DMCA.com Protection Status

CÔNG TÁC TUYÊN TRUYỀN CỦA HNDVN  quan tâm

Được đăng bởi: Trần Việt Thao

Cập nhật lúc 09:42 ngày 17/01/2018

CÔNG TÁC TUYÊN TRUYỀN CỦA HNDVN

( nguồn: http://hoinongdanyenbai.org.vn/files/Tai_lieu_nghiep-vu/cong_tac_tuyen_truyen.doc )

 

I. NHỮNG NỘI DUNG CƠ BẢN TRONG CÔNG TÁC TUYÊN TRUYỀN HỘI VIÊN NÔNG DÂN

1. Khái niệm, vị trí, vai trò của công tác tuyên truyền:

a) Khái niệm.

Tuyên truyền là truyền bá giáo dục giải thích nhằm chuyển biến và nâng cao về nhận thức; bồi dưỡng tư tưởng, tình cảm, xây dựng thành niềm tin; thúc đẩy mọi người hành động một cách tự giác, nhằm thực hiện thắng lợi những mục tiêu, nhiệm vụ đề ra.

b) Vị trí.

Hội Nông dân Việt Nam hoạt động trên ba mặt công tác cơ bản sau:

- Công tác tuyên truyền.

- Công tác xây dựng tổ chức

- Tổ chức các phong trào hành động cách mạng của nông dân.

Công tác tuyên truyền có vị trí rất quan trọng, nó luôn được xác định là vị trí hàng đầu trong ba mặt công tác đó.

c) Vai trò.

Công tác tuyên truyền của Hội Nông dân Việt Nam có vai trò rất to lớn, nhằm xây dựng, bồi dưỡng tư tưởng, tình cảm, tri thức, đạo đức cách mạng, văn hóa dân tộc cho cán bộ hội viên, nông dân, góp phần đắc lực vào việc thực hiện thắng lợi sự nghiệp Công nghiệp hóa - Hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn.

2. Nội dung tuyên truyền cho hội viên nông dân ở cơ sở.

a) Tuyên truyền về chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước.

b) Tuyên truyền, cổ vũ hội viên, nông dân thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội địa phương.

c) Tuyên truyền, giáo dục nâng cao trình độ dân trí, khoa học kỹ thuật, công nghệ  kiến thức quản lý kinh tế cho hội viên, nông dân.

d) Tuyên truyền, giáo dục hội viên, nông dân phát huy truyền thống cách mạng của dân tộc, của Đảng, của giai cấp nông dân và Hội Nông dân Việt Nam

đ) Tuyên truyền cho hội viên, nông dân hiểu rõ âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch.

3. Hình thức, phương pháp tuyên truyền.

a) Hình thức:

- Tuyên truyền miệng.

Là hình thức tuyên truyền trực tiếp bằng lời nói để thuyết phục người nghe nhằm nâng cao nhận thức, củng cố niềm tin và tổ chức họ hành động theo đúng chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, các chủ trương công tác Hội. Hình thức này thường được sử dụng trong các bài giảng, báo cáo, bài thuyết trình, trong các buổi nói chuyện thời sự, qua các buổi trao đổi, đối thoại, tọa đàm, tranh luận, hỏi đáp.

Khi sử dụng hình thức này, cán bộ Hội, báo cáo viên, tuyên truyền viên sẽ trực tiếp nói với hội viên, nông dân trong các lớp học, hội nghị; trực tiếp tiếp xúc, trao đổi, thảo luận với các hội viên, nông dân trong sinh hoạt chi hội, tổ hội hoặc đến nói chuyện trao đổi với từng gia đình, từng người, qua đó, cán bộ Hội trực tiếp nghe hội viên, nông dân trao đổi lại. Vì thế, hình thức tuyên truyền này có tính chất dân chủ nhất, dễ thực hiện nhất và cũng là hình thức tuyên truyền rẻ nhất, hiệu quả nhất.

Tuyên truyền thông qua sinh hoạt chi hội, tổ hội, qua các câu lạc bộ.

Hình thức tuyên truyền này kết hợp với hình thức tuyên truyền miệng, công tác tuyên truyền của Hội đến được trực tiếp cán bộ, hội viên, nông dân, qua đó góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của Hội nói chung, của công tác tuyên truyền nói riêng.

- Tuyên truyền thông qua sử dụng hệ thống thông tin đại chúng.

Hình thức này được thực hiện qua hệ thống truyền thông của Đảng, Nhà nước như báo, đài phát thanh, truyền hình của Trung ương và của địa phương; qua báo, tạp chí, thông tin công tác hội.v.v... nên nó có ảnh hưởng sâu rộng, dễ tác động đến cán bộ, hội viên, nông dân, có tác dụng khích lệ họ học tập, làm theo.

- Tuyên truyền thông qua hoạt động thư viện, sách báo, tranh ảnh, nhà văn hóa, câu lạc bộ, v.v..; các hình thức trực quan như khẩu hiệu, panô, áp phích, tờ rơi, v.v...

Khi sử dụng hình thức này, các cán bộ tuyên truyền cần chú ý lựa chọn các biểu tượng, hình tượng, hình ảnh, biểu trưng, v.v. có tính cụ thể, dễ hiểu, gần gũi với đời sống của cán bộ, hội viên, nông dân. Khi đó công tác tuyên truyền sẽ lôi cuốn được đông đảo quần chúng và sẽ đạt hiệu quả cao.

- Tuyên truyền thông qua các hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể thao, tổ chức lễ hội truyền thống...

Đây là hình thức tuyên truyền có bề rộng, dễ áp dụng vì được chuẩn bị kỹ, tiến hành thận trọng, khoa học. Hình thức này tạo được không khí hồ hởi, phấn khởi trong quần chúng tham gia, qua đó công tác tuyên truyền sẽ đạt hiệu quả cao.

- Tuyên truyền thông qua các hoạt động tham quan thực tế, báo cáo điển hình, học tập gương người tốt, việc tốt.

Hình thức tuyên truyền này sử dụng triệt để phương pháp nêu gương như: Tổ chức cho cán bộ, hội viên, nông dân đi tham quan, học tập những điển hình, mô hình tốt để họ học tập, làm theo. Qua đó hướng dẫn, khuyến khích động viên cán bộ, hội viên, nông dân học tập, làm theo gương điển hình, mô hình tiên tiến. Do vậy, các cấp Hội cần sớm phát hiện, nhân rộng mô hình, điển hình tiên tiến, những nhân tố mới để tuyên truyền, giáo dục hội viên, nông dân.

b) Phương pháp:

- Phương pháp thuyết phục:

Là phương pháp dùng lý lẽ, các luận cứ, luận chứng để hình thành ở mỗi cán bộ, hội viên, nông dân một lập trường mới, có thể thay đổi quan điểm hoặc hành vi của họ về một vấn đề nào đó.

Phương pháp này có tác dụng rất to lớn, ảnh hưởng trực tiếp, mạnh mẽ đến hiệu quả tuyên truyền bởi thuyết phục tốt sẽ làm cho các hội viên, nông dân tự giác phấn khởi tin theo và có hành động tự giác, đạt được hiệu quả cao.

- Phương pháp nêu gương:

Là phương pháp sử dụng những sự việc, hiện tượng điển hình trong đời sống thực tế ở ngay địa phương, cơ sở ở địa bàn cụ thể, đưa ra các kiểu hành vi, lối sống tác động đến cán bộ, hội viên, nông dân, giúp họ hình thành những hành vi, lối sống phù hợp theo gương điển hình.

- Phương pháp ám thị.

Được sử dụng trong các hình thức tuyên truyền, cổ động có sử dụng các hình vẽ, tranh ảnh, panô, áp phích, quảng cáo... ngầm chỉ bảo cho biết. Khi áp dụng phương pháp này cán bộ tuyên truyền cần chú ý sử dụng hình ảnh biểu tượng, biểu trưng, tạo ra ấn tượng mạnh mẽ để quần chúng dễ nhớ, dễ hiểu. Cần tránh các hình ảnh, biểu tượng thiếu văn hóa, trái với thuần phong mỹ tục của dân tộc.

II. KỸ NĂNG TUYÊN TRUYỀN MIỆNG

1. Những ưu điểm và hạn chế của tuyên truyền miệng:

- Ưu điểm: Thông qua việc sử dụng ngôn ngữ nói, người nói đối thoại trực tiếp với người nghe. Chính vì thế, tuyên truyền miệng là hình thức tuyên truyền linh hoạt, có thể tiến hành ở bất cứ nơi nào, trong bất kỳ điều kiện, hoàn cảnh nào cho một hoặc nhiều đối tượng.

Người nói có thể biểu lộ thái độ, tình cảm của mình trước người nghe, kết hợp lời nói với cử chỉ... để diễn đạt nội dung nên hiệu quả tuyên truyền được nâng cao và tính chính xác cao.

- Hạn chế: Hình thức này không thể áp dụng đối với các đối tượng không hiểu ngôn ngữ mà người nói sử dụng; đối tượng có thính giác không hoàn chỉnh; bị tác động do trình độ nhận thức của đối tượng; bị giới hạn bởi điều kiện thực tế của hoạt động tuyên truyền (địa điểm rộng hay hẹp, điều kiện về loa đài...).

2. Kỹ năng tuyên truyền miệng.

a) Gây thiện cảm ban đầu cho người nghe.

Giữa người nói và người nghe, nhất là lần đầu bao giờ cũng có rào cản tâm lý ngăn cách. Vì vậy, việc gây thiện cảm ban đầu rất quan trọng.

Thiện cảm ban đầu thuộc cả nhân thân và biểu hiện của người nói khi bước lên bục tuyên truyền. Danh tiếng, phẩm chất đạo đức, học hàm, học vị, chức vụ, dáng vẻ bề ngoài, y phục, nét mặt, cử chỉ, phong thái, lời giao đãi ban đầu... đều có ý nghĩa quan trọng đối với việc gây thiện cảm cho người nghe, củng cố niềm tin về vấn đề đang được tuyên truyền..

b) Tạo sự hấp dẫn, gây ấn tượng trong khi nói.

Sự hấp dẫn, gây ấn tượng thể hiện bằng giọng nói, điệu bộ, ngôn ngữ. Giọng nói phải rõ ràng, mạch lạc nhưng truyền cảm. Tránh lối nói đều đều, giọng nói, âm lượng phải thay đổi theo nội dung, phải nhấn mạnh vào những điểm quan trọng. Động tác, điệu bộ cần phải phù hợp với nội dung và giọng nói để nhân hiệu quả tuyên truyền của lời nói. Vẻ mặt của người nói cần thay đổi theo diễn biến của nội dung. Việc thường xuyên nêu các số liệu, sự kiện để minh họa; đặt các câu hỏi và giải đáp chúng sẽ tăng thêm sự chú ý của người nghe.

Cần phải sử dụng chính xác, đúng thuật ngữ pháp lý, thuật ngữ chuyên ngành và ngôn ngữ bình dân, dễ hiểu. Việc sử dụng hợp lý, chính xác ý tứ, hình ảnh trong kinh điển, thơ văn, ca dao, dân ca vào buổi tuyên truyền cũng làm tăng tính hấp dẫn, thuyết phục đối với người nghe.

c) Bảo đảm các nguyên tắc sư phạm trong tuyên truyền miệng.

Từ bố cục bài nói, diễn đạt các đoạn văn, liên kết giữa các đoạn văn đến cách nói đều phải rõ ràng, mạch lạc, lôgic. Người nghe cần được dẫn dắt từ dễ đến khó, từ đơn giản đến phức tạp, từ gần đến xa (phương pháp suy diễn) hoặc từ xa đến gần (phương pháp quy nạp) và tuỳ từng vấn đề mà dùng lý luận soi sáng cho thực tiễn hoặc từ thực tiễn mà đi sâu vào lý luận. Tuy nhiên, dù diễn giải rộng hay hẹp đều phải luôn bám sát trọng tâm của vấn đề.

c) Sử dụng phương pháp thuyết phục trong tuyên truyền miệng.

Tuyên truyền miệng chủ yếu dùng phương pháp thuyết phục là chứng minh, giải thích và phân tích.

- Chứng minh: là cách thuyết phục chủ yếu dựa vào các dẫn chứng xác thực để làm sáng tỏ và xác nhận tính đúng đắn của vấn đề. Các dẫn chứng đưa ra gồm số liệu, sự kiện, hiện tượng, nhân chứng, danh ngôn, kinh điển. Các dẫn chứng này phải chính xác, tiêu biểu, toàn diện và sát hợp với vấn đề cần chứng minh.

- Giải thích: là việc dùng lý lẽ để giảng giải giúp người nghe hiểu rõ và hiểu đúng vấn đề. Lập luận trong khi giải thích phải chặt chẽ, chính xác, mạch lạc, khúc chiết, không ngụy biện.

- Phân tích: là mổ xẻ vấn đề nhằm tìm được đặc điểm, bản chất, điểm mạnh, điểm yếu, điểm tốt, điểm xấu, sự phù hợp, không phù hợp... của vấn đề. Việc phân tích phải dựa trên cơ sở khoa học, không được cường điệu mặt này, hạ thấp mặt kia, tô hồng hoặc bôi đen sự việc. Sau khi phân tích phải có kết luận, đánh giá, hướng người nghe vào định hướng tư duy đúng đắn, không làm cho người nghe hoài nghi, dao động, hoang mang.

III. TỔ CHỨC MỘT BUỔI TUYÊN TRUYỀN MIỆNG

1. Xây dựng kế hoạch tổ chức buổi tuyên truyền miệng.

Đơn vị tổ chức tuyên truyền phải xây dựng kế hoạch tổ chức buổi tuyên truyền để trình lãnh đạo trực tiếp phê duyệt; thông báo cho các đơn vị, cá nhân liên quan để cùng tổ chức buổi tuyên truyền (nếu có).

Nội dung bản kế hoạch có những nội dung chính sau đây:

- Mục đích, yêu cầu;

- Đối tượng: thành phần, số lượng, đặc điểm của đối tượng về giới tính, nghề nghiệp, độ tuổi..vv.;

- Nội dung;

- Thời gian, địa điểm;

- Báo cáo viên;

- Công tác chuẩn bị;

- Kinh phí.

2- Các bước tiến hành một buổi tuyên truyền miệng.

a) Bước chuẩn bị: Cần nắm vững các nội dung chính sau:

- Nắm vững đối tượng tuyên truyền.

+ Báo cáo viên cần nắm vững đối tượng tuyên truyền qua: Số lượng; thành phần; trình độ văn hoá của đối tượng tuyên truyền.

+ Báo cáo viên nắm vững đối tượng bằng phương pháp trực tiếp hoặc bằng phương pháp gián tiếp. Cần có thông tin đầy đủ từ phía cơ quan tổ chức tuyên truyền về thành phần dự.

- Nắm vững yêu cầu và nội dung của vấn đề cần tuyên truyền, cần gắn với những thực tiễn sinh động đang diễn ra.

+ Nắm vững yêu cầu và nội dung tuyên truyền, nhạy bén với thực tiễn cuộc sống có quan hệ trực tiếp đến hiệu quả của người nói. Nắm vững nội dung và kết hợp với thực tiễn cuộc sống thì người nói sẽ có cách trình bày rõ ràng, mạch lạc, dễ hiểu, những vấn đề không hiểu rõ, không biết rõ thì không nói.

+ Nghiên cứu kỹ nội dung, chủ đề mà mình định tuyên truyền cho người nghe. Đọc kỹ, ghi chép tài liệu liên quan để bổ sung cho nội dung chính là một vấn đề quan trọng đối với người nói.

+ Nắm bắt thực tiễn, có hệ thống, bổ sung ngay khi tuyên truyền làm cho người nghe tiếp cận với những vấn đề thời sự chính trị đang diễn ra.

- Sưu tầm tài liệu dẫn chứng, minh họa:

Tài liệu, dẫn chứng minh họa có độ tin cậy cao, được sưu tầm, thu thập từ thực tiễn công tác, đời sống, báo chí, đài phát thành truyền hình... cần được lựa chọn phù hợp. Khi sưu tầm tài liệu cần chú ý đến tính chất, yêu cầu của tài liệu đó, tránh tài liệu, dẫn chứng minh họa thuộc diện mật của Đảng và Nhà nước hoặc số liệu, dẫn chứng đã cũ không còn phù hợp với hiện tại.

- Chuẩn bị đề cương.

Đề cương tuyên truyền miệng cần chú ý những yêu cầu sau:

+ Đề cương không phải là một bài viết hoàn chỉnh, cụ thể mà là tài liệu nêu lên các trọng tâm cần tập trung tuyên truyền, phổ biến. Trên cơ sở đó, báo cáo viên phân tích cụ thể, mở rộng những vấn đề nêu trong đề cương. Đề cương tuyên truyền có nhiệm vụ hướng dẫn, chỉ đạo việc tổ chức triển khai tuyên truyền cho phù hợp với từng loại đối tượng, trên từng địa bàn.

+ Cần lựa chọn vấn đề cốt lõi của nội dung tuyên truyền, có liên hệ với hệ thống pháp luật để làm rõ mối quan hệ của nội dung tuyên truyền với hệ thống pháp luật.

- Để thu hút người nghe, toàn bộ các phần trong bài nói phải có mối quan hệ hữu cơ với nhau: từ yêu cầu, nhiệm vụ đến giải pháp thực hiện..vv.

Có sự chuẩn bị tốt người nói sẽ tự tin, thoải mái, hào hứng trước khi bước vào buổi tuyên truyền.

b) Tiến hành buổi tuyên truyền miệng.

Một buổi tuyên truyền miệng thường có các phần sau:

- Vào đề:

Là phần giới thiệu vấn đề, với tuyên truyền miệng, cách vào đề có hiệu quả thường là gợi ra nhu cầu tìm hiểu ý nghĩa, sự cần thiết của nội dung cần được tuyên truyền.

Trước khi bắt đầu phần này, cần có những lời chào mừng, chúc tụng đối với người nghe để gây thiện cảm và không khí gần gũi. Trong phần vào đề, người nói phải nêu được khoảng từ 3, 4 vấn đề chủ yếu mà người nghe cần tìm hiểu nhất để tạo sự chú ý, sức hấp dẫn cho người nghe 

- Nội dung:

Là phần chủ yếu của buổi nói, để đối tượng hiểu, nắm được nội dung, chuyển biến nhận thức, nâng cao ý thức. Cần lưu ý là phải nêu được những điểm mới, thời sự để người nghe chú ý; khi tuyên truyền không được sao chép, đọc nguyên văn văn bản, tránh sự nhàm chán. Khi nói cần phân tích, giải thích và nêu ý nghĩa của nội dung tuyên truyền đó.

+ Trong tuyên truyền văn bản phải chú ý lựa chọn cách trình bày phù hợp với đối tượng và nêu được vấn đề cơ bản, cốt lõi, trọng tâm để người nghe thâu tóm được tinh thần văn bản. Sử dụng hợp lý ngôn ngữ nói và cử chỉ, động tác.

+ Tuyên truyền cho hội viên nông dân nên dùng phương pháp thuyết phục là phù hợp. Cần nêu bản chất, ý nghĩa của vấn đề, mục đích, sự cần thiết, ý nghĩa của nội dung được tuyên truyền. Quyền và nghĩa vụ của hội viên nông dân liên quan đến nội dung tuyên truyền v.v.. Đối với đối tượng tuyên truyền là hội viên nông dân dân tộc thiểu số thì cần có phương pháp thích hợp để giải thích, phân tích sao cho dễ nhớ, dễ hiểu. Nếu người tuyên truyền nói được tiếng dân tộc thiểu số đó là tốt nhất. Khi tuyên truyền, nên ra các tình huống cụ thể, thiết thực để làm dẫn chứng, chứng minh

- Phần kết luận.

Người nói điểm lại và tóm tắt những vấn đề cơ bản đã tuyên truyền. Tùy từng đối tượng mà nêu những vấn đề cần lưu ý đối với họ.

- Trả lời câu hỏi của người nghe.

Người nói cần dành thời gian cần thiết trả lời các câu hỏi mà người nghe quan tâm, chưa hiểu rõ, qua đó đánh giá được mức độ hiểu bài của người nghe; là dịp để người nói trao đổi những kinh nghiệm, hiểu biết của mình cho người nghe.

 

 

7