DMCA.com Protection Status

​​​​CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA GẮN VỚI PHÁT TRIỂN KINH TẾ TRI THỨC Ở VIỆT NAM  quan tâm

Được đăng bởi: Trần Việt Thao

Cập nhật lúc 15:27 ngày 12/01/2018

CHƯƠNG TRÌNH CAO CẤP LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ - HÀNH CHÍNH

Giáo trình môn: Kinh tế chính trị

Bài 5

CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA GẮN VỚI

PHÁT TRIỂN KINH TẾ TRI THỨC Ở VIỆT NAM

 

Người biên soạn: PGS, TS An Như Hải

Số tiết giảng trên lớp: 10

Mục tiêu của bài:

Kiến thức: Trang bị những cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về sự cần thiết, nội dung và điều kiện, tiền đề để đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa (CNH, HĐH) gắn với phát triển kinh tế tri thức ở Việt Nam trong bối cảnh mới của cách mạng khoa học – công nghệ hiện đại và hội nhập kinh tế quốc tế.

Kỹ năng: Trên cơ sở các kiến thức trên và kinh nghiệm thực tiễn của bản thân, người học có thể phát triển việc nghiên cứu, đề xuất việc vận dụng chủ trương, quan điểm của Đảng và chính sách của Nhà nước về CNH, HĐH gắn với phát triển kinh tế tri thức vào thực tiễn ngành, địa phương mà mình công tác.

Tư tưởng: Nhận thức đúng tầm quan trọng của đẩy mạnh CNH, HĐH gắn với phát triển kinh tế tri thức ở Việt Nam trong các nhiệm vụ kinh tế xã hội của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội cũng như trong yêu cầu phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta để chủ động sáng tạo trong hoạch định chính sách và tổ chức thực tiễn.

Nội dung chi tiết:

QUAN NIỆM VỀ CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA VÀ KINH TẾ TRI THỨC

  1. Quan niệm về công nghiệp hóa

    1.  

Vào cuối thế kỷ thứ XVIII, cuộc Cách mạng công nghiệp được diễn ra ở nước Anh với sự xuất hiện “chiếc thoi bay” trong lĩnh vực se sợi. Nước Anh trở thành quê hương của Cách mạng công nghiệp, là nước tiến CNH đầu tiên. Manchester là thành phố công nghiệp đầu tiên trên thế giới. Kể từ đây, nhân loại bước vào một giai đoạn phát triển mới – giai đoạn CNH.

Sau Anh là lần lượt các nước: Pháp vào đầu thế kỷ XIX, Mỹ và Đức vào giữa thế kỷ XIX, Nhật, Nga và nhiều nước châu Âu khác vào cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX tiến hành CNH và đã lần lượt trở thành nước công nghiệp.

Sau Chiến tranh thế giới lần thứ hai (giữa thế kỷ XX), nhiều nước thuộc Thế giới thứ ba1 tiến hành quá trình này với Chiến lược CNH riêng của mình. Một số dựa theo mô hình CNH của Liên xô (cũ), một số dựa theo mô hình của Mỹ. Đến nay, một số nước đã thực hiện CNH rút ngắn thành công, đã trở thành nước công nghiệp. Tuy nhiên, còn không ít nước trong đó có Việt Nam vẫn trong tình trạng nền kinh tế nông nghiệp, đang trong giai đoạn tiến hành CNH.

Do thời điểm lịch sử tiến hành CNH ở các nước không giống nhau nên đã có những quan niệm khác nhau về CNH. Việc nhận thức đúng phạm trù CNH trong một giai đoạn phát triển cụ thể của đất nước là rất cần thiết, nó không chỉ có ý nghĩa về lý luận mà còn có tính thiết thực trong hoạch định và thực thi chính sách phát triển.

Thực tế lịch sử cho thấy, những nước đi đầu về CNH như Anh, Pháp và một số nước Tây Âu khác vào thời điểm cuối thế kỷ XVIII, đầu thế kỷ XIX, đi liền với cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ nhất với công nghệ chủ đạo là máy hơi nước. Trong điều kiện đó, CNH được hiểu là quá trình thay thế lao động thủ công bằng lao động sử dụng máy móc, quá trình chuyển nền kinh tế từ nông nghiệp là chủ yếu lên công nghiệp, biến một nước nông nghiệp truyền thống thành nước công nghiệp.

Những biểu hiện đầu tiên của CNH được gắn với nội dung của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ nhất. Đó là: (i) Chuyển chỗ làm việc từ gia đình vào các công xưởng trên quy mô lớn; (ii) Tập trung dân cư ở các khu đô thị; (iii) Thay thế hệ thống kỹ thuật thủ công dựa vào gỗ, sức cơ bắp, sức nước, sức gió và sức kéo động vật bằng một hệ thống kỹ thuật cơ khí với nguồn động lực là máy hơi nước và nguồn nguyên liệu, nhiên liệu và năng lượng mới là sắt và than đá, tạo ra sự đột phá trong phát triển lực lượng sản xuất, tạo bước phát triển vượt bậc của công nghiệp; (iv) Tạo ra những công việc kinh doanh mới nhờ có được những mạng lưới giao thông, vận tải và thông tin liên lạc mới; (v) Tăng mạnh quy mô của thị trường và việc sử dụng tín dụng, ngân hàng và các dịch vụ tài chính có liên quan; và (vi) Áp dụng rộng rãi các phát minh mới. Với những biểu hiện đó, CNH còn được hiểu là quá trình nâng cao tỷ trọng của công nghiệp trong toàn bộ các ngành kinh tế của một vùng hay một nền kinh tế, quá trình chuyển nền kinh tế dựa chủ yếu vào nông nghiệp lên nền kinh tế dựa chủ yếu vào công nghiệp. Đây không chỉ là quá trình chuyển biến về kinh tế mà còn chuyển biến cả về văn hóa và xã hội để đạt tới một xã hội mới - xã hội công nghiệp.

Đến nửa cuối thế kỷ XIX, cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ hai được diễn ra với quy mô và thành quả lớn hơn rất nhiều so với cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ nhất. Nhiều công nghệ mới được sản xuất ra và đưa vào sử dụng. Điển hình là con người đã sản xuất ra động cơ điện vào năm 1872, sản xuất ra động cơ đốt trong (động cơ diesel) vào năm 1883, sản xuất ra kim loại màu và các hóa phẩm tổng hợp. Trong điều kiện đó, quan niệm về CNH có sự thay đổi. Nó không còn đơn thuần là cơ khí hóa, mà còn được gắn với quá trình điện khí hóa, hóa học hóa cơ giới hóa.

Sau chiến tranh thế giới lần thứ hai (khoảng giữa thế kỷ XX), cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ ba được diễn ra trên thế giới với sự phát triển vượt bậc và có tính đột phá của khoa học và công nghệ. Trong giai đoạn này, tuy những quốc gia đã hoàn thành CNH đang tiến rất mạnh vào nền kinh tế hiện đại, nhưng còn không ít quốc gia vẫn trong tình trạng nền kinh tế lạc hậu, đang hoặc thậm chí có nước còn chưa bước vào giai đoạn CNH. Trong bối cảnh đó, việc nhận thức phạm trù CNH còn được hiểu đó là quá trình tự động hóa sản xuất phát triển các công nghệ chất lượng cao

Ngoài những quan niệm trên, trong kho tàng tri thức của nhân loại còn có những quan niệm khác về CNH dựa trên một số mục tiêu nhất định về trình độ phát triển của tư liệu lao động, phương thức tổ chức sản xuất, thu nhập quốc dân, cơ cấu kinh tế, cơ cấu công nghiệp, cơ cấu lao động, mức độ phát triển công nghiệp chế tác, loại công cụ sản xuất, các hàm sản xuất cơ bản, phương thức sản xuất...

Tuy có những quan niệm khác nhau về CNH, nhưng về cơ bản các quan niệm trên vẫn có những điểm chung và có thể được hiểu theo hai nghĩa:

- Theo nghĩa hẹp, CNH là quá trình chuyển dịch từ kinh tế nông nghiệp (hay tiền công nghiệp) lên nền kinh tế lấy công nghiệp làm chủ đạo, từ chỗ tỷ trọng lao động nông nghiệp chiếm chủ yếu giảm dần và nhường chỗ cho lao động công nghiệp chiếm tỷ trọng lớn hơn.

- Theo nghĩa rộng, CNH là quá trình chuyển dịch từ kinh tế nông nghiệp (hay tiền công nghiệp) lên kinh tế công nghiệp, từ xã hội nông nghiệp lên xã hội công nghiệp, từ văn minh nông nghiệp lên văn minh công nghiệp. Nó không chỉ đơn thuần là những biến đổi về kinh tế mà bao gồm cả các biến đổi về văn hóa và xã hội từ trạng thái nông nghiệp lên xã hội công nghiệp, tức là trình độ văn minh cao hơn.

  1. Quan niệm về hiện đại hóa

    1.  

Theo cách hiểu thông thường, hiện đại hóa (HĐH) là quá trình “làm cho mang tính chất của thời đại ngày nay”2, Đó là quá trình biến đổi từ tính chất truyền thống cũ lên trình độ tiên tiến của thời đại hiện nay.

Theo ý nghĩa về kinh tế - xã hội, HĐH là quá trình chuyển dịch căn bản từ xã hội truyền thống lên xã hội hiện đại, quá trình làm cho nền kinh tế và đời sống xã hội mang tính chất và trình độ của thời đại ngày nay.

HĐH về kinh tế vừa có sự thay đổi về tính chất, vừa có tính xác định về thời gian. Giai đoạn đầu của hiện đại hóa được xác định trùng với thời kỳ diễn ra cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ nhất (còn gọi là thời kỳ CNH). Trong giai đoạn này, CNH là nội dung cốt lõi của HĐH.

Tuy một số nước đi trước đã hoàn thành CNH và đã trở thành nước công nghiệp phát triển, nhưng quá trình HĐH ở các nước đó vẫn tiếp tục diễn ra ở trình độ cao hơn. Thực tế cho thấy, ở mỗi trình độ phát triển khác nhau, HĐH mang những đặc trưng khác nhau.

Đối với các nước phát triển, HĐH là quá trình chuyển dịch từ xã hội dựa trên nền kinh tế công nghiệp lên xã hội dựa trên nền kinh tế tri thức.

Đối với các nước đang phát triển, HĐH là quá trình tăng tốc, rút ngắn lộ trình phát triển để đuổi kịp các nước đi trước và phát triển hơn. Do tiến hành CNH trong bối cảnh mới của thế giới nên bên cạnh việc dựa vào các nguồn lực trong nước, các nước đang phát triển còn tranh thủ các nguồn lực từ bên ngoài thông qua thu hút đầu tư để tìm kiếm nguồn vốn và công nghệ mới. Đây chính là kiểu CNH rút ngắn hiện đại. Nó khác với kiểu CNH rút ngắn cổ điển đã từng tiến hành ở các nước như Liên Xô (cũ) và Nhật Bản vào cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX trước đây.

CNH rút ngắn hiện đại là cách thức mà nước đi sau tiến hành CNH khi trên thế giới đã có những quốc gia hoàn thành CNH, những nội dung của CNH đã được triển khai ổn định ở các nước đi trước (gọi là nước công nghiệp phát triển). Do sự biến đổi nhanh chóng của tiến bộ khoa học và công nghệ, nhất là từ khi diễn ra cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại, nên những công nghệ hiện có của các nước này dễ bị lạc hậu. Do cạnh tranh trên thị trường, các nước này phải “chiếm lĩnh đỉnh cao công nghệ”, nên họ sẵn sàng chuyển giao công nghệ hiện có của họ cho nước đi sau để bước vào thế hệ công nghệ mới. Bởi vậy, nước đi sau có rất nhiều phương án lựa chọn trong phát triển công nghệ mà không nhất thiết phải dựa vào phát minh. Đây chính là “lợi thế của nước đi sau”. Dựa vào lợi thế này, nước đi sau có thể rút ngắn đáng kể thời gian để sớm trở thành nền kinh tế hiện đại. Tại các nước này, quá trình tiến hành CNH được gắn kết với quá trình HĐH.

Kế thừa có chọn lọc và phát triển những tri thức của văn minh nhân loại về CNH và căn cứ vào điều kiện lịch sử cụ thể của Việt Nam là một nước đi sau đang trong quá trình phát triển, Đảng cộng sản Việt Nam tại Hội nghị Trung ương lần thứ bảy khóa VII (năm 1994), nêu chủ trương tiến hành xây dựng cơ sở vật chất – kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam trong giai đoạn mới bằng con đường CNH, HĐH và nêu quan niệm: “CNH, HĐH là quá trình chuyển đổi căn bản, toàn diện các hoạt động sản xuất kinh doanh, dịch vụ và quản lý kinh tế - xã hội, từ sử dụng lao động thủ công là chính sang sử dụng một cách phổ biến sức lao động với công nghệ, phương tiện, phương pháp tiên tiến hiện đại, dựa trên sự phát triển của công nghiệp và tiến bộ khoa học công nghệ, tạo ra năng suất lao động xã hội cao3.

Theo quan niệm này, quá trình xây dựng cơ sở vật chất – kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam phải kết hợp chặt chẽ hai nội dung CNH và HĐH. Nó không chỉ đơn thuần là phát triển công nghiệp mà còn phải thực hiện chuyển dịch cơ cấu trong từng ngành, lĩnh vực và toàn bộ nền kinh tế quốc dân theo hướng hiện đại. Nó không chỉ là một quá trình phát triển tuần tự từ cơ giới hóa lên tự động hóa, tin học hóa mà còn kết hợp giữa thủ công truyền thống với công nghệ hiện đại, tranh thủ đi nhanh vào hiện đại ở những khâu có thể và mang tính quyết định. Quan niệm trên không bó hẹp CNH trong phạm vi trình độ các lực lượng sản xuất đơn thuần, kỹ thuật đơn thuần để chuyển lao động thủ công thành lao động cơ khi như cách hiểu trước đây, mà còn là một sự kết hợp với những thành tựu mới nhất về khoa học và công nghệ của nhân loại.

  1. Quan niệm về kinh tế tri thức

    1.  

Bên cạnh cách giải thích truyền thống về lịch sử phát triển nhân loại tiếp cận từ phương thức sản xuất xã hội, vào đầu những năm 90 thế kỷ XX nhiều nhà khoa học còn phân chia giai đoạn lịch sử văn minh nhân loại căn cứ vào trình độ phát triển của lực lượng sản xuất. Theo cách này, nhân loại đã trải qua nền văn minh nông nghiệp (từ khi xuất hiện xã hội loài người đến những năm 70 của thế kỷ XVIII) lên nền văn minh công nghiệp (từ những năm 70 thế kỷ XVIII đến nay) và đang trong giai đoạn quá độ chuyển lên một nền văn minh cao hơn gọi là nền văn minh trí tuệ. Trong đó, nền kinh tế được chuyển từ kinh tế nông nghiệp lên kinh tế công nghiệp và đang quá độ chuyển lên kinh tế tri thức.

Kinh tế tri thức là gì?

Vào đầu những năm 90 thế kỷ XX, do nhận thức về vai trò quan trọng hàng đầu của sản xuất, phân phối và sử dụng tri thức trong tăng trưởng kinh tế, các nhà khoa học và tổ chức thực tiễn đã sử dụng thuật ngữ “kinh tế tri thức”. Thuật ngữ này nhanh chóng được thừa nhận và đưa vào sử dụng rộng rãi. Tuy đã có nhiều quan niệm và giải thích khác nhau về thuật ngữ này4, song các nhà khoa học đều có sự thống nhất trong nhận thức về bản chất của nền kinh tế tri thức khác với hai nền kinh tế trước nó. Nếu trong quá trình sản xuất của cải của nền kinh tế nông nghiệp dựa chủ yếu vào sức cơ bắp của con người và tài nguyên thiên nhiên, còn trong nền kinh tế công nghiệp tuy đã có sự trợ giúp của máy móc nhưng sức cơ bắp của con người và tài nguyên thiên nhiên vẫn giữ trọng yếu, thì trong nền kinh tế tri thức, tri thức đóng vai trò quyết định hàng đầu đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của một quốc gia.

Trên thực tế, không có một nền kinh tế nông nghiệp hay nền kinh tế công nghiệp thuần túy. Tức là trong nền kinh tế nông nghiệp cũng đã chứa đựng một số yếu tố của nền kinh tế công nghiệp và trong nền kinh tế công nghiệp cũng vẫn còn một số yếu tố của nền kinh tế nông nghiệp. Trong nền kinh tế nông nghiệp, tri thức chủ yếu là những kinh nghiệm được tích lũy từ các hoạt động thực tế, năng suất, chất lượng và hiệu quả sản xuất đều hết sức thấp kém. So với nền kinh tế nông nghiệp, trong nền kinh tế công nghiệp, tri thức đã chiếm vị trí ngày càng quan trọng hơn. Nó không chỉ là kinh nghiệm từ các hoạt động thực tế, mà còn khám phá ra những quy luật vận động của tự nhiên, xã hội và tư duy để đưa ra những sáng chế, phát minh nhằm tăng năng suất, chất lượng và hiệu quả. Trong nền kinh tế tri thức, tri thức là bộ phận nguồn lực quan trọng nhất, quyết định nhất của lực lượng sản xuất hiện đại, mà trình độ phát triển của lực lượng sản xuất lại đóng vai trò quyết định sự phát triển xã hội.

Nền kinh tế tri thức có các đặc điểm chủ yếu như sau:

Tri thức là nguồn vốn vô hình to lớn, quan trọng trong đầu tư phát triển, nền kinh tế dựa chủ yêu vào tri thức.

Sáng tạo là động lực của sự phát triển.

Nền kinh tế có tính chất toàn cầu hóa, trong đó mạng thông tin trở thành kết cấu hạ tầng quan trọng nhất của xã hội.

Sự di chuyển cơ cấu lao động theo hướng giảm số lao động trực tiếp làm ra của cải, tăng số lao động xử lý thông tin, làm dịch vụ, di chuyển sản phẩm và làm văn phòng.

Học suốt đời, đào tạo liên tục, giáo dục thường xuyên để không ngừng phát triển tri thức, sáng tạo công nghệ mới, làm chủ công nghệ cao, hoàn thiện các kỹ năng, thích nghi nhanh với sự phát triển là một yêu cầu nghiêm ngặt; xã hội học tập là nền tảng của kinh tế tri thức.

Tri thức hóa các quyết sách kinh tế.

Khác với nền kinh tế công nghiệp, chủ thể là công nhân với các công cụ cơ khí, cho năng suất lao động cao; còn nền kinh tế tri thức, chủ thể là công nhân trí thức với công cụ là tạo ra tri thức, quảng bá tri thức và sử dụng tri thức.​​​​​​​

Như vậy, nền kinh tế tri thức là một nền kinh tế tiếp nối nền kinh tế công nghiệp, phát triển ở trình độ cao hơn nền kinh tế công nghiệp, là nền kinh tế mà nhân loại đang hướng tới. Có thể hiểu kinh tế tri thức là một nền kinh tế trong đó sự sản sinh ra, phổ cập và sử dụng tri thức giữ vai trò quyết định đối với sự phát triển kinh tế, tạo ra của cải, nâng cao chất lượng cuộc sống.

BỐI CẢNH MỚI VÀ SỰ CẦN THIẾT PHẢI ĐẨY MẠNH CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA GẮN VỚI PHÁT TRIỂN KINH TẾ TRI THỨC Ở VIỆT NAM

  1. Bối cảnh mới của công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam

    1.  

Việt Nam tiến hành CNH, HĐH trong bối cảnh mới của tình hình kinh tế thế giới và trong nước.

    1. Bối cảnh kinh tế thế giới

      1.  

Bước vào thế kỷ XXI, nền kinh tế thế giới được phát triển theo hai xu hướng bao trùm là sự phát triển của kinh tế tri thức và toàn cầu hóa kinh tế.

      1. Sự phát triển của kinh tế tri thức

        1.  

Phát triển kinh tế tri thức là xu hướng dựa trên trình độ rất cao của lực lượng sản xuất hơn hẳn so với kinh tế công nghiệp. Theo xu hướng này, nền kinh tế thế giới đang biến đổi sâu sắc và toàn diện cả về trình độ công nghệ, ngành sản xuất và cơ cấu sản phẩm. Tri thức khoa học và công nghệ, kỹ năng của con người là những yếu tố quyết định nhất của sản xuất và trở thành lực lượng sản xuất quan trọng hàng đầu. Những yếu tố đó trở thành nguyên nhân trực tiếp của mọi biến đổi trong đời sống kinh tế - xã hội thông qua việc tạo ra những ngành sản xuất mới với những công nghệ mới, phương pháp sản xuất mới, những vật liệu và nguồn năng lượng mới với những ưu thế vượt trội so với những công cụ, nguyên liệu, năng lượng và phương pháp truyền thống do nền kinh tế công nghiệp tạo ra.

Với xu hướng này, tuy vai trò của con người trong lực lượng sản xuất không thay đổi, họ vẫn là chủ thể của quá trình sản xuất, sáng tạo và áp dụng những thành tựu mới của khoa học và công nghệ, nhưng tính chất hoạt động và yêu cầu đặt ra đối với họ đã có sự thay đổi căn bản so với người lao động trong nền kinh tế nông nghiệp và nền kinh tế công nghiệp. Trong nền kinh tế công nghiệp, cường độ lao động của con người đã được giảm nhẹ đáng kể nhờ sự trợ giúp của máy móc, thiết bị ngày càng hiện đại, để sử dụng chúng có hiệu quả, người lao động phải có sự hiểu biết về tính năng, tác dụng của máy móc đó và về quá trình sản xuất nói chung. Trong nền kinh tế tri thức, người lao động là người lao động trí óc, họ vừa nghiên cứu vừa sản xuất, sản phẩm của họ là những phát minh được ứng dụng ngay vào sản xuất. Tri thức khoa học và công nghệ là yêu cầu hàng đầu đối với người lao động.

Trên thực tế, xu hướng phát triển kinh tế tri thức đã được khởi động cách đây hàng chục năm, nhất là từ cuối những năm 70 thế kỷ XX khi trên thế giới bắt đầu diễn ra cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại. Theo xu hướng này, đến nay bên cạnh những phát minh mới trong khoa học cơ bản, con người đã đi rất xa trong việc sáng tạo ra các công cụ sản xuất mới (máy tính điện tử, máy tự động, hệ thống máy tự động, robot..), những năng lượng mới (nguyên tử, nhiệt hạch, mặt trời, thủy triều, gió…), vật liệu mới (pô-ly-me, vật liệu tổ hợp composite, gốm cao cấp như siêu bền, siêu cứng, siêu dẫn…), công nghệ sinh học (có những đột phá phi thường trong công nghệ di truyền tế bào, vi sinh, enzim… góp phần giải quyết nạn đói, chữa bệnh), nông nghiệp (tạo được cuộc cách mạng xanh trong nông nghiệp: cơ khí hóa, điện khí hóa .. lai tạo giống mới, không sâu bệnh, nhờ đó con người đã khắc phục được nạn đói), giao thông vận tải và thông tin liên lạc (máy bay siêu âm, tàu hỏa siêu tốc, cáp sợi thủy tinh quang dẫn,… truyền hình trực tiếp, điện thoại di động, công nghệ chinh phục vũ trụ (vệ tinh nhân tạo, thám hiểm mặt trăng, du hành vũ trụ…), công nghệ thông tin phát triển và bùng nổ mạnh trên toàn cầu, mạng thông tin máy tính toàn cầu (Internet) ứng dụng sâu rộng trong mọi ngành kinh tế và xã hội. Cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại chính là bước quá độ chuyển nền kinh tế công nghiệp lên nền kinh tế tri thức.

Xu hướng phát triển kinh tế tri thức đã và đang được diễn ra ngày càng mạnh mẽ ở các nước công nghiệp phát triển. Do sức hấp dẫn đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của xu hướng này mà nó đã và đang cuốn hút ngày càng nhiều nước đang phát triển. Đã có một số nước đang phát triển thành công nhờ phát triển theo xu hướng này5.

      1. Xu hướng toàn cầu hóa kinh tế

        1.  

Toàn cầu hóa kinh tế là một xu hướng trong đó sự gia tăng mạnh mẽ các mối quan hệ kinh tế vượt ra biên giới quốc gia, vươn tới quy mô toàn cầu, tạo nên sự gắn kết các nền kinh tế thành một nền kinh tế thế giới thống nhất. Theo xu hướng này, nhân loại đang đẩy nhanh việc đi đến một thị trường thế giới thống nhất, một hệ thống tài chính tín dụng toàn cầu, phát triển và mở rộng phân công lao động quốc tế theo chiều sâu, mở rộng giao lưu kinh tế và khoa học, công nghệ giữa các nước, giải quyết các vấn đề kinh tế - xã hội có tính toàn cầu. Với xu hướng này, thương mại quốc tế phát triển rất nhanh, đầu tư nước ngoài tăng trưởng mạnh, thị trường tài chính quốc tế được mở rộng và các công ty xuyên quốc gia có vai trò ngày càng lớn6.

Hiện nay, bên cạnh Tổ chức thương mại thế giới (WTO) là một hình thức toàn cầu hóa kinh tế lớn nhất, trên thế giới còn có các tổ chức khác mang tính toàn cầu hóa và nhiều tổ chức kinh tế khu vực như NAFTA, EU, ASEAN, AFEC, MERCOSUR… và các tổ chức tiểu vùng như Hiệp hội thương mai tự do châu Âu, Tam giác tăng trưởng Singapore – Malaixia – Inđônêxia, Hành lang kinh tế Đông – Tây…

Xu hướng toàn cầu hóa đã và đang thúc đẩy sự phát triển lực lượng sản xuất, đẩy nhanh đầu tư và khai thác triệt để khoa học, công nghệ, tăng cường hợp tác của các nước theo hướng ngày càng toàn diện và nâng cao tốc độ tăng trưởng kinh tế trên phạm vi toàn cầu. Nó không chỉ tạo ra cơ hội mới cho phát triển kinh tế của các nước mà còn đặt các nước, nhất là các nước đang phát triển trước những thách thức cạnh tranh gay gắt. Trong xu hướng này, có sự chuyển dịch căn bản lợi thế lợi thế phát triển: từ đất đai, tài nguyên (lợi thế trong nền kinh tế nông nghiệp) và vốn tài chính (lợi thế quyết định của nền kinh tế công nghiệp) chuyển sang trí tuệ của con người (lợi thế của nền kinh tế tri thức). Việc sản xuất của mỗi quốc gia sẽ ngày càng chuyển mạnh theo hướng trở thành một bộ phận trong cấu trúc mạng toàn cầu.

Bối cảnh của kinh tế thế giới đã và đang làm xuất hiện những cơ hội mới và thời cơ mới cho sự phát triển nhảy vọt của nước đi sau, tiến hành CNH muộn như Việt Nam.

2.1.2. Bối cảnh kinh tế trong nước

Quá trình CNH ở nước ta được thực hiện từ đầu những năm 60 của thế kỷ XX. Hơn 50 năm qua, đường lối CNH đất nước đã có những điều chỉnh khá cơ bản theo sự phát triển của tư duy và điều kiện cụ thể.

Thời kỳ từ năm 1960 đến năm 1985 là thời kỳ CNH được thực hiện nhằm phục vụ cho nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung. Quá trình CNH được thực hiện có kết quả ở miền Bắc vào những năm đầu của kế hoạch 5 năm lần thứ nhất (1960-1965). Sau khi đất nước được thống nhất, đường lối, chính sách CNH đó được thực hiện trên phạm vi cả nước với những điều chỉnh và bổ sung nhất định. Song, do việc duy trì khá lâu cơ chế kế hoạch hóa tập trung trong khi bối cảnh kinh tế trong nước và trên thế giới đã thay đổi, nên nước ta đã lâm vào khủng hoảng kinh tế - xã hội trong những năm 80.

Từ năm 1986 đến nay là thời kỳ thực hiện đổi mới toàn diện và đồng bộ cả về tư duy, quan điểm đường lối và tổ chức chỉ đạo thực hiện. Đường lối CNH đã có những điều chỉnh và bổ sung quan trọng. Năm 1994, tại Hội nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ khóa VII của Đảng đã đề ra đường lối đẩy tới một bước CNH, HĐH. Năm 1996, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng đề ra đường lối đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước. Từ sau Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng (năm 2001) đến nay, đường lối đẩy mạnh CNH, HĐH được gắn với phát triển kinh tế tri thức.

Quá trình CNH, HĐH ở Việt Nam thời gian qua đã đạt được những thành tựu rất quan trọng. Nổi bật là trình độ công nghệ của một số lĩnh vực được nâng cao theo kịp trình độ của của các nước trong cùng khu vực. Đã phát triển một số ngành công nghiệp chất lượng cao (công nghệ thông tin và truyền thông, điện tử..). Trình độ công nghệ trong các ngành công nghiệp đã có những tiến bộ vượt bậc, điển hình như trong cơ khí chế tạo máy, đã làm chủ được các công nghệ CAD, CAM, CNC trong thiết kế chế tạo các loại máy công cụ như máy phay CNC, máy tiện… đa chức năng tiêu thụ trong nước và bước đầu xuất khẩu; ngành đóng tàu sau 15 năm đã rút ngắn khoảng cách lạc hậu so với thế giới từ 70 – 80 năm còn 20 – 30 năm, hiện được đánh giá xếp thứ 5 thế giới về năng lực đóng mới. Cả nước đã có 286 khu công nghiệp, khu chế xuất được thành lập đóng vai trò quan trọng và có tác động lan tỏa trong phát triển công nghiệp của các vùng, miền, địa phương. Trong nông nghiệp, nhờ đưa vào áp dụng những thành tựu mới của khoa học và công nghệ, năng suất lao động, năng suất cây trồng, vật nuôi đã tăng lên. Đã hình thành các vùng chuyên canh lúa gạo, cà phê, cao su, hạt tiêu, thủy sản, rừng nguyên liệu. Từ một nước phải nhập khẩu hàng triệu tấn lương thực, đến nay Việt Nam đã có một số hàng nông sản xuất khẩu đứng hàng đầu thế giới (xuất khẩu hạt điều xếp thứ nhất thế giới; xuất khẩu gạo, cà phê xếp thứ hai; hạt tiêu, chè xếp thứ năm; thủy sản xếp thứ mười). Ngành dịch vụ được phát triển đa dạng, tăng khá nhanh về quy mô, ngành nghề và thị trường với sự tham gia mạnh mẽ của các doanh nghiệp thuộc nhiều thành phần kinh tế.

Nhờ đó, từ khi chuyển sang thực hiện CNH, HĐH đến nay, nước ta đã đạt tốc độ tăng trưởng kinh tế cao hơn các giai đoạn trước đó và được xếp vào nhóm những nền kinh tế có tốc độ tăng trưởng bình quân hàng năm cao nhất thế giới. Theo chỉ tiêu GDP bình quân đầu người, năm 2009 Việt Nam đã vượt qua ngưỡng nghèo để tham gia vào nhóm các nước thu nhập trung bình; thành tựu xóa đói, giảm nghèo được thế giới thừa nhận là ấn tượng…7.

Tuy nhiên, trước yêu cầu phấn đấu đến năm 2020 trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại, quá trình CNH, HĐH gắn với phát triển kinh tế tri thức ở nước ta vẫn đang đối mặt với không ít khó khăn, thách thức. Đó là, tốc độ và chất lượng tăng trưởng kinh tế thấp và chưa bền vững. Tăng trưởng kinh tế vẫn dựa chủ yếu vào tài nguyên thiên nhiên và sử dụng nhiều lao động, ít kỹ năng, chưa dựa nhiều vào tri thức, khoa học và công nghệ. Chỉ số kinh tế tri thức còn rất thấp, chưa đạt được điểm trung bình. Theo phương pháp đánh giá do Viện nghiên cứu của Ngân hàng Thế giới (WB) đưa ra, thì Chỉ số kinh tế tri thức của Việt Nam năm 2008 là 3,02, xếp thứ 102 trong số 133 quốc gia được phân tích. Chỉ số này của Việt Nam tuy cao hơn của nhóm thu nhập thấp nhưng thấp hơn nhiều so với chỉ số của nhóm nước thu nhập trung bình thấp (4,1). So với các nước trong cùng khu vực, chỉ số kinh tế tri thức của nước ta chưa bằng 1/2 chỉ số đạt được của nhóm nền kinh tế công nghiệp mới (NIEs gồm Hàn Quốc, Singapore, Đài Loan, Hồng Kông), thấp hơn khá nhiều so với Malaysia, Thái Lan, Trung Quốc và Philippines. Năng suất lao động của Việt Nam tuy đã có chiều hướng tăng (tốc độ tăng năng suất bình quân giai đoạn 2001 - 2010 đạt khoảng 4,8%/năm), nhưng vẫn còn thấp hơn so với năng suất lao động của Trung Quốc khoảng 2,6 lần và Thái Lan 4,3 lần8. Khả năng cạnh tranh của sản phẩm, của doanh nghiệp và của nền kinh tế còn thấp do chi phí sản xuất của nhiều sản phẩm còn ở mức cao. Cơ cấu nền kinh tế chuyển dịch chậm và thiếu vững chắc; tính hiện đại còn thấp, chưa đáp ứng được yêu cầu. Hệ thống dịch vụ hỗ trợ phát triển sản xuất vừa thiếu, vừa yếu và kém hiệu quả. Sự chuyển dịch cơ cấu lao động còn mang nặng tính tự phát, chưa đáp ứng được yêu cầu chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng hiệu quả. Việc sử dụng nguồn lực của nền kinh tế chưa có hiệu quả, còn nhiều lãng phí. Mức sống của người dân ở nhiều nơi còn khó khăn.

  1. Sự cần thiết phải đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với phát triển kinh tế tri thức ở Việt Nam

    1.  

CNH là con đường thiết yếu mà mọi quốc gia đều phải trải qua để đi tới một xã hội hiện đại.

CNH, HĐH của Việt Nam được tiến hành bối cảnh xu hướng trên thế giới đang chuyển mạnh lên nền kinh tế tri thức và xu hướng toàn cầu hóa kinh tế đã và đang tác động sâu sắc với tốc độ cao đến đời sống kinh tế - xã hội của mọi quốc gia, trong khi đó Việt Nam vẫn trong tình trạng của một nước có điểm xuất phát thấp, nhiều yếu tố lạc hậu, phát triển thiếu bền vững. Trong bối cảnh nhiều cơ hội và thách thức đan xen, để đi tới một nền kinh tế hiện đại, Việt Nam phải có những giải pháp bứt phá. Sự lựa chọn giải pháp đẩy mạnh CNH, HĐH gắn với phát triển kinh tế tri thức là cấp thiết.

2.2.1. Đẩy mạnh CNH, HĐH gắn với phát triển kinh tế tri thức là cách thức để đất nước sớm thoát khỏi tình trạng lạc hậu

Trong những năm qua, tuy đã có những bước phát triển tích cực, nhưng về cơ bản, nước ta vẫn chưa thoát khỏi tình trạng nước nghèo và kém phát triển. Chúng ta vẫn phải đương đầu với những thách thức gay gắt và những nhiệm vụ nan giải: một mặt, tập trung giải quyết các vấn đề cơ bản đặt ra cho nền kinh tế trong quá trình chuyển từ kinh tế nông nghiệp lên trình độ của nền kinh tế công nghiệp, như bảo đảm lương thực, thực phẩm, nhu cầu nước sạch, trường học, đi lại cho người dân; mặt khác, phải nhanh chóng nắm bắt các xu thế phát triển hiện đại không những chỉ để chống tụt hậu ngày càng xa hơn so với trình độ chung của thế giới, mà còn phải thu hẹp khoảng cách với các nước phát triển khi bản thân họ đã·có trình độ phát triển cao hơn. Khi các yếu tố cho phát triển không chỉ đơn thuần là vốn, lao động, tài nguyên thiên nhiên, mà còn có thêm yếu tố tri thức với ý nghĩa là yếu tố quan trọng và trực tiếp đối với quá trình phát triển, thì việc không nhanh chóng nắm bắt và vận dụng được tri thức mới sẽ không thể tránh khỏi sự tụt hậu tuyệt đối so với các nước khác. Tri thức đã trở thành yếu tố của lực lượng sản xuất trực tiếp và có tác động mạnh mẽ đến sự phát triển kinh tế - xã hội. Trong điều kiện đó, nước ta không thể bỏ lỡ cơ hội, mà phải tìm giải pháp bứt phá, tức là phải đẩy mạnh CNH, HĐH gắn với phát triển kinh tế tri thức.

Là một nước đang phát triển vừa mới nằm trong nhóm nước có thu nhập trung bình (nhưng mới chỉ là mức trung bình thấp) lại đặt trong xu thế mở cửa, hội nhập, việc gắn CNH, HĐH với phát triển kinh tế tri thức ngay trong quá trình chuyển nền kinh tế nông nghiệp lên nền kinh tế công nghiệp là một thách thức rất lớn đối với nước ta. Điều này xuất phát từ thực tiễn của một nước đang đứng trước nguy cơ tụt hậu ngày càng xa hơn về kinh tế so với các nước trong khu vực và trình độ phát triển chung của thế giới. Đây cũng là yêu cầu cấp thiết, bắt buộc phải giải quyết đồng thời hai nhiệm vụ: phát triển để vượt khỏi sự lạc hậu và chuyển sang phát triển kinh tế tri thức.

2.2.2. Đẩy mạnh CNH, HĐH gắn với phát triển kinh tế tri thức là yêu cầu bắt buộc để tạo ra cơ sở vật chất-kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội

Lịch sử đã chứng minh, mỗi phương thức sản xuất bao giờ cũng dựa trên một cơ sở vật chất – kỹ thuật nhất định để tồn tại và phát triển. Nó bao gồm toàn bộ các yếu tố vật chất của lực lượng sản xuất tương ứng với trình độ kỹ thuật, công nghệ nhất định; dựa vào đó lực lượng lao động của xã hội tiến hành sản xuất của cải. Một trình độ nhất định của cơ sở vật chất – kỹ thuật là nội dung kinh tế, là “cốt vật chất” có ý nghĩa xác định một thời đại kinh tế, phân biệt với phương thức sản xuất chứa đựng nó thuộc loại hình kinh tế - xã hội lịch sử nào.

Thực tế đã chứng minh, các phương thức sản xuất trước chủ nghĩa tư bản đều đã dựa trên cơ sở vật chất – kỹ thuật với công cụ lao động thủ công, lạc hậu, năng suất thấp. Phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa sở dĩ chiến thắng phương thức sản xuất phong kiến vì nó tạo ra nền đại công nghiệp để có năng suất lao động cao “chưa từng có dưới chế độ nông nô”. Do vậy, phương thức sản xuất xã hội chủ nghĩa tất yếu phải phát triển dựa trên cơ sở vật chất – kỹ thuật ở trình độ cao hơn chủ nghĩa tư bản.

Cơ sở vật chất – kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội là nền công nghiệp lớn hiện đại với cơ cấu kinh tế hợp lý, trình độ xã hội hóa cao, dựa trên nền tảng khoa học và công nghệ tiên tiến, được hình thành có kế hoạch trên toàn bộ nền kinh tế quốc dân. Nó không chỉ kế thừa những thành quả văn minh mà nhân loại đã đạt được trong chủ nghĩa tư bản, mà còn được phát triển và hoàn thiện trên cơ sở những thành tựu mới nhất của khoa học và công nghệ, tham gia tích cực và có hiệu quả vào phân công lao động và hợp tác quốc tế.

Đối với các nước đã qua giai đoạn phát triển của chủ nghĩa tư bản, bước vào xây dựng chủ nghĩa xã hội, việc xác lập cở vật chất – kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội được tiến hành thống qua kế thừa, điều chỉnh và hoàn thiện cơ sở vật chất – kỹ thuật đã đạt được trong chủ nghĩa tư bản theo yêu cầu của chế độ mới và phát triển nó lên trình độ cao hơn. Đối với các nước quá độ lên chủ nghĩa xã hội từ điểm xuất phát thấp, ở giai đoạn đầu hoặc không qua giai đoạn phát triển của chủ nghĩa tư bản, yêu cầu xây dựng cơ sở vật chất – kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội càng trở nên cấp thiết hơn.

Theo V.I. Lênin, “Cơ sở vật chất duy nhất và thực sự để làm tăng của cải của chúng ta, để xây dựng xã hội xã hội chủ nghĩa chỉ có thể là đại công nghiệp... Không có một nền đại công nghiệp tổ chức cao thì không thể nói đến chủ nghĩa xã hội được, mà lại càng không thể nói đến chủ nghĩa xã hội ở một nước nông nghiệp được”9.

Tạo lập cơ sở vật chất – kỹ thuật để xây dựng chủ nghĩa xã hội hiện thực là đòi hỏi có tính bắt buộc đối với tất cả các nước muốn quá độ lên chủ nghĩa xã hội10. Điều này càng trở nên cấp thiết đối với một nước có điểm xuất phát thấp như Việt Nam. Con đường cơ bản để xây dựng cơ sở vật chất – kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội ở nước ta trong bối cảnh hiện nay tất yếu phải là đẩy mạnh CNH, HĐH gắn với phát triển kinh tế tri thức.

Cần nhấn mạnh rằng, xu hướng phát triển kinh tế tri thức đã và đang là thách thức và cơ hội lớn đối với nước ta trên con đường xây dựng cơ sở vật chất – kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội. Nếu không kịp thời nắm bắt thời cơ, dựa vào kinh tế tri thức để đẩy nhanh CNH, HĐH thì nước ta sẽ tụt hậu ngày càng xa hơn. Phải đẩy mạnh CNH, HĐH gắn với phát triển kinh tế tri thức để nhanh chóng đuổi kịp các nước, thực hiện mục tiêu xây dựng chủ nghĩa xã hội. Đó là yêu cầu cấp bách, là sự chuyển hướng chiến lược trọng đại. Đây chính là cơ hội lịch sử hiếm hoi mà thời đại đã tạo ra.

2.2.3. Đẩy mạnh CNH, HĐH gắn với phát triển kinh tế tri thức bắt nguồn từ yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế sâu hơn, đầy đủ hơn

Nước ta hiện đang tiến hành công cuộc đổi mới, trong đó xây dựng một nền kinh tế mở, đẩy nhanh quá trình hội nhập kinh tế quốc tế là một nội dung có tầm chiến lược. Vì tham gia vào nền kinh tế thế giới trong xu hướng toàn cầu hóa là những quốc gia có chủ quyền, nên muốn thực hiện nội dung này, đòi hỏi chúng ta phải chủ động hội nhập kinh tế quốc tế, phải hội nhập sâu hơn, đầy đủ hơn với các thể chế kinh tế toàn cầu, khu vực và song phương11.

Hội nhập kinh tế quốc tế là một nội dung chủ yếu của toàn cầu hóa kinh tế, đó là quá trình các quốc gia gắn kết nền kinh tế của nước mình với nền kinh tế khu vực và thế giới bằng các nỗ lực thực hiện tự do hóa, mở cửa kinh tế trên các cấp độ song phương, đa phương và giảm thiểu sự khác biệt để trở thành một bộ phận hợp thành chỉnh thể nền kinh tế toàn cầu. Nó không chỉ đơn thuần là quá trình hợp tác, mà còn là quá trình cạnh tranh có tính quyết định sống còn giữa các doanh nghiệp và các nền kinh tế quốc gia.

Nếu trước đây, sự phân công và trao đổi bị giới hạn bởi tính vùng, địa phương và quốc gia, thì ngày nay trong xu hướng toàn cầu hóa, sự phân công và trao đổi được thực hiện thông qua mạng liên kết toàn cầu. Xu hướng này tất yếu làm cho ngày càng nhiều các sản phẩm công nghiệp được sản xuất ra có sự tham gia của nhiều doanh nghiệp thuộc các quốc gia khác nhau, rồi tổ hợp chúng lại với nhau. Sự phân công lao động đã làm cho biên giới quốc gia không còn giới hạn chặt chẽ như trước đây, mà xích lại gần nhau. Tri thức, đặc biệt là công nghệ thông tin, kinh tế mạng là những yếu tố quan trọng kết dính các doanh nghiệp và các quốc gia với nhau. Do vậy, hội nhập kinh tế quốc tế làm cho hệ thống thông tin không còn là của riêng từng quốc gia, mà là chung của nhiều quốc gia trên thế giới. Hội nhập kinh tế quốc tế làm cho các doanh nghiệp và các quốc gia sẵn sàng hợp tác với nhau để cùng hưởng lợi do hợp tác mang lại.

Tuy nhiên, hội nhập kinh tế quốc tế cũng đặt ra những thách thức cạnh tranh gay gắt giữa các doanh nghiệp và các nền kinh tế. Thành công trong cuộc cạnh tranh này, tất nhiên sẽ thuộc về các doanh nghiệp và quốc gia có lợi thế về tri thức khoa học và công nghệ trong việc tạo ra sản phẩm hàng hóa, dịch vụ. Quốc gia nào giàu về tài nguyên thiên nhiên và nhân công dồi dào, giá tài nguyên và giá nhân công rẻ sẽ dần dần mất đi lợi thế của mình do tri thức ngày càng trở nên quyết định nhiều hơn trong giá trị sản phẩm.

Trong bối cảnh đó, để chủ động hội nhập sâu hơn và đầy đủ hơn vào các quan hệ kinh tế toàn cầu, khu vực và song phương, một đòi hỏi có tính bắt buộc là nước ta phải đẩy mạnh CNH, HĐH gắn với phát triển kinh tế tri thức, coi tri thức là đòn bẩy làm tăng sức cạnh tranh của sản phẩm, của doanh nghiệp và của cả nền kinh tế, thúc đẩy quá trình hội nhập.

2.2.4. Đẩy mạnh CNH, HĐH gắn với phát triển kinh tế tri thức còn do tác động nhiều mặt của quá trình này đối với đời sống kinh tế, chính trị và xã hội

Ngoài những nguyên nhân trên, việc đẩy mạnh CNH, HĐH gắn với phát triển kinh tế tri thức ở nước ta còn do chính tác động tích cực của quá trình này đối với đời sống kinh tế, chính trị và xã hội. Nó không chỉ tạo ra cơ sở vật chất – kỹ thuật và kiểu tổ chức một nền kinh tế mới, thúc đẩy mạnh mẽ phân công lao động xã hội, chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tiến bộ, bảo đảm không ngừng nâng cao năng suất lao động xã hội mà còn sớm có được cơ sở vật chất – kỹ thuật tiên tiến hiện đại để khai thác và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực của đất nước cho sự tăng trưởng kinh tế nhanh. Tạo nhiều việc làm và tăng thu nhập cho người lao động12. Cải thiện điều kiện lao động, giải phóng người lao động, phát triển trí tuệ, đưa tri thức vào các lĩnh vực đời sống xã hội, thúc đẩy xã hội học tập, làm chủ, tiếp thu và sáng tạo tri thức mới, nhờ đó nâng cao chất lượng cuộc sống xã hội. Quá trình đẩy mạnh CNH, HĐH gắn với phát triển kinh tế tri thức còn là quá trình tạo ra điều kiện để xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ, trên cơ sở đó mà chủ động hội nhập kinh tế quốc tế có hiệu quả; tạo điều kiện vật chất kỹ thuật để củng cố và tăng cường quốc phòng, an ninh, tăng cường vai trò và chức năng của Nhà nước.

Với sự cần thiết và tác động nhiều mặt như trên, để tăng tốc, sớm rút ngắn khoảng cách tụt hậu so với các nước phát triển, trước đòi hỏi bức thiết của sản xuất và đời sống, chúng ta không có sự lựa chọn nào khác là phải đẩy mạnh CNH, HĐH gắn với phát triển kinh tế tri thức.

Thực tế mấy chục năm tiến hành CNH cho đến nay, nước ta đã có được những cơ sở vật chất ban đầu của một nền công nghiệp mới, trong đó có những yếu tố đã cận với hiện đại; công nghệ thông tin và lĩnh vực viễn thông phát triển với tốc độ nhanh, việc phát triển nền kinh tế mở đã bước đầu thâm nhập vào các doanh nghiệp và dân cư; đầu tư cho phát triển nguồn nhân lực đã được cả xã hội coi trọng. Đặc biệt, Đảng và Nhà nước ta rất quan tâm đến thúc đẩy quá trình phát triển có ý nghĩa trọng đại này. Đây chính là những khả năng thực tế rất quan trọng để nước ta có thể thực hiện thành công sự nghiệp CNH, HĐH gắn với phát triển kinh tế tri thức. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX (năm 2001) của Đảng đã đề ra đường lối gắn CNH, HĐH với phát triển kinh tế tri thức. Đường lối này đã được bổ sung và phát triển qua các kỳ Đại hội của Đảng13. Đến nay, “Phát triển kinh tế là nhiệm vụ trung tâm; thực hiện CNH, HĐH đất nước gắn với phát triển kinh tế tri thức”14.

NỘI DUNG ĐẨY MẠNH CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA GẮN VỚI PHÁT TRIỂN KINH TẾ TRI THỨC Ở VIỆT NAM

  1.  

Trong bối cảnh mới của tình hình thế giới và trong nước, chúng ta không tiến hành CNH theo kiểu cũ, không lặp lại sai lầm nóng vội, chủ quan. Nội dung CNH không chỉ đơn giản là tăng thêm tốc độ và tỷ trọng của sản xuất công nghiệp trong nền kinh tế, mà là quá trình chuyển dịch cơ cấu gắn với đổi mới căn bản về công nghệ, tạo nền tảng cho sự tăng trưởng nhanh, hiệu quả cao và lâu bền của toàn bộ nền kinh tế quốc dân.

Mục tiêu của CNH, HĐH là làm cho nước ta sớm trở thành một nước công nghiệp phát triển. Đại hội lần thứ XI của Đảng xác định: ra sức phấn đấu để đến năm 2020 Việt Nam cơ bản trở thành nước công nghiệp, với tỷ trọng ngành công nghiệp vượt trội hơn các ngành khác. Mức tăng trưởng tổng sản phẩm trong nước (GDP) bình quân 7-8%/năm với tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ chiếm khoảng 85% GDP. Giá trị sản phẩm công nghệ cao và sản phẩm ứng dụng công nghệ đạt khoảng 45% trong tổng GDP. Giá trị sản phẩm công nghiệp chế tạo chiếm khoảng 40% trong tổng giá trị sản xuất công nghiệp. Nông nghiệp có bước phát triển theo hướng hiện đại, hiệu quả, bền vững, nhiều sản phẩm có giá trị gia tăng cao. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế gắn với chuyển dịch cơ cấu lao động; tỷ lệ lao động nông nghiệp khoảng 30-35% lao động xã hội15. Nhiệm vụ đặt ra là “Từ nay đến giữa thế kỷ XXI, toàn đảng, toàn dân ra sức phấn đấu đưa nước ta trở thành một nước công nghiệp hiện đại, theo định hướng xã hội chủ nghĩa”16.

Để thực hiện mục tiêu và nhiệm vụ trên, nội dung chủ yếu của việc đẩy mạnh CNH, HĐH gắn với phát triển kinh tế tri thức ở nước ta phải là:

3.1. Lựa chọn việc trang bị công nghệ tiên tiến, hiện đại cho các ngành kinh tế quốc dân

Việc trang bị công nghệ cho các ngành kinh tế quốc dân là một nội dung cơ bản của CNH. Vận dụng thực hiện nội dung này vào đẩy mạnh CNH, HĐH gắn với phát triển kinh tế tri thức ở Việt Nam, không chỉ đơn thuần là nhằm tăng nhanh năng suất lao động và tăng sức cạnh tranh của từng sản phẩm, từng doanh nghiệp và của toàn bộ nền kinh tế trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế, mà quan trọng hơn là tạo lập cơ sở vật chất – kỹ thuật và tri thức tiên tiến, hiện đại bảo đảm xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội.

Trong bối cảnh mới của CNH, HĐH của Việt Nam, việc trang bị công nghệ cho các ngành kinh tế quốc dân cần được kết hợp các bước đi tuần tự với các bước phát triển nhảy vọt, kết hợp phát triển công nghệ nội sinh với phát triển công nghệ ngoại sinh bằng nhiều con đường. Một mặt, phải tạo ra điều kiện thuận lợi huy động mọi nguồn lực cho sự tăng trưởng nhanh theo chiều rộng trên tất cả các ngành, lĩnh vực; mặt khác, phải tăng tốc và phát triển rút ngắn bằng con đường lựa chọn mạnh dạn bỏ qua một số thế hệ công nghệ cũ, công nghệ trung gian, đi thẳng vào công nghệ cao, công nghệ mới nhằm tăng nhanh các ngành công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ có hàm lượng tri thức, giá trị gia tăng cao phù hợp với thực tế trong nước và xu hướng thị trường, tập trung phát triển các ngành, sản phẩm chủ lực có tính đột phá.

Theo hướng này, phải kết hợp xây dựng cơ cấu kỹ thuật, công nghệ nhiều tầng, nhiều quy mô, nhiều trình độ, tranh thủ công nghệ tiên tiến, cải tiến công nghệ truyền thống, coi trọng loại công nghệ có vốn đầu tư thấp, thu hồi vốn nhanh, tạo nhiều việc làm với mạnh dạn bỏ qua một số giai đoạn17.

Trong những năm trước mắt, phải cấu trúc lại hệ thống công nghệ sản xuất của toàn bộ nền kinh tế theo hướng gia tăng hàm lượng khoa học, công nghệ và tỷ trọng giá trị nội địa trong sản phẩm. Đồng thời, phải sử dụng tri thức mới để phát triển các ngành kinh tế mũi nhọn như công nghệ thông tin, khai khoáng, luyện kim, hóa chất, chế biến nông sản, năng lượng... và đẩy nhanh CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn thông qua việc đưa tri thức sản xuất, kinh doanh, tri thức khoa học và công nghệ đến với người nông dân; sử dụng công nghệ sinh học làm gia tăng giá trị các mặt hàng nông-lâm-thủy sản.

Trong bối cảnh toàn cầu hóa, nước ta có được sự lựa chọn rộng rãi để tăng nhanh hàm lượng khoa học và công nghệ trong sản phẩm. Phải coi trọng việc tham gia ngày càng càng sâu, rộng vào phân công lao động quốc tế, tham gia hiệu quả, toàn diện vào chuỗi giá trị toàn cầu ở những nấc thang có hàm lượng trí tuệ và giá trị gia tăng ngày càng cao hơn, hội nhập vững chắc hơn vào mạng lưới sản xuất quốc tế và không ngừng học hỏi (có bỏ qua những giai đoạn thấp), nâng dần trình độ từ bắt chước, thích nghi, tiến tới nghiên cứu sáng tạo cái mới trong các lĩnh vực, sản phẩm và công nghệ có lợi thế so sánh cao nhất.

Phải đẩy mạnh việc sử dụng những tri thức mới của nhân loại bằng nhiều hình thức khác nhau, như nhập khẩu trực tiếp công nghệ; nhập khẩu công nghệ gián tiếp qua thu hút đầu tư; mua bằng sáng chế hay mời chuyên gia nước ngoài vào làm việc. Bên cạnh nhập khẩu “công nghệ cứng”, cần chủ động học hỏi và nhập khẩu những “công nghệ mềm” như công nghệ quản lý, kinh nghiệm sử dụng nhân tài, đổi mới thể chế kinh tế... và đổi cách cải tiến để thích nghi với điểu kiện nước ta18.

Do sự phát triển như vũ bão của cuộc cách mạng khoa học và công nghệ, vòng đời sản phẩm có xu hướng rút ngắn, nên sự thay thế công nghệ và tri thức cũ bằng công nghệ và tri thức mới luôn diễn ra. Bởi vậy, việc tiếp cận với chúng là liên tục và không có điểm dừng. Đây là một nội dung rất quan trọng để thực hiện phương thức phát triển rút ngắn hiện đại, để thực hiện đẩy nhanh CNH, HĐH gắn với việc vận dụng tri thức mới vào tất cả các ngành kinh tế.

Đảng ta chủ trương: “Tranh thủ cơ hội thuận lợi do bối cảnh quốc tế tạo ra và tiềm năng, lợi thế của nước ta để rút ngắn quá trình CNH, HĐH đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa gắn với phát triển kinh tế tri thức, coi kinh tế tri thức là yếu tố quan trọng của nền kinh tế và CNH, HĐH. Phát triển mạnh các ngành và sản phẩm có giá trị gia tăng cao dựa nhiều vào tri thức. Kết hợp việc sử dụng nguồn vốn tri thức của con người Việt Nam với tri thức mới nhất của nhân loại”19.

Phải nâng cao hàm lượng tri thức trong các nhân tố phát triển kinh tế - xã hội. Phải chuyển đổi mô hình tăng trưởng từ chủ yếu phát triển theo chiều rộng sang phát triển hợp lý giữa chiều rộng và chiều sâu, vừa mở rộng quy mô vừa chú trọng nâng cao chất lượng, hiệu quả, tính bền vững20.

3.2. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tăng nhanh các ngành công nghiệp, dịch vụ có hàm lượng tri thức và giá trị gia tăng cao

3.2.1. Cơ cấu kinh tế và chuyển dịch cơ cấu kinh tế

- Cơ cấu kinh tế là tổng thể các yếu tố cấu thành kinh tế của một cơ sở, một ngành, một vùng hay nền kinh tế, các bộ phận này quan hệ chặt chẽ với nhau có tính hệ thống, tác động lẫn nhau để có thể phát triển và được thể hiện bằng tỷ trọng của mỗi bộ phận trong tổng thể.

Cơ cấu kinh tế của một nước được xác định theo nhiều tiêu thức, trong đó có 3 tiêu thức chủ yếu để xem xét đó là cơ cấu ngành, cơ cấu vùng hay cơ cấu thành phần kinh tế. Tỷ trọng của các ngành trong cơ cấu ngành kinh tế là thước đo tập trung nhất trình độ phát triển kinh tế của một quốc gia trong một giai đoạn lịch sử nhất định, dùng để đánh giá thành tựu của các nỗ lực kinh tế của quốc gia đó và so sánh mức độ hiện đại hóa với các quốc gia khác trong cùng một thời gian.

- Chuyển dịch cơ cấu kinh tế là quá trình thay đổi cấu trúc của các yếu tố cấu thành cơ cấu đó theo một chủ đích và phương hướng nhất định. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế là yêu cầu khách quan, trước hết nó phụ thuộc vào trình độ phát triển của khoa học và công nghệ mà nền kinh tế đó đã đạt được trong mỗi thời kỳ lịch sử. Tuy nhiên, nước đi sau có thể sử dụng lợi thế của nước phát triển muộn để chủ động trong việc lựa chọn hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế phù hợp với khả năng, dựa vào đó mà lựa chọn việc phát triển khoa học và công nghệ trong tiến trình CNH, HĐH để thực hiện được các bước phát triển rút ngắn.

Do nguồn lực sản xuất có giới hạn mà nhu cầu sản phẩm ngày càng nhiều và tăng nhanh, nên việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế của một doanh nghiệp cũng như của một nền kinh tế không phải là bất kỳ hay theo ý muốn chủ quan duy ý chí, mà phải là một sự lựa chọn chiến lược dựa trên cơ sở khoa học. Một nền kinh tế có hiệu quả là nền kinh tế sử dụng tối ưu các nguồn lực hiện có. Trong điều kiện toàn cầu hóa kinh tế, tính hiệu quả của một nền kinh tế phụ thuộc rất lớn vào sự lựa chọn việc phát huy các nguồn lực trong nước và vào năng lực thu hút, tranh thủ các nguồn lực từ bên ngoài (từ nước ngoài và từ các tổ chức kinh tế quốc tế). Hội nhập cơ cấu kinh tế của một nước vào cơ cấu kinh tế của các nước trong khu vực và toàn cầu dựa trên cơ sở lợi thế so sánh là một xu hướng song hành với toàn cầu hóa kinh tế. Xu hướng này làm cho các nguồn lực chung được sử dụng có hiệu quả hơn. Nó không chỉ mang lại lợi ích cho các quốc gia có quan hệ mà còn mang lại lợi ích cho sự phát triển chung của khu vực và của toàn câu.

3.2.2. Nội dung chuyển dịch cơ cấu kinh tế

3.2.2.1. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành

Đây là nội dung cốt lõi của chuyển dịch cơ cấu của nền kinh tế quốc dân. Phải xác định định hướng của việc chuyển dịch, trong đó xác định rõ đặc trưng phát triển và vị trí của mỗi ngành trong tổng thể kinh tế, trên cơ sở đó xác định các chính sách phát triển. Chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế phải dựa trên sự đánh giá chính xác những lợi thế của đất nước, phải xuất phát từ nhu cầu của thị trường trên cơ sở khai thác có hiệu quả khả năng (chứ không phải xuất phát từ khả năng), phải có dự báo triển vọng cạnh tranh của sản phẩm, của ngành kinh tế trên thị trường trong nước và quốc tế. Chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế phải bảo đảm khả năng thích nghi nhanh với sự biến đổi của môi trường trong nước và quốc tế, trước hết và chủ yếu là tiến bộ khoa học và công nghệ, chi phí cho điều chỉnh cơ cấu kinh tế thấp.

Do yêu cầu đẩy mạnh CNH, HĐH gắn với phát triển kinh tế tri thức, nên việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong bối cảnh mới không thể chờ hoàn thành CNH, xây dựng các ngành kinh tế công nghiệp rồi mới chuyển sang các ngành kinh tế tri thức. Hai nội dung chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế theo hướng CNH, HĐH và phát triển kinh tế tri thức có quan hệ ràng buộc, hỗ trợ và thúc đẩy nhau.

Theo hướng này, hiện nay và trong nhiều năm tới, việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở nước ta phải dựa vào tiềm năng tài nguyên trí tuệ Việt Nam, đầu tư mạnh vào việc nuôi dưỡng và phát triển nguồn tài nguyên trí tuệ nhằm đẩy nhanh quá trình chuyển dịch từ cơ cấu ngành kinh tế truyền thống lên kinh tế công nghiệp và kinh tế tri thức. Phải nắm bắt kịp thời cơ hội, phát huy năng lực trí tuệ nội sinh, đổi mới cách nghĩ, cách làm, mở rộng một cách có hiệu quả việc áp dụng công nghệ mới hiện đại vào phát triển các ngành truyền thống, đẩy mạnh phát triển các ngành kỹ thuật cao, đẩy mạnh việc sáng tạo các thành tựu khoa học và công nghệ mới.

Từ nay đến năm 2020, phải xây dựng cho được cơ cấu kinh tế công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ hiện đại, hiệu quả21. Cụ thể là:

- Ngành công nghiệp, tập trung nâng cao chất lượng và sức cạnh tranh của các sản phẩm; phát triển các sản phẩm công nghiệp có lợi thế cạnh tranh, có khả năng tham gia mạng sản xuất và chuỗi giá trị toàn cầu, ưu tiên phát triển những sản phẩm có chất lượng, giá trị gia tăng cao, áp dụng công nghệ mới, công nghệ sạch, sử dụng tiết kiệm năng lượng và bảo vệ môi trường. Đẩy mạnh việc chuyển dịch cơ cấu nội bộ ngành công nghiệp theo hướng tăng nhanh công nghiệp chế biến, chế tạo, công nghiệp có hàm lượng công nghệ cao, góp phần hình thành cơ cấu kinh tế hiện đại. Các ngành công nghiệp nền tảng được ưu tiên để đáp ứng nhu cầu về tư liệu sản xuất cơ bản của nền kinh tế.

Tập trung phát triển công nghiệp hỗ trợ, hình thành cơ chế liên kết, hợp tác, phân công sản xuất trong việc tham gia chế tạo từng công đoạn sản phẩm. Phân bố không gian công nghiệp phù hợp nhằm phát huy lợi thế so sánh của các vùng, miền và tạo điều kiện để liên kết ngành mang lại hiệu quả cao.

Phát triển mạnh công nghiệp chế biến, cơ khí, công nghiệp công nghệ thông tin, công nghiệp sinh học và công nghiệp môi trường.

Tập trung lấp đầy các khu công nghiệp gắn với việc đầu tư bổ sung các công trình, dịch vụ hạ tầng xã hội (nhà ở, trường học, y tế, chợ,...) và thực hiện tốt bảo vệ môi trường.

- Ngành nông nghiệp, cần hướng vào phát triển nền nông nghiệp nhiệt đới có năng lực cạnh tranh cao và thương hiệu tốt. Phát triển nông nghiệp toàn diện, nâng cao chất lượng sản phẩm, bảo đảm an toàn thực phẩm; phát huy lợi thế so sánh về điều kiện tự nhiên và sinh thái của mỗi vùng, mỗi địa phương. Tập trung đầu tư khâu nghiên cứu và phát triển giống cây trồng, vật nuôi, nghiên cứu ứng dụng công nghệ sinh học. Thúc đẩy tích tụ ruộng đất, hình thành các vùng sản xuất hàng hóa tập trung, các “cánh đồng mẫu lớn”; các trang trại nuôi trồng thủy, hải sản, chăn nuôi gia súc, gia cầm lớn; phát triển sản xuất gắn với bố trí, chuyển đổi hiệu quả cơ cấu lao động trong nông nghiệp.

Trong những năm trước mắt, đẩy nhanh CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn bằng cách đổi mới đào tạo nhân lực, đưa tri thức sản xuất, kinh doanh, tri thức khoa học công nghệ đến với người nông dân; sử dụng công nghệ sinh học làm gia tăng giá trị các mặt hàng nông-lâm-thủy sản. Gắn bó chặt chẽ quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp với quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn theo hướng hợp lý, hiệu quả, bảo đảm cơ sở cho thực hiện chương trình xây dựng nông thôn mới.

- Ngành dịch vụ cần được đẩy mạnh phát triển, nhất là các dịch vụ có giá trị, hàm lượng tri thức cao, tiềm năng lớn, có lợi thế và có sức cạnh tranh, như du lịch, hàng hải, hàng không, viễn thông, công nghệ thông tin, y tế; hình thành một số trung tâm dịch vụ, du lịch có tầm cỡ khu vực và quốc tế. 

HĐH và mở rộng các dịch vụ có giá trị gia tăng cao, như tài chính, ngân hàng, bảo hiểm, logistics, dịch vụ phát triển phần mềm công nghệ thông tin và các dịch vụ hỗ trợ kinh doanh khác. Đẩy mạnh tham gia mạng phân phối toàn cầu, phát triển nhanh hệ thống phân phối các sản phẩm có lợi thế cạnh tranh ở cả trong và ngoài nước; xây dựng thương hiệu hàng hóa và dịch vụ Việt Nam.

3.2.2.2. Phát triển kinh tế các vùng lãnh thổ

Vùng kinh tế được xác định là một bộ phận lớn của lãnh thổ quốc gia có các hoạt động kinh tế xã hội tiêu biểu, thực hiện sự phân công lao động xã hội trên phạm vi cả nước. Đây là loại vùng có qui mô diện tích, dân số ở cấp lớn nhất, phục vụ việc hoạch định các chiến lược, các kế hoạch phát triển theo lãnh thổ cũng như để quản lý các quá trình phát triển kinh tế - xã hội trên mỗi vùng của đất nước. Hiện nay, cơ cấu kinh tế vùng ở nước ta được xác định bao gồm 6 vùng kinh tế lớn và 3 vùng kinh tế trọng điểm. Ngoài ra, việc xác định cơ cấu kinh tế vùng ở nước ta còn dựa trên vị trí lãnh thổ theo chiều dọc đất nước và theo đời sống kinh tế còn nhiều khó khăn. Tuy mỗi vùng kinh tế có đặc điểm riêng, nhưng chúng đều là những bộ phận cấu thành nền kinh tế quốc dân thống nhất.

Việc phát triển kinh tế vùng lãnh thổ phải trên cơ sở bảo đảm phát huy có hiệu quả lợi thế và các nguồn lực hiện có của mỗi vùng, thúc đẩy tăng trưởng sản lượng và tạo ra sự chuyển dịch mạnh mẽ cơ cấu kinh tế ngành và cơ cấu nền kinh tế quốc dân theo hướng CNH, HĐH gắn với phát triển kinh tế tri thức.

Tạo cơ chế chính sách phù hợp để các vùng đều phát triển; thực hiện liên kết giữa các vùng và nội vùng. Đồng thời, thúc đẩy phát triển các vùng trọng điểm, tạo động lực, tác động lan tỏa đến các vùng khác. Tạo điều kiện phát triển nhanh hơn các vùng kinh tế đang còn nhiều khó khăn, đặc biệt là các vùng biên giới, hải đảo, Tây Nguyên, Tây Nam và Tây Bắc.

Coi trọng phát triển kinh tế biển để sớm đưa nước ta trở thành quốc gia mạnh về kinh tế biển trong khu vực gắn với bảo đảm quốc phòng - an ninh và hợp tác quốc tế.

Trong quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế quốc dân, cần kết hợp chặt chẽ và đồng bộ giữa chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành với chuyển dịch cơ cấu vùng, cơ cấu công nghệ, chuyển dịch cơ cấu lao động và cơ cấu thành phần kinh tế theo hướng phát huy cao độ, có hiệu quả các nguồn lực cho sự phát triển kinh tế nhanh và bền vững.

NHỮNG ĐIỀU KIỆN TIỀN ĐỀ CẦN THIẾT ĐỂ ĐẨY MẠNH CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA GẮN VỚI PHÁT TRIỂN KINH TẾ TRI THỨC Ở VIỆT NAM

  1. Bảo đảm sự ổn định chính trị, kinh tế và xã hội

    1.  

Đẩy mạnh CNH, HĐH gắn với phát triển kinh tế tri thức là một quá trình phát triển không phải một sớm một chiều, mà phải trải qua thời gian khá nhiều năm. Việc bảo đảm ổn định về chính trị, kinh tế, xã hội cho quá trình này là rất cần thiết và đây chính là điều kiện tiên quyết để phát triển.

Bảo đảm ổn định về chính trị, kinh tế, xã hội, xét về thực chất, đó là bảo đảm sự ổn định về môi trường đầu tư. Thực tế cho thấy, một nền kinh tế không thể phát triển được nếu môi trường đầu tư ở tình trạng bất ổn.

- Ổn định về chính trị được thể hiện ở tính nhất quán, tính đồng bộ và ổn định lâu dài của đường lối, phải có tầm nhìn dài hạn, phải xây dựng cơ sở khoa học cho việc hoạch định và triển khai đường lối, chính sách CNH, HĐH đạt hiệu quả cao với tốc độ nhanh, tức là phải có chiến lược đẩy mạnh CNH, HĐH gắn với phát triển kinh tế tri thức. Phải ổn định luật pháp, chính sách, nhất là luật pháp, chính sách kinh tế (luật kinh tế, chính sách phát triển công nghiệp, nông nghiệp và phát triển các ngành dịch vụ, chính sách tài chính, chính sách tiền tệ, phát triển ngoại thương, an toàn thực phẩm, môi trường, chính sách đất đai, tài chính công, ngân hàng, ngoại hối .v.v…).

- Ổn định về kinh tế, trước hết là sự ổn định thị trường, ổn định giá cả, phải kiểm soát được lạm phát, môi trường cạnh tranh phải lành mạnh.

- Ổn định về xã hội thể hiện ở trật tự an toàn xã hội phải được giữ vững.

Chỉ có sự ổn định về chính trị, kinh tế và xã hội, thì người dân trong nước mới yên tâm đầu tư sản xuất kinh doanh và mới thu hút được đầu tư nước ngoài cho phát triển. Đảng ta yêu cầu: “Phải đặc biệt coi trọng giữ vững ổn định chính trị - xã hội, tăng cường quốc phòng, an ninh, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ để bảo đảm cho đất nước phát triển nhanh và bền vững”22.

  1. Ưu tiên phát triển nguồn nhân lực

    1.  

Nguồn nhân lực có vai trò quyết định tốc độ và chất lượng của sự phát triển kinh tế - xã hội. Để đẩy mạnh CNH, HĐH gắn với phát triển kinh tế tri thức, cần phải có trình độ dân trí cao, người lao động có khả năng sáng tạo cao, ham muốn học hỏi một cách tự giác, có khả năng thích ứng và tính linh hoạt cao. Muốn vậy, phải chăm lo phát triển nguồn nhân lực, nâng cao dân trí, đào tạo nhân tài, phải ưu tiên phát triển giáo dục và đào tạo, thực sự coi đó là quốc sách hàng đầu23.

- Phải tiến hành cải cách toàn diện giáo dục và đào tạo, coi đó là nhiệm vụ cấp bách. Phải chuyển trọng tâm của việc giáo dục từ trang bị tri thức sang bồi dưỡng, rèn luyện phương pháp tư duy, phương pháp giải quyết vấn đề, năng lực sáng tạo, khả năng tự đào tạo, thích nghi sự phát triển. Theo hướng này, cần bổ sung và hoàn thiện chiến lược phát triển giáo dục và đào tạo để phát triển kinh tế tri thức phục vụ thiết thực cho nhiệm vụ CNH, HĐH.

- Xây dựng xã hội học tập dưới nhiều hình thức và biện pháp như trung tâm học tập cộng đồng, trung tâm giáo dục thường xuyên, giáo dục từ xa, đào tạo mở v.v…, tạo cơ hội và khuyến khích mọi người dân tham gia học tập, nâng cao tính chủ động cho người học trên cơ sở gắn kết với những yêu cầu đẩy mạnh CNH, HĐH gắn với phát triển kinh tế tri thức.

- Nâng cao chất lượng toàn diện cho người lao động. Phải tạo ra được đội ngũ nhân lực có lòng tự trọng, tự tôn dân tộc,có tinh thần trách nhiệm và ý thức cộng đồng khi thực hiện các công việc được giao; phải có trình độ chuyên môn vững vàng, có phương pháp và kỹ năng thực hành bảo đảm năng suất, chất lượng và hiệu quả công việc được giao; có sự năng động và sáng tạo trong công việc, có ý thức tự giác học hỏi, dám đương đầu với những thách thức; và có sức khỏe tốt.

- Bảo đảm đổi mới quản lý giáo dục và đào tạo, nhất là đổi mới quản lý chất lượng giáo dục và đào tạo phải được coi là khâu đột phá.

  1. Phát triển khoa học và công nghệ

    1.  

Khoa học công nghệ phải là động lực, quyết định lợi thế cạnh tranh và tốc độ phát triển của toàn bộ quá trình đẩy mạnh CNH, HĐH gắn với phát triển kinh tế tri thức. Thực chất của CNH, HĐH là phát triển khoa học và công nghệ. Đảng ta xác định khoa học và công nghệ cùng với giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu, là nền tảng và động lực của CNH, HĐH đất nước24.

Để đẩy mạnh CNH, HĐH gắn với phát triển kinh tế tri thức, cần tập trung giải quyết các vấn đề sau:

- Xây dựng cơ sở khoa học cho việc hoạch định và triển khai đường lối, chủ trương CNH, HĐH gắn với phát triển kinh tế tri thức đạt hiệu quả cao với tốc độ nhanh.

- Đẩy mạnh việc nghiên cứu khoa học để đánh giá chính xác nguồn tài nguyên quốc gia, nắm bắt tri thức mới và các công nghệ cao cùng với những thành tựu mới nhất về khoa học của thế giới; hướng mạnh vào việc nâng cao năng suất lao động, đổi mới sản phẩm, nâng cao năng lực cạnh tranh của sản phẩm, của doanh nghiệp và của nền kinh tế trên thị trường.

- Xây dựng tiềm lực nhằm phát triển một nền khoa học và công nghệ tiên tiến. Đẩy nhanh tiến trình xây dựng 2 trung tâm quốc gia về công nghệ cao ở Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh, lấy đây là đầu tàu, là mô hình tiêu biểu cho phát triển công nghệ của cả nước và là nơi thu hút, nuôi dưỡng công nghệ và tri thức mới của nhân loại.

- Tạo môi trường thuận lợi để các tập đoàn xuyên quốc gia không chỉ đầu tư xây dựng cơ sở sản xuất mà còn xây dựng cả cơ sở đào tạo tại chỗ nguồn nhân lực chất lượng cao, thành thạo kỹ năng nghề nghiệp. Khuyến khích du học sinh ra nước ngoài học tập và có chính sách đãi ngộ thích đáng để thu hút số du học sinh này về nước làm việc hay lập nghiệp.

- Phát triển nhanh thị trường khoa học và công nghệ để bảo đảm mọi tri thức, công nghệ đều được trao đổi, mua bán, chuyển giao thuận lợi trên thị trường, được nuôi dưỡng bằng tinh thần cạnh tranh bình đẳng.

- Sử dụng các công cụ tín dụng và thuế nhằm khuyến khích các doanh nghiệp bỏ qua các thế hệ công nghệ trung gian, đi thẳng vào các công nghệ tiên tiến, công nghệ chất lượng cao.

- Bổ sung và hoàn thiện chiến lược phát triển khoa học và công nghệ với những bước đi thích hợp. Trên nền tảng đó, tạo ra năng lực nghiên cứu nội sinh giúp các nhà khoa học và cơ sở sản xuất trong nước tiến tới vận dụng và làm chủ những công nghệ và tri thức mới của nhân loại.

  1. Tạo lập nguồn vốn đầu tư cho đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với phát triển kinh tế tri thức

    1.  

Vốn là là các giá trị của cải do con người tạo ra và tích lũy lại. Nó có thể tồn tại dưới dạng vật thể hoặc vốn tài chính. Vốn là điều kiện quan trọng nhất để bảo đảm việc đẩy mạnh CNH, HĐH gắn với phát triển kinh tế tri thức trở thành hiện thực.

Vốn được tạo lập từ hai nguồn là tích lũy trong nội bộ nền kinh tế (trong nước) và thu hút từ bên ngoài (nước ngoài và các tổ chức kinh tế quốc tế). Về cơ bản, lâu dài, vốn trong nước là chủ yếu và quyết định, vốn từ bên ngoài là rất quan trong nhất là trong thời kỳ đầu CNH, HĐH.

Việc tích luỹ vốn từ nội bộ nền kinh tế được thực hiện trên cơ sở nâng cao hiệu quả sản xuất, nguồn của nó là lao động thặng dư của người lao động thuộc mọi thành phần kinh tế. Tăng năng suất lao động xã hội là con đường cơ bản để giải quyết vấn đề tích luỹ vốn trong nước. Đồng thời, giải quyết tốt mối quan hệ giữa tích lũy và tiêu dùng trong nhân dân trên quan điểm tiết kiệm là quốc sách. Sử dụng có hiệu quả vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước và trái phiếu chính phủ. Chống lãng phí, thất thoát vốn.

Để thu hút các nguồn vốn từ bên ngoài, phải tiếp tục hoàn thiện cơ chế mở cửa nền kinh tế, phải sử dụng nhiều hình thức như thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài, vay vốn, hợp tác liên doanh, thành lập các đặc khu kinh tế, các khu kinh tế mở… đi đôi với kiện toàn hệ thống pháp luật về kinh tế đối ngoại, thực hiện hợp lý các chính sách ưu đãi, tạo môi trường và điều kiện thuận lợi để người và tổ chức nước ngoài vào ta hợp tác đầu tư.

Tạo cơ chế, chính sách để phát triển thị trường vốn trong nước và hội nhập với thị trường vốn quốc tế trong xu thế toàn cầu hóa kinh tế.

  1. Mở rộng và nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế

    1.  

Cuộc cách mạng khoa học và công nghệ cùng với xu hướng toàn cầu hoá kinh tế đã và đang tạo ra mối liên hệ phụ thuộc lẫn nhau giữa các nền kinh tế của các nước. Mở rộng và nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế là một một đòi hỏi thiết yếu. Điều này sẽ tạo ra khả năng và điều kiện để nước ta có thể tranh thủ vốn, kỹ thuật, công nghệ từ bên ngoài để đẩy mạnh CNH, HĐH gắn với phát trển kinh tế tri thức.

Tuy nhiên, để việc trên trở thành hiện thực, cần phải tiếp tục hoàn thiện cơ chế, chính sách, nhất là cơ chế, chính sách hợp tác về khoa học và công nghệ, hợp tác đầu tư, hợp tác giáo dục và đào tạo để phát triển nhân lực và phải bảo đảm các hình thức hợp tác vừa có hiệu quả kinh tế cao, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, vừa giữ vững độc lập và chủ quyền quốc gia dân tộc.

4.6. Bảo đảm gắn kết chặt chẽ giữa tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý của Nhà nước với phát huy đầy đủ quyền làm chủ của nhân dân

CNH, HĐH là sự nghiệp của toàn đảng, toàn dân. Vì thế, sự đồng thuận xã hội là một tiền đề điều kiện có ý nghĩa quyết định. Để tạo lập tiền đề này, cần phải phát huy đầy đủ quyền làm chủ của nhân dân, đồng thời phải tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng và nâng cao hiệu lực quản lý của Nhà nước.

Các chính sách của Nhà nước phải bảo đảm định hướng có hiệu quả toàn bộ sự nghiệp CNH, HĐH gắn với phát triển kinh tế tri thức, kích thích được động lực của người dân và các doanh nghiệp. Phải đặt toàn bộ sự nghiệp CNH, HĐH gắn với phát triển kinh tri thức của đất nước dưới sự lãnh đạo của Đảng. Để hoàn thành tốt vai trò này, Đảng phải đi tiên phong trong công cuộc đổi mới, Nhà nước phải nâng cao năng lực hoạch định và thực thi chính sách, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý đối với toàn bộ tiến trình CNH, HĐH đất nước.

Hoàn thiện cơ chế phân cấp để vừa phát huy tính chủ động, sáng tạo của cấp dưới, vừa bảo đảm sự quản lý thống nhất của cấp trên, đồng thời tăng cường kiểm tra, thanh tra, giám sát và xử lý nghiêm các hành vi vi phạm. Ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý Nhà nước.

Tài liệu học tập:

Tài liệu bắt buộc đọc:

  •  

Đảng Cộng sản Việt Nam (1994), Văn kiện Hội nghị lần thứ bảy Ban chấp hành Trung ương khóa VII, Hà Nội, tr 27, 65.

Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội 1996, tr 18-19, 80.

Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội 2001, tr 72-79, 92-95, 112, 162-163.

Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2006, tr. 76-78, 112-114.

Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tr. 72 - 79, 91, 99, 104-106, 191.

  1.  
  2.  
  3.  
  4.  
  5.  

Tài liệu tham khảo:

  •  

C.Mác và Ph, Ăngghen, Toàn tập, Tập 23, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1993, tr 269, 568, 630-635.

V.I.Lênin, Toàn tập, Tập 32, NXB Tiến bộ, M. 1978, tr 528-529, 531-532.

V.I.Lênin, Toàn tập, Tập 36, NXB Tiến bộ, M. 1977, tr 209-228, 278-281, 367-372.

V.I.Lênin, Toàn tập, Tập 41, NXB Tiến bộ, M. 1978, tr 207-202, 256-296, 364-366, 426-436.

V.I.Lênin, Toàn tập, Tập 42, NXB Tiến bộ, M. 1978, tr 191-198, 241-243, 376-394.

  1.  
  2.  
  3.  
  4.  
  5.  

Các câu hỏi:

- Câu hỏi thảo luận:

Từ lý luận và thực tiễn, anh (chị) hãy làm rõ đặc điểm CNH, HĐH gắn với phát triển kinh tế tri thức ở Việt Nam?

Anh (chị) hãy đánh giá thực trạng đẩy mạnh CNH, HĐH gắn với phát triển kinh tế tri thức ở Việt Nam thời gian qua và đề xuất giải pháp thúc đẩy phát triển?

  1.  
  2.  

- Câu hỏi ôn tập:

Phân biệt CNH với HĐH và với kinh tế tri thức?

Vì sao nói để sớm trở thành một nền kinh tế hiện đại, nước ta phải đẩy mạnh CNH, HĐH gắn với phát triển kinh tế tri thức?

Nội dung chủ yếu của đẩy mạnh CNH, HĐH gắn với phát triển kinh tế tri thức ở Việt Nam?

Phân tích những điều kiện, tiền đề cần thiết để đẩy mạnh CNH, HĐH gắn với phát triển kinh tế tri thức ở nước ta hiện nay?

  1.  
  2.  
  3.  
  4.  

Ký duyệt của Viện Kinh tế

Viện trưởng

PGS, TS Võ Văn Đức

1 "Thế giới thứ ba" được sử dụng lần đầu tiên năm 1952 bởi nhà nhân khẩu học Pháp Alfred Sauvy đặt ra khi liên tưởng đến Đẳng cấp thứ ba trong Cách mạng Pháp. Về sau, nó trở thành từ ngữ chỉ các nước không thuộc thế giới phương Tây, cũng không thuộc hệ thống xã hội chủ nghĩa trong Chiến tranh lạnh. Những nước này tham gia Phong trào không liên kết thành lập năm 1955 sau Hội nghị Bandung (Indonesia). Ngày nay, từ ngữ này để chỉ các nước đang phát triển, bất kể hình thức chính trị ra sao.

2 Viện Ngôn ngữ học (1995), Từ điển tiếng Việt, Hoàng Phê (chủ biên), NXB Đà Nẵng, tr 422.

3 Đảng Cộng sản Việt Nam (1994), Văn kiện Hội nghị lần thứ bảy Ban chấp hành Trung ương khóa VII, Hà Nội, tr 65.

4 Xem: Ngân hàng Thế giới: Báo cáo về tình hình phát triển thế giới: Tri thức cho phát triển, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1998; OECD, The Knowledge-based Economy, A Set of Facts and Figures, Paris 1999; Nền kinh tế tri thức – nhận thức và hành động, NXB Thống kê, Hà Nội, 2000; Báo Nhân Dân ngày 11/7/2001: Kinh tế tri thức; GS.TS. Nguyễn Kế Tuấn (chủ biên): Phát triển kinh tế tri thức đẩy nhanh quá trình CNH, HĐH ở Việt Nam, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2004; Tạp chí Cộng sản, ngày 7/5/2012: Công nghiệp hóa – hiện đại hóa gắn với phát triển kinh tế tri thức và bảo vệ môi trường trong thời kỳ quá độ, http://123.30.190.43:8080/tiengviet/tulieuvankien/tulieuvedang/

5 Ví dụ: Cách đây 40 năm, Gana và Hàn Quốc có cùng mức thu nhập quốc dân theo đầu người. Nhưng vào đầu những năm 1990, thu nhập bình quân theo đầu người của Hàn Quốc cao hơn thu nhập theo đầu người của Gana 6 lần. Một số người cho rằng một nửa của sự khác nhau đó là do Hàn Quốc có sự thành công lớn hơn trong việc thu nhập và sử dụng tri thức (Nguồn: WB, Báo cáo về tình hình phát triển thế giới: Tri thức cho phát triển, NXB CTQG, Hà Nội, 1998, tr. 37).

6 Theo thông tin thì trong vòng ba chục năm gần đây, tốc độ tăng trưởng trung bình hàng năm của thương mại quốc tế cao gấp khoảng 1,5-1,6 lần so với tốc độ tăng trưởng GDP toàn cầu. Nếu tốc độ tăng trưởng mậu dịch hàng năm của thế giới từ năm 1980 lại đây khoảng 5,5-5,6% thì tốc độ chu chuyển vốn quốc tế đạt 20%. Chỉ riêng từ năm 1979 đến năm 2006, kim ngạch mậu dịch hai chiếu Mỹ - Trung Quốc tăng 144 lần.

8 Ngọc Tuyên, Tăng trưởng kinh tế của Việt Nam còn nhiều trở ngại, http://laodong.com.vn/Kinh-doanh/ .. /32621, Thứ năm 24/02/2011.

9 V.I.Lênin: Toàn tập, Tập 32, NXB Sự thật, Hà Nội, 1970, tr. 528-529.

10 Xem: V.I.Lênin, Toàn tập, Tập 41, NXB Tiến Bộ, Matxcơva, 1978, tr. 218.

11 Đảng cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2006, tr. 112-114.

12 Xem: C.Mác và Ph, Ăngghen, Toàn tập, Tập 23, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1993, tr 568, 630-635.

13 Xem: Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, NXB CTQG, Hà Nội, tr 91

14 Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, NXB CTQG, Hà Nội, 2011, tr 72-75.

15 Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, NXB CTQG, Hà Nội, tr 104-105

16 Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, NXB CTQG, Hà Nội, tr 106, 70.

17 Ví dụ, thời kỳ đầu có thể bỏ qua giai đoạn nghiên cứu khoa học cơ bản để tập trung vào nghiên cứu ứng dụng, nhập công nghệ thích hợp để triển khai tạo đột phá và nâng cao sức cạnh tranh trong một số sản phẩm của doanh nghiệp và của đất nước.

18 Trong xu thế toàn cầu hóa kinh tế, các công ty xuyên quốc gia (TNCs) là lực lượng đóng vai trò then chốt trong việc kiến tạo, duy trì và thúc đẩy hoạt động của mạng (kết nối thị trường, bảo đảm tài chính, công nghệ). Thông qua việc việc thiết lập hệ thống sản xuất kinh doanh theo chuỗi giá trị, TNCs đóng vai trò là lực lượng kiến tạo mạng, tác động mạnh đến sự vận động của các nguồn lực trên phạm vi toàn cầu. Do vậy, để tạo bước nhảy vọt mạnh trong quá trình trang bị công nghệ cho các ngành kinh tế, chúng ta phải tranh thủ được sự lan tỏa của xu hướng phát triển này.

19 Đảng Cộng sản Việt Nam (2006), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, NXB CTQG, Hà Nội, tr 87-88.

20 Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, NXB CTQG, Hà Nội, tr 191.

21 Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, NXB CTQG, Hà Nội, tr. 91.

22 Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, NXB CTQG, Hà Nội, tr 99.

23 §¶ng céng s¶n ViÖt Nam (2001): V¨n kiÖn §¹i héi ®¹i biÓu toµn quèc lÇn thø IX, Nxb CTQG, Hµ Néi, tr 108.

24§¶ng céng s¶n ViÖt Nam (2001): V¨n kiÖn §¹i héi ®¹i biÓu toµn quèc lÇn thø IX, Nxb CTQG, Hµ Néi, tr 112.

 

37