DMCA.com Protection Status

CHỈ HUY TRONG QUẢN TRỊ DOANH NGHIỆP-  quan tâm

Được đăng bởi: Trần Việt Thao

Cập nhật lúc 16:09 ngày 03/01/2018

ST Tài liệu hỗ trợ TN khởi nghiệp:


CHỈ HUY TRONG QUẢN TRỊ DOANH NGHIỆP-

( GT.Chương 4 GIÁM ĐỐC DOANH NGHIỆP - nguồn: Giáo trình quản trị doanh nghiệp- ĐHKTQD- http://dulieu.tailieuhoctap.vn/books/kinh-doanh-tiep-thi/quan-tri-chien-luoc/file_goc_779196.pdf )


“…Doanh nghiệp có đội ngũ các nhà quản trị chuyên nghiệp, có hệ thống tổ chức tốt, nhưng lại thiếu một giám đôc tài ba, có tầm nhìn xa trông rộng thì khó có thể thành công trong điều kiện cạnh tranh khốc liệt hiện nay. Trong chương này sẽ giới thiệu những quan điểm về nghề giám đốc doanh nghiệp, những đặc trưng của nghề này và đòi hỏi về điều kiện, tô'chất cắn có của người giám đốc doanh nghiệp. Để lãnh đạo cố hiệu quả giám đốc cần có phương pháp và phong cách lãnh đạo phù hợp, phương pháp làm việc hiệu quả trong cơ chế thị trường. Có người nói, thị trường sản sinh ra những giám đốc tài ba, điều đó hoàn toàn đúng. Kinh tế thị trường ngày nay đưa đến cho giám đốc quá nhiều thông tin. Điều này làm cho giám đốc lúng túng, bối rối và họ không biết làm gì với cái mớ thông tin đó. Vậy là chỉ riêng việc xử lý thông tin cũng đưa họ dển hoặc là thích ứng, hoặc lả không thích ứng với cơ chế thị trường. Nếu không thích ứng họ sẽ bị đào thải. Cái chìa khoá của sự thánh công của giám đốc doanh nghiệp là sự năng nổ, nhiệt tình, tời ha vờ luôn tỉm ròi, dổi mới, sáng tạo. Đất nước ta mới chuyển sang cơ chế thị trường, hiện tại còn tồn tại nhiều thể hệ giám đốc khác nhau do lịch sử để lại. Vấn đề là phải xây dựng m ột dội ngũ giám đốc mới năng động, thích ứng với cơ chế thị trường, kinh doanh có hiệu quả và đảm bảo cho doanh nghiệp phát triển liên tục.

I. KHÁI NIỆM VÀ ĐẶC ĐIỂM LAO ĐỘNG CỦA GIÁM ĐỐC DOANH NGHIỆP

1. Khái niệm giám đốc doanh nghiệp

a) Khái niệm giám đốc doanh nghiệp theo quan điểm truyền thống ở nước ta

Theo quan điểm truyền thống thì chỉ có nhà nước mới có quyền thành lập doanh nghiệp và những doanh nghiệp được thành lập ra là doanh nghiệp nhà nước. Vì vậy, khái niệm giám đốc doanh nghiệp chỉ được giới hạn trong phạm vi doanh nghiệp nhà nước. Theo khái niệm này thì giám đốc doanh nghiệp nhà nước vừa là người đại diện cho nhà nước, vừa là người đại diện cho tập thể những người lao động, quản lý doanh nghiệp theo chế độ một thủ trướng, có quyền quyết định việc điều hành mọi hoạt động của doanh nghiệp. Khái niệm này chỉ rõ trong cơ chế quản Iv cũ, giám đốc doanh nghiệp chịu sự chi phối của 2 áp lực: một là, của cơ quan quản lý nhà nước cấp trên; hai là, của tập thể những người lao động mà đại hội công nhân viên chức là đại diện quyền tối cao của tập thể những người lao động. Từ khái niệm trên cho chúng ta nhận xét: - Giám đốc tất cả các doanh nghiệp đều do Nhà nước bổ nhiệm và phải làm việc theo sự chỉ đạo của Nhà nước. - Những người lao động là chủ sở hữu của doanh nghiệp. Giám đốc là người đại diện cho tập thể những người lao động, sẽ là người đại điện quyền sớ hữu trong doanh nghiệp. Như vậy, giám đốc vừa là người quản lý, vừa là người chủ sở hữu, sẽ dẫn đến tình trạng: Giám đốc doanh nghiệp vừa là “người đá bóng, vừa là người thổi còi trận đấu”. Trong nhiều trường hợp dẫn đến làm thất thoát vốn, sứ dụng lãng phí các nguồn lực của doanh nghiệp.

b) Khái niệm mới về giám dốc doanh nghiệp

Trong cơ chế thị trường, một doanh nghiệp dù ở quy mỏ nào, loại hình sở hữu nào cũng phải có người đứng đầu mà ta thường gọi là giám đốc doanh nghiệp. Vậy, giám đốc doanh nghiệp là gì? Một định nghĩa ngăn gọn: "Giám đốc doanh nghiệp là người thủ trưởng cấp cao nhất trong doanh nghiệp” Chúng ta có thể coi đây là một khái niệm đơn giản nhất về giám đốc doanh nghiệp. Theo khái niệm trong “Điều lệ xí nghiệp công nghiệp quốc doanh” thì: “Giám đốc xí nghiệp là người vừa đại diện cho Nhà nước vừa đại diện cho công nhân viên chức quản lý xí nghiệp theo chế độ một thủ trưởng, có quyền quyết định việc điều hành hoạt động của xí nghiệp theo đúng kế hoạch, chính sách, pháp luật của Nhà nước và nghị quyết của đại hội công nhân viên chức, chịu trách nhiệm trước Nhà nước và tập thể lao động về kết quả sản xuất kinh doanh của xí nghiệp”. Trong cuốn “Hệ thống quản lý của Nhật Bản, truyền thống và sự đổi mới”, khái niệm giám đốc doanh nghiệp được hiểu như sau: “Giám đốc (tổng giám đốc) là người điều hành hoạt động kinh doanh hàng ngày của công ty và chịu trách nhiệm trước hội đồng quản trị về việc thực hiện các nhiệm vụ và quyền hạn được giao”. Tại Mỹ, người ta cho rằng: “Giám đốc là người được uỷ nhiệm đầy đủ quyền hạn để điều hành hoạt động kinh doanh của công ty và có quyền hoạt động nhân đanh công ty trong mọi trường hợp” . Tại Pháp, khái niệm vể giám đốc doanh nghiệp trong cơ chế thị trưèỉng được khẳng định; “Đứng đầu một tổ chức công ty là Ban giám đốc, có trách nhiệm tập thể trong việc quản lý công ty. về mật pháp lý, các giám đốc được bầu qua một cuộc họp của các cổ đông”. Qua các khái niệm về giám đốc doanh nghiệp nêu trên, có thể đưa ra một khái niệm chung nhất về giám đốc doanh nghiệp trong cơ chế thị trường như sau: Giám đốc doanh nghiệp là người được chủ sở hữu doanh nghiệp giao cho quyền quản lý điều hành doanh nghiệp theo chê độ một thủ trưởng, chịu trách nhiệm trước người chủ sở hữu về mọi hoạt động của doanh nghiệp cũng nhu kết quả của các hoạt động đó. Đồng thời được hưởng thù lao tương xứng với kết quả mang lại. Trong kết luận này được đề cập đến một nội dung chung cho mọi giám đốc của các doanh nghiệp ở các loại hình thức sở hữu khác nhau. Trong thực tế, có doanh nghiệp người chủ sở hữu đồng thời làm giám đốc. Đối với doanh nghiệp nhà nước thì giám đốc là người do Nhà nước bổ nhiệm và hưởng lương theo chế độ Nhà nước quy định.

2. Đặc điểm lao động của giám đốc doanh nghiệp

a) Giám đốc là một nghề. Lao động của giám đốc là lao động chất xám, lao động quản lý, lao động phức tạp và lao động sáng tạo. Nghề giám đốc đòi hỏi quy trình đào tạo hết sức khắt khe nhằm đáp ứng nhu cầu đa dạng về kiến thức khoa học công nghệ, kinh tế, quản lý, giao tiếp xã hội, ngoại ngữ.

b) Lao động của giám đốc là lao động quản lý kinh doanh mà trước hết là quản lý và sử dụng vốn. Người giám đốc không chỉ biết tạo vốn mà còn phải biết sử dụng hiệu quả vốn sản xuất kinh doanh. Vốn là thứ cần phải có đối với bất cứ một nhà kinh doanh nào. Vốn đó trang trải các khoản chi phí ban đầu phục vụ cho việc nghiên cứu thị trường, các lệ phí xin phép tạo lập doanh nghiệp... Vốn để mua sắm tài sản cố định, kể cả tài sản hữu hình (như đất đai, nhà xưcmg, máy móc, thiết bị...) và tài sản vô hình (như mua bằng phát minh sáng chế, bản quyền, quyền được kinh doanh...) và vốn lưu động để mua vật tư, hàng hoá, trả công lao động... Nhiệm vụ của giám đốc là phải xác định được số vốn cần thiết để có biện pháp giải quyết và xử lý. Nếu vốn tự có không đủ thì phải tìm nguồn tài trợ. Để có nguồn tài trợ thì trước hết giám đốc phải tính toán và khẳng định được một cách chắc chắn rằng, doanh nghiệp của mình khi hoạt động sẽ có lãi. Vì chỉ khi chứng minh được điều đó mới có thể tìm được người hùn vốn, người cho vay. Trong việc huy động và vay vốn, dù là của gia đình, anh em, họ hàng hay bạn bè cũng cần phải nhớ một điều, muốn bảo đảm được quyền độc lập của mình trong việc lãnh đạo, quản lý và chỉ huy sản xuất kinh doanh cần phải có kế hoạch thanh toán sớm các khoản nợ. Thực tế cho thấy, chừng nào chưa thoát khỏi cảnh “con nợ” thì chừng đó chưa thể thoát khỏi nguy cơ can thiệp của chủ nợ và do đó, vai trò quyết định của giám đốc còn bị chi phối của các chủ nợ. Khi phải huy động hoặc vay vốn, về nguyên tắc phải tính toán thận trọng, chính xác cần bao nhiêu, lúc nào, trong thời gian bao lâu. Nếu vay quá nhiều, quá lâu sẽ phải trả lãi nhiều ảnh hưởng đến lợi nhuận thu được nhưng ngược lại nếu vay quá ít không đủ vốn để hoạt động sẽ gây trở ngại cho sản xuất kinh doanh ngay khi vừa mới bắt đầu và như vậy, sẽ ảnh hưởng đến việc thực hiện hợp đồng, đến uy tín của doanh nhiệp cũng như người chủ doanh nghiệp trong quan hệ với khách hàng. Một giám đốc có khả năng như vậy sẽ có thể nhanh chóng xác định được kế hoạch cải tổ sản xuất của đơn vị mình nhằm đạt hiệu quả sản xuất kinh doanh cao nhất.

c) Lao động của giám đốc như là lao động của nhà sư phạm biết viết và truyền đạt ý kiến chính xác, biết thuyết phục, đồng thời cũng là nhà quản lý con người, bảo đảm thu nhập cho người lao động, phát triển nghề nghiệp và khơi dậy khát vọng, ý chí và khả năng làm giàu cho doanh nghiệp, cho xã hội và cho cá nhân theo pháp luật; biết kiên định trong mọi tình huống, khắc phục khó khăn, thắng không kiêu, bại không nản; biết lường trước mọi hậu quả. Người giám đốc phải gương mẫu, có đạo đức, không chỉ trong đời sống cá nhân, mà cả trong kinh doanh; giữ chữ tín với khách hàng; tôn trọng cấp trên, thuỷ chung với bạn bè, đồng nghiệp; độ lượng, bao dung với cấp dưới. Giám đốc còn phải biết sống công bằng, đãi ngộ đứng mức, biết lắng nghe, quyết đoán mà không độc đoán, sáng tạo mà không tuỳ tiện, ngẫu hứng mà không tuỳ hứng.

d) Lao động của giám đốc như là lao động của nhà hoạt động xã hội biết tuân thủ, hiểu thấu đáo những vấn đề luật pháp, nhất là luật kinh tế, các chính sách chế độ quy định của Nhà nước có liên quan đến chức năng, nhiệm vụ hoạt động - kinh doanh của doanh nghiệp. Biết tham gia vào công tác xã hội.

e) Sản phẩm lao động của giám đốc Xuất phát từ đặc điểm lao động của giám đốc, chúng ta có thể thấy rằng sản phẩm lao động của giám đốc khá đặc biệt đó là: các quyết định. Quyết định công việc hàng ngày của giám đốc, song không giống như trăm ngàn công việc khác, nó hết sức hệ trọng, ảnh hưởng trực tiếp đến nhiều lĩnh vực, nhiều con người. Bởi vậy, trước khi ra quyết định cần phải nghiên cứu một cách thấu đáo, tỉ mỉ tất cả những vấn để có kiên quan, đồng thời phải thảo luận với cộng sự, lắng nghe ý kiến của họ. Quyết định của giám đốc là hành vi sáng tạo mang tính chỉ thị, tác động vào đối tượng quản lý, nhằm giải quyết một vấn đề đã chín muồi trên cơ sở nắm vững các quy luật vận động của đối tượng. Quyết định đúng là chính phẩm và ngược lại quyết định sai sẽ là phế phẩm. Quyết định đúng, kịp thời mang lại hiệu quả cao, quyết định sai và không kịp thời thì mang lại hậu quả nghiêm trọng. Để chính phẩm chiếm ưu thế trong những sản phẩm do mình tạo ra, giám đốc phải tìm mọi biện pháp nhằm nâng cao chất lượng quyết định. Muốn nâng cao chất lượng quyết định thì bản thân giám đốc phải thực sự dân chủ trong quá trình nghiên cứu ra quyết định và thực hiện quyết định, phải thu hút trí tuệ của tập thể, của các chuyên gia để chọn phương án tối ưu. Khi đã ra quyết định thì quyết định phải trở thành mệnh lệnh và giám đốc phải chịu trách nhiệm trước quyết định đó và yêu cầu mọi người phải nghiêm túc thực hiện. Để có được điều đó đòi hỏi giám đốc phải có uy tm, có khả năng sư phạm, hiểu khoa học quản lý và tâm lý. Vì mỗi quyết định cần có độ chính xác và tính khoa học cho nên giám đốc cần áp dụng thành tựu khoa học kỹ thuật vào việc lựa chọn quyết định như các mô hình toán kinh tế, tin học (sử dụng máy vi tính)v.v... để giúp cho giám đốc có cơ hội lựa chọn, so sánh nhiều phương án hơn, tính toán nhanh và chính xác hơn, từ đó có quyết định tối ưu. Sau khi đã có quyết định, người giám đốc phải nắm được các thông tin và xử lý thông tin chính xác, xác định được chức năng, nhiệm vụ của từng người trong quá trình thực hiện quyết định, đồng thời phải có chế độ kiểm tra và thưcmg xuyên chỉ đạo quá trình thực hiện quyết định. Các quyết định là do giám đốc làm ra. Do vậy, chất lượng của quyết định phụ thuộc vào trình độ nhận thức, vận dụng các quy luật kinh tế, xã hội khách quan vào doanh nghiệp. Chất lượng của quyết định còn phụ thuộc vào kinh nghiệm của giám đốc như tính nhạy bén với cái mới, xu thế phát triển của các hiện tượng. Không những thế, nó còn phụ thuộc vào nghệ thuật quản trị của giám đốc biểu hiện ở chỗ biết xét đoán tình hình của đối tượng quản trị, đề ra biện pháp giải quyết được những nhiệm vụ tiên tiến nhưng hiện thực.


II. NHỮNG TỐ CHẤT CỦA GIÁM ĐỐC DOANH NGHIỆP

Trong giai đoạn nền kinh tế vận hành theo cơ chế kinh tế thị trường thì giám đốc phải là một nghề. Để các giám đốc có nghề thì vấn đề đặt ra là cần phải có sự đào tạo. Tuy nhiên, việc đào tạo giám đốc không chỉ diễn ra ở trường lớp mà còn cả quá trình tự đào tạo (thông qua học trong sách vở, đúc rút từ kinh nghiệm của bản thân, đồng nghiệp...)

- Dù đào tạo bằng cách nào thì giám đốc cũng phải nắm cho được nghề và hơn thế nữa, phải có tay nghể cao. Cùng với học nghề, những người muốn là giám đốc doanh nghiệp giỏi thường phải có thêm một số “tố chất” sau:

1. Khát vọng làm giàu chính đáng con người ta ai cũng có mong muốn, cũng có hy vọng giàu sang. Song, mong muốn và hy vọng khác với khát vọng làm giàu và nhất là khát vọng làm giàu chính đáng. Có thể nói, những con người chỉ hy vọng, mong muốn là những con người đồng nghĩa với sự thụ động. Họ thường trông chờ ở những điều kiện khách quan mà không quen suy nghĩ, hành động và họ sợ đổi thay. Họ sẵn sàng yên tâm chấp nhận những gì đã có, nhất là khi do một sự may mắn nào đó mà cái đã có đủ cho phép họ “sánh vai” được với những người xung quanh. Khác với hy vọng và mong muốn, khát vọng là một thứ mong muốn đòi hỏi với một sự thôi thúc mạnh mẽ đến cháy bỏng, là động lực nội tâm luôn luôn day dứt, thúc đẩy con người phải đạt tới. Những người có khát vọng làm giàu là những người không bao giờ chấp nhận và thoả mãn với hiện tại, cho dù so với xung quanh họ khấm khá hơn. Đặc tính của họ là luôn suy nghĩ, tìm tòi và hành động. Họ không sợ đổi thay và họ dám trả giá, dám đánh đổi tất cả để đi đến mục tiêu: ngày càng giàu có hơn. Tuy nhiên, nếu chỉ dừng lại ở khát vọng làm giàu, làm giàu với bất cứ giá nào, với bất cứ phương tiện, thủ đoạn nào, kể cả đến “táng tận lương tâm ” thì cũng không phải là phẩm cách, tư chất của người giám đốc. Chỉ có khát vọng làm giàu chính đáng, làm giàu bằng sức lực và tài năng của chính m ình, làm giàu không phải bằng con đường “sống trên lưng kẻ khác” mới là tố chất cần có của người giám đốc. Tóm lại, khát vọng làm giàu chính đáng là một trong những tốt chất quan trọng của người giám đốc. Tất cả những ai muốn trở thành giám đốc, không bao giờ được phép tự chôn mình trong nỗi nghèo túng, thiếu thốn, không bao giờ được chấp nhận và thoả mãn với những gì đã có, mà phải luôn vưofn lên bằng tài năng, trí tuệ, công sức của mình để giàu sang hơn. Và cái mong muốn đó phải được coi như một mệnh lệnh và phải theo đuổi đến cùng với tất cả năng lực, thiện chí, cố gắng; và bằng tất cả những gì có thể sử dụng để đến đích. Đó cũng là một thứ ám ảnh, day dứt cả đời người.

2. Kiến thức Kiến thức của giám đốc, trước hết phải là kiến thức tổng quát để từ đó có thể xác định được đầu tư vào đâu, lĩnh vực nào, khi nào là thuận lợi, hiệu quả nhất, v.v... Điều này được thể hiện rất rõ qua các doanh nhân nước ngoài đầu tư vào Việt Nam. Họ không thể không nghiên cứu chính sách mở cửa của Việt Nam. Họ cần phải biết tình hình kinh tế, chính trị, xã hội thế nào? Ngành nào, khu vực nào được ưu tiên, ưu đãi? ở đâu năng động, thoáng đãng? ở đâu có thể yên ổn làm ăn lâu dài? v.v... Ngoài kiến thức tổng quát, giám đốc còn phải có kiến thức chuyên môn, vì nếu không biết nghề chuyên môn thì chắc chắn các giám đốc sẽ không thể hoạch định được chiến lược hành động, không thể tổ chức, chỉ huy và kiểm soát hoạt động của doanh nghiệp. Song như thế không có nghĩa cứ có kiến thức là có thể trở thành giám đốc. Kiến thức chỉ là một tiềm năng, và chỉ khi nào nó được biến thành những chương trình kế hoạch hành động cụ thể nhằm hướng tới mục tiêu, thì khi ấy kiến thức mới thực sự có sức mạnh, mới là tiền đề để tạo dựng cơ nghiệp. Trong thực tế, kiến thức là một trong vô vàn thứ “rẻ nhất” mà người ta có thể thu thập được ở nhiều nơi, nhiều chỗ. Henry Ford là một ví dụ đ;ển hình. Mặc dù học chưa tới lớp 6, song trên phương diện kinh doanh ông lại là bậc thầy của thiên hạ. Không chỉ có vậy, nói đến kiến thức của giám đốc, còn cần nói đến khía cạnh biết sử dụng những người giỏi hcfn mình ở một lĩnh vực nào đó bởi kinh doanh là một loại hoạt động hết sức phức tạp, không ai có thể tự hào cho rằng mình có đầy đủ kinh nghiệm, học vấn, khả nang bẩm sinh và kiến thức để tự mình vươn tới tương lai. Andrew Camegie, một nhà kinh doanh sắt thép của Mỹ không chỉ nổi tiếng thế giới về kinh doanh mà còn nổi tiếng về việc sử dụng các chuyên gia. Khi ông chết, ngưòi ta đã ghi trên nấm mồ của ông dòng chữ “Đây là nơi yên nghỉ ngàn thu của môt người biết cách thu dụng những người thông minh hơn mình”.

3. Có năng lực quản lý và kinh nghiệm tích luỹ, tạo dựng một êkíp giúp việc Như trên đã nói, kinh doanh là một lĩnh vực hoạt động phong phú, đa dạng và phức tạp nên một mình giám đốc không thể làm hết mọi việc ở n ọ i nơi trong cùng một lúc. Vì vậy, để thành đạt phải xây dựng được m ột êkíp giúp việc ý hợp tâm đầu. Đây là vấn đề có ý nghĩa sống còn đối với mọi giám đốc. Về nguyên tắc, để xây dựng được một êkíp giúp việc có hiệu quả thì những thành viên của nó phải thực sự cùng làm việc với nhau đó cùng thực hiện một công việc chung. Song, điều đó không có nghĩa là chọn các thành viên có cùng cá tính, cùng nhận thức, quan điểm vào một êkíp, ví nếu như vậy thì mỗi người sẽ dễ có cách nghĩ, cách hành động giống nhau và điều đó sẽ làm mất đi tính tích cực sáng tạo của êkíp cũng như khả năng bổ sung kiến thức, kinh nghiệm cho nhau giữa các thành viên. Đây chính là môi trường thuận lợi để mỗi thành viên của êkíp có điều kiện phát triển tài náng của mình. Tuy nhiên, cũng cần lưu ý rằng, trong một tập thể gồm những thành viên có cá tính, nhận thức và quan điểm khác nhau, rất có thể một lúc nào đó không tránh khỏi sự bất hoà đến mức không chịu hợp tác với nhau, và điều đó sẽ dẫn đến sự nguy hại cho giám đốc. Trong những trường hợp, người giám đốc phải có biện pháp ngăn chặn và loại trừ các xung đột. Đây là công việc cực kỳ khó khăn. Muốn giải quyết tốt, giám đốc phải hiểu rõ hơn ai hết đặc điểm, cá tính của từng người và bằng sự cởi mở của mình tạo ra không khí tin cậy khuyến khích mọi người giải toả những bất bình, uẩn khúc và tạo ra sự thông cảm. Việc này cần phải làm kịp thời, dứt điểm. Khi lựa chọn từng người giúp việc cụ thể, ngoài năng lực, sự thẳng thắn, trung thực cùng không nên chọn những người chưa nếm mùi thất bại chua cay, hoặc những người không quan trọng hoá sự thất bại (vì những người này thường dể bỏ cuộc, hoặc dễ gây ra khủng hoảng lòng tin trong tập thể khi gặp trắc trở trong công việc, đặc biệt là khi gặp thất bại). Cho đến nay, căn cứ vào khảo sát, qua nghiên cứu kinh nghiệm quản lý. người ta chia mẫu người quản lý ra làm bốn loại chmh sau; Thứ nhất: mẫu người quan liêu. Trong họ hầu như không có sự độc lập suy nghĩ, không có óc sáng tạo và không quyết đoán. Lúc nào họ cũng chỉ chăm chăm làm đúng quy định đã có, không dám làm khác đi ngay cả khi điéu kiện đã chứng minh là phải làm khác. Họ luôn sợ cấp trên quở trách. Công cụ quan trọng được sử dụng trong quản lý của loại người này là lập kế hoạch, điều hành, giám sát và báo cáo kết quả. Thứ hai: mẫu người nâng động. Những người này trong tư duy hành động của họ luôn ẩn dấu ý tưởng sáng tạo để đi đến mục tiêu. Với họ, điều quan tâm chủ yếu là bằng cách nào để đi đến đích nhanh nhất, có lợi nhất. Họ luôn tìm kiếm những kinh nghiệm, thông qua việc đánh giá kết quả của từng bước công việc được và chưa được, để đưa ra những giải pháp nhằm điéu chỉnh chương trình tiếp theo cho phù hợp với hoàn cảnh cụ thể, bảo đảm nâng cao hiệu quả công việc. Công cụ quản lý quan trọng của mẫu người này là luôn phân tích tình huống, điều hành và đánh giá, lập kế hoạch thích ứng: thay đổi các hoạt động theo yêu cầu của hoàn cảnh. Thứ ba: mẫu người đê cao tinh thần dân chủ, tập thể. Đây là mẫu người luôn luôn giữ tinh thần tập thể, sẩn sàng bênh vực, bảo vệ quyền lợi của các thành viên và chống lại những công kích có thể có từ bên ngoài và họ cũng luôn giúp đỡ cấp dưới của mình. Công cụ quản lý quan trọng của mầu người này là: quyết định tập thể; lập êkíp; giám sát, động viên khuyến khích trưởng thành trong nghề nghiệp và củng cố lòng yêu nghề. Thư tư: mẩu người độc tài chuyên chế. Đây là mẫu người chủ yếu chỉ quan tâm tới lợi ích của bản thân họ. Mọi quyết định của họ chỉ nhằm phục vụ lợi ích bản thân hoặc gia đình, êkíp họ. Công cụ quản lý quan trọng của mầu người này là: dự toán chi phí; quản lý hình thức (không thực chất); quvết định cá nhân. Tuy được chia ra làm bốn loại như trên, song thực tế, trong mỗi giám đốc ít nhiều đều mang trong mình cả bốn kiểu quản lý đó, chỉ khác nhau về múc độ. Đừng bao giờ nghĩ rằng, đã là người độc tài chuyên chế thì hoàn toàn khồng có tính dân chủ tập thể và ngược lại. Hoặc đã là người quan liêu thì không có chút năng độpg gì. Tất nhiên, bốn mẫu người quản lý này hình thành nên hai cặp đối nghịch. Quan liêu và năng động, độc tài chuyên chế và dân chủ tập thể. Vì thế, nếu một người nào đó nặng về kiểu quản lý quan liêu thì sự nãng động sẽ kém đi và ngược lại, hoặc người nào mang nặng tính độc tài, chuyên chế thì tính dân chủ tập thể sẽ ít đi. Trên cơ sở những vai trò cần phải có trong một tập thể những người giúp việc và những mẫu người quản ỉý trên mà giám đốc có sự lựa chọn, bố trí sắp xếp từng người sao cho phù hợp với từng vị trí và chức năng công việc.

4. Óc sáng tạo Bên cạnh êkíp giúp việc tốt, để tổ chức quá trình kinh doanh có hiệu quả, giám đốc cần tháo vát và có óc sáng tạo. Chỉ khi đề xuất được những ý kiến mới, xác định được phương hướng làm việc, giám đốc mới đưa tập thể của mình tiến lên được. Việc tích cực thường xuyên và tìm tòi cái mới trong hoạt động trí tuệ là những yếu tố không thể thiếu được của giám đốc. Vì vậy, muốn trở thành giám đốc cần phải có sự thông minh, phải có khả năng nhìn xa trong rộng, khả năng tiên đoán và phân tích các tình huống để hoạch định cho mình một bước đi trong tưcmg lai. Tuy nhiên, sự thông minh, ở đây với ý nghĩa là một tư chất của giám đốc doanh nghiệp và không đồng nghĩa với sự học giỏi, sáng dạ hay học vấn cao. Sự thông minh ở một giám đốc cần được hiểu, đó là khả năng phản ứng nhanh nhạy, khôn ngoan trước các diễn biến của thị trường. Thông minh là một trong những tố chất bẩm sinh, vô giá của con người nói chung và của giám đốc nói riêng. Nếu như người ta có thể rèn luyện để trở thành con người có đức kiên nhẫn, sự chịu đựng và lòng quyết tâm... thì đối với thông minh, khó có thể rèn luyện mà có. Đó cũng là một trong những lý do giải thích vì sao có người từ hai bàn tay trắng mà đi lên và ngược lại.

5. Quan sát toàn diện Quan sát toàn diện là một thuộc tính cơ bản của năng lực tổ chức ở người lãnh đạo và đây là kỹ năng để nắm bắt được tình hình chung. Với tầm nhìn bao quát đầy đủ, toàn diện, người giám đốc sẽ thấy được cái chính, cái chủ yếu, đồng thời thấy được cả cái chi tiết, cục bộ. Chính vì vậy, giám đốc cần có óc quan sát để nhận ra những cái to lớn, cái quan trọng ở một hiện tượng nhỏ, nhằm định hướng một cách chính xác những tình huống không có trong dự kiến sã-xảy ra. Với óc quan sát, người giám đốc nhanh chóng tìm ra nguyên nhân của những khó khăn và trí tuệ trong công việc.

6. Tự tin Tự tin là một trong những tố chất hết sức cần thiết đối với con người nói chung và giám đốc nói riêng. Trong chúng ta chắc nhiều người đã nghe nói rằng: thất bại sẽ đến với những ai nuôi sẵn ý tưởng thất bại và thành công sẽ đến với những ai tin rằng mình sẽ thành công. Chính vì vậy, những ai muốn trở thành giám đốc cần phải rèn luyện đức tự tin; phải biến sự bi quan, tự ti thành niềm tin, thành ý chí sắt đá. Tin tưởng là chất xúc tác của trí tuệ. Khi lòng tin nung nấu trong con tim khối óc thì nó sẽ trở thành động lực cực mạnh, đẩy con người đến quyết tâm. Chính vì thế, người ta nói rằng, tin tưởng là một loại thần dược tạo nên sức mạnh để sống và hành động. Nó là khởi điểm để tạo dựng cơ nghiệp, nó cũng là sự hoá giải mọi thất bại, là cơ quan duy nhất của con người tạo nên sức mạnh vạn năng của khối óc và vô biên.

7. Ý chí, nghị lực, tính kiên nhẫn và lòng quyết tâm Kinh doanh là công việc cực kỳ khó khăn và phức tạp, là lĩnh vực hoạt động gắn liền với rủi ro và bất trắc. Vì thế, muốn trở thành giám đốc phải có ý chí, nghị lực, tính kiên nhẫn và lòng quyết tâm. Một khi đã hoạch định một chiến lược kinh doanh thì không bao giờ được phép nghĩ tới sự “không thể” hay “khó lòng mà đạt được” , mà phải luôn nhớ rằng, thành công chỉ đến với những ai quyết tâm đi đến thành còng. Chính vì vậy, khi đã là giám đốc thì không bao giờ được nản chí, đầu hàng ngoại cảnh, không bao giờ được bỏ dở ý định khi vấp phải những khó khãn và trở ngại nhất thời vì trên thương trường không có ai là chưa nếm mùi thất bại. Bởi vậy, nếu có gặp thất bại trong kinh doanh thì người giám đốc cũng nên coi đó là chuyện thường tình, là tạm thời không may và hãy coi thất bại như một kinh nghiệm quý giá, là động lực thúc đẩy khiến ta phải xem xét lại một cách nghiên túc hành động của mình, để rồi xây dựng cho mình một kế hoạch làm gì, làm thế nào để đi đến thành công. Trong quá trình hành động phải luôn hối thúc mình cố gắng không ngừng, bất chấp khó khãn. Và nói chung, trong mọi trường hợp, khi đã suy nghĩ, tính toán và quyết định thì nên chăng hãy “chặt đứt” đường quay lại vì chỉ khi hết đường tháo lui mới thúc bách con người đi đến tận cùng của sự quyết tâm giành thắng lợi. Ông cha ta đã dạy rằng, “có công mài sắt, có ngày nên kim ”. Nhìn lại các nhà doanh nghiệp thành đạt cho ta thấy, hầu hết đều xuất phát từ một thực tế rất ngặt nghèo. Không hiếm những ông chủ của ngày hôm nay vốn xưa là một kẻ bần hàn, hai bàn tay trắng và suốt cuộc hành trình trên thương trường, họ còn gặp vô vàn những khó khăn, trở ngại. Và nhiều khi, trước những giờ phút khủng hoảng họ mới nhận ra cái bản ngã của mình. Nói tóm lại, chỉ có khát vọng, niềm tin, ý chí, nghị lực và lòng quyết tâm mới có thể đưa con người từ chỗ thấp hèn, nghèo khó tới địa vị giàu có; giúp con người làm lại cuộc đời sau khi đã trải qua biết bao thất bại cay đắng.

8. Phong cách Giám đốc không phải chỉ là nhà lãnh đạo, quản lý và chỉ huy sản xuất kinh doanh, mà còn phải là một nhà “ngoại giao” thuyết khách. Do đó, một trong những tư chất không kém phần quan trọng đối với giám đốc chính là “sức quyến rũ”, khả năng chế ngự người khác thông qua phong cách của mình. Phong cách của người giám đốc thường biểu hiện dưới hai hình thức là phong cách hữu hình (như lâu nay ta vẫn hiểu) và phong cách vô hình. Phong cách hữu hình được biểu lộ thông qua giọng nói, tiếng cười, cái bắt tay, cách đi đứng... Còn phong cách vô hình phát lộ ra bên ngoài thông qua nhận thức m ang tính linh cảm của người khác. Thực tế cuộc sống cho thấy ít nhiều mỗi chung ta đều đã gặp những con người mà dù họ chưa hề có một cử chỉ, một hành động nào, song ta cảm thấy họ có uy, có cái gì đó không thể diễn tả khiến mọi người phải vị nể, kmh trọng, thậm chí cảm thấy sợ khi đứng trước họ. Ngược lại với những con người như thế, ta cũng có thể gặp một sô' ngưòi có bộ mặt khó gần, hoặc mới thoáng trông đã thấy đó là con người không thể hợp tác, do đó những ai mắc phải nhược điểm này thì khó có thể thành công trên cương vị giám đốc. Vì thế, phong cách cũng là lợi thế rất lớn đối với những ai muốn trở thành giám đốc. Những tố chất nêu trên mang tính năng khiếu, bẩm sinh của giám đốc. Song, nói như thế phải chăng giám đốc là thứ trời sinh. Thực tế không hoàn toàn như vậy. Trong mỗi con người chúng ta, ít nhất đều có những tố chất ấy (ngoại trừ trí thồng minh theo cách hiểu thông thường) và nó chỉ khác nhau ở mức độ và hình thức biểu hiện. Có những người sinh ra đã phát lộ đủ những tố chất trên. Đó là những người may mắn và họ có sẵn những điều kiện thuận lợi để trở thành giám đốc. Song, cũng có những người mà những tố chất trên còn ở dạng tiềm ẩn, muốn trở thành giám đốc trước hết phải khổ công rèn luyện để hối thúc các tố chất đó phát lộ ra bên ngoài. Đối với các doanh nghiệp nhà nước (cụ thể là nước ta), ngoài những tố chất nêu trên họ cần phải có những phẩm chất chính trị riêng vì giám đốc là người đại diện cho Đảng và Nhà nước điều hành doanh nghiệp. Giám đốc phải tự đánh giá được kết quả mình làm về mặt chính trị và xã hội, phải mang lại lợi ích cho nhân dân, từ đó góp phần nâng cao uy tín của Đảng. Giám đốc phải biết đánh giá con người, đánh giá sự việc theo quan điểm chính trị. Trong quá trình đánh giá, giám đốc phải luôn luôn đứng trên lập trường quan điểm của Đảng. Giám đốc phải biết tìm ra nhiệm vụ của mình và rút ra những điều bổ ích cho bản thân mình trong bất kỳ chỉ thị, nghị quyết nào của Đảng, đồng thời phải thực hiện bằng được những chỉ thị, nghị quyết của Đảng trong bất kỳ tình huống nào. Giám đốc doanh nghiệp phải hiểu được tâm trạng chmh trị của tập thể do mình lãnh đạo và đồng thời phải biết giải quyết mọi vấn đề về mặt chính trị trong doanh nghiệp. Giám đốc phải có quan điểm sống tích cực, đấu tranh chống lại các hiện tượng tiêu cực, luôn gương mẫu và có tinh thần trách nhiệm trong việc tìm cách giải quyết tốt mọi vấn đề chính trị, ngay cả trong những điều kiện gặp nhiều khó khăn. Giám đốc doanh nghiệp luôn luôn tu dưỡng mình về mặt chmh trị, đặc biệt phải chú trọng học tập chủ nghĩa Mac-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối, chmh sách của Đảng. Qua đó nâng cao trình độ tư duy chính trị, kinh tế trong sản xuất kinh doanh của mình.


III. CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐÊN CHÂT LƯỢNG ĐỘI NGŨ GIÁM ĐỐC DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC

1. Vấn đề đào tạo bồi dưỡng giám đốc doanh nghiệp Như đã trình bày ở trên, chất lượng đội ngũ giám đốc được hình thành chủ yếu qua hai con đường: một là, trình độ đào tạo và hai là, khả năng ứng dụng vào thực tiễn. Thực tiễn cho thấy cũng có người không qua trường lớp, chỉ qua thực tiễn mà tiến dần lên quản đốc, giám đốc công ty, tổng giám đốc, nhưng số này vô cùng hiếm. Nó sẽ hiếm hoi nữa khi chuyển sang kinh tế thị trưòng, lúc đó các giám đốc phải đưa ra những quyết định chính xác trong điều kiện kỹ thuật hiện đại, cạnh tranh gay gắt, do vậy, nếu không được đào tạo thì sẽ hầu như không ai làm được những chức năng giám đốc. Do vấn đề đào tạo và bồi dưỡng có ảnh hưởng quan trọng đến chất lượng giám đốc nên ở nhiều nước trên thế giới, nhất là các nước có nền kinh tế phát triển, các giám đốc được học tại các trường đào tạo giám đốc. Ví dụ ở Mỹ một cán bộ quản lý doanh nghiệp tối thiểu phải có trình độ MBA (Master of Business Administration). Hiện nay, ở Mỹ có hệ thống trường đào tạo quản lý kinh doanh mà nổi tiếng nhất là Trường kinh doanh Harvard (Harvard Business School). ở Anh, các trường đào tạo quản lý kinh doanh ở Luân Đôn hay M anchester cũng dựa trên mô hình trường Harvard và những người muốn được học ở hệ thống trường này phải có bằng đại học. Còn ở Cộng hoà liên bang Đức, các giám đốc được bồi dưỡng tại trường vsw - trường đào tạo, bồi dưỡng giám đốc có uy tín nhất Cộng hoà liên bang Đức, dù học phí ở đây rất cao. Vấn đề đào tạo và bồi dưỡng giám đốc không chỉ được các nước kinh tế phát triển quan tâm, mà các nước đang phát triển cũng đang tìm cách tổ chức các lớp đào tạo nhà quản trị trung, cao cấp về quản trị kinh doanh tại các trưòỉng trong và ngoài nước. ở nước ta từ xưa tới nay chưa có một trường lớp đào tạo giám đốc, chúng ta chỉ có khả năng tổ chức bồi dưỡng ngắn ngày cho đội ngũ giám đốc. Vì đào tạo và bồi dưỡng giám đốc là nhân tô' hàng đầu ảnh hưởng đến trình độ trí tuệ của đội ngũ giám đốc nên đặc điểm trên là một trong những yếu tố làm giảm chất lượng đội ngũ giám đốc. Công tác đào tạo bồi dưỡng cần phải gắn với yêu cầu, tiêu chuẩn và quy hoạch tuyển dụng, sử dụng giám đốc. Thực tế hiện nay, chất lượng và hiệu quả đào tạo còn thấp. Nội dung chương trình và phưcíng pháp đào tạo bồi dưỡng giám đốc chậm đổi mới, chưa gắn với tổng kết thực tiễn của công cuộc đổi mới quản lý doanh nghiệp, buông lỏng giáo dục rèn luyện tư chất đạo đức. Hệ thống đào tạo giám đốc chưa có trường lớp bồi dưỡng hợp lý; việc thi tuyển, công nhận tốt nghiệp, quản lý văn bằng, chứng chỉ, học hàm, học vị còn thiếu chật chẽ. Nguồn chiêu sinh phục vụ bồi dưỡng, đào tạo giám đốc doanh nghiệp còn chưa cụ thể, rõ ràng. Học phí đào tạo bồi dưõng còn cao so với thu nhập cá nhân. Việc đào tạo người kế cận giám đốc còn nhiều bất cập. Có nhiều người được cử đi học, nhưng sau khi tốt nghiệp về thì không được bố trí phù hợp mà thậm chí có người cho xuống chức. Những điều này gây ảnh hưởng lớn đến vấn đề đào tạo bồi dưỡng giám đốc cho mọi loại hình doanh nghiệp. 2, Vấn đề tuyển chọn bổ nhiệm giám đốc Việc tuyển chọn bổ nhiệm giám đốc có ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. ở các nước tiên tiến, người giám đốc tổi thiểu phải tốt nghiệp du học. ở Mỹ hay ở Anh, một giám đốc công ty hay cán bộ quản lý tối thiểu phải học xong trình độ MBA; còn ở Đức, để được làm giám đốc công ty người đó tối thiểu phải tốt nghiệp đại học và phải qua thi tuyển, sau đó nếu đỗ thì phải đi học bồi dưỡng ở trường VSW . Theo thống kê thì phần lớn các nhà quản lý, các giám đốc công ty hay doanh nghiệp là các nhà kinh tế, sau đó là các kỹ sư và các nhà chuyên môn khá như xã hội học, tâm lý học... Do chúng ta chưa tiêu chuẩn hoá đội ngũ giám đốc doanh nghiệp, trong đó có doanh nghiệp nhà nước, đặc biệt là tiêu chuẩn về trình độ đào tạo nên việc tuyển chọn, bổ nhiệm giám đốc trong thời gian qua không căn cứ chủ yếu vào trình độ đào tạo và khả năng thích nghi với thực tiễn mà chỉ căn cứ vào phẩm chất chính trị, mối quan hệ, tư cách đạo đức... Với những nguyên nhân trên nên nhiều giám đốc doanh nghiệp do không có trình độ đã gây hậu quả nghiêm trọng cho doanh nghiệp. Việc tuyển chọn bổ nhiệm sử dụng giám đốc nhiều khi còn chủ quan, chua thật công tâm, chưa hợp lý, thiếu dân chủ hoặc dân chủ hình thức. Bố trí giám đốc trong nhiều trường hợp còn nặng về cơ cấu, lúng túng, bị động, hẹp hòi, định kiến, không mạnh dạn đề bạt những người trẻ. Từ khi nước ta chuyển sang cơ chế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa, ngoài những doanh nghiệp của Nhà nước còn ra đời hàng vạn doaih nghiệp thuộc đủ các thành phần kinh tế khác nhau. Vì vậy, vấn đề lựa chọi, bổ nhiệm giám đốc chắc chắn không tránh khỏi thiếu sót (do không có điều kiện, thậm chí do thiếu người để tuyển lựa vào vị trí giám đốc nói riêng và dội ngũ lãnh đạo doanh nghiệp nói chung). Hiện nay, khả năng đào tạo, bồi dưỡng giám đốc ò nước ta có hạn, trong khi Jó nhu cầu đội ngũ giám đốc có số lượng quá lớn nên chắc chắn sẽ ảnh hừởig đến chất lượng đội ngũ giám đốc doanh nghiệp ở Việt nam hiện nay.

3. Môi trường kinh doanh Đây là một nhân tố quan trọng ảnh hưởng đến khả năng phát huy tác dụng trong thực tiễn của giám đốc doanh nghiệp. Tất cả các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế đều bình đẳng và dầu phải chấp hành “ luật chơi” của thị trường. Vì vậy, việc tạo ra và duy trì niôi trường kinh doanh thống nhất chung cho tất cả các doanh nghiệp đang hoạt động phù hợp với yêu cầu nền kinh tế thị trường cũng sẽ là môi trưòng thuận lợi cho sự điều hành sản xuất kinh doanh, cho việc thi thố mọi tài nâng của đội ngũ giám đốc ở mọi loại hình doanh nghiệp. Môi trường hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp trong nền k.nh tế thị trường có thể được khái quát bằng mô hình ở sơ đồ môi trường kinh doanh của doanh nghiệp. Căn cứ vào mô hình này chúng ta thấy, doanh nghiệp hoạt độiig có quan hộ trực tiếp với thị trưcmg: thị trường hàng tiêu dùng, thị trường sưc lao động, thị trường vật tư, thị trưòiĩg tiền vốn... Các thị trường này bao quanh doanh nghiệp tạo thành môi trường kinh doanh của doanh nghiệp. Sơ đồ: Môi trường kinh doanh của doanh nghiệp Cũng theo sơ đồ này, các yếu tố về kinh tế, chính trị, pháp luật, công nghệ, văn hoá, xã hội, v.v... là những yếu tố tác động trực tiếp lên môi trường kinh doanh của doanh nghiệp. Với cơ chế như vậy, Nhà nước bằng việc ban hành hệ thống những chính sách về kinh tế, về công nghệ, về văn hoá, xã hội, v.v..., sẽ tạo ra những yếu tố trực tiếp tác động đến mòi trường kinh doanh của doanh nghiệp và từ đó định hướng cho các hoạt động của doanh nghiệp. Điều này còn có ý nghĩa là Nhà nước sẽ thông qua thị trường để tác động đến doanh nghiệp, định hướng cho doanh nghiệp hoạt động. Tất nhiên Nhà nước với những ưu thế của mình (là người đặt hàng khổng lồ, là lực lượng dự trữ đáng kể về vật tư và tiền vốn v.v...) trong những trưòíng hợp cụ thể cần thiết cũng có thể tác động trực tiếp đến hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, song một nhà nước “khôn ngoan” sẽ hầu như không bao giờ lạm dụng ưu thế này. Hiện nay, trong nền kinh tế nước ta, các thị trường với tư cách là môi trường kinh doanh trực tiếp còn đang ở trong tình trạng sơ khai, không đầy đủ, không ãn khớp với nhau. Môi trường đời sống kinh tế của các doanh nghiệp hiện tại còn thiếu nhiều chất dinh dưỡng cho sự phát triển. Các yếu tố trong môi trường ấy chưa hợp thành một quẩn thể để dựa vào nhau cùng tồn tại và phát triển. Chúng ta mới có thị trường hàng hoá nói chung, nhất là hàng tiêu dùng thông thường với hệ thống giá cả và quan hệ mua bán bình thường theo cơ chế thị trưòfng. Thị trường sức lao động đang hình thành một cách tự phát song mới hoạt động chủ yếu trong khu vực ngoài quốc doanh với hình thức thuê mướn rất thô sơ. Thị trường vốn còn chưa được tạo ra như một thực thể, một yếu tố của môi trường hoạt động của doanh nghiệp. Trên thực tế mới chỉ xuất hiện các yếu tố của thị trưcmg vốn như các loại trái phiếu, tín phiếu, cổ phiếu, chứng khoán... Như vậy, có thể thấy rằng nếu thiếu môi trường kinh doanh thì doanh nghiệp không thể hoạt động và như vậy tất yếu là người giám đốc cũng bị vô hiệu hoá. Chỉ có trong môi trường kinh doanh đầy đủ, người giám đốc mới có thể bộc lộ khả năng và chèo lái doanh nghiệp đi đến đích.

4. Thói quen, nếp nghĩ theo đường mòn trong quản lý Hầu hết giám đốc doanh nghiệp nhà nước của ta trưcmg thành từ cơ chế tập trung quan liêu, bao cấp. Do mọi suy nghĩ, cách làm cũ đã đi vào tiềm thức nên khi chuyển sang cơ chế quản lý mới đã tỏ ra không năng động, không phù hợp. Thêm vào đó cách quản lý cũ của cấp trên cũng ít thay đổi làm cho giám đốc vừa lúng túng, vừa ỷ lại. Đây là nhân tô' ảnh hưởng tiêu cực đến chất lượng đội ngũ giám đốc. Do đa dạng hoá các loại hình doanh nghiệp nên đội ngũ giám đốc ngày càng tãng về số lượng, nhưng không đồng bộ và vẫn còn ở tình trạng “vừa thừa vừa thiếu”. Trình đội kiến thức năng lực lãnh đạo và quản lý chưa đáp ứng được yêu cầu đổi mới kinh doanh năng động thích ứng với cơ chế thị trường. Nhiều giám đốc lười học, lười nghiên cứu, một số học lướt chỉ cốt để lấy được bằng cấp chứng chỉ các loại. Nhìn chung, đội ngũ giám đốc hiện nay, xét về chất lượng, sô' lượng và cơ cấu có nhiều mặt chưa ngang tầm với sự đòi hỏi, phục vụ sự nghiệp đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.

5. Quyền hạn, trách nhiệm, quyền lợi vật chất và tinh thần của giám đốc Đây là nhân tố ảnh hưởng hai chiều đối với đội ngũ giám đốc, ảnh hưởng tích cực nếu quyền hạn, trách nhiệm, quyền lợi cân xứng nhau và ngược lại. Hiện nay, do những chính sách đối với giám đốc, nhất là chính sách tiền lương, nhà ở, phưoỉng tiện đi lại, điều kiện làm việc,... còn nhiều bất hợp lý, thiếu công bằng, thực hiện không thống nhất và đồng bộ, nên nó chưa tạo ra được động lực và phát huy tài năng, chưa khuyến khích được những giám đốc làm ăn năng động, kinh doanh có hiệu quả. Đi đôi với sự khen thưởng khích lệ những giám đốc làm tốt cần phải nghiêm khắc xử lý kỷ luật những giám đốc mắc sai lầm, khuyết điểm trong sản xuất, kinh doanh gây hậu quả nghiêm trọng. Có vậy mới kích thích đội ngũ giám đốc toàn tâm toàn ý với chức vụ được giao. ở nước ta hiện nay, do các chính sách chưa đồng bộ nên đã dẫn đến một số nghịch lý. Ví dụ như có trường hợp giám đốc tạo ra lợi nhuận rất lớn cho doanh nghiệp lại không được hưởng phần tạo thêm đó, mà đi quá chút xíu nếu mắc sai lầm ià bị xử lý kỷ luật lập tức. Hoặc có trường hợp giám đốc do đầu tư đổi mới công nghệ tràn lan gây thất thoát cho doanh nghiệp bạc tỷ mà vẫn được trọng dụng, được đi thăm nhiều nước, được đề bạt tiếp... Đây là nhân lố quan trọng ảnh hưởng đến chất lượng và hành vi ứng xử của giám đốc trong cơ chế thị trường. Nhân tố này và các nhân tố nêu trên chúng ta sẽ đề cập đến trong quá trình phân tích, lý giải chứng minh và tìm cách khắc phục ở các phần tiếp theo.


IV. VAI TRÒ CỦA GIÁM ĐỐC, PHƯƠNG PHÁP QUẢN LÝ VÀ PHONG CÁCH LÃNH ĐẠO CỦA GIÁM ĐỐC DOANH NGHIỆP

1, Vai trò của giám đốc doanh nghiệp Giám đốc doanh nghiệp là người có ảnh hưcmg quyết định đến sự thành bại của doanh nghiệp. Theo tài iệu điều tra của Bộ Khoa học - Công nghệ và Môi trường, thời gian qua cả nước có 4.584 doanh nghiệp nhà nước kinh doanh thua lỗ thì 2.630 doanh nghiệp bị thua lỗ chủ yếu do giám đốc không có trình độ học vấn gây nên . Vai trò của giám đốc doanh nghiệp có thể được nêu lên qua những nết chính sau đây:

a) Trong 3 cấp quản trị doanh nghiệp, giám đốc là quản trị viên hàng đầu, là thủ trưởng cấp cao nhất doanh nghiệp. Giám đốc có quyền ra chỉ thị, mệnh lệnh mà mọi người trong doanh nghiệp phải nghiêm chỉnh chấp hành. Vì vậy mỗi quyết định của giám đốc có ảnh hưởng rất lớn trong phạm vi toàn doanh nghiệp. Với nghĩa này, giám đốc phải là người tập hợp được trí tuệ của mọi người lao động trong doanh nghiệp, bảo đảm có quyết định đúng đắn, đem lại hiệu quả kinh tế cao.

b) Vai trò quan trọng khác của giám đốc là tổ chức bộ máy quản trị đủ về số lượng, mạnh về chất lượng, bố trí hợp lý, cân đối lực lượng quản trị viên bảo đảm quan hệ bền vững trong tổ chức, hoạt động ăn khớp, nhịp nhàng, hoàn thành tốt mục tiêu đã đề ra. Bố trí không đúng người, đúng việc sẽ gây ra ách tắc trong hoạt động của bộ máy. Thăng, thưởng không đúng mức cũng sẽ gây ra sự bất bình trong bộ máy, làm ảnh hưởng xấu đến bộ máy quản trị doanh nghiệp.

c) Về lao động; giám đốc quản lý hàng trăm, hàng nghìn thậm chí hàng vạn lao động. Vai trò của giám đốc không chỉ là ở chỗ chịu trách nhiệm về việc làm, thu nhập, đời sống của số lượng lao động mà còn chịu trách nhiệm về cuộc sống tinh thần, nâng cao trình độ văn hoá, chuyên môn cho họ, tạo cho họ những cơ hội để thăng tiến.

d) Về tài chính: giám đốc là người quản lý, là chủ tài khoản của hàng trăm triệu, hàng tỷ đồng. Đặc biệt, trong điều kiện hiện nay giám đốc phải có trách nhiệm về bảo toàn và phát triển vốn. Một quyết định sai lầm có thể dẫn đến làm thiệt hại bạc triệu, bạc tỷ cho doanh nghiệp.

e) Giám đốc là người làm ra của cải Như chúng ta đã biết, khát vọng là tô' chất hàng đầu của giám đốc. Vai trò của giám đốc là phải biết làm cho tiền để ra tiền, hay nói một cách khác, giám đốc phải tính được bù đắp chi phí và kinh doanh có lãi từ một lượng tiền nhất định. Giả dụ: doanh nghiệp đầu tư một khoản tiền vào kinh doanh. Phưcíng án sản xuất kinh doanh một tháng của doanh nghiệp như sau: Số lượng sản phẩm dự định sản xuất: 131.300 sản phẩm Giá bán 1 sản phẩm: 14.300 đồng Chi phí cố định: 297.418.000đ, chi phí biến đổi cho 1 sản phẩm: 163 đồng. Lợi nhuận cực tiểu: 20.000.000 đồng. ................ . Tỷ suất thuế giá trị gia tăng tính theo doanh thu là 10%, thuế thu nhập doanh nghiệp 20%. Thời gian làm việc: 8giờ/ngày, 24 ngày/tháng. Doanh nghiệp có 26 gián tiếp. Hệ số bậc bình quân của gián tiếp 2,73. Tiền lương tối thiểu 210.000đ/người/tháng. Chi phí vật tư gồm 06 loại; A: 0,04 kg Giá: 18.900đ/kg D: 0.15 kg B: 0,15 kg Giá: 4.600đ/kg E: 0,04 kg C: 0,02 kg Giá: 14.600đ/kg F: 0,03 kg Giá; 6.500 đ/kg Giá: 8.900 đ/kg Giá; 11.520 đ/kg Quy trình công nghệ chế tạo sản phẩm qua 9 bước công việc: Bước cồng việc Thời gian (g) Bậc công việc Hệ số bậc I II III IV V VI VII VIII IX 0,3 0,35 0,16 0,29 0,16 0,15 0,3 0,18 0,24 14242246 7 1 2,2 1,3 2,2 1,3 1,3 2,2 2,8 3,5 Doanh nghiệp dự định trả lương tháng bậc thấp nhất; 450.000đ. Hãy xác định khả năng thu lợi nhuận của doanh nghiệp theo mức lương tối thiểu và theo mức lương dự kiến và xác định khả năng trả iương cho người lao động theo dự kiến. Nếu không đạt mục tiêu dự định, hãy trình bày biện pháp cụ thể? Từ bài toán trên, giám đốc phải tính tổng các khoản thu, tổng các khoản chi, từ đó xác định được mức lãi (lỗ) của khoản tiền đầu tư vào kinh doanh này. Dựa vào công thức “tính bù đắp chi phí và kinh doanh có lãi” sau: {íl[ẽ(l‘TSTDi)-CP^, - CPjL,i] - CPeg - qCPjLgi} (1-TSn,jp,^) > LN() q g CP CP VI TLll CP,BĐ CPcD CPtu, LNo Số lượng sản phẩm sản xuất Giá bán 1 sản phẩm Chi phí vật tư 1 sản phẩm Chi phí tiền lương trực tiếp (1 sản phẩm) Chi phí biến đổi Chi phí cố định Chi phí tiền lương gián tiếp Lợi nhuận cực tiểu (do đầu tư khoản tiền không vào kinh doanh mà giả định đầu tư vào tiết kiệm ở Hà Nội) 114 Trưừiig Đại học Kinh tè Quốc dân ChU0ng4. Giám đổcƠoơnhnghiệp TS[-j3t : Tỷ suất thuế GTGT tính theo doanh thu TStndn • Tỷ suất thuế TNDN Trong công thức trên, chúng ta phải tìm thông số chưa biết, đó là: C P. : CPyLg, : Theo mức lương tối thiểu Theo mức lương dự kiến CP-TL,, : Theo mức lưcfng tối thiểu Theo mức lương dự kiến • Tim các thông số chưa biết A = 0,04 X 18900 = 756 B = 0 ,1 5 x 4 6 0 0 = 690 c = 0,02 X 14600 = 292 D = 0 ,1 5 x 6 5 0 0 = 975 E = 0,0 4 x 8900 = 356 F = 0,03 X 11520 = 345,6 3414,6 đ - Tính CPyLgt + Tính theo TLg min (210000 đ) Công thức tính = Lao độngị,, X h X L „ i„ * Trong đó: Lao độngj,,: số lao động gián tiếp h ; hệ số tiền lương gián tiếp bình quân Vậy = 26 X 2,73 X 210,000 = 14.905.800 đ + Tính theo tiền lương dự kiến (450.000 đ) Công thức tính: Lao độngg, X h X Lj|( = 26 X 2,73 X 450.000 đong = 31.941.000 đồng - Tính CPt-lii + Tính theo tiền lưcíng min (210.000 đ) Công thức: Lmin ^ Ngày X giờ ^ i i=l Trtrờng Bại họe Kinh ìéQvỐc đâJi 116 Giảo trình QUẢN TRỊ DOANH NGHIỆP Trong đó: tj: thời gian hoàn thành ở bậc công việc thứ i Hị; hệ số bậc công việc ở bậc công việc thứ i n Tính: ^tịhi = 0,31 + 0,35 X 2,2 + 0,16 X 1,3 + 0,29 X 2,2 + 0,16 X 1,3 i= l + 0,15 X 1,3 + 0,3 X 2,2 + 0,18 X 2,8 + 0,24 X 3,5 = 4,323 giờ. Vậy; CP-TLu theo tiền lưong min = ^24 X 8^ ^ 4,323 = 4.728,28 đồng + Tính theo tiền lương dự kiến Tĩ .. i l 450 000 ẳtiCi = ^ ^ 1 ^ X 4,323 = 10.132,03 đồng 24 X i= l * Tính khả năng thu lợi nhuận • Theo mức lương tối thiểu 131.300 [14350(1-0,1)- 3414,6 - 4728,28] - 297.418.000 - 31.941,000 - 163 X (1-0,2) > 20.000.000 = 140.654.764 > 20.000.000 Nếu doanh nghiệp trả lương cho người lao động bằng kết quả min thì doanh nghiệp sẽ thu được 140.654.764 đồng lợi nhuận lớn gấp 7 lần lợi nhuận cực tiểu. • Theo mức lương dự kiến 131.300 [14350(1-0,1)- 3414,6 - 10.132,03] - 297.418.000 - 31.941 000 - 163 X 131300 X (1-0,2) > 20.000.000 = - 412.292.019 < 20 000.000 * Tính khả năng trả lưcmg cho người lao động theo mức lưcntig dự kiến. Dựa vào công thức: I N ag [(l-0 ,l) -C P J - CPoo -qCPsD- ^ ■•T'-TNDN q. Xtihi j:=l 24x8 Trong đó; Lao độngg,: số lao động gián tiếp h : hệ số bình quân của lao động gián tiếp 131.300[ 14350(1 -04) -3414,6 -29.741.800 -163x131.300 131.300x 4,323 26 X 2,ló + ---------------------- = 303.653,83….”

Với kết quả kinh doanh nêu trên, doanh nghiệp không có khả năng trả lưcmg cho người lao động 450.000 đồng theo dự kiến, mà chỉ có khả năng trả 300.000 đồng/người/tháng và chỉ thu lợi nhuận cực tiểu (20.000.000 đ). • Biện pháp bảo đảm vẫn trả lương theo dự kiến 450.000 đồng/ngưòi/tháng. Phải giảm nói chung là giảm mọi khoản chi phí. Nói tóm lại, từ các điều trình bày trên về vai trò của giám đốc có thể ví doanh nghiệp như một con tàu mà giám đốc là người cầm lái. Với vai trò chèo chống của mình, giám đốc có thể đưa con tàu doanh nghiệp phát triển bền vững hay phá sản.

2. Phương pháp quản lý của giám đốc doanh nghiệp

Cơ chế quản lý khác nhau tạo ra phương pháp quản lý và tác phong lãnh đạo khác nhau của người giám đốc. Cơ quan quản lý hành chính quan liêu bao cấp lấy hoàn thành nhiệm vụ kế hoạch, lấy phục tùng ý chí của cấp trên làm mục tiêu, đã tạo ra phương pháp quản lý và tác phong lãnh đạo của giám đốc mang nặng tính chất bao cấp, thụ động, trông chờ. Trong điều kiện đổi mới hoạt động của các doanh nghiệp, hướng vào mục tiêu kế hoạch kinh tế quốc dân và hiệu quả kinh tế - xã hội, vai trò tự chịu trách nhiệm tăng lên đã quyết định phương pháp quản lý và tác phong lãnh đạo của người giám đốc, đòi hỏi phải có sự thay đổi cho phù hợp. Có nhiều phưcrng pháp quản trị doanh nghiệp khác nhau, nhưng chung quy lại có 5 phưoỉng pháp cơ bản là: - Phương pháp phân quyền, - Phương pháp hành chính, - Phương pháp kinh tế, - Phương pháp tổ chức - giáo dục, - Phưorng pháp tâm lý xã hội. Sau đây, chúng ta hãy nghiên cứu kỹ từng phương pháp. Trường Đại học Kinh tè Quốc dàn 117 G ctìum g 4. Giám đốc doơnh nghĩệp phóng giám đốc khỏi những việc mà người dưới quyền có thể làm được. 2.2. P hư ơng pháp hành chính Phương pháp hành chính là phương pháp quản lý dựa vào việc sử dụng những chỉ thị, mệnh lệnh mang tính chất bắt buộc, cưỡng bức, biểu hiện dưới nhiều hình thức khác nhau, như quy định về an toàn lao động, bảo hộ lao động, nội quy sử dụng thời gian làm việc, nội quy ra vào doanh nghiệp... Quản lý hành chính là cần thiết, tất yếu. Lê-nin đã khẳng định: chỉ có điên rồ mới từ bỏ cưỡng bức. Phương pháp quản lý hành chính không mâu thuẫn với quan điểm của Đảng và Nhà nước ta là xoá bỏ cơ chế quản lý hành chính, tập trung quan liêu, bao cấp bởi cơ chế này lấy quản lý hành chính là cơ bản, quyết định. 2.3. Phương pháp kinh tế Phương pháp kinh tế là sử dụng tiền lương, tiền thưởng và những công cụ động viên vật chất khác làm đòn bẩy kinh tế kích thích người lao động thực hiện mục tiêu của quản lý mà không cần sử dụng mệnh lệnh hành chính từ cấp trên đưa xuống. ở một doanh nghiệp, công nhân lái xe đổ lỗi cho công nhân sửa đường làm ẩu, đường xấu, ngược lại, công nhân làm đường đổ lỗi cho công nhân lái xe làm hỏng đường. Kết quả là giảm số chuyến xe chở trong 1 ca. Trong tình hình đó, giám đốc đã sử dụng phương pháp kinh tế, tuyên bố đường xấu như vậy nếu lái xe nào tăng chuyến trong 1 ca sẽ được; thưởng. Mặt khác, nếu công nhân sửa đường đảm bảo thời gian hoạt động tốt của tuyến đường trong thời hạn nhất định cũng được thưởng theo quy định. Do vậy, đã động viên cả công nhân lái xe và công nhân sửa đường đều tích cự làm việc, không mất thời gian đổ lỗi cho nhau và giám đốc giảm được một số cuộc họp để giải quyết máu thuẫn. Áp dụng phương pháp kinh tế không chỉ chú ý đến thưởng mà còn phải chú ý đến cả phạt. Đồng thời, phải tính toán được hiệu quả của phương pháp kinh tế mang lại. Mặt khác phải đảm bảo kết hợp hài hoà 3 lợi ích, nhưng cần lấy kích thích lợi ích cá nhân của những người lao động làm trọng tâm. Trên cơ sở kích thích lợi ích cá nhân mà thúc đẩy lợi ích tập thể và xã hội. Đây chính là vận dụng quan điểm “lấy lợi ích cá nhân làm động lực trực tiếp” trong công cuộc đổi mới quản lý kinh tế hiện nay của Đảng ta. Về phưomg pháp kinh tế, giám đốc có thể sử dụng những công cụ động viên vât chất như sau:

Công cụ dộng viên vật chất của doanh nghiệp Từ quỹ tiền lương Từ quỹ khen thưởng Từ quỹ phúc lợi Từ những nguồn khác Liên quan đến phúc iợi Liên quan đến sản xuất - Lương cơ bản - Các loại phụ cấp lương - Thưởng từ lợi nhuận cuối năm - Thưởng sáng kiến tiết kiệm - Thưởng XK - Thưởng lao động tiên tiến; tổ, đội lao động xã hội chủ nghĩa - Trợ cấp đi học và tổ chức bồi dưỡng nâng cao trình độ. - Trợ cấp nhà ở. - Tiền trích phục vụ những hoạt động văn hoá vãn nghệ. - Trợ cấp nhà ăn tập thể - Phục vụ nhà trẻ. - Trợ cấp vãn hoá xã hội, thể dục, thể thao, điều dưỡng, nghỉ mát, tham quan, du lịch.. - Trợ cấp tập thể nhà ở tại xí nghiệp (độc thân). - Trợ cấp phương tiện đi lại. - Quần áo bảo hộ lao động. - Ản ca - Nước uống. 2.4. Phương pháp tổ chức - giáo dục Phương pháp tổ chức - giáo dục là sử dụng hình thức liên kết những cá nhân và tập thể theo những tiêu chuẩn và mục tiêu đã đề ra trên cơ sở phân tích và động viên tính tự giác, khả năng hợp tác của từng cá nhân. Thất bại trong quản lý kinh tế có nhiều nguyên nhân nhưng trong nhiều trường hợp lại chính là chưa làm tốt phương pháp tổ chức - giáo dục. Tổ chức ở đây thể hiện trên nhiều lĩnh vực: tổ chức bộ máy quản lý, tổ chức lao động, tổ chức liên kết giữa các cá thể của quản lý, tổ chức thông tin trong quản lý. Giám đốc không nên khoán trắng vai trò tổ chức cho một bộ phận nào mà cần thường xuyên kiểm tra, theo dõi, phát hiện ra những ách tắc trong khâu tổ chức. Điều quan trọng là đừng để một cá thể nào đứng ngoài tổ chức. Một quyết định của giám đốc không được thực hiện ở một khâu nào, một tổ sản xuất hoặc một cá nhân nào đó, thông thường là biểu hiện của sự trục trặc do phương pháp tổ chức yếu kém gây ra. Giáo dục tuy không phải là phưcíng pháp cơ bản nhưng không được xem nhẹ. Có nhiều hình thức động viên người lao động, nhưng suy cho cùng có hai hình thức động viên chính là động viên vật chất và động viên tinh thần. Động viên tinh thần là các hình thức thưởng huân chương, huy chương, bằng khen, giấy khen, tổ đội lao động giỏi, đề bạt, cử đi học... Trong cả hai hình thức động viên, phương pháp giáo dục phải luôn được coi trọng. Giám đốc sử dụng phương pháp giáo dục không nên hiểu đon thuần chỉ ở giáo dục chính trị tư tưởng chung chung, mà phải tìm hiểu một cách toàn diện bao gồm cả giáo dục quan niệm nghề nghiệp, phong cách lao động, đặc biệt là quan điểm đổi mới: đổi mới cả cách nghĩ và cách làm; làm ăn ở doanh nghiệp theo phương thức sản xuất kinh doanh mới; sản xuất gắn liền với thị trường; chấp nhận cạnh tranh lành mạnh, tạo ra nhiều lợi nhuận cho doanh nghiệp. Giáo dục gắn sự ham muốn làm giàu chính đáng cho cá nhân với làm giàu chính đáng cho doanh nghiệp.

2.5. P hương pháp tám lý - xã hội Phưotig pháp tâm lý - xã hội là hướng những quyết định đến các mục tiêu phù hợp với trình độ nhận thức, tâm lý, tình cảm của con người. Phưoíng pháp tâm lý - xã hội ngày càng được áp dụng rộng rãi trong quản trị doanh nghiệp, đặc biệt là trong điều kiện hiện nay, khi mục tiêu của doanh nghiệp ngày càng phù hợp với mục tiêu của cá nhân người lao động. Sử dụng phương pháp này đòi hỏi người giám đốc phải đi sâu tìm hiểu để nắm được tâm tư nguyện vọng, sở trường của những người lao động. Trên cơ sở đó sắp xếp, bố trí, sử dụng họ đảm bảo phát huy hết tài năng, sáng tạo của họ. Trong nhiều trường hợp, người lao động làm việc hăng say hcfn cả được động viên về kinh tế. Con người vốn không thích chê, nhưng nếu chê đúng việc, đúng lúc, đúng chỗ, họ sẽ cảm nhận được sai lầm, khuyết điểm của bản thân và càng khâm phục người lãnh đạo. Một giám đốc chỉ sử dụng hình thức khen, không chê; chỉ thưởng, không phạt chắc chắn sẽ không đem lại kết quả mong muốn. Tất nhiên, như trên đã nêu, về mặt tâm lý, người la thích khen hơn. Người Nhật đặc biệt coi trọng phương pháp này. Họ đã tạo cho người lao động bầu không khí làm việc thoải mái, người làm thuê đặt quyền lợi của doanh nghiệp như quyền lợi của chính mình và quyết gắn bó suốt đời vào doanh nghiệp. Mỗi phương pháp được áp dụng trong những điều kiện và hoàn cảnh cụ thể khác nhau. Có người cho rằng, trong điều kiện đổi mới, giám đốc không nên sử dụng phương pháp hành chính, ý kiến này không có căn cứ. Thực tế đã khẳng định phưcíng pháp hành chính rất quan trọng không thể không sử dụng trong bất kỳ điều kiện nào. Có thể nói cả 5 phương pháp trên đều phải nhấn mạnh và đều được áp dụng. Tuy nhiên, phương pháp kinh tế phải được chú ý sử dụng một cách linh hoạt và rộng rãi trong quản lý nội bộ doanh nghiệp và đối ngoại. Phương pháp kinh tế áp dụng trong điều kiện đối ngoại có nghĩa là người giám đốc phải hiểu biết ở mức độ thông thạo tình hình giá cả thị trường để trên cơ sở đó có thể quyết định nhanh chóng, dứt khoát các hợp đồng kinh tế.

3. Phong cách lãnh đạo của giám đốc doanh nghiệp

Năm phương pháp trên được áp dụng cho tất cả các giám đốc ở mọi doanh nghiệp. Nhưng sử dụng các phương pháp này như thế nào cho có hiệu quả lại phụ thuộc phần lớn vào tác phong lãnh đạo của từng người. Có ba tác phong lãnh đạo cơ bản, đó là tác phong mệnh lệnh, tác phong dễ dãi và tác phong dân chủ quyết định.

3.1. Phong cách mệnh lệnh Đặc trưng cơ bản của phong cách này là; trong quá trình hình thành và ra quyết định, giám đốc không cần thăm dò ý kiến của người giúp việc và những người dưới quyền, không do dự trước các quyết định của mình. Tổ chức thực hiện quyết định, giám đốc luôn luôn sử dụng những chỉ thị mệnh lệnh: theo dõi nghiêm túc, sâu sát người thực hiện quyết định và do đó có những đánh giá đúng đắn, khen chê chính xác. Người có tác phong này thường am hiểu sâu sắc công việc của mình, dám quyết đoán, dám chịu trách nhiệm, nhưng ở một số trường hợp dễ sa vào độc đoán.

3.2. Phong cách dễ dãi (tự do) Phong cách này có đặc trưng cơ bản là: trong quá trình hình thành và ra quyết định, giám đốc luôn theo đa số, dễ do dự trước quyết định của mình. Khi cần đánh giá người giúp việc, đánh giá cấp dưới, giám đốc thưcíng vin vào ý kiến của tổ chức cấp trên, ý kiến quần chúng. Không theo dõi chỉ đạo sát sao việc thực hiện các quyết định, thường là phó mặc cho cấp dưới. Người có tác phong này không có tính chất quyết đoán, dễ xuề xoa, đại khái.

3.3. Phong cách dán chả - quyết định Phong cách này khắc phục được nhược điểm của hai tác phong trên và ở một chừng mực nhất định tận dụng được ưu điểm của cả hai tác phong đó. Người giám đốc có tác phong này trong quá trình hình thành quyết định thường thăm dò ý kiến của nhiều người, đặc biệt của những người có liên quan đến thực hiện quyết định. Khi ra quyết định, rất cưcmg quyết, không dao động trước quyết định của mình. Giám đốc quyết đoán các vấn đề nhưng không độc đoán, luôn theo dõi, uốn nắn, động viên, tổ chức cho cấp dưới thực hiện quyết định của mình, vì vậy, đánh giá, khen chê đúng mức. Trong ba phong cách trên, người giám đốc không nên áp dụng phong cách thứ hai, tức là tác phong dễ dãi. Bởi vì sự dễ dãi trong quản lý kinh tế thuờng dẫn đến sai lầm buông lỏng quản lý. Qua thăm dò ở một sô' doanh nghiệp và cơ sở sản xuất kinh doanh thì 20% số người được hỏi ý kiến ủng họ phong cách mệnh lệnh, 70% ủng hộ phong cách dân chủ - quyết đoán, chi có 10% muốn người giám đốc của mình có phong cách dễ dãi.


V. TIÊU CHUẨN CỦA GIÁM ĐỐC VÀ RÈN LUYỆN ĐÀO TẠO GIẢM ĐỐC DOANH NGHIỆP

1. Tiêu chuẩn của giám đốc doanh nghiệp Phụ thuộc vào từng doanh nghiệp khác nhau, phụ thuộc vào đặc điểm kinh tế, kỹ thuật của từng ngành mà tiêu chuẩn cụ thể của giám đốc doanh nghiệp có thể khác nhau. Tuy nhiên, cần phải khẳng định những tiêu chuẩn cơ bản mang tính chất thống nhất làm cơ sở cho việc tuyển chọn, bổ nhiệm và phấn đấu của giám đốc trong thời gian tới. Giám đốc doanh nghiệp có 5 tiêu chuẩn cơ bản sau:

- Trình độ văn hoá chuyên môn (trình độ trí tuệ).

- Trình độ và năng lực tổ chức quản lý.

- Phẩm chất chính trị.

- Tư cách đạo đức.

- Sức khoẻ và tuổi tác.

Chúng ta hãy nghiên cứu kỹ hơn những tiêu chuẩn này.

a) Trình độ văn hoá chuyên môn Giám đốc doanh nghiệp đạt tiêu chuẩn này phải có những kiến thức sau đây: - Kiến thức phổ thông: phải tốt nghiệp phổ thông trung học. - Kiến thức chuyên môn, nghiệp vụ; thể hiện ở chỗ phải hiểu sâu sắc nhữag kiến thức lý luận, thực tiễn về lĩnh vực chuyên môn của mình. Phải hiểi sâu rộng những kiến thức kinh tế, kỹ thuật, chính trị, xã hội, tâm sinh lý nguỉíi lao động. Điều này phù hợp với công việc được giao của giám đốc là quải lý toàn diện mọi mặt hoạt động của doanh nghiệp. Không thể nói có chuyên môn nghiệp vụ mà không gắn liền với bằng cấp. Tiêu chuẩn này yêu cầu các giám đốc phải tốt nghiệp ở một trường chuyên đào tạo giám đốc. Hiện nay ở Việt Nam chưa có trường riêng đào tạo giám đốc như nhiều nước trên thế giới. Vậy tiêu chuẩn này cần gắn với việc giám đốc phải tốt nghiệp một trưòag đại học nào đó, tốt nhất là đại học kinh tế. Trường hợp đặc biệt, giám đốc cũng phải có trình độ nhất định về quản lý kinh tế và quản trị kinh doanh. Ngay từ năm 1986, ở Trung Quốc đã quyết định: giám đốc doanh nghiệp lófn phải có bằng đại học, còn doanh nghiệp nhỏ và trung bình phải có bằng cao đẳng. Vì vậy, hiện nay phần lớn giám đốc ở Trung Quốc đều có bằng đại học. - Trình độ kiến thức của giám đốc còn đòi hỏi giám đốc phải có bằng cấp về ngoại ngữ. Các ngoại ngữ phổ thông được Nhà nước quy định là: Nga, Anh, Pháp, Đức, Trung. Hiện nay, nước ta đang sử dụng rộng rãi tiếng Anh. Vì vậy, giám đốc cần phải có bằng cấp về tiếng Anh, tối thiểu cũng phải có chứng chỉ c về tiếng Anh hoặc ngoại ngữ nào đó. Bằng cấp về ngoại ngữ sẽ giúp giám đốc đọc được tài liệu tham khảo nước ngoài, nhất là trong điều kiện cơ chế thị trường hiện nay phải giao dịch trực tiếp với người nước ngoài. - Trình độ giao tiếp: những giao tiếp thông thường trong nước và nước ngoài, sự hiểu biết về tâm lý xã hội của những người lao động ở doanh nghiệp mình phụ trách. Yếu tố tâm lý quản lý ngày nay có vai trò rất quan trọng trong quản trị kinh doanh. b) Trình độ năng lực lãnh đạo và tổ chức quản lý Yêu cầu của tiêu chuẩn này là: - Biết tổ chức bộ máy quản lý phù hỢp với cơ chế quản lý mới; biết sử dụng, phát hiện cán bộ có trình độ, có nãng lực quản lý; biết cất nhắc đề bạt cán bộ dưới quyền; biết sa thải, kỷ luật những người lao động không hoàn thành nhiệm vụ; biết khen thưởng, động viên những người lao động làm việc có hiệu quả, năng suất cao. - Biết phát hiện những khâu trọng tâm trong từng thời kỳ trên cơ sở nắm toàn diện các khâu quản lý doanh nghiệp. - Biết giải quyết công việc có hiệu quả, nhanh, nhạy bén.

c) Phẩm chất chính trị Tiêu chuẩn này được thể hiện ở 2 điểm mấu chốt: - Phải nắm và vận dụng được những quan điểm, đường lối đổi mới của Đảng, Nhà nước trong từng thời kỳ. - Tuân thủ luật pháp Nhà nước quy định.

d)Tư cách đạo đức Bất kỳ ở nước nào, bất kỳ ở đâu, bất kỳ thành phần kinh tế nào giám đốc cũng phải đạt được tiêu chuẩn này, thể hiện ở chỗ;

- Giám đốc phải làm gương cho mọi người trong doanh nghiệp noi theo về quan điểm đúng; hăng say, nhiệt tình, tận tuỵ với công việc kinh doanh...

- Có đạo đức kinh doanh, giữ được chữ tín với khách hàng, hoàn thành mọi nhiệm vụ đóng góp đối với Nhà nước và cộng đồng xã hội.

e) Sức khoẻ và tuổi tác Tất nhiên, khó có thể ấn định một lứa tuổi cụ thể, loại sức khoẻ A,B,C cụ thể làm tiêu chuẩn để xét chọn giám đốc. Tuy nhiên, không thể phát triển được doanh nghiệp với một giám đốc già nua, ốm yếu. Trên thế giới người ta đã tổng kết là: tuổi bắt đầu làm giám đốc tốt nhất là từ 25-35. ở đây chúng tôi chỉ xin nêu tiêu chuẩn có tính chất định tính là: có đủ sức khoẻ để hoàn thành nhiệm vụ được giao và tuổi đời khi bổ nhiệm nên ưu tiên tuổi trẻ có trình độ học vấn và năng lực cao.

Tiêu chuẩn của giám đốc doanh nghiệp được tóm tắt trong bảng sau:

STT Tiêu chuẩn Nội dung cơ bản Ghi chú

1 Trình độ kiến thức chuyên môn

a) Kiến thức phổ thông

b) Kiến thức chuyên môn nghiệp vụ

c) Kiến thức ngoại ngữ

d) Kiến thức giao tiếp, tâm lý - xã hội - Có bằng cấp - Có bằng cấp - Có bằng cấp hoặc giấy chứng chỉ

2 Trình độ và năng lưc quản lý

a) Lãnh đạo có trọng tâm

b) Biết tổ chức bộ máy quản lý phù hợp với cơ chế quản lý mới

c) Thưởng phạt nghiêm minh

d) Giải quyết công việc có hiệu quả Tranh thủ sự lãnh đạo của Đảng uỷ doanh nghiệp, sự phối hợp ủng hộ của các tổ chức quần chúng

3 Phẩm chất chmh trị

a) Đi đúng quan điểm đường lối của Đảng, Nhà nước

b) Tôn trọng pháp luật Co bằng cấp về trình độ chính trị

4 Tư cách đạo đức Là tấm gương cho cán bộ công nhân viên doanh nghiệp noi theo Là người có uy tín lớn nhất trong doanh nghiệp

5 Sức khoả tuổi tác

a) Đủ sức khoẻ hoàn thành nhiệm vụ

b) Trẻ hoá đội ngũ cán bộ

2. Rèn luyên, đào tạo và bồi dưỡng giám đốc doanh nghiệp Để có được một đội ngũ giám đốc doanh nghiệp năng động thích ứng với cơ chế thị trường, vấn đề có tính chất vừa khẩn cấp trước mắt, vừa có tính chiến lược lâu dài là rèn luyện, đào tạo và bồi dưỡng giám đốc.

a) Rền luyện uy tín của giám đốc doanh nghiệp Một giám đốc không có uy tín không thể hoàn thành nhiệm vụ của mình. Uy tín có từ 2 nguồn: một là, uy tín chính thức, tức là do được tuyển chọn có quyết định để bạt, bổ nhiệm; hai là: uy tín thực tế. Tức là giám đốc có được uy tín là do có một quá trình tự rèn luyện bản thân. Chúng tôi muốn nhấn mạnh uy tín thực tế này, đó mới chính là uy tín thật của giám đốc, là các quyết định cho sự thành công trong quản trị kinh doanh của giám đốc. Để có được uy tín thực tế, giám đốc cần chống các uy tín giả tạo, đó là: - Uy tín quyền uy; - Uy tín công thần; - Uy tín khoảng cách; - Uy tín m ua chuộc; - Uy tín xuề xoà. Rèn luyện 3 chữ; “TRÍ” , “TÍN ” . “TÂM ” Trí là trình độ chuyên môn và sự giao tiếp của người giám đốc. Giám đốc cần am hiểu sâu sắc trên nhiều lĩnh vực, đặc biệt là nhạy bén vơi những điều kiện, môi trường sản xuất kinh doanh. Nắm chắc tình hình tài chính, giá cả, sự biến động trên thị trường trong nước và thế giới, chấp nhận cạnh tranh và tìm mọi biện pháp chiến thắng trong cạnh tranh, đem lại lợi nhuận cao nhất cho doanh nghiệp. Tín trước hết là đối với những người lao động dưới quyền, đồng thời tín đối với bạn hàng trong nước và thế giới. Ngày nay, đã đến lúc các doanh nghiệp phải tự mình thành thật với bạn hàng và ngay cả với chứih mình, không thể làm bừa, làm ẩu, làm gian dối, báo cáo sai. Lỡ hợp đồng, mất tín nhiệm về phẩm chất, quy cách sản phẩm... sẽ dẫn đến mất khách, đặc biệt khách hàng nước ngoài, đó là con đưèíng tự sát trong cạnh tranh. Tâm có nghĩa là tấm lòng, sự nhiệt tình, tâm huyết với nghề hghiệp, là sự thương yêu, bao dung, độ lượng với đồng nghiệp và cấp dưới. Tâm còn có nghĩa là sự tận tuỵ với công việc, với kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của xí nghiệp, không tham ô, lãng phí, thực hiện dân chủ và công bằng xã hội trong doanh nghiệp. - Rèn luyện về phương pháp làm việc khoa học Giám đốc cần có thời gian biểu làm việc hàng ngày và quy định cho từng giờ. Tổ chức các cuộc họp ngắn gọn, khoa học. Giám đốc cần dành thời gian để học tập, nghiên cứu, đọc sách báo chuyên môn nhằm m ở rộng tầm hiểu biết, nâng cao trình độ chuyên môn. Giám đốc cần xác định nhiệm vụ lớn trọng tâm, cơ bản trong từng thời kỳ mà tập trung chỉ đạo, không bao biện, làm thay phần việc của cấp phó và các bộ phận giúp việc. Trong công tác đối ngoại cần lịch sự, chững chạc, chú ý cả từ việc sử dụng phương tiện đi lại, ăn mặc và giao tiếp. Đừng lầm lẫn giữa giản dị với luộm thuộm, tiết kiệm với bủn xỉn trong quan hệ ngoại giao. Tổ chức phòng làm việc và tiếp khách của giám đốc cũng phải thể hiện được phương pháp quản lý và tác phong lãnh đạo khoa học của giám đốc. Phòng làm việc cần được sắp xếp, trang trí theo đúng nghi thức: lịch sự đàng hoàng vì đó là bộ mặt của doanh nghiệp, là trung tâm ra những quyết định quan trọng, nơi giao tiếp làm công tác đối nội và đối ngoại. Có người cho rằng phòng làm việc của giám đốc không nên quan cách hoá, phải thật đơn giản, càng đơn giản bao nhiêu càng mang tmh chất quần chúng bấy nhiêu. Cũng có thể như vậy, nhưng điều đó không có nghĩa là giảm tứih chất khoa học, nghiêm trang, lịch sự của phòng giám đốc. Cùng với những trang bị, sách vở, tài liệu, bàn ghế, những tiện nghi điện thoại, máy túih và các phương tiện thông tin là rất quan trọng giúp cho giám đốc có thể nắm bắt kịp thời những thông tin cần thiết và đề ra được những quyết định nhanh, nhạy, chính xác. Để có được phương pháp quản lý và tác phong lãnh đạo tốt giám đốc cần tạo ra nhiều cơ hội gặp gỡ những người giúp việc, đặc biệt là gặp gỡ đối thoại với công nhân, trên cơ sở đó hiểu sâu tâm tư, nguyện vọng của họ, góp phần bổ sung cho những quyết định của mình. Giám đốc cần hết sức tránh tính “quan cách” . Tất nhiên điều này không có nghĩa là xuể xoà dùng các từ thô thiển với mọi người dẫn đến dễ dãi, buông thả mà phải có một giới hạn nhất định đảm bảo cho cưcfng vị thủ trưởng của mình. Trong giờ làm việc, giám đốc phải giữ nguyên kỷ cương, giữ đúng cưcíng vị của mình khi tiếp xúc với người giúp việc và người thừa hành. Nhưng ngoai thời gian làm việc, giám đốc là một công dân bình thưèmg có quyền lợi và nghĩa vụ như mọi công dân khác, cần hoà đồng với cán bộ, công nhân viên trong doanh nghiệp. Làm được điều này chắc chắn chỉ làm tăng uy tín của giám đốc, thu hút sự mến mộ của mọi người, đó là nhũng nhân tố đặc biệt quan trọng giúp giám đốc đạt được kết quả to lófn trong công việc. - Rền luyện đặc tính kinh doanh Đặc tính kinh doanh của giám đốc doanh nghiệp gồm 4 biểu hiện saa; + Có cao vọng (tham vọng) trong kinh doanh. Giám đốc không an phận thủ thường, không chấp nhận hoàn cảnh hiện tại, luôn phấn đấu đưa doanh nghiệp đạt mục tiêu cao hơn. + Chấp nhận rủi ro. Trong kinh doanh luôn có khả năng xảy ra rủi ro. Giám đốc phải rèn luyện khả nâng chịu đựng. Có 4 loại rủi ro chính sau: Rủi ro về tài chính: vốn đầu tư không thu về được, kinh doanh thua lỗ. Rủi ro về sự nghiệp: nếu thất bại trong kinh doanh, giám đốc sẽ khó kiếm được cơ hội kinh doanh khác. Rủi ro về giơ đình: giám đốc khó có điều kiện quan tâm đến gia đ‘;nh, vợ con vì bị cuốn hút trí lực, sức lực vào kinh doanh. Rủi ro về tâm lý: nếu giám đốc thất bại trong kinh doanh coi như :hất bại trong cuộc đời, trong sự nghiệp sự đau khổ tăng lên. + Có lòng tự tin. Đây là đặc tính quan trọng của giám đốc. Phải thấy trước những khó khăn, những rủi ro nhưng luôn chủ động, tin tưởng vào khả năng của chính mình đễ sẵn sàng vượt qua. Rèn luyện đặc tính này sẽ giúp giám đốc thành công trong kinh doanh. + Đặc tính cuối cùng là; có đạo đức kinh doanh. Giám đốc phải kết hợp hài hoà các lợi ích của chủ doanh nghiệp với lợi ích của những người lao động, của khách hằng, của người cung ứng, của bạn hàng. b) Đào tạo giám dốc doanh nghiệp Trước hết, chúng ta hãy nghiên cứu kinh nghiệm đào tạo giám đốc ở một số nước trên thế giới. Theo định nghĩa kinh điển, giám đốc là người lãnh đạo, người quản lý, điều khiển một tổ chức kinh doanh, một xí nghiệp. Các đức tính tốt của một giám đốc, trước hết là phải lãnh đạo những con người, không những phải nắm vững công nghệ kỹ thuật và tổ chức sản xuất, kinh doanh và thị trường mà còn phải am hiểu sâu sắc các đồng nghiệp của mình. Người giám đốc phải ngoan cường, không bị ảnh hưởng của tình trạng căng thẳng thần kinh (stress) và phải có năng lực tìm được một giải pháp thoả đáng trong bất kỳ hoàn cảnh nào. Điều chủ yếu là phải biết khéo xử thế với người khác dù họ là người dưới quyền mình hay là những thành viên trong hội đồng quản trị. Điểu cơ bản là dù ở xí nghiệp cỡ nào, đã là giám đốc phải biết suy nghĩ về triển vọng, về chiến lược nhiều hơn là chỉ quan tâm đạt mau chóng những lợi ích trước mắt, vì không phải khi nào những thành công mau chóng cũng mở ra những triển vọng tốt cho tương lai. Điều có thật là, hiện nay máy tính điện tử đã giải quyết được một số vấn để quản lý thay cho con người và người ta đã nói tới “trí khôn nhân tạo”, “những hệ thống thông minh” song, công việc kinh doanh phần lớn vẫn phụ thuộc vào những đức tính riêng của các nhà kinh doanh và những quan hệ giữa họ với nhau. Sự tín nhiệm, thiện cảm hay ác cảm đóng vai trò quan trọng; kỹ thuật và máy tmh điện tử được nói đến nhiều, nhưng hiện tại vẫn là lĩnh vực quan hệ giữa những con người. Chính vì những lẽ nói trên, ở các nước có nền kinh tế thị trường, việc đào tạo và chọn lựa người giám đốc là điều quan tâm hàng đầu. Tuy lựa chọn giám đốc phải căn cứ vào những tiêu chuẩn nghiêm ngặt nhưng kinh nghiệm cho thấy không có công thức nào bày đặt sẵn để trở thành một giám đốc. Theo quy tắc chung, người giám đốc phải tốt nghiệp một trưòfng đại học, phải được đào tạo về kinh tế và về quản lý kinh doanh.

- Đào tạo giám dốc ở Nhật Nước Nhật rất tự hào về trường đào tạo giám đốc nổi tiếng của mình nằm dưới chân núi Phi-ghi quanh năm tuyết phủ. Nhà trường giảng dạy khoảng 20 môn cơ bản. Trường bắt buộc các giám đốc tương lai phải rèn luyện tổng hợp cả kiến thức chuyên môn và ý thức tổ chức kỷ luật. Thí dụ, rèn luyện về cách thức giao tiếp xã hội, học cả đánh máy, học nói chuyện qua điện thoại sao cho ngắn gọn và lễ phép. Thực tế nhiều giám đốc tưong lai không chịu đựng được học tập và rèn luyện quá khắt khe đã phải bỏ học hoặc bị rớt qua các kỳ thi. Trong nhiều năm, trường đã đào tạo được hàng chục ngàn giám đốc điều hành trên khắp đất nước Nhật.

Đào tạo giám đốc ở Mỹ Một giám đốc công ty, một cán bộ quản lý tối thiểu phải học qua trình độ MBA (Master of Business Administration). Chứng chỉ MBA ở Hoà Kỳ được xem như “Tấm hộ chiếu để thành đạt trong đời”. Nhà trường đầu tiên trên thế giới về thương mại và công nghiệp là đại học Penxivania ra đời từ năm 1981. việc đào tạo và quản lý tại Hoa Kỳ đã có những thành công lớn vào những năm 60 đã dẫn tới việc thành lập cả một thế hệ trưcmg kinh doanh khắp thế giới. Những trường đã dựa trên mô hình trường kinh doanh Ha-vóft (Harvard Business School) có cả các trường của Anh ở Luân Đôn và Man-set-xtơ. Tiêu chuẩn để vào các trường này là phải có bằng tốt nghiệp đại học. Sau khi tốt nghiệp người học sẽ được trang bị trình độ nghiệp vụ và quản lý xuất sắc. Trường đào tạo các nhà quản lý hiện đại của Asean - Giha đã cấp bằng phó tiến sĩ kinh doanh cho những học viên tốt nghiệp. - Đào tạo giám dốc ở Cộng hoà Liên bang Đức ở Cộng hoà liên bang Đức, số giám đốc “kinh điển” có khoảng từ 50 đến 100.000 người. Để chọn những giám đốc khá nhất, khoảng một nửa công ty phải nhờ các cơ quan dịch vụ trong nước, thậm chí ở nước ngoài, tìm cho họ những người mà họ cần, một nửa số công ty còn lại thường theo các phương pháp cổ điển, thông qua các phòng tuyển mộ, đăng báo hoặc tiếp xúc cá nhân. Kinh doanh của doanh nghiệp đòi hỏi giám đốc giải quyếl công việc một cách khẩn trương, song phải cân nhắc xem có đưa lại lợi nhuận tài chính hoặc có lợi nhuận kinh tế hay không. Muốn vậy, rõ ràng một giám đốc phải có những kiến thức sâu rộng trong lĩnh vực của mình và biết hướng một cách tốt nhất vào thị trường hàng hoá mà mình kinh doanh. Trước khi hợp đồng tuyển một giám đốc, công ty và người giám đốc tương lai trao đổi với nhau các quan điểm về tiền lương sẽ trả cho ông ta và đi tới một thoả thuận giả sử một giám đốc tìm ra một giải pháp làm tăng nhanh chóng tiền lãi cho công ty, ông ta sẽ được hưởng một tỷ lệ phần trăm của khoản siêu lợi nhuận đó. Giám đốc ở Cộng hoà liên bang Đức được bồi dưỡng tại trường vsw là trường đào tạo, bồi dưỡng giám đốc có uy tín nhất tại Cộng hoà Liên bang Đức. Chi phí đào tạo do doanh nghiệp đài thọ và ngoài ra còn phải chi phí ăn ở và chi phí cho thực tập một đến sáu tuần. Cơ sở vật chất kỹ thuật của trường do các nhà công nghiệp tài trợ. Họ xem việc bồi dưỡng cho giám đốc, các nhà quản lý kinh doanh như một khoản đầu tư sinh lợi. Mười lăm năm qua các công ty đã tăng bảy lần các chi phí đào tạo. Họ nhận thức rằng nếu không chịu tốn kém như vậy sẽ không đạt được trình độ cạnh tranh trên quy mô quốc tế. Mặt khác, việc “hiện đại hoá các bộ não” phải làm thường xuyên vì chỉ mười năm nữa những kiến thức mũi nhọn tiếp thu được hiện nay chắc chắn bị lac hâu. ở Cộng hoà liên bang Đức, giám đốc tổi thiểu phải có trình độ đại học, phần lớn các nhà quản lý của nước này là các nhà kinh tế, sau đó là các kỹ sư và các nhà khoa học khác, ở các công ty lớn, trong Ban quản lý người ta thấy, trước hết là các nhà kinh tế, kỹ sư và các nhà chuyên môn khác như xã hội học, tâm lý học v.v...

- Đào tạo giám đốc doanh nghiệp ở Trung Quốc Tại Trung Quốc, sau cách mạng vãn hoá, một số lófn cán bộ quân đội được chuyển về các xí nghiệp quốc doanh đã được đào tạo chính quy hay cấp tốc trong các trường đại học và sau đó chọn vào cưcmg vị giám đốc kinh doanh. Song chỉ 10% số giám đốc mới này được đào tạo về kinh doanh kỹ thuật, không thay thế được quản lý; vì trong khi Trung Quốc nhập khẩu nhiều máy móc và bí quyết kỹ thuật của phương Tây, nãng suất vẫn thấp. Mặc dù có công nghệ tiên tiến, có vốn nhưng vẫn chưa đủ mà còn cần có kỹ thuật quản lý nữa. Đó chính là mục tiêu của chính sách mở cửa tại Trung Quốc. Các phương pháp quản lý mới được thu nhập từ năm 1980 với một trung tâm đào tạo Trung - Mỹ, sau đó thành lập 11 trung tâm tương tự với sự hợp tác của Anh, Canada, Nhật, Cộng hoà liên bang Đức, Cộng đồng châu Á và ngân hàng thế giới như ở Bắc Kinh, Thiên Tân, Thượng Hải, Tây An, Thành Đô, Quảng Châu. ở Việt Nam trong nhiều năm qua và cả hiện nay chưa có bất kỳ một trường lớp nào đào tạo giám đốc doanh nghiệp một cách có hệ thống. Có chăng chỉ là các lớp, các khoá học được tổ chức ra nhằm mục đích bồi dưỡng giám đốc doanh nghiệp. Những lớp và khoá học này chỉ được tổ chức trong một thời gian ngắn: 3-6 tháng, đặc biệt có khoá kéo dài 1-2 năm. Tuy nhiên, đối tượiig tuyển chọn thuộc nhiều dạng khác nhau, tài liệu học tập chưa được biên soạn phù hợp, chưa chuẩn hoá. Nhiều người theo học các lớp, khoá này thường về các doanh nghiệp vẫn giữ nguyên vị trí như khi bắt đầu đi đào tạo, bồi dưỡng. Nguồn giám đốc cung cấp cho các doanh nghiệp chủ yếu là từ những trường đại học khác nhau và từ thực tiễn rèn luyện trong cuộc sống có kinh nghiệm trong sản xuất và chiến đấu. Trong lương lai, Việt Nam cũng sẽ tổ chức trưòrng đào tạo giám đốc có bài bản nhằm đáp ứng yêu cầu tiêu chuẩn hóa đội ngũ giám đốc doanh nghiệp hiện nay. Trước mắt trong một vài năm tới là mở các lớp bồi dưỡng chương trình quản trị kinh doanh cho các giám đốc doanh nghiệp. Nhiều cơ sở địa phương thực hiện chương trình bồi dưỡng giám đốc này, nhưng chủ yếu nhất hiện nay vẫn là do một số trường đại học đảm nhận. Việc cải :iến chương trình và phương pháp đào tạo giám đốc đang được đặt ra cho các ngành và các cấp hiện nay.


CÂU HỎI THẢO LUẬN VÀ ÔN TẬP CHƯƠNG 4

1. Phân tích khái niệm và đặc điểm lao động của giám đốc doanh nghiệp.

2. Phân tích vai trò của giám đốc và những tố chất cẩn có của giám Jốc doanh nghiệp.

3. Nêu các phương pháp quản lý và phong cách lãnh đạo của giám đốc.

4. Nêu rõ thực trạng chất lượng đội ngũ giám đốc và việc đào tạo bồi dưỡng đội ngũ giám đốc hiện nay. Liên hệ với thực tiễn các doanh nghiệp ở Việt Nam ?

5. Trình bày phương pháp quản lý và tiêu chuẩn của giám đốc doanh nghiệp? Những hạn chế và nguyên nhân chủ yếu của những hạn chế đối với đội ngũ giám đốc doanh nghiệp hiện nay ở Việt nam?

6. Quan điểm cho rằng “cờ đến tay ai người đó phất” và ai cũng có thể trở thành giám đốc doanh nghiệp giỏi được ? Hãy bình luận và lây ví dụ m inh họa ?

7. Giám đốc là một nghề hay là một chức vụ ? Nêu ý kiến và quan điểm của bạn và giải thích ?

8. Giám đôc ngày nay cần phải rèn luyện những gì và tại sao ?

9. So sánh các phong cách lãnh đạo của giám đôc doanh nghiệp ?. bạn thích làm việc với những giám đôc có phong cách lãnh đạo nào và giải thích vì sao ?

10. Để gắn nhiệm vụ, trách nhiệm và quyền hạn của giám đốc với những quyền lợi của họ, theo bạn doanh nghiệp cần phải làm gì ?

11. Hãy bình luận xu hướng các giám đốc, nhà quản trị cấp cao của doanh nghiệp ra đi và sự lôi kéo các giám đốc, nhà quản trị giỏi của các doanh nghiệp khác đang diễn ra khá phổ biến hiện nay ở Việt nam ? Theo bạn các doanh nghiệp phải làm gì để giữ chân họ ?”


GT Tham khảo thêm:

CHƯƠNG 3- CHỈ HUY TRONG DOANH NGHIỆP-

( GIÁM ĐỐC DOANH NGHIỆP & PHÂN CẤP, PHÂN QUYỀN VÀ ỦY QUYỀN TRONG QUẢN TRỊ DOANH NGHIỆP - Nguồn: Giáo trình Quản trị doanh nghiệp- HVCNBCVT -http://dlib.ptit.edu.vn/bitstream/123456789/1375/1/BG%20Quan%20tri%20doanh%20nghiep.pdf )




( Tóm tắt) STGT. Tài liệu hỗ trợ TN khởi nghiệp:


CHỈ HUY TRONG QUẢN TRỊ DOANH NGHIỆP-

( GT.Chương 4 GIÁM ĐỐC DOANH NGHIỆP - nguồn: Giáo trình quản trị doanh nghiệp- ĐHKTQD- http://dulieu.tailieuhoctap.vn/books/kinh-doanh-tiep-thi/quan-tri-chien-luoc/file_goc_779196.pdf )


“…Doanh nghiệp có đội ngũ các nhà quản trị chuyên nghiệp, có hệ thống tổ chức tốt, nhưng lại thiếu một giám đôc tài ba, có tầm nhìn xa trông rộng thì khó có thể thành công trong điều kiện cạnh tranh khốc liệt hiện nay. Trong chương này sẽ giới thiệu những quan điểm về nghề giám đốc doanh nghiệp, những đặc trưng của nghề này và đòi hỏi về điều kiện, tô' chất cần có của người giám đốc doanh nghiệp. Để lãnh đạo cố hiệu quả giám đốc cần có phương pháp và phong cách lãnh đạo phù hợp, phương pháp làm việc hiệu quả trong cơ chế thị trường. Có người nói, thị trường sản sinh ra những giám đốc tài ba, điều đó hoàn toàn đúng. Kinh tế thị trường ngày nay đưa đến cho giám đốc quá nhiều thông tin. Điều này làm cho giám đốc lúng túng, bối rối và họ không biết làm gì với cái mớ thông tin đó. Vậy là chỉ riêng việc xử lý thông tin cũng đưa họ dển hoặc là thích ứng, hoặc lả không thích ứng với cơ chế thị trường. Nếu không thích ứng họ sẽ bị đào thải. Cái chìa khoá của sự thành công của giám đốc doanh nghiệp là sự năng nổ, nhiệt tình, tài ba và luôn tỉm ròi, dổi mới, sáng tạo. Đất nước ta mới chuyển sang cơ chế thị trường, hiện tại còn tồn tại nhiều thể hệ giám đốc khác nhau do lịch sử để lại. Vấn đề là phải xây dựng một dội ngũ giám đốc mới năng động, thích ứng với cơ chế thị trường, kinh doanh có hiệu quả và đảm bảo cho doanh nghiệp phát triển liên tục.

I. KHÁI NIỆM VÀ ĐẶC ĐIỂM LAO ĐỘNG CỦA GIÁM ĐỐC DOANH NGHIỆP

1. Khái niệm giám đốc doanh nghiệp

a) Khái niệm giám đốc doanh nghiệp theo quan điểm truyền thống ở nước ta

Theo quan điểm truyền thống thì chỉ có nhà nước mới có quyền thành lập doanh nghiệp và những doanh nghiệp được thành lập ra là doanh nghiệp nhà nước. Vì vậy, khái niệm giám đốc doanh nghiệp chỉ được giới hạn trong phạm vi doanh nghiệp nhà nước. Theo khái niệm này thì giám đốc doanh nghiệp nhà nước vừa là người đại diện cho nhà nước, vừa là người đại diện cho tập thể những người lao động, quản lý doanh nghiệp theo chế độ một thủ trướng, có quyền quyết định việc điều hành mọi hoạt động của doanh nghiệp. Khái niệm này chỉ rõ trong cơ chế quản Iv cũ, giám đốc doanh nghiệp chịu sự chi phối của 2 áp lực: một là, của cơ quan quản lý nhà nước cấp trên; hai là, của tập thể những người lao động mà đại hội công nhân viên chức là đại diện quyền tối cao của tập thể những người lao động. Từ khái niệm trên cho chúng ta nhận xét: - Giám đốc tất cả các doanh nghiệp đều do Nhà nước bổ nhiệm và phải làm việc theo sự chỉ đạo của Nhà nước. - Những người lao động là chủ sở hữu của doanh nghiệp. Giám đốc là người đại diện cho tập thể những người lao động, sẽ là người đại điện quyền sớ hữu trong doanh nghiệp. Như vậy, giám đốc vừa là người quản lý, vừa là người chủ sở hữu, sẽ dẫn đến tình trạng: Giám đốc doanh nghiệp vừa là “người đá bóng, vừa là người thổi còi trận đấu”. Trong nhiều trường hợp dẫn đến làm thất thoát vốn, sứ dụng lãng phí các nguồn lực của doanh nghiệp.

b) Khái niệm mới về giám dốc doanh nghiệp

Trong cơ chế thị trường, một doanh nghiệp dù ở quy mỏ nào, loại hình sở hữu nào cũng phải có người đứng đầu mà ta thường gọi là giám đốc doanh nghiệp. Vậy, giám đốc doanh nghiệp là gì? Một định nghĩa ngăn gọn: "Giám đốc doanh nghiệp là người thủ trưởng cấp cao nhất trong doanh nghiệp” Chúng ta có thể coi đây là một khái niệm đơn giản nhất về giám đốc doanh nghiệp. Theo khái niệm trong “Điều lệ xí nghiệp công nghiệp quốc doanh” thì: “Giám đốc xí nghiệp là người vừa đại diện cho Nhà nước vừa đại diện cho công nhân viên chức quản lý xí nghiệp theo chế độ một thủ trưởng, có quyền quyết định việc điều hành hoạt động của xí nghiệp theo đúng kế hoạch, chính sách, pháp luật của Nhà nước và nghị quyết của đại hội công nhân viên chức, chịu trách nhiệm trước Nhà nước và tập thể lao động về kết quả sản xuất kinh doanh của xí nghiệp”. Trong cuốn “Hệ thống quản lý của Nhật Bản, truyền thống và sự đổi mới”, khái niệm giám đốc doanh nghiệp được hiểu như sau: “Giám đốc (tổng giám đốc) là người điều hành hoạt động kinh doanh hàng ngày của công ty và chịu trách nhiệm trước hội đồng quản trị về việc thực hiện các nhiệm vụ và quyền hạn được giao”. Tại Mỹ, người ta cho rằng: “Giám đốc là người được uỷ nhiệm đầy đủ quyền hạn để điều hành hoạt động kinh doanh của công ty và có quyền hoạt động nhân đanh công ty trong mọi trường hợp” . Tại Pháp, khái niệm vể giám đốc doanh nghiệp trong cơ chế thị trưèỉng được khẳng định; “Đứng đầu một tổ chức công ty là Ban giám đốc, có trách nhiệm tập thể trong việc quản lý công ty. về mật pháp lý, các giám đốc được bầu qua một cuộc họp của các cổ đông”. Qua các khái niệm về giám đốc doanh nghiệp nêu trên, có thể đưa ra một khái niệm chung nhất về giám đốc doanh nghiệp trong cơ chế thị trường như sau: Giám đốc doanh nghiệp là người được chủ sở hữu doanh nghiệp giao cho quyền quản lý điều hành doanh nghiệp theo chê độ một thủ trưởng, chịu trách nhiệm trước người chủ sở hữu về mọi hoạt động của doanh nghiệp cũng nhu kết quả của các hoạt động đó. Đồng thời được hưởng thù lao tương xứng với kết quả mang lại. Trong kết luận này được đề cập đến một nội dung chung cho mọi giám đốc của các doanh nghiệp ở các loại hình thức sở hữu khác nhau. Trong thực tế, có doanh nghiệp người chủ sở hữu đồng thời làm giám đốc. Đối với doanh nghiệp nhà nước thì giám đốc là người do Nhà nước bổ nhiệm và hưởng lương theo chế độ Nhà nước quy định.

2. Đặc điểm iao động của giám đốc doanh nghiệp

a) Giám đốc là một nghề. Lao động của giám đốc là lao động chất xám, lao động quản lý, lao động phức tạp và lao động sáng tạo. Nghề giám đốc đòi hỏi quy trình đào tạo hết sức khắt khe nhằm đáp ứng nhu cầu đa dạng về kiến thức khoa học công nghệ, kinh tế, quản lý, giao tiếp xã hội, ngoại ngữ.

b) Lao động của giám đốc là lao động quản lý kinh doanh mà trước hết là quản lý và sử dụng vốn. Người giám đốc không chỉ biết tạo vốn mà còn phải biết sử dụng hiệu quả vốn sản xuất kinh doanh. Vốn là thứ cần phải có đối với bất cứ một nhà kinh doanh nào. Vốn đó trang trải các khoản chi phí ban đầu phục vụ cho việc nghiên cứu thị trường, các lệ phí xin phép tạo lập doanh nghiệp... Vốn để mua sắm tài sản cố định, kể cả tài sản hữu hình (như đất đai, nhà xưcmg, máy móc, thiết bị...) và tài sản vô hình (như mua bằng phát minh sáng chế, bản quyền, quyền được kinh doanh...) và vốn lưu động để mua vật tư, hàng hoá, trả công lao động... Nhiệm vụ của giám đốc là phải xác định được số vốn cần thiết để có biện pháp giải quyết và xử lý. Nếu vốn tự có không đủ thì phải tìm nguồn tài trợ. Để có nguồn tài trợ thì trước hết giám đốc phải tính toán và khẳng định được một cách chắc chắn rằng, doanh nghiệp của mình khi hoạt động sẽ có lãi. Vì chỉ khi chứng minh được điều đó mới có thể tìm được người hùn vốn, người cho vay. Trong việc huy động và vay vốn, dù là của gia đình, anh em, họ hàng hay bạn bè cũng cần phải nhớ một điều, muốn bảo đảm được quyền độc lập của mình trong việc lãnh đạo, quản lý và chỉ huy sản xuất kinh doanh cần phải có kế hoạch thanh toán sớm các khoản nợ. Thực tế cho thấy, chừng nào chưa thoát khỏi cảnh “con nợ” thì chừng đó chưa thể thoát khỏi nguy cơ can thiệp của chủ nợ và do đó, vai trò quyết định của giám đốc còn bị chi phối của các chủ nợ. Khi phải huy động hoặc vay vốn, về nguyên tắc phải tính toán thận trọng, chính xác cần bao nhiêu, lúc nào, trong thời gian bao lâu. Nếu vay quá nhiều, quá lâu sẽ phải trả lãi nhiều ảnh hưởng đến lợi nhuận thu được nhưng ngược lại nếu vay quá ít không đủ vốn để hoạt động sẽ gây trở ngại cho sản xuất kinh doanh ngay khi vừa mới bắt đầu và như vậy, sẽ ảnh hưởng đến việc thực hiện hợp đồng, đến uy tín của doanh nhiệp cũng như người chủ doanh nghiệp trong quan hệ với khách hàng. Một giám đốc có khả năng như vậy sẽ có thể nhanh chóng xác định được kế hoạch cải tổ sản xuất của đơn vị mình nhằm đạt hiệu quả sản xuất kinh doanh cao nhất.

c) Lao động của giám đốc như là lao động của nhà sư phạm biết viết và truyền đạt ý kiến chính xác, biết thuyết phục, đồng thời cũng là nhà quản lý con người, bảo đảm thu nhập cho người lao động, phát triển nghề nghiệp và khơi dậy khát vọng, ý chí và khả năng làm giàu cho doanh nghiệp, cho xã hội và cho cá nhân theo pháp luật; biết kiên định trong mọi tình huống, khắc phục khó khăn, thắng không kiêu, bại không nản; biết lường trước mọi hậu quả. Người giám đốc phải gương mẫu, có đạo đức, không chỉ trong đời sống cá nhân, mà cả trong kinh doanh; giữ chữ tín với khách hàng; tôn trọng cấp trên, thuỷ chung với bạn bè, đồng nghiệp; độ lượng, bao dung với cấp dưới. Giám đốc còn phải biết sống công bằng, đãi ngộ đứng mức, biết lắng nghe, quyết đoán mà không độc đoán, sáng tạo mà không tuỳ tiện, ngẫu hứng mà không tuỳ hứng.

d) Lao động của giám đốc như là lao động của nhà hoạt động xã hội biết tuân thủ, hiểu thấu đáo những vấn đề luật pháp, nhất là luật kinh tế, các chính sách chế độ quy định của Nhà nước có liên quan đến chức năng, nhiệm vụ hoạt động - kinh doanh của doanh nghiệp. Biết tham gia vào công tác xã hội.

e) Sản phẩm lao động của giám đốc Xuất phát từ đặc điểm lao động của giám đốc, chúng ta có thể thấy rằng sản phẩm lao động của giám đốc khá đặc biệt đó là: các quyết định. Quyết định công việc hàng ngày của giám đốc, song không giống như trăm ngàn công việc khác, nó hết sức hệ trọng, ảnh hưởng trực tiếp đến nhiều lĩnh vực, nhiều con người. Bởi vậy, trước khi ra quyết định cần phải nghiên cứu một cách thấu đáo, tỉ mỉ tất cả những vấn để có kiên quan, đồng thời phải thảo luận với cộng sự, lắng nghe ý kiến của họ. Quyết định của giám đốc là hành vi sáng tạo mang tính chỉ thị, tác động vào đối tượng quản lý, nhằm giải quyết một vấn đề đã chín muồi trên cơ sở nắm vững các quy luật vận động của đối tượng. Quyết định đúng là chính phẩm và ngược lại quyết định sai sẽ là phế phẩm. Quyết định đúng, kịp thời mang lại hiệu quả cao, quyết định sai và không kịp thời thì mang lại hậu quả nghiêm trọng. Để chính phẩm chiếm ưu thế trong những sản phẩm do mình tạo ra, giám đốc phải tìm mọi biện pháp nhằm nâng cao chất lượng quyết định. Muốn nâng cao chất lượng quyết định thì bản thân giám đốc phải thực sự dân chủ trong quá trình nghiên cứu ra quyết định và thực hiện quyết định, phải thu hút trí tuệ của tập thể, của các chuyên gia để chọn phương án tối ưu. Khi đã ra quyết định thì quyết định phải trở thành mệnh lệnh và giám đốc phải chịu trách nhiệm trước quyết định đó và yêu cầu mọi người phải nghiêm túc thực hiện. Để có được điều đó đòi hỏi giám đốc phải có uy tm, có khả năng sư phạm, hiểu khoa học quản lý và tâm lý. Vì mỗi quyết định cần có độ chính xác và tính khoa học cho nên giám đốc cần áp dụng thành tựu khoa học kỹ thuật vào việc lựa chọn quyết định như các mô hình toán kinh tế, tin học (sử dụng máy vi tính)v.v... để giúp cho giám đốc có cơ hội lựa chọn, so sánh nhiều phương án hơn, tính toán nhanh và chính xác hơn, từ đó có quyết định tối ưu. Sau khi đã có quyết định, người giám đốc phải nắm được các thông tin và xử lý thông tin chính xác, xác định được chức năng, nhiệm vụ của từng người trong quá trình thực hiện quyết định, đồng thời phải có chế độ kiểm tra và thưcmg xuyên chỉ đạo quá trình thực hiện quyết định. Các quyết định là do giám đốc làm ra. Do vậy, chất lượng của quyết định phụ thuộc vào trình độ nhận thức, vận dụng các quy luật kinh tế, xã hội khách quan vào doanh nghiệp. Chất lượng của quyết định còn phụ thuộc vào kinh nghiệm của giám đốc như tính nhạy bén với cái mới, xu thế phát triển của các hiện tượng. Không những thế, nó còn phụ thuộc vào nghệ thuật quản trị của giám đốc biểu hiện ở chỗ biết xét đoán tình hình của đối tượng quản trị, đề ra biện pháp giải quyết được những nhiệm vụ tiên tiến nhưng hiện thực.



II. NHỮNG TỐ CHẤT CỦA GIÁM ĐỐC DOANH NGHIỆP

Trong giai đoạn nền kinh tế vận hành theo cơ chế kinh tế thị trường thì giám đốc phải là một nghề. Để các giám đốc có nghề thì vấn đề đặt ra là cần phải có sự đào tạo. Tuy nhiên, việc đào tạo giám đốc không chỉ diễn ra ở trường lớp mà còn cả quá trình tự đào tạo (thông qua học trong sách vở, đúc rút từ kinh nghiệm của bản thân, đồng nghiệp...)

- Dù đào tạo bằng cách nào thì giám đốc cũng phải nắm cho được nghề và hơn thế nữa, phải có tay nghể cao. Cùng với học nghề, những người muốn là giám đốc doanh nghiệp giỏi thường phải có thêm một số “tố chất” sau:

1. Khát vọng làm giàu chính đáng con người ta ai cũng có mong muốn, cũng có hy vọng giàu sang. Song, mong muốn và hy vọng khác với khát vọng làm giàu và nhất là khát vọng làm giàu chính đáng. Có thể nói, những con người chỉ hy vọng, mong muốn là những con người đồng nghĩa với sự thụ động. Họ thường trông chờ ở những điều kiện khách quan mà không quen suy nghĩ, hành động và họ sợ đổi thay. Họ sẵn sàng yên tâm chấp nhận những gì đã có, nhất là khi do một sự may mắn nào đó mà cái đã có đủ cho phép họ “sánh vai” được với những người xung quanh. Khác với hy vọng và mong muốn, khát vọng là một thứ mong muốn đòi hỏi với một sự thôi thúc mạnh mẽ đến cháy bỏng, là động lực nội tâm luôn luôn day dứt, thúc đẩy con người phải đạt tới. Những người có khát vọng làm giàu là những người không bao giờ chấp nhận và thoả mãn với hiện tại, cho dù so với xung quanh họ khấm khá hơn. Đặc tính của họ là luôn suy nghĩ, tìm tòi và hành động. Họ không sợ đổi thay và họ dám trả giá, dám đánh đổi tất cả để đi đến mục tiêu: ngày càng giàu có hơn. Tuy nhiên, nếu chỉ dừng lại ở khát vọng làm giàu, làm giàu với bất cứ giá nào, với bất cứ phương tiện, thủ đoạn nào, kể cả đến “táng tận lương tâm ” thì cũng không phải là phẩm cách, tư chất của người giám đốc. Chỉ có khát vọng làm giàu chính đáng, làm giàu bằng sức lực và tài năng của chính m ình, làm giàu không phải bằng con đường “sống trên lưng kẻ khác” mới là tố chất cần có của người giám đốc. Tóm lại, khát vọng làm giàu chính đáng là một trong những tốt chất quan trọng của người giám đốc. Tất cả những ai muốn trở thành giám đốc, không bao giờ được phép tự chôn mình trong nỗi nghèo túng, thiếu thốn, không bao giờ được chấp nhận và thoả mãn với những gì đã có, mà phải luôn vưofn lên bằng tài năng, trí tuệ, công sức của mình để giàu sang hơn. Và cái mong muốn đó phải được coi như một mệnh lệnh và phải theo đuổi đến cùng với tất cả năng lực, thiện chí, cố gắng; và bằng tất cả những gì có thể sử dụng để đến đích. Đó cũng là một thứ ám ảnh, day dứt cả đời người.

2. Kiến thức Kiến thức của giám đốc, trước hết phải là kiến thức tổng quát để từ đó có thể xác định được đầu tư vào đâu, lĩnh vực nào, khi nào là thuận lợi, hiệu quả nhất, v.v... Điều này được thể hiện rất rõ qua các doanh nhân nước ngoài đầu tư vào Việt Nam. Họ không thể không nghiên cứu chính sách mở cửa của Việt Nam. Họ cần phải biết tình hình kinh tế, chính trị, xã hội thế nào? Ngành nào, khu vực nào được ưu tiên, ưu đãi? ở đâu năng động, thoáng đãng? ở đâu có thể yên ổn làm ăn lâu dài? v.v... Ngoài kiến thức tổng quát, giám đốc còn phải có kiến thức chuyên môn, vì nếu không biết nghề chuyên môn thì chắc chắn các giám đốc sẽ không thể hoạch định được chiến lược hành động, không thể tổ chức, chỉ huy và kiểm soát hoạt động của doanh nghiệp. Song như thế không có nghĩa cứ có kiến thức là có thể trở thành giám đốc. Kiến thức chỉ là một tiềm năng, và chỉ khi nào nó được biến thành những chương trình kế hoạch hành động cụ thể nhằm hướng tới mục tiêu, thì khi ấy kiến thức mới thực sự có sức mạnh, mới là tiền đề để tạo dựng cơ nghiệp. Trong thực tế, kiến thức là một trong vô vàn thứ “rẻ nhất” mà người ta có thể thu thập được ở nhiều nơi, nhiều chỗ. Henry Ford là một ví dụ đ;ển hình. Mặc dù học chưa tới lớp 6, song trên phương diện kinh doanh ông lại là bậc thầy của thiên hạ. Không chỉ có vậy, nói đến kiến thức của giám đốc, còn cần nói đến khía cạnh biết sử dụng những người giỏi hcfn mình ở một lĩnh vực nào đó bởi kinh doanh là một loại hoạt động hết sức phức tạp, không ai có thể tự hào cho rằng mình có đầy đủ kinh nghiệm, học vấn, khả nang bẩm sinh và kiến thức để tự mình vươn tới tương lai. Andrew Camegie, một nhà kinh doanh sắt thép của Mỹ không chỉ nổi tiếng thế giới về kinh doanh mà còn nổi tiếng về việc sử dụng các chuyên gia. Khi ông chết, ngưòi ta đã ghi trên nấm mồ của ông dòng chữ “Đây là nơi yên nghỉ ngàn thu của môt người biết cách thu dụng những người thông minh hơn mình”.

3. Có năng lực quản lý và kinh nghiệm tích luỹ, tạo dựng một êkíp giúp việc Như trên đã nói, kinh doanh là một lĩnh vực hoạt động phong phú, đa dạng và phức tạp nên một mình giám đốc không thể làm hết mọi việc ở n ọ i nơi trong cùng một lúc. Vì vậy, để thành đạt phải xây dựng được m ột êkíp giúp việc ý hợp tâm đầu. Đây là vấn đề có ý nghĩa sống còn đối với mọi giám đốc. Về nguyên tắc, để xây dựng được một êkíp giúp việc có hiệu quả thì những thành viên của nó phải thực sự cùng làm việc với nhau đó cùng thực hiện một công việc chung. Song, điều đó không có nghĩa là chọn các thành viên có cùng cá tính, cùng nhận thức, quan điểm vào một êkíp, ví nếu như vậy thì mỗi người sẽ dễ có cách nghĩ, cách hành động giống nhau và điều đó sẽ làm mất đi tính tích cực sáng tạo của êkíp cũng như khả năng bổ sung kiến thức, kinh nghiệm cho nhau giữa các thành viên. Đây chính là môi trường thuận lợi để mỗi thành viên của êkíp có điều kiện phát triển tài náng của mình. Tuy nhiên, cũng cần lưu ý rằng, trong một tập thể gồm những thành viên có cá tính, nhận thức và quan điểm khác nhau, rất có thể một lúc nào đó không tránh khỏi sự bất hoà đến mức không chịu hợp tác với nhau, và điều đó sẽ dẫn đến sự nguy hại cho giám đốc. Trong những trường hợp, người giám đốc phải có biện pháp ngăn chặn và loại trừ các xung đột. Đây là công việc cực kỳ khó khăn. Muốn giải quyết tốt, giám đốc phải hiểu rõ hơn ai hết đặc điểm, cá tính của từng người và bằng sự cởi mở của mình tạo ra không khí tin cậy khuyến khích mọi người giải tỏa những bất bình, uẩn khúc và tạo ra sự thông cảm. Việc này cần phải làm kịp thời, dứt điểm. Khi lựa chọn từng người giúp việc cụ thể, ngoài năng lực, sự thẳng thắn, trung thực cũng không nên chọn những người chưa nếm mùi thất bại chua cay, hoặc những người không quan trọng hoá sự thất bại (vì những người này thường dể bỏ cuộc, hoặc dễ gây ra khủng hoảng lòng tin trong tập thể khi gặp trắc trở trong công việc, đặc biệt là khi gặp thất bại). Cho đến nay, căn cứ vào khảo sát, qua nghiên cứu kinh nghiệm quản lý. người ta chia mẫu người quản lý ra làm bốn loại chính sau; Thứ nhất: mẫu người quan liêu. Trong họ hầu như không có sự độc lập suy nghĩ, không có óc sáng tạo và không quyết đoán. Lúc nào họ cũng chỉ chăm chăm làm đúng quy định đã có, không dám làm khác đi ngay cả khi điều kiện đã chứng minh là phải làm khác. Họ luôn sợ cấp trên quở trách. Công cụ quan trọng được sử dụng trong quản lý của loại người này là lập kế hoạch, điều hành, giám sát và báo cáo kết quả. Thứ hai: mẫu người năng động. Những người này trong tư duy hành động của họ luôn ẩn dấu ý tưởng sáng tạo để đi đến mục tiêu. Với họ, điều quan tâm chủ yếu là bằng cách nào để đi đến đích nhanh nhất, có lợi nhất. Họ luôn tìm kiếm những kinh nghiệm, thông qua việc đánh giá kết quả của từng bước công việc được và chưa được, để đưa ra những giải pháp nhằm điéu chỉnh chương trình tiếp theo cho phù hợp với hoàn cảnh cụ thể, bảo đảm nâng cao hiệu quả công việc. Công cụ quản lý quan trọng của mẫu người này là luôn phân tích tình huống, điều hành và đánh giá, lập kế hoạch thích ứng: thay đổi các hoạt động theo yêu cầu của hoàn cảnh. Thứ ba: mẫu người đề cao tinh thần dân chủ, tập thể. Đây là mẫu người luôn luôn giữ tinh thần tập thể, sẵn sàng bênh vực, bảo vệ quyền lợi của các thành viên và chống lại những công kích có thể có từ bên ngoài và họ cũng luôn giúp đỡ cấp dưới của mình. Công cụ quản lý quan trọng của mẫu người này là: quyết định tập thể; lập êkíp; giám sát, động viên khuyến khích trưởng thành trong nghề nghiệp và củng cố lòng yêu nghề. Thư tư: mẩu người độc tài chuyên chế. Đây là mẫu người chủ yếu chỉ quan tâm tới lợi ích của bản thân họ. Mọi quyết định của họ chỉ nhằm phục vụ lợi ích bản thân hoặc gia đình, êkíp họ. Công cụ quản lý quan trọng của mầu người này là: dự toán chi phí; quản lý hình thức (không thực chất); quvết định cá nhân. Tuy được chia ra làm bốn loại như trên, song thực tế, trong mỗi giám đốc ít nhiều đều mang trong mình cả bốn kiểu quản lý đó, chỉ khác nhau về múc độ. Đừng bao giờ nghĩ rằng, đã là người độc tài chuyên chế thì hoàn toàn không có tính dân chủ tập thể và ngược lại. Hoặc đã là người quan liêu thì không có chút năng độpg gì. Tất nhiên, bốn mẫu người quản lý này hình thành nên hai cặp đối nghịch. Quan liêu và năng động, độc tài chuyên chế và dân chủ tập thể. Vì thế, nếu một người nào đó nặng về kiểu quản lý quan liêu thì sự năng động sẽ kém đi và ngược lại, hoặc người nào mang nặng tính độc tài, chuyên chế thì tính dân chủ tập thể sẽ ít đi. Trên cơ sở những vai trò cần phải có trong một tập thể những người giúp việc và những mẫu người quản ỉý trên mà giám đốc có sự lựa chọn, bố trí sắp xếp từng người sao cho phù hợp với từng vị trí và chức năng công việc.

4. Óc sáng tạo Bên cạnh êkíp giúp việc tốt, để tổ chức quá trình kinh doanh có hiệu quả, giám đốc cần tháo vát và có óc sáng tạo. Chỉ khi đề xuất được những ý kiến mới, xác định được phương hướng làm việc, giám đốc mới đưa tập thể của mình tiến lên được. Việc tích cực thường xuyên và tìm tòi cái mới trong hoạt động trí tuệ là những yếu tố không thể thiếu được của giám đốc. Vì vậy, muốn trở thành giám đốc cần phải có sự thông minh, phải có khả năng nhìn xa trong rộng, khả năng tiên đoán và phân tích các tình huống để hoạch định cho mình một bước đi trong tưcmg lai. Tuy nhiên, sự thông minh, ở đây với ý nghĩa là một tư chất của giám đốc doanh nghiệp và không đồng nghĩa với sự học giỏi, sáng dạ hay học vấn cao. Sự thông minh ở một giám đốc cần được hiểu, đó là khả năng phản ứng nhanh nhạy, khôn ngoan trước các diễn biến của thị trường. Thông minh là một trong những tố chất bẩm sinh, vô giá của con người nói chung và của giám đốc nói riêng. Nếu như người ta có thể rèn luyện để trở thành con người có đức kiên nhẫn, sự chịu đựng và lòng quyết tâm... thì đối với thông minh, khó có thể rèn luyện mà có. Đó cũng là một trong những lý do giải thích vì sao có người từ hai bàn tay trắng mà đi lên và ngược lại.

5. Quan sát toàn diện Quan sát toàn diện là một thuộc tính cơ bản của năng lực tổ chức ở người lãnh đạo và đây là kỹ năng để nắm bắt được tình hình chung. Với tầm nhìn bao quát đầy đủ, toàn diện, người giám đốc sẽ thấy được cái chính, cái chủ yếu, đồng thời thấy được cả cái chi tiết, cục bộ. Chính vì vậy, giám đốc cần có óc quan sát để nhận ra những cái to lớn, cái quan trọng ở một hiện tượng nhỏ, nhằm định hướng một cách chính xác những tình huống không có trong dự kiến sã-xảy ra. Với óc quan sát, người giám đốc nhanh chóng tìm ra nguyên nhân của những khó khăn và trí tuệ trong công việc.

6. Tự tin Tự tin là một trong những tố chất hết sức cần thiết đối với con người nói chung và giám đốc nói riêng. Trong chúng ta chắc nhiều người đã nghe nói rằng: thất bại sẽ đến với những ai nuôi sẵn ý tưởng thất bại và thành công sẽ đến với những ai tin rằng mình sẽ thành công. Chính vì vậy, những ai muốn trở thành giám đốc cần phải rèn luyện đức tự tin; phải biến sự bi quan, tự ti thành niềm tin, thành ý chí sắt đá. Tin tưởng là chất xúc tác của trí tuệ. Khi lòng tin nung nấu trong con tim khối óc thì nó sẽ trở thành động lực cực mạnh, đẩy con người đến quyết tâm. Chính vì thế, người ta nói rằng, tin tưởng là một loại thần dược tạo nên sức mạnh để sống và hành động. Nó là khởi điểm để tạo dựng cơ nghiệp, nó cũng là sự hoá giải mọi thất bại, là cơ quan duy nhất của con người tạo nên sức mạnh vạn năng của khối óc và vô biên.

7. Ý chí, nghị lực, tính kiên nhẫn và lòng quyết tâm Kinh doanh là công việc cực kỳ khó khăn và phức tạp, là lĩnh vực hoạt động gắn liền với rủi ro và bất trắc. Vì thế, muốn trở thành giám đốc phải có ý chí, nghị lực, tính kiên nhẫn và lòng quyết tâm. Một khi đã hoạch định một chiến lược kinh doanh thì không bao giờ được phép nghĩ tới sự “không thể” hay “khó lòng mà đạt được” , mà phải luôn nhớ rằng, thành công chỉ đến với những ai quyết tâm đi đến thành còng. Chính vì vậy, khi đã là giám đốc thì không bao giờ được nản chí, đầu hàng ngoại cảnh, không bao giờ được bỏ dở ý định khi vấp phải những khó khãn và trở ngại nhất thời vì trên thương trường không có ai là chưa nếm mùi thất bại. Bởi vậy, nếu có gặp thất bại trong kinh doanh thì người giám đốc cũng nên coi đó là chuyện thường tình, là tạm thời không may và hãy coi thất bại như một kinh nghiệm quý giá, là động lực thúc đẩy khiến ta phải xem xét lại một cách nghiên túc hành động của mình, để rồi xây dựng cho mình một kế hoạch làm gì, làm thế nào để đi đến thành công. Trong quá trình hành động phải luôn hối thúc mình cố gắng không ngừng, bất chấp khó khãn. Và nói chung, trong mọi trường hợp, khi đã suy nghĩ, tính toán và quyết định thì nên chăng hãy “chặt đứt” đường quay lại vì chỉ khi hết đường tháo lui mới thúc bách con người đi đến tận cùng của sự quyết tâm giành thắng lợi. Ông cha ta đã dạy rằng, “có công mài sắt, có ngày nên kim ”. Nhìn lại các nhà doanh nghiệp thành đạt cho ta thấy, hầu hết đều xuất phát từ một thực tế rất ngặt nghèo. Không hiếm những ông chủ của ngày hôm nay vốn xưa là một kẻ bần hàn, hai bàn tay trắng và suốt cuộc hành trình trên thương trường, họ còn gặp vô vàn những khó khăn, trở ngại. Và nhiều khi, trước những giờ phút khủng hoảng họ mới nhận ra cái bản ngã của mình. Nói tóm lại, chỉ có khát vọng, niềm tin, ý chí, nghị lực và lòng quyết tâm mới có thể đưa con người từ chỗ thấp hèn, nghèo khó tới địa vị giàu có; giúp con người làm lại cuộc đời sau khi đã trải qua biết bao thất bại cay đắng.

8. Phong cách Giám đốc không phải chỉ là nhà lãnh đạo, quản lý và chỉ huy sản xuất kinh doanh, mà còn phải là một nhà “ngoại giao” thuyết khách. Do đó, một trong những tư chất không kém phần quan trọng đối với giám đốc chính là “sức quyến rũ”, khả năng chế ngự người khác thông qua phong cách của mình. Phong cách của người giám đốc thường biểu hiện dưới hai hình thức là phong cách hữu hình (như lâu nay ta vẫn hiểu) và phong cách vô hình. Phong cách hữu hình được biểu lộ thông qua giọng nói, tiếng cười, cái bắt tay, cách đi đứng... Còn phong cách vô hình phát lộ ra bên ngoài thông qua nhận thức mang tính linh cảm của người khác. Thực tế cuộc sống cho thấy ít nhiều mỗi chung ta đều đã gặp những con người mà dù họ chưa hề có một cử chỉ, một hành động nào, song ta cảm thấy họ có uy, có cái gì đó không thể diễn tả khiến mọi người phải vị nể, kmh trọng, thậm chí cảm thấy sợ khi đứng trước họ. Ngược lại với những con người như thế, ta cũng có thể gặp một sô' ngưòi có bộ mặt khó gần, hoặc mới thoáng trông đã thấy đó là con người không thể hợp tác, do đó những ai mắc phải nhược điểm này thì khó có thể thành công trên cương vị giám đốc. Vì thế, phong cách cũng là lợi thế rất lớn đối với những ai muốn trở thành giám đốc. Những tố chất nêu trên mang tính năng khiếu, bẩm sinh của giám đốc. Song, nói như thế phải chăng giám đốc là thứ trời sinh. Thực tế không hoàn toàn như vậy. Trong mỗi con người chúng ta, ít nhất đều có những tố chất ấy (ngoại trừ trí thông minh theo cách hiểu thông thường) và nó chỉ khác nhau ở mức độ và hình thức biểu hiện. Có những người sinh ra đã phát lộ đủ những tố chất trên. Đó là những người may mắn và họ có sẵn những điều kiện thuận lợi để trở thành giám đốc. Song, cũng có những người mà những tố chất trên còn ở dạng tiềm ẩn, muốn trở thành giám đốc trước hết phải khổ công rèn luyện để hối thúc các tố chất đó phát lộ ra bên ngoài. Đối với các doanh nghiệp nhà nước (cụ thể là nước ta), ngoài những tố chất nêu trên họ cần phải có những phẩm chất chính trị riêng vì giám đốc là người đại diện cho Đảng và Nhà nước điều hành doanh nghiệp. Giám đốc phải tự đánh giá được kết quả mình làm về mặt chính trị và xã hội, phải mang lại lợi ích cho nhân dân, từ đó góp phần nâng cao uy tín của Đảng. Giám đốc phải biết đánh giá con người, đánh giá sự việc theo quan điểm chính trị. Trong quá trình đánh giá, giám đốc phải luôn luôn đứng trên lập trường quan điểm của Đảng. Giám đốc phải biết tìm ra nhiệm vụ của mình và rút ra những điều bổ ích cho bản thân mình trong bất kỳ chỉ thị, nghị quyết nào của Đảng, đồng thời phải thực hiện bằng được những chỉ thị, nghị quyết của Đảng trong bất kỳ tình huống nào. Giám đốc doanh nghiệp phải hiểu được tâm trạng chính trị của tập thể do mình lãnh đạo và đồng thời phải biết giải quyết mọi vấn đề về mặt chính trị trong doanh nghiệp. Giám đốc phải có quan điểm sống tích cực, đấu tranh chống lại các hiện tượng tiêu cực, luôn gương mẫu và có tinh thần trách nhiệm trong việc tìm cách giải quyết tốt mọi vấn đề chính trị, ngay cả trong những điều kiện gặp nhiều khó khăn. Giám đốc doanh nghiệp luôn luôn tu dưỡng mình về mặt chính trị, đặc biệt phải chú trọng học tập chủ nghĩa Mac-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối, chính sách của Đảng. Qua đó nâng cao trình độ tư duy chính trị, kinh tế trong sản xuất kinh doanh của mình...vvvv.....



IV. VAI TRÒ CỦA GIÁM ĐỐC, PHƯƠNG PHÁP QUẢN LÝ VÀ PHONG CÁCH LÃNH ĐẠO CỦA GIÁM ĐỐC DOANH NGHIỆP

1, Vai trò của giám đốc doanh nghiệp Giám đốc doanh nghiệp là người có ảnh hưởng quyết định đến sự thành bại của doanh nghiệp. Theo tài liệu điều tra của Bộ Khoa học - Công nghệ và Môi trường, thời gian qua cả nước có 4.584 doanh nghiệp nhà nước kinh doanh thua lỗ thì 2.630 doanh nghiệp bị thua lỗ chủ yếu do giám đốc không có trình độ học vấn gây nên . Vai trò của giám đốc doanh nghiệp có thể được nêu lên qua những nét chính sau đây:

a) Trong 3 cấp quản trị doanh nghiệp, giám đốc là quản trị viên hàng đầu, là thủ trưởng cấp cao nhất doanh nghiệp. Giám đốc có quyền ra chỉ thị, mệnh lệnh mà mọi người trong doanh nghiệp phải nghiêm chỉnh chấp hành. Vì vậy mỗi quyết định của giám đốc có ảnh hưởng rất lớn trong phạm vi toàn doanh nghiệp. Với nghĩa này, giám đốc phải là người tập hợp được trí tuệ của mọi người lao động trong doanh nghiệp, bảo đảm có quyết định đúng đắn, đem lại hiệu quả kinh tế cao.

b) Vai trò quan trọng khác của giám đốc là tổ chức bộ máy quản trị đủ về số lượng, mạnh về chất lượng, bố trí hợp lý, cân đối lực lượng quản trị viên bảo đảm quan hệ bền vững trong tổ chức, hoạt động ăn khớp, nhịp nhàng, hoàn thành tốt mục tiêu đã đề ra. Bố trí không đúng người, đúng việc sẽ gây ra ách tắc trong hoạt động của bộ máy. Thăng, thưởng không đúng mức cũng sẽ gây ra sự bất bình trong bộ máy, làm ảnh hưởng xấu đến bộ máy quản trị doanh nghiệp.

c) Về lao động; giám đốc quản lý hàng trăm, hàng nghìn thậm chí hàng vạn lao động. Vai trò của giám đốc không chỉ là ở chỗ chịu trách nhiệm về việc làm, thu nhập, đời sống của số lượng lao động mà còn chịu trách nhiệm về cuộc sống tinh thần, nâng cao trình độ văn hoá, chuyên môn cho họ, tạo cho họ những cơ hội để thăng tiến.

d) Về tài chính: giám đốc là người quản lý, là chủ tài khoản của hàng trăm triệu, hàng tỷ đồng. Đặc biệt, trong điều kiện hiện nay giám đốc phải có trách nhiệm về bảo toàn và phát triển vốn. Một quyết định sai lầm có thể dẫn đến làm thiệt hại bạc triệu, bạc tỷ cho doanh nghiệp.

e) Giám đốc là người làm ra của cải Như chúng ta đã biết, khát vọng là tô' chất hàng đầu của giám đốc. Vai trò của giám đốc là phải biết làm cho tiền để ra tiền, hay nói một cách khác, giám đốc phải tính được bù đắp chi phí và kinh doanh có lãi từ một lượng tiền nhất định...........vvv......

2. Phương pháp quản lý của giám đốc doanh nghiệp

Cơ chế quản lý khác nhau tạo ra phương pháp quản lý và tác phong lãnh đạo khác nhau của người giám đốc. Cơ quan quản lý hành chính quan liêu bao cấp lấy hoàn thành nhiệm vụ kế hoạch, lấy phục tùng ý chí của cấp trên làm mục tiêu, đã tạo ra phương pháp quản lý và tác phong lãnh đạo của giám đốc mang nặng tính chất bao cấp, thụ động, trông chờ. Trong điều kiện đổi mới hoạt động của các doanh nghiệp, hướng vào mục tiêu kế hoạch kinh tế quốc dân và hiệu quả kinh tế - xã hội, vai trò tự chịu trách nhiệm tăng lên đã quyết định phương pháp quản lý và tác phong lãnh đạo của người giám đốc, đòi hỏi phải có sự thay đổi cho phù hợp. Có nhiều phưcrng pháp quản trị doanh nghiệp khác nhau, nhưng chung quy lại có 5 phưoỉng pháp cơ bản là: - Phương pháp phân quyền, - Phương pháp hành chính, - Phương pháp kinh tế, - Phương pháp tổ chức - giáo dục, - Phưong pháp tâm lý xã hội. Sau đây, chúng ta hãy nghiên cứu kỹ từng phương pháp giải phóng giám đốc khỏi những việc mà người dưới quyền có thể làm được.

2.2. P hư ơng pháp hành chính Phương pháp hành chính là phương pháp quản lý dựa vào việc sử dụng những chỉ thị, mệnh lệnh mang tính chất bắt buộc, cưỡng bức, biểu hiện dưới nhiều hình thức khác nhau, như quy định về an toàn lao động, bảo hộ lao động, nội quy sử dụng thời gian làm việc, nội quy ra vào doanh nghiệp... Quản lý hành chính là cần thiết, tất yếu. Lê-nin đã khẳng định: chỉ có điên rồ mới từ bỏ cưỡng bức. Phương pháp quản lý hành chính không mâu thuẫn với quan điểm của Đảng và Nhà nước ta là xoá bỏ cơ chế quản lý hành chính, tập trung quan liêu, bao cấp bởi cơ chế này lấy quản lý hành chính là cơ bản, quyết định.

2.3. Phương pháp kinh tế Phương pháp kinh tế là sử dụng tiền lương, tiền thưởng và những công cụ động viên vật chất khác làm đòn bẩy kinh tế kích thích người lao động thực hiện mục tiêu của quản lý mà không cần sử dụng mệnh lệnh hành chính từ cấp trên đưa xuống. ở một doanh nghiệp, công nhân lái xe đổ lỗi cho công nhân sửa đường làm ẩu, đường xấu, ngược lại, công nhân làm đường đổ lỗi cho công nhân lái xe làm hỏng đường. Kết quả là giảm số chuyến xe chở trong 1 ca. Trong tình hình đó, giám đốc đã sử dụng phương pháp kinh tế, tuyên bố đường xấu như vậy nếu lái xe nào tăng chuyến trong 1 ca sẽ được; thưởng. Mặt khác, nếu công nhân sửa đường đảm bảo thời gian hoạt động tốt của tuyến đường trong thời hạn nhất định cũng được thưởng theo quy định. Do vậy, đã động viên cả công nhân lái xe và công nhân sửa đường đều tích cự làm việc, không mất thời gian đổ lỗi cho nhau và giám đốc giảm được một số cuộc họp để giải quyết máu thuẫn. Áp dụng phương pháp kinh tế không chỉ chú ý đến thưởng mà còn phải chú ý đến cả phạt. Đồng thời, phải tính toán được hiệu quả của phương pháp kinh tế mang lại. Mặt khác phải đảm bảo kết hợp hài hoà 3 lợi ích, nhưng cần lấy kích thích lợi ích cá nhân của những người lao động làm trọng tâm. Trên cơ sở kích thích lợi ích cá nhân mà thúc đẩy lợi ích tập thể và xã hội. Đây chính là vận dụng quan điểm “lấy lợi ích cá nhân làm động lực trực tiếp” trong công cuộc đổi mới quản lý kinh tế hiện nay của Đảng ta. Về phưomg pháp kinh tế, giám đốc có thể sử dụng những công cụ động viên vât chất như sau:

Công cụ dộng viên vật chất của doanh nghiệp Từ quỹ tiền lương Từ quỹ khen thưởng Từ quỹ phúc lợi Từ những nguồn khác Liên quan đến phúc iợi Liên quan đến sản xuất - Lương cơ bản - Các loại phụ cấp lương - Thưởng từ lợi nhuận cuối năm - Thưởng sáng kiến tiết kiệm - Thưởng XK - Thưởng lao động tiên tiến; tổ, đội lao động xã hội chủ nghĩa - Trợ cấp đi học và tổ chức bồi dưỡng nâng cao trình độ. - Trợ cấp nhà ở. - Tiền trích phục vụ những hoạt động văn hoá vãn nghệ. - Trợ cấp nhà ăn tập thể - Phục vụ nhà trẻ. - Trợ cấp vãn hoá xã hội, thể dục, thể thao, điều dưỡng, nghỉ mát, tham quan, du lịch.. - Trợ cấp tập thể nhà ở tại xí nghiệp (độc thân). - Trợ cấp phương tiện đi lại. - Quần áo bảo hộ lao động. - Ản ca - Nước uống.

2.4. Phương pháp tổ chức - giáo dục Phương pháp tổ chức - giáo dục là sử dụng hình thức liên kết những cá nhân và tập thể theo những tiêu chuẩn và mục tiêu đã đề ra trên cơ sở phân tích và động viên tính tự giác, khả năng hợp tác của từng cá nhân. Thất bại trong quản lý kinh tế có nhiều nguyên nhân nhưng trong nhiều trường hợp lại chính là chưa làm tốt phương pháp tổ chức - giáo dục. Tổ chức ở đây thể hiện trên nhiều lĩnh vực: tổ chức bộ máy quản lý, tổ chức lao động, tổ chức liên kết giữa các cá thể của quản lý, tổ chức thông tin trong quản lý. Giám đốc không nên khoán trắng vai trò tổ chức cho một bộ phận nào mà cần thường xuyên kiểm tra, theo dõi, phát hiện ra những ách tắc trong khâu tổ chức. Điều quan trọng là đừng để một cá thể nào đứng ngoài tổ chức. Một quyết định của giám đốc không được thực hiện ở một khâu nào, một tổ sản xuất hoặc một cá nhân nào đó, thông thường là biểu hiện của sự trục trặc do phương pháp tổ chức yếu kém gây ra. Giáo dục tuy không phải là phương pháp cơ bản nhưng không được xem nhẹ. Có nhiều hình thức động viên người lao động, nhưng suy cho cùng có hai hình thức động viên chính là động viên vật chất và động viên tinh thần. Động viên tinh thần là các hình thức thưởng huân chương, huy chương, bằng khen, giấy khen, tổ đội lao động giỏi, đề bạt, cử đi học... Trong cả hai hình thức động viên, phương pháp giáo dục phải luôn được coi trọng. Giám đốc sử dụng phương pháp giáo dục không nên hiểu đơn thuần chỉ ở giáo dục chính trị tư tưởng chung chung, mà phải tìm hiểu một cách toàn diện bao gồm cả giáo dục quan niệm nghề nghiệp, phong cách lao động, đặc biệt là quan điểm đổi mới: đổi mới cả cách nghĩ và cách làm; làm ăn ở doanh nghiệp theo phương thức sản xuất kinh doanh mới; sản xuất gắn liền với thị trường; chấp nhận cạnh tranh lành mạnh, tạo ra nhiều lợi nhuận cho doanh nghiệp. Giáo dục gắn sự ham muốn làm giàu chính đáng cho cá nhân với làm giàu chính đáng cho doanh nghiệp.

2.5. P hương pháp tám lý - xã hội Phưotig pháp tâm lý - xã hội là hướng những quyết định đến các mục tiêu phù hợp với trình độ nhận thức, tâm lý, tình cảm của con người. Phưoíng pháp tâm lý - xã hội ngày càng được áp dụng rộng rãi trong quản trị doanh nghiệp, đặc biệt là trong điều kiện hiện nay, khi mục tiêu của doanh nghiệp ngày càng phù hợp với mục tiêu của cá nhân người lao động. Sử dụng phương pháp này đòi hỏi người giám đốc phải đi sâu tìm hiểu để nắm được tâm tư nguyện vọng, sở trường của những người lao động. Trên cơ sở đó sắp xếp, bố trí, sử dụng họ đảm bảo phát huy hết tài năng, sáng tạo của họ. Trong nhiều trường hợp, người lao động làm việc hăng say hcfn cả được động viên về kinh tế. Con người vốn không thích chê, nhưng nếu chê đúng việc, đúng lúc, đúng chỗ, họ sẽ cảm nhận được sai lầm, khuyết điểm của bản thân và càng khâm phục người lãnh đạo. Một giám đốc chỉ sử dụng hình thức khen, không chê; chỉ thưởng, không phạt chắc chắn sẽ không đem lại kết quả mong muốn. Tất nhiên, như trên đã nêu, về mặt tâm lý, người la thích khen hơn. Người Nhật đặc biệt coi trọng phương pháp này. Họ đã tạo cho người lao động bầu không khí làm việc thoải mái, người làm thuê đặt quyền lợi của doanh nghiệp như quyền lợi của chính mình và quyết gắn bó suốt đời vào doanh nghiệp. Mỗi phương pháp được áp dụng trong những điều kiện và hoàn cảnh cụ thể khác nhau. Có người cho rằng, trong điều kiện đổi mới, giám đốc không nên sử dụng phương pháp hành chính, ý kiến này không có căn cứ. Thực tế đã khẳng định phưcíng pháp hành chính rất quan trọng không thể không sử dụng trong bất kỳ điều kiện nào. Có thể nói cả 5 phương pháp trên đều phải nhấn mạnh và đều được áp dụng. Tuy nhiên, phương pháp kinh tế phải được chú ý sử dụng một cách linh hoạt và rộng rãi trong quản lý nội bộ doanh nghiệp và đối ngoại. Phương pháp kinh tế áp dụng trong điều kiện đối ngoại có nghĩa là người giám đốc phải hiểu biết ở mức độ thông thạo tình hình giá cả thị trường để trên cơ sở đó có thể quyết định nhanh chóng, dứt khoát các hợp đồng kinh tế.

3. Phong cách lãnh đạo của giám đốc doanh nghiệp

Năm phương pháp trên được áp dụng cho tất cả các giám đốc ở mọi doanh nghiệp. Nhưng sử dụng các phương pháp này như thế nào cho có hiệu quả lại phụ thuộc phần lớn vào tác phong lãnh đạo của từng người. Có ba tác phong lãnh đạo cơ bản, đó là tác phong mệnh lệnh, tác phong dễ dãi và tác phong dân chủ quyết định.

3.1. Phong cách mệnh lệnh Đặc trưng cơ bản của phong cách này là; trong quá trình hình thành và ra quyết định, giám đốc không cần thăm dò ý kiến của người giúp việc và những người dưới quyền, không do dự trước các quyết định của mình. Tổ chức thực hiện quyết định, giám đốc luôn luôn sử dụng những chỉ thị mệnh lệnh: theo dõi nghiêm túc, sâu sát người thực hiện quyết định và do đó có những đánh giá đúng đắn, khen chê chính xác. Người có tác phong này thường am hiểu sâu sắc công việc của mình, dám quyết đoán, dám chịu trách nhiệm, nhưng ở một số trường hợp dễ sa vào độc đoán.

3.2. Phong cách dễ dãi (tự do) Phong cách này có đặc trưng cơ bản là: trong quá trình hình thành và ra quyết định, giám đốc luôn theo đa số, dễ do dự trước quyết định của mình. Khi cần đánh giá người giúp việc, đánh giá cấp dưới, giám đốc thưcíng vin vào ý kiến của tổ chức cấp trên, ý kiến quần chúng. Không theo dõi chỉ đạo sát sao việc thực hiện các quyết định, thường là phó mặc cho cấp dưới. Người có tác phong này không có tính chất quyết đoán, dễ xuề xoa, đại khái.

3.3. Phong cách dán chả - quyết định Phong cách này khắc phục được nhược điểm của hai tác phong trên và ở một chừng mực nhất định tận dụng được ưu điểm của cả hai tác phong đó. Người giám đốc có tác phong này trong quá trình hình thành quyết định thường thăm dò ý kiến của nhiều người, đặc biệt của những người có liên quan đến thực hiện quyết định. Khi ra quyết định, rất cưcmg quyết, không dao động trước quyết định của mình. Giám đốc quyết đoán các vấn đề nhưng không độc đoán, luôn theo dõi, uốn nắn, động viên, tổ chức cho cấp dưới thực hiện quyết định của mình, vì vậy, đánh giá, khen chê đúng mức. Trong ba phong cách trên, người giám đốc không nên áp dụng phong cách thứ hai, tức là tác phong dễ dãi. Bởi vì sự dễ dãi trong quản lý kinh tế thuờng dẫn đến sai lầm buông lỏng quản lý. Qua thăm dò ở một sô' doanh nghiệp và cơ sở sản xuất kinh doanh thì 20% số người được hỏi ý kiến ủng họ phong cách mệnh lệnh, 70% ủng hộ phong cách dân chủ - quyết đoán, chi có 10% muốn người giám đốc của mình có phong cách dễ dãi.



V. TIÊU CHUẨN CỦA GIÁM ĐỐC VÀ RÈN LUYỆN ĐÀO TẠO GIẢM ĐỐC DOANH NGHIỆP

1. Tiêu chuẩn của giám đốc doanh nghiệp Phụ thuộc vào từng doanh nghiệp khác nhau, phụ thuộc vào đặc điểm kinh tế, kỹ thuật của từng ngành mà tiêu chuẩn cụ thể của giám đốc doanh nghiệp có thể khác nhau. Tuy nhiên, cần phải khẳng định những tiêu chuẩn cơ bản mang tính chất thống nhất làm cơ sở cho việc tuyển chọn, bổ nhiệm và phấn đấu của giám đốc trong thời gian tới. Giám đốc doanh nghiệp có 5 tiêu chuẩn cơ bản sau:

- Trình độ văn hoá chuyên môn (trình độ trí tuệ).

- Trình độ và năng lực tổ chức quản lý.

- Phẩm chất chính trị.

- Tư cách đạo đức.

- Sức khoẻ và tuổi tác.

Chúng ta hãy nghiên cứu kỹ hơn những tiêu chuẩn này.

a) Trình độ văn hoá chuyên môn Giám đốc doanh nghiệp đạt tiêu chuẩn này phải có những kiến thức sau đây: - Kiến thức phổ thông: phải tốt nghiệp phổ thông trung học. - Kiến thức chuyên môn, nghiệp vụ; thể hiện ở chỗ phải hiểu sâu sắc nhữag kiến thức lý luận, thực tiễn về lĩnh vực chuyên môn của mình. Phải hiểi sâu rộng những kiến thức kinh tế, kỹ thuật, chính trị, xã hội, tâm sinh lý nguỉíi lao động. Điều này phù hợp với công việc được giao của giám đốc là quải lý toàn diện mọi mặt hoạt động của doanh nghiệp. Không thể nói có chuyên môn nghiệp vụ mà không gắn liền với bằng cấp. Tiêu chuẩn này yêu cầu các giám đốc phải tốt nghiệp ở một trường chuyên đào tạo giám đốc. Hiện nay ở Việt Nam chưa có trường riêng đào tạo giám đốc như nhiều nước trên thế giới. Vậy tiêu chuẩn này cần gắn với việc giám đốc phải tốt nghiệp một trưòag đại học nào đó, tốt nhất là đại học kinh tế. Trường hợp đặc biệt, giám đốc cũng phải có trình độ nhất định về quản lý kinh tế và quản trị kinh doanh. Ngay từ năm 1986, ở Trung Quốc đã quyết định: giám đốc doanh nghiệp lófn phải có bằng đại học, còn doanh nghiệp nhỏ và trung bình phải có bằng cao đẳng. Vì vậy, hiện nay phần lớn giám đốc ở Trung Quốc đều có bằng đại học. - Trình độ kiến thức của giám đốc còn đòi hỏi giám đốc phải có bằng cấp về ngoại ngữ. Các ngoại ngữ phổ thông được Nhà nước quy định là: Nga, Anh, Pháp, Đức, Trung. Hiện nay, nước ta đang sử dụng rộng rãi tiếng Anh. Vì vậy, giám đốc cần phải có bằng cấp về tiếng Anh, tối thiểu cũng phải có chứng chỉ c về tiếng Anh hoặc ngoại ngữ nào đó. Bằng cấp về ngoại ngữ sẽ giúp giám đốc đọc được tài liệu tham khảo nước ngoài, nhất là trong điều kiện cơ chế thị trường hiện nay phải giao dịch trực tiếp với người nước ngoài. - Trình độ giao tiếp: những giao tiếp thông thường trong nước và nước ngoài, sự hiểu biết về tâm lý xã hội của những người lao động ở doanh nghiệp mình phụ trách. Yếu tố tâm lý quản lý ngày nay có vai trò rất quan trọng trong quản trị kinh doanh. b) Trình độ năng lực lãnh đạo và tổ chức quản lý Yêu cầu của tiêu chuẩn này là: - Biết tổ chức bộ máy quản lý phù hỢp với cơ chế quản lý mới; biết sử dụng, phát hiện cán bộ có trình độ, có nãng lực quản lý; biết cất nhắc đề bạt cán bộ dưới quyền; biết sa thải, kỷ luật những người lao động không hoàn thành nhiệm vụ; biết khen thưởng, động viên những người lao động làm việc có hiệu quả, năng suất cao. - Biết phát hiện những khâu trọng tâm trong từng thời kỳ trên cơ sở nắm toàn diện các khâu quản lý doanh nghiệp. - Biết giải quyết công việc có hiệu quả, nhanh, nhạy bén.

c) Phẩm chất chính trị Tiêu chuẩn này được thể hiện ở 2 điểm mấu chốt: - Phải nắm và vận dụng được những quan điểm, đường lối đổi mới của Đảng, Nhà nước trong từng thời kỳ. - Tuân thủ luật pháp Nhà nước quy định.

d)Tư cách đạo đức Bất kỳ ở nước nào, bất kỳ ở đâu, bất kỳ thành phần kinh tế nào giám đốc cũng phải đạt được tiêu chuẩn này, thể hiện ở chỗ;

- Giám đốc phải làm gương cho mọi người trong doanh nghiệp noi theo về quan điểm đúng; hăng say, nhiệt tình, tận tuỵ với công việc kinh doanh...

- Có đạo đức kinh doanh, giữ được chữ tín với khách hàng, hoàn thành mọi nhiệm vụ đóng góp đối với Nhà nước và cộng đồng xã hội.

e) Sức khoẻ và tuổi tác Tất nhiên, khó có thể ấn định một lứa tuổi cụ thể, loại sức khoẻ A,B,C cụ thể làm tiêu chuẩn để xét chọn giám đốc. Tuy nhiên, không thể phát triển được doanh nghiệp với một giám đốc già nua, ốm yếu. Trên thế giới người ta đã tổng kết là: tuổi bắt đầu làm giám đốc tốt nhất là từ 25-35. ở đây chúng tôi chỉ xin nêu tiêu chuẩn có tính chất định tính là: có đủ sức khoẻ để hoàn thành nhiệm vụ được giao và tuổi đời khi bổ nhiệm nên ưu tiên tuổi trẻ có trình độ học vấn và năng lực cao.

Tiêu chuẩn của giám đốc doanh nghiệp được tóm tắt trong bảng sau:

STT Tiêu chuẩn Nội dung cơ bản Ghi chú

1 Trình độ kiến thức chuyên môn

a) Kiến thức phổ thông

b) Kiến thức chuyên môn nghiệp vụ

c) Kiến thức ngoại ngữ

d) Kiến thức giao tiếp, tâm lý - xã hội - Có bằng cấp - Có bằng cấp - Có bằng cấp hoặc giấy chứng chỉ

2 Trình độ và năng lưc quản lý

a) Lãnh đạo có trọng tâm

b) Biết tổ chức bộ máy quản lý phù hợp với cơ chế quản lý mới

c) Thưởng phạt nghiêm minh

d) Giải quyết công việc có hiệu quả Tranh thủ sự lãnh đạo của Đảng uỷ doanh nghiệp, sự phối hợp ủng hộ của các tổ chức quần chúng

3 Phẩm chất chmh trị

a) Đi đúng quan điểm đường lối của Đảng, Nhà nước

b) Tôn trọng pháp luật Co bằng cấp về trình độ chính trị

4 Tư cách đạo đức Là tấm gương cho cán bộ công nhân viên doanh nghiệp noi theo Là người có uy tín lớn nhất trong doanh nghiệp

5 Sức khoả tuổi tác

a) Đủ sức khoẻ hoàn thành nhiệm vụ

b) Trẻ hoá đội ngũ cán bộ

2. Rèn luyên, đào tạo và bồi dưỡng giám đốc doanh nghiệp Để có được một đội ngũ giám đốc doanh nghiệp năng động thích ứng với cơ chế thị trường, vấn đề có tính chất vừa khẩn cấp trước mắt, vừa có tính chiến lược lâu dài là rèn luyện, đào tạo và bồi dưỡng giám đốc.

a) Rền luyện uy tín của giám đốc doanh nghiệp Một giám đốc không có uy tín không thể hoàn thành nhiệm vụ của mình. Uy tín có từ 2 nguồn: một là, uy tín chính thức, tức là do được tuyển chọn có quyết định để bạt, bổ nhiệm; hai là: uy tín thực tế. Tức là giám đốc có được uy tín là do có một quá trình tự rèn luyện bản thân. Chúng tôi muốn nhấn mạnh uy tín thực tế này, đó mới chính là uy tín thật của giám đốc, là các quyết định cho sự thành công trong quản trị kinh doanh của giám đốc. Để có được uy tín thực tế, giám đốc cần chống các uy tín giả tạo, đó là: - Uy tín quyền uy; - Uy tín công thần; - Uy tín khoảng cách; - Uy tín m ua chuộc; - Uy tín xuề xoà. Rèn luyện 3 chữ; “TRÍ” , “TÍN ” . “TÂM ” Trí là trình độ chuyên môn và sự giao tiếp của người giám đốc. Giám đốc cần am hiểu sâu sắc trên nhiều lĩnh vực, đặc biệt là nhạy bén vơi những điều kiện, môi trường sản xuất kinh doanh. Nắm chắc tình hình tài chính, giá cả, sự biến động trên thị trường trong nước và thế giới, chấp nhận cạnh tranh và tìm mọi biện pháp chiến thắng trong cạnh tranh, đem lại lợi nhuận cao nhất cho doanh nghiệp. Tín trước hết là đối với những người lao động dưới quyền, đồng thời tín đối với bạn hàng trong nước và thế giới. Ngày nay, đã đến lúc các doanh nghiệp phải tự mình thành thật với bạn hàng và ngay cả với chứih mình, không thể làm bừa, làm ẩu, làm gian dối, báo cáo sai. Lỡ hợp đồng, mất tín nhiệm về phẩm chất, quy cách sản phẩm... sẽ dẫn đến mất khách, đặc biệt khách hàng nước ngoài, đó là con đưèíng tự sát trong cạnh tranh. Tâm có nghĩa là tấm lòng, sự nhiệt tình, tâm huyết với nghề hghiệp, là sự thương yêu, bao dung, độ lượng với đồng nghiệp và cấp dưới. Tâm còn có nghĩa là sự tận tuỵ với công việc, với kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của xí nghiệp, không tham ô, lãng phí, thực hiện dân chủ và công bằng xã hội trong doanh nghiệp. - Rèn luyện về phương pháp làm việc khoa học Giám đốc cần có thời gian biểu làm việc hàng ngày và quy định cho từng giờ. Tổ chức các cuộc họp ngắn gọn, khoa học. Giám đốc cần dành thời gian để học tập, nghiên cứu, đọc sách báo chuyên môn nhằm m ở rộng tầm hiểu biết, nâng cao trình độ chuyên môn. Giám đốc cần xác định nhiệm vụ lớn trọng tâm, cơ bản trong từng thời kỳ mà tập trung chỉ đạo, không bao biện, làm thay phần việc của cấp phó và các bộ phận giúp việc. Trong công tác đối ngoại cần lịch sự, chững chạc, chú ý cả từ việc sử dụng phương tiện đi lại, ăn mặc và giao tiếp. Đừng lầm lẫn giữa giản dị với luộm thuộm, tiết kiệm với bủn xỉn trong quan hệ ngoại giao. Tổ chức phòng làm việc và tiếp khách của giám đốc cũng phải thể hiện được phương pháp quản lý và tác phong lãnh đạo khoa học của giám đốc. Phòng làm việc cần được sắp xếp, trang trí theo đúng nghi thức: lịch sự đàng hoàng vì đó là bộ mặt của doanh nghiệp, là trung tâm ra những quyết định quan trọng, nơi giao tiếp làm công tác đối nội và đối ngoại. Có người cho rằng phòng làm việc của giám đốc không nên quan cách hoá, phải thật đơn giản, càng đơn giản bao nhiêu càng mang tmh chất quần chúng bấy nhiêu. Cũng có thể như vậy, nhưng điều đó không có nghĩa là giảm tứih chất khoa học, nghiêm trang, lịch sự của phòng giám đốc. Cùng với những trang bị, sách vở, tài liệu, bàn ghế, những tiện nghi điện thoại, máy túih và các phương tiện thông tin là rất quan trọng giúp cho giám đốc có thể nắm bắt kịp thời những thông tin cần thiết và đề ra được những quyết định nhanh, nhạy, chính xác. Để có được phương pháp quản lý và tác phong lãnh đạo tốt giám đốc cần tạo ra nhiều cơ hội gặp gỡ những người giúp việc, đặc biệt là gặp gỡ đối thoại với công nhân, trên cơ sở đó hiểu sâu tâm tư, nguyện vọng của họ, góp phần bổ sung cho những quyết định của mình. Giám đốc cần hết sức tránh tính “quan cách” . Tất nhiên điều này không có nghĩa là xuể xoà dùng các từ thô thiển với mọi người dẫn đến dễ dãi, buông thả mà phải có một giới hạn nhất định đảm bảo cho cưcfng vị thủ trưởng của mình. Trong giờ làm việc, giám đốc phải giữ nguyên kỷ cương, giữ đúng cưcíng vị của mình khi tiếp xúc với người giúp việc và người thừa hành. Nhưng ngoai thời gian làm việc, giám đốc là một công dân bình thưèmg có quyền lợi và nghĩa vụ như mọi công dân khác, cần hoà đồng với cán bộ, công nhân viên trong doanh nghiệp. Làm được điều này chắc chắn chỉ làm tăng uy tín của giám đốc, thu hút sự mến mộ của mọi người, đó là nhũng nhân tố đặc biệt quan trọng giúp giám đốc đạt được kết quả to lófn trong công việc. - Rền luyện đặc tính kinh doanh Đặc tính kinh doanh của giám đốc doanh nghiệp gồm 4 biểu hiện saa; + Có cao vọng (tham vọng) trong kinh doanh. Giám đốc không an phận thủ thường, không chấp nhận hoàn cảnh hiện tại, luôn phấn đấu đưa doanh nghiệp đạt mục tiêu cao hơn. + Chấp nhận rủi ro. Trong kinh doanh luôn có khả năng xảy ra rủi ro. Giám đốc phải rèn luyện khả nâng chịu đựng. Có 4 loại rủi ro chính sau: Rủi ro về tài chính: vốn đầu tư không thu về được, kinh doanh thua lỗ. Rủi ro về sự nghiệp: nếu thất bại trong kinh doanh, giám đốc sẽ khó kiếm được cơ hội kinh doanh khác. Rủi ro về giơ đình: giám đốc khó có điều kiện quan tâm đến gia đ‘;nh, vợ con vì bị cuốn hút trí lực, sức lực vào kinh doanh. Rủi ro về tâm lý: nếu giám đốc thất bại trong kinh doanh coi như :hất bại trong cuộc đời, trong sự nghiệp sự đau khổ tăng lên. + Có lòng tự tin. Đây là đặc tính quan trọng của giám đốc. Phải thấy trước những khó khăn, những rủi ro nhưng luôn chủ động, tin tưởng vào khả năng của chính mình đễ sẵn sàng vượt qua. Rèn luyện đặc tính này sẽ giúp giám đốc thành công trong kinh doanh. + Đặc tính cuối cùng là; có đạo đức kinh doanh. Giám đốc phải kết hợp hài hoà các lợi ích của chủ doanh nghiệp với lợi ích của những người lao động, của khách hằng, của người cung ứng, của bạn hàng. b) Đào tạo giám dốc doanh nghiệp Trước hết, chúng ta hãy nghiên cứu kinh nghiệm đào tạo giám đốc ở một số nước trên thế giới. Theo định nghĩa kinh điển, giám đốc là người lãnh đạo, người quản lý, điều khiển một tổ chức kinh doanh, một xí nghiệp. Các đức tính tốt của một giám đốc, trước hết là phải lãnh đạo những con người, không những phải nắm vững công nghệ kỹ thuật và tổ chức sản xuất, kinh doanh và thị trường mà còn phải am hiểu sâu sắc các đồng nghiệp của mình. Người giám đốc phải ngoan cường, không bị ảnh hưởng của tình trạng căng thẳng thần kinh (stress) và phải có năng lực tìm được một giải pháp thoả đáng trong bất kỳ hoàn cảnh nào. Điều chủ yếu là phải biết khéo xử thế với người khác dù họ là người dưới quyền mình hay là những thành viên trong hội đồng quản trị. Điểu cơ bản là dù ở xí nghiệp cỡ nào, đã là giám đốc phải biết suy nghĩ về triển vọng, về chiến lược nhiều hơn là chỉ quan tâm đạt mau chóng những lợi ích trước mắt, vì không phải khi nào những thành công mau chóng cũng mở ra những triển vọng tốt cho tương lai. Điều có thật là, hiện nay máy tính điện tử đã giải quyết được một số vấn để quản lý thay cho con người và người ta đã nói tới “trí khôn nhân tạo”, “những hệ thống thông minh” song, công việc kinh doanh phần lớn vẫn phụ thuộc vào những đức tính riêng của các nhà kinh doanh và những quan hệ giữa họ với nhau. Sự tín nhiệm, thiện cảm hay ác cảm đóng vai trò quan trọng; kỹ thuật và máy tmh điện tử được nói đến nhiều, nhưng hiện tại vẫn là lĩnh vực quan hệ giữa những con người. Chính vì những lẽ nói trên, ở các nước có nền kinh tế thị trường, việc đào tạo và chọn lựa người giám đốc là điều quan tâm hàng đầu. Tuy lựa chọn giám đốc phải căn cứ vào những tiêu chuẩn nghiêm ngặt nhưng kinh nghiệm cho thấy không có công thức nào bày đặt sẵn để trở thành một giám đốc. Theo quy tắc chung, người giám đốc phải tốt nghiệp một trưòfng đại học, phải được đào tạo về kinh tế và về quản lý kinh doanh.

- Đào tạo giám dốc ở Nhật Nước Nhật rất tự hào về trường đào tạo giám đốc nổi tiếng của mình nằm dưới chân núi Phi-ghi quanh năm tuyết phủ. Nhà trường giảng dạy khoảng 20 môn cơ bản. Trường bắt buộc các giám đốc tương lai phải rèn luyện tổng hợp cả kiến thức chuyên môn và ý thức tổ chức kỷ luật. Thí dụ, rèn luyện về cách thức giao tiếp xã hội, học cả đánh máy, học nói chuyện qua điện thoại sao cho ngắn gọn và lễ phép. Thực tế nhiều giám đốc tưong lai không chịu đựng được học tập và rèn luyện quá khắt khe đã phải bỏ học hoặc bị rớt qua các kỳ thi. Trong nhiều năm, trường đã đào tạo được hàng chục ngàn giám đốc điều hành trên khắp đất nước Nhật.

Đào tạo giám đốc ở Mỹ Một giám đốc công ty, một cán bộ quản lý tối thiểu phải học qua trình độ MBA (Master of Business Administration). Chứng chỉ MBA ở Hoà Kỳ được xem như “Tấm hộ chiếu để thành đạt trong đời”. Nhà trường đầu tiên trên thế giới về thương mại và công nghiệp là đại học Penxivania ra đời từ năm 1981. việc đào tạo và quản lý tại Hoa Kỳ đã có những thành công lớn vào những năm 60 đã dẫn tới việc thành lập cả một thế hệ trưcmg kinh doanh khắp thế giới. Những trường đã dựa trên mô hình trường kinh doanh Ha-vóft (Harvard Business School) có cả các trường của Anh ở Luân Đôn và Man-set-xtơ. Tiêu chuẩn để vào các trường này là phải có bằng tốt nghiệp đại học. Sau khi tốt nghiệp người học sẽ được trang bị trình độ nghiệp vụ và quản lý xuất sắc. Trường đào tạo các nhà quản lý hiện đại của Asean - Giha đã cấp bằng phó tiến sĩ kinh doanh cho những học viên tốt nghiệp. - Đào tạo giám dốc ở Cộng hoà Liên bang Đức ở Cộng hoà liên bang Đức, số giám đốc “kinh điển” có khoảng từ 50 đến 100.000 người. Để chọn những giám đốc khá nhất, khoảng một nửa công ty phải nhờ các cơ quan dịch vụ trong nước, thậm chí ở nước ngoài, tìm cho họ những người mà họ cần, một nửa số công ty còn lại thường theo các phương pháp cổ điển, thông qua các phòng tuyển mộ, đăng báo hoặc tiếp xúc cá nhân. Kinh doanh của doanh nghiệp đòi hỏi giám đốc giải quyếl công việc một cách khẩn trương, song phải cân nhắc xem có đưa lại lợi nhuận tài chính hoặc có lợi nhuận kinh tế hay không. Muốn vậy, rõ ràng một giám đốc phải có những kiến thức sâu rộng trong lĩnh vực của mình và biết hướng một cách tốt nhất vào thị trường hàng hoá mà mình kinh doanh. Trước khi hợp đồng tuyển một giám đốc, công ty và người giám đốc tương lai trao đổi với nhau các quan điểm về tiền lương sẽ trả cho ông ta và đi tới một thoả thuận giả sử một giám đốc tìm ra một giải pháp làm tăng nhanh chóng tiền lãi cho công ty, ông ta sẽ được hưởng một tỷ lệ phần trăm của khoản siêu lợi nhuận đó. Giám đốc ở Cộng hoà liên bang Đức được bồi dưỡng tại trường vsw là trường đào tạo, bồi dưỡng giám đốc có uy tín nhất tại Cộng hoà Liên bang Đức. Chi phí đào tạo do doanh nghiệp đài thọ và ngoài ra còn phải chi phí ăn ở và chi phí cho thực tập một đến sáu tuần. Cơ sở vật chất kỹ thuật của trường do các nhà công nghiệp tài trợ. Họ xem việc bồi dưỡng cho giám đốc, các nhà quản lý kinh doanh như một khoản đầu tư sinh lợi. Mười lăm năm qua các công ty đã tăng bảy lần các chi phí đào tạo. Họ nhận thức rằng nếu không chịu tốn kém như vậy sẽ không đạt được trình độ cạnh tranh trên quy mô quốc tế. Mặt khác, việc “hiện đại hoá các bộ não” phải làm thường xuyên vì chỉ mười năm nữa những kiến thức mũi nhọn tiếp thu được hiện nay chắc chắn bị lac hâu. ở Cộng hoà liên bang Đức, giám đốc tổi thiểu phải có trình độ đại học, phần lớn các nhà quản lý của nước này là các nhà kinh tế, sau đó là các kỹ sư và các nhà khoa học khác, ở các công ty lớn, trong Ban quản lý người ta thấy, trước hết là các nhà kinh tế, kỹ sư và các nhà chuyên môn khác như xã hội học, tâm lý học v.v...

- Đào tạo giám đốc doanh nghiệp ở Trung Quốc Tại Trung Quốc, sau cách mạng vãn hoá, một số lófn cán bộ quân đội được chuyển về các xí nghiệp quốc doanh đã được đào tạo chính quy hay cấp tốc trong các trường đại học và sau đó chọn vào cưcmg vị giám đốc kinh doanh. Song chỉ 10% số giám đốc mới này được đào tạo về kinh doanh kỹ thuật, không thay thế được quản lý; vì trong khi Trung Quốc nhập khẩu nhiều máy móc và bí quyết kỹ thuật của phương Tây, nãng suất vẫn thấp. Mặc dù có công nghệ tiên tiến, có vốn nhưng vẫn chưa đủ mà còn cần có kỹ thuật quản lý nữa. Đó chính là mục tiêu của chính sách mở cửa tại Trung Quốc. Các phương pháp quản lý mới được thu nhập từ năm 1980 với một trung tâm đào tạo Trung - Mỹ, sau đó thành lập 11 trung tâm tương tự với sự hợp tác của Anh, Canada, Nhật, Cộng hoà liên bang Đức, Cộng đồng châu Á và ngân hàng thế giới như ở Bắc Kinh, Thiên Tân, Thượng Hải, Tây An, Thành Đô, Quảng Châu. ở Việt Nam trong nhiều năm qua và cả hiện nay chưa có bất kỳ một trường lớp nào đào tạo giám đốc doanh nghiệp một cách có hệ thống. Có chăng chỉ là các lớp, các khoá học được tổ chức ra nhằm mục đích bồi dưỡng giám đốc doanh nghiệp. Những lớp và khoá học này chỉ được tổ chức trong một thời gian ngắn: 3-6 tháng, đặc biệt có khoá kéo dài 1-2 năm. Tuy nhiên, đối tượiig tuyển chọn thuộc nhiều dạng khác nhau, tài liệu học tập chưa được biên soạn phù hợp, chưa chuẩn hoá. Nhiều người theo học các lớp, khoá này thường về các doanh nghiệp vẫn giữ nguyên vị trí như khi bắt đầu đi đào tạo, bồi dưỡng. Nguồn giám đốc cung cấp cho các doanh nghiệp chủ yếu là từ những trường đại học khác nhau và từ thực tiễn rèn luyện trong cuộc sống có kinh nghiệm trong sản xuất và chiến đấu. Trong lương lai, Việt Nam cũng sẽ tổ chức trưòrng đào tạo giám đốc có bài bản nhằm đáp ứng yêu cầu tiêu chuẩn hóa đội ngũ giám đốc doanh nghiệp hiện nay. Trước mắt trong một vài năm tới là mở các lớp bồi dưỡng chương trình quản trị kinh doanh cho các giám đốc doanh nghiệp. Nhiều cơ sở địa phương thực hiện chương trình bồi dưỡng giám đốc này, nhưng chủ yếu nhất hiện nay vẫn là do một số trường đại học đảm nhận. Việc cải tiến chương trình và phương pháp đào tạo giám đốc đang được đặt ra cho các ngành và các cấp hiện nay".



GT Tham khảo thêm:

CHƯƠNG 3- CHỈ HUY TRONG DOANH NGHIỆP-

( GIÁM ĐỐC DOANH NGHIỆP & PHÂN CẤP, PHÂN QUYỀN VÀ ỦY QUYỀN TRONG QUẢN TRỊ DOANH NGHIỆP - Nguồn: Giáo trình Quản trị doanh nghiệp- HVCNBCVT -http://dlib.ptit.edu.vn/bitstream/123456789/1375/1/BG%20Quan%20tri%20doanh%20nghiep.pdf )





47