DMCA.com Protection Status

Hội nghị Khoa học về Đa dạng sinh học: Các loài động vật hoang dã nguy cấp quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ, thực trạng và giải pháp bảo tồn ở Việt Nam .  quan tâm

Được đăng bởi: Ẩn danh

Cập nhật lúc 10:25 ngày 28/12/2017

  GS.TS KH. Đặng Huy Huỳnh

Chủ tịch Hội động vật học Việt Nam

ThS. Đặng Huy Phương

Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật

Mở Đầu

Nguồn tài nguyên động vật hoang dã đang phân bố trên khắp các lục địa chưa được sự ấp ủ, chăm sóc, bảo tồn của con người, mặc dù chính các giống, loài hoang dã này đã từng và sẽ mang lại cho loài người nhiều lợi ích vô cùng to lớn. Thực ra cho đến nay chưa có một công trình nghiên cứu khoa học nào lượng giá được hết các ý nghĩa và giá trị cụ thể của từng loài động vật sống hoang dã, đặc biệt các loài động vật quý hiếm trong từng hệ sinh thái. Nhưng tất cả con người đều ý thức được rằng động vật nói chung và tài nguyên động vật rừng nói riêng là một tài sản vô giá của nhân loại.

1. Sự đa dạng của các loài động vật và tình trạng của các loài động vật nguy cấp, quý, hiếm ở Việt Nam.

Lãnh thổ Việt Nam trải dài trên nhiều vĩ tuyến và độ cao, địa hình đa dạng, 3/4 lãnh thổ là đồi núi, nền khí hậu thay đổi từ điều kiện nhiệt đới ở phía Nam đến điều kiện ôn hòa ở vùng núi phía Bắc tạo nên sự đa dạng của hệ sinh thái tự nhiên làm nền tảng cho giới sinh vật phát triển phong phú vì vậy Việt Nam được thế giới công nhận là 1/16 quốc gia trên thế giới có tính đa dạng sinh học cao, trong đó có hệ động vật hoang dã.

Thành phần loài động vật hoang dã ở Việt Nam cho đến nay đã điều tra phân loại thống kê được khoảng 21.125 loài. Trong đó có 7750 loài côn trùng, 1100 loài cá nước ngọt, 2500 loài cá biển, 162 loài lưỡng cư, 296 loài bò sát, 840 loài chim, 310 loài thú, 17 loài thú biển và hàng chục ngàn loài động vật không xương sống phân bổ trong các hệ sinh thái rừng trên đất liền, rừng ngập mặn, đất ngập nước, vùng biển...

Các loài động vật hoang dã nguy cấp, quý, hiếm cần được ưu tiên bảo vệ đã ghi nhận được 418 loài trong Danh lục Đỏ Việt Nam năm 2007 bao gồm: Thú (94 loài); Chim (76 loài); Bò sát (40 loài); Lưỡng cư (14 loài); Cá (89 loài: Cá nước ngọt 36 loài; Cá biển 53 loài); Động vật không xương sống nước ngọt (19 loài); Động vật không xương sống biển (61 loài); Côn trùng ( 25 loài).

 Bảng 1: Nhóm loài động vật và phân hạng nguy cơ tuyệt chủng ở Việt Nam

TT

Nhóm động vật

Sách Đỏ Việt Nam 2007

CR

EX

EW

EN

VU

LRnt

DD

1

Thú

12

3

1

30

32

7

9

2

Chim

11

 

 

17

26

12

10

3

Bò sát

9

 

1

14

16

 

 

4

Lưỡng cư

2

 

 

8

9

 

 

5

4

 

3

29

50

 

3

6

Động vật không xương sống nước ngọt

1

 

 

1

11

1

5

7

Động vật không xương sống biển

6

 

 

9

44

 

2

8

Côn trùng

4

 

 

7

9

 

5

 

  Ghi chú: Bậc phân hạng EX: Tuyệt chủng; EW: Tuyệt chủng ngoài thiên nhiên ; CR: Rất nguy cấp; EN: Nguy cấp; VU: sẽ nguy cấp; LRnt: Ít nguy cấp; DD: Thiếu dẫn liệu.

  

Hình 1. Biểu đồ các bậc phân hạng nguy cấp, quý, hiêm các loài động vật

Hiện trạng các loài động vật hoang dã mặc dù rất đa dạng, phong phú nhưng tình trạng các loài nguy cấp, quý hiếm cũng đáng báo động, nhiều loài đang đứng trước nguy cơ bị tuyệt chủng cao, đặc biệt có nhiều loài đặc hữu (Endemic) ở Viêt Nam như: Voọc mũi hếch (Rhinopithecus avunculus) khoảng 300 cá thể chỉ phân bố ở rừng núi Hà Giang, Tuyên Quang, Bắc Cạn và Thái Nguyên, Voọc đầu vàng (Trachypithecus francoisi poliocephalus) khoảng 70 – 80 cá thể, duy nhất chỉ có ở vùng núi đá VQG Cát Bà (Hải Phòng), Voọc Mông trắng (Trachypithecus.delacouri) chỉ phân bố ở VQG Cúc Phương, khu BTTN Vân Long (Ninh Bình) khoảng 200 cá thể,  Voọc Hà Tĩnh (T.f.hatinhensis) khoảng 500 cá thể chỉ có ở Hà Tĩnh, Quảng Bình (VQG Phong Nha Kẻ Bàng), Gà lôi lam đuôi trắng (Lophora hatinhensis) chỉ phân bố các tỉnh Bắc Trung Bộ, Sóc đen Côn Đảo (Ratufa bicolor condorensis) chỉ có ở đảo Côn Sơn - Côn Đảo (Bà Rịa - Vũng Tàu), Chim Bồ câu (Nicoba) chỉ gặp ở Côn Đảo. Cá Cóc Tam Đảo (Parasometriton deloustali) chỉ phân bố ở vùng núi cao Tam Đảo (Vĩnh Phúc)...

2. Những khó khăn, thách thức trong công tác bảo tồn các loài động vật nguy cấp, quý, hiếm ở Việt Nam.

2.1. Trong lĩnh vực chính sách, thể chế và luật pháp.

- Việc thi hành luật chưa nghiêm mặc dù Việt Nam đã có các Luật và các Nghị định Chính phủ liên quan đến bảo vệ ĐVHD (Luật bảo vệ và phát triển rừng 2004, Luật thủy sản 2003, Luật bảo vệ môi trường 2005 và mới nhất là Luật đa dạng sinh học 2008, các Nghị định 32/2006/NĐ-CP...) Nghị quyết 41/NQ-TW của Bộ Chính trị...

- Việc liên kết các cơ quan quản lý thực thi bảo vệ động vật hoang dã với cơ quan đầu mối chưa chặt chẽ, thường xuyên, công tác quản lý, bảo vệ động vật hoang dã chưa được các ngành, các cấp Chính quyền thật sự quan tâm.

2.2. Trong lĩnh vực bảo tồn:

- Bảo tồn ĐVHD trên cạn, đất ngập nước và vùng biển chưa chú ý lồng ghép trong các chương trình, kế hoạch, dự án của Nhà nước của các Bộ và từng địa phương.

Hiện nay mới chỉ có 65 khu bảo tồn/126 khu đã có Ban quản lý, một số nơi chưa có trụ sở kiên cố, hệ thống các trạm kiểm lâm chưa đảm bảo về số lượng và cơ sở vật chất còn nghèo nàn, hoặc không có.

- Các số liệu điều tra đánh giá chính xác. Sự phân bố về định lượng, các loài quý hiếm trong hệ thống các khu BTTN, các VQG cho đến nay chưa thật đầy đủ và còn khập khiễng, cũng như chưa có được một Ngân hàng dữ liệu về thực động vật hoang dã trong hệ thống các khu bảo tồn thiên nhiên ở Việt Nam.

- Vấn đề thách thức lớn. Việc xác định ranh giới vùng đệm trong mỗi khu BTTN đặc biệt những vùng đệm mà ranh giới hành chính chung với nhiều huyện hoặc nhiều tỉnh chưa được phân định rõ ràng.

- Chính sách đối với lực lượng kiểm lâm làm nhiệm vụ quản lý bảo vệ ĐTVHD còn nhiều điều bất cập, chưa thỏa đáng. Nên cũng có phần ảnh hưởng đến việc thi hành nhiệm vụ, nhất là ở vùng sâu, vùng xa.

- Chưa có chế tài rõ ràng về việc chia xẻ lợi ích một cách công bằng các lợi ích có được từ bảo vệ ĐTVHD.

2.3. Trong việc sử dụng không bền vững nguồn tài nguyên động vật.

- Chưa ngăn chặn được việc khai thác, vận chuyển buôn bán trái phép động vật hoang dã, chưa triệt được tận gốc tình trạng săn bẫy, khai thác hủy diệt các loài ĐVHD. Đặc biệt các loài quý hiếm đang có nguy cơ tuyệt chủng, hàng năm có đến hàng ngàn vụ vi phạm khai thác ĐVHD bừa bãi.

- Chưa quản lý được chặt chẽ tình trạng nuôi nhốt các loài ĐVHD nhất là các loài có nguy cơ tuyệt chủng cao như: hổ, gấu, vượn, voọc....

-  Việc chưa đồng thuận hay thiếu phối hợp chặt chẽ giữa các ngành không liên quan trực tiếp đến ĐDSH như giao thông, thủy lợi, năng lượng, khai thác... Nhưng lại có sự liên quan lớn trong việc góp phần làm suy thoái ĐDSH đến HST, đến các loài ĐVHD.

Nhận thức của cộng đồng địa phương, thậm chí của một số các nhà lãnh đạo quản lý ở địa phương chưa thấy hết được vai trò chức năng quan trọng của ĐVHD trong cuộc sống, trong phát triển kinh tế - xã hội.

- Vấn đề hợp tác quốc tế trong việc kiểm tra kiểm soát vận chuyển buôn bán trái phép động thực vật hoang dã qua biên giới, cũng như vấn đề quan trắc sự di chuyển các loài ĐVHD giữa các nước còn hạn chế.

Những tồn tại khó khăn nêu trên đây đòi hỏi các cấp quản lý có thẩm quyền từ TW đến địa phương cần có sự đổi mới mạnh hơn, cần có cách tiếp cận mới trong công tác quy hoạch, quản lý, bảo tồn phát triển bền vững ĐVHD ở Việt Nam trong những năm đến.

3. Tình trạng suy giảm động vật hoang dã do việc sử dụng không bền vững.

Hiện nay tình trạng phá rừng cùng với việc chuyển đổi một diện tích rừng khộp ở Tây Nguyên sang trồng cao su, cà phê, mít... cũng như việc khai thác lâm sản, ĐVHD ngày càng trở nên trầm trọng. Để chứng minh tốc độ săn bắt, buôn bán động vật hoang dã, chúng ta có thể nhận thấy rằng, giai đoạn trước năm 1990 việc săn bắt, buôn bán động vật hoang dã chỉ mới ở mức sử dụng trong phạm vi địa phương miền núi, chưa thành kinh tế hàng hóa mang tính quốc gia và quốc tế. Khoảng từ năm 1990 đến nay, xu hướng mở rộng thị trường tiêu dùng phục vụ cho khách hạng sang trọng, không ít các viên chức, các nhà quản lý, các ông chủ chỉ muốn nếm của ngon vật lạ, đã khiến việc sử dụng động vật hoang dã đã trở thành quy mô trên toàn quốc. Vì vậy hầu hết các loài động vật hoang dã bị khai thác, săn bắt với tốc độ cao làm đẩy nhanh sự suy giảm cạn kiệt các loài. Hiện có khoảng hơn 200 loài động vật hoang dã, trong đó có hơn 80 loài động vật quý hiếm đang được kinh doanh sử dụng trên thị trường Việt Nam. Phần lớn các loài có nguy cơ bị đe dọa tuyệt chủng. Các loài bị khai thác bất hợp pháp chủ yếu là: rắn, kỳ đà, tê tê, rùa các loại, mèo rừng, hổ, báo, lợn rừng, hươu xạ, nai, khỉ các loại, cầy các loại, gấu, sơn dương, nhím. Nhiều nhất vẫn là các loài rùa, rắn. Tỷ trọng các cá thể được khai thác ở Việt Nam là: Thú rừng chiếm khoảng 20%, rắn chiếm 45%, rùa các loại chiếm 30%, chim 3%, còn lại là các loài khác.

Nếu như trước những năm 1970, rừng còn rất phong phú đa dạng về các loài thú, chim, bò sát như Voi, Tê giác, Hổ, Báo, các loài bò rừng, trâu rừng, các loài Trăn, Rắn... thì ngay nay kể cả khu bảo tồn thiên nhiên, thậm chí Vườn quốc gia, khó mà quan sát được các loài trên. Một số loài động vật lớn trên thực tế hầu như đã bị diệt vong như: Tê giác hai sừng (Dicerorhynus sumatrensis), Heo vòi (Tapia indicus), Vượn tay trắng (Hylobates lar), Cầy nước (Cynogale bennetti). Một số loài khác, số lượng còn quá ít, có thể rất dễ bị tuyệt chủng như các loài hổ (Panthera tigris), tê giác một sừng (Rhinoceros sondaicas), bò xám (Bos sauveli), bò rừng (Bos banteng), bò tót (Bos gaurus), hươu vàng (Cervus porcinus), hươu cà toong (Cervus eldi), hươu xạ (Moschus berezovski), hạc cổ trắng, gà lôi lam mào đen, gà lôi tía, công, trĩ, rùa, sếu đầu đỏ... Chỉ tính từ năm 2000 - 2003 số động vật hoang dã mà cơ quan chức năng đã tịch thu, xử lý do săn bắt, vận chuyển, buôn bán bất hợp pháp trong toàn quốc là 311.686kg (tính theo trọng lượng các loại) và 90.565 cá thể sống.

Bảng 2: Số lượng động vật hoang dã buôn bán trái phép thu được trong bốn năm (2000 - 2003)

      

(Nguồn: Cục kiểm lâm, 2004)

Trong 5 năm gần đây (2005 – 2010) tình trạng săn bắn, bẫy bắt, buôn bán động vật hoang dã ngày càng gia tăng về số vụ vi phạm, điển hình như: 7 cá thể Voi bị giết ở khu vực Đồng Nai; 1 cá thể Tê giác một sừng bị giết ở trong khu vực Vqg Cát Tiên; trên 100 cá thể Voọc chà vá chân đen bị săn bắn ở khu vực Tây Nguyên được vẩn chuyển buôn bán qua biên giới Trung Quốc bị bắt giữ tại Cao Bằng, Bắc Kạn; khoảng trên 100 vụ buôn bán rắn Hổ mang chúa bị các lực lượng chức năng thu giữ.

Việc buôn bán động vật và sản phẩm động vật qua các của khẩu quốc tế cũng diễn ra thường xuyên, Các cơ quan chức năng của Việt Nam đã  đã tịch thu và bán đấu giá 33 tấn Tê tê (con trút), ngày 27/8/2009 Hải quan Hải Phòng phát hiện 2 Container ngà voi Châu Phi, tháng 8/2008 Đội tuần tra hải quân Philippin đã bắt 1 tàu đánh cá Việt Nam (Quảng Ngãi) tại đảo Palawan phát hiện 100 con rùa biển cất giấu trong khoang tàu (1 thuyền trưởng và 12 ngư dân đã bị giam giữ), nhiều vụ buôn lậu sừng tế giác từ Nam Phi về Việt Nam cũng đã bị thu giữ tại Sân bay Nội Bài và sân bay Tân Sơn Nhất.

Các vụ buôn bán xương Hổ trong nước cũng như buôn lậu từ các nước lân cận như Lào, Campuchia, Thái Lan về Việt Nam, cùng gia tăng trong những năm lại đây. Điển hình như vụ Cảnh sát môi trường – Công an Hà Nội đã triệt phá một ổ buôn bán động vật hoang dã quý hiếm, thu giữ 08 bộ xương hổ và nhiều xương sọ, xương bánh chè của loài hổ ngày 16/09/2010.

Theo TS. Nguyễn Văn Song (ĐHNN1 - Hà Nội, 2003). Tổng doanh thu hàng năm do buôn bán bất hợp pháp động vật hoang dã mang lại ước tính 66,5 triệu USD trong đó 21 triệu USD là tiền lãi do buôn bán động vật hoang dã.

Theo tài liệu của Công ước CITES “Trong số các loại hàng hóa buôn lậu, giá trị các loài động vật, thực vật hoang dã buôn bán bất hợp pháp thuộc loại cao nhất (sau ma túy). Chính vì thế những kẻ buôn lậu động vật hoang dã đã sử dụng nhiều hành vi, giả mạo giấy tờ, lẩn trốn sự kiểm tra kiểm soát của cơ quan chức năng, thậm chí chống trả quyết liệt lực lượng thi hành công vụ”.

Trên đây là một số tư liệu để chứng minh việc săn bắt, khai thác động vật hoang dã bất hợp pháp. Còn nếu tính cả khối lượng và chủng loại động vật hoang dã xuất khẩu hợp pháp qua Văn phòng CITES Việt Nam cấp giấy phép thì số lượng động vật hoang dã còn tăng lên nhiều... Đó là tình trạng đáng báo động, nếu tình trạng này không có các biện pháp hữu hiệu để ngăn chặn, chấm dứt thì dự báo đến năm 2020 khi đất nước trở thành một nước công nghiệp hoá – hiện đại hoá thì ngoài tự nhiên sẽ không còn một loài động vật hoang dã nào thuộc diện quý hiếm.

4. Đề xuất các giải pháp bảo tồn các loài động vật nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ.

Việt Nam đã được thế giới công nhận là một trong 16 quốc gia trên thế giới có tính ĐDSH cao. Trong đó có động vật hoang dã, có nhiều loài thực vật động vật đặc hữu, trong thập kỷ cuối thế kỷ XX nhiều loài mới cho khoa học được phát hiện. Điều đó thể hiện còn có những điều tiềm ẩn trong sinh giới ở Việt Nam. Vì vậy việc quản lý, bảo tồn sử dụng bền vững tài nguyên động vật hoang dã ở Việt Nam vô cùng quan trọng và rất có ý nghĩa nhằm thực hiện nghiêm túc Nghị quyết số 41/NQ-TW ngày 15/11/2004 của Bộ Chính trị (khóa IX) cũng như Chỉ thị 29/CT-TW ngày 21/01/2009 của Ban Bí thư (khóa X) và Hướng dẫn số 72/HD-BTGTW ngày 20/3/2009 của Ban TGTW về bảo vệ môi trường trong thời kỳ công nghiệp hoa-hiện đại hoá đất nước.

Để thực hiện mục tiêu bảo tồn và phát triển bền vững ĐDSH trong đó có các loài thực, động vật hoang dã ở Việt Nam chúng tôi đề xuất một số giải pháp cơ bản sau đây:

- Hoàn thiện hệ thống pháp luật và thể chế bảo vệ các loài động vật nguy cấp, quý hiếm:

+ Ban hành Nghị định hướng dẫn thi hành Luật ĐDSH (Luật ĐDSH đã được Quốc hội thông qua tháng 10/2008 và có hiệu lực từ ngày 01/7/2009).

+ Văn bản hướng dẫn thực hiện mục tiêu sử dụng bền vững.

+ Chia sẻ công bằng và hợp lý lợi ích có được từ sử dụng nguồn gen động vật.

+ Xây dựng và ban hành văn bản quy phạm pháp luật, quy định việc lồng ghéo các vấn đề bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm vào kế hoạch của các bộ, ngành, địa phương có liên quan.

+ Cần phân định đầy đủ, rõ ràng nhiệm vụ bảo vệ và phát triển bền vững.

+ Xây dựng quy chế phối hợp liên ngành và trách nhiệm chỉ đạo của cơ quan đầu mối, được Thủ tướng Chính phủ phân công và tạo điều kiện cần và đủ để các địa phương (tỉnh) tự tổ chức quản lý, bảo vệ động vật hoang dã, gắn kết giữa bảo tồn và phát triển dựa trên các văn bản pháp quy của Nhà nước.

- Tiếp tục hoàn thiện hai biện pháp bảo tồn đã có:

+ Bảo tồn nguyên vị (IN-Situ) và chuyển vị (EX-Situ) cần ưu tiên cao cho biện pháp bảo tồn nguyên vị. Nhưng không được xem nhẹ biện pháp bảo tồn chuyển vị.

+ Tổ chức hệ thống VQG, KBTTN, chú trọng chiều sâu hơn là diện rộng có nghĩa là phải bảo vệ được các sinh cảnh sống của các loài động vật hoang dã.

+ Xây dựng nhiều hành lang xanh, hành lang bảo vệ, phát triển các loài động vật quý hiếm có nguy cơ bị tuyệt chủng, đồng thời khuyến khích áp dụng những công nghệ sinh học phù hợp để tổ chức xây dựng các trang trại, hộ gia đình nhân nuôi các loài động vật hoang dã quý hiếm phục vụ cho công tác bảo tồn và phát triển kinh tế xã hội dựa trên phương châm cân bằng sinh thái và phát triển bền vững.

- Tăng cường các biện pháp bảo tồn động vật hoang dã ở các hệ sinh thái đất ngập nước và vùng biển, các đảo

- Quan tâm cao việc tổ chức bảo tồn thích ứng trong điều kiện biến đổi khí hậu ngày càng gia tăng, theo dự báo của tổ chức nghiên cứu biến đổi khi hậu thế giới thì Việt Nam là 1/4 nước trên thế giới sẽ bị ảnh hưởng nặng nề, vì vậy cần quan tâm đúng mức. Đặc biệt với khu vực Đồng bằng sông Hồng, Đồng bằng sông Cửu Long và các đảo của Việt Nam có rất nhiều loài động vật trên cạn, động vật vùng đất ngập nước thuộc loại quý hiếm có giá trị bảo tồn cao không chỉ đối với Việt Nam mà còn cả đối với thế giới (Voọc cát bà, Sóc đen côn đảo, các loài Rùa biển, các loài thú biển, ...)

- Ngăn chặn triệt để tình trạng, sử dụng không bền vững động vật hoang dã quý hiếm, các loài đang có nguy cơ giảm sút và tuyệt chủng bằng nhiều biện pháp như không khuyến khích việc tiêu xài lãng phí các loài động vật hoang dã quý hiếm, trong phạm vi toàn quốc, loại bỏ các phương thức khai thác động vật hoang dã mang tính hủy diệt.

- Điều tra, xác định và ngăn chặn các loài sinh vật lạ xâm lấn trong các hệ sinh thái rừng và vùng đất ngập nước, đặc biệt chú trọng các sân chim vùng Đồng Tháp Mười, Đồng bằng sông Cửu Long.

- Thực hiện nghiêm túc, quy định các tiêu chí cụ thể và hướng dẫn có bài bản về tổ chức kinh doanh du lịch sinh thái đúng với ý nghĩa, nội dung của du lịch sinh thái trong các vùng, miền.

- Cần có quy chế, chế tài cụ thể nhằm đảm bảo các điều kiện để tăng cường sự tham gia của cộng đồng vào bảo vệ động vật hoang dã. Một số bài học kinh nghiệm trong quá trình dài về công tác bảo tồn, nếu cộng đồng địa phương không được biết, không được bàn, không tham gia kiểm tra kiểm soát thì công tác bảo tồn sẽ ít hoặc không mang lại hiệu quả cao.

- Cần có sự hợp tác đa ngành: Vì rằng việc quản lý sử dụng khai thác tài nguyên động vật hoang dã, các thành phần của Hệ sinh thái thường do các ngành khác nhau (nông lâm nghiệp, thủy sản, thủy lợi, du lịch, văn hóa, thương mại...) mỗi ngành có mục đích khai thác sử dụng riêng, có sự quan tâm riêng nên dễ xảy ra mâu thuẫn. Vì vậy sự hợp tác đa ngành để quản lý bảo tồn phát triển động vật hoang dã một các bền vững là cần thiết.

- Tăng cường công tác nâng cao nhận thức, truyền thông về vai trò, ý nghĩa và tầm quan trọng của sự nghiệp bảo vệ môi trường nói chung, bảo vệ động vật hoang dã nói riêng.

- Xây dựng và triển khai thường xuyên các chương trình nâng cao nhận thức cho toàn xã hội với các hình thức, nội dung phù hợp cho từng đối tượng, thậm chí phù hợp cho các vùng, miền cho các nhà quản lý, các nhà hoạch định chính sách, các cấp từ cấp TW đến cấp huyện, xã, các doanh nghiệp, các cán bộ lực lượng kiểm lâm, lực lượng hải quan, lực lượng làm công tác văn hóa, giáo dục, nhà báo, cả lực lượng công an và quân đội.

- Điều không kém phần quan trọng là nâng cao năng lực và kỹ năng cho lực lượng quản lý, bảo vệ động vật hoang dã ở các cơ quan quản lý Nhà nước như Cảnh sát môi trường, Cảnh sát biển, Kiểm lâm, Hải quan và cán bộ các VQG, KBTTN, lâm trường.

KẾT LUẬN

Nguồn tài nguyên động vật hoang dã ở Việt Nam là nguồn gen di truyền vô cùng quý giá mà thiên nhiên phải mất đi hàng triệu triệu năm hình thành tích lũy nếu chúng ta biết quản lý, giám sát để sử dụng một cách bền vững dựa trên cơ sở khoa học, của pháp luật thì đây là kho tàng cung cấp các sản phẩm lương thực, thực phẩm, hàng tiêu dùng, hàng xuất khẩu, đồng thời đó cũng là cơ sở bảo đảm cho sự phát triển nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp, du lịch bền vững, là di sản của nền văn hóa bản địa, là nền tảng của y dược truyền thống phương Đông. Là ngân hàng gen vô cùng quý giá phục vụ cho quá trình công nghiệp hoá – hiện đại hoá đất nước. Nhưng tiếc rằng hiện nay chúng ta vẫn chưa ý thức đầy đủ được các giá trị vô cùng to lớn của các hệ sinh thái, của các nguồn gen động vật quý hiếm đối với cuộc sống hiện tại và tương lai khi Việt Nam trở thành một nước công nghiệp hóa - hiện đại hóa.

Để thiết thực hưởng ứng năm quốc tế về đa dạng sinh học năm 2010 nhằm mục tiêu phát triển một cách bền vững, nguồn tài nguyên động vật hoang dã của Việt Nam nhất thiết phải kết hợp chặt chẽ giữa bảo tồn và phát triển, phải nhìn nhận cho được mặt trái của quá trình phát triển đối với môi trường tự nhiên và môi trường xã hội. Vì vậy, phải kết hợp chặt chẽ đồng bộ giữa các chính sách phát triển với vấn đề bảo vệ môi trường, bảo tồn đa dạng sinh học thực hiện thông điệp năm quốc tế đa dang sinh học “Nhiều loài, một hành tinh, tương lai của chung ta”.

TÀI LIỆU THAM KHẢO CHÍNH

1.      Bộ KH&CN&VKH&CN Việt Nam, 2007. Sách đỏ Việt Nam, phần động vật (Red data book of Vietnam). NXB Khoa học Tự nhiên & Công nghệ Quốc gia.

2.      Bộ KH&CN&VKH&CN Việt Nam, 2007. Sách đỏ Việt Nam, phần thực vật (Ded data book of Vietnam). NXB Khoa học Tự nhiên & Công nghệ Quốc gia.

3.      Bộ KHCN&MT, Cục Môi trường, 2000. Kế hoạch quốc gia về bảo vệ môi trường giai đoạn 2001 - 2010.

4.      Bộ TN&MT, 2005. Báo cáo hiện trạng môi trường chuyên đề đa dạng sinh học, 95 trang.

5.      Bộ Kế hoạch & Đầu tư, 1998. Báo cáo tổng kết thực hiện Chương trình 327 (1993 - 1998).

6.      Bộ Thủy sản, 1996. Nguồn lợi thủy sản Việt Nam. NXB Nông nghiệp, Hà Nội.

7.      Chính phủ CHXHCN Việt Nam và dự án VIE/91/F31, 1995. Kế hoạch hành động ĐDSH của Việt Nam. Hà Nội.

8.      Chính phủ CHXHCN Việt Nam, 2002. Phát triển bền vững ở Việt Nam. Mười năm nhìn lại và con đường phía trước. Báo cáo của Chính phủ Việt Nam tại Hội nghị thượng định thế giới về Phát triển bền vững, Johanesburg, Nam Phi.

9.      Chương trình 52.02 và IUCN, 1986. Việt Nam - Những vấn đề tài nguyên và môi trường. NXB Nông thôn, Hà Nội.

10. Chương trình Birdlife International và Viện Điều tra quy hoạch rừng, 2000. Thông tin các khu bảo vệ hiện có và đề xuất ở Việt Nam, tháng 1/2001.

11. Cục Kiểm lâm, Bộ NN&PTNN, 2005. Chiến lược quản lý khu bảo vệ tại Việt Nam, giai đoạn 2002 - 2010.

12. Đặng Huy Huỳnh, Hồ Thanh Hải, 2002. Tình hình bảo tồn chuyển vị (ex-situ) ở Việt Nam. Tài liệu Viện ST&TNSV và Cục BVMT.

13. Đặng Huy Huỳnh, 2002. Sử dụng bền vững ĐDSH trong quy hoạch phát triển trang trại ở Việt Nam. Kỷ yếu Hội thảo quốc gia nâng cao nhận thức về sử dụng bền vững ĐDSH ở Việt Nam. Mạng lưới GD - ĐT và TTMT Việt Nam.

14. Đặng Huy Huỳnh (chủ biên), Hoàng Minh Khiên, Lê Xuân Cảnh, Nguyễn Xuân Đặng, Vũ Đình Thống, Đặng Huy Phương, 2007. Thú rừng (Mammalia) Việt Nam. Hình thái và sinh học sinh thái một số loài. NXB KHTN&CN Hà Nội.

15. Đặng Huy Huỳnh, 2008. Bảo tồn và phát triển bảo vệ ĐDSH vùng Đông Bắc Việt Nam. TC. Nghiên cứu & PTBV - Viện KHXH Việt Nam.

16. Nguyễn Văn Sang, Hồ Thu Cúc, Nguyễn Quảng Trường, 2005. Danh lục Bò sát ếch nhái Việt Nam. XNB NN Hà Nội.

17. Võ Quý, Nguyễn Cử, 1995. Danh lục Chim Việt Nam. NXB KH&KT Hà Nội.