DMCA.com Protection Status

Danh mục bài viết

Cá mè hoa  quan tâm

Được đăng bởi: Đỗ Thị Thu Hòa

Cập nhật lúc 13:42 ngày 26/12/2017

Cá mè hoa

Cá mè hoa


Cá mè hoa

Tên tiếng anh: Bighead Carp

Tên khoa học: Aristichthys nobilis

Tên khác:Cá Mè hoa, cá Mè đen

PHÂN LOẠI

Ngành:Chordata

Lớp:Actinopterygii

Bộ:Cypriniformes

Họ:Cyprinidae

Giống:

Loài:Aristichthys nobilisRichardson. 1844

Cá mè hoa

ĐẶC ĐIỂM

Cá mè hoa (Aristichthys nobilis) khác với cá mè trắng (Hypophthalmichthys nobilisBleeker, 1850)

Thân dài, mình dầy, phần trước tương đối cao. Đầu rất to, dài. Mắt thấp dưới đường trục đầu. Khoảng cách 2 mắt rất rộng. Miệng rất rộng, ở phía trước, hướng xiên, rạch kéo dài xuống tới viền mắt. Mõm tròn tầy. Môi mỏng. Lỗ mũi to. Khoảng giữa 2 lỗ mũi rất rộng. Lược mang dài, xếp dầy nhưng không liền nhau. Răng hầu có mặt răng hẹp, trơn láng.

Khởi điểm vây lưng sau khởi điểm vây bụng. Các vây đều không có gai cứng. Vây ngực kéo dài quá gốc vây bụng. Vây bụng dài gần tới vây hậu môn. Vây hậu môn viền sau lõm. Vây đuôi dài, phân thùy sâu. Hậu môn sát vây hậu môn.

Vảy tương đối mỏng, nhỏ, xếp khít nhau. Đường bên ở phía trước cong xuống, đến giữa vây bụng nằm giữa thân. Lườn bụng từ sau vây bụng đến hậu môn nổi rõ ràng.

Đốt sống toàn thân 37-38. Bóng hơi 2 ngăn, ngăn trước to và ngắn, ngăn sau nhỏ, đầu nối nhau.

Lưng và thân cá màu xanh thẫm có nhiều điểm chấm lớn xanh đen rải rác khắp thân nên còn gọi là cá Mè đen hay cá Mè hoa.

PHÂN BỐ

 Trong nước: cá Mè hoa sống trong tự nhiên ở sông Kỳ Cùng (Lạng Sơn) thuộc hệ thống sông Tây Giang (Quảng Tây – Trung Quốc). Cá Mè hoa được nuôi dưỡng hiện nay là cá nhập từ Trung Quốc năm 1958 đã phát triển nuôi trong cả nước và trở thành nguồn lợi tự nhiên ở nhiều sông.

Thế giới: cá Mè hoa thuộc khu hệ cá Hoa Nam Trung Quốc và kéo dài tới sông Kỳ Cùng – Việt Nam. Cá cũng được di nhập nuôi ở một số nước Châu Âu và Châu Á.

TẬP TÍNH

Tập tính sinh sống: Cá Mè hoa thích sống ở tầng giữa và tầng trên, tính ôn hòa. Chúng thích bơi thành đàn, hoạt động chậm chạp nên dễ bị đánh bắt. Cá ưa sống ở nơi nước màu mỡ có nhiều động vật phù du, giàu dưỡng khí.

Sinh trưởng: Cá Mè hoa là loại cá có kích thước lớn, con lớn nhất bắt được ở hồ Thác Bà tới 40-50kg, còn ở Trung Quốc có con tới 60kg. Cá Mè hoa rất chóng lớn. Về chiều dài cá tăng nhanh từ năm thứ nhất đến năm thứ 3, còn về khối lượng tăng nhanh từ năm thứ 2 đến năm thứ 7.

Khi nuôi trong ao với mật độ thưa cá lớn nhanh, sau một năm nặng1,0-1,5kg, có con nặng 2-2,5kg; 2-3 năm nặng 4-6kg. Cá thả nuôi ở hồ Thác Bà những năm đầu ngập nước 1 tuổi nặng 2,8kg; 2 tuổi nặng 6,3kg, còn ở hồ Cấm Sơn Bắc Giang cá 3 tuổi nặng 20kg.

Cá Mè hoa ở sông Hồng năm thứ nhất dài 24,7cm, năm thứ 2 dài 56,6cm, năm thứ 3 dài 76,3cm và nặng tới 10,2-12kg.

SINH SẢN

Cá Mè hoa phát dục lần đầu khi cá đực 2 tuổi dài 53cm, nặng 2,5kg và cá cái dài 60cm, nặng 3,5kg. Sức sinh sản của cá Mè hoa khá cao:

Chiều dài cá (cm)

Khối lượng cá (kg)

Sức sinh sản (hạt)

Số trứng/1g cá (hạt)

43

1,15

255.000

152

65

5,0

1.321.750

205

83

8,0

1.325.000

175

Kết quả theo dõi nhiều lần cho cá Mè hoa sinh sản nhân tạo cho thấy cá cái 4-6kg thường đẻ được 40-50 vạn trứng, cá 9-10kg thu được 60-80 vạn trứng.

Mùa sinh sản tự nhiên của cá ở sông Hồng từ cuối tháng 4-6 nên từ đầu tháng 5 đã vớt được cá Mè hoa bột ở vùng hạ lưu. Mùa cá Mè hoa đẻ nhân tạo từ cuối tháng 2 và rộ nhất là tháng 3 và hết tháng 6. Nếu tiếp tục nuôi vỗ trong ao thì sau 48-58 ngày cá có thể đẻ lần thứ 2. Bãi đẻ của cá Mè hoa ở sông Hồng tập trung ở trung lưu từ thị xã Yên Bái lên đến thác Rãnh Cày xã Mậu Đông huyện Văn Yên tỉnh Yên Bái.

HIỆN TRẠNG

Cá Mè hoa là đối tượng cá kinh tế. Cá được nuôi ở trong ao đầm, hồ, hồ chứa khắp toàn quốc. Đặc biệt là trong các hồ chứa nước, mặt thoáng rộng, thức ăn động vật phù du nhiều, cá lớn rất nhanh. Ở hồ Thác Bà (Yên Bái) đã bắt được cá Mè hoa có con tới 40-50kg/con. Cá Mè hoa được thả vào sông Hồng năm 1967. Cá đã tự sinh sản được và trở thành đối tượng kinh tế tự nhiên của sông.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. http://nbc.org.vn/chi-tiet-bai-viet/575/ca-me-hoa.html

2. Nguyễn Văn Hảo, Ngô Sỹ Vân 2001. Cá nước ngọt Việt Nam (tập 1: họ cá Chép Cyprinidae). NXB Nông Nghiệp, tr.187-190.

3. https://www.chytej.cz/atlas-ryb/tolstolobec-pestry/

3. https://tepbac.com/technical/full/307-Ky-thuat-nuoi-ghep-ca-me-hoa-dat-nang-suat-cao.htm

22/12/2017

NIMDA TH