DMCA.com Protection Status

CHUYÊN ĐỀ 1. CÔNG TÁC DÂN VẬN( st)  quan tâm

Được viết bởi: Trần Việt Thao

Cập nhật lúc 09:39 ngày 25/01/2018

Nguyễn Quốc Vũ 0 K74 Ôn tập môn Công tác Đảng – Đoàn thể

 

CHUYÊN ĐỀ 1. CÔNG TÁC DÂN VẬN

1. Khái niệm dân vận theo tư tưởng Hồ Chí Minh:

Dân vận là vận động tất cả lực lượng của mỗi một người dân không để sót một người dân nào, góp thành lực lượng toàn dân, để thực hành những công việc nên làm, những công việc Chính phủ và Đoàn thể đã giao cho

Từ khái niệm trên, ta thấy:

- Đối tượng công tác dân vận là toàn thế nhân dân, trong nước cũng như ngoài nước…

- Nội dung cơ bản của công tác dân vận là: Tuyên truyền, vận động nhân dân, tổ chức lực lượng nhân dân đoàn kết để thực hiện những nhiệm vụ của cách mạng, những việc nên làm.

- Mục tiêu công tác dân vận là mục tiêu chung của cách mạng. Tùy theo mỗi gia đoạn mà công tác dân vận có mục tiêu khác nhau.

- Phương thức của công tác dân vận là: Dân vận mọi lúc, mọi nơi, mọi hoàn cảnh, mọi tình huống, trước hết là từ cơ sở

- Quy trình công tác dân vận:

+ Phải cho dân biết: Quyền làm chủ của nhân dân, đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước, thông tin thời sự, chính sách, cán bộ lãnh đạo, quản lý mình.

Giải thích cho dân hiểu: "Trước nhất là phải tìm mọi cách giải thích cho mỗi một người dân hiểu rõ ràng: Việc đó là lợi ích cho họ và nhiệm vụ của họ, họ phải hăng hái làm cho kỳ được".

Bày cách cho dân làm: "phải bàn bạc với dân, hỏi ý kiến và kinh nghiệm của dân, cùng với dân đặt kế hoạch cho thiết thực với hoàn cảnh địa phương, rồi động viên và tổ chức toàn dân ra thi hành".  Và "Trong lúc thi hành phải theo dõi, giúp đỡ, đôn đốc, khuyến khích dân".

Tiến hành kiểm tra, kiểm soát: "Khi thi hành xong phải cùng với dân kiểm thảo lại công việc, rút kinh nghiệm, phê bình, khen thưởng".

- Phong cách dân vận: Gần dân, sát dân, Người căn dặn: “Muốn thực sự gần gũi quần chúng thì phải cùng ăn, cùng ở, cùng làm mới biết cách sinh hoạt của quần chúng thế nào, mới biết nguyện vọng quần chúng thế nào

- Phương pháp dân vận: “óc nghĩ, mắt trông, tai nghe, chân đi, miệng nói, tay làm”.

Óc nghĩ: Điều này được Hồ Chí Minh đặt ở vị trí hàng đầu, cho thấy người đặc biệt đề cao trí tuệ và yêu cầu về sự “động não” của người làm công tác dân vận.

Bác Hồ muốn khẳng định, công tác dân vận không chỉ là những thao tác cụ thể, những công thức có sẵn mà bản thân nó là một khoa học -khoa học về con người, một nghệ thuật - nghệ thuật tiếp cận và vận động con người, phải dày công tìm tòi suy nghĩ để phân tích chính xác tình hình nhân dân, vận dụng sáng tạo lý luận vào thực tiễn sinh động để vận động nhân dân có hiệu quả.

Mắt trông: Là quan sát mọi sự việc, hiện tượng từ thực tiễn phong trào cách mạng của quần chúng, để “trăm nghe không bằng một thấy”. Với sự nhạy cảm, tinh tế trong quan sát, kết hợp với “óc nghĩ” xác định được đúng, sai, nhận rõ bản chất và hiện tựợng của từng sự việc, từng vấn đề để làm đúng, tham mưu kịp thời cho Đảng và Nhà nước để có cách giải pháp đúng đắn kịp thời đưa phong trào của quần chúng đi đúng hướng. Ở điểm này, Hồ Chí Minh muốn nhắc nhở cán bộ, đảng viên làm công tác dân vận phải thường xuyên sâu sát cơ sở. Vì chỉ có sát cơ sở mới có thể “thấy” mọi sự việc, vấnđề. Theo đó, muốn vận động quần chúng một cách thiết thực, muốn làm tốt vai trò tham mưu phải “mục sở thị” được các sự việc và vấn đề liên quan đến công tác dân vận.

+ Tai nghe: là một phương pháp khoa học của công tác dân vận, theo Hồ Chí Minh cũng với “óc nghĩ”, “mắt trông”, người làm công tác dân vận còn phải đồng thời nắm bắt kịp thời các thông tin từ quần chúng. Đòi hỏi phải biết nghe dân nói, từ đó mà hiểu được những tâm tư, nguyện vọng chính đáng của dân; loại trừ những thông tin thiếu chân thực, chính xác. Nghe dân nói, cũng là để biết dân đã hiểu gì, hiểu đến mức như thế nào, đã làm như thế nào và làm được đến đâu. Về bản thân, mình  cũng thấy được những gì cần phải bổ sung, điều chỉnh khi thực hiện công tác dân vận.

+ Chân đi: là yêu cầu gắn với cơ sở, một đòi hỏi bức thiết, luôn đặt ra đối với cán bộ dân vận, đây cũng là một yếu tố chống căn bệnh quan liêu, hành chính, làm việc theo kiểu giấy tờ của các cơ quan. Hồ Chí Minh là tấm gương mẫu mực luôn luôn hướng về cơ sở và gắn bó với cơ sở. Sinh thời, dù bận trăm công, nghìn việc nhưng chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn luôn dành thời gian đi cơ sở để khảo sát tình hình thực tế, lắng nghe ý kiến của dân và trực tiếp tháo gỡ những khó khăn nẩy sinh trong dân. Xuống với dân như về gia đình mình, người tuyệt đối không muốn “cờ rong, trống mở” xe đưa xe đón.Nhiều lần người đến thăm cơ sở nhưng không báo trước. người hết sức nghiêm khắc với bệnh tô vẽ, thổi phồng thành tích dẫn tới lừa dân, hại dân, dối trên, lừa dưới của một số cán bộ mắc bệnh thành tích.

 + Miệng nói: Là thực hiện nhiệm vụ tuyên truyền, nhất là tuyên tuyền miệng, một hình thức tuyên truyền không thể thiếu của người làm công tác dân vận. Người cán bộ dân vận phải thường xuyên có trách nhiệm tuyên truyền, cổ động nhân dân thực hiện các nhiệm vụ chính trị, kinh tế, pháp luật, văn hóa, xã hội và an ninh quốc phòng... Theo Hồ Chí Minh, để dân hiểu, dân tin, dân ủng hộ và làm theo thì công tác tuyên truyền miệng phải đúng và phải khéo. Nói với với dân phải đơn giản, rõ ràng, thiết thực và cụ thể, tránh mệnh lệnh, hơn thế, còn phải có thái độ mềm mỏng; đối với người già, các bậc lão thành phải cung kính, lễ độ, với đồng chí, đồng bào phải đúng mực, nghiêm trang, với nhi đồng phải thương yêu, quý mến.

+ Tay làm:là thể hiện quan niệm học đi đôi với hành, là gương mẫu,làm gương trước cho quần chúng. Nếu nói là để dân nghe, thì làm là để dân thấy, dân tin, dân học làm theo. Lời nói đi đôi với hành độnglà một yêu cầu, một phương pháp hết sức quan trọng đối với cán bộ nói chung, cán bộ làm công tác dân vận nói riêng. Sinh thời, Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm đến hai mặt của một vấn đề này. Người từng có hàng loạt bài viết, bài nói phê phán những cán bộ, đảng viên “nói không đi đôi với làm”, “nói hay mà làm dở” hoặc “đánh trống bỏ dùi”. Người chỉ rõ “cán bộ, đảng viên phải gương mẫu, phải thiết thực, miệng nói, tay làm để làm gương cho nhân dân. Nói hay mà không làm thì nói vô ích”.

Như vậy: “Mắt trông, tai nghe, chân đi là yêu cầu sát cơ sở, sát thực tế, đến với nhân dân để lắng nghe tâm tư, nguyện vọng của nhân dân mà giúp dân giải quyết các công việc cụ thể, đề xuất chính sách hoặc điều chỉnh chính sách cho phù hợp, vận động nhân dân thực hiện các chủ trương, chính sách.

 “Miệng nói, tay làm” là phong cách quan trọng nhất hiện nay, “phải thật thà nhúng tay vào việc”, không được nói một đằng, làm một nẻo, miệng thì vận động người khác nhưng mình thì không làm hoặc làm ngược lại. Bác cũng nghiêm khắc phê phán “bệnh nói suông, chỉ ngồi viết mệnh lệnh”.Đây cũng thể hiện sự nhất quán trong tư tưởng và hành động thường ngày Chủ tịch Hồ Chí Minh.

"Óc nghĩ, mắt trông, tai nghe, chân đi, miệng nói, tay làm" là có sự thống nhất, hòa quyện chặt chẽ với nhau, bổ sung cho nhau. Đó có thể coi cẩm nang về phương pháp dân vận cho tất cả cán bộ, đảng viên trong công tác dân vận.

Cuối cùng, Người khẳng định rõ tầm quan trọng của công tác dân vận:“Dân vận kém thì việc gì cũng kém”. Dân vận khéo thì việc gì cũng thành công”.

2. Nhiệm vụ và giải pháp thực hiện công tác dân vận trong tình hình mới ở địa phương gắn với thực hiện Nghị quyết số 25-NQ/TW ngày 3/6/2013 Hội nghị Trung ương 7 khóa XI về “tăng cường và đổi mới sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác dân vận trong tình hình mới

a. Theo Nghị quyết 25-NQ/TW:

Một là: Tăng cường xây dựng Đảng về chính trị, tư tưởng và tổ chức, cán bộ; tập trung giải quyết kịp thời, có hiệu quả những bức xúc chính đáng của nhân dân; làm cho nhân dân tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, tăng cường mối quan hệ máu thịt của nhân dân với Đảng và Nhà nước

Kiên quyết, kiên trì thực hiện tốt Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI về xây dựng Đảng, làm cho Đảng ta thực sự trong sạch, vững mạnh. Thực hiện nghiêm túc nguyên tắc tập trung dân chủ, tự phê bình và phê bình trong sinh hoạt đảng; ngăn chặn và đẩy lùi tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống. Sớm ban hành và thực hiện tốt quy chế giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội, quy định để Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể chính trị - xã hội và nhân dân tham gia góp ý xây dựng Đảng, xây dựng Nhà nước trong sạch, vững mạnh.

Không ngừng nâng cao chất lượng các tổ chức cơ sở đảng, hiệu lực, hiệu quả của bộ máy nhà nước ở cơ sở. Cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức phải hiểu dân, gương mẫu, tận tuỵ với công việc, nói đi đôi với làm để nhân dân tin tưởng, noi theo. Quan tâm quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, gắn với nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, đáp ứng yêu cầu trong tình hình mới.

Tập trung giải quyết những bức xúc, nguyện vọng chính đáng của nhân dân, nhất là những vấn đề liên quan trực tiếp đến đời sống, việc làm, đền bù thu hồi đất đai, tai nạn giao thông, tệ nạn xã hội. Trong xây dựng thể chế, chính sách, cần quán triệt và thực hiện nghiêm nguyên tắc: mọi chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước phải thuận với lòng dân, xuất phát từ lợi ích và nguyện vọng chính đáng của nhân dân. Chú trọng cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, nhất là điều kiện sống, lao động, học tập, sáng tạo, nghỉ ngơi, chăm sóc sức khỏe.

Xử lý nghiêm minh những vụ việc tiêu cực, tham nhũng; giải quyết dứt điểm những vụ việc khiếu kiện đông người phức tạp, kéo dài.

Hai là: Nâng cao nhận thức của đội ngũ cán bộ Đảng, Nhà nước, Mặt trận, đoàn thể chính trị - xã hội và các tầng lớp nhân dân về vai trò, vị trí công tác dân vận trong tình hình mới

Đổi mới và nâng cao chất lượng tuyên truyền, giáo dục, làm cho cán bộ, đảng viên và nhân dân nắm vững, nhất trí với mục tiêu, quan điểm, nhiệm vụ công tác dân vận; quán triệt sâu sắc tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh: "Lực lượng của dân rất to. Việc dân vận rất quan trọng. Dân vận kém thì việc gì cũng kém. Dân vận khéo thì việc gì cũng thành công". Công tác dân vận trong tình hình mới phải phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc dưới sự lãnh đạo của Đảng, củng cố mối quan hệ mật thiết giữa Đảng, Nhà nước với nhân dân, tạo động lực để nhân dân đóng góp tích cực vào phát triển kinh tế - xã hội. Làm tốt công tác dân tộc, tôn giáo.

Tăng cường lãnh đạo công tác thông tin, tuyên truyền, phát huy sức mạnh tổng hợp của các loại hình thông tin đại chúng; mở rộng các kênh thông tin truyền thông, đối thoại trực tiếp với nhân dân, góp phần giải tỏa bức xúc, hoài nghi trong xã hội. Chú trọng việc định hướng và quản lý các phương tiện thông tin đại chúng, nhất là các mạng xã hội; phát huy sức mạnh của dư luận xã hội lành mạnh hỗ trợ cho các biện pháp quản lý của Nhà nước và các biện pháp tuyên truyền, giáo dục, vận động của Mặt trận và các đoàn thể nhân dân. Chủ động đấu tranh với các luận điệu xuyên tạc, kích động của các thế lực thù địch chống phá khối đại đoàn kết dân tộc, chia rẽ giữa Đảng, Nhà nước với nhân dân.

Đẩy mạnh tuyên truyền, cổ vũ và nhân rộng các nhân tố mới, các điển hình tiên tiến, gương người tốt, việc tốt trên mọi lĩnh vực; phát huy tinh thần yêu nước, thực hành dân chủ, tạo ra phong trào hành động cách mạng của toàn dân thực hiện thắng lợi công cuộc đổi mới và phát triển đất nước. Thường xuyên tổ chức học tập, quán triệt sâu sắc các quan điểm, giải pháp về công tác dân vận của Đảng để mỗi cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức là cán bộ dân vận của Đảng. Phát hiện, bồi dưỡng kỹ năng vận động nhân dân cho những người có uy tín trong cộng đồng dân cư, tạo điều kiện để họ tham gia tuyên truyền đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, tạo sự lan tỏa, sức sống của công tác dân vận trong tình hình mới.

Ba là: Tăng cường và đổi mới công tác dân vận của các cơ quan nhà nước

Cán bộ, công chức, viên chức phải có trách nhiệm vận động nhân dân. Xây dựng và thực hiện phong cách: "trọng dân, gần dân, hiểu dân, học dân và có trách nhiệm với dân", "nghe dân nói, nói dân hiểu, làm dân tin"; thường xuyên đi công tác cơ sở. Các cơ quan nhà nước, nhất là những ngành, cơ quan, đơn vị có quan hệ trực tiếp với nhân dân cần công khai các quy định cụ thể về trách nhiệm, thái độ phục vụ nhân dân của cán bộ, công chức, viên chức để nhân dân biết và giám sát, kiểm tra việc thực hiện. Đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, đổi mới lề lối làm việc, chấn chỉnh thái độ phục vụ nhân dân của đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức. Tăng cường đối thoại, tiếp xúc trực tiếp với nhân dân và giải quyết kịp thời đơn, thư khiếu tố của dân. Làm tốt công tác thanh tra nhân dân, công tác hòa giải ở cơ sở; thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở; chủ động nắm tình hình và giải quyết những công việc liên quan đến đời sống của nhân dân.

Chú trọng bảo đảm an sinh xã hội, giải quyết tốt các chính sách đối với người nghèo, người khuyết tật và các chính sách phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội.

Bốn là: Đẩy mạnh phong trào thi đua yêu nước, góp phần thúc đẩy quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá, hội nhập quốc tế, giữ vững độc lập chủ quyền, an ninh chính trị

Trong tình hình mới, công tác dân vận phải tập hợp được quần chúng nhân dân thành lực lượng xã hội rộng rãi tham gia các phong trào thi đua yêu nước theo tinh thần "Thi đua là yêu nước, yêu nước phải thi đua". Toàn Đảng, toàn dân và toàn quân phải kết thành một khối vững chắc, làm nên sức sống các phong trào thi đua. Các cấp ủy đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân bám sát nhiệm vụ chính trị, nắm bắt lợi ích chính đáng của các tầng lớp nhân dân để xác định nội dung và lựa chọn cách thức phát động thi đua sát với thực tế của địa phương, đơn vị với nhiều hình thức đa dạng, phong phú, phù hợp với từng đối tượng. Đẩy mạnh phong trào thi đua "Dân vận khéo" gắn với việc "Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh" và các phong trào do Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể chính trị - xã hội phát động.

Các phong trào thi đua cần thiết thực, tiết kiệm, tránh hình thức, sáo rỗng; lấy hiệu quả về chính trị, kinh tế - xã hội làm thước đo đánh giá từng phong trào thi đua. Thường xuyên theo dõi, đôn đốc, kiểm tra, sơ kết, tổng kết, khen thưởng kịp thời. Vận động và tạo điều kiện để các tầng lớp nhân dân phát huy cao độ tiềm năng, sức sáng tạo, tích cực lao động, học tập, sản xuất, kinh doanh, làm giàu cho mình, cho cộng đồng và đất nước; tham gia đấu tranh, phòng, chống tội phạm, tiêu cực, tệ nạn xã hội.

Năm là: Đổi mới nội dung, phương thức hoạt động của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội, các hội quần chúng để tập hợp nhân dân, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới.

Mặt trận Tổ quốc, đoàn thể nhân dân tiếp tục đổi mới nội dung, phương thức hoạt động, thực hiện tốt vai trò là người đại diện, bảo vệ quyền lợi chính đáng, hợp pháp của đoàn viên, hội viên; đa dạng hoá các hình thức tập hợp nhân dân, hướng về cơ sở, tập trung cho cơ sở, phù hợp với trình độ dân trí và đặc điểm, tình hình cụ thể của từng giai tầng xã hội, trong từng giai đoạn cách mạng.

Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể chính trị - xã hội làm tham mưu và nòng cốt trong việc nắm bắt dư luận xã hội, phát huy dân chủ, năng lực trí tuệ, ý thức trách nhiệm của công dân trong thực hiện giám sát xây dựng chính quyền, xây dựng Đảng.

Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước đối với Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội, tạo điều kiện để Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội tăng thêm tính tự chủ, chủ động hơn trong hoạt động, để gần dân, sát dân hơn.

Phát triển các tổ chức quần chúng theo nguyên tắc tự nguyện, tự quản và tự trang trải, tạo môi trường và điều kiện để nhân dân phát huy sức lực, trí tuệ sáng tạo theo nguyện vọng trên cơ sở pháp luật. Nâng cao chất lượng hoạt động các tổ chức đoàn thể, đoàn viên, hội viên; phát hiện, lựa chọn những đoàn viên, hội viên ưu tú, đủ tiêu chuẩn để giới thiệu kết nạp vào Đảng, giới thiệu quy hoạch, đào tạo cán bộ. Phát huy vai trò xung kích, sáng tạo của tuổi trẻ; tạo môi trường, cơ chế, chính sách thuận lợi cho tuổi trẻ rèn đức, luyện tài, lao động, học tập, phấn đấu, cống hiến cho đất nước. Coi trọng giáo dục chính trị tư tưởng, bồi dưỡng cho thanh, thiếu niên trở thành những người kế tục xứng đáng sự nghiệp cách mạng của Đảng.

Xây dựng cơ chế phối hợp giữa Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể chính trị - xã hội với các hội quần chúng, với chính quyền, lực lượng vũ trang trong công tác dân vận. Phát huy vai trò của người có uy tín trong cộng đồng.

Sáu là: Quan tâm xây dựng, củng cố tổ chức, bộ máy, đội ngũ cán bộ Ban Dân vận, Mặt trận, đoàn thể nhân dân vững mạnh

Củng cố khối dân vận ở xã, các tổ dân vận ở thôn; chăm lo xây dựng đội ngũ cán bộ dân vận của Đảng, đặc biệt là đội ngũ cán bộ tham mưu chiến lược; có cơ chế, chính sách thu hút người có năng lực, có uy tín, có kinh nghiệm làm công tác dân vận; chú trọng luân chuyển, đào tạo, bồi dưỡng bố trí, sử dụng đội ngũ cán bộ làm công tác dân vận, nhất là cán bộ trẻ tuổi, có năng lực; khắc phục tình trạng đưa cán bộ phẩm chất, năng lực yếu kém và không có uy tín về làm công tác dân vận.

Kiện toàn tổ chức, bộ máy và cán bộ của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội, đáp ứng yêu cầu về trình độ lý luận, năng lực thực tiễn và kỹ năng công tác vận động nhân dân.

Các cơ quan tham mưu của Đảng phải nâng cao nhận thức và trách nhiệm trong công tác tham mưu, tư vấn cho cấp uỷ đảng về công tác dân vận; có chế độ báo cáo, thông tin kịp thời, đầy đủ về tình hình nhân dân và những hạn chế trong hoạt động lãnh đạo của Đảng về công tác dân vận.

Tám là: Tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo, kiểm tra và giám sát việc thực hiện công tác dân vận

Đổi mới công tác lãnh đạo, chỉ đạo tổ chức thực hiện để nghị quyết, chỉ thị của Đảng về công tác dân vận sớm đi vào cuộc sống, có hiệu quả thiết thực. Phải xác định công tác vận động và chăm lo lợi ích của nhân dân là một trong những nội dung chủ yếu trong hoạt động của mình; có kế hoạch thường xuyên tìm hiểu tình hình đời sống, tâm tư, nguyện vọng của nhân dân để có chủ trương, biện pháp xử lý đúng đắn, kịp thời. Các cấp ủy đảng lãnh đạo chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và đoàn thể nhân dân phối hợp chặt chẽ trong giải quyết các công việc liên quan đến nhân dân và vận động nhân dân thực hiện tốt quyền và nghĩa vụ công dân.

 

CHUYÊN ĐỀ 2. MẶT TRẬN TỔ QUỐC VIỆT NAM

1. Vai trò của MTTQ Việt Nam ở cơ sở:

Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá X, kỳ họp thứ 5 đã thông qua ngày 12/6/1999, trong đó đã khẳng định: "Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là một bộ phận của hệ thống chính trị của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo, là cơ sở chính trị của chính quyền nhân dân, nơi thể hiện ý chí nguyện vọng, tập hợp khối đại đoàn kết toàn dân, phát huy quyền làm chủ của dân, nơi hiệp thương phối hợp và thống nhất hành động của các thành viên, góp phần giữ vững độc lập dân tộc, chủ quyền quốc gia và toàn vẹn lãnh thổ, thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh". (Khoản 2, Điều 1)

Hiến pháp năm 2013 nêu rõ: “Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là tổ chức liên minh chính trị, liên hiệp tự nguyện của tổ chức chính trị, các tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội và các cá nhân tiêu biểu trong các giai cấp, tầng lớp xã hội, dân tộc, tôn giáo, người Việt Nam định cư ở nước ngoài. Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là cơ sở chính trị của chính quyền nhân dân; đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của Nhân dân; tập hợp, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, thực hiện dân chủ, tăng cường đồng thuận xã hội; giám sát, phản biện xã hội; tham gia xây dựng Đảng, Nhà nước, hoạt động đối ngoại nhân dân góp phần xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”.

Vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam ở cơ sở: Xem giáo trình tập 2, trang 48, mục b

2. Nhiệm vụ và giải pháp nâng cao hiệu quả công tác MT ở cơ sở trong tình hình hiện nay:

2.1. nhiệm vụ:

a. Ủy ban Mặt trận Tổ quốc cấp xã họp thường lệ ít nhất 3 tháng một lần do Chủ tịch, Phó Chủ tịch làm chủ tọa hội nghị. Hội nghị thường lệ của Ủy ban Mặt trận xã, phường, thị trấn có nhiệm vụ:

- Thảo luận tình hình và kết quả thực hiện chương trình phối hợp và thống nhất hành động thời gian qua, quyết định chương trình phối hợp và thống nhất hành động của Mặt trận Tổ quốc cấp mình thời gian tới.

- Quyết định kế hoạch chuẩn bị Đại hội Mặt trận Tổ quốc cấp mình theo hướng dẫn của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc cấp trên.

- Góp ý kiến kiến nghị với cấp ủy đảng, chính quyền cùng cấp và cấp trên về những chủ trương, chính sách, pháp luật. Giám sát hoạt động của cơ quan nhà nước, đại biểu dân cử, cán bộ công chức nhà nước.

- Hiệp thương dân chủ cử ban thường trực, cử bổ sung, thay thế hoặc cho thôi các chức danh chủ tịch, các phó chủ tịch, các ủy vấn thường trực, ủy viên Ủy ban Mặt trận Tổ quốc cùng cấp.

- Xét quyết định kết nạp làm thành viên mới của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp mình.

- Ra lời kêu gọi nhân dân địa phương hưởng ứng chủ trương của Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đối với sự kiện quan trọng khi cần thiết.

- Thành lập Ban Công tác Mặt trận, Ban Thanh tra nhân dân với nhiệm vụ thảo luận và quyết định những vấn đề khác thuộc quyền hạn của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc do Ban Thường trực trình.

b. Ban Thường trực Ủy ban Mặt trận xã, phường, thị trấn họp thường lệ mỗi tháng ít nhất hai lần do Chủ tịch chủ tọa hội nghị, nếu Chủ tịch vắng thì Phó Chủ tịch thường trực chủ tọa hội nghị. Ban Thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc làm việc theo chế độ tập thể bàn bạc và quyết định, phân công cá nhân phụ trách

. Ban Thường trực Ủy ban Mặt trận cấp xã gồm chủ tịch, hai phó chủ tịch và ủy viên thường trực có nhiệm vụ và quyền hạn:

- Tổ chức việc chuẩn bị triệu tập và chủ trì các cuộc họp của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc cấp xã.

- Tổ chức thực hiện nghị quyết, chương trình phối hợp thống nhất hành động hằng năm, 6 tháng của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc cấp mình và các chủ trương công tác của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc cấp trên; đường lối chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, nghị quyết của Hội đồng nhân dân, các quyết định của Ủy ban nhân dân có liên quan đến nhiệm vụ, quyền hạn của Mặt trận Tổ quốc.

- Thường xuyên tập hợp ý kiến, kiến nghị của cử tri và nhân dân để phản ánh, kiến nghị với cấp ủy đảng, chính quyền. Ban Thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc cấp trên trực tiếp về việc thực hiện chính sách pháp luật ở địa phương.

- Tổ chức thực hiện các cuộc vận động các phong trào thi đua yêu nước trong nhân dân, các nhiệm vụ Mặt trận tham gia xây dựng và củng cố chính quyền, bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của nhân dân; giám sát hoạt động của cơ quan nhà nước, đại biểu dân cử cán bộ, công chức nhà nước, thực hiện Pháp lệnh dân chủ ở cơ sở, tham gia giải quyết khiếu nại tố cáo ở địa phương.

- Giữ mối liên hệ và phối hợp công tác với cơ quan nhà nước và các tổ chức thành viên cùng cấp.

- Hướng dẫn hoạt động của ban công tác Mặt trận, ban thanh tra nhân dân.

- Hướng dẫn hoạt động của các tổ chức tư vấn cộng tác viên của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc cùng cấp. Ban hành quyết định, quy chế phối hợp công tác và tổ chức thực hiện các văn bản đó.

- Xét, quyết định khen thưởng, kỷ luật.

2.2. Giải pháp:

Có rất nhiều giải pháp, dưới đây là một số giái pháp cá nhân. Ngoài ra có thể xem ở mục 3.

- Tăng cường bồi dưỡng nghiệp vụ công tác mặt trận cho cán bộ cơ sở

- Thiết lập và duy trì hoạt động của các tổ tư vấn và mở rộng đội ngũ cộng tác viên:

Để nâng cao hiệu quả hoạt động của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc cơ sở, cần thiết lập các tổ tư vấn và mở rộng đội ngũ cộng tác viên. Tổ tư vấn và cộng tác viên bao gồm các ủy viên Ủy ban Mặt trận xã, phường, thị trấn, đội ngũ đông đảo cán bộ về hưu có nhiều kinh nghiệm trong công tác vận động quần chúng và một số cá nhân tiêu biểu ở ngoài Ủy ban Mặt trận am hiểu một số lĩnh vực có liên quan đến hoạt động của Mặt trận Tổ quốc, có tâm huyết và tự nguyện tham gia các hoạt động của Mặt trận như: tư vấn về dân chủ, pháp luật, tổ tư vấn về các vấn đề văn hóa, xã hội, v.v..

- Tiếp tục tăng cường hơn nữa khối đại đoàn kết toàn dân

Khối đại đoàn kết toàn dân có vị trí vai trò hết sức to lớn trong thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ kinh tế-xã hội, an ninh-quốc phòng của địa phương. Do đó cần tăng cường và mở rộng hơn nữa khối đại đoàn kết toàn dân; nâng cao chất lượng các lĩnh vực công tác, nhất là thực hiện hiệu quả các CVĐ, phong trào thi đua yêu nước, thực hiện tốt chức năng giám sát và phản biện xã hội, tham gia xây dựng Đảng, chính quyền trong sạch, vững mạnh; tiếp tục đổi mới hơn nữa nội dung và phương thức hoạt động với phương châm hướng mạnh về cơ sở và địa bàn khu dân cư, đặc biệt nâng cao hiệu quả hoạt động của các Ban Công tác Mặt trận

- Nâng cao hiệu quả thực hiện chức năng giám sát và phản biện xã hội

Giám sát và phản biện xã hội là phương thức để nhân dân thực hiện quyền làm chủ của mình, vì thế MTTQ xã phối hợp với các tổ chức thành viên đẩy mạnh việc thực hiện Pháp lệnh 34/2007/PL-UBTVQH11 về thực hiện dân chủ ở xã phường, thị trấn. Hoạt động giám sát của MTTQ xã thông qua việc tổ chức tiếp xúc cử tri với đại biểu HĐND các cấp; tiến hành giám sát hoạt động các cơ quan nhà nước, cán bộ, đảng viên, đại biểu dân cử, công chức, viên chức…

Thực hiện chức năng phản biện, MTTQ các cấp thị xã thường xuyên tham gia và tổ chức lấy ý kiến nhân dân đóng góp ý kiến vào các văn bản dự thảo về chủ trương đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của nhà nước và của địa phương. Qua đó, góp phần củng cố niềm tin của nhân dân với Đảng, Nhà nước và tăng cường sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

Để nâng cao hơn nữa hiệu quả hoạt động giám sát và phản biện xã hội MTTQ các cấp cần tiếp tục đẩy mạnh công tác tập huấn, bồi dưỡng nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ MTTQ, các đoàn thể chính trị - xã hội về công tác giám sát và phản biện xã hội; củng cố và nâng cao chất lượng hoạt động của các Ban Thanh tra nhân dân và giám sát đầu tư của cộng đồng; xây dựng kế hoạch thực hiện quy chế giám sát, phản biện xã hội theo từng giai đoạn, thời kỳ gắn với sơ kết, tổng kết, đồng thời có cơ chế khen thưởng động viên những tập thể, cá nhân có thành tích trong thực hiện.

(Tùy điều kiện mà có thể phân tích, dẫn chứng minh họa bằng các mô hình ở mỗi cơ sở cho phù hợp)

3. Một số vấn đề cần lưu ý trong tổ chức hoạt động của Mặt trận cơ sở

Hoạt động của Mặt trận là hoạt động chính trị - xã hội của tất cả các thành viên được phối hợp và thống nhất lại theo chương trình hành động chung nhằm cùng Đảng và chính quyền tham gia giải quyết những vấn đề quan trọng ở địa phương, cơ sở nhằm ổn định cuộc sống của nhân dân.

Cán bộ Mặt trận cơ sở hoạt động với tinh thần "ăn cơm nhà, làm việc xã", công việc của Mặt trận nhiều, phải tiếp xúc và giải quyết nhiều mối quan hệ khác rất đa dạng như: làm việc với cấp ủy, với cơ quan nhà nước, với cơ quan xí nghiệp, với nhà sư, linh mục, nhân sĩ, thân nhân Việt kiều, các vị lão thành cách mạng, các doanh nghiệp ngoài quốc doanh… Để làm việc có hiệu quả đòi hỏi người cán bộ Mặt trận cơ sở ngoài việc nhiệt tình, trách nhiệm còn cần phải có kiến thức nhất định về các lĩnh vực và am hiểu sâu sắc các đối tượng, nói đi đôi với làm, trung thực, biết giữ nguyên tắc, đồng thời mềm dẻo trong từng công việc cụ thể, biết tôn trọng và lắng nghe ý kiến của các tầng lớp nhân dân bằng thái độ kiên trì, chân thành, thuyết phục, có lý, có tình, nhất là quan tâm giúp đỡ những đối tượng xã hội gặp khó khăn và biết động viên phát huy khả năng và vai trò của họ trong các hoạt động của Mặt trận cơ sở.

Mặt trận cơ sở cần căn cứ vào phương hướng, nhiệm vụ và chương trình thống nhất hành động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đã được Đại hội Mặt trận Tổ quốc Việt Nam thông qua, đồng thời căn cứ vào tình hình, nhiệm vụ của địa phương, sự lãnh đạo của cấp ủy và sự hướng dẫn của Ủy ban Mặt trận cấp trên để xác định chương trình công tác của mình trong từng thời gian một cách cụ thể, phù hợp với khả năng thực tiễn ở mỗi nơi. Sau khi các thành viên thỏa thuận được với nhau về mục tiêu và chương trình hành động chung thì các tổ chức thành viên cần triển khai thực hiện chương trình đó trong tổ chức mình; các cá nhân tiêu biểu thì vận động, thuyết phục các đối tượng xã hội mà mình có ảnh hưởng thực hiện. Ban thường trực đôn đốc, kiểm tra, đi sâu vận động một số thành phần xã hội chuyên biệt.

Trong quá trình tổ chức thực hiện cần chú ý:

- Tuyên truyền, vận động các tầng lớp nhân dân thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước trên cơ sở nắm vững và thực hiện tốt Quy chế dân chủ ở cơ sở.

- Động viên nhân dân tham gia các phong trào, các cuộc vận động, thực hiện các chương trình phát triển kinh tế - xã hội, nhiệm vụ an ninh và quốc phòng ở địa phương, chăm lo lợi ích chính đáng của các tầng lớp nhân dân.

- Xem xét việc tổ chức thực hiện, có điều gì chưa phù hợp với thực tiễn, chưa phù hợp với lòng dân, chưa đúng với luật pháp, chính sách, chưa sát với thực tế cần phải kịp thời uốn nắn, để phản ánh, kiến nghị với Đảng, Nhà nước bổ sung, sửa đổi.

- Chủ động tạo nguồn kinh phí hoạt động bao gồm:

+ Kinh phí do ngân sách nhà nước cấp;

+ Kinh phí được cấp từ việc thực hiện các chương trình dự án;

+ Thu nhập từ hoạt động kinh doanh theo pháp luật;

+ Tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước ủng hộ.

Ban thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc xã, phường, thị trấn cần phải chủ động và tự vươn lên, nắm vững chức năng nhiệm vụ của Mặt trận, đổi mới phương thức hoạt động, không ngừng phát huy vai trò, tác dụng của Mặt trận trong sự nghiệp công nghiệp hóa hiện đại hóa, xây dựng quê hương, đất nước giàu mạnh.

Chs ý: Xem thêm giáo trình trang 62,63,64 phần IV

CHUYÊN ĐỀ 3. CÔNG TÁC VẬN ĐỘNG NÔNG DÂN

1. Phân tích khái niệm nông dân theo Nghị quyết Trung ương 7 khóa X

Nghị quyết Trung ương 7 khoá X khẳng định : "Nông dân là khái niệm chỉ về thân phận hay nghề nghiệp của một nhóm dân cư trong xã hội phân biệt với công nhân, trí thức. Nông dân theo khái niệm này có hai tiêu chí phân biệt: Một là nghề nghiệp chính là trồng trọt và chăn nuôi; hai là sinh sống ở nông thôn" ( Phân biệt với thành thị).

Đặc điểm tích cực

- Là chủ lực quân trên mặt trận đấu tranh chống ngoại xâm, bảo vệ Tổ quốc, có lòng yêu nước nồng nàn.

       

 - Nông dân VN là những người cần cù, chịu khó trong lao động, sống mộc mạc, giản dị, thật thà chất phác.

 

- Nông dân VN có tinh thần cộng đồng cao, sống trọng tình, trọng nghĩa, trọng đạo đức.

 

Đặc điểm hạn chế

           - Tính cộng đồng giới hạn trong khuôn khổ làng xã, có tính chất nhỏ hẹp, cục bộ khép kín

 

- Còn chịu ảnh hưởng nặng nề của tàn dư phong kiến và tư tưởng nho giáo.

         

          - Có lối tư duy theo chủ nghĩa kinh nghiệm, sống cam chịu

2. Khái quát về Hội Nông dân Việt Nam.

Hội Nông dân Việt Nam là đoàn thể chính trị - xã hội của giai cấp nông dân do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo; cơ sở chính trị của Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam và là thành viên của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.

Hội Nông dân Việt Nam tiền thân là Nông hội đỏ, thành lập ngày 14 tháng 10 năm 1930, trải qua các thời kỳ cách mạng luôn trung thành với Đảng và dân tộc. Trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, thực hiện đường lối đổi mới của Đảng Cộng sản Việt Nam, Hội Nông dân Việt Nam là trung tâm, nòng cốt cho phong trào nông dân và công cuộc xây dựng nông thôn mới.

Mục đích của Hội là tập hợp đoàn kết nông dân, xây dựng giai cấp nông dân vững mạnh về mọi mặt, xứng đáng là lực lượng tin cậy trong khối liên minh vững chắc công, nông, trí, bảo đảm thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn

3. Nhiệm vụ và giải pháp nâng cao chất lượng công tác vận động nông dân của Hội ND ở cơ sở, gắn với xây dựng Nông thôn mới (nông dân là chủ thể xây dựng NTM).

2.1. Nhiệm vụ chung

Xem giáo trình trang 88.89.90

2.2. Những hoạt động của Hội cơ sở

a. Chăm lo lợi ích của nông dân

- Cải thiện dân sinh đó là: cải thiện nâng cao đời sống trước hết là đời sống vật chất.

+ Chăm sóc sức khoẻ ban đầu cho người dân

- Thực hiện dân chủ

b. Tuyên truyền, giáo dục xây dựng người nông dân mới, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn.

Vậy phải tuyên truyền cho người dân họ hiểu những vấn đề gì?

- Phải tiến hành công tác tuyên truyền giáo dục chính trị tư tưởng sâu rộng trong nông dân về chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước.

- Giáo dục bồi dưỡng đạo đức lối sống, phát huy truyền thống, bản sắc văn hóa, tình nghĩa, nhân hậu, thuỷ chung, có ý thức làm chủ và ý thức trách nhiệm cộng đồng, phát huy người tốt việc tốt, lối sống con người mới, chống những lề thói cổ hủ, lạc hậu.

- Giáo dục bồi dưỡng văn hoá, khoa học công nghệ, tay nghề cho nông dân.

c. Tổ chức phong trào nông dân thi đua thực hiện nhiệm vụ kinh tế- xã hội- an ninh quốc phòng

Tại sao phải như vậy?

- Các nhiệm vụ kinh tế xã hội an ninh quốc phòng đều xuất phát từ lợi ích của giai cấp công nhân, nông dân và cả nước.

- Trong thực tế đây là việc khó vận động bởi mặc dù liên quan đến lợi ích của nông dân nhưng chưa liên quan cụ thể ngay.

Bác Hồ của chúng ta có dạy: "Chúng ta phải ghi tạc vào đầu cái chân lý này: dân rất tốt. Lúc họ đã hiểu thì việc gì khó khăn mấy họ cũng làm tốt được, hy sinh mấy họ cũng không sợ. Nhưng trước hết cần phải chịu khó tìm đủ cách giải thích cho họ hiểu rằng: những việc đó là vì lợi ích của họ mà phải làm".

2.3. Giải pháp nâng cao chất lượng công tác vận động nông dân của Hội ND ở cơ sở, gắn với xây dựng Nông thôn mới

Nông nghiệp, nông dân, nông thôn có vị trí chiến lược trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, là cơ sở và lực lượng quan trọng để phát triển kinh tế - xã hội bền vững, giữ vững ổn định chính trị, đảm bảo an ninh, quốc phòng; giữ gìn, phát huy bản sắc văn hoá dân tộc và bảo vệ môi trường sinh thái của đất nước. Để nâng cao chất lượng công tác vận động nông dân cần thực hiện giải pháp cụ thể sau:

Một là, tiếp tục đổi mới và đẩy mạnh công tác tuyên truyền, quán triệt Nghị quyết 26-NQ/TW ngày 05/8/2008 của BCH Trung ương Đảng (khóa X) về nông nghiệp, nông dân, nông thôn, Kết luận số 97/KL/TW cuả Bộ Chính trị đến các cấp, các ngành, các tổ chức liên quan và các tầng lớp nhân dân để có sự nhận thức đầy đủ, sâu sắc về quan điểm của Đảng và Nhà nước về vị trí, vai trò của nông nghiệp, nông thôn, nông dân trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

Hai là, định kỳ rà soát, điều chỉnh các quy hoạch đã phê duyệt, bổ sung các quy hoạch mới để tái cơ cấu ngành nông nghiệp và phát triển các sản phẩm nông nghiệp hàng hóa chủ lực, nhất là quy hoạch phát triển nông nghiệp, nông thôn, điều chỉnh Quy hoạch xây dựng nông thôn mới, trong đó tập trung 02 nội dung chính là hạ tầng và phát triển sản xuất, bảo đảm tính khả thi, phù hợp với thực tế và công bố rộng rãi để mọi dân biết và tham gia giám sát.

Ba là, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông dân gắn với chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp, phát triển kinh tế nông thôn. Tập trung giải quyết các vấn đề cấp thiết trong sản xuất nông nghiệp nhằm nâng cao giá trị sản phẩm, tăng sức cạnh tranh các mặt hàng nông sản của tỉnh, ưu tiên các sản phẩm nông sản chủ lực; Chuyển dịch hợp lý cơ cấu kinh tế nông thôn gắn với các hình thức tổ chức sản xuất phù hợp; tiếp tục triển khai có hiệu quả các chương trình, dự án hỗ trợ phát triển sản xuất và giảm nghèo, nâng cao giá trị thu nhập trên một đơn vị diện tích gắn với bảo vệ môi trường, tăng thu nhập cho nông dân; Thực hiện tốt công tác bảo vệ và phát triển rừng bền vững; tăng cường đầu tư phát triển rừng nguyên liệu; nâng cao hiệu quả kinh tế của rừng sản xuất trên địa bàn tỉnh; Khuyến khích phát triển công nghiệp chế biến sâu các sản phẩm các thị trường tiêu thụ ổn định, có hiệu quả kinh tế, giải quyết việc làm, nhất là đối với lao động tại chỗ.

Bốn là, đẩy mạnh xây dựng nông thôn mới, chú trọng nâng cao đời sống vật chất, văn hóa tinh thần cho dân cư nông thôn, nhất là các vùng còn nhiều khó khăn. Chú trọng triển khai thực hiện các chính sách hỗ trợ an sinh xã hội góp phần nâng cao đời sống vật chất, tinh thần, phát huy quyền làm chủ của dân cư nông thôn. Nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo; thực hiện có hiệu quả chính sách bảo hiểm y tế, bảo hiểm xã hội tự nguyện. Phát triển văn hóa nông thôn gắn với việc bảo tồn, phát huy bản sắc văn hóa các dân tộc trên địa bàn;

Tích cực thực hiện lồng ghép có hiệu quả các chương trình, dự án, nguồn kinh phí để đẩy mạnh triển khai các chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn trên địa bàn xã. Ưu tiên nguồn lực để đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng nông thôn toàn xã, nhất là hạ tầng về giao thông nông thôn, thủy lợi và hạ tầng cơ sở phục vụ phát triển các ngành nghề nông thôn. Đấu tranh ngăn chặn và đẩy lùi các loại tội phạm, tệ nạn xã hội đảm bảo an ninh, trật tự an toàn xã hội. Thực hiện bình đẳng giới, nâng cao năng lực và vị thế cho phụ nữ; giáo dục và chăm sóc trẻ em, chăm lo đời sống cho các đối tượng chính sách xã hội ở nông thôn.

Năm là, tiếp tục đổi mới các hình thức tổ chức sản xuất, củng cố và nâng cao hiệu quả hoạt động của kinh tế tập thể, hợp tác xã. Tích cực nghiên cứu, đổi mới các hình thức tổ chức sản xuất, đưa kinh tế tập thể ( nhất là các hợp tác xã) thoát khỏi tình trạng yếu kém kéo dài; khắc phục quy mô sản xuất nông nghiệp nhỏ lẻ, manh mún, chưa gắn kết việc sản xuất với chế biến và tiêu thụ.

Sáu là, đẩy mạnh phương pháp nghiên cứu, đẩy mạnh chuyển giao ứng dụng tiến bộ khoa học, công nghệ trong sản xuất, bảo quản chế biến nông sản; cập nhật nội dung tập huấn chuyển giao khoa học kỹ thuật theo hướng ngắn gọn, dễ hiểu, dễ nhớ, dễ áp dụng; chú trọng, tăng cường đầu tư, đẩy mạnh nghiên cứu, chuyển giao, ứng dụng khoa học và công nghệ trong lĩnh vực nông nghiệp và phát triển nông thôn, trọng tâm vào các sản phẩm chủ lực của tỉnh; Đổi mới, nâng cao hiệu quả của công tác khuyến nông, khuyến lâm, khuyến ngư trên cơ sở kết hợp hài hòa sự tham gia của nhà nước và doanh nghiệp, tạo sự chuyển biến trong đào tạo và chuyển giao tiến bộ kỹ thuật đến người nông dân; tăng cường các hoạt động xúc tiến thương mại để góp phần nâng cao giá trị và tăng sức cạnh tranh của hàng hóa trên thị trường.

Bảy là, đổi mới và nâng cao chất lượng đào tạo nghề cho lao động nông thôn. Tiếp tục đẩy mạnh và triển khai có hiệu quả Chương trình dạy nghề cho lao động nông thôn; đào tạo, bồi dưỡng nâng cao năng lực cho cán bộ, công chức cấp xã theo Quyết định 1956/QĐ-TTg ngày 27/11/2009 của Thủ tướng Chính phủ.

Tám là, huy động đa dạng các nguồn lực cho phát triển nông nghiệp, nông thôn. Tiếp tục tổ chức thực hiện có hiệu quả các chính sách của Trung ương, đề án của tỉnh đã ban hành, nhất là chính sách khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn theo Nghị định số 210/2013/NĐ-CP ngày 19/12/2013 của Chính phủ; chính sách khuyến khích hợp tác liên kết gắn với tiêu thụ nông sản, xây dựng cánh đồng mẫu lớn theo Quyết định số 62/2013/QĐ-TTg ngày 25/10/2013 của Thủ tướng Chính phủ; chính sách hỗ trợ nhằm giảm bớt tổn thất sau thu hoạch theo Quyết định số 68/2013/QĐ-TTg ngày 14/11/2013 của Thủ tướng Chính phủ; Ưu tiên triển khai việc ứng dụng công nghệ cao và đưa các giống mới có năng suất, hiệu quả kinh tế cao vào sản xuất để tạo bước đột phá cho phát triển nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa.

Cuối cùng là Nâng cao năng lực cán bộ quản lý nhà nước về nông nghiệp. Kiện toàn tổ chức ngành Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn theo yêu cầu của Đề án tái cơ cấu ngành Nông nghiệp theo hướng nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 899/QĐ-TTg ngày 01/06/2013; Tiếp tục thực hiện công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ...

2.4. Đổi mới phương thức hoạt động của cơ sở Hội.

- Nội dung hoạt động của Hội phải quán triệt được các Nghị quyết của Đảng, chỉ thị số 59- CT/TW của Bộ chính trị khoá VIII, nhất là Nghị quyết Hội nghị lần thứ năm, Nghị quyết hội nghị lần thứ bảy BCH TW khoá IX, Nghị quyết Hội nghị lần thứ bảy BCH TW khoá X và nhiệm vụ chính trị điạ phương đề ra.

- Phải đẩy mạnh các phong trào nông dân, trực tiếp thực hiện một số chương trình, dự án phát triển kinh tế xã hội nông thôn

- Tổ chức hướng dẫn nông dân chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp, phát triển ngành nghề, khai thác và sử dụng có hiệu quả đất trồng, đồi núi trọc, mặt nước ao hồ...

- Tham gia các chương trình quốc gia về xoá đói giảm nghèo

- Phát huy vai trò làm chủ của nông dân tham gia xây dựng hương ước, quy ước làng xã, thực hiện quy chế dân chủ ở nông thôn, xây dựng Đảng, chính quyền trong sạch vững mạnh, thực hiện "dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra"

- Trong điểu kiện hiện nay nông dân là đơn vị kinh tế tự chủ. Nội dung hoạt động của Hội rất phong phú, phải đổi mới hoạt động theo hướng đa dạng vì lợi ích chính đáng của nông dân:

CHUYÊN ĐỀ 4. KỸ NĂNG SOẠN THẢO VÀ BAN HÀNH VĂN BẢN CỦA ĐẢNG

I. TỔNG QUAN VỀ VĂN BẢN CỦA ĐẢNG

1. Khái quát chung về văn bản

Văn bản là phương tiện ghi lại và truyền đạt thông tin bằng một ngôn ngữ (hay ký hiệu) nhất định. Trong hoạt động giao tiếp, văn bản được sản sinh dưới sự chi phối của các nhân tố giao tiếp: chủ thể và đối tượng giao tiếp; nội dung giao tiếp; hoàn cảnh giao tiếp; mục đích giao tiếp và cách thức giao tiếp.

2. Văn bản của Đảng

Trong hoạt động của mình, các cơ quan, tổ chức Đảng Cộng sản Việt Nam phải ban hành nhiều văn bản. Quyết định số 31, ngày 10-10-1997 của Bộ Chính trị xác định: “Văn bản của Đảng là loại hình tài liệu được thể hiện bằng ngôn ngữ viết để ghi lại hoạt động của các tổ chức Đảng, do các cấp ủy, tổ chức, cơ quan có thẩm quyền của Đảng ban hành theo quy định của Điều lệ Đảng và của Trung ương”.

Từ quan niệm chung về văn bản của Đảng như vậy, văn bản của Đảng ở cơ sở được hiểu là những tài liệu thể hiện bằng ngôn ngữ viết ghi lại hoạt động và xây dựng đảng bộ do cấp ủy và cơ quan chức năng của cấp ủy ban hành theo thẩm quyền, trình tự và thể thức đã định, nhằm làm cho hệ thống tổ chức của Đảng ở cơ sở vận động theo đúng mục tiêu đã đề ra.

Toàn bộ các loại văn bản của Đảng được sử dụng trong hoạt động của hệ thống tổ chức Đảng từ Trung ương đến cơ sở tạo thành hệ thống văn bản của Đảng.

Hệ thống văn bản của Đảng bao gồm: Cương lĩnh chính trị; Điều lệ Đảng; Chiến lược; Nghị quyết; Quyết định; Chỉ thị; Kết luận; Quy chế; Quy định; Thông tri; Hướng dẫn; Thông báo; Thông cáo; Tuyên bố; Lời kêu gọi; Báo cáo; Kế hoạch; Quy hoạch; Chương trình; Đề án; Tờ trình; Công văn; Biên bản; Giấy tờ hành chính.

3. Các loại văn bản và thẩm quyền ban hành văn bản của Đảng

- Đại hội Đảng bộ xã ban hành: Nghị quyết

- Ban chấp hành Đảng bộ cơ sở xã ban hành:

+ Nghị quyết;

+ Kết luận;

+ Quyết định;

+ Quy chế;

+ Quy định;

+ Thông báo;

+ Báo cáo.

- Ban Thường vụ Đảng ủy xã ban hành:

+ Nghị quyết;

+ Kết luận;

+ Quy định;

+ Thông báo;

+Báo cáo.

Ngoài ra, cơ sở Đảng cấp xã tùy tình hình cụ thể được ban hành các loại văn bản hành chính như: công văn, kế hoạch, chương trình, đề án, tờ trình, biên bản và các giấy tờ hành chính.

4. Các khái niệm

- Nghị quyết: Nghị quyết là văn bản ghi lại các quyết định được thông qua ở đại hội, hội nghị cơ quan lãnh đạo Đảng các cấp, hội nghị đảng viên về đường lối, chủ trương, chính sách, kế hoạch hoặc các vấn đề cụ thể.

- Quyết định: Quyết định là văn bản dùng để ban hành hoặc bãi bỏ các quy chế, quy định, quyết định cụ thể về chủ trương, chính sách, tổ chức bộ máy, nhân sự thuộc phạm vi quyền hạn của cấp uỷ, tổ chức, cơ quan Đảng.

- Kết luận: Kết luận là văn bản ghi lại ý kiến chính thức của cấp uỷ, tổ chức, cơ quan Đảng về những vấn đề nhất định hoặc về chủ trương, biện pháp xử lý công việc cụ thể.

- Quy chế: Quy chế là văn bản xác định nguyên tắc, trách nhiệm, quyền hạn, chế độ và lề lối làm việc của cấp uỷ, tổ chức, cơ quan Đảng.

- Quy định: Quy định là văn bản xác định các nguyên tắc, tiêu chuẩn, thủ tục và chế độ cụ thể về một lĩnh vực công tác nhất định của cấp uỷ, tổ chức, cơ quan Đảng hoặc trong hệ thống các cơ quan chuyên môn có cùng chức năng, nhiệm vụ.

- Thông tri: Thông tri là văn bản chỉ đạo, giải thích, hướng dẫn các cấp uỷ, tổ chức, cơ quan Đảng cấp dưới thực hiện nghị quyết, quyết định, chỉ thị ... của cấp uỷ, hoặc thực hiện một nhiệm vụ cụ thể.

- Hướng dẫn: Hướng dẫn là văn bản giải thích, chỉ dẫn cụ thể việc tổ chức thực hiện văn bản của cấp uỷ hoặc của cơ quan Đảng cấp trên.

- Thông báo: Thông báo là văn bản dùng để thông tin về một vấn đề, một sự việc cụ thể để các cơ quan, cá nhân có liên quan biết hoặc thực hiện.

- Báo cáo: Báo cáo là văn bản dùng để tường trình về tình hình hoạt động của một cấp uỷ, tổ chức, cơ quan Đảng hoặc về một đề án, một vấn đề, sự việc nhất định.

- Kế hoạch: Kế hoạch là văn bản dùng để xác định mục đích, yêu cầu, chỉ tiêu của nhiệm vụ cần hoàn thành trong khoảng thời gian nhất định và các biện pháp về tổ chức, nhân sự, cơ sở vật chất cần thiết để thực hiện nhiệm vụ đó.

- Quy hoạch: Quy hoạch là văn bản xác định mục tiêu và các phương án, giải pháp lớn cho một vấn đề, một lĩnh vực cần thực hiện trong một thời gian tương đối dài, nhiều năm.

- Chương trình: Chương trình là văn bản dùng để sắp xếp nội dung công tác, lịch làm việc cụ thể của cấp uỷ, tổ chức, cơ quan Đảng hoặc của các đồng chí lãnh đạo trong một thời gian nhất định.

- Đề án: Đề án là văn bản dùng để trình bày có hệ thống về một kế hoạch, giải pháp giải quyết một nhiệm vụ, một vấn đề nhất định để cấp có thẩm quyền phê duyệt.

- Tờ trình: Tờ trình là văn bản dùng để thuyết trình tổng quát về một đề án, một vấn đề, một dự thảo văn bản để cấp trên xem xét, quyết định.

- Công văn: Công văn là văn bản dùng để truyền đạt, trao đổi các công việc cụ thể trong quá trình thực hiện chức năng, nhiệm vụ của cấp uỷ, tổ chức, cơ quan Đảng.

- Biên bản: Biên bản là văn bản ghi chép diễn biến, ý kiến phát biểu và ý kiến kết luận của đại hội Đảng và các hội nghị của cấp uỷ, tổ chức, cơ quan Đảng.

II. YÊU CẦU VỀ NỘI DUNG VÀ THỂ THỨC VĂN BẢN CỦA ĐẢNG

1. Yêu cầu về nội dung

1.1. Văn bản phải có tính mục đích

Thể hiện ở mục tiêu và giới hạn điều chỉnh của văn bản tức là phải trả lời được các vấn đề: Để làm gì? Giải quyết công việc gì? Mức độ giải quyết đến đâu và kết quả của việc thực hiện văn bản là gì?

1.2. Văn bản phải có tính Đảng

Bám sát nhiệm vụ chính trị của Đảng và đòi hỏi của thực tế cơ sở. Nội dung văn bản phải được thể hiện bằng những thể thức thích hợp và phù hợp với quan điểm, đường lối, chủ trương của Đảng.

1.3. Văn bản phải có tính khoa học

- Có đủ lượng thông tin quy phạm và thông tin thực tế cần thiết.

- Các thông tin được sử dụng để đưa vào văn bản phải được xử lý và đảm bảo chính xác: sự kiện và số liệu chính xác, đúng thực tế và còn hiện thời.

- Bảo đảm sự lô gích về nội dung: Sự nhất quán về chủ đề, bố cục chặt chẽ.

- Đảm bảo các yêu cầu về thể thức.

- Đảm bảo tính thống nhất của văn bản.

- Văn phong hành chính công vụ, ngôn ngữ rõ ràng, chính xác, phổ thông.

1.4. Văn bản phải có tính khả thi: Tính khả thi là yêu cầu đối với văn bản, đồng thời là hiệu quả của sự kết hợp đúng đắn và hợp lý các yêu cầu nêu trên.

III. MỘT SỐ MẪU VĂN BẢN CỦA ĐẢNG

Mẫu Nghị quyết của Đảng

  •  

ĐẢNG BỘ HUYỆN................

ĐẢNG ỦY XÃ…………….

*

Số …-NQ/ĐU

ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM

 

……….., ngày …. tháng … năm 20…

 

NGHỊ QUYẾT

CỦA ĐẢNG ỦY XÃ...

Về.....

- Căn cứ Điều...., Điều lệ Đảng;

- Căn cứ Nghị quyết Đại hội Đảng bộ xã....nhiệm kỳ...;

- ...

-....

NGHỊ QUYẾT

I.....

1. ..

2...

...

II. ...

1...

2...

...

Nơi nhận:

- Thường trực huyện ủy,

- BTV,

- BTC,

- Các chi bộ trực thuộc,

- Lưu VP..

T/M BAN THƯỜNG VỤ

BÍ THƯ

 

 

(đã ký)

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Mẫu quyết định:

  •  

ĐẢNG BỘ HUYỆN................

ĐẢNG ỦY XÃ…………….

*

Số …-QĐ/ĐU

ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM

 

……….., ngày …. tháng … năm 20…

 

QUYẾT ĐỊNH

thi hành kỷ luật đối với đồng chí.................., (chức vụ đảng, CV chính quyền, sinh hoạt tại......)

----

- Căn cứ Chương VIII Điều lệ Đảng Cộng sản Việt Nam Khóa XI,

- Căn cứ Biên bản họp .......... ngày .........của…, về việc....

- Xét báo cáo đề nghị thi hành kỷ luật của UBKT Đảng ủy...,,. và bản tự kiểm điểm của đồng chí ............,

Nhận thấy:

Với cư­ơng vị là ....(chức vụ đảng, CV chính quyền) thuộc chi bộ ………… , nhưng đồng chí đã …………. Như vậy đồng chí vi phạm “….” của Đảng và Nhà nước ......

Sai phạm của đồng chí ......................làn ảnh hưởng đến uy tín của người đảng viên và của tổ chức Đảng trong việc vận động, giáo dục đảng viên, cán bộ công chức chấp hành các chủ trương chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước.

 

ĐẢNG ỦY ...................

QUYẾT ĐỊNH

 

1. Thi hành kỷ luật bằng hình thức ....... đối với đồng chí ........................

2. Chi bộ...… và đồng chí ......... chịu trách nhiệm thi hành quyết định này./.

 

Nơi nhận:

- UBKT (cấp trên)...; để

- Ban TVĐU (cấp trên)......; báo cáo

- Ban Tổ chức Đảng uỷ (cấp trên)

- Như Điều 2; để thi hành

- Lưu HSĐU.

T/M ĐẢNG UỶ

............................

 

(ký tên đóng dấu)

 

 

 

 

 

 

 

Mẫu báo cáo:

  •  

ĐẢNG BỘ HUYỆN................

ĐẢNG ỦY XÃ…………….

*

Số …-BC/ĐU

ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM

 

……….., ngày …. tháng … năm 20…

 

 

BÁO CÁO

Về công tác xây dựng Đảng bộ năm...

 

I. ĐẶC ĐIỂM, TÌNH HÌNH

1. Thuận lợi

2. Khó khăn

II. KẾT QUẢ THỰC HIỆN NHIỆM VỤ XÂY DỰNG ĐẢNG BỘ

1. Thành tựu

2. Hạn chế, khuyết điểm

3. Nguyên nhân, kinh nghiệm

III. PHƯƠNG HƯỚNG, NHIỆM VỤ

1. Phương hướng

2. Nhiệm vụ

IV. TỔ CHỨC THỰC HIỆN

1...

2...

...

Nơi nhận:

- Thường trực huyện ủy,

- BTV,

- BTC,

- Các chi bộ trực thuộc,

- Lưu VP.

T/M BAN THƯỜNG VỤ

BÍ THƯ

 

(Ký tên, đóng dấu)

 

 

 

13