DMCA.com Protection Status

GT Phần cơ sở lý luận chuyên đề: " CÔNG TÁC GIÁO DỤC CỦA ĐOÀN T.N.C.S HỒ CHÍ MINH   quan tâm

Được đăng bởi: Trần Việt Thao

Cập nhật lúc 16:30 ngày 03/01/2018


GT Phần cơ sở lý luận chuyên đề: " CÔNG TÁC GIÁO DỤC CỦA ĐOÀN T.N.C.S

HỒ CHÍ MINH THANH HOÁ TRONG THỜI KỲ ĐỔI MỚI

GIAI ĐOẠN(2001 - 2009)-THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP".

------------------------------------------------------------------------------------


Mã số chuyên đề: KH NV GD.KX-2009. ĐTN.

Đơn vị quản lý: Thường trực Tỉnh đoàn Thanh hoá.

Đơn vị thực hiện: Ban tư tưởng- Văn hoá Tỉnh đoàn.

Người trực tiếp tổng hợp, nghiên cứu, biên soạn: Trần Việt Thao- CVC Ban TT- VH.

A- NỘI DUNG CHUYÊN ĐỀ:

-------------------------

I- MỞ ĐẦU.

1, Lý do chọn chuyên đề:

Chúng ta đã biết Đoàn TNCS Hồ Chí Minh là tr­ường học XHCN của TN VN.Vì theo Đảng cộng sản liên xô cho rằng: " Đoàn TNCS về thực chất là trường học CSCN của TN". Đây là chức năng cơ bản của Đoàn- chức năng giáo dục. Đúng như Lê nin nói:" Đoàn TNCS chính là tr­­ường học kế thừa cách mạng của các thế hệ.Mà trên mọi ph­­ương diện, Đoàn là tr­­ường học của sự đoàn kết, tr­­ường học bảo vệ lợi ích của thế hệ trẻ, trư­­ờng học điều hành và quản lý, trư­­ờng học giáo dục, trư­­ờng học đấu tranh giai cấp, tr­­ường học hoạt động chính trị- xã hội, trư­­ờng học đào tạo và tôi luyện thế hệ trẻ ,giáo dục thanh niên là nhiệm vụ trung tâm, chỉ đạo mọi hoạt động của Đoàn." Và Ng­­ười đã để lại lời di huấn thiêng liêng:"Sự nghiệp to lớn và tất yếu của các đồng chí là chuẩn bị cho tuổi trẻ sẵn sàng tham gia cuộc đấu tranh cách mạng và trong việc học tập."( Hồ Chí Minh- Tuyển tập, tập 11).

Mác viết: "….những người công nhân tiên tiến nhất hoàn toàn hiểu rõ rằng: tương lai của giai cấp công nhân và do đó tương lai của nhân loại, hoàn toàn phụ thuộc vào việc giáo dục thế hệ công nhân đang lớn lên".

Lê nin phát biểu tại ĐHIII Đoàn TNCS Nga: " Học CNCS! Vấn đề TN cần phải học CNCS như thế nào đã được trả lời: TN cần phải học CNCS trong một trường học riêng của mình; trong một tổ chức độc lập. Tổ chức đó chính là Đoàn TNCS".

Lê nin nhắc nhở: " Cần phải đòi hỏi ở TN nhiều hơn nữa, cần phải phê phán một cách có nguyên tắc những khuyết điểm của họ, cần phải giáo dục họ tinh thần trách nhiệm cao và nghĩa vụ của họ đối với CM ngay từ thuở thiếu thời".

Lê nin: ",,, Một là phải đặt lên hàng đầu việc giáo dục cho TN thế giới quan CM hoàn chỉnh và triệt để".

Trong NQ của ĐH XXIII Đảng cộng sản Liên xô, theo báo cáo chính trị của BCH TƯ Đảng CS Liên xô có nói:" Cả trong tương lai cần phải giáo dục cho TN nam, nữ niềm tin tưởng cao cả vào lý tưởng và lòng trung thành vô hạn đối với sự nghiệp của Đảng, tình yêu đối với tổ quốc XHCN, sẵn sàng bảo vệ đất nước, tình hữu nghị anh em đối với những người lao động của các nước XHCN, sự đoàn kết quốc tế với tất cả những người bị bóc lột và áp bức".

( " NQ ĐH XXIII Đảng CS liên xô……- NXB chính trị quốc gia, 1966. tr.24).

Năm 1960, tại buổi lễ trọng thể kỷ niệm 30 năm ngày thành lập Đảng, Bác Hồ nói: " Đoàn TN lao động phải là cánh tay đắc lực của Đảng trong việc tổ chức và giáo dục thế hệ TN và nhi đồng thành những chiến sĩ tuyệt đối trung thành với sự nghiệp xây dựng CNXH và CNCS".

( Hồ Chí Minh toàn tập- NXB CTQG,N2000, tập 10, tr21).

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã căn dặn Đảng ta: " Đoàn viên thanh niên ta nói chung là tốt, mọi việc đều hăng hái xung phong, không ngại khó khăn, có chí tiến thủ. Đảng cần phải chăm lo giáo dục đạo đức cách mạng cho họ, đào tạo họ thành những ng­­­ười thừa kế xây dựng chủ nghĩa xã hội vừa " hồng", vừa " chuyên". Bồi d­­­ưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau là một việc rất quan trọng và rất cần thiết."

Giáo dục chính trị- t­­­ư t­­­ưởng là một trong những nội dung quan trọng trong nhiệm vụ giáo dục toàn diện cho thế hệ trẻ, là một nội dung công tác quan trọng của Đoàn TN nhằm hình thành nhân cách con ng­­­ười mới xã hội chủ nghĩa cho TN - những chủ nhân t­­­ương lai của đất n­­­ước, phát huy đội ngũ này thành lực

l­­ượng xung kích sáng tạo, đội dự bị tin cậy của Đảng, kế thừa trung thành và xuất sắc sự nghiệp cách mạng của Đảng, vì mục tiêu:" Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội; dân giàu, nư­­ớc mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh", vì t­ương lai tư­ơi sáng của tuổi trẻ.

Việc nghiên cứu đánh giá công tác giáo dục của Đoàn TNCS Hồ Chí Minh trong từng thời kỳ để khẳng định những chuyển biến tiến bộ trong t­­­ư t­­­ưởng thanh niên và hiệu quả giáo dục của Đoàn; đồng thời xác định rõ những tồn tại, thiếu sót hạn chế, những vấn đề còn bức xúc trong công tác tư­­­ tư­­­ởng, công tác giáo dục của Đoàn là một việc làm hết sức cần thiết để từ đó giúp Đoàn TN tìm ra những giải pháp mới khả thi, hữu hiệu hơn trong công tác Tư­­­ tư­­­ởng- văn hoá nhằm đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ tuyên truyền- giáo dục của Đoàn và nhu cầu tâm lý TN trong giai đoạn mới.

Đó là lý do mà chúng tôi lựa chọn đề tài này với hy vọng góp phần nhỏ bé vào thực hiện ý t­­­ưởng trên.

Chân thành cảm ơn các đ/c trong BTV Tỉnh đoàn, lãnh đạo các ban của Tỉnh đoàn, cùng các nhà giáo dục, các đ/c cựu cán bộ đoàn các thế hệ,…… đã có nhiều ý kiến đóng góp quý báu cho đề tài của chúng tôi.

2, Mục tiêu chọn nội dung chuyên đề: Nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác giáo dục của Đoàn TNTH trong thời kỳ mới, tạo cơ sở năng cao chất lượng nguồn nhân lực trẻ cho sự nghiệp CNH,HĐH quê hương, đất nước.

3, Kết cấu chuyên đề: Gồm có 8 phần, cụ thể như sau:

II- NỘI DUNG TỪNG PHẦN CỦA CHUYÊN ĐỀ:

1, CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA CHUYÊN ĐỀ:

a, Cơ sở lý luận và tài liệu tham khảo:

- Cơ sở lý luận:

+ Về truyền thống giáo dục TN của dân tộc ta:

+ Lý luận của Đảng, Nhà nước, ngành giáo dục về công tác giáo dục TN:

- NQ 181 của Ban bí thư TƯ Đảng về cồng tác vận động TN(11/7/1969):

" …Nhiệm vụ cơ bản của công tác thanh vận và Đoàn TNLĐ là: Đào tạo, bồi dưỡng thế hệ TN mới phát triển toàn diện. Thế hệ đó phải là lớp người kiên quyết chấp hành và có khả năng hoàn thành nhiệm vụ chống Mỹ cứu nước và xây dựng CNXH hiện nay, đồng thời đáp ứng tốt nhu cầu xây dựng CNXH và CNCS sau này, do đó họ phải được giáo dục, bồi dưỡng và phát triển toàn diện: chính trị tư tưởng, văn hoá, kỹ thuật, văn học nghệ thuật, sức khoẻ. Thế hệ TN đó vừa kết tinh những truyền thống tốt đẹp của dân tộc, vừa là lớp người mới, hiện đại có đầy đủ phẩm chất CM của giai cấp công nhân và có trình độ văn hoá khoa học kỹ thuật cao, để cải tạo xã hội cũ, xây dựng xã hội mới. Để thực hiện nhiệm vụ đào tạo con người mới theo mục tiêu trên cần tiến hành một số nhiệm vụ của đoàn, trong đó nhiệm vụ hàng đầu là:

Tăng cường giáo dục toàn diện, nhằm đào tạo thế hệ TN mới.

- "Về chính trị tư tưởng: giáo dục nguyên lý của chủ nghĩa mác-lê nin, đườn lối chính sách của đảng, pháp luật của Nhà nước; giáo dục truyền thống dân tộc, truyền thống CM của đảng, của Đoàn( bao gồm cả truyền thống chung và truyền địa phương). Giáo dục đạo đức nếp sống CM.

- Về văn học nghệ thuật: đẩy mạnh các công tác giáo dục bằng các hoạt động văn hoá, văn nghệ quần chúng, nâng cao kiến thức thẩm mỹ, xây dựng tâm hồn trong sáng, lành mạnh, giáo dục cho ĐVTN đường lối quan điểm nghệ thuật, khắc phục những tàn dư tư tưởng ảnh hưởng tư tưởng tư sản, đế quốc và phong kiến.

- Về sức khoẻ: quan tâm đến đời sống sức khoẻ của TN, phổ biến kiến thức vệ sinh phòng bệnh, rèn luyện thân thể…"

**NQ 26 của Bộ chính trị về tăng cường sự lãnh đạo của đảng đối với công tác TN(4/7/1985): …. Nhiệm vụ của công tác TN là: Giáo dục lý tưởng, đạo đức CM, bồi dưỡng tinh thần và năng lực làm chủ tập thể cho thế hệ trẻ.

Giáo dục cho TN lý tưởng cộng sản chủ nghĩa, thế giới quan Mác- Lê nin, lòng yêu nước XHCN, kết hợp với chủ nghĩa quốc tế vô sản, với truyền thống tốt đẹp của dân tộc, của đảng, làm cho TN hiểu sâu sắc đường lối nhiệm vụ CM đẻ xác định đúng đắn và rõ lý tưởng phấn đấu, tinh thần làm chủ tập thể XHCN, ý thức trách nhiệm của tuổi trẻ đối với sự nghiệp CM của đất nước, thấy rõ hạnh phúc và hoài bão của TN, gắn với hạnh phúc của toàn dân và tương lai của đât nước.

- Giáo dục bồi dưỡng TN về trình độ văn hoá, chính trị , khoa học kỹ thuật về nghề nghiệp vụ, kiến thức quản lý kinh tế XH trở thành lớp người lao động mới có kỹ thuật, có kỹ thuật, có kỹ luật và năng suất lao động cao…."

- Rèn luyện nếp sống và lối sống XHCN trong sáng, lành mạnh, biết yêu lao động, ham tiến bộ, tôn trọng kỷ luật và pháp luật, biết tự trọng, làm chủ được bản thân, trung thực, khiêm tốn, giản dị, biết xử sự đúng đắn mối quan quan hệ trong gia đình, ngoài xã hội, trong tình bạn, tình yêu, tình đồng chí; dũng cảm đấu tranh loại trừ lối sống lạc hậu đồi bại".

** NQ 25 của Bộ chính trị(9/2/1991) về " Đổi mới và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác TN". NQ nêu 3 quan điểm lớn thể hiện ở các vấn đề sau: - NQ khẳng định công TN là nhiệm vụ ưu tiên trong chiến lược con người.

- Xây dựng môi trường thuận lợi để TN phát triển nhân cách và cống hiến nhiều nhất.

- Chăm lo lợi ích của TN là nội dung của công tác thanh vận.

- Xác định trách nhiệm của toàn XH đối với công tác TN. …………………………VVV……

* Những nội dung lớn:

- Công tác đào tạo bồi dưỡng thế hệ trẻ, trước mắt giải quyết 3 vấn đề quan trọng: + Giáo dục, bồi dưỡng sự hình thành người công dân cho TTN.

+ Hình thành con người lao động có nghề nghiệp, có văn hoá và sức khoẻ.

+ Đào tạo tài năng trẻ.

- Giáo dục công dân phát huy truyền thống CM, bồi dưỡng lý tưởng XHCN, đạo đức và lối sống ;lành mạnh cho thế hệ trẻ.

- xây dựng Đoàn là trường học XHCN của TN.

*NQ 4 của BCH TƯ Đảng khoá VII: " Sự nghiệp đổi mới có thành công hay không CMVN có vững bước theo con đường XHCN hay không phần lón tuỳ thuộc vào lực lượng TN, vào bồi dưỡng, rèn luyện thế hệ TN; công tác TN là vấn đề sống còn của dân tộc, là một trong những nhân tố quyết định của CM".

Tư­­ tư­­ởng Hồ Chí Minh là một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt nam, là kết quả của sự vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lê nin vào điều kiện cụ thể n­­ước ta, kế thừa và phát triển các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hoá nhân loại.”

+ Tư tưởng Hồ Chí Minh về TN và công tác giáo dục TN:

" Muốn xây dựng CNXH thì phải bồi dưỡng con người con người XHCN".

" Vì lợi ích 10 năm thì phải trồng cây, vì lợi ích 100 năm thì phải trồng người".

" Muốn có con người XHCN thì phải xây dựng tư tưởng XHCN".

" Đạo đức CM không phải trên trời sa xuống. Nó do đấu tranh, rèn luyện bền bỉ hàng ngày mà phát triển và củng cố, cũng như ngọc càng mài càng sáng, vàng càng luyện càng trong".

" Trong giáo dục, không những phải có tri thức phổ thông mà phải có đạo đức CM".

" Luôn trau dồi đạo đức CM, khiêm tốn và giản dị".

"Ra sức học tập nâng cao trình độ chính trị, văn hoá, khoa học, kỹ thuật và quân sự để cống hiến ngày càng nhiều cho tổ quốc, cho nhân dân".

" Muốn xây dựng CNXH thì nhất định phải có học thức".

" Giáo dục TN không thể tách rời mà phải liên hệ chặt chẽ với những cuộc đấu tranh của xã hội".

" Học mà không đi đôi với hành thì học vô ích. Hành mà không học thì hành không trôi chảy".

" Học ở trường, học ở sách vở, học lẫn nhau và học ở nhân dân".

" Học tập trong việc làm hàng ngày, trong việc lớn cũng như việc nhỏ".

" Phải nêu cao tác phong độc lập suy nghĩ và tự do tư tưởng".

*Cụ thể:

a, Các khái niệm phục vụ nghiên cứu:

+ T­­ư t­­ưởng: hiểu theo nghĩa chung nhất t­­ư t­­ởng là một hình thức tồn tại của ý thức xã hội, kết quả của quá trình nhận thức hiện thực khách quan, trở thành kinh nghiệm và sự hiểu biết trong tâm trí mỗi con ng­ời.

Lê nin coi tư t­­ưởng là hình thức cao của nhận thức, là mục tiêu, chư­­ơng trình, kế hoạch nhằm tiếp tục nhận thức và cải tạo thế giới khách quan- " T­­ư tư­­ởng đó là nhận thức và khát vọng của con ng­­ời."

Theo từ điển triết học: " T­ư tư­ởng là hình thức phản ánh thế giới bên ngoài, trong đó bao hàm sự ý thức về mục đích và triển vọng của việc tiếp tục nhận thức và cải tạo thế giới bên ngoài. T­ư tư­ởng khái quát hoá kinh nghiệm của sự phát triển tri thức tr­ước đó và đ­ược dùng làm nguyên tác để giải thích các hiện tư­ợng. Theo quan điểmcủa chủ nghĩa Mác - Lê nin mọi t­ư t­ưởng đều bắt nguồn từ kinh nghiệm và là sự phản ánh sự vật, hiện t­ợng, quá trình của thế giới khách quan . Tư­ t­ưởng còn xác định các con đ­ường để cải tạo thế giới khách quan ấy. Vì vậy nội dung của bất kỳ tư­ tư­ởng nào cũng đều có việc đề ra mục đích và qui định nhiệm vụ của hoạt động thực tiễn. Sau khi xuất hiện t­ư t­ưởng có tính độc lập t­ương đối và ảnh h­ưởng tích cực trở lại sự phát triển của hiện thực."

Mác nhận định: " Tư tưởng xưa và nay không thể đưa người ta vượt ra ngoài trật tự thế giới cũ, nhiều lắm chúng cũng chỉ có thể đưa người ta vượt ra ngoài phạm vi tư tưởng của trật tự thế giới cũ mà thôi. Tư tưởng nói chung không thể thực hiệnu được gì hết. Muốn thực hiện tư tưởng thì cần có những con người sử dụng được lực lượng thực tiễn".

" Tư tưởng là phần ý thức hình thành chủ yếu do tác động xã hội bao gồm lý tưởng, hoài bão, ước mơ, ý chí, phương hướng, nhiệm vụ, phưong châm hành động, kinh nghiệm,....".

Lý tưởng: " Kiểu mẫu, chuẩn mực, hình tượng trong tư tưởng quy định phương thức và tính chất của hành vi con người".

Hệ tư tưởng: " Toàn bộ hệ thống tư tưởng, quan điểm và khái niệm do điều kiện sinh hoạt vật chất của xã hội( đặc biệt là quan hệ sản xuất, nhất là quyền sở hữu tư liệu sản xuất) quyết định- mang tính chất lịch sử, nó thể hiện những lợi ích của từng giai cấp nhất định, do đó tác động đến tư duy, tình cảm, hành động của con người theo hướng đó".

* “Tư­ t­ưởng XHCN là một hệ thống những quan niệm về những nhu cầu hoạt động thực tiễn và những mơ ­ước của các giai cấp lao động, bị thống trị; về con đ­ường, cách thức và phư­ơng pháp đấu tranh nhằm thực hiện một chế xã hội mà trong đó, tư­ liệu sản xuất là thuộc về toàn xã hội, không có áp bức và bóc lột, bất công, mọi ngư­ời đư­ợc bình đẳng về mọi mặt và đều có cuộc sống tự do, ấm no, hạnh phúc, văn minh”. ( Trích Giáo trình CNXH khoa học- ĐH, CĐ).

T­ư t­ưởng XHCN là một hệ thống những quan niệm về những nhu cầu hoạt động thực tiễn và những ư­ớc mơ của các giai cấp lao động, bị thống trị; về con đ­ường, cách thức và ph­ương pháp đấu tranh nhằm thực hiện một chế độ XH mà trong đó TLSX là thuộc về toàn xã hội, không có áp bức và bóc lột, bất công, mọi ngư­ời đ­ược bình đẳng về mọi mặt và đều có cuộc sống tự do, ấm no, hạnh phúc, văn minh”. Hay nói cách khác:” Tư­ tư­ởng XHCN là những t­ư t­ưởng phản ánh cuộc đấu tranh của đông đảo quần chúng lao động bị áp bức, bóc lột chống lại các giai cấp thống trị bóc lột; những ­ớc mơ, nguyện vọng của tầng lớp lao động nghèo khổ về một xã hội không còn sự áp bức, bóc lột, không còn sự khác biệt giai cấp và đẳng cấp, không có chiến tranh và bạo lực; một xã hội sống trong tình th­ơng yêu, giúp đỡ nhau trên cơ sở quan hệ cộng đồng theo chủ nghĩa tập thể. Tư­ tư­ởng ấy cũng phản ánh quan niệm về những con đ­ờng, giải pháp và những điều kiện để tiến tới xây dựng một xã hội nh­ thế”.

Lịch sử Tư­ tư­ởng XHCN là một bộ môn khoa học của chủ nghĩa Mác- Lê nin “nghiên cứu lịch sử phát sinh, hình thành và phát triển của những ý t­ởng ­ớc mơ; quan điểm, t­ t­ởng, tr­ớc hết là những t­ t­ởng xoá bỏ áp bức, bóc lột, xoá bỏ bất công xã hội. Nghiên cứu lịch sử hình thành và phát triển của những t­ t­ởng về một xã hội t­ơng lai với những đặc tr­ng kinh tế, chính trị, xã hội, văn hoá,…đáp ứng những yêu cầu, nguyện vọng của đa số nhân dân lao động, bảo đảm lợi ích và cuộc sống hạnh phúc của họ; nghiên cứu những t­ư t­ưởng về con đ­ờng và những giải pháp để thực hiện những ư­ớc mơ, nguyện vọng và những nhiệm vụ ấy”.


`Lý luận về cụng tỏc tư tưởng của Đảng:


Lê nin khẳng định: “ Không có lý luận cỏch mạng thỡ khụng cú phong trào cỏch mạng”.

Chỉ đảng nào được một lý luận tiền phong hướng dẫn thỡ mới cú khả năng làm trũn vai trũ chiến sĩ tiờn phong”.( Trớch Lờ nin toàn tập NXb Tiến Bộ Mótcơva 1979-tập 6 TT).

Công tác tư tưởng dưới CNXH là hoạt động có mục đích của Đảng cộng sản và Nhà nước nhằm phát triển, truyền bá hệ tư tưởng XHCN, biến hệ tư tưởng XHCN thành hệ tư twongr chi phối, thống trị trong đời sống tinh thần xó hội, động viên, cổ vũ tính tích cực, tự giác, sáng tạo của nhân dân trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ chế độ XHCN”.( Trích GT Nguyên lý cụng tỏc tư tưởng-2004, Phân viện báo chí TT, HVCTQGHCM).

Mục đích công tác tư tưởng là sự phản ánh những kết quả mong muốn đạt tới; là sự dự báo từ trước về snả phẩm tương lai của hoạt động tư tưởng. Mục đích chung, bao quát của công tác tư tưởng là hỡnh thành một kểu ý thực hệ tương ứng với một hỡnh thỏi kinh tế- XH hay một kiểu kiến trỳc thượng tầng nhất định và hỡnh thành một loại hỡnh tớch cực xó hội của con người.

Nội dung công tác tư tưởng là nội dung các loại hoạt động mà chủ thể công tác tư tưởng phải tiến hành nhằm thực hiện mục đích đặt ra. Nội dung do mục đích công tác tư tưởng và nhiệm vụ cụ thể của mỗi giai đoạn cách mạng quy định

Phương pháp công tác tư tưởng là các con đường, cách thức, biện pháp mà chủ thể sử dụng để truyền đạt và đối tượng sử dụng để lĩnh hội, tiếp nhận nội dung nhằm đạt mục đích đặt ra. Phương pháp công tác tư tưởng trước hết do đối tượng quy định, đồng thời cũn do mục đích và nội dung quy định.

Hỡnh thức cụng tỏc tư tưởng là biểu hiện bề ngoài của nội dung, là hỡnh thức tổ chức hoạt động truyền bá và tiếp nhận nội dung của chủ thể và đối tượng. Hỡnh thức cụng tỏc tư tưởng rất đa dạng, phong phú. Việc lựa chọn hỡnh thức nào là đối tượng và nội dung quy định.

Phương tiện công tác tư tưởng là những vật mang nội dung và phương pháp tác động tư tưởng, là những công cụ công táccủa chủ thể và công cụ mà nhờ nó đối tượng tiếp nhận, lĩnh hội nội dung.

Hiệu quả công tác tư tưởng là sự so sánh giữa kết quả công tác tư tưởng đạt được với mục đích của công tác tư tưởng được đặt ra từ trwocs trong một điều kiện xó hội nhất định và với một chi phí nhất định. Hiệu quả cũng là một yếu tố cuat hoạt động tư tưởng. Nó tham gia vào hoạt động này như là yếu tố điều chỉnh, là lónh thụng tin phản hồi, là kết quả của chu trỡnh tỏc động tư tưởng này nhưng lại là xuất phát điểm của chu trỡnh tỏc động mới, tiếp theo”.( Trích GT Nguyên lý cụng tỏc tư tưởng-2004, Phân viện báo chí TT, HVCTQGHCM).


  • Công tác tư tưởng của Đảng:

  • Đối tượng của công tác tư tưởng của Đảng là ý thức XH và ý thức cỏ nhõn, nú tồn tại khỏch quan trong đời sống tinh thần XH. Nói cách khác: Đối tượng công tác tư tưởng là ý thức con người, với tất cả những diễn biến phức tạp và nội dung phong phú, nhiều mặt của nó.

  • Công tác tư tưởng của đảng là tác động định hướng của Đảng lên trạng thái và quá trỡnh vận đông của ý thức XH theo các quy luật riêng của nó. Tác động này nhằm định hướng nhận thức, giải quyết mâu thuẫn, tư tưởng và phát triển tiềm năng sáng tạo của lĩnh vực tinh thần, góp phần hỡnh thành những con người mới và xó hội mới. Nội dung cơ bản của nó là xác lập thế giới quan và hệ tư tưởng của giai cấp công nhân.

  • Đại hội VII của Đảng xác định rừ: “ Cụng tỏc chớnh trị tư tưởng có nhiệm vụ làm cho thế giứoi quan Mác- Lê nin, Tư tưởng Hồ Chí Minh thấm nhuần trong đảng và giữu vị trí chỉ đạo trong đời sống tinh thần xó hội, nõng cao ý chớ phấn đấu, xây dựng niềm tin vững chắc vào con đường XHCN, đấu tranh không khoan nhượng với các luận điệu xuyên tạc đường lối, chính sách của Đảng, xây dựng phương pháp tư duy khoa học, chống chủ nghĩa giáo điều, chủ nghĩa kinh nghiệm và chủ nghĩa cơ hội dưới mọi màu sắc; khắc phục những biểu hiện bi quan, dao động, giảm sút ý chí phấn đấu, bảo thủ trỡ trệ, chủ quan núng vội. Đặc biệt, chú trọng giáo dục lý tưởng cách mạng cho thế hệ trẻ”.

  • Công tác tư tưởng của Đảng có 5 nhiệm vụ chủ yếu và thường xuyên sau:

  • Một là, phỏt triển lý luận gắn liền với tổng kết thực tiễn.

  • Hai là, truyền bỏ lý luận, nõng cao kiến thức chớnh trị, xõy dựng phương pháp tư duy khoa học.

  • Ba là, tuyên truyền và cổ động thực hiện các nhiệm vụ trước mắt.

  • Bốn là, giáo dục đạo đức, phâmt chất chính trị.

  • Năm là, dự báo xu hướng phát triển của tỡnh hỡnh diễn biến tư tưởng và các vấn đề lý luận sẽ nảy sinh.

  • Một số nguyờn lý nền tảng của cụng tỏc tư tưởng:

1, Tồn tại XH quyết định ý thức XH nhưng ý thức XH cú vai trũ độc lập tương đối trong sự phát triển của nó.

2, Tư tưởng con người gắn với lợi ớch của họ.

3, Nhận thức của con người vốn có tính biện chứng. Quá trỡnh tư tưởng diễn ra trong mâu thuẫn và thông qua các mâu thuẫn.

4, Con người là một thực thể sinh vật- tâm lý- xó hội( tõm lý cỏ nhõn, tớnh đa dạng của nhân cách).


  • Cỏc nguyờn tắc công tác tư tưởng:

1, Nguyên tắc tính đảng.

2, Nguyờn tắc tớnh khoa học.

3, Nguyờn tắc thống nhất giữa lý luận với thực tiễn, lời núi đi đôi với việc làm.

* Một số đặc điểm công tác tư tưởng trong điều kiện đổi mới:

1, Trong phệ phỏn cỏi cũ, sửa chữa sai lầm và xác lập cái mới đó xuất hiện những khuynh hướng tư tưởng cực đoan.

2, Có xu hướng muốn lái công cuộc đổi mới đi chệch hướng, có lực lượng gây rối và phá hoại quá trỡnh đổi mới.

3, Đổi mới tất yếu phải trói qua một thời kỳ quỏ độ, đan xen giữa cái cũ và cái mới, giưó ổn định với đổi mới và phát triển.

4, Mỗi chủ trương, biện pháp đổi mới, ngoài việc đem lại các tác dụng tích cực, cũng có thể cũn gõy ra những tỏc động tiêu cực.

5, Nhiều vấn đề lý luận về thực tiễn của công cuộc đổi mới chưa được làm sỏng tỏ kịp thời.


Chủ nghĩa xã hội khoa học là môn khoa học nghiên cứu những điều kiện, nội dung và bản chất của sự nghiệp giải phóng thế giới của giai cấp vô sản. Nh­ vậy có nghĩa là nghiên cứu những vấn đề lý luận và chiến l­ợc, sách l­ợc của cuộc đấu tranh giai cấp của giai cấp vô sản nhằm “Thủ tiêu hoàn toàn và triệt để mọi sự bóc lột và mọi sự áp bức”. Đó là vấn đề cơ bản nhất giúp cho giai cấp vô sản có thể tự giải phóng, đồng thời giải phóng toàn thể nhân loại”.

“ CNXH khoa học nghiên cứu những quy luật xã hội- chính trị chung của một thời kỳ lịch sử nhất định, thời kỳ chuyển biến chính trị từ xã hội TBCN lên XH CSCN”. Nh­ vậy CNXH khoa học không nghiên cứu những quy luật XH chung nhất của quá trình phát triển của XH loài ng­ời, không trực tiếp nghiên cứu những quy luật kinh tế”.

…” Nội dung lý luận cuả CNXH khoa học như­: lý luận về sứ mệnh lịch sử thế giới của giai cấp vô sản, về những quy luật của cuộc đấu tranmh của giai cấp vô sản, về CM vô sản và chuyên chính vô sản, về những ph­ơng pháp giải quyết các vấn đề dân tộc, nông dân, tôn gioá, hôn nhân và gia đình, về chiến l­ược và sách lư­ợc đấu tranh giai cấp của giai cấp vô sản,…”.

- Công tác t­ư t­ưởng: là hoạt động có mục đích của một giai cấp, một chính Đảng, một đoàn thể chính trị - xã hội nhằm xây dựng, xác lập, phát triển và truyền bá hệ tư­ tư­ởng trong quần chúng, định hư­ớng giá trị, tạo niềm tin và thúc đẩy quần chúng hành động vì lợi ích của chủ thể t­ư t­ưởng.

- Công tác chính trị - t­ư t­ưởng: là những hoạt động cụ thể để tuyên truyền- giáo dục cho cán bộ, đảng viên, đoàn viên và nhân dân về các chủ trư­ơng , đ­ường lối của Đảng, chính sách , pháp luật của Nhà nư­ớc và chư­ơng trình công tác của cơ sở để nhằm tạo ra sự nhất trí, quyết tâm thực hiện thắng lợi đ­ường lối, chính sách, pháp luật và nhiệm vụ ở cơ sở.

- Tuyên truyền là truyền bá TT-Giáo dục chính trị tư tưởng lý luận về giai cấp, về tất cả những vấn đề trong cuộc sống, TT giúp ta hiểu một vấn đề theo một quan điểm chính trị nhất định.

Thông tin: là sự kiện đã, đang, sẽ xảy ra ở một thời điểm nhất định.

Mặt khác,Thông tin là thông báo tình hình mọi mặt của cuộc sống nhằm thoã mãn nhu cầu hiểu biết của mọi ngươì.

Thông tin: được quan niệm là tất cả những gì có thể giúp cho con người hiểu được về đối tượng được quan tâm nghiên cứu. Nói cụ thể hơn, thông tin là tất cả những nhân tố góp phần giúp cho con người nắm bắt và nhận thức một cách đúng đắn và đầy đủ các hiện tượng xảy ra trong không gian và thời gian, các vấn đề chủ quan và khách quan…..để trên cơ sở đó, có thể đưa ra những quyết định chính xác kịp thời, có hiệu quả và có ý nghĩa tích cực nhất.

Thông tin bao gồm tất cả những thu thập có tính ghi chép, sao chụp, thống kê, tổng kết; những nhận định, dự báo, dự đoán, những dự kiến, kế hoạch, chương trình,….

Thông tin: Tin về đặc điểm, tính chất, hoạt động của đối tuợng quản lý.

Tin tức là sự việc mới xảy ra, sự việc là cơ sở của tin tức và nó trở thành thời sự khi nó quan trọng và được loan báo cùng với đường lối, chính sách, nghị quyết.

- Tuyên truyền cổ động theo nghĩa rộng là hoạt động có mục đích của một chủ thể nhằm truyền bá những tri thức, giá trị tinh thần, t­ư t­ưởng đến đối tư­ợng, biến những tri thức, giá trị tinh thần, t­ư t­ưởng đó thành nhận thức niềm tin, tình cảm, cổ vũ đối t­ượng hành động theo những định h­ướng do chủ thể tuyên truyền đặt ra.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói : " Tuyên truyền là đem một việc gì nói cho dân hiểu, dân nhớ, dân theo, dân làm. Nếu không đạt đ­ược mục đích đó là tuyên truyền thất bại."

+ Tuyên truyền miệng: là một hình thức tuyên truyền đặc biệt của

ph­ương thức chủ yếu đ­ược tiến hành thông qua sự giao tiếp bằng lời nói trực tiếp giữa ngư­ời nói( nhà tuyên truyền) với ng­ời nghe( đối t­ượng tuyên truyền) mà không có một sự ngăn cách nào nhằm nâng cao nhận thức, củng cố và xây dựng niềm tin, cổ vũ mọi ng­ười cùng suy nghĩ và hành động theo những yêu cầu cụ thể của nhiệm vụ tuyên truyền đặt ra.

* Lý luận về giáo dục:

- Giáo dục: là hoạt động nhằm tác động một cách có hệ thống đến sự phát triển tinh thần, thể chất của một đối t­ượng nào đó, làm cho đối t­ượng ấy dần dần có đ­ược phẩm chất và năng lực nh­ư yêu cầu đặt ra.

Về bản chất :Giáo dục là một quá trình truyền thụ kinh nghiệm lịch sử và tri thức cho thế hệ trẻ.

Về hoạt động: Giáo dục là quá trình tác động đến các đối tượng giáo dục để hình thành cho họ và những phẩm chất và năng lực cần thiết.

Theo nghĩa rộng: Giáo dục là sự hình thành có tổ chức, có mục đích những sức mạnh tinh thần và thể chất của con người, sự hình thành lý tưởng, thế giới quan, bộ mặt đạo đức. Như vậy giáo dục là phát triển con người về mọi mặt.

Theo nghĩa hẹp: Giáo dục là công tác chuyên biệt do nhà giáo dục tiến hành nhằm bồi dưỡng cho người được giáo dục những quan điểm, những phẩm chất, ý chí và đạo đức nhất định. Hình thành cho được những hành vi và thói quen đạo đức, những tình cảm và thị hiếu thẩm mỹ. Những phẩm chất và năng lực về thể chất và lao động.( Như vậy, theo nghĩa hẹp, giáo dục không đụng chạm đến giáo dục tri thức và khoa học).

Giáo dưỡng là quá trình bồi dưỡng cho học viên một hệ thống những tri thức khoa học, những kỹ năng, kỹ xảo vận dụng tri thức vào cuộc sống nhằm phát triển năng lực nhận thức, năng lực sáng tạo. Trên cơ sở đó hình thành thế giới quan khoa học và nhân sinh quan CSCN.

- Quá trình giáo dục là quá trình hình thành con người mới dưới ảnh hưởng của những tác động có mục đích, có kế hoạch của nhà giáo dục nhằm bồi dưỡng cho TN những cơ sở của thế giới quan cộng sản chủ nghĩa, bồi dưỡng thái độ cộng sản chủ nghĩa đối với cuộc sống; bồi dưỡng những những phẩm chất đạo đức CSCN, bồi dưỡng những tình cảm thẩm mỹ giúp cho họ biến những yêu cầu đó từ những yêu cầu khách quan của xã hội đối với họ thành những năng lực và những phẩm chất, những nét tính cách, nhân cách trọn vẹn của con người mới XHCN theo mục đích của nền giáo dục XHCN hiện nay.

- Bản chất của quá trình giáo dục là quá trình tổ chức cuộc sống, hoạt động và giao lưu cho ĐVTN, nhằm giúp cho họ nhận thức đúng, tạo lập tình cảm và thái độ đúng, hình thành những thói quen hành vi văn minh trong cuộc sống, phù hợp với chuẩn mực xã hội.

- Những đặc điểm của quá trình giáo dục:

+ Giáo dục là quá trình có mục đích xuất phát từ những yêu cầu xã hội, từ mongh muốn của các nhà giáo dục hướng dẫn thế hệ trẻ vươn tới những chuẩn mực đạo đức xã hội, phù hợp với truyền thống dân tộc và thời đại.

+ Giáo dục là quá trình lâu dài được thực hiện trong suốt cuộc đời con người, được thực hiện ở mọi lúc mọi lúc, mọi nơi.

+ Giáo dục là là quá trình phức tạp, diễn ra với nhiều mâu thuẫn. Mâu thuẫn giữa yêu cầu chung của xã hội với xu hướng và nguyện vọng riêng của cá nhân, mâu thuẫn giữa yêu cầu với khả năng thực hiện ở mỗi cá nhân. Vì vậy giáo dục là quá trình khó điều khiển.

+ Giáo dục không phải là hoạt động riêng rẽ mà thực hiện ngay trong cuộc sống, hoạt động và giao lưu của con người.

+ Giáo dục là quá trình chịu nhiều nhân tố chủ quan và khách quan, giáo dục gắn liền với tự giáo dục. Giáo dục chỉ thực sự có hiệu quả khi mỗi người biến yêu cầu của xã hội thành yêu cầu với chính bản thân mình.

+ Giáo dục gắn liền với dạy học nhưng không đồng nhất, giáo dục và dạy học cùng có chung mục đích là hình thành phát triển nhân cách nhưng chức năng chủ yếu của giáo dục là bồi dưỡng ý thức hành vi trong cuộc sống.


* Quá trình giáo dục là một quá trình tác động về các mặt nhận thức, tình cảm, ý chí, hành động; bao gồm các khâu:

Khâu1: Xây dựng những biểu tượng và khái niệm đúng đắn về thế giới quan, về đạo đức, về thẩm mỹ hình thành nhận thức.

Khâu2: Bồi dưỡng tình cảm và biến những khái niệm thành niềm tin làm động cơ thúc đẩy hành động.

Khâu 3: Rèn luyện những kỹ năng, kỹ xảo, tạo lập cho con người có thói quen, hành vi đúng đắn văn minh.

* 7 nguyên tắc giáo dục: nguyên tắc giáo dục là những luận điểm cơ bản có tính quy luật của lý luận giáo dục, giữ vai trò chỉ, hướng dẫn toàn bộ quá trình giáo dục đạt tới mục đích, hình thành và phát triển nhân cách toàn diện của TN.

- Đảm bảo tính mục đích CSCN( để hình thành cho TN những phẩm chất của con người mới XHCN).

- Rèn luyện trong thực tiễn.

- Giáo dục trong tập thể và bằng tập thể.

- Kết hợp tôn trọng và yêu cầu cao đối với TN(nền giáo dục XHCN tôn trọng giá trị con người, làm cho giá trị đó ngày càng nâng cao)- đây là nguyên tắc cơ bản.

- Phát huy ưu điểm, khắc phục nhược điểm.

- Thống nhất các yêu cầu và tác động giáo dục.

- Giáo dục phải căn cứ vào đặc điểm của đối tượng.

* Phương pháp giáo dục:

KN: Phương pháp giáo dục là tổng hợp những biện pháp, những cách thức tác động có hệ thống đến ý thức, đến ý chí của TN nhằm hình thành ở tuổi trẻ những niềm tin, những kỹ xảo và hành vi đạo đức CSCN.

- Có 2 nhóm phương pháp:

+ Nhóm phương pháp thuyết phục: bao gồm phương pháp giải thích, phương pháp đàm thoại, tranh luận, thảo luận; phương pháp nói chuyện riêng, pp nêu gương. Chủ yếu tác động bằng lời nói kết hợp với việc làm cụ thể.

+ Nhóm phương pháp tổ chức hoạt động trong thực tiễn:

Luyện tập và pp rèn luyện thực hành trong cuộc sống( PP này tiến hành chủ yếu bằng hành động củaTN).

+ Nhóm phương pháp hỗ trợ( PP biểu dương, phê bình) gồm: PP khen thưởng, khuyến khích và trách phạt. Nó có ý nghĩa đánh giá việc làm của TN.

* Mục đích của nền giáo dục XHCN nói chung là đào tạo con người mới XHCN phát triển toàn diện theo quan điểm của chủ nghĩa Mác- Lê nin.

Giáo dục Việt nam nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực và bồi dưỡng nhân tài, làm cho giáo dục trở thành động lực thúc đẩy sự tiến bộ xã hội.

* Vị trí của giáo dục:

Đ/c Lê Duẩn nói: " Có con người là có giáo dục, đời nọ qua đời nọ qua đời kia con người luôn luôn gắn với giáo dục, giáo dục là một nhu cầu để sinh tồn".

- Giáo dục là một nhu cầu sống còn của xã hội loài người.

- Giáo dục là một phương thức đấu tranh giai cấp.

- Giáo dục là một phương thức thúc đẩy kinh tế phát triển.

- Giáo dục là phương thức nâng cao trình độ văn hoá .

* Nguyên lý giáo dục là những quan diểm giáo dục cơ bản chi phối và chỉ đạo toàn bộ hoạt động giáo dục nhằm thực hiện mục đích giáo dục.

Nguyên lý( phương châm) giáo dục: " Học đi đôi với hành, giáo dục kết hợp với lao động sản xuất, nhà trường gắn liền với đời sống xã hội".( NQIX của Đảng).


* Vai trò, tác dụng của giáo dục: Giáo dục có tác động chủ đạo trong việc giáo dục cá nhân vì hoạt động giáo dục là hoạt động có mục đích, có phương hướng, có kế hoạch, có tổ chức, có yêu cầu cụ thể. Một mặt, nó phát huy tính tích cực của bẩm sinh di truyền . Mặt khác, nó làm mất đi những nét tiêu cực.

- Tác dụng đối với hoàn cảnh: giáo dục lựa chọn những nét tích cực của hoàn cảnh và phát huy tính tích cực của hoàn cảnh đó.

* Tính chất của giáo dục:

- Giáo dục là hiện tượng có tính lịch sử: Giáo dục xuất hiện do nhu cầu của lịch sử xã hội, nó phản ánh trình độ phát triển của lịch sử, bị quy định bởi điều kiện kinh tế,văn hoá,- xã hội, mặt khác lại tác động tích cực vào sự phát triển của lịch sử xã hội. Mỗi giai đoạn phát triển của lịch sử xã hội có nền giáo dục đặc trưng cho giai đoạn phát triển đó. Tương ứng với trình độ phát triển kinh tế- xã hội, mục đích giáo dục, nội dung giáo dục, phương pháp giáo dục cũng như vai trò và vị trí của giáo dục củng có những đặc trưng riêng.

- Giáo dục có tính giai cấp: Trong xã hội có giai cấp, giáo dục được sử dụng như một công cụ của giai cấp cầm quyền nhằm duy trì quyền lợi của mình thông qua mục đích, nội dung và phương pháp giáo dục.

Nền giáo dục Việt nam là nền giáo dục XHCN, có tính nhân dân, dân tộc, khoa học, hiện đại lấy chủ nghĩa Mác- Lê nin và Tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng.

- Giáo dục là hiện tượng vĩnh hằng tồn tai cùng với xã hội loài người:

+ Giáo dục là hiện tượng phổ biến vì bất cứ ở đâu, thời điểm nào có sự tồn tại mối quan hệ giữa con người với con người thì ở đó diễn ra hoạt động giáo dục.

+ Giáo dục nảy sinh từ lao động sản xuất và gắn chặt với lao động sản xuất, với đời sống xã hội loài người; giáo dục gắn liền với sự tồn tại và phát triển của xã hội loài người.

* Chức năng của giáo dục chính là bồi dưỡng phát huy sức lao động mới, con người mới XHCN; làm cho sức lao động của thế hệ trẻ vượt hơn về chất lượng và số lượng của thế hệ hiện tại. Như vậy giáo dục là một bộ phận của quá trình tái sx sức lao động xã hội. Giáo dục có 2 chức năng chính là:

+ Chức năng văn hoá- xã hội: Giáo dục là quá trình truyền đạt lịch sử và lĩnh hội kinh nghiệm lịch sử- xã hội của các thế hệ, vì vậy giáo dục là phương thức đặc trưng cơ bản để bảo tồn và phát triển văn hoá nhân loại." Con người sinh ra tất cả còn lại là giáo dục". Giáo dục nhằm xây dựng và hình thành mẫu người mà xã hội yêu cầu, qua đó mà đóng góp vào sự phát triển của xã hội.Giáo dục nhằm nâng cao dân trí, ngày nay một quốc gia hùng mạnh là quốc gia có nền dân trí cao. Giáo dục làm cho mỗi người trở thành công dân có ích cho xã hội, làm cho xã hội văn minh và công bằng, giáo dục có sứ mệnh giúp cho mọi người được phát huy tất cả mọi tài năng và tất cả mọi tiềm lực sáng tạo " Tương lai của con người hoàn toàn phụ thuộc vào giáo dục"( Allvin Tofer).

Năm 1992, UNESCO đã chỉ rõ: ' Không có một sự tiến bộ và thành đạt nào có thể tách khỏi sự tiến bộ và thành đạt trong lĩnh vực giáo dục của mỗi quốc gia đó. Và những nước nào coi nhẹ giáo dục hoặc không đủ tri thức và khả năng cần thiết để làm giáo dục một cách có hiệu quả thì số phận của quốc gia đó xem như đã an bài và điều đó còn tồi tệ hơn cả sự phá sản".

+ Chức năng kinh tế: giáo dục đào tạo nhân lực cho tất cả các ngành, các lĩnh vực kinh tế, văn hoá, xã hội, đảm bảo cho xã hội vận động và phát triển. Như vậy, giáo dục tái sản xuất sức lao động xã hội.

* 5 nhiệm vụ cơ bản của giáo dục:

- Giáo dục tư tưởng và đạo đức CSCN.

- Giáo dục trí tuệ( hình thành thế giới quan khoa học, trang bị kiến thức khoa học hiện đại, hình thành kỹ năng, kỹ xảo ứng dụng tri thức vào thực tiễn).

- Giáo dục lao động và kỹ thuật tổng hợp.

- Giáo dục thể chất ( Thể lực).

- Giáo dục thẩm mỹ( cái đẹp trong học tập, lao động, cuộc sống).

*" Mục tiêu của công tác Tuyên truyền- giáo dục: Biến những tri thức khoa học, đặc biệt là những tri thức khoa học xã hội, đường lối chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước thành niềm tin, thành hành động của cán bộ, nhân dân ở cơ sở là mục tiêu của công tác tuyên truyền, giáo dục".

Niềm tin: " Niềm tin là sự hoà quyện một cách hữu cơ giữa kiến thức, ý chí sẵn sàng hành động của mỗi người phù hợp với những định hướng, các chuẩn mực giá trị mà bản thân đã lĩnh hội".

Niềm tin bao gồm: tri thức, tình cảm và ý chí, chúng hoà quyện lại với nhau. Những tri thức trong niềm tin là toàn bộ những hiểu biết, những kinh nghiệm, những phán đoán, khái niệm về đối tượng mà chủ thể đã chọn lọc và chấp nhận. Các yếu tố tri thức, tình cảm, ý chí hoà quyện với nhau trở thành động lực thúc đẩy con người hành động. Khi một trong ba yếu tố đó mất đi thì niềm tin cũng không còn trọn vẹn vững chắc. Thông thường sự giảm sút và mất niềm tin bắt đầu từ nhận thức cảm tính, từ thực tiễn, từ tình cảm.

*Những biện pháp chủ yếu nâng cao chất lượng công tác tuyên truyền, giáo dục quần chúng ở cơ sở:

- Một là, điều tra, dự báo tình hình phát triển tư tưởng, dự đoán về dư luận, tâm trạng của quần chúng trước những sự kiện, những bước ngoặt của xã hội sẽ xảy ra là biện pháp cần thiết để xác định nội dung, hình thức tuyên truyền,giáo dục quần chúng.

- Hai là, giáo dục tư tưởng.

- Ba là, kết hợp lý luận và thực tiễn.

- Bốn là, giáo dục niềm tin vào con đường di lên CNXH cho quần chúng

- Năm là, phải luôn đấu tranh không khoan nhượng với các âm mưu, thủ đoạn phá hoại về tư tưởng của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực phản động, thù địch với CNXH và dân tộc VN.

- Sáu là, đấu tranh chống các tư tưởng phản động, lạc hậu và tâm lý mê tín dị đoan.

- Bảy là, rèn luyện, bồi dưỡng nhân các và nâng cao uy tín của cán bộ lãnh đạo, quản lý, cán bộ tuyên truyền ở cơ sở.

+ Lý luận của Đoàn về công tác giáo dục TN:

*Hình thức giáo dục tổng hợp bao gồm cả 3 phương pháp: tuyên truyền miệng, bằng thực tế( phong trào hành động), bằng trực quan.

- Có 14 hình thức giáo dục sau:


  1. + Gd thông qua hành động CM.

  2. + giáo dục chính trị tư tưởng thông qua SH chính trị.

  3. +………………………………………..SH chuyên đề.

  4. + Giáo dục chính trị tư tưởng thông qua diễn đàn TN.

  5. + -----------------------------------------------hội thảo.

  6. + …………………………………………Đối thoại.

  7. +…………………………………………SH thường kỳ của Đoàn.

  8. +…………………………………………CLB chính trị của Đoàn.

  9. +…………………………………………Gd cá biệt.

  10. +………………………………………. Nêu gương điển hình người tốt, việc tốt.

  11. +………………………………………Văn hoá VN.

  12. +………………………………………. Vũ hội hoá trang( múa, hát, kịch, điện ảnh để minh hoạ một chủ đề).

  13. +………………………………………hái hoa dân chủ.

  14. +…………………………….Tạo môi trường kích thích khả năng giáo dục đồng đẳng, tự giáo dục.


* Tiêu chuẩn đánh giá công tác TT- Giáo dục chính trị tư tưởng:

- Có được nhận thức mới, tình cảm mới hay không?

- Có tác động đến hiệu quả công tác hàng ngày.

- Tính tích cực XH được nâng lên.

- Hứng thú với việc học tập chính trị và hoạt động chính trị.

* Những điều kiện để đảm bảo công tác giáo dục thắng lợi:

- Đảm bảo sự lãnh đạo của Đảng và phối hợp với các ngành.

- Có bộ máy và cơ chế hoạt động.

- Có cơ sở vật chất, phương tiện cho công tác giáo dục.

- Biết làm công tác giáo dục sát đối tượng.

* Giáo dục CSCN cho TN bao hàm:

- Giáo dục CN Mác- Lê nin, Tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối chính sách của Đảng.

- Giáo dục truyền thống.

- Giáo dục lý tưởng, đạo đức, nếp sống.


- Giáo dục hệ thống giá trị đạo đức nhân văn: là quá trình tổ chức hoạt động giáo dục bằng nhiều con đường, biện pháp giúp mọi người hiểu biết hệ thống giá trị đạo đức, nhân văn theo yêu cầu phát triển của xã hội và giúp mọi người tự giác, có nhu cầu thực hiện những chuẩn mực đó( Giá trị nhân văn là những giá trị chung bảo đảm cho sự tồn tại, sống và phát triển chung cho mọi người, mọi dân tộc, mọi quốc gia. Giá trị là sự thừa nhận của con người với một đối tượng nào đó mà họ cho là có ý nghĩa, cần thiết, ích lợi và đáng yêu. Hệ giá trị là những giá trị được sắp xếp theo một hệ thống với những nguyên tắc nhất định.).

Những nội dung giáo dục giá trị đạo đức nhân văn( Theo hội nghị giáo dục tổ chức tại Philippin 3/1994 " Chuẩn bị kỹ họp thứ 44 của Đại hội đồng quốc tế về giáo dục", được thể hiện ở nội dung của 8 nhóm giá trị sau:

+ Những giá trị liên quan đến quyền con người: đảm bảo bình đẳng, công lý, yêu mến và chăm sóc, bảo vệ quyền trẻ em, quyền phụ nữ, quyền được lao động.

+ Những giá trị dân chủ: quyền tham gia vào các hoạt động, tín ngưỡng và tự do ngôn luận.

+ Những giá trị liên quan đến hợp tác và hoà bình: chung sống hoà bình, yêu hoà bình và sự hài hoà, không bạo lực, phụ thuộc lẫn nhau, hiểu biết lẫn nhau, hợp tác, tôn trọng lẫn nhau giữa các dân tộc, tăng cường hiểu biết quốc tế, văn hoá hoà bình và hợp tác.

+ Những giá trị liên quan đến bảo vệ môi trường: bảo vệ bền vững môi trường, thống nhất giữa con người và tự nhiên.

+ những giá trị liên quan đến sự bảo tồn các nền văn hoá.

+ Những giá trị liên quan đến bản thân và người khác: Tin cậy lẫn nhau, sáng tạo, ân cần, khôn ngoan, ngay thẳng, sẵn sàng tiếp thu cái mới, can đảm, thật thà, hài hước, tự lực, tự trọng, tuân thủ kỷ luật, chân thành, tự trọng và tôn trọng người khác, sống hài hoà, khoan dung, khiêm tốn, tinh thần trách nhiệm, quan tâm lịch sự, thiện cảm, biết ơn, chia sẻ, hoà giải, đoàn kết đồng cảm, tiết kiệm, giản dị, ngay thẳng, thân mật.

+ Những giá trị liên quan đến tinh thần dân tộc: lòng yêu nước, bình đẳng giữa các dân tộc, hiểu biết quyền và nghĩa vụ giữa các dân tộc.

+ Những giá trị tâm linh: Tôn trộng tín ngưỡng tôn giáo của người khác, đối xử bình đẳng với mọi tôn giáo.

Theo nghiên cứu của các nhà giáo dục Việt nam( Đề tài KX07-04), những gía trị cần giáo dục cho TTN, học sinh- sinh viên là:

1, Hoà bình, ổn định, an ninh của đất nước.

2, Độc lập và thống nhất tổ quốc.

3, Tự do và dân chủ.

4, Lòng nhân đạo, sống tình nghĩa, đoàn kết tương trợ.

5, Truyền thống hiếu học, tôn sư, trọng đạo, trọng hiền tài, học vấn.

6, Những giá trị nghề nghiệp: Tri thức, kỹ năng, phẩm chất nghề nghiệp.

7, Tình yêu và cuộc sống gia đình.

8, Sức khoẻ cá nhân và cộng đồng.

9, nếp sống cần kiệm, có kỷ luật, pháp luật.

10, Những giá trị về giới.

Những giá trị trên sẽ được cụ thể hoá phù hợp với đặc thù của từng đối tượng.

( Trích giáo trình Đề cương môn học giáo dục học- Khoa sư phạm- Trường Cao đẳng sư phạm kỹ thuật Nam định- trang 39; 40).

“ Chúng ta đã biết: “Lý tưởng là mục tiêu cao đẹp được phản ánh trong đầu óc con người dưới hình thức một hình ảnh mẫu mực, hoàn chỉnh có sức lôi cuốn họ vào hoạt động vươn tới mục tiêu đó”.

Lý tưởng cách mạng là mục tiêu cao đẹp, là lẽ sống, là mục đích sống của thanh niên, là ước vọng của tuổi trẻ muốn vươn tới cái hay, cái đẹp, cái tiên tiến nhất của cuộc sống. Lý tưởng vừa là mục tiêu cao cả mà con người hướng tới vừa là động lực thúc đẩy con người hành động.

Lý tưởng cách mạng của thanh niên Việt Nam ngày nay không thể tách rời lý tưởng cách mạng của Đảng, của dân tộc; đó là: “Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”. Lý tưởng cách mạng bao gồm 4 nội dung chính đó là:

- Lý tưởng chính trị: Lý tưởng chính trị của Thanh niên Việt Nam hiện nay là độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, là niềm tự hào dân tộc quyết vươn lên chiến thắng đói nghèo, lạc hậu, góp sức mình vào sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá của đất nước, của dân tộc, vì dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng dân chủ văn minh. Lý tưởng chính trị là hạt nhân cốt lõi của lý tưởng cách mạng.

- Lý tưởng đạo đức: Lý tưởng đạo đức là niềm tin và ý thức chấp hành chuẩn mực của cộng đồng và xã hội, vươn tới một nhân cách hoàn thiện, sống có đạo đức. trách nhiệm, sống chung thuỷ, trung thực, giản dị, lành mạnh và thân ái.

- Lý tưởng nghề nghiệp: Lý tưởng nghề nghiệp là hướng tới một nghề nghiệp, một chuyên môn hợp năng lực sở trường, có lợi cho xã hội, gia đình, bản thân. Lý tưởng của thanh niên ngày nay là học tập, rèn luyện chuyên môn, nghề nghiệp để làm người có ích phụng sự tổ quốc, phụng sự nhân dân như lời Bác Hồ dạy và lập nghiệp cho gia đình, cho bản thân.

- Lý tưởng thẩm mỹ: Lý tưởng thẩm mỹ chính là cách nhìn nhận và xu thế hướng vươn tới cái đẹp, cái đúng đắn, chân, thiện, mỹ, cái đẹp bản chất trong cuộc sống và trong nghệ thuật”.


" Lối sống là sự thể hiện đời sống thông qua các cách thức và hình thức hoạt động xã hội theo nhưngx lý tưởng nhất định. Lối sống của chúng ta là lối sống XHCN thể hiện một mặt của nền văn hoá mới XHCN. Cùng một nội dung với lối sống nhưng sống như thế nào, bằng cách nào đó là lối sống, nói cách khác lối sống là văn hoá của đời sống".

Lẽ sống: là sự định hướng của lối sống, là khát vọng, là lý tưởng, là ý chí dẫn dắt toàn bộ con người sống như thế nào, sống để làm gì, sống cho cá nhân mình hay cho đất nước, đó là những vấn đề cơ bản của lẽ sống. Lẽ sống của chúng ta hiện nay là tất cả vì tổ quốc XHCN, vì hạnh phúc của nhân dân.

Nếp sống : Chính là mặt ổn định, là chiều sâu của lối sống, tất cả những cáhc thức làm ăn, suy nghĩ, đối xử đã được mọi người trong xã hội thừa nhận là đúng và đều làm theo như thế được, lắp đi , lắp lại lâu ngày, lâu đời thành thói quen xã hội, thành phong tục tập quán, thành thể chế luân lý, pháp luật của toàn xã hội, của cả một thời và có khi truyền từ đời này sang đời khác; đó là nếp sống.

Nếp sống XHCN mà chúng ta đang xây dựng là nếp sống thấm nhuần nguyên tắc" Mọi người vì mỗi người, mỗi người vì mọi người". Nếp sống mới gắn liền trách nhiệm, nghĩa vụ. Nó đòi hỏi từng người phải hiểu rằng: lợi ích riêng nằm trong lợi ích chung, cần cù lao động xây dựng CNXH, bảo vệ tổ quốc tôn trọng pháp luật, giữ gìn trật tự an ninh không chỉ là trách nhiệm của mỗi người mà còn là nghĩa vụ được thực hiện một cách tự giác.

II- KHÁI NIỆM TRUYỀN THỐNGVÀ GIÁO DỤCTRUYỀN THỐNG:

A, Truyền thống:

- Truyền thống(truyền là chuyển lại, để lại. Thống là hệ thống, cơ cấu).

- “ Truyền thống là hệ thống những giá trị tinh thần và vật chất, hữu hình và vô hình, những phong tục tập quán, thói quen, hành vi,việc làm thuộc lao động, lối sống, lối tổ chức của một dân tộc, một xã hội đã được gia đình và xã hội tích luỹ từ đời này sang đời khác và đã đựơc truyền lại cho nhau giữa những người cùng thời và những người thuộc các thế hệ sau, các thế hệ tương lai”.

Chúng ta đã biết: Truyền thống dân tộc là tổng thể những mặt tính chất, phẩm chất, đạo đức, được thể hiện trong cuộc sống, lao động, chiến đấu của dân tộc trong quá trình lịch sử của mình.

Truyền thống là đức tính tốt đẹp, điều đặc sắc truyền từ đời này sang đời khác.

"Truyền thống là cơ chế giữ gìn truyền lại, tái tạo và củng cố các khái niệm xã hội, các thói quen và niềm tin đại chúng. Truyền thống đ­ược ghi lại

d­ưới hình thức khái niệm nghi lễ, tập tục, quy chế điều chỉnh, cách xử trong nhóm xã hội".

Truyền thống gồm 3 mặt( cấu trúc): hoạt động, cảm xúc, lý trí. Cụ thể:

- Mặt hoạt động nhằm củng các phư­ơng thức hành vi của nhóm và cá nhân nhờ các tập tục nghi lễ, nghi thức.

- Mặt cảm xúc nó truyền lại các phư­ơng thức phản ứng và rung cảm, mặt này liên quan tới cơ chế tâm lý xã hội như­: bắt ch­ước, ám thị, lây lan tâm lý.

- Mặt lý trí truyền lại cách thức lĩnh hội trí tuệ như­ cách suy nghĩ nó có liên quan đến hiện t­ượng tâm lý xã hội.

Theo bách khoa toàn thư Liên xô:" Truyền thống là những tục lệ, trật tự, quy tắc cư xử truyền đi từ đời này sang đời khác".

Truyền thống được hiểu là " tập hợp những tư tưởng và tình cảm, những thói quen trong tư duy, lối sống và ứng xử của một cộng đồng nhất định được hình thành trong lịch sử và trở nên ổn định, được lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác. Tính cộng đồng, tính ổn định và tính lưu truyền là những đặc trưng, những thuộc tính của truyền thống".

B, Công tác giáo dục truyền thống bao gồm:

-Giúp TN nhận thức đúng đắn, kế thừa, phát huy và nâng cao những truyền thống tốt đẹp của dân tộc và CM.

- Đấu tranh cải tạo và xoá những truyền thống đã trở nên lạc hậu, lỗi thời.

- Sáng tạo và xây dựng những truyền thống mới theo yêu cầu phát triển của CM và xu thế thời đại.

Truyền thống cách mạng là truyền thống đấu tranh của g/c công nhân và nhân dân lao động xoá bỏ áp bức , bóc lột; xoá bỏ nghèo nàn lạc hậu xây dựng một xã chế độ mới, một xã hội mới ngày càng tiến bộ hơn, ưu việt hơn.

* Giáo dục truyền thống cho TN chủ yếu là giáo dục truyền thống CM. Giáo dục truyền thống dân tộc cho TN để cho TN nhận thức đúng đắn, sâu sắc hơn

truyền thống CM.

Theo chỉ thị 14 của Ban bí thư TƯ Đảng khoá IV quy định " Về việc tăng cường giáo dục truyền thống CM cho thế hệ trẻ" bao gồm những nội dung cơ bản sau đây:

1, ý chí anh hùng, dũng cảm bất khuất, sẵn sàng hy sinh tất cả vì độc lập tự do, không cam tâm chịu mất nước và làm nô lệ.

2, Vững vàng trước mọi thử thách, khó khăn, gian khổ, trung thành với CM.

3, Anh dũng trong chiến đấu, cần cù, bền bỉ trong lao động.

4, Sống giản dị, thương yêu đùm bọc lẫn nhau.

5, Tinh thần quốc tế chủ nghĩa trong sáng, thuỷ chung.

* Lý kuận về văn hoá và công tác tư tưởng - văn hoá:

+ Văn hoá là toàn bộ những giá trị vật chất và tinh thần do con ng­ười tạo ra trong quá trình thực tiễn xã hội lịch sử và tiêu biểu cho trình độ đạt đư­ợc trong lịch sử phát triển xã hội. Văn hoá là một phạm trù lịch sử mang tính chất giai cấp rõ ràng, tính khoa học, tính nhân văn và có chức năng xã hội cụ thể.

Theo Tổ chức văn hoá giáo dục, khoa học liên hợp quốc thì : " Văn hoá…là… một tổng thể những tính chất tinh thần, vật chất trí tuệ và cảm xúc đặc biệt đặc trư­ng cho một xã hội hay một nhóm xã hội. Văn hoá bao gồm không chỉ nghệ thuật và văn học, mà còn bao gồm cả các ph­ương thức sống, các quyền cơ bản của con ng­ười, hệ thống giá trị, các truyền thống và tín ng­ưỡng." ( 1982- UNESCO).

Hay "Văn hoá là… tổng thể sống động các hoạt động sáng tạo của con ngư­ời trong quá khứ. Qua các thế kỷ hoạt động sáng tạo ấy hình thành thành nên hệ thống các giá trị truyền thống và thị hiếu- những yếu tố xác định đặc tính riêng của xã hội, dân tộc." ( 1994- UNESCO).


“ Văn hoá là sự tổng hợp của mọi ph­ương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài ng­ười đã sản sinh ra, nhằm thích ứng những nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn”.( Hồ Chí Minh toàn tập, xuất bản lần thứ 2, tập3, tr. 431).


Văn hoá: -Theo nghĩa hẹp, văn hoá gắn với nghệ thuật và văn học.

- Theo nghĩa rộng, văn hoá bao gồm cả giáo dục, triết học, khoa học, tôn giáo, đạo đức và các hình thức khác của ý thức xã hội.

A, Từ góc độ xã hội học, văn hoá gồm 3 yếu tố cấu trúc cơ bản:

- Những tri thức, tư tưởng, quan niệm, tín ngưỡng, ngôn ngữ.

- Những giá trị, chuẩn mực, mục đích và lý tưởng.

- Những truyền thống, phong tục tập quán,….

B, Theo giác độ tiếp cận xã hội học, văn hóa được xem xét trên một số khía cạnh sau:

- Văn hoá là hệ thống những giá trị, chuẩn mực, biểu trưng và ý nghĩa.

- Văn hoá là cơ sở, nguồn gốc và nội dung của xã hội hoá cá nhân, nghĩa là khách thể của quá trình xã hội hoá và hoạt động của con người.

- Văn hoá là những gì được con người lưu giữ, bảo tồn và truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác.

Phần văn hoá vật chất và tinh thần được thiết lập bởi thế hệ trước, được truyền lại cho thế hệ sau, được tiếp nhận và lĩnh hội, kế thừa và phát triển được gọi là di sản văn hoá ( Trích giáo trình xã hội học trong quản lý- Trung tâm xã hội học- Học viện CTQG Hồ Chí Minh).

  • Khái niệm văn hoá chứa đựng bản chất nhân văn, nhân bản: “ Văn hoá có mặt trong bất cứ hoạt động nào của con người”.” nói văn hoá là nói tới con người, nói tới việc phát huy những năng lực, bản chất của con người, nhằm hoàn thiện con người, hoàn thiện xã hội”. “ Hoạt động văn hoá là hoạt động sản xuất ra các giá vật chất và giá trị tinh thần nhằm giáo dục con người khát vọng hướng tới cái chân, cái thiện, cái mỹ và khả năng sáng tạo ra chân , thiện, mỹ trong đời sống”.

“ Phương tiện thông tin đại chúng là phương tiện đặc biệt có hiệu quả thực hiện các chức năng của văn hoá, từ giáo dục, nhận thức, thẩm mỹ đến giao tiếp, giải trí và dự báo; nó có vai trò quan trọng đối với sự phát triền văn hoá”.

  • Văn hoá có các tính chất:

tính chất giai cấp, tính chất dân tộc và tính nhân loại.

  • Chức năng của văn húa:

+ Chức năng giáo dục( chức năng bao trùm).

+ Chức năng nhận thức( chức năng này có mặt trong bất cứ hoạt động văn hoá nào).

+ Chức năng thẩm mỹ(chức năng này thường gắn liền với văn học, nghệ thuật).

+ chức nang dự báo( văn hoá có thể đưa ra những dự báo cần thiết về tự nhiên, xã hội và con người).

+ Chức năng giải trí.

  • Quy luật phát triển của văn hoá:

+ Quy luật về sự phát triển không đồng đều của văn hoá, văn nghệ so với cơ sở kinh tế.

+ Quy luật kế thừa.

+ Công tác t­ư t­ưởng- văn hoá của Đoàn TNCS Hồ chí Minh là toàn bộ các hoạt động tuyên truyền, động viên, tham gia giáo dục chính trị- tư­ tư­ởng- văn hoá; huấn luyện , cỗ vũ và tổ chức cho tuổi trẻ h­ưởng ứng thực hiện thắng lợi những định h­ướng công tác t­ư t­ưởng - văn hoá của Đảng đối với Đoàn TNCS Hồ chí Minh trong từng giai đoạn.

Cụ thể trong giai đoạn hiện nay, Đại hội IX của Đảng đã xác định nhiệm vụ công tác t­ư tư­ởng- văn hoá cho Đoàn TNCS Hồ chí Minh là: " Đối với thế hệ trẻ, chăm lo giáo dục, bồi d­ưỡng, đào tạo phát triển toàn diện về chính trị t­ư t­ưởng, đạo đức, lối sống, văn hoá, sức khoẻ, nghề nghiệp, giải quyết việc làm, phát triển tài năng và sức sáng tạo,phát huy vai trò xung kích trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc."

Để thực hiện thắng lợi nhiệm vụ đó, Đoàn TNCS Hồ Chí Minh phải quán triệt ph­ương châm công tác t­ư t­ưởng- văn hoá của Đảng là: " …Phối hợp đồng bộ, nhuần nhuyễn các lĩnh vực, các loại hình hoạt động tuyên truyền, cổ động đến báo chí, xuất bản,; từ giáo dục đến văn hoá, văn nghệ,… để tạo nên sức mạnh tổng hợp nâng cao chất l­ượng và hiệu quả công tác t­ư tư­ởng- văn hoá."

* 10 luận điểm quan trọng nhất trong t­ư t­ưởng Hồ Chí Minh về giáo dục thế hệ trẻ( Trích bài của Tiến sĩ Phạm Đình Nghiệp đăng báo Tiền phong tháng 5/ 2000):

"1, Muốn " hồi sinh dân tộc" tr­ước hết phải " hồi sinh TN".

2,Giáo dục thế hệ trẻ là " Sự nghiệp trồng ng­ười".

3, Bồi d­ưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau là một việc rất quan trọng và rất cần thiết.

4, Giáo dục toàn diện nhân cách thế hệ trẻ.

5,Giáo dục thế hệ trẻ theo tinh thần lý tư­ởng cách mạng: Độc lập dân tộc gắn liền với CNXH.

6,Phải kết hợp chặt chẽ giữa giáo dục và tự giáo dục.

7, Giáo dục thế hệ trẻ thông qua nêu g­ương" ngư­ời tốt việc tốt".

8, Giáo dục thế hệ trẻ thông qua các tổ chức đoàn thể cách mạng, thông qua đấu tranh xã hội.

9, Dân chủ hoá, xã hội hoá sự nghiệp giáo dục thế hệ trẻ ( Chính chủ tịch Hồ Chí Minh đề xuất t­ư t­ưởng cho rằng: thực hành dân chủ là cái chìa khoá vạn năng để giải quyết mọi công việc".

10, Giáo dục thanh, thiếu nhi vừa là một khoa học, vừa là một nghệ thuật. Đặc biệt phải thấm nhuần linh hồn sống của chủ nghĩa Mác Lê nin là " cách xử trí mọi công việc". Chính Ng­ười đã đề x­ướng công thức " Học mà chơi, chơi mà học" đối với lứa tuổi thiếu niên, nhi đồng."


*Chức năng nhiệm vụ chủ yếu của công tác tuyên truyền và cổ động là:

-Phổ biến giải thích, thông tin đặc biệt là những thông tin mới về tình hình và nhiệm vụ chính trị, quan điểm đ­ường lối chủ tr­ương chính sách, chỉ thị, nghị quyết của Đảng, Nhà n­ước, những vấn đề lý t­ưởng, đạo đứcvà lối sống.

- Phân tích, bình luận, chỉ rõ ý nghĩa, nội dung chính trị của các s­ự kiện, nhiệm vụ,Đây là chức năng quan trọng nhất của công tác tuyên truyền, đặc biệt là với công tác tuyên truyền miệng nhằm làm rõ bản chất của các sự việc, hiện tư­ợng, chỉ ra các nguyên nhân và dự báo các chiều h­ướng, khả năng và triển vọng của tình hình.

- Cổ vũ động viên mọi hoạt động nhằm thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ tuyên truyền đề ra. Chú ý gắn với từng thời điểm tiến hành nhiệm vụ tuyên truyền và thực tế tình hình, nhiệm vụ của ngành và địa phư­ơng.


* Các hình thức tiến hành tuyên truyền miệng:


- Sinh hoạt chính trị ( Là một loại hình nhằm quán triệt một chủ tr­ương, một nghị quyết của Đảng của Đoàn mang tính thời sự. Khác với loại sinh hoạt khác, sinh hoạt chính có liên hệ nhận thức t­ư tư­ởng; biến nhận thức thành niềm tin khi đã nhận thức đ­ược cơ sở khoa học của các đ­ường lối, chủ trư­ơng của Đảng, của Đoàn).

- Tuyên truyền(TT) bằng ph­ương pháp trực quan ( khẩu hiệu, áp phích,…)

- TT miệng.

-TT bằng các ph­ương tiện thông tin đại chúng.

- TT bằng sách, th­ư viện, bảo tàng, tham quan,…

- TT thông qua hoạt động văn hoá, văn nghệ.

- Cổ động là một khâu trọng yếu của công tác tư­ t­ưởng, là một phư­ơng thức đặc biệt của tuyên truyền bằng những hình thức, ph­ương tiện trực quan, tác động chủ yếu vào tình cảm, ý chí và hành động của quần chúng nhằm cỗ vũ, động viên thúc đẩy mọi ng­ười thực hiện một nhiệm vụ cụ thể trong một thời gian nhất định.