DMCA.com Protection Status

Tìm kiếm độc tố bên trong cơ thể  quan tâm

Được viết bởi: Thái Hà Books

Cập nhật lúc 10:47 ngày 28/06/2018

Bên trong cơ thể bạn có độc tố và việc loại bỏ chúng là mục tiêu chính của quá trình detox. Nhưng nếu như bạn uống rượu vừa phải (hay hoàn toàn không uống), không hút thuốc và luôn cố gắng ăn uống lành mạnh thì những độc tố này từ đâu ra? Phần này sẽ giải thích cho bạn về nguồn gốc của những độc tố này và một số sẽ làm bạn ngạc nhiên.

Loại bỏ các độc tố ngoài môi trường

Khi độc tố ngoài môi trường vào cơ thể bạn, chúng sẽ trở thành những độc tố bên trong. Những độc tố này quấy nhiễu bạn bao lâu phụ thuộc vào độ “lì lợm” của chúng và khả năng đánh bật chúng của các cơ quan thải độc trong cơ thể bạn.

Rất nhiều chất độc có thể hòa tan trong nước như cafein, một số chất tạo màu thực phẩm, chất làm ngọt nhân tạo và các sản phẩm của quá trình phân hủy rượu, được thận lọc ra khỏi máu rồi bài tiết ra ngoài qua nước tiểu. Một số loại khác, chẳng hạn như dioxin (tới từ nhiều nguồn khác nhau) có thể hòa tan trong mỡ. Trong khi gan làm nhiệm vụ của mình là tống khứ những chất này ra khỏi cơ thể thông qua mật thì một số độc tố vô tình được “bỏ qua” và lưu cữu lại trong mỡ của bạn nhiều tháng, thậm chí là nhiều năm liền.

Tiếp nhận độc tố vào bên trong cơ thể

Những loại này bao gồm:

  • Nhai nuốt phải thủy ngân trong vật liệu trám răng

Mặc dù xuất phát của thủy ngân trong chất trám răng nha khoa (MAF) là ở bên ngoài nhưng khi được đưa vào trong, chúng trở thành một phần của cơ thể và có thể giải phóng ra các độc tố trong nhiều năm liền. Thực tế chỉ ra rằng, 40% thủy ngân trong MAF được tiết ra trong vòng 10 năm đầu tiên tại vị trí được trám. Thủy ngân là nguyên tố có độc tính cao. Hàm lượng lớn có thể dẫn tới điên loạn và hàm lượng nhỏ hơn cũng có thể ảnh hưởng tới hệ thần kinh trung ương.

Một lượng thủy ngân dư thừa trong hệ thần kinh có thể gây ra những thay đổi trong não bộ. Những triệu chứng bao gồm: cáu gắt, thay đổi tâm trạng, giảm sức tập trung, mất trí nhớ ngắn hạn, thiếu tự tin, lo lắng, tâm trạng tồi tệ, ngủ không ngon giấc và mệt mỏi mạn tính. Tất cả những triệu chứng này đều là biểu hiện của trầm cảm và một câu hỏi đặt ra là làm thế nào mà người ta lại bỏ qua, không coi MAF là một nguyên nhân gây ra bệnh tật. Bạn có nhớ người thợ làm mũ điên rồ trong Alice ở xứ sở kỳ diệu không? Thủy ngân đã từng được sử dụng trong việc làm mũ đấy!

Đừng dùng hay gỡ bỏ MAF trong khi bạn đang làm detox. Sau khi bạn hoàn thành quá trình detox, hãy gặp nha sĩ và gỡ bỏ chúng rồi thay thế bằng những vật liệu trám không độc hại. Theo tính toán thì cứ mỗi một năm MAF được sử dụng, cơ thể bạn sẽ mất một tháng mới loại được hết thủy ngân ra khỏi cơ thể.

Bạn nên sử dụng chất càng hóa trong quá trình detox. Chất càng hóa như vitamin C, kết hợp với kim loại độc như thủy ngân, sẽ giúp vô hiệu hóa ảnh hưởng xấu cũng như loại bỏ chúng ra khỏi cơ thể. Sử dụng chất càng hóa nhiều hơn khi bạn chuẩn bị gỡ bỏ MAF.

Một số nguồn thủy ngân khác ngoài vật liệu trám răng là rác thải công nghiệp và các điểm xử lý rác, cá – đặc biệt là cá ngừ – sống ở nguồn nước bị ô nhiễm, thuốc diệt nấm và các loại thuốc trừ sâu khác.

  • Tìm hiểu độc tố của vi sinh vật

Độc tố trong cơ thể có thể tới từ vi sinh vật, một thuật ngữ khái quát chỉ nấm, vi khuẩn, virus và ký sinh trùng. Những chất mà các loại này tạo ra trong cơ thể bạn thường là rất khó chịu và độc hại. Để giảm thiểu tối đa những tác động xấu của chúng, bạn phải tăng cường hệ miễn dịch bằng cách thực hiện những liệu trình detox thường kỳ (1 năm 2 lần chẳng hạn), ăn nhiều trái cây, rau củ tươi hằng ngày. Bạn có thể bổ sung thêm các chất dinh dưỡng chống ôxy hóa thường có trong thực phẩm có nguồn gốc thực vật bằng việc sử dụng thực phẩm chức năng bổ sung vitamin và khoáng chất. Chỉ dùng kháng sinh để giảm nguy cơ mắc nhiễm nấm âm đạo khi bạn buộc phải làm thế và nếu bạn tình chưa cắt bao quy đầu thì cũng phải đảm bảo là đã bôi kem chống nấm để ngăn ngừa tái nhiễm. Bệnh nhiễm nấm ở âm đạo đôi khi được chữa trị bằng một phương pháp rất đơn giản là bôi sữa chua men sống vào vùng bị nhiễm.

  • Bàn về nhiễm nấm Candida

Nhiễm nấm Candida ở miệng sẽ gây ra mảng bám trắng khó chịu trong miệng. Nhiễm nấm ở âm đạo khiến âm đạo chảy mủ trắng, dày, có mùi khó chịu, sưng, ngứa. Cả hai dạng này đều mang tính chất độc hại nhưng nhiễm nấm đường ruột mới là vấn đề thường có liên quan tới việc sản sinh ra các loại độc tố bên trong.

Một phần do sự biến mất của các vi khuẩn đường ruột thân thiện – cũng có thể là do những đơn thuốc kháng sinh mới uống – mà nấm Candida có thể phát triển nhanh chóng trong ruột. Rất nhiều chuyên gia khẳng định đây là nguyên nhân của đủ loại hội chứng, từ hội chứng mệt mỏi mạn tính, hội chứng ruột kích thích, viêm túi thừa, cho đến các chứng táo bón, tiêu chảy, trướng bụng và mất tinh thần kéo dài.

Nấm Candida trong ruột là nguyên nhân của một số triệu chứng nhạy cảm và dị ứng thực phẩm nhất định. Nấm sinh sôi bằng cách kéo dài các sợi tua gọi là sợi nấm, đâm vào màng nhầy của thành ruột để hút chất dinh dưỡng. Mao mạch bị phá hủy và các mảnh sợi nấm sẽ thâm nhập vào máu cùng các hạt chất lỏng và đồ ăn mới chỉ được tiêu hóa một phần. Cả hai loại này đều được xem như những dị vật đối với cơ thể, vì vậy, hệ miễn dịch thiết lập cơ chế phòng vệ, sản xuất ra các kháng thể để chống lại những vật thể lạ này (do đó gây ra các triệu chứng dị ứng, nhạy cảm đề cập ở trên).

  • Đánh bại vi khuẩn

Vi khuẩn gây bệnh – cả sinh vật lẫn chất độc mà chúng tiết ra – tạo ra một nhóm độc tố lớn có ảnh hưởng tới tất cả mọi người ở từng thời điểm. Nhóm khuẩn độc trong thực phẩm quen thuộc với mọi người gồm có: E.coli (một loại ký sinh đường ruột thông thường) và Salmonella (thường tìm thấy trong trứng). Chúng là thủ phạm thường thấy gây ra các chứng tiêu chảy, buồn nôn, đau dạ dày và đôi khi là hiện tượng sốc do mất nước và đặc biệt là căng thẳng mệt mỏi do độc tố từ virus.

Để giảm nguy cơ mắc các bệnh do vi khuẩn gây ra, hãy rửa tay sau khi đi vệ sinh, rửa sạch rau sống cũng như trái cây, rau củ và tránh xa các thức ăn được chế biến sẵn có thể bị ruồi đậu vào. Nấu chín thức ăn sống như thịt, cá, gia cầm và trứng. Làm theo hướng dẫn an toàn thực phẩm khi chế biến và bảo quản thức ăn.

  • Tránh xa virus

Virus là một nhóm độc tố lớn nữa có ảnh hưởng tới bạn qua vô số đường. Chúng thậm chí bất chấp luật lệ, vô quy tắc hơn cả vi khuẩn. Mặc dù vi khuẩn có thể phát triển khả năng đề kháng với kháng sinh nhưng dù sao thì chúng cũng dễ xác định và điều trị hơn là virus. Những bệnh thường gặp như cúm, sởi, quai bị, thủy đậu, zona, viêm thanh quản, viêm phổi do virus, viêm màng não do virus hay sốt viêm tuyến bạch cầu đều là do độc tố virus bên trong gây ra.

Xem xét các độc tố chuyển hóa

Độc tố chuyển hóa là các chất được cơ thể sản sinh ra như một phần chức năng thông thường của nó hoặc như một cơ chế đối phó với bệnh tật và thương tích. Tôi sẽ đề cập tới cả hai loại này trong phần dưới đây.

  • Sản sinh ra các sản phẩm phụ thông thường của cơ thể

Nghe có vẻ như đây là tên gọi mỹ miều của nước tiểu, mồ hôi và các chất cặn bã của cơ thể. Nhưng cái tôi đang đề cập ở đây là những sản phẩm phụ của cơ thể mà bạn dường như không chú ý tới, ví dụ như:

» Cacbon dioxit là một loại khí thải thông thường được phổi thải ra liên tục nhưng nó có thể tích tụ trong máu nếu bạn mắc phải một số bệnh về phổi. Viêm phế quản mạn tính, khí phế thũng, hen suyễn mạn tính hay một số chứng rối loạn làm suy hô hấp, khiến cho phổi không lấy được ôxy cũng như việc thải cacbon dioxit bị hạn chế. Cacbon dioxit bị tích tụ sẽ sớm cho ta thấy bản chất nguy hiểm của nó.

Cơ thể bạn sẽ đối phó với cacbon dioxit dư thừa bị tích tụ lại bằng cách hình thành một lượng axit cacbonic (đơn giản chỉ là cacbon dioxit được hòa tan trong máu hoặc mô) nhiều hơn bình thường. Việc này sẽ axit hóa máu hay chính xác hơn là làm cho nó bớt tính kiềm. Triệu chứng sẽ tùy vào từng loại bệnh tiềm ẩn, nhưng nói chung là tình trạng của bạn chắc chắn sẽ xấu đi và nếu không được điều trị kịp thời thì bạn có nguy cơ rơi vào hôn mê hoặc tử vong. Như tôi đã nói, cacbon dioxit có thể là chất độc rất nguy hại.

Nếu bạn có bệnh phổi mạn tính và phải dùng liệu pháp thở ôxy, hãy đảm bảo là bạn thực hiện đúng chỉ dẫn được kê mặc dù bình thở và mặt nạ dưỡng khí đôi khi cũng khá phiền hà.

» Axit uric là một trong những độc tố mà ai mắc bệnh gút đều đã từng nghe nói tới. Axit uric được sản sinh trong quá trình phân hủy tế bào cơ thể thông thường, khi tế bào cũ được thay thế bởi những tế bào mới và trong quá trình tiêu hóa mô động thực vật. Toàn bộ thực phẩm đều có chứa một lượng axit uric nhất định. Amoniac, chất thải chính của quá trình tiêu hóa chất đạm (từ bất cứ nguồn nào), cũng có thể là nguồn sản sinh ra axit uric.

Thận đảm nhiệm việc xử lý axit uric nhưng khi tích tụ lại, axit uric tồn tại ở dạng tinh thể quanh các khớp, đặc biệt là khu vực quanh ngón chân cái. Các triệu chứng điển hình của bệnh gút từ đó dần phát triển, bao gồm nóng, sưng, và đau xung quanh các khớp bị ảnh hưởng. Bị tấn công nhiều lần, các khớp có thể sẽ biến dạng và hình thành những lớp axit uric lớn được gọi là tophi xuất hiện trong xương hay phần da ở tai.
Sỏi urat hình thành từ axit này cũng sẽ xuất hiện trong thận và gây cản trở tới việc dẫn nước tiểu qua niệu quản xuống bàng quang.

Nếu bạn đang dùng các thuốc lợi tiểu thuộc nhóm thiazide như benzoflurothiazide (được kê chủ yếu để điều trị cao huyết áp) thì thỉnh thoảng nên đề nghị bác sĩ kiểm tra nồng độ axit uric máu. Những loại thuốc này có thể làm tăng nồng độ axit uric cao trên mức bình thường.

» Cholesterol là một từ có thể khiến bạn phải lo lắng về nồng độ trong máu của mình. Trên thực tế, cholesterol có vai trò quan trọng trong quá trình trao đổi chất và cũng giống như cacbon dioxit, nó chỉ có hại khi tồn tại quá nhiều hoặc ở sai vị trí.

Cơ thể sản sinh cholesterol để từ đó sản xuất ra hoóc môn sinh dục, hoóc môn tuyến thượng thận, muối mật và các hợp chất khác. Phần còn lại tới từ chế độ ăn – thịt mỡ, bơ, kem và các nguồn chất béo bão hòa khác.

Cholesterol LDL (lipoprotein mật độ thấp hay còn gọi là cholesterol xấu) có xu hướng tích tụ thành lớp dày bên trong thành động mạch, khiến cho việc lưu thông máu bị tắc nghẽn, gây ra chứng đau tim và đột quỵ.

Những tác hại nguy hiểm của LDL trái ngược hoàn toàn với một loại khác tốt hơn, được biết đến với cái tên HDL, còn gọi là cholesterol tốt hay cholesterol lipoprotein mật độ cao.

Hãy giảm thiểu lượng chất béo bão hòa từ mỡ động vật và thay thế bằng các loại dầu thực vật ép lạnh cùng các sản phẩm của chúng. Những thực phẩm này chứa nhiều chất béo không bão hòa đa giàu omega tốt cho sức khỏe, từ đó giúp tối đa hóa lượng cholesterol lành mạnh.

  • Bảo vệ bản thân với các sản phẩm phụ

Cơ thể bạn sản sinh ra hàng ngàn các chất hữu ích bằng cách sử dụng một loạt các cơ chế được thiết kế để giữ cân bằng cho các hệ cơ quan và khiến chúng phối hợp với nhau nhịp nhàng. Đôi khi cũng có những sai lầm như trong trường hợp các chứng dị ứng hay việc sản sinh ra các tự kháng thể. Việc hình thành mủ cũng là một trong những cơ chế phòng vệ chống lại sự xâm nhập của vi khuẩn gây hại mặc dù sự xuất hiện của nó ở các vết thương luôn khiến ta cảnh giác.

» Kháng thể: Không hề giống bất cứ một độc tố thông thường nào, nhưng kháng thể vẫn có những tác hại rất lớn nếu hệ miễn dịch của bạn sản xuất chúng do nhầm lẫn. Mục đích thực sự của những phân tử protein phức hợp này là giới hạn và làm suy yếu các mối đe dọa thực sự với cơ thể như các dị vật hoặc vi trùng. Nhưng vấn đề sẽ nảy sinh khi hệ miễn dịch nhận diện sai các chất vô hại như phấn hoa, kháng sinh hay dâu tây là các chất có hại và sau đó, mỗi khi gặp lại những chất đó, cơ thể bạn sẽ giải phóng cả một đội quân kháng thể để chống lại chúng, gây ra các triệu chứng như phát ban, thở khò khè, ngứa ngáy, ói mửa và/hoặc các triệu chứng dị ứng khác.

Một ví dụ khác của việc kháng thể hoạt động như độc tố là một nhóm được biết tới với tên gọi “tự kháng thể”. Tự kháng thể thường xuất hiện ở những người mắc các bệnh tự miễn như lupus (còn gọi là lupus ban đỏ), thấp khớp, loét đại tràng và bệnh Crohn gây ảnh hưởng tới ruột non. Trong tất cả những bệnh này, những tế bào miễn dịch phản ứng với mô của cơ thể như với những chất lạ. Nếu không được điều trị kịp thời thì những kháng thể được sử dụng sai sẽ bộc lộ tính chất nguy hiểm như những độc tố, gây tổn thương cho xương khớp và đe dọa các cơ quan dẫn tới tình trạng sưng tấy, viêm nhiễm và suy nhược nặng.

» Mủ: Có bao giờ bạn nghĩ mủ là một loại độc tố? Nó chính xác là một loại độc tố đấy! Chắc chắn là bạn đã từng thấy mủ chảy ra từ các vết thương bị nhiễm trùng dễ dàng làm nhiễm trùng các vết trầy xước khác.

Một ví dụ là sự lây lan nhanh chóng của bệnh chốc lở từ một đứa trẻ sang nhiều đứa khác mà chúng tiếp xúc.

Mủ là hỗn hợp gồm các tế bào bạch cầu chuyên tiêu diệt các sinh vật xâm nhập, một số tế bào hồng cầu, rất nhiều các vi khuẩn đã chết và đang chết như Pseudomonas, Streptococcus và Staphylococcus, cùng các mảnh mô chết. Mủ được tạo ra từ quá trình sưng, viêm, một trong những cơ chế phòng vệ quan trọng nhất bảo vệ bạn khỏi sự xâm nhập của các sinh vật nguy hiểm.