm như năm 1983 có “Cuộc hành quân theo bước chân những người anh hùng”, năm 1984 có cuộc gặp mặt “Các chiến sỹ nhỏ Điện Biên”, năm 1985 có cuộc họp mặt “Các chiến sỹ nhỏ giải phóng quân”....

Câu 16: Trình bày mục đích, tính chất, chức năng, nhiệm vụ của Đội?

* Mục đích: Đội TNTP Hồ Chí Minh tổ chức giáo dục thiếu niên, nhi đồng Việt Nam làm theo 5 điều Bác Hồ dạy, trở thành con ngoan, trò giỏi, bạn tốt, công dân tốt, phấn đấu trở thành đoàn viên TNCS Hồ Chí Minh.

* Tính chất: Có 2 tính chất:

- Tính chất quần chúng: Đội là tổ chức quần chúng của lớp người nhỏ tuổi do các em làm chủ, tự quản mọi công việc dưới sự hướng dẫn của phụ trách đội. Đội thu hút tất cả thiếu nhi trong độ tuổi tham gia không phân biệt tôn giáo, giới tính, dân tộc, vùng lãnh thổ... miễn là các em có nguyện vọng, tự làm đơn xin gia nhập đội và được hơn một nửa đội viên trong chi đội đồng ý kết nạp.

- Tính chất định hướng chính trị xã hội: Đội TNTP Hồ Chí Minh do Đảng Cộng Sản Việt Nam sáng lập, do Đoàn TNCS Hồ Chí Minh phụ trách, giáo dục thế hệ trẻ theo quan điểm, đường lối của Đảng, giáo dục theo 5 điều Bác Hồ dạy nhằm đào tạo lớp người trẻ phục vụ cho chế độ xã hội chủ nghĩa.

* Chức năng: Có 2 chức năng cơ bản là Giáo dục và Tổ chức

- Chức năng giáo dục: Đội là một lực lượng giáo dục quan trọng của xã hội. Đội cùng với nhà trường và các lực lượng xã hội, gia đình giáo dục thiếu nhi làm theo 5 điều Bác Hồ dạy. Đội giáo dục đội viên theo những nguyên tắc, phương pháp riêng của mình phù hợp với đặc điểm lứa tuổi và đặc điểm cá nhân.

- Chức năng tổ chức: Đội tập hợp, thu hút tất cả thiếu niên, nhi đồng tham gia các hoạt động do mình tổ chức. Đội tổ chức việc thực hiện điều lệ, nghi thức cho tất cả đội viên, đấu tranh bảo vệ quyền lợi, nghĩa vụ cho thiếu nhi. Đội tổ chức cho thiếu nhi cả nước cùng toàn xã hội đấu tranh cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc, đấu tranh vì hoà bình và tiến bộ xã hội.

* Nhiệm vụ: Các tập thể Đội và đội viên có các nhiệm vụ:

- Phải phấn đấu rèn luyện tốt 5 điều Bác Hồ dạy.

- Giúp đỡ đội viên phát triển mọi khả năng trong học tập, hoạt động, vui chơi.

- Thực hiện các quyền và bổn phận trẻ em.

- Đoàn kết, hợp tác với các tổ chức, phong trào thiếu nhi ở khu vực và thế giới cùng tham gia đấu tranh bảo vệ những quyền của trẻ em, vì hoà bình hạnh phúc của các dân tộc.

Câu 17: Trình bày cơ cấu tổ chức cơ sở Đội ? Vì sao ở trường tiểu học phải có sao nhi đồng? Hình thức hoạt dộng của sao nhi đồng như thế nào?

1. Cơ cấu tổ chức cơ sở Đội: có 3 cấp

* Liên đội: Liên đội là cấp cao nhất của cơ sở đội, gồm từ 3 chi đội trở lên ở trong cùng một trường học, được thành lập theo quyết định của Hội đồng đội hoặc Ban chấp hành đoàn cùng cấp nơi trường đóng.

Liên đội mỗi năm đại hội một lần vào đầu năm học nhằm kiểm điểm đánh giá các hoạt động trong năm qua, thông qua chương trình hoạt động nhiệm kỳ tới và bầu ra Ban chỉ huy Liên đội để tiến hành các hoạt động của Liên đội. Ở mỗi Liên đội có 1 Tổng phụ trách Đội do Đoàn cấp trên bổ nhiệm, cùng Liên đội điều hành, tổ chức mọi hoạt động của Liên đội.

* Chi đội: Chi đội là đơn vị cơ sở của Đội, trực tiếp tổ chức các hoạt động Đội. Trong trường phổ thông, Chi đội gắn liền với lớp học. Chi đội là “đơn vị trung tâm” của công tác Đội, trực tiếp điều hành kế hoạch công tác, trực tiếp quản lý giáo dục đội viên.

Ban chỉ huy Chi đội do Đại hội bầu ra. Ban chỉ huy chi đội tổ chức thực hiện nhiệm vụ chi đội theo kế hoạch do Đại hội quyết định và theo sự hướng dẫn của phụ trách chi đội.

* Phân đội: Phân đội là đơn vị nhỏ nhất của Đội. Trong trường phổ thông, phân đội tổ chức tương ứng với một tổ học tập. Đặc điểm của phân đội là các em cùng độ tuổi, sinh hoạt học tập và cư trú gần gũi với nhau, gắn bó với nhau trong cùng công việc, nhiệm vụ chung.

Mỗi phân đội có một phân đội trưởng và một phân đội phó do tập thể phân đội bầu, được Ban chỉ huy đội duyệt đồng ý, hoặc do ban chỉ huy đội cử ra sau khi đã thông báo, lấy ý kiến của phân đội.

2. Trường tiểu học phải có sao nhi đồng vì:

* Nhi đồng là lớp các em từ 6 – 8 tuổi, là lớp dự bị của tổ chức Đội TNTP HCM. Tuy nhiên do tuổi còn nhỏ, nên các em chưa có ý thức về tổ chức, chưa đủ năng lực để tự quản một tổ chức riêngcủa mình. Do đó, Đại hội Đoàn toàn quốc lần thứ 5 đã quyết định không thành lập tổ chức riêng cho nhi đồng mà chỉ tập hợp nhi đồng để tiến hành các hoạt động do Đội TNTP tổ chức, các tập hợp đó gọi là sao nhi đồng. Sao nhi đồng là một nhóm từ 5 -7 em ở gần nhau, cùng học tập, vui chơi với nhau (cùng bàn, cùng tổ...)

3. Hình thức hoạt động của sao nhi đồng:

- Sao nhi đồng sinh hoạt, vui chơi theo chương trình dự bị thiếu niên tiền phong. Liên đội, chi đội có nhiệm vụ phụ trách và phân công đội viên làm phụ trách sao nhi đồng, giúp đỡ nhi đồng làm theo 5 điều Bác Hồ dạy, xứng đáng là con ngoan, trò giỏi. Ở đâu có tổ chức Đội thì ở đó có sao nhi đồng.

- Mỗi sao nhi đồng có một trưởng sao làm nhiệm vụ tập điều khiển các công việc của sao (không có cấp phó). Trưởng sao có thể được bầu cử theo hình thức luân phiên. Điều này giúp cho nhi đồng làm quen với sinh hoạt tập thể và dần dần hình thành năng lực tự quản.

- Đội viên TNTP được chi đội cử trực tiếp giúp đỡ sao nhi đồng gọi là phụ trách sao.

- Mục tiêu phấn đấu của nhi đồng là rèn luyện thực hiện 5 điều Bác Hồ dạy, xứng đáng là con ngoan, trò giỏi, bạn tốt, trở thành đội viên Đội TNTP HCM. Nội dung phấn đấu thể hiện ở 4 câu thơ sau: Vâng lời Bác Hồ dạy – Em xin hứa sẵn sàng – Là con ngoan trò giỏi – Cháu Bác hồ kính yêu.

- Bài hát truyền thống của nhi đồng là bài hát “Nhanh bước nhanh nhi đồng” của nhạc sỹ Phong Nhã.

- Mỗi tuần sao nhi đồng sinh hoạt một lần. Nhi đồng không có quỹ riêng.

Câu 18: Nêu những nguyên tắc hoạt động của Đội TNTP Hồ Chí Minh? Trong các nguyên tắc đó, nguyên tắc nào mang tính chủ đạo, nội dung cụ thể?

* Có 6 nguyên tắc, đó là:

- Nguyên tắc đảm bảo định hướng chính trị - xã hội:

- Nguyên tắc đảm bảo tính tự nguyện gia nhập Đội và tham gia tích cực vào các hoạt động của Đội.

- Nguyên tắc đảm bảo tính tự quản, phát huy năng lực sáng tạo của Đội viên trên cơ sở có phụ trách trực tiếp của Đoàn và sự hướng dẫn sư phạm của người lớn.

- Nguyên tắc đảm bảo phù hợp với đặc điểm lứa tuổi, đặc điểm cá nhân của đội viên.

- Nguyên tắc đảm bảo tính lãng mạn tích cực, gây hứng thú, mang màu sắc vui chơi trong các hoạt động đội.

- Nguyên tắc đảm bảo tính hệ thống, liên tục trong các hoạt động đội.

(Xem giáo trình)

* Trong các nguyên tắc trên, nguyên tắc đảm bảo định hướng chính trị xã hội là nội dung chủ đạo, xuyên suốt các hoạt động của Đội, vì Đội là tổ chức cộng sản của trẻ em Việt Nam, được Đảng và Bác Hồ sáng lập, lấy 5 điều Bác Hồ dạy làm mục tiêu phấn đấu. Nội dung cụ thể của Nguyên tắc này là:

Hoạt động Đội góp phần hình thành cho đội viên thế giới quan khoa học, giúp các em định hướng mục đích cuộc sống lành mạnh, đúng đắn.

Hoạt động Đội giúp các em hiểu biết truyền thống dân tộc, truyền thống cách mạng của Đảng, từ đó nâng cao lòng yêu nước, yêu quê hương, yêu bản sắc văn hoá dân tộc.

Hoạt động Đội làm các em thêm yêu quý cuộc sống và ra sức rèn luyện các phẩm chất đạo đức, năng lực ham muốn được cống hiến vào công cuộc đổi mới của đất nước, vào sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá theo định hướng xã hội chủ nghĩa.

Câu 19: Phương pháp công tác Đội TNTP Hồ Chí Minh là gì? Trong công tác Đội thường sử dụng những phương pháp gì?

* Phương pháp công tác Đội là cách thức, biện pháp tổ chức hoạt động nhằm đạt hiệu quả cao nhất trong việc giáo dục và phát triển toàn diện nhân cách cho đội viên.

* Trong hoạt động Đội thường sử dụng 6 phương pháp chính sau đây:

- Phương pháp hoạt động tập thể mang tính xã hội hữu ích.

- Phương pháp trò chơi và vui chơi.

- Phương pháp thuyết phục.

- Phương pháp giao nhiệm vụ cho đội viên.

- Phương pháp thi đua trong hoạt động Đội.

- Phương pháp khen thưởng - khiển trách.

(Xem giáo trình)

Câu 20: Tự quản của Đội là gì? Tự quản của Đội được thể hiện ở những hoạt động nào?

1. Khái niệm:

Tự quản của Đội là nguyên tắc được nêu trong Điều lệ Đội TNTP HCM. Đây là nguyên tắc chi phối mọi hoạt động của tổ chức Đội. Nguyên tăc này bao gồm 2 vế: sự phụ trách của Đoàn và sự tự quản của Đội, trong đó sự tự quản của Đội là cơ bản nhất. Sự phụ trách của Đoàn làm cho sự tự quản của Đội được tốt hơn, mang lại hiệu quả hơn.

Sự phụ trách của Đoàn thể hiện ở các mặt:

- Xác định phương hướng, nhiệm vụ của Đội trong từng thời kỳ và có kế hoạch chỉ đạo thực hiện.

- Cử cán bộ phụ trách Đội có đủ phẩm chất, năng lực và điều kiện công tác.

- Củng cố, kiện toàn hệ thống Hội đồng Đội các cấp, giúp Đoàn thực hiện tốt nhiệm vụ phụ trách Đội.

- Quyết định việc sửa đổi, bổ sung điều lệ nghi thức Đội cho phù hợp với quá trình phát triển cách mạng của Đảng, đáp ứng kịp thời nhu cầu hợp lý, nguyện vọng chính đáng của quần chúng thiếu nhi.

- Phối hợp với các lực lượng nhà trường, gia đình và xã hội chăm lo cho hoạt động đội và phong trào thiếu nhi.

- Tạo nguồn kinh phí, hỗ trợ các phương tiện phục vụ cho hoạt động Đội.

Sự tự quản của Đội thể hiện ở các mặt:

- Mọi công việc của Đội đều do mỗi đội viên và tập thể đội dân chủ bàn bạc và quyết định.

- Khi thảo luận, mọi thành viên có quyền phát biểu, trình bày ý kiến của mình.

- Khi quyết định thì thiểu số phải theo đa số. Khi thực hiện thì cấp dưới phải phục tùng cấp trên, đội viên phải phục tùng chỉ huy đội.

- Khi thực hiện các hoạt động Đội, vai trò chủ động sáng tạo của mỗi đôị viên và tập thể đội được đề cao. Các em tự đề xuất các hình thức hoạt động và tìm biện pháp để để thực hiện các kế hoạch đã được đề ra. Phụ trách Đội và các nhà sư phạm chỉ là người hướng dẫn khi thật cần thiết.

Tự quản cần được coi là phương pháp sư phạm có tính tiên tiến, có tính đặc trưng của tổ chức Đội. Sự vững mạnh của tổ chức Đội được đo bằng trình độ tự quản của đội viên. Đội cần phấn đấu để mỗi đội viên có khả năng đảm nhận được các công việc ngày càng phức tạp hơn.

2. Hoạt động tự quản của Đội thể hiện qua họp Đội và chỉ huy Đội:

* Họp Đội: Họp đội là các hoạt động thường xuyên của Đội. Trong họp Đội, đội viên có quyền phát biểu ý kiến xây dựng công tác Đội, có quyền ứng cử, đề cử, bầu cử BCH đội. Vì vậy, họp đội thể hiện rõ nét vai trò tự quản của Đội. Có các loại họp đội sau:

- Sinh hoạt thường kỳ: là các cuộc họp theo lịch đã định trước để bàn bạc, triển khai các công tác, các hoạt động Đội và giáo dục đội viên theo Nghị quyết do Liên đội, chi đội đề ra. Sinh hoạt thường kỳ do BCH chi đội chủ động điều hành sinh hoạt, tập thể đội viên dân chủ bàn bạc, thực hiện. Có 2 loại sinh hoạt thường kỳ là kiểm điểm công tác và sinh hoạt theo chuyên đề.

- Đại hội Đội: Thường được tiến hành vào đầu năm học để tổng kết công tác năm cũ, xây dựng chương trình, kế hoạch hoạt động năm học mới và bầu cử BCH chi đội, Liên đội. (cụ thể giới thiệu ở phần Nghi lễ Đội).

- Họp các ban chuyên môn của Đội: Các ban chuyên môn thường xuyên có các cuộc họp để bàn việc triển khai các công tác của mình phụ trách. Hoạt động của Ban chuyên môn có tính chất tư vấn và tổ chức thực hiện các công việc khi được ban chỉ huy đội giao phó, uỷ quyền. Các cuộc họp của các ban chuyên môn có thể coi là các cuộc họp chuyên đề, bàn việc xây dựng và triển khai một hoạt động cụ thể nào đó của Đội như văn nghệ, cắm trại, học tập, lao động...

- Họp chỉ huy Đội: Chỉ huy đội là bộ tham mưu, là bộ máy tự quản của Đội, là hoạt động để thảo luận và quyết định các chủ trương, biện pháp thực hiện Nghị quyết của Đội, vì vậy các cuộc họp chỉ huy đội phải đều đặn, nề nếp, biểu hiện sự tập trung cao độ. Cuộc họp chỉ huy Đội thường do người chỉ huy trưởng (Liên đội trưởng, Chi đội trưởng) chủ trì. Cũng có khi do yêu cầu công tác, người phụ trách đội thay mặt Đoàn TNCS trực tiếp phổ biến công tác và sau đó BCH bàn cách thực hiện.

- Họp bất thường của Đội: Đó là những phiên họp không dự kiến trước theo lịch sinh hoạt, thường là được tổ chức họp để triển khai các công việc đột xuất. Các cuộc họp bất thường là nơi thể hiện rất rõ vai trò tự quản, tự chủ của Đội và đặc biệt là chỉ huy đội vì phải tổ chức cuộc họp với nội dung không định trước, không có sự chuẩn bị chu đáo.

* Chỉ huy Đội: Đó là bộ máy tự quản của Đội ở các cấp. Ban chỉ huy đội thường do Đại hội Đội bầu ra bằng cách bỏ phiếu kín hoặc biểu quyết công khai, do đại hội lựa chọn. Chỉ huy Đội có các tiêu chuẩn và nhiệm vụ:

- Tiêu chuẩn của chỉ huy đội.

+ Phải nắm vững điều lệ và thực hiện thành thạo Nghi thức Đội.

+ Gương mẫu trong học tập, lao động, hoạt động tập thể, đạo đức tác phong..

+ Có khả năng tổ chức và hoạt động chính trị xã hội, có khả năng lôi cuốn bạn bè vào hoạt động Đội.

+ Say sưa, nhiệt tình với công tác Đội và các hoạt động chính trị xã hội.

- Nhiệm vụ Ban chỉ huy Đội:

+ Đại diện và tôn trọng lợi ích, quyền làm chủ của đội viên về các mặt học tập, lao động tập thể, vui chơi, rèn luyện sức khoẻ….

+ Tổ chức lãnh đạo toàn bộ đời sống chính trị của Đội.

+ Lập các kế hoạch hoạt động Đội trong năm học.

+ Tổ chức toàn bộ các hoạt động, sinh hoạt Đội theo kế hoạch.

+ Báo cáo định kỳ theo quy định lên các cấp thẩm quyền của Đội và Đoàn.

Để thực hiện tốt nhiệm vụ của mình, Chỉ huy đội cần có sự phân công nhiệm vụ cụ thể của các thành viên trong Ban chỉ huy theo nguyên tắc:

+ Bao quát các mặt công tác, không để sót mảng công tác nào không có cá nhân phụ trách. Không để tình trạng có đầu việc mà không có việc làm cụ thể.

+ Phân công phải thích hợp với khả năng của mỗi cá nhân.

+ Tránh tình trạng gò ép khi phân công công tác.

+ Phân công chuyên sâu kết hợp với tinh thần cùng chăm lo công việc chung.

+ Phân công cố định kết hợp với phân công đột xuất.

+ Thực hiện chế độ kiêm nhiệm, luân phiên trong phân công công tác.

Câu 21. Trình bày nội dung và hình thức hoạt động Đội?

* Nội dung hoạt động Đội: là sự cụ thể hoá và nhằm thực hiện mục đích của Đội và mục tiêu của nhà trường.

* Hình thức hoạt động của Đội: là sự thể hiện của nội dung hoạt động Đội và được quy định bởi tính chất của Đội và những nguyên tăc hoạt động Đội.

Nội dung và hình thức hoạt động Đội phù hợp và thống nhất với nhau một cách biện chứng. Đây là sự tổng kết đúc rút kinh nghiệm của cả quá trình hoạt động lâu dài của Đội và sự phát triển của hệ thống mục tiêu, phương pháp giáo dục của nền giáo dục quốc dân. Đồng thời nội dung và hình thức hoạt động của Đội cũng luôn được bổ sung và hoàn thiện để phù hợp với sự phát triển của tổ chức Đội, sự phát triển của phong trào thanh thiếu niên và xã hội.

* Những nội dung và hình thức hoạt động Đội là:

1. Giáo dục chính trị, tư tưởng và đạo đức.

Nội dung: Làm cho các em hiểu về Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, pháp luật, truyền thống dựng nước và giữ nước của dân tộc, truyền thống của Đảng, Đoàn, Đội, hiểu trách nhiệm của cá nhân trước tập thể, có lối sống chuẩn mực theo tinh thần “mình vì mọi người, mọi người vì mình”.

Hình thức:

- Giáo dục truyền thống thông qua các phong trào hoạt động

- Tổ chức các hoạt động thi đua nhân các ngày lễ lớn, các hoạt động chủ điểm, qua đó tuyên truyền, cổ động,

- Tổ chức nghe báo cáo, thời sự, chính trị.

- Phát động các đợt góp quỹ từ thiện, vì bạn nghèo, tài năng trẻ…

- Tổ chức các cuộc thi, các hoạt động liên hoan gặp mặt các hạt nhân tiêu biểu..

2- Giáo dục ý thức trách nhiệm, thái độ trong học tập văn hoá, KH-KT.

Nội dung: Học tập là nhiệm vụ chính trị quan trọng, chủ yếu của thiếu nhi. Nội dung giáo dục là làm cho các em hiểu rõ mục đích, động cơ, thái độ học tập, xây dựng cho các em biết vận dụng những điều đã học vào thực tiễn cuộc sống. Giúp các em chủ động, tích cực trong học tập.

Hình thức:

- Tổ chức nghe báo cáo điển hình các tấm gương trong học tập.

- Tổ chức gặp gỡ các tài năng trẻ, trao đổi, toạ đàm, học hỏi kinh nghiệm (thông qua truyền hình cũng là một phương tiện hữu hiệu).

- Phát động các phong trào thi đua học tập. Tổ chức các câu lạc bộ học tập, các cuộc thi đố vui để học.

- Tổ chức các hoạt động dã ngoại, cắm trại, tham quan để đội viên học tập từ thực tế cuộc sống.

3 - Giáo dục lao động, kỹ thuật tổng hợp và hướng nghiệp.

Nội dung: Góp phần hiện thực hoá mục tiêu đào tạo của nhà trường, trước hết là giáo dục cho đội viên lòng yêu lao động, tôn trọng người lao động, yêu quý thành quả lao động, hình thành một thái độ lao động mới tự giác, sáng tạo, tiết kiệm thời gian, qua lao động để dần dần giúp các em định hướng nghề nghiệp.

Hình thức:

- Phát động các phong trào thi đua trong lĩnh vực lao động.

- Tổ chức các buổi nghe nói chuyện, toạ đàm với các anh hùng, chiến sỹ thi đua trong lao động sản xuất.

- Tham quan công trường, nhà máy, xí nghiệp, hợp tác xã có thành tích..

- Tổ chức các cuộc thi như “Khéo tay hay làm”, “Kính vạn hoa”...

- Xây dựng ‘Hợp tác xã măng non”, vườn cây, ao cá, các CLB KHKT…

- Tổ chức triển lãm thành quả lao động sáng tạo, triển lãm đồ dùng học tập…

- Tổ chức kết nghĩa với các nhà máy, xí nghiệp…

4 - Giáo dục sức khoẻ vệ sinh.

Nội dung: Chỉ ra cho các em những phương pháp rèn luyện thân thể và giữ gìn vệ sinh, phát triển trí tuệ…

Hình thức:

- Các hoạt động thể dục thể thao

- Các Hội thi thể thao như Hội khoẻ Phù Đổng

- Các hoạt động tham quan du lịch, hành quân cắm trại, các cuộc thi trò chơi.

- Các hoạt động y học như CLB y tế, những Bác sĩ nhỏ tuổi…

- Tổ chức các đội thông tin, tuyên truyền vận động trong xã hội và trong tổ chức đội những kiến thức vệ sinh, sức khoẻ, các phương pháp phòng chống bệnh..

5.- Giáo dục thẩm mỹ.

Nội dung: Cung cấp những hiểu biết sơ đẳng về cái đẹp trong cuộc sống, văn hoá, nghệ thuật và trong tự nhiên. Tạo cho các em có năng lực cảm thụ cái đẹp và có những hành động đẹp. Giúp cho các em tiếp cận với chân giá trị vẻ đẹp con người: đẹp về hình thể, về trì tuệ và về tâm hồn.

Hình thức:

- Tham quan, du lịch

- Tổ chức xem phim, ca, múa, kịch..

- Gặp gỡ toạ đàm với các nhà văn, thơ, nghệ sỹ..

- Các Hội thi văn nghệ, kể chuyện, hùng biện, vẻ đẹp đội viên..

6 - Giáo dục tinh thần đoàn kết hữu nghị quốc tế.

Nội dung: Làm cho các em hiểu biết về bạn bè và thiếu nhi quốc tế, về các hoạt động và các tổ chức của thiếu nhi thế giới, nhất là thiếu nhi trong khu vực.

Hình thức:

- Tổ chức gặp gỡ thiếu nhi các nước.

- Tổ chức các câu lạc bộ bốn phương.

- Các Hội thi tìm hiểu bạn bè quốc tế (thi văn hoá, các hoạt động TDTT)

- Thi sử dụng, kể chuyện tiếng nước ngoài, viết, vẽ về các nước...

Câu 22. Nghi thức Đội là gì? Trình bày các biểu trưng và động tác trong nghi thức Đội? (Giáo trình)

Câu 23. Những nghi lễ thường đùng trong sinh hoạt Đội? (Giáo trình và sổ tay công tác Đội)

Câu 24. Phương pháp tổ chức hoạt động trại cho thiếu niên, nhi đồng? (Giáo trình)

Câu 25. Phương án tổ chức một trò chơi lớn? (Giáo trình)

Câu 26. Phân tích chức năng, nhiệm vụ của Tổng phụ trách Đội (PTĐ) trong trường phổ thông? Để làm tốt nhiệm vụ của mình, người Tổng phụ trách cần phải giải quyết các mối quan hệ nào?

* Chức năng: Trong nhà trường, Tổng PTĐ vừa là cán bộ, vừa là nhà giáo dục, vừa là người bạn thân thiết của các em.

Là cán bộ Đoàn được giao nhiệm vụ trực tiếp lãnh đạo Đội, Tổng PTĐ chỉ đạo mọi hoạt động trên cơ sở kế hoạch chung của Đoàn và của Đội. Là nhà giáo dục, Tổng PTĐ thực hiện chức trách của nhà giáo thông qua việc dạy học phù hợp với chuyên môn được đào tạo. Muốn giáo dục các em tốt, Tổng PTĐ phải luôn tự giáo dục mình. Là người anh, người bạn lớn, Tổng PTĐ phải thường xuyên quan hệ các em với tình cảm chân thành, biết lắng nghe các em để có những định hướng cho các em thực hiện ước mơ, hoài bão tốt đẹp, có ích cho xã hội.

* Nhiệm vụ:

- Tổ chức xây dựng Đội trên cơ sở xây dựng đội ngũ cán bộ phụ trách Đội.

- Chỉ đạo hoạt động toàn diện của Đội trên cơ sở phát huy vai trò tự quản của Đội.

- Tham mưu và phối hợp với các tổ chức chính quyền, đoàn thể, các lực lượng giáo dục trong và ngoài nhà trường để làm tốt vai trò tự quản của Đội.

- Không ngừng bồi dưỡng, nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ.

* Để làm tốt chức năng, nhiệm vụ của mình, Tổng PTĐ trong trường phổ thông phải thực hiện tốt các mối quan hệ sau:

1. Quan hệ với Liên đội TNTP trong nhà trường:

Tổng PTĐ lãnh đạo Liên đội TNTP thông qua các ban chỉ huy liên đội, chi đội và các lực lượng nòng cốt của Đội, do đó Tổng PTĐ phải:

- Thiết lập được mối quan hệ chặt chẽ với các BCH liên đội, chi đội, hình thành được sự hợp tác gắn bó chặt chẽ vì công việc chung giữa các ban chỉ huy Đội, các lực lượng nòng cốt của Đội trên cơ sở phát huy vai trò tự quản của Đội.

- Lựa chọn, quy hoạch đội ngũ chỉ huy Đội, tổ chức tập huấn, bồi dưỡng nghiệp vụ công tác Đội cho các ban chỉ huy Đội nhằm xây dựng một đội ngũ BCH Đội tốt về phẩm chất, mạnh mẽ về năng lực, đáp ứng cao các yêu cầu, nhiệm vụ hoạt động Đội. Đó cũng chính là cơ sở để phát huy thực sự vai trò tự quản của Đội.

2. Quan hệ với tập thể phụ trách chi đội TNTP

Đây là mối quan hệ có ý nghĩa quan trọng không chỉ chi phối chất lượng giáo dục trong nhà trường nói chung, chất lượng hoạt động Đội nói riêng mà là một yếu tố có quan hệ chặt chẽ với sự phát triển về chiều sâu của hoạt động Đội trong nhà trường. Vì vậy, người Tổng PTĐ phải:

- Xây dựng đội ngũ phụ trách chi đội đoàn kết, thống nhất, hỗ trợ lẫn nhau trong công việc chung.

- Xây dựng kế hoạch và tổ chức tập huấn, bồi dưỡng nghiệp vụ công tác Đội cho phụ trách chi đội phù hợp với kế hoạch chung.

- Đi sát cơ sở, phối hợp chặt chẽ với các phụ trách chi đội giải quyết các khó khăn trong công việc của lớp học.

3. Quan hệ với Đoàn TNCS Hồ Chí Minh trong nhà trường:

Tổng PTĐ là cán bộ Đoàn, thực hiện các nhiệm vụ dưới sự chỉ đạo của Đoàn trường, do vậy phải có trách nhiệm:

- Tham mưu cho Đoàn trường về các mặt thuộc phạm vi công tác Đội.

- Cùng với BCH Đoàn trường tổ chức phân công, vận động đoàn viên tham gia tích cực vào công tác Đội.

- Kết hợp chặt chẽ với tổ chức Đoàn địa phương làm tốt nhiệm vụ bảo vệ, giáo dục và chăm sóc trẻ em.

4. Quan hệ với Ban giám hiệu trong trường phổ thông:

Mối quan hệ giữa Tổng PTĐ và Ban giám hiệu được thể hiện thông qua 2 chức năng: Tham mưu và phối hợp.

Chức năng tham mưu: Tổng PTĐ tham mưu về hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp và công tác Đội trong nhà trường; tham mưu về lựa chọn, bố trí đội ngũ giáo viên chủ nhiệm đồng thời đáp ứng được yêu cầu phụ trách chi Đội; tham mưu đề xuất kinh phí cơ sở vật chất cần thiết cho công tác Đội.

Chức năng phối hợp: Phối hợp với Hiệu trưởng trong việc chỉ đạo tổ chức các hoạt động cụ thể của Liên đội đồng bộ với các hoạt động của nhà trường nhằm nâng cao hiệu quả giáo dục, đảm bảo tính thống nhất trong công tác giáo dục.

5. Quan hệ với Hội đồng sư phạm:

Là thành viên của Hội đồng sư phạm, Tổng PTĐ phải hình thành và phát triển được mối quan hệ mang tính hợp tác trong việc tổ chức và phối hợp giáo dục thiếu nhi, làm cho hoạt động của Liên đội và hoạt động của nhà trường nằm trong cùng một hệ thống có mối quan hệ hữu cơ với nhau, hỗ trợ lẫn nhau cùng phát triển.

6. Quan hệ với các lực lượng giáo dục khác:

Tổng PTĐ có trách nhiệm vận động, thuyết phục và tổ chức các lực lượng giáo dục khác trong và ngoài nhà trường tạo ra sự phối hợp giáo dục đồng bộ thống nhất ở cả 3 môi trường: nhà trường, gia đình và xã hội.

Câu 27. Trình bày các phương pháp công tác của Tổng phụ trách Đội (PTĐ):

1. Phương pháp tiếp cận tìm hiểu thiếu nhi: Trong hoạt động Đội, muốn tiến hành các hoạt động có kết quả, Tổng PTĐ phải hiểu rõ các em thiếu nhi, đối tượng chủ yếu của công tác Đội. Để thực hiện phương pháp tiếp cận tìm hiểu thiếu nhi, người Tổng PTĐ phải:

- Đặt mình vào vị trí của các em.

- Bản thân phải là sự thu hút, hấp dẫn các em.

- Tôn trọng trẻ em, có niềm tin vào trẻ em, không được lợi dụng niềm tin của trẻ em.

2. Phương pháp phát huy dân chủ và vai trò tự quản của Đội. Đây không chỉ là phương pháp mà còn là nguyên tắc trong hoạt động Đội, để thực hiện hiệu quả phương pháp này, Tổng PTĐ phải:

- Tin tưởng vào khả năng của các em, mạnh dạn giao việc, không được làm thay các công việc trong khả năng của các em.

- Phải kiên trì, không nóng vội khi giao công việc và bồi dưỡng các em. Cố gắng tạo cho các em thói quen tự lập, không ỷ lại vào anh chị phụ trách, cũng không biến các em thành cái máy, bảo sao nghe vậy.

- Trong quá trình bồi dưỡng luôn có biện pháp động viên khuyến khích các em, tránh chê bai hay quát mắng các em làm các em sợ hãi, thiếu tự tin, thiếu mạnh dạn trong công việc

Việc phát huy vai trò tự quản của Đội trước hết và quan trọng nhất vẫn là thông qua Ban chỉ huy Đội, vì vậy Tổng PTĐ phải tập trung bồi dưỡng cho ban chỉ huy Đội về nội dung công tác Đội, về phẩm chất đạo đức cá nhân, đồng thời giao việc cho các em tự làm trên cơ sở vừa sức với các em.

3. Phương pháp lựa chọn, bồi dưỡng ban chỉ huy Đội: Lựa chọn các em vào Ban chỉ huy Đội là một việc quan trọng đảm bảo thực hiện hiệu quả phương pháp tự quản. Việc lựa chọn các em vào Ban chỉ huy đội có thể dựa trên các cơ sở sau:

- Đánh giá qua việc thực hiện nhiệm vụ công tác Đội.

- Căn cứ vào các quy định và hướng dẫn trong Điều lệ Đội (học tập, đạo đức, uy tín đối với bạn bè, có năng khiếu tổ chức...)

- Tham khảo ý kiến của giáo viên chủ nhiệm, giáo viên phụ trách chi đội, thăm dò ý kiến đội viên.

- Xây dựng bài tập để kiểm tra cụ thể về năng lực và uy tín của các em.

Sau khi đã chọn được các em vào ban chỉ huy Đội, cần lưu ý phân công công việc phù hợp với khả năng từng em và có kế hoạch bồi dưỡng kịp thời về kỹ năng, nghiệp vụ công tác Đội. Nội dung bồi dưỡng bao gồm:

- Phương pháp công tác của Ban chỉ huy (năng lực tổng hợp).

- Nghiệp vụ tổ chức, điều hành của ban chỉ huy.

- Kỹ năng thực hành nghiệp vụ Đội, hoạt động dã ngoại, văn hóa TDTT...

Phương pháp bồi dưỡng cụ thể:

- Cử đi học tại các lớp bồi dưỡng công tác Đội trong những ngày hè.

- Bồi dưỡng thông qua các hoạt động cụ thể (thường xuyên).

- Bồi dưỡng thông qua các hoạt động chuyên đề, các lớp tập huấn Đội.

- Bồi dưỡng năng lực thực hành chỉ huy thông qua các hội thi, các đợt thao diễn..

- Bồi dưỡng thông qua sinh hoạt câu lạc bộ.

Việc bồi dưỡng phải gắn liền với việc phát huy vai trò dân chủ, tự quản của Đội. Chính việc phát huy vai trò tự quản của Đội là một phương pháp bồi dưỡng ban chỉ huy có hiệu quả nhất.

4. Phương pháp tổ chức, chỉ đạo hoạt động của đội ngũ phụ trách chi đội: Phụ trách chi đội là những người trực tiếp hướng dẫn các ban chỉ huy thực hiện các hoạt động Đội, do đó đội ngũ này giữ vai trò hết sức quan trọng trong việc quyết định chất lượng hoạt động Đội trong nhà trường. Tuy nhiên, phụ trách chi đội hầu hết là giáo viên và chủ nhiệm lớp, chủ yếu thường tập trung vào công tác chuyên môn là giảng dạy, ít có nghiệp vụ về công tác Đội, vì vậy cần được lựa chọn và bồi dưỡng thêm về nghiệp vụ công tác Đội để họ có thể cùng lúc hoàn thành 3 nhiệm vụ nói trên. Đối với vấn đề này, yêu cầu Tổng PTĐ phải:

- Chọn những giáo viên có khả năng đảm nhận được nhiệm vụ phụ trách Đội (như nhiệt tình với công tác Đội, có năng lực tổ chức các hoạt động của thiếu nhi, có năng lực sư phạm vững vàng, có kiến thức chính trị - xã hội tốt, có sức khoẻ, có thời gian...) để đề xuất với Ban giám hiệu giao nhiệm vụ phụ trách chi đội.

- Cần hướng dẫn cho đội ngũ phụ trách chi đội nắm vững chức năng nhiệm vụ của mình để không biến lớp học thành chi đội và ngược lại.

- Tiến hành bồi dưỡng và chỉ đạo đội ngũ phụ trách chi đội một cách thường xuyên và có hệ thống về lý luận và nghiệp vụ công tác Đội.

- Định hướng cho phụ trách chi đội lựa chọn và bồi dưỡng Ban chỉ huy chi đội. Đây cũng là biện pháp để nâng cao trình độ nghiệp vụ của phụ trách chi đội.

5. Phương pháp chỉ đạo điểm, nhân điển hình, tổ chức thí điểm: Chỉ đạo điểm là tập trung xây dựng một chi đội mạnh làm gương cho các chi đội khác. Kinh nghiệm khi xây dựng chi đội này sẽ được vận dụng để xây dựng các chi đội khác. Khi chọn chi đội để chỉ đạo, cần chọn chi đội phản ánh được những nét đặc trưng của trường, không nên chọn chi đội đặc biệt hoặc có sự ưu tiên thái quá về các điều kiện.

Khi nhân điển hình, phổ cập kinh nghiệm từ chi đội chỉ đạo điểm, Tổng PTĐ cần áp dụng những hình thức, phương pháp, biện pháp hoạt động của chi đội điểm vào các chi đội khác, tuy nhiên việc vận dụng cần căn cứ vào điều kiện thực tế ở từng chi đội mà điều chỉnh cho phù hợp.

Tổ chức thí điểm cũng là nhằm rút kinh nghiệm cho công tác tổ chức chỉ huy hoạt động đội, nhưng thí điểm khác chỉ đạo điểm ở chỗ là chỉ đạo điểm hướng tới xây dựng một hình mẫu để rút kinh nghiệm, còn thí điểm là thử nghiệm một nội dung hoạt động mới, phương pháp công tác mới.

6. Phương pháp đánh giá công tác Đội (phương pháp công khai hoá). Đánh giá là một khâu rất quan trọng trong hoạt động Đội nhằm rút kinh nghiệm công tác cho phụ trách Đội cũng như động viên khuyến khích phong trào hoạt động. Khi đánh giá, không được thổi phồng thành tích, cũng không che dấu khuyết điểm. Khi thực hiện phương pháp này, cần đảm bảo các yêu cầu sau:

- Việc đánh giá phải tiến hành thường xuyên và toàn diện.

- Có tiêu chuẩn, chỉ tiêu rõ ràng, thống nhất và ổn định. Có quy trình đánh giá và xây dựng thang điểm rõ ràng để đảm bảo tính khách quan, công bằng.

- Đánh giá phải sát thực, nghĩa là dù có tiêu chuẩn chung nhưng khi đánh giá cần căn cứ vào tình hình thực tế để đánh giá phù hợp.

- Đánh giá theo nguyên tắc phát triển, nghĩa là đón trước sự phát triển của các cá nhân và tập thể để có sự đánh giá phù hợp với xu thế phát triển đó.

- Khuyến khích việc tự đánh giá của cá nhân và tập thể.

Lưu ý đánh giá bao giờ cũng gắn liền với việc kiểm tra, căn cứ vào kết quả kiểm tra khảo sát để đánh giá.

7. Phương pháp kế hoạch hoá công tác Đội:

Kế hoạch hoá theo nghiã chung nhất là tất cả mọi hoạt động, mọi công việc đều được tiến hành theo kế hoạch. Tổng phụ trách vừa làm giáo viên, vừa làm phụ trách Đội, tính chất công việc khác nhau. Do đó, mọi công việc của Tổng PTĐ phải có kế hoạch mới hoàn thành được nhiệm vụ.

Kế hoạch hoá giúp Tổng PTĐ hoàn toàn chủ động trong công việc, tránh những sự vụ làm phân tán sự tập trung vào các công việc quan trọng đã được sắp đặt. Kế hoạch hoá còn giúp Tổng PTĐ đưa mọi hoạt động của Đội vào nề nếp. Tuy nhiên, cũng không nên quá máy móc, lệ thuộc tuyệt đối vào kế hoạch mà cần có sự mềm dẻo khi thực hiện kế hoạch, các công việc đều phải có nhiều phương án dự phòng để đảm bảo sự chủ động trong công tác.

Câu 28. Chương trình, kế hoạch công tác của Tổng phụ trách Đội (PTĐ) là gì? Ý nghĩa, tác dụng, tính chất của việc xây dựng chương trình, kế hoạch?

* Chương trình kế hoạch công tác của Tổng PTĐ là toàn bộ những dự kiến hoạt động của Đội TNTP HCM trong trường phổ thông được vạch ra một cách có hệ thống trong một thời gian nhất định với cách thức, trình tự và thời hạn nhất định. Đó là một văn bản thể hiện sự sắp đặt khoa học các công việc của Đội với các mục tiêu rõ ràng, dựa trên những đặc điểm tâm sinh lý lứa tuổi, nhu cầu, nhiệm vụ, chủ trương, chính sách và cả những khả năng về phương tiện, điều kiện, hoàn cảnh, thời gian nhằm hoàn thành có hiệu quả những chủ trương, nhiệm vụ công tác Đội đề ra.

* Ý nghĩa, tác dụng của xây dựng chương trình kế hoạch:

Xây dựng chương trình kế hoạch công tác Đội là một khâu quan trọng trong chức năng tổ chức, quản lý và điều hành công tác Đội. Nó giúp cho Tổng PTĐ tập trung sự chỉ đạo của mình vào các mục tiêu chính, kịp thời sửa đổi, điều chỉnh, xử lý các tình huống khi triển khai thực hiện kế hoạch nhằm đạt mục tiêu dự kiến đảm bảo chất lượng, nâng cao hiệu quả trong việc tổ chức hoạt động Đội.

Chương trình kế hoạch công tác Đội là “công cụ” lao động, là phương tiện giúp Tổng PTĐ nhìn rõ các khâu công tác, biết được từng thời gian cần tập trung vào khâu chủ yếu nào, vào việc quan trọng nào...để có sự định hướng cụ thể trong từng thời gian hoạt động của mình.

Toàn bộ công tác quản lý giáo dục trong nhà trường phổ thông luôn đòi hỏi phải có nền nếp, có chương trình kế hoạch, vì vậy chương trình kế hoạch công tác Đội là nội dung bắt buộc nằm trong kế hoạch chung của nhà trường, là một nội dung giáo dục mang tính pháp lý cao.

* Tính chất:

Chương trình kế hoạch phải thể hiện mục tiêu giáo dục, bảo đảm định hướng chính trị tư tưởng.

Chương trình kế hoạch phái có tính khoa học.

Chương trình kế hoạch phải có tính thực tiễn, xuất phát từ thực tiễn, có tính kế thừa những bài học kinh nghiệm của quá khứ.

Chương trình kế hoạch có tính toàn diện, bao quát được toàn bộ công tác của người Tổng PTĐ, đồng thời phải phù hợp với đối tượng thực hiện.

Chương trình kế hoạch phải mang tính pháp lý được các cấp có thẩm quyền phê duyệt.

Chương trình kế hoạch phải có tính hợp lý đảm bảo sự phù hợp về điều kiện thời gian, lực lượng, vật chất, nội dung và hình thức...

 

1. Số đơn vị học trình: 2 (30 tiết)

2. Trình độ: Cho sinh viên cao đẳng năm thứ 3

3. Phân bổ thời gian:

- Lên lớp: 20 tiết

- Xê mi na, thảo luận: 02 tiết

- Bài tập, tự học: 04 tiết.

- Thi kết thúc: 02 tiết

4. Điều kiện tiên quyết: Không

5. Mục tiêu của học phần: Phương pháp công tác Đội TNTP Hồ Chí Minh là môn học chính thức ở trường Cao đẳng TDTT Đà Nẵng. Mục tiêu của môn học nhằm trang bị những kiến thức cơ bản về lý luận và phương pháp công tác Đội TNTP Hồ Chí Minh, trên cơ sở đó, sinh viên có thể thiết kế và tổ chức các hoạt động phong trào cho thiếu niên nhi đồng ở các trường phổ thông cơ sở và tiểu học.

6. Mô tả vắn tắt nội dung học phần:

Nội dung chính của học phần bao gồm các vấn đề sau:

- Trang bị cho sinh viên những kiến thức cơ bản nhất về cơ sở khoa học ngành công tác Đội, sự quan tâm của Đảng, Bác Hồ, Nhà Nước đối với thiếu niên và tổ chức Đội. Lịch sử phát triển của tổ chức Đội, các nguyên tắc, phương pháp, nội dung và hình thức hoạt động Đội.

- Trang bị các kỹ năng thực hành nghi thức, thực hành các hoạt động nghiệp vụ của Đội TNTP Hồ Chí Minh; kỹ năng và phương pháp làm việc của giáo viên - tổng phụ trách, phụ trách chi đội TNTP Hồ Chí Minh.

7. Nhiệm vụ của sinh viên:

- Dự lớp:Yêu cầu có mặt ít nhất 80% thời gian lên lớp.

- Bài tập:Soạn bài thuyết trình để thảo luận

- Dụng cụ học tập: Còi, dây dù

- Khác: Tìm hiểu các tài liệu tham khảo theo quy định.

8. Tài liệu học tập:

8.1) Giáo trình phương pháp công tác Đoàn - Đội, dùng cho sinh viên trường Cao đẳng TDTT Đà Nẵng (tài liệu lưu hành nội bộ) - Đà Nẵng 2003.

8.2) Điều lệ Đội TNTP Hồ Chí Minh

8.3) Sổ tay phụ trách Đội

8.4) Công ước Liên Hiệp Quốc về quyền trẻ em

8.5) Các văn bản của Đảng, Nhà Nước, Đoàn TNCS HCM liên quan đến trẻ em và Đội TNTP Hồ Chí Minh

9. Tiêu chuẩn đánh giá sinh viên:

- Dự lớp: Có

- Thảo luận, bài tập: Có

- Bản thu hoạch: Không

- Thuyết trình: Có

- Báo cáo: Không

- Thi giữa học kỳ: Không

- Thi cuối học kỳ: Có

- Khác: Không 

10. Nội dung chi tiết học phần:

CẤU TRÚC CHƯƠNG TRÌNH:

TT

NỘI DUNG

SỐ GIỜ

Lý thuyết

Thảo luận

Thực hành

Tự học

1

Những vấn đề chung

4

 

 

 

2

Tổ chức và hoạt động Đội TNTP Hồ Chí Minh

4

 

 

 

3

Đoàn TNCS Hồ Chí Minh với Đội TNTP Hồ Chí Minh

2

1

 

 

4

Công tác phụ trách Đội trong trường phổ thông

2

 

 

 

5

Nghi thức Đội TNTP Hồ Chí Minh

2

 

 

2

6

Nghi lễ Đội TNTP Hồ Chí Minh

2

 

 

2

7

Hoạt động trại và trò chơi thiếu nhi

2

 

2

 

8

Hội thi của thiếu nhi

2

1

 

 

Bài 1. Những vấn đề chung (4 giờ)

- Khái quát về môn học Phương pháp công tác ĐộI TNTP Hồ Chí Minh

- Vị trí của trẻ em trong xã hội.

- Sự quan tâm của Đảng, Nhà Nước, Bác Hồ đối với thiếu nhi và tổ chức Đội,  Sơ lược lịch sử phát triển của tổ chức Đội.

- Ngành TDTT vớI công tác thiếu niên – nhi đồng

Bài 2. Tổ chức và hoạt động Đội TNTP Hồ Chí Minh (4 giờ)

- Mục đích, tính chất, chức năng, nhiệm vụ của tổ chức Đội.

- Hệ thống tổ chức của Đội.

- Các nguyên tắc hoạt động và phương pháp công tác của Đội.

- Nội dung và hình thức hoạt động Đội.

Bài 3. Đoàn TNCS Hồ Chí Minh với Đội TNTP Hồ Chí Minh (3 giờ)

- Phụ trách Đội TNTP là nhiệm vụ của Đoàn TNCS Hồ Chí Minh.

- Những nhiệm vụ của Đoàn đối với Đội.

- Cán bộ Đoàn phụ trách Đội.

- Sự phối hợp giữa các lực lượng giáo dục trong công tác giáo dục thiếu nhi

Thuyết trình - Thảo luận: Các bài 1, 2, 3 

Bài 4. Công tác phụ trách Đội trong trường phổ thông (2 giờ)

- Những đặc trưng cơ bản của Tổng phụ trách Đội

- Chức năng, nhiệm vụ của Tổng phụ trách Đội

- Lề lối và phương pháp công tác của Tổng phụ trách Đội.

Bài 5. Nghi thức Đội TNTP Hồ Chí Minh (4 giờ)

- Các kỹ năng cơ bản về nghi thức Đội                       

- Vấn đề chỉ huy nghi thức đội

Bài 6. Nghi lễ Đội TNTP Hồ Chí Minh (4 giờ)

-  Các nghi lễ của Đội TNTP Hồ Chí Minh và cách thực hành nghi lễ.

- Các vấn đề về Đại hội Đội TNTP Hồ Chí Minh và tổ chức Đại hội

Bài 7. Hoạt động trại và trò chơi thiếu nhi (4 giờ)

- Hệ thống các vấn đề về trại thiếu nhi và hoạt động trại.

- Thực hành thiết kế tổ chức trại và các trò chơi trong trại

- Phương pháp tổ chức trò chơi lớn.

Bài 8. Hội thi của thiếu nhi (3 giờ)

- Những vấn đề chung về Hội thi của thiếu nhi.

- Thiết kế, tổ chức một số hội thi của thiếu nhi.      

Thuyết trình, thảo luận: Hiệu quả của các hoạt động phong trào đối với thiếu niên, nhi đồng.