DMCA.com Protection Status

Đề cương gợi ý làm bài thi tìm hiểu: "75 NĂM LỊCH SỬ VẺ VANG CỦA ĐOÀN TNCS HỒ CHÍ MINH".  quan tâm

Được đăng bởi: Trần Việt Thao

Cập nhật lúc 09:29 ngày 05/01/2018

Đề cương gợi ý làm bài thi tìm hiểu:

"75 NĂM LỊCH SỬ VẺ VANG CỦA ĐOÀN TNCS HỒ CHÍ MINH".

*TÀI LIỆU THAM KHẢO LÀM BÀI THI:

- Lịch sử Đoàn TNCS Hồ Chí Minh.

- Truyền thống Đoàn TNCS Hồ Chí Minh.

- Các lần Đại hội của Đoàn TNCS Hồ Chí Minh.

- Sách về đổi mới nội dung, phương thức hoạt động của Đoàn.

- Các tổ chức tiền thân của Đảng CSVN.

- Tổ chức " Việt nam TN cách mạng đồng chí hội".

- Lịch sử Đảng CSVN.

- Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng Đoàn.

- Cuộc đời hoạt động của Bác Hồ

- Báo Tiền phong từ ngày 1/12-15/12/2005.

- Sách 5 bài học lý luận chính trị cho TN và 6 bài học lý luận chính trị cho TN.

- Sách về gương anh hùng Lý Tự Trọng………………………

 

LỜI MỞ ĐẦU BÀI THI:

Còn 2 tháng nữa là đến ngày kỷ niệm 75 năm lịch sử vẻ vang của đoàn TNCS Hồ Chí Minh. Để khắc sâu, thấu hiểu sâu sắc ngọn nguồn ý nghĩa của ngày truyền thống lịch sử vẻ vang của Đoàn, quá trình đấu tranh CM để hình thành, phát triển, trưởng thành của Đoàn và thấm nhuần hơn bao giờ hết lý tưởng cùng những truyền thống quang vinh của tuổi trẻ Việt nam và của Đoàn TNCS Hồ Chí Minh; chúng ta hãy cùng nhau ôn lại, nghiên cứu kỹ lưỡng những trang vàng lịch sử 75 năm qua của Đoàn TNCS Hồ Chí Minh. Để từ đó và trên cơ sở xác định đúng đắn thế nào là " Sống đẹp- sống có ích" mà phát huy truyền thống CM vẻ vang nguyện " Sống đẹp- sống có ích" cỗ vũ tuổi trẻ cùng phấn đấu vươn lên viết tiếp những trang lịch sử hào hùng của Đoàn. Trong quá trình đó, bằng trí tuệ, kinh nghiệm của mình hãy đề xuất, đóng góp và góp phần biến thành hiện thực những giải pháp hữu hiệu nhất để xây dựng tổ chức Đoàn, Hội vững mạnh, mở rộng mặt trận tập hợp, đoàn kết TN; phát huy vai trò của tuổi trẻ trong sự nghiệp CNH,HĐH đất nước.

Với khả năng trí tuệ, điều kiện có hạn song chúng ta hãy nỗ lực hơn bao giờ hết với ý chí và nghị lực của tuổi thanh xuân quyết tâm hoàn rthành tốt những vấn đề mà Đoàn đã đặt ra đối với tuổi trẻ với ý thức " Thi đua tình nguyện xây dựng và bảo vệ tổ quốc" nhằm khẳng định mình và đóng góp cho Đoàn, cho tuổi trẻ những tri thức mới, những giải pháp mới góp phần tuyên truyền sâu sắc về lịch sử truyền thống 75 năm qua của Đoàn TNCS Hồ Chí Minh, góp phần xây dựng Đoàn, Hội ngày càng vững mạnh và cỗ vũ, phát huy vai trò của tuổi trẻ trong sự nghiệp CNH,HĐH quê hương, đất nước.

Mỗi cuộc thi là một thời cơ, một môi trường thuận lợi cho mỗi chúng ta thể hiện nhận thức và trí tuệ của mình, hy vọng từ diễn đàn này mỗi đóng góp của chúng ta là một bông hoa trí tuệ đặc sắc kết nên bức tranh hoàn thiện về lịch sử truyền thống vinh quang của Đoàn TNCS Hồ Chí Minh, thành vườn hoa rực rỡ chào mừng kỷ niệm 75 năm ngày truyền thống vẻ vang của Đoàn.

I,Câu hỏi 1: Đoàn TNCS Hồ Chí Minh thành lập ngày, tháng, năm nào? Do ai sáng lập? Bạn hãy cho biết về 8 đoàn viên TNCS đầu tiên?

Gợi ý trả lời:

1, Vấn đề thành lập "Đoàn TN cộng sản" được đặt ra từ hội nghị hợp nhất thành lập Đảng CSVN(3/2/1930 do lãnh tụ Nguyễn ái Quốc chủ trì). Hội nghị xác định rõ: BCH TƯ của Đảng, ngoài công tác hàng ngày cần phải tổ chức ngay "Đoàn TNCS". Và trong Điều lệ vắn tắt của Đảng đã ghi rõ một điều quan trọng; " người dưới 21 tuổi phải vào TNCS đoàn". Như vậy, vấn đề Đoàn TNCS đã được khẳng định trong 2 văn bản trọng yếu của hội nghị thành lập Đảng( Nghị quyết và Điều lệ của Đảng)..

Tháng 10/1930, Hội nghị BCH TƯ Đảng lần thứ nhất thảo luận và thông qua "án NQ về cộng sản TN vận động" và " án NQ về tình hình hiện tại ở đông dương và và nhiệm vụ cần kíp của đảng". Văn kiện này có phần chỉ rõ về công tác TN trong đó nêu bật:"..Đảng phải thi hành ngay án NQ của Quốc tế TNCS , phái ra một số đồng chí trẻ tuổi phụ trách tổ chức ra TNCS Đoàn và giúp cho Đoàn có tính độc lập…"( NQ của Quốc tế TNCS là NQ cụ thể về công tác TN thuộc địa trên cơ sở quán triệt Luận cương về TN thuộc địa năm 1924 được Đại hội quốc tế TNCS lần thứ V thông qua vào năm 1928).

Tháng 4/1920, BCH Quốc tế TNCS lại gửi tiếp cho những người cộng sản ở Đông Dưiơng một bức thư rất quan trọng với nội dung vừa tổng kêt kinh nghiệm chung của phong trào TNCS trên thế giới vừa gợi ra công việc phải làm đối với tổ chức Đoàn và phong trào TNCM ở Đông Dương. Bức thư này đã được Hội nghị TƯ đảng lần thứ nhất (10/1930) coi như là một văn kiện quan trọng mà những đảng viên ở Đông Dương có trách nhiệm nghiên cứu vận dụng.

Vào mùa xuân 1931, từ ngày 20-26/3/1931, Hội nghị lần thứ 2 của BCH TƯ Đảng dành một phần quan trọng trong chương trình làm việc để bàn về công tác vận động TN, đã đi đến những quyết định có ý nghĩa đặc biệt như: các cấp uỷ đảng từ TƯ đến địa phương phải cử ngay các cấp uỷ viên phụ trách công tác Đoàn. Hội nghị cũng đã khẳng định sự ra đời của tổ chức Đoàn TN; đáp ứng kịp thời những yêu cầu của phong trào TN lúc bấy giờ( chỉ từ sau khi các tổ chức Đảng ở nước ta hình thành, nhất là từ sau khi Đông dương cộng sản Đảng ở Bắc kỳ ra đời(17/6/1929) thì các tổ chức đoàn cơ sở mới được thành lập: Chi bộ đoàn thứ nhất ra đời ở nhà máy xi măng hải phòng(6/1929); chi bộ Đoàn thứ hai ra đời ở trường Bônan( nay là trường Ngô Quyền) là những nơi có phong trào đấu tranh mạnh mẽ của TN, học sinh,…trong những năm 1925;1926 và các năm sau…).Chính vì thế, theo đề nghị của BTV TƯ đoàn, được TƯ Đảng và Bác Hồ cho phép, Đại hội Đoàn toàn quốc lần thứ III(23-25/3/1961) đã quyết định lấy ngày 26/3- một ngày trong thời gian cuối của Hội nghị BCH TƯ Đảng lần thứ II(20-26/3/1931)- làm ngày thành lập đoàn. Ngày 26/3 trở thành ngày hội vẻ vang của tuổi trẻ cả nước, của Đoàn TNCS Hồ Chí Minh.Lịch sử quá trình ra đời của Đoàn TNCS Hồ Chí Minh đã khẳng định: Đoàn TNCS Hồ Chí Minh do Đảng và Bác Hồ sáng lập.

2, Để chuẩn bị thành lập Đảng cộng sản và triển khai" Luận cương về TN thuộc địa", lãnh tụ Nguyễn ái Quốc đã sáng lập ra tổ chức TN có xu hướng cộng sản ở nước ta là:" Hội Việt nam TN CM đồng chí". Chính người đã tuyên truyền, giác ngộ, kết nạp những đoàn viên TNCS VN đầu tiên.

Bác Hồ kính yêu "là người theo dõi tổ chức TN từ lúc hiếm hoi chỉ có tám cháu",gồm:

LýTựTrọng(tênthậtlàLêVănTrọng).

Lý văn Minh(Đinh chương Long).

Lý thúc Chất(.Vương Thúc Thoại).

Lý Anh Tợ(Hoàng Tự).

 

Lýnam Thanh(Nguyễn sinh Thản).

Lý trí Thông( Ngô Trí Thông).

Lý Phương Đức(Ngô Hậu Đức).

LýPhương Thuận(HoàngThị Tích).

Lý Tự Trọng là tấm gương tiêu biểu quê ở Thạch hà- Hà tĩnh, nói câu nói nổi tiếng trước toà án kẻ thù:" Tôi hành động có suy nghĩ, tôi hiểu việc tôi làm, con đường của TN chỉ là con đường CM, không thể là con đường nào khác".

Bảy đồng chí còn lại đều xứng đáng với công lao đào tạo của Bác Hồ và của Đảng, trong đó có 3 đ/c hy sinh trong cuộc chiến đấu bảo vệ Mátcơ va(1941) được Nhà nước Liên xô tặng thưởng Huân chương vệ quốc hạng nhất. Trước đó, một số đồng chí đã tham gia Quảng châu công xã……………VVV……

II,Câu2: Từ khi thành lập đến nay Đoàn TNCS Hồ Chí minh đã mấy lần đổi tên? bạn hãy cho biết ý nghĩa việc đổi tên gọi của Đoàn qua các thời kỳ?

Gợi ý trả lời: Từ khi thành lập đến nay Đoàn TNCS Hồ Chí Minh đã 7 lần đổi tên:

- Từ 3/1931-6/1936: Đoàn TNCS Đông dương( Đoàn TNCS Đông dương do Đảng CS Đông dương sáng lập theo chủ trương, nghị quyết của Đảng, vì mục đích lý tưởng CSCN của Đảng, của 3 nước Đông dương: VN, Lào, Căm pu chia; Đoàn TNCS Đông dương là lực lượng dự bị tin cậy phấn đấu vì mục đích lý tưởng của Đảng ).

- Từ 7/1936- 10/1939: Đoàn TN dân chủ Đông dương( theo mục đích đấu tranh đòi quyền dân sinh dân chủ).

" Cao trào dân chủ 1936-1939 là một cuộc vận động quần chúng rộng lớn và sôi nổi của Đảng...."( Lịch sử Đảng CSVN).

Tháng 7/1936, Hội nghị BCH TƯ Đảng đã họp ra những quyết định quan trọng nhằm tăng cường sự lãnh đạo của đảng đối với công tác vận động TN. Theo đó, trong thời kỳ CM từ giữa năm 1936 đến mùa thu 1939, đoàn TNCS Đông Dương mang tên đoàn TN dân chủ Đông Dương để phù hợp với nhiệm vụ chính trị qua các NQ của Đảng.

Tháng 9/1937, Đảng nhấn mạnh phải ra sức tổ chức các hộ quần chúng phổ thông của TN( TN dân chủ, Tân tiến, thể thao, khuyến học,…)để thu phục quảng đại quần chúng thành một mặt trận thống nhất TN. đến tháng 3/1938, Đảng quyết định tổ chức "TN Tân tiến hội" để giúp Đảng vận động các tầng lớp TN phù hợp với hoàn cảnh, trình độ, tâm lý của họ để có khẩu hiệu và hình thức tổ chức thích hợp( phổ thông và công khai hoặc bán công khai, như: Hội đá bóng, đọc báo, âm nhạc,…)

Trong thời kỳ 1936-1939, Đoàn TN có nhiều tên gọi khác song đều nhằm mục đích đấu tranh đòi các quyền dân sinh dân chủ, vì vậy chúng ta thường gọi tên chung là đoàn TN dân chủ.

- Từ 11/1939- 4/1941: Đoàn TN phản đế Đông dương( Theo chủ trương phản đế của Hội nghị TƯ Đảng tháng 11/1939).

Tháng 11/1939, TƯ Đảng họp hội nghị lần thứ 6 tại Ba Điểm( Hóc môn, Gia định) có Nguyễn Văn Cừ, Lê Duẩn, Phan Đăng Lưu, Võ văn Tần,…tham dự. NQ của Hội nghị nhấn mạnh: Giải phóng dân tộc là nhiệm vụ hàng đầu của CM Đông Dương. Hội nghị chủ trương lập mặt trận thống nhất phản đế Đông Dương nhằm đoàn kết rộng rãi các tầng lớp nhân dân, các giai cấp và dân tộc ở đông Dương để đánh đổ đế quốc Pháp và tay sai của chúng. Theo chủ trương của Đảng, đoàn TN phản đế tiếp nối sự nghiệp vẻ vang của các tổ chức TN cộng sản và TN dân chủ trước đây.

- Từ 5/1941- 18/10/1955: đoàn TN cứu quốc Việt nam( 5/1941, Hội nghị lần thứ 8 BCH TƯ Đảng quyết định thành lập).

Tháng 5/1941, Hội nghị lần thứ 8 của Đảng họp tại Pắc bó (cao bằng) do Đ/c Nguyễn ái Quốc, đại diện quốc tế cộng sản triệu tập và chủ trì. Tham gia hội nghị có các đ/c Trường Chinh, Hoàng văn Thụ, Phùng chí Kiên, Hoàng Quốc Việt,..để tập hợp và động viên các tầng lớp nhân dân đứng lên đánh duổi phát xít Pháp- Nhật, Hội nghị quyết định thành lập VN độc lập đồng minh( gọi tắt là Việt minh) và các Hội cứu quốc, trong đó có Đoàn TN cứu quốc VN. Hội nghị đã xác định: " VN TN cứu quốc Đoàn từ nay là đoàn thể của tất thấy TN từ 18 tuổi đến 22 tuổi muốn đấu tranh đánh Pháp, đuuôỉ Nhật". Như vậy, Đoàn TN cứ quốc là một tổ chức của những Tnyêu nước có nhiệm vụ tham gia vào cuộc đấu tranh của dân tộc đánh pháp đuổi nhật. đoàn TNCQ tiếp nối sự nghiệp của các tổ chức TN do Đảng ta và lãnh tụ Nguyễn ái Quốc sáng lập, lãnh đạo trước đó".

- Từ 19/10/1955-1/1970: Đoàn TN lao động Việt nam( ngày 19/10/1955, Ban bí thư TƯ Đảng ra quyết định đổi tên).

Bộ chính trị TƯ Đảng trong phiên họp tháng 9/1954 đã chủ trương đổi tên đoàn TNcứu quốc VN thành đoàn TN lao động và xây dựng Đoàn TNLĐ VN thành một tổ chức thực sự có tác dụng là lực lượng dự trữ và cánh tay của Đảng.Quyết nghị có đoạn viết: " Đảng ta là đảng lao động VN. Việc Đoàn TNCQ VN đổi tên thành đoàn TN lao động VN sẽ làm cho TN thêm phấn khởi gắn bó với Đảng và do đó càng quyết tâm phấn đấu đến cùng dưới ngọn cờ của Đảng".

Ngày 19/10/1955, Ban bí thư TƯ đảng đã ra NQ đổi tên Đoàn TN cứ quốc VN thành Đoàn TN lao động VN. Trong quyết nghị về đổi tên Đoàn TNCQ VN thành Đoàn TNlao động VN và kế hoạch xây dựng Đoàn TNLĐ VN( Ban bí thư TƯ ngày 19/10/1955) đã nêu rõ tính chất, nhiệm vụ, vấn đề tổ chức và kế hoạch xây dựng Đoàn TNLĐ VN. Quyết nghị nêu kết luận: " Việc đổi tên Đoàn TNCQ VN thành Đoàn TNLĐ VN là việc rất quan trọng có ảnh hưởng đến việc xây dựng một phong trào TN lớn mạnh trong toàn quốc, đến việc phát triển cơ sở Đảng trong quần chúng lao động và việc hoàn thành những nhiệm vụ CM hiện nay. Các cấp uỷ Đảng cần nắm vững đường lối vận động TN của Đảng, trực tiếp lãnh đạo thực hiện nghị quyết này".

Đây là cuộc vận động chính trị lớn. Thông qua việc học tập đổi tên, các cấp Đoàn đã giáo dục, bồi dưỡng, nâng cao chất lượng đoàn viên, củng cố tổ chức Đoàn, chuẩn bị về mọi mặt để đón nhận những nhiệm vụ mới mà Đảng và Bác Hồ giao cho. TN " phải quan tâm đến việc khôi phục và xây dựng lại nước nhà… TN cần phải có tinh thần gan dạ, sáng tạo cần phải có chí khí hăng hái và tinh thần tiến lên, vượt mọi khó khăn gian khổ để tiến mãi không ngừng,…".

Đại hội Đoàn toàn quốc lần thứ II(25/10- 4/11/1956) đã đề ra nhiệm vụ của Đoàn trong giai đoạn CM mới là: " Động viên mọi người, mọi tầng lớp TN đem hết sức lực trí tuệ của mình vào công cuộc khôi phục kinh tế, phát triển văn hoá, củng cố quốc phòng, tham gia tích cực vào công cuộc củng cố miền Bắc, tiến dần từng bước lên chủ nghĩa xã hội, làm cơ sở vững chắc cho sự nghiệp đấu tranh thống nhất nước nhà".

- Từ 3/2/1970- 11/1976: Đoàn TN lao động Hồ Chí Minh( ngày 3/2/1970, BCHTW Đảng ra NQ đổi tên nhân kỷ niệm 40 năm ngày thành lập Đảng, thực hiện di chúc của Bác Hồ, đáp ứng nguyện vọng của thế hệ trẻ và theo đề nghị của đoàn TN lao động Việt nam: Đoàn TN lao động VN được mang tên Bác).

Thực hiện Di chúc thiêng liêng của Bác, đáp ứng nguyện vọng của thế hệ trẻ và theo đề nghị của Đoàn TNLĐVN, nhân dịp kỷ niệm lần thứ 40 và ngày thành lập Đảng(3/2/1930-3/2/1970) BCH TƯ Đảng đã ra NQ cho Đoàn TN và Đội thiếu niên, Đội nhi đồng được mang tên Bác: Đoàn TN Lao động VN nay là Đoàn TN lao động Hồ Chí Minh.

Tổ chức đoàn được mang tên Bác là vinh dự lớn lao đồng thời là trách nhiệm nặng nề trước tổ quốc và nhân dân. Đoàn ta được mang tên bác Hồ càng làm nổi rõ mục đích và tính chất của Đoàn là đội tiền phong chiến đấu của TN, đi đầu phấn đấu cho lý tưởng CM cao cả là độc lập, tự do, thống nhất, CNXH và CNCS và rèn luyện nên những lớp chiến sĩ cộng sản trẻ tuổi kiên cường theo mẫu mực của Bác Hồ vĩ đại. Đó là sự đánh giá cao của tổ quốc, của nhân dân, của thời đại đối với những cống hiến và con đường tu dưỡng, rèn luyện của thế hệ trẻ trong thời đại Hồ Chí Minh".

- Từ 21/12/1976- nay: Đoàn TNCS Hồ Chí Minh( thể theo nguyện vọng của cán bộ, đoàn viên và TN cả nước; Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV của Đảng đã quyết định đổi tên Đoàn TNLĐHCM thành Đoàn TNCS Hồ Chí Minh. Là sự kiện có ý nghĩa chính trị to lớn đối với tổ chức Đoàn và phong trào TN nước ta. Nó thể hiện sự tin tưởng sâu sắc và quyết tâm của thế hệ trẻ VN đi theo con đường CM của Đảng, xây dựng CNXH và bảo vệ tổ quốc XHCN; ý chí phấn đấu vì lý tưởng CSCN của TN Việt nam).

Đại hội đảng đã đánh giá cao chủ nghĩa anh hùng CM của thế hệ trẻ và những cống hiến xuất sắc của Đoàn và phong trào TN cả nước trong sự nghiệp chống Mỹ cứu nước và xây dựng CNXH. Đảng chỉ rõ nhiệm vụ của Đoàn và phong trào TN trong giai đoạn mới là: " Đoàn TNCS Hồ Chí Minh phải được xay dựng và củng cố vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức, xứng đáng là trường học CSCN của lớp người trẻ tuổi, là cánh tay đắc lực và đội hậu bị tin cậy của Đảng. Đoàn phải giáo dục, rèn luyện TNmột cách toàn diện trong thực tế đấu tranh của CM; phát huy những truyền thống tốt đẹp của TN, bồi dưỡng TN cả nước thành những con người mới XHCN, có lý tưởng cao đẹp, có khí phách anh hùng " Sống chiến đấu lao động và học tập rheo gương Bác Hồ vĩ đại", làm tròn vai trò xung kích trong ba cuộc CM, trong phong trào thi đua lao động sản xuất và bảo vệ tổ quốc, thành lớp người kế tục trung thành và xuất sắc sự nghiêp CM vẻ vang của Đảng và của dân tộc".

Việc đổi tên Đoàn thành Đoàn TNCS Hồ Chí Minh là sự kiện có ý nghĩa chính trị to lớn đối với tổ chức Đoàn và phong trào TN nước ta.

Nó thể hiện sự tin tưởng sâu sắc và quyết tâm của thế hệ trẻ VN đi theo con đường CM của Đảng, xây dựng CNXH và bảo vệ tổ quốc XHCN; ý chí phấn đấu vì lý tưởng CSCN của TN Việt nam).

III, Câu 3: Bạn hãy nêu những truyền thống vẻ vang của tuổi trẻ VN và của Đoàn TNCS Hồ Chí Minh 75 năm qua?

Gợi ý trả lời:

A, Truyền thống: Truyền thống là đức tính tốt đẹp, điều đặc sắc truyền từ đời này sang đời khác.

"Truyền thống là cơ chế giữ gìn truyền lại, tái tạo và củng cố các khái niệm xã hội, các thói quen và niềm tin đại chúng. Truyền thống đ­ược ghi lại

d­ưới hình thức khái niệm nghi lễ, tập tục, quy chế điều chỉnh, cách xử trong nhóm xã hội".

Truyền thống gồm 3 mặt( cấu trúc): hoạt động, cảm xúc, lý trí. Cụ thể:

- Mặt hoạt động nhằm củng các phư­ơng thức hành vi của nhóm và cá nhân nhờ các tập tục nghi lễ, nghi thức.

- Mặt cảm xúc nó truyền lại các phư­ơng thức phản ứng và rung cảm, mặt này liên quan tới cơ chế tâm lý xã hội như­: bắt ch­ước, ám thị, lây lan tâm lý.

- Mặt lý trí truyền lại cách thức lĩnh hội trí tuệ như­ cách suy nghĩ nó có liên quan đến hiện t­ượng tâm lý xã hội.

Theo bách khoa toàn thư Liên xô:" Truyền thống là những tục lệ, trật tự, quy tắc cư xử truyền đi từ đời này sang đời khác".

Truyền thống được hiểu là " tập hợp những tư tưởng và tình cảm, những thói quen trong tư duy, lối sống và ứng xử của một cộng đồng nhất định được hình thành trong lịch sử và trở nên ổn định, được lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác. Tính cộng đồng, tính ổn định và tính lưu truyền là những đặc trưng, những thuộc tính của truyền thống".

B, Công tác giáo dục truyền thống bao gồm:

-Giúp TN nhận thức đúng đắn, kế thừa, phát huy và nâng cao những truyền thống tốt đẹp của dân tộc và CM.

- Đấu tranh cải tạo và xoá những truyền thống đã trở nên lạc hậu, lỗi thời.

- Sáng tạo và xây dựng những truyền thống mới theo yêu cầu phát triển của CM và xu thế thời đại.

Truyền thống cách mạng là truyền thống đấu tranh của g/c công nhân và nhân dân lao động xoá bỏ áp bức , bóc lột; xoá bỏ nghèo nàn lạc hậu xây dựng một xã chế độ mới, một xã hội mới ngày càng tiến bộ hơn, ưu việt hơn.

* Giáo dục truyền thống cho TN chủ yếu là giáo dục truyền thống CM. Giáo dục truyền thống dân tộc cho TN để cho TN nhận thức đúng đắn, sâu sắc hơn

truyền thống CM.

Theo chỉ thị 14 của Ban bí thư TƯ Đảng khoá IV quy định " Về việc tăng cường giáo dục truyền thống CM cho thế hệ trẻ" bao gồm những nội dung cơ bản sau đây:

1, ý chí anh hùng, dũng cảm bất khuất, sẵn sàng hy sinh tất cả vì độc lập tự do, không cam tâm chịu mất nước và làm nô lệ.

2, Vững vàng trước mọi thử thách, khó khăn, gian khổ, trung thành với CM.

3, Anh dũng trong chiến đấu, cần cù, bền bỉ trong lao động.

4, Sống giản dị, thương yêu đùm bọc lẫn nhau.

5, Tinh thần quốc tế chủ nghĩa trong sáng, thuỷ chung.

*, TRUYỀN THỐNG VẺ VANG CỦA TUỔI TRẺ VN ĐÃ ĐƯỢC KHẲNG VÀ ĐẠI HỘI ĐOÀN TOÀN QUỐC LẦN THỨ VIII ĐÚC KẾT ĐÓ LÀ:

+ Truyền thống yêu nước nồng nàn, trung thành tuyệt đối với sự nghiệp của Đảng, gắn bó sống còn với lợi ích dân tộc, nhân dân và chế độ XHCN.

Dù ở bất cứ thời điểm nào, thế hệ trẻ VN cũng là lớp người tiếp nối truyền thống yêu nước, bất khuất của nhân dân ta, luôn đi đầu sẵn sàng xả thân vì nghĩa lớn. Truyền thống yêu nước này được biểu hiện hất sức rực rỡ trong các hoàn cảnh:

- Khi tổ quốc lâm nguy vì hoạ xâm lăng.

- Khi phải đương đầu với thiên tai khắc nghiệt.

- Trong cuộc phấn đấu vì cuộc sống ấm no, hạnh phúc của nhân dân và trong quá trình phát triển đất nước.

Khi được giác ngộ về Đảng và nắm vững quá trình đấu tranh quên mình của Đảng vì mục tiêu " độc lập dân tộc gắn liền với CNXH, dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng dân chủ, văn minh"; tuổi trẻ VN đã, đang và mãi mãi trung thành tuyệt đối với lý tưởng và sự nghiệp CM của Đảng

+ Truyền thống xung kích CM, xung phong tình nguyện, không ngại hy sinh gian khổ, sẵn sàng đảm nhận và hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ mà Đảng và nhân dân giao phó.

Xung kích đi đầu trong chống giặc ngoại xâm, trong chinh phục thiên nhiên, vươn lên chiến thắng nghèo nàn lạc hậu. Vì Đảng, vì nhân dân, tuổi trẻ VN không quản ngại hy sinh gian khổ luôn xung kích đi đầu đảm nhận và hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ với tinh thần "Đâu Đảng cần TN có, Việc gì khó TN làm",….

+ Truyền thống đoàn kết, tinh thần tương thân tương ái và nhân đạo cao cả, tinh thần tình nguyện vì cuộc sống cộng đồng.

Tổ tiên chúng ta đã lấy sự đoàn kết làm sức mạnh.Truyền thống đoàn kết thương yêu giúp đỡ lẫn nhau được trao truyền và phát huy trong tiến trình lịch sử dựng nước và giữ nước. Truyền thống đoàn kết , thương yêu giúp đỡ lẫn nhau tạo nên động lực tinh thần và thái độ ứng xử văn hoá "tình làng, nghĩa xóm" rất độc đáo VN trong các cộng đồng của dân tộc, trong lớp người cùng lứa tuổi và rộng ra trong toàn thể đồng bào.

Truyền thống" thương người như thể thương thân", "Bầu ơi thương lấy bí cùng, tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn." phát triển thành ý thức "Tình nguyện vì cuộc sống cộng đồng".

+Truyền thống hiếu học, ham hiểu biết,có ý chí vượt khó, cần cù, sáng tạo, dám nghĩ ,dám làm, có hoài bão lớn.

Từ đời này sang đời khác, hiếu học là một truyền thống tốt đẹp của nhân dân và TN ta "nhất tự vi sư, bán tự vi sư", "không thầy đố mình làm nên". Học để nâng cao hiểu biết, học trong sách, học ngoài đời, học từ cái nhỏ đến cáid lớn,… như ông cha ta có câu: " Học ăn, học nói, học gói, học mở". Truyền thống hiếu học làm sản sinh cho đất nước nhiều nhân tài về mọi mặt: xã hội, kinh tế, quân sự,… trong số những vì sao đất nước" ấy, nhiều người đã thành danh khi còn rất trẻ.

Truyền thống lao động cần cù thông minh, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm của nhân dân ta luôn được thế hệ trẻ giữ vững và phát huy từ đời này sang đời khác. Đó là ý chí mạnh mẽ cải tạo thiên nhiên, lên rừng, ra biển vì sự phát triển của từng cộng đồng làng xã và của cả đất nước. Truyền thống quí báu này được thể hiện:

- Trong lao động chăm chỉ, cần cù " một nắng, hai sương", chịu thương, chịu khó khai phá ruộng hoang , quai đê lấn biển ,….

- Trong sự sáng tạo chinh phục thiên nhiên qua các công trình quốc kế dân sinh( hệ thống đê điều, các công trình thuỷ lợi, công cuộc lập ấp dựng làng,… Cho đến xây dựng các công trình: Thuỷ điện sông Đà, Thuỷ điện IALY, Đường dây 500Kv xuyên đất nước, đường Hồ Chí Minh,….Tuổi trẻ VN còn là lực lượng luôn đi đầu trong sáng tạo KHKT, ứng dụng công nghệ mới vào sản xuất, sáng kiến cải tiến kỹ thuật,… đem lại hiệu quả kinh tế cao cho quê hương , đất nước.

- Trong xây dựng, kiến trúc đã sáng tạo nên những công trình văn hoá vật thể( chùa chiền, cung điện, đền đài,…) có giá trị lớn.

Tuổi trẻ VN luôn có hoài bão lớn: biến ước mơ thành hiện thực như: thánh Gióng trong đánh giặc, đánh ác quỷ, chinh phục thiên nhiên, giữ yên hạnh phúc cho dân làng, trong tuổi trẻ luôn ấp ủ những điều cao đẹp, phấn đấu vì nghĩa lớn, vì dân, vì nước,…

*, TRUYỀN THỐNG VẺ VANG CỦA ĐOÀN TNCS HỒ CHÍ MINH:

+Kể từ ngày thành lập đến nay, được Đảng tổ chức và lãnh đạo, được Bác Hồ hết lòng chăm sóc và dìu dắt, Đoàn TN và các thế hệ TN nước ta được rèn luyện và trưởng thành trong đấu tranh CM, đã xây dựng nên những truyền thống CM vẻ vang, đó là:

+ Truyền thống yêu nước nồng nàn; gắn bó thiết tha, tuyệt đối trung thành với Đảng, với tổ quốc, với nhân dân, với chế độ XHCN; một lòng một dạ đi theo Đảng, quyết tâm đưa sự nghiệp CM của Đảng đến thắng lợi.

Từ khi ra đời đến nay, khi thuận lợi cũng như lúc khó khăn, khi phong trào lên cao hay tạm thời lắng xuống, Đoàn ta và thế hệ trẻ nước ta luôn luôn trung thành với lý tưởng CM của Đảng, với mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Đoàn TNCS Hồ Chí Minh luôn luôn giáo dục, tổ chức, động viên TN gương mẫu thực hiện những nhiệm vụ CM của đảng trong từng thời kỳ.

Tiêu biểu cho lòng trung thành và tinh thần kiên cường CM của thế hệ trẻ VN là tấm gương sáng ngời của người đoàn viên TN Lý Tự Trọng. Lời tuyên bố đanh thép của anh trước toà án đại hình của thực dân Pháp: " Con đường của TN chỉ có thể là con đường CM. Chứ không thể có con đường nào khác", đã được các lớp đoàn viên sau coi như bản tuyên ngôn của thế hệ mình. Đi theo con đường của Lý Tự Trọng, người con gái đất đỏ anh hùng Võ Thị Sáu đã bước vào pháp trường với tư thế hiên ngang của người chiến thắng. Chị nói: "Vì tổ quốc, vì đồng bào mà hy sinh thì tôi sẵn sàng hy sinh cả tuổi trẻ của mình".

Chính lòng trung thành đó là nguồn gốc tạo nên sức mạnh kỳ diệu, giúp ĐVTN ta làm nên những chiến công vang dội, những sự tích anh hùng, như La văn cầu nhờ đồng đội chặt đứt cánh tay bị thương để tiếp tục chiến đấu; Phan Đinhd giót lấy thân mình lấp lỗ châu mai; nguyễn văn Trỗi còn 9 phút cuối cùng của đời mình vẫn tiến công quyết liệt kẻ thù; Lê Đình Chinh kiên cường "không lùi một bước, khồng nhượng một gang",..và biết bao những ĐVTN khác đã hy sinh cả cuộc đời vì Đảng, vì dân. Ngày nay , truyền thống quí báu này của ĐVTN và tuổi trẻ nước ta càng phải được phát huy để phục vụ công cuộc đổi mới đất nước do Đảng đề xướng và lãnh đạo, vì sự phồn vinh của tổ quốc, vì hạnh phúc của nhân dân.

+ Truyền thống của một lực lượng xung kích CM, luôn luôn nêu cao chủ nghĩa anh hùng và tinh thần sáng tạo, đoàn kết TN cả nước vượt qua mọi khó khăn gian khổ, đón lấy những nhiệm vụ nặng nề với tinh thần:" Đâu Đảng cần TN có, việc gì khó TN làm" và ý thức " Tình nguyện vì cuộc sống cộng đồng".

Là truyền thống của đội quân xung kích cách mạng, dám đón lấy những nhiệm vụ nặng nề, dám đi đến những nơi khó khăn, gian khổ, dám suy nghĩ sáng tạo,..để hoàn thành nhiệm vụ được giao. Thực hiện lời dạy của Bác Hồ: "Đâu cần thanh niên có, việc gì khó thanh niên đi đầu".

Ngay từ những ngày đầu cách mạng, các ĐVTN CS Đông dương đã tỏ rõ vai trò xung kích CM qua các đội " Cận vệ đỏ" trong cao trào Xô Viết- Nghệ tĩnh, trong các cuộc mít tinh biểu tình đòi quyền dân sinh, dân chủ, đấu tranh chống đế quốc và phong kiển.

Hưởng ứng lời kêu gọi của Bác Hồ: " Thà hy sinh tất cả chứ không chịu mất nước, không chịu làm nô lệ", hàng vạn ĐVTN đã xung phong tòng quân giết giặc, tham gia dân quân du kích, đóng góp hàng triệu ngày công phục vụ tiền tuyến, cùng với toàn đảng, toàn dân làm nên Điện biên phủ " chấn động địa cầu". Vai tò xung kích CM của ĐV,TN cũng thể hiện đậm nét trong xây dựng đất nước, khôi phục và phát triển kinh tế ở miền Bắc từ sau năm 1954. Hàng ngàn ĐVTN đã tham gia tích cực vào phong trào "xung phong tình nguyện vượt mức kế hoạch 5 năm lần thứ nhất".

Trong kháng chiến chống Mỹ giành độc lập tự do cho đất nước, lớp lớp ĐVTN đã tiếp bước cha anh" vai trăm cân, chân ngàn dặm", khắc ghi trong lòng lời thề cao cả:

" Đời chưa hết giặc là ta chưa về".

Dưới sự lãnh đạo của Đảng,Đoàn TN đã động viên tuổi trẻ cả nước tham gia sôi nổi phong trào " Ba sẵn sàng". " năm xung phong", cùng toàn Đảng, toàn dân làm nên chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất tổ quốc.

Sau năm 1975, thông qua phong trào "ba xung kích làm chủ tập thể" và các chương trình hành động thực hiện ba chương trình kinh tế lớn của Đảng, Đoàn TN đã động viên tuổi trẻ đến với những công trình trọng điểm của đất nước như: Sông Đà, Trị An,.. xung phong nhận những việc khó, tiếp tục phát huy truyền thống quang vinh để chiến thắng nghèo nàn lạc hậu, làm giàu cho đất nước,quê hương và cho bản thân mình.

Từ năm 2000 đến nay, hưởng ứng lời kêu gọi của Đảng đối với TN :"…tình nguyện xông pha đem ý chí và hoài bảo CM hoàn thành bất cứ nhiệm vụ khó khăn nào mà Đảng và Nhà nước giao cho….",Đoàn TNCS Hồ Chí Minh đã "lên rừng, xuống biển" đem trí lực tuổi hai mươi giúp nhân dân Làm vệ sinh môi trường, xoá mù, phòng dịch, mở đường,…. tạo nên những khởi sắc mới trên những vùng sâu, vùng cao còn nhiều gian khó, giục giã những vùng quê còn nghèo nàn lạc hậu vươn lên theo kịp tiến trình CNH,HĐH quê hương, đất nước.

+ Truyền thống gắn bó đoàn kết trong lớp người cùng lứa tuổi, trong các tổ chức Đoàn và Hội; đoàn kết gắn bó với nhân dân; thương yêu giúp đỡ lẫn nhau trong hoạn nạn, dặc biệt là vào những thời điểm phải đối mặt với kẻ thù hay thiên tai. đoàn kết dân tộc và đoàn kết quốc tế luôn hoà quện với nhau, thông cảm và đồng tâm hợp lực vì những mục tiêu cao cả của dân tộc và thời đại.

+ Truyền thống không ngừng học tập và rèn luyện để nâng cao trình độ mọi mặt, xứng đáng là những chủ nhân tương lai của đất nước.

Đó là truyền thống hiếu học, ham hiểu biết để tự mình nâng cao trình độ chính trị, văn hoá, khoa học kỹ thuật, quản lý và quân sự,…say mê sáng tao trong hoạt động thực tiễn, để cống hiến cho sự nghiệp của dân tộc và của Đảng. Học ở nhà trường, học trong cuộc sống, học để làm người có ích cho xã hội luôn được các thế hệ thanh niên ta phấn đấu thực hiện ngày càng tốt hơn.

Trong những năm đấu tranh CM lúc bí mật, lúc công khai, biết bao cán bộ, ĐVTN đã khắc phục mọi khó khăn, gian khổ để học tập, học tư tưởng CM, học chỉ thị , nghị quyêt của Đảng, học kinh nghiệm đấu tranh. Nhiều đoàn viên đã biến nhà tù thành trường học.

Sau khi Đảng giành được chính quyền, bắt tay vào xây dựng xã hội mới, hàng triệu ĐVTN đã ra sức học tập văn hoá, khoa học kỹ thuật, chính trị chuyên môn nghiệp vụ,… để dáp ứng những yêu cầu mới của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước.

Những truyền thống tốt đẹp trên đây là tài sản vô giá, là nguồn động lực tinh thần to lớn của Đoàn ta và thế hệ trẻ nước ta. Đánh giá đúng những công lao to lớn và cống hiến xuất sắc của Đoàn, của phong trào TN, Nhà nước ta đã trao tặng Đoàn và thế hệ trẻ những phần thưởng cao quý: Huân chương lao động, Huân chương Hồ Chí Minh, Huân chương Sao vàng.

IV, Câu 4: Bạn hiểu như thế nào là "Sống đẹp- sống có ích"? Bạn hãy kể thật ngắn gọn một hành động, việc làm của bạn hoặc người thân của bạn mà bạn cho rằng đó là " Sống đẹp - sống có ích"?

Gợi ý trả lời:

* KN đẹp và sống đẹp:

KN cái đẹp: Chúng ta đã biết " Cái đẹp là một phạm trù mỹ học cơ bản, giữ vị trí trung tâm trong quan hệ thẩm mỹ giữa con người và hiện thực, bao chứa các quan hệ chân- thiện- ích, xuất phát từ thực tiễn, tồn tại dưới hình tượng toàn vẹn, cân xứng, hài hoà, gây dược khoái cảm thẩm mỹ tích cực đối với chủ thể xã hội.( các quan hệ đạo đức, phắp luật, chính trị đặt trên nền tảng cái đẹp sẽ mang lại hiệu quả đúng đắn trong đời sống xã hội. Mỗi nhân cách nếu được cái đẹp định hướng thì nó sẽ phát triển hoà hợp giữa cá nhân và cộng đồng, nó sẽ hoà mình vào xã hội và cái ích kỷ sẽ được khắc phục).

"Do cái đẹp có bản chất xã hội của nó, cho nên sự cân xứng hài hoà về mặt thẩm mỹ là sự phù hợp, sự ăn khớp trong bản thân sự vật và quan hệ của sự vật với hoàn cảnh chung quang nó. Hình tượng hài hoà trong lĩnh vực thẩm mỹ là sự tổng hợp các tác động qua lại giữa các giá trị và các phản giá trị thẩm mỹ tạo thành một xu hướng phát triển gắn bó với quá trình hoàn thiện, với lý tưởng xã hội tích cực, với sức sống và sự phát triển toàn diện của cuộc sống".

"Do cái đẹp có bản chất xã hội của nó, cho nên sự cân xứng hài hoà về mặt thẩm mỹ là sự phù hợp, sự ăn khớp trong bản thân sự vật và quan hệ của sự vật với hoàn cảnh chung quang nó. Hình tượng hài hoà trong lĩnh vực thẩm mỹ là sự tổng hợp các tác động qua lại giữa các giá trị và các phản giá trị thẩm mỹ tạo thành một xu hướng phát triển gắn bó với quá trình hoàn thiện, với lý tưởng xã hội tích cực, với sức sống và sự phát triển toàn diện của cuộc sống".

Theo quan niệm của chủ nghĩa Mác-lê nin: Cái đẹp ra đời từ lao động, gắn bó chặt chẽ với cái thật, cái tốt và cái có ích.

Xa rời cái thật không thể có cái đẹp, đối lập với cái thật không thể có cái đẹp; đối lập với cái thật, cái đẹp sẽ thiếu vắng nội dung, không có cái đẹp chân chính nào lại không có ích, Cái thật, cái tốt, cái có ích phải gắn liền với các hình tượng sinh động mới là cái mỹ. Cái mỹ với tư cách là cái đẹp, đó là một cái mỹ đặc trưng bởi tính hài hoà của nó.

Có thể nói: Cái cao cả là một phạm trù mỹ học cơ bản thể hiện sức mạnh bản chất của con người trong quan hệ thẩm mỹ, nó mang giá trị cái đẹp mạnh hơn, gần gũi với lý tưởng xã hội rộng rãi hơn. (trích sách  Mỹ học MLN- chương trình cử nhân chính trị, Học viện chính trị quốc gia Hồ Chí Minh).

KN sống đẹp: con người sống đẹp là sống có đạo đức, sống có lý tưởng, hoài bảo cao cả, sống theo lẽ sống" mình vì mọi người, mọi người vì mình", sống phấn đấu vươn tới hoàn thiện những đức tính của con người mới XHCN:

- Có tinh thần yêu nước, tự cường dân tộc, phấn đấu vì độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, có ý chí vươn lên đưa đất nước thoát khỏi nghèo nàn lạc hậu, đoàn kết với nhân dân thế giới trong sự nghiệp đấu tranh vì hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội.

- Có ý thức tập thể, đoàn kết, phấn đấu vì lợi ích chung.

- Có lối sống lành mạnh, nếp sống văn minh, cần kiệm, trung thực, nhân nghĩa, tôn trọng kỹ cương phép nước, qui ước của cộng đồng; có ý thức bảo vệ và cải thiện môi trường sinh thái.

- Lao động chăm chỉ với lương tâm nghề nghiệp, có kỹ thuật, sáng tạo, năng suất cao vì lợi ích của bản thân, gia đình, tập thể và xã hội.

Không ngừng học tập nâng cao hiểu biết, trình độ chuyên môn, trình độ thẩm mỹ và thể lực.

* Sống có ích: là sống vươn lên đáp ứng lợi ích chính đáng, hợp pháp của bản thân, gia đình và xã hội(tập thể, nhân dân, quê hương đất nước,…), cụ thể:

- Sống đem lại lợi ích cho bản thân, gia đình.

- Sống đem lại lợi ích cho tập thể, đoàn thể, nhân dân.

- Sống đem lại lợi ích cho quê hương, đất nước.

- Sống đem lại lợi ích chân chính của các dân tộc trên thế giới.

* Người TN "Sống đẹp- sống có ích": Phải là người sống đẹp, sống có ích, sống có lý tưởng và đạo đức CM, có lối sống văn hoá, có ý chí tự tôn, tự cường dân tộc, có trình độ học vấn, giỏi về chuyên môn, nghề nghiệp; có sức khoẻ tốt; có năng lực tiếp cận, tiếp thu và sáng sáng tạo công nghệ mới; có ý chí chiến thắng nghèo nàn, lạc hậu; có ý thức" tình nguyện vì cộng đồng"; phấn đấu vì mục tiêu: Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.

* Để " Sống đẹp- sống có ích" mỗi đoàn viên,TN cần phải:

- Trau dồi về lý tưởng, rèn luyện đạo đức. Sống có văn hoá, chấp hành nghiêm chỉnh các chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước; gương mẫu trong cộng đồng làm tròn bổn phận của người công dân.

- Tích cực học tập nâng cao trình độ về chính trị, học vấn, chuyên môn, nghiệp vụ. Ra sức nâng cao tay nghề, kỹ năng lao động, trình độ ngoại ngữ, tin học, vươn lên nắm vững hoa học, kỹ thuật cộng nghệ.

- Hăng hái tham gia các hoạt động tìnhnguyện, ngày thứ bảy tình nguyện; tham gia các đội hình tình nguyện, trí thức trẻ tình nguyện, sẵn sàng đảm nhận việc khó, việc mới, những vấn đề bức xúc; chủ động tham gia phát triểnkinh tế- xã hội, giữ gìn quốc phòng, an ninh ở mỗi địa phương, đơn vị.

- Phấn đấu nâng cao chất lượng của người đoànviên; tích cực tham gia các hoạt động của mình với hoạt động của tập thể thanh niên nơi mình sống hoặc công tác

Người đoàn viên trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước trước hết phải là:

- Người công dân tốt, học tập, lao động giỏi.

- Người bạn tốt của thanh niên.

- Là tấm gương tốt của thiếu nhi.

Là người có uy tín trong tập thể, thanh niên và cộng đồng dân cư.

  •  

Vì vậy chúng ta phải Giáo dục hệ thống giá trị đạo đức nhân văn cho thanh niên: đó là quá trình tổ chức hoạt động giáo dục bằng nhiều con đường, biện pháp giúp mọi người hiểu biết hệ thống giá trị đạo đức, nhân văn theo yêu cầu phát triển của xã hội và giúp mọi người tự giác, có nhu cầu thực hiện những chuẩn mực đó( Giá trị nhân văn là những giá trị chung bảo đảm cho sự tồn tại, sống và phát triển chung cho mọi người, mọi dân tộc, mọi quốc gia. Giá trị là sự thừa nhận của con người với một đối tượng nào đó mà họ cho là có ý nghĩa, cần thiết, ích lợi và đáng yêu. Hệ giá trị là những giá trị được sắp xếp theo một hệ thống với những nguyên tắc nhất định.).

Những nội dung giáo dục giá trị đạo đức nhân văn( Theo hội nghị giáo dục tổ chức tại Philippin 3/1994 " Chuẩn bị kỹ họp thứ 44 của Đại hội đồng quốc tế về giáo dục", được thể hiện ở nội dung của 8 nhóm giá trị sau:

+ Những giá trị liên quan đến quyền con người: đảm bảo bình đẳng, công lý, yêu mến và chăm sóc, bảo vệ quyền trẻ em, quyền phụ nữ, quyền được lao động.

+ Những giá trị dân chủ: quyền tham gia vào các hoạt động, tín ngưỡng và tự do ngôn luận.

+ Những giá trị liên quan đến hợp tác và hoà bình: chung sống hoà bình, yêu hoà bình và sự hài hoà, không bạo lực, phụ thuộc lẫn nhau, hiểu biết lẫn nhau, hợp tác, tôn trọng lẫn nhau giữa các dân tộc, tăng cường hiểu biết quốc tế, văn hoá hoà bình và hợp tác.

+ Những giá trị liên quan đến bảo vệ môi trường: bảo vệ bền vững môi trường, thống nhất giữa con người và tự nhiên.

+ những giá trị liên quan đến sự bảo tồn các nền văn hoá.

+ Những giá trị liên quan đến bản thân và người khác: Tin cậy lẫn nhau, sáng tạo, ân cần, khôn ngoan, ngay thẳng, sẵn sàng tiếp thu cái mới, can đảm, thật thà, hài hước, tự lực, tự trọng, tuân thủ kỷ luật, chân thành, tự trọng và tôn trọng người khác, sống hài hoà, khoan dung, khiêm tốn, tinh thần trách nhiệm, quan tâm lịch sự, thiện cảm, biết ơn, chia sẻ, hoà giải, đoàn kết đồng cảm, tiết kiệm, giản dị, ngay thẳng, thân mật.

+ Những giá trị liên quan đến tinh thần dân tộc: lòng yêu nước, bình đẳng giữa các dân tộc, hiểu biết quyền và nghĩa vụ giữa các dân tộc.

+ Những giá trị tâm linh: Tôn trộng tín ngưỡng tôn giáo của người khác, đối xử bình đẳng với mọi tôn giáo.

Theo nghiên cứu của các nhà giáo dục Việt nam( Đề tài KX07-04), những gía trị cần giáo dục cho TTN, học sinh- sinh viên là:

1, Hoà bình, ổn định, an ninh của đất nước.

2, Độc lập và thống nhất tổ quốc.

3, Tự do và dân chủ.

4, Lòng nhân đạo, sống tình nghĩa, đoàn kết tương trợ.

5, Truyền thống hiếu học, tôn sư, trọng đạo, trọng hiền tài, học vấn.

6, Những giá trị nghề nghiệp: Tri thức, kỹ năng, phẩm chất nghề nghiệp.

7, Tình yêu và cuộc sống gia đình.

8, Sức khoẻ cá nhân và cộng đồng.

9, nếp sống cần kiệm, có kỷ luật, pháp luật.

10, Những giá trị về giới.

Những giá trị trên sẽ được cụ thể hoá phù hợp với đặc thù của từng đối tượng.

( Trích giáo trình Đề cương môn học giáo dục học- Khoa sư phạm- Trường Cao đẳng sư phạm kỹ thuật Nam định- trang 39; 40).

Và chúng ta phải giáo dục lối sống, lẽ sống, nếp sống XHCN cho TN:

" Lối sống là sự thể hiện đời sống thông qua các cách thức và hình thức hoạt động xã hội theo nhưngx lý tưởng nhất định. Lối sống của chúng ta là lối sống XHCN thể hiện một mặt của nền văn hoá mới XHCN. Cùng một nội dung với lối sống nhưng sống như thế nào, bằng cách nào đó là lối sống, nói cách khác lối sống là văn hoá của đời sống".

Lẽ sống: là sự định hướng của lối sống, là khát vọng, là lý tưởng, là ý chí dẫn dắt toàn bộ con người sống như thế nào, sống để làm gì, sống cho cá nhân mình hay cho đất nước, đó là những vấn đề cơ bản của lẽ sống. Lẽ sống của chúng ta hiện nay là tất cả vì tổ quốc XHCN, vì hạnh phúc của nhân dân.

Nếp sống : Chính là mặt ổn định, là chiều sâu của lối sống, tất cả những cáhc thức làm ăn, suy nghĩ, đối xử đã được mọi người trong xã hội thừa nhận là đúng và đều làm theo như thế được, lắp đi , lắp lại lâu ngày, lâu đời thành thói quen xã hội, thành phong tục tập quán, thành thể chế luân lý, pháp luật của toàn xã hội, của cả một thời và có khi truyền từ đời này sang đời khác; đó là nếp sống.

Nếp sống XHCN mà chúng ta đang xây dựng là nếp sống thấm nhuần nguyên tắc" Mọi người vì mỗi người, mỗi người vì mọi người". Nếp sống mới gắn liền trách nhiệm, nghĩa vụ. Nó đòi hỏi từng người phải hiểu rằng: lợi ích riêng nằm trong lợi ích chung, cần cù lao động xây dựng CNXH, bảo vệ tổ quốc tôn trọng pháp luật, giữ gìn trật tự an ninh không chỉ là trách nhiệm của mỗi người mà còn là nghĩa vụ được thực hiện một cách tự giác.

* Gương TN " sống đẹp- sống có ích": ………(tự viết thêm gương)……

Câu 5: Từ thực tế học tập, lao động, công tác của mình bạn có đề xuất gì để xây dựng tổ chức Đoàn, Hội vững mạnh, mở rộng mặt trận tập hợp, đoàn kết TN; phát huy vai trò của tuổi trẻ trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.

Gợi ý trả lời:

1, Giải pháp xây dựng tổ chức đoàn, Hội vững mạnh:

- Làm tốt công tác tuyên truyền, giáo dục ĐVTN( với những giải pháp hữu hiệu nhằm đổi mới nội dung, hình thức, phương pháp tuyên truyền, giáo dục TN):

* Những giải pháp mới cụ thể cho công tác t­­ư tư­­ởng và công tác tuyên truyền- giáo dục của Đoàn trong giai đoạn mới:

1, Giải pháp công tác tư­­ t­­ưởng:

- Nhạy bén và kịp thời nắm bắt tình hình t­­ư tư­ởng TN và định hư­ớng t­ư t­ưởng choTN; tạo môi tr­­ường cho TN thể hiện t­­ t­­ởng( qua sinh hoạt, toạ đàm, diễn đàn, đối thoại, sinh hoạt câu lạc bộ,...)

- Xây dựng đội ngũ, mạng lư­ới nắm tình hình t­ư tư­ởng: cán bộ tuyên huấn, báo cáo viên, tuyên truyền viên, phóng viên, cộng tác viên,..

- Qui định chế độ thông tin báo cáo hai chiều về tình hình t­ư t­ưởng TN: Báo cáo, họp giao ban t­ư t­ưởng,…

- Kịp thời tuyên truyền- giáo dục định h­ướng t­ư t­ưởng cho TN, quan tâm giải quyết những vấn đề bức xúc trong tư­ tư­ởng TN.

2, Giải pháp về công tác tuyên truyền- giáo dục:

a, Xây dựng nội dung tuyên truyền- giáo dục đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ, ngang tầm thời đại, phù hợp điều kiện và nhu cầu, tâm lý TN; phù hợp khả năng của đội ngũ làm công tác tuyên truyền- giáo dục.

b, Xây dựng kế hoạch, ch­ương trình tuyên truyền- giáo dục để tranh thủ đ­ược hiệu quả, tác dụng của những thời điểm tuyên truyền, sự quan tâm của cấp uỷ Đảng và chính quyền, các ngành, các đoàn thể có điều kiện quan tâm tạo điều kiện phối hợp, giúp đỡ với xu h­ướng xã hội hoá công tác tuyên truyền- giáo dục TTN.

c, Xây dựng đội ngũ, hệ thống cán bộ làm công tác tuyên truyền- giáo dục và lực l­ượng nòng cốt trong tuyên truyền- giáo dục.

- Báo cáo viên, giảng viên, tuyên tuyền viên, cán bộ tuyên truyền,.. làm tốt công tác tuyên truyền miệng.

- Nhóm truyền thông, đội thông tin tuyên truyền, đội tuyên truyền lư­u động,…

- Nhóm ca khúc chính trị, nhóm tuyên truyền ca khúc CM, đội l­ưu diễn; nhóm sáng tác, biểu diễn tiểu phẩm tuyên truyền,…

- Đội ngũ phóng viên, biên tập viên( không chuyên).

d, Giải pháp về tài liệu tuyên truyền, ph­ương tiện tuyên truyền- giáo dục:

- Tài liệu trên cung cấp.

- Tài liệu tự nghiên cứu, biên soạn.

- Có phư­ơng tiện tuyên truyền- giáo dục: bảng đen, loa đài, âm ly, băng casset, băng VIDEO, đĩa VCD,…

- Xây dựng chuyên mục phát thanh TN, truyền hình TN, nội san TN, chuyên trang TN trên Báo, thông tin công tác Đoàn, thông tin tình nguyện,…

đ, Giải pháp xây dựng môi trư­ờng giáo dục:

- Câu lạc bộ TN, Nhà truyền thống, Nhà văn hoá,..

- Xây dựng làng văn hoá, làng TN, cơ quan văn hoá,…

- Xây dựng môi tr­ường tuyên truyền:

Có bảng tin, khẩu hiệu, cụm pa nô áp phích tuyên truyền, hệ thống phts thanh, đầu chiiêú VIDEO, chiếu đĩa VCD; th­ư viện, phòng đọc, tủ sách TN, PHòng truyền thống TN, phòng truy cập In tenet,…

e, Các biện pháp nâng cao hiệu quả tuyên truyền- giáo dục:

- Nâng cao chất l­ượng tài lỉệu tuyên truyền: biên soạn cô đọng, tinh gọn dễ học, dễ hiểu, phù hợp đặc điểm tình hình TN đơn vị, địa phư­ơng, cụ thể hoá nội dung tuyên truyền- giáo dục ở địa ph­ơng,…

- Tập huấn nâng cao trình dộ, trang bị nội dung tuyên truyền- giáo dục mới, ph­ương pháp tuyên truyền- giáo dục mới cho báo cáo viên, tuyên truyền viên, cán bộ tuyên truyền,…

- Lựa chọn loại hình tuyên truyền - giáo dục sinh động, sáng tạo, phù hợp điều kiện, nhu cầu, tâm lý TTN,…

- Lựa chọn ph­ương pháp, hình thức tuyên truyền- giáo dục: Diễn thuyết, vấn đáp gợi mở, nêu vấn đề, kể chuyện, nói chuyện, đối thoại,..( phải soạn giáo án, chuẩn bị tài liệu đầy đủ, ph­ương tiện tuyên truyền phù hợp tr­ước khi tuyên truyền- giáo dục.)

- Xây dựng đ­ược mô hình mới trong công tác tuyên truyền- giáo dục ( xây dựng đơn vị điển hình làm tốt công tác tuyên truyền- giáo dục).

- Tuyên truyền- giáo dục phải đi đôi với kiểm tra nhận thức, tạo môi tr­ờng, tổ chức phong trào hành động để TN thể, phát huy nhận thức mới.

- Phải nắm chắc trình độ, khả năng nhận thức, nhu cầu, tâm lý TTN tr­ớc khi tuyên truyền- giáo dục đóng góp ý kiến về nội dung, ph­ương pháp, hình thức tuyên truyền- giáo dục để điều chỉnh cho phù hợp.

2, Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ Đoàn, Hội các cấp( nhất là cấp cơ sở):

+ Tăng cường đào tạo bồi dưỡng đội ngũ cán bộ về nghiệp vụ công tác Đoàn,Hội; kiến thức về văn hoá- xã hội, kinh tế, khoa học kỹ thuật, công nghệ mới,…

+ Quan tâm đúng mức quyền lợi cán bộ về: chính trị, học tập, chế độ chính sách,…

+ Quán triệt NQ4 của BCH TƯ Đảng khoá VII về " Công tác TN trong thời kỳ mới" tạo cơ chế, chính sách, môi trường thuận lợi để đội ngũ cán bộ đóng góp cống hiến, rèn luyện phấn đấu trưởng thành.

+ Giải quyết tốt "đầu vào", "đầu ra" cho đôi ngũ cán bộ Đoàn, Hội.

+ Tạo điều kiện cho cán bộ Đoàn, Hội xây dựng, thực hiện KHHGĐ an tâm công tác.

- Xây dựng một hệ thống tổ chức Đoàn,Hội cơ sở sau rộng, năng động, hoạt động phù hợp nhu cầu, tâm lý TN và yêu cầu nhiệm vụ chính trị của Đoàn, Hội gắn với đổi mới nội dung phương thức hoạt động, hình thức, nội dung sinh hoạt chi đoàn, chi hội, CLB TN, các đội hình TN,…

- Quán triệt thực hiện NQ4 của BCH TƯ Đảng khoá VII của đảng xây dựng một cơ chế thống nhất phối hợp chặt chẽ, nhịp nhàng, thường xuyên trong hệ thống chính trị để phối hợp làm tốt công tác vận động TN.

………….V.V.V……………………..

2, Mở rộng mặt trận tập hợp đoàn kết TN, phát huy vai trò của tuổi trẻ trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước:

- Nắm vững yêu cầu nhiệm vụ chính trị của Đoàn, Hội.

- Nắm chắc nhu cầu, tâm lý, thị hiếu, trình độ, khả năng , điều kiện của TN.

- Xây dựng một hệ thống cơ sở Đoàn, Hội sâu rộng, năng động, hoạt động phù hợp nhu cầu tâm lý, thị hiếu, trình độ TN, yêu cầu nhiệm vụ chính trị; chi đoàn, chi hôi, CLB TN, đội TN tình nguyện,…

- Chú trọng đổi mới nội dung, hình thức tuyên truyền vận động TN đi đôi với tổ chức được các loai hình hoạt động có sức thu hút TN gắn với quan tâm giải quyết những vấn đề khó khăn bức xúc của TN như: việc làm, đời sống, nơi vui chơi giải trí, tình yêu, hôn nhân hạnh phúc gia đình, phòng chống TNXH, Chính sách TN, thực hiện Luật TN,…

- Tổ chức được các mô hình hoạt động phù hợp nhu cầu, tâm lý, thị hiếu, khả năng, điều kiện TN góp phần xung kích tham gia thực hiện thắng lợi nhiệm vụ chính trị, mục tiêu kinh tế- văn hoá- xã hội, ANQF của địa phương, đơn vị.

- Tạo môi trường thuận lợi cho học tập, nghiên cứu, học nghề, tiếp thu ứng dụng tiến bộ KHKT, công nghệ mới vào SXKD, cỗ vũ TN lao động sáng tạo phát huy vai trò xung kích đi đầu trong phát triển kinh tế-xã hội, trong sự nghiệp CNH,HĐH.

- Đẩy mạnh các hoạt động phát hiện, tuyển chọn, đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng tốt tài năng trẻ trên các lĩnh vực; xây dựng các quỹ hỗ trợ tài năng trẻ, tham gia xây dựng và thực hiện các chính sách nhà nước về tài năng trẻ.

- Tổ chức phát động trong TN các phong trào, các cuộc vận động học tập, lao động sáng tạo, phát huy sáng kiến cải tiến kỹ thuật, ứng dụng công nghệ mới vào SXKD, xây dựng mô hình mới trong SXKD; đi đầu trong nghiên cứu KHKT,…

- Tổ chức tổng kết các mô hình, điển hình để rút kinh nghiệm nhân điển hình, mô hình tiên tiến trong công tác Đoàn, Hội; trong SXKD,……..

 

 

17