DMCA.com Protection Status

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA GIÁO DỤC HƯỚNG NGHIỆP QUA THAM VẤN NGHỀ Ở TRUNG HỌC PHỔ THÔNG  quan tâm

Được viết bởi: Trần Việt Thao

Cập nhật lúc 09:56 ngày 25/01/2018

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA GIÁO DỤC HƯỚNG NGHIỆP QUA THAM VẤN NGHỀ Ở TRUNG HỌC PHỔ THÔNG( Theo nguồn:: http://www.vnies.edu.vn/upload/Boiduong/truongthihoa.pdf )

1.1. LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ

1.1.1. Nghiên cứu trên thế giới

1.1.1.1. Nghiên cứu về GDHN Năm 1848, ở Pháp xuất bản cuốn “Hướng dẫn chọn nghề” đầu tiên. Nội dung cuốn sách đề cập tới vấn đề phát triển đa dạng của nghề nghiệp do sự phát triển công nghiệp và việc nhất thiết phải giúp đỡ thanh niên trong sự lựa chọn nghề nghiệp [68]. Năm 1909, Frank Parsons bàn đến hướng nghiệp cho HS cần phải dựa trên năng lực, năng khiếu, hứng thú, sở thích của cá nhân [105]; Từ năm 1918 đến 1939, N.K.Krupskaia có nhiều bài viết khẳng định hiệu quả lao động phần lớn phụ thuộc vào sự phù hợp của con người đối với nghề nghiệp [1] . Các công trình nghiên cứu đề cập đến các hình thức, phương thức hướng nghiệp trong nhà trường bao gồm: - Năm 1986, các tác giả H.Frankiewiez; Bernd Rothe; U.Viets; B.Germer, D. Marschneider đã đưa ra các phương thức: “Phối hợp, cộng tác chặt chẽ giữa trung tâm giáo dục kĩ thuật tổng hợp và các trường phổ thông trong việc lập kế hoạch thực tập cho HS THPT” [57]; - Các tác giả R.Oberliesen, H.Keim, M.Schumann, G.Duismann đã có những công trình nghiên cứu về phương thức tổ chức cho HS phổ thông thực tập ở các nhà máy, xí nghiệp, các cơ sở kinh doanh, dịch vụ, họ đã khẳng định: “Hoạt động dạy học, lao động – kĩ thuật – kinh tế không chỉ mang tính quan trọng đối với các môn khoa học khác, mà còn là bộ phận cấu thành cơ bản của giáo dục THPT… bởi vì nó đã tạo điều kiện cho HS phát triển thành những con người trưởng thành trong cuộc sống lao động – xã hội” [44]. - Năm 1996, tác giả Schmidt, J.J [111] và năm 1998, Roger D. Herring [108] khuyến khích các GV phối hợp định hướng nghề cho HS thông qua những bài giảng hàng ngày trên lớp; Tổ chức hoạt động tập thể hoặc các sự kiện đặc biệt như đi dã ngoại, lựa chọn sách, phim, clip, và các phương tiện đại chúng khác. Với HS trung học, có nhiều chương trình sự kiện đặc biệt về nghề sẽ giúp HS hiểu được mối 11 tương tác giữa những trải nghiệm của bản thân với những ước mơ, khát vọng thành công trong tương lai. Các tác giả này đã khái quát mục tiêu hướng nghiệp cho từng cấp học và những cách thức để tiến hành những mục tiêu đó, đồng thời chỉ ra mối quan hệ giữa định hướng nghề và tham vấn nghề, các thành phần tạo nên mô hình GDHN hiệu quả. Các tác giả Morgan và Hart (1977) nhấn mạnh vai trò của GDHN trong nhà trường đã khẳng định GDHN trong nhà trường cần phải khuyến khích HS suy nghĩ về bản thân mình và về thế giới công việc; yêu cầu HS cần có kiến thức, hiểu biết và kĩ năng trong quá trình chọn nghề trước khi đưa ra quyết định nghề nghiệp thông minh [trích theo 98]. Như vậy: Hướng nghiệp và GDHN đã xuất hiện từ rất lâu trên thế giới, các công trình nghiên cứu về hướng nghiệp, GDHN đều khẳng định vai trò của hướng nghiệp đối với thanh niên, HS Là giúp các em chọn được nghề phù hợp với năng lực, sở thích, hứng thú, khuyến khích kết hợp hướng nghiệp trong nhà trường với lao động sản xuất, tham quan, thực tập ở các nhà máy, xí nghiệp nhằm nâng cao nhận thức của HS về nghề.

1.1.1.2. Nghiên cứu về tham vấn nghề Tham vấn nghề đã xuất hiện ở các nước trên thế giới vào cuối thế kỉ 19 và đầu những năm đầu của thế kỉ 20. Từ đó đến nay đã có rất nhiều nhà khoa học quan tâm nghiên cứu. Trên thế giới, các công trình nghiên cứu chủ yếu đề cập đến tham vấn nghề cho sinh viên tốt nghiệp đi tìm việc làm, những người lớn thất nghiệp và những người gặp khó khăn trong quá trình làm việc. Do vậy, chúng tôi khái quát thành 2 khía cạnh nghiên cứu sau đây: * Nghiên cứu về tham vấn nghề cho đối tượng ngoài nhà trường phổ thông Trong các nghiên cứu này đã chỉ ra các đối tượng tham vấn là những người đang thất nghiệp, những người gặp khó khăn trong công việc, những người muốn thay đổi công việc và những sinh viên đi tìm việc làm. Từ năm 1987 đến năm 2011: Các tác giả Elizabeth B. Yost; M. Anne Corbishley (1987) [80]; Lynda Ali và Barbara Graham (1996) [93]; Gysbers N.C., Heppner. M.J. và Johnston J.A (1998) [85]; Robert Lee Metcalf (1999) [107]; Isaacson, L.E, & Brown, D (2000) [89]; Migel Jayasinghe (2001) [98]; UNESCO (2002) [113]; James P. Sampson, JR. Robert C. Readon, Gary W. Peterson, Janet G. 12 Lenz (2004) [90]; Mary McMahon và Wendy Patton (2006) [97]; Nathan, R và Hill, L. (2006) [100]; Ramesh Chatuverdi (2007) [106]; Norman C. Gysbers, Mary J. Heppner, Joseph A. Johnston (2009) [91]; David Capuzzi, Mark D. Stauffer (2011) [79], đã chỉ ra: - Mục tiêu của tham vấn nghề là nhằm trợ giúp cho thân chủ tìm được một công việc phù hợp với bản thân. - Các nội dung tham vấn bao gồm: + Nghiên cứu những đặc điểm của thân chủ như: Năng lực, sở thích, giá trị, hứng thú, năng khiếu và những yếu tố ảnh hưởng đến sự lựa chọn nghề của thân chủ: Giáo dục, gia đình, xã hội, thái độ, cảm xúc, sự hài lòng. Bên cạnh đó nhà tham vấn hướng dẫn thân chủ tự khám phá và hiểu được chính bản thân mình. + Cung cấp thông tin về nghề, bức tranh việc làm của xã hội cho thân chủ và hướng dẫn thân chủ tìm kiếm thông tin, phân tích thông tin và lựa chọn thông tin về nghề, về các công việc trong xã hội + Hướng dẫn thân chủ ra quyết định và hình thành những kĩ năng ra quyết định cho thân chủ, giúp cho thân chủ đưa ra được quyết định phù hợp nhất + Hướng dẫn thân chủ xác định mục tiêu và lập kế hoạch nghề nghiệp tương lai - Các giai đoạn và các bước thực hiện tham vấn nghề - Những yêu cầu, nhiệm vụ của một nhà tham vấn nghề và các khả năng, kĩ năng và phẩm chất cần có của nhà tham vấn. Các công trình nghiên cứu trên đã chỉ ra mục tiêu, nội dung, quy trình tham vấn nghề cũng như những yêu cầu về phẩm chất, kĩ năng của nhà tham vấn nghề. Nghiên cứu các đặc điểm của thân chủ trong quá trình tham vấn nghề có các công trình nghiên cứu Wendy Patton và Mary Mc Mahon (2006) [116]; Mark Pope [94] [95], Norman C. Gysbers [101]; Roger D. Herring [98]; Ginzberg, Ginsburg, Axelrad và Herma [83]; Crites [78]; Bordin; Dawis và Lofquyst, Brown [77]; Zunker [114]; Roe, A [80]; Holland [87] họ nhấn mạnh sự phù hợp giữa đặc điểm của cá nhân với nghề và với môi trường trong quá trình chọn nghề. Các tác giả này cho rằng mỗi nghề đều đòi hỏi sự tương ứng với năng lực, kĩ năng của mỗi cá nhân. Đây chính là những cơ sở để nhà tham vấn hướng dẫn thân chủ lựa so sánh, đối chiếu bản thân với những yêu cầu của nghề, công việc. 13 Nghiên cứu quá trình ra quyết định chọn nghề của cá nhân có thể kể đến các tác giả Krumboltz, Mitchell và Gellat (1975) [92]; Eugene Joseph Martinez (1980) [81]; L. S Gottfredson (1981) [84]; Gideon Arulmani và Sonali Nag Armani (2004) [82] các nghiên cứu này đã khẳng định rằng quyết định chọn nghề không phải là đưa ra một sự lựa chọn mà là cả một quá trình, quá trình này có nhiều yếu tố ảnh hưởng và đòi hỏi cần phải có những kĩ năng để ra quyết định: như kĩ năng hiểu bản thân, kĩ năng lựa chọn và phân tích thông tin,… Tập trung nghiên cứu các bước, các giai đoạn của quá trình tham vấn nghề, có các công trình sau: - Tiếp cận từ phía nhà tham vấn: Năm 1965, tác giả Willi iamson nghiên cứu và đưa ra 6 bước trong tham vấn: 1. Phân tích vấn đề; 2. Tổng hợp vấn đề; 3. Dự đoán những tình huống xảy ra; 4. Chẩn đoán những hành vi, suy nghĩ của thân chủ; 5. Tham vấn cho thân chủ; 6. Theo dõi việc thực hiện kế hoạch của thân chủ [trích theo 91]. Bên cạnh đó tác giả nhấn mạnh đến khó khăn của thân chủ trong quá trình chọn nghề, đó là: Không có lựa chọn, lựa chọn không chắc chắn, lựa chọn không đúng, hoặc sự đối lập giữa năng lực và sở thích [trích theo 114]. Năm 2005, tác giả Winslade cho rằng buổi tham vấn nghề nên trải qua những bước sau: 1. Thiết lập mối quan hệ, xây dựng lòng tin, phát hiện vấn đề và dẫn dắt thân chủ đến với quá trình tham vấn; 2. Phát triển cuộc trò chuyện, phân tích vấn đề và xác định từng vấn đề trong cuộc trò chuyện; 3. Kết nối, liên hệ những ý kiến suy luận từ câu chuyện được kể từ thân chủ; 4. Nhận ra nỗ lực của thân chủ trong việc cố kháng cự lại những suy luận trên; 5. Tìm hiểu kỹ hơn khách hàng, đưa ra những suy luận khác; 6. Phát triển những suy nghĩ, mối quan hệ trong các buổi trò chuyện để đưa ra những phán quyết đúng đắn [trích theo 91]. - Tiếp cận ở cả phía nhà tham vấn và thân chủ tác giả Walsh (1990) đã xác định 7 giai đoạn trong tham vấn nghề bao gồm: Giai đoạn 1: Phỏng vấn; Giai đoạn 2: Xác định các yếu tố ảnh hưởng; Giai đoạn 3: Tự đánh giá bản thân; Giai đoạn 4: Xác định và giải quyết vấn đề; Giai đoạn 5: Đưa ra những phương án nghề nghiệp khác nhau; Giai đoạn 6: Khẳng định, khám phá và quyết định; Giai đoạn 7: Theo dõi [115]. * Nghiên cứu tham vấn nghề cho HS trong nhà trường phổ thông 14 Các tác giả Schmidt, J.J, (1996) [111]; Roger D. Herring (1998) [108]; Vernon G.Zunker (2002) [114] đã nghiên cứu về tham vấn nghề cho HS ở trường phổ thông. Các nghiên cứu này tập trung ở các vấn đề sau đây: - Xác định vai trò của tham vấn viên trong việc định hướng nghề và tham vấn nghề. Họ khẳng định: Tham vấn viên giống như một nhà nghiên cứu hành vi ứng xử; tham vấn viên ở trường là tác nhân thay đổi; tham vấn viên được coi như một kỹ thuật viên. - Xác định mục tiêu, hình thức, phương pháp định hướng nghề và tham vấn nghề cho HS từ cấp tiểu học đến THPT - Cung cấp những dịch vụ nghề nghiệp cho HS - Xác định các tiêu chí đánh giá, phương pháp đánh giá, nội dung đánh giá kiến thức, kĩ năng, khả năng, và các mục đích khác của chương trình GDHN và tham vấn nghề trong trường phổ thông. Trong nghiên cứu của mình tác giả Roger D. Herring: đã xác định được những khó khăn của HS trong quá trình chọn nghề đó là: Không lựa chọn được nghề, không nhận thức rõ ràng khả năng, sở thích và giá trị, quan niệm của bản thân phù hợp với nghề nào. Như vậy: Nghiên cứu về tham vấn nghề không phải là vấn đề mới mà đã được các nhà khoa học đề cập từ rất sớm. Các kết quả nghiên cứu trên đây cho thấy tham vấn nghề đã có một hệ thống lí luận làm cơ sở cho việc phát triển lí luận về hoạt động này trong GDHN ở Việt Nam. 1.1.2. Nghiên cứu ở Việt Nam 1.1.2.1. Nghiên cứu về GDHN Những năm 60 của thế kỉ XX, ở Việt Nam, lí luận và thực tiễn hướng nghiệp được bắt đầu phát triển chủ yếu dựa trên cơ sở lí luận và kinh nghiệm thực tiễn hướng nghiệp của Liên Xô (cũ). Thời kì đầu, quan niệm hướng nghiệp đi đôi với giáo dục lao động, để định hướng nghề nghiệp cho HS trước hết cần giáo dục cho HS thái độ sẵn sàng bước vào các hoạt động nghề nghiệp. Quan điểm này thể hiện rõ trong cuốn “Một số vấn đề giáo dục lao động” [17]. Đến đầu những năm 80, khi xuất hiện nhu cầu đẩy mạnh giáo dục lao động, KTTH - HN nhằm chuẩn bị kĩ năng cho HS đi vào cuộc sống thì hướng nghiệp mới thực sự được nhà nước chú trọng đến [14]. Trong thời gian này có các bài viết của 15 các tác giả Phạm Tất Dong, Võ Nguyên Giáp, Nguyễn Thị Bình, Đoàn Chi, Đặng Danh Ánh, Nguyễn Minh Đường, Nguyễn Văn Hộ đã đề cập đến trách nhiệm của nhà trường trong việc định hướng nghề cho HS, biện pháp hướng nghiệp cho HS và xây dựng một số cơ sở lí luận nền tảng về hướng nghiệp

Năm 1985 – 1987: Các tác giả Nguyễn Trọng Bảo, Đoàn Chi, Cù Nguyên Hanh, Hà Thế Ngữ, Tô Bá Trọng, Trần Đức Xước, Nguyễn Thế Quảng, Nguyễn Phúc Chỉnh đi sâu nghiên cứu việc tiến hành công tác GDHN trong các trường phổ thông và đề cập đến các hình thức GDHN, dạy nghề trong trường phổ thông và trung tâm KTTH-HN như tổ chức lao động sản xuất cho HS; tư vấn nghề nghiệp cho HS [10], [12]. Từ năm 1996-2005: Nguyễn Viết Sự, Hà Thế Truyền đã đề cập các giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục kĩ thuật và hướng nghiệp ở trường phổ thông

Từ năm 2003- 2010, khái quát các kinh nghiệm hướng nghiệp của một số nước trên trên giới, có những đánh giá về công tác hướng nghiệp cho HS ở trường phổ thông và đã đưa ra những giải pháp về công tác GDHN ở Việt Nam giai đoạn 2005-2010 có các tác giả Phạm Tất Dong, Vũ Văn Tảo, Nguyễn Như Ất, Lưu Đình Mạc, Phạm Huy Thụ, và sau này có Nguyễn Văn Lê, Trần Khánh Đức, Hà Thế Truyền, Bùi Văn Quân

Các luận án của các tác giả Nguyễn Thị Nhung (2009): “Biện pháp tổ chức hoạt động giáo dục hướng nghiệp cho học sinh trung học phổ thông miền núi Tây Bắc” [55] ; Bùi Việt Phú (2009): “Tổ chức GDHN cho HS trung học phổ thông theo tinh thần xã hội hóa” [57]; Huỳnh Thị Tam Thanh (2009): “Tổ chức hoạt động GDHN cho HS bổ túc trung học phổ thông tại các trung tâm giáo dục thường xuyên theo định hướng phát triển nhân lực”[65]; Phạm Văn Khanh (2012): “GDHN trong dạy học các môn học khoa học tự nhiên ở trường trung học phổ thông KV Nam Trung Bộ” đã tập trung nghiên cứu những giải pháp để nâng cao chất lượng GDHN trong nhà trường phổ thông theo các hướng khác nhau [42]. Những công trình trên đều khái quát được các con đường GDHN và đã chỉ ra được những đặc trưng cơ bản của các con đường đó. 16 Như vậy: Các nhà khoa học đã đi sâu nghiên cứu những vấn đề lí luận chung về hướng nghiệp và GDHN, đã khái quát mục tiêu, nội dung, con đường hướng nghiệp trong nhà trường phổ thông. Khẳng định vị trí và vai trò của hướng nghiệp và GDHN trong nhà trường THPT. Chính các nghiên cứu của các tác giả trên là cơ sở lí luận, thực tiễn cho việc thực hiện GDHN trong nhà trường phổ thông hiện nay.

1.1.2.2. Nghiên cứu về tham vấn nghề Trước đây, để đưa ra lời khuyên cho HS về sự lựa chọn ngành nghề, trường thi phù hợp thì các nhà khoa học thường dùng thuật ngữ tư vấn nghề. Thuật ngữ tham vấn nghề mới xuất hiện ở nước ta cách đây vài năm. Do vậy, để tìm hiểu rõ về vấn đề này, chúng tôi khái quát các công trình nghiên cứu theo 2 thuật ngữ là tư vấn nghề và tham vấn nghề * Tiếp cận theo hướng tư vấn nghề Những năm 80, các tác giả Phạm Huy Thụ, Phạm Ngọc Luận, Phạm Tất Dong, Nguyễn Thế Trường, Đoàn Chi, Cù Nguyên Hanh tiến hành nghiêu cứu đã xây dựng nội dung và phương pháp tư vấn nghề cho số thương binh được đi học nghề sau khi kết thúc chiến tranh. Các tác giả Đặng Danh Ánh, Phạm Đức Quang, Phạm Ngọc Anh, Đỗ Thị Hòa cùng với Nguyễn Viết Sự đã nghiên cứu đề tài “Mô tả các nghề đào tạo nhằm mục đích hướng nghiệp” những công trình này chỉ tập trung đề cập đến việc xây dựng các phòng hướng nghiệp và việc tư vấn nghề trong trường nghề và trường phổ thông, tuy nhiên nó đã cung cấp nhiều tư liệu quí giá cho công tác hướng nghiệp ở các trường phổ thông. Cùng trong thời gian này Phạm Huy Thụ, Phạm Tất Dong, Nguyễn Thế Trường đã biên soạn tài liệu sinh hoạt hướng nghiệp cho HS cuối cấp phổ thông cơ sở và các lớp phổ thông trung học, trong đó đề cập rõ rệt vấn đề tư vấn nghề và đã xây dựng được nhiều bản họa đồ nghề có giá trị thực tiễn để phục vụ tư vấn nghề [trích theo 70]. Từ những năm 1996 – 2005, các tác giả: Phạm Tất Dong, Nguyễn Như Ất, Đặng Danh Ánh, Hoàng Kiện, Nguyễn Thế Trường, Nguyễn Đức Trí, Nguyễn Văn Hộ, Lê Đức Phúc, Nguyễn Văn Lê, đã công bố nhiều kết quả nghiên cứu về hướng nghiệp, dạy nghề, tư vấn nghề cho HS, các nghiên cứu đã nhấn mạnh đến các đặc điểm của bản thân trong quá trình chọn nghề, tư vấn nghề

 

Năm 2010, tác giả Trần Khánh Đức dưới góc độ kết hợp TLH và GDH đã xây dựng mô hình nhân cách nghề nghiệp có tính đến vấn đề công nghệ đào tạo và phân hóa các giai đoạn phát triển nghề trong quá trình vận động và phát triển của nhân cách nghề thích ứng với từng giai đoạn đào tạo nghề trong hệ thống giáo dục liên tục [26]. Nhấn mạnh đến các giai đoạn, các bước trong tư vấn nghề, các nhà TLH cho rằng hoạt động tư vấn trong trường phổ thông bao gồm 3 bước: Bước 1: Đánh giá cá tính và năng lực của HS, thông qua các test, giúp HS hiểu được những năng lực chung và năng lực chuyên biệt, hứng thú, tính cách, khí chất và nguyện vọng của mình. Đồng thời thông qua quan sát, điều tra, trò chuyện, qua nhật kí, sổ ghi chép… cán bộ tư vấn thu được những tài liệu toàn diện xác thực về HS cần tư vấn, cuối cùng có sự đánh giá sơ bộ về các đặc điểm tâm lí và thể chất của HS; Bước 2: Phân tích yêu cầu của nghề đối với người lao động. Bước 3: Đối chiếu đặc điểm tâm sinh lí của HS đối với yêu cầu của nghề đặt ra đối với người lao động, từ đó giúp HS có sự lựa chọn sáng suốt và đúng đắn, loại bỏ những may rủi, thiếu chín chắn trong khi chọn nghề. Năm 2010, tác giả Đặng Danh Ánh [9] chỉ ra quy trình tư vấn nghề bao gồm các bước như sau: Bước 1: Tìm hiểu nguyện vọng, sở trường, hứng thú, năng lực nghề, học lực, và hoàn cảnh của HS thông qua hồ sơ hoặc trao đổi trực tiếp với GV chủ nhiệm, HS và phụ huynh HS; Bước 2: Tiến hành những phép đo cần thiết; Bước 3: Nghiên cứu mô tả nghề, rút ra các yêu cầu về nghề; Bước 4: Đối chiếu các đặc điểm tâm sinh lí của HS với các yêu cầu của nghề và rút ra kết luận ban đầu; Bước 5: Nghiên cứu nhu cầu nhân lực của thị trường lao động địa phương, quốc gia, KV và quốc tế; Bước 6: Đối chiếu kết quả thu được ở bước 5 với kết luận ban đầu ở bước 4 và đưa ra lời khuyên; Bước 7: Hướng dẫn tìm trường, tìm khoa đào tạo trong hệ thống dạy nghề, đào tạo CĐ, ĐH Tuy nhiên với các quy trình trên, các tác giả mới chỉ đưa ra được các bước tiến hành, mà chưa đưa ra được nguyên tắc, biện pháp, kĩ thuật sử dụng các bước đó như thế nào. Bên cạnh đó, với các bước như ở trên thì các hành động hoàn toàn được thực hiện bởi GV, GV là trọng tâm trong quá trình tư vấn chứ không phải là HS và mục tiêu cuối cùng tư vấn nghề là đưa ra được lời khuyên chọn nghề cho HS. 18 Sau này, tác giả Nguyễn Thị Thanh Huyền (2009) với luận án “Xây dựng mô hình tư vấn nghề trong nhà trường THPT KV miền núi Đông Bắc Việt Nam” đã khái quát về lí luận và thực tiễn về tư vấn nghề, thực trạng tư vấn nghề ở trường THPT KV miền núi Đông Bắc Việt Nam, tác giả xây dựng thí điểm mô hình tư vấn nghề trong trường THPT KV miền núi Đông Bắc Việt Nam, đã chỉ ra được chức năng, nhiệm vụ, cũng như những yêu cầu về cơ sở vật chất, về đội ngũ tư vấn nghề. Đây là công trình đầu tiên về mô hình tư vấn nghề trong trường THPT KV miền núi Đông Bắc Việt Nam và một số các bài viết liên quan

Lê Thị Thanh Hương (2010) với “Tư vấn hướng nghiệp cho HS THPT thực trạng ở Việt Nam và kinh nghiệm quốc tế” đã chỉ ra những giai đoạn hướng nghiệp và tư vấn hướng nghiệp, các lí thuyết tư vấn hướng nghiệp, các mô hình hướng nghiệp và tư vấn hướng nghiệp ở các nước trên thế giới và nêu lên những thực trạng về tư vấn hướng nghiệp ở trường THPT [41]; Phạm Văn Sơn (2012) đã đề cập đến mục đích sử dụng bản mô tả nghề trong tư vấn, “bản mô tả nghề cung cấp những yêu cầu về phẩm chất, năng lực cần thiết giúp cán bộ tư vấn có cơ sở đối chiếu với từng HS để xác định sự phù hợp nghề. Bản mô tả nghề còn là tài liệu hữu ích giúp GV, nhà giáo dục, phụ huynh HS muốn tìm hiểu về nghề nghiệp phục vụ cho công tác tư vấn, chọn nghề tương lai” [62]; Phạm Ngọc Linh (2013) với luận án“Tư vấn hướng nghiệp cho HS THPT” đã khái quát thực trạng tư vấn hướng nghiệp ở một số trường THPT, các biểu hiện tâm lí trong tư vấn hướng nghiệp [48]. Như vậy, với các công trình nghiên cứu về tư vấn nghề ở trên cho thấy, hầu hết các công trình nghiên cứu đều khẳng định tư vấn nghề là một khâu trong GDHN chứ không phải là một hoạt động độc lập hoặc là một con đường để GDHN. Mục tiêu của tư vấn hướng nghiệp là đưa ra lời khuyên chọn nghề cho cá nhân, HS. Dù với cách làm khác nhau, các bước khác nhau nhưng đều cho chúng ta thấy vai trò của nhà tư vấn là chủ động, là trọng tâm trong buổi tư vấn nghề, là người quyết định chứ không phải là HS do vậy không phát huy được các khả năng của HS trong quá trình tư vấn. Bên cạnh đó, các công trình trên mới chỉ nêu ra được những lí luận về tư vấn nghề, chưa chỉ rõ cách thức tư vấn như thế nào, tư vấn với hình thức nào và được thực hiện trong bối cảnh nào. * Tham vấn nghề 19 Các nghiên cứu về tham vấn nghề hiện nay đều tập trung nghiên cứu thực trạng, nhu cầu và hiệu quả tham vấn nói chung, tham vấn học đường nói riêng. Các tác giả mới chỉ dừng lại ở việc nghiên cứu thực trạng về tham vấn nghề, tham vấn hướng nghiệp. Năm 2007, Nguyễn Kim Quý đã khẳng định được vai trò của tham vấn hướng nghiệp: “Sự phát triển tham vấn hướng nghiệp ở các nước đã giúp thanh thiếu niên HS chọn nghề phù hợp với nguyện vọng, năng lực, sở trường của bản thân; đáp ứng được những đòi hỏi của nghề và đáp ứng những nhu cầu của xã hội về nghề” [61]. Nguyễn Thị Việt Thắng (2008); Nguyễn Thị Nhân Ái (2011), Nguyễn Mộng Đóa (2011) đã khái quát lại những lí thuyết phát triển nghề trong tham vấn nghề của các tác giả nước ngoài như lí thuyết Nhân cách và yếu tố của Parsons, lí thuyết của Holland, lí thuyết của Ann Roes, lí thuyết của Ginzbegr, Krumboltz [66], [2], [25]. Nguyễn Thị Nhân Ái (2011) có bài viết “Sử dụng trắc nghiệm, thang đánh giá sự phát triển định hướng giá trị nghề trong tham vấn hướng nghiệp” đã tổng hợp những trắc nghiệm như trắc nghiệm Sở thích nghề nghiệp, trắc nghiệm trí tuệ, trắc nghiệm xu hướng nghề nghiệp trong quá trình tham vấn nghề cho HS [3]. Như vậy, ở Việt Nam, trong một số năm trở lại đây chưa có một nghiên cứu về tham vấn nghề một cách bài bản, hệ thống trong GDHN ở trường phổ thông nói chung và trường THPT nói riêng, chưa có một công trình nghiên cứu đi sâu về lí luận tham vấn nghề cho HS THPT. Vì vậy, cần tiếp tục nghiên cứu để làm rõ và phát triển thêm các vấn đề lí luận về tham vấn nghề nói chung và tham vấn nghề trong GDHN nói riêng ở Việt Nam. Đánh giá chung: Phân tích, tổng hợp các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước về vấn đề GDHN và tham vấn nghề, chúng tôi nhận thấy: * Về GDHN Thứ nhất: Các công trình nghiên cứu trên đều khẳng định vai trò quan trọng của GDHN trong nhà trường trong việc định hướng nghề nghiệp cho HS. Xây dựng được hệ thống các khái niệm, mục tiêu, nội dung, hình thức tổ chức GDHN. Bên cạnh đó các công trình nghiên cứu đã đưa ra được những thực trạng GDHN. Đây chính là những thành tựu về cơ sở lí luận và thực tiễn giúp cho công tác GDHN trong nhà trường phổ thông được thực hiện một cách khoa học và hiệu quả. 20 Thứ hai: Các công trình nghiên cứu đã chỉ rõ GDHN được thực hiện bằng nhiều con đường, một trong những con đường mà các tác giả nhấn mạnh đó là GDHN cho HS thông qua các hoạt động lao động nghề nghiệp giúp các em làm quen với lao động, có hứng thú với nghề nghiệp. Tuy nhiên các tác giả mới chỉ ra được nội dung nhưng chưa có những chỉ dẫn cụ thể về phương pháp tiến hành biện pháp thực hiện GDHN. Hiện nay, một mặt các con đường trên đã không phát huy được hiệu quả của nó, mặt khác do sự phát triển của xã hội, do yêu cầu thực tiễn của nghề nghiệp đã xuất hiện nhiều con đường GDHN mới, và đã đem lại hiệu quả cao trong GDHN, một trong những con đường đó là tham vấn nghề. Đây chính là vấn đề mới, cần được tiếp tục nghiên cứu. * Về tham vấn nghề: Thứ nhất: Các nhà khoa học đều coi tham vấn là một hoạt động chuyên nghiệp và thể hiện vai trò quan trọng nhằm giúp cho thân chủ - những người đang gặp khó khăn trong công việc, những người đang thất nghiệp hoặc những sinh viên tốt nghiệp ra trường tìm được một nghề phù hợp và giúp cho HS lựa chọn được nghề phù hợp. Thứ hai: Các tác giả đều thống nhất về nội dung tham vấn nghề bao gồm: tìm hiểu đặc điểm của thân chủ đồng thời giúp cho thân chủ tự nhận thức và đánh giá các đặc điểm của bản thân từ đó trợ giúp thân chủ liên hệ đặc điểm của bản thân với những nghề tương ứng; Cung cấp cho thân chủ những thông tin về nghề, về thị trường lao động đồng thời hướng dẫn thân chủ các cách để tìm kiếm thông tin, phân tích và lựa chọn thông tin; Trợ giúp thân chủ ra quyết định chọn nghề và lập kế hoạch nghề nghiệp cho tương lai. Thứ ba: Các công trình nghiên cứu trên đã chỉ ra được các giai đoạn, các bước thực hiện, và đã cụ thể hóa được nội dung cũng như cách thức thực hiện các giai đoạn và các bước của quá trình tham vấn nghề. Tuy nhiên các giai đoạn và các bước này chỉ đề cập đến tham vấn cá nhân, chưa có những chỉ dẫn trong tham vấn nhóm. Thứ tư: Các công trình nghiên cứu đã chỉ ra được nhiệm vụ của nhà tham vấn nghề, yêu cầu về phẩm chất, kĩ năng của nhà tham vấn nghề. Tuy nhiên các tác giả chưa nhấn mạnh vai trò của nhà tham vấn và thân chủ trong quá trình tham vấn.

21 1.2. GIÁO DỤC HƯỚNG NGHIỆP Ở TRUNG HỌC PHỔ THÔNG

1.2.1. Quan niệm về giáo dục hướng nghiệp Lý luận về GDHN trong nhà trường phổ thông đã được nghiên cứu tương đối cơ bản và hệ thống. Tài liệu GDHN trong trường học của Australia quan niệm như sau: Trong nhà trường phổ thông, hướng nghiệp là công việc của tập thể sư phạm nhằm giáo dục HS lựa chọn nghề một cách tốt nhất. Nghĩa là trong sự lựa chọn đó có sự phù hợp giữa nguyện vọng nghề nghiệp của cá nhân với yêu cầu phát triển kinh tế xã hội và có sự phù hợp giữa năng lực của cá nhân với đòi hỏi của nghề [trích theo 57]. Hoyt (1987) cho rằng: GDHN là một quá trình giúp HS đạt được các kiến thức về nghề, biết sử dụng kiến thức, kĩ năng, và thái độ cần thiết trong quá trình làm việc, trong quá trình sản xuất và hài lòng với các hoạt động khác trong cuộc sống [trích theo 86]. Các nhà GDH Việt Nam quan niệm: GDHN là một hoạt động của các tập thể sư phạm, của các cán bộ thuộc các cơ quan nhà máy khác nhau, được tiến hành với mục đích giúp HS chọn nghề đúng đắn phù hợp với năng lực, thể lực và tâm lí của cá nhân với nhu cầu nhân lực xã hội. Hướng nghiệp là một bộ phận cấu thành của quá trình giáo dục – học tập trong nhà trường [9, tr. 121]. Các nhà TLH Việt Nam cho rằng: “GDHN là hệ thống các biện pháp tâm lí – sư phạm và y học giúp cho thế hệ trẻ chọn nghề có tính đến nhu cầu của xã hội và năng lực của bản thân” [9, tr. 121]. Các tác giả như Trần Trọng Thủy (1978) [69]; Phạm Tất Dong (1984) [20]; Nguyễn Trọng Bảo (1985) [10], Nguyễn Ngọc Quang (1989) [58]; Phạm Huy Thụ (1996) [68]; Đặng Danh Ánh [9]; Nguyễn Minh Đường; Hà Thế Truyền; Phùng Đình Mẫn (2005) đã đưa ra rất nhiều quan niệm khác nhau về GDHN. Tuy nhiên các tác giả đều thống nhất GDHN là một hệ thống các biện pháp tác động nhằm giúp HS chọn nghề phù hợp. Cụ thể: Các tác giả Nguyễn Trọng Bảo (1985) [10, tr.29], Phùng Đình Mẫn (2005)[52]: GDHN là một hệ thống các biện pháp giáo dục của nhà trường, gia đình và xã hội, nhằm chuẩn bị cho thế hệ trẻ về tư tưởng, tâm lí, tri thức, kĩ năng, để họ có thể sẵn sàng đi vào ngành nghề, vào lao động sản xuất, đấu tranh, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. 22 Tác giả Nguyễn Minh Đường (2005) đã định nghĩa: “GDHN là hệ thống những biện pháp dựa trên cơ sở tâm lí học, sinh lí học, giáo dục học, xã hội học và nhiều khoa học khác nhằm giúp HS, sinh viên định hướng nghề nghiệp một cách đúng đắn để có thể lựa chọn nghề cho phù hợp với nhu cầu xã hội, đồng thời thoả mãn tối đa nguyện vọng, thích hợp năng lực, sở trường và điều kiện tâm sinh lí cá nhân cũng như hoàn cảnh sống của mỗi người để có thể phát triển đến đỉnh cao trong nghề nghiệp, cống hiến được nhiều cho xã hội cũng như tạo lập được cuộc sống tốt đẹp hơn cho bản thân” [Trích theo 24, tr.51] Tác giả Đặng Danh Ánh (2010): “GDHN là hoạt động phối hợp giữa nhà trường, gia đình, trong đó tập thể sư phạm nhà trường giữ vai trò quyết định nhằm giúp HS chọn nghề trên cơ sở khoa học” [9, tr.122]. Như vậy, có rất nhiều quan niệm khác nhau về GDHN của các nhà khoa học, dù ở khía cạnh nào thì các quan niệm trên cũng đã nhấn mạnh đến những vấn đề sau đây: - Thứ nhất: GDHN là quá trình tác động của gia đình, nhà trường và xã hội, trong đó nhà trường đóng vai trò chủ đạo nhằm hướng dẫn và chuẩn bị cho thế hệ trẻ sẵn sàng đi vào lao động ở các ngành nghề tại những nơi xã hội đang cần, đồng thời giúp HS chọn nghề phù hợp với năng lực, hứng thú, sở trường của bản thân và nhu cầu của xã hội. - Thứ hai: GDHN là một hệ thống các biện pháp tác động: các biện pháp TLH, sinh lí học, GDH, xã hội học và nhiều khoa học khác để GDHN cho HS - Thứ ba: Trong nhà trường phổ thông, GDHN vừa là hoạt động dạy của GV, là công việc của tập thể sư phạm vừa là hoạt động học của HS, HS lĩnh hội được những thông tin về nghề trong xã hội, đặc điểm yêu cầu của từng nghề … và kết quả cuối cùng của GDHN là HS chọn được nghề phù hợp. Trên cơ sở các quan niệm trên, theo chúng tôi: GDHN là một tổ hợp các hoạt động của nhà trường, gia đình và xã hội trong đó nhà trường đóng vai trò chủ đạo trong việc cung cấp tri thức, hình thành kĩ năng chọn nghề cho HS trên cơ sở đó HS lựa chọn nghề phù hợp với năng lực, tính cách, sở thích, giá trị của bản thân, phù hợp với điều kiện hoàn cảnh của gia đình và phù hợp với nhu cầu của xã hội. Như vậy, các quan niệm trên cho thấy GDHN được thực hiện thông qua rất nhiều hoạt động, nhiều con đường khác nhau, với các mục tiêu và nội dung khác nhau nhưng đều hướng đến mục tiêu chung là giúp HS chọn được nghề phù hợp. 23 1.2.2. Giáo dục THPT trong hệ thống giáo dục quốc dân Giáo dục THPT là một trong những bậc học có vị trí quan trọng trong hệ thống giáo dục quốc dân. Học xong THCS, HS mới có thể học tiếp lên THPT và đây cũng là bậc học quan trọng để HS có thể tiếp tục học lên bậc ĐH. Với vị trí và vai trò như vậy, giáo dục THPT hướng tới mục tiêu giúp HS củng cố và phát triển những kết quả của giáo dục trung học cơ sở, hoàn thiện học vấn phổ thông và có những hiểu biết thông thường về kỹ thuật và hướng nghiệp, có điều kiện phát huy năng lực cá nhân để lựa chọn hướng phát triển, tiếp tục học ĐH, CĐ, trung cấp, học nghề hoặc đi vào cuộc sống lao động. Như vậy, nội dung giáo dục THPT phải củng cố, phát triển những nội dung đã học ở trung học cơ sở, hoàn thành nội dung giáo dục phổ thông; ngoài nội dung chủ yếu nhằm bảo đảm chuẩn kiến thức phổ thông, cơ bản, toàn diện và hướng nghiệp cho mọi HS còn có nội dung nâng cao ở một số môn học để phát triển năng lực, đáp ứng nguyện vọng của HS. Vì lẽ đó, phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của HS; phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học, khả năng làm việc theo nhóm; rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn; tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho HS [50] Có thể thấy rằng hướng nghiệp là một trong những nội dung quan trọng của giáo dục THPT. Để thực hiện GDHN có hiệu quả, nhà trường THPT cần phải chú ý những đặc điểm trên của bậc học và những đặc điểm về tâm sinh lí của HSTHPT.

1.2.3. Đặc điểm tâm –sinh lý của HS THPT ảnh hưởng đến sự lựa chọn nghề Muốn tham vấn nghề có hiệu quả, người GV cần chú ý đến đặc điểm tâm sinh lí của HS THPT. Các đặc điểm tâm sinh lí của HS THPT được các tác giả tổng kết như sau: * Sự phát triển của tự ý thức: Tác giả Lê Văn Hồng (2002) nhận định: lứa tuổi HS THPT phát triển mạnh mẽ tự ý thức; Ý thức về “cái Tôi”; Ý thức về những thuộc tính và phẩm chất tâm lí của mình; Điều này thuận lợi cho các em khi xác định về sự phù hợp của nghề nghiệp so với khả năng, tính cách, hứng thú…của các em. Trong giai đoạn này, vấn đề quan trọng là làm cho các em HS THPT hiểu được các giá trị xã hội nói chung và các giá trị của nghề nghiệp để các em có sự lựa chọn ngành nghề đúng đắn và phù hợp [33]. 24 * Lí tưởng sống của thanh niên: Một điểm đặc trưng trong lí tưởng của thanh niên là lí tưởng nghề và lí tưởng đạo đức cao cả. Lí tưởng này được thể hiện qua mục đích sống, qua sự say mê với việc học tập, nghiên cứu và lao động nghề nghiệp [40]; * Tính tích cực xã hội của thanh niên: Thể hiện rõ ở việc các em quan tâm nhiều hơn đến tình hình kinh tế, chính trị, xã hội trên thế giới và trong nước, bên cạnh đó các em đã có một quá trình tích lũy nhất định về một hệ thống tri thức về khoa học tự nhiên và khoa học xã hội, có kĩ năng lối sống và hành động… cho nên các em có thể đánh giá và có cách nhìn nhận riêng về thế giới, về con người và về bản thân. Tuy nhiên thế giới quan này của các em chưa đạt được mức độ sâu sắc và bền vững [45]. * Hoạt động học tập của HS THPT: Hoạt động chủ đạo của lứa tuổi này là học tập – hướng nghiệp vì vậy ý thức về nghề và sự chuẩn bị cho cuộc sống tương lai của các em là một nhu cầu cấp bách. Việc học tập có tính lựa chọn rõ ràng, các em tập trung học nhiều hơn đối với các môn học liên quan đến nghề và trường chọn để thi, hoặc các môn gây hứng thú đặc biệt. Động cơ học tập của thanh niên HS có tính hiện thực, gắn liền với nhu cầu và xu hướng nghề nghiệp chiếm ưu thế. Thái độ đối với môn học trở nên có lựa chọn hơn, các em đã hình thành hứng thú học tập gắn liền với khuynh hướng nghề nghiệp. * Sự phát triển trí tuệ và nhận thức liên quan đến định hướng nghề nghiệp: Theo Muler P.H (2003) [53] lứa tuổi HS THPT là lứa tuổi phát triển trí tuệ thao tác hình thức, nhờ có sự phát triển về tư duy này mà HS THPT có những suy nghĩ, so sánh, cân nhắc, giả định, đối chiếu và rút ra những nhận định của bản thân về nghề trên cơ sở những thông tin có được về nghề (thông qua nhiều nguồn khác nhau: GDHN, truyền thông đại chúng, dư luận xã hội, bạn bè, gia đình,…). * Định hướng giá trị nghề nghiệp của HS THPT Theo các tác giả Ginzberg, Ginzburg, Axelrad, and Herme (1951) đồng tình rằng lứa tuổi từ 11 đến 18 là giai đoạn phức tạp với nhiều cung bậc của sự hứng thú, khả năng và giá trị. Các em nhận thức được bản thân mình có thể chọn nghề nào đó tận dụng được những kĩ năng đặc biệt của mình. Giai đoạn này HS bắt đầu nhận thấy cần phải có quyết định hướng nghiệp kịp thời, cụ thể và thực tế [83]. Tác giả Super [112]: HS phổ thông sẽ bắt đầu khám phá những nguồn tài nguyên có ích trong việc đưa ra quyết định chọn nghề và dành ít thời gian hơn cho các sở thích riêng của mình. Tất cả các kinh nghiệm các em có được trong nhà trường hay các 25 chương trình hướng nghề và các kinh nghiệm tích lũy bên ngoài đều là hành trang cho nghề nghiệp và cuộc sống của các em. Những sở thích cá nhân và những hoạt động khác cũng cung cấp cho các em những bài học rất giá trị về nghề nghiệp. Như vậy, vấn đề quan trọng nhất và là sự bận tâm nhất của HS trong việc xây dựng kế hoạch đường đời là vấn đề nghề và chọn nghề, chọn trường học nghề. Việc chọn nghề trở thành một trong những nhiệm vụ quan trọng nhưng vô cùng khó khăn đối với các em. Về chủ quan, sự hiểu biết về nghề của HS còn hạn chế. Nhiều HS chưa thực sự hiểu rõ nghề nghiệp hiện có trong xã hội, chưa phân biệt rõ sự khác nhau giữa nghề và trường đào tạo nghề, nên ít em hướng đến việc chọn nghề mà chủ yếu chọn trường để học. Việc chọn nghề của số HS này không phải với tư cách là chọn một lĩnh vực việc làm ổn định phù hợp với khả năng và điều kiện của mình, không phải là một nghề để mưu sinh, mà chủ yếu chỉ là sự khẳng định mình trước bạn hoặc chủ yếu là theo đuổi chí hướng có tính chất lí tưởng hoá của mình. Vì vậy, mặc dù các em ý thức được tầm quan trọng của việc chọn nghề nhưng hành vi lựa chọn của các em vẫn cảm tính. Về khách quan, trong nền kinh tế hiện đại, hệ thống nghề rất đa dạng, phong phú và biến động, nên việc định hướng và lựa chọn giá trị nghề của HS trở lên rất khó do vậy giáo dục nghề và hướng nghề cho HS luôn là việc làm rất quan trọng của trường phổ thông và của toàn xã hội.

1.2.4. Quá trình GDHN ở THPT GDHN ở THPT được nhiều tác giả tiếp cận dưới nhiều góc độ khác nhau. Tuy nhiên theo quy định về GDHN ở THPT của Bộ GD & ĐT ban hành, chúng tôi cho rằng GDHN được tiếp cận như là một quá trình giáo dục ở THPT và bao gồm các thành tố sau đây:

1.2.4.1. Mục tiêu của GDHN ở THPT Trong chương trình giáo dục cấp THPT được ban hành theo Quyết định số 16/2006/QĐ –BGD&ĐT của Bộ GD&ĐT ngày 5/5/2006 [60], sau khi tham gia hoạt động GDHN ở THPT, HS cần đạt được: Về kiến thức: 1/Hiểu được ý nghĩa và tầm quan trọng của việc lựa chọn nghề nghiệp tương lai; 2/ Biết được thông tin cơ bản về định hướng phát triển kinh tế - xã hội của địa phương, đất nước và KV; về thế giới nghề nghiệp, thị trường lao động, hệ thống giáo dục nghề nghiệp (trung cấp chuyên nghiệp và dạy nghề), CĐ, ĐH ở địa phương và cả nước. 26 Về kĩ năng:1/ Tự đánh giá được năng lực của bản thân và điều kiện gia đình trong việc định hướng nghề nghiệp tương lai; 2/Tìm kiếm được những thông tin về nghề và thông tin cơ sở đào tạo cần thiết cho bản thân trong việc chọn nghề; 3/Định hướng và lựa chọn được nghề nghiệp tương lai. Về thái độ:1/ Chủ động và tự tin trong việc chọn nghề phù hợp; 2/Có hứng thú và khuynh hướng chọn nghề đúng đắn.

1.2.4.3. Nội dung GDHN ở THPT Theo Bộ GD&ĐT (2006), Trong nhà trường THPT, nội dung Hoạt động GDHN được tập trung ở 24 chủ đề và phân theo các 3 khối (xem phụ lục 5).

1.2.4.4. Các con đường GDHN Hiện nay, GDHN ở trường THPT được thực hiện thông qua 5 con đường: thông qua dạy học các môn khoa học cơ bản; thông qua việc tổ chức hoạt động GDHN chính khóa; thông qua hoạt động ngoại khóa; thông qua hoạt động dạy và học môn công nghệ; thông qua các buổi sinh hoạt hướng nghiệp. Các con đường này được thực hiện dựa trên Thông tư 31/TT ngày 17/8/1981 của bộ GD & ĐT [67]. Cụ thể là: * GDHN thông qua dạy học các môn khoa học cơ bản nhằm khai thác mối liên hệ giữa kiến thức môn học với các ngành nghề, gắn nội dung của bài học với cuộc sống sản xuất bằng cách tích hợp, lồng ghép những kiến thức môn học với kiến thức nghề nghiệp giúp cho HS hiểu biết những vấn đề liên quan đến các ngành nghề trong xã hội, phát hiện và bồi dưỡng những năng khiếu của HS. Trên cơ sở đó GV định hướng chọn nghề cho HS phù hợp với năng khiếu đó. * Thông qua việc tổ chức hoạt động GDHN chính khóa nhằm mục đích giới thiệu cho HS những ngành nghề chủ yếu, cơ bản của đất nước, những ngành nghề mà Nhà nước đang cần phát triển một cách hệ thống; Những đặc điểm, yêu cầu của nghề…; Những thông tin đào tạo và hướng phát triển kinh tế của đất nước, của địa phương, tư vấn chọn nghề cho HS. Trên cơ sở nhận thức, HS hình thành hứng thú đối với nghề , có cơ sở khoa học để lựa chọn nghề tương lai phù hợp với năng lực, hứng thú, sở thích của cá nhân và phù hợp với nhu cầu nhân lực của địa phương, của xã hội. Đây chính là con đường quan trọng nhất trong việc GDHN cho HS. * Thông qua hoạt động ngoại khóa nhằm hỗ trợ cho các hoạt động GDHN khác trong việc giới thiệu, tuyên truyền nghề cho HS 27 * Thông qua hoạt động dạy và học môn công nghệ nhằm cung cấp cho HS những nguyên lí cơ bản về kĩ thuật, công nghệ khoa học, quy trình sản xuất trong thực tế, làm cho HS hiểu được những ứng dụng của chúng trong hoạt động nghề nghiệp khác nhau, giúp HS có những kiến thức cơ bản về ngành nghề trong xã hội; * Thông qua các buổi sinh hoạt hướng nghiệp HS chia sẻ những hiểu biết của mình với bạn bè về nghề nghiệp đồng thời biết thêm được những kiến thức khác. Mỗi buổi sinh hoạt là một chủ đề, mỗi chủ đề đều đem lại cho các em những kiến thức mới, hình thành cho các em ý thức trong việc chọn nghề của bản thân. Các con đường GDHN nêu trên vừa có tính độc lập, vừa có mối quan hệ tương tác, hỗ trợ cho nhau đảm bảo hiệu quả tối ưu cho GDHN. Như vậy cho đến nay, có thể coi 5 con đường trên là 5 con đường GDHN phổ biến nhất ở THPT và đã có những giá trị nhất định trong việc định hướng nghề nghiệp cho HS. Tuy nhiên, cả 5 con đường trên chưa đi sâu vào việc giúp HS giải tỏa về mặt tâm lí và giải quyết những băn khoăn, lo lắng, thắc mắc… khi các em chọn nghề. Mặt khác, trong xã hội hiện đại ngày nay đời sống tâm lí của con người nói chung và của HS THPT rất phức tạp: phải đối mặt với nhiều vấn đề của đời sống xã hội, thông tin bị rối nhiễu, chịu nhiều áp lực…. nên khó có thể tự mình quyết định đúng đắn được mọi vấn đề nảy sinh. Khi đó việc tìm đến các nhà tâm lí để xin tư vấn, trợ giúp cho bản thân là hết sức cần thiết đối với con người. Trong bối cảnh và trạng thái chung đó, HS THPT hơn lúc nào hết rất cần đến sự trợ giúp của cha mẹ, thầy cô và những người lớn tuổi khác trong việc giải quyết những khó khăn của các em trong học tập và lựa chọn nghề nghiệp tương lai. Như vậy, người GV trong nhà trường THPT hiện nay bên cạnh việc làm tốt vai trò của một người GV thì cần phải là những nhà tham vấn tâm lí để trợ giúp HS những khi cần thiết. Từ sự phân tích nêu trên, theo chúng tôi để tăng hiệu quả của GDHN ở nhà trường phổ thông trong giai đoạn hiện nay cần đưa tham vấn nghề vào nhà trường THPT và coi nó như là một con đường GDHN. * Thông qua tham vấn nghề: nhằm trợ giúp HS giải quyết được những khó khăn trong quá trình chọn nghề, đồng thời thông qua việc giải quyết những khó khăn đó nhà tham vấn sẽ trợ giúp HS có được những năng lực tự đánh giá bản thân, hiểu biết về ngành, nghề, về trường đào tạo và có năng lực lựa chọn ngành, nghề phù hợp.

28 1.3. GDHN QUA THAM VẤN NGHỀ Ở THPT

1.3.1. Quan niệm về tham vấn nghề

1.3.1.1. Tham vấn Theo tổ chức tham vấn thế giới: Tham vấn là một quá trình trợ giúp dựa trên các kĩ năng, trong đó, một người dành thời gian, sự quan tâm và sử dụng thời gian một cách có mục đích để giúp đỡ thân chủ khai thác tình huống, xác định và triển khai các giải pháp khả thi trong một thời gian cho phép. Rogers, Jenny (1990) cho rằng: Tham vấn là hoạt động nhằm giúp đỡ con người tự giúp chính họ. Hoạt động tham vấn sẽ giúp họ nâng cao khả năng tự tìm giải pháp đối phó với vấn đề và thực hiện tốt chức năng của mình trong cuộc sống [75]. Theo Trần Thị Giồng (1996) thì: “Tham vấn là sự tương tác giữa nhà tham vấn và thân chủ, trong quá trình này nhà tham vấn sử dụng các kĩ năng chuyên môn giúp thân chủ khơi dậy tiềm năng để họ có thể tự giải quyết được vấn đề đang gặp” [32]. Theo Trần Thị Minh Đức (2012) thì: Tham vấn là sự tương tác giữa tham vấn – người có chuyên môn và kĩ năng tham vấn, có các phẩm chất đạo đức của nghề tham vấn – với thân chủ (còn được gọi là khách hàng) – người đang có vấn đề khó khăn về tâm lí cần được giúp đỡ. Thông qua sự trao đổi, chia sẻ thân mật tâm tình (dựa trên những nguyên tắc đạo đức và mối quan hệ mang tính nghề nghiệp), thân chủ hiểu và chấp nhận thực tế của mình tự tìm lấy tiềm năng bản thân để giải quyết vấn đề của chính mình [27, tr.12]. Còn nhiều quan niệm khác nữa về tham vấn và mỗi quan niệm đều diễn đạt theo các khía cạnh khác nhau, qua các quan niệm trên cho thấy tham vấn có các dấu hiệu đặc trưng sau: - Là một quá trình tương tác giữa nhà tham vấn và thân chủ - Trong quá trình tham vấn, nhà tham vấn phải vận dụng những kĩ năng của bản thân để tham vấn cho thân chủ - những người đang gặp khó khăn về tâm lí - Trợ giúp thân chủ nhận thức được vấn đề của bản thân và nâng cao khả năng giải quyết vấn đề của bản thân. Trên cơ sở các quan niệm trên, theo chúng tôi: Tham vấn là quá trình tương tác giữa nhà tham vấn và thân chủ, trong đó nhà tham vấn vận dụng các kiến thức và kĩ năng của bản thân để trợ giúp thân chủ nhằm giúp họ nâng cao năng lực tự giải quyết những khó khăn gặp phải trong cuộc sống.

1.3.1.2. Tham vấn nghề Về tham vấn nghề, các tác giả nước ngoài đã nghiên cứu và đưa ra nhiều quan niệm khác nhau. Cụ thể: Theo F.Parsons thì: “Tham vấn nghề là việc trợ giúp một cá nhân lựa chọn một nghề “[105, tr.5]. Brown và đồng sự (1990) quan niệm: “Tham vấn nghề là một quá trình có sự tham gia của các tham vấn viên và thân chủ, quá trình này được thực hiện nhằm hỗ trợ thân chủ gặp khó khăn trong sự phát triển nghề nghiệp, và sự thay đổi trong công việc”[90]. Theo Herr, E. L., & Cramer, S. H. (1996): “Tham vấn nghề là một tiến trình tương tác bằng lời thông qua đó nhà tham vấn và người được tham vấn có mối quan hệ thúc đẩy và hợp tác, tập trung vào xác định và hành động theo các mục tiêu của người được tham vấn, trong đó nhà tham vấn thực hiện hàng loạt các kĩ năng và tiến trình tham vấn để giúp người được tham vấn tự hiểu biết, hiểu được các hành vi lựa chọn và tự ra quyết định, người được tham vấn có trách nhiệm với hành động của chính mình” [86, tr.5]. Theo Mary J. Heppner and P. Paul Heppner (2004) cho rằng: “Tham vấn nghề là sự tương tác trực tiếp của những người được đào tạo chuyên nghiệp nhằm hỗ trợ mọi người trong việc hiểu rõ về bản thân (ví dụ: hứng thú, kĩ năng, giá trị, đặc điểm tính cách) và bức tranh của thế giới công việc để họ có những sự lựa chọn hài lòng” [96, tr.9]; Nystul, M.S (2005): Engel, Minor, Sam son và Splete cho rằng: Tham vấn nghề là sự can thiệp của nhà tham vấn giúp thân chủ tìm hiểu bản thân, giải quyết lo lắng trong việc lựa chọn nghề nghiệp, cân bằng giữa công việc, gia đình và giải trí [104, tr.14]; Jennifer M Kidd (2006): Tham vấn nghề là sự tương tác cởi mở giữa tham vấn viên và khách hàng trong đó tham vấn viên vận dụng các thuyết tâm lí và các kĩ năng giao tiếp nhằm giúp khách hàng đưa ra quyết định và giải quyết các vấn đề liên quan tới nghề nghiệp [91, tr.1]; Howard Figler & Richard Nelson Bolles (2009): Tham vấn nghề được coi là sự nỗ lực của nhà tham vấn để chia sẻ với thân chủ về những “công cụ” như hiểu 30 biết, kiến thức, thông tin bằng cách trợ giúp họ ứng dụng những công cụ đó trong lĩnh vực công việc và cuộc sống” [88, tr.11]; Rudolf Kohoutek (2012) đã quan niệm: “Tham vấn nghề là khám phá (phát hiện) các đặc điểm trí tuệ và tính cách của một người liên quan tới những dự đoán về khả năng thành công trong việc học tập hoặc công việc và giúp họ lựa chọn con đường học vấn và nghề nghiệp phù hợp”[109, tr. 24]. Vũ Mộng Đóa đã quan niệm như sau: “Tham vấn nghề nghiệp là một quá trình tương tác giữa nhà tham vấn và thân chủ, cùng nhau chia sẻ, thảo luận để giúp thân chủ khám phá bản thân về các khía cạnh cơ bản: sự hứng thú, năng lực, kiến thức và các nguồn lực hỗ trợ (gia đình và những người thân); khám phá thế giới nghề nghiệp và khám phá về nhu cầu xã hội để từ đó giúp thân chủ ra quyết định lựa chọn nghề nghiệp phù hợp” [25, tr.72]. Như vậy, tham vấn nghề theo quan niệm của các tác giả nêu trên có các đặc trưng sau:

- Tham vấn nghề là một quá trình tương tác giữa nhà tham vấn và thân chủ (có thể ở nhiều độ tuổi: HS, sinh viên, người lớn muốn lựa chọn nghề và tìm kiếm việc làm);

- Mục tiêu của tham vấn nghề là giúp thân chủ tự giải quyết những khó khăn để từ đó có quyết định lựa chọn nghề phù hợp: nhà tham vấn có vai trò giúp thân chủ tự khám phá bản thân, tìm hiểu về thế giới nghề, về hệ thống trường đào tạo trên cơ sở đó thân chủ tự đưa ra quyết định của mình. Với sự phân tích trên, theo chúng tôi Tham vấn nghề là quá trình tương tác giữa nhà tham vấn và thân chủ, trong đó nhà tham vấn vận dụng các kiến thức và kĩ năng của bản thân để trợ giúp thân chủ nhằm giúp họ nâng cao năng lực tự giải quyết những khó khăn gặp phải trong quá trình lựa chọn nghề tương lai.

1.3.1.3. GDHN qua tham vấn nghề Với quan niệm về tham vấn nghề mà chúng tôi đưa ra, chúng ta có thể hiểu về GDHN qua tham vấn nghề như sau: - Tham vấn nghề được thực hiện trong nhà trường phổ thông, là một trong những con đường GDHN cho HS, thông qua sự tương tác giữa nhà tham vấn (GV) và HS. Do đó mọi yêu cầu của sự tương tác phải được đảm bảo như: có sự tôn trọng lẫn nhau, chia sẻ và tác động qua lại lẫn nhau giữa nhà tham vấn và HS. Sự tương 31 tác này dẫn đến nhà tham vấn hiểu được những khó khăn, những vấn đề của HS đang gặp phải và HS cũng bày tỏ được những băn khoăn thắc mắc của mình. - Sự tương tác giữa nhà tham vấn và HS được diễn ra theo một quy trình chặt chẽ. Quy trình này phải tuân theo các giai đoạn và các bước tham vấn nhất định và phải được diễn ra trong một không gian, thời gian, địa điểm rõ ràng với mục tiêu, nội dung, phương pháp nhất định. - Trong quá trình tham vấn nghề, nhà tham vấn sử dụng những kiến thức và kĩ năng tham vấn như: kĩ năng lắng nghe, kĩ năng khai thác thông tin, kĩ năng phản hồi, kĩ năng thấu hiểu, kĩ năng diễn đạt…. để giúp HS thấu hiểu về những khó khăn, trở ngại của bản thân và biết đối mặt với những khó khăn và trở ngại đó. Đồng thời thông qua sự trao đổi, thảo luận với nhà tham vấn và dưới sự trợ giúp của nhà tham vấn, HS tự giải quyết được những khó khăn, vướng mắc đó và tự mình đưa ra những quyết định phù hợp nhất. Vì vậy năng lực, khả năng giải quyết vấn đề của HS được nâng cao. - Song song việc giải quyết những khó khăn, vướng mắc cho HS, nhà tham vấn bằng cách khai thác, nhận biết và thấu hiểu những suy nghĩ, cảm xúc và hành vi của các em, nêu những câu hỏi định hướng giúp các em tự nhận thức được những hạn chế về năng lực, sở trường của mình. Đồng thời nhà tham vấn sử dụng những phương pháp, cách thức, phương tiện để giúp HS khám phá, tìm hiểu bản thân (tính cách, năng lực, nhu cầu, nguyện vọng, sở thích, hứng thú, điều kiện gia đình), hiểu về ngành nghề. Trên cơ sở đó, giúp đỡ, tạo điều kiện cho HS tự xem xét điều kiện, hoàn cảnh, hứng thú, nhu cầu, nhận thức, khả năng của mình, đối chiếu với yêu cầu của nghề, từ đó tự điều chỉnh hành vi, thái độ liên quan đến việc lựa chọn nghề và cuối cùng là tự chọn cho mình một nghề phù hợp. - Tham vấn nghề không phải là nhà tham vấn đưa lời khuyên cho HS chọn nghề. Nhà tham vấn không thể làm thay, quyết định thay cho HS mà ở đây nhà tham vấn trợ giúp HS nâng cao năng lực tự đánh giá bản thân, tự khám phá thế giới nghề, tự mình giải quyết, khắc phục được khó khăn, giải tỏa được những vấn đề của bản thân trong quá trình chọn nghề trên cơ sở phương pháp luận đúng đắn, hình thành được hứng thú của HS đối với nghề, có thái độ đúng đắn khi lựa chọn nghề từ đó HS tự tin hơn trong quá trình chọn nghề và chọn được nghề phù hợp nhất. 32 Từ những phân tích ở trên, chúng tôi quan niệm: GDHN qua tham vấn nghề là quá trình tương tác giữa nhà tham vấn (GV) và HS, trong đó nhà tham vấn (GV) vận dụng các kiến thức và kĩ năng của bản thân để trợ giúp HS nâng cao năng lực tự giải quyết những khó khăn gặp phải trong quá trình lựa chọn nghề tương lai đồng thời thực hiện tốt mục tiêu GDHN.

1.3.1.4. Tham vấn nghề và tư vấn nghề Theo các tác giả: Trần Thị Giồng, Trần Thị Minh Đức; Bùi Thị Xuân Mai thì tham vấn theo tiếng Anh là Couselling, tư vấn là Consultation

giữa tham vấn và tư vấn có sự giống nhau và khác nhau như sau. Dựa trên sự phân tích giống nhau và khác nhau giữa tham vấn và tư vấn của các tác giả trên, chúng tôi khái quát sự giống nhau và khác nhau của tham vấn nghề và tư vấn nghề như sau: * Giống nhau: Tham vấn nghề và tư vấn nghề đều là hoạt động trợ giúp cá nhân giải quyết những khó khăn, vướng mắc trong công việc, trong lựa chọn nghề * Khác nhau giữa tham vấn và tư vấn ở những điểm sau đây:

- Thứ nhất, về mục tiêu: Tư vấn nghề chủ yếu hướng tới đưa ra lời khuyên chọn nghề, chọn công việc, còn hoạt động tham vấn nghề hướng tới mục tiêu là trợ giúp cá nhân nâng cao năng lực giải quyết những khó khăn trong quá trình chọn nghề.

- Thứ hai, về tiến trình: vì tư vấn nghề thường là cung cấp thông tin hay đưa ra lời khuyên do vậy nó diễn ra trong một thời gian ngắn hơn, giải quyết vấn đề tức thời, còn tham vấn nghề có thể diễn ra trong thời gian dài hơn, có thể kéo dài vài buổi, hoặc hàng tuần - Thứ ba, về cách thức tương tác: Trong tư vấn nghề cách thức thực hiện chính là cung cấp thông tin và lời khuyên bổ ích từ người tư vấn với đầy kiến thức chuyên sâu về vấn đề cần tư vấn. Đây là hình thức mà nhà tư vấn là chuyên gia, là người chủ động, tích cực, còn người được tư vấn thì thụ động nghe theo sự phân tích và khuyên bảo của nhà tư vấn. Như vậy, tư vấn thể hiện sự áp đặt một chiều từ phía nhà tư vấn đối với thân chủ và đó chính là một trong những biểu hiện rõ nét của việc “làm thay” thân chủ. Trong tham vấn nghề có sự tương tác chặt chẽ giữa nhà tham vấn và thân chủ, vai trò của nhà tham vấn chỉ là người trợ giúp còn thân chủ ở đây là trọng tâm vì vậy sự thành công của quá trình tham vấn nghề phụ thuộc vào 33 kỹ năng tương tác của nhà tham vấn để thân chủ tự nhận thức, hiểu chính mình và hoàn cảnh của mình để chủ động tìm kiếm giải pháp phù hợp và thực hiện nó. Như vậy, chúng ta có thể thấy: Tham vấn nghề không phải là đưa ra lời khuyên cho người cần sự trợ giúp mà là quá trình tương tác giữa nhà tham vấn với thân chủ để đi đến chỗ thân chủ tự nhận thức lại vấn đề của mình và tự mình đưa ra được những giải pháp chọn nghề phù hợp.

1.3.2. GDHN qua tham vấn nghề ở THPT

1.3.2.1. Mục tiêu của GDHN qua tham vấn nghề ở THPT Một số tác giả đã nghiên cứu về mục tiêu của tham vấn nghề trong trường phổ thông như Super D.E (1980); Roger D. Herring (1998); Schmidt,J.J, (1996); Vernon G.Zunker (2001). Các tác giả này đều đưa ra mục tiêu tham vấn nghề trong nhà trường phổ thông là: Giúp các em tìm hiểu bản thân, hiểu về nghề nghiệp để các em có sự lựa chọn nghề đúng đắn; Đưa ra lời khuyên cho HS về học hành và dự định nghề nghiệp và giúp các em đạt được những vị trí phù hợp trong nghề và phát triển nghề nghiệp theo các giai đoạn phát triển của từng lứa tuổi. Căn cứ vào mục tiêu GDHN trong trường THPT, và khái quát các kết quả nghiên cứu trên, chúng tôi cho rằng mục tiêu của GDHN qua tham vấn nghề ở trường phổ thông đó là: - HS giải quyết được những khó khăn trong quá trình chọn nghề - Đạt được mục tiêu của GDHN, cụ thể: + HS có năng lực tự khám phá bản thân: Năng lực, tính cách, sở thích, giá trị, mong muốn, nguyện vọng của bản thân + HS có hiểu biết đầy đủ về ngành nghề, trường thi + HS có năng lực lựa chọn ngành nghề phù hợp

1.3.2.2. Nội dung của GDHN qua tham vấn nghề ở THPT Nghiên cứu của Schmidt (1996) cho rằng nội dung tham vấn nghề trong trường phổ thông bao gồm: (1) Cung cấp thông tin chính xác về thế giới nghề và những cơ hội việc làm đang có; (2) Chia sẻ kinh nghiệm giúp các em lựa chọn được nghề phù hợp với bản thân, phù hợp với sở thích và khả năng của các em; (3) Động viên, khuyến khích HS đưa ra nhiều sự lựa chọn để thích ứng với sự thay đổi về nghề nghiệp và thị trường lao động trong tương lai [111, tr. 270]. 34 Theo UNESCO (2002) cho rằng tham vấn nghề về cơ bản bao gồm 4 nội dung: (1) Giúp đỡ cá nhân có sự tự nhận thức rõ hơn về sở thích, giá trị, khả năng và cá tính của bản thân; (2) Kết nối HS với các nguồn lực để họ có hiểu biết hơn về công việc và nghề nghiệp; (3) Thúc đẩy HS tham gia trong quá trình ra quyết định để họ có thể chọn một con đường sự nghiệp phù hợp với sở thích, giá trị, khả năng, phong cách và cá tính của mình; (4) trợ giúp HS chủ động quản lí con đường sự nghiệp của họ (bao gồm quản lí quá trình chuyển đổi nghề nghiệp và cân bằng các vai trò sống khác nhau) cũng như trở thành người học suốt đời [113, tr.4]. Từ những mục tiêu của tham vấn nghề, từ nội dung của GDHN trong trường và khái quát từ nội dung tham vấn nghề của các tác giả nước ngoài, chúng tôi khái quát nội dung của tham vấn nghề trong GDHN như sau: * Trợ giúp HS tự nhận thức và đánh giá được bản thân Tự đánh giá bản thân tức là tự đánh giá về năng lực, sở thích, kĩ năng, việc làm yêu thích của từng cá nhân [90, tr.40 ]. Nhận thức về bản thân rất cần thiết để đưa ra quyết định lựa chọn việc làm phù hợp giống như kiến thức cần thiết để đưa ra lựa chọn nghề nghiệp phù hợp với bản thân [117]. Cá nhân cũng có thể áp dụng năng lực, sở thích, kĩ năng và công việc yêu thích của bản thân để cân nhắc việc lựa chọn từ công việc bình thường đến công việc đặc biệt hơn. Theo Donald Super (1980): Mỗi người có khả năng và tính cách, nhu cầu, giá trị, sở thích, đặc điểm, và quan niệm bản thân khác nhau. Mỗi đặc điểm, mỗi tính cách tương ứng với nghề nghiệp khác nhau. Có nhiều loại khả năng, đặc điểm tính cách và những đặc tính khác mà mỗi người cần phải coi đó là điều kiện tiên quyết cho thành công của nhiều nghề. Mỗi nghề nghiệp đòi hỏi mô hình tính cách, khả năng và đặc điểm của cá nhân – đủ rộng để cho phép một số nghề cho mỗi cá nhân và một số cá nhân cho mỗi nghề. Nghề nghiệp yêu thích và khả năng cá nhân trong cuộc sống và công việc, quan niệm của cá nhân sẽ thay đổi theo thời gian và theo kinh nghiệm, mặc dù những nhận thức đó là sản phẩm của sự học hỏi từ xã hội, đang ngày càng ổn định dần dần từ khi còn trẻ tới khi trưởng thành, chín chắn, do đó sẽ có những điều chỉnh và thay đổi thường xuyên [112, tr. 18]. Như vậy, trong quá trình tham vấn nghề, nhà tham vấn (GV) trợ giúp HS đánh giá bản thân ở những đặc điểm cơ bản sau: 35 Thứ nhất, trợ giúp HS khám phá hiểu được khả năng, năng lực nghề, năng lực học tập của bản thân Thứ hai, trợ giúp HS khám phá hiểu được tính cách phù hợp với nghề Thứ ba, trợ giúp HS tìm hiểu sở thích, hứng thú của bản thân Ngoài những đặc điểm cơ bản nêu trên, nhà tham vấn cần trợ giúp HS tìm hiểu về xu hướng nghề, động cơ, giá trị nghề. Trợ giúp HS xác định sự phù hợp giữa điều kiện, hoàn cảnh gia đình với sự lựa chọn nghề trong tương lai và đánh giá đúng sức khỏe, hình thức của bản thân đối với nghề * Trợ giúp HS tìm hiểu về ngành, nghề, hệ thống trường đào tạo Thứ nhất, tìm hiểu về ngành nghề: Điều quan trọng quá trình lựa chọn nghề đúng là HS phải hiểu rõ về nghề mình lựa chọn. Hiểu những đặc điểm của nghề, yêu cầu của nghề, chính vì lẽ đó HS cần phải biết thu thập thông tin về nghề nghiệp, biết phân tích và lựa chọn thông tin một cách toàn diện nhất. Thứ hai, tìm hiểu về hệ thống trường, lớp đào tạo nghề của trung ương và địa phương, hệ thống các trường đại học, cao đẳng. Thứ ba, tìm hiểu thông tin về ngành, nghề đào tạo Thứ tư, tìm hiểu về nhu cầu thị trường lao động Như vậy, sự nhận thức về nghề là kim chỉ nam, là cơ sở để thúc đẩy nhu cầu, hứng thú và tạo ra nguyện vọng chọn nghề cho HS. Nhận thức đúng và đủ sẽ giúp các em có những rung cảm nghề nghiệp tích cực và chọn nghề phù hợp. Nhận thức đúng đắn, đầy đủ, sâu sắc về nghề nghiệp sẽ có tác dụng thúc đẩy hành động chọn nghề của HS phù hợp với nguyện vọng, khả năng của mình, hình thành tình cảm nghề nghiệp bền vững. * Trợ giúp HS ra quyết định chọn nghề phù hợp Có thể nói, chọn nghề phù hợp là nội dung rất quan trọng quá trình tham vấn nghề. Theo Eugene Joseph Martinez (1980) [81], James P. Sampson, JR. Robert C. Readon, Gary W. Peterson, Janet G. Lenz (2004) [90]; Mihai Jigău (2007) [99] cho rằng ra quyết định chọn nghề là một loạt kết luận và hoạt động của bản thân hoặc một lựa chọn được định giá, chọn lọc để đưa ra một quyết định đảm bảo đạt được một kết quả nào đó theo mong muốn của bản thân và được cam kết để hành động; 36 F.Parsons (1909) đã đưa ra các bước trong quá trình chọn nghề gồm có: (1) Đánh giá hiểu biết về bản thân; (2) Hiểu biết của bản thân về thế giới nghề; (3) Kết hợp giữa bản thân và thế giới nghề nghiệp [105, tr.13]. Tác giả Eugene Joseph Martinez (1980) chỉ ra rằng ra quyết định chọn nghề được thể hiện qua 3 giai đoạn: (1) Hiểu việc quyết định chọn nghề; (2) Tự hiểu bản thân; (3) Hiểu thông tin [81, tr.44]. UNESCO (2002) đã đưa ra 6 bước trong quá trình ra quyết định chọn nghề: (1) Nâng cao nhận thức bản thân; (2) Liên kết sự nhận thức bản thân với những yêu cầu nghề nghiệp; (3) Nghiên cứu, tìm kiếm cơ hội nghề nghiệp; (4) Ra quyết định; (5) Xác định mục tiêu; (6) Kế hoạch tìm kiếm nghề nghiệp [113, tr. 27]. Khi đưa ra quyết định lựa chọn nghề nghiệp, điều quan trọng là cá nhân phải ý thức được giá trị, năng lực, sở thích của bản thân, sự hiểu biết đúng về bản thân là động lực kích thích sự lựa chọn nghề phù hợp. Do vậy, HS muốn có được những quyết định chọn nghề đúng đắn thì cần phải đối chiếu năng lực, sở thích, tính cách, của cá nhân với những đặc điểm, yêu cầu của ngành nghề, và với nhu cầu nhân lực của xã hội. Quan trọng và chủ yếu nhất là kết hợp hài hòa ba yếu tố trên trong đó yếu tố đặt lên hàng đầu đối với HS là “Nghề đó cần cho xã hội” [9, tr. 97]. Theo như Trần Thế Linh (1994): “Lựa chọn nghề nghiệp là quá trình đối chiếu so sánh những đặc điểm yêu cầu tính chất của một nghề với điều kiện của bản thân về năng lực, nhu cầu, nguyện vọng, sở thích để tìm cho mình một nghề nghiệp phù hợp. Việc lựa chọn này đòi hỏi một sự cân nhắc, suy nghĩ nghiêm túc xuất phát từ những điều kiện đã có của bản thân, kết hợp với việc tiếp thu kinh nghiệm của những người đi trước”[49]. * Trợ giúp HS giải quyết những khó khăn khác Mâu thuẫn giữa bản thân và cha mẹ trong sự lựa chọn ngành nghề: Hiện tượng HS bị cha mẹ, người thân trong gia đình phản đối việc chọn nghề của các em cũng khá phổ biến. Người lớn can thiệp vào việc chọn nghề của các em thường do động cơ muốn con em mình chọn những nghề mà theo chủ quan của họ thì đó là lĩnh vực hoạt động mang lại lợi ích thiết thực. Mâu thuẫn giữa chọn nghề theo sở thích và chọn nghề theo năng lực: Bản thân HS sẽ có mâu thuẫn này, giữa một bên là năng lực không đủ với một bên là sở thích vượt quá so với khả năng, do vậy, người GV cần phải giúp HS hiểu được chọn nghề theo yếu tố nào là cần thiết. 37 * Trợ giúp HS giải tỏa những khó khăn tâm lí trong quá trình chọn nghề Cùng với các nội dung tham vấn nghề nêu trên, việc trợ giúp HS giải tỏa tâm lí là nội dung cuối cùng và không thể thiếu được trong tham vấn nghề. Chính vì thế giải tỏa tâm lí cho HS không những là nội dung mà còn là mục tiêu của tham vấn nghề. Trong quá trình trợ giúp HS tự đánh giá bản thân, tìm hiểu về ngành, nghề, về trường thi, trợ giúp HS lựa chọn nghề, người GV phải luôn luôn chú ý đến trạng thái tâm lí của HS: Băn khoăn, lo lắng, buồn bực, chán nản,…. để nhận xét và đánh giá mức độ nhận thức và giải quyết những khó khăn trong quá trình chọn nghề của HS. Trạng thái tâm lí trên luôn tỉ lệ thuận với mức độ giải quyết khó khăn của HS. Nhờ có quá trình tham vấn của GV, những khó khăn trong quá trình chọn nghề của HS dần được tháo gỡ và cùng với nó là trạng thái tâm lí dần được cải thiện. Như vậy, việc giải tỏa tâm lí cho HS là hệ quả tất yếu có được sau khi GV thực hiện xong các nội dung trên. Để thực hiện tốt nội dung này, đòi hỏi người GV phải có kĩ năng và kinh nghiệm quan sát, phát hiện những biểu hiện tâm lí của HS trong quá trình tham vấn nghề. Sau khi được tham vấn nghề, HS hiểu biết hơn về bản thân, về ngành nghề và lựa chọn được ngành nghề phù hợp, từ đó HS có được trạng thái tâm lí thoải mái, vui vẻ, yên tâm, tin tưởng hơn vào bản thân và sự lựa chọn nghề của mình.

1.3.2.3. Hình thức GDHN qua tham vấn nghề * Tham vấn nghề cho cá nhân HS Thông qua trao đổi, trò chuyện giữa nhà tham vấn (GV) và cá nhân HS, GV giúp HS giải tỏa được những băn khoăn, lo lắng để có sự an tâm trong quá trình chọn nghề. Đồng thời nâng cao năng lực tự giải quyết những khó khăn, vướng mắc của HS, HS khẳng định lại bản thân mình, hiểu biết của mình, tự tin về bản thân trong quá trình chọn nghề thông qua đó HS tự chọn được nghề phù hợp với năng lực, tính cách, sở thích của bản thân và nhu cầu của xã hội. Đây là sự tương tác cơ bản giữa GV và HS. Trong sự tương tác này, GV cần tuân thủ những nguyên tắc của tham vấn như tôn trọng, thấu hiểu…, tuân thủ đạo đức của nhà tham vấn và đặc biệt là vận dụng tốt những kĩ năng tham vấn để giải tỏa tâm lí cho HS, đồng thời giúp cho các em hiểu về vấn đề của bản thân các em, từ đó các em có được những cách giải quyết phù hợp nhất. Khi tham vấn cá nhân, HS có thể hỏi bất kì vấn đề gì mà các em muốn biết. HS có thể bộc lộ những suy nghĩ riêng tư, thầm kín mà các em không tiện nói với các bạn trong nhóm. 38 Trong tham vấn cá nhân, có những hình thức tham vấn trực tiếp và gián tiếp qua điện thoại, qua thư điện tử. * Tham vấn nghề cho nhóm HS Nhóm chính là công cụ, phương tiện của nhà tham vấn để thông qua đó nhà tham vấn thực hiện nhiệm vụ của mình. Tham vấn nghề cho nhóm nhằm nâng cao được khả năng giải quyết khó khăn của từng HS trong nhóm đồng thời giải quyết được những khó khăn chung cho cả nhóm. Dưới sự trợ giúp của GV, HS trong nhóm trao đổi, thảo luận, chia sẻ các vấn đề, cảm xúc, suy nghĩ, và kinh nghiệm của mình với các thành viên còn lại và đón nhận sự phản hồi và hỗ trợ của nhau cũng như từ nhà tham vấn (GV) từ đó các em tự đưa ra những cách giải quyết phù hợp nhất cho từng thành viên trong nhóm và cho cả nhóm. Tham vấn nghề tiến hành theo nhóm sẽ rất có lợi, các thành viên trong nhóm hỗ trợ lẫn nhau để vượt qua vấn đề của họ. 1.3.2.4. Định hướng quy trình hoạt động tham vấn nghề * Quy trình tham vấn nghề * Quy trình tham vấn nghề của Jennifer M Kidd (2006), tác giả đưa ra 4 giai đoạn trong quá trình tham vấn nghề như sau [91, tr.89-94] Giai đoạn 1: Xây dựng mối quan hệ Trong giai đoạn này, nhà tham vấn tạo mối quan hệ hợp tác giữa nhà tham vấn với thân chủ. Vì vậy, việc quan trọng là giúp thân chủ hiểu được tham vấn là công việc mang tính hợp tác và họ cần mỗi người tham gia tích cực ở mỗi giai đoạn. Giai đoạn 2: Giúp thân chủ tự nhận thức Nhiệm vụ chính của giai đoạn này là nhà tham vấn giúp thân chủ hiểu hơn về vấn đề và tình huống liên quan đến họ. Trong giai đoạn này nhà tham vấn vận dụng những phương pháp và kĩ thuật để giúp thân chủ tự tìm hiểu bản thân, tìm ra điểm mạnh và điểm yếu; sở thích và giá trị của bản thân và xác định tình huống Giai đoạn 3: Khám phá tìm ra những quan điểm mới Nhà tham vấn giúp thân chủ khám phá, tìm ra những quan điểm mới về vấn đề, đồng thời điều chỉnh suy nghĩ và nhận thức sai lệch của họ. Nhà tham vấn giúp đỡ thân chủ một cách tế nhị, giúp họ đối mặt với những hành vi xấu mà ngăn cản họ phát triển trong công việc và cuộc sống. Giai đoạn 4: Hình thành chiến lược và kế hoạch 39 Đặt mục tiêu: Khi chuẩn bị kết thúc quá trình tham vấn nghề, nhà tham vấn giúp thân chủ đặt mục tiêu và quyết định các bước cần làm để đi đến mục tiêu đó. Mục tiêu: Rõ ràng và cụ thể; Có thể đo lường được; Được làm chủ bởi những người đưa ra mục tiêu; Phù hợp với giá trị của mỗi người; Thời gian được sắp xếp hợp lý Lập kế hoạch: Khi những mục tiêu này được thống nhất, thân chủ sẽ được khuyến khích thực hiện kế hoạch hành động. Một kĩ thuật có thể hữu ích trong việc đưa ra kế hoạch bao gồm những bước sau:

1. Thân chủ được yêu cầu liệt kê những rào cản mà họ vấp phải trong quá trình thực hiện kế hoạch hành động (như thiếu kĩ năng hay phản ứng của người khác).

2. Thân chủ liệt kê tất cả những nguồn lực thuận lợi để phát triển kế hoạch hành động. 3. Xác định nguồn lực quan trọng nhất trong số những nguồn lực đã được liệt kê.

4. Thân chủ tìm ra những cách để giảm thiểu tác động tiêu cực của các yếu tố và phát huy tối đa hiệu quả của các yếu tố thuận lợi. Quy trình trên tiếp cận từ phía thân chủ, cho thấy nhà tham vấn đã thực hiện đúng vai trò, chức năng của mình là trợ giúp thân chủ tự nhận thức vấn đề của bản thân và nhà tham vấn giúp thân chủ có những quan điểm mới, cách nhìn nhận mới về vấn đề của mình và giúp họ đạt được mục tiêu, hình thành kế hoạch thực hiện.

* Quy trình tham vấn nghề của Norman C. Gysbers, Mary J. Heppner, Joseph A. Johnston (2009) [102, tr.64-68] Quy trình tham vấn nghề của các tác giả này bao gồm 5 giai đoạn sau đây:

Giai đoạn 1: Nhận dạng mục tiêu và vấn đề của thân chủ - Xác định và phân biệt mối quan hệ của thân chủ và người tham vấn, trách nhiệm và các vấn đề đã thỏa thuận và tính bảo mật của quá trình tham vấn - Nhận dạng được mục tiêu và khó khăn đầu tiên của thân chủ - Lắng nghe những suy nghĩ và tình cảm cũng như những trăn trở của thân chủ

Giai đoạn 2: Thu thập thông tin thân chủ Sử dụng cách thức tham vấn, dụng cụ đo lường và quy trình để làm rõ và chỉ rõ những khó khăn và mục tiêu hiện tại của thân chủ - Tìm hiểu quan điểm của thân chủ về bản thân, người khác và thế giới của họ (thế giới quan) cũng như hoàn cảnh văn hóa, xã hội, lịch sử ảnh hưởng tới họ như thế nào 40 - Khám phá cách thân chủ làm rõ vai trò của họ trong cuộc sống, hoàn cảnh, sự kiện, quá khứ, hiện tai và tương lai

- Xem lại những rào cản và sức ép có thể từ bản thân và môi trường của thân chủ - Nhận ra phong cách của thân chủ và những quyết định của thân chủ

Giai đoạn 3: Hiểu và đưa ra đươc giả thuyết về hành vi của thân chủ

- Hình thành giả thuyết dựa trên lý thuyết liên quan đến mục tiêu và khó khăn của thân chủ để lựa chọn biện pháp can thiệp phù hợp

- Tập trung vào các nét đa dạng trong giới tính, văn hóa có thể ảnh hưởng đến hành vi của thân chủ - Lắng nghe và phản hồi những căng thẳng của thân chủ Giai đoạn 4: Giúp thân chủ đạt được mục tiêu và giải quyết khó khăn

- Hành động: Nhà tham vấn can thiệp dựa các phương pháp tham vấn, đánh giá số lượng và chất lượng thông tin để trợ giúp thân chủ đạt được mục tiêu hoặc đối phó với những khó khăn.

- Phát triển mục tiêu nghề nghiệp và kế hoạch hành động: phát triển các mục tiêu nghề nghiệp của thân chủ và kế hoạch để đạt được mục tiêu, giải quyết vấn đề và vượt qua những rào cản, những kì thị của môi trường.

Giai đoạn 5: Đánh giá kết quả và kết thúc mối quan hệ Chấm dứt mối quan hệ khi thân chủ đã đạt được mục tiêu hoặc vấn đề được giải quyết Quy trình nêu trên cho thấy quy trình này tiếp cận từ góc độ của nhà tham vấn nghề, mọi giai đoạn của quy trình này đều được thực hiện bởi nhà tham vấn. Với quy trình này nhà tham vấn đã thực hiện nhiều hơn vai trò của mình. Do vậy, nhà tham vấn chưa khai thác hết được khả năng của thân chủ trong quá trình giải quyết những khó khăn của mình. Như vậy, quy trình trên đã chỉ rõ các nội dung của từng giai đoạn cũng như cách thức thực hiện các giai đoạn đó, tuy nhiên quy trình trên chủ yếu được thực hiện trên đối tượng là những người đang đi tìm việc làm, những người gặp khó khăn trong công việc vì vậy quy trình trên có những nội dung, cách thức chưa phù hợp với đặc điểm tâm lí HS phổ thông. Trên cơ sở những quy trình trên, chúng tôi xây dựng nên quy trình hoạt động tham vấn nghề trong GDHN cho HS ở nhà trường THPT. * Định hướng quy trình hoạt động tham vấn nghề 41 Quy trình là một trật tự logic tuyến tính bao gồm các giai đoạn, các bước hay các khâu, có tính chất chỉ dẫn quá trình thực hiện một hoạt động nào đó kể từ khi bắt đầu cho đến khi kết thúc hoạt động. Vậy Quy trình hoạt động tham vấn nghề là một trật tự tuyến tính bao gồm các giai đoạn và các bước, có tính chất chỉ dẫn hoạt động tham vấn nghề trong GDHN.

Định hướng quy trình hoạt động tham vấn nghề:

- Xác định được các nguyên tắc xây dựng và nguyên tắc thực hiện quy trình để tham vấn nghề cho HS trong GDHN

- Lựa chọn được hình thức và cách thức triển khai quy trình phù hợp - Xác định được giai đoạn và các bước triển khai quy trình. Thực chất đây là các giai đoạn và các bước tổ chức tham vấn nghề theo các cách đã lựa chọn.

- Xác định những yêu cầu để thực hiện quy trình hoạt động tham vấn nghề trong GDHN đạt hiệu quả.

1.3.3. Ưu thế và hạn chế của GDHN qua tham vấn nghề ở THPT

1.3.3.1. Ưu thế của GDHN qua tham vấn nghề ở THPT Ở THPT, GDHN được thực hiện bằng nhiều con đường khác nhau: dạy học các môn học, tham vấn nghề, tổ chức hoạt động ngoại khóa,... Mỗi một con đường có ưu thế riêng trong hoạt động GDHN. Tham vấn nghề cũng vậy, với tư cách là một con đường GDHN, nó cũng có những ưu thế riêng đối với hoạt động này. Theo nghiên cứu của chúng tôi, tham vấn nghề trong GDHN có những ưu thế sau: Thứ nhất, tham vấn nghề có thể giải quyết được những khó khăn liên quan đến việc chọn nghề của HS. Đây là ưu thế cơ bản, đặc trưng mà chỉ có tham vấn nghề mới thực hiện được trong GDHN: Thông qua quá trình tham vấn, GV ở trường THPT giúp HS tự phát hiện ra những băn khoăn, thắc mắc và những vấn đề cần phải giải quyết liên quan đến vấn đề chọn nghề của bản thân HS, từ đó trợ giúp HS tự lí giải và tự tìm cách giải quyết các vấn đề đó. Như vậy, nhờ có sự tham vấn của GV, HS sẽ cảm thấy tự tin hơn, thoải mái hơn và sẽ đi đến những quyết định chọn nghề đúng đắn, phù hợp. Thứ hai, tham vấn nghề trong GDHN ở THPT thực hiện được mục tiêu kép. Mục tiêu kép của tham vấn nghề trong GDHN là vừa giải tỏa và giải quyết được những khó khăn trong quá trình chọn nghề cho HS và vừa thực hiện được mục tiêu 42 của GDHN là giúp HS có năng lực tự nhận thức và đánh giá bản thân, hiểu biết về ngành, nghề, trường đào tạo và đặc biệt là có năng lực lựa chọn được nghề phù hợp. Thứ ba, có thể kết hợp dễ dàng tham vấn nghề với các con đường GDHN khác trong nhà trường THPT: Tham vấn nghề trong quá trình dạy học các môn khoa học cơ bản và môn công nghệ; tham vấn nghề trong tổ chức hoạt động GDHN chính khóa; tham vấn nghề trong quá trình tổ chức các hoạt động ngoại khóa; tham vấn nghề trong các buổi sinh hoạt hướng nghiệp. Khi kết hợp tham vấn nghề với các con đường GDHN nêu trên sẽ tăng hiệu quả cho chính hoạt động tham vấn, cho các con đường và cho hoạt động GDHN ở nhà trường THPT. Như vậy, tham vấn nghề là một con đường GDHN có thể tham gia vào mọi giai đoạn của GDHN và có mối quan hệ tương tác chặt chẽ với các con đường GDHN khác tạo nên một chỉnh thể thống nhất trong GDHN. Thứ tư, tham vấn nghề có thể được thực hiện trong mọi giai đoạn của hoạt động GDHN, giáo dục tuyên truyền nghề đến thích ứng nghề. Bởi lẽ, trong bất kì giai đoạn nào, HS cũng gặp những khó khăn, những vướng mắc mà bản thân các em không giải quyết được, do vậy với vai trò là nhà tham vấn (GV) sẽ vận dụng những kiến thức và kĩ năng của mình trợ giúp HS giải tỏa được những thắc mắc, băn khoăn, lo lắng đó. Tuy nhiên khi tham gia vào các giai đoạn này, tham vấn chỉ thực hiện một vài chức năng của nó, do vậy để có thể thực hiện được tốt hoạt động tham vấn thì cần phải được thực hiện theo một qui trình nhất định. Thứ năm, quá trình tham vấn nghề hỗ trợ cho quá trình dạy học, giáo dục và GDHN ở nhà trường THPT. Thông qua quá trình tham vấn nghề cho HS, sẽ giúp GV và nhà trường phát hiện và giải tỏa kịp thời những khó khăn tâm lí liên quan đến chọn nghề tương lai của HS, nắm bắt được tâm tư, nguyện vọng, nhu cầu, xu thế chọn nghề của HS. Trên cơ sở đó nhà trường THPT sẽ có những cơ sở quan trọng cho việc điều chỉnh, đổi mới hoạt động dạy học, giáo dục và GDHN cho phù hợp và kịp thời. Thứ sáu, tham vấn nghề là một con đường GDHN thuận lợi trong nhà trường THPT. Đây là con đường GDHN rất thuận lợi đối với cả nhà tham vấn (GV) và HS. HS có thể tìm đến tham vấn (GV) của mình bất cứ lúc nào ở trường khi các em cần và tham vấn (GV) cũng có thể tiến hành tham vấn nghề cho HS bất cứ lúc nào khi HS có nhu cầu. HS không phải tìm kiếm nhà tham vấn tâm lí bên ngoài trường học. 43 Bên cạnh đó khi người GV đồng thời là một nhà tham vấn tâm lí trong việc định hướng nghề nghiệp cho HS, GV có thể tham vấn nghề cho HS thông qua quá trình dạy học các môn học và các hoạt động giáo dục trong nhà trường. Vì là tham vấn nghề trong GDHN nên người GV luôn giữ vai trò chủ động của một nhà giáo dục và sẵn sàng tham vấn nghề cho HS bất cứ lúc nào khi HS có nhu cầu. Như vậy, tham vấn nghề trong GDHN cần được người GV xác định rõ mục tiêu tham vấn, nội dung tham vấn, kĩ thuật tham vấn…. trong khuôn khổ phù hợp với mục tiêu, nội dung, phương pháp, hình thức GDHN. Sau mỗi lần tham vấn nghề cho HS, người GV cần phải tiến hành tổng kết và đánh giá các đối tượng, độ tuổi HS tìm đến nhà tham vấn, các vấn đề HS cần tham vấn, những khó khăn cần được giải tỏa, các nghề HS đã lựa chọn và những nguyên nhân của những vấn đề này… để từ đó có những nhận xét, kết luận về quá trình tham vấn và công tác GDHN ở nhà trường THPT, cũng như có sự điều chỉnh cho các hoạt động này trong thời gian tiếp theo. Thứ bảy, việc tiến hành hoạt động tham vấn nghề trong nhà trường THPT sẽ giúp cho HS và gia đình giảm chi phí và tiết kiệm thời gian. HS và phụ huynh có thể gặp các nhà tham vấn tâm lí ngay trong trường học hoặc là chính những GV thân thuộc hàng ngày dạy dỗ các em. Khi đó GV coi HS và gia đình không phải là những khách hàng (thân chủ) của mình mà coi việc tham vấn nghề cho HS là một trong những nội dung giáo dục thuộc chức năng, nhiệm vụ của người GV THPT. 1.3.3.2. Hạn chế của GDHN qua tham vấn nghề ở THPT Ngoài những ưu thế đã nêu ở trên, thì tham vấn nghề trong GDHN còn có những hạn chế nhất định như sau: Thứ nhất, do chức năng nổi trội của tham vấn nghề là trợ giúp HS giải quyết những khó khăn, vướng mắc trong quá trình chọn nghề, nên việc cung cấp thông tin về nghề và về các trường đào tạo cho HS không được hệ thống như những con đường GDHN khác. Thứ hai, do bản chất của tham vấn nghề là tham vấn, trợ giúp cho HS khi các em gặp khó khăn. Vì vậy, chỉ tác động được đối với số ít HS (so với các con đường khác). 1.3.4. Mối quan hệ giữa con đường tham vấn nghề với các con đường GDHN khác GDHN trong nhà trường được thực hiện thông qua nhiều con đường khác nhau. Tham vấn nghề là một con đường GDHN vừa có tính độc lập vừa có mối liên 44 hệ với các con đường khác. Mỗi con đường đều có những ưu thế và những hạn chế nhất định. Ưu thế của GDHN thông qua dạy học các môn khoa học cơ bản chỉ ra được mối liên hệ giữa kiến thức môn học với các ngành nghề, trong xã hội, phát hiện và bồi dưỡng những năng khiếu của HS. Thông qua việc tổ chức hoạt động GDHN chính khóa cung cấp những thông tin về những ngành nghề chủ yếu, cơ bản của đất nước, những ngành nghề mà Nhà nước đang cần phát triển một cách hệ thống. Thông qua hoạt động ngoại khóa nhằm hỗ trợ cho các hoạt động GDHN khác trong việc giới thiệu, tuyên truyền nghề cho HS. Thông qua hoạt động dạy và học môn công nghệ HS hiểu được những nguyên lí cơ bản về kĩ thuật, công nghệ khoa học, quy trình sản xuất trong thực tế và những ứng dụng của chúng trong hoạt động nghề nghiệp khác nhau. Thông qua các buổi sinh hoạt hướng nghiệp HS có được những hiểu biết thêm về nghề nghiệp thông qua sự chia sẻ với các bạn. Thông qua tham vấn nghề sẽ giúp HS giải quyết được những khó khăn, giải tỏa những lo lắng của HS, tạo hứng thú, củng cố niềm tin cho HS trong quá trình chọn nghề phù hợp, đồng thời góp phần nâng cao năng lực tự nhận thức và đánh giá bản thân, hiểu biết về ngành, nghề, trường thi và ra quyết định chọn nghề phù hợp. Có thể khẳng định rằng 6 con đường GDHN nêu trên ở THPT có mối quan hệ tương tác, chặt chẽ với nhau trong một chỉnh thể thống nhất. Con đường GDHN này tương tác, hỗ trợ cho con đường GDHN kia. Bởi lẽ, khi HS có những kiến thức về ngành, nghề, có hiểu biết về hệ thống các trường đào tạo thì nhà tham vấn sẽ tiến hành quá trình tham vấn một cách nhanh chóng hơn, tiết kiệm được thời gian và công sức nhờ vậy mà quá trình tham vấn sẽ đạt hiệu quả cao hơn. Ngược lại, chính những kết quả mà tham vấn đem lại sẽ giúp HS chủ động hơn trong việc tiếp nhận thông tin, tìm kiếm thông tin và chủ động tham gia vào các hoạt động khác để bổ sung những kiến thức cho mình đầy đủ nhất và trong thời gian nhanh nhất. Do đó nếu thiếu đi một trong các con đường này thì GDHN sẽ không trọn vẹn mặc dù GDHN vẫn được tiến hành nhưng nó không đầy đủ và gặp nhiều khó khăn. Như vậy, trong nhà trường THPT, GDHN là một tổ hợp các hoạt động và được thực hiện thông qua nhiều con đường khác nhau trong đó có con đường tham vấn nghề. Do đó muốn đạt được hiệu quả cao trong GDHN ở THPT thì các con đường này phải được thực hiện một cách đồng bộ, hệ thống và khoa học.

45 1.4. NHỮNG YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN QUÁ TRÌNH GDHN QUA THAM VẤN NGHỀ Trong quá trình tham vấn nghề có rất nhiều yếu tố ảnh hưởng, những yếu tố này có ảnh hưởng tích cực và tiêu cực làm tăng lên hoặc giảm đi hiệu quả của quá trình tham vấn. Việc xác định được các yếu tố ảnh hưởng sẽ giúp chúng ta biết lựa chọn và vận dụng những yếu tố đó vào trong quá trình tham vấn một cách linh hoạt để từ đó nâng cao hiệu quả của GDHN qua tham vấn nghề ở THPT.

1.4.1. Yếu tố thuộc về nhà tham vấn (GV) * Hiểu biết về lĩnh vực tham vấn nghề: Ngoài hiểu biết về lĩnh vực tham vấn tâm lí như tác giả Y. Anthony (1993) cho rằng những người thực hiện tham vấn cần được trang bị kiến thức tham vấn một cách bài bản và có hệ thống [76], đó là những kiến thức đặc điểm, bản chất, cách thức tham vấn giúp cho nhà tham vấn (GV) thực hiện tốt nhiệm vụ, chức năng của mình. Mặt khác nhà tham vấn nhất thiết phải hiểu biết về lĩnh vực tham vấn nghề. Đó là những hiểu biết về những đặc trưng của tham vấn nghề, những khó khăn mà HS thường gặp phải trong việc xác định nghề cho bản thân. Đồng thời nhà tham vấn (GV) biết thực hiện đúng chức năng, nhiệm vụ và những giới hạn của tham vấn nghề. * Kiến thức và kĩ năng tham vấn: Samuel H. Osipow (1987) [trích theo 111, tr. 56]; Jennifer M Kidd [91, tr.95]; Lynda Ali and Barbara Graham [93, tr. 18], Norman C. Gysbers, Mary J. Heppner, Joseph A. Johnston [102, tr.284]; Trần Thị Minh Đức [28] thì nhà tham vấn nghề cần phải có những kiến thức và kĩ năng của một nhà tham vấn, đó là: Kĩ năng thiết lập mối quan hệ; Kĩ năng lắng nghe; Kĩ năng thấu hiểu; Kĩ năng chia sẻ; Kĩ năng quan sát; Kĩ năng phản hồi; Kĩ năng khai thác thông tin; Kĩ năng phân tích, đánh giá thông tin; Kĩ năng sử dụng các trắc nghiệm tâm lí; Kĩ năng quản lí thời gian; Kĩ năng tìm hiểu đặc điểm tâm sinh lí HS. Bởi vậy nếu nhà tham vấn không có những kĩ năng trên sẽ không đem lại hiệu quả cao trong hoạt động tham vấn nghề. * Hiểu biết về hệ thống ngành nghề đào tạo trong xã hội, xu thế phát triển xã hội và nhu cầu thị trường lao động: Hiểu biết về hệ thống ngành nghề đào tạo, các nghề truyền thống ở Việt Nam. Hiểu biết về đặc điểm, yêu cầu của ngành nghề đào tạo và xu thế phát triển của các ngành nghề trong xã hội. Nhà tham vấn ngoài những 46 hiểu biết nêu trên thì cần phải có hiểu biết về các vấn đề xã hội như kinh tế, văn hóa,… đây chính là những thông tin quan trọng trong việc định hướng nghề cho HS. * Nhà tham vấn yêu thích, nhiệt tình và trách nhiệm với công việc tham vấn: Tham vấn nghề đòi hỏi có thời gian, dành sự tâm huyết đối với nghề mới đem lại hiệu quả cao. Bởi vì theo Pope, Mark (2003) [94]; [98], trong nghiên cứu của mình tác giả đã chỉ ra rằng tham vấn nghề là một nghề bình thường và nhàm chán. E.D. Neukrug (1999) cũng đã đề cập đến vai trò của sự nhiệt tình hay yêu thích công việc như một khía cạnh của đặc điểm nhân cách mà người trợ giúp cần có để thực hiện công việc này có kết quả. Như vậy, hiệu quả của tham vấn nghề luôn gắn với sự say mê, yêu thích công việc trong việc tham vấn nghề cho HS [103]. 1.4.2. Yếu tố thuộc về HS * Ý thức được sự cần thiết phải đánh giá bản thân: Trình độ, năng lực, tính cách, sở thích nhu cầu, nguyện vọng, động cơ, giá trị của bản thân là yếu tố cơ bản, làm cơ sở để xác định nghề phù hợp. HS luôn cần phải đánh giá về mình trong bất kì hoàn cảnh và hoạt động nào để tự nhận ra mình có những năng lực, tính cách, sở thích, nguyện vọng ra sao. Dựa trên sự nhận thức đúng về bản thân, HS sẽ dễ dàng đối chiếu, so sánh để lựa chọn cho mình một nghề phù hợp trong hệ thống nghề của xã hội. Do vậy, HS càng nhận thức rõ mình bao nhiêu thì việc lựa chọn nghề càng dễ dàng bấy nhiêu. * Chủ động tích cực trong việc tìm kiếm thông tin, lựa chọn thông tin và phân tích các thông tin: Chủ động, tích cực trong việc tìm kiếm thông tin thì HS sẽ nhanh chóng tìm được những thông tin về nghề, về trường đào tạo nghề và về thị trường lao động và dần dần sẽ xuất hiện ở các em các kĩ năng tìm kiếm thông tin. Bên cạnh đó đòi hỏi HS cần phải có kĩ năng lựa chọn và phân tích thông tin, tức là các em phải biết thông tin mình tìm được là đúng hay sai, có điểm nào tốt và có điểm nào chưa tốt, thông tin đó giúp ích gì trong việc lựa chọn nghề. Do vậy, HS càng có kĩ năng này bao nhiêu thì việc tìm ra được những ưu điểm của nghề, những yêu cầu của nghề càng dễ dàng bấy nhiêu và điều này góp phần mang lại hiệu quả cho quá trình tham vấn và trong sự lựa chọn nghề của chính các em. * Chủ động, tích cực xin ý kiến, trao đổi, chia sẻ những băn khoăn thắc mắc với thầy cô, bạn bè, gia đình về các vấn đề liên quan đến lựa chọn ngành nghề cho bản thân: Trong quá trình định hướng nghề, quá trình chọn nghề cho bản thân HS 47 gặp rất nhiều khó khăn, nếu như bằng kinh nghiệm của bản thân các em thì các em khó có thể giải quyết được những khó khăn đó một cách tốt nhất. HS càng chủ động, tích cực và vượt qua được những e ngại để gặp gỡ nhà tham vấn đồng thời các em sẵn sàng chia sẻ những khó khăn, vướng mắc đó để cùng nhà tham vấn tìm ra được những cách giải quyết nhanh nhất và hiệu quả nhất.

1.4.3. Yếu tố thuộc về nhà trường * Điều kiện cơ sở vật chất Phòng phục vụ cho tham vấn nghề cần có đầy đủ về trang thiết bị, các phương tiện nghe nhìn, công cụ, những nguồn tài liệu, bàn ghế rời phù hợp cho việc làm việc nhóm, làm việc cá nhân. Tài liệu phục vụ cho tham vấn nghề phải phong phú, và được cập nhật thường xuyên: các công cụ, các trắc nghiệm tâm lí để đánh giá đặc điểm tâm lí của HS; các tài liệu về các ngành nghề trong xã hội, những thông tin về thị trường lao động của địa phương và của xã hội; những trang Web hướng nghiệp, các đĩa CD-ROM để bất kì nhà tham vấn và HS có thể vào đó để tìm kiếm được những thông tin mà mình cần; các Video ghi lại những buổi tham vấn hướng nghiệp ở các trường học, ở trên đài báo, ti vi, dựa trên đó nhà tham vấn rút ra được những kinh nghiệm cho bản thân. * Sự quan tâm của các cấp quản lí: Sự quan tâm của các cấp quản lí thể hiện ở sự quan tâm đối với GV thực hiện tham vấn nghề cũng như GDHN thông qua sự động viên, khích lệ GV khi họ thực hiện công việc. Bên cạnh đó còn thể hiện ở sự nhận thức đúng về vai trò, ý nghĩa của GDHN và tham vấn nghề, xây dựng được lực lượng chuyên trách và có kế hoạch tập huấn, bồi dưỡng về chuyên môn cho các lực lượng này.

1.4.4. Các yếu tố khác * Mối quan hệ giữa nhà tham vấn và HS trong quá trình tham vấn: Sự thành công của buổi tham vấn phụ thuộc rất nhiều vào mối quan hệ giữa nhà tham vấn và HS. Mối quan hệ thân thiết, cởi mở giữa nhà tham vấn và HS thì HS sẽ dễ dàng giãi bày, thổ lộ những khó khăn vướng mắc của các em trong khi chọn nghề, điều đó tạo điều kiện cho nhà tham vấn thực hiện tốt vai trò của mình. * Môi trường, không gian tham vấn: môi trường này đòi hỏi sự thuận tiện nhất đối với nhà tham vấn và HS trong quá trình tham vấn. Môi trường không gian này không chỉ là những bài trí trong phòng, mà còn có thể có những không gian mở ở 48 ngoài phòng tham vấn. Không gian thuận tiện, thoải mái sẽ giúp cho quá trình tham vấn diễn ra hiệu quả hơn. * Thời gian, thời lượng dành cho tham vấn nghề: Điều này muốn đề cập đến thời gian, nội dung cho một buổi tham vấn và thời điểm tham vấn. Thời gian tham vấn ngắn cũng không đem lại hiệu quả, mà thời gian dài cũng làm cho nhà tham vấn và thân chủ mỏi mệt. Nội dung tham vấn quá nhiều cũng không đem lại hiệu quả. Việc qui định thời gian và xác định thời lượng cho mỗi một buổi tham vấn là rất cần thiết. Khi xác định thời gian tham vấn nhà tham vấn cần căn cứ vào đối tượng tham vấn, nội dung tham vấn cho phù hợp. Bên cạnh đó nhà tham vấn cũng cần lựa chọn những thời điểm tham vấn phù hợp với từng HS như tâm trạng, sức khỏe…. * Yếu tố văn hóa và gia đình HS: Đại đa số các bậc phụ huynh trong các gia đình ở nước ta đều mong muốn con mình thi đỗ vào một các trường đại học. Yếu tố gia đình có thể hỗ trợ, hoặc cũng có thể làm giảm đi mức độ sẵn sàng trong quyết định lựa chọn nghề nghiệp. Nhiều cha mẹ bắt ép con cái theo ý của mình trong việc chọn nghề sẽ gây khó khăn trong quá trình lựa chọn nghề của học sinh. Còn một số phụ huynh khác thì lại tỏ ra không mấy quan tâm đến nghề nghiệp tương lai của con, để mặc con mình tự đăng kí thi vào trường nào cũng được. Do vậy cha mẹ HS nhận thức rõ được tầm quan trọng của tham nghề sẽ sẵn sàng hợp tác với GV quá trình tham vấn sẽ thuận lợi hơn, việc lựa chọn nghề của các em sẽ dễ dàng và nhanh chóng hơn, giúp các em sự tự tin trong việc ra quyết định nghề nghiệp của bản thân. * Cơ chế chính sách: Mỗi trường THPT cần có chỉ tiêu cho GV chuyên trách thực hiện công tác GDHN nói chung và tham vấn nghề nói riêng. Cơ chế cho những GV là một trong những động lực để giúp cho người GV thực hiện tốt công việc của mình, thúc đẩy GV học tập, bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn. Bên cạnh đó muốn tổ chức cho HS đi tham quan thực tế những cơ sở sản xuất, các nhà máy xí nghiệp, hoặc mời các chuyên gia, hoặc các doanh nhân thành đạt thì cũng cần phải có kinh phí. Kết luận chương 1 1. Vấn đề tham vấn nghề trong GDHN ở THPT ở Việt Nam là vấn đề mới, chưa có nhiều công trình nghiên cứu và vấn đề này. 2. GDHN hướng nghiệp có thể được thực hiện qua nhiều con đường: Thông qua hoạt động dạy các môn khoa học cơ bản, môn công nghệ; thông qua hoạt động ngoại khóa; thông qua Hoạt động GDHN chính khóa; thông qua sinh hoạt hướng 49 nghiệp. Các con đường này có mối quan hệ hữu cơ với nhau. Có một con đư ờng vừa có thể tương tác, hỗ trợ với các con đường GDHN này, vừa có thể tồn tại một cách độc lập, riêng rẽ và thực hiện được mục tiêu GDHN, đó là tham vấn nghề. Tham vấn nghề được coi là một trong những con đường GDHN cần thiết và có hiệu quả ở nhà trường THPT hiện nay. 3. Tham vấn nghề trong GDHN nhằm: trợ giúp HS khắc phục khó khăn của bản thân khi lựa chọn nghề tương lai; nâng cao hiểu biết về các nghề, về hệ thống các trường đào tạo nghề, trường thi; phát triển năng lực tự nhận thức và đánh giá bản thân; năng lực lựa chọn nghề phù hợp, thông qua việc HS tự phát hiện và giải quyết các vấn đề liên quan đến việc chọn nghề. Đây là những ưu thế của tham vấn nghề mà các con đường GDHN nêu trên không thể có được. 4. Được nghiên cứu với tư cách là một con đường GDHN độc lập, tham vấn nghề có mục tiêu, nội dung riêng và được tiến hành theo một quy trình nhất định, đảm bảo cho hoạt động tham vấn nghề phát huy hết những ưu thế của nó và thực sự mang lại hiệu quả tốt cho GDHN ở THPT. 5. Tham vấn nghề trong GDHN chịu sự tác động của nhiều yếu tố: Yếu tố thuộc về GV, yếu tố thuộc về HS, yếu tố thuộc về nhà trường, gia đình, xã hội.... Trong quá trình tham vấn nghề cho HS THPT, GV cần tính đến mức độ ảnh hưởng của các yếu tố này đến việc lựa chọn nghề của HS thì công tác tham vấn mới mang lại hiệu quả và đạt được mục tiêu GDHN…vvv…

 

 

28