DMCA.com Protection Status

CHÍNH SÁCH CÔNG  quan tâm

Được đăng bởi: Trần Việt Thao

Cập nhật lúc 15:38 ngày 12/01/2018

CHÍNH SÁCH CÔNG

Contents

I. NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ CHÍNH SÁCH CÔNG 3

1.1. Tính khách quan của sự tồn tại Chính sách công trong thực tế 3

1.2. Khái niệm và đặc điểm chính sách công 5

1.2.1. Khái niệm chính sách công 5

1.2.2.Các đặc điểm của chính sách công 11

1.3. Vai trò và các tiêu chí của chính sách công 12

1.3.1. Vai trò của chính sách công 12

1.3.2. Các tiêu chí của một chính sách công tốt 15

1.4. Phân loại chính sách 18

1.4.1. Sự cần thiết phải phân loại chính sách công 18

1.4.2. Các loại chính sách công 19

1.5. Chu trình chính sách 19

1.5.1. Khái niệm 19

1.5.2. Các bước trong chu trình chính sách 19

II. NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ PHÂN TÍCH CHÍNH SÁCH CÔNG 25

2.1. Khái niệm phân tích chính sách công 25

2.2. Lý do phân tích chính sách công 25

2.2.1. Lý do khái quát 25

2.2.2. Lý do cụ thể 25

2.3. Nhiệm vụ phân tích chính sách công 27

2.3.1. Xây dựng kế hoạch phân tích, đánh giá 27

2.3.2. Tổ chức công tác phân tích chính sách 27

2.3.3. Kiểm tra đôn đốc quá trình phân tích chính sách công 28

2.4. Yêu cầu phân tích chính sách công 28

2.4.1. Yêu cầu toàn diện trong phân tích chính sách 28

2.4.2. Yêu cầu thường xuyên 29

2.4.3. Yêu cầu sát thực 29

2.4.4. Yêu cầu đồng bộ 29

2.4.5. Yêu cầu lôgic 29

2.5. Các yếu tố ảnh hưởng đến việc phân tích chính sách công 29

2.5.1. Yếu tố chính trị 29

2.5.2. Yếu tố kinh tế - xã hội 30

2.5.3. Yếu tố trình độ năng lực của cán bộ, công chức phân tích chính sách 30

2.5.4. Yếu tố quan hệ quốc tế 30

2.6. Các nguyên tắc phân tích chính sách công 31

2.6.1. Nhóm các nguyên tắc chung 31

2.6.2. Nhóm các nguyên tắc cụ thể 31

III. NỘI DUNG, QUY TRÌNH PHÂN TÍCH CHÍNH SÁCH CÔNG 32

3.1. Nội dung phân tích chính sách công 32

3.1.1. Phân tích tìm kiếm, lựa chọn vấn đề chính sách 32

3.1.2. Phân tích hoạch định chính sách 33

3.1.3. Phân tích tính hệ thống của chính sách 38

3.1.4. Phân tích tình hình triển khai thực hiện chính sách 39

3.1.5. Phân tích duy trì chính sách 48

3.1.6. Phân tích hiệu quả thực thi chính sách 49

3.2. Quy trình phân tích chính sách công 51

3.2.1. Xác định mục đích, yêu cầu phân tích chính sách công 51

3.2.2. Chuẩn bị cho công tác phân tích 51

3.2.3. Tiến hành phân tích chính sách công 52

3.2.4. Sử dụng kết quả phân tích, đánh giá chính sách 53

IV. TIÊU CHÍ VÀ PHƯƠNG PHÁP PHÂN TÍCH CHÍNH SÁCH CÔNG 54

4.1. Tiêu chí phân tích chính sách công 54

4.1.1. Khái niệm 54

4.1.2. Các loại tiêu chí phân tích chính sách 55

4.2. Phương pháp phân tích chính sách công 56

4.2.1. Căn cứ lựa chọn phương pháp phân tích 56

4.2.2. Một số phương pháp phân tích 57

Đề cương chuyên đề :

PHÂN TÍCH CHÍNH SÁCH CÔNG TRONG
QUẢN LÝ HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC

I. NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ CHÍNH SÁCH CÔNG

1.1. Tính khách quan của sự tồn tại Chính sách công trong thực tế

- Nghiên cứu tiến trình phát triển của lịch sử cho thấy chính sách được ra đời cùng với sự ra đời của nền dân chủ Hi Lạp, từ thế kỷ thứ I (TCN).

- Những vấn đề chính sách mới được tập trung nghiên cứu từ giữa thế kỷ 19 khi mà các nhà khoa học chính trị chuyển sang nghiên cứu những hành vi những chuẩn mực của Chính phủ để thỏa mãn các nhu cầu của đời sống nhân dân.

- Đặc biệt sau các cuộc chiến tranh giành giật thuộc địa đầu thế kỷ 20 các giá trị về công bằng về bình đẳng cũng được nhìn nhận lại tổ chức bộ máy nhà nước và thể chế cũng được thay đổi. Vì vậy khoa học chính sách đã phát triển mạnh hơn, các nhà khoa học đã tập trung nghiên cứu nhằm tìm ra những chính sách để phù hợp với tình hình mới.

- Từ những năm 20 của thế kỷ XX Chính phủ các nước tư bản đã dùng những chính sách kinh tế can thiệp vào hoạt động của thị trường nhằm làm cho nền kinh tế phát triển theo ý muốn của Nhà nước, chống lại sự đổ vỡ của nền kinh tế tự do.

Chẳng hạn, nhà kinh tế học người Anh J.M Keynes (1883-1946) đã khẳng định: Nhà nước cần dùng chính sách trợ cấp tài chính và tín dụng để khuyến khích khu vực kinh tế tư nhân đầu tư vào nền kinh tế, qua đó tăng nguồn tài chính bổ sung cho ngân sách.

Hoặc "Nhà nước cần có chính sách để khuyến khích sản xuất kinh doanh và tiêu dùng nhằm tạo lập sự cân đối giữa cung và cầu".

Sau này Paul Samuelson (nhà kinh tế học người Mỹ) đã đề ra lý thuyết "Hai bàn tay". Trong đó nhấn mạnh về sự kết hợp giữa nhà nước và thị trường bằng một số chính sách để phát triển kinh tế xã hội.

- Trong chế độ tư bản chủ nghĩa kinh tế thị trường đã phát triển mạnh cả bề rộng lẫn bề sâu, nên nhà nước đã có nhiều chính sách để tác động tới các thành phần kinh tế trong và ngoài nước. Các nhà kinh doanh đều cho rằng chính sách tác động rất lớn tới hoạt động sản xuất kinh doanh.

- Trong chế độ xã hội chủ nghĩa vấn đề chính sách cũng đã được đặc biệt chú trọng để củng cố liên minh công nông: Lênin đã nói: "Giai cấp vô sản phải biết hướng chính sách của mình để phục hồi những lực lượng sản xuất của nền kinh tế nông dân".

- Sau Cách mạng tháng 10 Nga thành công, Lênin luôn luôn nhấn mạnh tới các chính sách kinh tế. Ví dụ: Chính sách kinh tế mới của Lênin. Sau này Đảng Cộng sản Liên Xô và Nhà nước Xô viết đã ban hành nhiều chính sách để huy động các nguồn nhân lực, vật lực cho công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước như chính sách kinh tế mới (NEP).

Việt Nam:

Ở Việt Nam Đảng và Nhà nước ta luôn luôn đề cao vấn đề chính sách. Cụm từ chính sách được đề cập nhiều lần trong Hiến pháp 46, 59, 80 và 92. Chẳng hạn Hiến pháp 1980 ghi "Mục đích chính sách kinh tế của Nhà nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam là thỏa mãn ngày càng tốt hơn nhu cầu vật chất và văn hóa của toàn thể nhân dân (Điều 15).

- Đặc biệt Hiến pháp 1992 đề cập tới rất nhiều vấn đề chính sách như:

+ Chính sách kinh tế: "Mục đích chính sách kinh tế của Nhà nước là làm cho dân giàu nước mạnh, đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu vật chất và tinh thần của nhân dân trên cơ sở giải phóng mọi năng lực sản xuất, phát huy mọi tiềm năng của các thành phần kinh tế dưới nhiều hình thức, thúc đẩy xây dựng cơ sở vật chất, kỹ thuật, mở rộng hợp tác kinh tế - khoa học – kỹ thuật và giao lưu với thị trường thế giới" (Điều 16);

"Nhà nước có chính sách bảo hộ quyền lợi của người sản xuất và người tiêu dùng" (Điều 28).

+ Chính sách về dân tộc: "Nhà nước thực hiện chính sách bình đẳng, đoàn kết, tương trợ giữa các dân tộc. Nhà nước thực hiện chính sách phát triển về mọi mặt, từng bước nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của đồng bào dân tộc thiểu số". (Điều 5 Hiến pháp 1992).

+ Chính sách đối ngoại: "Nhà nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam thực hiện chính sách hòa bình hữu nghị mở rộng hợp tác quốc tế” (Điều…).

Trong hơn 20 năm đổi mới vừa qua, Nhà nước Việt Nam có nhiều chính sách, như "Chính sách đối với người có công với cách mạng"; "chính sách thương binh liệt sĩ"; "chính sách dân số kế hoạch hóa gia đình"; "chính sách đồng bào dân tộc"; "chính sách kích cầu", chính sách thắt chặt tiền tệ….

Như vậy, có thể thấy trên cả phương diện lý thuyết và thực tiễn luôn tồn tại một cách khách quan các chính sách của Nhà nước để duy trì sự phát triển không ngừng của kinh tế - xã hội;

1.2. Khái niệm và đặc điểm chính sách công

1.2.1. Khái niệm chính sách công

* Một số quan niệm về chính sách

Hiện nay, thuật ngữ “chính sách” được sử dụng rộng rãi trên các phương tiện thông tin đại chúng và trong đời sống xã hội. Hiểu một cách giản đơn, chính sách là chương trình hành động do các nhà lãnh đạo hay nhà quản lý đề ra để giải quyết một vấn đề nào đó thuộc phạm vi thẩm quyền của mình; Chính sách công ngụ ý sự can thiệp của Nhà nước vào xã hội.

Chính sách công là gì?

Cho đến nay, trên thế giới, cuộc tranh luận về định nghĩa chính sách công vẫn là một chủ đề sôi động và khó đạt được sự nhất trí rộng rãi.

William Jenkin cho rằng: “CSC là một tập hợp các quyết định có liên quan lẫn nhau của một nhà chính trị hay một nhóm nhà chính trị gắn liền với việc lựa chọn các mục tiêu và các giải pháp để đạt được các mục tiêu đó”1.

Thomas Dye lại đưa ra một đinh nghĩa ngắn gọn về CSC, song đinh nghĩa này lại được nhiều học giả tán thành: “CSC là cái mà chính phủ lựa chọn làm hay không làm”2.

B. Guy Peter cho rằng: “CSC là toàn bộ các hoạt động của Nhà nước có ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến cuộc sống của mọi công dân”3. Định nghĩa này khẳng định chủ thể ban hành và thực thi CSC là Nhà nước đồng thời nhấn mạnh tác động của CSC đến người dân với tư cách là một cộng đồng.

“Chính sách là một quá trình hành động có mục đích mà một cá nhân hoặc một nhóm theo đuổi một cách kiên định trong việc giải quyết vấn đề” [James Anderson, 2003].

“Chính sách công là một quá trình hành động hoặc không hành động của chính quyền để đáp lại một vấn đề công cộng. Nó được kết hợp với các cách thức và mục tiêu chính sách đã được chấp thuận một cách chính thức, cũng như các quy định và thông lệ của các cơ quan chức năng thực hiện những chương trình” (Kraft and Furlong, 2004).

Từ điển Tiếng Việt: CS là chủ trương và các biện pháp của một đảng phái, một CP trong các lĩnh vực chính trị - xã hội

Từ điển bách khoa Việt Nam đưa ra khái niệm: “Chính sách là những chuẩn tắc cụ thể để thực hiện đường lối, nhiệm vụ. Chính sách được thực hiện trong một thời gian nhất định, trên những lĩnh vực cụ thể nào đó. Bản chất, nội dung, phương hướng của chính sách tùy thuộc tính chất của đường lối, nhiệm vụ chính trị, kinh tế văn hóa…”4.

Từ điển giải thích thuật ngữ hành chính: “CSC là chiến lược sử dụng các nguồn lực để làm dịu bớt những vấn đề của quốc gia hay mối quan tâm của NN”.

Như vậy, có thể thấy hiện có rất nhiều cách tiếp cận khác nhau về CSC:

Cách tiếp cận 1: Coi CSC là quyết định mang tính tập thể của các cơ quan nhà nước khi nêu ra ý định làm hay không làm một công việc công (công việc nhà nước) trên cơ sở cân bằng lợi ích chung của xã hội/nhà nước và lợi ích của các nhóm lợi ích.

Cách tiếp cận 2: Coi CSC là sản phẩm của thể chế chính trị trong điều kiện kinh tế xã hội nhằm hướng đến những mục tiêu cụ thể trong tương lai.

Cách tiếp cận 3: Coi CSC là sự tuyên bố của các cơ quan quản lý nhà nước trước xã hội, công dân trong những điều kiện cụ thể về những mục tiêu mong muốn đạt được của hoạt động quản lý nhà nước.

Cách tiếp cận 4: Coi CSC là một tập hợp của các chính sách khác nhau.

Tuy có rất nhiều định nghĩa, quan niệm khác nhau về CSC như đã nêu trên, song điều đó không có nghĩa là CSC mang những bản chất khác nhau. Thực ra, tùy theo quan niệm của mỗi tác giả mà các định nghĩa đưa ra nhấn mạnh vào các đặc trưng này hay đặc trưng khác của CSC. Những đặc trưng này phản ánh CSC từ nhiều góc độ khác nhau, song chúng đều hàm chứa những nét đặc thù thể hiện bản chất của CSC. Cụ thể là:

Chủ thể ban hành CSC là Nhà nước.

CSC tập trung giải quyết một vấn đề đang đặt ra trong đời sống kinh tế - xã hội theo những mục tiêu xác định.

  •  
  •  

CSC gồm nhiều quyết định có liên quan lẫn nhau.

  •  

* Khái niệm chính sách công:

Như vậy, có thể hiểu: Chính sách công là những hành động ứng xử của Nhà nước (bao gồm một chuỗi các quyết định hoạt động của Nhà nước) để giải quyết một vấn đề chung đang đặt ra trong đời sống kinh tế - xã hội theo mục tiêu xác định, phù hợp với thái độ chính trị và điều kiện kinh tế - xã hội trong mỗi thời kỳ.

1.2.2.Các đặc điểm của chính sách công

Tính quyền lực nhà nước

Tính giai cấp: Mang tính ý chí của Nhà nước.

Tính lệ thuộc pháp luật

Tính định hướng để làm các quyết định cụ thể

Tính sáng tạo, linh hoạt trong triển khai

mục tiêu phát triển kinh tế văn hóa hội giữ vững ổn định hội.

  •  
  •  
  •  
  •  
  •  
  •  

Luôn vận động phát triển:

  •  

1.3. Vai trò và các tiêu chí của chính sách công

1.3.1. Vai trò của chính sách công

* Vai trò của chính sách công nói chung:

Vai trò định hướng

Vai trò khuyến khích

Vai trò kiềm chế, hạn chế các mặt tiêu cực trong đời sống kinh tế – xã hội

Vai trò tạo lập các cân đối trong phát triển

Vai trò kiểm soát và phân phối nguồn lực

Vai trò tạo lập môi trường thích hợp cho các hoạt động kinh tế – xã hội

Vai trò điều chỉnh​​​​​

1.3.2. Các tiêu chí của một chính sách công tốt

Một chính sách tốt cần đạt được những tiêu chí sau:

* Chính sách phải hướng tới mục tiêu phát triển chung

- Mục tiêu toàn thể nhân dân ta phấn đấu là xây dựng một xã hội dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng dân chủ và văn minh.

- Để đạt được mục tiêu trên, Nhà nước phải sử dụng các công cụ biện pháp trong đó có công cụ chính sách. Vì vậy chính sách phải hướng tới mục tiêu chung mà nhà nước đề ra. Và các chính sách phát triển kinh tế xã hội trong từng giai đoạn phải phù hợp với mục tiêu chung của xã hội.

+ Chính sách vì thế mà mục tiêu chung và chính sách luôn luôn gắn bó với nhau.

+ Một chính sách ban hành mà không có mục tiêu, không sát mục tiêu chung hoặc đi ngược lại mục tiêu chung thì không được nhân dân tin tưởng hoặc thừa nhận và một chính sách như vậy là không tốt.

+ Mục tiêu chung và mục tiêu chính sách luôn có sự gắn bó mật thiết với nhau, nhưng giữa chúng có sự khác nhau cơ bản là mục tiêu chính sách phải cụ thể, rõ ràng và hướng tới mục tiêu chung.

* Chính sách phải tạo ra động lực mạnh

- Một chính sách tốt đòi hỏi sau khi ban hành phải tạo ra một động lực mạnh để thực hiện mục tiêu chung của xã hội, để thúc đẩy xã hội phát triển. Ngược lại nếu chính sách không tạo ra động lực hoặc tạo ra động lực nhưng yếu kém thì đó không phải là chính sách tốt. Vì vậy chính sách phải phù hợp với mục tiêu chung của xã hội.

- Trong thực tế có nhiều chính sách tạo ra động lực mạnh cho việc phát triển nền kinh tế quốc dân, như chính sách kinh tế nhiều thành phần, chính sách kinh tế trang trại; chính sách lao động việc làm v.v..

- Chính sách tạo ra động lực mạnh nhờ hệ thống biện pháp tốt:

  • Những biện pháp chính sách có tác động mạnh đến mục tiêu thường mang tính cơ chế cao như cơ chế tự chủ, cơ chế lợi ích, cơ chế trách nhiệm, cơ chế xã hội hoá v.v. Trong thực tế có nhiều chính sách tạo ra động lực mạnh cho phát triển kinh tế quốc dân như chính sách kinh tế nhiều thành phần; chính sách lưu thông sản phẩm, hàng hoá tự do; chính sách giá thống nhất; chính sách kinh tế hộ, kinh tế trang trại trong nông nghiệp; chính sách dân số, lao động, việc làm v.v.

    Người thực hiện mục tiêu chính sách là nhân dân vì thế nếu mục tiêu chính sách thống nhất với ý nguyện của nhân dân sẽ thu hút được đông đảo quần chúng tham gia vào quá trình chính sách một cách tự giác, tạo nên một động lực mạnh để thực hiện tốt nhất các mục tiêu phát triển

* Chính sách phải phù hợp với tình hình thực tế

- Chính sách phải phù hợp với tình hình thực tế mới giải quyết được những yêu cầu mà thực tế đặt ra.

Vì vậy các chính sách phải phù hợp với các quan hệ xã hội, phù hợp với quy luật phát triển khách quan của xã hội hay nói cách khác chính sách phải phù hợp với tình hình xã hội. Nó sẽ hạn chế được những vấn đề mâu thuẫn với mục tiêu quản lý.

  • Một chính sách được ban hành phải xuất phát từ những vấn đề nảy sinh trong thực tế và lại trở về giải quyết chính những vấn đề đó

    Đối tượng quản lý của Nhà nước chủ yếu bao gồm các quan hệ tồn tại trong xã hội về những yếu tố cấu thành trong hoạt động kinh tế, chính trị, xã hội và môi trường, bởi vậy chúng cũng thường xuyên vận động

    đáp ứng được yêu cầu bức xúc của đời sống xã hội

* Chính sách phải có tính khả thi cao

- Chính sách vừa là ý chí của Nhà nước và là nguyện vọng của nhân dân. Vì vậy, tính khả thi của chính sách là yêu cầu rất quan trọng bởi nó biến mong muốn của Nhà nước và nhân dân thành hiện thực.

- Chính sách mà không có tính khả thi thì chính sách đó chỉ nằm trên giấy, không mang lại hiệu quả gì.

- Tính khả thi được xét trên nhiều phương diện.

+ Thời điểm ban hành phải phù hợp yêu cầu.

+ Thúc đẩy được sự phát triển kinh tế xã hội, góp phần điều chỉnh các quan hệ.

- Khi ban hành chính sách phải tính toán các mối quan hệ, phải dự báo sự phát triển của các quan hệ xã hội và tình hình phát triển kinh tế.

- Tránh để tình hình phức tạp rồi mới ban hành chính sách.

* Chính sách phải đảm bảo tính hợp lý

- Tính hợp lý của chính sách là sự cân đối hài hòa giữa mục tiêu của chính sách và nguyện vọng của đối tượng thụ hưởng. Song mục tiêu chính sách đưa ra mang tính khái quát, đối tượng thụ hưởng có số lượng rất lớn. Vì vậy phải tính toán cân đối hợp lý giữa các đối tượng; phải cân đối giữa khả năng kinh tế với chi phí thực hiện chính sách. Ví dụ, chính sách đối với người có công với cách mạng, không thể cào bằng giữa các đối tượng mà phải tính toán cho từng đối tượng để đảm bảo tính hợp lý.

* Chính sách phải mang lại hiệu quả cho đời sống xã hội

- Hiệu quả chính sách là cơ sở để góp phần duy trì sự tồn tại và phát triển kinh tế xã hội. Vì vậy khi đưa ra chính sách phải tính toán.

- Nếu tính toán chi phí cho việc thực hiện chính sách mà quá lớn thì chính sách không mang lại hiệu quả. Vì vậy chúng ta không ban hành, hoặc dừng tổ chức thực hiện.

- Để chính sách có hiệu quả thì phải tính toán giữa mục tiêu của chính sách với mục tiêu chung của toàn xã hội; giữa mục tiêu của chính sách với nguyện vọng của nhân dân. Đặc biệt là giữa mục tiêu của chính sách với biện pháp thực hiện.

+ Mục tiêu mà phù hợp với nguyện vọng nhân dân sẽ thu hút được toàn thể nhân dân tham gia vào thực hiện chính sách một cách tự giác tạo ra một động lực mạnh để thực hiện mục tiêu chung.

+ Nếu mục tiêu chính sách phù hợp với mục tiêu chung sẽ rút ngắn được quá trình thực hiện chính sách.

1.4. Phân loại chính sách

1.4.1. Sự cần thiết phải phân loại chính sách công

- Xuất phát từ mục đích, yêu cầu sử dụng của chủ thể.

Định hướng;

Tạo động lực;

Phối hợp, điều chỉnh các hoạt động cụ thể

    • Có nhiều loại chính sách khác nhau => hệ thống => phân loại để có sự bao quát, tránh bỏ sót những lĩnh vực cần điều chỉnh hoặc tránh chống chéo giữa các chính sách

      •  

 

Các tác động của môi trường bên ngoài (bao gồm khu vực và quốc tế)

Các hoạt động kinh tế

CHÍNH SÁCH KINH TẾ

Các hoạt động lao động xã hội

NHỮNG CHÍNH SÁCH LAO ĐỘNG XÃ HỘI

Các hoạt động môi trường

CHÍNH SÁCH MÔI TRƯỜN

Lợi ích tổng hợp

 

 

1.4.2. Các loại chính sách công

Theo lĩnh vực hoạt động: CS kinh tế, CS văn hóa, CS xã hội, quốc phòng, an ninh, kinh tế, y tế, tài chính,v.v…

Theo chủ thể ban hành: CS của Trung ương, CS của địa phương.

Theo thời gian tồn tại chính sách: CS ngắn hạn, CS trung hạn, CS dài hạn.

Theo phạm vi quan hệ: CS đối nội, CS đối ngoại

Phân loại theo chức năng của CS: CS điều tiết, can thiệp, khuyến khích, hỗ trợ, thí điểm.v.v..

Phân loại theo quy mô vấn đề: CS chiến lược và CS tác nghiệp.

  •  
  •  
  •  
  •  
  •  
  •  

1.5. Chu trình chính sách

1.5.1. Khái niệm

Chu trình chính sách là vòng luân chuyển các bước từ khởi sự chính sách đến khi xác định được hiệu quả của chính sách trong đời sống xã hội

1.5.2. Các bước trong chu trình chính sách

  • Xác định vấn đề chính sách

    Hoạch định chính sách

    Tổ chức thực thi chính sách

    Duy trì chính sách

    Đánh giá chính sác


 

 

II. NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ PHÂN TÍCH CHÍNH SÁCH CÔNG

2.1. Khái niệm phân tích chính sách công

Qua nghiên cứu cho thấy phân tích chính sách bao gồm nhiều hoạt động, như luận bàn về mục tiêu chính sách, mổ xẻ, phân tích, đánh giá nội dung chính sách, chu trình thực hiện chính sách làm rõ các mối quan hệ của chính sách. Trong quá trình phân tích phải đưa ra số liệu, cứ liệu để minh chứng, phân tích những thành quả đạt được, những hạn chế của chính sách và rút ra các nguyên nhân của hạn chế; cuối cùng phải tìm ra các biện pháp sửa đổi, bổ sung hoàn thiện chính sách hoặc thực hiện chính sách.

Khái niệm: Phân tích chính sách là hoạt động nhằm luận giải về mục tiêu chính sách, nội dung chính sách, chu trình thực hiện chính sách và các mối quan hệ của chính sách, qua đó tìm ra biện pháp sửa đổi, bổ sung hoàn thiện và tổ chức thực hiện chính sách hiệu quả.

Chức năng của PTCSC: Chức năng thông tin, chức năng tạo động lực, chức năng kiểm soát….

2.2. Lý do phân tích chính sách công

2.2.1. Lý do khái quát

- Sở dĩ phải phân tích chính sách công, vì chính sách là công cụ quản lý nên trước khi quyết định (ban hành) chính sách chủ thể quản lý phải phân tích đầy đủ các nội dung của chính sách.

- Chính sách tác động đến nhiều đối tượng và ảnh hưởng lâu dài đến nhiều tổ chức cá nhân nên trước khi ban hành chính sách phải phân tích.

- Sau khi ban hành chính sách trở thành công cụ quản lý, nên các chủ thể phải phân tích được tính năng, tác dụng của chính sách để sử dụng có hiệu quả công cụ này.

2.2.2. Lý do cụ thể

Sở dĩ phải phân tích chính sách công vì:

- Qua phân tích chính sách sẽ thấy được mục tiêu chính sách có tính hiện thực không và nếu hiện thực thì có tính khả thi không? Và chính sách có phù hợp với mục tiêu chung không? để từ đó ban hành chính sách, hoặc tổ chức thực hiện.

- Nhờ phân tích mà thấy được tính hệ thống của chính sách (hệ thống chính sách là tập hợp các chính sách có những đặc trưng giống nhau về mục tiêu hay tính chất được xếp đặt theo một trật tự nhất định và theo yêu cầu cụ thể).

Tính hệ thống của chính sách gồm các mặt:

+ Chính sách mới ban hành có đúng là chính sách không hay chỉ là một bàn tay.

+ Chính sách mới ban hành có phù hợp với hệ thống chính sách đã có hay không? hay gây nên những xung đột.

+ Chính sách mới ban hành có thể giúp gì cho hệ thống chính sách đã có hay không?

Nắm được tính hệ thống của chính sách thì khi ban hành sẽ không bị mâu thuẫn chồng chéo lạc hậu.

- Qua phân tích chính sách để thấy được sự phù hợp giữa chính sách và môi trường hay nói cách khác thấy được chính sách có phù hợp với môi trường hay không?

Môi trường được hiểu là môi trường kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội và môi trường, tự nhiên.

Qua phân tích nếu thấy chính sách phù hợp với môi trường thì ban hành, nếu có điểm chưa phù hợp thì phải điều chỉnh, hoặc chưa ban hành.

Nhờ phân tích chính sách trong những điều kiện hoàn cảnh nhất định thì chủ thể ban hành chính sách có những thay đổi; những ứng phó nhất định.

- Phân tích chính sách để thấy được lòng tin của người thực hiện với chủ thể ban hành.

+ Quan hệ giữa chủ thể ban hành với người thực thi chính sách là quan hệ biện chứng. Chẳng hạn ý chí của chủ thể ban hành là nguyện vọng của người được thụ hưởng chính sách.

+ Thấy được lòng tin của đối tượng thụ hưởng chính sách sẽ củng củng cố lòng tin cho chủ thể ban hành chính sách.

Ví dụ: Chính sách xóa đói giảm nghèo của Chính phủ.

- Những lý do khác

Để có việc làm, thí dụ, khu vực tư cần tiêu thụ sản phẩm, dịch vụ

Để báo cáo cấp trên, HĐND theo yêu cầu

Để làm đề tài nghiên cứu khoa học

Để có bài đăng báo

Để tự bảo vệ quyền lợi của nhóm lợi ích

Để tranh cử

 

Từ những lí do nói trên, có thể thấy PTCS có những vai trò rất quan trọng dưới đây:

PTCS là khâu khởi đầu và xuyên suốt trong chu trình chính sách

PTCS giúp đảm bảo các tiêu chuẩn của chính sách trước khi đưa vào thực hiện

PTCS giúp xem xét tính hệ thống của chính sách

PTCS làm cơ sở để điều chỉnh chính sách cho phù hợp với môi trường

PTCS giúp đánh giá tính hiệu quả của chính sách

2.3. Nhiệm vụ phân tích chính sách công

Để phân tích chính sách công cần phải tiến hành các nhiệm vụ (hoạt động) sau đây:

2.3.1. Xây dựng kế hoạch phân tích, đánh giá

- Đây là bước khởi đầu của cả quá trình phân tích chính sách giúp chúng ta tiếp cận được các mục tiêu và nội dung của chính sách.

- Xây dựng kế hoạch phân tích chính sách giúp ta nắm được các điều kiện, các cơ sở vật chất, trang thiết bị kỹ thuật để phục vụ cho công tác phân tích.

- Kế hoạch phân tích giúp cho chúng ta chủ động được thời gian để có những chương trình phù hợp với mỗi giai đoạn của cả quá trình phân tích.

- Nội dung xây dựng kế hoạch phân tích gồm:

+ Xây dựng kế hoạch tiến độ phân tích.

+ Xây dựng kế hoạch nguồn lực phân tích (con người; kinh phí; phương tiện; cơ sở vật chất).

+ Xây dựng kế hoạch phối hợp giữa các cơ quan trong việc phân tích chính sách.

Lưu ý: Mỗi kế hoạch đều phải có kế hoạch dự phòng để ứng phó với những đột biến xảy ra.

2.3.2. Tổ chức công tác phân tích chính sách

Bao gồm các công việc:

- Thu thập tài liệu: căn cứ vào yêu cầu phân tích chính sách của chủ thể mà tìm kiếm tài liệu cho phù hợp. Tài liệu phải đủ, đúng, kịp thời, không lạc hậu.

Lưu ý: Bên cạnh đó cần thu thập tài liệu về khả năng xây dựng chính sách của một cơ quan chức năng để giao cho cơ quan đó chủ trì xây dựng chính sách.

- Xử lý tài liệu thu thập được: để xác định tính hợp lý của tài liệu thì phải hiệu chỉnh các tài liệu, kết nối các dữ liệu thành chuỗi để phản ánh một hiện tượng, một quá trình nào đó, hoặc nhu cầu của đối tượng tác động.

- Tổng hợp tài liệu: là sự phối hợp các dữ liệu đã qua xử lý bằng các phương pháp toán học, thống kê, kinh tế, xã hội học. Qua đó sẽ nắm được thực trạng của một quá trình, một lĩnh vực, một đối tượng thụ hưởng trước và sau khi chịu sự tác động của chính sách.

- Phân tích tài liệu: Tức là đi sâu mổ xẻ các tài liệu để làm rõ những thành tựu đạt được và những hạn chế yếu kém khi thực hiện các chính sách và nguyên nhân của hạn chế; việc phân tích còn làm rõ mối quan hệ của chính sách với môi trường mà chính sách tồn tại.

- Đánh giá kết quả thực hiện chính sách: là hoạt động đánh giá cả trên hai mặt lý luận và thực tiễn của chính sách, qua đó đặt nền móng cho việc duy trì chính sách cũ hoặc hoạch định chính sách mới.

2.3.3. Kiểm tra đôn đốc quá trình phân tích chính sách công

- Trong thực tế hoạt động phân tích chính sách công cũng diễn ra theo sự biến động của tình hình kinh tế, chính trị, xã hội. Nên trong quá trình phân tích có thể có những sai sót lệch lạc. Vì vậy cần kiểm tra đôn đốc và điều chỉnh kịp thời.

- Trong quá trình kiểm tra có thể kiểm tra nội dung phân tích, tiến độ phân tích, qua đó để bổ sung điều chỉnh, đôn đốc kịp thời.

2.4. Yêu cầu phân tích chính sách công

Khi tiến hành phân tích chính sách cần đảm bảo các yêu cầu sau:

2.4.1. Yêu cầu toàn diện trong phân tích chính sách

- Muốn kết quả phân tích chính sách được đúng đắn, sử dụng có hiệu quả cho việc hoạch định hoặc thực thi chính sách thì việc phân tích chính sách phải toàn diện.

+ Nghĩa là phải phân tích toàn diện quá trình diễn biến của chính sách từ khi ra đời cho đến khi kết thúc.

+ Phải phân tích toàn diện các yếu tố tham gia vào chính sách; các nhân tố ảnh hưởng tới chính sách.

+ Phân tích toàn bộ nội dung của chính sách.

2.4.2. Yêu cầu thường xuyên

- Hoạt động kinh tế - xã hội thường xuyên vận động biến đổi. Các đối tượng được thụ hưởng chính sách cũng thường xuyên thay đổi thậm chí có những đột biến.

- Vì vậy việc phân tích chính sách phải thường xuyên bám sát nội dung chính sách, tình hình thực hiện chính sách, đối tượng thụ hưởng chính sách v.v.. từ đó để có những sửa đổi bổ sung phù hợp

2.4.3. Yêu cầu sát thực

- Hoạt động quản lý là hoạt động gắn chặt với thực tiễn, các chính sách của các nhà quản lý đưa ra luôn luôn sát với thực tiễn và để giải quyết các vấn đề thực tiễn. Vì vậy khi phân tích chính sách phải thực hiện yêu cầu sát với thực tiễn, gắn với thực tiễn.

- Nếu phân tích chính sách không sát với thực tiễn thì không mang lại hiệu quả của hoạt động phân tích chính sách.

2.4.4. Yêu cầu đồng bộ

- Một chính sách có rất nhiều vấn đề rất nhiều nội dung và tác động tới rất nhiều chủ thể vì vậy khi phân tích chính sách phải phân tích một cách đồng bộ giữa tất cả nội dung và phân tích tất cả các đối tượng được thụ hưởng chính sách, trong mối quan hệ chặt chẽ với nhau.

- Tránh phân tích một chiều chung chung chỉ thấy "cây mà không thấy rừng" hoặc ngược lại.

2.4.5. Yêu cầu lôgic

- Khi phân tích một chính sách phải đảm bảo tính lôgic. Bởi vì kết quả phân tích ở bước trước là nền tảng cho bước sau, nếu bước sau không dựa vào bước trước thì sẽ đưa ra những kết luận suy đoán chủ quan. Dẫn đến việc tổ chức thực hiện chính sách không chuẩn xác.

2.5. Các yếu tố ảnh hưởng đến việc phân tích chính sách công

Hoạt động phân tích chính sách chịu ảnh hưởng lớn các yếu tố môi trường. Vì vậy để hoạt động phân tích chính sách được thuận lợi chúng ta cần xác định các yếu tố ảnh hưởng, như kinh tế, văn hóa, dân trí, xã hội, phong tục, tập quán v.v..

2.5.1. Yếu tố chính trị

- Quan điểm chính trị của Đảng và Nhà nước thể hiện rất rõ trong chính sách, nên chính sách luôn luôn mang tính chính trị.

- Vì vậy khi đường lối chính trị có sự thay đổi, sự vận động thì sẽ ảnh hưởng lớn tới hoạt động phân tích chính sách. Vì vậy khi phân tích chính sách phải bám vào yếu tố chính trị.

- Qua PTCS, Nhà nước biết được tính đúng đắn hay không của định hướng chính trị; biết được mục tiêu mà Nhà nước đang theo đuổi bằng chính sách có phù hợp với nguyện vọng của đông đảo quần chúng nhân dân hay không; đánh giá được lòng tin của nhân dân vào Nhà nước đến đâu; quyền lực của Nhà nước đối với xã hội cao hay thấp;…

- PTCS cũng là một hoạt động thể hiện ý chí của Nhà nước đối với xã hội. Kết quả PTCS giúp cho nhà nước ngày càng hoàn thiện định hướng chính trị của mình, từ đó củng cố vị thế của Nhà nước trong xã hội.

=> định hướng chính trị có ảnh hưởng rất lớn đến quá trình và kết quả PTCS.

2.5.2. Yếu tố kinh tế - xã hội

- Đối tượng chính sách của Nhà nước là toàn dân, toàn diện. Tác động của chính sách làm cho đời sống xã hội ngày càng phát triển cả về lượng và chất. Trình độ văn hóa xã hội nâng lên giúp cho người dân ý thức được đầy đủ hơn về chính sách và PTCS, từ đó họ tự giác tham gia đóng góp vào quá trình PTCS tích cực hơn. Sự tự giác tham gia của các đối tượng vào quá trình chính sách cũng làm cho kết quả PTCS rõ ràng, chính xác hơn.

- Các chính sách phụ thuộc rất lớn vào điều kiện kinh tế xã hội. Trong quá trình phân tích chính sách mà điều kiện kinh tế xã hội thay đổi sẽ tác động rất lớn vào hoạt động phân tích chính sách.

- Các điều kiện kinh tế được cải thiện thì cung cấp các yếu tố vật chất kỹ thuật tài chính cho hoạt động phân tích chính sách.

- Khi điều kiện xã hội được cải thiện, trình độ dân trí nâng cao thì yêu cầu của chính sách có sự thay đổi. Vì vậy hoạt động phân tích chính sách cũng phải thay đổi để thích ứng.

2.5.3. Yếu tố trình độ năng lực của cán bộ, công chức phân tích chính sách

- Cán bộ, công chức của chủ thể phân tích, chính sách có vai trò đặc biệt quan trọng đối với quá trình phân tích chính sách.

- Nếu cán bộ, công chức có trình độ năng lực sẽ hoàn thành được khối lượng công việc phân tích, việc phân tích có độ chính xác cao, thời gian sẽ phân tích được rút ngắn. Nếu cán bộ công chức, hoặc người phân tích có trình độ năng lực kém thì kết quả sẽ ngược lại.

- Vì vậy yếu tố trình độ năng lực của cán bộ, công chức là yếu tố hàng đầu ảnh hưởng hoạt động phân tích chính sách công.

2.5.4. Yếu tố quan hệ quốc tế

- Trong xu thế hội nhập hiện nay ở nước ta thì quốc gia có quan hệ chặt chẽ với quốc tế, nên các chính sách của quốc gia có liên quan chặt chẽ với tình hình quốc tế. Chính vì vậy trong quá trình phân tích chính sách phải theo dõi tình hình quốc tế để bổ sung hoặc sửa đổi những hạn chế bất cập của chính sách khi tình hình quốc tế có sự thay đổi.

- Như vậy rõ ràng quan hệ quốc tế có ảnh hưởng rất lớn tới việc phân tích chính sách.

2.6. Các nguyên tắc phân tích chính sách công

Nguyên tắc phân tích chính sách là những quan điểm tư tưởng chỉ đạo xuyên suốt trong quá trình phân tích chính sách.

2.6.1. Nhóm các nguyên tắc chung

Thứ nhất, nguyên tắc khách quan, trong quá trình phân tích phải dựa vào những luận cứ, luận chứng, khách quan. Các nhận xét, các kết luận đưa ra trong quá trình phân tích phải hoàn toàn khách quan mà không áp đặt chủ quan.

Thứ hai, nguyên tắc toàn diện

- Phân tích chính sách phải có một tầm nhìn toàn diện, phải đặt chính sách trong mối quan hệ với các điều kiện kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội.

- Khi phân tích chính sách phải đặt trong mối quan hệ với các chính sách khác.

- Phải phân tích toàn bộ nội dung của chính sách, phân tích các thành tựu đạt được, các mặt hạn chế yếu kém và nguyên nhân.

Thứ ba, nguyên tắc lịch sử cụ thể

- Khi phân tích chính sách phải đặt trong những điều kiện hoàn cảnh lịch sử nhất định. Nhà phân tích, đánh giá phải có quan điểm lịch sử.

- Trong quá trình phân tích, không phân tích chung chung mà phải cụ thể, phải gắn với các sự vật hiện tượng, các đối tượng cụ thể.

Thứ tư, nguyên tắc kết hợp

Khi phân tích một chính sách phải phân tích nhiều bộ phận, nhiều chủ thể, nhiều đối tượng khác nhau. Vì vậy sau khi phân tích phải kết hợp các bộ phận với nhau.

2.6.2. Nhóm các nguyên tắc cụ thể

* Nguyên tắc mục tiêu:

- Mục tiêu PTCS phải xuất phát từ mục tiêu quản lý;

- Tổ chức công tác PTCS phải đúng mục tiêu;

- Tài liệu PTCS phải phù hợp với mục tiêu;

- Phương pháp PTCS phải thống nhất với mục tiêu;

- Kết quả PTCS phải được sử dụng để phát triển mục tiêu.

* Nguyên tắc hợp lý:

- Xác định mục tiêu PTCS hợp lý với điều kiện cụ thể diễn ra trong quá trình thực hiện chính sách;

- Lựa chọn phương pháp PTCS hợp lý;

- Cung cấp nguồn lực PTCS hợp lý;

Tiến hành PTCS một cách hợp lý là yêu cầu tổng hợp của các yêu cầu trên.

* Nguyên tắc thích ứng:

- Lựa chọn mục tiêu PTCS nhất thiết phải theo yêu cầu quản lý;

- Xác định nội dung PTCS phải thích ứng với từng mục tiêu cụ thể trong từng giai đoạn;

- Thời điểm PTCS phải thích ứng với từng loại chính sách;

- Kết quả PTCS phải được sử dụng thích hợp theo yêu cầu quản lý.

* Nguyên tắc phối hợp.

* Nguyên tắc hiệu quả.

* Nguyên tắc chính trị.

III. NỘI DUNG, QUY TRÌNH PHÂN TÍCH CHÍNH SÁCH CÔNG

3.1. Nội dung phân tích chính sách công

3.1.1. Phân tích tìm kiếm, lựa chọn vấn đề chính sách

* Khái niệm Vấn đề chính sách:

Là những nhu cầu tương lai của đời sống xã hội cần đạt được bằng chính sách. Về bản chất, nhu cầu tương lai của xã hội chính là khoảng cách giữa mức sống hiện tại với tương lai theo quy luật vận động và phát triển. Khoảng cách đó chính là một mâu thuẫn. Nếu mâu thuẫn đó được giải quyết cũng coi như khoảng cách được lấp đầy. Do vậy, vấn đề chính sách có thể được coi như những mâu thuẫn nảy sinh trong xã hội cần được Nhà nước giải quyết bằng chính sách để thoả mãn những nhu cầu nhất định của xã hội.

Như vậy có thể thấy vấn đề chính sách là hạt nhân của chính sách, nó hướng các mục tiêu, giải pháp cần có của nhà nước vào giải quyết vấn đề, đồng thời nó cũng thu hút sự tham gia của đông đảo các tầng lớp nhân dân vào thực hiện chính sách để giải quyết vấn đề cùng nhà nước.

* Nội dung phân tích lựa chọn vấn đề chính sách

Nhận diện vấn đề chính sách:

  1.  

Việc nhận diện VĐCS cần được giải quyết bằng chính sách công là giai đoạn chuẩn bị phải phù hợp với tình hình khách quan và nhu cầu của các đối tác và người hưởng lợi. Lý do thực hiện chính sách công được nhận diện qua phân tích môi trường, bối cảnh, xác định nhu cầu. Chính sách công được xây dựng trên cơ sở nào, các chủ thể liên quan và mục tiêu, mối quan tâm, quyền lợi của họ từ chính sách công.

Mục tiêu là nhận diện được vấn đề mà chính sách công cần giải quyết trong mối quan hệ tổng hòa với các yếu tố liên quan: chính trị, kinh tế, xã hội, văn hóa, quốc tế, môi trường; hoặc nhận diện được vấn đề của tổ chức cần được giải quyết để đáp ứng được yêu cầu mới, thực thi được chức năng và nhiệm vụ trong bối cảnh mới.

Kỹ thuật “cây vấn đề” là công cụ hỗ trợ cho việc phân tích, nhân diện vấn đề một cách đầy đủ, chính xác; từ việc phân tích theo nhiều góc độ khác nhau, những yếu tố liên quan, và mối quan hệ giữa các yếu tố:

. Vấn đề cốt lõi hay liên quan;

. Vấn đề chủ yếu hay thứ yếu;

. Vấn đề trước mắt hay mang tính lâu dài;

. Vấn đề mang tính chiến lược hay chiến thuật.

Phân tích nguyên nhân và hậu quả của vấn đề để xác định ý tưởng và mục tiêu mà chính sách công cần tập trung giải quyết. Ví dụ, xác định được vấn đề cốt lõi của sự nghèo, đói tại một địa phương, hay một nhóm cộng đồng dân cư cụ thể, sẽ cho biết chính xác ý tưởng của chính sách xóa đói giảm nghèo. Nếu không phân tích kỹ và đầy đủ để nhận diện chính xác vấn đề, một chính sách công có thể được thực hiện, nhưng không giải quyết được hoặc không đạt được mục tiêu, kết quả mong đợi.

Các câu hỏi sau sẽ giúp cho việc nhận diện VĐCS sát thực hơn:

Vấn đề có thực sự cần giải quyết bằng chính sách không; những cái đã biết và chưa biết về vấn đề?

Những vấn đề thực sự đang diễn ra ở đây là gì, ai được hửơng lợi, ai bị thiệt hại từ vấn đề đó, bối cảnh lịch sử và thực tiễn ?

Những gì chúng ta cần giải quyết, mối quan tâm chính của những người liên quan là gì ?. Những mong đợi của từng thành viên, cấp trên, và những người liên quan. Đôi khi các nhà chính trị không nói rõ điều họ muốn.

Bối cảnh chính sách là gì, những vấn đề gì đang đặt ra, những tác động, ảnh hưởng của vấn đề đang đặt ra?

Những lĩnh vực liên quan đến chính sách, có gì xảy ra, những vấn đề thực sự xảy ra là gì, xác định những đối tượng liên quan đến. Những gì chúng ta biết và chưa biết?

Những câu hỏi quan trọng đặt ra là gì, những câu chuyện trong quá khứ? Câu trả lời là gì, những gì có thể giải quyết được, cái gì không thể giải quyết được, những khả năng nào có thể có được.

Những giá trị nào của chính sách và giá trị đó mang lại cho ai?

Những giả thuyết để đề xuất chính sách, những mong đợi của các nhà chính trị và nhà hành chính, những gì là không ổn và những gì là khả năng. Chúng ta cần suy nghĩ cân nhắc trước khi chúng ta đề xuất, cần suy nghĩ kỹ, cần tham khảo nhiều đối tượng.

 

Xác định nguồn gốc vấn đề chính sách

  1.  

Vấn đề có thể xuất hiện từ những nguồn gốc:

Hoạt động của nền kinh tế thị trường làm nảy sinh mâu thuẫn kinh tế-xã hội.

  1.  

Tình trạng độc quyền: trên thị trường thường xuất hiện sự độc quyền về giá cả, sự khống chế khối lượng sản xuất, cản trở áp dụng tiến bộ khoa học-kỹ thuật…, đòi hỏi phải có những chính sách thúc đẩy cạnh tranh lành mạnh bằng các biện pháp khác nhau, chống lại sự lạm dụng sức mạh độc quyền.

Thị trường không hoàn chỉnh, dẫn đến hàng loạt sự bất cập: giữa đầu tư và tiêu dùng (sản xuất không đáp ứng nhu cầu tiêu dùng), sự sai lệch của dòng chảy vốn đầu tư (vốn đầu tư đổ vào đầu cơ, đất đai thay vì sử dụng cho phát triển sản xuất)…

Những vấn đề xã hội phát sinh từ mặt trái của thị trường: phân hóa giàu-nghèo, bất bình đẳng, tàn phá, hủy hại môi trường…

Hàng hóa độc hại gây tác hại cho người tiêu dùng.

  •  
  •  
  •  
  •  

Xung đột lợi ích giữa các nhóm người trong xã hội, đòi hỏi sự can thiệp, điều tiết của nhà nước.

Những vấn đề xuất hiện trong quá trình xây dựng và thực hiện mục tiêu và chiến lược phát triển quốc gia, ngành hay địa phương. Chiến lược phát triển luôn phải gắn với những chính sách trợ giúp, hỗ trợ, khuyến khích nhằm huy động các nguồn lực, tác động và hướng dẫn các hoạt động theo định hướng mong muốn. Công nghiệp hóa và hiện đại hóa là một chiến lược phát triển lâu dài của Việt Nam. Để phục vụ cho mục tiêu này, nhà nước cần đề ra hàng loạt chính sách hỗ trợ, khuyến khích như: chính sách phát triển nguồn nhân lực, chính sách huy động và sử dụng vốn, chính sách phát triển các thành phần kinh tế, chính sách phát triển ngành, chính sách thị trường, chính sách đổi mới công nghệ, chính sách bảo vệ tài nguyên môi trường…

Những vấn đề xuất hiện từ sự phát triển. Phát triển đòi hỏi những điều kiện mới, cách tiếp cận mới, cơ sở hạ tầng kỹ thuật mới… so với những cái đang hiện hữu, lỗi thời, lạc hậu, bất cập, không phù hợp trong các lĩnh vực kinh tế, xã hội, khoa học-công nghệ, đời sống, môi trường… đòi hỏi phải được giải quyết bằng những chính sách công.

  1.  
  2.  
  3.  

Căn cứ lựa chọn vấn đề chính sách:

  1.  

Định hướng chính trị đối với vấn đề CS được lựa chọn

Tính bức xúc của vấn đề chính sách so với nhu cầu thực tế của xã hội;

Yêu cầu quản lý nhà nước đối với vấn đề chính sách;

Khả năng tổ chức giải quyết vấn đề chính sách của Nhà nước;

Khả năng tham gia giải quyết vấn đề của các đối tượng chính sách.

Những đặc trưng cần chú ý khi nhận biết vấn đề chính sách.

  1.  

Đó là:

Bối cảnh CSC:

  1.  

Chính sách công được hình thành từ nhu cầu của thực tiễn, hay từ ý chí của nhà đầu tư, hoặc từ áp lực đổi mới, cải tiến, tăng cường, nâng cao… chất lượng, hiệu quả các mảng hoạt động, nhiệm vụ, trách nhiệm, năng lực của tổ chức hay cộng đồng. Bối cảnh chính sách công là những yêu cầu của thực tiễn, làm căn cứ, cơ sở cho sự hình thành chính sách công. Vì vậy, chính sách công luôn nhằm đến những mục tiêu, kết quả nhất định, cụ thể, trong một khoảng thời gian xác định. Phân tích bối cảnh chính sách công nhằm làm rõ:

Những cơ hội, thách thức, xu hướng và sự thay đổi của môi trường bên ngoài, những tác động, ảnh hưởng từ môi trường bên ngoài (giá trị, nguồn lực, quan hệ, quy mô phạm vi hoạt động…);

Phân tích để nhận diện, xác định rõ vấn đề cần được giải quyết bằng chính sách công, nguyên nhân và hậu quả của vấn đề;

Mục tiêu giải quyết vấn đề, là mục tiêu của chính sách công;

Những kết quả mong đợi cần đạt được từ chính sách công;

Những tác động trong tương lai từ kết quả của chính sách công.

Những chủ thể liên quan đến vấn đề cần được giải quyết trong chính sách công: quyền lợi, mất mát, những tác động…

Các chủ thể liên quan đến CSC:

  1.  

Nhà đầu tư, cấp trên, các tổ chức: là người đặt ra yêu cầu thực hiện chính sách công và cung cấp nguồn lực cho chính sách công.

Người hưởng lợi từ chính sách công: là các đối tượng trực tiếp hưởng lợi từ kết quả chính sách công. Những kết quả trực tiếp và gián tiếp mà họ sẽ được hưởng lợi sau thời gian thực hiện chính sách công;

Những tác động khác của chính sách công: tác động do kết quả của chính sách công đến các lĩnh vực khác, hoặc đến các nhóm người, hoặc đến các cộng đồng, hoặc đến tương lai.

Phần này cần làm rõ các chủ thể cùng những quyền lợi và sự ảnh hưởng từ chính sách công đối với các chủ thể; sẽ cho thấy những mâu thuẫn hay xung đột về quyền lợi của các nhóm, là những yếu tố có thể cản trở đến mục tiêu của chính sách công, hoặc có nguy cơ làm cho chính sách công trở nên “sai lệch” so với mục tiêu ban đầu. Việc phân tích, xem xét và cân nhắc đầy đủ về các chủ thể liên quan, sẽ giúp cho việc xây dựng chính sách công lựa chọn được phương án hợp lý, mang tính khả thi cao.

Cần lưu ý rằng VĐCS luôn có mối quan hệ biện chứng với môi trường tồn tại, mang cả tính hiện thực và tương lai.

3.1.2. Phân tích hoạch định chính sách

Phân tích căn cứ hoạch định chính sách

Phân tích tính chuẩn mực của chính sách

Phân tích thời cơ ban hành chính sách

Phân tích quy trình hoạch định chính sách

Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến hoạch định chính sách

* Căn cứ hoạch định chính sách

  • Để bản chính sách có sức thuyết phục cao đối với cả người tổ chức và thực thi, củng cố lòng tin của nhân dân vào chính sách của nhà nước phải trình bày những căn cứ khoa học để hoạch định chính sách, những căn cứ ban hành chính sách của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

    Nêu lý do hoạch định chính sách. Muốn ban hành một chính sách, trước tiên phải thuyết phục được ý chí chủ thể về sự cần thiết phải giải quyết vấn đề bằng công cụ chính sách và qua chủ thể thuyết phục các đối tượng thực thi chính sách về lợi ích kinh tế, xã hội, môi trường của chính sách sẽ ban hành. Toàn bộ nội dung thuyết phục đó được coi là lý do ban hành chính sách.

    6 vấn đề

    • Tính bức xúc của vấn đề chính sách đối với đời sống xã hội.

      Tính phức tạp của vấn đề chính sách.

      Tính thời cơ của việc ban hành chính sách

      Khả năng giải quyết vấn đề bằng chính sách nhà nước.

      Khả năng tồn tại của chính sách với các công cụ quản lý nhà nước.

      Kết quả và hiệu quả kinh tế- xã hội của chính sách so với yêu cầu quản lý nhà nước

Những căn cứ trên đây cần được nêu ngắn gọn, xác thực với điều kiện hoàn cảnh của đất nước và nên hướng vào vấn đề chính sách.

* Phân tích tính chuẩn mực của chính sách

Mức độ tập trung của chính sách

Động lực mà chính sách tạo ra

Sự phù hợp của chính sách với đk thực tế

Tính khả thi của chính sách

Tính hợp lý của chính sách

Hiệu quả của chính sách

Thời cơ ban hành chính sách?

Thời cơ ban hành chính sách được hiểu là thời điểm mà tại đó chính sách được ban hành có thể có những cơ hội thực hiện (tồn tại và phát triển) mục tiêu đề ra. Nếu có cơ hội thực hiện gọi là đúng thời cơ, còn ít cơ hội, nhiều nguy cơ trong quá trình thực hiện gọi là không đúng thời cơ. Liên hệ cho thấy, việc chọn thời cơ ban hành chính sách có giá trị thực tiễn rất cao, làm cho hiệu lực hiệu quả chính sách được tăng cường.

* Phân tích thời cơ ban hành chính sách

Phân tích nhu cầu của các nhóm lợi ích

Phân tích tình hình vận động của các quy luật có liên quan

Phân tích các nhân tố ảnh hưởng

Phân tích tình hình khai thác các nguồn lực để giải quyết vấn đề chính sách

* Phân tích quy trình hoạch định chính sách

Quy trình hoạch định chính sách là các bước cần tiến hành để cho ra đời một chính sách kể từ sau khi lựa chọn được vấn đề chính sách.

Các bước:

Phân tích mục tiêu chính sách

Phân tích hệ thống biện pháp chính sách

Phân tích quy trình tổ chức thực thi xây dựng các phương án chính sách

Phân tích dự báo hiệu lực, hiệu quả chính sách

Phân tích mục tiêu chính sách

Mục tiêu chính sách được coi là linh hồn của chính sách, nó hướng mọi nội dung vào việc thực hiện ý chí của chủ thể hoạch định chính sách

Mục tiêu lâu dài và trước mắt, định tính và định lượng, mục tiêu chung và mục tiêu riêng

Một chính sách có thể hướng đến nhiều mục tiêu, trong đó có mục tiêu trọng tâm và các mục tiêu bộ phận.

Để tránh tình trạng hiểu sai hoặc không đầy đủ về mục tiêu, dẫn đến vận dụng tuỳ tiện chính sách vào thực tế, gây nên sự thiếu đồng bộ, không thống nhất trong quản lý phát triển, cần phải cẩn trọng trong việc trình bày mục tiêu chính sách.

Phân tích biện pháp của chính sách:

Bao gồm

  •  
  • Cơ chế tác động của nhà nước đến các đối tượng thực thi chính sách

    Các biện pháp cụ thể mang tính giáo dục thuyết phục, kinh tế, hành chính

    Các biện pháp tổ chức thực thi chính sác

Những yêu cầu của biện pháp chính sách:

  •  

Phải luôn hướng tới mục tiêu

Phải phù hợp với điều kiện thực tế

Phải linh động thích ứng với cơ chế vận hành trong từng thời kỳ, tránh gò bó cấp thừa hành bằng những biện pháp cụ thể.

Phân tích thời hạn duy trì CS:

Buộc cơ quan nhà nước các cấp phải nỗ lực tìm kiếm các biện pháp tổ chức thực hiện chính sách tối u nhất để hoàn thành nhiệm vụ.

Đồng thời giúp nhà nước chủ động tìm kiếm các nguồn lực cho thực thi chính sách.

Đối với người thực hiện chính sách, thời hạn duy trì chính sách sẽ củng cố lòng tin của họ vào nhà nước và cũng giúp họ chủ động tham gia thực hiện chính sách vì lợi ích của họ và của xã hội.

Thời hạn duy trì chính sách phụ thuộc lớn vào việc thực hiện mục tiêu chính sách, nếu mục tiêu chính sách là trớc mắt, có thể định lợng đợc thì thời hạn duy trì chính sách sẽ ngắn

Tuy việc dự tính thời hạn duy trì chính sách là khó chính xác, nhng cũng cần đề cập trong nội dung chính sách. Trờng hợp thật khó khăn, có thể xác định qua các chơng trình, dự án cụ thể.

* Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến hoạch định chính sách

- Yếu tố quyền lực của chủ thể hoạch định chính sách.

Sức mạnh quyền lực tuỳ thuộc vào nguồn gốc phát sinh và bản chất của chủ thể sử dụng quyền lực trong từng thời kỳ phát triển

Ngoài việc giáo dục thuyết phục các tầng lớp nhân dân tự giác chấp hành chính sách công, nhà nước còn có thể sử dụng quyền kinh tế và pháp lý để bắt buộc các đối tượng thi hành. Như vậy, chính sách công do nhà nước ban hành chắc chắn có hiệu lực thực thi cao hơn các chính sách của các tổ chức kinh tế, xã hội khác

- Yếu tố năng lực của chủ thể.

Năng lực hoạch định chính sách của nhà nước được thể hiện trên các mặt như: năng lực phân tích và dự báo phát triển kinh tế-xã hội; năng lực phát hiện các vấn đề chính sách; năng lực lựa chọn vấn đề phải giải quyết; năng lực đề xuất mục tiêu và biện pháp giải quết vấn đề; năng lực thiết kế một chính sách; năng lực phân tích hoạch định chính sách; năng lực thuyết phục cho tính khả thi của chính sách...

nhà hoạch chính sách phải thường xuyên quan tâm bồi dưỡng, rèn luyện không ngừng nâng cao năng lực chuyên môn hoạch định chính sách

- Yếu tố tiềm lực của chủ thể hoạch định chính sách

+ nguồn lực thực có và tiềm tàng

+ sức mạnh về kinh tế, chính trị, xã hội của nhà nước

Nếu có tiềm lực kinh tế, nhà nước sẽ chủ động hoạch định và thực thi các chính sách phát triển theo ý chí của mình một cách có kết quả

Nhà nước ta, tiềm lực kinh tế hiện chưa mạnh nên nhiều chính sách, nhất là các chính sách kinh tế còn thiên về việc sử dụng các biện pháp giáo dục, chính trị tưởng và hành chính nên hiệu lực và quả chưa cao như chính sách tiền lương, chính sách lao động- việc làm v.v.

- Yếu tố tiềm lực của đối tượng thực thi chính sách.

Sự tham gia của các đối tượng thực thi chính sách là yếu tố quyết định đến sự thành, bại của chính sách

Mức độ tham gia của các đối tượng thực thi chính sách còn tuỳ thuộc vào tiềm lực của họ trong hiện tại và tơng lai.

Sức mạnh của đối tượng chính sách bao gồm: tiềm lực về kinh tế, chính trị, văn hoá xã hội,

ở nước ta các thành phần kinh tế nhà nước và tập thể giữ vị trí nòng cốt và có qui mô lớn nhất, có tiềm lực vợt trội so với đối tượng thuộc các thành phần khác nên chính sách giành cho nó thờng xuyên hơn, tập trung hơn và toàn diện hơn kinh tế cá thể hay tư nhân.

3.1.3. Phân tích tính hệ thống của chính sách

* Phân tích tính hệ thống của mục tiêu chính sách công

Mục tiêu chính sách bao gồm những giá trị kinh tế, chính trị, xã hội nhân văn và những nhu cầu cho cuộc sống mà xã hội cần phải đạt được trong tương lai.

Tính hệ thống của chính sách được hiểu là sự hợp nhất của những giá trị mà chính sách hướng tới thành một thể thống nhất.

Phân tích tính hệ thống mục tiêu chính sách là đi xem xét trạng thái về quan hệ giữa các bộ phận cấu thành mục tiêu trong một môi trường cụ thể.

Nhiệm vụ phân tích là phải tiến hành phân giải được các mối quan hệ trong những nội dung sau:

- Phân tích tính thống nhất trong quan hệ giữa các bộ phận của mục tiêu chính sách.

- Phân tích tính thống nhất của mục tiêu chính sách về tính chất (mục tiêu trực tiếp, gián tiếp, mục tiêu trước mắt, lâu dài, mục tiêu chính sách với mục tiêu các chương trình, dự án….).

- Phân tích tính thống nhất trong quan hệ giữa mục tiêu chính sách với mục tiêu định hướng.

- Phân tích tính thống nhất về mục tiêu của chính sách trong hệ thống chính sách.

* Phân tích tính hệ thống của biện pháp chính sách

- Phân tích tính thống nhất về tính chất của các biện pháp chính sách.

- Phân tích về tính phù hợp của các biện pháp với các mục tiêu.

- Phân tích tính phù hợp của hệ thống biện pháp với cơ chế vận hành.

- Phân tích tính hiện thực của chính sách.

=> kết luận về tính khoa học, hợp lý của cơ cấu chính sách.

* Phân tích tính hệ thống của chính sách với các công cụ quản lý vĩ mô

Nhà nước được sử dụng công cụ quản lý vĩ mô để tổ chức, điều hành các đối tượng trong nền kinh tế - xã hội. Do tính năng, tác dụng khác nhau nên mỗi công cụ được sử dụng vào một mục đích nhất định. Có công cụ được dùng để quy định về hành vi hoạt động của đối tượng, có công cụ được dùng để tạo lập môi trường cho đối tượng hoạt động… Mặc dù được sử dụng với những mục đích khác nhau, nhưng các công cụ đều cùng tác động đến đối tượng theo một định hướng. Yêu cầu này tạo ra sự thống nhất trong việc ban hành và dử dụng công cụ quản lý của Nhà nước.

3.1.4. Phân tích tình hình triển khai thực hiện chính sách

* Phân tích kế hoạch triển khai

Phân tích mục tiêu của kế hoạch

Phân tích các biện pháp tổ chức thực hiện

  •  
  •  

* Phân tích các hoạt động triển khai

Phân tích các hoạt động từ khâu tuyên truyền chính sách đến đánh giá kết quả phối hợp thực hiện chính sách

* Nội dung:

Phân tích tình hình giao nhiệm vụ cho các cơ quan thực thi

Phân tích mối quan hệ giữa cơ quan chủ trì với các cơ quan khác

Phân tích tình hình chuẩn bị về hệ thống, nhân sự, cơ sở vật chất cho việc thực thi chính sách

Phân tích thái độ của ND và của đối tượng thụ hưởng chính sách

  •  
  •  
  •  
  •  

3.1.5. Phân tích duy trì chính sách

* Khái niệm

Duy trì chính sách là toàn bộ hoạt động bảo đảm cho chính sách phát huy tác dụng trong đời sống xã hội theo định hướng. Những hoạt động bảo đảm này bao gồm hoạt động của hệ thống cơ quan nhà nước, của các tổ chức chính trị, chính trị - xã hội, tổ chức kinh tế, xã hội và mọi tầng lớp nhân dân nhằm giữ cho chính sách tồn tại cho đến khi đạt được mục tiêu đề ra.

* Phân tích điều kiện duy trì chính sách

- Phải đảm bảo đầy đủ các yêu cầu về nguồn nhân lực, tài chính, cơ sở vật chất kỹ thuật để thực thi chính sách.

- Các cơ quan đảm trách việc thực thi chính sách phải biết triển khai mục tiêu chính sách thành các chương trình, kế hoạch hành động cụ thể.

- Phải phân công, phối hợp rõ ràng giữa các cơ quan đoàn thể trong việc duy trì chính sách:

+ Thống nhất ban hành thể chế, quy tắc liên quan đến toàn bộ quy trình duy trì chính sách.

+ Thống nhất quản lý, điều hành thực thi chính sách từ trên xuống dưới.

+ Không để các tác động khách quan làm ảnh hưởng đến tiến trình thực thi chính sách (kể các áp lực từ cơ quan nhà nước cấp trên);

+ Đảm bảo thông tin liên lạc thông suốt, liên tục trong quá trình duy trì chính sách.

+ Đảm bảo thời gian cần thiết cho mỗi chương trình, dự án hay kế hoạch thực hiện được các mục tiêu bộ phận của chính sách.

- Điều kiện về môi trường bao gồm tình hình chính trị, kinh tế, xã hội trong nước và quốc tế có ảnh hưởng đến duy trì chính sách.

* Phân tích hoạt động duy trì chính sách

Cơ sở để phân tích: mục tiêu của chính sách.

Kết quả phân tích:

+ Chính sách vận hành tốt: Cần duy trì tiếp tục theo phương án tổ chức, điều hành đã dự kiến. Nhưng cần thường xuyên theo dõi phân tích để phát hiện những biến cố mới nảy sinh.

+ Chính sách đưa vào thực thi đã nảy sinh một số vấn đề nhưng không ảnh hưởng lớn đến mục tiêu nên vẫn cho duy trì vận hành nhưng cần phải đệ trình các cơ quan có thẩm quyền điều chỉnh theo tiến độ cho phù hợp với các điều kiện khách quan.

+ Chính sách đã bộc lộ những sai sót lớn về mục tiêu, nếu cứ tiến hành thì hậu quả đem lại cho xã hội là vô cùng lớn, vì thế cần thu hồi chính sách để chấm dứt sự tác động nguy hại của nó.

+ Thực thi chính sách hiện hành làm phát sinh những vấn đề cần được giải quyết bằng chính sách mới nên phải có những sáng kiến chính sách mới với chính phủ.

+ Có xuất hiện những tồn tại, nhưng không làm ảnh hưởng đến mục tiêu chính sách, chỉ cần các cơ quan thực thi tự điều chỉnh là được như thay đổi biện pháp tổ chức thực hiện chính sách…

Kết quả phân tích được chuyển đến cơ quan hoạch định chính sách hay xây dựng chương trình kế hoạch để nghiên cứu, điều chỉnh. Đồng thời cũng chuyển cho các cơ quan nhà nước có thẩm quyền đảm trách việc thực thi chính sách xen xét rút kinh nghiệm. Kết quả điều chỉnh cần được thống nhất giữa cơ quan hoạch định và cơ quan thực thi để phối hợp hành động có hiệu quả.

Hoạt động phân tích duy trì chính sách được thực hiện trong suốt quá trình tồn tại của chính sách.

3.1.6. Phân tích hiệu quả thực thi chính sách

(Đánh giá chính sách)

* Phân tích kết quả chung

Kết quả thực thi chính sách là những đóng góp lớn lao hay không của chính sách với đời sống kinh tế - xã hội và cũng là kết quả hoạt động tích cực hay không của cơ quan quản lý nhà nước các cấp trong việc tổ chức thực thi chính sách.

Kết quả trên đây không hoàn toàn độc lập mà đan xen, kết nối vào nhau, hỗ trợ cho nhau trong quá trình vận động. Có thể chính sách chưa hẳn đã hoàn hảo, nhưng do bộ máy điều hành có năng lực, có chuyên môn nghiệp vụ tốt và bản lĩnh vững vàng triển khai thực hiện nên vẫn đạt mục tiêu hiệu quả cao. Hoặc trình độ, năng lực của đội ngũ cán bộ công chức nhà nước chưa đạt yêu cầu phát triển, nhưng do chính sách hướng mạnh vào mục tiêu với những cơ chế quản lý thích hợp, được đông đảo quan chúng nhân dân đồng tình, tự giác thực hiện nên thu được kết quả rất khả quan. VỚi thực tế này, các nhà phân tích chính sách cần chú ý kết hợp hài hòa giữa kết quả mang lại của chính sách và kết quả hoạt động của bộ máy nhà nước.

Thông thường khi đánh giá kết quả chính sách là kết quả chung. Bởi vậy trong phân tích không cần tách bạch các kết quả mà chỉ sử dụng thước đo chung cho kết quả của chính sách. Kết quả chính sách được xem xét đánh giá trên cơ sở hiện thực hóa các mục tiêu đề về các mặt lượng và chất; các mục tiêu chung trực tiếp và gián tiếp…

Kết quả thực thi chính sách được tổng hợp bằng các phương pháp điều tra, phân tích thống kê, điều tra xã hội học, hệ thống hóa… Cùng với phân tích kết quả đạt được, các nhà phân tích cũng phải theo dõi tính toán các chi phí nguồn lực cho việc thực thi chính sách để xác định hiệu quả chung của chính sách. Trên cơ sở hiệu quả đạt được của chính sách này, đem so sánh với hiệu quả của chính sách khác tương đồng có thể đánh giá được hiệu quả quản lý điều hành của các cơ quan thực thi chính sách.

* Phân tích những ảnh hưởng của chính sách

Ngoài việc đánh giá những mục tiêu trọng tâm do chính sách mang lại cho đời sống xã hội, nhà phân tích còn phân tích những tác động của chính sách đến các lĩnh vực hoạt động khác để để có kết luận đầy đủ chính xác về hiệu quả hoạt động của một chính sách. Tác động của chính sách đến các lĩnh vực hoạt động không giống nhau về cách thức, mức độ, tính chất. Vì thế các nhà phân tích cần phải đảnh giá sự ảnh hưởng của chính sách một cách toàn diện.

Ví dụ như chính sách phát triển giao thông nhằm mục tiêu chính là phục vụ đi lại của nhân dân được thuận tiện, nhưng khi con đường được mở thì các hoạt động kinh tế, văn hóa, xã hội và môi trường cũng được cải thiện rõ nét.

Hoặc chính sách cắt giảm thuế quan để khuyến khích các nhà xuất khẩu thông qua lợi ích trực tiếp dành cho họ, nhưng đồng thời chính sách này cũng giúp cho phát triển sản xuất trong nước, tạo nhiều việc làm và thu nhập cho người dân.

Chính sách tạo việc làm của Chính phủ nhằm mục đích chống thất nghiệp trong nền kinh tế nhưng khi chính sách này phát huy tác dụng thì hoạt động tội phạm giảm xuống và trật tự xã hội tốt hơn, khiến tiết kiệm được các chi phí chống tội phạm và xét xử của tòa án.

* Đánh giá sự thành công của chính sách công:

Một cách đơn giản, chính sách công thành công là đạt được các mục tiêu, kết quả mong đợi, mang tính khả thi cao. Song thực tế có nhiều chính sách công, sự thành công chỉ đến sau một thời gian áp dụng kết quả của chính sách công vào thực tiễn và tạo ra những tác động cần thiết. Vì vậy, khâu dự báo kết quả và sự tác động, ảnh hưởng của chính sách công trong quá trình xây dựng là rất quan trọng, giúp cho việc nhận diện những thực chất kết quả của chính sách công, tránh những kết quả ngoài dự kiến, ngoài mong muốn có thể. Có thể đo lường, xác định thành công của chính sách công qua bốn cấp độ:

Cấp độ 1: Đạt được mục tiêu của chính sách công.

Đây là cấp độ cơ bản nhất mà một chính sách công cần phải đạt được. Các kế hoạch, hoạt động, lịch biểu, tiến độ và kết quả đạt được có phù hợp với kết quả dự kiến và mong đợi được xác định ngay từ trước khi thực hiện chính sách công không; một cách đơn giản là chính sách công có đạt được những gì mong đợi không.

Để xác định được thực chất thành công của chính sách công ở cấp độ này, đòi hỏi phải xây dựng được những chỉ số, tiêu chí mang tính đo lường đối với kết quả của chính sách công và phương pháp, kỹ thuật được áp dụng để đo lường kết quả.

Cấp độ 2: Chính sách công đạt hiệu quả

Ở mức cao hơn, hiệu quả quản lý chính sách công được xem xét dưới góc độ “việc quản lý thực thi chính sách công có tốt không, tốt đến mức độ nào”. Chính sách công có thể thành công ở cấp độ 1, tức là đạt được các mục tiêu, kết quả mong đợi, song lại không thành công ở mức độ 2 vì chưa tốt, còn lãng phí nguồn lực, hoặc kết quả không mang tính bền vững, hoặc giá trị từ kết quả của chính sách công chưa cao. Ví dụ chính sách cho các hộ nghèo vay để thực hiện chương trình xóa đói, giảm nghèo. Kết quả đạt được là số vốn cho vay, số các gia đình được vay như chỉ tiêu đề ra. Song nhiều hộ lại sử dụng tiền vay để tiêu dùng nên sau đó lại tái nghèo, như vậy, chính sách không hiệu quả.

Những câu hỏi thường dùng để đánh giá hiệu quả chính sách công:

Chính sách công đã được tổ chức thực hiện tốt chưa? Nếu thay đổi phương pháp tổ chức thực hiện hay cách thức quản lý thì kết quả chính sách công có thể tốt hơn không?

Nguồn lực sử dụng để thực hiện chính sách công đã được sử dụng hiệu quả chưa? Có thể áp dụng phương pháp hay kỹ thuật khác để làm cho việc sử dụng nguồn lực hiệu qủa hơn không. Nguồn lực cho chính sách công bao gồm: nhân lực, chi phí, cơ sở vật chất, trang thiết bị, thời gian. Hiệu quả về nguồn lực được đo lường bằng các tiêu chí đúng-vượt-phù hợp (đúng quy định, tiết kiệm, phù hợp, đúng tiến độ, vượt kế hoạch).

Việc quản trị rủi ro của chính sách công được thực hiện như thế nào? Bất kỳ chính sách công nào, khi tổ chức triển khai thực hiện đều có thể gặp những rủi ro, sự cố, hoặc những vấn đề phát sinh ngoài dự kiến. Những rủi ro này nếu không được kiểm soát, dự báo để có phương án phòng ngừa, sẽ là nguyên nhân gây thiệt hại, kém hiệu quả, hay tổn thất cho chính sách công.

  •  
  •  
  •  

Cấp độ 3: Lợi ích, giá trị, tác động đối với khách hàng, người sử dụng kết quả chính sách công hay nhà đầu tư.

Kết quả của chính sách công nhằm tạo ra những tác động, hay lợi ích cho nhà đầu tư, các nhóm khách hàng trực tiếp sử dụng. Họ có thật sự nhận được những lợi ích từ chính sách công không, hoặc ngược lại, liệu có những nguy cơ nào gây ảnh hưởng đến họ? Ví dụ, chính sách công “xóa đói giảm nghèo” có giúp cho những đối tượng thụ hưởng một cuộc sống tốt hơn không, họ có thật sự thoát nghèo một cách bền vững không, liệu sự thoát nghèo đó có gây ảnh hưởng, thiệt hại cho những lĩnh vực khác như môi trường, xã hội, văn hóa hay tương lai không?

Khách hàng có hài lòng và nhận được những lợi ích từ chính sách công không? Ví dụ, chính sách di dân để thực hiện các dự án năng lượng, đạt được các kết quả, chỉ tiêu đề ra; song lại không đạt được tính hiệu quả do người dân đến nơi ở mới thiếu điều kiện làm ăn, tạo dựng cuộc sống nên làm đời sống người dân lâm vào tình trạng khó khăn hơn.

Cấp độ 4: Những bài học từ chính sách công.

Kết quả của chính sách công có cho chúng ta bài học gì về thành công hay thất bại, về những vấn đề cần được giải quyết trong quá trình thực hiện chính sách công, có cho chúng ta những giá trị gì đối với những chính sách công trong tương lai, hoặc cho chúng ta những ý tưởng mới gì. Ví dụ, từ chính sách công “xóa đói giảm nghèo” chúng ta rút ra điều gì về “sự bền vững”, những yếu tố nào sẽ tạo ra tính bền vững hoặc ngược lại.

Tùy theo mục tiêu của chính sách công, việc xác định mức độ thành công sẽ được đánh giá khác nhau. Song thực tế cho thấy hầu như các chính sách công mới chỉ đánh giá mức độ thành công ở mức 1 và 2 mà ít đề cập đến mức 3 và 4. Điều này dễ dẫn đến sự ngộ nhận về thành công của chính sách công hoặc chỉ nhìn được tầm nhìn hẹp của chính sách công mà không nhìn được tầm bao quát, sức lan tỏa của chính sách công đối với các lĩnh vực liên quan hoặc với tương lai.

3.2. Quy trình phân tích chính sách công

3.2.1. Xác định mục đích, yêu cầu phân tích chính sách công

Bất kỳ một phân tích nào cũng có mục đích và yêu cầu.

- Mục đích phân tích chính sách gắn với yêu cầu cụ thể của nhà quản lý. Hay nói cách khác nhà quản lý luôn luôn chú ý tới mục tiêu của chính sách.

- Mục đích, yêu cầu phân tích là yếu tố có vai trò định hướng cho hoạt động phân tích. Vì vậy cần xác định mục tiêu phân tích.

- Để mục đích yêu cầu phân tích có tính hiện thực ngoài việc căn cứ vào nội dung phân tích còn phải căn cứ vào công tác thực tế của công tác phân tích.

3.2.2. Chuẩn bị cho công tác phân tích

Bao gồm các vấn đề sau:

- Để chủ thể phân tích chính sách chủ động thực hiện nội dung phân tích cần phải dự kiến xây dựng chương trình kế hoạch phân tích.

- Dự kiến chương trình kế hoạch phân tích chính sách được xây dựng trên cơ mục đích yêu cầu phân tích và môi trường tồn tại của chính sách.

- Chương trình, kế hoạch phân tích gồm các nội dung sau:

+ Kế hoạch tổ chức phân tích

+ Kế hoạch phối hợp triển khai thực hiện phân tích

+ Kế hoạch thu, xử lý, quản lý và sử dụng tài liệu

+ Kế hoạch cung ứng vật tư kỹ thuật tài chính cho phân tích

+ Kế hoạch kiểm tra giám sát hoạt động phân tích

- Các kế hoạch trên phải được xây dựng theo nguyên tắc, cân đối, hiệu quả và là kế hoạch động.

Thứ hai, thu thập tài liệu theo yêu cầu của nội dung phân tích. Tài liệu để phục vụ cho công tác phân tích chính sách rất đa dạng phong phú, mỗi nội dung phân tích đều cần những tài liệu khác nhau. Cùng một nội dung phân tích nhưng ở các cấp độ khác nhau thì tài liệu cũng khác nhau. Vì vậy cần năng động sáng tạo trong thu thập tài liệu.

- Tuy nhiên tài liệu cần cho phân tích phải đáp ứng yêu cầu:

+ Tài liệu thu thập phải đúng với nội dung phân tích

+ Tài liệu thu thập phải đủ theo yêu cầu phân tích

+ Tài liệu thu thập phải đảm bảo chính xác

- Các thông tin tài liệu về chính sách công thường được nằm trong các cơ quan nhà nước và thường được cung cấp qua kênh chính thức nên muốn thu thập được tài liệu và phải sử dụng nhiều phương pháp để thu thập thông tin: phương pháp phỏng vấn, điều tra xã hội, phương pháp thuyết phục.

Thứ ba, xử lý tài liệu thông tin

- Thông tin phục vụ cho công tác phân tích phải mang tính kiểm chứng cao. Vì vậy tài liệu thu được phải qua quá trình xử lý, bao gồm các bước:

+ Xử lý thô tài liệu, ở bước này tài liệu được phân theo tiêu chí lựa chọn, hoặc theo đơn vị đo lường.

+ Xử lý tinh tài liệu: tài liệu thô sẽ được tính toán điều chỉnh, bổ sung những thiếu sót để đảm bảo tính thống nhất, lôgic, khoa học.

+ Tổng hợp tài liệu thành những thông tin cần thiết theo yêu cầu phân tích. Bước này sẽ biến các tài liệu thu được từ các người khác nhau thành thông tin của quá trình phân tích, vì vậy bước này rất quan trọng.

3.2.3. Tiến hành phân tích chính sách công

Sau khi có đủ các yếu tố của đầu vào nhà phân tích tiến hành phân tích theo trình tự.

Thứ nhất, đánh giá khái quát về nội dung phân tích

Đánh giá khách quan nội dung phân tích nhằm làm cho nhà phân tích nắm các chính sách cần phân tích một cách tổng thể.

Thứ hai, phân tích các yếu tố cấu thành của nội dung phân tích

- Mỗi nội dung phân tích (mỗi chính sách đưa ra phân tích) đều gồm các yếu tố cấu thành: chủ thể điều hành, các điều kiện vật chất, kỹ thuật, tài chính, môi trường, đối tượng thụ hưởng chính sách v.v.. vì vậy mà phải phân tích tất cả yếu tố. Nếu xác định đúng vị trí của mỗi yếu tố cấu thành nội dung phân tích sẽ phát huy được tiềm năng của chúng trong thực hiện chính sách. Ngược lại sẽ làm hạn chế động lực của các yếu tố.

- Trong quá trình phân tích phải xem xét đánh giá các yếu tố cấu thành nội dung phân tích cả về chất lượng và số lượng để từ đó xây dựng hoàn thiện các chính sách cho phù hợp với yêu cầu.

Thứ ba, phải phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến chính sách.

- Nội dung chính sách cần phân tích chịu sự tác động của nhiều nhân tố. Vì vậy phải làm rõ các nhân tố ảnh hưởng tới nội dung phân tích như thế nào?

Thứ tư, kết luận về công tác phân tích.

- Kết luận phải thể hiện thực trạng về nội dung phân tích về xu thế vận động của nội dung phân tích (chính sách đưa ra phân tích).

- Những kết luận này là cơ sở để sửa đổi bổ sung điều chỉnh nội dung phân tích.

Thứ năm, đề xuất các biện pháp tăng cường, hoặc hoàn thiện nội dung phân tích.

Trên cơ sở những hạn chế của nội dung phân tích, chủ thể phân tích đề xuất các biện pháp sửa đổi bổ sung hoàn thiện nội dung phân tích.

Chú ý: Các biện pháp đề xuất phải phù hợp yêu cầu của công tác quản lý.

Thứ sáu, kiểm định và điều chỉnh kết quả phân tích

- Kết quả phân tích là cơ sở để đề ra chính sách mới, hoặc sửa đổi chính sách, vì vậy phải khẳng định chặt chẽ.

- Kiểm định có thể qua phương pháp phân tích nhanh hoặc qua các máy móc thiết bị phương tiện hiện đại.

- Qua kiểm định cho phép điều chỉnh chính sách.

- Qua kiểm định sẽ cho phép kết luận mức độ hình thành của công tác phân tích.

Thứ bảy: Lập báo cáo phân tích.

- Báo cáo phân tích là bản tổng hợp kết quả phân tích chính sách một cách khoa học.

- Tùy theo yêu cầu quản lý mà báo cáo phân tích được lập cho toàn bộ quá trình phân tích hoặc từng bước, từng giai đoạn phân tích.

- Báo cáo phân tích được xây dựng theo mẫu của Nhà nước ban hành.

- Tùy theo yêu cầu của từng cơ quan quản lý mà có các loại báo cáo.

+ Báo cáo hàng tháng, hàng quý, nửa năm và một năm.

+ Báo cáo đột xuất về những biến cố trong thực hiện chính sách.

+ Báo cáo chuyên đề phục vụ nghiên cứu khoa học, phục vụ hoạt động quản lý. Bản báo cáo là cơ sở quan trọng cho việc sửa đổi bổ sung chính sách.

3.2.4. Sử dụng kết quả phân tích, đánh giá chính sách

- Kết quả phân tích được lập thành văn bản để sử dụng trong suốt quá trình quản lý điều hành chính sách.

- Kết quả phân tích được sử dụng để làm căn cứ điều chỉnh bổ sung chính sách, đánh giá hiệu quả chính sách hoặc để kiểm chứng các hoạt động quản lý nhà nước.

- Việc sử dụng, bảo quản kết quả phân tích theo quy định của Nhà nước.

- Trong quá trình bảo quản nếu phát hiện có sai lệch thì phải điều chỉnh.

Quy trình phân tích chính sách tạo thành một hệ thống thống nhất. Các bước trong quy trình có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Nên kết quả phân tích mang tính khoa học và có độ tin cậy cao.

IV. TIÊU CHÍ VÀ PHƯƠNG PHÁP PHÂN TÍCH CHÍNH SÁCH CÔNG

4.1. Tiêu chí phân tích chính sách công

4.1.1. Khái niệm

* Khái niệm tiêu chí

Tiêu chí trong phân tích chính sách là các chuẩn mực để các nhà phân tích dựa vào đó phân tích, đánh giá và lựa chọn các phương án chính sách khác nhau như sự bình đẳng, tính công bằng, tính hiệu quả… Nói cách khác, đó là hệ giá trị được các nhà phân tích sử dụng để làm cơ sở định hướng cho quá trình xây dựng và lựa chọn các phương án chính sách.

Có một sự biến đổi từ mục đích, mục tiêu đến tiêu chí và các công cụ đo lường.

Đây là quá trình chuyển đổi từ trừu tượng và mang tính định hướng sang cụ thể mang tính chỉ dẫn

Mục đích là tuyên bố khái quát về những gì chính sách mong muốn đạt được trong một khoảng thời gian dài.

Các mục tiêu là những tuyên bố cụ thể, có thể đo lường được về những cái gì chính sách mong muốn đạt được vào một thời điểm nhất định.

Tiêu chí là các tiêu chuẩn để đánh giá các chính sách lựa chọn.

Công cụ đo lường là để cụ thể hoá các tiêu chí . Mỗi một tiêu chí có thể được đo lường bằng nhiều công cụ khác nhau. Các công cụ đo lường giúp cho các nhà phân tích có thể so sánh cùng một vấn đề chính sách ở các khoảng thời gian và không gian khác nhau, có thể so sánh các chính sách lựa chọn đã thỏa mãn các tiêu chí đề ra đến mức nào.

* Khi thiết lập các tiêu chí cần đáp ứng các yêu cầu sau đây:

- Tiêu chí phải rõ ràng. Tiêu chí có rõ ràng thì việc so sánh mới mới đảm bảo sự chính xác, nhất là đối với các nội dung phân tích định lượng;

- Tiêu chí phải nhất quán thì mới có thể điều hòa được những giá trị khác nhau.

- Tiêu chí phải đảm bảo tính khái quát thì mới có thể so sánh hàng loạt các chính sách lựa chọn

- Tiêu chí phải cung cấp đầy đủ thông tin, đặc biệt là thông tin quan trọng và những thông tin mà không thể có được bằng các công cụ khác.

- Tiêu chí phải đảm bảo tính hợp pháp, tính thời điểm, dễ thực hiện và không tốn kém.

4.1.2. Các loại tiêu chí phân tích chính sách

Tiêu chí kỹ thuật

Tiêu chí chính trị

Tiêu chí tài chính - kinh tế

Tiêu chí về năng lực tác nghiệp hành chính

- Tiêu chí Kỹ thuật: Nhóm tiêu chí này sẽ xác định, tính toán xem liệu chính sách lựa chọn có đạt được kết quả đầu ra về mặt kỹ thuật như mong muốn không? Một cây cầu sẽ xây dựng liệu có đảm nhiệm được khối lượng giao thông mà nó dự định không? Liệu nguồn nước ô nhiễm ở một con sông nào đó có được khắc phục đến một mức độ chất lượng cho phép không? Liệu các phương tiện giao thông có đạt được tỉ lệ tối thiểu về số lượng xăng tiêu thụ cho 100 km? Mặc dù các tiêu chí này có vẻ như rất dễ thực hiện, song việc đánh giá nó lại thường là một quá trình phức tạp.

- Tiêu chí chính trị: Nhóm này sẽ đo lường kết quả của chính sách bằng chính những ảnh hưởng của các nhóm đối tượng có liên quan đến chính sách, ví dụ như các nhà hoạch định chính sách, các công chức hành chính, các nhóm cộng đồng dân cư, các tổ chức chính trị- xã hội. Câu hỏi trọng tâm dành cho nhóm tiêu chí này là liệu một hoặc một số các chính sách lựa chọn có được các nhóm đối tượng có liên quan chấp nhận không? Các công cụ đo lường trong nhóm tiêu chí này thường là các ý kiến chủ quan và ít mang tính định lượng. Mức độ hiểu biết sâu sắc về chính trị, về tổ chức, về các thủ tục hành chính, và những kiến thức về các động cơ thúc đẩy các nhóm đối tượng chấp nhận vấn đề có thể được sử dụng trong nhóm tiêu chí này.

- Tiêu chí tài chính - kinh tế: Nhóm này sẽ đo lường những chi phí và sau đó là những lợi ích mà chính sách lựa chọn sẽ mang lại. Lợi ích có thể là trực tiếp hoặc gián tiếp, có thể là lợi ích trước mắt hoặc lợi ích lâu dài, có thể định lượng được hoặc không định lượng. Các chính sách có thể đem lại các chỉ số tài chính như tổng thu nhập hoặc tổng số nợ, hoặc những chỉ số kinh tế như sự ảnh hưởng đến kinh tế của một vùng địa lý. Rất nhiều các chính sách có ảnh hưởng cả về kinh tế và tài chính và vì thế cần phải sử dụng cả hai loại tiêu chí này để đánh giá.

- Tiêu chí về năng lực tác nghiệp hành chính: Nhóm tiêu chí này sẽ đo lường khả năng thực hiện chính sách lựa chọn trong thực tế sẽ như thế nào về phương diện hành chính. Liệu rằng có đủ nhân viên để triển khai thực hiện chính sách không? Liệu có được sự phối hợp đồng bộ trong việc cung cấp các dịch vụ không? Liệu có đủ các điều kiện vật chất cần thiết để thực hiện chính sách không? Liệu nó có thể được thực hiện đúng thời hạn không?

4.2. Phương pháp phân tích chính sách công

4.2.1. Căn cứ lựa chọn phương pháp phân tích

Căn cứ vào mục đích của từng loại hoạt động phân tích: Phân tích hàn lâm (nghiên cứu), phân tích nhân quả, phân tích báo chí, phân tích chính sách chuyên nghiệp…

Căn cứ vào quá trình chính sách:

  •  
  •  

+ Trước khi thực hiện chính sách: để dự đoán các kết quả đầu ra của các chính sách thay thế, để lựa chọn chính sách tốt nhất => có thể chọn các phương pháp như phân tích dự báo, phân tích lợi ích – chi phí, thực nghiệm, đa mục tiêu…

+ Sau khi thực hiện chính sách: để mô tả và đánh giá kết quả thực hiện chính sách, xem các chính sách có được thực hiện đúng như thiết kế hay không, nếu có sự khác biệt thì tìm nguyên nhân cho sự khác biệt đó.

+ Trong khi thực hiện chính sách: phân tích để mô tả và đánh giá chính sách sau khi nó vừa được đưa vào thực hiện trong một khoảng thời gian ngắn nhằm mục đích để nâng cao tính thực thi trong giai đoạn tiếp theo.

Yêu cầu của khách hàng,

Giới hạn thời gian cho phép,

Quan điểm và kiến thức chuyên môn mà họ được đào tạo,

Tính phức tạp và đa dạng của vấn đề,

Nguồn tài chính

Nguồn thông tin đã có

4.2.2. Một số phương pháp phân tích

- Phương pháp phân tích theo mô hình

+ Phương pháp đồ thị

+ Phương pháp bảng biểu

- Phương pháp phân tích chi phí-lợi ích

- Phương pháp phân tích quyết định

- Phương pháp phân tích hệ thống

4.3. Một số công cụ/kỹ thuật phân tích

 Để phân tích và đánh giá chính sách công, người ta có thể sử dụng nhiều công cụ khác nhau như:

- RIA: Đánh giá dự báo tác động pháp luật (Regulatory Impact Assessment-RIA) là phương pháp đánh giá những tác động có thể xảy ra từ sự thay đổi chính sách hoặc pháp luật, được thực hiện trong quá trình làm luật, sửa đổi bổ sung các qui định pháp luật hoặc ban hành chính sách mới. Nó nghiên cứu, phân tích, đánh giá các giải pháp, lựa chọn chính sách, cung cấp cho các cơ quan có thẩm quyền để họ có thể lựa chọn được giải pháp tốt nhất.

       Một bản RIA tổng thể cần đánh giá tác động của dự luật, chi phí đặt trong mối tương quan với lợi ích của dự luật có thể mang lại. RIA đánh giá tác động trực tiếp và gián tiếp về kinh tế, xã hội, môi trường; các tác động có thể đến các quyền cơ bản của con người; tác động đến nhóm, tầng lớp xã hội khác nhau; đến tình trạng bình đẳng trong xã hội,...

       RIA cũng đánh giá các chi phí do việc ban hành văn bản gây ra. Đó là các chi phí khu vực Nhà nước soạn thảo, chi phí giám sát và thực thi, chi phí đào tạo nhân lực,…; chi phí tuân thủ qui định đã ban hành thuộc khu vực tư nhân; chi phí hành chính là các chi phí liên quan đến hồ sơ giấy tờ, chi phí hoàn thành các hồ sơ giấy tờ đó,…

       RIA còn đánh giá lợi ích của việc ban hành văn bản, có thể được lượng hóa như số động, thực vật gia tăng, tăng tuổi thọ, giảm tội phạm,…Cũng có dạng lợi ích không lượng hóa được như tăng công bằng xã hội, cải thiện chuẩn mực đạo đức,…

       Thực tế cho thấy nếu làm tốt RIA sẽ nâng cao hiệu quả chi phí của các quyết định liên quan đến quản lý nhà nước; qua đó giảm được số các qui định chất lượng thấp và không cần thiết. Tài liệu cho biết ở Hàn quốc năm đầu tiên làm RIA 25% dự thảo đã bị bác bỏ.

        Một báo cáo RIA thường trải qua 6 bước cơ bản:

Bước một, nhận diện vấn đề: Các nhà hoạch định chính sách phải nhận diện được vấn đề cần có sự can thiệp chính sách và xác định rõ chính phủ có nên can thiệp hay không. Đồng thời, giai đoạn này cũng xác định các mục tiêu chính sách.

Bước hai, xây dựng phương án chính sách: Tập trung vào việc xây dựng các phương án chính sách nhằm giải quyết vấn đề đã được nhận diện. Trong giai đoạn này, nhà hoạch định chính sách sẽ tổ chức các buổi thảo luận và ước tính sơ bộ những chi phí và lợi ích của từng phương án chính sách. Điều này sẽ bước đầu giúp nhà hoạch định chính sách xác định được phương án nào tối ưu nhất về phương diện kinh tế, xã hội cũng như môi trường, đồng thời có tác động tiêu cực nhỏ nhất.

Bước ba, tiến hành tham vấn (càng rộng càng tốt) với các bên liên quan: Nhằm đi đến phương án tối ưu nhất, với sự ưu tiên nhất định với phương án được xác định trong giai đoạn 2. Mỗi phương án được đưa ra tham vấn gắn với những phương án tính toán chi phí và lợi ích cụ thể.

Bước bốn, hoàn thiện báo cáo RIA: Trong đó tập trung cụ thể và chi tiết hóa các chi phí và lợi ích của phương án được lựa chọn. Sau đó, báo cáo này được nộp cho Chính phủ (hoặc các cơ quan hữu quan khác) để phê duyệt và làm căn cứ xây dựng/điều chỉnh chính sách.

Bước năm, triển khai thực hiện chính sách vào thực tế.

Cuối cùng, nhà hoạch định chính sách tiếp tục triển khai đánh giá khi chính sách đã đi vào thực hiện. Nếu đánh giá cho thấy cần phải có sự điều chỉnh chính sách, một chu kỳ RIA mới sẽ được thực hiện.

- CBA:  Phân tích chi phí và lợi ích (cost & benefit analysis - CBA):

Theo Frances Perkins (1994): CBA là phân tích mở rộng của phân tích tài chính, được sử dụng chủ yếu bởi các chính phủ và cơ quan quốc tế để xem xét một dự án hay chính sách có làm tăng phúc lợi cộng đồng hay không. Boardman  (2001) cũng giải thích: CBA là một phương pháp đánh giá chính sách, trong đó giá trị của tất cả các kết quả chính sách đối với mọi thành viên trong xã hội nói chung được lượng hóa bằng tiền. Lợi ích xã hội ròng là thước đo giá trị của chính sách.

 Như vậy, có thể hiểu CBA là một phương pháp thường được  tiến  hành trong quá trình ra quyết định nên chấp nhận hay loại bỏ một chính sách kinh tế - xã hội dựa trên tính hiệu quả của nó, hoặc quyết định lựa chọn giữa hai hay nhiều các chính sách có tính chất loại trừ lẫn nhau, ví dụ: Do ngân sách bị hạn chế, một địa phương có thể chỉ được chọn một trong hai chính  sách: Hoặc miễn phí khám chữa bệnh cho trẻ em dưới 6 tuổi, hoặc miễn toàn bộ học phí cho trẻ em dưới 12 tuổi đang học tại các trường công lập tại địa phương; đây là hai chính sách loại trừ nhau.

   Có hai lý do để sử dụng CBA: Một là, CBA  giúp người phân tích hiểu rõ hơn về chính sách; hai  là, CBA sẽ giúp cho việc người ra quyết định có thêm cơ sở để lựa chọn, cải thiện hiệu quả của sự  phân bổ nguồn lực, cụ thể là nó cho biết sự can thiệp của chính quyền có đem lại hiệu quả xã hội lớn hơn hay không.

Với phương pháp CBA, người ta sẽ tìm cách xác định giá trị bằng tiền cho mỗi một đầu vào cũng như đầu ra của chính sách. Sau đó so sánh các giá trị của các đầu vào và các đầu ra, nếu lợi ích mà chính sách đem lại có giá trị lớn hơn chi  phí mà nó tiêu tốn, chính sách đó sẽ được coi là đáng giá và nên được triển khai.

          CBA là nội dung trọng tâm của một đánh giá dự báo tác động pháp luật (RIA) với 5 bước đi cụ thể: (1) Nhận diện nhóm hưởng lợi và nhóm thiệt hại; (2) Mô tả chi tiết các chi phí và lợi ích; (3) Lượng hóa các chi phí và lợi ích; (4) Đánh giá cụ thể các chi phí và lợi ích; và (5) Tiền tệ hóa các chi phí và lợi ích.

NPV = PVli – PVcp

NPV (Net present value): Hiện giá thuần, PVli: Tổng hiện giá lợi ích, PVcp: Tổng hiện giá chi phí. Chọn phương án (giải pháp) nào có NPV > 0 và có giá trị lớn nhất.

     Nhiều nước đã áp dụng mô hình đánh giá chi phí-lợi ích đối với Chính sách, pháp luật chuẩn bị ban hành; chính phủ New Zealand còn xuất bản tài liệu để hướng dẫn đánh giá.

        Trong một số trường hợp khi lợi ích không thể tiền tệ hóa, có thể sử dụng phương pháp phân tích Chi phí - Hiệu quả (Cost Effectiveness Analysis: CEA) – tức là bao nhiêu chi phí bỏ ra để đạt được hiệu quả như mong muốn.

- Đánh giá chi phí tuân thủ:

        Chi phí tuân thủ bao gồm các chi phí hành chính, giấy tờ, mua sắm thiết bị cũng như các chi phí khó nhận thấy như chi phí liên quan đến việc nắm bắt các qui định mới (nghiên cứu, phần mềm, thuê dịch vụ pháp lý, tập huấn nhân viên, chi phí do rủi ro phải chịu trách nhiệm pháp lý,…).

        Chi phí này đặt trong sự phân tích CBA đã nêu, làm thế nào để NPV đạt được lớn nhất. Chi phí tuân thủ nếu cao quá sẽ ảnh hưởng đến tăng trưởng, tác động đến người tiêu dùng, giảm tính cạnh tranh của doanh nghiệp và nền kinh tế và cuối cùng khiến cho đối tượng điều chỉnh của Chính sách không muốn tuân thủ tức là không đạt được mục tiêu của Chính sách. Do đó đánh giá chi phí tuân thủ để tìm giải pháp đưa ra chi phí hợp lý. Mô hình chi phí tuân thủ chuẩn (Standard Cost Model-SCM) của Hà Lan đã được áp dụng ở Châu Âu, Úc và New Zealand.

- Phân tích rủi ro: Rủi ro là xác suất của một tác động ngược có thể xảy ra trong một khoảng thời gian nhất định.

      Việc xác định và đánh giá rủi ro là không hề đơn giản, thường dựa trên dữ liệu, giả thuyết khoa học và thuật toán để đánh giá xác suất, tần suất, mức độ gây hại đối với xã hội, thiên nhiên và con người.

       Tuy nhiên việc áp dụng các công cụ phân tích Chính sách đối với dự thảo văn bản pháp luật cũng có thể gặp phải những rủi ro như:

        Trong phân tích Chính sách đã bỏ rơi những nhóm người ít có điều kiện tham gia và làm lợi cho những nhóm khác có điều kiện tác động lên Chính sách quốc gia.

         Vì lợi ích riêng có thể phản đối sự phân tích về kinh tế.

         Những khó khăn về kỹ thuật ảnh hưởng đến việc phân tích Chính sách. Ví dụ khi phân tích chi phí-lợi ích rất khó đánh giá những chi phí vô hình hoặc đoán định những hành vi tuân thủ qui định; khó định lượng những chi phí do qui định mới gây ra như giảm năng suất, giảm động lực làm việc; khó đánh giá những chỉ tiêu như sức khỏe tốt, cuộc sống tốt,...Để đánh giá đòi hỏi rất nhiều thời gian, nguồn lực, dữ liệu.  

- Ma trận:   Có thể sử dụng ma trận gồm nhiều hàng, cột (tùy chọn) để thực hiện bình chọn ưu tiên (priority): Vấn đề Chính sách, mục tiêu Chính sách, tác động của Chính sách, phân hóa xã hội, phản ứng xã hội, yêu cầu sửa đổi,…có thể đánh giá qua định lượng bằng cách cho điểm từ 1 đến 5 (từ thấp đến cao) hoặc bằng định tính từ không quan trọng đến rất quan trọng,…Ưu tiên chọn qua tổng đánh giá định lượng hoặc định tính từ trên xuống ở ma trận đã thực hiện.

Ví dụ: Trong sơ đồ Cartesian, chúng ta có 2 trục:

trục dọc thể hiện những gì chúng ta đang có (nửa phía trên) và những gì chúng ta không có (nửa phía dưới);

trục ngang là những gì chúng ta muốn (nửa bên phải) và những gì chúng ta không muốn (nửa bên trái). Ở trục ngang, Bên phải là những gì chúng ta muốn, bên trái là những gì chúng ta không muốn.

  •  
  •  

Đặt những câu trả lời lên bảng này, sẽ giúp chúng ta xác định được những vấn đề ưu tiên.

Hoặc ma trân SWOT:

Ma trận SWOT

Cơ hội (Opportunity)

 

Thách thức (Threat)

Mặt mạnh (Strength) -

 

Phối hợp mạnh-cơ hội (S/O)

Phát huy mặt mạnh để tận dụng, khai thác cơ hội

Phối hợp mạnh-thách thức (S/T)

Phát huy mặt mạnh để phòng ngừa, hạn chế thách thức hoặc biến thách thức thành cơ hội

Mặt yếu (Weakness)


 


 


 

 

Phối hợp mặt yếu-cơ hội (W/O)

Tận dụng cơ hội, giảm thiểu, cải tiến, sửa chữa, khắc phục mặt yếu

 

Phối hợp mặt yếu-thách thức (W/T)

Cố gắng giảm thiểu mặt yếu, tránh nguy cơ

 

- Kỹ thuật sơ đồ xương cá.

- Kỹ thuật dựng cây vấn đề.

1 William Jenkin: Phân tích chính sách công: triển vọng tổ chức và chính trị, London – Martin Robertson, 1978, trang 175.

2 Thomas R.Dye:Tìm hiểu chính sách công, Prentice Hall, New Jersey, xuất bản lần thứ 5, 1984, trang 1.

3 B. Guy Peter: Chính sách công ở Mỹ, Chatham House, xuất bản lần thứ 2, 1990, trang 6.

4 Từ điển bách khoa Việt Nam, NXB Khoa học xã hội, hà Nội, 1995, trang 475.

 

49