DMCA.com Protection Status

gt.ĐẠI CƯƠNG VỀ PHƯƠNG PHÁP LUẬN NGHIÊN CỨU VĂN HỌC  quan tâm

Được đăng bởi: Trần Việt Thao

Cập nhật lúc 09:37 ngày 17/01/2018

Tài liệu học tập chuyên đề PHƯƠNG PHÁP LUẬN NGHIÊN CỨU VĂN HỌC

----------------------------------------------------------------------------

ĐẠI CƯƠNG VỀ PHƯƠNG PHÁP LUẬN NGHIÊN CỨU VĂN HỌC

TÀI LIỆU CẦN THAM KHẢO:

Giáo trình Lí luận văn học (phần IV)

Các tư liệu:

  1.  
  2.  

Từ điển văn học bộ mới

Từ điển thuật ngữ văn học

Thi pháp thơ Tố Hữu ( Trần Đình Sử) ; Thi pháp văn học trung đại( Trần Đình Sử), Truyện Kiều và thể loại truyện Nôm ( Đặng Thanh Lê); Con đường đi vào thế giới nghệ thuật ; Mấy vấn đề phương pháp luận phân tích thơ văn Hồ Chủ tịch ( Nguyễn Đăng Mạnh)

Các tạp chí:

  1.  

Tạp chí Văn học nước ngoài số1- 2002( Hoặc trong sách TPVH như là một quá trình)

, bài Những giới hạn của lịch sử văn học của Trương Đăng Dung. Số 4-2003 bài Phương thức tồn tại của tác phẩm văn học của​​​​​​​

ĐỀ CƯƠNG BÀI HỌC

PPLNCVH là bộ môn mới trong NCVH nhằm nghiên cứu một cách hệ thống các PP NCVH nói chung và từ đó vận dụng những PP này ở các TP cụ thể.

( Ý kiến của Nguyễn Văn Dân: PPLNCVH là một lĩnh vực khoa học nghiên cứu về các phương pháp nghiên cứu văn học, về các nguyên tắc và những phương thức nghiên cứu văn học, phục vụ cho lí luận , lịch sử và phê bình văn học _ Nghiên cứu văn học- Lí luận và ứng dụng, NXBGD,1999, tr12)

* PPNCVH chung -- vận dụng triết học: CNDVBC và CNDVLS

-- Vận dụng các phương pháp chung nhất của các khoa học vào NCVH

* PPNC cụ thể:-- vận dụng các phương pháp nghiên cứu đặc thù của VH vào các phạm vi cụ thể của VH: TP, Nvật, ngôn ngữ,…

Tuy nhiên, PPLNCVH thường tập trung vào những vấn đề cơ bản sau đây:

Nghiên cứu TPVH như là yếu tố trung tâm của NCVH

Nghiên cứu về trào lưu văn học

Nghiên cứu về tác gia văn học

Nghiên cứu về nhân vật trong TPVH​​​​​​​

I/PHƯƠNG PHÁP VỚI QUAN ĐIỂM VÀ KIẾN THỨC TRONG NGHIÊN CỨU VĂN HỌC

Phương pháp:

  1.  

- PP là cách thức tiến hành để có hiệu quá cao ( Đại từ điển tiếng Việt)

- PP là con đường dựa vào quy luật khách quan để đưa con người tới những mục đích nhất định trong nhận thức cũng như trong hoạt động thực tiễn ( giáo trình LLVH- ĐHSP)

PP là khái niệm dùng ở nhiều phạm vi nhưng nói chung nó đều chỉ cách thức mà con người đạt đến mục đích một cách ngắn nhất.

PP có khi dùng ở nghĩa rộng, dùng trong phạm vi giai cấp , dân tộc ( phương pháp đấu tranh giai cấp, phương pháp cách mạng). Ở phạm vi hẹp, phương pháp để chỉ bất kì việc làm nào.

Quan điểm:

  1.  

Nhà văn có thể chọn chỗ đứng gần đối tượng, ở chỗ đứng này đối tượng được hiện lên một cách cụ thể. Trong các Tp thuộc trào lưu hiện thực trong VHVN 1930-1945 các nhà văn thường chọn chỗ đứng này, và theo đó các nhân vật hiện lên thường xấu ( môi thị Nở , mặt Chí Phèo, Lang Rận,..) . Trong khi đó các nhà văn lãng mạn thường chọn chỗ đứng xa , đối tượng hiện ra một cách chung chung, các nhân vật thường hiện lên rất đẹp

Nghiên cứu quan điểm tác giả ta phải trả lời câu hỏi sau:Việc nhìn nhận đánh giá xuất phát từ đâu, ở phía nào ( tiến bộ, khoa học hay phản tiến bộ, phản khoa học). Bởi vì cùng một hiện tượng đời sống, từ các điểm nhìn khác nhau, có thể có cách đánh giá rất khác nhau. Cùng viết về ngày giành chính quyền ở Hà Nội trong CMTT nhưng giữa Trần Dần ( Tôi đứng đây không thấy phố thấy nhà . Chỉ thấy mưa sa trên màu cờ đỏ) với Vũ Hoàng Chương ( Rực rỡ sao vàng hoa vĩ đại. Năm cánh xòe trên năm cửa ô) rất khác nhau và đương nhiên Trần Dần cũng rất khác với Võ Nguyên Giáp trong hồi kí Những năm tháng không thể nào quên.

Cùng nói về chiến tranh chống Mĩ nhưng Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh lại tạo ra một luồng phản ứng từ phía những người đã trực tiếp tham gia cuộc chiến tranh nhưng nhật kí Đặng Thùy Trâm lại được sự đón nhận nồng nhiệt của các thế hệ độc giả khi chiến tranh đã bị đẩy lùi trọn 30 năm.

3- Kiến thức:Là lượng tri thức về một đối tượng nào đó hoặc nói cách khác, là mức độ mà người ta chiếm lĩnh đối tượng. Kiến thức thường được đánh giá theo các mức độ nhiều / ít ; rộng hẹp; sâu / nông. Thông thường kiến thức về một đối tượng liên quan chặt chẽ đến quá trình, phương pháp tiếp xúc đối tượng.

Ba phương diện nói trên có quan hệ mật thiết, có quá trình chuyển hóa lẫn nhau. Do vậy NCVH vừa cần có kiến thức sâu rộng vừa cần phải có một phương pháp nghiên cứu đúng đắn và một lập trường khoa học.

II- MỐI QUAN HỆ GIỮA PHƯƠNG PHÁP VỚI QUAN ĐIỂM VÀ KIẾN THỨC

Giữa phương pháp và kiến thức:

  1.  

a- PP là con đường dẫn đến kiến thức do vậy nó có vai trò như chìa khóa để khám phá phát hiện kiến thức, đặc biệt là những kiến thức mới.

VD: Với sự xuất hiện và áp dụng rộng rãi của thi pháp học mà cốt lõi là nghiên cứu hình thức TP nhưng là hình thức mang tính nội dung , hình thức mang tính quan niệm đã góp phần quan trọng trong việc khắc phục những ngộ nhận, lúng túng trong kiến giải các vấn đề cụ thể trong văn học. Ví dụ chi tiết “ Sẵn thây vô chủ bên sông” không phải là chi tiết phản ánh tình trạng xã hội loạn lạc nhiễu nhương đâu đâu cũng có xác người bị giết mà chỉ là một chi tiết có tính chất đạo cụ để nhà văn khỏi sa đà vào việc tìm thây, tìm đàn, tìm dao, để chuyện kể khỏi loãng ( Liên hệ: Trên hiên treo sẵn cầm trăng; Trên yên sẵn có con dao). Vưgôtxki nói “ Nghệ thuật bắt đầu ở nơi bắt đầu có hình thức nghệ thuật”.

b- Kiến thức cũng có khả năng từ lượng biến đổi thành chất. Một khi đã tích lũy được một vốn kiến thức sâu rộng thì người nghiên cứu có khả năng khái quát về phương pháp ở một mức độ cao.

VD: Mệnh đề nổi tiếng của M. Gorki: Văn học là nhân học:

Về đối tượng của văn học: Con người

Về phương thức: hình tượng phi vật thể

Về nhân vật

Về nội dung: khách quan + chủ quan​​​​​​

2- Giữa phương pháp và quan điểm:

PP thường có giá trị quan điểm và ngược lại quan điểm thường có tiềm năng để trở thành phương pháp. Điều này được chứng thực ở các phương pháp sáng tác. Khi nghiên cứu các phương pháp sáng tác, người ta thường nghiên cứu:

- Cơ sở xã hội

- Cơ sở ý thức: các quan điểm triết học, chính trị. Ví dụ chủ nghĩa cổ điển có cơ sở ý thức là chủ nghĩa duy lí của Đề cát . Văn học hiện thực XHCN có cơ sở tư tưởng là chủ nghĩa Mác- Lênin

Ở phạm vi hẹp: sáng tác của các nhà văn hầu như đều được chi phối bởi một quan điểm, một lập trường nhất định. Đây chính là cội nguồn để tạo nên giá trị của sáng tác

Thi pháp học nghiên cứu cái lí của hình thức, cái gốc rễ chi phối để trả lời vì sao nhà văn lựa chọn hình thức này mà không lựa chọn hình thức khác. Vì sao Nam Cao hay miêu tả các nhân vật xấu? Do đâu mà Nguyễn Huy Thiệp có cách nhìn khác đối với các nhân vật lịch sử? Cách nhìn nhận và miêu tả nhân vật của Nguyễn Minh Châu trong giai đoạn trước và sau thập niên 80 / XX có sự thay đổi, vì sao?

III- CÁC CẤP ĐỘ TRONG PPLNVH:

1- Cấp độ triết học: Là cấp độ cao nhất trong PPLNCVH nghiên cứu sự vận dụng những phương pháp cơ bản của triết học Mac- Lênin. Đó là CNDVBC và CNDVLS vào nghiên cứu văn học.

Cụ thể là khi vận dụng chủ nghĩa duy vật lịch sử thì nghiên cứu văn học với tư cách là nghiên cứu một hình thái ý thức đặc biệt ( đối tượng; phương thức, nội dung, chức năng) thuộc kiến trúc thượng tầng.

Vận dụng chủ nghĩa duy vật biện chứng vào nghiên cứu văn học ta thấy được mối quan hệ phức tạp đa dạng với các yếu tố khác trong đời sống.

Văn học quan hệ với tồn tại xã hội: Một mặt, VH chịu sự chi phối của đời sống ( Xã hội thế nào văn nghệ thế ấy- Hồ Chí Minh). Văn học luôn là tấm gương phản ánh đời sống xã hội. Mặt khác, VH tác động trở lại đối với đời sống. Đôi khi sức tác động này rất lớn. Câu nói của Paven Coocsaghin trong các trang nhật kí của chiến sĩ giải phóng quân, đặc biệt là trong nhật kí của Nguyễn Văn Thạc, Đặng Thùy Trâm là một minh chứng.

VH có mối quan hệ qua lại với các hình thái ý thức xã hội khác thể hiện ở chỗ

- Các hình thái ý thức xã hội khác có ảnh hưởng , chi phối văn học. mạnh mẽ .Nhất là ý thức chính trị, triết học, quan điểm thẩm mĩ là những hình thái ý thức trực tiếp chi phối sáng tác văn học. Ví dụ văn học 1945-1975 thấm đẫm ý thức chính trị từ các sáng tác ca dao mới ( Đóng nhanh lúa tốt, Giữa đường gặp một mảnh chai,..) , thơ thiếu nhi, đến thơ Tố Hữu- đỉnh cao của thơ trữ tình chính trị Việt Nam. Văn học phong kiến thấm đượm ý thức đạo đức . Thơ văn Nguyễn Đình Chiểu là một ví dụ điển hình.

Ngược lại, văn học cũng tác động đến các hình thái ý thức xã hội khác. Văn học trong từng thời kì ít nhiều đã tạo được những chuẩn đạo đức.

Vận dụng CNDVBC vào nghiên cứu văn học ta có thể nghiên cứu văn học như là một hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan. Hai yếu tố này tác động qua lại, biện chứng với nhau. Tất cả những gì của đời sống đi vào TPVH bao giờ cũng mang đậm dấu ấn chủ quan của nhà văn, nhà thơ. Đó là tư tưởng, quan điểm, lập trường xã hội, thị hiếu thẩm mĩ, tâm trạng, tình cảm, cá tính của nhà văn, nhà thơ. Vì thế chân lí nghệ thuật chỉ thống nhất chứ không đồng nhất với chân lí nghệ thuật. Nghệ thuật cho phép khả năng tưởng tượng hư cấu đến vô tận. Nhà văn có thể sử dụng nhiều phương thức phản ánh nhưng trong đó phải chứa đựng hạt nhân của hiện thực.

Vận dụng triết học DVBC ta có thể nghiên cứu văn học như là một khoa học mà là một khoa học đặc biệt có quan hệ với các ngành khoa học hiện đại khác

Văn học--- thông tin thẩm mĩ ( tư tưởng, tình cảm, đổi mới sáng tạo)

--- Mô hình đời sống  cặp đối lập

 tuyến nhân vật chính diện / tuyến nhân vật phản diện

 Nhân vật / nhân vật

 các mặt trong bản thân nhân vật

2- Cấp độ chuyên ngành:

TPVH là một cấu trúc nghệ thuật hết sức phức tạp gồm nhiều yếu tố có quan hệ qua lại , biện chứng với nhau. Có thể quy về hai phương diện cơ bản: nội dung và hình thức. nội dung quy định hình thức; hình thức biểu hiện nội dung, tác động trở lại nội dung

Đặc trưng cơ bản nhất của nghiên cứu văn học là thông qua hình thức để tìm hiểu , khám phá nội dung. Việc nghiên cứu bao giờ cũng bắt đầu từ hình thức ( từ ngữ, hình ảnh, các biện pháp nghệ thuật,…) để từ đó đi đến khái quát về hình tượng chứa đựng những nội dung cơ bản của TP.

Vì TPVH là một hệ thống nên khi nghiên cứu TP phải đặt các yếu tố nằm trong hệ thống

IV- CÁC LOẠI HÌNH NGHIÊN CỨU VĂN HỌC:

Khuynh hướng lịch sử phát sinh:

  1.  

Đây là khuynh hướng nghiên cứu VH gắn liền với cội nguồn của sáng tác VH thường áp dụng để tìm hiểu trào lưu văn học, trường phái văn học, đặc biệt là nhà văn và tác phẩm gắn với cơ sở kinh tế- xã hội, gắn với mối quan hệ lịch sử cụ thể

*Trào lưu văn học số lượng nhà văn tương đối nhiều

 số lượng TP phong phú

 Nhà lí luận – phê bình

( Luôn gắn với một giai đoạn lịch sử cụ thể và trào lưu luôn phải là một phong trào VH rầm rộ)

* Tác giả  tiểu sử

 quá trình học tập , sáng tác

Đi theo khuynh hướng lịch sử phát sinh tức là nghiên cứu cội nguồn xuất phát của hiện tượng văn học.

Lưu ý: Khi vận dụng khuynh hướng này cần tránh rơi vào khuynh hướng xã hội học dung tục ( đơn giản hóa đối tượng nghiên cứu bằng cách quy nó về phạm trù giai cấp, lấy thành phần xuất thân của nhà văn và nhân vật để làm cơ sở đánh giá giá trị TP.

Khuynh hướng lịch sử chức năng:

  1.  

Mỗi tác phẩm tác động đến đời sống một cách khác nhau qua các chặng đường lịch sử, tùy thuộc vào người tiếp nhận. Có tác phẩm khi ra đời có sức tác động rất mạnh nhưng càng về sau càng giảm đi ( Cù lao Tràm của Nguyễn Mạnh Tuấn là một ví dụ). Lại có những tác phẩm khi ra đời không được đón chào nồng nhiệt nhưng với độ lùi thời gian chúng càng được khẳng định. Các sáng tác trước CMT8 của Nam Cao có số phận như vậy.

Cơ sở của khuynh hướng nghiên cứu này là ở chỗ người ta coi TPVH như là một sản phẩm chịu sự chi phối của quy luật sản xuất – tiêu dùng. Những sản phẩm nào được tiêu thụ nhiều thì sản phẩm đó càng có giá trị và ngược lại. Phương pháp thống kê điều tra xã hội học thường được áp dụng ở đây.

Tuy nhiên ở khuynh hướng này cần lưu ý rằng ý nghĩa khách quan của TP thường không cố định, bản thân người đọc cảm nhận về TP cũng rất khác nhau. Nguyên nhân là ở chỗ sự cảm nhận của họ chịu sự chi phối của nhiều nhân tố ( thời đại, tuổi tác, học vấn, địa vị, tâm lí,…) Đặc biệt trong đời sống hiện đại, họ còn bị chi phối bởi yếu tố tiếp thị , quảng cáo. Vì vậy cần phân biệt tác động tức thời với tác động lâu dài ( hoặc giá trị thời sự và giá trị nhân văn). Tác phẩm của Hồ Xuân Hương, Nam Cao là những tác phẩm có sức tác động lâu dài trong lịch sử VHVN.

Khuynh hướng so sánh lịch sử:

  1.  

Đây là khuynh hướng thiên về nghiên cứu ảnh hưởng giữa các nền văn học, sự tương đồng và khác biệt giữa các hiện tượng văn học ở các nước khác nhau, nghiên cứu sự tiếp thu và sáng tạo trong phạm vi một nền văn học.

Quy luật chung: nền văn học lớn ra đời trước thường có ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến nền văn học ra đời sau với các mức độ khác nhau. Ở cấp độ chung nhất, đó là ảnh hưởng về quan điểm tư tưởng, quan điểm thẩm mĩ. Các ví dụ điển hình là ảnh hưởng của VH cổ Trung Quốc đối với văn học Việt Nam, Triều Tiên, Nhật Bản; văn học Hy – La cổ đại đối với văn học Châu Âu; văn học Trung Quốc, Pháp, Nga đối với văn học Việt Nam.. Ở cấp độ thể loại hoặc tác phẩm, ảnh hưởng này diễn ra hết sức phong phú:

Thơ Đường  thơ Đường luật Việt Nam

Tiểu thuyết chương hồi Minh – Thanh  Tiểu thuyết chương hồi Việt Nam

Thơ tự do phương Tây  thơ Mới Việt Nam

( Góc độ thể loại)

Mượn cốt truyện: Quỷ Dạ thoa vương ( Lĩnh Nam chích quái), Truyện Kiều, Các truyện của Hồ Biểu Chánh giai đoạn đầu

Kiểu nhân vật:

Ngôn ngữ: Cách diễn đạt“ rất Tây“ của thơ Mới Xuân Diệu

( góc độ tác phẩm)

Tuy nhiên qua thực tế văn học Việt Nam, những cái mới tiếp nhận được từ văn học nước ngoài phải chịu sự chi phối nhào nặn cho phù hợp với tạng thẩm mĩ của dân tộc mới có sức sống trong lòng độc giả. Giáo sư Lê Trí Viễn, Tiến sĩ Nguyễn Phan Cảnh đều có những nghiên cứu rất cơ bản về quy luật này.

Nguyên nhân của những ảnh hưởng nói trên là do sự gần gũi về địa lí , hoặc do sự áp đặt văn hóa bằng chiến tranh xâm lược, hoặc do quá trình hội nhập, giao lưu quốc tế đang ngày càng diễn ra mạnh mẽ.

Khuynh hướng so sánh loại hình:

  1.  

Đây là một phân nhánh của khuynh hướng so sánh lịch sử , thiên về nghiên cứu sự giống và khác nhau giữa các thể loại hoặc giữa các tác phẩm trong cùng thể loại hoặc các tác giả có sự gần gũi trong các nền văn học khác nhau. Khuynh hướng này thường được áp dụng để nghiên cứu các đề tài cụ thể.

+ cùng loại TP ( Nam Cao---M. Gorki, Tsê khôp; Lỗ Tấn)

+ cùng loại phong cách nhà văn

+Có sự gặp nhau ở một nội dung nào đó

VD: Các loại hình truyện ngắn trong VHVN 1930-1945

Truyện ngắn kịch hóa: Nguyễn Công Hoan, Vũ Trọng Phụng, Tô Hoài,..

Truyện ngắn trữ tình hóa: Thạch Lam, Hồ Dzếnh, Xuân Diệu,..

Truyện ngắn tiểu thuyết hóa: Nam Cao,.. ( Trần thuật đa thanh: bản thân lời trần thuật chứa đựng nhiều ý thức)​​​​​​​

Khuynh hướng nghiên cứu hệ thống:

  1.  

Quy luật chung: Yếu tố luôn nằm trong hệ thống. Khuynh hướng này nghiên cứu văn học như một cấu trúc chỉnh thể phức hợp được tạo nên bởi nhiều yếu tố có quan hệ biện chứng với nhau. Có sáu nguyên tắc cơ bản trong khi nghiên cứu theo khuynh hướng này:

Phải nghiên cứu văn học như là một yếu tố trong hệ thống lớn là toàn bộ đời sống xã hội, có sự tác động qua lại với các yếu tố khác.

Phải nghiên cứu các chỉnh thể văn học như là một hệ thống bao gồm nhiều yếu tố:

  1.  
  2.  

Nền văn học Thời kì, giai đoạn

 tác gia văn học

 Trào lưu văn học

 Trường phái văn học

Tác phẩm văn học:  Đề tài

  •  

 Chủ đề

Cốt truyện

 Nhân vật

 Ngôn ngữ

Tác giả:  Tiểu sử

  •  

 Quá trình sáng tác

 Phong cách

Trào lưu văn học: Cơ sở xã hội – ý thức

  •  

 Nhân vật trung tâm

 Hệ thống thi pháp

Nhân vật  Ngoại hình

  •  

 Nội tâm

 Hành động

 Ngôn ngữ

Phải xác định mỗi yếu tố trong chỉnh thể lại là một “ tiểu hệ thống” bao gồm nhiều yếu tố nhỏ hơn và có quan hệ mật thiết với nhau

Phải xác định được yếu tố hạt nhân trong hệ thống. Đây là yếu tố có vai trò chi phối các yếu tố khác. Hạt nhân này cũng phải được xác định một cách hết sức linh hoạt.

  1.  
  2.  

Ví dụ: trên lí thuyết chung, hành động của nhân vật là hạt nhân trong tính cách nhân vật nhưng đối với truyện ngắn Thạch Lam thì tình hình không hẳn là thế. Nhân vật trong tác phẩm Thạch Lam rất ít hành động, hành động của họ không tạo ra được những bước ngoặt gì đáng kể vì thế yếu tố hạt nhân trong đó phải là yếu tố nội tâm

Phải nghiên cứu các chỉnh thể văn học như là một hệ thống mở. Nó có khả năng hấp thụ các thủ pháp nghệ thuật của các loại hình nghệ thuật khác. Do vậy về cơ bản, văn học có khả năng tổng hợp thể loại. Do vậy trong một thể loại cụ thể bao giờ cũng có tính chất của thể loại khác.

Phải nghiên cứu các chỉnh thể văn học như là một hệ thống động

  1.  
  2.  

Văn học không bao giờ đứng im mà luôn luôn trong quá trình vận động. Dễ thấy nhất là trên phạm vi nền văn học, trào lưu văn học.

Trong tiếp nhận của người đọc các chỉnh thể văn học cũng không đứng im. Lịch sử tiếp nhận các tác phẩm ưu tú của nhân loại và Việt Nam đã minh chứng điều đó. Ví dụ việc tiếp nhận và đánh giá truyện Kiều​​​​​​​

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU TRÀO LƯU VĂN HỌC

I- VỀ KHÁI NIỆM TRÀO LƯU VĂN HỌC:

1- Định nghĩa: Trào lưu văn học là một hiện tượng lịch sử gắn liền với sự vận động mạnh mẽ của quá trình văn học nhằm khắc phục những mâu thuẫn nội tại để đưa văn học phát triển sang một giai đoạn mới hoặc sang một hướng nhất định. Đó là một phong trào rầm rộ có ý thức tự giác , biểu hiện thành một cương lĩnh cụ thể

Phân tích khái niệm:

- Hiện tượng lịch sử: Trào lưu luôn gắn với một giai đoạn lịch sử cụ thể. Trên thế giới người ta thường nói đến trào lưu bắt đầu từ chủ nghĩa nhân văn thời Phục Hưng ( thế kỉ XV) vì trước đó thế giới chìm đắm trong 10 thế kỉ“ đêm trường trung cổ „. Từ thế kỉ XIV, phương Tây xuất hiện nền sản xuất tư bản, ý thức cá nhân con người trong sáng tạo nghệ thuật xuất hiện. Từ đây con người trở thành nhân vật trung tâm trong đời sống; ý thức cá nhân tương đối phát triển dẫn đến sự ra đời của các tác phẩm văn học ngợi ca con người, ca ngợi những thú vui trần thế của con người. Tác phẩm văn học được nhắc đến nhiều là tiểu thuyết Mười ngày của Bôcaxiô. Đây là một tác phẩm có kết cấu thoáng nhưng chặt chẽ nhưng nổi bật nhất của nó là các nhân vật trong đó bộc lộ những thú vui hết sức trần thế của con người. Ở Tây Ban Nha, Đôn Kihôtê là một kiệt tác bất hủ. Nó gián tiếp phủ nhận chế độ phong kiến , đề cao tư tưởng tự do. Ở Ý, có Thần khúc của Đan tê. Nổi bật nhất cho trào lưu này là các vở kịch của Sêxpia. Đây là những bài ca ca ngợi con người, giải phóng con người khỏi những ràng buộc phi lí nghiệt ngã.

Ở Việt Nam, các giáo trình thường trình bày các trào lưu văn học bắt đầu từ chủ nghĩa cổ điển ( thế kỉ XVII) vì đến chủ nghĩa cổ điển nhà “ lập pháp „ cho nó đã xuất hiện (Boalô). Và cũng chính vì thế CNCĐ đã có đầy đủ tư cách là một trào lưu văn học với ba yếu tố cơ bản sau:

- Có số lượng nhà văn lớn ( tiêu biểu nhất là Coocnây; Racin, Môlie)

- Có số lượng tác phẩm lớn ( các tác phẩm bi kịch và hài kịch)

- Có nhà lí luận phê bình, có những tác phẩm lí luận có ý nghĩa như là kim chỉ nam cho hoạt động sáng tác ( Boalô với công trình Nghệ thuật thơ ca).

2- Đặc điểm:

a- Trào lưu văn học không phải là một hiện tượng thuần nhất về phương diện tư tưởng mà có thể chứa đựng nhiều mâu thuẫn nội tại. Ở chủ nghĩa cổ điển, tư tưởng chủ đạo là tuyệt đối hóa vai trò của lí trí (cả trong sáng tác và thưởng thức) nhưng kết thúc của Lơ Xit hoàn toàn không phải như thế. Với chủ nghĩa hiện thực, nguyên tắc đề cao cái khách quan, mô tả cáí bên ngoài là nguyên tắc hàng đầu được thể hiện qua hàng loạt TP của Ngô Tất Tố , Nguyễn Công Hoan nhưng với Nam Cao dường như sáng tác của ông đã đi chệch sang hướng miêu tả cái bên trong của con người. Đó là đời sống tâm lí phong phú phức tạp của nhân vật. Nam Cao quan tâm khám phá quá trình tác động của cái bên ngoài tạo nên sự chuyển biến, vận động trong tâm lí tính cách của nhân vật để nhiều lúc đã đạt đến“ biện chứng pháp của tâm hồn „ như cách người ta thường nói về sáng tác của L Tônxtôi

b- Trào lưu văn học không phải là hiện tượng nhất thành bất biến mà luôn luôn vận động, có quá trình phát sinh , phát triển và lụi tàn. Sự cáo chung của một trào lưu văn học trước luôn luôn tạo những tiền đề cho trào lưu mới nảy sinh.

Chủ nghĩa cổ điển với tư tưởng chủ đạo là tuyệt đối hóa vai trò của lí trí đã tạo tiền đề cho sự ra đời của chủ nghĩa tình cảm mà đỉnh cao của nó là chủ nghĩa lãng mạn với tư tưởng chủ đạo là đề cao trí tưởng tượng, tuyệt đối hóa phương diện tinh thần tình cảm của con người“ Trái tim có những lí lẽ riêng của nó mà bộ óc không thể nào hiểu được „ . Chủ nghĩa lãng mạn, về cơ bản, là một thái độ phủ nhận hiện thực, quay lưng với hiện thực. Chủ nghĩa lãng mạn tiêu cực hướng về quá khứ, chủ nghĩa lãng mạn tích cực hướng về tương lai. Tuy nhiên, chính nền tảng tư tưởng đó đã tạo tiền đề cho sự ra đời của chủ nghĩa hiện thực với những tuyên ngôn kiểu như“ nhà văn là người thư kí trung thành của thời đại „( Ban dăc) Giữa chủ nghĩa lãng mạn và chủ nghĩa hiện thực có những mối giao hòa nhất định. V. Huygô ở Pháp, Thạch Lam ở Việt Nam là những ví dụ.

Với quan điểm đề cao cái khách quan, chủ nghĩa hiện thực trong một phương diện nào đó đã tạo mảnh đất cho sự ra đời của chủ nghĩa tự nhiên vào cuối thế kỉ XIX ( Ê. Dôla; Gông cua,...).Chỗ khác nhau căn bản giữa chủ nghĩa hiện thực với chủ nghĩa tự nhiên là ở chỗ chủ nghĩa hiện thực trong khi đề cao cái khách quan vẫn trung thành với nguyên tắc điển hình hóa nghệ thuật nhằm xây dựng những nhân vật điển hình trong hoàn cảnh điển hình để phản ánh bản chất của đời sống còn chủ nghĩa tự nhiên lại tuyệt đối hóa vai trò của các chi tiết, đi theo nguyên tắc cuộc sống như thế nào phản ánh như thế ấy, đặc biệt là phía bản năng.

Chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa ngoài nguyên tắc phản ánh của chủ nghĩa hiện thực phê phán còn gần gũi với chủ nghĩa lãng mạn ở chỗ luôn hướng đến tương lai tích cực với quan niệm con người một mặt là con đẻ của hoàn cảnh, còn mặt khác, bản chất hơn. Là con người có khả năng cải tạo hoàn cảnh.

c- Trào lưu văn học không phải là một hệ thống khép kín với ý nghĩa là có thể có nhiều trào lưu khác nhau cùng song song tồn tại trong từng giai đoạn lịch sử và chúng thường tác động qua lại và chịu ảnh hưởng lẫn nhau. Văn học Việt Nam giai đoạn 1930-1945 là một ví dụ tiêu biểu. Nhà thơ Chế Lan Viên đã từng phân tích rất rành rọt“ Về văn học trước CM chia ra nào lãng mạn nào hiện thực phê phán nào hiện thực xã hội chủ nghĩa thì cũng đúng và cũng nên. Nhưng chia ra để làm gì? Nếu để nói là chúng chống nhau, nam nữ thọ thọ bất thân, nội bất đắc xuất, ngoại bất đắc nhập, thì nguy khiếp lắm. Cho dù đồng sàng dị mộng, thì cũng có lúc gác chân gác tay lên nhau qua lại chứ! Sao không nghĩ là cùng thời với nhau, chúng chịu ảnh hưởng lẫn nhau, có khi chống đối, có lúc bổ sung, có khi thỏa hiệp, chứ đâu chỉ có quan hệ lườm nguýt mới là quan hệ. Ai hiện thực bằng Vũ Trọng Phụng mà lại là bạn thân của Lưu Trọng Lư. Nguyễn Công Hoan , người thầy hiện thực thì lại mê Tản Đà lại ở những bài mơ mộng nhất , lãng mạn nhất „. Ở châu Âu, cùng với V. Huy gô, G. Xăng, Muytxê,...là Ban dăc, Stăngđan, Flôbe,..

II- CÁC PHƯƠNG DIỆN CƠ BẢN TRONG NGHIÊN CỨU TRÀO LƯU VĂN HỌC:

1- Cơ sở xã hội – ý thức: Đối với nghiên cứu trào lưu , đây là vấn đề đầu tiên.

- Cơ sở xã hội: + Cơ cấu kinh tế

+ Thể chế chính trị

+ Các sự kiện chính trị - xã hội có ảnh hưởng đến toàn bộ đời sống xã hội như chiến tranh, cách mạng, những thay đổi quan trọng trong đời sống chính trị - kinh tế - xã hội.

VD:- Nghiên cứu trào lưu lãng mạn Pháp cần lưu ý: CM Pháp 1789, Công xã Pari ( 1871)

+Vai trò của CMT10 Nga đối với nền văn học hiện thực XHCN

+Vai trò của công cuộc Âu hóa đầu thế kỉ XX và CMT8 đối với VHVN.

- Cơ sở ý thức:

+ Những quan điểm triết học, mĩ học, đạo đức học, khoa học và các tư tửơng về chính trị - xã hội. Tất cả các phương diện đó hợp thành thế giới quan của nhà văn, có vai trò kim chỉ nam cho sáng tác của họ.

Khi tìm hiểu chủ nghĩa cổ điển, ta chú ý đến triết học duy lí của Đề cat (TK XVII). Tương tự: CNHTXHCN – TH Mac- Lênin ; CN hiện đại- Các tư tưởng triết học hiện đại như tượng trưng , siêu thực,..

2- Nghiên cứu hệ thống đề tài, chủ đề:

Văn học là một khoa học, vì vậy nhà văn bao giờ cũng phải xuất phát từ các câu hỏi: Viết về cái gì? Viết như thế nào? Trả lời cho các câu hỏi này là đã xác định mục đích sáng tác và thể hiện lí tưởng thẩm mĩ của nhà văn. Vì vậy, khi nghiên cứu trào lưu cần tìm hiểu hệ thống đề tài đặc trưng cũng như hệ vấn đề mà trào lưu đề cập.

CNCĐ:  Viết về tầng lớp trên của xã hội ( cái mẫu mực , cao thượng)

 Thể loại cơ bản: bi kịch

CNLM - Cái đẹp- buồn ( thường là cái đã mất)

 Thơ trữ tình

CNHTXHCN Cái mới

 Trường ca

3-Nghiên cứu hệ thống nhân vật:

Mỗi trào lưu văn học thường có một hệ thống nhân vật riêng với cách xây dựng phù hợp với lí tưởng thẩm mĩ của nhà văn và là nơi chứa đựng những vấn đề cơ bản của trào lưu. Do vậy tìm hiểu hệ thống nhân vật cũng là cách thức để tìm hiểu những vấn đề cơ bản của trào lưu.

Nghiên cứu nhân vật của trào lưu phải căn cứ vào các nhân vật cụ thể của từng tác phẩm, tác giả nhưng đồng thời phải đặt nhân vật vào hệ thống của nhiều tác giả trong trào lưu để tìm ra nét chung trong tính cách , số phận của kiểu nhân vật trong trào lưu.

Ở chủ nghĩa cổ điển, tính cách phổ quát của các nhân vật là nhân vật có lí trí, có tinh thần nghĩa vụ mạnh mẽ. Ở chủ nghĩa hiện thực, số phận của nhân vật được quan niệm như là nạn nhân của hoàn cảnh, thường có kết cục thê thảm: chết về thể xác hoặc chết về tâm hồn.

Trong quá trình tìm hiểu nhân vật không chỉ tìm hiểu những nét chung trong tính cách , số phận mà còn phải tìm những nét chung trong phương pháp xây dựng nhân vật. Đây chính là cơ sở để tìm hiểu sâu hơn về nhân vật nói riêng và đặc trưng của trào lưu nói chung vì với các trào lưu khác nhau sẽ có các phương pháp xây dựng nhân vật khác nhau. Rõ nhất cho điều này là trào lưu lãng mạn và trào lưu hiện thực vì bản chất của hai trào lưu này vốn đối lập nhau.

Về cơ bản trào lưu lãng mạn mô tả nhân vật theo hướng lí tưởng hóa đến tuyệt đối hóa về phương diện tinh thần, tình cảm. Cảm hứng lãng mạn thường thiên về phía thoát li vật chất, đối lập với vật chất.

Chủ nghĩa cổ điển sử dụng thể loại chủ lực là bi kịch. Nhà văn luôn đặt nhân vật trong xung đột lên đến đỉnh cao buộc nhân vật phải lựa chọn giữa một bên là lí trí nghĩa vụ, lí tưởng với bên kia là quyền lợi, khát vọng riêng tư của cá nhân. Nhân vật thiên về lựa chọn lí trí nghĩa vụ, lí tưởng.

Ở chủ nghĩa hiện thực, giá trị nhận thức vô cùng lớn, sâu sắc của nó có được là do TPHT mô tả nhân vật, hoàn cảnh một cách chi tiết, tỉ mỉ , toàn diện. Và đương nhiên cũng chỉ với CNHT mới có khái niệm điển hình văn học với tư cách là nhân vật lạ mà quen theo cách nói của Biêlinxki. Trong TPHT, có những nhân vật phụ nhưng rất sắc nét ( VD: bà cô thị Nở)

4-Nghiên cứu hệ thống thi pháp:

Mỗi trào lưu thường có những định hướng chủ đạo trong cách thức xây dựng tác phẩm .Tương ứng với một hệ thống đề tài , chủ đề , nhân vật ( nội dung) thì nó cũng có một hệ thống thi pháp đặc trưng:

CNCĐ: Coi những gì của thời trước là mẫu mực để mô phỏng nên đã hình thành nguyên tắc “ mô phỏng cổ đại”. Nguyên tắc này thể hiện rất rõ trong:

- Đề tài; lịch sử , văn học Hy – La cổ đại

- Cốt truyện: có nguồn gốc như trên

- Nhân vật:

- Thể loại: bi kịch.

Ngay cả tác phẩm lí luận ‘ Thi học” của Boa lô cũng kế thừa rất sâu sắc “Thi pháp học” của Arisxtôt. Thơ ngụ ngôn của La Phôngten có mối quan hệ với ngụ ngôn Êdôp.,..

Chủ nghĩa lãng mạn đề cao chất trữ tình, ‘ chủ nghĩa lãng mạn là chủ nghĩa trữ tình”

Đề tài: tình yêu , thiên nhiên , tôn giáo

Thể loại: Dù viết theo thể loại gì, TPLM cũng đều thấm đẫm chất trữ tình vì thế đặc biệt phát triển thể loại tự truyện.​​​​​​​

Chủ nghĩa hiện thực đề cao tính khách quan của sự phản ánh. Nguyên tắc này chi phối cả sáng tác và tiếp nhận ( ý kiến của Ban dăc, Xtăngđan, Vũ Trọng Phụng, Nam Cao,..)

Thể loại chủ lực: Truyện với hệ thống chi tiết phong phú có khả năng chứa đựng những nội dung đời sống đa dạng

  •  

Chủ nghĩa hiện thực XHCN luôn luôn phát hiện nhìn thấy cái mới: Trong những ngày thực hiện tiêu thổ kháng chiến ( cuối 1946 đầu 1947), Tố Hữu đã nhìn thấy: Từ trong đổ nát hôm nay / Ngày mai đã đến từng giây từng giờ.

5- Nghiên cứu tác giả và tác phẩm tiêu biểu:

CNCĐ:  Cornây : Lơ Xít

 Raxin : Ăng đrômac

 Môlie  Tactuyp; Lão hà tiện

 

CNLM  Pháp : V, Huy gô: Những người khốn khổ, Nhà thơ Đức bà Pari

 Anh: Đông Juăng

Mỗi trào lưu ngoài các tác giả , tác phẩm sáng tác còn phải lưu ý đến tác giả , công trình lí luận:

Với CNCĐ cần tìm hiểu Boa lô tác giả công trình “ Thi học” , được coi là người lập pháp cho CNCĐ, người đã tổng kết những đặc điểm cơ bản của chủ nghĩa cổ điển, đề ra những nguyên tắc của chủ nghĩa cổ điển. “Hãy yêu lí trí vì chỉ ở đây bạn mới tìm thấy chân lí của nghệ thuật, chân lí của cái đẹp”. “Mô tả Agamennông phải mô tả sự kiêu hãnh; mô tả Ênê phải mô tả cái oai phong”

Với chủ nghĩa lãng mạn phải chú ý đến lời tựa vở kịch Crômoen của V. Huygô với các luận điểm như . “ Cái bình thường là cái giết chết nghệ thuật” . Khi phê phán chủ nghĩa cổ điển chính ông đã dùng hình ảnh “ gọt chân cho vừa giày” . Hoặc khi tuyên bố lập trường lãng mạn ông viết ‘ không đi giầy đỏ, không đội mũ đỏ”

MỘT SỐ GHI NHẬN VỀ TRÀO LƯU VĂN HỌC LÃNG MẠN VIỆT NAM 1930-1945

1- Về khái niệm chủ nghiã lãng mạn:

a-Văn học lãng mạn là một khuynh hướng thẩm mĩ lấy việc khẳng định cái tôi cá nhân cá thể làm nguồn cảm hứng chủ đạo. Một cái tôi không thỏa mãn với thực tại, tìm cách tự giải thoát khỏi thực tại bằng mộng tưởng và bằng đắm mình vào đời sống nội tâm tràn đầy tình cảm , cảm xúc. Giải phóng trí tưởng tượng và tình cảm, cảm xúc ra khỏi sự trói buộc của lí trí, của chủ nghĩa duy lí, là đặc trưng cơ bản của chủ nghĩa lãng mạn. Nó yêu tự do , thích sự độc đáo phi thường, có hứng thú giãi bày những cảm xúc mãnh liệt, đặc biệt là nỗi buồn đau, lòng sầu xứ, tình yêu say đắm, sự ngưỡng mộ tạo hóa và thượng đế.

Chủ nghĩa lãng mạn rất gần gũi với tuổi trẻ vì tuổi trẻ giàu tình cảm, dễ đắm say, đặc biệt trong tình yêu. Tuổi trẻ luôn hướng về cái mới lạ. họ thích táo bạo, độc đáo, khác thường.

b- Những đề tài ưa thích của chủ nghĩa lãng mạn là thiên nhiên, tình yêu và tôn giáo:

- Thiên nhiên phù hợp với những tâm hồn khoáng đạt, tự do. Nó là người bạn tâm tình đáng tin cậy của cái tôi cá nhân bất mãn với xã hội

- Có tình cảm nào thiết tha hơn, cá nhân hơn, mãnh liệt hơn và “phi lôgic” hơn tình yêu ? Đó là hạnh phúc tột đỉnh nhưng cũng là trạng huống lo âu cay đắng, sầu não tột cùng và nó luôn luôn là những gì đầy bí ẩn khiến người ta có thể thêu dệt nên bao mộng tưởng lãng mạn nhất để mà sung sướng hoặc đau khổ

- Nhà văn lãng mạn đến với tôn giáo nhiều khi không phải vì sùng đạo kiểu một tín đồ ngoan đạo mà do nhu cầu của tâm hồn lãng mạn để đắm chìm vào những ước vọng cao cả, mơ hồ huyền bí của cõi vĩnh hằng

- Nói đến chủ nghĩa lãng mạn là nói đến cái buồn, nỗi đau. Đối với chủ nghĩa lãng mạn, đau thương, sầu mộng thuộc phạm trù thẩm mĩ ( Hãy lịm người trong thú đau thương- Lưu trọng Lư). Họ ca ngợi cái đẹp buồn của cảnh, của người. Ấy là những cảnh trời rộng , sông dài, cảnh đồng hoang bãi vắng, núi cao, rừng sâu biển xa, cảnh trùng khơi mịt mùng bão táp… Ấy là những cảnh chiều tà, thu muộn, hoặc những đêm trăng lạnh…Nói chung chúng thơ mộng nhưng đượm buồn và dễ gợi nỗi cô đơn, sự chia li, lòng sầu xứ, sự tàn tạ và cái chết… Tình yêu của chủ nghĩa lãng mạn là tình yêu tan vỡ, tình yêu không thỏa, là Nửa chừng xuân , Lỡ bước sang ngang, Xa cách….

c- Về hình thức thể hiện: chủ nghĩa lãng mạn sử dụng rộng rãi các thể loại trữ tình ( thơ trữ tình, văn trữ tình, tiểu thuyết tự truyện). nhân vật chính là cái tôi cá nhân đầy tình cảm , cảm xúc được bộc lộ một cách đắm say sôi nổi bằng những hình ảnh và tính cách khác thường, những ngôn từ giàu tính biểu cảm, kích thích mạnh vào các giác quan, thường sử dụng thủ pháp đối lập mạnh mẽ, cực đoan giữa cái cao cả tuyệt mĩ và cái thô kệch, ghê sợ. Nó rất sợ cái gì nhợt nhạt, đơn điệu , quen nhàm, thiếu cá tính.

Chủ nghĩa lãng mạn có công mở rộng thế giới thiên nhiên và thế giới nội tâm con người trong văn học. Nó khám phá và thể hiện mọi cung bậc tình cảm của con người, đặc biệt là trong tình yêu. Nó phiêu lưu trong vũ trụ, đi tìm những vùng trời đất mới lạ để thỏa mãn trí tưởng tượng đầy thơ mộng và nội tâm đầy nỗi khát thèm những cảm giác mạnh. Nó thích thú đặc biệt với những cái xứ lạ phương xa

2- Trào lưu văn học lãng mạn Việt Nam (1930-1945)

a- Mầm mống: Nguyễn Công Trứ, Phạm Thái, Chu Mạnh Trinh,…. -> Tản Đà

=> những cây bút Tây học đầu tiên : Hoàng Ngọc Phách , Đông Hồ , Tương Phố

=> biểu hiện hoàn chỉnh nhất là thế hệ những cây bút Tây học trẻ tuổi1930-1945

b- Một số đặc điểm của TLLMCNVN

- Hình thành và phát triển trong hoàn cảnh thuộc địa, nhà văn bị hạn chế về nhiều mặt: tự do tư tưởng, tầm văn hóa – tri thức, điều kiện vật chất,…

- Một số nhà văn nhà thơ cũng có tuyên ngôn này, khác ( Thế Lữ, Xuân Diệu, Nhóm thơ Bình Định, Xuân thu nhã tập, Tự lực văn đoàn,..) nhưng nói chung không lí thuyết nhiều, không đẩy lên thành chủ nghĩa này , trường phái khác một cách cực đoan

- Thành tựu có tính kết tinh nhất và có giá trị thẩm mĩ lâu dài hơn cả là thơ trữ tình, truyện ngắn, một số thể kí

- Nội dung tư tưởng: Chủ nghĩa lãng mạn nói chung là sự thể hiện trên lĩnh vực mĩ học thái độ bất hòa, bất mãn với xã hội, với thực tại. Trên đất nước ta trước CMTT, đấy chủ yếu là thái độ của người trí thức yêu nước, tiếp thu được tư tưởng và văn hóa phương Tây. Khao khát dân chủ tự do, văn minh, tiến bộ, tỏ thái độ bất hòa bất mãn với chủ nghĩa thực dân tàn bạo, hống hách và với những tập tục phong kiến hủ bại. Vì thế tuy chịu ảnh hưởng sâu sắc của nền văn học Pháp- đất nước của kẻ xâm lược- VHLM VN vẫn cắm rễ rất sâu vào cội nguồn dân tộc. Nó đã đi tiên phong và có đóng góp quan trọng vào công cuộc hiện đại hóa văn học dân tộc trên cơ sở truyền thống văn học VN. Hoài Thanh hiểu sâu sắc tấm lòng của những cây bút lãng mạn ấy họ yêu vô cùng tiếng mẹ đẻ. Họ viết văn, làm thơ để mong đóng góp được chút gì trong hoàn cảnh mất nước, vào việc giữ gìn và phát triển tiếng nói và văn chương dân tộc. Họ khám phá vẻ đẹp của thiên nhiên, đất nước và con người VN từ hình thức đến tâm hồn. Họ nói dùm nỗi buồn đau của người dân Việt Nam “ Thiếu quê hương” ngay trên mảnh đất đã sinh ra mình.

Nếu như những tâm hồn lãng mạn phương Tây, chủ yếu tỏ thái độ khinh bạc đối với lối sống gọi là buôcgioa ( tư sản) phàm tục trên quan điểm thẩm mĩ thì những cây bút lãng mạn VN, bên cạnh thái độ ấy, còn đối lập trên tinh thần dân tộc, đối với lối sống nô lệ, bằng lòng, thậm chí thoả mãn đối với thực tại của xã hội thực dân.

Lòng yêu nước ấy, sau này sẽ đưa họ hầu hết đến với CM và giúp họ theo đuổi hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mĩ đến cùng

b- Các chặng đường phát triển: VHLMVN phát triển từ đầu thế kỉ XX đến 1945 qua hai bước, phù hợp với quá trình hiện đại hóa văn học:

- Bước thứ nhất diễn ra từ đầu thế kỉ đến khoảng năm 1930

+ Thơ Tản Đà, Đoàn Như Khuê, Trần Tuấn Khải

+ Văn xuôi: Đông Hồ ( Linh Phượng kí), Tương Phố ( Giọt lệ thu), nhất là Hoàng Ngọc Phách ( Tố Tâm)

- Bước thứ hai: diễn ra khoảng từ 1930- 1945. Thành tựu của văn học LMVN ở bước này rất phong phú

+ Phong trào thơ Mới: mà tác giả là những cây bút rất trẻ, đầy tài năng, thấm nhuần tư tưởng và văn hóa của phương Tây hiện đại. Họ đã sáng tạo ra các thể thơ mới, hoặc làm mới các thể thơ truyền thống. Đặc biệt cái mới không ở hình xác câu thơ mà là ở tinh thần của nó. Ấy là cái tôi cá nhân cá thể được giải phóng về tình cảm, cảm xúc và trí tưởng tượng. Nó phá bỏ hệ thống ước lệ có tính chất phi ngã của thơ cũ để trực tiếp quan sát hoặc diễn tả thế giới ( bao gồm cả ngoại cảnh và nội tâm) bằng con mắt tươi mới, xanh non của mình. Nó có nhiều khám phá mới lạ, tinh tế và đầy tài hoa về thiên nhiên về tình yêu. Nó đêm đến cho thơ một chất trẻ trung hấp dẫn không có trong thơ cổ.

Tác giả tiêu biểu: Thế Lữ, Huy Thông, Lưu Trọng Lư, Xuân Diệu, Huy Cận, Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, Nguyễn Bính

Tác giả tiêu biểu nhất là Xuân Diệu

a- Các tác phẩm chính: Thơ thơ (1938); Gửi hương cho gió(1945); Trường ca ( thơ văn xuôi- 1945)

b- Nội dung:

b1- Thơ Xuân Diệu thể hiện một lòng yêu đời , thiết tha với cuộc sống, khát khao giao cảm với đời:

- Cảnh sắc thiên nhiên trong thơ Xuân Diệu đầy sức lôi cuốn. Nhà thơ cảm nhận thiên nhiên bằng tất cả các giác quan. Thiên nhiên thường được nhân hoá, trở nên rất “người” .

- Tình yêu trong thơ Xuân Diệu là một vườn hoa đủ mọi hương sắc, là một bản nhạc đủ mọi thanh âm diễn tả mọi trạng thái cung bậc của tình yêu đôi lứa

- Cuộc sống trong thơ Xuân Diệu tràn đầy hoan lạc rất đáng tận hưởng

b2- Mặt khác thơ Xuân Diệu cũng nói lên qúa nhiều sự chán nản, hoài nghi; nhân vật trữ tình hiện lên trong thơ hết sức cô đơn:

_ Nỗi ám ảnh về thời gian qua mau, tuổi trẻ qua mau dẫn đến tư tưởng sống gấp gáp, tham lam; yêu hốt hoảng , liều lĩnh.

_ Tình yêu trong thơ XD thường là thứ tình yêu thất vọng không thể đưa đến hạnh phúc, chỉ mang lại đau buồn.

c- Đóng góp về nghệ thuật:

Xuân Diệu là nhà thơ mới nhất trong các nhà thơ Mới. Thơ Xuân Diệu đặc sắc trong cảm hứng , thi tứ, bút pháp:

_ Cảm hứng về trạng thái cô đơn: cô đơn ngay cả khi có người, có vật, có cảnh:

_ Thi tứ tình yêu: Tình yêu trọn vẹn đắm say, hoàn toàn tháo tung hệ thống ước lệ, tượng trưng trong cách thức thể hiện.

_ Bút pháp mới:

Từ ngữ được kết hợp rất sáng tạo, giàu tính tạo hình gợi cảm.

Câu thơ có sự đổi mới rõ rệt , nhất là hiện tượng vắt dòng , ngắt câu.

  •  
  •  

+ Về văn xuôi:

Tiểu thuyết Tự lực văn đoàn:

  •  

Nhất Linh , Khái Hưng, Hoàng Đạo với mô hình tiểu thuyết ái tình mà nhân vật lí tưởng là đôi thanh niên nam nữ Âu hóa từ y phục đến tâm hồn. Đó là những nhân vật trí thức Tây học thuộc những gia đình giàu có và sang trọng trong xã hội cũ. Họ đấu tranh cho hạnh phúc cá nhân, cho luyến ái tự do và cho một phong trào Âu hóa. Những tác phẩm tiêu biểu ủa các nhà văn này thường là những tiểu thuyết luận đề: chống lễ giáo phong kiến ( Nửa chừng xuân. Đoạn tuyệt, Lạnh lùng,..); những cải cách xã hội có tính chất không tưởng ( Con đường sáng , Gia đình,…); sự khủng hoảng sâu sắc về tinh thần ( Đẹp, Bướm trắng, Thanh Đức)

* Truyện ngắn: Thạch Lam, Xuân Diệu , Nguyễn Tuân, Thanh Tịnh , Hồ Dzếnh,…

 

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU TÁC GIẢ

  1. KHÁI NIỆM TÁC GIẢ VĂN HỌC:

    1.  

1- Khái niệm:

- Về hình thức tác giả văn học là người sáng tạo ra tác phẩm văn học. Tuy nhiên để được gọi là tác giả văn học đích thực phải là người có đóng góp một cái gì mới mẻ hoặc nói cách khác phải là người sáng tạo ra những giá trị văn học mới.

- Tác giả văn học phải là người có ý kiến riêng về đời sống, phải phát biểu được một đặc điểm mới, đề xuất được một cách hiểu mới về các hiện tượng đời sống vốn có thể là quen thuộc bình thường vì bản chất của văn học là sáng tạo.

- Tác giả văn học cuối cùng phải là người xây dựng thành công các hình tượng nghệ thuật. Đó là các hình tượng đạt đến độ vừa độc đáo vừa sâu sắc có khả năng đọng lại lâu dài trong cảm nhận của người đọc.

- Tác giả văn học phải là người xây dựng được một ngôn ngữ nghệ thuật mới, có phong cách , có giọng điệu riêng và có gương mặt riêng trong thể loại.

Tóm lại tác giả văn học là người có tài năng, nhân cách và có ý thức rõ ràng về nghề nghiệp của mình.

2- Tên gọi tác giả văn học:

Người ta thường dùng các tên gọi khác nhau để gọi tác giả văn học. Mỗi tên gọi thường ứng với một mức độ tài năng , tầm ảnh hưởng của tác giả đối với văn học và cuộc sống

a- Đại văn hào, đại thi hào: là những nhà văn là thơ mà sáng tác của họ có vai trò hết sức lớn lao, có thể mở ra một thời đại trong văn học, có thể trở thành những mẫu mực, khuôn thước cho các thế hệ sau, tầm ảnh hưởng của họ không chỉ bó hẹp trong phạm vi một thời đại, một dân tộc mà còn mở rộng ra tầm nhân loại, cho nhiều thời đại.

VD: Sêxpia, V.Huygô, Bandăc, Puskin, L.Tônxtôi, Lỗ Tấn, Nguyễn Du,..

b- Nhà văn lớn , nhà thơ lớn: Đây là những tác giả văn học có ảnh hưởng ở phạm vi hẹp hơn thường gắn với phạm vi dân tộc đất nước hoặc các giai đoạn trong văn học dân tộc

c- Nhà văn , nhà thơ, nhà viết kịch: là những tên gọi tác giả chủ yếu dựa vào thể loại. Đó là tác giả của từng thể loại cụ thể. Trong trường hợp, tác giả sáng tác nhiều thể loại, người ta thường gọi theo thể loại mà tác giả thành công nhất. Ví dụ nhà thơ Xuân Diệu, nhà thơ Nguyễn Đình Thi.

Như vậy khái niệm tác giả văn học vừa gần gũi vừa khác với khái niệm nhà văn. Khác ở chỗ khái niệm nhà văn thường chỉ những sáng tác chuyên nghiệp còn khái niệm tác giả văn học thì bao hàm cả những chủ nhân của các sáng tác văn học dân gian.

Tham khảo ý kiến của Phan Huy Ích : “ Thành được một nhà văn là việc nhỏ, một nhà văn mà đời nọ nối đời kia, chi này truyền chi khác, lại là một việc quý và hiếm trong giới văn chương. Trên đời, những người rong ruổi trong rừng văn, cầm bút viết nên văn không phải là ít, nhưng nói về việc tâm tư linh hoạt, cốt cách cao kì, hơn hẳn người thường, tất phải ý chí như vàng ngọc, thanh diệu như nhạc ca, sóng từ kết lại , phát ra thành văn, mới xứng là danh gia. Dù là danh gia nhưng nếu xướng lên không có người theo, đứt rồi không có người nối, thì cũng chưa phải là thịnh…” ( Đề tựa bộ sách Ngô gia văn phái).

II- CƠ SỞ ĐỂ NGHIÊN CỨU MỘT TÁC GIẢ VĂN HỌC:

1- Có đầy đủ những tư liệu về tác giả:

a- Tư liệu về tiểu sử, con người tác giả: Năm sinh , năm mất, gia đình, quê hương , học vấn, các quan hệ xã hội, quá trình hoạt động, ảnh hưởng từ sách báo hoặc những luồng tư tưởng nào

( VD: mảnh vườn, nạn lụt trong thơ Nguyễn Khuyến, văn Nam Cao- những tác giả văn học lớn lên từ một miền quê chiêm trũng.

Những khảo sát rất tỉ mỉ của Nguyễn Tuân về “ Thời và thơ Tú Xương )

Ví dụ Nguyễn Huy Thiệp có những cho văn học thời kì đổi mới ( Tướng về hưu, Chảy đi sông ơi; Con gái thủy thần,…) Nguyên nhân nào dẫn đến Nguyễn Huy Thiệp có cái nhìn mới và sâu?

Về chủ quan:

+Mảng đề tài miền núi: các tập quán , huyền thoại được đưa vào rất nhuyễn ( NHT có thời kì dạy học ở miền núi)

+ Mảng lịch sử: NHT có cách nhìn mới vào các nhân vật đã quen thuộc ( NHT từng dạy sử)

Về khách quan:

+ Công cuộc đổi mới do Đảng lãnh đạo. NHT có thiên về việc thấy cái xấu. Giai đoạn này nhiều tác phẩm cũng khai thác khía cạnh như thế ( VD: Cái đêm hôm ấy đêm gì của Phùng Gia Lộc)

Nguyễn Khải có hai giai đoạn sáng tác:

- Trước 1975: NK thiên về nhìn thấy mặt xấu của tôn giáo. Cái nhìn đó là cái nhìn theo thói quen, theo định kiến ( Xung đột)

- Sau 1975: Nguyễn Khải viết Cha và con, và.. thể hiện cái nhìn tương đối biện chứng. Có những người trước sau vẫn chống đối cách mạng, lại có người vẫn thủy chung với dân tộc , cách mạng.

b - Có đầy đủ các sáng tác của tác giả: Bao gồm những Tp đã xuất bản, những TP chưa xuất bản; những trang bản thảo có sửa chữa, những thư từ nhật kí , ghi chép của tác giả trong quá trình sáng tác ( hình thành ý đồ.--thu thập tư liệu – lập đề cương- viết – sửa chữa) , những phát biểu của tác giả về TP, NV…

Với các tác phẩm thuộc về quá khứ đã xa. Điều quan trọng là tìm được các văn bản có độ chính xác cao. Ở phương diện này, ngành văn bản học cung cấp cho ta những cơ sở đáng tin cậy. Với văn học hiện đại, cần biết được những thay đổi , những sửa chữa trong quá trình viết hoặc trong các lần tái bản.

VD > Bài Núi đôi, ban đầu Vũ Cao định mở đầu bằng câu Núi vẫn đôi mà anh mất em nhưng sau đó câu này được đặt vào giữa bài thơ. Sau câu thơ này trạng thái sóng đôi của nửa đầu bài thơ không còn.

Khi viết Theo chân Bác, Tố Hữu có nghĩ đến Trường ca Lênin của Maiacôpxki và ban đầu ông định chọn thể lục bát hoặc song thất lục bát. Nhưng sau đó ông không lựa chọn giọng điệu như trường ca Lênin , và về thể thơ ông đã chọn thể thơ bảy chữ được bố trí theo từng khổ 4 câu. Đây là thể thơ vừa có khả năng tự sự vừa có khả năng trữ tình, giọng thơ phù hợp với đói tượng phản ánh “ Giọng của Người không phải sấm trên cao, Thấm từng tiếng ấm vào lòng mong ước” ( Sáng tháng năm)

c-- Có đầy đủ tài liệu nghiên cứu về tác giả: bao gồm các bài báo , tạp chí, kỉ yếu hội nghị khoa học, các sách chuyên khảo,…để có thể tiếp thu thành quả nghiên cứu của những người đi trước, nắm được vấn đề đã được nghiên cứu ở mức độ nào từ đó định hướng cho vấn đề nghiên cứu của mình. Phải tiếp cận theo hướng nào? Phát triển thêm cái gì?

2- Có phương pháp nghiên cứu đúng đắn:

Phương pháp chung nhất là vận dụng CNDVBC và CNDVLS vào nghiên cứu tác giả. Cụ thể là phải đặt tác giả vào những mối quan hệ xã hội để thấy được những nét về thế giới quan, về lập trường giai cấp, về quan điểm xã hội, quan điểm thẩm mĩ của nhà văn. Mặt khác phải quan tâm đến những vấn đề thuộc về cá tính, tâm lí , khí chất , những yếu tố có ảnh hưởng đến phong cách. Có thể mỗi nhà văn thường có nhiều nét phong cách, trong đó có thể có nét nổi bật tạo nên gương mặt tinh thần của nhà văn trong sáng tác. Vì vậy khi nghiên cứu cần phải thấy được những nét phong cách cụ thể nhưng quan trọng nhất là tìm thấy nét phong cách đặc trưng nhất của nhà văn.

Lưu ý: nghiên cứu một TGVH là nghiên cứu con người nhà văn gắn liền với sự nghiệp sáng tác. Do vậy cần tránh khuynh hướng chạy theo những chi tiết li kì về tiểu sử tác giả, những nét siêu phàm về tâm lí đã trở thành những giai thoại , huyền thoại.

III_ CÁC PHƯƠNG DIỆN CƠ BẢN TRONG NGHIÊN CỨU TÁC GIẢ VĂN HỌC:

Về lịch sử tác giả:

  1.  

- LSTG bao gồm rất nhiều vấn đề: Những bước đường trong cuộc đời tác giả, những gì có liên quan đến sự hình thành tài năng sáng tạo của tác giả. Quá trình đó hình thành trong thế giới quan, quan điểm chính trị- xã hội. Tất cả những điều đó liên quan đến:

+ Vốn sống ( hiểu biết về xã hội , con người)

+ Vốn văn hoa ( sự am tường các lĩnh vực khoa học)

+ Vốn chính trị ( hiểu biết về đường lối , chính sách , quan điểm chính trị - xã hội, cái nhìn đúng đắn đối với thể chế chính trị-xã hội)

+ Vốn nghề nghiệp

Về chính trị cần phân biệt ý thức chính trị với thể chế chính trị. Ý thức chính trị chi phối văn học là chuyện đương nhiên. Còn một thể chế chính trị nào đó trực tiếp chi phối nhà văn thì lại là chuyện khác ( Xem Nguyễn Minh Châu- Hãy đọc lời âi điếu cho văn học minh họa)

Vốn nghề nghiệp là nói đến trình độ , kĩ năng , kĩ xảo của nhà văn trong sáng tác. Đã là một nhà văn tất yếu phải biết xây dựng TP như thế nào để đạt hiệu quả cao nhất, phải biết sắp đặt , sáng tạo TP theo quy luật của sáng tạo nghệ thuật.

VD: Vẻ đẹp trong cấu trúc khổ thơ của Tiếng thu

Mỗi khổ thơ là một câu hỏi nhưng hàm chứa ý trách móc Em- người dửng dưng với mùa thu-> gián tiếp ca ngợi mùa thu đẹp.Các khổ thơ tăng tiến về số câu như thể hiện sự tăng tiến nỗi buồn. Chủ nghĩa LM thường có cảm hứng mạnh về cái đẹp buồn, nhiều khi là buồn vô cớ. Vì thế nỗi buồn không bao giờ dứt nên dù bài thơ có kết thúc nhưng cảm xúc ấy không bao giờ dứt, ngày càng tăng tiến mãi.

Kết cấu bài Tre Việt Nam của Nguyễn Duy có sự lặp lại “tre xanh “ ở đầu và cuối bài thơ như một sự khẳng định tính trường tồn của đất nước, con người VN.

Nghiên cứu quá trình sáng tác của tác giả: Cần chia quá trình sáng tác thành các giai đoạn dựa vào các sự kiện lớn mang tính chất bước ngoặt gắn liền với những chuyển biến về tư tưởng và được cụ thể hóa bằng sáng tác.Khi chia giai đoạn phải nhận ra các đặc điểm có tính chất kế thừa. Điều này liên quan đến việc tìm hiểu phong cách nhà văn ( PC= nét riêng dộc đáo tương đối bền vững)

  1.  

VD: Sự tiếp nối của phong cách Nguyễn Tuân, Nguyễn Minh Châu trong các giai đoạn sáng tác

Khi xem xét các giai đoạn sáng tác của nhà văn cần quan tâm đến các sáng tác của họ về đề tài , thể loại. Lí giải những thay đổi này xuất phát từ đâu? Mang lại đóng góp gì mới cho giai đoạn văn học? lịch sử văn hoc?

VD Nguyễn Minh Châu - như một người đi tiên phong trong đổi mới văn học- đã đổi mới tư duy sáng tác một cách rõ rệt. Cách nhìn con người và cuộc sống không còn là một chiều mà là đa chiều ( Chiếc thuyền ngoài xa) Các nhân vật trong các sáng tác này không hề dễ hiểu, có những cái không thể giải thích tường minh. “ Thiên chức của văn học là đi tìm hạt ngọc ẩn giấu trong bề sâu tâm hồn con người”. Nói cách khác, cuộc sống con người thường có hai mặt. cái tốt thường ẩn chìm khuất lấp trong cái xấu

Truyện Bức tranh: Câu chuyện về sáng tác nghệ thuật + con người ta thường phạm tội trong những giây phút rất bất ngờ. Liên hệ với truyện Lựa chọn của Bônđarep- con người luôn phải lựa chọn.

Người họa sĩ trong truyện không phải là người hoàn toàn xấu cho dù có lúc anh ta tỏ ra thiếu tinh thần đồng đội lại tỏ ra tự cao, tự đại và sau đó là ích kỉ. Nhưng sau khi đã có hành động ích kỉ ấy, anh vẫn luôn tự vấn lương tâm, tự thú và tìm cách chuộc lỗi. Anh đã 3 lần tìm cách chuộc lỗi- gửi số tiền cho người chiến sĩ nhưng rồi lại thôi vì cho đó là hành động con buôn. – hằng thàng đến cắt tóc tại quán anh chiến sĩ đó để cho người CS kia có thể nhận ra và chửi mắng mình. Cách này không thành vì anh CS kia vẫn tỏ ra như mình không nhận ra người đồng đội – họa sĩ thất hứa cũ. – Vẽ bức tranh thứ hai với gương mặt của mình đầy xà phòng

Nghiên cứu về tư tưởng sáng tác chủ đạo của tác giả:

  1.  

TTSTCĐ là tư tưởng mà tác giả tâm đắc nhẩttong cuộc đời sáng tác và thiết tha muốn chia sẻ cùng người đọc trong sáng tác của mình. Do vậy xá định đúng tư tưởng chủ đạo của tác giả là chìa khóa khám phá thế giới nghệ thuật của tác giả

VD: Aimatôp thiên về khai thác bi kịch của con người:

Truyện Người thầy đầu tiên, nhân vật bi kịch có thể nói là thầy giáo Duysen. Nhưng ngay cả nhân vật Antưnai vẫn không phải là người hạnh phúc vì trong sâu thẳm tâm hồn vẫn có yếu tố bi kịch: mối tình đầu tiên với người thầy đầu tiên. Antưnai luôn cảm thấy có lỗi lớn vì đã không nói rõ công lao của người thầy mình như thế nào.

Nhà văn chọn kết cấu khá độc đáo nhằm nêu bật nội dung bi kịch của nhân vật. Phải chăng sáng tác của Aimatôp như một bằng chứng cho tư tưởng coi con người là một sinh vật biết suy nghĩ cho nên luôn luôn tiềm ẩn bi kịch và bi kịch có thể đi cùng con người suốt cuộc đời.

Ở Việt Nam, Nguyễn Đăng Mạnh đã khái quát tư tưởng sáng tác chủ đạo của Nguyên Hồng là hiện thực thống thiết. Nguyễn Công Hoan luôn nhìn cuộc sống trong quan hệ giàu – nghèo và luôn tập trung mũi nhọn đả kích vào người giàu

4- Nghiên cứu đóng góp của tác giả:

a- Về giá trị tư tưởng của sáng tác: Bộc lộ ở sự lí giải chủ đề, cảm hứng chủ đạo và tình điệu thẩm mĩ. Thông qua các phương diện đó, nhà văn phải bộc lộ tầm tư tưởng mang tính khái quát cao. Các nhà văn được gọi là nhà văn lớn , trước hết là lớn ở tầm tư tưởng” Sêchpia, Gơt, V, Huygô, L. Tônxtôi, Nguyễn Trãi, Nguyễn Du.. – con mắt trông suốt sáu cõi, tấm lòng nghĩ thấu muôn đời

b- Phải xá định rõ những tìm tòi về mặt nghệ thuật trong so sánh chung với các nhà văn cùng thời đại hoặc trước đó. Bao gồm những cách tân trong xây dựng cốt truyện, ngôn ngữ , nhân vật , thể loại,..

Một trong những đóng góp rất quan trọng của Nguyễn Huy Thiệp là kết hợp chất dân gian với chất hiện đại. Nhà văn sử dụng nhiều huyền thoại dân gian nhưng cũng đem lại những sàm sỡ về ngôn từ ( dân chủ hóa ngôn ngữ)

c- Phải chỉ ra được những ảnh ghưởng của tác giả đối với các nhà văn đương thời. Nếu là tác giả của thời quá khứ , phải chỉ ra được ảnh hưởng của tác giả đó đối với văn học sau đó.

 

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU TÁC PHẨM VĂN HỌC

I- Về khái niệm TPVH:

Tùy theo góc độ tiếp cận, người ta có nhiều cách hiểu khác nhau về TPVH

1- Nếu căn cứ vào cấu trúc nội tại của tác phẩm, người ta coi TPVH là một cấu trúc chỉnh thể.

Cấu trúc là một thực thể có thể phân tích thành từng yếu tố trong đó mỗi yếu tố sở dĩ có được cương vị của nó không phải vì một thuộc tính nội tại gì của nó mà vì mối quan hệ của nó với toàn thể cấu trúc và với các yếu tố khác cùng với nó làm thành cái cấu trúc ấy, và chỉ vì những mối quan hệ ấy mà thôi. Vậy cấu trúc trước hết là một thực thể toàn vẹn, chứ không phải là tổng số của những sự vật rời rạc được cộng lại với nhau mà thành ( Theo Cao Xuân Hạo)

Tác phẩm được tạo nên bởi nhiều yếu tố , các yếu tố lại được kết hợp ở nhiều cấp độ. Yếu tố dù nhỏ nhất vẫn có vai trò đối với chỉnh thể.

2- Nếu xem xét dưới góc độ sáng tác, tiếp nhận , người ta coi TP là một quá trình.

a- Đối với người sáng tác nó là kết quả của một quá trình lâu dài: nhận thức đời sống, cảm hứng dẫn đến ý đồ sáng tác, quá trình viết, sửa chữa…

L. Tônxtôi phải mất 50 năm mới viết Khatghi Murat

+ Nhà văn phải có quá trình rèn luyện, quá trình sống , hoạt động nghề nghiệp

+ Nhà văn lại phải là người giàu cảm xúc , giàu trí tưởng tượng “Nhà sinh học không cần tưởng tượng mình là con cừu nhưng nhà văn bao giờ cũng phải nhập thân vào con cừu để viết về nó ( ý của M. Gorki)

 

 

 

 

 

 

 

TÁC PHẨM VĂN HỌC

 

 

 

NỘI DUNG

Đề tài

Chủ đề

Tư tưởng

Nhân vật

Cảm hứng

Quan niệm nghệ thuật về đời sống và con người

 

 

 

 

 

 

 

HÌNH THỨC

Ngôn ngữ

Ngữ âm

Từ vựng

Ngữ pháp

Kết cấu

Kết cấu văn bản

-Thơ

-Truyện

- Kịch

Kết cấu hình tượng

- Tổ chức sự kiện

- Tổ chức nhân vật

- Tổ chức không gian

- Tổ chức thời gian

Thể loại

Thơ

Truyện

Kịch

Quá trình sáng tác của nhà văn hết sức đa dạng. trong quá trình đó nhà văn phải kết hợp một cảm hứng mãnh liệt với lí trí sáng suốt. nhà văn phải có “một trái tim thông minh, một trái tim biết suy nghĩ” ( Vưgôtxki)

b- Về phía người đoc: Tiếp nhân Tp là một quá trình. Hiểu TP , đánh giá TP như thế nào là một quá trình luôn luôn vận động, luôn có những bổ sung , thay đổi. Vì vậy tác phẩm không phải là một hình tượng cố định, nó luôn luôn vận động cùng với quá trình vận động của sáng tác và tiếp nhận

HTVH là một hình tượng phi vật thể có nghĩa là cái vỏ vật chất cho nó tồn tại (quyển sách) không phải là hình tượng VH. Hình tượng đích thực tồn tại trong đầu óc người đọc. Văn bản TP chỉ có một, TP tồn tại trong cách hiểu của người đọc là vô số. Do vậy giá trị của Tp chỉ được hình thành trong quá trình đọc và sau khi đọc. Hầu hết các nhà nghiên cứu văn học đều đồng tình với Mukarôpxki trong nhận xét sau: “ TP do nhà văn sáng tạo nên chỉ là một kí hiệu. Cấu trúc thật sự ở TP chỉ có thể là ngữ nghĩa học tồn tại trong cách hiểu của người đọc” và “ Mọi sự hiểu VB đều là sự sáng tạo là sự “hiểu một cách khác” . Nó luôn tìm kiếm những khả năng mới dể làm thay đổi VB. Trong khuôn khổ những khả năng đó, TPVH là cái mà người đọc để cho nó xảy ra từ VB” ( Herderge).

Trường phái hiện tượng luận mà tiêu biểu là Roman Ingarden khẳng định TPVH chỉ là con đẻ tinh thần của nhà văn, còn sự cảm thụ của người đọc chẳng qua là sự cụ thể hóa cái mô thức vốn có trong tác phẩm. Nhận thức luận nghệ thuật rất phong phú của ông, xoay quanh vấn đề cụ thể hóa này:

+Điểm chưa xác định trong tác phẩm văn học là điều hiển nhiên vì, trước hết , ngôn từ trong tác phẩm là hữu hạn nó chỉ có thể trực tiếp xác định một số phương diện, còn một số phương diện khác của khách thể chỉ được thể hiện một cách gián tiếp, ngay những chỗ được xác định cũng chưa không thể thật chi tiết. Mặt khác, cách nói của nhà văn bao giờ cũng gợi cảm , gợi suy nghĩ, hàm súc , ý tại ngôn ngoại,…Vì vậy , TPVH luôn luôn ở trạng thái chuẩn bị, tiềm tại và sự cụ thể hóa của người đọc, do đó, là tất yếu.

+ Xét về chủ thể tiếp nhận, sự cụ thể hóa cũng là tất yếu vì gặp những điểm chưa xác định , người đọc hoặc là suy tưởng từ những điểm đã xác định trong TP để bổ sung hoặc tưởng tượng thêm theo ý hướng của mình. Nhưng dù suy tưởng hay tưởng tượng thêm, thường không tách rời nhau, cũng không tách rời với kinh nghiệm quá khứ và tâm thế đương thời của từng người đọc cụ thể. Kết quả của sự cụ thể hóa , do đó, là muôn màu . muôn vẻ, thậm chí cũng đa dạng hoặc sai biệt ngay ở một độc giả đọc TP ở những thời điểm khác nhau. Nhưng chung quy lại, những kết quả đó hoặc là hòa điệu hoặc là nghịch điệu với TP và do đó hoặc làm phong phú thêm hoặc làm giảm bớt đi những phẩm chất của tác phẩm.

- Roman Ingarden đặt vấn đề phương thức “ cụ thể hóa” lí tưởng:

+ Người đọc có thể tha hồ thả sức tưởng tượng nhưng phải có căn cứ trong tác phẩm, chứ không thể tùy tiện bịa đặt, thêu dệt ngụy tạo. Có thể tiếp nhận tác phẩm văn học bằng những phương thức đa dạng

+ Chỉ khi nào TPNT được hoàn thành và thực hiện trong sự cụ thể hóa mới trở thành khách thể thẩm mĩ. Ông phân biệt “ hệ thống tố chất trung tính” và “ hệ thống tố chất có ý nghĩa”. Hệ thống tố chất trung tính bao gồm những đặc trưng của từng loại hình nghệ thuật, chưa tạo nên giá trị nghệ thuật, nhưng lại có tác dụng làm nền móng cho giá trị nghệ thuật. Có nghĩa là trên cơ sở đặc trưng của từng loại hình nghệ thuật, nghệ sĩ tổ chức được hệ thống tố chất có ý nghĩa thì giá trị nghệ thuật mới xuất hiện

 

3- TPVH là một quan hệ xã hội – thẩm mĩ:

-Quan hệ giữa TGNT trong TP với thế giới đời sống: Chân lí nghệ thuật thống nhất chứ không đồng nhất với chân lí đời sống. Trong đó thế giới đời sống là cơ sở bởi nó quyết định mọi nội dung tri thức, cảm hứng, hình thức nghệ thuật của TP

+ Cảm hứng: ngợi ca cái tốt đẹp , cao cả , anh hùng; phê phán cái xấu

+ Nội dung: toàn bộ nội dung trong TP ( thiên nhiên, con người, loài vật,…) đều là đối tượng có trong đời sống

+ Hình thức: ứng với nội dung nào phải có hình thức thể hiện tương ứng để chuyển tải nội dung

- TGNT không bao giờ trùng khít, đồng nhất với thế giới đời sống vì đó là thế giới-kết quả của một cái nhìn cụ thể. Nó là hiện thực thứ 2, thiên nhiên thứ 2. Nó có cơ sở từ hiện thực đời sống nhưng đã nâng lên theo tiêu chuẩn thẩm mĩ. Nó có thể đẹp hơn hoặc xấu hơn chứ không bao giờ như vốn có.

- Tp là con đẻ của nhà văn , do đó bao giờ cũng có quan hệ với nhà văn. Trong quan hệ này , nhà văn là chủ thể sáng tạo ra TP, ngược lại Tp là con đẻ tinh thần của nhà văn nhưng đồng thời nhà văn cũng là con đẻ của một dân tộc , một thời đại, một giai cấp. Do vậy TPVH vừa mang dấu ấn của cá nhân nhà văn với tư cách là một cá tính sáng tạo vừa mang dấu ấn của thời đại. Toàn bộ thế giới tinh thần của nhà văn đều in dấu ấn trong sáng tác. Đó có thể là một cách nhìn , một cách cảm, một cách nghĩ, một lí tưởng , một quan niệm xã hội, quan niêm thẩm mĩ, cá tính , khí chất.

- TP với bạn đọc: TP sau khi chia tay với nhà văn, mối quan hệ giữa nó với nhà văn đã có số phận khác. Nó đến với độc giả và cũng trở thành khách thể trong quan hệ với nhà văn. Trong trường hợp này , người đọc có thể mang đến cho TP những ý nghĩa mới, làm cho nó có một số phận mới. Tuy nhiên người đọc bao giờ cũng gồm nhiều thành phần, lứa tuổi , nghề nghiệp, trình độ,…Người đọc ở các thời đại khác nhau có thể có cách cảm nhận khác nhau. Đây là một quan hệ hết sức phức tạp. Tuy nhiên trong quan hệ này , giá trị tự thân của TP vẫn có ý nghĩa quyết định đối với người đọc.

Tiếp nhận văn học là một hoạt động có tính quy luật và mang bản chất xã hội. Sự đọc tác phẩm văn học không phải là một hoạt động hoàn toàn tự do và hoàn toàn mang bản chất cá nhân

Người đọc bị quy định bởi văn bản tác phẩm như là môt “ tiền đề tiếp nhận” ( M. Nauman) với các mã ngôn ngữ; mã nghệ thuật, mã văn hóa kết tinh trong đó. Theo Nauman trong hoạt động tiếp nhận tác phẩm là nhân tố hàng đầu có tính quyết định, đóng vai trò điều khiển quy định trước các quá trình và phương thức tiếp nhận đối với người đọc, quy định cả hiệu quả và cách đánh giá. Người đọc trong quá trình đọc chỉ hiện thực hóa các tiền đề tiếp nhận của tác phẩm. Người đọc chỉ tự do trong phạm vi tác phẩm mà thôi. Mọi cách giải thích đối với tác phẩm chỉ là thực hiện cái tiềm năng về nội dung và hình thức của tác phẩm. vì vậy tính năng động của người đọc chỉ là thứ yếu và phụ thuộc.

Người đọc bị quy định bởi kinh nghiệm do “cộng đồng lí giải” của người đọc và sự lí giải đã có về tác phẩm trong môi trường văn hóa.

  •  
  •  

Trong hoạt động tiếp nhận “ tiếp nhận xã hội” là tiền đề của tiếp nhận cá nhân” ( Nauman). Nói cách khác tiếp nhận cá nhân luôn diễn ra trong bầu khí quyển của tiếp nhận xã hội.

Người đọc bị quy định bởi nhu cầu đời sống thể hiện ở chỗ họ luôn chờ đợi ở tác phẩm những vấn đề , hiện tượng, hình thức mà họ quan tâm, bởi lẽ như Gađamer nói : “ Thậm chí khi ta lí giải một cái gì đó với những động cơ tốt đẹp thì chúng ta cũng có khuynh hướng bỏ qua những cái gì không nằm trong hệ thống những điều chờ đợi của chúng ta”

- Quan hệ giữa TP với truyền thống văn hóa nghệ thuật: Bất kì một Tp nào cũng đều có mối liên hệ với truyền thống , với quá khứ: truyền thống văn học của dân tộc, truyền thống của văn học nhân loại

II- PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU TPVH:

Nghiên cứu TPVH trên bình diện cấu trúc văn bản nghệ thuật:

  1.  

TPVH tồn tại trước hết qua một văn bản: thơ , truyện , kịch. Bản thân văn bản cũng là kết quả của một quá trình sáng tạo. Ở đó , nhà văn dồn mọi khả năng của mình ( hiểu biết về nghề , hiểu biết về kĩ thuật sáng tác) để tổ chức văn bản , sắp xếp các yếu tố trong đó sao cho đạt dược yêu cầu: chất liệu ít nhất – nội dung phong phú , sâu sắc nhất. Nói cách khác , văn bản TP bao giờ cũng phải đạt đến mức tối ưu.

a- Khi nghiên cứu văn bản TP, ta phải chú ý đến quan hệ giữa yếu tố với chỉnh thể. Trong quan hệ này , một mặt đòi hỏi người nghiên cứu phải tìm hiểu từng yếu tố cụ thể trong văn bản, Mặt khác, phải biết xâu chuỗi những yếu tố đó , đặt nó vào trong một hệ thống để từ đó thấy được tính chất khái quát của các yếu tố

Thời gian

Thời gian qua kẽ tay

Làm khô những chiếc lá

Kỉ niệm trong tôi

Rơi

như tiếng sỏi

trong lòng giếng cạn

Riêng những câu thơ

còn xanh

riêng những bài hát

còn xanh

Và đôi mắt em

như hai giếng nước

Văn Cao

Không đề

Con thuyền đi qua

để lại sóng

Con tàu đi qua

để lại tiếng

Đoàn người đi qua

để lại bóng

Tôi không đi qua tôi

để lại gì?

Văn Cao

Trong thơ, cần đặc biệt chú ý đến những nhãn tự , những thần cú. Đó chính là điểm hội tụ, kết tinh nội dung ý nghĩa của tác phẩm. Nhưng đồng thời cũng phải chú ý đến toàn bộ thế giới hình tượng bởi vì có thể có hiện tượng các yếu tố nếu xét đơn lẻ dương như không có gì nổi bật nhưng nếu xâu chuỗi chúng lại thì chúng có khả năng chuyển tải một nội dung sâu sắc ( Chuỗi cườm – Thanh Thảo trong tuyển thơ lục bát; Kì diệu – Philip Xaphô)

Trong TPTS luôn có hệ thống chi tiết sự kiện rất phong phú. Việc bao quát hết hệ thống đó không hề dễ dàng . Nghiên cứu TPTS phải biết chọn lọc, chú ý đúng mức đến những tình tiết tạo nên cốt truyện, chú ý đúng mức đến các chi tiết góp phần khắc họa sinh động, sâu sắc hình tượng TP, trong đó quan trọng nhất là hình tượng nhân vật

b- Quan hệ giữa lựa chọn và kết hợp:

Xây dựng VBTP là kết quả của một quá trình lựa chọn và kết hợp. Quá trình đó thực chất là quá trình tìm tòi sáng tạo của nhà văn, do đó thường mang dấu ấn tài năng của nhà văn

+ Lựa chọn: Chất liệu , từ ngữ , hình ảnh , chi tiết , sự kiện,...Trong hàng tấn quặng chữ hãy chọn lấy một từ ( Maiacôpxki)

VD: Sự lựa chọn giữa có / không trong bài Tiếng thu

Tuôn/ khô trong Thề non nước

Vùi , / hòa trong Mẹ Tơm

Đi/ về trong Việt Bắc

Xuôi / ngược trong Sóng

. Ở ba câu đầu trong ba khổ thơ ‘ Tiếng thu” hoàn toàn có thể thay thế “ không” thành “có” mà không phương hại gì đến nội dung lôgic của lời thơ. Nhưng nếu dùng “ có” thì bài thơ sẽ là những câu hỏi của nhân vật trữ tình đối với người yêu nhằm khơi gợi sự đồng cảm , đồng điệu trước một mùa thu đẹp và buồn.

Dùng “không” bài thơ sẽ là một lời trách cứ và thất vọng. Mùa thu đẹp là thế sao em cứ dửng dưng, nỗi se thắt vì không tìm được sự đồng điệu, sẻ chia. Vì thế mùa thu buồn lại càng buồn thêm, cái đẹp bị hững hờ nên càng não nùng hơn. Điều đó hoàn toàn phù hợp với tạng cảm xúc của Lưu Trọng Lư thời thơ Mới ‘ Hãy lịm người trong thú đau thương”

Một VD khác: (…) Mình đi có nhớ, những ngày

            Mưa nguồn suối lũ, những mây cùng mù

            Mình về có nhớ chiến khu

            Miếng cơm chấm muối, mối thù nặng vai

Mình về rừng núi nhớ ai

Trám bùi để rụng , măng mai để già

            Mình đi có nhớ những nhà

            Hắt hiu lau xám, đậm đà lòng son…

Mình về có nhớ núi non

Nhớ khi kháng Nhật, thuở con Việt Minh

Mình đi mình có nhớ mình

Tân Trào, Hồng Thái, mái đình , cây đa

( Việt Bắc – Tố Hữu)

Trong đoạn thơ trên, các câu lục đều có từ “đi” hoặc “ về”. Trong văn cảnh cả hai từ này đều mang chung một ý nghĩa, cùng chỉ hướng về xuôi Nhưng tại sao tác giả không dùng hẳn một từ nào trong hai từ đó cho nó “ nhất quán”. Trong lời nói thông thường chắc chắn người ta sẽ chỉ sử dụng một trong hai từ ấy thôi. Nhưng ở đây cảm quan nghệ thuật nhạy bén của tác giả đã giúp cho sự lựa chọn này đạt đến tính nghệ thuật. Thật thế, sử dụng như tác giả một mặt phát huy được sự liên hội đến nét nghĩa đen đối lập của đi/ về trong tiềm thức người đọc tạo thành cặp trái nghĩa hư ảo ( một câu đi, một câu về chao qua liệng lại), kết hợp với sự đối lập giữa thanh huyền với thanh ngang giữa đi, về và giữa từng từ trong đó với các tiếng cuối câu ( đi/ ngày; về/ khu;…) tạo ra cái điệu hồi hoán của nhịp ru, như vỗ về niềm thương nhớ khôn nguôi của con người trong cuộc chia li. Trong nghệ thuật, nhà văn hoàn thiện văn bản, tạo thành lời văn duy nhất hợp với ý tình định nói là như thế.

Chọn chất liệu, phương tiện , phương thức nghệ thuật, thể loại phù hợp

Sống như Anh ( Truyện kí) / Hãy nhớ lấy lời tôi ( thơ)

Cây tre Việt Nam ( tùy bút) / Tre Việt Nam ( thơ)

Sau sự kiện Bác Hồ qua đời ngày 2/9/1969, hàng loạt bài thơ ca ngợi Bác Hồ ra đời như một sự cộng cảm cùng nỗi đau chung của đồng bào hai miền Nam Bắc và bè bạn quốc tế. Trong dịp này Tố Hữu viết Bác ơi đầy xúc động.

Nhưng sau đó một năm, nhà thơ lại chọn thể trường ca để viết Theo chân Bác

Tôi viết bài thơ mừng thọ Bác

Năm nay vừa tuổi tám mươi tròn

Chắc như thường lệ Người đi vắng

Để mọi lời ca tặng nước non

 

Tôi viết bài thơ cho các con

Mai sau được thấy Bác như còn

Phơ phơ tóc bạc , chòm râu mát

Đôi dép mòn đi in dấu son

Nhà thơ đã lựa chọn cách kết cấu theo mạch thẳng thời gian, sử dụng bút pháp vừa tự sự vừa trữ tình, câu thơ thất ngôn được chia khổ đều đặn cân đối rất phù hợp với không khí trang nghiêm , thành kính . Hình thức nghệ thuật của Theo chân Bác đã góp phần lớn lao trong việc tái hiện sinh động cuộc đời cao đẹp của Bác Hồ, vừa diễn tả được những cảm nghĩ sâu sắc của nhà thơ về vị lãnh tụ thiên tài của dân tộc..

+ Kết hợp là sự liên kết , sắp xếp , tổ chức chất liệu để chúng trở thành một chỉnh thể thống nhất. Do vậy kết hợp thường có ý nghĩa quan trọng tạo ra giá trị độc đáo trong TP. Thông thường việc kết hợp thường hướng vào mục đích là làm sao để nhấn mạnh , tô đậm một ý nghĩa nào đó của tác phẩm tạo cho chúng một ý nghĩa khái quát cao nhưng lại hết sức sinh động

Mở đầu: Tre xanh , xanh tự bao giờ / Chuyện ngày xưa đã có bờ tre xanh

Kết thúc: Mai sai / Mai sau/ Mai sau/ Đất xanh tre mãi xanh màu tre xanh

 sự trường tồn của dất nước , con người Việt Nam.

Hoặc màu đỏ trong bài Cuộc chia li màu đỏ của Nguyễn Mĩ

Hoặc bài Áo đỏ : Áo đỏ em đi giữa phố đông/ Hàng cây xanh cũng ánh theo hồng///( Vũ Quần Phương)

+ Mở đầu và kết thúc:

Đầu cuối tương ứng: ( kết cấu vòng tròn): Khẳng định một quy luật : Chí Phèo- quy luật tha hóa : Năm Thọ , Binh Chức, Chí Phèo, con Chí Phèo,

  •  

Tiếng hát sông Hương: sự đổi đời của những con người dưới đáy xã hội trong sự nghiệp cách mạng giải phóng dân tộc

Tre Việt Nam , Rừng xà nu,…Lượm: sự bất diệt , bất tử

c- Quan hệ bổ sung và đối lập: Xét về cội nguồn , TP phản ánh cấu trúc đời sống. Đời sống thường bao hàm 2 mặt: bổ sung và đối lập. Bổ sung và đối lập diễn ra trên nhiều phạm vi của tác phẩm nhưng thông thường dễ thấy nhất là trong phạm vi nhân vật.

+ Bổ sung:

* Dạng song hành: là một biện pháp xây dựng TP để cho hai yếu tố đi cùng nhau, chúng bổ sung cho nhau từ đó làm nổi bật phẩm chất của cả hai yếu tố.

Biện pháp này thường được vận dụng trong xây dựng nhân vật: xây dựng hai nhân vật có quan hệ gần gũi với nhau, nhân vật này làm nổi bật nhân vật kia và ngược lại. Ví dụ : Mẫn và Tôi, Thúy Kiều và Thúy Vân

Trong xây dựng hình tượng nói chung, tác giả tạo ra hai yếu tố song song cùng tồn tại. Núi đôi: hai ngọn núi – hai con người; Sóng : sóng biển khơi- Sóng khát vọng tình yêu

Nhà văn thường lấy thiên nhiên làm cơ sở để nói về con người, tạo nên thế song hành.

* Dạng điệp: Là biện pháp lặp lại , có đổi mới ở các cấp độ như từ ngữ , hình ảnh , chi tiết , sự kiện…Trong thơ thường thấy điệp từ ngữ , hình ảnh.

Trong truyện : hình ảnh hai cây phong trong Người thầy đầu tiên; Tiếng sáo trong Vợ chồng A Phủ “ ngoài đầu núi lấo ló đã có tiếng ai thổi sáo rủ bạn đi chơi…nghe tiếng sao vọng lại thiết tha bổi hổi” – văng vẳng tiếng sáo gọi bạn đầu làng – tiếng sáo gọi bạn yêu vẫn lửng lơ bay ngoài đường- trong đầu Mị rập rờn tiếng sáo- vẫn nghe tiếng sáo đưa Mị đi theo những cuộc chơi, những đám chơi”=> khát vọng sống mãnh liệt của nhân vật

Ở cấp độ điệp sự kiện: Truyện của Ăngđrê Môroa ( tập truyện Hoa từng mùa; truyện Hoa Violet ngày thứ tư). Truyện Tam quốc- màn tam cố thảo lư; truyện Cây phong non quàng khăn đỏ của Aimatôp

+ Đối lập: Đây là hình thức rất phổ biến trong cấu trúc TPVH, được thể hiện ở nhiều cấp độ.

* Đối lập trong từ ngữ, trong cách diễn đạt:

Nguyễn Văn Trỗi/ Anh đã chết rồi / Anh còn sống mãi ( TH)

Lòng em nhớ đến anh/ Cả trong mơ còn thức

Để biết yêu anh cả khi chết đi rồi ( Xuân Quỳnh)

Khi ta ở chỉ là nơi đất ở / Khi ta đi đất đã hóa tâm hồn

Tình yêu làm đất lạ hóa quê hương ( Chế Lan Viên)

* Đối lập thường xảy ra ở cấp độ xây dựng hình tượng, xây dựng nhân vật:

i- Hình tượng toàn TP xây dựng theo kiểu đối lập ở nhiều mức độ:

VD: Cái ngày cô chưa có chồng/ đường gần tôi cứ đi vòng cho xa/ lối này lắm bưởi nhiều hoa/ ( đi vòng để được qua nhà đấy thôi) .

>< Từ ngày cô đi lấy chồng/ gớm sao có một quãng đồng mà xa/ bờ rào cây bưởi không hoa/ qua bên nhà thấy bên nhà vắng teo ( Qua nhà – Nguyễn Bính)

( Xem thêm: Thời gian – Văn cao; Núi đôi – Vũ Cao; Có gì đâu – Trần Ninh Hồ)

  1. Đối lập trong hình tượng nhân vật: Xét đến cùng hình tượng nhân vật về cơ bản được xây dựng trong quan hệ đối lập: tuyến / tuyến nhân vật; nhân vật/ nhân vật , các phương diện trong một NV

    1.  

d- Quan hệ giữa nội dung và hình thức:Đây làmối quan hệ ở phạm vi lớn nhất của tác phẩm, là mối quan hệ có tính chất phổ biến trong tất cả các sự vật , hiện tượng của đời sống, được khái quát thành cặp phạn trù triết học:

- Nội dung- hình thức luôn gắn bó mật thiết , biện chứng với nhau

- Nội dung quyết định hình thức

- Hình thức có tính độc lập tương đối và có tác động trở lại đối với nội dung

Vì thế khi nghiên cứu TPVH cần chú ý:

- TPVH là kết quả của một quá trình sáng tạo thẩm mĩ và đích của nó bao giờ cũng nhằm đạt đến cái lí tưởng. Sự thống nhất giữa nội dung và hình thức của TP bao giờ cũng phải đạt đến độ cao nhất, tối ưu. Do vậy khi phân tích bao giờ cũng phải chỉ ra sự thống nhất cao độ hoặc sự thiếu thống nhất của nó.

- Trong quan hệ nội dung ở TPVH, phải thấy rõ một quy luật mang tính đặc trưng của nghệ thuật. Đó là nghệ thuật không rải đều các tín hiệu thẩm mĩ. Vì thế, khi phân tích TP cần tập trung vào những hình thức mang tính nội dung được lặp đi lặp lại , có đổi mới của TP:

Quê xưa

Nhà xưa

Tình xưa

Trải bao mong đợi bây giờ có nhau

Song song hai suất lương hưu

Song song hai phía nâng niu chuộng chiều

Con gà

Con chó

Con mèo

Vô tư lãnh trọn thương yêu tuổi già

(Anh chị tôi – Lê Huy Mậu)

2- Nghiên cứu TPVH trên bình diện tâm lí- xã hội

a- Phải nghiên cứu TP như là hình ảnh của TGKQ. Những gì được nhà văn tái hiện trong Tp , xét đến cùng đều xuất phát từ đời sống khách quan: thiên nhiên, con người , các vấn đề đời sống, các quan hệ xã hội,...TPVH dù lớn hay nhỏ, dù thuộc tráo lưu , phương pháp sáng tác nào cũng đều hướng về việc phản ánh đời sống.

Về thể loại dù là truyện , thơ , kịch thì cũng đều nhằm hướng tới một phạm vi nhất định của đời sống. Các yếu tố trong Tp dù là đề tài, chủ đề, nhân vật, cốt truyện, ngôn ngữ, thể loại cũng đều có mối liên hệ đến các vấn đề đời sống.

Tuy nhiên cần chú ý TP là hình ảnh của TGKQ chứ không phải chính TGKQ, tức là nó hoàn toàn không bê nguyên si những gì của đời sống mà đó là quá trình từ cảm nhận đến suy tư trăn trở và cuối cùng là kết quả sáng tạo. ‘Nghệ thuật không đòi hỏi coi Tp của nó như là hiện thực” ( Phơ bach). Nếu bạn dùng thạch cao nặn cánh tay của người yêu mình, bạn sẽ thấy đó là cánh tay của một xác chết. Và lúc ấy bạn phải nhờ đến nhà điêu khắc là người không phải mang lại một bản sao chính xác mà truyền đạt sự vận động và cuộc sống ( Bandăc- Kiệt tác vô danh) – Liên hệ câu chuyện Kinh Kha và thái tử Đan.( Nguyễn Bính có nhắc lại trong thơ “ Ai kẻ dâng vàng ai biếu tay” )

b- Phải nghiên cứu TP như là con đẻ tinh thần của nhà văn

Nhà văn là chủ thể sáng tạo do vậy nhà văn luôn luôn chi phối những gì mà cuộc sống được mang vào TP. “ Sự thật của cuộc sống trong các TPNT không thể tồn tại bên ngoài cách nhìn thế giới của cá nhân, bên ngoài những đặc điểm của tư duy hình tượng của anh ta, bên ngoài cung cách sáng tác của anh ta ( Sáng tạo nghệ thuật- hiện thực, con người- Khrapchencô)

VD: Tư duy nghệ thuật của Lâm Thị Mỹ Dạ mang đậm tính hội họa vì thế hình tượng thơ luôn giàu tính tạo hình. VD bài Nói với trái tim tác giả hình dung trái tim “ dáng lưỡi cày / cày lên khổ đau và hạnh phúc ( liên hệ với Tự hát của Xuân Quỳnh). Lâm Thị Mỹ Dị tưởng tượng nụ hôn “như lá” nêu bật tư tưởng “ tình yêu là sự sống”; so sánh trong Khoảng trời, hố bom tình yêu Tổ quốc = ngọn lửa/ tâm hồn em = vì sao ngời chói lung linh / thịt da em = làn mây trắng / trái tim em = mặt trời

Do vậy, bản thân nhà văn bao giờ cũng là người đem hết những gì mình có được dồn cho sáng tác. ‘ Nhà văn là người cho máu” ( Elsa- nữ nhà văn người Đức) “ nhà văn khi viết phải xé mình mà viết ( Nguyễn Huy Thiệp) “ nhà văn chính là Chúa Giêsu về mặt tinh thần”

Tóm lại, khi nghiên cứu TPVH, người nghiên cứu phải nhận ra diện mạo đời sống, các quy luật của đời sống mà tác phẩm phản ánh. Mặt khác phải xác định được thế giới tinh thần của nhà văn để từ đó hiểu toàn diện TP. Tuy nhiên thế giới tinh thần của nhà văn thường hết sức phức tạp , thậm chí chứa đầy mâu thuẫn, do vậy, khi nghiên cứu , một mặt vừa phát hiện ra mâu thuẫn, mặt khác phải lí giải cội nguồn của mâu thuẫn thông qua những sáng tác cụ thể của nhà văn ấy.

c- Nghiên cứu TP từ góc độ tác dụng của nó đối với công chúng

Phải coi TPVH như là một sản phẩm tiêu dùng đặc biệt và một trong những thước đo giá trị của nó là phải được đặt trong quan hệ tiêu dùng. Trong trường hợp này cần chú ý đến những TP được công chúng đọc nhiều thì ít nhiều cũng là dấu hiệu chứng tỏ giá trị của nó. Ngược lại có những TP được các nhà nghiên cứu đánh giá cao nhưng ít được công chúng đón nhận thì cũng chứng tỏ giá trị của nó chưa được sâu sắc, ổn định.

( Nên suy nghĩ về Thiên sứ của Phạm Thị Hoài ( in trong Tác phẩm văn học, số 7 năm 1988 dựa trên các phương diện sau: Thời điểm , thời đại/ Ý nghĩa lâu dài?/ số lượng , thành phần người đọc, không gian? )

3- Nghiên cứu TP trên bình diện văn hóa – lịch sử:

a- Nghiên cứu tác phẩm trong quan hệ với di sản văn hóa dân tộc:

Quy luật chung: Bất kì một TP nào cũng chứa đựng những thành quả của văn học dân tộc. Ở đó có quá trình tiếp thu và sáng tạo dựa trên những truyền thống vốn có. Văn học viết thường sử dụng vốn văn học dân gian ( thành ngữ , tục ngữ, cách nói,...). Các nhà văn thời đại sau cũng kế thừa thành quả sáng tạo của các nhà văn đi trước.

Mặt khác, trong nghiên cứu sự ảnh hưởng này, vấn đề cơ bản là phải phát hiện ra được những biểu hiện cụ thể của quá trình kế thừa, phải lí giải được nguyên nhân của sự kế thừa đó.

Ví dụ bài Chân quê của Nguyễn Bính có ảnh hưởng rất rõ đến bài Lời thề cỏ may của Phạm Công Trứ

*Phạm Công Trứ là người cùng quê với Nguyễn Bính. Phạm Công Trứ tuy là tiến sĩ triết học, bảo vệ ở nước ngoài, nhưng trong cách sống lại rất “ chân quê”, ‘ truyền thống”

* Môtip thì giống nhưng mức độ của hai bài thơ có khác. Sự đổi khác của “em” trong Chân quê mới dừng lại ở trang phục, bề ngoài. ở Lời thề cỏ may cũng bắt đầu từ trang phục nhưng không dừng lại ở đó, mà sự thay đổi gần như hoàn toàn: Em đi để lại chuỗi cười/ Trong tôi vỡ một khảng trời pha lê”

* Nguyên nhân: - Thời đại ( phần ít)

- Phương pháp sáng tác ( phần nhiều)

Nguyễn Bính viết theo PPlãng mạn ( luôn hướng về cái đẹp buồn) thường viết về mức độ thay đổi ban đầu của đối tượng. Phạm Công Trứ có cái nhìn gần với hiện thực: cô gái đó đã biến đổi hoàn toàn

Hơn thế, người nghiên cứu cần chỉ ra sự kế thừa ấy đã có đóng góp gì thêm cho sự tạo ra giá trị gì mới cho TP, tạo ra cái hay , cái đẹp như thế nào cho TP, góp phần như thế nào cho sự phát triển của văn học dân tộc.

VD: Trong văn học dân gian: Thuyền – Bến: người con gái tương đối thụ động trong tình yêu. Xuân Diệu sử dụng cặp Sóng – Bờ - chịu ảnh hưởng của quan niệm của người đàn ông, nữ- bờ vẫn còn ở ở thế đón nhận, thụ động. Xuân Quỳnh sử dụng cặp Thuyền – Biển

Chó coá thuyïìn múái hiïíu

Biïín mïnh möng nhûúâng naâo

Chó coá biïín múái biïët

Thuyïìn ài àêu, vïì àêu

Biển nâng đỡ thuyền, thuyền khám phá biển => quan hệ hai chiều

Cặp sóng - bờ : người nữ đã giành thế chủ động trong biểu hiện tình cảm

    “Con sóng dưới lòng sâu

            Con sóng trên mặt nước

            Ôi con sóng nhớ bờ

            Ngày đêm không ngủ được.

            Lòng em nhớ đến anh

            Cả trong còn thức

Bài Thương vợ của Trần Tế Xương có sử dụng hình ảnh thân cò. Con cò trong ca dao chủ yếu nói về người phụ nữ nông dân – lớp người dưới đáy , đáng thương của xã hội. Với Tú Xương ‘ thương” gắn với nể phục, đề cao , trân trọng

Giai đoạn 1930-1945 , Thái Can, Xuân Diệu , Tố Hữu đều có viết về đề tài kĩ nữ- lớp người tủi nhục ê chề nhất

Thái Can khuyên một ca nhi vừa tự sát mà không chết: Đứng dậy em ơi! sống cõi đời/ Đời dầu khổ nhục đến mười mươi/ Em nên điểm phấn tô son lại/ Ngạo với nhân gian một nụ cười ( Cảnh đoạn trường – Hà Nội báo). Xuân Diệu, trong Lời kĩ nữ, ngoài lòng thương còn có tình tri âm tri kỉ nên nhà thơ nhập thân rất sâu vào người kĩ nữ, một con người tài tình , cô đơn , cố van nài níu kéo người tri kỉ:

Khách ngồi lại cùng em trong chốc nữa / Vội vàng chi, trăng sáng quá khách ơi/

(...) Khách ngồi lại cùng em; đây gối lả,/ Tay em đây, mời khách ngả đầu say.

Đây rượu nồng . Và hồn của em đây/ Em cung kính đặt dưới chân hoàng tử

Trong Tiếng hát sông Hương Tố Hữu đã nhìn người kĩ nữ như một người trong lớp người cùng khổ, khao khát được giải phóng. Tâm trạng chủ yếu là cảm thông, hướng nhân vật đến tương lai tươi sáng. Có lẽ, về đề tài kĩ nữ , đáng phê phán nhất là cách suy nghĩ của Khái Hưng , Nhất Linh trong Đời mưa gió ( Tuyết vì tình phụ mà trở thành một gái giang hồ. Được Chương , một người quen biết cũ cứu vớt và hai người trở thành vợ chồng. Nhưng rồi Tuyết chứng nào tật ấy “ đi theo tiếng gọi của “ đời mưa gió”)

b- Nghiên cứu TP trong quan hệ với di sản văn học thế giới:

Một mặt , Tp phải tiếp thu thành tựu của văn học thế giới. Mặt khác phải lựa chọn mức độ để tiếp thu mà không đánh mất tính chất dân tộc.

Hoài Thanh đã kiến giải thật xác đáng về trường hợp Xuân Diệu trước CMTT: “ Bây giờ khó lòng mà nói được cái ngạc nhiên của làng thơ VN hồi XD đến. Người đã tới giữa chúng ta với một y phục tối tân và chúng ta rụt rè không muốn làm thân với con người có hình thức phương xa ấy. Nhưng rồi ta cũng quen dần, vì ta thấy người cùng ta tình đồng hương vẫn nặng. Ngày một ngày hai cơ hồ chúng ta không còn để ý đến lối dùng chữ đặt câu quá Tây của XD, ta quên cả những ý tứ người đã mượn trong thơ Pháp. Cái dáng dấp yêu kiều, cái cốt cách phong nhã của điệu thơ, một cái gì rất Việt Nam đã quyến rũ ta.”

Trong văn học dịch, cụ thể là dịch thơ, Nguyễn Phan Cảnh cũng có nhận xét tương tự về thành công của Tố Hữu trong bản dịch bài thơ Đợi anh về của Ximônôp: “ ...rõ ràng là nếu không được báo trước là bài thơ đã được dịch lại từ tiếng Pháp, và bản Pháp lại được dịch đi từ tiếng Nga, chắc sẽ tự nhiên đến với chúng ta đầy đủ cái cảm giác của một bài thơ hay- nguyên tác: trước phản ứng văn hóa của người Việt, “ không gian là quen” ( Ngôn ngữ thơ, NXB ĐH& GDCN, H, 1987, tr 203)

Trường hợp Nguyễn Huy Thiệp có chịu ảnh hưởng của nghệ thuật Barôc ( hài hòa trong thế lệch >< Gôtich: cân đối hài hòa )

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU NHÂN VẬT

I- KHÁI NIỆM NHÂN VẬT:

Đối tượng trung tâm của văn học là con người và các mối quan hệ của nó. Suy cho cùng nhân vật chính là những con người trong đời sống được tái hiện sáng tạo trong tác phẩm bằng các phương tiện văn học

II- VAI TRÒ CủA NHÂN VậT TRONG TPVH:

Trong đời sống hiện thực , con người là trung tâm của cuộc sống, là tổng hòa của các quan hệ xã hội. Trong tác phẩm văn học , nhân vật là yếu tố trung tâm của tác phẩm. vì:

Trong bất kì loại tác phẩm nào, nhân vật cũng giữ một vai trò đặc biệt quan trọng. Đọc tác phẩm tự sự, cái cuối cùng để nhớ là các nhân vật. Nhà văn bao giờ cũng dồn sức xây dựng nhân vật đạt đến trình độ tính cách hoặc cao hơn là điển hình để thể hiện những điều muốn nói. Trong TPTT, nhân vật trữ tình là nhân vật trực tiếp giãi bày tâm trạng , xúc cảm trước thiên nhiên , cuộc sống. Trong TPK, nhân vật được xây dựng thông qua hành động , lời nói và các xung đột kịch để phản ánh và khái quát cuộc sống.

+ Nhân vật là phương tiện , là công cụ để nhà văn khái quát hiện thực:

+ Nhân vật là nơi thể hiện tập trung nhất quan niệm nghệ thuật và lí tưởng thẩm mĩ của nhà văn.

( Cụ thể xem bài Nhân vật – Tài liệu ôn thi Cao học)

III- PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU NHÂN VẬT:

Phải nghiên cứu nhân vật trên cơ sở chức năng lịch sử- nghệ thuật:

  1.  

Nhân vật có hai chức năng:

- Khái quát đời sống ( khách quan): VH phản ánh cuộc sống bằng hình tượng, nói các

h khác hình tượng là phương thức phản ánh đời sống của văn học. Nhân vật bao giờ cũng là hình tượng trung tâm nhất của tác phẩm. Trong TPTT, nhân vật trữ tình là nhân vật trực tiếp giãi bày tâm trạng , xúc cảm trước thiên nhiên , cuộc sống. Trong TPTS, TPK, nhân vật là đối tượng được mô tả

- Biểu hiện phong cách nhà văn ( chủ quan):

Trong qua trình lịch sử văn học, những chức năng đó biểu hiện khác nhau. NNC phải phát hiện ra sự khác nhau cũng như sự kế tiếp qua quá trình lịch sử của dạng nhân vật ấy

VD: Rômêô và Juliet – Bước qua lời nguyền của Tạ Duy Anh ( Xem bước qua lời nguyền – tập truyện của Tạ Duy Anh; xem thêm Như bóng người xưa – Lý Phương Liên- truyện ngắn đặc sắc 2003, truyện Khoảng xanh non của Hoàng Minh Tường).

Phải phát hiện ra tính cách nhân vật cùng quan niệm nghệ thuật về con người của tác giả để từ đó phát hiện ra sự phong phú đa dạng của đời sống được biểu hiện qua tính cách nhân vật cũng như xác định được tư tưởng mà tác giỉa muốn thể hiện qua nhân vật ( bằng cách đặt các câu hỏi nhân vật như thế nào? Tại sao tác giả lại xây dựng nhân vật như thế?)

Con người trong văn học thực chất là sự cắt nghĩa và quan niệm về con người được thể hiện bằng hình tượng nghệ thuật, trong các bình diện con người được miêu tả, trong các hệ thống các hình ảnh tượng trưng, trong tương quan với không gian, thời gian và trong các nguyên tắc miêu tả tính cách tâm lí. Người ta gọi đó là quan niệm nghệ thuật về con người. ( Trần Đình Sử - Con người trong văn học Việt Nam hiện đại- in trong sách Một thời đại văn học mới, NXB văn học, H, 1987, trang 48)

Khi nghiên cứu cần nắm được các nguyên tắc trong xây dựng nhân vật :

  1.  

Nhân vật văn học là hình tượng do nhà văn hư cấu, sáng tạo ra, cho dù có được dựa trên các nguyên mẫu ngoài đời, thì nó cũng không hề đồng nhất với nguyên mẫu.( Ví dụ Búp sen xanh bị phản ứng nhiều khi người ta đem nó so sánh với tiểu sử của CTHCM)

3- Phải phân tích nhân vật trong một chỉnh thể thống nhất toàn vẹn

-> nền văn học

Chỉnh thể văn học -> TPVH

-> Nhân vật văn học ( Tiểu sử, quan hệ, ngoại hình , nội tâm, ngôn ngữ, hành động)

Phân tích nhân vật phải quan tâm đến:

- Hệ thống chi tiết : thường rất phong phú đa dạng, có thể đưopực quy về 4 dạng cơ bản sau:

+ Chi tiết mô tả ngoại hình : hình dáng , khuôn mặt trang phục ( thường được nhấn mạnh một nét nào đó -> tính cách)

Khi xây dựng nhân vật Tnú , Nguyễn Trung Thành thường miêu tả đôi tay của Anh nhưng khi miêu tả Dít, nhà văn tập trung vào đôi mắt. “Đi tiếp tế cho du kích, Dít bị giặc bắt, phải làm bia sống để chúng uy hiếp dân làng. Sau mỗi viên đạn nổ “đôi mắt nó vẫn nhìn bọn giặc bình thản lạ lùng”. Ba năm sau ngày chị hy sinh, Dít đã trưởng thành, trở thành một bí thư chi bộ, một chính trị viên xã đội lãnh đạo cuộc chiến đấu của dân làng Xô Man. Trong mỗi quan hệ mới với Tnú, cô Dít với tư cách lãnh đạo đã nghiêm trang trong thủ tục hỏi giấy tờ người lính từ mặt trận về thăm làng: “Không có giấy, trốn về thì không được. Ủy ban phải bắt thôi”. Là cô gái, là em chị Mai, cô Dít đã nhìn Tnú bằng “đôi mắt mở to, bình thản, trong suốt” chan chứa yêu thương .

+ Chi tiết nội tâm:

+ Chi tiết hành động

+ Chi tiết ngôn ngữ

- Hệ thống sự kiện , cốt truyện: chú ý đến các sự kiện dựng lại được số phận nhân vật bao gồm xuất hiện -> phát triển -> kết thúc. Trong cốt truyện cần chú ý đến sự kiện thắt nút- sự kiện tạo ra bước ngoặt trong cuộc đời nhân vật.

Với truyện Lão Hạc, thắt nút là chỗ con trai không lấy được vợ, phẫn chí bán thân để lấy ba đồng bạc mua con chó để cho cha nuôi, anh ta đi làm phu đồn điền. Sự kiện bán con chó là sự kiện quan trọng nhất trong Lão Hạc. Nhà văn để cho lão Hạc dềnh dàng mãi mới kể ra và đã kể thì kể thật ngọn ngành và xúc động. Sự kiện thứ ba , Lão Hạc tự tử. Ba sự kiện này có mối liên hệ với nhau: có con chó - > bán con chó-> chết như con chó

=> Người phân tích phải tìm ra được nguyên tắc liên kết các chi tiết sự kiện. Về cơ bản , có hai nguyên tắc:

- Liên kết đơn loại ( cùng loại): Các chi tiết các sự kiện - tương đương với hành vi, diện mạo , lời nói, suy nghĩ- phù hợp với nét tính cách.

Ví dụ: Từ Hải anh hùng:- ngoại hình uy nghi, có tư thế

-lời nói : dứt khoát, lời nói đo đôi với việc làm, nói được làm được

- hành động; anh hùng , phi thường

Mẫu hiình nhân vật được xây dựng theo cách này rất phổ biến trong VHTĐ. Kiểu liên kết này gắn với một quan niệm phân chia rạch ròi từng loại người trong xã hội. Sự xếp loại ấy là tương đối ổn định, không có quá trình phát triển dưới tác động của hoàn cảnh. Đó là loại nhân vật nhất phiến.

- Liên kết đa loại: liên kết có sự kết hợp các mặt khác nhau, những thuộc tính trái ngược nhau ( phi thường – bình thường; nhân tính – thú tính; nhân ái – ích kỉ) . Kiểu này thường được sử dụng trong VHHĐ, gắn liền với quan niệm con người là sản phẩm của xã hội, con người luôn luôn chứa đựng trong mình những mâu thuẫn và luôn luôn chịu tác động của hoàn cảnh xã hội. Do vậy tính cách con người là có tính quá trình.

Trong nghiên cứu phải nắm được cách tổ chức mâu thuẫn trong xây dựng nhân vật. Có hai cách cơ bản:

* Chia đôi, phân cực mâu thuẫn một cách rạch ròi. Cách này được sử dụng rộng rãi trong VHTĐ:

Tuyến : chính diện >< phản diện ; Thống trị >< Bị trị

Lọai : Tốt >< Xấu

Và kết cục của các nhân vật cũng thường theo một đường hướng có sẵn: kết thúc có hậu.

* Nhân vật thường được mô tả trong quan hệ nhân quả và quan hệ này được xử lí một cách hết sức linh hoạt. Nhân vật được xây dựng trên cơ sở mâu thuẫn giữa hành vi và phẩm hạnh; tính các và hoàn cảnh; giữa nhưng phương diện khác nhau của tính cách dẫn đến quan hệ nhân quả đa chiều, có khả năng phản ánh sự phức tạp đa dạng của cuộc sống.

Có nhân mà không có quả ( Hoa điếc) / nhân nọ quả kia : Ví dụ Trong chiếc thuyền ngoài xa: chồng liên tục đánh vợ nhưng người vợ không bao giờ muốn li dị chồng. Người kể chuyện mới vỡ lẽ tình đời.

Phải nghiên cứu nhân vật trên quan điểm lịch sử phát sinh

  1.  

Vấn đề này thực chất là ta phải nắm được quá trình xây dựng nhân vật của nhà văn, phải hiểu được ý đồ sáng tạo của nhà văn. Cụ thể là nhà văn viết Tp nhằm mục đích gì? Nguyên nhân, động cơ nào thôi thúc nhà văn viết tác phẩm? Trong quá trình viết Tp đó , ý đồ có liên quan đến việc xây dựng nhân vật như thế nào?

VD: Truyện ngắn Đào kép mới của Nguyễn Công Hoan, nếu chỉ căn cứ bào văn bản ta tưởng đâu TP chỉ đề cập đến những vấn đề bình thường trong cuộc sống, trong hoạt động nghệ thuật. Nhưng theo tiết lộ của tác giả thì truyện này viết ra nhằm đả kích thục dân Pháp trong việc chúng đưa Bảo Đại về nước chấp chính.

-Người nghiên cứu phải tìm hiểu quá trình sáng tạo của nhà văn, trong đó có quá trình sáng tạo nhân vật diễn ra như thế nào, có những thay đổi nào so với ý định ban đầu. Thay đổi như vậy là nhằm mục đích gì. ( Trong lí luận, người ta nói đến nhân vật nổi loạn)

- Người nghiên cứu phải tìm hiểu mối liên hệ giữa nhân vật của nhà văn với các nhânvật văn học trong quá khứ. Trong văn học, nói chung, bao giờ cũng có quy luật kế thừa.. Một nhân vật được xây dựng bao giờ cũng là kết quả của sự kế thừa các nhân vật quá khứ. Thường có 3 mức độ kế thừa:

- Mức độ vay mượn: Đây là cách nhà văn sử dụng nhân vật của các TP trước làm khuôn mẫu, nhiều khi giữ cả tên và nét tính cách. Mức độ này ít có tính sáng tạo ( trường hợp kịch Những người ở lại ( Nguyễn Huy Tưởng), so với Lôi Vũ của Tào Ngu )

- Mức độ nối tiếp nhân vật quá khứ: Chị Dậu -> Mị -> Út Tịch

- Đối chọi lại với nhân vật quá khứ: nhân vật CNLM thường đối chọi lại NV trong CNCĐ

Vd: Một truyện Xú vơnia của Nam Cao >< truỵên lãng mạn

 

CÂU HỎI ÔN TẬP

Trình bày những hiểu biết của anh chị về tác phẩm và phương pháp nghiên cứu TP và phân tích một TP tự chọn

Trình bày những hiểu biết của anh chị về nhân vật, làm sáng tỏ quan niệm nghệ thuật về con người trong sáng tác của một tác giả mà anh chị yêu thích

Trình bày hiểu biết của anh chị về vấn đề phong cách nhà văn. Hãy là sáng tỏ phong cách một nhà văn mà anh chi yêu thích

  1.  
  2.  
  3.  

 

1

Soạn theo bài giảng của TS. Nguyễn Văn Đấu