DMCA.com Protection Status

Giáo trình ngữ pháp tiếng Việt của 2 GV- tiến sĩ Vũ Tiến Dũng và Nguyễn Hoàng Yến  quan tâm

Được đăng bởi: Trần Việt Thao

Cập nhật lúc 14:43 ngày 10/01/2018

Giáo trình ngữ pháp tiếng Việt của 2 GV- tiến sĩ Vũ Tiến Dũng và Nguyễn Hoàng Yến

( Nguồn: http://www.mediafire.com/?d5sb1xybir53fee )


LỜI NÓI ĐẦU

Việc dạy - học Ngữ pháp tiếng Việt trong chương trình đào tạo đại học ngành Sư phạm Ngữ văn của Trường Đại học Tây Bắc hơn mười năm qua chủ yếu sử dụng các tài liệu, các giáo trình ngữ pháp tiếng Việt của các nhà khoa học có tên tuổi ở Việt Nam biên soạn. Việc làm đó trong giai đoạn vừa qua đã phát huy tốt tác dụng và đạt được những kết quả rất đáng khích lệ và ghi nhận trong đào tạo sinh viên ngành Sư phạm Ngữ văn. Song trong thực tế, sinh viên Khoa Ngữ văn - Trường Đại học Tây Bắc còn gặp những khó khăn nhất định trong việc tiếp nhận các đơn vị kiến thức thuộc về ngữ pháp học vì các tài liệu ngữ pháp hiện nay vẫn đang tồn tại những kiến giải khác nhau, thậm chí là đối lập nhau về cùng một ngữ liệu.

Từ thực tiễn giảng dạy, chúng tôi nhận thấy cần có một cuốn giáo trình Ngữ pháp tiếng Việt đảm bảo được những tri thức khoa học cơ bản của ngữ pháp học, được trình bày một cách giản dị, dễ hiểu, có tính đến tính vừa sức của người học đang trở thành một đòi hỏi thực sự của giảng viên và sinh viên nhà trường. Với ý nghĩa đó, chúng tôi mạnh dạn biên soạn cuốn Ngữ pháp tiếng Việt nhằm đáp ứng nhu cầu dạy - học học phần này trong khóa trình đào tạo sinh viên ngành Sư phạm Ngữ văn. Cuốn sách biên soạn bám sát chương trình đào tạo đã được Trường Đại học Tây Bắc ban hành. Cuốn sách gồm các nội dung chính được trình bày cụ thể qua từng chương:

  • Chương 1: Hệ thống từ loại tiếng Việt hiện đại

  • Chương 2: Cụm từ tiếng Việt

  • Chương 3: Câu tiếng Việt (trình bày chủ yếu là cấu trúc câu tiếng Việt)

  • Chương 4: Câu trong hoạt động giao tiếp.

Với cách biên soạn như vậy, hi vọng cuốn sách sẽ góp phần giảm bớt đi những khó khăn hiện có trong việc học tập ngữ pháp tiếng Việt.

Nhân dịp cuốn sách ra mắt bạn đọc, chúng tôi xin cảm ơn TS. Nguyễn Văn Bao, Hiệu trưởng Trường Đại học Tây Bắc, Phòng Quản lí Khoa học & Quan hệ Quốc tế nhà trường và Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam đã tạo những điều kiện tốt nhất để cuốn sách tới tay bạn đọc. Cuốn sách được biên soạn, chắc chắn không tránh khỏi những sơ suất. Trong quá trình sử dụng, chúng tôi mong muốn nhận được sự góp ý, chỉ giáo của bạn đọc để lần sau tái bản sẽ tốt hơn.


CÁC TÁC GIẢ



MỞ ĐẦU



  1. Ngữ pháp và ngữ pháp học

Trong cách hiểu thông thường, mỗi ngôn ngữ được hình dung bao gồm hai tập hợp lớn: tập hợp các yếu tố ngôn ngữ và tập hợp các quy tắc hoạt động của các yếu tố ấy. Tập hợp các quy tắc hoạt động của các yếu tố ngôn ngữ được gọi là Ngữ pháp của ngôn ngữ ấy. Tập hợp các quy tắc hoạt động của các yếu tố ngôn ngữ tồn tại một cách khách quan trong một ngôn ngữ cụ thể, và nó có thể được các nhà nghiên cứu phát hiện ra và miêu tả hoặc giải thích chúng. Bộ môn khoa học về ngôn ngữ chuyên nghiên cứu tập hợp các quy tắc của một ngôn ngữ được gọi là Ngữ pháp học. Trong thực tế sử dụng thường ngày và ngay cả trong ngôn ngữ học, sự phân biệt một cách rõ ràng về cách gọi tên này nhiều khi cũng rất phức tạp cho sự diễn đạt và chúng ta có thể chia sẻ quan niệm với một số nhà nghiên cứu như Đinh Văn Đức, Diệp Quang Ban … khi cho rằng tên gọi “Ngữ pháp học” chỉ được dùng ở những chỗ không thể không dùng.

Khái niệm Ngữ pháp có thể hiểu rộng và hẹp khác nhau tùy theo quan niệm và mục tiêu của các nhà nghiên cứu. Hiểu rộng, ngữ pháp là toàn bộ các quy luật, quy tắc của một ngôn ngữ, và như vậy, đối tượng nghiên cứu của ngữ pháp bao gồm các đơn vị một mặt - âm và các đơn vị hai mặt: âm và nghĩa. Hiểu hẹp, ngữ pháp là toàn bộ các quy tắc, quy luật hoạt động của các yếu tố ngôn ngữ có hai mặt mà thôi. Các yếu tố ngôn ngữ có hai mặt bao gồm từ hình vị, tức đơn vị ngôn ngữ nhỏ nhất có ý nghĩa cho đến một văn bản trọn vẹn. Với cách hiểu đó, ở từng giai đoạn cũng hình thành những quan niệm khác nhau. Ở Việt Nam, tiếp thu thành tựu nghiên cứu của các nhà nghiên cứu ngôn ngữ học trên thế giới, có một giai đoạn dài đến gần cuối thập kỷ tám mươi, đối tượng nghiên cứu của ngữ pháp sẽ dừng lại ở đơn vị câu và giai đoạn từ gần cuối thập kỷ tám mươi đến gần kết thúc thập kỷ chín mươi của thế kỷ đã qua, một số nhà nghiên cứu đã sắp xếp và gọi tên bộ môn ngữ pháp nghiên cứu các quy tắc tổ chức ngôn ngữ của các văn bản là Ngữ pháp văn bản.

  1. Các bộ phận nghiên cứu của ngữ pháp học

Trong ngữ pháp của các ngôn ngữ, nhất là ở các nước châu Âu, phổ biến nhất là cách chia ngữ pháp thành hai bộ phận: từ pháp học (morphologie - hình thái học) và cú pháp học (syntax). Đây là cách chia có tính ước lệ nhưng lại có tác dụng trong nhà trường. Với cách chia này, ta thường gặp cách sắp xếp như sau:




Cấu trúc từ

Từ pháp học Từ loại

N gữ pháp học Các phạm trù ngữ pháp

Tổ hợp các từ (cụm từ)

Cú pháp học

Câu

Cách chia này mặc dù không hoàn toàn phù hợp với đặc điểm của ngôn ngữ đơn lập trong đó có tiếng Việt chúng ta nhưng không phải là không ảnh hưởng, chi phối các nhà Việt ngữ học trong một giai đoạn dài khi nghiên cứu về ngữ pháp tiếng Việt.

Như trên đã xác nhận, ngữ pháp theo cách hiểu hẹp, chỉ bao gồm những yếu tố ngôn ngữ có hai mặt. Trong truyền thống, ngữ pháp học tồn tại hai phân môn: từ pháp học (hay hình thái học trong ngôn ngữ biến hình) và cú pháp học. Cách phân chia này hiện nay tuy chưa hẳn đã được các nhà nghiên cứu hoàn toàn ủng hộ nhưng xem ra vẫn hữu ích trong việc nghiên cứu các quy tắc, quy luật của các yếu tố ngôn ngữ trong tiếng Việt. Đối tượng nghiên cứu của ngữ pháp học trong tiếng Việt hiện nay bao gồm các yếu tố: hình vị, từ, tổ hợp từ (cụm từ) và câu. Các yếu tố trên câu (đoạn, văn bản) là đối tượng nghiên cứu của ngôn ngữ học văn bản (text linguistics).

2.1. Từ pháp học

Nếu từ pháp học trong các ngôn ngữ châu Âu nghiên cứu cấu trúc từ, từ loại và các phạm trù ngữ pháp thì trong tiếng Việt từ pháp học trong truyền thống thường quan tâm nghiên cứu cấu trúc từ và phân chia từ thành từ loại.

Với những ngôn ngữ có biến hình từ, cấu trúc từ cần phân biệt hai hiện tượng khác nhau: cấu tạo từ và biến hình từ. Từ pháp học (hình thái học đối với ngôn ngữ có biến hình) trong nghĩa hẹp chỉ nghiên cứu phần cấu trúc từ liên quan đến hiện tượng biến hình từ. Ngôn ngữ học hiện đại đã hình thành xu thế tách cấu tạo từ ra khỏi từ pháp học và nó hình thành nên môn riêng.

Tiếng Việt là ngôn ngữ đơn lập, không biến hình từ nên việc nghiên cứu cấu trúc từ thường được nhìn nhận là nghiên cứu cấu tạo từ về mặt ngữ pháp. Và như vậy, cấu tạo từ thuộc về đối tượng nghiên cứu của từ pháp học. Có một số tác giả mà tiêu biểu như Đỗ Hữu Châu, Nguyễn Thiện Giáp chủ trương nghiên cứu cấu tạo từ thiên về mặt ngữ nghĩa, hình thức từ chỉ có tác dụng giải thích về ngữ nghĩa nên cấu tạo từ thuộc về đối tượng nghiên cứu của từ vựng - ngữ nghĩa học.

Từ loại học là bộ phận nằm trong từ pháp, chuyên nghiên cứu việc định loại vốn từ của ngôn ngữ.

Mỗi một ngôn ngữ đều có một số lượng từ khá lớn, lập thành một vốn từ vựng của ngôn ngữ đó. Do số lượng, do tính chất và chức năng, mỗi vốn từ đều rất đa dạng khiến những ai quan tâm đến cũng đều phải tiến hành phân loại từ theo mục đích khác nhau. Các nhà nghiên cứu về từ vựng học có thể phân loại từ thành những lớp từ về mặt ngữ nghĩa; hoặc để làm từ điển người ta có thể phân loại từ theo vần chữ cái (tự mẫu) hoặc theo bộ (đối với các ngôn ngữ viết chữ khối vuông) … Nhà ngữ pháp học không phân loại từ theo cách đó mà lại theo bản chất ngữ pháp của từ, kết quả là ta có từ loại. Danh sách các từ loại có thể tăng giảm qua những ngôn ngữ khác nhau và ngay trong một ngôn ngữ cũng có thể khác nhau tùy theo quan niệm của từng nhà nghiên cứu, nhưng dễ dàng nhận thấy là có nhiều từ loại ta thường gặp trong các ngôn ngữ như danh từ, động từ, tính từ, đại từ, số từ, quan hệ từ, tình thái từ …

Thuật ngữ “từ loại” của tiếng Việt giúp ta nhận thức khá đúng đắn về những lớp từ phân loại về mặt ngữ pháp. Nhiều nhà nghiên cứu đã khẳng định từ loại là một phổ niệm của ngữ pháp. Với một tập hợp các đặc trưng, từ loại có mặt trong bất kì ngôn ngữ nào, không phụ thuộc vào phương thức biểu hiện. Vấn đề đặt ra là tiêu chuẩn để định loại, nó là một tiêu chuẩn duy nhất hay là một số tiêu chuẩn phối hợp. Và hệ quả tất nhiên của nó là kết quả phân loại, số lượng từ loại có trong mỗi ngôn ngữ.

Hiện nay, các nhà nghiên cứu về từ loại tiếng Việt và những ngôn ngữ cùng loại hình, đều thống nhất dựa vào bộ tiêu chuẩn để định loại từ gồm ba yếu tố:

  • Ý nghĩa ngữ pháp hay ý nghĩa khái quát của từ;

  • Khả năng kết hợp (dấu hiệu hình thức để nhận diện từ loại với những từ đứng trước, sau nó trong ngữ lưu);

  • Chức năng cú pháp của từ trong câu (tức là khả năng trực tiếp đảm nhận thành phần câu, thường chỉ gắn với thực từ).

Nội dung ba yếu tố vừa nêu được hiểu khá thống nhất, song cách diễn đạt có thể khác nhau. Chẳng hạn, có nhà nghiên cứu coi hai yếu tố sau thuộc về đặc điểm về hình thức ngữ pháp của từ.

Với bộ tiêu chuẩn (hai hoặc ba) phân định từ loại như đã giới thiệu ở trên, kết quả phân loại đạt được giữa các nhà nghiên cứu cũng có những điểm khác nhau. Hầu hết các nhà nghiên cứu đều cho rằng hệ thống từ loại tiếng Việt có thể sắp xếp thành hai tập hợp cơ bản:

  • Các thực từ (danh từ, động từ, tính từ, đại từ, số từ).

  • Các hư từ (định từ, phó từ, quan hệ từ, trợ từ, tình thái từ).

Tuy nhiên, cũng phải thừa nhận rằng căn cứ vào bộ tiêu chuẩn phân định từ loại như trên, có nhà nghiên cứu sắp xếp thành ba tập hợp cơ bản hoàn toàn thỏa đáng:

  • Các thực từ;

  • Các hư từ;

  • Các tình thái từ. (1)

Để phù hợp với quan niệm chung của các nhà nghiên cứu và cũng để tiện ích trong học tập và nghiên cứu, cuốn sách này chủ trương hệ thống từ loại tiếng Việt hiện đại có thể sắp xếp thành hai nhóm như chúng ta thường thấy trong các tài liệu ngữ pháp hiện đương .

2.2. Cú pháp học

Thuật ngữ cú pháp trong tiếng Việt gợi cho ta nội dung “quy tắc của câu” hay là “phép đặt câu”. Và như vậy cú pháp học nghiên cứu về phép đặt câu trong tiếng Việt. Thực ra, trong truyền thống ngôn ngữ học tên gọi này bắt nguồn từ tiếng Hy Lạp là Syntaxis và có nghĩa là “xây dựng, tổ hợp, trật tự”. Hiểu theo chiều hướng này, cú pháp học là phân môn của ngữ pháp học chuyên nghiên cứu các cách kết hợp của các yếu tố ngôn ngữ và thường quy ước tính từ từ trở lên. Có một giai đoạn, một số nghiên cứu chủ trương phân loại ba bậc bên trong cú pháp học: cú pháp cụm từ, cú pháp câu cú pháp văn bản mà một số nhà nghiên cứu thường gọi là ngữ pháp văn bản. Như đã nói, cú pháp văn bản cùng với sự phát triển đã tách thành một bộ phận riêng - ngôn ngữ học văn bản - độc lập với cú pháp học. Dễ thấy là hiện nay, hầu hết các nhà nghiên cứu ngữ pháp đều xác nhận cụm từ và câu - phát ngôn là đối tượng nghiên cứu của cú pháp học.

2.2.1 Cú pháp cụm từ chuyên nghiên cứu sự kết hợp giữa từ với từ thành một tổ hợp từ có ý nghĩa, được gọi là cụm từ hoặc nhóm từ, ngữ, từ tổ (ứng với các cách gọi tên khác nhau đều gắn với những cách quan niệm khác nhau của các tác giả về đối tượng nghiên cứu này – VTD). Các cụm từ được coi là đối tượng nghiên cứu của cú pháp cụm từ bao gồm: cụm từ chính phụ, cụm từ đẳng lập, cụm từ chủ vị và dành nhiều hơn cho nghiên cứu về cụm từ chính phụ.

2.2.2 Cú pháp câu nghiên cứu việc xác định câu, cấu tạo ngữ pháp của câu và phân loại câu theo cấu tạo ngữ pháp, theo mục đích nói.

Nghiên cứu về câu đang tồn tại một số vấn đề cần lưu ý:

  • Ranh giới câu đơn, câu phức, câu ghép;

  • Hiểu thế nào là thành phần câu và xác lập bộ thành phần câu của tiếng Việt;

  • Tìm hiểu về câu đặc biệt và những vấn đề đang đặt ra;

  • Vấn đề ngữ nghĩa và ngữ pháp của câu; quan hệ giữa cấu trúc chủ – vị trong sự đối chiếu với quan hệ giữa phần đề – phần thuyết.

Việc giải quyết những vấn đề nêu trên cần được xem xét trên cơ sở đặc điểm của loại hình tiếng Việt: ngôn ngữ đơn lập phân tiết với quan hệ giữa đặc điểm về hình thức thể hiện với nội dung ngữ nghĩa của nó.

3. Một số khái niệm cơ bản của ngữ pháp học

3.1. Ý nghĩa ngữ pháp

Trong nhận thức thông thường của mọi người, khi nói tới ý nghĩa trong ngôn ngữ, người ta nghĩ ngay tới ý nghĩa riêng của từng đơn vị. Ví dụ, trong tiếng Pháp, ý nghĩa riêng của từ proffesseurgiáo viên, musiquenhạc… hay của câu Je suis proffesseur de musique. tôi là giáo viên nhạc. Ý nghĩa riêng của từng từ là ý nghĩa từ vựng, ý nghĩa riêng của từng câu cũng thuộc phạm trù ý nghĩa từ vựng vì nó do ý nghĩa từ vựng của các từ trong câu trực tiếp tạo nên. Còn ý nghĩa ngữ pháp là ý nghĩa chung của hàng loạt các từ, hàng loạt các câu. Chẳng hạn, từ la secrétaire (thư kí) có ý nghĩa chung là chỉ người, số ít, giống cái, câu Vous êtes canadienne? (bạn là người Canađa à?) có ý nghĩa chung là câu nghi vấn.

Ý nghĩa ngữ pháp có tính chất khái quát cao hơn ý nghĩa từ vựng. Sự khái quát từ vựng là sự khái quát từ những sự vật, hiện tượng trong đời sống hàng ngày. Chẳng hạn, từ bàn trong tiếng Việt không phải là tên gọi riêng của một cái bàn cụ thể nào mà là tên gọi của cả một chủng loại sự vật có đặc điểm: đồ dùng, có mặt phẳng được đặt trên mặt nền bởi chân, làm bằng nguyên liệu rắn, được dùng để đặt các đồ vật hoặc sách vở khi học tập, viết lách hoặc nghiên cứu. Còn sự khái quát ngữ pháp là khái quát từ chính các đơn vị ngôn ngữ. Ví dụ như ý nghĩa sự vật được khái quát hóa từ hàng loạt các từ như bàn, ghế, giường, tủ, màn, nhà, cửa, ruộng, vườn, bát, đũa…

Ý nghĩa ngữ pháp phải được thể hiện ra bằng những hình thức nhất định. Và mỗi loại ý nghĩa được thể hiện bằng một loại phương tiện riêng: Đối với việc biểu đạt ý nghĩa từ vựng, phương tiện ấy là phương tiện từ vựng. Còn phương tiện để biểu thị ý nghĩa ngữ pháp là phương tiện ngữ pháp. Chẳng hạn, các ý nghĩa từ vựng “cuốn sách”, “bông hồng”, “con mèo”…trong tiếng Anh được thể hiện bằng những từ tương ứng; trong khi đó, ý nghĩa ngữ pháp số nhiều của các từ này thì được thể hiện bằng phụ tố s, và ý nghĩa ngữ pháp số ít - bằng phụ tố zêrô. Có thể nhận thấy điều này qua dẫn dụ sau:

books (những quyển sách) book (cuốn sách)

roses (những bông hồng) rose (bông hồng)

cats (những con mèo) cat (con mèo)

Ý nghĩa ngữ pháp trong một ngôn ngữ nào đó sẽ được biểu hiện bằng một phương tiện ngữ pháp diễn đạt nó. Chẳng hạn, nhận thức về thế giới khách quan, người Việt cũng có sự phân biệt giới tính của người và động vật như người Pháp. Nhưng trong tiếng Việt, sự phân biệt ấy được thể hiện bằng các phương tiện từ vựng, tức được thể hiện bằng các từ cụ thể như nam, nữ, ông, bà, anh, chị, cậu, mợ, chú, thím, đực, cái, trống, mái…Như vậy, “giống đực”, “giống cái” trong tiếng Việt không phải là ý nghĩa ngữ pháp. Trái lại, trong tiếng Pháp, các ý nghĩa về giống được thể hiện bằng các phụ tố và hư từ, tức là bằng các phương tiện ngữ pháp ở tất cả các danh từ và tính từ, kể cả ở những từ biểu thị các sự vật vốn không có giới tính. Chẳng hạn, tiếng Pháp từ la table (cái bàn) là danh từ, chỉ giống cái vì nó có hư từ la (chỉ giống cái đứng ở phía trước và phụ tố e trong từ).

Vậy, ý nghĩa ngữ pháp là loại ý nghĩa chung cho hàng loạt đơn vị ngôn ngữ và được thể hiện bằng những phương tiện ngữ pháp cụ thể nhất định.

3.2. Phương thức ngữ pháp

Ý nghĩa ngữ pháp trong ngôn ngữ bao giờ cũng được thể hiện bằng các hình thức ngữ pháp nhất định. Ví dụ, trong ngôn ngữ biến đổi hình thái, danh từ thường gắn với các phạm trù giống, số, cách; còn động từ thường gắn với các phạm trù ngôi, thời (thì), thể. Ví dụ, danh từ trong tiếng Pháp gắn với phạm trù giống: giống đực được thể hiện qua mạo từ: le (le verbe: động từ), giống cái, được thể hiện qua mạo từ: la (la question: câu hỏi), phạm trù số được thể hiện qua un (số ít, giống đực), une (số ít, giống cái); còn phạm trù số nhiều trong tiếng Pháp được thể hiện qua des, les. Khác với tiếng Pháp, ý nghĩa số nhiều trong tiếng Anh được thể hiện bằng các phụ tố: s, es. So sánh các từ: rose (một bông hồng) với roses (những bông hồng), table (một cái bàn) với tables (những cái bàn), demócracy (nền dân chủ), demócracies (những nền dân chủ). Như vậy, phương thức ngữ pháp là những biện pháp hình thức chung nhất thể hiện ý nghĩa ngữ pháp.

Các nhà ngôn ngữ học thường đề cập tới các phương thức ngữ pháp ngữ pháp phổ biến trong các ngôn ngữ như: Phương thức phụ tố, phương thức biến dạng chính tố, phương thức thay chính tố, phương thức trọng âm, phương thức lặp, phương thức hư từ, phương thức trật tự từ, phương thức ngữ điệu.

3.3. Phạm trù ngữ pháp

Ngôn ngữ là một hệ thống chặt chẽ, các yếu tố ngôn ngữ không tồn tại một cách biệt lập, rời rạc mà có quan hệ chặt chẽ với nhau, quy định sự tồn tại các giá trị của nhau. Chúng ta thường nói ý nghĩa số của danh từ một cách chung nhất và được biểu hiện một cách cụ thể như số ít, số nhiều (và số trung) của danh từ, ý nghĩa thời của động từ một cách chung nhất và thường được biểu hiện cụ thể: quá khứ, hiện tại, tương lai…Ý nghĩa chung nhất đó được gọi là phạm trù ngữ pháp. Vậy, phạm trù ngữ pháp là sự khái quát hóa, trừu tượng hóa từ nhiều ý nghĩa ngữ pháp cụ thể cùng loại của những từ hay cụm từ trong câu.

Các nhà ngôn ngữ học thường đề cập tới các phạm trù ngữ pháp phổ biến như giống, số, cách của danh từ và ngôi, thời, thể (thức), dạng của động từ.





CHƯƠNG I

TỪ LOẠI TIẾNG VIỆT HIỆN ĐẠI

PHẦN 1: TỪ LOẠI, TIÊU CHUẨN PHÂN ĐỊNH TỪ LOẠI TIẾNG VIỆT

1. Thế nào là từ loại

Từ loại là những lớp từ có cùng bản chất ngữ pháp, được phân chia theo ý nghĩa khái quát, theo khả năng kết hợp với các từ khác trong ngữ lưu và cùng thực hiện những chức năng ngữ pháp nhất định trong câu.

Trong tiếng Việt, các từ: nhà, bàn, ghế, chim, hoa, cây, học sinh, cán bộ, viên chức, sinh viên … được xếp vào từ loại danh từ vì :

  • Ý nghĩa từ vựng khái quát của chúng là ý nghĩa thực thể – sự vật.

  • Chúng có khả năng kết hợp trực tiếp hoặc gián tiếp với từ chỉ lượng đứng trước nó, với các từ chỉ định đứng sau nó như các tổ hợp từ : năm cái bàn này, bốn con chim kia …

  • Các từ này có khả năng trực tiếp làm chủ ngữ ở trong câu và có thể làm vị ngữ khi trước nó có từ .

Ví dụ:

(1) Hoa nở ; chim hót

CN CN

(2) Bạn Lan là sinh viên

VN

Các lớp từ xét về mặt ngữ pháp theo truyền thống thường được chia thành hai loại: các thực từ và các hư từ. Cũng có nhiều nhà ngôn ngữ học căn cứ vào đặc trưng về ngữ nghĩa và ngữ pháp cho rằng chỉ nên phân định từ loại ở thực từ. Tuy nhiên, nếu xem xét các lớp từ từ quan hệ của chúng với các phạm trù của logic, với các đặc trưng cơ bản thì cần phải được khảo sát các lớp từ một cách bình đẳng. Ở đây, chúng tôi chủ trương đi theo hướng này, tức là thừa nhận việc phân định từ loại tiếng Việt thành hai nhóm lớn và ở mỗi nhóm lớn lại được phân định thành những từ loại cụ thể.

2. Tiêu chuẩn phân định từ loại tiếng Việt

2.1. Vấn đề phân định từ loại trong tiếng Việt

Vấn đề bản chất của từ loại tiếng Việt thường được nhìn nhận ở cả ba phương diện:

  1. Từ loại trong tiếng Việt trong quan hệ với các ngôn ngữ nói chung;

  2. Từ loại tiếng Việt với tư cách một ngôn ngữ thuộc loại hình đơn lập – phân tích;

  3. Từ loại tiếng Việt với những đặc điểm của bản thân tiếng Việt.

Việc nghiên cứu về từ loại tiếng Việt ít nhiều đều ảnh hưởng các khuynh hướng lí luận đã nêu trên.

Một số nhà nghiên cứu về từ loại xuất phát từ quan điểm hình thái học cho rằng tiếng Hán, tiếng Việt, tiếng Nhật… không có hệ thống hình thái như các ngôn ngữ Ấn - Âu nên không có từ loại. Khuynh hướng này không có mấy ảnh hưởng đến nghiên cứu về từ loại trong tiếng Việt.

Tiếng Việt có từ loại. Điều này được khẳng định bởi hầu hết các công trình nghiên cứu về từ loại tiếng Việt, nhưng việc xác định các tiêu chuẩn phân định từ loại cũng có những điểm khác nhau.

Có một số tài liệu ngữ pháp trước đây lấy căn cứ ý nghĩa làm tiêu điểm để phân định từ loại. Tiêu chuẩn ý nghĩa được sử dụng làm cơ sở để định nghĩa về từ loại đó. Quan niệm như vậy chưa hẳn là sai nhưng có thể thường bị nhìn nhận là phiến diện bởi các lí do sau:

- Không thấy được sự thống nhất hữu cơ giữa ý nghĩa và hình thức ngữ pháp của từ tiếng Việt;

- Không có tác dụng tích cực đối với quá trình sử dụng tiếng Việt và hệ quả là không có tác dụng hướng dẫn việc dùng từ, đặt câu, việc nhận biết và sửa lỗi ngữ pháp đối với người học tập, nghiên cứu ngữ pháp tiếng Việt;

- Không nhận thấy đặc điểm riêng của từng ngôn ngữ khi xác định từ loại và cũng không thấy được đặc trưng của các từ loại tiếng Việt.

Các tài liệu ngữ pháp hiện đương khi viết về từ loại đều bày tỏ thái độ không tán thành việc xác định từ loại tiếng Việt mà chỉ dựa vào ý nghĩa của từ. Các nhà nghiên cứu về từ loại tiếng Việt hiện nay đều thống nhất cho rằng có hai (hoặc ba) tiêu chuẩn hợp thành bộ tiêu chuẩn để phân định từ loại trong tiếng Việt:

  1. Tiêu chuẩn về ý nghĩa khái quát của từ (nay còn gọi là tiêu chuẩn về ý nghĩa ngữ pháp);

  2. Tiêu chuẩn đặc điểm về hình thức ngữ pháp của từ. Tiêu chuẩn này có thể phân chia làm hai tiêu chuẩn nhỏ hơn, đó là khả năng kết hợp và chức năng cú pháp của từ.

Hiện nay, có nhà nghiên cứu (x. Ngữ pháp tiếng Việt, Diệp Quang Ban – Hoàng Dân, 2000) lại chủ trương rằng bộ tiêu chuẩn trên chỉ phù hợp với lớp thực từ trong tiếng Việt, còn lớp hư từ cần có những tiêu khác thích hợp hơn. Để không quá gây xáo trộn trong ngữ pháp nhà trường, trong tài liệu này, chúng tôi chủ trương thừa nhận bộ tiêu chuẩn phân định từ loại như nhiều nhà nghiên cứu về từ loại đã xây dựng.

2.2. Tiêu chuẩn phân định từ loại tiếng Việt

2.2.1. Ý nghĩa khái quát của từ

Ý nghĩa khái quát của từ là phần ý nghĩa chung của cả một lớp từ hoặc một tiểu loại các từ. Ý nghĩa khái quát của từ còn được gọi là ý nghĩa ngữ pháp để phân biệt với ý nghĩa từ vựng là ý nghĩa cụ thể của từng từ. Phần ý nghĩa khái quát của lớp từ cũng tồn tại trong ý nghĩa từ vựng của từng từ thuộc lớp từ đó.

Chẳng hạn, tất cả các từ có ý nghĩa khái quát chỉ sự vật có tính vật thể và những sự vật phi vật thể được người bản ngữ nhận thức một cách độc lập như những sự vật đều thuộc vào lớp danh từ. Khái niệm sự vật ở đây có nghĩa ngoại diên rất rộng, bao gồm vật vô sinh: đất, đá, gạch, ngói… và vật hữu sinh (là thực vật như cam, quýt, bưởi … là động vật như lợn, gà, hổ, báo, người), những hiện tượng tự nhiên như gió, sấm, chớp …, vật tri giác được (như đã sơ bộ chỉ ra ở trên) và sự vật trừu tượng như: chủ đề, đề tài, lí tưởng, ước mơ, linh hồn, tâm linh … Tương tự, tất cả các từ có ý nghĩa khái quát chỉ hoạt động như: ăn, uống, chạy, nhảy, trạng thái như băn khoăn, ăn năn, lo lắng … đều thuộc lớp động từ. Còn tất cả các từ chỉ đặc trưng về tính chất như: xanh, đỏ, tím, vàng tốt, xấu, cao thượng, thấp hèn… đều thuộc lớp tính từ.

Chính về tính chất ý nghĩa khái quát chung cho nhiều từ, có tác dụng phân định từ loại như vậy, người ta gọi ý nghĩa khái quát này là ý nghĩa phạm trù chung.

Ý nghĩa khái quát thường có thể có mức độ khác nhau. Các từ có ý nghĩa khái quát chỉ hoạt động như giặt, đóng, đá, ra, lên, vào … lại có thể chia thành hai nhóm nhỏ hơn: hoạt động tác động đến đối tượng (giặt, đóng, đá) và hoạt động có phương hướng (ra, lên, vào). Đây thường được coi là cơ sở để phân chia từ loại thành các tiểu loại.

2.2.2. Khả năng kết hợp của từ

Khả năng kết hợp của từ thường được nhìn nhận ở hai khía cạnh để xác định từ loại:

  • Kết hợp được với các hư từ có tác dụng định loại, chẳng hạn như các từ ghế, giường, tủ… có thể kết hợp trực tiếp hoặc gián tiếp với từ có ý nghĩa chỉ số lượng đứng ở trước nó: ba bàn, bốn ghế, năm cái giường, ba cái tủ và kết hợp được với các từ chỉ định đứng ở phía sau nó: bàn này, ghế kia … được xác định là từ loại danh từ. Các từ ăn, uống, chạy, nhảy … không có khả năng kết hợp như danh từ nhưng có khả năng kết hợp với các phụ từ có ý nghĩa chỉ mệnh lệnh đứng ở trước nó như đừng chạy, chớ chạy, hãy ăn … có thể xếp vào từ loại động từ … Các hư từ này thường tạo ra bối cảnh … đối lập giữa lớp từ này (danh từ) với lớp từ kia (động từ) như vừa dẫn ra ở trên, được coi là từ chứng (từ kiểm chứng, chứng tố) cho từng từ loại. Do vậy, có thể hiểu từ chứng là những từ (thường là hư từ) tạo ra những chứng cớ khác biệt cho một từ loại cụ thể nào đó.

  • Khả năng tổ chức của từ, tức là xem xét từ đó đảm nhận là thành tố chính trong cụm từ chính phụ hay là thành tố phụ trong cụm từ chính phụ nhỏ nhất. Ở khía cạnh này, chúng ta có thể nhận biết được thực từ hư từ. Những từ nào có khả năng làm được thành tố chính trong cụm từ chính phụ được xếp vào nhóm các thực từ, còn những từ nào không có khả năng đó có thể xếp vào nhóm các hư từ.

2.2.3. Chức năng cú pháp

Chức năng cú pháp là một thuật ngữ chuyên môn dùng để chỉ chức năng đảm nhận một thành phần câu nào đó của từ trong câu như chủ ngữ, vị ngữ, trạng ngữ, đề ngữ… Các từ có cùng chức năng cú pháp có thể xếp vào một từ loại. Chẳng hạn, các câu - phát ngôn tối giản như: hoa nở, chim hót, mây bay, gió thổi… hoa, chim, mây, gió đảm nhận thành phần câu chủ ngữ nên xếp vào từ loại danh từ; còn các từ nở, hót, bay, thổi là vị ngữ trong câu, xếp vào từ loại động từ.

Tuy nhiên vì một từ có thể đảm nhận nhiều chức năng cú pháp trong câu nên phải xem chức năng cú pháp nào của từ là chủ yếu để làm căn cứ phân loại . Có thể nhận thấy rằng mối quan hệ giữa chủ ngữ vị ngữ trong câu là mối quan hệ chính yếu trong cấu tạo ngữ pháp của câu. Trong câu tối giản (câu hai từ, có đủ hai thành phần câu: chủ ngữ, vị ngữ), danh từ (và có thể là đại từ) mới có khả năng làm chủ ngữ trong câu; còn động từ, tính từ có khả năng làm vị ngữ trong cấu tạo của kiểu câu này. Các từ loại khác hầu như không có khả năng này.

Đinh Văn Đức khẳng định: “Từ loại là bản chất ngữ pháp của từ. Thành phần câu là chức vụ cú pháp của từ trong câu. Cái thứ nhất là bản chất ổn định, cái thứ hai là chức năng, là lâm thời. Vậy thì chỉ có thể dùng chức năng để góp phần soi sáng cho bản chất chứ không thể làm cơ sở duy nhất cho sự phân loại.” ­­(x. Ngữ pháp tiếng Việt, (1986), tr.41, câu cuối in nghiêng do chúng tôi nhấn mạnh – VTD). Chúng tôi thừa nhận quan niệm này nhưng không thể không nhắc đến tiêu chuẩn chức năng cú pháp khi phân định từ loại với những lí do như đã phân tích ở trên. Vả lại, chính Đinh Văn Đức cũng xác nhận: “Chức vụ cú pháp phải được hiểu như một chùm chức vụ có thể có được với mỗi một từ loại khi xuất hiện trong câu. Cố nhiên trong chùm chức vụ đó sẽ luôn có một chức vụ nổi lên đối với mỗi một từ loại như là một chức năng trung tâm” (x. sđd, tr.42).

Tóm lại, việc phân định từ loại tiếng Việt có thể dựa vào một tập hợp gồm ba tiêu chuẩn: (1). Ý nghĩa khái quát của từ, (2). khả năng kết hợp và (3). chức năng cú pháp. Trong ba tiêu chuẩn trên hợp thành bộ tiêu chuẩn thì tiêu chuẩn (1) và (2) là những tiêu chuẩn có tác dụng nhiều hơn trong việc tập hợp và quy loại từ. Và dễ nhận thấy các nhà nghiên cứu từ loại tiếng Việt, theo truyền thống ngữ pháp nhà trường thường chia từ loại tiếng Việt thành hai tập hợp cơ bản sau:

  • Các thực từ (danh từ, động từ, tính từ, đại từ, số từ)

  • Các hư từ (quan hệ từ, phụ từ, tiểu từ).





PHẦN 2: HỆ THỐNG TỪ LOẠI TIẾNG VIỆT HIỆN ĐẠI

§1. DANH TỪ

Danh từ là từ loại quan trọng bậc nhất trong số các từ loại (có số lượng rất lớn, có chất lượng quan trọng về cơ cấu ngữ pháp) của một ngôn ngữ nói chung và của tiếng Việt nói riêng. Danh từ đã cùng với động từ tạo nên cái trục quay mà quay quanh nó là các vấn đề của từ pháp lẫn cú pháp như các vấn đề về phạm trù ngữ pháp, kết hợp từ và chức năng cú pháp của từ trong câu.

  1. Đặc trưng của danh từ

1.1. Về ý nghĩa

Danh từ có ý nghĩa chỉ sự vật và những khái niệm trừu tượng được người bản ngữ nhận thức một cách độc lập như là những sự vật. Hay nói một cách khác, ý nghĩa của danh từ là ý nghĩa thực thể (Substantif). Hiểu rộng, khái niệm thực thể là ý nghĩa chỉ sự vật, chỉ khái niệm về sự vật và những gì được sự vật hóa. Ý nghĩa sự vật là ý nghĩa nòng cốt của danh từ, nó mang bản chất từ vựng ngữ pháp. Ý nghĩa sự vật cùng với ý nghĩa phi sự vật (những sự vật không tri giác được – phi sự vật) làm thành ý nghĩa thực thể của danh từ là ý nghĩa thuần túy ngữ pháp, nó xuất hiện do mối quan hệ giữa các khái niệm trong tư duy của người bản ngữ. Chẳng hạn :

  • Lớp từ có ý nghĩa chỉ sự vật cụ thể: đất, đá, sông, núi, dầu, xăng, mỡ, mắm, muối, học sinh, sinh viên, công nhân, nông dân…

  • Lớp từ có ý nghĩa phi sự vật (vật không tri giác được): đề tài, chủ đề, văn học, triết học, tâm hồn, thói, thói quen, nhân cách, tính cách …

Bản chất ý nghĩa của danh từ được biểu hiện đầy đủ qua các đặc điểm ngữ pháp của danh từ trên các phương diện khả năng kết hợp và chức năng cú pháp.

1.2. Khả năng kết hợp

Danh từ có khả năng làm thành tố chính trong cụm từ chính phụ mà ta có thể gọi nó là cụm danh từ. Danh từ có khả năng trực tiếp hoặc gián tiếp kết hợp với các từ chỉ ý nghĩa số lượng đứng ở trước nó và các từ chỉ định đứng ở sau nó. Số từ và đại từ chỉ định thường được xem xét là từ chứng cho danh từ.

Ví dụ:

(1) hai tỉnh này; bốn tỉnh kia. (số từ kết hợp trực tiếp với danh từ.)

(2) năm lít xăng; sáu lạng thịt. (số từ kết hợp gián tiếp với các danh từ: xăng, thịt.)

1.3. Chức năng cú pháp

Danh từ có đầy đủ chức năng cú pháp của thực từ, nghĩa là có khả năng làm chủ ngữ, vị ngữ và các thành phần khác trong câu.

Danh từ có khả năng trực tiếp làm chủ ngữ trong câu mà đặc biệt là trong câu tối giản (câu chỉ có hai từ, một từ làm chủ ngữ , một từ làm vị ngữ); danh từ kết hợp với từ làm thành vị ngữ trong câu; và vị ngữ có cấu trúc: + danh từ/cụm danh từ.

V

í dụ:

(3) Mây bay, gió thổi.

CN CN

(4) Anh Hùng giáo viên.

VN

(Lưu ý: có những trường hợp danh từ làm vị ngữ trước nó không có từ : Đồng hồ này hai kim. Năm nay ông Ba năm mươi tuổi).

Danh từ có thể làm trạng ngữ, đề ngữ, bổ ngữ trong câu. . .

Ví dụ:

(5) Chiều, trời lại bắt đầu trở rét. (danh từ làm trạng ngữ)

(6) Nhà, bà ấy có hàng dãy ở khắp các phố. Ruộng, bà ấy có hàng trăm mẫu ở quê. (danh từ làm đề ngữ)

(Nguyễn Công Hoan)

(7) Tôi đọc sách. (danh từ làm bổ ngữ)

2. Phân loại và miêu tả

Căn cứ để phân loại danh từ thường rất phức tạp vì các đặc trưng của các loại danh từ thường đan chéo vào nhau. Căn cứ vào ý nghĩa và khả năng kết hợp, ngữ pháp nhà trường thường chia danh từ thành hai nhóm: Danh từ riêng và danh từ chung.

2.1. Danh từ riêng

Cũng như ở các ngôn ngữ khác, trong danh từ tiếng Việt cần phải tách danh từ riêng

thành một tiểu loại đặc biệt. Danh từ riêng là những từ chỉ cá thể từng người, từng sự vật; tức là chỉ dùng để gọi tên một sự vật duy nhất. Chính đặc điểm này là đặc điểm đã làm cho danh từ riêng khác hẳn các danh từ còn lại, cả về mặt ý nghĩa, cả về mặt đặc trưng ngữ pháp.

Danh từ riêng thường không kết hợp được với từ có ý nghĩa chỉ lượng đứng ở trước nó. Người Việt không thể chấp nhận cách nói: mọi Thanh Hóa, ba Hà Nội, bốn Sơn La, các Nam Định…

Danh từ riêng trong những điều kiện cụ thể nhất định có thể kết hợp được với từ có ý nghĩa chỉ lượng đứng ở trước nó. Chẳng hạn:

(8) Lớp tôi có hai Hồng, bạn hỏi Hồng nào?

(9) Sẽ còn có những Điện Biên Phủ chờ lũ chúng nó ở châu Mĩ – la – tinh và ở châu Phi. (Nguyễn Tài Cẩn)

Những cách kết hợp từ như đã nói ở trên, không nên lầm lẫn với các trường hợp sau:

- Trường hợp như Tám Bính, Năm Sài Gòn, Ba Giai…Trường hợp này đã trở thành một bộ phận của tên ghép, và thường dùng để chỉ thứ tự.

- Trường hợp như Một Hiên, Hai Tôn…Trường hợp này, số từ dùng để chỉ, theo lối nói thông thường của nhân dân, một số cấp bậc trong hàng sĩ quan (một = thiếu úy, năm = đại tá) phổ biến nhất thời trước cách mạng.

- Trường hợp “một” dùng với ý nghĩa “chỉ một”, “mỗi một”.

Ví dụ:

(10) Một Vũ Ngọc Hải thì không làm gì được họ.

Danh từ riêng có thể kết hợp được với từ “cái” đứng ở trước nó thông qua một danh từ chung và nó chỉ số ít với ý nghĩa biểu cảm thường thiếu tích cực.

Ví dụ:

(11) Cái thằng Mới này láo thật. (Ngô Tất Tố)

Danh từ riêng có thể kết hợp được với từ có ý nghĩa chỉ định đứng ở phía sau. Chẳng hạn:

(12) Cái thằng Năm Sài Gòn này không bao giờ thèm dùng nước mắt để lừa dối người. (Nguyên Hồng)

Trên hình thức chữ viết, danh từ riêng được viết hoa. Các nhà ngữ pháp học thường căn cứ vào ý nghĩa chia danh từ riêng làm hai tiểu loại: Danh từ riêng chỉ người và danh từ riêng chỉ sự vật.

2.1.1. Danh từ riêng chỉ người

Tên riêng của người Việt thường có 3 yếu tố: họ, đệm, tên. Phần đệm có thể khuyết. Trước kia, những tên đệm chúng ta thường gặp nhất là: thị, nữ (đối với phụ nữ) và văn, gia, duy, đình, bá, trọng, thúc, quý (đối với nam). Gần đây đã xuất hiện một khuynh hướng mới: lấy họ mẹ làm tên đệm, bỏ thị trước tên phụ nữ, thay đổi tổ hợp “thị + tên” bằng một tên ghép nhẹ nhàng, mềm mại, đẹp theo tư duy thẩm mĩ của người Việt.

Ví dụ:

(13) Mĩ Duyên, Lệ Thủy, Diễm Hằng, Mi Li, Tuyết Mai, Bạch Tuyết, Mĩ Linh, Thúy Nga … (tên phụ nữ)

(14) Nguyễn Văn An, Huỳnh Thúc Kháng, Nguyễn Đình Hòe, Lê Văn Lương, Quản Trọng Hùng …(tên nam giới)

Điều dễ nhận thấy là họ, tên người trong tiếng Việt không có sự phân biệt giới tính và sự phân biệt đó thường gắn với phần đệm trong tên riêng của người Việt.

Bên cạnh tên riêng chính thức, người Việt còn dùng tên riêng thông dụng và tên riêng đặc biệt. Tên riêng chính thức là tên được thừa nhận trong Giấy khai sinh, tên riêng thông dụng dùng trong giao tiếp thường ngày; tên riêng, đặc biệt bí danh, bút danh, biệt danh…thường dùng trong ngôn ngữ viết.

Ví dụ:

(15) Ở nhà mẹ cháu gọi cháu là thằng Hui. Còn tên cháu viết trên nhãn vở là Nguyễn Văn Huy. (Lê Minh Khuê)

Trong hoạt động giao tiếp, danh từ riêng tiếng Việt được dùng trong xưng hô. Đây là một điểm khác biệt giữa tiếng Việt với nhiều ngôn ngữ khác. Trong các ngôn ngữ khác, danh từ riêng chỉ được dùng trong hành động xưng, chứ không được dùng trong hành động hô. Trong xưng hô, danh từ riêng ít được dùng một mình trong xưng hô mà thường được ghép với với một danh từ chung chỉ quan hệ gia đình thân tộc, chỉ chức nghiệp… để biểu thị những sắc thái tình cảm khác nhau (trọng thị, trung hòa, thân mật, suồng sã, khinh thị).

Ví dụ:

(16) Kính thưa Giáo sư Tiến sĩ Diệp Quang Ban, Chủ tịch Hội đồng chấm luận án tiến sĩ!

(17) Cậu Thảo đi đâu mà về khuya thế?

(Thanh Tịnh)

(18) Cô Phương hỏi gì thế?

(Thanh Tịnh)

Danh từ riêng có thể kết hợp đứng trước một số từ khác có tính chất “biệt danh” để đặc điểm riêng của người có tên riêng như Hải béo, Minh phệ, Nguyệt lão, Long gù…

Ví dụ:

(19) Chị Nguyệt “lão” chưa kịp trỏ, tôi đã nhận ra tấm ảnh của Nguyệt. (Nguyễn Minh Châu)

2.1.2 Danh từ riêng chỉ sự vật

Danh từ riêng chỉ sự vật thường dùng để chỉ:

- Tên riêng một con vật cụ thể, xác định như con Ba Bớp (tên một con bò do nhà văn Hồ Phương đặt trong tác phẩm Cỏ non), con Milu, con Nich, con Giôn, con Vện…(tên con chó do chủ nuôi đặt tên cho)

Ví dụ:

(20) Ông già hỏi trong lúc ngước cổ lên trạm đèn và con Mi Mi tru tréo vang dậy. (Nguyễn Thi)

- Tên gọi một đồ vật cụ thể như Đông Chu liệt quốc, Hồng lâu mộng, Nhà hát lớn…

Ví dụ:

(21) Hôm qua, ngày 28 – 6, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ 8 của Đảng đã khai mạc trọng thể tại Hội trường Ba Đình lịch sử. (Báo Nhân dân)

- Tên các tổ chức chính trị xã hội như Bộ Giáo dục và Đào tạo, Công đoàn ngành Giáo dục và Đào tạo Việt Nam, Trường Đại học Tây Bắc

Ví dụ:

(22) Thời gian này, người lính Trần Văn Nuôi đã xuất ngũ, đang làm tạp vụ cho Huyện ủy Vũng Liêm.

(Bùi Anh Tấn)

- Địa danh như Cửu Long, Trường Sơn, Yên Bái, Lào Cai, Phú Thọ

Ví dụ:

(23) Phường Tân Lộc (quận Thốt Nốt, thành phố Cần Thơ) là một địa phương có tỉ lệ lấy chồng Đài Loan, Hàn Quốc rất cao.

(Hoàng Mai)

2.2 Danh từ chung

Danh từ chung là tên chung, có ý nghĩa chỉ chủng loại sự vật, có tính khái quát trừu tượng, không có mối liên hệ trực tiếp “1 – 1” giữa tên gọi và sự vật được gọi tên.

Danh từ chung có khả năng làm thành tố chính trong một kết hợp từ, kết hợp trực tiếp hoặc gián tiếp với từ có ý nghĩa chỉ lượng đứng ở trước nó, các từ có ý nghĩa chỉ thứ tự, chỉ đặc điểm của sự vật, có ý nghĩa chỉ định đứng ở sau nó.

Căn cứ vào ý nghĩa khái quát và khả năng kết hợp, danh từ chung được phân chia làm các lớp: danh từ tổng hợpdanh từ không tổng hợp, danh từ chỉ đơn vị, danh từ chỉ vật thể, danh từ chỉ chất liệu, danh từ có ý nghĩa trừu tượng.

2.2.1. Danh từ tổng hợp

Danh từ tổng hợp không chỉ riêng từng sự vật một mà dùng để chỉ gộp một loại cả một tổng thể gồm nhiều sự vật hoặc đồng loại với nhau hoặc có chung một số điểm nào đấy, như cây cối, bạn bè, đường sá, gậy gộc, xe cộ, giấy má, quần áo, thợ thuyền

Danh từ tổng hợp trong tiếng Việt đều có cấu tạo song tiết: binh lính, ruộng nương, áo xống, sách vở, thôn xóm, vườn tược, chợ búa, con cháu

Về mặt ý nghĩa, trong nhóm danh từ tổng hợp không thể xuất phát từ ý nghĩa từ vựng của từng từ để quy thành ý nghĩa khái quát chung của cả nhóm. Điểm duy nhất chung cho cả

nhóm là danh từ nào cũng chỉ sự vật một cách tổng hợp.

Danh từ tổng hợp kết hợp một cách rất hạn chế với số từ. Tiếng Việt khó có thể chấp nhận cách nói: năm bàn ghế, ba thôn xóm…Có một số danh từ vừa dùng để biểu thị danh từ tổng hợp vừa có thể biểu thị sự vật tổng hợp thì kết hợp được với từ chỉ lượng như tất cả bạn bè, hai học sinhDanh từ tổng hợp không đứng sau các danh từ chỉ loại (danh từ chỉ đơn vị) như cái, con, chiếc, bức, cơn…mà chỉ kết hợp với các từ chỉ tập thể như cặp, đoàn, tốp, lũ, bộ…Ví dụ tiếng Việt không có cách kết hợp từ: cái quần áo, con trâu bò…mà chỉ có một cặp vợ chồng, hai bộ quần áo, một tốp binh lính

2.2.2. Danh từ không tổng hợp

Danh từ không tổng hợp là các danh từ chỉ các vật thể rời, theo cá thể như người, vợ, chồng, bàn, ghế, giường, tủ, quần, áo, chăn, chiếu, gối, đệm, …Danh từ không tổng hợp thường là các từ đơn.

Danh từ không tổng hợp có thể kết hợp được với các số từ và các danh từ chỉ loại (danh từ chỉ đơn vị) như ba người, hai bàn, bốn ghế, cái bàn, con thuyền, cái chăn, cái chiếu. Trong nhóm danh từ không tổng hợp có nhóm danh từ chỉ chất liệu như dầu, mỡ, mắm, muố, xăng,…không kết hợp trực tiếp được với số từ.

2.2.3. Danh từ chỉ đơn vị

Đây là lớp danh từ chỉ đơn vị sự vật. Chúng kết trực tiếp với các số từ. Dựa vào ý nghĩa, danh từ chỉ đơn vị có các tiểu loại sau:

  • Danh từ chỉ đơn vị tự nhiên. Các danh từ này có ý nghĩa chỉ sự vật tồn tại dưới dạng cá thể có thể tính theo đơn vị. Các danh từ này cũng chỉ rõ loại sự vật nên còn được gọi là danh từ chỉ loại hay loại từ. Đó là các từ: con, cái, sự, cuộc, nỗi, niềm, chiếc, bức, tấm, cuốn, nguồn, cơn, con, cây, cục, quyển, ngôi, hòn, hạt, giọt, sợi…

Ví dụ:

(24) cái bàn, ngôi nhà, quyển vở, hạt thóc, cơn mưa, cuộc sống, chiếc bánh, con gà...

- Danh từ chỉ đơn vị đo lường. Đây là các danh từ chỉ các đơn vị quy ước để đo đếm các vật liệu: cân, mét, thước, tấc, mẫu, sào, lít, tạ, tấn, sải, gang…

Ví dụ:

(25) hai mét vải, năm tạ gạo, bốn tấn thóc, năm sào đất...

- Danh từ chỉ các đơn vị tập thể. Chúng dùng để tính đếm các sự vật tồn tại dưới dạng tập thể, do đó chúng thường kết hợp với các danh từ tổng hợp. Đó là các từ như bộ, cặp, bọn, tụi, đàn, tốp, dãy, bó, nắm…

Ví dụ:

(26) bộ bàn ghế, cặp vợ chồng, tốp binh lính, tốp thợ thuyền, dãy quần áo

- Danh từ chỉ đơn vị thời gian. Đây là các danh từ có ý nghĩa chỉ ý nghĩa thời gian như giây, phút, giờ, tuần, tháng, năm, thế kỉ, thiên niên kỉ, vụ, mùa, buổi…

Ví dụ:

(27) hai giờ sau, năm phút nữa, thế kỉ này, một tuần nữa.

- Danh từ chỉ đơn vị sự việc như lần, lượt, trận, chuyến, phen, cuộc, cú…

- Danh từ chỉ các đơn vị hành chính, nghề nghiệp như thôn, xóm, xã, huyện, tỉnh, thành phố, nước, tổ, lớp, trường, ban, ngành, môn, tiểu đội, đại đội, tiểu đoàn, trung đoàn…

2.2.4. Danh từ chỉ vật thể

Các danh từ này chiếm một số lượng lớn. Về mặt ý nghĩa, chúng có thể chỉ người, chỉ động vật, thực vật, chỉ đồ vật. Về mặt khả năng kết hợp, chúng kết được với số từ thông qua danh từ chỉ đơn vị tự nhiên.

Ví dụ:

(28) những người công nhân, hai đứa học trò, ba con , bốn cái xe, dăm cây chanh, vài ngôi nhà, năm ngọn núi, mười quả hồng

2.2.5. Danh từ chỉ chất liệu

Các danh từ này có ý nghĩa chỉ chất liệu. Chúng thường kết hợp với số từ thông qua danh từ chỉ đơn vị đo lường. Đó là các từ như đường, mắm, muối, dầu, xăng, mỡ, nước, đất, đá, khí, hơi…

Ví dụ:

(29) năm lít xăng, mười cân đường, ba tấn thép, hai sào đất

Trong thực tế sử dụng, cùng một danh từ có thể được dùng khi thì trong tư cách danh từ chỉ vật thể (năm cái chén), khi thì trong tư cách danh từ chỉ đơn vị (năm chén rượu). Ở mỗi trường hợp, chúng có khả năng kết hợp khác nhau với số từ.

2.2.6. Danh từ có ý nghĩa trừu tượng

Nhóm danh từ này không chỉ các vật thể, các chất liệu, hay các đơn vị sự vật cụ thể mà biểu thị các khái niệm trừu tượng: tình cảm, ý, ý nghĩ, ý nghĩa, quyền lợi, tư tưởng, đạo đức, khả năng, quan hệ, thái độ, khái niệm…Chúng có khả năng kết hợp trực tiếp hoặc gián tiếp với số từ (thông qua các từ chỉ đơn vị).

Ví dụ:

(30) bốn khả năng, ba ý, năm khái niệm, một nền đạo đức, năm mối quan hệ, ba luồng tư tưởng

§2. ĐỘNG TỪ

Trong tiếng Việt, bên cạnh danh từ, động từ là một từ loại lớn, bao gồm một số lượng lớn các từ. Trong hoạt động giao tiếp, động từ được sử dụng với tần số cao và đóng vai trò quan trọng trong việc tổ chức câu. Theo kết quả thống kê của Nguyễn Kim Thản, số câu mà vị ngữ là động từ vào khoảng 88%, trong khi đó, số câu có vị ngữ tính từ chỉ chiếm 4%, và số câu có vị ngữ danh từ chỉ vào khoảng 8%. Ngoài ra, động từ còn có thể đảm nhận nhiều chức năng cú pháp khác nữa.

1. Đặc trưng của động từ

1.1. Về ý nghĩa

Động từ là những từ biểu thị ý nghĩa khái quát về quá trình (tức là những hiện tượng nối tiếp nhau theo thời gian, theo một trình tự nhất định của một sự việc nào đó, có khởi đầu hình thành, phát triển và kết thúc). Ý nghĩa quá trình thể hiện trực tiếp đặc trưng vận động của thực thể. Đó chính là ý nghĩa hành động. Hay nói cách khác, động từ có ý nghĩa khái quát chỉ hoạt động hay trạng thái (trạng thái vật lí, sinh lí hay tâm lí) nhất định của người, vật.

Ví dụ:

(1) đi, chạy, nhảy, đấm, ăn, uống, viết, đọc, hát…có ý nghĩa khái quát chỉ hoạt động.

(2) lo lắng, ăn năn, hồi hộp, băn khoăn, day dứt…có ý nghĩa khái quát chỉ trạng thái.

1.2. Về khả năng kết hợp

Động từ có khả năng làm thành tố chính trong một cụm từ chính phụ, và có thể gọi cụm từ chính phụ đó là cụm động từ (ngữ động từ). Động từ có khả năng kết hợp với phụ từ, đặc biệt là chúng có khả năng kết hợp với các phụ từ chỉ mệnh lệnh: hãy, đừng, chớ đứng trước và các phụ từ đi, thôi, đi thôi, đi nào đứng sau. Lớp phụ từ chỉ mệnh lệnh thường được các nhà nghiên cứu xác định là từ chứng của động từ (danh từ không có khả năng kết hợp với các phụ từ này; tính từ kết hợp hạn chế với các phụ từ: hãy, đừng, chớ).

Ví dụ:

(3) Mặt trời đã lặn xuống tận mặt đất.

(Ngô Tất Tố)

(4) Những ngày sẽ đến

Những ngày đã qua

Bao nhiêu cay đắng

Bao nhiêu mặn mà.

(Tế Hanh)

(5) Đừng đau thương, em hỡi chớ đau thương,

Hãy nắm trong tay vững ngọn súng trường.

(Chế Lan Viên)

Ngoài ra, lớp phụ từ chỉ phương hướng: ra, vào, lên, xuống… kết hợp được với động từ và đứng sau động từ cũng có thể là từ chứng của động từ.

Ví dụ:

(6) Chị không thể nào mà nới ra được.

(Ngô Tất Tố)

(7) Người ta nói ra tiền.

(Nam Cao)

(8) Cứ ra tắm đi rồi mặc vào.

(Ngô Tất Tố)

(9) Y không cất đầu lên được.

(Nam Cao)

Lớp phụ từ phương hướng này vốn là các động từ có ý nghĩa chỉ hoạt động có tính phương hướng khi chúng hoạt động độc lập. Khi chúng đứng sau một động từ khác thì ý nghĩa hoạt động mờ đi, chỉ còn lại ý nghĩa phương hướng và chúng hoạt động với tư cách phụ từ (có nhà nghiên cứu gọi lớp phụ từ này là phó động từ).

1.3. Chức năng cú pháp

Động từ có khả năng làm vị ngữ trong câu, đặc biệt, động từ có khả năng trực tiếp làm vị ngữ trong câu chỉ có hai từ nên một số nhà nghiên cứu xếp động từ thuộc về từ loại vị từ.

Ví dụ:

(10) Nước chảy.

(11) Hoa nở.

(12) Bức tranh treo trên tường.

Chính ở chức năng cú pháp này mà một số nhà nghiên cứu xếp từ loại động từ thuộc về từ loại vị từ. Chức năng làm vị ngữ của động từ làm thành một tiêu chí đối lập động từ với danh từ trong tiếng Việt. Ngoài ra, động từ còn có khả năng đảm nhận các thành phần câu khác như chủ ngữ, trạng ngữ, đề ngữ…Khi động từ làm chủ ngữ trong câu thì sau nó thường có từ “là”.

Ví dụ:

(13) Khóc là nhục, rên là hèn, van yếu đuối.

(Tố Hữu)

(14) Thi đua là yêu nước.

(15) Sống là đấu tranh.

(16) Lễ phép, mẹ con chị Dậu cùng cúi chào.

(Ngô Tất Tố)

(17) Sống, chúng ta mong được sống làm người.

(Tố Hữu)

Các ví dụ (13), (14), (15), động từ làm chủ ngữ, ví dụ (16), động từ làm trạng ngữ, ví dụ (17), động từ làm đề ngữ.

2. Phân loại và miêu tả

Căn cứ vào ý nghĩa và chức năng cú pháp, động từ có thể được tách làm

hai nhóm: các động từ không độc lập và các động từ độc lập.

2.1. Động từ không độc lập

Về ý nghĩa, động từ không độc lập biểu thị quá trình chưa đầy đủ, chưa trọn vẹn; chúng chỉ tình thái vận động ở lúc bắt đầu hay kết thúc quá trình hay ý nghĩa quá trình không trực tiếp gắn với ý nhĩa hoạt động hay trạng thái cụ thể (có thể nói là trống nghĩa).

Động từ không độc lập là những động từ thường không dùng một mình để làm thành phần câu. Chúng phải được dùng với một từ hoặc một cụm từ để đảm nhận vai trò của một thành phần câu.

Ví dụ:

(18) Em bé bị. (câu cụt)

(19) Em bé bị bố mắng. (động từ + cụm chủ vị)

(20) Nhộng hóa thành bướm. (động từ + danh từ)

Động từ không độc lập thường được chia làm hai tiểu loại: động từ có ý nghĩa tình thái và động từ chỉ quan hệ.

2.1.1. Động từ tình thái

Những động từ này không biểu thị hoạt động hay trạng thái mà chỉ biểu thị tình thái về khả năng như có thể, không thể, chưa thể…; chỉ tình thái về sự cần thiết như cần, phải, cần phải, nên, khỏi… chỉ tình thái về ý chí như định, toan, nỡ, dám…chỉ tình thái về sự mong muốn như mong, muốn, ước, mong muốn, ước muốn, mong ước, tơ tưởng hay sự đánh giá như cho, thấy, xem

Ví dụ:

(21) Sạ phải đem thân đi ở rể.

(Tô Hoài)

(22) Chúng ta muốn hòa bình, chúng ta đã nhân nhượng.

(Hồ Chí Minh)

(23) Tôi thấy bạn ấy là con người trung thực.

(24) Đã toan trốn nợ đoạn trường được sao.

(Nguyễn Du)

Ví dụ (21) chỉ tình thái về sự cần thiết, ví dụ (22) chỉ tình thái về sự mong muốn,

ví dụ (23) chỉ tình thái về sự đánh giá, ví dụ (24) chỉ tình thái về ý chí.

Một số động từ tình thái có thể kết hợp được với các phụ từ chỉ mức độ và thường là phụ từ rất.

Ví dụ:

(25) Tôi rất muốn học tập tốt.

Thông thường, động từ tình thái không dùng một mình mà hay kết hợp với các động từ khác tạo thành một kết hợp từ và kết hợp từ này thường đóng vai trò vị ngữ trong câu.

Ví dụ:

(26) Em xem ra anh ấy cũng là con người thành thật.

(Nguyễn Khải)

2.1.2. Động từ chỉ quan hệ

Nhóm động từ này cũng không biểu hiện ý nghĩa hoạt động hay trạng thái mà biểu hiện ý nghĩa chỉ quan hệ đồng nhất như là, làm; chỉ quan hệ tồn tại (xuất hiện, tồn tại hoặc tiêu biến) như còn, có, biến, mất, sinh (ra); chỉ quan hệ sở hữu như ; chỉ quan hệ biến hóa như hóa thành, hóa, hóa ra, trở thành…; chỉ quan hệ diễn biến theo thời gian như bắt đầu, tiếp tục, kết thúc, hết…; chỉ quan hệ so sánh, đối chiếu như giống, khác, tựa, in, hệt…; chỉ quan hệ diễn biến trong không gian như gần, xa, gần gũi, gần gụi

Ví dụ:

(27) Trước đây, tôi làm lớp trưởng

Trước đây, tôi lớp trưởng

(28) Trong túi còn tiền.

Trong túi tiền.

(29) Thế là mặc nhiên chúng tôi trở thành người thân, thành anh em với nhau.

(Triệu Bôn)

(30) Đèn đêm đã bật, sân bay lại tiếp tục làm việc.

(Nguyễn Đình Thi)

(31) Ước gì sông rộng một gang

Bắc cầu dải yếm cho chàng sang chơi.

(Ca dao)

Trước đây, một số nhà nghiên cứu về từ loại tiếng Việt cho rằng từ là “hệ từ” thuộc về hư từ. Hiện nay hầu hết các nhà nghiên cứu đều thừa nhận từ thuộc về từ loại động từ chỉ quan hệ đồng nhất. Cách hiểu này dễ được chấp nhận một cách thỏa đáng bởi một số lí do sau:

- Thứ nhất, từ có khả năng kết hợp được với các phụ từ chuyên đi kèm với động từ, tính từ như đã, sẽ, đang, vừa, mới, cũng, vẫn

- Thứ hai, xét trong mối quan hệ với nhiều ngôn ngữ khác trên thế giới thì từ có ý nghĩa chỉ quan hệ đồng nhất như từ trong tiếng Việt được xác định là động từ như động từ to be trong tiếng Anh, động từ être trong tiếng Pháp… Có thể nhận ra điều này qua các ví dụ sau:

(32) - Tôi là sinh viên.

- I am a student. (tiếng Anh: tôi là sinh viên)

- Je suis étudiant. (tiếng Pháp: tôi là sinh viên, trong tiếng Pháp thì câu này ý chỉ là: nam sinh viên).

2.2 Động từ độc lập

Đây là lớp động từ có thể dùng một mình (không cần đến các từ khác) để cấu tạo câu và đảm nhận những thành phần câu cụ thể. Tuy nhiên trong thực tế sử dụng, do nhu cầu biểu hiện với các nội dung cụ thể, chúng vẫn cần đến những từ khác để bổ sung thêm ý nghĩa.

Ví dụ:

Có thể so sánh các câu sau để minh họa:

(33) Anh Nam ăn. (câu này chưa lọn nghĩa vì thiếu bổ ngữ cho động từ ăn)

(34) Anh Nam ăn cơm. (câu này rõ nghĩa hơn ví dụ (33) ở trên)

(35) Anh Nam ăn cơm rồi.(câu này rõ nghĩa hơn câu (34) vì có thêm từ rồi để chỉ hoạt động ăn đã diễn ra và hoàn thành).

Căn cứ vào ý nghĩa khái quát, căn cứ vào khả năng kết hợp với các từ đi sau, các động từ độc lập được phân biệt thành động từ nội hướng và động từ ngoại hướng.

2.2.1 Động từ nội hướng

Động từ nội hướng (hay còn gọi là nội động từ) bao gồm những động từ chỉ trạng thái hay chỉ những hoạt động không tác động đến một đối tượng nào ở bên ngoài chủ thể. Do đó, ở trong câu sau các động từ nội hướng thường không có thành tố phụ chỉ đối tượng hướng tới hay đối tượng chịu tác động.

Ví dụ:

(36) Chị Dậu còn thức hay ngủ?

(Ngô Tất Tố)

(37) Cháu cười híp mí.

Má đỏ bồ quân.

(Tố Hữu)

Các động từ nội hướng thường gặp là: ngủ, ngồi, nằm, bò, cười, nói, càu nhàu, cằn nhằn, khóc, hậm hực, lo, lo lắng, hối hân, sụt sùi, ấp úng, ẩn náu, lê la, lảng vảng, hí hoáy, rón rén, quằn quại, nổ, rụng

Có một số động từ có thể vừa là động từ nội hướng, vừa là động từ ngoại hướng.

Ví dụ:

(38) Nghị Lại tròn mắt, nhìn. (động từ nội hướng)

(Nguyễn Công Hoan)

(39). Anh nhìn tôi chăm chú. (động từ ngoại hướng)

Các động từ như: yêu, thương, quý, ganh tị, sợ, thắc mắc, nghi ngờ, mong, đợi, nhớ…; ra, vào, lên, xuống…nhiều khi cũng được sử dụng như động từ nội hướng.

2.2.2 Động từ ngoại hướng

Động từ ngoại hướng thường đối lập với động từ nội hướng, chúng bao gồm những động từ chỉ những hoạt động tác động tới một đối tượng bên ngoài, làm hình thành, biến đổi hoặc tiêu hủy đối tượng ấy. Do đó, động từ ngoại hướng thường đòi hỏi phải kết hợp với từ khác sau nó để biểu thị hành động chuyển tới đối tượng hay đối tượng chịu tác động.

Ví dụ:

(40) Thợ gặt đang thoăn thoắt cắt lúa.

(41) Mấy khi được đẩy xe ban ngày.

(Nguyễn Đình Thi)

Các động từ ngoại hướng thường gặp là: làm, ươm, trồng, cày, cấy, cắt, đập, đá, xây, viết, bắt; mua, bán, nấu, rán, ăn, uống, nghe, nhìn, trông, xây dựng, kiến thiết, phát triển, đàn áp, bóc lột, khen ngợi, bao hàm, ra, vào, lên, xuống, tăng, biến, nộp, trả, vay, mượn…

Nhóm động từ này có khả năng kết hợp rộng rãi với các yếu tố phụ, yếu tố phụ luôn luôn bị động từ chi phối.

Ví dụ:

(41) Tôi mượn anh Hải hai cuốn sách.

Căn cứ vào ý nghĩa khái quát và khả năng của các thành tố phụ đi sau, động từ ngoại hướng có thể được chia thành các tiểu loại sau:

- Động từ chỉ hoạt động (tác động vật lí)

Đây là lớp động từ tác động đến đối tượng làm cho đối tượng hình thành, biến đổi hoặc tiêu hủy. Chẳng hạn như cắt áo, chặt cái gậy, xây nhà, ăn cơm, đập đá, đánh giặc…

- Động từ chỉ trạng thái tâm lí

Đây là lớp động từ có thể kết hợp được với các phụ từ chỉ mức độ (giống với khả năng kết hợp với tính từ), đồng thời lại thường có thành tố phụ đi kèm chỉ đối tượng. Chẳng hạn như rất yêu mẹ,hơi chán ăn cơm, rất ghét kẻ thù, hiểu bài rồi

- Động từ chỉ các hoạt động phát nhận

Những động từ này thường có hai thành tố phụ đứng sau: thành tố phụ chỉ kẻ phát nhận và thành tố phụ chỉ kẻ phát nhận. Chẳng hạn như cho bé gói kẹo, tặng anh cuốn sách, mượn bạn cái cặp

- Động từ gây khiến

Hoạt động của lớp động từ này chi phối hoặc hướng vào đối tượng nhưng với ý nghĩa khuyên bảo, cho phép hay ngăn cản hành động của đối tượng. Động từ gây khiến thường đòi hỏi hai thành tố phụ: một là danh từ, một là động từ và có khi có hai thành tố phụ tạo nên cụm chủ - vị. Chẳng hạn như sai nó đi chợ, mời nó về chơi, giúp bạn học tập, làm cho anh ấy vui lòng

- Động từ cảm nghĩ – nói năng

Nhóm động từ này biểu thị cảm nghĩ - nói năng, biểu thị cảm giác, suy nghĩ và hoạt động trí não của con người đối với sự vật. Nhóm động từ này thường kết hợp với các thành tố phụ đứng sau nó có cấu tạo là một cụm chủ vị.

Ví dụ:

(42) Tôi biết anh ấy hay nói đùa.

(43) Tôi tuyên bố cuộc họp bắt đầu.

(44) Cuối cùng anh thanh minh là anh không phản lại giai cấp.

(Võ Huy Tâm)

Các động từ cảm nghĩ – nói năng gồm: biết, nghĩ, bảo, cảm thấy, hiểu, khen, chê, ngờ, nhận định, thanh minh, tưởng, ngỡ, tin, tuyên bố, nghe, nhìn, thấy, trông…

§3. TÍNH TỪ

1. Đặc trưng của tính từ

1.1. Về ý nghĩa

Tính từ có ý nghĩa chỉ đặc trưng, tính chất của sự vật (thực thể) như hình

thể, màu sắc, dung lượng, kích thước, đặc trưng.

Ví dụ:

(1) To, nhỏ (cái bàn này to, cái bàn này nhỏ); xanh, đỏ (quả này còn xanh, quả kia đã đỏ); tím, vàng, dài, ngắn, tốt, xấu, phải, trái, tầm thường, hèn nhát, nhiều, ít . . .

Ngoài ra, tính từ có ý nghĩa biểu thị đặc trưng của quá trình.

Ví dụ:

(2) Nhiều, ít (ăn ít, ăn nhiều); nhẹ, khẽ (đi nhẹ, nói khẽ); dài, ngắn (nói dài, nói ngắn); tốt, xấu, nhanh, chậm…

1.2. Về khả năng kết hợp

Tính từ có khả năng làm thành tố chính trong cụm từ chính phụ với các phụ từ đi kèm nhưng thường kết hợp một cách hạn chế với các phụ từ có ý nghĩa chỉ mệnh lệnh: hãy, đừng, chớ.

Ví dụ:

(3) vẫn tốt, còn tốt, đã giỏi, sẽ giỏi

(4) rất đẹp, rất im, rất thơm, đẹp cực kì, hơi lạnh, xinh lắm...

(5) đừng nhiều lời nữa, hãy ít lời thôi.

(6) hãy dũng cảm, hãy tích cực

Xét về khả năng kết hợp, tính từ thường kết hợp được với các từ chỉ mức độ . . . Tuy nhiên, các tính từ, có ý nghĩa đặc trưng ở mức độ tuyệt đối thì không kết hợp được với phụ từ chỉ mức độ. Phụ từ chỉ mức độ không phải là từ chứng của tính từ.

Ví dụ:

(7) riêng, chung, đực, cái, công, tư, trắng phau, trắng tinh, đen sì, đỏ ối, vàng ruộm, xanh thẳm, xanh biếc . . .

1.3. Về chức năng cú pháp

Tính từ có khả năng trực tiếp làm vị ngữ ở trong câu nên một số nhà nghiên cứu về từ loại tiếng Việt xếp tính từ thuộc từ loại vị từ.

Ví dụ:

(8) Trời đẹp.

(9) Hôm nay, đường trơn; anh nên đi cẩn thận.

Tính từ có thể trực tiếp làm chủ ngữ ở trong câu.

Ví dụ:

(10) Nóng dễ chịu hơn lạnh.

(11) Hạnh phúc là đấu tranh.

(12) Xấu đều hơn tốt lỏi. (xấu đều là cụm tính từ làm chủ ngữ)

(Tục ngữ)

Ngoài ra, tính từ còn có thể trực tiếp đảm nhận được các thành phần khác trong câu như đề ngữ, trạng ngữ..

Ví dụ:

(13) Cao, nó không cao lắm!

(14) Xa xa lấp lánh ánh đèn.

2. Phân loại và miêu tả

Căn cứ vào ý nghĩa khái quát và khả năng kết hợp của tính từ với các phụ từ, tính từ thường được chia làm hai lớp con như sau:

2.1. Tính từ chỉ đặc trưng không xác định được mức độ

Ví dụ:

(14) mạnh, yếu, nóng, lạnh, thơm, xanh, đỏ, tím, vàng, to, nhỏ, tròn, vuông, cong, méo, dài, ngắn, cao, thấp, rộng, hẹp, gần, xa. . .

Đây là lớp tính từ chỉ đặc trưng không biểu thị thang độ tự phân. Chúng thường kết hợp được với các phụ từ có ý nghĩa mức độ (thang độ).

Ví dụ:

(15) hơi ngắn, rất dài, nóng cực kì, thấp lắm, rất xa, xa vô cùng…

Tính từ chỉ đặc trưng không xác định được thang độ gồm tính từ chỉ đặc trưng bên ngoài của sự vật chỉ về màu sắc như xanh, đỏ, tím, vàng, trắng, đen…về hình thể như to, nhỏ, tròn, vuông, lệch, méo,… về kích thước như dài, ngắn, cao, thấp, rộng, hẹp, gần, xa,… về dung lượng như nặng, nhẹ, căng, xẹp…; chỉ đặc tính bên trong và đặc trưng trạng thái của sự vật như tốt, xấu, bền, vững, chắc chắn, cứng, mềm, dẻo, ngon, ngọt, dữ, hiền, gan dạ, sung sướng, ngây thơ,… chỉ đặc trưng về lượng như nhiều, ít, rậm, thưa, mau,… chỉ đặc trưng về cường độ như mạnh, yếu, nóng, lạnh, mát, mát mẻ… chỉ về âm thanh, mùi vị v.v..

2.2. Tính từ chỉ đặc trưng xác định được mức độ

Lớp tính từ này biểu thị đặc trưng đồng thời biểu thị mức độ của đặc trưng trong ý nghĩa tự thân, thường ở mức độ tuyệt đối nên không kết hợp được với các phụ từ chỉ mức độ (thang độ).

Ví dụ:

(16) đỏ lòm, đỏ ối, đỏ au, trắng xóa, xanh biếc, xanh mượt, vàng giòn, nâu sẫm, tím ngắt, thơm phức, công, chung, riêng, tư, chính, độc nhất . . .

Một số tính từ mô phỏng chỉ đặc trưng xác định được thang độ, mô phỏng gián tiếp đặc trưng hình thể của sự vật, hành động hoặc tính chất như: lè tè, lênh khênh, hu hu, nhoang nhoáng…Tính từ chỉ đặc trưng mô phỏng có thể kết hợp hạn chế với phụ từ: hơi.

Ví dụ:

(17) hơi nhoang nhoáng, hơi lênh khênh.

§4. SỐ TỪ

1. Đặc trưng của số từ

1.1. Về ý nghĩa

Số từ là những từ có ý nghĩa số, tức là nó có ý nghĩa chỉ số lượng hay thứ tự của sự vật.

Ví dụ:

(1) một vài, dăm ba, vài, dăm, mươi, năm sáu

( 2) hai, ba, bốn, năm, . . .mười,…mười lăm,…hai mươi…

(3) đường ta rộng thênh thang tám thước.

(Tố Hữu)

(4) Canh bốn, canh năm, vừa chợp mắt

Sao vàng năm cánh mộng hồn quanh.

(Hồ Chí Minh)

Khi đứng đơn lẻ, số từ có ý nghĩa số như trong ví dụ (1), (2); còn khi kết hợp với các từ có ý nghĩa chỉ sự vật, số từ biểu thị ý nghĩa về số lượng (số từ đứng trước danh từ) hay thứ tự (số từ đứng sau danh từ) của sự vật như trong ví dụ (3), (4).

1.2. Khả năng kết hợp

Khả năng kết hợp của số từ phổ biến là được dùng kèm với danh từ để biểu thị số lượng hay thứ tự của sự vật được nêu ở danh từ. Như vậy, chức năng chủ yếu của số từ là làm thành tố phụ cho danh từ trong cụm danh từ.

Ví dụ:

(5) Mười lăm sinh viên đã có mặt.

(6) Trường Đại học Tây Bắc, tiền thân là Trường Sư phạm cấp 2 Khu tự trị Thái – Mèo được thành lập năm 1960.

Số từ có thể làm thành tố chính trong một cụm từ tự do, có thể gọi là cụm số từ.

Ví dụ:

(7) độ 30, khoảng 20; hơn (gần) 60

Đặc điểm về khả năng kết hợp cũng phản ánh tính chất trung gian của số từ (vừa là từ thực, vừa là từ hư).

1.3. Chức năng cú pháp

Số từ có thể làm chủ ngữ, vị ngữ nhưng hạn chế trong một số điều kiện nhất định trong kết cấu của văn bản.

Số từ làm chủ ngữ.

Ví dụ:

(8) Một là cứ phép gia hình

Hai là lại cứ lầu xanh phó về.

(Nguyễn Du)

Số từ chỉ thứ tự có thể trực tiếp làm vị ngữ trong câu.

Ví dụ:

(9) - Tôi thứ nhất, anh thứ nhì.

- Đội A thứ nhất, đội B thứ nhì.

Số từ chỉ số lượng thường kết hợp với từ để tạo thành vị ngữ trong câu. Cấu trúc của vị ngữ thường là: là + số từ, ngoại trừ trường hợp nói về tuổi tác.

Ví dụ:

(10) Nước Việt Nam là một, dân tộc Việt Nam là một.

(Hồ Chí Minh)

2. Phân loại và miêu tả

Căn cứ vào tính chất chính xác hay không chính xác, số từ được chia làm hai loại: Số từ xác định và số từ không xác định.

2.1. Số từ xác định

Số từ xác định là những từ có ý nghĩa chỉ số lượng chính xác: hai, ba, bốn,năm,

sáu,…mười, mười lăm…hai mươi…; những từ chỉ số lượng là phân số 1/2, 2/3 , 4/5… cũng là những số từ xác định.

Số từ kết hợp được với danh từ trong các trường hợp:

- Đặt trước danh từ để biểu thị số lượng vật được nêu ở danh từ.

Ví dụ:

(11) Từ Thuận Châu đến Sơn La 35 km.

- Đặt sau danh từ để biểu thị đặc điểm về thứ tự, hoặc đặc điểm về tổ chức, hoặc đặc điểm về số hiệu của sự vật được nêu ở danh từ. Thông thường trong tiếng Việt, số từ đặt sau danh từ thường biểu thị thứ tự. Số từ có thể chỉ đặc điểm về số hiệu, đặc điểm về tổ chức và điều này dễ thấy trong số áo cầu thủ bóng đá của một đội bóng của các câu lạc bộ lớn hoặc số áo của phạm nhân.

Ví dụ:

(12) Chỉ trong vòng 5 phút, cầu thủ mang số áo số 10 của câu lạc bộ Manchester United đã lập một cú đúp.

(Lời bình luận viên trên đài truyền hình)

(13) Ông già Sáu thét người đạp cửa, anh 1212 lên tiếng.

(Anh Đức)

(14) Tên lính mở cửa trong vách tàu cho người tù số 1212 rút chân ra.

(Anh Đức)

Các số từ: thứ nhất, thứ hai, đệ tam, đệ tứ có thể dùng sau danh từ để chỉ thứ tự. Chẳng hạn như lớp đệ tam, lớp đệ tứ...

Kết hợp được với các động từ, tính từ trong các trường hợp sau:

- Đặt sau động từ để chỉ số lượng (số từ có thể đứng trước danh từ hoặc vắng mặt danh từ)

(15) Trâu đứng ăn năm

Trâu nằm ăn ba. (Bài toán cổ)

Danh từ vắng mặt trong trường hợp này.

- Đặt trước động từ, tính từ để chỉ số lượng vấn đề được nêu cô đọng (ở động từ hay tính từ) trong các biểu ngữ rất gọn. Chẳng hạn một số cách nói gọn trước đây như: ba sẵn sàng (số từ đứng trước danh từ), ba đảm đang, ba sôi, hai lạnh (công thức ngâm thóc giống, số từ đứng trước tính từ), hai tốt (số từ đứng trước tính từ)…

Ví dụ:

(16) Trường Đại học Tây Bắc đang chuẩn bị hội nghị tổng kết phong trào thi đua hai tốt.

- Kết hợp được với đại từ để biểu thị ý nghĩa số lượng.

Ví dụ:

(17) Hai ta làm bạn thong dong.

(Ca dao)

- Kết hợp được với danh từ để chỉ đơn vị thời gian với ý nghĩa số lượng hay thứ tự.

Ví dụ:

(18) Cuộc giải phẫu kết thúc hồi bốn giờ chiều. (thứ tự)

(19) Mười phút sau, anh ta lại có mặt. (số lượng)

2.2. Số từ không xác định

Số từ không xác định biều thị số không chính xác, với ý nghĩa số phỏng định hay phiếm định: vài, một vài, đôi ba, dăm, năm sáu, năm bảy, mươi, mấy, vài nghìn. . .

Ví dụ:

(20) Lớp tôi đã có vài người bỏ học.

Số từ không xác định có số lượng không lớn: vài, dăm, mươi, mấy, một hai, dăm, dăm ba, vài ba, đôi ba, ba bảy, năm sáu, năm bảy, mươi lăm, mươi mười lăm . . .

Số từ không xác định có khả năng kết hợp được với danh từ và đứng trước danh từ.

Ví dụ:

(21) Trên bàn chỉ có mấy cuốn sách thôi.

(22) Ăn đi vài con cá

Dăm bảy cái chột nưa.

(Tố Hữu)

Có thể kết hợp với các từ: độ, chừng, ngót để biểu thị ý nghĩa số không xác định một cách rõ nét hơn.

Ví dụ:

(23) Chừng hai ba người đã tới lớp học.

Cần chú ý một số điểm sau đây:

Một số từ có ý nghĩa xác định nhưng trong sử dụng lại được dùng với ý nghĩa tượng trưng không xác định.

Ví dụ:

(24) Một cây làm chẳng nên non

Ba cây chụm lại nên hòn núi cao.

(Ca dao)

Các từ trăm, nghìn dùng với nghĩa không xác định:

(25) Trăm năm bia đá thì mòn

Nghìn năm bia miệng vẫn còn trơ trơ.

(Ca dao)

(26) Lẳng lặng mà nghe nó chúc nhau

Chúc nhau trăm tuổi bạc đầu râu.

(Trần Tế Xương)

§5. ĐẠI TỪ

1. Đặc điểm của đại từ

1.1. Về ý nghĩa

Đại từ là lớp từ dùng để chỉ trỏ sự vật, để xưng hô, để thay thế cho danh từ, động từ, tính từ, số từ; và cụm từ, câu, tổ hợp câu trong giao tiếp.

Ví dụ:

(1) Tôi, tao, tớ, mi, mày, bay, chúng bay, chúng tôi, nó, hắn, thị, y, ho…Đây là những từ được dùng trong xưng hô.

(2) Này, kia, ấy, nọ, đó . . . Đây là những từ được dùng để chỉ trỏ.

Đại từ không biểu thị thực thể, quá trình hoặc đặc trưng như danh từ, động thừ, tính từ. Đại từ biểu thị ý nghĩa đó một cách gián tiếp, tức là chúng mang nội dung phản ánh vốn có của các thực từ khi chúng thay thế.

Ví dụ:

(3) Sp1: Em đã thay đổi nhiều quá!

Sp2: Em vẫn thế. (thay thế cho quá trình)

(4) Lan và Dung đã đi ngủ rồi. Tất cả đều đã ngon giấc. (thay thế cho danh từ, có ý nghĩa chỉ người)

Khi thay thế cho từ loại nào nó biểu thị ý nghĩa của từ loại đó (thực thể, quá trình hay đặc trưng).

Ví dụ:

(5) Cái Lan rất xinh. Cái Dung cũng vậy. (thay thế cho cụm tính từ, biểu thị ý nghĩa đặc trưng)

Đại từ còn có chức năng thay thế cho một thực từ, cho một cụm từ, một câu, một tổ hợp câu.

Ví dụ:

(6) Nước Việt Nam là một, dân tộc Việt Nam là một. Sông có thể can, núi có thể mòn, song chân lí đó không bao giờ thay đổi.

(Hồ Chí Minh)

1.2. Khả năng kết hợp

Có khả năng làm thành tố chính trong một cụm từ chính phụ với các thành tố phụ đi kèm và có thể gọi đây là cụm đại từ.

Ví dụ:

(7) Hai ta làm bạn thong dong.

(Ca dao)

(8) Em đi khắp buôn làng.

Tiếng hát, lời ca vẫn thế.

(Thanh Hải)

1.3. Chức năng cú pháp

Đại từ có khả năng được đảm nhận các chức năng cú pháp của thực từ mà nó thay thế.

Đại từ có thể trực tiếp làm chủ ngữ ở trong câu.

Ví dụ:

(9) Này chồng, này mẹ, này cha.

Này là em ruột, này là em dâu.

(Nguyễn Du)

(10) Ai về, ai ở, mặc ai

Ta như dầu đượm thắp hoài năm canh.

(Ca dao)

Đại từ có thề trực tiếp làm vị ngữ ở trong câu.

Ví dụ:

(11) Anh Nam nói tốt tiếng Anh. Anh Hùng cũng vậy.

Đại từ có thể làm trạng ngữ, đề ngữ trong câu.

Ví dụ:

(12) Làm cho rõ mặt phi thường

Bấy giờ ta sẽ rước nàng nghi gia.

(Nguyễn Du)

(13) Tôi thì tôi xin chịu.

(Nam Cao)

Ngoài ra nó còn được dùng để trỏ vào người và vật khi tham gia giao tiếp.

Ví dụ:

(14) Ta đây, trâu đấy ai mà quản công.

2. Phân loại và miêu tả

Căn cứ vào các mặt đối lập theo ba đặc trưng của đại từ, có thể phân chia chúng thành hai tiểu loại: đại từ xưng hô và đại từ chỉ định.

2.1. Đại từ xưng hô

Đại từ xưng hô là đại từ được dùng để xưng hô hoặc thay thế để biểu thị các đối tượng tham gia quá trình giao tiếp. Đối tượng tham gia quá trình giao tiếp (người, vật) được chỉ ra một cách chung nhất ở cương vị ngôi trong ý nghĩa của đại từ. Vì vậy, có thể phân biệt đại từ ở một ngôi xác định và đại từ có thể dùng ở nhiều ngôi khác nhau.

2.1.1. Đại từ xưng hô ở một ngôi xác định

Đây là những đại từ chỉ đối tượng giao tiếp ở một ngôi xác định tương ứng với cương vị nói (ngôi 1), cương vị nghe (ngôi 2) và cương vị được nói đến (ngôi 3). Số lượng đại từ xưng hô trong tiếng Việt không nhiều và có thể xác định được ở bảng sau:


Ngôi

Số

Ngôi 1

Ngôi 2

Ngôi 3

Số ít

Tôi, tao, tớ, tui, tau

mày, mi

Nó, hắn, thị, y

Số nhiều

Chúng tôi, chúng tớ, chúng tao

Chúng mày,

chúng bay, bay

Chúng, chúng nó, họ

Ví dụ:

(15) Ai, ba ? tò mò hỏi tôi.

(Cao Duy Thảo)

(16) Người ta sẽ khinh y, vợ y sẽ khinh y và chính y cũng khinh y.

(Nam Cao)

2.1.2. Đại từ dùng ở nhiều ngôi linh hoạt

Đây là các đại từ mà ý nghĩa của ngôi trong quan hệ giao tiếp không tìm được tự trong ý nghĩa tự thân của đại từ. Chỉ trong hoàn cảnh cụ thể, các đối tượng có quan hệ trong giao tiếp được xác định ngôi theo ý nghĩa mà nó biểu thị ở trong câu.

Đại từ dùng ở nhiều ngôi: mình

Ví dụ:

(17) Hãy tin vào mình. Mình không bao giờ để Sự phải khổ. (ngôi 1).

(Lý Biên Cương)

(18) Mình đọc hay tôi đọc? (ngôi 2)

(Nam Cao)

(19) Anh ta chưa dám nói chuyện mình. (ngôi 3)

Đại từ chỉ nhiều ngôi: ta, chúng ta, chúng mình.

Ví dụ :

(20) Ta thường tới bữa quên ăn… (ngôi 1, số ít)

(Trần Quốc Tuấn)

(21) Ta đi thôi. (tôi + anh)

(22) Chúng mình về đi. (tôi + các bạn – mang sắc thái tình cảm thân hữu)

(23) Chúng ta vào lớp đi. (tôi + anh em bạn bè – mang sắc thái tình cảm trung hòa)

Đại từ chỉ ngôi gộp tương hỗ: nhau

Ví dụ:

(24) Như anh biết đấy, chúng em phải dựa vào nhau mà sống.

(Triệu Bôn)

(25) Yêu nhau tam tứ núi cũng trèo

(Ca dao)

Đại từ chỉ ngôi phiếm định: ai, ai ai

Ví dụ:

(26). Ai ơi, đừng bỏ ruộng hoang

Bao nhiêu tấc đất tấc vàng bấy nhiêu.

(27) Ái tình trong giờ phút này đã phấn khởi hẳn lên trong mắt những ai ai.

(Trần Đăng)

Do hầu hết các đại từ xưng hô trong tiếng Việt có sắc thái biểu cảm trung hòa hoặc thân mật, suồng sã, khinh thị nên đã xảy ra quá trình chuyển đổi hệ thống. Một loạt các danh từ chỉ quan hệ gia đình thân tộc, chỉ chức nghiệp đã lâm thời chuyển thành đại từ xưng hô để đảm bảo tính lịch sự trong hoạt động giao tiếp.

Ví dụ:

(28) Ôi kể làm sao hết được anh!

Bao nhiêu máu chảy, bấy dòng kênh

Phải chi em gởi cho anh được

Nắm đất đang nồng lửa đấu tranh.

(Tố Hữu)

2.2. Đại từ chỉ định

Đại từ chỉ định thay thế và chỉ trỏ các đối tượng được phản ánh trong mối liên hệ “định vị” trong cuộc thực tại. Ý nghĩa của đại từ tương ứng với ý nghĩa sự vật, sự việc, hiện tượng. . . của thực từ, kết hợp thực từ, câu, tổ hợp câu được thay thế. Lớp đại từ chỉ định này được một số nhà nghiên cứu tách ra thành một từ loại riêng với tên gọi là chỉ từ.

Ví dụ:

(29) Từ đây đến đấy còn thiếu gì cuộc họp.

(Vũ Thị Thường)

(30) Nếu thế thì con không gặp anh Sạ.

(Tô Hoài)

Đại từ có thể chia làm hai nhóm: đại từ xác định và đại từ phiếm định.

2.2.1. Đại từ xác định

- Đại từ chỉ định thời gian: bây giờ, giờ, bấy giờ, nãy, nay, bấy…

Ví dụ:

(31) Bây giờ là đầu mùa đông.

(32) Giờ, tôi cảm thấy cô đơn một cách lạ kì.

(33) Nay ta bảo thật các ngươi.

(Trần Quốc Tuấn)

- Đại từ chỉ định không gian xác định: ấy, này, đây, đấy, đó, kia, kìa, nọ…Lớp đại từ này dùng để chỉ trỏ một vị trí một địa điểm nào đó. Đại từ này, đây trỏ nơi gần; đấy, đó, kia trỏ nơi xa hơn.

Ví dụ:

(34) Trật tự, anh kia.

(35) Mua quyển sách này vậy, rẻ thôi.

(36) Tôi ở đây, anh tới đó nhá.

- Đại từ chỉ số lượng

Đại từ chỉ số lượng là những từ thay thế số từ chỉ số lượng gồm: tất cả, tất thảy, hết thảy, cả thảy, hết cả, cả, bấy nhiêu…

Ví dụ:

(37) Cả hai người đều lúng túng.

(38) Tất cả đã ngã xuống vì giặc Mĩ mà giờ đây …

(39) Cán bộ quyết định hết thảy mà lại.

(40) Bàn tay ta làm nên tất cả

Có sức người sỏi đá cũng thành cơm.

(Hoàng Trung Thông)

(41) Mình chỉ làm được bấy nhiêu thôi.

- Đại từ chỉ định sự vật

Đại từ chỉ định sự vật là những từ dùng để chỉ trỏ người và vật được xác định trong không gian và thời gian nào đó trong ngữ cảnh, gồm các đại từ: này, nọ, kia, ấy, đó.

Ví dụ:

(41) Đứng núi này, trông núi nọ.

(Tục ngữ)

(42) Cánh bướm! Tôi dùng hai chữ ấy không có dụng ý ví von tượng trưng gì cả.

(Chế Lan Viên)

- Đại từ chỉ trạng thái tính chất

Đại từ chỉ trạng thái tính chất là những từ chỉ hoạt động trạng thái và tính chất đã nói ở câu trước, thay thế cho một đơn vị ngữ pháp nào đó. Các đại từ này nhất thiết phải sử dụng trong ngữ cảnh. Đại từ chỉ trạng thái tính chất gồm có thế, vậy.

Ví dụ:

(43) Mấy ngày giáp tết, quang cảnh trong thôn thật là tất bật, rộn ràng. Ở nhà Ngoan cũng vậy.

(Vũ Tú Nam)

(44) Em đi khắp buôn làng

Tiếng hát lời ca vẫn thế.

(Thanh Hải)

Đặc điểm của các đại từ này thường kết hợp được với một số phụ từ chuyên đi kèm với động từ, tính từ và thường giữ chức năng cú pháp làm vị ngữ ở trong câu.

2.2.2. Đại từ phiếm chỉ (và dùng để hỏi)

Đại từ phiếm chỉ (và dùng để hỏi) là đại từ dùng để hỏi về người, về vật, về thời gian và không gian, về trạng thái, về số lượng…Chức năng của lớp đại từ này khác hẳn đại từ khác hẳn với đại từ xưng hô và đại từ xác định.

- Phiếm chỉ và hỏi về thời gian: bao giờ, bao lâu

Ví dụ:

(45) Bao giờ thì ta bắt đầu? (hỏi về thời điểm)

(46) Bao lâu nữa thì anh đến? (hỏi về thời hạn)

- Phiếm chỉ và hỏi về không gian: đâu

Ví dụ:

(47) Má đi đâu hả ba?

- Phiếm chỉ và hỏi về số lượng, khối lượng: mấy, bao nhiêu

Ví dụ:

(48). Trăng bao nhiêu tuổi trăng già

Núi bao nhiêu tuổi gọi là núi non?

(Ca dao)

(49) Túi gạo này mấy cân?

- Phiếm chỉ và hỏi về người, sự vật: ai, gì, sao, nào

(50) Đi thì ai ở nhà làm?

(51) Bố nói tôi?

(52) Mày không biết sao?

- Đại từ dùng để hỏi có khi còn dùng để chỉ trống không, chỉ ý nghĩa không xác định (phiếm định).

Ví dụ:

(53) Không có quý hơn độc lập, tự do.

(Hồ Chí Minh)

(54) Qua đình ngả nón trông đình

Đình bao nhiêu ngói thương mình bấy nhiêu.

(Ca dao)

Đại từ thế, vậy có nhà nghiên cứu cho rằng đây là những đại từ chỉ trạng thái và tính chất đã nói ở câu trước, thay thế cho một đơn vị ngữ pháp nào đó. Các đại từ này nhất thiết phải được sử dụng trong ngữ cảnh. Thực ra, quan niệm như vậy cũng có tính khả chấp khi chỉ xét chúng mang tính phổ biến trong sử dụng như đã phân tích ở trên.

Tuy nhiên có một cách nhìn cho rằng đại từ thế, vậy biểu thị ý nghĩa sự vật, sự việc tương ứng với ý nghĩa của động từ, tính từ và kết hợp từ tương đương ở chức vụ vị ngữ ở trong câu. Cho nên, ý nghĩa của thế, vậy khá súc tích, phong phú gồm nhiều nội dung được dồn nén và được biểu hiện trong một từ. Ngoài ra, đại từ thế, vậy còn biểu hiện sắc thái biểu cảm chủ quan của người nói trong nhận thức và đánh giá hiện thực. Đại từ thế, vậy có khả năng kết hợp với một số lớp phụ từ chuyên đi kèm với động từ, tính từ và có chức năng cú pháp thường làm vị ngữ ở trong câu. Hướng tới một sự phân tích như vậy theo người viết cũng là thỏa đáng.

Ví dụ:

(55) Cái Tuyết học rất giỏi, cái Hà cũng vậy.

(56) Người thế mà lại vô tâm.

(57) Nước ta là một nước văn hiến. Ai cũng bảo thế.

(Nguyễn Công Hoan)

(58) Hẳn là đơn vị anh Nhâm cũng thế.

(Triệu Bôn)

(59) Vậy là tốt rồi mà.

Lớp đại từ chỉ định này, sách Ngữ văn ở trường phổ thông hiện nay gọi là chỉ từ.

§6. PHỤ TỪ (ĐỊNH TỪ, PHÓ TỪ)

Phụ từ là những từ chuyên đi kèm với các từ khác (chủ yếu là đi kèm cho danh từ, động từ, tính từ) để bổ sung ý nghĩa cho từ đó. Chính vì vậy có nhà nghiên cứu gọi lớp từ này là phó từ, trạng từ.

Về mặt ý nghĩa, phụ từ không có ý nghĩa miêu tả, ý nghĩa thực để biểu thị tên gọi, biểu thị hoạt động, trạng thái, tính chất của sự vật… mà chúng chỉ có ý nghĩa ngữ pháp nào đó tùy theo từ loại mà chúng đi kèm theo. Các từ loại có ý nghĩa miêu tả, ý nghĩa thực, ý nghĩa từ vựng được gọi là thực từ. Các từ loại có ý nghĩa ngữ pháp gọi là hư từ.

Về khả năng kết hợp, phụ từ không có khả năng làm thành tố chính trong cụm từ mà chỉ có chức năng làm thành tố phụ trong cụm từ chính phụ.

Về chức năng cú pháp, phụ từ không có khả năng trực tiếp đảm nhận các thành phần câu như chủ ngữ, vị ngữ, trạng ngữ, đề ngữ…mà nó chỉ có mặt trong một thành phần câu nào đó.

ĐỊNH TỪ

1. Đặc trưng của định từ

1.1. Ý nghĩa

Định từ là những từ biểu thị quan hệ về số lượng với sự vật được nêu ở danh từ. Đó là các từ: những, các, một, mỗi, từng, mọi…


Ví dụ:

(1) Các bạn thân mến!

(2) Ôi lời Bác những ngày đầu kháng chiến

Vang trong lòng dân tộc đến nghìn năm.

(Tế Hanh)

(3) Nửa đời nếm trải mọi mùi đắng cay.

(Nguyễn Du)

(4) Cả thế giới đang theo dõi từng bước tiến của dân tộc ta.

(Lê Duẩn)

1.2. Khả năng kết hợp và chức năng cú pháp

Định từ chuyên đi kèm với danh từ, và có chức năng làm thành tố phụ

trong một kết hợp có danh từ là trung tâm … (cụm danh từ)

Số lượng định từ không nhiều nhưng có tác dụng dạng thức ý nghĩa ngữ pháp của từ loại danh từ.

Định từ không có khả năng đảm nhận các thành phần câu.

2. Phân loại và miêu tả

Căn cứ vào ý nghĩa và công dụng ngữ pháp, có thể chia định từ thành một số nhóm sau:

2.1. Nhóm: những, các, một

Nó có bản chất của hư từ, lập thành một nhóm đặc biệt, có thể gọi là quán từ (Quán từ trong một số ngôn ngữ để thể hiện dạng thức ngữ pháp làm công cụ ngữ pháp của từ loại danh từ như các từ có ý nghĩa chỉ giống trong tiếng Pháp: le - giống đực, la - giống cái)

Khi dùng kèm danh từ và đứng trước danh từ, xét riêng từng từ trong nhóm thì: những, các thường chỉ ý nghĩa số nhiều; một thường chỉ ý nghĩa số ít. Nếu đặt chúng vào thế đối lập chúng sẽ bộc lộ ý nghĩa phạm trù ngữ pháp của danh từ.

(5) Những (các) con mèo : số nhiều

(6) Một con mèo : số ít

(7) mèo : khi vắng: những, các, một, và danh từ loại thể (danh từ chỉ đơn vị) thì mèo không thể xác định được số ít hay số nhiều nên có thể gọi là số trung). Đinh Văn Đức, Nguyễn Tài Cẩn gọi đây là phạm trù thiết định (phạm trù số) của danh từ.

Cần chú ý một là định từ trong văn bản khi thỏa mãn hai điều kiện sau: (i). có ý nghĩa phiếm chỉ, (ii). biểu thị phạm trù số ít của từ loại danh từ.

Ví dụ:

(8) Gần miền có một mụ nào.

(Nguyễn Du)

(9) Tôi sinh hoạt chi bộ không sót một buổi.

(10) Ở làng nọ có một cô gái cực kì xinh đẹp.

Từ một với tư cách là số nguyên (1,2,3,4,5…) hoặc dùng với tư cách số đếm về sự vật thì nó là số từ.

2.2. Nhóm: mỗi, từng, mọi

Mỗi, từng, mọi dùng kèm trước danh từ, chỉ ý nghĩa phân phối về số lượng. Chúng có đặc điểm ngữ pháp của hư từ, nhưng không biểu thị ý nghĩa ngữ pháp có tính chất phạm trù như nhóm: những, các, một. Vì thế có những nhà nghiên cứu xếp chúng vào số từ.

Ví dụ:

(11) Tất cả mọi người đều hăng say học tập.

(12) Làng tranh mỗi năm một khá giả.

(Nguyễn Nhược Pháp)

(13) Tôi nhìn hoa, từng chiếc lá, chiếc rễ, cánh hoa.

(Nguyễn Văn Bổng)

2.3. Từ: cái

Cái là định từ, có vị trí đặc biệt khi kết hợp với danh từ. Cái khác với những định từ khác, không trực tiếp biểu thị ý nghĩa về số lượng sự vật, mà nó chỉ xuất sự vật và đơn vị sự vật. Khi cái đặt trực tiếp trước danh từ chỉ đơn vị, kết hợp từ: cái + danh từ biểu thị ý nghĩa số ít.

Ví dụ:

(14) Cái con người ấy ai cầu làm chi.

(Nguyễn Du)

(15) Cái thằng Giáp này trông thật đáng ghét.

Cần lưu ý là hiện nay có nhà nghiên cứu lại cho rằng các từ: những, các, một, mỗi, từng, mọi là phó từ; có nhà nghiên cứu lại xếp chúng vào từ loại lượng từ.

PHÓ TỪ

1. Đặc trưng của phó từ

1.1. Ý nghĩa

Phó từ thường đi kèm với thực từ (chủ yếu là với động từ, tính từ). Phó từ xét về phương diện ý nghĩa khác với danh từ, động từ, tính từ, đại từ, số từ biểu thị ý nghĩa thực để biểu thị tên gọi, biểu thị hoạt động trạng thái hay tính chất và số lượng của sự vật hay ý nghĩa xưng hô, chỉ định thay thế tên gọi sự vật mà chúng chỉ có ý nghĩa ngữ pháp nào đó tùy theo từ loại mà chúng đi kèm theo. Chúng thường biểu thị quan hệ ý nghĩa giữa quá trình và đặc trưng với thực tại, đồng thời cũng biểu thị ý nghĩa về cách thức nhận thức và phản ánh các quá trình và đặc trưng trong hiện thực.

Ví dụ:

(1) đang học bài. (quan hệ thời gian thực tại – quá trình)

(2) rất xinh. (quan hệ giữa mức độ - đặc trưng)

1.2. Khả năng kết hợp

Phó từ không có khả năng làm thành tố chính của cụm từ mà chỉ dùng làm thành tố phụ trong cụm từ.

Ví dụ:

(3) Còn sống còn đấu tranh.

(4) Ăn xong, làm rồi.

(5) Rất đẹp hình anh lúc nắng chiều

Bóng dài trên đỉnh dốc cheo leo.

(Tố Hữu)

Phó từ có tác dụng phân loại vị từ.

Ví dụ:

(6) Đừng xa em, anh nhé.

(7) Rất dài và rất xa

Là những ngày thương nhớ.

(Bùi Công Minh)

Từ xa trong ví dụ (6) là động từ vì có phó từ chỉ mệnh lệnh đừng đứng ở trước và ý nghĩa khái quát của nó là chỉ diễn biến khoảng cách trong không gian; còn từ xa trong ví dụ (7) là tính từ vì có phó từ chỉ mức độ rất đứng ở trước và ý nghĩa khái quát của nó là chỉ đặc trưng khoảng cách trong không gian.

1.3. Chức năng cú pháp

Phó từ không có khả năng trực tiếp đảm nhận thành phần câu.

Có thể tạo câu rút gọn (câu tỉnh lược)

Ví dụ:

(8) Sp1: Cậu đã học bài chưa?

Sp2: Rồi. (hoặc có thể trả lời là: đã hoặc chưa)

  1. Phân loại và miêu tả

Căn cứ vào ý nghĩa ngữ pháp, phó từ có thể chia thành các nhóm nhỏ sau:

2.1. Nhóm phó từ chỉ ý nghĩa thời gian

Phó từ chỉ thời gian biểu thị mối quan hệ về thời gian với quá trình hay đặc trưng được xác định khi định vị với thời điểm nói (hiện tại) trong tư duy của đối tượng phản ánh (người nói). Đó là các từ: đã, sẽ, đang (đương), vừa, mới, sắp

Đã khi đứng trước động từ thường biểu thị thời gian quá khứ

Ví dụ:

(9) Tôi đã học bài rồi.

(10) - Nó đã ác, chị nó còn ác hơn.

Đã có khi kết hợp trực tiếp hoặc gián tiếp với danh từ

Ví dụ:

(11) Mình đã cơm cháo gì đâu.

(12) đã chín năm rồi đấy nhỉ.

(Tố Hữu)

Có khi từ đã đi thành cặp với thì, lại để nhấn mạnh ý nghĩa. Trường hợp này có ý kiến lại cho rằng từ đã đã chuyển loại thành quan hệ từ.

Ví dụ:

(13) Đã tham thì thâm.

(14) Đã xấu lại xa.

Đang thường biểu thị ý nghĩa thời gian hiện tại.

Ví dụ:

(15) Thế hệ thanh niên ngày nay đang sống trong thời đại cách mạng của giai cấp vô sản.

(Lê Duẩn)

Đôi khi đang trực tiếp đứng trước danh từ như lúc, khi, mùa, độ, tuổi…

Ví dụ:

(16) Đang khi bất ý chẳng ngờ.

(Nguyễn Du)

(17) đang mùa gặt, đang tuổi thanh niên, đang độ trưởng thành, đang lúc bận rộn.

Vừa, mới biểu thị ý nghĩa thời gian vừa xảy ra (quá khứ nhưng gần với hiện tại).

Ví dụ:

(18) Mình vừa ăn cơm xong.

(19) Tớ mới học bài xong.

Sẽ chỉ thời gian tương lai.

Ví dụ:

(20) Em sẽ đi, trên đường ấy thênh thang

Như những ngày xưa, rực rỡ sao vàng.

(Tố Hữu)

Sắp chỉ thời gian tương lai gần.

Ví dụ:

(21) Hà, chú mình có biết tớ sắp cho chú quà gì không?

(Triệu Bôn)

2.2. Nhóm phó từ chỉ ý nghĩa phủ định, khẳng định

Nhóm phó từ này chỉ ý nghĩa khẳng định, phủ định sự vật, hành động, trạng thái, tính chất: không, chưa, chẳng, có. Chúng thường đi kèm với danh từ, động từ, tính từ, đại từ.

Ví dụ:

(22) Không sống nữa, nhưng không chịu chết.

(Tố Hữu)

(23) Chẳng tham ruộng cả ao liền.

(24) Như đứa trẻ sinh nằm trên cỏ

Không quê hương sương gió tơi bời.

(Tố Hữu)

(25) Mày làm cho tao, mày mới có nhà cửa vợ con.

(Võ Huy Tâm)

2.3. Nhóm phó từ chỉ ý nghĩa đồng nhất, tiếp diễn

Phó từ chỉ sự đồng nhất tiếp diễn: cũng, đều, vẫn, cứ, lại, còn, nữa, mãi, mãi mãi, dần dần, cùng… biểu thị ý nghĩa đồng nhất, tiếp diễn của quá trình hoặc đặc trưng trong thời gian, không gian cụ thể nào đó.

Ví dụ:

(26) Nhưng anh lại yêu tôi, tôi phải nói, vì tôi cũng yêu anh.

(Nguyễn Văn Bổng)

(27) Như mọi người biết đấy tất cả các cô gái trong lớp ta đều xinh.

(28) Kể công bình ra thì cả mẹ chồng và nàng dâu cùng khổ.

(Tô Hoài)

Lớp phó từ này có thể đi kèm với các từ loại khác.

Ví dụ:

(29) Cũng cờ, cũng biển, cũng cân đai

Cũng gọi ông nghè có kém ai.

(Nguyễn Khuyến)

(30) Một nghìn năm, một vạn năm.

Con tằm vẫn kiếp con tằm vương tơ.

(Nguyễn Bính)

(31) Một đèo, một đèo, lại một đèo.

(Hồ Xuân Hương)

2.4. Nhóm phó từ chỉ ý nghĩa mệnh lệnh, sai khiến

Phó từ chỉ mệnh lệnh, sai khiến có ý nghĩa khuyên bảo, ngăn cấm, yêu cầu, khích lệ. Chúng thường đứng trước động từ và có thể kết hợp hạn chế với tính từ (đứng trước động từ, tính từ) như hãy, đừng, chớ và đứng sau động từ như đi, đi thôi, đi nào, thôi….

Ví dụ:

(32) Thương con bầm chớ lo nhiều bầm nghe.

(Tố Hữu)

(33) Hãy nhằm thẳng quân thù mà bắn.

(Nguyễn Viết Xuân)

(34) Đừng kiệm lời khi gặp người thân.

(35) Em học đi!

2.5. Nhóm phó từ chỉ ý nghĩa mức độ

Nhóm phó từ chỉ mức độ có ý nghĩa quan hệ thang độ với đặc trưng và trạng thái. Chúng thường kết hợp được với tính từ và nhóm động từ chỉ trạng

thái: rất, hơi, khá, khí, cực kì, vô cùng, lắm, quá

Ví dụ:

(36) Rất đẹp hình anh lúc nắng chiều

Bóng dài trên đỉnh dốc cheo leo.

(Tố Hữu)

(37) Hôm nay, trời khí lạnh.

(38) Tôi trông anh hơi mệt, có lẽ cần nghỉ sớm.

(Nam Cao)

Nhóm phó từ này kết hợp được lớp động từ chỉ trạng thái: Rất yêu anh, hơi lo lắng, hơi nhớ, rất hồi hộp, băn khoăn cực kì

2.6. Nhóm phó từ chỉ ý nghĩa kết thúc của quá trình

Nhóm phó từ: xong, rồi thường chỉ ý nghĩa hoàn thành của quá trình. Chúng thường đặt sau động từ.

Ví dụ:

(39) Tôi học rồi.

(40) Tôi đã làm xong.

Một số động từ trong tiếng Việt không kết hợp được với xong. Chẳng hạn như các động từ: chết, nhớ, hiểu, được

2.7. Nhóm phó từ chỉ ý nghĩa tần suất

Nhóm phó từ chỉ tần suất: năng, ít, hiếm, hay, luôn, luôn luôn, thường, thường thường…thường biểu thị ý nghĩa tần số sự lặp lại của quá trình hay đặc trưng.

Ví dụ:

(41) Anh ấy hiếm khi đến thăm tôi vào ngày nghỉ lắm.

(32) Mẹ cháu dạo này hay nấu khoai lang với đỗ lắm.

(Lê Minh Khuê)

§7. QUAN HỆ TỪ

1. Đặc trưng của quan hệ từ

1.1. Ý nghĩa

Quan hệ từ biểu thị ý nghĩa về quan hệ giữa các khái niệm với đối tượng được phản ánh. Quan hệ từ là dấu hiệu biểu thị các mối quan hệ cú pháp giữa các thực từ (và hư từ) một cách tường minh.

Ví dụ:

(1) anh của em: chỉ quan hệ sở hữu

(2) bàn bằng gỗ: chỉ quan hệ chất liệu

(3) đã đang : chỉ quan hệ bình đẳng giữa các hư từ . . .

1.2. Khả năng kết hợp

Quan hệ từ nối các từ, các cụm từ (kết hợp từ), các câu và các đoạn văn có quan hệ ngữ nghĩa, ngữ pháp với nhau.

Ví dụ:

(4) Ngày mai, tôi Lan đi Sơn La chơi.

(5) Bầu ơi, thương lấy bí cùng

Tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn.

(Ca dao)

(6) Tôi đã bảo Đích về quê nhiều lần. Nhưng Đích không nghe.

(Nam Cao)

1.3. Chức năng cú pháp

Quan hệ từ không có khả năng đảm nhận các thành phần câu như chủ ngữ, vị ngữ và các thành phần khác ở trong câu.

Cần chú ý là một số nhà nghiên cứu lại gọi lớp từ này là kết từ, từ nối

2. Phân loại và miêu tả

Căn cứ vào các kiểu quan hệ cú pháp được thể hiện, quan hệ từ có thể chia thành hai nhóm con: quan hệ từ chính phụ và quan hệ từ đẳng lập.

2.1. Quan hệ từ chính phụ

Quan hệ từ chính phụ là quan hệ từ biểu thị quan hệ cú pháp chính phụ giữa thành tố chính và thành tố phụ.

Quan hệ từ chính phụ được dùng để nối kết thành tố phụ vào thành tố chính. Do đó, kết từ chính phụ thường có xu hướng gắn với thành tố phụ, ngoại trừ trường hợp quan hệ từ là một cặp từ thì có quan hệ từ. Quan hệ từ chính phụ trong tiếng Việt thường gặp các từ sau đây: của, bằng, với, đối với, về, đến, vì, bởi, để, cho, ở, ở tại, tại, mà, như…và một số cặp từ: tuy/ dù/ mặc dù/…nhưng, nếu/ giá/ hễ/ miễn/ giả thử…thì/ là/ thì là…Sau đây là một số quan hệ từ chính phụ thường gặp:

Của: chỉ quan hệ sở hữu giữa thành tố chính và thành tố phụ trong cụm danh từ.

Ví dụ:

(7) Đoàn kết là một truyền thống cực kì quý báu của Đảng và của dân ta.

(Lê Duẩn)

Trong cụm danh từ, khi quan hệ sở hữu giữa thành tố chính và thành tố phụ thì đã rõ ràng thì không cần dùng quan hệ từ của như chân bàn, chân ghế, miệng bát; trái lại nếu trước nó là động từ thì nhất thiết phải dùng từ của như con yêu của bố, ý kiến đánh giá của mọi người

Trong cụm động từ, của biểu thị nơi đưa ra sự vật. Với ý nghĩa này của thường đi sau các động từ: mượn, mua, xin, lấy, vay, đoạt, chiếm

Ví dụ:

(8) Anh ấy xin của anh một ít chè.

(9) Tôi mượn của thư viện mấy cuốn sách.

Cho, để, để cho: thường biểu thị quan hệ về mục đích của hành động.

Ví dụ:

(10) Mưa và chiến tranh đều gợi cho anh những kỉ niệm buồn.

(Trang Thế Hy)

(11) Để đẩy mạnh tăng gia sản xuất và thực hành tiết kiệm, mỗi người chúng ta phải nhận rõ: lao động là một nghĩa vụ thiêng liêng.

(Hồ Chí Minh)

Bằng: dùng trong cụm danh từ thường chỉ ý nghĩa chất liệu, dùng trong cụm động từ thường biểu thị phương tiện, cách thức.

Ví dụ:

(12) Tôi là Nguyễn Văn Dậu…có mượn…một đôi hoa tai bằng vàng.

(Dẫn theo Diệp Quang Ban)

(13) Họ nói bằng tiếng Anh.

(14) Cô ấy nhìn tôi bằng đôi mắt căm hờn.

Ví dụ (14) có thể dùng với thay bằng.

Vì, do, tại, bởi, nhờ: chỉ ý nghĩa quan hệ về nguyên nhân.


Ví dụ:

(15) Lạ cho mặt sắt cũng ngây tình.

(Nguyễn Du)

(16) Để sau nên thẹn cùng chàng bởi ai.

(Nguyễn Du)

(17) Nhờ cái thần thế ấy, hắn mới chửi rủa, thét mắng khắp làng cho oai.

(Nam Cao)

còn biểu thị ý nghĩa mục đích.

(18) Tổ quốc hi sinh

Như dời anh người thợ.

(Tố Hữu)

: chỉ ý nghĩa quan hệ về mục đích, hoặc quan hệ về đặc trưng.

Ví dụ:

(19) Như anh biết đấy, cả hai chúng em phải dựa vào nhau sống.

(Triệu Bôn)

(20) Ngon đáo để, cứ thử ăn xem. Xóm ta khối nhà còn chả có cám ăn đấy.

(Kim Lân)

Ở, ở tại, tại: chỉ ý nghĩa quan hệ về vị trí, nơi chốn.

Ví dụ:

(21) Suốt thời gian có mặt Nha Trang, tôi còn đến nhà An nhiều lần.

(Ngô Thị Kim Cúc)

(22) Tại khu rừng U Minh Hạ ông lão đã sống gần trọn đời người.

(Anh Đức)

(23) Mía ăn tại vườn bao giờ cũng thơm phức.

(Thép Mới)

(24) Tôi sinh ra ở tại một miền quê nghèo khó.

Với, đối với: thường chỉ ý nghĩa về phương diện.

Ví dụ:

(25) Đối với tôi, anh ấy là con người tốt.

(26). Trứng chọi với đá có ngày trứng tan.

(Tục ngữ)

(27) Oan kia theo mãi với tình.

(Nguyễn Du)

Về: chỉ ý nghĩa quan hệ về phương diện, hoặc đối tượng hoặc đối tượng ảnh hưởng.


Ví dụ:

(28) Về những ý kiến của anh, tôi vẫn thường xuyên lưu ý trong cuộc họp.

(29) Tôi nói tiếp về chồng tôi.

(Nguyễn Văn Bổng)

Như: chỉ ý nghĩa quan hệ so sánh, đối chiếu.

Ví dụ:

(30) Như đứa trẻ sinh nằm trên cỏ

Không quê hương sương gió tơi bời.

(Tố Hữu)

Tiếng Việt có một số cặp kết từ chỉ quan hệ chính phụ kết nối thành phần phụ với thành phần chính. Trong nhiều trường hợp, có thể lược bỏ quan hệ từ đi kèm với thành phần chính hoặc đi kèm với thành phần phụ. Sau đây là một số cặp quan hệ từ thường gặp:

Tuy/ tuy rằng/ dù/ mặc dù…nhưng: chỉ ý nghĩa nghịch đối.

Ví dụ:

(31) Tuy đất hẹp nhưng mùa nào thức ấy.

(Nguyễn Công Hoan)

(32) Tuy rằng lúc này chúng ta chưa có dịp gặp nhau nhưng lòng tôi luôn luôn nhớ tới đồng bào.

(Hồ Chí Minh)

Nếu/ giá/ hễ/ thì/ miễn/ giả sử…thì/ là/ thì là ...chỉ quan hệ điều kiện, giả thiết - kết quả.

Ví dụ:

(33) Hễ còn một tên xâm lược trên đất nước ta thì ta còn phải tiếp tục chiến đấu quét sạch nó đi.

(Hồ Chí Minh)

(34) Nếu Việt Minh mà lên được thì dân mình đỡ khổ, ông nhỉ?

(35) Hễ vợ nói gì anh gạt phắt đi ngay.

(Nguyễn Kiên)

Vì/ bởi/ tại/ do…nên/ cho nên/mà…chỉ quan hệ nguyên nhân - kết quả.

Ví dụ:

(36) Vì chưng bác mẹ tôi nghèo

Cho nên tôi phải băm bèo thái khoai.

(Ca dao)

(37) Do Đảng ta đã nắm đúng thời cơ thuận lợi ấy cuộc tổng khởi nghĩa đã thành công.

(Võ Nguyên Giáp)

Có một số nhà nghiên cứu từ loại trước đây gọi quan hệ từ chính phụ là giới từ.

2.2. Quan hệ từ đẳng lập

Quan hệ từ đẳng lập biểu thị quan hệ ngữ nghĩa - ngữ pháp giữa các yếu tố (từ, cụm từ, câu, đoạn văn) có quan hệ ngang hàng, bình đẳng đẳng với nhau. Quan hệ từ đẳng lập có thể là một từ hoặc một cặp từ có quan hệ hô ứng. Sau đây là một số quan hệ từ thường gặp:

Và, với, cùng: thường được dùng để liên kết các yếu tố có quan hệ đẳng lập với nhau.

Ví dụ:

(38) Quân với dân như cá với nước.

(39) Tôi với anh hai người xa lạ.

(Chính Hữu)

(40) Gái cùng trai chung một gánh non sông.

(Huy Cận)

(41) Anh Nhâm tôi đi được quá nửa đường.

(Triệu Bôn)

Hay, hay là, hoặc, hoặc là: chỉ quan hệ lựa chọn hay lặp lại có tính liệt kê.

Ví dụ:

(42) Mình đọc hay tôi đọc?

(Nam Cao)

(43) Con lớn lên sẽ đánh cá ngoài khơi

Cấy lúa trên đồng hay làm trong nhà máy.

(Xuân Quỳnh)

(44) Chúng nó bắn đã thành lệ, mỗi ngày hai lần, hoặc buổi sáng sớm và xế chiều, hoặc đứng bóng và sẩm tối, hoặc nửa đêm và trở gà gáy.

(Nguyễn Trung Thành)

Rồi: chỉ ý nghĩa quan hệ nối tiếp.

Ví dụ:

(45) Tớ ăn cơm xong, rồi tớ sẽ đi chơi với cậu.

Còn: chỉ ý nghĩa quan hệ đối chiếu – tương phản

Ví dụ:

(46) Trong nhà này người ta thường sống quen như thế: vợ con chỉ được quyền nghe, còn ông có quyền nói.

(Nguyễn Kiên)

Trên đây là một số quan hệ từ đẳng lập trong tiếng Việt. Ngoài ra còn một số quan hệ từ đặt ở đầu câu, đầu các vế câu như: nhưng, nhưng mà, tuy nhiên, thế mà, chứ, thành thử, vả lại, là, rằng là, hình như, chứ, thà/ thà rằng…chứ…

Ví dụ:

(47) Chúng ta thà hi sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, không chịu làm nô lệ.

(Hồ Chí Minh)

Một số nhà nghiên cứu về từ loại trước đây gọi quan hệ từ đẳng lập là liên từ.

§7. TIỂU TỪ

1. Đặc trưng của tiểu từ

1.1. Ý nghĩa

Tiểu từ là những từ biểu thị ý nghĩa quan hệ giữa chủ thể phát ngôn với nội dung phản ánh, biểu thị quan hệ giữa phát ngôn với nội dung phản ánh hoặc biểu thị quan hệ, thái độ giữa người nói và người tiếp ngôn.

Ví dụ:

(1) Ôi Tổ quốc vinh quang Tổ quốc! (biểu thị cảm xúc của chủ thể phát ngôn với nội dung phản ánh) (Tố Hữu)

(2) Ngay lúc chập tối, ông ta vẫn không bình thường. (quan hệ giữa phát ngôn với nội dung phản ánh)

(3) Đúng là quyển sách này của tôi. (biểu thị thái độ của người nói với nội dung phản ánh)

(4) Em chào cô . (biểu thị thái độ của người nói với người nghe)

1.2. Khả năng kết hợp

Tiểu từ không có khả năng kết hợp như thực từ, tức là chúng không có khả năng làm thành tố chính (và thành tố phụ) trong cụm từ mà chúng chỉ dùng trong câu để biểu thị ý nghĩa tình thái ở bậc câu và văn bản. . .

1.3. Chức năng cú pháp

Tiểu từ không có khả năng làm chủ ngữ, vị ngữ trong câu mà một bộ phận của tiểu từ khi tham gia tạo câu thuộc về phần biệt lập.

Ví dụ:

(5) tiền việc ấy mà xong nhỉ?

Đời trước làm quan cũng thế a?

(Nguyễn Khuyến)

2. Phân loại và miêu tả

Căn cứ vào ý nghĩa và chức năng, tiểu từ có thể được chia thành ba nhóm nhỏ: trợ từ, tình thái từ, thán từ.

2.1. Trợ từ

Trợ từ là từ chuyên dùng để nêu bật, nhấn mạnh thêm ý nghĩa của từ, kết hợp từ có liên quan thường đứng sau trợ từ. Trợ từ thuộc loại tình thái từ.

Giống như phụ từ và quan hệ từ, trợ từ không có khả năng làm thành tố chính trong cụm từ, không có khả năng làm chủ ngữ, vị ngữ ở trong câu. Trợ từ chủ yếu xuất hiện ở bậc câu nhưng ý nghĩa phụ trợ của trợ từ có thể có quan hệ với một bộ phận nào đó trong câu nên trợ từ có thể có tác dụng phân tách các thành phần câu.

Một số nhà nghiên cứu trước đây gọi lớp từ này là từ đệm.

Sau đây là một số trợ từ thường gặp:

Chính, chính là, đích, đích thị(là): biểu thị sắc thái nhấn mạnh khẳng định.

Ví dụ:

(1) Chính anh cũng không tự biết mình sẽ đi đến nhà ai và chừng nào thì vừa.

(Ngô Tất Tố)

(2) Chính là qua anh cán bộ huyện … Nam Tiến biết được tôi hiện ở đây.

(Bùi Hiển)

(3) Đích thị hắn ta ăn vụng.

Ngay, ngay cả: biểu thị sắc thái nhấn mạnh với sắc thái bất thường.

Ví dụ:

(4) Ngay cả cái chuyện đó nó cũng không biết!

(5) Ngay cả tờ báo nó cũng không đọc.

Những: biểu thị sắc thái nhấn mạnh sự không bình thường về lượng.

Ví dụ:

(6) San ăn những hai quả chuối.

(Nam Cao)

(7) Những là rày ước mai ao.

(Nguyễn Du)

Đúng, đúng là: biểu thị sắc thái nhấn mạnh - khẳng định.

Ví dụ:

(8) Đúng là cái bút này của tôi.

(9) Hào nhìn kĩ thì đúng là xếp Thuần.

(Võ Huy Tâm)

Tự: biểu thị sắc thái nhấn mạnh ý chí chủ quan của đối tượng.

Ví dụ:

(10) Tôi tự giải quyết lấy công việc của mình.

(11) Anh phải tự quyết định lấy chứ.

: biểu thị sắc thái nhấn mạnh có tính bất thường.

Ví dụ:

(12) Anh này nữa, đàn ông cũng sợ chết à?

2.2. Tình thái từ

Tình thái từ là những từ chuyên dùng để biểu thị ý nghĩa tình thái trong quan hệ giữa chủ thể phát ngôn với nội dung phản ánh, giữa người nói với người nghe hoặc có tác dụng tạo lập các hành động nói.

Tình thái từ có vị trí linh hoạt ở trong câu và góp phần làm cho câu được rõ tính chất của câu hơn.

Ví dụ:

(13) Từ, ngữ chưa thành câu Câu

ăn cơm Ăn cơm nhé! Ăn cơm chứ?

hai li cà phê Hai li cà phê nhá!

Căn cứ vào ý nghĩa và tác dụng của chúng trong phát ngôn, tình thái từ thường bao gồm một số nhóm sau:

2.2.1. Tình thái từ biểu thị thái độ, tình cảm giữa người nói với người nghe và giữa chủ thể phát ngôn với nội dung phản ánh. Sau đây là một số tình thái từ thường gặp: à, a, vậy, kia, mà, cơ, cơ mà, hứ, hé, thật, thật mà, ơi, hỡi, ạ, vâng, dạ, ừ

Ví dụ:

(14) Nhưng không phải chỉ có thế đâu, anh Nam .

(Nguyễn Văn Bổng)

(15) Lại còn thế nữa kia!

(16) Anh ấy nói thế thật.

(17) Ngày mai đẹp trời lắm nhé.

2.2.2. Tình thái từ có tác dụng tạo lập các hành động nói

Xét một cách triệt để lớp tình thái từ này vừa có tác dụng tạo lập các hành động nói, vừa có tác dụng biểu thị thái độ, tình cảm của người nói đối với người nghe. Tuy nhiên phải thừa nhận rằng chức năng tạo lập hành động hỏi và hành động cầu khiến có tính vượt trội hơn. Đó là các tình thái từ dùng để hỏi: à, ư, chứ, chăng, hử, hả, không, phỏng, nhỉ… và các tình thái từ dùng để cầu khiến: với, nhé, mà, nào, thôi

Ví dụ:

(18) Lan đi học à?

(19) Mẹ cho con ăn với!

2.3. Thán từ

Thán từ là những từ có vai trò biểu thị cảm xúc, tâm trạng của người nói trước những tác động mạnh của hoàn cảnh.

Thán từ không có chức năng cấu tạo nên cụm từ hay đảm nhận các thành phần câu như chủ ngữ, vị ngữ…Thán từ có thể làm một thành phần biệt lập trong câu (phần cảm thán).

Thán từ có thể là lớp từ cổ xưa nhất của loài người. Đây là lớp từ có ý nghĩa không rõ ràng, ngay cả những từ vốn có ý nghĩa đủ rõ nhưng khi làm thán từ thì ý nghĩa đó cũng mất theo, chẳng hạn như trời, chúa, bố, mẹ, cha mẹ…trong trời ơi, chúa ơi, cha mẹ ơi…Chính vì vậy, một số nhà nghiên cứu không tách thành một từ loại riêng mà xếp chúng thuộc về tình thái từ.

Ví dụ:

(20) Chao! Trăng đến rằm thì trăng tròn.

(Học Phi)

(21) Ôi! Tổ quốc giang sơn hùng vĩ.

(Tố Hữu)

Một số thán từ thường gặp trong tiếng Việt là: ôi, ối, ái, ồ, ái chà, ôi dào, ôi chao, than ôi, ô hay, ối giời, ối giời ơi, giời ơi là gời, thay, chết thật, bỏ mẹ, cha mẹ ơi, chúa ơi… Một số nhà nghiên cứu gọi lớp từ này là từ cảm, từ cảm thán hay cảm thán từ.


§9. HIỆN TƯỢNG CHUYỂN LOẠI CỦA TỪ

1. Khái niệm

Hiện tượng chuyển loại của từ - chuyển loại – là hiện tượng một từ khi thì dùng với ý nghĩa và đặc điểm ngữ pháp (khả năng kết hợp và chức năng cú pháp) của từ loại này, khi thì dùng với ý nghĩa và đặc điểm ngữ pháp của từ loại khác.

Ví dụ:

(1) Tôi định nói với anh Nhâm những suy nghĩ vừa rồi của tôi nhưng lại thôi.

(Triệu Bôn)

(2) Bắt chước anh Ánh, em cũng lim dim mắt suy nghĩ.

(Triệu Bôn)

(3) Trên đồng cạn, dưới đồng sâu

Chồng cày, vợ cấy, con trâu đi bừa.

(Ca dao)

(4) Đẽo cày giữa đường.

(Tiêu đề câu chuyện cười dân gian)

Từ suy nghĩ trong ví dụ (1) là danh từ, trong ví dụ (2) là động từ; từ cày trong ví dụ (3) là động từ, trong ví dụ (4) là danh từ.

2. Tác dụng của hiện tượng chuyển loại

Hiện tượng chuyển loại của từ (gọi gọn lại là hiện tượng chuyển loại hoặc chuyển loại)

sẽ giải quyết được mâu thuẫn cơ bản giữa cái hữu hạn của âm thanh ngôn ngữ với cái vô hạn của các sự vật, hiện tượng trong hiện thực khách quan mà từ cần phải biểu đạt.

Hiện tượng chuyển loại có cơ sở là sự chuyển hóa ý nghĩa của từ. Hiện tượng chuyển nghĩa nào làm cho từ có khả năng kết hợp và chức năng cú pháp của từ loại khác mới được coi là hiện tượng chuyển loại. Như vậy chuyển loại được coi như là một phương thức tạo từ mới trong ngôn ngữ và chuyển loại có tác dụng làm tăng vốn từ của một ngôn ngữ, làm phong phú thêm sự biểu đạt nhận thức, tư tưởng, tình cảm của con người.

Chuyển loại là một hiện tượng thường thấy trong tất cả các ngôn ngữ.

3. Đặc điểm của hiện tượng chuyển loại

3.1. Từ chuyển loại có hình thức đồng âm

Một từ thuộc từ loại này khi chuyển thành một từ thuộc từ loại khác vẫn giữ nguyên về ngữ âm: chúng là hai từ đồng âm khác từ loại.

3.2. Từ chuyển loại có ý nghĩa từ vựng chung

Yếu tố nghĩa từ vựng chung đó là cơ sở của ý nghĩa chuyển từ loại, là thành phần trong ý nghĩa của từ. Khi một từ chuyển loại, yếu tố nghĩa từ vựng chung sẽ được giữ lại trong cả hai từ do đối tượng phản ánh (thực thể, quá trình, đặc trưng, quan hệ trong tư duy không thay đổi. Vì vậy, xét kĩ về mặt ý nghĩa, thì từ ban đầu và từ chuyển loại có cơ sở đồng nhất yếu tố nghĩa từ vựng chung nhưng nó khác nhau về đặc điểm ngữ pháp của từ.

Ví dụ:

(5) Anh ấy đang cày ruộng chuẩn bị cho vụ mùa.

(6) Tôi có năm cái cày.

Từ cày trong ví dụ (5) là động từ, có ý nghĩa biểu niệm: (hoạt động) (với dụng cụ có lưỡi: cày) (dùng sức kéo của người, vật hoặc máy móc) (để lật xới đất) (trong canh tác nông nghiệp).

Từ cày trong ví dụ (6) là danh từ, có ý nghĩa biểu niệm: (dụng cụ có lưỡi: cày) (bằng nguyên liệu rắn: sắt, thép…) (dùng sức kéo của vật, người hoặc máy móc) (để lật xới đất) (trong canh tác nông nghiệp).

Từ cày trong hai ví dụ (5), (6) như đã phân tích về cơ bản có nhiều nét nghĩa từ vựng chung và chúng chỉ khác nhau về nét nghĩa phạm trù.

3.3. Từ ban đầu có khả năng kết hợp và chức năng cú pháp khác với từ chuyển loại, mặc dầu không phải lúc nào cũng xác định hoặc phân biệt được một cách dứt khoát. (Lưu ý: không vì thế mà phủ định từ loại trong tiếng Việt).

Ví dụ:

(7) Cuộc sống, sự sống: danh từ sống có nguồn gốc động từ.


4. Một số trường hợp chuyển loại thường gặp

4.1. Chuyển loại trong nội bộ thuộc từ

4.1.1. Chuyển loại động từ tính từ danh từ thường gặp đối với các từ đa tiết gốc Hán Việt: lí thuyết, quần chúng, ý thức, khuyết điểm, hòa bình.

Ví dụ:

(8) Mọi lí thuyết đều là màu xám, còn cây đời mãi mãi xanh tươi.

(9) Anh đừng lí thuyết nữa.

(10) Anh ấy sống rất lí thuyết.

Ví dụ (8) lí thuyết là danh từ, ví dụ (9) là động từ, ví dụ (10) là tính từ. Từ Hán Việt thường rất khó định loại khi đứng riêng một mình.

- Chuyển loại giữa động từ  danh từ

Từ chỉ hoạt động như: cày, bừa, cưa, đục, bào . . . chuyển thành tên gọi đồ vật; từ chỉ hoạt động như: cuộn, bó, nắm chuyển thành đơn vị sự vật tương ứng; những từ đa tiết chỉ trạng thái như: suy nghĩ, đắn đo, lo ngại thành tên gọi các khái nệm trừu tượng.

- Chuyển loại giữa tính từ  danh từ

Từ chỉ tính chất đa tiết thường chuyển thành danh từ chỉ sự vật trừu tượng: khó khăn, gian khổ, hạnh phúc . . . thành (mọi) khó khăn, gian khổ, hạnh phúc. . .

- Chuyển loại nội bộ từ loại danh từ

Danh từ chỉ đồ vật: chén, bát, cốc, xe, thuyền, thìa thành danh từ chỉ đơn vị (vật chứa đựng): một chén, một bát, ba cốc, ba xe . . .

4.2. Chuyển loại thực từ hư từ

Hiện tượng chuyển loại thực từ  hư từ thường kèm theo hiện tượng mờ nghĩa trong thực từ hay còn gọi là hiện tượng “hư hóa” trong ngôn ngữ.

- Chuyển danh từ  quan hệ từ

Quan hệ từ của chỉ quan hệ sở hữu theo Diệp Quang Ban có nguồn gốc danh từ; ngoài ra một số danh từ chỉ vị trí: trên, dưới, trong, ngoài, … chuyển thành quan hệ từ.

Ví dụ:

(11) Sao cho trong ấm thì ngoài mới êm. (trong ngoài là danh từ)

(12) Ngồi ngoài sân, họp trong hội trường, ăn ngoài hiệu, đi dưới nước . . .(các từ in đậm là quan hệ từ)

- Chuyển loại danh từ  đại từ

Nhiều danh từ chỉ người trong quan hệ họ hàng gia đình thân tộc, chỉ chức nghiệp lâm thời chuyển thành đại từ từ xưng hô: ông, bà, dì, cậu, mợ, anh, chị, em, bác sĩ, giáo sư, tiến sĩ, hiệu trưởng, vụ trưởng, thứ trưởng, bộ trưởng


4.3. Chuyển loại trong nội bộ hư từ

- Phụ từ có thể thực hiện chức năng liên kết của quan hệ từ: còn, rồi.

Ví dụ:

(13) Hôm nay, tớ đi làm, còn cậu thế nào?

- Hai phụ từ có chức năng liên kết: vừa . . . vừa; đã … lại; mới … đã .v.v..

Ví dụ:

(14) Đã xấu lại xa.

Tóm lại, chuyển loại là một hiện thực của đời sống ngôn ngữ. chúng ta cần có sự phân biệt hiện tượng chuyển loại ổn định và hiện tượng chuyển loại lâm thời . . .Nhiều trường hợp hiện nay đang cần có sự kết luận của các nhà khoa học.

5. Phân biệt chuyển loại với đồng âm, đa nghĩa

5.1. Chuyển loại với đồng âm

Hiện tượng chuyển loại với hiện tượng đồng âm có điểm giống nhau cơ bản đó là các từ đồng âm nhưng khác nghĩa. Tuy nhiên, chúng có những điểm khác nhau căn bản như sau:

+ Hiện tượng đồng âm (gần âm) có thể diến ra trong cùng một từ loại và diễn ra giữa một từ có cùng vỏ âm thanh nhưng khác loại.

Ví dụ:

(15) đường ăn (danh từ, chất liệu); đường đi (danh từ,sự vật)

(16) Con kiến (1) đĩa thịt (2). (hai từ đồng âm, khác từ loại)

- Hiện tượng chuyển loại được xác định là giữa các từ khác loại vẫn có

mối quan hệ ý nghĩa với nhau (có trường hợp cần phải nhờ kết luận của các nhà ngôn ngữ học).

- Hiện tượng đồng âm là hiện tượng một từ giống nhau về âm thanh, khác nhau về nghĩa và giữa các nét nghĩa đó không có mối quan hệ với nhau.

5.2. Chuyển loại với đa nghĩa

- Giống: một từ có âm thanh giống nhau nhưng khác nhau về nghĩa.

- Khác:

+ Chuyển loại là hiện tượng khác nhau về từ loại và giữa các từ khác từ loại đó vẫn có những nét nghĩa từ vựng chung nhưng chúng khác nhau về ý nghĩa phạm trù.

+ Đa nghĩa thường là hiện tượng diễn ra trong cùng loại nhưng khác nghĩa và các nét nghĩa đó thường có mối liên hệ với nhau, nhất là nét nghĩa phạm trù hay phạm trù ngữ nghĩa.





CÂU HỎI

(ÔN TẬP PHẦN TỪ LOẠI TIẾNG VIỆT)

1. Nêu khái niệm từ loại. Tiêu chuẩn phân định từ loại tiềng Việt?

2. Đặc trưng của danh từ tiếng Việt? Các tiểu loại? Nêu ví dụ?

3. Đặc trưng của động từ tiếng Việt? Các tiểu loại? Nêu ví dụ?

4. Đặc trưng của tính từ tiếng Việt? Các tiểu loại? Nêu ví dụ?

5. Đặc trưng của đại từ tiếng Việt? Các tiểu loại? Nêu ví dụ?

6. Đặc trưng của số từ tiếng Việt? Các tiểu loại? Nêu ví dụ?

7. Đặc trưng của quan hệ từ tiếng Việt? Các tiểu loại? Nêu ví dụ?

8. Đặc trưng của thực từ, hư từ trong tiếng Việt?

9. Lớp tiểu từ tình thái gồm những tiểu loại nào? Nêu ví dụ?

10. Thế nào là hiện tượng chuyển loại? Các hiện tượng chuyển loại thường gặp trong tiếng Việt?

BÀI TẬP

1. Xác định từ loại của từ trong những câu, đoạn văn sau:

a) “Những xóm làng trên cù lao sông Tiền có từ bao đời nay, không hề biến động. Có những vườn cây mới trồng, nhưng bạt ngàn là những vườn cây ăn quả cổ thụ. Những rãnh nước được xẻ từ sông vào tưới tắm cho cây bốn mùa ẩm ướt.

Cóc, mận, mãng cầu, chôm chôm, vú sữa, xoài tượng, xoài cát … mọc chen nhau.

Đứng trên mui vững chắc của chiếc xuồng máy, người nhanh tay có thể với lên hái được những trái cây trĩu quả từ hai phía cù lao. Những người chủ vườn tốt bụng và hào phóng thấy thế chỉ cười, ánh mắt thích thú nhìn khách”.

(Trích Giáo trình ngữ pháp tiếng Việt – Bùi Minh Toán, Nxb ĐHSP, 2008)

b) “Trên ngọn đa, mấy con chim chào mào xôn xao chuyền cành, nhảy nhót, hót líu lo.” (Đoàn Giỏi)

c) “Cô ấy là sinh viên”

d) “Của ta trời đất đêm ngày

Núi kia, đồi nọ, sông này của ta.” (Tố Hữu)

e) “Dần không chịu mặc cái áo dài của bà mẹ chồng.” (Nam Cao)

f) “Trong bóng tối, Mị đứng im lặng, như không biết mình đang bị trói. Hơi rượu còn nồng nàn. Mị vẫn còn nghe tiếng sáo đưa Mị đi theo những cuộc chơi, những đám chơi. Em không yêu, quả Pao rơi rồi. Em yêu người nào, em bắt pao nào … Mị vùng bước đi. Nhưng tay chân đau không cựa được. Mị không nghe tiếng sáo nữa. Chỉ còn nghe tiếng ngựa đạp vào vách. Ngựa vẫn đứng yên, gãi chân, nhai cỏ. Mị thổn thức nghĩ mình không bằng con ngựa”. (Tô Hoài)

2. Xác định từ loại của từ trong bài thơ sau:

EM ĐI HỌC

Hôm qua em tới trường

Mẹ dắt tay từng bước

Hôm nay mẹ lên nương

Một mình em tới lớp.

Trường của em be bé

Nằm lặng giữa rừng cây

Cô giáo em tre trẻ

Dạy em hát rất hay.

Hương rừng thơm đồi vắng

Nước suối trong thầm thì

Cọ xòe ô che nắng

Râm mát đường em đi.

(Minh Chính)

TÀI LIỆU THAM KHẢO

  1. Diệp Quang Ban (chủ biên) – Hoàng Văn Thung (1996), Ngữ pháp tiếng Việt, tập một, Nxb Giáo dục.

  2. Diệp Quang Ban (chủ biên) – Hoàng Dân (2000), Ngữ pháp tiếng Việt, Nxb Giáo dục.

  3. Diệp Quang Ban (2005), Ngữ pháp tiếng Việt, Nxb Giáo dục.

  4. Đinh Trọng Lạc – Bùi Minh Toán (1998), Tiếng Việt, tập hai, Giáo trình đào tạo giáo viên tiểu học hệ CĐSP và SP 12+ 2, Nxb Giáo dục.

  5. Nguyễn Hữu Quỳnh (1994), Tiếng Việt hiện đại (Ngữ âm, ngữ pháp, phong cách), Trung tâm biên soạn từ điển bách khoa Việt Nam, Hà Nội.

Chương II. CỤM TỪ TIẾNG VIỆT

  1. Các quan hệ cú pháp tiếng Việt

Trong ngôn ngữ, mỗi đơn vị đều là tổng hòa các mối quan hệ của nó với các đơn vị khác. Nói tới các quan hệ cú pháp tiếng Việt là nói đến quan hệ giữa các thành tố trong cụm từ.

Các thành tố trong một cụm từ của tiếng Việt có thể có một trong ba kiểu quan hệ cú pháp phổ biến: quan hệ chủ-vị, quan hệ đẳng lập, quan hệ chính phụ.

1.1.Quan hệ chủ - vị

Quan hệ chủ-vị là quan hệ giữa hai thành tố (chủ ngữ và vị ngữ) phụ thuộc lẫn nhau. Cụm từ được thành lập theo quan hệ chủ-vị được gọi là cụm từ chủ-vị, hay mệnh đề trong ngôn ngữ (hay cú).

Về mặt nghĩa, quan hệ chủ-vị là mối quan hệ giữa từ chỉ cái được nói đến với từ nêu đặc trưng hay quan hệ của cái được nói đến.

Ví dụ:

(1) Bông hoa này đẹp.

Bông hoa này là chủ ngữ - cái được nói đến, đẹp là vị ngữ - đặc trưng của bông hoa.

Có nhiều hướng phân loại quan hệ chủ - vị. Ví dụ:

- Căn cứ vào bản chất từ loại của vị ngữ, có thể phân biệt trường hợp vị ngữ là động từ với trường hợp vị ngữ là danh từ.

- Căn cứ vào vị trí các thành tố có thể phân biệt trường hợp chủ ngữ đứng trước với trường hợp chủ ngữ đứng sau vị ngữ.

- Căn cứ vào quan hệ ngữ nghĩa giữa các thành tố có thể phân biệt trường hợp có ý nghĩa chủ động với trường hợp có ý nghĩa bị động.

1.2. Quan hệ chính phụ

Quan hệ chính phụ là quan hệ phụ thuộc một chiều giữa thành tố chính với thành tố phụ về ngữ pháp; cụm từ được thành lập theo quan hệ chính phụ được gọi là cụm từ chính phụ.

Trong cụm từ chính phụ, nhìn chung chức vụ cú pháp của thành tố chính quyết định chức vụ ngữ pháp của toàn cụm từ, vì vậy thành tố chính có tư cách đại diện cho cả cụm từ trong mối liên hệ với các thành tố khác nằm ngoài cụm từ đang xét. Vai trò ngữ pháp của thành tố phụ phụ thuộc vào sự chi phối của thành tố chính, và có thể xác định được trong cụm từ.

Có thể chia quan hệ chính phụ thành hai kiểu nhỏ:

- Quan hệ giữa thực từ với hư từ: rất đẹp, đẹp lắm, các sinh viên

- Quan hệ giữa thực từ với thực từ: ghế mây, đọc sách, ăn đũa

1.3. Quan hệ đẳng lập

Quan hệ đẳng lập là quan hệ giữa các thành tố không phụ thuộc vào nhau, ngang hàng nhau về ngữ pháp. Cụm từ được thành lập theo quan hệ đẳng lập được gọi là cụm từ đẳng lập.

Ví dụ các cụm từ anh và em, thông minh và chăm chỉ được xây dựng trên cơ sở quan hệ đẳng lập.

  1. Khái quát về cụm từ

2.1. Khái niệm và phân loại cụm từ

2.1.1. Khái niệm cụm từ

Thuật ngữ cụm từ, cho đến nay, có hai cách hiểu: hiểu rộng (có phạm vi bao quát rộng) và hiểu hẹp (có phạm vi bao quát hẹp).

Hiểu rộng, cụm từ là tổ hợp hai từ trở lên, nhỏ hơn câu, các từ trong tổ hợp kết hợp tự do với nhau theo một quan hệ cú pháp nhất định.

Như vậy, trong cách hiểu rộng, cụm từ gồm ba kiểu: cụm từ chính phụ, cụm từ đẳng lập, cụm từ chủ-vị. Cách hiểu rộng được dùng nhiều trong ngữ pháp thực hành, vì tính hữu ích trong thực hành của nó. Giáo trình này sẽ sử dụng cách hiểu rộng.

Hiểu hẹp, cụm từ là sự mở rộng một từ thành một tổ hợp theo quy tắc ngữ pháp của một ngôn ngữ. Như vậy, cách hiểu hẹp chỉ tính đến cụm từ chính phụ. Cụm từ đẳng lập được gọi là cụm từ ghép (hay hợp thể cụm từ). Cấu trúc chủ vị không được xem xét ở bậc cụm từ. Cách hiểu hẹp được dùng rộng rãi trong ngữ pháp lí thuyết.

Cần chú ý cụm từ trong tiếng Việt có nhiều trường hợp rất khó phân biệt với từ ghép, với tổ hợp gồm thực từ với quan hệ từ, kể cả với ngữ cố định. Cách phân biệt khái quát có thể thấy như sau.

Về cụm từ và từ ghép, cụm từ gồm hai từ trở lên, từ ghép chỉ là một từ. Cụm từ kết hợp theo các loại quan hệ (một trong ba), từ ghép chỉ kết hợp một trong hai loại quan hệ (chính phụ hoặc đẳng lập). Các thành tố cấu tạo cụm từ đều có khả năng hoạt động tự do, còn trong từ ghép có thể một hoặc cả hai không hoạt động tự do. Cụm từ tự do không có tính thành ngữ về mặt nghĩa, từ ghép có tính thành ngữ về nghĩa (tức là ý nghĩa của cả tổ hợp có cái gì đó mới hơn, khác hơn so với tổng số nghĩa của từng yếu tố). Cụm từ không có tính bền vững về cấu tạo và tính sẵn có, từ ghép có đặc tính này.

Về cụm từ và ngữ cố định, ngữ cố định có tính bền vững về mặt ngữ pháp, tính thành ngữ về mặt nghĩa và tính sẵn có, cụm từ không có những đặc điểm này.

Về cụm từ và tổ hợp gồm thực từ và quan hệ từ, trong tiếng Việt có một số tổ hợp như: của mẹ, nhờ mẹ, vì mẹ, về môi trường, về khoa học, về thanh niên…Đây không gọi là cụm từ vì quan hệ từ không làm thành tố nào trong câu. Những tổ hợp như thế này một số nhà nghiên cứu gọi là giới ngữ.

2.1.2. Phân loại cụm từ

Căn cứ vào quan hệ ngữ pháp bao trùm (tức là quan hệ ngữ pháp dùng chung, quan hệ cú pháp chỉ dùng cho quan hệ giữa các từ) cụm từ được chia làm ba loại: cụm từ chủ-vị, cụm từ chính phụ, cụm từ đẳng lập.

- Sơ lược về cụm từ chủ-vị

Quan hệ ngữ pháp bao trùm trong cụm từ chủ-vị là quan hệ chủ-vị. Đó là quan hệ ngữ pháp liên kết ràng buộc giữa hai thành tố chính. Hai thành tố này có chức năng tường thuật và chức năng thông báo. Thành tố thứ nhất nêu đối tượng, thành tố thứ hai thông báo về đối tượng, thành tố nọ quy định sự tồn tại của thành tố kia.

Cụm từ chủ-vị có số lượng thành tố chính là hai (cố định).

Trật tự các thành tố trong cụm từ chủ-vị nhìn chung là ổn định.

Cả cụm từ chủ-vị có chức năng thông báo.

Ví dụ, cụm từ Chim bay có thể phân tích như sau:

Chim bay là một cụm từ chủ-vị có hai thành tố ràng buộc lẫn nhau, trong đó chim là thành tố thứ nhất (chủ ngữ) nêu đối tượng, bay là thành tố thứ hai (vị ngữ) thông báo về đối tượng. Trật tự của cụm từ là chủ ngữ đứng trước, vị ngữ đứng sau. Cả cụm thông báo về một sự kiện.

Cụm chủ-vị là cấu trúc cơ sở, là nòng cốt câu đơn trong câu đơn hai thành phần, do đó cụm chủ-vị sẽ được tiếp tục xem xét trong phần cú pháp học về câu.

- Sơ lược về cụm từ chính phụ

Trong cụm từ chính phụ, quan hệ ngữ pháp bao trùm là quan hệ chính phụ. Tức là trong cụm từ chính phụ có thành tố làm chính và có thành tố làm phụ. Ví dụ, trong cụm từ sách này thì sách là thành tố chính này là thành tố phụ.

Cụm từ chính phụ có số lượng thành tố chính là một (cố định).

Ví dụ:

(2) một quyển sách, đã đọc rồi…

Trật tự của các thành tố ở cụm từ chính phụ nói chung là ổn định không thay đổi. Ví dụ, trong vẫn tốt hơn có 3 thành tố và các thành tố này không thể hoán đổi vị trí cho nhau.

Cụm từ chính phụ được gọi tên theo từ loại của thành tố chính trong cụm. Trong tiếng Việt, chúng ta có thể gặp những loại cụm từ chính phụ sau đây (sẽ gọi tắt là cụm từ):

Cụm từ có danh từ làm thành tố chính, gọi là cụm danh từ.

Ví dụ:

(3) cái bàn này, hai bàn, bàn kia…

Cụm từ có động từ làm thành tố chính, gọi là cụm động từ.

Ví dụ:

(4) đã học rồi, vừa học, học xong…

Cụm từ có tính từ làm thành tố chính, gọi là cụm tính từ.

Ví dụ:

(5) vẫn hay hơn, rất hay, hay quá…

Cụm từ có số từ làm thành tố chính, gọi là cụm số từ.

Ví dụ:

(6) hơn mười một chút, độ mười…

Cụm từ có đại từ làm thành tố chính, gọi là cụm đại từ.

Ví dụ:

(7) tất cả chúng ta, hai chúng tôi…

Mỗi loại cụm từ thông thường được chia thành ba bộ phận: phần phụ trước (đứng trước thành tố chính; phần trung tâm, tức là phần chứa thành tố chính; phần phụ sau, đứng sau thành tố chính. Mỗi bộ phận có thể chứa nhiều yếu tố, mỗi yếu tố được gọi là một thành tố. Một cụm từ có chứa đủ các thành phần vừa nêu là cụm từ đầy đủ (ở dạng lí tưởng). Trong hoạt động, các thành phần phụ trước và phụ sau có thể vắng mặt.

- Sơ lược về cụm từ đẳng lập

Trong cụm từ đẳng lập, quan hệ ngữ pháp bao trùm là quan hệ đẳng lập. Tức là các thành tố có vai trò như nhau, không phân biệt đâu là chính đâu là phụ. Mối quan hệ này có thể có cơ sở duy lí xác định, cũng có thể do hoàn cảnh nói quy định.

Ví dụ:

(8) Trên thềm, dưới bậc, giữa đường, non nghìn thiếu niên nam nữ túm tụm lại, tìm chỗ để ngắm nhau cho đỡ nóng ruột lúc chờ đợi.

(Nguyễn Công Hoan)

Trong cụm từ đẳng lập (in đậm) có các yếu tố ngôn ngữ quan hệ đẳng lập với nhau, được sắp xếp theo trật tự từ trên nền nhà ra lòng đường một cách logic.

Ví dụ:

(9) Ông Nghị, bà Nghị mỗi người nhúng ba ngón tay vào chậu, vuốt qua hai mép một lượt, rồi cùng uống nước, xỉa răng.

(Ngô Tất Tố)

Ở trong ví dụ này cụm từ đẳng lập (in đậm) có trật tự ông – bà được người viết nêu ra có sự quy định của hoàn cảnh nói. Hoàn cảnh của thời kì mà tác giả sống (thời buổi Ngô Tất Tố trong Tắt đèn) vẫn tồn tại tư tưởng nam tôn nữ ti.

Số lượng thành tố chính trong cụm từ đẳng lập có từ hai trở lên (tức là không cố định) và chúng quy định bản chất và chức năng của cụm từ đẳng lập.

Ví dụ:

(10) Sống, chiến đấu, lao động và học tập theo gương Bác Hồ vĩ đại.

Cụm từ đẳng lập (in nghiêng) trong ví dụ trên có 4 thành tố chính là động từ. Đây là cụm từ có bản chất động từ, có chức năng cú pháp là chủ ngữ.

“Tóm lại, việc sử dụng quan hệ bình đẳng nói chung trong ngữ pháp ẩn chứa những khó khăn nhất định, vì về mặt cú pháp quan hệ này vốn ‘lỏng lẻo’ không có những quy tắc cứng rắn.

Việc nghiên cứu các cụm từ đẳng lập như đã thấy không phải là không có ích cho cú pháp học. Tuy nhiên, việc phân tích mối quan hệ của các thành tố trong cụm từ đẳng lập không cho ta những cái khác chất về mặt ngữ pháp…” ( x. Diệp Quang Ban, sđd, tr.75).

Như vậy, trong việc nghiên cứu cú pháp, ba kiểu cụm từ chủ-vị, chính phụ, đẳng lập, không phải có vai trò hoàn toàn như nhau. Trong cách hiểu đó, phần tiếp theo dành để bàn kĩ về cụm từ chính phụ.

  1. Cụm từ chính phụ

3.1. Định nghĩa

Cụm từ chính phụ là cụm từ có quan hệ bao trùm là quan hệ chính phụ. Trong cụm từ chính phụ có một thành tố chính và một hoặc một số thành tố phụ bổ sung hoặc hạn định cho thành tố chính. (Đây chính là định nghĩa cụm từ hiểu theo nghĩa hẹp đã nêu ở 2.1.1).

Ví dụ:

(11) đã học, những sinh viên ấy

3.2. Cấu tạo cụm từ chính phụ

3.2.1. Phần trung tâm của cụm từ chính phụ

Thành tố chính quy định sự tồn tại của cụm từ chính phụ. Thành phần này không thể bị lược bỏ, không thể bị thay thế.

Ví dụ:

(12) tất cả các sinh viên khoa Ngữ văn trường Đại học Tây Bắc.

Thành tố chính của cụm từ chính phụ này là sinh viên. Không có từ sinh viên không tồn tại cụm từ nói trên, và nếu thay thế từ này bằng một từ khác tức là chúng ta đã có một cụm từ khác.

Thành tố chính quy định bản chất, chức năng và cấu tạo của cả tổ hợp. Tức là nếu thành tố chính là danh từ, cụm từ chính phụ sẽ là cụm danh từ; thành tố chính là động từ, cụm từ chính phụ sẽ là cụm động từ…Và mỗi loại cụm từ sẽ mang bản chất, chức năng và cấu tạo riêng.

Thành tố chính có vai trò đại diện cho cả tổ hợp để quan hệ với những yếu tố, thành phần bên ngoài trong cùng một câu.

Ví dụ:

(13) Tất cả sinh viên khoa Ngữ văn của trường Đại học Tây Bắc học quân sự.

Câu này cấu tạo bằng hai cụm từ chính phụ, các thành tố chính do các từ sinh viênhọc đảm nhận. Sinh viên liên hệ trực tiếp với học và ngược lại. Tất cả các yếu tố còn lại liên hệ trực tiếp với trung tâm.

- Về từ loại, thành tố chính thường là danh từ, động từ, tính từ. Ngoài ra có một số trường hợp là số từ, đại từ.

3.2.2. Các thành phần phụ

Thành phần phụ trong cụm từ chính phụ là các thành tố phụ bổ sung hoặc hạn định cho trung tâm, đóng vai trò thứ yếu, có thể thay đổi, có thể thêm bớt.

Ví dụ:

(14) Ngọc và Oanh vẫn cứ còn học.

(15) Ngọc và Oanh vẫn còn cứ học.

(16) Ngọc và Oanh vẫn còn học nữa.

Có nhiều cách phân loại thành phần phụ. Sau đây là một số hướng phân loại phổ biến.

a. Căn cứ vào đặc điểm cấu tạo của thành phần phụ, có thể phân ra: thành tố phụ là một từ và thành tố phụ là một cụm từ.

(i) Thành tố phụ là một từ (từ thực, từ hư).

Ví dụ:

(17) rất đẹp

(18) ghế mây

(ii) Thành tố phụ là một cụm từ (cụm từ đẳng lập, cụm từ chính phụ, cụm từ chủ vị).

Ví dụ:

(19) đường lối chính trị, quân sự và ngoại giao

(20) sinh viên khoa Ngữ văn

(21) ngôi nhà tôi mới xây

b. Căn cứ vào chức năng của thành phần phụ, có thể phân ra: thành phần phụ bổ sung và thành phần phụ hạn định.

(i) Thành tố phụ bổ sung cho trung tâm một số chi tiết: số lượng, đối tượng, phương tiện, biện pháp, mục đích v.v…

Ví dụ:

(22) hai sinh viên, ngồi nhà, ăn đũa, khỏe vì thuốc

(ii) Thành tố phụ có khả năng hạn định (hạn chế phạm vi biểu vật) của trung tâm, đồng thời phân biệt sự vật nêu ở trung tâm với sự vật khác.

Ví dụ:

(23) ghế mây, đọc sách, đường lối về kinh tế

c. Căn cứ vào khả năng kết hợp với thành tố chính, có thể phân ra: thành tố phụ có khả năng kết hợp trực tiếp với thành tố chính và thành tố phụ không có khả năng kết hợp trực tiếp với thành tố chính.

(i) Thành tố phụ có khả năng kết hợp trực tiếp với thành tố chính (không nhất thiết phải có hư từ xen giữa).

Ví dụ:

(24) bảng gỗbảng bằng gỗ.

(ii) Thành tố phụ không có khả năng kết hợp trực tiếp với thành tố chính, buộc phải có hư từ xen giữa.

Ví dụ:

(25) nghĩ về gia đình bắt buộc phải có quan hệ từ về, không có dạng nghĩ gia đình.

Ngoài ra cũng có thể phân ra những thành tố phụ có khả năng kết hợp với nhiều nhóm từ trung tâm khác nhau (thành tố phụ chỉ thời gian) và những thành tố phụ chỉ kết hợp với thành tố chính thuộc một nhóm từ nhất định (thành tố phụ chỉ đối tượng tác động).

c. Căn cứ vào vị trí của thành phần phụ đối với thành phần trung tâm có thể phân ra: thành phần phụ trước và thành phụ sau.

(i) Thành phần phụ trước là thành phần phụ đứng trước thành tố chính.

Ví dụ:

(26) rất đẹp, mấy người

(ii) Thành phần phụ sau là thành phần đứng sau thành tố chính.

Ví dụ:

(27) đẹp rồi, đọc nữa

3.3. Các biến thể của cụm từ chính phụ

Cụm từ chính phụ ở dạng đầy đủ gồm có ba bộ phận (gọi là phần): Phần phụ trước, phần trung tâm và phần phụ sau.

Ví dụ:

(28) mấy người này (mấy – phần phụ trước, người – phần trung tâm, này – phần phụ sau).

Cụm từ chính phụ ở dạng khuyết thiếu gồm có cụm từ chính phụ thiếu thành phần phụ trước và cụm từ chính phụ thiếu thành phần phụ sau.

Ví dụ:

(29) đọc rồi (thiếu phần phụ trước), đã đọc (thiếu phần phụ sau).

3.3. Phân loại cụm từ chính phụ

Căn cứ vào thuộc tính từ loại của thành tố chính, cụm từ chính phụ có thể được chia làm năm loại: cụm danh từ, cụm động từ, cụm tính từ, cụm số từ, cụm đại từ.

a. Cụm danh từ: hai người, người kia

b. Cụm động từ: đã học, đã đọc xong

  1. Cụm tính từ: rất tốt, tốt quá

d. Cụm số từ: hơn hai mươi một chút, độ hai mươi

e. Cụm đại từ: tất cả chúng ta, ba chúng tôi

Trong 5 loại cụm từ kể trên, cụm danh từ, cụm động từ, cụm tính từ được coi là những hiện tượng tiêu biểu. Khi xem xét về cấu tạo, người ta chủ yếu xét ba loại cụm từ này.

3.4. Cụm danh từ

3.4.1. Nhận xét chung về cấu tạo của cụm danh từ

Cụm danh từ là cụm từ chính phụ có danh từ làm trung tâm. Cấu tạo chung của cụm danh từ gồm có ba phần: phần trung tâm, phần phụ trước, phần phụ sau.

Phần trung tâm thường là một danh từ hoặc một từ chỉ loại cộng với một danh từ hoặc

động từ, tính từ…như cái nhà, cây tre, con mèo, niềm vui, cuộc họp…Giáo trình này không bàn đến những trường hợp thuộc kiểu cấu tạo khác.

Phần phụ trước và phần phụ sau được phân chia thành một số vị trí rành mạch. Ở phần phụ trước, có ba vị trí khác nhau sắp xếp theo một trật tự nhất định. Phần phụ sau thường nhận ra được hai vị trí ổn định. Trong cụm danh từ không có thành tố phụ nào có thể chuyển từ trước xuống sau hoặc từ sau lên trước. Phần phụ trước chuyên dùng chỉ số lượng của sự vật nêu ở trung tâm, phần phụ sau chủ yếu chỉ mặt chất lượng của sự vật nêu ở trung tâm. Có thể hình dung cấu tạo của cụm danh từ qua lược đồ Hình 3.1 dưới đây.

tất cả

Ba

cái

con mèo

đen

ấy

-3

-2

-1

0

1

2


Hình 3.1 Lược đồ cấu tạo của cụm danh từ


3.4.2. Phần trung tâm của cụm danh từ

Như đã nói ở mục 3.4.1, phần trung tâm của cụm danh từ sẽ được phân ra hai trường hợp: Trung tâm là một danh từ và trung tâm gồm từ chỉ loại cộng với một danh từ hay động từ, tính từ.

- Trung tâm là một danh từ

Thuộc về trường hợp này là các danh từ không đi kèm loại từ.

Ví dụ:

(30) ba ngày vừa qua

các sinh viên

- Trung tâm gồm từ chỉ loại cộng với một danh từ hay động từ, tính từ

Chúng ta thừa nhận tồn tại một kiểu thành tố chính trong đó có một danh từ chỉ loại đứng trước và một danh từ hay động từ, tính từ đứng sau.

Ví dụ:

(31) ba quyển sách này

các dòng sông phía bắc

nhiều niềm vui

một vẻ đẹp.

Chú thích: Hiện nay có ba quan niệm khác về phần trung tâm của cụm danh từ.

Quan niệm như đã trình bày tại 3.4.2 tạm gọi là quan niệm 1 cho rằng trung tâm là một danh từ hoặc một danh từ đơn vị tự nhiên cộng với một danh từ hay động từ, tính từ. Trong trường hợp hai, danh từ đơn vị đi trước là trung tâm ngữ pháp, danh từ (động, tính từ) đi sau là trung tâm từ vựng.

Quan niệm này phù hợp với đối tượng phổ thông, không tạo nên sự khác biệt quá lớn so với ngôn ngữ Ấn-Âu. Tuy nhiên, quan niệm 1 cũng bộc lộ hạn chế là giải quyết vấn đề không triệt để. Ở ví dụ trên dòngsông không thể là hai từ ngang nhau về tất cả (không phải đẳng lập, không phải chủ - vị) thì câu hỏi đặt ra yếu tố nào là chính, yếu tố nào là phụ chưa được trả lời.

Quan niệm 2 cho rằng, thành tố chính của cụm danh từ do danh từ đảm nhận, loại từ thuộc về phần phụ trước của cụm từ. Theo đó, cấu tạo chung của cụm danh từ ở dạng đầy đủ phần phụ trước sẽ có bốn vị trí. Lược đồ cấu tạo của cụm danh từ như Hình 3.2.

tất cả

ba

cái

con

mèo

đen

ấy

-4

-3

-2

-1

0

1

2

Hình 3.2 Lược đồ cấu tạo của cụm danh từ

Quan niệm này tạm thời giải quyết được những hạn chế của quan niệm 1, và dễ xác định trung tâm. Sự xuất hiện quan niệm 3 cũng đồng thời cho thấy những băn khoăn còn đó với quan niệm này.

Quan niệm 3 đặt vấn đề xác định danh từ chỉ đơn vị tự nhiên mới là trung tâm. Theo quan niệm này, cho danh từ đơn vị đi trước làm trung tâm sẽ đảm bảo được nguyên tắc chung: hai danh từ, động từ, tính từ…đi liền nhau (không có quan hệ đẳng lập) thì thường từ đi trước là trung tâm. Hơn nữa cho đơn vị đi trước là trung tâm thì sẽ phù hợp, tương ứng với sự hỏi và trả lời: cái gì?, con gì?...Chẳng hạn con gà thì con là trung tâm.

Mặt khác, danh từ chỉ đơn vị tự nhiên không phải lúc nào cũng phải có danh từ chỉ sự vật đi sau. Có lúc một mình nó là trung tâm.

Ví dụ:

(32) - năm bài viết về cách mạng tháng Tám (bài là danh từ chỉ đơn vị tự nhiên)

- năm quyển dạy nấu ăn (quyển là danh từ chỉ đơn vị trung tâm).

3.4.2. Phần phụ trước của cụm danh từ

Phần phụ trước của cụm danh từ có cấu tạo tối đa là ba vị trí. Trong việc sử dụng ngôn ngữ, ba vị trí này có thể cùng xuất hiện, có thể khuyết một hay hai vị trí hoặc khuyết cả ba vị trí.

Ba vị trí của phần phụ trước có trật tự ổn định, chúng không thể chuyển đổi cho nhau. Vị trí liền trước phần trung tâm là vị trí của từ chỉ xuất, vị trí này thường được kí hiệu bằng – 1. Vị trí liền trước từ chỉ xuất là vị trí của từ chỉ số lượng, vị trí này thường được kí hiệu bằng – 2. Vị trí liền trước từ chỉ số lượng là vị trí của từ chỉ tổng lượng và thường được kí hiệu bằng – 3. Cấu tạo của phần phụ trước có thể minh họa băng sơ đồ trong Hình 3.3.

Vị trí – 3

Vị trí - 2

Vị trí – 1

Phần trung tâm

tất cả

ba

cái

con mèo

Hình 3.3 Lược đồ các yếu tố trong phần phụ trước của cụm danh từ

a. Vị trí từ chỉ xuất (vị trí – 1)

Chỉ xuất sự vật là tách sự vật riêng ra khỏi các sự vật khác và chỉ định sự vật ấy. Từ chỉ xuất nói ở đây là trợ từ cái với chức năng nhấn mạnh và chỉ xuất, có thể kết hợp được với tất cả các danh từ.

Ví dụ:

(33) - cái loại vải này

- cái con bé kia

- cái cây tre này.

Chú thích: Trong thực tiễn sử dụng ngôn ngữ và thực hành phân tích cấu tạo cụm danh từ cần phân biệt từ cái – chỉ xuất với từ cái – danh từ chỉ đơn vị. Sau đây là một số điểm khác biệt giúp cho sự phân biệt khi cần thiết.

Định từ cái – chỉ xuất:

- Chức năng nhấn mạnh và thường đi đôi với này, kia, ấy, đó, nọ…(đại từ chỉ định) nên có tác dụng chỉ xuất.

- Khả năng kết hợp: kết hợp được với hầu hết các danh từ.

- Vị trí trong cấu tạo cụm từ: đứng ở vị trí -1, không thuộc về trung tâm.

Từ cái – danh từ chỉ đơn vị:

- Chức năng chỉ đơn vị tự nhiên để đếm loại sự vật: cái bàn, cái ghế, cái bảng…

- Khả năng kết hợp hẹp hơn trợ từ cái, và không bắt buộc đi với đại từ chỉ định.

- Vị trí trong cấu tạo cụm từ: đứng ở vị trí 0 thuộc về trung tâm của cụm danh từ.

b. Vị trí từ chỉ số lượng (vị trí – 2)

Vị trí này có tác dụng bổ sung ý nghĩa số lượng cho thành tố chính và do từ chỉ số lượng đảm nhận.

Căn cứ vào ý nghĩa và phần nào cách hoạt động, có thể chia các từ chỉ số lượng (vị trí - 2) đang xét thành số từ (hai, ba, ba mươi…) và phụ từ chỉ lượng (các, mọi, mỗi…). Ở mức cụ thể hơn, người ta còn có thể chia từ chỉ số lượng thành:

- Số từ xác định (số đếm): một, hai, ba mươi

- Số từ phỏng định: vài, dăm, mươi, dăm chục

- Từ hàm ý phân phối: mỗi, từng, mọi

- Định từ chỉ lượng: những, các, một

- Từ mấy.

Trong các từ chỉ số lượng kể trên, cần chú ý từ chỉ số lượng những và số từ xác định.

Từ những trong một số trường hợp có thể dùng với tư cách trợ từ ở trước phụ tố số lượng, khi phụ tố này do số từ xác định đảm nhận. Ví dụ: những ba quả cam.

Số từ xác định trong một số trường hợp có cụm từ đối xứng tiếp nhau thường đặt ngay

trước thành tố chính để biểu thị tỉ lệ.

Ví dụ:

(34) - ba mặt một lời (tục ngữ)

- một mặt người mười mặt của (tục ngữ)

- ba chìm bảy nối (tục ngữ).

c. Vị trí chỉ tổng lượng, tổng thể (vị trí – 3)

Các từ chỉ tổng lượng, tổng thể ở vị trí – 3 là: tất cả, cả, tất thảy, hết thảy, toàn thể, toàn bộ…Trong cụm danh từ, từ chỉ tổng lượng không thể đi với các số từ phỏng định (vài, dăm, mươi…), chúng thường có thể đứng trước:

- Số từ xác định: hai, ba

- Danh từ tập hợp: đàn, lũ, bó, nắm…

- Danh từ tổng hợp: quần áo, trâu bò, xe cộ

3.4.3. Phần phụ sau của cụm danh từ

Phần phụ sau của cụm danh từ có thể bao gồm thành tố hạn định sự vật bằng đặc điểm của nó và thành tố chỉ định vị trí của sự vật trong không gian thời gian. Những thành tố này thường được phân bố vào một trong hai vị trí: vị trí các thực từ hay các kiến trúc chứa thực từ và vị trí các từ chỉ định này, kia, ấy, đó, nọ

Vị trí của các thực từ được quy ước kí hiệu là vị trí 1, vị trí của các từ chỉ định là vị trí 2. Có thể hình dung vị trí của chúng qua lược đồ trong Hình 3.4.

Phần phụ trước

Phần trung tâm

Vị trí 1

Vị trí 2


Con mèo

Đen

ấy

Hình 3.4. Lược đồ các yếu tố trong phần phụ sau của cụm danh từ

a. Vị trí từ hạn định sự vật bằng đặc điểm của nó (vị trí 1)

Thành tố phụ sau của cụm danh từ ở vị trí 1 có tác dụng hạn chế phạm vi biểu vật của thành tố chính và phân biệt sự vật nằm ở thành tố chính với sự vật khác. Đây là một vị trí khá phức tạp, có thể xuất hiện nhiều thành tố, gặp nhiều từ loại khác nhau (danh từ, động từ, tính từ, số từ…) với nhiều kiểu cấu tạo kiểu kết nối khác nhau. Sau đây là những ví dụ về các phương diện khác nhau thuộc vị trí 1 của phần phụ sau cụm danh từ.

(i) Có nhiều phụ tố hạn định

Ví dụ:

(35) - chiếc áo màu xanh của tôi ấy

- những người sinh viên Việt Nam đầy nhiệt tình ấy

(ii) Phụ tố hạn định do nhiều từ loại khác nhau đảm nhiệm

Ví dụ:

(36) - phòng tạp chí (danh từ)

- phòng đọc (động từ)

- phòng hẹp (tính từ)

- phòng mười hai (số từ)

- Phòng (của) chúng tôi (đại từ)

- phòng ngoài (từ chỉ địa điểm)

- chuyến trước (từ chỉ thời gian)

(iii) Phụ tố hạn định có các kiểu cấu tạo khác nhau

Phụ tố hạn định có thể được cấu tạo bằng một thực từ (x. các ví dụ 35, 36), cũng có thể có cấu tạo bằng các cụm từ.

Ví dụ:

(37) - cửa hàng sách ngoại văn (cụm từ chính phụ)

- sách báo trong nước và nước ngoài (cụm từ đẳng lập)

- Sách thư viện đặt mua (cụm từ chủ-vị)

(iv) Phụ tố hạn định có thể có các kiểu kết nối khác nhau

Ví dụ:

(38) - râu quai nón, lệnh sản xuất, chuyện (kết nối trực tiếp)

- chuyện tôi nói với anh lúc nãy, hàng do chúng tôi sản xuất (kết nối gián tiếp qua các quan hệ từ mà, do).

b. Vị trí từ chỉ định (vị trí 2)

Vị trí này do đại từ chỉ định đảm nhận, và dùng để kết thúc cụm danh từ làm ranh giới phân biệt chủ ngữ với vị ngữ.

Vì có giá trị quy chiếu và định vị cho nên đem lại tính xác định cho chủ ngữ và giúp chúng ta phân biệt tổ hợp từ có chức năng thông báo và tổ hợp từ chưa có chức năng thông báo. So sánh:

- ngôi nhà cao tầng (cụm từ)

- Ngôi nhà này cao tầng (câu vì ngôi nhà đã được quy chiếu về một vật – một ngôi nhà cụ thể bởi từ này).

3.5. Cụm động từ

3.5.1. Nhận xét chung về cấu tạo của cụm động từ

Cụm động từ là cụm từ chính phụ có động từ làm thành tố chính. Ở dạng đầy đủ cụm động từ có cấu tạo ba phần: phần trung tâm, phần phụ trước, phần phụ sau.

Phần trung tâm thường là một động từ cũng có khi là nhiều từ có quan hệ đẳng lập. Giáo trình này tạm thời không bàn đến những trường hợp cụm từ đẳng lập làm trung tâm.

Các thành phần phụ của cụm động từ nếu căn cứ vào vị trí gồm hai loại: thành phần phụ trước và thành phần phụ sau. Thành phần phụ trước cụm động từ chủ yếu do các phó từ đảm nhận và chuyên dùng để biểu thị mối quan hệ của sự việc nêu ở động từ thành tố chính với thời gian, với kết quả, khả năng, sự chuyển đổi tình trạng của sự việc. Thành phần phụ sau cụm động từ cơ bản do thực từ đảm nhận có tác dụng mở rộng nội dung ý nghĩa của sự việc nêu ở động từ thành tố chính, cụ thể là cho biết đối tượng chịu tác động của thành tố chính hay đối tượng tác động đến động từ làm thành tố chính.

Đáng chú ý là trong một số cụm động từ có những thành tố phụ có thể đổi vị trí từ trước về sau và ngược lại.

Ví dụ:

(39) rơi lác đác

3.5.2. Phần trung tâm của cụm động từ

Như đã nói ở phần trên, kiểu thành tố chính là một động từ có tính chất tiêu biểu. Các tiểu loại động từ đều có thể làm thành tố chính.

Tuy nhiên khi xem xét kiểu thành tố chính là một động từ cần thiết phải phân biệt động từ có nghĩa từ vựng đủ rõ để tự nó có thể làm thành tố chính và động từ tự nó có nghĩa chưa đủ rõ và đòi hỏi phải có động từ khác đi sau bổ nghĩa. Diệp Quang Ban gọi là ‘động từ độc lập” và ‘động từ không độc lập’ (chúng tôi tạm thời sử dụng thuật ngữ này). Theo đó sẽ có hai trường hợp xảy ra: trường hợp dễ xác định trung tâm và trường hợp khó xác định trung tâm.

a. Động từ độc lập làm thành tố chính cụm động từ (trường hợp dễ xác định trung tâm)

Động từ độc lập có thể phân loại theo phụ từ đi kèm mà cũng có thể phân loại theo khả năng kết hợp với thực từ đi sau nó. Nếu căn cứ vào khả năng xuất hiện những thực từ có ý nghĩa riêng ở phía sau, động từ được phân biệt thành hai lớp ngoại động và nội động, bên trong mỗi lớp lại có những lớp con.

Ví dụ:

(40) uống nước, xây nhà, ném đá… (động từ ngoại động)

(41) ngồi bên cửa sổ, ngã bên đường… (động từ nội động).

b. Động từ không độc lập làm thành tố chính cụm động từ (trường hợp khó xác định trung tâm)

Động từ không độc lập gồm động từ tình thái và trợ động từ quan hệ. Những động từ này khi xuất hiện trong cụm động từ thường có động từ thường đi kèm sau và dẫn tới việc xác định trung tâm trở nên khó khăn.

Ví dụ:

(42) - toan đứng dậy

- định về quê

- cần nghỉ ngơi

Chúng ta xác định động từ đi trước (động từ tình thái và động từ quan hệ: toan, định, cần, bắt đầu, tiếp tục) là thành tố chính vì những lí do sau:

Thứ nhất, mặc dù khuyết thiếu ý nghĩa cụ thể (so với động từ đi sau: đứng dậy, về, nghỉ ngơi) nhưng nó vẫn có những đặc trưng cơ bản của động từ. Có những trường hợp loại động từ này một mình vẫn làm trung tâm vị ngữ.

Ví dụ:

(43) - đã được nhà trường khen thưởng

- muốn các anh hoàn thành công việc ngay hôm nay.

Mặt khác, nó có thể phát triển thành cụm động từ mà nó làm trung tâm bằng cách thêm bổ tố vào trước hoặc sau nó.

Thứ hai, nếu thừa nhận động từ tình thái đi trước làm trung tâm thì sẽ đảm bảo được quy tắc chung: cứ hai động từ đi liền nhau mà không có quan hệ đẳng lập thì từ đi trước làm trung tâm.

Thứ ba, thực ra không thể lược bỏ được động từ tình thái. Nếu lược bỏ sẽ thành một cụm động từ khác, ý nghĩa sẽ thay đổi hoàn toàn.

Ví dụ:

(44) - định về quêvề quê

- toan đứng dậyđứng dậy

Chú thích: không thể coi cả hai động từ đi liền nhau là trung tâm vì chúng hoàn toàn khác nhau. Mỗi một động từ đòi hỏi một bổ ngữ khác nhau. Động từ tình thái đòi hỏi bổ ngữ là động từ thường, còn động từ đi sau lại đòi hỏi bổ ngữ khác hẳn. Ví dụ: Tôi được thưởng một triệu (được làm sao? thưởng cái gì?).

Trong tiếng Việt, khi phân tích cụm động từ, chúng ta có thể gặp trường hợp phần trung tâm là ‘một cặp động từ khứ hồi’ được làm thành từ một động từ dời chuyển (đi, chạy…) hoặc một động từ chỉ hướng (ra, vào…) có thành tố phụ sau chỉ điểm đến của sự dời chuyển, cộng với động từ chỉ hướng hàm ý ngược chiều với nghĩa của động từ đứng đầu kiến trúc, để cùng với nó tạo ra ý nghĩa ‘khứ hồi’.

Ví dụ:

(45) - đi Hà Nội về, đi lấy sách về

- về trong quê ra, lên Tây Bắc xuống

Những trường hợp như đã thấy ở trên, chúng tôi xác định cả hai động từ đều là trung tâm. Do đó, khi phân tích cụm từ, nên dừng lại trước toàn bộ khối kiến trúc này, không cần phải phân tích ra thành những bộ phận nhỏ hơn.

3.5.3. Phần phụ trước của cụm động từ

Phần phụ trước của cụm động từ có thể gặp hai lớp từ: phó từ và thực từ.

a. Phó từ làm thành tố phụ trước trong cụm động từ

Phó từ là những từ mang ý nghĩa ngữ pháp, chuyên đi kèm động từ (và tính từ). Trong cụm động từ, phó từ chuyên giữ vai trò thành tố phụ trước và không có trật tự sắp xếp ổn định như ở cụm danh từ.

Phó từ có số lượng hạn chế (khoảng vài chục từ). Chúng thường bổ sung những ý nghĩa sau cho động từ làm thành tố chính: sự tiếp diễn, tương tự của sự thể (đều, cũng, vẫn, cứ, còn…), quan hệ thời gian của sự thể (từng, mới, đã, sẽ, đang, vừa…), số lần khái quát của sự xuất hiện sự thể (thường, hay, năng, ít, hiếm…), mức độ của sự thể (rất, hơi, khí, quá…), khẳng định hay phủ định (có, không, chưa, chẳng…), sai khiến, khuyên nhủ (hãy, đừng chớ…).

Các phó từ ở phần phụ trước không có vị trí riêng cho mỗi loại, nhưng khi xuất hiện nhiều thành tố phụ trước cần chú ý:

Đối với các phụ tố khác loại cần sắp xếp chúng theo một trật tự nhất định - phụ tố đặt trước chi phối phụ tố đặt sau.

Ví dụ:

(46) - Ngọc đang tập thể dục. Oanh cũng đang tập thể dục.

- Ngọc sẽ đi. Oanh sẽ không đi. Tôi cũng sẽ không đi.

Đối với các phụ tố cùng loại: có thể nối tiếp nhau ở cùng một vị trí và không chi phối nhau, nên có thể thay đổi vị trí.

Ví dụ:

(47) - Ngọc và Oanh cũng đều học giỏi như Huệ.

Ngọc và Oanh đều cũng học giỏi như Huệ.

- Thùy vẫn cứ còn ngồi đọc sách.

Thùy vẫn còn cứ ngồi đọc sách.

b. Thực từ làm thành tố phụ trước trong cụm động từ

Thực tiễn sử dụng ngôn ngữ cho thấy tại phần phụ trước của cụm động từ có thể gặp hai kiểu thực từ làm thành tố phụ trước:

(i). Những từ tượng thanh, tượng hình và một số tính từ có tác dụng miêu tả đối với động từ làm thành tố chính.

Ví dụ:

(48) - ào ào chảy

- lác đác rơi

- khẽ kêu, ôn tồn đáp, nhẹ nhàng khuyên bảo, chóng phai, lâu mòn, tích cực làm việc, căn bản hoàn thành.

(ii). Kiến trúc gồm một quan hệ từ với một danh từ chỉ điểm xuất phát.

Ví dụ:

(49) - từ Thanh Hóa ra

- ở Bắc

- dưới quê lên.

3.5.4. Phần phụ sau của cụm động từ

Phần phụ sau của cụm động từ phức tạp hơn so với phần phụ trước. Các thành tố phụ sau cụm động từ cần được xem xét ở hai phương diện: kiểu cấu tạo và các quan hệ nghĩa của thành tố phụ sau với động từ thành tố chính.

- Kiểu cấu tạo của thành tố phụ sau cụm động từ

Thành tố phụ sau cụm động từ có các kiểu cấu tạo là một từ hoặc một cụm từ chính phụ, hay chủ vị.

a. Thành tố phụ sau là một từ: thực từ, hư từ

Ví dụ:

(50) đi chơi, ngồi võng, cắt kéo,…

(51) đi rồi, quên hoài, nói nữa,…

b. Thành tố phụ sau là một cụm từ

Ví dụ:

(52) thích nhạc cổ điển, trả sách thư viện,…

nghe thầy giảng bài, biết bạn sắp đi xa,…

- Các quan hệ nghĩa của thành tố phụ sau với động từ thành tố trung tâm

Phần phụ sau của cụm động từ có thể đồng thời xuất hiện nhiều thành tố. Việc sắp xếp các thành tố theo một trật tự ổn định là khá khó khăn. Vì vậy, vấn đề được nhắc đến ở đây là các quan hệ nghĩa của thành tố phụ sau với động từ thành tố chính. Những quan hệ nghĩa sau đây, cũng gọi là những loại thành tố phụ sau thường được nhắc đến là: Thành tố phụ do thành tố chính yêu cầu riêng và thành tố phụ không do thành tố chính yêu cầu riêng.

a. Loại thành tố phụ do thành tố chính yêu cầu riêng

Đó là loại thành tố phụ cần phải có và tương đối gắn bó với thành tố chính, bao gồm những tiểu loại sau đây:

(i) Thành tố phụ sau chỉ đối tượng: đối tượng chỉ sự vật chịu tác động của hoạt động, đối tượng chỉ sự vật có tác động tới hoạt động, đối tượng chỉ sự vật tiếp thụ, đối tượng chỉ sự vật so sánh theo cấp độ…

- đọc sách, viết thư

- nhớ người yêu, tin bạn

- được khen, được thưởng

- hơn mọi người, thua

(ii) Thành tố phụ sau chỉ phương hướng: đi ra, nhảy vào, ngẩng lên, cúi xuống, góp vào

(iii) Thành tố phụ sau chỉ nội dung ý chí: toan đứng dậy, mong được đi ra

(iv) Thành tố phụ sau chỉ sự vật tồn tại: sách mới, hết tiền mặt

(v) Thành tố phụ sau chỉ kết quả biến hóa: thành bạn thân, hóa bướm, trở nên thân thiết

b. Loại thành tố phụ không do thành tố chính yêu cầu riêng

Đó là loại thành tố phụ có thể có hay không có một cách tùy nghi. Có thể nhận thấy những tiểu loại khác nhau sau đây:

(i) Thành tố phụ sau chỉ thời gian: làm việc trong hai ngày liền, nghỉ bốn giờ

(ii) Thành tố phụ sau chỉ nơi chốn: nằm trên cát, ngồi võng

(iii) Thành tố phụ sau chỉ phương tiện: in bằng kĩ thuật mới, cắt kéo

(iv) Thành tố phụ sau chỉ nguyên nhân: chết vì bệnh, nghỉ ốm

(v) Thành tố phụ sau chỉ mục đích: hi sinh vì tổ quốc, đi chơi

(vi) Thành tố phụ sau chỉ điều kiện: tìm cho thấy mọi lẽ

(vii) Thành tố phụ chỉ sự so sánh: nói như vẹt, ngủ như chết

(viii) Thành tố phụ chỉ cách thức: làm việc với tinh thần trách nhiệm cao, nói nhanh

chú thích: Trong các loại thành tố phụ không do thành tố chính yêu cầu riêng có một loại khá đặc biệt: thành tố phụ do các phụ từ đảm nhiệm. Loại này biểu thị một số ý nghĩa ngữ pháp khác nhau như thể trạng, so sánh, kết quả, tương liên, mệnh lệnh… Chẳng hạn: đã đi rồi, còn nói nữa, làm được, giúp nhau, cười đi

3.6. Cụm tính từ

3.6.1. Nhận xét chung về cấu tạo của cụm tính từ

Cụm tính từ là cụm từ chính phụ có tính từ làm thành tố chính. Cấu tạo chung cụm tính từ cũng gồm có ba phần: phần trung tâm, phần phụ trước, phần phụ sau.

Các thành phần phụ của cụm tính từ (căn cứ vào vị trí) gồm có hai loại: thành phần phụ trước và thành phần phụ sau.

Thành phần phụ trước là phó từ xuất hiện ở cụm động từ phần lớn đồng thời cũng xuất hiện ở cụm tính từ. Cụ thể như: đã, sẽ, đang, vừa, cũng, đều, mới, vẫn, cứ, cùng…và rồi với tư cách thành tố phụ sau.

Trong phần tiếp sau giáo trình sẽ không nhắc lại những thành tố phụ đã được nói ở cụm động từ.

3.6.2. Phần trung tâm của cụm tính từ

Các tiểu loại tính từ đều có thể làm thành tố chính.

Ví dụ:

(53) - rất giỏi, đông người,…

- rất cao, rộng thênh thang,…

Đáng chú ý là có những cụm từ xét về cấu tạo là cụm động từ, nhưng là cụm động từ ổn định, cho nên có thể dùng với nghĩa và tư cách tính từ, để làm thành tố chính của cụm tính từ.

Ví dụ:

(54) - rất có lí, rất có nhiệt tình

- rất ăn khớp, rất ăn ảnh.

3.6.3. Phần phụ trước của cụm tính từ

Giống như phần phụ trước của cụm động từ, phần phụ trước của cụm tính từ thường là hư từ. Trong đó các hư từ chuyên dụng của thành tố phụ trước cụm tính từ là rất, hơi, khí. Các từ cực (cực kì), tuyệt, quá cũng có thể đứng trước tính từ để nhấn mạnh.

Ví dụ:

(55) - rất đẹp, hơi vụng, khí nóng

- cực đẹp, cực kì đẹp, tuyệt đẹp, quá đẹp

3.6.4. Phần phụ sau của cụm tính từ

Tại phần phụ sau của cụm tính từ, giống như phần phụ sau của cụm động từ, có thể phân biệt: Kiểu cấu tạo của thành tố phụ sau cụm tính từ và các quan hệ nghĩa của thành tố phụ sau với tính từ thành tố chính.

- Kiểu cấu tạo của thành tố phụ sau cụm tính từ

Thành tố phụ sau cụm tính từ có các kiểu cấu tạo là một từ hoặc một cụm từ chính phụ, hay chủ vị.

a. Thành tố phụ sau là một từ: thực từ, hư từ

Ví dụ:

(56) - đông người, vàng , gần tết,…

- đẹp lắm, đẹp cực kì, đẹp quá,…

b. Thành tố phụ sau là một cụm từ

Ví dụ:

(57) - giỏi môn toán, kém môn văn,…

- đẹp như tiên giáng trần, lừ đừ như ông từ vào đền,…

- Các quan hệ nghĩa của thành tố phụ sau với động từ thành tố chính

a. Thành tố phụ sau chỉ phạm vi thể hiện của tính chất

Ví dụ:

(58) - giàu tiền, chậm lớn,…

- giàu về sáng kiến, nghiêm túc trong suy nghĩ,…

b. Thành tố phụ sau chỉ thuộc tính về lượng

Ví dụ:

(59) - rộng ba mét, dài bảy mét,…

- gần trường, xa mặt trời,…

c. Thành tố phụ sau so sánh theo cấp độ

Ví dụ:

(60) - khác cha, giống mẹ, giỏi bằng, tốt hơn,…

- đẹp như tranh, chậm như rùa,…

d. Thành tố phụ sau miêu tả sắc thái của tính chất

Ví dụ:

(61) - đẹp lộng lẫy, rộng thênh thang,…

- giỏi hết sức, dũng cảm vô cùng,…

Đáng chú ý là tiểu loại thành tố phụ sau này có tác dụng miêu tả sắc thái/ mức độ tuyệt đối của tính chất. Vị trí của chúng có thể đổi từ khu vực sau lên khu vực trước tùy theo hoàn cảnh.

CÂU HỎI VÀ BÀI TẬP THỰC HÀNH

1. Xác định cụm từ trong câu

1.1. Xác định các cụm từ (cụm từ đẳng lập, cụm từ chính phụ) trong các câu sau:

- Trên quầy có sách, báo và vật lưu niệm.

- Trên thềm, dưới bậc, giữa đường, non nghìn thiếu niên nam nữ túm tụm lại, tìm chỗ để ngắm nhau cho đỡ nóng ruột lúc chờ đợi.

(Nguyễn Công Hoan)

- Thôi thế này: chó tao cũng mua vậy. Bắt cả con chó cái và đàn chó con sang đây, tao trả cho một đồng nữa. Với con bé kia một đồng là hai…Thế là nhà mày đủ tiền nộp sưu lại khỏi phải nuôi chó, khỏi phải nuôi con. Sướng nhé!

(Ngô Tất Tố)

1.2. Xác định cụm danh từ, cụm động từ, cụm tính từ trong các câu sau:

- Ba cái con mèo đen ấy rất đẹp.

- Anh ấy đi Đà Lạt về.

- Tôi vừa về trong quê ra.

- Nhãn này mỏng cùi.

2. Phân tích cấu tạo của cụm từ tiếng Việt

2.1. Biến cụm danh từ sau đây thành một câu đơn bằng cách thêm một từ làm thành tố phụ của danh từ vào vị trí thích hợp.

người thợ mộc khéo tay

2.2. Trong câu Con mèo là con vật ăn thịt, từ con mèo chỉ một con mèo cụ thể nào đó hay chỉ lớp động vật mèo nói chung?

2.3. Nêu những điểm giống và khác nhau về cấu tạo giữa cụm động từ và cụm tính từ. Nêu và phân tích ví dụ.

2.4. Những phó từ nào có thể xuất hiện khi thì ở phần phụ trước, khi thì ở phần phụ sau trong cụm tính từ? Nêu ví dụ và phân tích.

2.5. Xác định loại cụm từ (cụm danh từ, cụm động từ, cụm tính từ) và phân tích cấu tạo các cụm từ sau đây:

a. đi giữa Hạ Long vào mùa sương

b. bơi trong sương như bơi trong mây

c. tiếng gõ thuyền lộc cộc của vạn chài săn cá

d. âm vang mặt sông

e. mấy con hải âu.

3. Tạo lập cụm từ tiếng Việt

3.1. Đặt ba câu, mỗi câu có một cụm danh từ (làm chủ ngữ) và một cụm động từ hoặc cụm tính từ (làm vị ngữ).

3.2. Sửa lại đoạn văn dưới đây cho sinh động hơn bằng cách thêm phần cuối vào cụm danh từ:

Ngôi trường mới xây đứng sừng sững ở khoảng đất.......đầu xã. Từ đằng xa, ta đã thấy mái ngói.......và tường vôi. Ở đây, suốt ngày, học sinh đi về tấp nập. Tiếng cười......tiếng hát.......vang lên trong các giờ nghỉ.

3.3. Thêm các từ vào chỗ trống để danh từ trở thành cụm danh từ (mỗi danh từ thêm bốn từ khác nhau ở phần phụ trước và phần phụ sau).

........nhân dân....../cương quyết đấu tranh giành độc lập tự do.

........chim......./làm tổ trên ngọn cây.

........sinh viên......./đều tích cực học tập.

........nhà......../lợp bằng ngói.

3.4. Thêm các từ vào chỗ trống để động từ trở thành cụm động từ (mỗi động từ thêm ba cách khác nhau).

Chim/.........hót.........

Gió/.........thổi

Mây/.........bay........

Mặt trời/.........mọc.........

TÀI LIỆU THAM KHẢO

  1. Diệp Quang Ban (1996), Ngữ pháp tiếng Việt, tập hai, Nxb Giáo dục.

  2. Diệp Quang Ban (chủ biên) – Hoàng Dân (2000), Ngữ pháp tiếng Việt, Nxb Giáo dục.

  3. Diệp Quang Ban (2005), Ngữ pháp tiếng Việt, Nxb Giáo dục.

  4. Đinh Trọng Lạc – Bùi Minh Toán (1998), Tiếng Việt, tập hai, Giáo trình đào tạo giáo viên tiểu học hệ CĐSP và SP 12+ 2, Nxb Giáo dục.

  5. Hoàng Trọng Phiến (1978), Ngữ pháp tiếng Việt (câu), Nxb Đại học và Trung học chuyên nghiệp, Hà Nội.

  6. Nguyễn Hữu Quỳnh (1994), Tiếng Việt hiện đại (Ngữ âm, ngữ pháp, phong cách), Trung tâm biên soạn từ điển bách khoa Việt Nam, Hà Nội.

  7. Nguyễn Thị Thìn (2003), Câu tiếng Việt và nội dung dạy - học câu ở trường phổ thông, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội.

  8. Bùi Minh Toán (2012), Câu trong hoạt động giao tiếp tiếng Việt, Nxb Giáo dục Việt Nam.

Chương III

CÂU TIẾNG VIỆT

§1. KHÁI QUÁT VỀ CÂU

1. Câu và phát ngôn

1.1. Định nghĩa câu

Hiện nay chúng ta nhận thấy đang tồn tại khá nhiều định nghĩa về câu xuất phát từ những mục đích nghiên cứu khác nhau. Số lượng các định nghĩa về câu tính đến thời điểm này cũng khó có thể khảo sát và thống kê hết được. Có cách định nghĩa hướng tới mục đích nêu được các đặc trưng cơ bản của câu. Có cách định nghĩa hướng tới mục đích chủ yếu chỉ ra các đặc trưng quan trọng nhất để giúp chúng ta phân biệt được câu với các đơn vị ngôn ngữ ở cấp độ trên câu (đoạn văn, văn bản) và dưới câu (từ, cụm từ).

Sự tồn tại quá nhiều định nghĩa về câu cũng phản ánh một thực tế là các cách hiểu về câu với những dấu hiệu bản chất của nó vẫn còn có sự khác biệt trong cách nhìn của các nhà ngôn ngữ học.

Trong ngôn ngữ học truyền thống, câu được coi là đơn vị lớn nhất trong tổ chức của hệ thống ngôn ngữ. Những đơn vị trên câu được coi là lĩnh vực lời nói và theo quan điểm của F. de Saussure khởi xướng, không phải là đối tượng chân chính của ngôn ngữ học. Quan niệm như vậy dĩ nhiên không được các nhà ngôn ngữ học ủng hộ và ngày nay, các đơn vị ngôn ngữ trên câu là đối tượng nghiên cứu của một ngành ngôn ngữ học – ngôn ngữ học văn bản (text linguistics).

Hiểu một cách chặt chẽ, câu là đơn vị cấu trúc lớn nhất trong tổ chức ngữ pháp của một ngôn ngữ có chức năng thông báo nhỏ nhất được dùng trong hoạt động giao tiếp.

Định nghĩa về câu theo hướng này sẽ dẫn đến cách hiểu:

Câu có một đặc trưng cấu trúc riêng và việc nghiên cứu ngữ pháp dừng lại ở bậc câu.

Những đơn vị lớn hơn câu như đoạn văn, văn bản có nội dung thông báo phong phú, hoàn chỉnh, trọn vẹn hơn câu nhưng không phải là đơn vị nhỏ nhất có chức năng thông báo. Đoạn văn, văn bản có thể phân tách thành các câu có nội dung thông báo.

Các đơn vị nhỏ hơn câu như từ, cụm từ có ý nghĩa biểu thị khái niệm, gọi tên sự vật, hiện tượng, chứ không có khả năng thông báo một sự thể. Người nói (viết) muốn thông báo một nội dung tư tưởng nào đó cho người nghe (đọc) hiểu được ý mình thì phải sử dụng câu.

Ví dụ :

(1) Trẻ em

(2) Tất cả trẻ em Việt Nam của chúng ta hôm nay

(3) Trẻ em hôm nay là thế giới của ngày mai.

(4) Cháy!

Ví dụ (1) là một danh từ, tên gọi của một lớp người nhỏ tuổi trong xã hội.

Ví dụ (2) là một cụm danh từ, tên gọi của một lớp người nhỏ tuổi nhưng phạm vi biểu thị hẹp hơn so với (1) - trẻ em của Việt Nam.

Ví dụ (3) là một câu, một thông báo có tính nhận định về vai trò quan trọng của trẻ em trong sự phát triển của xã hội loài người trong tương lai.

Ví dụ (4) là một câu đặc biệt do một từ đảm nhận, thông báo về một hiện tượng xảy ra bất thường: cháy và mọi người nghe thông báo này sẽ xác định một cách thức ứng xử thích hợp: gọi điện cho công an phòng cháy chữa cháy hoặc chạy đi dập tắt đám cháy…

1.2. Câu và phát ngôn

Câu là đơn vị cú pháp quen thuộc và khi nói tới câu, một số nhà nghiên cứu cho rằng câu là đơn vị có hai mặt: câu trừu tượngcâu cụ thể.

Câu trừu tượng là các mô thức kết học do các đơn vị từ vựng trừu tượng kết hợp với nhau theo những quy tắc chủ yếu là tuyến tính. Những quy tắc này sẽ quyết định các quan hệ cú pháp - ngữ nghĩa và theo các quan hệ đó mà quyết định các đơn vị trừu tượng trong câu, tức thành phần câu, đồng thời quyết định kiểu loại câu về mặt ngữ nghĩa. Trong một thời gian dài, ngôn ngữ học chỉ quan tâm đến cấu trúc trừu tượng của câu, đến các mối quan hệ và chức năng ngữ pháp của câu. Cấu trúc của câu, theo hướng nghiên cứu đó thiên về hình thức hay là thuần túy hình thức. Cho nên, với quan niệm như vậy, ngôn ngữ học đã xem nhẹ hay nói chính xác hơn là bỏ qua không chỉ về mặt ngữ nghĩa, mà cả những vấn đề liên quan đến bình diện sử dụng của câu.

Câu cụ thể là các câu sẽ được hình thành bởi các đơn vị từ vựng cụ thể.

Ví dụ:

(5) Cậu hãy dọn phòng đi!

Câu này được cấu tạo bởi năm từ: cậu (từ xưng hô), hãy (phụ từ có ý nghĩa chỉ mệnh lệnh), dọn (động từ biểu thị nội dung sai khiến), phòng (đối tượng trực tiếp của hành động: dọn), đi (phụ từ cũng có ý nghĩa thúc dục). Đây là một câu cầu khiến.

Hiện nay, tiếp nhận và sử dụng lí thuyết ba bình diện của tín hiệu ngôn ngữ nói chung và của câu nói riêng, ngôn ngữ học đang quan tâm đến cả bình diện nghĩa và bình diện sử dụng. Với sự quan tâm như vậy thì lại xuất hiện một mối tương quan mới cần phải tính đến: tương quan giữa một đơn vị trừu tượng, ở trạng thái tĩnh, trạng thái chưa hành chức, chưa tham gia vào hoạt động giao tiếp, với sản phẩm của sự hiện thực hóa chính nó trong hoạt động giao tiếp. Mối tương quan đó như là tương quan giữa một hằng thể (một tiêu thể, một điển dạng) với một biến thể (một hiện dạng). Và như vậy, bên cạnh khái niệm và thuật ngữ câu (sentence), cũng xuất hiện khái niệm và thuật ngữ phát ngôn (utterance).

Hiểu một cách chung nhất, câu được tổ chức bằng các đơn vị từ vựng cụ thể được dùng trong những ngữ cảnh khác nhau với mục đích giao tiếp khác nhau thì gọi là phát ngôn. Hay nói cách khác, phát ngôn là những câu cụ thể trong ngữ cảnh (context) để thực hiện một mục đích giao tiếp cụ thể.

Ngày nay, đối tượng nghiên cứu của ngôn ngữ học là câu – phát ngôn, tức là nghiên cứu phần thuộc cấu trúc cú pháp, phần không thuộc cấu trúc cú pháp ; và hai phần này được xem xét có sự phân biệt với nhau. Để giản tiện câu – phát ngôn có thể gọi là câu.

1.3. Các đặc trưng cơ bản của câu – phát ngôn

1.3.1. Về phương diện sử dụng (chức năng giao tiếp), câu được dùng để thực hiện một hành động nói cơ sở (hành động nói là hành động được thực hiện bằng lời nói trong khi nói. Hành động nói cơ sở là hành động được thực hiện bằng một phát ngôn nhỏ nhất), và xem xét nó là xem xét mặt sử dụng của câu.

1.3.2. Về phương diện ngữ nghĩa, câu có:

(i). Nội dung là sự việc bao gồm vật, việc, hiện tượng được nói tới. Đây chính là nghĩa biểu hiện (ideatonal meaning), còn gọi là nghĩa miêu tả hoặc trong cách hiểu hẹp hơn, gọi là nghĩa mệnh đề, nghĩa hạt nhân.

(6) Có lẽ anh Hùng đã về rồi .

Nội dung sự việc trong ví dụ (6) là: anh Hùng đã về rồi.

(ii). Phản ánh thái độ, cách đánh giá của người nói đối với sự việc được nói tới và đối với người nghe. Đây chính là tình thái (modality), có một bộ phận được gọi là nội dung liên cá nhân để phân biệt với nghĩa biểu hiện ở trong câu. Tình thái biểu thị một thành phần trong cấu trúc nghĩa của câu, một thành phần quan trọng và không dễ gì nắm bắt.

Thái độ, cách đánh giá của người nói trong ví dụ (6) là bày tỏ một niềm tin không chắc chắn đối với sự việc: anh Hùng đã về rồi thông qua từ có lẽ; và thái độ tôn trọng của người nói đối với người nghe được diễn đạt bằng từ .

1.3.3. Về phương diện hình thức, câu có một cấu trúc cú pháp và có một ngữ điệu kết thúc. Phần cấu trúc ngữ pháp có quan hệ với nghĩa biểu hiện; những bộ phận không thuộc cấu

trúc cú pháp có quan hệ với nghĩa (ii) trong sử dụng câu.

2. Ba bình diện nghiên cứu câu

Khi nghiên cứu tín hiệu, Charles Morris đã phân xuất tín hiệu thành ba chiều, hay ba bình diện:

Kết học (Syntactics) nghiên cứu mối quan hệ hình thức giữa tín hiệu với tín hiệu.

Nghĩa học (Semantics) nghiên cứu mối quan hệ giữa tín hiệu với sự vật khách quan mà tín hiệu biểu thị.

Dụng học (Pragmatics) nghiên cứu mối quan hệ giữa tín hiệu với người lí giải, người sử dụng.

Đối với ngôn ngữ, ba bình diện trên đây hình thành nên ba lĩnh vực trong ngôn ngữ học: ngữ kết học, ngữ nghĩa học và ngữ dụng học. Vận dụng lí thuyết trên ở bậc câu, các nhà ngữ pháp học cũng đã chủ trương nhìn nhận, khảo sát và nghiên cứu câu ở ba phương diện: kết học, nghĩa học và dụng học.

2.1. Bình diện kết học

Kết học là bộ môn nghiên cứu những mối quan hệ giữa các kí hiệu ngôn ngữ trong chuỗi lời nói và nói chung là trong trình tự trước sau về thời gian của chúng.

Kết học trong phạm vi nghiên cứu câu được gọi là cú pháp, và gồm có cú pháp câu và cú pháp cụm từ.

- Nhiệm vụ của cú pháp câu nghiên cứu thành phần câu: chủ ngữ, vị ngữ, trạng ngữ, đề ngữ, bổ ngữ…Thông thường, các nhà nghiên cứu ngữ pháp tiếng Việt chia thành phần câu làm ba loại: các thành phần chính (chủ ngữ, vị ngữ), các thành phần phụ, thứ yếu (trạng ngữ, đề ngữ, bổ ngữ, định ngữ), các thành phần biệt lập (phần tình thái, phần gọi đáp, phần cảm thán, phần phụ chú, phần nối kết).

- Cú pháp cụm từ nghiên cứu cấu tạo ngữ pháp của các loại cụm từ, đặc biệt là cụm từ chính phụ (cụm danh từ, cụm động từ và cụm tính từ).

Cần chú ý là ngôn ngữ học văn bản hiện nay xác nhận văn bản không phải là một đơn vị như câu, từ mà nó là một đơn vị nghĩa, khác về chất với câu, với từ. Do đó, những vấn đề về cú pháp và về ngữ pháp không được đặt ra với văn bản như trước đây nữa (Diệp Quang Ban, x. sđd).

2.2 Nghĩa học

Bình diện nghĩa học của câu chính là sự phát triển từ bình diện nghĩa học của tín hiệu. Nghĩa học là bộ môn nghiên cứu mối quan hệ về ý nghĩa với các từ, câu diễn tả ý nghĩa đó; nghĩa học cũng là phần nghiên cứu mối quan hệ giữa các từ, câu xét ở mặt âm thanh và các vật việc, hiện tượng có liên quan mà từ, câu biểu hiện. Chẳng hạn, từ bàn bao gồm âm thanh bàn được dùng làm tên gọi, và ngữ nghĩa của âm thanh bàn. Ý nghĩa của âm thanh bàn không phải là một cái bàn cụ thể nào gợi ra mà là phần kinh nghiệm, phần hiểu biết chung của mỗi cá nhân về những cái bàn mà cá nhân đó đã nhìn thấy hoặc nghe thấy trong đời sống.

Nghĩa học ngày nay không chỉ nghiên cứu từ riêng lẻ mà nghiên cứu nghĩa của câu, của văn bản. Về nghĩa của từ, câu không chỉ bàn đến nghĩa sự vật, sự việc mà còn tính đến ý nghĩa khác cùng có mặt trong từ, trong câu khi chúng được sử dụng. Khi đề cập tới thành phần nghĩa trong câu, người ta thường nói tới hai mặt ý nghĩa:

2.2.1. Nghĩa biểu hiện

Nghĩa biểu hiện là thành phần nghĩa ứng với sự tình được nói đến ở trong câu và có thể đánh giá theo tiêu chuẩn đúng – sai khi căn cứ vào hiện thực khách quan. Sự tình được nhận thức và được đề cập đến tạo nên nghĩa biểu hiện. Mỗi sự tình gồm một vị tố và có thể có một hay nhiều tham thể. Vị tố là cốt lõi của sự tình, thường được biểu hiện trong tiếng Việt bằng một vị từ (động từ, tính từ, từ chỉ quan hệ). Còn tham thể là thực thể tham gia vào sự tình thường được biểu hiện bằng danh từ, cụm danh từ và đại từ. Tùy theo loại vị tố mà số lượng và tính chất các tham thể khác nhau.

Ví dụ:

(7). Lan yêu anh Hùng.

Ví dụ (7) có vị tố là yêu, và các tham thể là, Lan, anh Hùng. Câu này có thể đúng hoặc sai khi chúng ta xác định được chính xác tình cảm của Lan có yêu Hùng hay không yêu Hùng.

2.2.2. Nghĩa tình thái bao gồm:

Phần nghĩa chỉ ý định thực hiện hành động nói của người nói, gọi gọn lại là tình thái của hành động nói.

Phần nghĩa thể hiện sự đánh giá, thái độ của người nói đối với điều được nói đến trong câu và thái độ của người nói với người nghe, bao gồm trong tình thái của phát ngôn. Thông thường, các nhà ngôn ngữ học chia tình thái làm ba loại: Tình thái khách quan, tình thái chủ quan và tình thái liên nhân. Tình thái khách quan liên quan tới tính hiện thực, tính khả năng, tính tất yếu, sự khẳng định hay phủ định. Tình thái chủ quan chỉ biểu hiện ở sự nhìn nhận, đánh giá của người nói đối với sự việc mà câu đề cập tới. Tình thái liên cá nhân thể hiện ở thái độ, tình cảm, quan hệ của người nói đối với người nghe.

2.3. Dụng học

Dụng học là bộ môn nghiên cứu việc sử dụng ngôn ngữ trong mối quan hệ đối với ngữ cảnh, đặc biệt là ý nghĩa của câu (phát ngôn) xuất hiện trong ngữ cảnh của tình huống (context of situation) giao tiếp cụ thể. Chẳng hạn, khi chúng ta nghe một người nào đó hỏi chúng ta: mấy giờ rồi nhỉ? thì đó có thể là một câu hỏi về thời gian, có thể là một lời phê bình nhẹ nhàng hoặc có thể một lời thỉnh cầu… mà chỉ có gắn với một tình huống giao tiếp cụ thể

chúng ta mới xác định đúng được ý định của người nói.

Đối tượng nghiên cứu của ngữ dụng rất rộng và phức tạp. Có thể hiểu đó là phần còn lại sau khi đã nghiên cứu cấu trúc ngôn ngữ và một phần nghĩa từ vựng của từ ngữ, nghĩa biểu hiện của câu.

3. Khái quát về cấu tạo ngữ pháp của câu

Trong ngữ pháp học truyền thống, câu được phân loại ở hai phương diện: cấu tạo ngữ pháp và mục đích nói.

3.1. Cấu tạo ngữ pháp của câu

Cấu tạo ngữ pháp của câu được xem xét trên cơ sở câu đơn hai thành phần (tương đương với mệnh đề đơn giản, còn được gọi là ). Trên cơ sở đó, câu được phân loại thành câu đơn, câu phức, câu ghép.

Bên trong câu đơn, đối tượng được xem xét trước hết là các thành phần câu, tức là các chức vụ cú pháp của các yếu tố ngôn ngữ làm thành cấu trúc cú pháp của câu. Trong câu, nằm ngoài cấu trúc cú pháp của câu còn chứa đựng các bộ phận khác nữa như phần tình thái, phần cảm thán, phần phụ chú, phần gọi đáp, phần nối kết. Những thành phần này không có tư cách thành phần câu và ngữ pháp trước đây gọi là phần biệt lập.

3.2. Cấu trúc cú pháp của câu và nghĩa biểu hiện của câu

Đây là hai phương diện khác nhau nhưng có mối quan hệ khăng khít với nhau.

3.2.1. Cấu trúc cú pháp của câu

Cấu trúc cú pháp của câu gồm những từ ngữ của câu giữ những chức vụ cú pháp nhất định trong câu, có quan hệ cấu trúc trực tiếp với nhau làm thành câu; cấu trúc cú pháp có quan hệ với sự việc (vật, việc, hiện tượng) được nói đến trong câu khi xét ở phương diện nghĩa của nó.

Ví dụ:

(8) Có lẽ giờ này anh ấy chưa đi học đâu ạ.

Cấu trúc cú pháp của câu: giờ này (trạng ngữ), anh ấy (chủ ngữ), chưa đi học đâu (vị ngữ) ; còn có lẽthuộc về phần tình thái nằm ngoài cấu trúc cú pháp của câu.

3.2.2. Nghĩa biểu hiện của câu

Đây là phần nghĩa phản ánh sự thể (vật, việc, hiện tượng) được nói đến trong câu; nó có quan hệ với cấu trúc cú pháp của câu khi xét hình thức thể hiện của nó.

Cấu trúc cú pháp của câu gồm: chủ ngữ, vị ngữ, trạng ngữ, đề ngữ, bổ ngữ… đó là phần thuộc kết học. Về mặt nghĩa, những từ ngữ trong thành phần câu này có quan hệ chặt chẽ với nghĩa biểu hiện trong câu, tức nghĩa chỉ sự việc.




§2. CÂU ĐƠN

CÂU ĐƠN HAI THÀNH PHẦN

Ngữ pháp truyền thống thường định nghĩa:

Câu đơn hai thành phần là câu chứa một cụm chủ vị (còn gọi là kết cấu chủ - vị ) và cụm chủ vị đó trực tiếp làm nòng cốt câu.

Ví dụ:

(9) Chúng thi hành những luật pháp dã man.

(Hồ Chí Minh)

Phân tích ví dụ (9), ta nhận thấy: chúng là chủ ngữ do một từ đảm nhận, thi hành những luật pháp dã man là vị ngữ, trong đó thi hành (động từ) làm vị tố, những luật pháp dã man là bổ ngữ có cấu tạo là một cụm danh từ. Ví dụ (9) là câu đơn.

1. Cấu trúc cú pháp của câu và thành phần câu

Thành phần câu là những chức vụ cú pháp do những thực từ đảm nhiệm trong mối quan hệ cấu trúc với những thực từ khác trong câu.

Các thành phần câu trong câu đơn hai thành phần là: chủ ngữ, vị ngữ, bổ ngữ (hiểu rộng), đề ngữ, trạng ngữ.

Trong một câu cụ thể các thành phần câu kể trên kết hợp lại thành cấu trúc cú pháp của câu.

Ví dụ:

(10) Yêu Bác, lòng ta trong sáng hơn.

(Tố Hữu)

Cấu trúc cú pháp của ví dụ (10): trạng ngữ: yêu Bác, chủ ngữ: lòng ta, vị ngữ: trong sáng hơn.

Ngoài thành phần câu kể trên, trong câu - pháp ngôn còn có thể gặp những bộ phận nằm ngoài cấu trúc cú pháp của câu và những bộ phận này có thể gọi là những phần biệt lập, cụ thể:

- Phần tình thái, phần cảm thán, phần gọi – đáp, phần phụ chú, phần nối kết.

2. Cấu tạo ngữ pháp câu đơn hai thành phần

Xem xét câu đơn hai thành phần bao gồm các nội dung:

a) Các thành phần câu (chức vụ cú pháp); và các phương tiện thể hiện thành phần câu;

b) Các phần biệt lập của câu (các bộ phận nằm ngoài cấu trúc cú pháp của câu), vai trò và những dạng thể hiện thường gặp của chúng.

2.1. Chủ ngữ

2.1.1. Khái niệm

Chủ ngữ là một trong hai thành phần chính của câu có quan hệ qua lại và quy định lẫn

nhau với thành phần vị ngữ; chủ ngữ nêu ra vật, việc, hiện tượng nằm trong mối quan hệ nghĩa chặt chẽ và trực tiếp với hoạt động, đặc trưng và quan hệ sẽ được nói đến trong vị ngữ.

Ví dụ:

(11) Trăng chưa lặn.

(Nam Cao)

(12) Một mối xúc động kì lạ dâng lên trong người chị.

(Anh Đức)

2.1.2. Phương tiện thể hiện chủ ngữ

Chủ ngữ thường đứng trước vị ngữ. (thành phần câu chủ ngữ - vị ngữ theo trật tự này phù hợp với logic của tư duy).

Thực từ (danh từ, động từ, tính từ, đại từ, số từ) trong tiếng Việt có thể trực tiếp làm chủ ngữ trong câu.

Chủ ngữ có cấu tạo là một từ, một cụm từ, một cụm chủ vị (chủ ngữ có cấu tạo là một cụm chủ vị sẽ được trình bày ở bài câu phức).

2.2. Vị ngữ

2.2.1. Khái niệm

Vị ngữ là một trong hai thành phần chính của câu có quan hệ qua lại và quy định lẫn nhau với chủ ngữ; vị ngữ nêu lên hoạt động, đặc trưng hoặc quan hệ vốn có ở vật nói ở chủ ngữ hoặc có thể áp đặt một cách hợp lí cho vật đó. Động từ, tính từ, từ chỉ quan hệ ở vị ngữ giữ chức năng vị tố trong quan hệ cú pháp với các bổ ngữ.

Ví dụ:

(13) Họ mới đến hôm qua.

(14) Bầu trời cao lồng lộng.

(15) Chúng ta đánh bằng trái tim Việt Nam chúng ta.

(Nguyễn Trung Thành)

(16) Hai với hai là bốn.

(17) Anh ấy là người Hà Nội.

Động từ đến trong ví dụ (13), tính từ cao trong ví dụ (14), động từ đánh trong ví dụ (15), từ chỉ quan hệ trong ví dụ (16), (17) là vị tố.

Trong câu đơn bình thường có hai thành phần chính: chủ ngữ và vị ngữ. Hai thành phần này kết lại với nhau để biểu thị nội dung mệnh đề câu. Chủ ngữ chỉ đối tượng thông báo trong câu, vị ngữ chỉ nội dung thông báo về đối tượng được nêu lên ở chủ ngữ. Nhờ vậy mà câu có thể diễn đạt một thông báo, một nhận định, đánh giá về nhận thức, tư tưởng, tình cảm của người nói.

Tài liệu này ủng hộ một quan niệm có tính truyền thống cho rằng chủ ngữ và vị ngữ là

hai thành phần chính của câu vì sự kết hợp của chúng tạo nên bộ phận ngữ pháp cơ bản của câu, đảm bảo tính độc lập tương đối của câu về mặt ngữ pháp. Khi câu được tách ra khỏi ngữ cảnh thì bộ phận đó không thể bị lược bỏ. Vai trò ngữ pháp này thể hiện rất rõ vai trò ngữ nghĩa biểu thị mối quan hệ giữa đối tượng thông báo với nội dung thông báo trong câu.

Nhiều nhà ngôn ngữ học thường gọi bộ phận ngữ pháp cơ bản biểu thị đối tượng và nội dung thông báo (chủ ngữ và vị ngữ) trong câu là nòng cốt câu.

2.2.2. Phương tiện thể hiện vị ngữ

Vị ngữ thường đứng sau chủ ngữ.

Thực từ trong tiếng Việt có thể làm vị ngữ trong câu.

Vị ngữ có cấu tạo là một từ, một cụm từ (chính phụ, đẳng lập) và một cụm chủ vị (vị ngữ có cấu tạo là một cụm chủ vị sẽ được trình bày ở bài câu phức).

Ví dụ:

(18) Hoa nở.

(19) Chim hót.

(20) Hôm nay, trời đẹp.

(21) không chịu nổi những phút rùng rợn ấy nữa.

(Anh Đức)

(22) Hắn vừa đi, vừa chửi.

(Nam Cao)

2.3. Bổ ngữ

Bổ ngữ là thành phần phụ của câu hay chỉ là thành phần phụ của từ ở trong câu hiện đang còn có những hướng lí giải khác nhau. Tương tự, chỉ có thực từ mới đảm nhận được vai trò làm thành phần câu bổ ngữ hay hư từ cũng có thể đảm nhận được vai trò làm bổ ngữ ở trong câu, hiện cũng đang tồn tại những cách nhìn khác nhau. Tài liệu này hướng tới một cách nhìn có tính truyền thống coi bổ ngữ là thành phần phụ của câu và thực từ mới có khả năng làm bổ ngữ ở trong câu.

2.3.1.Khái niệm

Bổ ngữ là thành phần phụ của câu, bổ sung ý nghĩa cho động từ hay tính từ ở trong câu.

2.3.2. Các loại bổ ngữ

Bổ ngữ trực tiếp (còn gọi là tân ngữ trực tiếp, thể đối tượng)

Ví dụ:

(23) Hắn đẩy cánh cửa, bước vào.

Bổ ngữ gián tiếp (còn gọi là tân ngữ gián tiếp, thể tiếp nhận)

Ví dụ:

(24) Tôi tặng ông Hàn 5 cuốn sách

Bổ ngữ điều nói (của động từ nói năng)

Ví dụ:

(25) Anh ấy đang nói về cuộc họp lớp chiều nay.

Bổ ngữ hiện tượng

Ví dụ:

(26) Linh nhìn thấy con vẹt.

(27) Hắn rất sợ ma.

Bổ ngữ cảnh huống (còn gọi là trạng ngữ của từ, để phân biệt với trạng ngữ của câu)

Ví dụ:

(28) Ông ấy đang ở ngoài vườn.

2.4. Đề ngữ

2.4.1. Khái niệm

Đề ngữ là thành phần phụ thường đứng ở đầu câu do sự lặp lại một thành phần hoặc do sự chuyển vị trí của một thành tố phụ trong cụm từ vào vị trí của chủ đề, cốt để nhấn mạnh, làm nổi bật lên trước điều cần nhấn mạnh nêu ở chủ đề câu.

Ví dụ:

(29) Tình yêu quê hương làng mạc, đó chính là một yếu tố để bồi dưỡng tinh thần yêu nước của con người.

(Đặng Thai Mai)

(30) Nước non mình, đâu cũng đẹp như tranh.

(Tố Hữu)

2.4.2. Các hình thức cấu tạo nên đề ngữ

Nêu lên đầu câu và được lặp lại trong một thành phần câu cụ thể nào đó.

Ví dụ:

(31) Giàu, tôi cũng giàu rồi. Sang, tôi cũng sang rồi.

(Nguyễn Công Hoan)

(32) Tôi thì tôi xin chịu.

(Nam Cao)

(33) Tụi bay ơi, thằng già nó chém chết ông trung úy rồi.

(Anh Đức)

Chuyển vị trí một thành tố phụ trong cụm từ lên đầu câu để nhấn mạnh.

Ví dụ:

(34) Những bông lúa, hạt còn mỏng quá.

(Trần Đăng)

(35) Quan, người ta sợ cái uy của quyền thế. Nghị Lại, người ta sợ cái uy của đồng tiền.

(Nguyễn Công Hoan)

Nêu lên đầu câu để nhấn mạnh một ý nào đó tuy không được biểu thị bằng một từ trong câu nhưng về ý nghĩa vẫn ngụ ý trong câu.

Ví dụ:

(36) Học, thanh niên cũng phải làm đầu tàu; dạy, thanh niên ta cũng phải làm đầu tàu.

(Hồ Chí Minh)

2.4.3. Phương tiện thể hiện đề ngữ

Đề ngữ thường đứng ở đầu câu, có thể đứng giữa câu (sau chủ ngữ, trước vị ngữ)

Ví dụ:

(37) Miệng ông, ông nói; đình làng, ông ngồi.

(Ngô Tất Tố)

(38) Nhà, bà ấy có hàng dãy ở khắp các phố. Ruộng, bà ấy có hàng trăm mẫu ở quê.

(Nguyễn Công Hoan)

(39) Ông giáo ấy rượu không uống, thuốc không hút.

(Nam Cao)

Thực từ mới có khả năng làm đề ngữ ở trong câu.

Đề ngữ có cấu tạo là một từ, cụm từ, một cụm chủ vị.

2.5. Trạng ngữ

2.5.1. Khái niệm

Trạng ngữ là thành phần phụ của câu bổ sung ý nghĩa tình huống cho cụm chủ vị ở trong câu hoặc (từ (cụm từ) làm trung tâm cú pháp của câu đơn đặc biệt).

2.5.2. Các loại trạng ngữ

Về phương diện ý nghĩa, trạng ngữ là thành phần bổ sung ý nghĩa tình huống về không gian, thời gian, nguyên nhân, cách thức, phương tiện, trạng thái… cho toàn cụm chủ vị trong câu đơn hai thành phần, hay bổ sung ý nghĩa cho phần còn lại trong những kiểu câu khác. Có bao nhiêu kiểu ý nghĩa của trạng ngữ thì có bấy nhiêu loại trạng ngữ.

- Trạng ngữ chỉ không gian

Ví dụ:

(40) Trong lòng hắn bây giờ chỉ còn tình nghĩa giữa hắn với người đàn bà đi bên.

(Kim Lân)

- Trạng ngữ chỉ thời gian

Ví dụ:

(41) Năm nay, thời tiết không bình thường.

- Trạng ngữ chỉ trạng thái

Ví dụ:

(42) Mỏi mệt, con trâu dừng bước.

- Trạng ngữ chỉ nguyên nhân

Ví dụ:

(43) Vì chuôm cho cá bén đăng

Vì chàng, thiếp phải đi trăng về mò.

(Ca dao)

- Trạng ngữ chỉ sự so sánh

Ví dụ:

(44) Đối với người chiến sĩ du kích, bắn trật là điều xấu hổ.

- Trạng ngữ chỉ cách thức, phương tiện

Ví dụ:

(45) Nhờ cái thần thế ấy, hắn mới chửi rủa, thét mắng khắp làng cho oai.

(Ngô Tất Tố)

(46) Hồ Chủ tịch, bằng thiên tài trí tuệ và sự hoạt động cách mạng của mình, đã kịp thời đáp ứng nhu cầu bức thiết của lịch sử.

(Võ Nguyên Giáp)

- Trạng ngữ chỉ mục đích

Ví dụ:

(47) Chiến sĩ Việt Nam (…) hi sinh giọt máu cuối cùng để giữ vững nền tự do độc lập.

(Hồ Chí Minh)

- Trạng ngữ chỉ điều kiện, giả thiết

Ví dụ:

(48) này ngon, nếu rán kĩ.

- Trạng ngữ chỉ ý nhượng bộ

Ví dụ:

(49) Tuy nghèo, nhưng họ tốt bụng.

Đối với trạng ngữ chỉ điều kiện, giả thiết, chỉ ý nhượng bộ nếu có cách hiểu là khuyết chủ ngữ (chủ ngữ trùng với chủ ngữ ở vế câu chính) ở vế câu có chứa quan hệ từ nếu, tuy thì chúng sẽ là câu ghép.

2.5.3. Phương tiện thể hiện trạng ngữ

Vị trí thường gặp của trạng ngữ là đứng ở đầu câu và cũng có thể đứng giữa câu, cuối câu.

Về phương diện từ loại, trạng ngữ thường do danh từ, động từ, tính từ đảm nhận.

Vi dụ:

(50) Xa xa lấp lánh ánh đèn.

(51) Hôm nay, lớp chúng tôi đi lao động.

(52) Cối xay tre, nặng nề quay, từ nghìn đời nay, xay nắm thóc.

(Thép Mới)

Về cấu tạo trạng ngữ có thể là một từ, một cụm từ, một kết cấu chủ - vị. Khi trạng ngữ có cấu tạo là một cụm chủ vị, xét về mặt cấu tạo, câu sẽ là câu phức.

Ví dụ:

(53) Ở miền sơn cước, lúc sáng sớm, tiết trời đã lành lạnh.

(54) Rất đẹp hình anh lúc nắng chiều.

(Tố Hữu)

(55) Cụ Mết đã đứng dậy, lưỡi mác dài trong tay. (Câu phức)

(Nguyễn Trung Thành)

2.5.4. Phân biệt đề ngữ với trạng ngữ

Đề ngữ và trạng ngữ là hai thành phần câu đã được các nhà ngữ pháp học thừa nhận một cách rộng rãi trong cấu trúc cú pháp câu tiếng Việt. Tuy nhiên hiện nay, khi nhận diện hai thành phần câu này trong những câu cụ thể như đã nói vẫn có những cách xác định khác nhau:

Ví dụ:

(56) Về chính trị, chúng tuyệt đối không cho nhân dân ta một chút tự do dân chủ nào. (Hồ Chí Minh)

(57) Về kinh tế, chúng bóc lột dân ta đến xương tủy, khiến cho dân ta nghèo nàn thiếu thốn, nước ta xơ xác tiêu điều. (Hồ Chí Minh)

Khi phân tích cấu trúc cú pháp câu có khuynh hướng cho rằng các giới ngữ: “về chính trị”, “về kinh tế” là trạng ngữ vì nó có quan hệ từ “về” đứng ở đầu tổ hợp; và có khuynh hướng phân tích lại cho rằng các biểu thức ngôn ngữ trên là đề ngữ vì nó nêu lên chủ đề câu. Hai hướng phân tích cấu trúc câu khác nhau để nhận diện thành phần câu này không phải là thiếu căn cứ khi nó đang tồn tại hiện hữu trong các công trình nghiên cứu về thành phần câu tiếng Việt.

Để cho việc thực hành phân tích cấu trúc cú pháp câu hạn chế bớt sự khác biệt khi nhận diện hai thành phần câu này (trong những trường hợp còn có những hướng phân tích khác nhau), chúng ta có thể dựa vào một số tiêu chí sau để phân biệt, nhận diện đề ngữ và trạng ngữ:

(i) Dùng tiêu chí khả năng cải biến vị trí

Tiêu chí khả năng cải biến vị trí được hình thành dựa trên cơ sở về vị trí của đề ngữ và trạng ngữ ở trong câu. Vị trí của đề ngữ đứng ở đầu câu và không thể thay đổi vị trí ở trong câu; vị trí của trạng ngữ thường đứng ở đầu câu và có thể đứng ở giữa câu hoặc cuối câu. Có nhà nghiên cứu còn cho rằng vị trí của trạng ngữ linh hoạt ở trong câu. Vận dụng tiêu chí này có thể xác định được đề ngữ, trạng ngữ qua ví dụ sau:

(58) a. Đỉnh đồi, một anh đứng giữa đường, tu bi đông nước ừng ực.

b. Trên đỉnh đồi, một anh đứng giữa đường, tu bi đông nước ừng ực.

Ví dụ (58a), “đỉnh đồi” là đề ngữ vì nó không chuyển đổi được vị trí ở trong câu; còn ví dụ (58b), “trên đỉnh đồi” là trạng ngữ vì nó có thể chuyển đổi vị trí khá linh hoạt ở trong câu.

(ii) Dựa vào ý nghĩa trong cấu trúc ngữ nghĩa - ngữ pháp của câu

Đề ngữ thường được hiểu là chủ đề câu, nêu lên một vật, một đối tượng, một nội dung cần bàn bạc mà người nói, người viết muốn nhấn mạnh về mặt logic trong nội dung ý nghĩa của câu. Còn trạng ngữ thường được hiểu có tác dụng bổ sung ý nghĩa tình huống cho kết cấu chủ - vị hoặc trung tâm cú pháp chính của câu.

Ví dụ:

(59) a. Mùa đông, đặc biệt là những buổi chiều ẩm ướt, trời Hà Nội mau tối lắm.

b. Về mùa đông, đặc biệt là những buổi chiều ẩm ướt, trời Hà Nội mau tối lắm.

Theo tiêu chí này, “mùa đông” trong ví dụ (59a) là đề ngữ vì nó được coi là chủ đề câu; còn giới ngữ “về mùa đông” trong ví dụ (59b) là trạng ngữ vì nó có tác dụng bổ sung nghĩa thời gian cho kết cấu chủ - vị ở trong câu.

Với các ví dụ (58a, b), (59a, b) như đã dẫn ra phân tích, người ta dễ có cách nghĩ biểu thức danh từ “mùa đông” là đề ngữ, còn giới ngữ “về mùa đông” là trạng ngữ. Cách nghĩ thông thường đó sẽ gặp khó khăn khi chúng ta bắt gặp những cách nói đại thể như ví dụ sau:

(60) a. Buổi sáng, tôi tập thể dục.

b. Vào buổi sáng, tôi tập thể dục.

Điều dễ nhận ra là biểu thức danh từ “buổi sáng” và giới ngữ “vào buổi sáng” đều là trạng ngữ trong ví dụ (60a, b). Cho nên việc nhận diện, phân biệt đề ngữ với trạng ngữ không thể giản đơn hóa như cách hiểu thông thường trên mà cần phải quan tâm tới ý nghĩa trong cấu trúc ngữ nghĩa - ngữ pháp của câu.

2.6. Định ngữ

Cũng như bổ ngữ, cách hiểu về định ngữ là thành phần phụ của câu hay là thành tố phụ của từ ở trong câu cũng đang tồn tại những cách lí giải khác nhau. Không đặt ra vấn đề tranh luận mang tính học thuật, để đảm bảo logic vấn đề đã trình bày ở phần 2.3, tài liệu này cũng hướng tới cách nhìn định ngữ là thành phần phụ của câu.

2.6.1. Khái niệm

Định ngữ là thành phần phụ của câu thường đi kèm với danh từ và bổ sung ý nghĩa cho danh từ ở trong câu.

Căn cứ vào ý nghĩa khái quát, định ngữ có thể được chia làm hai loại: định ngữ chỉ lượng và định ngữ miêu tả.

Ví dụ:

(61) Tất cả sinh viên đã có mặt đầy đủ. (định ngữ chỉ lượng)

(62) Sinh viên khoa Ngữ văn đã có mặt đầy đủ. (định ngữ miêu tả)

2.6.2. Các loại định ngữ

- Định ngữ chỉ lượng

Định ngữ chỉ lượng đứng trước danh từ và nêu lên đặc trưng số lượng của vật nói ở danh từ ấy.

Ví dụ:

(63) Nhà bạn Nam có năm con mèo.

- Định ngữ miêu tả

Định ngữ miêu tả đứng sau thành tố chính danh từ và nêu lên đặc điểm của vật nêu ở danh từ thành tố chính.

Ví dụ:

(64) Dân miền biển thường ăn to nói lớn.

2.7. Phần biệt lập

2.7.1. Phần tình thái

Phần tình thái là bộ phận không nằm trong cấu trúc cú pháp của câu, và nhìn trrong toàn bộ, nó không chiếm một vị trí xác định trong câu.

Phần tình thái được dùng để nêu các ý nghĩa có liên quan đến người nói, đến nội dung câu còn lại và đối với người nghe. Các từ ngữ diến đạt tình thái có thể gọi là biểu thức tình thái.

Các kiểu tình thái

Phần tình thái chỉ quan hệ, thái độ, cách đánh giá của người nói đối với cái được nói đến trong câu.

Ví dụ:

(65) Chiếc xe này của tôi, đúng đấy.

(66) Đúng (là) nó nói thế thiệt.

(67) Kể người ta giàu cũng sướng.

(Nguyễn Công Hoan)

Phần tình thái chỉ quan hệ, thái độ của người nói đối với người nghe.

Ví dụ:

(68) Xin lỗi, anh xem giúp mấy giờ rồi?

(69) Thưa bác, bác hỏi cháu ?

Tình thái này thường diễn đạt phép lịch sự

Phương tiện để thể hiện tình thái đối với phần câu còn lại được gọi là biểu thức tình thái.

Ví dụ:

(70) Phải, không dám, bác chơi.

(71) Chết thật, tôi không nhận ra anh

2.7.2. Phần cảm thán

Phần cảm thán là bộ phận không nằm trong cấu trúc cú pháp của câu, nhìn chung phần cảm thán thường nằm ở trước cú pháp của câu. Phần cảm thán được thể hiện bằng các từ cảm thán và được dùng để diễn đạt cảm xúc chưa có nội dung rõ rệt của người nói.

Ví dụ:

(72) Ôi Tổ quốc giang sơn hùng vĩ!

(Tố Hữu)

(73) Đau đớn thay phận đàn bà.

(Nguyễn Du)

2.7.3. Phần gọi đáp

Phần gọi đáp trong câu là bộ phận không nằm trong cấu trúc cú pháp của câu, và vị trí thường gặp của phần gọi đáp là đứng trước cấu trúc cú pháp của câu. Phần gọi đáp được dùng để thiết lập và duy trì quan hệ giao tiếp.

Ví dụ:

(74) Vâng, cháu cũng nghĩ như cụ.

(Ngô Tất Tố)

(75) Anh Mười chị Mười ơi, hai đứa nhỏ tôi về rồi đây nè.

(Bùi Đức Ái)

2.7.4. Phần phụ chú

Phần phụ chú là bộ phận không nằm trong cấu trúc cú pháp của câu, và nhìn trong toàn bộ, nó đứng gần từ ngữ mà nó muốn làm rõ thêm (về phía sau hoặc phía trước). Phần phụ chú được dùng để làm sáng tỏ thêm phương diện nào đó có liên quan đến nội dung của câu, giúp cho người nghe hiểu rõ hơn nội dung của câu hoặc ý định của người nói.

Ví dụ:

(76) Cô bé nhà bên (có ai ngờ)

cũng váo du kích.

(Giang Nam)

(77) Thế rồi bỗng một hôm - chắc rằng hai cậu bàn nhau mãi – hai cậu nghĩ ra kế rủ Oanh chung tiền mở cái trường.

(Nam Cao)

(78) Bác nhớ miền Nam, nỗi nhớ nhà.

Miền Nam mong Bác, nỗi mong cha.

(Tố Hữu)

2.7.5. Phần nối kết

Phần nối kết là bộ phận không nằm trong cấu trúc cú pháp của câu, vị trí thường gặp của phần nối kết là đứng ở vị trước cấu trúc cú pháp của câu. Phần nối kết được dùng để nối câu chứa nó với ý nghĩa của câu, của phần văn bản đứng gần nó và có quan hệ với nó, hoặc gắn câu nói với tình huống bên ngoài.

Ví dụ:

(79) Đất nước đẹp vô cùng. Nhưng Bác phải ra đi.

(Chế Lan Viên)

(80) Tóm lại, nhiệm vụ nghiên cứu mặt trăng tuy là phụ nhưng rất quan trọng.

(Tạ Quang Bửu)

(81) Vả lại, đối với nhà nghệ sĩ có chân tài thì bao nhiêu quy luật văn nghệ chỉ có một thế lực tương đối mà thôi.

(Đặng Thai Mai)


§3. CÂU ĐƠN ĐẶC BIỆT

1. Định nghĩa câu đặc biệt

Câu đơn đặc biệt là câu có một trung tâm cú pháp chính (có thể có thêm trung tâm cú pháp phụ) và trung tâm cú pháp chính do một từ hoặc một cụm từ chính phụ hay đẳng lập đảm nhiệm. Từ hay cụm từ đó không thể phân tách thành hai thành phần chủ ngữ và vị ngữ nhưng chúng vẫn thực hiện chức năng thông báo của câu. Chính vì vậy mà câu đơn đặc biệt còn được gọi là câu không xác định được thành phần.

Ví dụ:

(1) Năm ấy mất mùa.

(Nam Cao)

Trung tâm cú pháp chính mất mùa có cấu tạo là một cụm động từ.

(2) Bom tạ.

(Nguyễn Đình Thi)

Trung tâm cú pháp chính trong ví dụ (2) có cấu tạo là một danh từ.

(3) Năm hôm, mười hôm . . . Rồi nửa tháng, lại một tháng.

(Nguyễn Công Hoan)

Mỗi trung tâm cú pháp chính chứa hai cụm danh từ có quan hệ đẳng lập với nhau.

(4) Nhiều sao quá.

(Nguyễn Đình Thi)

Trung tâm cú pháp chính trong ví dụ (4) là cụm tính từ.

2. Đặc điểm của câu đơn đặc biệt

2.1. Đặc điểm về thông tin

Câu đơn đặc biệt tồn tại trong một hoàn cảnh sử dụng, tự thân chúng là

một đơn vị thông báo mà không cầu viện đến các yếu tố bên ngoài. Đây là điểm khác biệt giữa câu đơn đặc biệt khác với câu đơn hai thành phần chủ ngữ và vị ngữ.

2.2. Đặc điểm cấu tạo

Câu đơn đặc biệt có một trung tâm cú pháp chính do một từ hoặc một cụm từ chính phụ hay đẳng lập đảm nhận.

Ví dụ:

(5) Phía xa một lá cờ xanh vừa kéo lên. Báo yên.

(Nguyễn Đình Thi)

(6) Nhơ nháp, hôi hám, ngứa ngáy, bứt rứt, bực mình. Chửi tục, cạu nhạu, thở dài.

(Nam Cao)

Câu đơn đặc biệt ngoài trung tâm cú pháp chính có thể có trung tâm cú pháp phụ giữ vai trò là thành phần phụ trạng ngữ hoặc đề ngữ.

Ví dụ:

(7) Ở làng này, khó lắm. (trạng ngữ)

(Nam Cao)

(8) Áo còn ba cái. (đề ngữ)

3. Phân loại câu đơn đặc biệt

Căn cứ vào bản chất ngữ pháp của từ hay cụm từ giữ vai trò trung tâm cú pháp chính trong câu, câu đơn đặc biệt thường được phân biệt thành hai loại: câu đơn đặc biệt – danh từ và câu đơn đặc biệt - vị từ.

3.1. Câu đơn đặc biệt – danh từ là câu có trung tâm cú pháp chính được cấu tạo bằng một danh từ, một cụm từ chính phụ có danh từ làm thành tố chính (cụm danh từ), hoặc một cụm từ đẳng lập mà các thành tố là danh từ.

Ví dụ:

(9) Nước! (danh từ)

(10) Mùa xuân 1975. (cụm danh từ)

(Văn Tiến Dũng)

(11) Toàn những bản cáo thị . . . toàn những lệnh tản cư. (hai cụm danh từ có quan hệ đẳng lập)

(Nam Cao)

Ý nghĩa của câu đơn đặc biệt – danh từ chỉ sự tồn tại hiển hiện của sự vật, trình bày sự vật, hiện tượng như đang tồn tại trước mắt trong thời điểm nói.

Với ý nghĩa khái quát như đã nêu trên, câu đơn đặc biệt – danh từ thường được dùng trong những trường hợp sau đây:

- Nêu sự hiện diện của các sự vật hoặc hiện tượng thiên nhiên nhằm đưa người nghe, người đọc vào cương vị chứng kiến sự vật, hiện tượng nào đó; nhờ vậy làm cho sự vật hiện tượng được nói đến như đang hiện ra trước mắt người nghe, người đọc.

Ví dụ:

(12) Một tiếng gà gáy xa. Một ánh sao mai chưa tắt. Một chân trời ửng đỏ phía xa. Một chút ánh sáng hồng lên trên mặt ruộng lúa lên đòng.

(Nguyễn Thị Thường)

- Nêu hoàn cảnh thời gian, không gian làm nên cho các sự kiện khác được nói đến trong văn bản.

Ví dụ:

(13) Chân đèo Mã Phục.

(Nam Cao)

(14) Mùa thu năm 1945.

- Dùng để diễn đạt lời gọi, lời than.

Ví dụ:

(15) Anh Tràng ơi!

(Kim Lân)

(16) Ôi, con ơi!

- Dùng để bắt đầu và kết thúc một bức thư, một lá đơn, một công văn …

Ví dụ:

(17) Bố kính mến! (bắt đầu)

(18) Con của bố (kết thúc)

- Dùng để gọi tên địa điểm, cơ quan, báo chí, tác phẩm văn học, tranh ảnh, bản nhạc, bản đồ.

Ví dụ:

(19) Vườn bách thú (địa điểm)

(20) Trường Đại học Tây Bắc (cơ quan)

(21) Truyện Kiều (tác phẩm văn học)

(22) Nhân dân (báo chí)

3.2. Câu đơn đặc biệt - vị từ

Câu đơn đặc biệt - vị từ là câu mà trung tâm cú pháp chính chỉ có một vị từ (động từ, tính từ), hoặc một cụm từ chính phụ có vị từ là thành tố chính hay một cụm từ đẳng lập của các vị từ.

Ví dụ:

(23) Chửi. Kêu. Đấm. Đá. Thụi. Bịch.

(Nguyễn Công Hoan)

(24) Cháy nhà!

Ý nghĩa khái quát của câu đơn đặc biệt - vị từ thường chỉ sự tồn tại, xuất hiện hay tiêu biến của sự vật, hiện tượng hoặc bộc lộ cảm xúc, trạng thái tâm lí, một mệnh lệnh, một lời kêu gọi …

Với ý nghĩa khái quát đó, câu đơn đặc biệt - vị từ thường được dùng trong một số trường hợp sau:

- Miêu tả sự tồn tại, xuất hiện hay tiêu biến của sự vật một cách khái quát. Ở đây, câu đơn đặc biệt - vị từ cũng có tác dụng trình bày của sự việc, hiện tượng như đang xảy ra trước mắt người đọc, người nghe như đang ở trong hoàn cảnh đó.

Ví dụ:

(25) Ồn ào một hồi lâu.

(Ngô Tất Tố)

(26) Nhiều sao quá.

(Nguyễn Đình Thi)

(27) Còn tiền, còn bạc, còn đệ tử.

(Tú Xương)

- Chỉ sự tồn tại của sự vật, hiện tượng được định vị trong một không gian, thời gian mà sự vật, hiện tượng tồn tại.

Ví dụ:

(28) Lom khom dưới núi tiều vài chú

Lác đác bên sông chợ mấy nhà.

(Bà Huyện Thanh Quan)

(29) Giữa giường thất bảo ngôi trên một bà.

(Nguyễn Du)

(30) Xa xa lấp lánh ánh đèn

(31) Trong nhà có khách.

Từ ví dụ (28) đến (31) có một số tài liệu ngữ pháp phân tích đây là câu có vị ngữ đứng trước chủ ngữ. Ví dụ (31) có nhà nghiên cứu phân tích là câu có đủ hai thành phần chủ ngữ và vị ngữ. (tác giả - VTD)

- Bộc lộ cảm xúc, trạng thái tâm lí hoặc một mệnh lệnh, một lời kêu gọi.

Ví dụ:

(32) Sao mà lâu thế!

(Nguyễn Công Hoan)

(33) Nhân vẫn gào lên, giọng the thé:

- Khốn nạn em tôi! Khổ thân em tôi! Em lại làm gì mà khổ thế em ơi!

(34) Xung phong!

- Gọi tên hay trình bày một hoạt động chính

Ví dụ:

(35) Tắt đèn.

(36) May âu phục.

Ngoài hai loại câu đơn đặc biệt – danh từ và câu đơn đặc biệt – vị từ thường gặp, chúng ta còn nhận thấy có một loại câu đơn đặc biệt do số từ đảm nhận vai trò là trung tâm cú pháp chính của câu. Chẳng hạn như khi những người lính điểm số trong hàng quân:

(37) Một.

Hai.

Ba…

hoặc khi chúng ta đếm các sự vật thì có thể xếp loại câu này vào loại câu đơn đặc biệt – danh từ vì sự vật trong các câu dạng này đều đã bị lược bỏ.

4. Phân biệt câu đơn đặc biệt với câu tỉnh lược (câu rút gọn)

Không nên có sự nhầm lẫn câu đơn đặc biệt với những câu không đầy đủ thành phần do tỉnh lược, rút gọn (câu tỉnh lược, câu rút gọn). Hiện tượng tỉnh lược, rút gọn không tạo nên một kiểu câu riêng. Xét về phương diện hình thức cấu tạo, câu đơn đặc biệt và câu tỉnh lược giống nhau. Chúng đều có cấu tạo do một từ, một cụm từ.

Ví dụ:

(38) Cháy! (câu đơn đặc biệt - một từ)

(39) Vỡ đê. (câu đơn đặc biệt - một cụm từ)

(40) a - Cậu đã học bài chưa?

b- Rồi (đã). (câu tỉnh lược - một từ)

(41) A Phủ thản nhiên không nghe, không tỏ vẻ lạ lùng gì. Nghe xong giận dữ nói (câu in đậm là câu tỉnh lược - một cụm từ)

Tuy nhiên, xét về mặt cấu trúc ngữ pháp, câu đơn đặc biệt khác với câu tỉnh lược. Câu đơn đặc biệt xét về mặt bản chất cấu trúc ngữ pháp không thể xác định được chủ ngữ, vị ngữ; còn câu tỉnh lược là những câu vốn có đầy đủ hai thành phần chủ ngữ, vị ngữ nhưng trong một hoàn cảnh giao tiếp cụ thể (thường là trong khẩu ngữ, trong hội thoại…) người nói và người nghe đều hiểu được nội dung giao tiếp nên có thể rút gọn thành phần câu để lời nói được gọn hơn, việc thông báo được nhanh hơn. Những câu tỉnh lược như thế có thể khôi phục lại các thành phần đã được tỉnh lược một cách dễ dàng.

Ví dụ:

(42) a - Anh đã đọc cuốn sách này chưa?

b - Rồi.

Câu (42b) là câu đã rút gọn cả chủ ngữ và vị ngữ. Căn cứ vào câu hỏi trước đó, chúng ta có thể khôi phục lại được những thành phần lược bỏ đi và chúng có dạng đẩy đủ hai thành phần câu như sau: Tôi đã đọc cuốn sách này rồi.

Câu tỉnh lược, như đã nói không phải là loại câu riêng biệt mà chỉ là dạng thức khác (dạng thức tỉnh lược) loại câu có chủ ngữ và vị ngữ. Việc rút gọn thành phần nào là do hoàn cảnh giao tiếp mà người nói, người nghe cảm thấy sự tỉnh lược đó là thích hợp.

Trong hội thoại, câu tỉnh lược thường xuất hiện ở một số dạng sau:

a. Tỉnh lược thành phần chủ ngữ:

(43) a- Cậu không ăn cơm à?

b- Đau bụng mà

b. Tỉnh lược thành phần vị ngữ:

(44) a- Ai xung phong đi lao động?

b- Tôi!

c. Tỉnh lược cả thành phần chủ ngữ, vị ngữ và các thành phần câu khác (chỉ giữ lại yếu tố phụ trong vị ngữ)

(45) a- Chiều nay cậu đã ăn cơm chưa?

b- Chưa. (tỉnh lược cả chủ ngữ, vị ngữ và trạng ngữ)

Có trường hợp tỉnh lược cả chủ ngữ, vị ngữ và thêm thành phần gọi đáp trong lời hồi đáp:

(46) a. Cậu không đi học à?

b. Ừ.

Trong văn viết có tính chất nghệ thuật, tính chất của câu tỉnh lược có điểm khác biệt. Nếu trong hội thoại, chúng ta căn cứ vào hoàn cảnh giao tiếp để khôi phục lại thành phần câu đã tỉnh lược thì trong văn viết; nhất là trong các tác phẩm văn chương, sự khôi phục đó lại tỏ ra “ngô nghê”, khó được chấp nhận do phần khôi phục đó tỏ ra dư thừa. Bởi vì trong tác phẩm văn chương hiện tượng được gọi là câu tỉnh lược chính là phần bổ sung vào câu đứng trước hoặc sau nó, chứ không phải nó được tỉnh lược đi cái lẽ ra đáng phải có.

Ví dụ:

(47) Tôi đứng dậy. Dưới trời mưa.

(Nguyễn Huy Tưởng)

(48) Tiếng hát ngừng. Cả tiếng cười.

(Nam Cao)

Ví dụ (47) phần in đậm là câu tỉnh lược và câu này tương đương với bổ ngữ cảnh huống. Nếu khôi phục: Tôi đứng dậy cho câu đầy đủ thành phần sẽ dẫn đến hiện tượng lặp, thừa. Ví dụ (48), phần in đậm là câu tỉnh lược (lược vị ngữ: ngừng). Giả định khôi phục vị ngữ vào câu tỉnh lược cũng dẫn tới hiện tượng lặp, thừa và tính chất đột ngột của hiện tượng “ngừng” cũng không tồn tại nữa. Do vây, Nam Cao tỉnh lược vị ngữ trong câu có tác dụng như là một biện pháp tu từ. Vì vậy, một số nhà nghiên cứu ngôn ngữ học văn bản không muốn gọi đây là hiện tượng tỉnh lược (câu tỉnh lược) mà đặt tên nó bằng những cái tên khác nhau theo quan niệm và mục đích của nhà nghiên cứu như bán câu (semi – sentences), ngữ phụ gia (annexxed phrases), biểu thức không phải câu (non – sentences expressions), ngữ trực thuộc, câu dưới bậc…Có một số nhà nghiên cứu lại gọi câu tỉnh lược dạng này như ví dụ (47), (48) là câu đơn đặc biệt.

CÂU HỎI

  1. Thế nào là nghĩa miêu tả, nghĩa tình thái của câu? Phân tích ví dụ minh họa.

  2. Thế nào là câu đơn hai thành phần? Nêu cách hiểu của mình về các thành phần câu đó. Lấy ví dụ minh họa.

  3. Hãy nêu khái niệm về các phần biệt lập cụ thể. Nêu ví dụ.

  4. Thế nào là câu đơn đặc biệt? Cấu tạo ngữ pháp của câu đơn đặc biệt?

  5. Thế nào là câu đơn đặc biệt – danh từ, câu đơn đặc biệt - vị từ? Nêu ví dụ.

§4. CÂU PHỨC

1. Vấn đề xác định câu đơn, câu phức và câu ghép

Có một giai đoạn, trước thập kỉ 80 của thế kỉ XX, phân loại câu khi dựa vào số lượng cụm chủ vị nòng cốt hoặc số lượng cụm chủ vị (không phân biệt cụm chủ vị làm nòng cốt hay cụm chủ vị đảm nhận một thành phần câu hoặc thành tố cấu tạo nên thành phần câu), các tài liệu ngữ pháp thường có cách hiểu khác nhau về câu đơn, câu phức, câu ghép. Bình thường, câu đơn được hiểu là câu chỉ có một cụm chủ vị làm nòng cốt câu. Câu ghép là câu có từ hai cụm chủ vị trở lên làm nòng cốt câu; mỗi cụm chủ vị có tư cách của một nòng cốt câu đơn và không có cụm chủ vị nào bao cụm chủ vị nào; các cụm chủ vị đó được ghép lại, nối lại với nhau để trở thành câu ghép diễn đạt các nội dung có quan hệ với nhau. Các cách hiểu khác nhau về câu phức đọng lại ở những câu có từ hai cụm chủ vị trở lên nhưng chỉ có một cụm chủ vị làm nòng cốt câu. Phân tích các dẫn dụ sau đây sẽ làm rõ nội dung nêu trên:


(1) Sông Thương nước chảy đôi dòng.

CN VN

CN VN (Ca dao)


(2) thua đã rõ ràng.

CN VN

CN VN (Hồ Chí Minh)



(3) Mắt đeo kính, anh ấy chăm chú đọc báo.

CN VN CN VN

TN



Các ví dụ như đã phân tích ở trên tồn tại những kiến giải khác nhau:

  • Coi chúng là câu đơn vì chúng có một cụm chủ vị làm nòng cốt câu.

  • Coi chúng là câu phức (hoặc câu ghép) vì chúng có hai cụm chủ vị trong cấu tạo câu.

  • Coi chúng là loại trung gian (trung gian giữa câu đơn và câu phức (câu ghép)) và gọi tên bằng những tên gọi khác nhau: câu trung gian, câu có câu con làm bào thai, câu có cụm chủ vị làm thành phần.

Các cách hiểu như vậy trong một chừng mực cụ thể cũng đã có quan hệ với nhau gây ra những rắc rối trong ngữ pháp nhà trường.

Trong tình hình như vậy, tài liệu này chấp nhận một cách hiểu về câu phức như sau:

Câu phức là câu có từ hai cụm chủ vị trở lên nhưng chỉ có một cụm chủ vị làm nòng cốt, còn các cụm chủ vị khác bị bao bên trong một thành phần câu,

một bộ phận câu nào đó hoặc thành tố cấu tạo nên thành phần câu.

Ví dụ:

(4) Em học giỏi làm bố mẹ vui lòng.

Ví dụ (4) có chủ ngữ: Em học giỏi và vị ngữ của câu là: làm bố mẹ vui lòng. Đây là cụm chủ vị nòng cốt của câu. Chủ ngữ Em học giỏi có cấu tạo là một cụm chủ vị, vị ngữ làm bố mẹ vui lòng có vị tố là động từ làm và bổ ngữ bố mẹ vui lòng có cấu tạo là một cụm chủ vị. Như vậy, ví dụ (4) có ba cụm chủ vị nhưng chỉ có một cụm chủ vị làm nòng cốt nên là câu phức.

2. Một số kiểu câu phức thường gặp

2.1. Câu phức có cụm chủ vị làm chủ ngữ

Chủ ngữ trong câu phức có cụm chủ vị làm chủ ngữ là một sự việc được diễn đạt bằng một câu bị bao trong thành phần câu chủ ngữ.

Ví dụ:

(5) Mấy tấm cửa kính buồng Huệ Chi thỉnh thoảng lại rùng rùng làm trong nhà vang lộng hẳn lên.

(Nguyên Hồng)

(6) Cách mạng tháng Tám thành công đem lại hòa bình, độc lập, tự do cho dân tộc.

2.2. Câu phức có cụm chủ vị làm vị ngữ

- Đây là dạng câu phức chứa quan hệ chỉnh thể (chủ ngữ) - bộ phận (vị ngữ). Về mặt ngữ pháp, vị ngữ là một câu bị bao, có cấu tạo là một cụm chủ vị.

Ví dụ:

(7) Gái Quảng Bình khí phách đọ Trường Sơn.

(Huy Cận)

(8) Cây cam này quả to và ngọt lắm.

(Nguyễn Minh Châu)

- Phân biệt đề ngữ với chủ ngữ trong câu phức có cụm chủ - vị làm vị ngữ

Trong câu tiếng Việt, việc phân tích cấu trúc cú pháp câu sẽ rất lúng túng khi xử lý, xác định những biểu thức ngôn ngữ in đậm dưới đây thuộc về thành phần câu đề ngữ hay chủ ngữ:

(9) a.Tôi tên là Nguyễn Văn Nam.

b.Tôi, tên là Nguyễn Văn Nam.

(10) a. Ông ta khổ người thô.

b. Ông ta, khổ người thô.

Nếu các ví dụ trên là ngôn ngữ nói thì quả thực rất khó phân biệt đâu là chủ ngữ, đâu là đề ngữ. Còn trong ngôn ngữ viết nếu không có dấu phẩy ngăn cách như trong các ví dụ (9a), (10a), biểu thức in đậm thường được xác định là chủ ngữ, bộ phận còn lại là vị ngữ có cấu tạo là một cụm chủ vị. Đây là mối quan hệ chỉnh thể - bộ phận. Trong các ví dụ (9b), (10b), các biểu thức in đậm được xác định là đề ngữ.

Có tình hình này bởi đề ngữ thường đứng ở đầu câu được dùng để nêu lên một vật, một việc, một nội dung cần trao đổi với tư cách chủ đề câu. Nhìn ở phương diện này, đề ngữ có phần giống chủ ngữ. Điểm khác nhau căn bản là chủ ngữ có quan hệ trực tiếp với vị ngữ, còn đề ngữ có quan hệ ngữ pháp với toàn bộ nòng cốt câu chứ không quan hệ trực tiếp về ý nghĩa và ngữ pháp với thành phần đứng liền sau nó. Để cho việc thực hành phân tích cấu trúc cú pháp câu được thuận lợi, phạm vi quan tâm của bài viết chỉ dừng lại phân biệt đề ngữ với chủ ngữ trong câu có kết cấu chủ - vị làm vị ngữ trong ngôn ngữ viết vì trong ngôn ngữ nói rất khó nhận diện, phân biệt đề ngữ với trạng ngữ trong kiểu câu này.

Như chúng ta đã biết đề ngữ với nòng cốt câu không có quan hệ chỉnh thể bộ phận nhưng có thể có quan hệ tập hợp – thành viên của tập hợp kiểu như “vịt còn hai con”. Quan hệ giữa chỉnh thể (chủ đề) – bộ phận trong câu được hiểu là biểu hiện của quan hệ chủ - vị. Xem xét các ví dụ sau:

(11) a. Cái xe này lốp đã hỏng.

b. Cái xe này, lốp đã hỏng.

(12) a. Ông Ba tóc vẫn còn xanh.

b. Ông Ba, tóc vẫn còn xanh.

Trong các ví dụ (11a), (12a), biểu thức in đậm là chủ ngữ, bộ phận còn lại là vị ngữ có cấu tạo là một kết cấu chủ - vị (câu phức). Trong các ví dụ này, chủ đề câu có quan hệ trực tiếp với vị ngữ ở trong câu nên nó là chủ ngữ. Trong các ví dụ (11b), (12b), biểu thức in đậm là đề ngữ, bộ phận còn lại là nòng cốt câu. Trong các ví dụ này, chủ đề câu thường không có quan hệ trực tiếp với bộ phận còn lại trong câu (vì nó đã được ngăn cách bằng dấu phẩy với bộ phận câu còn lại) mà nó có quan hệ với toàn bộ nòng cốt câu với tư cách là chủ đề câu.

Như vậy trong ngôn ngữ viết khi chủ đề câu có quan hệ trực tiếp với bộ phận tiếp theo

trong câu và không có dấu phẩy ngăn cách thì chủ đề câu được hiểu là chủ ngữ trong câu phức có kết cấu chủ - vị làm vị ngữ. Trong trường hợp chủ đề câu được ngăn cách với bộ phận còn lại trong câu bằng dấu phẩy và có quan hệ ý nghĩa với cả nòng cốt câu là đề ngữ. Xử lí như vậy đảm bảo được tính hệ thống vì trong ngôn ngữ viết, chủ ngữ với vị ngữ trong câu không sử dụng dấu phẩy để ngăn cách, ngoại trừ trường hợp người viết sử dụng dấu câu với mục đích tu từ.

2.3. Câu phức có cụm chủ vị làm bổ ngữ

Câu phức dạng này thường có động từ làm vị tố của câu và thành tố phụ sau (bổ ngữ) bổ sung ý nghĩa cho động từ có cấu tạo là một cụm chủ vị.

Ví dụ:

(13) Em bé hát khiến cả nhà vui.

(14) Tôi thấy bạn ấy là một con người tốt.

Ví dụ (13) nếu phân tích chi tiết có ba cụm chủ vị. Cụm chủ vị nòng cốt: em bé hát là chủ ngữ, khiến cả nhà vui là vị ngữ. Chủ ngữ em bé hát có cấu tạo là một cụm chủ vị. Vị tố của vị ngữ là động từ gây khiến: khiến. Bổ ngữ bổ sung ý nghĩa cho động từ khiến cả nhà vui là một cụm chủ vị.

Ví dụ (14) có hai cụm chủ vị và bổ ngữ bạn ấy là con người tốt có cấu tạo là một cụm chủ vị.

2.4. Câu phức có cụm chủ vị là trạng ngữ

Câu phức có cụm chủ vị làm trạng ngữ là câu phức chứa quan hệ chỉnh thể - bộ phận. Trạng ngữ câu chứa bộ phận và có cấu tạo là một cụm chủ vị (hay nói cách khác cụm chủ vị này đảm nhận vai trò làm trạng ngữ trong câu), chủ ngữ chỉ quan hệ chỉnh thể.

Ví dụ:

(15) Tay xách cái nón, chị ấy bước vội lên thềm nhà.

(16) Chân tay vung lên như điện giật, ông trợn mắt hỏi không ra tiếng.

(17) Hắn lảo đảo bước vào nhà, mắt gườm gườm.

(18) Hắn ngồi bổ củi, cằm ghếch lên đầu gối.

(Nam Cao)

Biểu thức được in đậm nên quy ước là trạng ngữ chỉ cách thức hoặc tình trạng của chủ thể thực hiện hành động chính do vị ngữ của câu biểu thị. Hiểu theo chiều hướng này, ta có câu phức có cụm chủ vị làm trạng ngữ. Có nhà nghiên cứu xem phần biểu thức được in đậm là một vế phụ của câu ghép, như vậy ta sẽ có câu ghép chính phụ.

2.5. Câu phức có cụm chủ vị làm đề ngữ

Đây là dạng câu phức mà đề ngữ của câu có cấu tạo là một cụm chủ vị.

Ví dụ:

(19) Cuộc sống trong những năm chiến tranh khó khăn như thế nào, thanh niên thời bình ít hình dung được.

(20) Lối ăn ở của Hồ Chủ tịch giản dị như thế nào, chúng ta đã từng biết.

(Phạm Văn Đồng)

(21) Hạc là hạc, giá là xe, tiên là cõi tiên, du là chơi, các ông hiểu chưa?

( Nguyễn Công Hoan )

2.6. Câu phức có cụm chủ vị làm yếu tố phụ miêu tả cho danh từ (câu phức có cụm chủ vị làm định ngữ)

Đây là kiểu câu phức có thành tố phụ sau của danh từ trong câu có cấu tạo là một cụm chủ vị. Trước đây, ngữ pháp nhà trường thường gọi kiểu câu này là câu phức có cụm chủ vị làm định ngữ.

Ví dụ:

(22) Ngôi nhà tôi mới xây rất đẹp.

(23) Cuốn sách anh mới cho tôi mượn đọc rất hay.

(24) Anh Hải đang đọc cuốn sách mà tôi cho mượn.

Ý nghĩa của cụm chủ vị này thường nêu đặc điểm hoặc hạn định khái niệm của danh từ làm thành tố chính. Phần in đậm ở các ví dụ (22), (23), (24) là thành tố phụ (định ngữ) bổ sung ý nghĩa cho danh từ đứng trước nó có cấu tạo là một cụm chủ vị.

2.7. Câu phức có thành phần phụ chú có cấu tạo là một cụm chủ vị

Đây là kiểu câu phức có phần phụ chú có cấu tạo là một cụm chủ vị.

Ví dụ:

(25) Thế rồi bỗng một hôm - chắc rằng hai cậu bàn nhau mãi – hai cậu chợt nghĩ kế rủ Oanh chung tiền mở cái trường.

(Nam Cao)

(26) Các đồng chí – anh nói, giọng nghẹn ngào - đồng chí tiểu đội trưởng của chúng ta hi sinh rồi.

Phần in đậm trong các ví dụ (25), (26) là phần phụ chú có tác dụng để làm sáng tỏ thêm một phương diện nào đó liên quan gián tiếp đến câu làm cho người ta hiểu câu nói đúng hơn, rõ hơn.

§5. CÂU GHÉP

1. Đặc điểm cú pháp của câu ghép

Xét về mặt số lượng cụm chủ vị nòng cốt, câu ghép là câu có từ hai cụm chủ vị nòng cốt trở lên có thể “ghép” lại thành một câu. Sự tồn tại của loại câu có nhiều nòng cốt chủ vị (bên cạnh loại câu chỉ có một nòng cốt chủ vị) làm nảy sinh xu hướng lí giải theo nhiều quan niệm khác nhau trong các sách ngữ pháp tiếng Việt. Có một số nhà nghiên cứu cho rằng câu có từ hai cụm chủ vị nòng cốt trở lên là “câu phức hợp”. Trong khi đó có một số nhà nghiên cứu lại cho rằng câu có từ hai cụm chủ vị trở lên là câu phức. Tài liệu này ủng hộ một chủ trương cho rằng câu phức là câu có từ hai mj chủ vị trở lên nhưng chỉ có một cụm chủ vị lầm nòng cốt còn các cụm chủ vị khác bị bao trong một thành phần câu nào đó. Và như vậy, khái niệm câu phức, câu phức hợp đã có nội hàm ý nghĩa khác nhau và gây rắc rối cho ngữ pháp nhà trường.

Ví dụ:

(27) Ông Ba, tóc vẫn còn xanh.

(28) Chúng tôi mít tinh hàng vạn người là thường.

(Tô Hoài)

(29) Mình đọc hay tôi đọc?

(Nam Cao)

(30) Pháp chạy, Nhật hàng, Vua Bảo Đại thoái vị.

(Hồ Chí Minh)

Phần in đậm trong các ví dụ trên để chỉ các cụm chủ vị có mặt trong câu đảm nhận thành phần câu vị ngữ (ví dụ 28), đảm nhận thành phần câu chủ ngữ (ví dụ 29). Câu (28), (29) có hai cụm chủ vị nhưng chỉ có một cụm chủ vị nòng cốt được xác định là câu phức. Có một số nhà nghiên cứu cho rằng cả bốn ví dụ trên đều là câu phức. Trong khi đó, một số nhà nghiên cứu lại cho rằng chỉ có ví dụ (29), (30) có từ hai cụm chủ vị nòng cốt trở lên mới là câu phức.

Câu có nhiều cụm chủ vị nòng cốt cũng như câu có một cụm chủ vị nòng cốt không khác nhau về mặt chức năng. Chúng là những đơn vị ngôn ngữ cùng bậc câu, nghĩa là những đơn vị có cấu trúc cú pháp tự lập, biểu thị một nội dung tương đối trọn vẹn, thực hiện được chức năng giao tiếp của ngôn ngữ. Việc phân biệt câu có nhiều cụm chủ vị nòng cốt và câu có một cụm chủ vị nòng cốt ở bậc câu cũng giống như sự phân biệt các đơn vị cú pháp (đơn hay ghép) ở bậc từ. Câu có nhiều cụm chủ vị nòng cốt không nên quan niệm như một đơn vị ngôn ngữ tạo ra bằng cách ghép đơn giản các câu có một cụm chủ vị nòng cốt, mà các cụm chủ vị nòng cốt cấu tạo nên câu thường liên kết với nhau theo những quan hệ ngữ nghĩa - ngữ pháp chặt chẽ thành một đơn vị duy nhất – đó là câu.

Câu có cấu tạo gồm nhiều cụm chủ - vị nòng cốt, về nguyên tắc, có thể phân biệt được với câu có một cụm chủ vị nòng cốt ở những điểm cơ bản sau:

1.1 Cấu tạo câu có một cụm chủ vị làm nòng cốt (cụm chủ vị nòng cốt còn được gọi là mệnh đề, cụm chủ vị) có hai thành phần, mỗi thành phần do một từ, hoặc một cụm chủ vị biểu thị. Quan hệ ngữ nghĩa - ngữ pháp giữa hai thành phần là quan hệ chủ ngữ - vị ngữ hoặc quan hệ giữa đối tượng thông báo và nội dung thông báo về đối tượng ấy. Ở cấu tạo câu có nhiều cụm chủ vị nòng cốt thì mỗi cụm chủ vị nòng cốt được gọi là một vế câu (còn gọi là mệnh đề, hoặc kết cấu chủ - vị, hoặc cú). Quan hệ ngữ nghĩa - ngữ pháp giữa các cụm chủ vị nòng cốt trong câu là quan hệ đẳng lập (quan hệ liên hợp).

Ví dụ:

(31) Chúng thi hành những luật pháp dã man.

(Hồ Chí Minh)

(32) Chúng cướp không ruộng đất, hầm mỏ, nguyên liệu.

(Hồ Chí Minh)

(33) Bên này bức vách, anh thao thức; bên kia bức vách, em không ngủ.

(34) Bụng đã no mà miệng vẫn còn đói.

(35) Nó chạy, nó nhảy, nó lội xuống nước.

Ví dụ (31), (32) là câu có một cụm chủ vị làm nòng cốt, hai thành phần chủ ngữ và vị ngữ đều do đại từ (chủ ngữ) và cụm động từ (vị ngữ) biểu thị. Quan hệ cú pháp giữa chủ ngữ và vị ngữ là quan hệ chủ - vị.

Ví dụ (33), (34), (35) đều có cấu tạo từ hai cụm chủ vị nòng cốt trở lên, có quan hệ đẳng lập được biểu thị bằng những phương thức liên kết khác nhau.

1.2 Các cụm chủ vị làm nòng cốt câu (trong câu có nhiều cụm chủ vị làm nòng cốt) đều có tính tự lập về nghĩa và tương đối độc lập về mặt ngữ pháp. Chúng không “bao” nhau, nghĩa là mỗi một cụm chủ vị làm nòng cốt câu không lệ thuộc về mặt ngữ nghĩa và ngữ pháp vào một từ (danh từ hay động từ), không phải là thành phần cấu tạo các cụm từ trong một thành phần nào đó trong câu.

Mỗi cụm chủ vị làm nòng cốt trong câu ghép biểu thị một sự kiện làm nội dung thông báo; nội dung thông báo của câu bao gồm nhiều sự kiện có quan hệ với nhau. Câu ghép nhiều cụm chủ vị làm nòng cốt được hình thành trên cơ sở “ghép nối” các cụm chủ vị làm nòng cốt theo một quy tắc nhất định về mặt ngữ nghĩa và ngữ pháp. Ý nghĩa của các sự kiện được biểu thị trong một cụm chủ vị làm nòng cốt tạo thành câu, tạo ra ý nghĩa của câu trong quan hệ giữa các sự kiện, chứ không phải là sự “cộng lại” nghĩa của các cụm chủ vị làm nòng cốt. Các cụm chủ vị làm nòng cốt tạo thành câu ghép khi nằm trong chỉnh thể của câu ghép có giá trị ngữ nghĩa khác nhau. Các vế câu trong câu ghép mang ý nghĩa tự thân và nghĩa kết hợp. Hầu hết các vế câu trong câu ghép có nghĩa kết hợp.

Ví dụ:

(36) Ngoài đình, trống lại thúc, mõ lại khua, tù và rúc liên thanh bất chỉ.

(Ngô Tất Tố)

(37) Đèn đêm đã bật, sân bay lại tiếp tục làm việc.

(Nguyễn Đình Thi)

(38) Chính vì chúng ta rất tầm thường cho nên Đảng ta rất vĩ đại.

(Hồ Chí Minh)

Ví dụ (36) (37), các cụm chủ vị làm nòng cốt có ý nghĩa tự thân và các cụm chủ vị có mối quan hệ nghĩa theo trật tự trước sau, tức là theo trật tự theo chiều tiến của sự kiện. Còn ví dụ (38), các cụm chủ vị làm nòng cốt có mối quan hệ nhân – quả.

Tóm lại, câu có một nòng cốt chủ vị và câu có nhiều nòng cốt chủ vị đều là những đơn vị ngôn ngữ cùng bậc câu (thuộc phạm trù cú pháp câu), xét theo chức năng giao tiếp cơ bản của ngôn ngữ. Nhưng vì hiện tượng câu có nhiều nòng cốt nảy sinh là do nhu cầu phản ánh những hình thái tư duy phức tạp, do nhu cầu cần phản ánh thế giới khách quan.

Vốn có quan hệ phong phú, phức tạp và đa dạng nên câu ghép có cấu tạo không giống với câu có một nòng cốt. Đặc điểm quan trọng trước hết để nhận diện câu ghép là số lượng nòng cốt chủ - vị thường từ hai trở lên, và các nòng cốt chủ vị được ghép theo những mối quan hệ ngữ nghĩa – ngữ pháp nhất định; mỗi nòng cốt làm vế câu có tính chất tự lập tương đối về ngữ nghĩa và ngữ pháp, không bị lệ thuộc vào nòng cốt chủ - vị khác. Quan hệ ngữ nghĩa – ngữ pháp giữa các nòng cốt chủ - vị được biểu hiện trong cấu tạo câu (cấu tạo nòng cố chủ - vị làm vế câu), bằng trật tự các nòng cốt chủ - vị, các tình thái từ và quan hệ từ. Những đặc điểm kể trên khu biệt câu ghép với câu phức, và khu biệt các nhóm khác nhau trong mỗi loại câu ghép.

2. Các loại câu ghép

Trong câu ghép, các vế câu có thể có những mối quan hệ ý nghĩa rất đa dạng, Đồng thời quan hệ ngữ pháp giữa các vế câu cũng có thể thuộc về loại quan hệ chính phụ hay quan hệ đẳng lập. Các vế câu cũng có thể dùng hư từ để liên kết các vế câu hoặc không sử dụng các từ có tính chất liên kết. Căn cứ vào các mối quan hệ ngữ nghĩa – ngữ pháp , câu ghép thường được chia làm hai loại: câu ghép đẳng lập và câu ghép chính phụ.

2.1 Câu ghép đẳng lập

Dựa vào mối quan hệ ý nghĩa giữa các câu, câu ghép đẳng lập thường được chia thành một số loại nhỏ sau.

2.1.1 Câu ghép có ý nghĩa liệt kê

Các vế câu trong câu ghép loại này biểu hiện lần lượt nhiều sự kiện theo kiểu liệt kê hoặc sự kiện lần lượt theo kiểu kế tiếp nhau.

Ví dụ:

(39) Trăng lên, trăng đứng, trăng tàn.

(Tố Hữu)

(40) Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do độc lập và sự thật đã thành một nước tự do, độc lập.

(Hồ Chí Minh)

Các vế câu trong câu ghép dạng này có thể không dùng hư từ hoặc có thể dùng các hư từ: , rồi, còn ghép các vế câu lại với nhau.

Quan hệ giữa các vế câu là quan hệ đẳng lập, các vế câu ghép có thể nhiều hơn hai và chúng có quan hệ tương đối lỏng lẻo với nhau.

2.1.2 Câu ghép có ý nghĩa lựa chọn

Các vế câu trong câu ghép dạng này nêu lên các khả năng khác nhau để người nghe (đọc) lựa chọn.

Ví dụ:

(41) Mình đọc hay tôi đọc?

(Nam cao)

(42) Hoặc là chúng ta phải nghĩ tới nhân dân; hoặc là chúng ta chỉ lo lắng cho riêng mình.

(Nguyễn Khải)

Giữa các vế câu ghép thường có các quan hệ từ có ý nghĩa lựa chọn: hay, hay là, hoặc, hoặc là…

2.1.3 Câu ghép có quan hệ ý nghĩa nghịch đối hay tương phản

Các vế trong câu ghép dạng này thường có ý nghĩa nghịch đối hay tương phản về ý nghĩa với nhau.

Ví dụ:

(43) Tôi thích bóng đá, còn bạn Giáp thì không.

(44) Tôi đến chơi, nhưng anh ấy lại không ở nhà.

(45) Lốp xe nổ mà xe vẫn cứ chạy.

Các vế trong câu ghép dạng này thường được nối với nhau bằng các quan hệ từ: nhưng, mà, còn, song, chứ, và…

2.1.4. Câu ghép có quan hệ hô ứng giữa hai vế

Câu ghép có quan hệ hô ứng là dạng câu có hai sự thể (sự việc) được diễn ra trong hai vế câu có quan hệ qua lại hô ứng với nhau. Hai vế câu này không hẳn hoàn toàn ngang hàng nhau nhưng không hẳn lệ thuộc một chiều như câu ghép chính phụ. Có thể dễ dàng nhận thấy đây là hiện tượng phụ thuộc hai chiều khiến cho mỗi vế câu vừa có tư cách vế phụ thuộc vế kia, lại vừa có tư cách ngang hàng với vế kia và mối quan hệ ý nghĩa của nó khá phức tạp.

Ví dụ:

(46) Càng yêu người bao nhiêu, càng yêu nghề bấy nhiêu.

(47) Ăn cây nào, rào cây ấy.

(Tục ngữ)

(48) Họ vừa đi, họ vừa hát.

Sự hô ứng có thể được thể hiện ở việc sử dụng các hư từ: vừa… vừa; đã…. lại; càng… càng và cặp đại từ: nào… ấy; bao nhiêu… bấy nhiêu; đâu… đó…

Quan hệ ngữ pháp giữa các vế câu trong quan hệ hô ứng vẫn là quan hệ đẳng lập.

2.2 Câu ghép chính phụ

Đây là kiểu câu ghép mà quan hệ ngữ pháp giữa các vế câu là có một vế chính và một vế phụ thuộc vào vế chính đó. Câu ghép chính phụ sử dụng các phương tiện nối kết là các quan hệ từ có quan hệ phụ thuộc kiểu như: vì, nếu, tuy, để, dù… ở đầu vế phụ.

2.2.1 Câu ghép có quan hệ nguyên nhân – kết quả

Câu ghép nguyên nhân – kết quả là câu ghép chính phụ, thường có hai vế câu, một vế chỉ nguyên nhân, một vế chỉ kết quả.

Ví dụ:

(49) Vì chưng bác mẹ tôi nghèo

Cho nên tôi phải băm bèo thái khoai.

(Ca dao)

(50) Có lẽ tiếng Việt của chúng ta đẹp bởi vì tâm hồn của người Việt Nam ta rất đẹp.

(Phạm Văn Đồng)

(51) Nhờ thời tiết tốt mà mùa màng bội thu.

Câu ghép có quan hệ nguyên nhân – kết quả thường có các quan hệ từ: vì, bởi, do, tại, bởi vì (ở vế nguyên nhân) và các quan hệ từ: nên, cho nên, mà… (ở vế chỉ kết quả) khi vế chính đứng sau.

Trong câu ghép chính phụ chỉ nguyên nhân - kết quả, vế phụ bao giờ cũng là một vế câu có cấu trúc chủ - vị đầy đủ. Nếu vế chỉ nguyên nhân không xuất hiện một cụm chủ - vị thì tổ hợp đó chỉ tương ứng với thành phần câu trạng ngữ.

Ví dụ:

(52) Vì trời mưa, đường sá rất lầy lội. (câu ghép chính phụ nguyên nhân – kết quả)

(53) Vì mưa, đường sá rất lầy lội. (vế chỉ nguyên nhân là trạng ngữ của câu)

2.2.2 Câu ghép có quan hệ điều kiện, giả thiết – kết quả.

Câu ghép có quan hệ điều kiện, giả thiết – kết quả thường có hai vế, một vế nêu lên điều kiện, giải thiết (vế phụ) và một vế nêu lên kết quả.

Ví dụ:

(54) Nếu cụ chỉ cho vay một đồng thì còn hơn một đồng nữa chúng con biết chạy vào đâu được.

(Ngô Tất Tố)

(55) Hễ anh ấy đến, thì tôi cho anh về.

Câu ghép có quan hệ điều kiện, giả thiết – kết quả thường liên kết với

nhau bằng các cặp quan hệ từ: nếu… thì; hễ… thì; miễn (là)… thì; giá… thì…

Cần chú ý mấy điểm sau về kiểu câu này:

  • Khi vế phụ đứng trước vế chính thì sẽ tạo ra quan hệ điều kiện, giả thiết – kết quả như trong ví dụ (54), (55).

  • Nếu trật tự thay đổi ngược lại , tức là vế chính đứng trước thì sẽ tạo ra quan hệ sự việc – điều kiện, giả thiết và trong trường hợp này không dùng quan hệ từ thì đứng trước vế chính thức.

  • Ngoài cách biểu thị quan hệ điều kiện, giả thiết – kết quả, kiểu câu ghép có cặp quan hệ từ nếu… thì với trật tự vế phụ đứng trước (chưa quan hệ từ nếu) còn được dùng để chỉ quan hệ đối chiếu so sánh.

Ví dụ:

(25) Nếu nhà anh có nhiều tiền thì nhà tôi có nhiều vàng.

2.2.3 Câu ghép chỉ quan hệ nhượng bộ - tăng tiến

Câu ghép chỉ quan hệ nhượng bộ - tăng tiến là câu ghép chính phụ, vế phụ chỉ sự việc làm cơ sở đối chiếu trong quan hệ với sự việc nêu ở vế chính.

Ví dụ:

(26) Dù ai nói ngả nói nghiêng

Lòng ta vẫn vững như kiềng ba chân.

(Tố Hữu)

(27) Tuy đất hẹp nhưng mùa nào thức ấy.

(Nguyễn Công Hoan)

(28) Tuy tôi đã nói mấy lần mà nó vẫn không nghe.

(29) Không những cây không có hoa, mà lá cũng khô héo dần.

Trong hai vế câu này, vế phụ thường chỉ sự nhượng bộ, được hiểu là yếu hơn vế kia, còn vế chính nêu lên sự việc nghịch đối (theo quan hệ ý nghĩa tăng tiến).

Cặp quan hệ từ thường được dùng cho kiểu câu chỉ quan hệ nhượng bộ - tăng tiến là: dù (dầu), mặc dù… nhưng, tuy… nhưng, không những… mà còn…

2.2.4 Câu ghép chỉ quan hệ mục đích

Câu ghép chỉ mục đích là câu ghép chính phụ, một vế chỉ mục đích của sự kiện nêu ở vế kia.

Ví dụ:

(30) Để mọi người hiểu rõ hơn, tôi xin nêu thêm ví dụ minh họa.

(31) Để họ đến kịp giờ thì chúng ta đưa xe đi đón vậy.

Câu ghép chỉ quan hệ mục đích thường có quan hệ từ để, để cho, cho đứng ở vế phụ của câu, ở đầu vế chính có thể có quan hệ từ thì hoặc không.

Cần chú ý một vài điểm sau về kiểu dạng câu này:

  • Khi vế phụ đứng trước thì sẽ tạo ra quan hệ mục đích – sự việc như ví dụ (30), (31) đã dẫn.

  • Trường hợp vế chính đứng trước vế phụ, câu chứa quan hệ sự kiện – mục đích và không có từ thì xuất hiện ở đầu vế chính.

Ví dụ:

(32) Anh ấy mua sách cho con học.

  • Khi thay quan hệ từ để bằng từ muốn – từ muốn có rõ nghĩa từ vựng của động từ thì phần chứa từ muốn nên xem xét nó là trạng ngữ của câu.

Ví dụ:

(33) Muốn họ đến kịp giờ thì chúng ta nên đưa xe đi đón.


CÂU HỎI VÀ BÀI TẬP THỰC HÀNH

  1. Hãy nêu các đặc điểm cú pháp của câu ghép.

  2. Hãy phân biệt câu đơn, câu phức, câu ghép. Lấy ví dụ minh họa.

  3. Hãy trình bày một số kiểu câu ghép thường gặp trong tiếng Việt.

  4. Hãy xác định câu ghép trong đoạn văn sau:

"Mùa thu năm 1940, phát xít Nhật đến xâm lăng Đông Dương để mở thêm căn cứ đánh Đồng minh, thì bọn thực dân Pháp quỳ gối đầu hàng, mở cửa nước ta trước Nhật(1). Từ đó dân ta chịu hai tầng xiềng xích: Pháp và Nhật(2). Từ đó dân ta càng cực khổ, nghèo nàn(3). Kết quả là cuối năm ngoái sang đầu năm nay, từ Quảng Trị đến Bắc Bộ, hơn hai triệu đồng bào ta chết đói(3)."

(Hồ Chí Minh)

  1. Xác định câu đơn và câu ghép trong đoạn trích sau:

"Trăng đang lên(1). Mặt sông lấp lánh ánh vàng(2)… Dưới ánh trăng, dòng sông sáng rực lên, những cơn sóng nhỏ lăn tăn mơn man vỗ nhẹ vào hai bên bở cát…(3)

Trăng sáng vằng vặc(4). Dường như càngvề khuya bầu trời càng xanh trong, trăng càng sáng(5)."

(Khuất Quang Thụy)

TÀI LIỆU THAM KHẢO

  1. Diệp Quang Ban (1996), Ngữ pháp tiếng Việt, tập hai, Nxb Giáo dục.

  2. Diệp Quang Ban (chủ biên) – Hoàng Dân (2000), Ngữ pháp tiếng Việt, Nxb Giáo dục.

  3. Diệp Quang Ban (2005), Ngữ pháp tiếng Việt, Nxb Giáo dục.

  4. Đinh Trọng Lạc – Bùi Minh Toán (1998), Tiếng Việt, tập hai, Giáo trình đào tạo giáo viên tiểu học hệ CĐSP và SP 12+ 2, Nxb Giáo dục.

  5. Hoàng Trọng Phiến (1978), Ngữ pháp tiếng Việt (câu), Nxb Đại học và Trung học chuyên nghiệp, Hà Nội.

  6. Nguyễn Hữu Quỳnh (1994), Tiếng Việt hiện đại (Ngữ âm, ngữ pháp, phong cách), Trung tâm biên soạn từ điển bách khoa Việt Nam, Hà Nội.

  7. Nguyễn Thị Thìn (2003), Câu tiếng Việt và nội dung dạy - học câu ở trường phổ thông, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội.

  8. Bùi Minh Toán (2012), Câu trong hoạt động giao tiếp tiếng Việt, Nxb Giáo dục Việt Nam.


Chương IV: CÂU TRONG HOẠT ĐỘNG GIAO TIẾP


Chương III chủ yếu trình bày câu theo kết học (syntactics). Chương này trình bày câu theo dụng học. Câu được xét trong hoạt động giao tiếp gắn với mục đích phát ngôn của người dùng trong quan hệ với bối cảnh giao tiếp và vai giao tiếp. Chương này tập trung các kiểu câu/ phát ngôn biểu hiện các hành động nói; tiêu điểm thông tin của câu và bài tập thực hành kỹ năng về câu.

1. Câu và phát ngôn

Câu là đơn vị của ngôn ngữ xét từ quan hệ ngôn ngữ và lời nói. Xét từ hệ thống các đơn vị ngôn ngữ, câu là đơn vị cú pháp cơ bản, có cấu trúc theo các mô hình tương ứng với nội dung thông báo nhất định tùy theo đặc trưng ngữ pháp của mỗi ngôn ngữ. Câu là sự thể hiện ngôn ngữ học của hành động nhận định được thực hiện ngay khi phát ra nó. Hiện nay có nhiều định nghĩa về câu theo các cách tiếp cận khác nhau. (Giáo trình không thể trình bày tất cả các định nghĩa, sinh viên tìm đọc và tập phản biện về các ý kiến đó). Xét theo quan hệ mô hình câu và biến thể câu, thì câu là mô hình trừu tượng, phân biệt với phát ngôn.

Phát ngôn là đơn vị lời nói hiện thực, mang chức năng thể hiện các hành động nói năng cụ thể, trong ngôn cảnh cụ thể, quan hệ với người sử dụng. Phát ngôn xét theo quan hệ cấu trúc ngữ pháp, đó là biến thể cấu trúc câu, là đơn vị hiện thực hóa câu trong giao tiếp. Quan hệ giữa câu và phát ngôn cũng giống như quan hệ giữa từ và từ tố, giữa âm vị với âm tố. Hình thức đánh dấu phát ngôn là chỗ ngừng hoặc ngữ điệu. Mỗi phát ngôn đơn phần thường tương ứng với một câu. Trong trường hợp này gọi là phát ngôn - câu. Ví dụ: Hạnh phúc, đó là đấu tranh. Đây là phát ngôn song phần tương ứng với câu đơn có phần khởi hạnh phúc. Xem sơ đồ quan hệ giữa câu và phát ngôn: Câu đơn có mô hình: /C-V-B/ (chủ - vị -bổ). Mô hình khái quát này có thể được thể hiện bằng các phát ngôn cụ thể: Tôi đọc sách/ Mẹ tôi cũng từng đọc sách của thiếu niên/ Tôi tặng cô giáo bông hoa hồng. Mô hình này cũng có thể mở rộng thành phần câu theo dạng: Cx-Vx Bx. Ví dụ, Thầy giáo dạy văn đã đọc nhiều lần bài thơ “Người đi tìm hình của nước” của nhà thơ Chế Lan Viên. Phát ngôn thường là đơn vị phân tích vi mô của diễn ngôn. Phát ngôn thường gắn với hành động nói, chẳng hạn, phát ngôn hỏi, phát ngôn miêu tả, phát ngôn đánh giá, phát ngôn cầu khiến, phát ngôn từ chối, phát ngôn khen chê, phát ngôn cảm thán, phát ngôn chào hỏi, mời mọc v.v… Phát ngôn gắn với mục đích phát ngôn. Dấu hiệu đánh dấu phát ngôn cũng là dấu hiệu đánh dấu câu.

2. Hành động nói và các kiểu câu xét theo mục đích nói

2.1. Khái niệm hành động nói

J. Austin là người khởi xướng lý thuyết về hành động ngôn từ/ hành động nói (speech act) trong tác phẩm nổi tiếng: How to do things with words (Có thể tạm dịch là: Người ta hành động như thế nào bằng lời nói) xuất bản năm 1962, hai năm sau ngày tác giả qua đời. Sau đó, học trò của ông là J. Searle bổ sung (xem bảng so sánh dưới đây). Theo lý thuyết này thì khi ta nói tức là ta làm một hành động nào đó, tức là “Nói là hành động” … Đó là một lý thuyết dụng học mang tính xã hội, có quan hệ với các thiết chế ứng xử ngôn ngữ của mỗi cộng đồng, tức là các tiền ước (Présumption). Chẳng hạn, khi ta nói “Tôi xin lỗi” đồng thời hành động xin lỗi được thực hiện. Các cách phân loại hành động nói được trình bày trong bảng sau đây:

Austi

Venlder

Searle

Bach and Hamish

Allan

Expositives

(Trình bày)

Expositives

(Trình bày)

Assertives

(Xác nhận)

Assertives

(Xác nhận)

Statements

(thông báo)

Commissives

(Kết ước)

Commissives

(Kết ước)

Commissives

(Kết ước)

Commissives

(Kết ước)


Behabitives

(Khu xử)

Behabitives

(Khu xử)

Expressives

(biểu lộ)

Acknowledgments

(Đáp lại)

Expressives

(biểu lộ)

Invitationnals

Interrogavives

(vấn lệnh)




Mời khiến)

Exersitives

(Hành xử)

Exersitives

(Hành xử)

Directives

(Điều khiển)

Directives

(Điều khiển)



Verdictives

(Phán quyết)

Declaratinons

(uyên bố)

Verdictives

(Phán quyết)

Authorirativ

(quyết tẩm)

Verdictives

(Phán quyết)

Operatives

(Lệnh hiệu)


Effectives

(thời hiệu)


(Dẫn theo Nguyễn Văn Hiệp. tr 217, nguồn Keith Allan 1998)

2.2. Các hành động nói

2.2.1. Khi người ta nói là người ta thực hiện 3 phạm trù hành động sau đây:

- Hành động tạo ngôn (Locutionary act) là hành động khi nói ra một phát ngôn, người nói dùng thao tác chọn lựa các đơn vị ngôn ngữ để tạo ra phát ngôn nào đó. Hành động này tạo ra các mệnh đề cú pháp và được gọi là hành động mệnh đề. Ví dụ, để diễn đạt thời tiết hôm nay, người nói chọn và sắp xếp các từ theo trật tự tuyến tính tiếng Việt: Hôm nay trời có mưa.

- Hành động tại ngôn (còn gọi là hành động ngôn trung) (Illocutionary act) là hành động thể hiện lời tuyên bố, lời hứa hẹn, lời phê phán, lời khẳng định, bác bỏ, lời khen, lời từ chối, lời nịnh hót, lời nghi ngờ, lời chào hỏi, lời cám ơn … Hành động ngôn trung truyền đạt nội dung mệnh đề. Do đó cùng một nội dung mệnh đề có thể truyền đạt bằng các hành động ngôn trung khác nhau. Chẳng hạn, ta có năm từ trong từ điển tiếng Việt: chị, bảo, sao, không, đến … Có thể tạo thành nhiều phát ngôn theo trật tự từ khác nhau: Chị bảo sao không đến?/ Không đến, chị bảo sao?/ Sao đến, chị không bảo?/ Bảo đến chị không sao?/ Bảo, sao không đến chị? … Mỗi phát ngôn thể hiện một hành động ngôn trung khác nhau nhưng đều có một nội dung mệnh đề: nói về sự tình: chị bảo sao (em) không đến. Một ví dụ khác để nhận thức rõ sự tinh tế giữa hành động tạo lời và hành động ngôn trung. Chẳng hạn, Em đọc bài báo này chưa?/ Em phải đọc bài báo này (nhé!) /Em có đọc bài báo này không? Đó là 3 hành động ngôn trung khác nhau: Hành động thăm hỏi, hành động khuyên, hành động hỏi cật vấn. Cả 3 phát ngôn có chung nội dung mệnh đề: Em đọc bài báo này.

- Hành động xuyên ngôn (Perlocutionary act) (còn gọi là hành động mượn lời). Người nói khi phát ra một câu là nói về cái gì đó, một sự tình, sự kiện nào đó, đồng thời cũng ngụ ý để người nghe/ người đọc nhận thức về một cái gì khác. Chẳng hạn, Hôm nay, tôi mới mua được một cuốn sách “Muốn làm một người tử tế”. Ngoài thông báo sự kiện mới là mua được một cuốn sách hay, còn thể hiện một hành động khoe, sung sướng, khuyên bạn nên mua đi …. tùy thuộc vào bối cảnh thông báo và ý định của chủ thể phát ngôn đó mà nhận các ý nghĩa khác nhau. Có những hành động ngôn trung gây ra các tác động khác nhau đến khả năng tiếp nhận của người nhận. Hành động xuyên ngôn không chỉ thông qua các phương tiện ngôn ngữ mà còn bằng các phương tiện khác, chẳng hạn, cách nói hàm ngôn, chơi chữ, ngữ điệu/ giọng điệu, cách nói lập luận, cách nói nghịch ngữ. Hành động xuyên ngôn có mặt trong thơ ca, truyện cười dân gian, câu đố … Thử tìm ý xuyên ngôn/ mượn lời trong phát ngôn ca dao sau đây:

Bây giờ mận mới hỏi đào

Vườn hồng đã có ai vào hay chưa?

Mận hỏi thì đào xin thưa

Vườn hồng có lối nhưng chưa ai vào.

Các câu trên có nội dung mệnh đề tương ứng nhằm thông báo “chưa có ai tỏ tình cả”. Hàm ý này có thể diễn đạt bằng một cấu trúc câu khác:

Bây giờ anh mới hỏi em

Tình yêu đã có ai đặt vấn đề hay chưa?

Anh hỏi thì em xin thưa

Tình yêu luôn sẵn sàng

Nhưng chưa ai đặt vấn đề.

Nắm vững kiến thức về hành động xuyên ngôn để ứng dụng vào phân tích ngôn ngữ văn chương, đặc biệt ngôn ngữ thơ.

2.2.2. Các hành động ngôn trung cụ thể theo J. Austin được thống kê dưới đây để làm cơ sở phân chia phát ngôn/ câu theo lực ngôn trung:

- Hành động trình bày gồm: trình bày, kể lại, khẳng định, phủ định, bác bỏ, miêu tả, mách bảo, phân loại, đồng nhất, phân biệt, nhận xét, loan báo, thông tri, hỏi, trả lời, dự đoán, chấp nhận, biện luận, giải thích, thuyết minh, kết luận, định nghĩa, chỉ ra.

- Hành động phán định gồm: phán xử, bênh vực, lý giải, quyết định, đánh giá, tính toán, xác nhận, xếp hạng, chuẩn đoán, phân tích ...

- Hành động hành chức gồm: chỉ định, đề bạt, thăng chức, giáng chức, thải hồi, khai trừ, ra lệnh, kêu gọi, chỉ thị, bầu, nhượng, biện hộ, cảnh cáo, thanh minh, yêu cầu, khích lệ, van nài, can ngăn, thúc dục, trì hoãn ...

- Hành động ước kết gồm: hứa, hẹn, cam kết, thề, nguyền, đồng ý, phát nguyện, tiên đoán ...

- Hành động ứng xử gồm: Cám ơn, xin lỗi, mừng, khen, phê bình, chia buồn, trách móc, chào đón, phản đối, chửi rủa, chúc, khiêu khích, từ biệt, hoan nghênh, đe dọa, chế riễu, thách, đính chính ...

(Nguồn: Cao Xuân Hạo, Sơ thảo ngữ pháp chức năng. HN. 1991, tr 210)

2.3. Các kiểu câu theo mục đích nói

Trong tiếng Việt, câu có thể chia theo đặc điểm ngữ pháp thành các kiểu câu đơn, câu phức, câu ghép (xem chương 3, 4 của giáo trình này). Chương này, câu/ phát ngôn chia theo hiệu lực ngôn trung hay theo mục đích phát ngôn thành 4 kiểu lớn: trần thuật, nghi vấn, cầu khiến, cảm thán (Hoàng Trọng Phiến gọi kiểu này là câu than gọi. (x. Ngữ pháp tiếng Việt. Câu. HN. 2008. tr. 366).

Một khi dấu hiệu đánh dấu phát ngôn đã được ngữ pháp hóa, cố định hóa thì đồng thời đó cũng là dấu hiệu đánh dấu kiểu câu. Chẳng hạn, các phương tiện đánh dấu câu hỏi, các phương tiện hư từ, ngữ điệu trong câu cầu khiến, các dấu chấm câu trong câu miêu tả hoặc kể chuyện v.v... Cần chú ý rằng, ba kiểu câu nói trên trong giao tiếp hiện thực đều có khả năng diễn đạt các mục đích phát ngôn khác thông qua hành động ngôn trung gián tiếp.

Ví dụ, dùng mô hình câu hỏi để biểu hiện hành động cầu khiến:

- Con muốn ăn đòn phải không (khác với: Con muốn ăn phở phải không?)

- Anh có thể chuyển lọ tiêu cho tôi không? (tức là tôi yêu cầu anh chuyển hộ lọ tiêu cho tôi với).

Ví dụ, câu hỏi gián tiếp khẳng định như:

- Chính anh là người gây rối chứ còn ai nữa?

- Nghe lời bố, lấy nó có phải sướng một đời không con?

Ví dụ, câu hỏi có giá trị ngôn trung phủ định:

- Các phụ huynh của những em học sinh chậm tiến có đến đâu?

- Nào tôi có biết?/ Tôi đâu có biết?/ Bài thơ này mà hay ư?

Nên nhớ rằng, đánh dấu nét khu biệt câu tiếng Việt bằng dạng thức ngữ pháp là rất khó. Chúng ta có thể dùng con đường ngữ pháp hóa (grammaticalization), tức là khả năng kết hợp và tương hợp ngữ nghĩa. Vị trí các đơn vị trong phát ngôn cũng có vai trò nhất định trong phân biệt câu. Chẳng hạn, câu hỏi thì các từ mang thông tin hỏi có những vị trí khác nhau: Ai làm việc này? Anh tốt nghiệp Đại học Tây Bắc năm nào? Đi đi con, nơi chiến hào đồng đội chờ con đó! Ngoài ra, trong tiếng Việt còn dùng các phương tiện tình thái ở cuối câu: á, ư, chăng tá, ru, mà, nhỉ, nhé, đâu, đấy, thế, vậy; các từ tình thái như: nào, hãy, đừng, chớ, thôi ... để đánh dấu câu. Ngữ điệu có cương vị biểu hiện tiêu điểm thông tin của câu (xem mục Tiêu điểm) đồng thời là phương tiện đánh dấu các kiểu câu thể hiện bằng các dấu câu. Ngữ điệu là hiện tượng ngôn điệu được tạo thành từ sự hoạt động của các nét khu biệt âm học tại những hình tiết nhất định trong câu. Ngữ điệu làm cho câu được hiện thực hóa và trở thành đơn vị giao tiếp hiện thực nhằm biểu hiện các hành động ngôn trung khác nhau.

So sánh:

Đau đớn thay phận đàn bà! (câu cảm)

Anh có phải là sinh viên Đại học Tây Bắc không? (câu hỏi)

Khoan khoan ngồi đó chớ ra (yêu cầu)

Nhằm thẳng quân thù mà bắn! (mệnh lệnh)

Tôi cấm anh nói (câu ngữ vi)/ Tôi đã cấm anh nói (câu trần thuật); Tôi mời anh vào (câu ngữ vi)/ Anh hãy vào đi (câu mệnh lệnh).

Phân loại câu theo mục đích nói cùng một lúc thường sử dụng hai loại tiêu chuẩn:

- Tiêu chuẩn về mục đích sử dụng câu;

- Tiêu chuẩn về hình thức, tức là các phương tiện ngôn ngữ dùng để cấu tạo câu.

Vận dụng cả hai tiêu chuẩn trên vào việc cách xem xét cách sử dụng các kiểu câu phân loại theo mục đích nói cần phân biệt hai trường hợp lớn sau đây:

Câu đích thực (có nhà nghiên cứu gọi là câu nguyên cấp, câu chính danh) là câu có kiểu hình thức cấu tạo ngữ pháp được dùng phù hợp với mục đích nói vốn có của nó.

Câu không đích thực (có nhà nghiên cứu gọi kiểu câu này là câu giảcâu lâm thời) là câu có kiểu hình thức cấu tạo ngữ pháp của kiểu câu này nhưng lại được dùng khác với mục đích nói vốn có của nó.

Việc sử dụng phân loại câu câu theo mục đích nói theo lối dùng câu đích thực được coi là cách sử dụng trực tiếp, việc sử dụng câu phân loại theo mục đích nói theo lối dùng câu không đích thực được gọi là cách sử dụng gián tiếp.

Phân loại câu theo mục đích nói trong sách này chỉ dừng lại ở cách cấu tạo chung trong cách dùng trực tiếp, chưa bàn tới cách dùng chúng trong thực tiễn giao tiếp với cách sử dụng gián tiếp.

Câu phân loại theo mục đích nói có thể được diễn đạt dưới các hình thức câu đơn, câu phức, câu ghép. Tài liệu này để dễ làm việc có thể lấy câu đơn làm ngữ liệu chính.

Lấy hình thức làm cơ sở phân loại và lấy mục đích nói làm tên gọi, câu xét theo mục đích nói được chia thành bốn kiểu sau đây:

Câu trần thuật;

Câu nghi vấn;

Câu cầu khiến;

Câu cảm thán.

2.3.1. Câu trần thuật (declarative) (còn tên gọi khác: câu tường thuật, câu kể, câu trình bày, câu miêu tả/câu tả). Các tên gọi này cũng có những nét nghĩa tinh tế khác nhau. Giáo trình này dùng thuật ngữ trần thuật với nội hàm như sau: Câu trần thuật là một trong hai kiểu câu lớn (trần thuật và câu nghi vấn). Nó nêu lên, nói về các sự kiện, sự tình, các tình trạng hoặc hành động để thông báo cho người nghe nhận biết và đồng tình hoặc tư duy với mình (xem Hoàng Trọng Phiến. Câu tiếng Việt. HN. 2009. tr.336). Kiểu câu này thường thể hiện dưới dạng khẳng định, phủ định, bác bỏ diễn đạt các hành vi ngôn ngữ tương ứng ...

- Câu trần thuật khẳng định: Mô hình cơ bản kiểu câu này: C-V

Người là Cha, là Bác, là Anh.

Người mà tôi gặp ở sân trường là Giáo sư Hoàng.

Câu khẳng định còn dùng các phương thức sau:

C: Không thể không V

Không phải là không

Không C: Không V

Không phải C: Không V

Ví dụ:

(1)- Anh ta không thể không đến đây. (nhất định anh ta đến đây).

- Tôi không khỏi không đau lòng trước cảnh này. (tôi rất đau lòng).

- Không phải chúng ta không làm mà cần suy nghĩ kĩ.

Trong lời nói thông thường, người Việt còn dùng cách phủ định lịch sự với các từ, các kết cấu cú pháp nhất định (còn gọi là các quán ngữ): Nó biết mà lại không thì còn ai biết tốt hơn? Ô hay, chúng bây vẫn cứng đầu vậy!

- Câu trần thuật phủ định, bác bỏ thường có các từ ngữ đi kèm.

Chúng mang sắc thái nghĩa khác nhau : không, chưa, chẳng, chả, chưa hề, không hề, đâu, đâu phải, không phải là, chưa phải là, thèm vào, có giời mà biết, không dám đâu, chịu thôi, không đời nào, không bao giờ, suýt, không gì hết, một chút nào, ... ở cuối câu phát ngôn. Các phương tiện tình thái này thường dùng phủ định thể hiện các hành động: từ chối, né tránh, xoa dịu ...

Ví dụ:

(2) - Em không chịu thua đâu.

- Con có lấy tiền của mẹ đâu/ Con đâu có lấy tiền của mẹ.

- Em không tin thì thôi, đành vậy thôi.

- Em bé suýt ngã (không ngã).

Cách nói đay với ngữ điệu mạnh: Đẹp là đẹp thế nào?/ Mệt là mệt thế nào? Ừ, cô ấy đe .. ẹp (tức là cô ấy không đẹp). Người Việt phủ định bằng cách so sánh. Chẳng hạn, Cô ấy đẹp gì mà đẹp, Thị Nở phải gọi bằng cụ. Phủ định bằng cách nói mỉa, hàm ngôn, nịnh hót, khoa trương ngụ ý phủ định, bác bỏ rất thâm thúy.

2.3.2. Câu nghi vấn (Interrogative)

Câu hỏi có tần số rất lớn trong giao tiếp cộng đồng. Mục đích của câu hỏi là tìm thông tin hồi đáp về cái mình không rõ. Chẳng hạn:

- Ai báo với anh tin đó?

- Bao giờ em tốt nghiệp Đại học Tây Bắc?

- Cái máy này bao nhiêu thì anh bán?

- Năm nay là năm gì?

- Nghỉ tết anh có về quê không?

- Thầy Dũng đã đến chưa?

- Tiến sĩ Hoàng làm chủ nhiệm khoa hay chủ nhiệm bộ môn?

- Trời Tây Bắc đẹp quá nhỉ?

- Trong tình hình này chúng ta phải làm gì đây?

Tất cả các dẫn liệu trên đây mong tìm một lời đáp về cái không rõ, hoặc tìm một sự đồng tình, đồng ý, đồng thuận, ... chia sẻ từ phía người tiếp nhận câu hỏi. Các câu hỏi đó thuộc vào các dạng câu hỏi khác nhau. Các tham tố cấu thành mô hình câu hỏi gồm có cái nội dung cần hỏi và mong ước nhận thông tin trả lời. Các từ ghi đậm trong các ví dụ trên đây là các phương tiện đánh dấu nội dung cần hỏi. Tiếng Việt có nhiều phương tiện đánh dấu câu hỏi: dùng các từ chuyên dùng để hỏi, dùng các từ tình thái, dùng ngữ điệu. Từ hỏi thường nằm ở tiêu điểm hỏi của câu: đầu, giữa, cuối câu. Dùng phương tiện nào còn tùy vào chiến lược nói năng của chủ ngôn. Chẳng hạn, câu hỏi phỏng vấn trên truyền hình bao giờ cũng thể hiện rõ chủ đích tìm, dò thông tin, chính kiến, thái độ của người được phỏng vấn. Câu hỏi phải gọn, rõ ràng, mạch lạc và lịch sự. (x. Hoàng Trọng Phiến, Sđd. Tr.142-160).

Để thích hợp với chương trình dạy ở bậc phổ thông, chúng ta có thể dùng cách phân loại theo hướng thực hành với cách tiếp cận mục đích giao tiếp như dưới đây.

- Câu nghi vấn tổng quát

Đây là kiểu câu hỏi yêu cầu trả lời về một sự tình nào đó được coi như là hiện thực, nhưng chưa rõ chi tiết. Câu hỏi dùng ngữ điệu nghi vấn với các từ: gì? cái gì?. Câu trả lời phải đầy đủ thành phần, không dùng rút gọn hoặc tỉnh lược.

Ví dụ:

(3) - Cái gì mà ồn ào thế? - Người ta chửi nhau ấy mà.

- Anh có yêu Huệ không? - Tôi rất yêu cô ấy.

Câu hỏi tổng quát: "Có/ không" thường yêu cầu trả lời cả một mệnh đề và nhấn mạnh ở phần vị từ (còn gọi là phần thuyết của phát ngôn). Phương tiện hỏi ở cuối câu. Thuộc vào kiểu câu này còn có mô hình: mở đầu bằng: có phải và kết thúc bằng không... ví dụ, - Có phải Thầy Hoàng bảo vệ luận án tiến sĩ rồi không? Phải, Thầy ấy đã bảo vệ xuất sắc luận án tiến sĩ.

- Câu nghi vấn chuyên biệt

Người hỏi chỉ cần biết rõ một chi tiết nào đó trong sự tình, sự kiện nào đó. Kiểu câu

này cấu tạo như một câu trần thuật với một yếu tố không xác định. Chẳng hạn hỏi nguyên nhân, ta có câu hỏi:

- Tại sao hôm qua em không đi học? Thưa thầy, gia đình em có việc ạ.

Kiểu câu hỏi câu này thường có những biến thể: Hôm qua em nghỉ học là tại sao?/ Hôm qua nghỉ học là tại làm sao?/ tại sao thế.

- Em gặp Huệ ở đâu?/ Em gặp Huệ ở Thư viện hay ở Siêu thị?

Kiểu hỏi câu này có thể rút gọn thành phần đã biết và trả lời phần chưa biết, tức là cái mới (tham khảo phần chia câu theo thực tại hóa: nêu/ báo hoặc cái cũ/ cái mới).

Ví dụ:

(4) - Tại sao em không đi họp Đoàn?

- Em bận.

- Bận gì?

- Bận thu hoạch sắn.

Thuộc vào câu hỏi chuyên biệt còn có mô hình câu với các tiểu cú đặt sau mệnh đề đưa ra câu hỏi: phải không, phỏng, chứ, đúng không, có không ... Ví dụ: Anh mỉa tôi đấy phỏng?/ Mắt xanh chẳng để ai vào có không?/ mẹ về rồi chứ?/ Việc tày trời thế mà anh không biết sao (ư, à)?. Các ngữ khí từ: chắc (đặt cuối câu), dễ thường (đặt đầu câu). Ví dụ, Dễ thường nó có phép thần thông chắc?/ Dễ thường nó tha cho em chắc?.

- Câu nghi vấn lựa chọn

Đây là kiểu câu mà người nói nêu ra hai khả năng cho người nhận lựa chọn để trả lời. Thường dùng các phương tiện: hay/ hay là/ hoặc là; cũng có thể dùng các kết cấu có ... không ...; đã ... chưa ...; có phải .. hay không ...; rồi .. hay chưa.

Ví dụ:

(5) - Anh làm hay tôi làm việc này?

- Có thích uống rượu cần không?

- Đã vợ con gì chưa?

- Lửa tình vẫn âm ỉ cháy trong lòng em, có đúng không?

Người nói có thể nêu một câu hỏi giả thiết theo định hướng để người nhận trả lời. Kiểu câu hỏi này thường dùng trong phỏng vấn báo chí, truyền hình. Ví dụ, Phóng viên: Thông thường đến một thời điểm nào đó, người đàn ông muốn thay đổi vợ mình bằng một ý trung nhân khác. Tôi muốn biết ý nghĩ của Ngài về vấn đề này.

Thủ tướng Anh: Tôi có thể trả lời thẳng với bà là, nếu phải làm lại cuộc đời và lấy vợ khác thì tôi sẽ lại cưới lại vợ tôi.

- Phóng viên VTV: Một trong những giải pháp xây dựng nông thôn mới có phải là nâng cao mặt bằng dân trí không? Thưa Giáo sư.

- Giáo sư: Phải/ Rất đúng.

Những kiểu câu nghi vấn trên đây gọi là câu hỏi chính danh.

- Câu hỏi không chính danh

Các câu hỏi không chính danh là những câu có hình thức hỏi nhưng biểu hiện hành động nói khác. Ngôn ngữ học gọi là câu hỏi gián tiếp.

+ Câu hỏi có giá trị cầu khiến: Con muốn ăn đòn phải không?

+ Câu hỏi có giá trị khẳng định: Ai mà chẳng biết chuyện ấy?/ Nó nói thế ai mà chẳng tức? Bằng chứng chẳng sờ sờ ra đó là gì?

+ Câu hỏi có giá trị phủ định/bác bỏ thường có các phương tiện đánh dấu: ai, gì, mấy, sao, bao nhiêu, bao giờ; danh ngữ có từ nghi vấn: gì, nào.

Ví dụ:

(6) - Có bao giờ người ta làm ăn kiểu đó? (không bao giờ)

- Anh cần gì phải suy nghĩ nhiều đến thế? (không cần)

- Vấn đề khó thế tôi làm sao mà giải quyết được? (không thể).

Trong lời nói tiếng Việt còn có hàng loạt các công thức phủ định đã được cố định hóa như những quán ngữ tình thái: ăn thua gì, ích gì, có là bao, lo gì, sợ gì (đứng sau vị ngữ); việc gì, tội gì, sá gì, làm gì, đời nào, lẽ nào, sức mấy, ai lại, mấy khi, mấy đời ... (thường đặt đầu câu). Từ biết làm vị ngữ với một tiểu cú bổ ngữ biểu hiện tình thái phủ định, rất thông dụng trong nói năng.

Ví dụ:

(7) - Trăm năm biết có duyên gì hay không?

- Lớn lên biết có nên trò trống chi đây?

+ Câu hỏi phỏng đoán, ngờ vực, ngần ngại. Kiểu câu này thưởng mở đầu bằng các từ: phải chăng, hay là, không biết, liệu mà; kết thúc bằng các từ: chăng, không biết, nhỉ, đây, bây giờ biểu hiện sự phân vân, không xác tín đối với tính chân thực trong mệnh đề.

Ví dụ:

(8) - Không biết có đến được Lai Châu trước khi trời sẩm tối?

- Biết làm gì bây giờ, hở em?

- Không kịp nữa rồi, chậm mất rồi, chờ chuyến xe sau chăng?

- Liệu mà cao chạy, xa bay/ Ái ân ta có ngần này mà thôi?

- Có chuyện gì mà cô ta ngồi thừ người đó ra không biết?

+ Câu hỏi có giá trị cảm thán. Kiểu câu này thể hiện cảm xúc không yêu cầu trả lời. Thường dùng các từ ngữ hỏi cảm thán bất định: biết mấy, biết bao, quá chừng, quá đỗi, nhường nào, nhường bao, mà thế, chưa, gì mà, ...

Ví dụ:

(9) - Đẹp biết bao! Chiếc áo nhiệm màu.

- Trên đời có gì đẹp hơn thế! Người với người sống để yêu nhau!

- Ăn gì to lớn đẫy đà làm sao?

- Em có biết không/chăng? Anh yêu em tha thiết biết ngần nào?

(Chú ý trong sách giáo khoa có nói đến câu hỏi tu từ, thực chất là câu hỏi không cần có lời đáp. Xét theo hành động và mục đích phát ngôn thì câu hỏi như thế cũng biểu hiện một ý đồ nhất định của chủ ngôn. Nghĩa câu hỏi kiểu này thường gắn với ngữ cảnh và suy ý, nhất là bám sát văn bản. Chẳng hạn, bài "Tiếng thu" của Lưu Trọng Lư, “Di Cảo Thơ” của Chế Lan Viên rất nhiều câu hỏi kiểu này).

Ngoài các dạng câu nghi vấn trên đây, trong giao tiếp khẩu ngữ, người Việt còn dùng câu hỏi không có từ để hỏi mà bằng ngữ điệu hỏi. Văn bản viết đánh dấu bằng dấu hỏi (?).

Trong ngôn giao của người Việt, hành động hỏi thể hiện tính văn hóa rất rõ rệt. Chẳng hạn, hỏi vòng vo, không đi thẳng vào vấn đề: Các cụ nhà ta vẫn mạnh khỏe cả chứ? (hỏi về còn hay mất)/ Cô về muộn thế, anh ở nhà có phàn nàn gì không? (hỏi cô đã lập gia đình chưa). Hỏi để tỏ hành động: Chào. Người ta có câu chào hỏi là vì vậy. Văn hóa hỏi của người Việt thường dùng các từ: dạ, dạ thưa, ạ, vâng; khí không phải, xin làm phiền, xin lỗi ... Các từ này thường đi kèm với các từ xưng hô tính lịch sự càng tăng, hiệu lực ngôn trung càng mạnh.

2.3.3. Câu cầu khiến (Imperative)

Câu kiểu này biểu hiện trong việc bày tỏ mong muốn người nhận thực hiện một hành động nào đó trong tương lai. Hành động này được trình bày trong nội dung mệnh đề. Nội dung có thể là một đề nghị, một yêu cầu, một mệnh lệnh, một chúc tụng, mời mọc, cấm đoán ... Thông thường đánh dấu bằng các phương tiện: đi, đừng, hãy, chớ, (kèm theo nào, thôi, cứ).

Ví dụ:

(10) - Khoan khoan ngồi đó chớ ra, nàng là phận gái ta là phận trai.

- Đi đi con, nơi chiến hào đồng đội chờ con đó.

- Nhằm thẳng quân thù mà bắn. Bắn!

- Tiến lên, chiến sĩ đồng bào!

- Nào chúng ta gắng lên nào!

- Bạn cần suy nghĩ kỹ hơn.

Trong giao tiếp hiện nay, ta thường nghe những lời nịnh hót của chủ ngôn bằng cách nói khoa trương để tiếp ngôn thực hiện một đề xuất, một đề nghị nào đó có lợi cho mình. Chẳng hạn, Thủ trưởng cứu em đi, nếu không thì em chết mất; Vụ này mà anh không vào cuộc thì chết cả lũ; Bác nên tiếp tục một khóa nữa để trường ta được nhờ.

Câu cầu khiến có những thang độ và sắc thái khác nhau. Thang độ mạnh có tính bắt

buộc với ngữ điệu nhấn ở cuối câu. Câu thường rất ngắn gọn. Đó là trường hợp ra lệnh, mệnh lệnh. Ví dụ: Im ngay!/ nghiêm!/ cướp, cướp!. Thang độ thấp thể hiện đề nghị, yêu cầu. Ví dụ: Em nói nữa đi, anh đang nghe đây thôi!/ Thôi, để lần sau sẽ bàn, được chứ!/ Thầy em cố ngồi dậy húp tí cháo cho đỡ xót ruột.

2.3.4. Câu cảm thán (Exclamation)

Về cơ bản kiểu câu này có tổ chức cú pháp của câu trần thuật. Nó biểu hiện cảm xúc mạnh khác thường được đánh dấu bằng ngữ điệu đặc biệt, trên chữ viết đánh dấu than (!). Có sách và gọi kiểu phát ngôn này là câu than - gọi. Nội dung của nó gồm có lời than và lời gọi.

Ví dụ: (11)

- Ôi thôi thôi! Chùa Tân Thạnh năm canh ưng đóng lạnh. (câu than)

- Huế ơi, quê mẹ của ta ơi! (lời gọi)

- Trời ơi, khổ thân tôi quá! (kêu ca, than trách)

- Dại quá! Làm hỏng cả rồi! (lời quở, trách).

Câu cảm thán có nội dung khá phong phú, liên quan đến các trạng thái tâm hồn và thái độ đánh giá của chủ ngôn. Thường thấy là: than thở, trách móc, than khóc, van xin, kêu cứu, thề thốt, nguyện ước, ngợi ca, quở mắng. Các phương tiện biển cảm quy thành các nhóm sau đây:

(1) Thán từ và tổ hợp quán ngữ: a, á, à, ái; ấy, âu, eo, ê, ế, ơ, ớ, ờ; ôi, ối, ới, cha, chà, chao; ha, hử; thay, ái chá, ối dào, ối chao, chao ôi, ôi thôi, eo ơi, chớ lị, chớ bộ, chết cha, khốn nạn, khốn khổ, thay, ô hay, làm sao, xiết bao, biết nhường nào, biết ngần nào, biết bao nhiêu ... dùng bộc lộ hoặc chia sẻ nỗi niềm trắc ẩn, những cảm xúc nội tâm. Thường dùng trong độc thoại nội tâm nhân vật văn học, nghệ thuật khi nhân vật đứng trước một sự tình, sự kiện tác động đến nhận thức và tâm trạng. Ví dụ, Ôi Bác Hồ ơi, những sớm chiều./ Khốn nạn cho cái thân tôi/ Chà chà, béo ơi là béo/ Đau đớn thay, phận đàn bà.

(2) Các từ, ngữ gọi đáp làm chức năng cảm thán: ơi, hỡi, thay, nghe, trời ơi, đất ơi, hỡi ơi. Ví dụ, Thôi thôi em hỡi Kim Liên/ Đẩy xe cho chị qua miền Hà khê.

(3) Các từ, các kết cấu thông tục để biểu hiện trạng thái bực dọc: đếch, đếch gì, đồ chết tiệt, đồ đểu, đồ khốn nạn, ma chê quỷ hờn, trời tru đất diệt, mẹ kiếp, quân mất dạy, đồ khỉ ... Ví dụ, Chém cha cái kiếp lấy chồng chung!/ Ơi, trời cao đấy dày ơi!/ Đời thật là chó đểu./ Liệu hồn, đồ chết tiệt!.

(4) Dùng các khuôn cú pháp mang tính quán ngữ:

- Danh từ/ Tính từ + ơi là + Danh từ/ Tính từ: Buồn ơi là buồn!/ Con ơi là con!.

- Động từ/ Tính từ + thay: Vất vả thay!/ Vinh quang thay, Tổ quốc chúng ta.

- Danh từ + Sao mà + tính từ + thế: Tiếng nói sao mà dịu hiền thế!

- Động từ + là + động từ + thế nào: Giận là giận thế nào!

(5) Các kết cấu câu hỏi phủ định để bày tỏ tâm sự (dòng ý thức); suýt, gì, sao, còn gì, chi chi, đừng chi, mà chi ... Ví dụ, Đừng trách chi những phút xao lòng!/ Núi cao chi lắm núi ơi! Núi che mặt trời chẳng thấy người thương!; Lênh đênh chiếc phận bèo mây, Duyên kia đã vậy, thân này nương đâu! (Lê Ngọc Hân. Ai tư vãn); À ơi, tiếng mẹ ru nhè nhẹ, Cay đắng bao nhiêu nỗi đoạn trường (Tố Hữu).

(6) Dùng ngữ điệu để thể hiện sắc thái cảm xúc, thang độ nghĩa tình thái chủ quan của phát ngôn cảm thán. Ví dụ, Mày có nói không thì bảo!; Anh đi đi, dễ ghét chửa!; Ô hô, mẹ về!.

Hành động cảm thán trong các lời than khóc người qua đời có cấu trúc: yếu tố than + mệnh đề mang nội dung than + yếu tốt mở rộng. Chẳng hạn, Anh ơi là anh ơi, sao anh nỡ bỏ mẹ con em mà đi!; Mẹ ơi, mẹ đi rồi con ở với ai! Đau lòng con lắm mẹ ơi!

Lời than khóc biểu hiện cảm xúc mạnh nhất, cá thể hóa cao nhất. Đó là nét văn hóa rất Việt Nam. (Có thể khảo cứu lời khóc thuê của cư dân đồng bằng Bắc Bộ).

3. Cấu trúc đề thuyết và tiêu điểm thông báo của câu

3.1. Cấu trúc đề - thuyết (topic/comment)

Gần với thuật ngữ này còn có Theme (phần đề - cũng dịch đề ngữ)/ Rheme (phần thuyết - cũng dịch thuyết ngữ). Đề thuyết thuộc về ngữ pháp chức năng. Ngữ pháp này có liên hệ với lý thuyết phân chia câu theo thực tại hóa do trường phái ngôn ngữ học Praha (Tiệp Khắc) khởi xướng. Câu có hai phần: Nêu và báo (hay cái cũ và cái mới). Cấu trúc đề - thuyết là cấu trúc nghĩa của câu với tư cách là một thông điệp. Thông điệp chia làm hai phần: phần đề (topic) và phần thuyết (comment).

Phần đề trước phần thuyết, nêu ra một sở đề nào đó, sau đó thuyết minh về nó thì đó là phần thuyết. Chẳng hạn, Yêu/ là chết trong lòng một ít. Trong thông điệp này từ yêu làm phần đề, chết trong lòng một ít làm phần thuyết. Đề được cấu tạo bằng một từ, một ngữ thuộc các từ loại khác nhau, ví dụ, Thi đua/ là yêu nước.; Sinh viên của Đại học Tây Bắc/ cần cù, chăm chỉ. Cũng có thể là một tiểu cú, ví dụ: chúng ta học tập/ để trở thành người công dân tử tế.

Phần thuyết (comment, Rheme) là phần nhận định cho cái nêu ra ở phần đề. Chẳng hạn, Người trí thức/ là người có học thức, biết phản biện.; Lai Châu/ giàu tiềm năng kinh tế.; Cây ngay/ không sợ chết đứng. Phần thuyết thường ứng với vị ngữ ngữ pháp của câu. Nó được cấu tạo bằng các từ, ngữ, tiểu cú, nhất là bằng các động ngữ. Phần thuyết cũng có cấu trúc của một kết cấu kiểu tương phản: Con nhà Thầy Sơn đứa thì đi chợ đứa thì thổi cơm; kiểu cố định: “không ... thì ...”. Ví dụ, Việc này không chóng thì chày cũng sẽ đưa ra ánh sáng.

3.1.1. Đánh dấu ranh giới đề/ thuyết

Đánh dấu ranh giới đề/ thuyết thường có: thì, là, mà và các từ đi kèm vị từ nhấn mạnh, thời gian, tình thái: vẫn, cứ, đều, chính, nghĩa là, còn, phải, cần, có thể, có lẽ, thật; ngoài ra còn dùng các cặp sóng đôi sau đây, từ thứ nhất đặt ở phần đề, từ thứ hai đặt ở phần thuyết.

- Gì ... nấy: Muốn gì được nấy (ấy).

- Ai ... nấy: Ai làm nấy chịu.

- Sao ... vậy: Nghĩ sao nói vậy.

- Đâu ... đấy: Cha mẹ đặt đâu con ngồi đấy.

- Thế nào ... thế ấy: Công sức bỏ ra thế nào thì hưởng thế ấy.

- Bao nhiêu... bấy nhiêu: Làm được bao nhiêu thì tiêu hết bấy nhiêu.

- Bao giờ ... bấy giờ: Bao giờ tốt nghiệp bấy giờ lấy nhau.

Ngoài ra cũng dùng các cặp từ không đồng dạng nhưng có sự tương ứng về nghĩa. Từ thứ nhất đứng trước vị ngữ của phần đề chỉ điều kiện, thời gian, phần thứ hai đặt trước vị ngữ của phần thuyết. Đó là:

- có ... mới: Con có khóc thì mẹ mới cho bú.

- mới ... đã: Chưa đỗ ông nghè đã đe hàng tổng.

- vừa ... đã: Vừa về đến nhà đã có điện thoại gọi.

- không những ... mà còn: Anh ấy không những học giỏi mà còn giỏi hoạt động Đoàn

- càng ... càn g: Càng âu duyên mới càng dào tình xưa.

- mỗi ... một: Mỗi người mỗi việc/ Mỗi ngày một đổi mới.

(Cần chú ý: Câu nói tiếng Việt có tính cân đối, nhịp nhàng đánh dấu ranh giới đề thuyết phải quan tâm đến cân đối âm tiết và cú pháp).

3.1.2. Đề kép và thuyết kép

+ Minh họa hình cây (hình chúc đài) phát ngôn có cấu trúc đề/ thuyết

C



Đ T



đ

đ t t

mà thì đ t

Hòn đất biết nói năng thầy địa lý hàm răng không còn

+ Minh họa đề kép/ thuyết kép:

# C #


Đ T


Đ1 Đ2 T1 T2


đ 2 t2 đ2 t2 đ2 t2 đ2 t2


Khi chén rượu khi cuộc cờ khi xem hoa nở khi chờ trăng lên

+ Minh họa thuyết kép:

# C #



Đ T



T1 T2



Đ1 T1 Đ2 T2


Con cô Hoa đứa (thì) đi chợ đứa (thì) quét nhà


+ Minh họa đề kép: # C: #

Đ T


Đ1 Đ2




đ2 t2 đ2 t2


Tiền mất tật mang thì khốn

cơm gà cá gỏi là bổn phận của em


3.2. Tiêu điểm thông báo của câu

3.2.1. Khái niệm tiêu điểm thông báo (information focus)

Trong một thông báo có bộ phận mang thông tin mới, thông tin quan trọng nhất làm thành tâm điểm thông báo. Xét câu: Nam yêu Lan. Trong đó yêu Lan là cái mới để trả lời câu hỏi: Nam làm gì? Trái lại, trả lời câu hỏi: Ai yêu Lan? thì Nam là cái mới. Một ví dụ khác: Bin cắn con chó. Cả phát ngôn là thông tin mới và quan trọng. Chính điều này làm nên tính tin tức của bản tin. Tuy nhiên các nội dung này cũng không hoàn toàn giống nhau. Hãy so sánh:

(a) - Lão ta đâu?

- Ở ngoài Hà Nội (Nam Cao. Về Hạ. 360). Các từ đậm là thông tin mới = thông tin quan trọng nhất, mới đối với người nói.

(b) - Mỹ Khuê hay Khuê Mỹ?

- Khuê Mỹ thuộc quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng ấy mà. (Chiến khu Lõm. Báo Đà Nẵng, 2010). Các từ đậm mang thông tin cũ nhưng quan trọng nhất. Vậy, thông tin cũ mới là hai thành tố tạo nên cấu trúc thông tin. Theo cách hiểu truyền thống, thông tin cũ (nêu) là điều cả người nói và người nhận đều biết do sự hiện diện của đối tượng đang đề cập hoặc qua ngữ cảnh, văn cảnh; còn thông tin mới (báo) là cái mà người nói cho người nghe chưa biết. Thông tin cũ đứng vị trí trước, thông tin mới đứng vị trí sau và thông tin mới là tiêu điểm thông báo. Trật tự này thường được coi là trùng với cấu trúc đề - thuyết của câu.

3.2.2. Tiêu điểm thông báo có quan hệ với thành tố cú pháp của câu/ phát ngôn

- Tiêu điểm trùng với phần đề hoặc bộ phận của đề.

- Tiêu điểm trùng với thuyết hoặc bộ phận của thuyết.

- Tiêu điểm trùng với cấu trúc cả câu (xem các ví dụ viết đậm ở trên). Nhà ngôn ngữ học Lambreht, người Đức (1994) viết: “Cấu trúc thông tin là bộ phận cấu thành của ngữ pháp câu. Ở đó, các mệnh đề biểu thị các sự tình được kết đôi với cấu trúc từ vựng ngữ pháp, thể hiện các trạng thái tâm lý của những người đối thoại - những người sử dụng và thể hiện những cấu trúc này như những đơn vị thông tin, trong những ngữ cảnh diễn ngôn nhất định”. (Dẫn theo tài liệu dịch dùng riêng của nhà nghiên cứu Diệp Quang Ban).

3.2.3. Đánh dấu tiêu điểm

Trong tiếng Việt tiêu điểm thường đánh dấu bằng các phương tiện sau:

- Ngữ cảnh xác định dựa vào câu đi trước: ví dụ, Anh thích đọc sách ? Tôi thích đọc thơ.

- Ngôn điệu (gồm ngữ điệu và trọng âm): ví dụ, Tôi cũng sợ/ người ta nói ra/ nói vào chứ; Cô ta chỉ đọc sách trong lớp. Cô ta đọc sách chỉ trong lớp. Chỉ cô ta đọc sách trong lớp. Vẫn còn học à!

- Bằng các từ ngữ tình thái: rất, cả, vẫn, cứ, cũng, không, chính, thật là, thật ra, cần phải, đành, những, mỗi, ngay, ngay cả ...; và các quán ngữ nối kết các thành tố trong câu ghép: không chỉ ... mà còn; liệu mà ...; chắc là, đến nỗi hoặc các kết cấu mở đầu phát ngôn: À ra thế, Yêu, thì tôi đã yêu cháy bỏng.; Nào, can đảm lên em!

- Tiêu điểm không bị lược mà chủ ngữ/ phần nêu/ đề có thể rút gọn. Chẳng hạn lược bỏ thông tin không quan yếu. Ví dụ, - Cô Quế mà anh nói năm nay bao nhiêu tuổi? (...) Mười chín; - Bao giờ đưa cụ ra đồng? Sáng mai (...); Anh ăn ? (...) Phở tái.

BÀI TẬP THỰC HÀNH

1. Nhận diện các kiểu câu theo mục đích phát ngôn

1.1. Hãy thống kê các kiểu câu trong đoạn văn:

a. Một anh, vợ có thai mới được bảy tháng đã đẻ ra đứa con trai. Anh ta sợ nuôi không được, gặp ai cũng hỏi.

Một hôm, anh ta hỏi một người bạn, người bạn an ủi: - Không can gì mà ngại. Bà tôi sinh ra bố tôi cũng đẻ non trước hai tháng đấy.

Anh kia giật mình hỏi lại:

Thế à! rồi có nuôi được không?

(theo Tiếng cười dân gian Việt Nam)

b. Than ôi! Sức người khó lòng địch nổi với sức trời! Thế đê không địch nổi với thế nước! Lo thay! Nguy thay! Khúc đê này hỏng mất.

1.2. Hãy xác định các kiểu câu theo mục đích nói trong bài Chân quê.

Hôm qua em đi tỉnh về/ Đợi em ở mãi con đê đầu làng/ Khăn nhung quần lĩnh rộn ràng/ Áo cài khuy bấm, em làm khổ tôi!/ Nào đâu cái yếm lụa sồi!/ Cái dây lưng đũi nhuộm hồi sang xuân/ Nào đâu cái áo tứ thân!/ Cái khăn mỏ quạ, cái quần nái đen?/ Nói ra sợ mất lòng em/ Van em hãy giữ nguyên quê mùa/ Như hôm em đi lễ chùa/ Cứ ăn mặc thế cho vừa lòng anh./ Hoa chanh nở giữa vườn chanh/ Thầy u mình với chúng mình chân quê/ Hôm qua em đi tỉnh về/ Hương đồng gió nội bay đi ít nhiều.

(Nguyễn Bính)

2. Biến đổi câu theo mục đích phát ngôn

2.1. Hãy diễn đạt bằng các kiểu câu khác nhau nội dung thông báo “ anh sửa cái máy này”.

2.2. Có bao nhiêu cách diễn đạt nếu thay đổi trật tự từ và thêm dấu câu phát ngôn sau đây:

Chị bảo sao không đến.

2.3. Có một đoạn thư tình sau đây viết liên tục. Hãy đặt dấu câu cho thích hợp:

Anna - Maria yêu quý

Người bạn gái yêu quý của tôi tôi không biết do đâu mà tôi đủ can đảm viết thư cho em Chắc hẳn em nghĩ rằng tôi đã quên em từ lâu. Không đâu Ký ức tôi luôn luôn đầy ắp hình bóng em những nụ cười của em Trong ký ức của tôi em mãi là một trong những kỷ niệm êm đềm nhất Hãy nhận ở anh những tình cảm chân thành Maria tình yêu của anh.

2.4. Tập viết đoạn văn dùng các câu miêu tả, nghi vấn, cầu khiến, cảm thán:

2.4.1. Anh (chị) hãy soạn một số kiểu câu hỏi cho một bài phỏng vấn với chủ đề bất kỳ (ví dụ phỏng vấn về vấn đề bạo lực trong học đường, về học sinh nghèo học giỏi, về vai trò thanh niên trong xây dựng nông thôn mới, về chủ trương tuyển sinh viên tốt nghiệp Đại học về làm phó chủ tịch xã ... Bài tập kiểu này thực hiện theo nhóm).

2.4.2. Phân tích sắc thái biểu cảm, nghĩa hàm ngôn các câu hỏi trong thơ của Chế Lan Viên, Tố Hữu, Xuân Diệu.

3. Xác định cấu trúc đề thuyết và tiêu điểm thông báo của câu

3.1. Có bao nhiêu cách nhấn mạnh tiêu điểm thông tin trong các câu sau đây:

- Em đừng tiếc đã gặp anh quá chậm. Trong tình yêu nhanh chậm nghĩa gì đâu?

- Sư đoàn tôi buồn cười lắm! Nhiều cái tên và người cứ đá nhau thật lực. Ông Đúng ở ban quân y thì chuyên cấp thuốc sai. Ông Sai chủ nhiệm pháo binh thì toàn bắn đúng. Còn nữa: Ông Giả chủ nhiệm xe tăng thì toàn ăn thật, ông Thép thì làm tuyên huấn, còn ông Nhộn thì làm cán bộ ... (Chu Lai. Truyện ngắn 2003)

3.2. Những dấu hiệu nào đánh dấu các thông tin khác nhau trong các câu dưới đây:

Bài này được 9 điểm.

Bài này cũng được 9 điểm.

Bài này được có 9 điểm.

Bài này cũng được có 9 điểm.

Bài này mà được 9 điểm.

Bài này mà được có 9 điểm.

4. Hãy vẽ hình cây cú pháp theo đề/ thuyết các phát ngôn sau đây:

4.1. Vẽ sơ đồ cây cú pháp và nhận xét nét giống nhau và khác nhau của hai phát ngôn:

- Con cô Lan Anh đứa nào mắt cũng giống mẹ.

- Con cô Hà đứa thì học văn đứa thì học toán.

4.2. Vẽ hình cây các câu sau đây:

- Sông An Cựu nắng đục, mưa trong. Núi Ngự Bình trước tròn sau méo.

- Quý nhất đời người là chữ nhân.

- Hương học kém thì lạ thật.

- Ăn coi nồi, ngồi coi hướng mới ra con nhà tử tế.

- Sớm mưa trưa nắng là anh yêu mình.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

  1. Diệp Quang Ban (1996), Ngữ pháp tiếng Việt, tập hai, Nxb Giáo dục.

  2. Diệp Quang Ban (chủ biên) – Hoàng Dân (2000), Ngữ pháp tiếng Việt, Nxb Giáo dục.

  3. Diệp Quang Ban (2005), Ngữ pháp tiếng Việt, Nxb Giáo dục.

  4. Đinh Trọng Lạc – Bùi Minh Toán (1998), Tiếng Việt, tập hai, Giáo trình đào tạo giáo viên tiểu học hệ CĐSP và SP 12+ 2, Nxb Giáo dục.

  5. Hoàng Trọng Phiến (1978), Ngữ pháp tiếng Việt (câu), Nxb Đại học và Trung học chuyên nghiệp, Hà Nội.

  6. Nguyễn Hữu Quỳnh (1994), Tiếng Việt hiện đại (Ngữ âm, ngữ pháp, phong cách), Trung tâm biên soạn từ điển bách khoa Việt Nam, Hà Nội.

  7. Nguyễn Thị Thìn (2003), Câu tiếng Việt và nội dung dạy - học câu ở trường phổ thông, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội.

  8. Bùi Minh Toán (2012), Câu trong hoạt động giao tiếp tiếng Việt, Nxb Giáo dục Việt Nam.

1 Đây là cách phân loại của GS. Đinh Văn Đức trong cuốn “Ngữ pháp tiếng Việt”, từ loại – NXB ĐH & THCN, H.1996.

130