DMCA.com Protection Status

Hành chính so sánh(ST)  quan tâm

Được đăng bởi: Trần Việt Thao

Cập nhật lúc 09:31 ngày 24/01/2018

Hành chính so sánh

( Nguồn: http://www.hanhchinh.com.vn/forum/showthread.php?t=29273 ).

 

I.CÁC NƯỚC PHÁT TRIỂN

1 Vương quốc Anh:

Vương quốc Anh là quốc gia quân chủ lập hiến ở Châu Âu với dân số là 59,6 triệu người và diện tích là 241.752 km2. Nữ hoàng Anh là người đứng đầu nhà nước về mặt danh nghĩa. Nghị viện gồm hai viện là Thượng viện gồm các nghị viên thừa kế theo dòng tộc, Hạ viện gồm 659 nghị viên. Thủ tướng là người đứng đầu chính phủ và có quyền bổ nhiệm nội các gồm các thành viên từ Thượng viện hoặc Hạ viện[1]. Hiện tại ở trung ương có 12 bộ chủ yếu chịu trách nhiệm về các vấn đề mang tính chính sách.

Vương quốc Anh là tập hợp của bốn nước: Anh, Xcốt-len, Bắc Ai-len và xứ Uên. Tại Xcốt-len, Bắc Ai-len và xứ Uên, hệ thống chính quyền địa phương là một cấp, nghĩa là một cơ quan chính quyền chịu trách nhiệm cung cấp mọi dịch vụ trên địa bàn. Tại Anh, hệ thống chính quyền địa phương có thể một cấp hoặc hai cấp. Ở các thành phố lớn thì chính quyền địa phương theo một cấp, còn tại nông thôn thì chính quyền địa phương theo hai cấp là cấp hạt (county – tương đương tỉnh), và cấp quận. Tuy nhiên, có sự phân công rất rõ ràng về lại hình dịch vụ mỗi cấp cung ứng. Hội đồng hạt thì chịu trách nhiệm về những dịch vụ có phạm vi rộng và có tính chiến lược như giao thông, tài nguyên, đường xá, xử lý rác thải v.v. Hội đồng quận thì chủ yếu chịu trách nhiệm về các dịch vụ trực tiếp trên địa bàn như môi trường, nhà ở, và th gom rác. Riềng một số công trình phúc lợi như viện bảo tàng, phòng trưng bày và công viên thì cả hai cấp hội đồng cùng chia sẻ trách nhiệm. Ngoài ra, dù không thành một cấp, song ở một số địa phận có hội đồng xã (parish).

          Hiện nay công vụ nước Anh bao gồm khoảng 370 nghìn công chức (con số này là kết quả của những nỗ lực cải cách công vụ trong thập kỷ 1980 thời bà Thatcher làm Thủ tướng, đã tinh giản từ hơn 700 nghìn công chức trước đó), làm việc tại các Bộ ở trung ương, những người làm việc tại các cấp chính quyền địa phương không được xem là công chức. Jim Cordell đã khái quát các đặc điểm chính của nền công vụ Vương quốc Anh hiện nay là: (a) Tính thường nhiệm với đại đa số các công chức làm việc theo chế độ chức nghiệp; (b) Tính trung lập và vô nhân xưng1 đối với đảng phái chính trị để có thể phục vụ cho bất kỳ đảng cầm quyền nào; và (c) cơ cấu theo hệ thứ bậc với chức vụ Thư ký thường trực là người đứng đầu công vụ tại mỗi Bộ. Có nhiều cấp và hạng khác nhau trong công vụ, song có thể chia thành ba nhóm chính là: Các nhóm phục vụ làm việc tại các bộ khác nhau, mỗi nhóm có thang bảng lương riêng và yêu cầu riêng về trình độ chuyên môn khi vào làm trong công vụ; Các nhóm chuyên gia, kỹ thuật; và Các ngạch riêng của mỗi Bộ như thanh tra thuế, hải quan, giám ngục và nhân viên xuất nhập cảnh2.

          Từ đó đến nay, hệ thống công vụ và công chức của Vương quốc Anh thường xuyên được cải cách, hoàn thiện làm cơ sở cho sự phát triển quốc gia. Năm 1977, Hạ viện Anh đã yêu cầu phải định nghĩa rõ ràng hơn về công chức, nhấn mạnh tới một đặc điểm thiết yếu của công chức là thay mặt nhà nước giải quyết công việc, như vậy những người không có vị trí công tác nhà nước được pháp luật quy định thì không phải là công chức. Nhân viên chính trị, tư pháp, quân đội, thậm chí cả Vương thất (những người này trước kia cũng được coi là công chức vì họ được hưởng bổng lộc của Nữ hoàng) và những người làm dịch vụ công với những điều kiện làm việc khác với công chức đều không được liệt vào công chức. Như vậy, khái niệm công chức chỉ bao hàm những nhân viên công tác trong ngành hành chính như nội chính và ngoại giao.

          Theo ông Martin Minogue (1996) thuộc Trường Đại học tổng hợp Manchester, Vương quốc Anh, cải cách hành chính nước này tập trung vào hiện đại hoá công vụ, được thúc đẩy rất nhanh kể từ năm 1968, với việc chuyển trọng tâm từ trước đây đơn thuần quản lý chiến lược toàn bộ bộ máy quan chức với một Ban Công vụ để quản lý chung và một Học viện Công vụ (Civil Service College) để đào tạo công chức cấp cao cho toàn bộ hệ thống sang một hệ thống quản lý chính sách chiến lược gắn với việc sử dụng có trách nhiệm các nguồn lực, biến “các quan chức” thành “các nhà quản lý”1 . Các bước cơ bản trong cải cách công vụ của nước này là:

 

Bảng 1.1:

 

Cải cách hành chính

1968           Báo cáo Fulton

1970           Xem xét lại chính sách của trung ương và xem xét lại việc phân

                      tích chính sách

1979           Cơ quan thúc đẩy hiệu quả và các báo cáo điều tra Rayner

1982           Sáng kiến quản lý tài chính

1986           Sáng kiến các bước tiếp theo

1991           Điều lệ quyền lợi công dân

(Nguồn: Pháp luật và sự quản lý của Nhà nước, 1996, tr. 15).

          Cải cách hành chính tại Anh đi đôi với trào lưu tư nhân hoá được khởi xướng và thực hiện mạnh mẽ tại nước này kể từ đầu thập kỷ 1980. Nhiều chức năng trước đây vốn thuộc nhà nước nay đã chuyển sang cho các thành phần kinh tế – xã hội ngoài nhà nước, kể cả tư nhân đảm nhiệm. Với việc Chính phủ Anh dành khoản ngân sách khá lớn để đền bù và đào tạo lại những người đã từng phục vụ trong hệ thống công vụ, quá trình này đã giảm bớt nhiều công chức, nhưng đồng thời cũng kéo theo một số vấn đề, đặc biệt là việc có những công việc nhất định phải do nhà nước nắm, sau khi chuyển sang cơ chế thị trường, Chính phủ Anh đã nhận thấy cần giữ lại trong công vụ. Ví dụ, từ giữa thập kỷ 1990, Học viện Công vụ (Civil Service College) vốn đã chuyển ra thực hiện theo cơ chế thị trường, thực hiện đào tạo theo hợp đồng và tổ chức cả các khoá đào tạo cho khu vực tư nhân. Đến năm 1999, Chính phủ Anh nhận thấy cần tập trung hoạt động của Học viện vào đào tạo công chức cấp cao, kể cả tập huấn 1-2 ngày cho các vị Bộ trưởng đương nhiệm, nên đã chuyển lại Học viện này vào Văn phòng Nội các Anh. Việc này cho thấy, cũng như bất kỳ một quốc gia nào khác đang tiến hành cải cách công vụ, Vương quốc Anh cũng đang trải nghiệm các cải cách khác nhau nhằm mang lại một nền công vụ hiệu lực và hiệu quả cao.

 

2 Hoa kỳ:

Là một quốc gia theo thể chế liên bang và là nền kinh tế lớn nhất thế giới, nước Mỹ đã xây dựng nên một hệ thống chính quyền và bộ máy hành chính phức tạp để điều hành xã hội.

Nước Mỹ là một trong những nhà nước hiện đại đầu tiên xây dựng hệ thống chính trị trên cơ sở một bản Hiến pháp viết thành văn. Quyền lực nhà nước thiết lập trên cơ sở nguyên tắc tam quyền phân lập[2]. Quốc hội Mỹ gồm hai viện là Thượng viện và Hạ viện. Hạ viện được bầu hai năm một lần theo các đơn vị bầu cử có số dân tương đối đồng dều. Thượng viện đại diện cho các bang ở Mỹ, mỗi bang có hai thượng nghị sĩ, được bầu cho nhiệm kỳ 6 năm, trong đó, cứ 2 năm thì 1/3 số thượng nghị sĩ lại được bầu lại. Các cuộc bầu cử vào Quốc hội và bầu cử tổng thống tổ chức vào tuần đầu tiên của tháng 11. Khác với các nước theo chế độ nghị viện ở Châu Âu, ở Mỹ, không ai, kể cả Tổng thống, có quyền giải tán Quốc hội và tổ chức bầu lại. Quốc hội thực hiện chức năng lập pháp và đồng thời giám sát hoạt động của ngành hành pháp.

Tổng thống Mỹ được bầu cử gián tiếp theo hình thức đại cử tri cho nhiệm kỳ 4 năm, và không được bầu lại sau hai nhiệm kỳ. Là người đứng đầu ngành hành pháp, Tổng thống có quyền bố trí chính phủ theo cách thức của mình. Mỗi bộ trưởng là một chính khách chịu trách nhiệm về lĩnh vực của mình (bảng dưới đây là danh sách các bộ chủ chốt và năm thành lập). Thông thường, do các bộ trưởng là những người đã ủng hộ trong quá trình tranh cử Tổng thống nên họ là những người rất gần gũi trong việc điêu hành.

 

Bảng 1: Các bộ ở Mỹ

 

Bộ

Năm thành lập

Kho bạc

Ngoại giao

Nội vụ

Tư pháp

Nông nghiệp

Thương mại

Lao động

Quốc phòng

Y tế và phục vụ con người

Nhà ở và phát triển đô thị

Giao thông

Năng lượng

Giáo dục

1789

1789

1849

1870

1889

1913

1913

1947

1953

1965

1966

1977

1979

 

Cơ quan điều hành của Tổng thống Mỹ là cơ quan đầy quyền lực, do Tổng thống thành lập và trực tiếp quản lý. này có ba bộ phận: các trợ lý của Tổng thống, các uỷ ban cố vấn, và Văn phòng quản lý ngân sách. Bộ phận quan trọng nhất chính là số nhân viên tại Nhà trắng, có khoảng 500 người, do ngân sách trả lương. Bên cạnh đó, Tổng thống còn thành lạp một số uỷ ban hay hội đồng cố vấn về các ván đề chính sách trong và ngoài nước, như Hội đồng an ninh quốc gia thành lập năm 1947, Hội đồng cố vấn kinh tế thành lập cuối thập kỷ 1940.

Về hệ thống tư pháp, cơ quan cấp cao nhất là Tòa án tối cao do hiến pháp quy định. Toà náy gồm có 9 chánh án nổi tiếng do Tổng thống bổ nhiệm và Thượng viện thông qua. Một khi đã được bổ nhiệm làm chánh án toà này thì không bao giờ bị bãi nhiệm. Toà án tối cao có quyền giải thích Hiến pháp, xử lý những tranh chấp giữa ngành lập pháp và hành pháp về việc giải thích chính xác Hiến pháp, và có tiếng nói quyết định mỗi khi có công dân hay tổ chức nào đó cho rằng một đào luật nhất định là không tuân thủ Hiến pháp.

Nền công vụ và chế độ công chức của Mỹ đi theo một quá trình phức tạp từ “chế độ thải loại” (spoil system) tới “chế độ công tích” (merit system). Sở dĩ như vậy là do Hiến pháp nước này quy định chế độ Tổng thống với việc Tổng thống bổ nhiệm các quan chức cấp cao theo kiến nghị, hoặc được sự đồng ý của Thượng nghị viện, bổ nhiệm các quan chức trung cấp và sơ cấp theo sự ủy quyền của Nghị viện. Với cơ sở pháp lý như vậy, thông thường thì sau khi đắc cử, Tổng thống bổ nhiệm những người đã có nhiều công lao trong cuộc tranh cử của đảng mình và những người thân tín vào thành phần chủ chốt trong chính phủ. Điều đó góp phần dẫn tới “chế độ thải loại” (spoil system, mang nặng tính chính trị, đảng phái – nhóm TG), một chế độ về sau mang lại hiệu quả thấp trong quản lý hành chính nhà nước và những hủ bại của giới quan chức như tệ hối lộ và tham nhũng. Điều đó đã vấp phải sự phê phán kịch liệt về mọi mặt từ phía nhân dân Mỹ và nhất là từ phía đảng đối lập. Bản thân sự phân chia quyền lợi không đồng đều trong nội bộ đảng cầm quyền cũng mang lại những ly gián và công kích lẫn nhau giữa các quan chức và giữa các bộ, ngành hay địa phương. Vì vậy, chế độ thải loại dần bị thay bằng một chế độ công vụ thích ứng hơn.

          Tới giữa thế kỷ 19, mô phỏng theo hệ thống công vụ và chế độ công chức của Anh, Mỹ đã ban hành hai đạo luật, đặc biệt qui định về việc công chức trước khi tuyển dụng đều phải qua thi tuyển. Cho tới thập kỷ 70 của thế kỷ 19, lần đầu tiên trong lịch sử, quốc gia này đã lập ra một cơ quan dân sự để chịu trách nhiệm chính về cải cách bộ máy công vụ và công chức. Nước Mỹ đã cử người của mình sang Anh để học tập hệ thống của nước này, với dự định thí điểm trước hết tại Bộ Nội chính một số kỹ năng và kỹ thuật công vụ. Năm 1883 đánh dấu một bước chuyển quan trọng trong công vụ, với việc Quốc hội Mỹ ban hành Luật Păng-téc-đơn. Luật này tuyên bố bãi bỏ “chế độ thải loại” trong công vụ, và chính thức thể chế hoá “chế độ công tích” vận dụng trong toàn bộ hệ thống nước này. Theo Luật mới này thì ủy ban dân sự chịu trách nhiệm quản lý các chu trình trong công vụ như việc thi cử, tuyển dụng, sát hạch, thuyên chuyển, đãi ngộ, thưởng phạt, bồi dưỡng, nghỉ hưu v.v. Đặc biệt, việc thi tuyển công khai để chọn lựa và sử dụng những người có tài năng, không cho phép các quan chức tham gia vào các phong trào chính trị hoặc quyên góp vì các mục tiêu chính trị - xã hội, không được lợi dụng việc phân chia các chức vụ làm vật đặt cược cho các kỳ tranh cử là các nội dung cực kỳ quan trong trong luật này. Mặc dù những nguyên tắc căn bản của luật vẫn được vận dụng cho đến nay ở Mỹ, song với thực tế là chế độ hai đảng “Dân chủ” và “Cộng hoà” thay nhau nắm quyền, không tránh khỏi những tệ nạn nhất định của “chế độ chia phần”, như là tàn tích của chế độ thải loại trước đây trong công vụ.

          Từ khi Mỹ thực hiện “Luật chế độ công chức” công khai thi tuyển thì số lượng công chức của chính phủ tăng lên rất nhiều. Kể từ năm 1978, cải cách công vụ của Mỹ tập trung vào các nội dung cơ bản là: (a) thực hiện chế độ tiền lương theo công tích, căn cứ vào thành tích công tác để trả lương cho công chức; (b) cải cách chế độ sát hạch, đánh giá công chức, lấy đó làm căn cứ để khen thưởng, đề bạt, bồi dưỡng v.v.; (c) thiết lập chức vụ hành chính cao cấp (senior executives) với các tiêu chuẩn và điều kiện được quy định rõ ràng; và (d) thành lập cơ quan quản lý công chức là cơ quan độc lập, chịu trách nhiệm trực tiếp trước Tổng thống.

          Nước Mỹ cũng rất tích cực trong việc cải cách bộ máy hành chính của mình, với việc thành lập ra một ủy ban chịu trách nhiệm về việc xem xét lại và hiện đại hoá bộ máy chính phủ do cựu Phó Tổng thống Al Gore khi ông này còn đương nhiệm, đứng đầu. Kể từ năm 1992, phong trào “Sáng tạo lại chính phủ” được khởi xướng với một tác phẩm được Tổng thống Mỹ tán dương là “sách gối đầu giường” do hai học giả David osborne và Ted Gaebler viết. Phong trào này đã có những ảnh hưởng lớn lao đến quá trình cải cách nhà nước và công vụ của Mỹ với 10 nguyên tắc cải cách cho chính phủ kinh doanh là:

“ 1.   Lái thuyền chứ không chèo thuyền;

  1. Tăng cường quyền lực cho các cộng đồng chứ không phải chỉ đơn thuần là phân phát dịch vụ;
  2. Khuyến khích cạnh tranh hơn là độc quyền;
  3. Được hướng dẫn bởi sứ mạng chứ không phải bằng qui tắc định hướng;
  4. Xem trọng đầu ra của vốn hơn là đầu vào;
  5. Thoả mãn các nhu cầu của người tiêu dùng chứ không phải của bộ máy quan chức;
  6. Tập trung vào việc kiếm được các nguồn lực chứ không chỉ tiêu phí các nguồn lực;
  7. Đầu tư vào việc phòng ngừa các vấn đề hơn là chữa chạy;
  8. Phân quyền;
  9. Giải quyết các vấn đề bằng cách tận dụng vị thế thị trường hơn là xây dựng nên các chương trình công cộng1 ”.

Một trong những đặc điểm cơ bản của chế độ công vụ Mỹ là ảnh hưởng của phân quyền trong nhà nước liên bang. Do Chính phủ Liên bang giao rất nhiều quyền cho các bang, mỗi bang lại có luật riêng của mình, do vậy, ngoài các đặc điểm chung của cả liên bang, mỗi bang lại có những nét đặc thù trong tổ chức và vận hành hệ thống công vụ và công chức. Điểm nổi bật trong cải cách công vụ của Mỹ là chế độ “mở”. Có thể nói nước này là điển hình với việc tuyển chọn, sử dụng và trả lương công chức, kể cả công chức cấp rất cao theo cơ chế cạnh tranh trên thị trường. Mọi người có trình độ, năng lực theo yêu cầu của công việc đều có cơ hội đăng ký thi tuyển và được tuyển dụng vào các vị trí công vụ còn chưa có người giữ. Chế độ công vụ này có ưu điểm là nhanh chóng tuyển dụng được những người có trình độ và năng lực phù hợp nhất cho hoạt động công vụ cụ thể, nhà nước không phải bỏ chi phí đào tạo ban đầu. Hơn nữa, do những người được tuyển này là từ các nguồn khác nhau, cho nên họ mang theo phong cách làm việc từ các thành phần kinh tế – xã hội khác vào hoạt động của bộ máy nhà nước Mỹ, làm cho nó có sức sống mới và công vụ Mỹ được xem là thực dụng nhất thế giới. Tuy vậy, chế độ này cũng có nhược điểm là thiếu tính ổn định, nhất là với một số hoạt động công vụ đặc thù. Ngoài ra, nền công vụ không liên tục nên khó vận dụng các qui trình như luôn chuyển và đào tạo, bồi dưỡng công chức.

Về chính quyền địa phương, có “hai đặc điểm nổi bật trong việc phân chia quyền lực trong chế độ tự do kiểu Mỹ là sự phân chia giữa chính phủ trung ương và các chính quyền bang; và sự độc lập của các chính quyền địa phương[3]. Hiến pháp sửa đổi lần thứ 10 của Mỹ qui định rằng các bang chịu trách nhiệm quản lý toàn bộ các công việc trên địa bàn bang, ngoài các công việc đã giao cho Liên bang. Như vậy, các bang có quyền hạn rất lớn đối với những vấn đề thuộc luật dân sự, luạt hình sự và phúc lợi xã hội, từ đó dẫn tới việc các bang có những qui định rất khác nhau về những nội dung này, và cơ cấu tổ chức các bang cũng không hoàn toàn giống nhau. Tuy nhiên, mỗi bang đều có Hiến pháp viết thành văn, qui định việc có Thống đốc bang là người đứng đầu hành pháp, được bầu trực tiếp cho nhiệm kỳ 4 năm. Ngoài ra, mỗi bang có cơ quan lập pháp và toà án riêng. Toàn bộ hệ thống này hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp Liên bang.

Do Hiến pháp Liên bang không qui định về việc thành lập chính quyền địa phương, nên việc bố trí và sắp xếp các đơn vị chính quyền địa phương do các bang quyết định. Vì vậy, quyền hạn cũng như phạm vi của các đơn vị chính quyền hạt (county), các thành phố là rất khác nhau giữa các bang. Hội đồng hạt do bầu cử tại địa bàn để thực hiện các chính sách và chức năng của hạt, như đăng ký giấy phép lái xe, cảnh sát, phòng chữa cháy, duy tu bảo dưỡng đường bộ, và quy hoạch. Các thành phố cũng khác nhau về phạm vi và tầm quan trọng, với hội đồng thành phố và bầu ra thị trưởng.

3.Pháp:

Nghị viện gồm hai viện: Hạ viện và Thượng viện. Hạ viện thông qua luật và giám sát hoạt động của chính phủ. Từ tháng 3 năm 1986, Hạ viện bao gồm 577 hạ nghị sĩ (555 hạ nghị sĩ cho nội địa và 22 hạ nghị sĩ cho các tỉnh hải ngoại). Trước đó Hạ viện gồm 491 đại biểu. Các cuộc bầu cử hạ viện diễn ra 5 năm một lần theo hình thức phổ thông trực tiếp. Thời hạn 5 năm này được gọi là nhiệm kỳ. Nhiệm kỳ này có thể bị rút ngắn trong trường hợp Tổng thống giải tán Quốc hội. Hạ viện có các vai trò: (1) Trong lĩnh vực lập pháp: Hạ nghị sĩ có thể trình dự án luật gọi là "đề xuất luật". Hạ viện thông qua luật và ngân sách nhà nước; (2) Giám sát hoạt động của chính phủ: hạ nghị sĩ có thể được biết về hoạt động của chính phủ bằng cách đặt câu hỏi: câu hỏi viết hạ nghị sĩ đặt câu hỏi để bộ trưởng trả lời trong Công báo, và câu hỏi trực tiếp hạ nghị sĩ đặt ra trong cuộc họp công khai để bộ trưởng trả lời trực tiếp. Hạ viện có thể lật đổ chính phủ thông qua kiến nghị kiểm duyệt hoặc bỏ phiếu bất tín nhiệm.

Thượng viện bao gồm 321 thượng nghị sĩ được bầu theo hình thức phổ thông gián tiếp, nhiệm kỳ 9 năm. Có những cuộc bầu cử thượng viện diễn ra ba năm một lần bởi vì 1/3 số thành viên của Thượng viện thay đổi ba năm một lần. Việc bầu cử thay đổi tuỳ theo số thượng nghị sĩ mà tỉnh phải bầu. Thượng viện có vai trò trình dự án luật được gọi là "đề xuất luật". Thượng viện thông qua luật và ngân sách của Nhà nước. Ngược lại với Hạ viện, Thượng viện không thể lật đổ Chính phủ.

Các bộ trưởng và các thành viên của Chính phủ do Tổng thống bổ nhiệm theo đề nghị của Thủ tướng. Khi Thủ tướng đệ trình đơn từ nhiệm của chính phủ lên Tổng thống nước Cộng hoà thì toàn bộ chính phủ sẽ thay đổi. Khi Tổng thống nước Cộng hoà cách chức một bộ trưởng hay khi một bộ trưởng từ chức thì sẽ có sự thay đổi ở cấp bộ. Số bộ trưởng và các thành viên của chính phủ có sự khác nhau giữa các chính phủ. Có trật tự thứ bậc giữa các bộ trưởng. Thủ tướng là người đứng đầu Chính phủ. Các bộ trưởng Nhà nước chịu trách nhiệm về bộ được coi là quan trọng hơn hoặc giữ vai trò phối hợp. Các bộ trưởng đứng đầu một bộ (theo luật chung), ví dụ : kinh tế, giáo dục, tư pháp, quốc phòng... Các bộ trưởng được uỷ nhiệm: bộ trưởng nhận nhiệm vụ từ Thủ tướng về một nhiệm vụ đặc biệt (ví dụ như : kế hoạch quản lí quy hoạch lãnh thổ, tỉnh và lãnh thổ hải ngoại...). Quốc vụ khanh có vai trò hạn chế hơn, bao gồm : quốc vụ khanh độc lập, quốc vụ khanh bên cạnh Thủ tướng, quốc vụ khanh bên cạnh bộ trưởng. Hội đồng bộ trưởng bao gồm Thủ tướng và các bộ trưởng dưới sự lãnh đạo của Tổng thống nước Cộng hoà. Các quốc vụ khanh chỉ được tham gia về những vấn đề có liên quan. Thủ tướng có thể lãnh đạo Hội đồng bộ trưởng theo sự uỷ nhiệm của Tổng thống. Chính phủ định quyết định và điều hành chính sách đó. Chính phủ bao gồm hệ thống hành chính và lực lượng vũ trang. Chính phủ giữ vai trò hành pháp cùng với Tổng thống.

Vai trò của bộ trưởng: bộ trưởng có vai trò chính trị với tư cách là thành viên của chính phủ. Bộ trưởng trình và bảo vệ ngân sách trưởng Nghị viện. Bộ trưởng có vai trò hành chính với tư cách là người đứng đầu nhân sự của một bộ. Theo quy định của Hiến pháp : thành viên của chính phủ không được là thành viên của Nghị viện, không được thực hiện nhiệm vụ đại diện các tổ chức nghề nghiệp mang tính quốc gia, công vụ và các hoạt động nghề nghiệp. Như vậy, bộ trưởng không thể đồng thời là hạ nghị sĩ, thượng nghị sĩ hoặc người lãnh đạo tổ chức công đoàn.

Chính phủ hiện nay gồm Thủ tướng và 25 Bộ trưởng (xem danh sách tại Phụ lục 1), có trách nhiệm: (1) về chính trị Chính phủ chịu trách nhiệm trước Quốc hội, có thể bị Quốc hội lật đổ thông qua kiến nghị kiểm duyệt hoặc bỏ phiếu bất tín nhiệm. Khi đó, Thủ tướng buộc phải đệ đơn từ nhiệm của Chính phủ lên Tổng thống; (2) trước toà án; Bộ trưởng phải chịu trách nhiệm về mặt dân sự và trong thời gian thực hiện nhiệm vụ bộ trưởng có thể bị buộc phải bồi thường thiệt hại cho các cá nhân. Bộ trưởng phải chịu trách nhiệm về mặt hình sự và có thể bị toà án xét xử khi phạm tội.

Hệ thống hành chính là nơi giúp chính phủ thực thi chính sách. Tất cả những quyền lực chính trị mà hệ thống hành chính có được đều để thực hiện các quyết định của chính phủ. Tại trung ương, Tổng thống có quyền bổ nhiệm một số chức danh dân sự và quân sự của Nhà nước; quyền lập quy theo luật chung thuộc về Thủ tướng. Tuy nhiên, Tổng thống có quyền kí các pháp lệnh và nghị định được thảo luận ở Hội đồng bộ trưởng. Tổng thống có bộ phận giúp việc là Văn phòng tổng thống bao gồm các cộng sự và các chuyên gia chịu trách nhiệm về các vấn đề liên quan đến chính sách đối nội và đối ngoại. Văn phòng này chịu trách nhiệm giám sát hoạt động của Chính phủ, tình hình hoạt động của từng bộ, phối hợp hoạt động với cơ quan hành pháp trong mối quan hệ chặt chẽ với bộ phận giúp việc của Thủ tướng.

Trừ những quyền thuộc về Tổng thống và phạm vi ủy quyền có thể dành cho các bộ trưởng, theo luật chung Thủ tướng có quyền bổ nhiệm các chức danh dân sự và quân sự. Về quyền lập quy theo luật chung, Thủ tướng đảm nhiệm vai trò chủ yếu trong hoạt động của Nhà nước: đưa ra sáng kiến lập pháp, tiếp kí phần lớn các quyết định của Tổng thống và đặc biệt là thực hiện quyền lập quy một cách tự chủ hoặc phụ thuộc. Các "bộ trưởng chịu trách nhiệm về việc thi hành" phải tiếp kí các văn bản có liên quan của Thủ tướng. Trong vai trò điều hành và phối hợp : Với cương vị là người đứng đầu Chính phủ, Thủ tướng không thể thay thế các bộ trưởng trong việc thực hiện nhiệm vụ hoặc thay đổi quyết định của họ, nhưng Thủ tướng giữ vai trò là người điều hành nội các, là trọng tài của nhiều lựa chọn khác nhau do các bộ đề xuất, người sắp xếp chương trình và thực hiện chương trình đó. Ngoài ra, Thủ tướng thực hiện việc phối hợp hoạt động của chính phủ thông qua việc lãnh đạo một số lượng lớn các hội đồng và ủy ban liên bộ.

Các bộ phận giúp việc của Thủ tướng gồm: (1) Văn phòng dân sự có Chủ nhịêm văn phòng, các chuyên gia về kỹ thuật và những người thực hiện những công việc cụ thể. Văn phòng này đảm nhiệm việc phổ biến các mệnh lệnh, tập trung đề xuất của các bộ, điều hành công việc, thúc đẩy cải cách, chuẩn bị và thực hiện các dự án; (2) Văn phòng quân sự bao gồm khoảng 5 người, tư vấn cho Thủ tướng về những vấn đề liên quan đến quốc phòng mà Thủ tướng chịu trách nhiệm.; (3) Văn phòng chính phủ: được thành lập từ năm 1935, đảm nhiệm vai trò chính yếu về mặt hành chính và chính trị. Cơ cấu của Văn phòng này rất gọn nhẹ, kín đáo, hiệu quả, tập trung vào những nhiệm vụ trọng yếu của Chính phủ. Văn phòng này đảm nhiệm việc chuẩn bị các cuộc họp liên bộ, các cuộc họp của Hội đồng bộ trưởng, đảm bảo nội dung của các biên bản và các quyết định, kiểm tra tính hợp thức của các văn bản từ giai đoạn chuẩn bị cho tới khi công bố trên Công báo và đến việc thực hiện các biện pháp áp dụng; (4) và các bộ phận khác như: các phòng hành chính và tài chính, phòng Công báo, phòng Tư liệu Pháp, phòng pháp luật và kỹ thuật thông tin, văn phòng quốc phòng và Uỷ ban liên bộ về các vấn đề hợp tác kinh tế châu Âu, phòng hành chính và công vụ.

Số lượng các bộ trưởng và quốc vụ khanh khoảng từ 30 đến 40 người tuỳ theo tính chất công việc. Một số bộ có tính chất bền vững như bộ Tư pháp, bộ Nội vụ, bộ Quốc phòng...; trong khi đó có một số bộ hay có sự thay đổi về chức năng như bộ Kinh tế và Tài chính, bộ Ngoại  giao.

Bộ trưởng đứng đầu một bộ và đảm nhiệm vai trò là người lãnh đạo duy nhất của bộ đó. Bộ trưởng có thẩm quyền mang tính thứ bậc đối với toàn bộ các nhân viên dưới quyền, ra mệnh lệnh hoặc chỉ dẫn cho họ, có thể áp dụng những hình thức kỉ luật đối với họ theo các quy chế và quy tắc chung của pháp luật. Ngoài ra, như tất cả những người đứng đầu một cơ quan khác, bộ trưởng có quyền áp dụng tất cả các biện pháp cần thiết để đảm bảo cho hoạt động của bộ máy hành chính dưới quyền. Quyền lập quy của bộ trưởng chỉ được thực hiện trong phạm vi của bộ về mặt nhân sự và cơ cấu. Về nguyên tắc, các bộ trưởng không có quyền lập quy nói chung - với danh nghĩa là nguồn luật hoặc là nghĩa vụ đối với những đối tượng bị quản lí, nhưng pháp luật cũng dành cho các bộ trưởng quyền lập quy nói riêng trong một số lĩnh vực cụ thể.

Ngoài ra, còn có các cơ quan theo hình thức tản quyền của các bộ, ví dụ : các cơ quan hành chính ở địa phương của các bộ lớn có tính chất bền vững như phòng Nông nghiệp cấp tỉnh, các phòng văn hoá cấp vùng; các cơ quan tư vấn, ví dụ như Uỷ ban về đạo đức liên quan đến khoa học và y tế đặt bên cạch bộ trưởng bộ Y tế; các cơ quan thanh tra và kiểm tra, ví dụ như Uỷ ban liên bộ về đánh giá chịu t ách nhiẹm phối hợp và phát triển các ý tưởng về việc đánh giá các chính sách công; các cơ quan hành chính độc lập, ví dụ như Hội đồng về cạnh tranh, Uỷ ban quốc gia về tin học và các quyền tự do...

Về chính quyền địa phương, nước Pháp chia thành cấp vùng, cấp tỉnh và cấp xã. Hiện có 22 vùng và 4 vùng hải ngoại. Mỗi vùng có Hội đồng được bầu theo hình thức phổ thông trực tiếp, với nhiệm kỳ 6 năm. Hội đồng đảm nhiệm việc giải quyết các vấn đề của vùng thông qua việc thảo luận, và đảm nhiệm việc thông qua ngân sách của vùng. Chủ tịch hội đồng lãnh đạo các cuộc họp của Hội đồng cấp vùng, chịu trách nhiệm về việc thực hiện các quyết định của Hội đồng, lãnh đạo các cơ quan hành chính của vùng và hỏi ý kiến của Hội đồng kinh tế và xã hội về tất cả những vấn đề thuộc thẩm quyền của mình. Hội đồng kinh tế và xã hội: là cơ quan tư vấn, đưa ra ý kiến về dự án ngân sách, về việc chuẩn bị và thực hiện dự án, và về những vấn đề Chủ tịch hội đồng cấp vùng yêu cầu. Người đứng đầu vùng là tỉnh trưởng của thủ phủ của vùng, chịu trách nhiệm thúc đẩy và phối hợp hoạt động của các tỉnh trưởng khác trong vùng, thực hiện các chính sách của Chính phủ về vấn đề phát triển vùng và có quyền quyết định việc sử dụng các khoản đầu tư có tính chất công.

Nước Pháp có 96 tỉnh ở lãnh thổ nội địa và 5 tỉnh hải ngoại. Các đại biểu hội đồng hàng tỉnh được bầu theo hình thức phổ thông trực tiếp, với nhiệm kỳ 6 năm. Hội đồng đảm nhiệm việc giải quyết các công việc của tỉnh qua việc thảo luận, và thông qua ngân sách của tỉnh. Chủ tịch hội đồng chịu trách nhiệm chuẩn bị và thực thi các quyết định của Hội đồng. Tỉnh trưởng đảm nhiệm việc thông báo cho chính phủ về tình hình của tỉnh; bảo đảm việc chuẩn bị và giám sát các cuộc bầu cử; lãnh đạo các cơ quan hành chính dân sự theo thẩm quyền; chịu trách nhiệm về quyền lợi quốc gia; về việc tuân thủ pháp luật về trật tự công cộng ở cáp tỉnh theo nguyên tắc tản quyền; giám sát việc thực hiện các nghị định và quyết định của chính phủ; kí các hợp đồng nhân danh Nhà nước và đại diện cho Nhà nước trước pháp luật...

Cả nước có khoảng 36.700 xã. Hội đồng cấp xã có cơ cấu từ 9 (đối với những xã dưới 100 dân) đến 69 người (đối với những xã từ 30 000 dân trở lên). Hội đồng đảm nhiệm việc giải quyết các vấn đề của cấp xã thông qua việc thảo luận. Xã trưởng (thị trưởng) và những người dưới quyền: do hội đồng cấp xã bầu ra từ các thành viên của hội đồng với nhiệm kỳ 6 năm. Xã trưởng vừa là công chức cấp xã vừa là công chức Nhà nước.

Trong số các nước phương Tây thì Pháp là nước vận dụng chế độ công chức thường nhiệm tương đối muộn. Chế độ công chức hiện nay của Pháp thực sự được chính thức xác lập kể từ sau Đại chiến thế giới lần thứ hai. Trước cuộc Đại cách mạng năm 1789, nước Pháp duy trì khá lâu chế độ quan liêu phong kiến trung ương tập quyền. Theo chế độ này, việc mua quan bán tước không phải là hiếm thấy. Ngay cả khi lập ra chính quyền của giai cấp tư sản sau Đại cách mạng, tàn dư của chế độ trung ương tập quyền hãy còn là khá nặng nề. Cho đến thời kỳ Na-pô-lê-ông đã hình thành nên một bộ máy hành chính đồ sộ với khoảng 50 vạn quan lại và 50 vạn quân nhân. Mặc dù bộ máy hành chính thời gian này được coi là khá hiệu quả trong vận hành bộ máy chiến tranh khổng lồ đó, việc nuôi dưỡng và duy trì sự ổn định của nó luôn đặt ra các yêu cầu phải cải tiến. Kể từ năm 1846 trở đi, Chính phủ Pháp đã nhiều lần cố gắng xây dựng luật về công chức, song vì có quá nhiều đảng phái, nội các thường xuyên thay đổi, tình hình chính trị bất ổn định, cho nên chưa thành.

          Sau Chiến tranh thế giới thứ hai, nhận thấy rõ yêu cầu phải đổi mới bộ máy quan lại, Chính phủ lâm thời do Tướng Đờ Gôn đứng đầu đã tiến hành cải cách bộ máy này. Các bước đi quan trọng là thành lập Cục quản lý dân sự thuộc Phủ Thủ tướng, và thành lập Trường Hành chính quốc gia (ENA) để phụ trách vấn đề đào tạo và bồi dưỡng đội ngũ công chức cấp cao. Tới tháng 10 năm 1946, trên cơ sở học hỏi kinh nghiệm của nước Anh, Pháp đã ban bố luật công chức thống nhất, từ đó xây dựng nên hệ thống công vụ và chế độ công chức hiện nay.

          Một số đặc điểm nổi bật của hệ thống công vụ ở Pháp là: (a) quyền lực Nhà nước tập trung ở trung ương, vì vậy hệ thống công vụ cũng tập trung, công chức ở địa phương chịu sự quản lý chặt chẽ của trung ương; (b) mang sắc thái thể thức, thủ tục cao. Công chức chịu trách nhiệm cao trước cấp trên, lấy việc tuân lệnh làm chính, chú trọng hình thức, qui định, trình tự làm việc đúng thủ tục giấy tờ; (c) chế độ công chức theo các bộ chứ không hoàn toàn thống nhất vào chính phủ1. Quy chế công chức của Pháp dựa trên cơ sở cải cách các chế độ từ trước, được ban hành ngày 4/2/1959. Tổng số công chức có khoảng 350 nghìn người, trong đó công chức tại các bộ ở trung ương có khoảng 250 nghìn, và công chức quản lý hành chính nhà nước ở địa phương có khoảng 100 nghìn người. Cơ quan quản lý công chức toàn quốc là “Tổng cục công chức và hành chính” với mục đích phát triển chế độ công chức, cải cách hành chính, thúc đẩy khoa học hoá, hiện đại hoá công vụ. Việc tuyển dụng công chức căn cứ theo hai nguyên tắc cơ bản: cơ hội bình đẳng cho tất cả mọi người, không phân biệt nam nữ, khuynh hướng chính trị, tôn giáo, văn hoá; và tuyển chọn qua thi cử công khai. Chính sách của Pháp quy định rõ việc đào tạo tiền công vụ bắt buộc đối với các công chức cấp cao, những người được phân làm hai loại chính là công chức kỹ thuật và công chức phi kỹ thuật. Đối với các công chức đương nhiệm cũng được hưởng chế độ tu nghiệp, và cơ quan chủ quản có trách nhiệm tạo điều kiện cho họ. Hàng năm, công chức được kiểm điểm, đánh giá công tác, lấy đó làm cơ sở cho việc nâng bậc, đặc biệt là việc lựa chọn để để bạt. Chế độ đãi ngộ đối với công chức bao gồm lương cơ bản và các loại trợ cấp căn cứ vào điều kiện cụ thể của mỗi người. Công chức Pháp nghỉ hưu vào 60 tuổi đối với những người làm tại văn phòng, còn những người ở ngoài văn phòng là 55 tuổi.

4. Nhật Bản

Nhà nước Meiji, được thành lập năm 1868 là nhà nước hiện đại đầu tiên trong lịch sử Nhật Bản. Theo Hiến pháp Meiji, Hoàng đế có toàn toàn quyền về chính trị, hành chính, lập pháp, tư pháp và tinh thần. Sau chiến tranh thế giới thứ hai, Nhật Bản bị đặt dưới sự cai trị của chính phủ quân sự của các quốc gia đồng minh, đặc biệt là của Mỹ, trong suốt giai đoạn đó và một điều kiện để kết thúc sự chiếm đóng của đồng minh là Nhật bản phải trở thành một nhà nước dân chủ. Năm 1946, Hiến pháp cho Nhật bản do các nước đồng minh ban hành và có hiệu lực 1947 thay thề Hiến pháp Meiji. Bản hiến pháp mới thiết lập những điều kiện của xã hội dân chủ bằng cách đặt quyền tự quyết vào trong tay người dân và bằng việc chi tiết những điều bắt buộc đối với một xã hội dân chủ thực sự. Một số thể chế dân chủ đã được thiết lập bên cạnh việc thiết lập các nguyên tắc bầu cử cơ bản: một nền dân chủ đại diện và sự đảm bảo của phổ thông đầu phiếu, bình đẳng của các phiếu bầu và bí mật bầu cử. Mục đích của việc ban hành Hiến pháp này của các nhà cầm quyền liên minh là nhằm ngăn chặn Nhật Bản trở thành nhà nước quân sự, đe doạ hoà bình thế giới và để tăng cường về mặt kinh tế và chính trị chống lại sự đe doạ của chủ nghĩa cộng sản. Mặc dù, sự phương Tây hoá cùng chiến tranh thế giới thứ hai, nhiều giá trị văn hóa truyền thống tồn tại lâu đời vẫn còn in dấu ấn trong văn hoá chính trị Nhật Bản. Xã hội Nhật bản có xu hướng cộng đồng, nhóm phái hơn là chủ nghĩa cá nhân ở Bắc Mỹ và Châu âu.

Mặc dù vẫn duy trì các yếu tố bảo thủ, có những thay đổi lớn trong trật tự chính trị Nhật Bản vào những thập kỷ 90 mà ở rất nhiều khía cạnh có sự tương đồng với sự tái cấu trúc của hệ thống đảng của người Italia khi đó. Đảng dân chủ tự do ( LPD) là Đảng chiếm ưu thế ở Nhật bản kể từ khi xây dựng Hiến pháp mới 1955 sau sự hợp nhất của hai đảng bảo thủ là đảng tự do và đảng dân chủ. Mặc dù, sau chiến tranh thế giới thứ hai,có rất nhiều đảng phái chính trị hoạt động nhưng LPD là đảng lãnh đạo duy nhất trong suốt gần 4 thập kỷ. Đảng chính trị thứ hai giữ vai trò lãnh đạo là đảng xã hội. Ngoài ra, ở Nhật bản còn tồn tại một số đảng chính trị khác nhu đảng chính phủ trong sạch, đảng nước nhật mới, đảng Komei, đảng lao động xã hội.... Cũng có một sự thay đổi lớn trong đời sống chính trị của Nhật kể từ 1994 là mối quan hệ giữa các đảng chính trị và khu vực tư gắn liền với tuyên bố Keidenren ( Liên hợp các tổ chức kinh tế), hiệp hội kinh tế lớn và có ảnh hưởng nhất Nhật Bản. Hiệp hội này không còn được coi như một đường dẫn cho sự dịch chuyển tài chính từ các nguồn lực kinh doanh tới các nhà chính trị. Kết quả là, các nhóm lợi ích không còn được gắn chặt với một đảng chính trị nhất định như trong suốt giai đoang 1955 đến 1989. mối quan hệ giữa khu vực công và khu vực tư đang thay dổi này đang khiến chế độ chính trị đảng phái thậm chí trở nên khó hiểu hơn đối với các cử tri Nhật Bản. Một điểm cần lưu ý là, trong khi các nhà chính trị, đảng viên đảng LDP và các quan chức hành chính trong quá khứ từng được gắn với những thành công của Nhật Bnả, những lợi ích của họ hiện nay đã không ngang hàng nữa. Ngày nay, các nhà chính trị ít tham gia hơn vào quán trình ban hành quyết mà chuẩn bị nhiều hơn để lập biểu đồ phương án chính sách điều mà các nhà hành chính bất đắc dĩ phải tán thành. Trong cuộc bầu cử phổ thông 2009, Đảng dân  chủ Nhật bản lên nắm quyền sau nhiều năm cầm quyền của dảng dân chủ tự do Nhật bản. DPJ thiết lập chính sách “ lónh đạo bởi các nhà chính trị”, chỉ trich sự thiết lập bộ máy quan liêu trong thời kỳ đảng LPD và sẽ cải cách nền công vụ. Cách thức ban hành quyết định trong chính phủ và các bộ của Nhật Bản có những thay đổi đáng kể.

Hiến pháp Nhật Bản được xây dựng trên cơ sở có tiếp thu những kinh nghiệm chính trị và hành chính công của Mỹ và Anh. Mặc dù về tinh thần là giống Mỹ và cấu trúc Nghị viện giống Anh với vai trò của Nhật là người đứng đầu quốc gia mang tính biểu trưng của nền quân chủ lập hiến, sự thực hiện Hiến pháp lại mang đặc thù riêng của Nhật Bản. Theo Hiến pháp Meiji, quyền tự quyết được trao cho Nhà vua. Nhà vua không chỉ là nguyên thủ quốc gia  và còn là thủ lĩnh tôn giáo với quyền chỉ huy trực tiếp lực lượng quan đội. Ngoài ra, ông ta còn có quyền đề ra và phê chuẩn một khoản ngân sách nào đó hay tự mình ban hành một đạo luật mang tính bắt buộc cao. Các nhà hành chính công được coi là “ các nhân viên của Nhật hoàng” và tuân thủ theo các quy định rất chặt chẽ . Lòng trung thành, kiến thức về luật pháp được coi trọng hơn nền tảng giáo dục hay khả năng quản lý hành chính của họ. Theo Hiến pháp mới, Nhật hoàng vẫn đựoc giữ lại nhưng chỉ được coi là biêủ tượng cho sự thống nhất của quốc gia. Ông ta không có quyền lực thực sự trong thực hiện các chức năng của chính phủ. Tất cả hành động của Nhật hoàng phải làm là chuẩn y trên cơ sở những tư vấn và thông qua của Nội các. Nhật hoàng bổ nhiệm Thủ tờng và Chánh án toà án tối cao và xác nhận sự bổ nhiệm các Bộ trưỏng chủ yếu của Nhà nước; có quyền triệu tập Nghị viện một cách chính thức và có thể giải tán Hạ viện và kêu gọi một cuộc bầu cử phổ thông;bổ nhiệm đại sứ, ký các hiệp ước và công bố Luật, quyết định của Chính phủ và sửa đổi Hiến pháp nhưng không còn được coi như thiết chế quyền lực tối cao của nhà nước  như trước nữa.

Bản Hiến pháp mới chia Chính phủ Nhật thành ba nhánh cơ bản: Lập pháp, hành pháp và tư pháp. Ngành hành pháp bao gồm Nội các, các tổ chức thuộc quyền quản lý của Nội các, Văn phòng Thủ tướng, các bộ, 24 Cục và 8 uỷ ban. Nội các là cơ quan hành pháp cao nhất của chính phủ. Nội các ban hành chính sách và các kế hoạch của chính phủ, điều hành các bộ của chính phủ ở hai phương diện cá nhân và tập thể, quản lý các vấn đề đối nội và đối ngoại, chẩun bị ngân sách, quản lý công vụ và trình các dự án Luật ra Nghị viện. Nội các cũng ban hành các quyết định có giá trị như các đạo luật, bổ nhiệm các thẩm phán của Toà án tối cao và chịu trách nhiệm cố vấn cho Nhật hoàng về các thủ tục chính thức triệu tập các phiên họp của Nghị viện hay giải tán nghị viện và kêu gọi một cuộc bầu cử phổ thông. Thủ tướng có thể chiếm ưu thế với tư cách là người đứng đầu Nội các và thông thường ông ta được sự ủng hộ tuyệt đối của các Nghị sĩ trong Nghị viện. Nội các bao gồm 20 người là các bộ trưởng và chịu trách nhiệm tập thể trước Nghị viện.

Văn phòng thủ tướng tổ chức và điều hành các công việc của Thủ tường và Nội các, trong đó ba bộ phận quan trọng nhất là Văn phòng thư ký Nội các, Văn phòng lập pháp Nội các và Hội đồng quốc phòng quốc gia. Văn phòng thư ký nội các tổ chức các chương trình họp của Nội các và cung cấp các nghiên cứu và thu thập dữ liệu và tư vấn chính sách cho Nội các, liên lạc và kết nối giữa các cơ quan của Chính phủ, Tổng thư ký của Văn phòng thường là một cộng sự chính trị gần gũi của Thủ tưởng. Văn phòng lập pháp Nội các chủan bị các dự luật để trình lên Nghị viện, kết hợp việc xem xét và phê chuẩn của các quy định bắt nguồn từ các bộ và đàm phán các vấn đề lập pháp với các ủy ban thường trực của Nghị viện. Văn phòng chuẩn bị và phối hợp các quyết định của Nội các cùng với các quan điểm của các bộ liên quan để Nội các phê chuẩn. Hội đồng quốc phòng quốc gia do Thủ tướng đứng đầu, gồm Tổng giám đốc của Cục quốc phòng, Bộ trưởng ngoại giao, Bộ trưởng Tài chính và Tổng giám đốc của Cục quy hoạch kinh tế.

Cơ quan lập pháp Nhật Bản là Nghị viện Nhật bản, Nghị viện quốc gia, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất và cơ quan lập pháp quốc gia. Nghị viện có quyền phê chuẩn ngân sách và các điều ước và đề xuất việc sửa đổi Hiến pháp. Nghị viện được tổ chức thành hai viện: Hạ viện ( House of Representatives) và Thượng viện ( House of Coucillors). Thành viên của hai viện được bầu thông qua phổ thông đầu phiếu với tư cách là đại diện của nhân dân. Hạ viện bao gồm 115 nghị sĩ, được bầu cử với nhiệm kỳ 4 năm từ 130 khu vực bầu cử. Thượng viện gồm 252 nghị sĩ được bầu với nhiệm kỳ 6 năm bởi hai khu vực bầu cử khác nhau: 152 nghị sĩ được bầy ở 47 khu vực tương ứng với 47 quận. Mỗi quận bầu từ 2 đến 8 nghị sĩ tương ứng với số dân. 100 thượng nghị sĩ còn lại được bâù theo hình thức phổ thông đầu phiếu. Hai viện này có quyền lực khác nhau. Hạ viện có quyền bỏ phiếu bất tín nhiệm Nội các, phê chuẩn ngân sách và các hiệp ước, bổ nhiệm thủ tướng và kéo dài các phiên họp của Nghị viện. Các dự luật trở thành luật phải có sự phê chuẩn của cả hai viện nhưng Hạ viện có thể lấn át Thượng viện với đa số 2/3.

Nghị viện tiến hành ít nhất của kỳ họp định kỳ kéo dài 150 ngày mỗi năm. Kỳ họp bất thường có thể được triệu tập bởi Nội các hoặc bản thân Nghị viện hoặc theo đề nghị của 1/4 số thành viên của Hạ viện. Cả hai viện hoạt động trên cơ sở kết hợp của thông qua tranh luận nghị viện phổ thông theo kiểu Anh và thông qua một hệ thống của khoảng 16 cơ quan thường trực theo kiểu của Mỹ. Mỗi viện có toàn quyền trong việc bổ nhiệm các quan chức lãnh đạo của mình và thiết lập hệ thống quy định riêng. Nghị viện cũng có quyền được quy định trong hiến pháp là bổ nhiệm Thủ tướng và Thủ tướng có quyền bổ nhiệm các Bộ trưởng chủ yếu của Nhà nước. Hiến pháp quy định Thủ tướng và ít nhất một nửa của Nội các phải là các thành viên của một trong hai viện của Nghị viện.

ở Nhật Bản, các chức năng của Chính phủ  được thực hiện bởi một số loại hình tổ chức, các cơ quan hành chính chung của bộ máy nhà nước và các doanh nghiệp nhà nước, các doanh nghiệp công ích. Nhằm tạo ra một cơ cấu của chính phủ thực hiện các chức năng mới của nền hành chính hiện đại, một số cơ quan đặc thù phục vụ cho quản lý hành chính như Cục quản lý hành chính, Tổng cục Nhân sự quốc gia và Cục tự trị địa phương đã được thiết lập.

Cục quản lý hành chính có nhiệm vụ nghiên cứu và lập kế hoạch tổ chức hành chinhs, nâng cao hiệu quả và tiến hành thanh tra hành chính; Tổng cục nhân sự quốc gia được thành lập nhằm dân chủ hoá bộ máy quan liêu cũ, đảm bảo sự trung lập về chính trị trong quản trị nhân sự, đảm bảo tính công bằng trong bổ nhiệm các vị trí trong nền công vụ và thúc đẩy hiệu quả hành chính. Hoạt động của cơ quan này chịu ảnh hưởng nặng nền của Uỷ ban công vụ của Mỹ.

Cục tự trị địa phương ban đầu được thiết lập nhằm thay thế Bộ nội vụ, một biểu tượng của sự tập trung hoá. Cơ quan này hiện nay đang giữ một địa vị cao hơn và với tên gọi là Bộ tự trị địa phương. Mặc dù sự tăng cường quyền lực cho chính quyền địa phương với việc trao cho quận và xã sự tự trị đáng kể, đồng nghĩa với địa phương ít chịu sự kiểm soát của chính quyền trung ương hơn và người dân có điều kiên tham gia nhiều hơn vào công việc của địa phương, tuy nhiên nguồn tài chính của các đơn vị hành chính lãnh thổ địa phương này vẫn cực kỳ hạn chế và vẫn phụ thuộc nhiều vào chính quyền trung ương.

Ngoài các cơ quan hành chính chung trên, còn có các Tokushujokin tức là các tập đoàn công ích, do Chính phủ trung ương thành lập nhàm thực hiện các hoạt động kinh doanh của nhà nước.

Mối quan hệ giữa các cấp chính quyền ở Nhật Bản khác với các nhà nước liên bang nơi mà chính quyền địa phương tồn tại một cách độc lập. Theo quy định của Hiến pháp Meiji,  không có một quy định cơ bản nào về chính quyền địa phương. Chính quyền địa phương có rất ít hoặc không có sự độc lập và được coi như là cánh tay nối dài của chính phủ trung ương. Chính quyền địa phương bao gồm các quận, thành phố, hạt , thị trấn và làng. Thống đốc của quận là đại diện của chính phủ trung ương do Nhà vua bổ nhiệm và chịu trách nhiệm trước Nhà vua. Tất cả các cấp chính quyền địa phương đều chịu sự quản lý của Bộ nội vụ về hầu hết các vấn đề và các bộ khác có liên quan. Hơn nữa, chính quyền địa phương có trách nhiệm chia sẻ chi phí của tất cả các chương trình của chính phủ trung ương, trong khi có rất ít hoặc không có ảnh hưởng về mặt chính trị. Các nhà lãnh đạo chính trị được coi như các nhân viên của hoàng gia hơn là các công chức.

Sau chiến tranh thế giới thứ hai, Hién pháp mới đã xác định những cải cách về chính quyền địa phương. Năm 1946, sự thay đôi cơ bản về hệ thống các quận, thành phố, thị trấn và làng đã được thiết lập. Khuôn khổ cơ bản của hệ thống hậu chiến của chính quyền địa phương đã được quy định tại chương 8 Hiến pháp 1947. Hai cấp chính quyền đã được thiết lập: chính quyền trung ương chịu trách nhiện chung về công việc của quốc gia và chính quyền địa phương chịu trách nhiệm về các vấn đề của người dân địa phương. Quyền lực kiềm chế lẫn nhau của hai cấp chính quyền này được tạo ra nhằm đảo bảo sự khả thi của nền chính trị dân chủ. Chính quyền địa phương đứng đầu là quận, đơn vị hành chính địa phương lớn nhất, tiếp đó là các cấp thấp hơn là các đơn vị hành chính tự trị: thành phố, phường, thị trấn và làng. Về nguyên tắc, các chức năng của quận bao gồm các hoạt động của vùng và phối hợp các hoạt động các các đơn vị hành chính thấp hơn. Ngoài quận thủ đô Tokyo, tất cả các quận đều có chức năng giống nhau. Có một sự khác nhau đáng kể của các cấp chính quyền thấp hơn  về cấu trúc chính quyền địa phương đặc biệt là giữa các chính quyền hành chính tự trị.

Luật tự trị địa phương ban hành năm 1947 đã xác định cơ cấu tổ chức và quyền hạn của các cơ quan lập pháp địa phương, người đứng đầu cơ quan hành pháp tai hai cấp chính quyền, đồng thời quy định cách thức quản lý hành chính ( hạn chế quyền lực của thống đốc, thị trưởng và các quan chức địa phương)

Mặc dù có sự đảm bảo về mặt hiến pháp về sự tự trị của chính quyền địa phương và địa vị pháp lý bình đẳng của mỗi cấp chính quyền, chính quyền địa phương của Nhật Bản vẫn còn đặt dưới sự kiểm soát của chính phủ trung ương. Các chính sách quốc gia và chính phủ trung ương vẫn chiếm một vị trí tối cao. Các luật địa phương không thể vi phạm luật của quận, luật của quận không thể trái với luật quốc gia.

Nhật bản dược chia thành 47 đơn vị hành chính, quận: một quận thủ đô  ( tokyo) và 2 quận đô thị ( Kyoto và Osaka), 43 quận nông thôn và một quận đặc biệt ( Hokkaido). Các thành phố lớn được chia thành các phường và các phường chia thành các thị trấn hay hạt…

Các thành phố là các đơn vị tự quản được quản lý một cách độc lập bởi chính quyền của đơn vị hành chính lớn hơn. Để đạt được địa vị của thành phố, đơn vị hành chính đó phải có it nhất 30 000 dân, 60% sống ở thành thị. Thị trấn và thị tứ là các thị trấn tự quản bên ngoài các thành phố cũng như ccs thị trấn của phường đô thị. giống như các thành phố, mỗi đơn vị hành chính cấp phường có các thị trưởng và nghị viện riêng. Làng là đơn vị tự quản nhỏ nhất ở vùng nông thôn, bao gồm một số thôn với số dân là một vài ngàn được liên kết với nhau một cách chính thức được thiết lập bởi chính quyền làng. Làng có trưởng làng và hội đồng được bầu với nhiệm kỳ 4 năm.

Mối quan hệ giữa chính quyền trung ương và địa phưong được đặc trưng bởi bởi sự kiểm soát mạnh mẽ về tài chính và hành chính bởi chính phủ trung ương. Bộ nội vụ đóng một vai trò chủ yếu trong việc ủng hộ sự phát triển của chính quyền địa phương bằng việc ban hành các báo cáo nhanh và những tư vấn miệng liên quan đến các vấn đề đó như chấp nhận các quyết định và dự án liên quan. Có một số thẩm quyền hành chính mà chính phủ trung ương giữ lại như quyền đặt ra “ các biện pháp sửa sai” đối với sự thực hiện không đầy đủ hay vi phạm luật và các quy định của nhà nước, các quyết định của nội các và mối quan hệ tài chính của chính quyền trung ương và chính quyền địa phương là đan xen chặt chẽ với nhau.60% của chi tiêu tài chính của chính quyền địa phương là nhận từ nhiều nguồn của các quỹ của chính phủ trung ương. Việc chi trả được tạo ra thông qua các bộ của chính quyền trung ương hoặc là cho các chương trình được uỷ quyền cho chính quyền địa phương hay là sự cho những trợ cấp đặc biệt cho các mục đích công cộng khác. Hàng năm,  chính phủ trung ương phân bổ một khoản thuế được giữ lại tại địa phương theo tỉ lệ. Khoản thuế này bao gồm một phần xác định được quy định tại luật ( khoảng 32%) từ nguồn thu từ các khoản thuế chủ yếu của nhà nước; thuế thu nhập cá nhân, thuế kinh doanh, thuế rượu. Khoản thu này được ban hành năm 1954 như một công cụ để đảm bảo và ổn định sự vận hành của các quỹ  nhằm đáp ứng nhu cầu chi tiêu cơ bản của chính quyền địa phương.

Nền công vụ Nhật bản có hơn 1 triệu nhân viên với 400 000 người làm việc trong ngành bưu chính từ 2003, là một bộ phận lớn nhất. Trong thời kỳ hậu chiến, số lượng nhân viên trong nền công vụ  thậm chí lớn hơn nhưng do quá trỡnh tư nhân hoá một bộ phận lớn các tập đoàn nhà nước từ những năm 1980, trong số đó là NTT và tập đoàn đường sắt quốc gia, số lượng này đó giảm.Tư nhân hoá ngành bưu chính là bước tiếp theo. Sau sự sụp đổ của bong bong bất động sản vào đầu những năm 90, lương và lợi ích trong khu vực tư bi cắt giảm, nhưng công chức vẫn được duy trỡ. Cỏc cụng chức trong khu vực cụng được chia làm hai loại “đặc biệt” và ‘ thường”. Việc bổ nhiệm đối với những công chức hạng ‘đặc biệt” được chỉ đạo bởi các yếu tố chính trị và một số yếu tố khác và khôgn liên quan tới việc thi tuyển cạnh tranh. Công chức hạng đặc biệt gồm bộ trưởng nội các, người đứng đầu các cơ quan độc lập, thành viên của lưc lượng tự phũng vệ, quan chức nghị viện và đại sứ. Lực lượng nũng cốt trong nền cụng vụ là cỏc viờn chức trong nhúm “ thường xuyên”, được tuyển dụng thong qua thi tuyển cạnh tranh

Công vụ nhật bản đó trải qua những thay đổi và cải cách đáng kể để nâng cao hiệu quả hoạt động trong điều kiện ngân sách chính phủ ngày càng được thắt chặt. Năm 2001, Cải cách chính phủ trung ương được thực hiện nhằm hợp nhất các bộ, tăng cường hiệu quả  hoạt động của nội các.

5. Singapore

Với đặc điểm của một quốc gia thành phố, có diện tích và dân số tương đối nhỏ tại Đông Nam Á (diện tích 648 km2 và dân số hơn 4.350.000 người), nền hành chính và công vụ của đất nước này đã có những tiến bộ rất đáng kể, được xem là một nhân tố chủ đạo lý giải cho thành công của nền kinh tế thuộc một trong bốn "con rồng châu Á".

Là quốc gia theo chế độ công hoà, nền hành chính nước này có cội nguồn từ hành chính thuộc địa của Anh (Xin-ga-po trở thành thuộc địa của Anh kể từ năm 1867, lúc đầu nằm trong thành phần của Liên bang Ma-lay-xia, sau tách riêng ra vào năm 1965) và chịu nhiều dấu ấn của Liên bang này cũng như một số thuộc địa khác như Ấn Độ. Nghị viện Xin-ga-po gồm 84 đại biểu được bầu ra từ số 9 khu vực bầu cử mỗi đơn vị được bầu 1 đại biểu và 15 khu vực cử tri bầu theo nhóm. Ngoài ra, có thể có thêm 6 đại biểu nữa được bầu vào Nghị viện, với đủ các quyền phát biểu và bỏ phiếu, trừ những nghị quyết liên quan tới tài chính hoặc Hiến pháp. Các kỳ bầu cử thực hiện theo phổ thông đầu phiếu cho các công dân từ 21 tuổi trở lên. Thủ tướng là người đứng đầu đảng phái chiếm đa số trong Nghị viện, do Tổng thống bổ nhiệm để đứng đầu nội các. Các thành viên nội các do Thủ tướng đề nghị và Tổng thống bổ nhiệm trong số các nghị viên.

Do là quốc đảo với diện tích và dân số nhỏ nên Xin-ga-po không có chính quyền địa phương. Các công việc hành chính tại địa bàn giao cho Hội đồng phát triển cộng đồng (CDS) gồm có từ 12-20 người, kể cả người đứng đầu. Các hội đồng này chịu trách nhiệm đề xuất, lập kế hoạch và quản lý các chương trình mang tính cộng đồng và các hoạt động xã hội theo sự uỷ nhiệm của các bộ.

Hiện tại số lượng công chức có khoảng 62.000 người, trong đó, khoảng 22.000 giáo viên. Công vụ Xin-ga-po phân thành các loại: hành chính, cơ khí, y tế và khoa học, xã hội và cộng đồng, nội chính. Chính sách tuyển dụng nhân tài cho công vụ của nước này mang tính "mở" rất cao, với nguyên tắc cơ bản là "Tuyển dụng và đề bạt phải trên cơ sở công tích và mang tính cạnh tranh cao"1 . Kể từ tháng 1/1995 chính sách tuyển dụng được Ban Công vụ giao cho các Vụ Nhân sự của các bộ xây dựng để có các tiêu chí phù hợp nhất với công việc thuộc bộ mình. Sau khi duyệt đơn đăng ký, những người xin dự tuyển phải qua phỏng vấn do một Hội đồng tuyển chọn để đề nghị Vụ Nhân sự bổ nhiệm. Vụ Công vụ thuộc Văn phòng Thủ tướng còn tổ chức các buổi trao đổi về nghề nghiệp với sinh viên trước khi tốt nghiệp đại học, nhằm tuyên truyền và chọn lựa những người có tài năng nhất sau này vào làm việc trong công vụ.

Hệ thống đánh giá công chức gồm hai phần: a) Hệ thống báo cáo với một bản thoả thuận công việc giữa nhân viên cấp dưới với cấp trên sau khi bàn bạc, một bản báo cáo đánh giá công khai công việc giữa hai bên về kết quả công việc và sự tiến bộ của người nhân viên đó, và một báo cáo (mật) về triển vọng phát triển, khả năng cử đi đào tạo để sử dụng người đó trong tương lai; và b) Hệ thống xếp hạng thực thi công tác để đánh giá chất lượng công việc, kết quả, năng lực tổ chức, kiến thức và vận dụng, tinh thần hợp tác và tính trách nhiệm của người công chức.

Việc trả công lao động và phúc lợi tiến hành theo nguyên tắc trả lương công chức theo mức thị trường trả cho cùng loại hình công việc, khả năng và trách nhiệm, lý do là ngày nay khác với trước đây, người dân có thể có việc làm từ rất nhiều nguồn khác ngoài Chính phủ, đưa đến việc các cơ quan Chính phủ phải cạnh tranh để tuyển dụng và giữ lại cho mình những người tài năng nhất. Mọi khoản trả cho công chức đều được tính bằng tiền, tránh bớt các khoản phụ cấp không mất tiền. Xin-ga-po thực hiện chính sách trả lương linh hoạt kể từ năm 1988 với hai bộ phận chính: lương cố định hàng năm và phần khác biệt mỗi năm tuỳ theo mức tăng trưởng kinh tế năm đó. Hội đồng lương quốc gia có các nguyên tắc để nâng mức lương hàng năm: tổng mức lương phải phản ánh được sự tăng trưởng kinh tế; mức tăng lương phải thấp hơn tỷ lệ tăng năng suất; và những khác biệt về lương phải phản ánh rõ nét sự thực thi công tác của cá nhân từng tổ chức

Xin-ga-po vẫn luôn luôn coi trọng cải cách hệ thống hành chính và công vụ của mình. Càng ngày người ta càng nhận thấy yêu cầu đặt ra cho công chức phải nâng cao năng lực, trình độ chuyên môn, phẩm chất của mình để giúp cho hệ thống công vụ trở thành một chất xúc tác, một đòn bẩy cho sự tăng trưởng kinh tế và phát triển bền vững đất nước. Công vụ Xin-ga-po hiện đang tăng dần quĩ thời gian đào tạo cho các công chức. Dự kiến đến năm 2000, tổng số thời gian này sẽ là 12,5 ngày/năm, tức là 100 giờ, khoảng 5% thời gian làm việc hàng năm của người công chức. Tiếp theo chính sách đào tạo là việc đẩy mạnh hơn nữa tính thống nhất cao của kỷ luật và đạo đức thẩm mỹ trong công vụ, nhất là thực hiện nghiêm chỉnh Luật đức hạnh là luật quy định cụ thể những việc người công chức nhất thiết không được làm, nếu vi phạm có thể dẫn tới kỷ luật.

6. Canada

Vương quốc Canada là một nước liên bang mà Nữ hoàng tượng trưng cho sự thống nhất về quyền lực nhà nước. Canada là một trong 15 nước quân chủ lập hiến có nguyên thủ quốc gia hình thức là Nữ hoàng Anh. Ngoài Anh, Nữ hoàng bổ nhiệm một viên toàn quyền, đại diện cho Nữ hoàng tại mỗi nước.Toàn quyền phải phổ nhiệm một thủ tướng người được sự tín nhiệm của Hạ viên; trên thực tế, thường là thủ lĩnh của Đảng chiếm đa số ghế trong nghị viện ( hiện nay là Đảng bảo thủ). Trong trường hợp, không một đảng nào chiếm đa số trong Hai viện, lãnh đạo của một đảng hoặc là của đảng chiếm nhiều phiếu nhất hoặc là người được ủng hộ bởi các đảng khác sẽ được toàn quyền kêu gọi thành lập một chính phủ thiểu số. Với sự ủng hộ của toàn quyền, thủ tướng có thể điều hành nội các cho đến khi ông ta từ chức hoặc buộc phải từ chức bởi toàn quyền sau khi bị bỏ phiếu bất tín nhiệm hoặc đảng của ông ta bị thất bại trong cuộc bầu cử phổ thông. Nội các có một một quyền lực đáng kể trong hệ thống của Canada và vỡ đảng cầm quyền thường nắm giữ đa số ghế trong nghị viện. Và hầu hết tất cả đạo luật được Nội cỏc trỡnh đều được thông qua, trong khi đó chỉ có một số ít đạo luật được đệ trỡnh bới cỏc nghị sĩ với tư cách cá nhân. Điều này dẫn đến một thực tế là Nội các có hầu như toàn quyền kiểm soát đối với chương trỡnh làm việc của Hạ viện. Hơn nữa, các quan chức thuộc các cơ quan hành pháp, những người đứng đầu các tập đoàn của Hoàng gia và các viên chức khác được bổ nhiệm bởi Hội đồng hoàng gia, mặc dự một trong số họ cú thể chỉ được bổ nhiệm bởi Hội đồng của Toàn quyền.

Canada cú 10 tỉnh bang và 3 lónh thổ tự trị phớa Bắc.Cỏc tỉnh bang của Canada mang tờn province để giữ truyền thống của thời họ thực sự là các tỉnh của Đế quốc Anh. Trên thực tế, mỗi đơn vị hành chính này là một bang tự trị (tương đối, nhưng không hoàn toàn, giống một tiểu bang - state - của Hoa Kỳ hay một bang - Bundesland - của Đức) với một chính quyền bao gồm các hệ thống hành pháp, tư pháp, luật pháp, thuế, giáo dục, y tế, xó hội... riờng của họ. Tỉnh trưởng là đại diện của Nữ hoàng, thực hiện tất cả các nhiệm vụ được quy định trong hiến pháp quân chủ và các nhiệm vụ mang tính nghi thức của nhà nước nhân danh nữ hoàng, mà không phải nhân danh chính phủ liên bang hay toàn quyền.

Canada hiện có 4 chính đảng lớn nhất: Đảng Bảo Thủ (Conservative Party), Đảng Tự Do (Liberal Party), Đảng Tân Dân Chủ (New Democratic Party) và Khối Quộbộc (Bloc Quộbộcois).

Theo quy định của Hiến pháp 1867, Canada là một nước quân chủ lập hiến. Nhà vua ( nữ hoàng) được trao tất cả quyền lực của đất nước và quyền lực này được thực hiện bởi các cơ quan khác nhau của chính phủ. Nhà vua ( nữ hoàng) được coi như một thiết chế thể hiện sự thống nhất mang tính nguyên tắc của Canada với ngành hành pháp có tên gọi là Hội đồng đại diện Nữ hoàng, nhánh lập pháp là Nghị viện đại diện của nữ hoàng và toà án là toà án -đại diện của nữ hoàng. Nghị viện bao gồm hai viện: Thượng Viện (Senate; Sộnat) dùng để đại diện các vùng, các tỉnh bang và các sắc thái văn hóa khác nhau trong xó hội, Hạ Viện (House of Commons; Chambre des communes) dùng để đại diện toàn thể dân chúng. Nhiệm vụ của Nghị viện là soạn thảo và ban hành các sắc luật để Chớnh phủ thi hành. Toàn quyền bổ nhiệm 105 nghị sĩ của Thượng viện trên cơ sở tư vấn của thủ tướng, trong khi 308 thành viên của Hạ viện được bầu trực tiếp bởi các cử tri đại diện cho các khu vực bầu cử của Canada với nhiệm kỳ không quá 4 năm. Theo truyền thống dân chủ, Hạ viện thường chiếm ưu thế hơn so với Thượng viện, Thượng viện và Nữ hoàng hiếm khi đi ngược lại với ý chí của Hạ viện. Vì thế, Thượng viện xem xét các điều luật từ một quan điểm ít mang tính phe phái hơn. Trong khi đó, Nữ hoàng và toàn quyền phê chuẩn dự án luật và triệu tập, tạm ngừng và giải tán nghị viện để kêu gọi một cuộc bầu cử mới.

Luật Hiến pháp 1867, quy định rằng toàn quyền tự chiụ trách nhiệm triệu tập đối với nghị viện và các kỡ họp của nghị viện kộo dài cho đến khi bị gián đoạn, sau đó, cả hai viện ngừng tất cả các hoạt động lập pháp cho đến khi Toàn quyền ban hành một tuyên bố hoàng gia khác cho một kỳ họp mới. Sau một số các phiên họp như vậy, mỗi viện đi đến kết thúc bằng việc giải tán. Vỡ một cuộc bầu cử phổ thông sau đó, quá trỡnh giải tỏn nghị viện thường được thúc đẩy về mặt chính trị với việc Thủ tướng lựa chọn thời điểm thuận lợi nhất đối với đảng chính trị của ông ta. Tuy nhiên, sự giải tán của nghị viện có thể cũng là cần thiết nếu đa số thành viờn của Nghị viện rỳt lại sự tớn nhiệm về khả năng điều hành của Thủ tướng hoặc theo quy định đó hết thời hạn 4 năm.

Chính phủ được quy định bởi Hiến pháp hoạt động nhân danh Nữ hoàng trên cơ sở tư vấn của Hội đồng cơ mật của Nữ hoàng. Tuy nhiên, Hội đồng cơ mật bao gồm hầu hết là các thành viên của nghị viện, chánh án toà án tối cao và các chính khách uy tín khác rất hiếm khi tập hợp đầy đủ; như quy định của chính phủ trách nhiệm đòi hỏi Hội đồng này thực hiện sự cố vấn trực tiếp đối với Nũ hoàng hay toàn quyền về cách thức thực hiện đặc quyền hoàng gia, chịu trách nhiệm trước Hạ viện, hoạt động hàng ngày của chính phủ được dẫn dắt chỉ bởi một nhóm nhỏ của Hội đồng cơ mật bao gồm một vài cá nhân đang nắm các vị trí trong nghị viện. Bộ phân này goi là các bộ trưởng của Nữ hoàng hay Nội các.

Đối với cơ quan tư pháp, Toà án tối cao Canada bao gồm 9 thẩm phán được bổ nhiệm bởi Toàn quyền và chịu sự lónh đạo của Chánh án.

Nội các của Canada là một bộ phận của Hội đồng bộ trưởng Hoàng gia, đứng đầu là Thủ tướng. Nội các là một uỷ ban của Hội đồng cơ mật của Nữ hoàng. Toàn quyền bổ nhiệm các thành viên của Nội các được Thủ tướng lựa chọn thông qua một quy trỡnh lựa chọn phức tạp.Bên cạnh những phẩm chất cá nhân cần thiết của một bộ trưởng, cũng cần một số thoả thuận ngầm. Vớ dụ, điển hỡnh một bộ trưởng từ mỗi tỉnh ở Canada, các bộ trưởng từ những nhóm thiểu số và trong khi đa số bộ trưởng khác được lựa chọn từ trong số các thành viên của Nghị viên.

Giống như các chính phủ theo mụ hỡnh Westminster, nhưng khụng giống như Nội các Hoa Kỳ, quy mụ và cấu trúc của Nội các Canada khá linh hoạt, danh sách ứng cử viên cho các vị trí của Nội các có xu hướng được cấu trúc lại về cơ bản theo giai đoạn, giai đoạn chủ yếu gần đây nhất của sự tái cơ cấu là từ 1993-1996. Trong suốt thế kỷ 20, Nội các đó mở rộng về quy mụ mà đỉnh cao là Nội các của Brian Mulroney với 40 bộ trưởng. Số bộ trưởng bị giảm xuống ở các Nội các tiếp theo và đến 1994 chỉ cũn 23 thành viờn.  Tuy nhiờn, dưới thời của Paul Martin, số thành viên Nội các tăng lên 39 và hiện nay nội các bao gồm 38 bộ trưởng.

Trong nội cỏc bao gồm cỏc uỷ ban. Ban ngõn khố kiểm soỏt việc chi tiờu của các quỹ của liên bang đối với mỗi bộ. Uỷ ban kế hoạch và các quyền ưu tiên có nhiệm vụ thiết lập những định hướng mang tính chiến lược cho chính phủ, phê chuẩn sự bổ nhiệm các chức vụ quan trọng và phê chuẩn các thành viên uỷ ban. Các uỷ ban khác trong Nội các bao gồm Uỷ ban thực thi, Uỷ ban các vấn đề xó hội, Uỷ ban phát triển kinh tế và bền vững, uỷ ban đối ngoại và an ninh, Uỷ ban an ninh năng lượng và môi trường.Mỗi một uỷ ban được điều hành bởi một bộ trưởng cao cấp. Mỗi bộ trưởng của Nữ hoàng chịu trách nhiệm đối với hoạt động hành chính nói chung ít nhất là với tư cách bộ trưởng của chính phủ, và là người đứng đầu của một bộ hay các bộ tương ứng (ở Canada, bộ là department hoặc agency).

Bộ trưởng quan trọng nhất theo thứ tự ưu tiên là Bộ trưởng Tài chính, Bộ trưởng ngoại giao,Công nghiệp, Tư pháp và y tế. Tuy nhiên, trật tự chính thức theo mức độ quan trọng được xếp theo trật tự của việc bổ nhiệm đối với Hội đồng cơ mật và trật tự bầu cử hay bổ nhiệm tới nghi viện nếu được bổ nhiệm tới Hội đồng cơ mật tại cùng thời điểm.

Các vị trí duy nhất trong Nội các như lónh đạo Chinh phủ trong Hạ viện và Chủ tịch của Hội đồng cơ mật, những người khụng quản lý một bộ nào và một vài bộ trưởng ( như bộ hợp tác quốc tế) đứng đầu các Cục trực thuộc một bộ được điều hành bởi bộ trưởng khác.

Hơn nữa, Thủ tướng có thể đề nghị Toàn quyền bổ nhiệm vào Nội các một vài bộ trưởng không phụ trách bộ nào,  dù rằng điều này không được thực hiện từ 1978, và không giống như nhiều chính phủ theo mô hỡnh Westminster, cỏc bộ trưởng này của Canada có tư cách thành viên đầy đủ của Nội các. Những thành viờn này được giao những trách nhiệm đặc biệt, nhưng mang tính chất tạm thời,  thực hiện các nhiệm vụ được giao và bị giải tán để phù hợp với những ưu tiên trong ngắn hạn của chính phủ . Thành viên của Nội các nhận sự trợ giúp từ các thư ký nghị viện và cỏc thứ trưởng, công chức cao cấp.Tất cả các phiên họp của chính phủ được tổ chức khụng cụng khai. Các thành viên của nội các bị cấm thảo luận về những vấn đề diễn ra trong cuộc họp nội các. Các quyết định được ban hành phải được nhất trí thông qua mặc dù điều này thường do Thủ tướng chỉ đạo và một khi một quyết định được thông qua, tất cả các thành viên của nội các phải công khai ủng hộ. Nếu bất kỳ quy tắc nào bị vi phạm, bộ trưởng phạm lỗi thường bị Thủ tướng cách chức và nếu sự bất đồng ý kiến mạnh mẽ diễn ra trong nội cỏc, một bộ trưởng có thể phải từ chức.

Cơ chế hành chính của mỗi tỉnh bang tương đối giống trường hợp của liên bang. Trên có sở đề nghị của Thủ tướng Canada, Nữ hoàng cử một người dân trong tỉnh bang làm đại diện cho mỡnh (Lieutenant governor). Về mặt lập phỏp, thay vỡ cú hai viện như liên bang, quốc hội của mỗi tỉnh bang chỉ cú một viện với tờn khỏc nhau tuỳ theo từng tỉnh bang. Nhỡn chung, cơ quan lập pháp tỉnh chỉ có quyền ban hành các đạo luật liên quan tới những vấn đề riêng của tỉnh đó được quy định trong Hiến pháp như giáo dục, văn phũng tỉnh, chớnh quyền tự trị, các tổ chức từ thiện và những vấn đề về nhu cầu đơn thuần của địa phương hay cá nhân. Những vấn đề không thuộc thẩm quyền của có quan lập pháp địa phương sẽ thuộc phạm vi của cơ quan lập pháp liên bang. Vỡ vậy, bản thõn Nghị viện tự mỡnh ban hành các đạo luật liên quan tới dịch vụ bưu chính, quân đội, điều tra dân số, hải quân và tàu biển, thuỷ sản, tiền tệ, ngân hàng, đo lường. phá sản, bản quyền, cấp bằng sáng chế, quốc tịch. Trong một vài trường hợp, thẩm quyền của cơ quan lập pháp liên bang và tỉnh có thể giao thoa nhau trên một số lĩnh vực như hôn nhân và gia đỡnh, thuế, tớn dụng, hỡnh phạt, nụng nghiệp. Vớ dụ, Nghị viện liờn bang quy định về vấn đề kết hôn và ly hôn nói chung nhưng nghi thức kết hôn được quy định bời cơ quan lập pháp tỉnh.

Về mặt hành pháp, đảng chiếm đa số ghế trong quốc hội sẽ thành lập chính phủ, đảng chiếm nhiều ghế thứ nhỡ sẽ thành lập phe đối lập chính thức.

 

II. CÁC NƯỚC ĐANG PHÁT TRIỂN

          1. Thái Lan:

Thái Lan là một trong những nước lớn trong khu vực Đông Nam Á, với diện tích 513.115 km2 và dân số trên 60 triệu người. Quốc gia này có một đặc điểm quan trọng khác với nhiều nước đang phát triển khác trên thế giới là đất nước này không phải trải qua thời kỳ thuộc địa của phương Tây. Thể chế nhà nước Thái Lan chuyển từ quân chủ chuyên chế với quyền lực tối thượng nằm trong tay nhà Vua sang quân chủ lập hiến kể từ năm 1932. Vào thế kỷ XIX, "Vua Thái Lan đã ký hiệp ước với các cường quốc châu  u, và thi hành chính sách hiện đại hoá, áp dụng những sự cách tân theo kiểu châu  u, và dưới triều Vua Cholongkom, trải qua thời gian dài (1868 - 1910), cải cách thể chế, nền công vụ"1 . Hiện nay, nhà Vua vẫn là nguyên thủ quốc gia, theo chế độ kế vị, có quyền bổ nhiệm Thủ tướng. Trên thực tế thì quyền lực và ảnh hưởng của nhà Vua lớn hơn so với quy định của Hiến pháp.

Cơ quan lập pháp gồm Thượng nghị viện có 170 thành viên do nhà Vua bổ nhiệm theo tiến cử của Thủ tướng với nhiệm kỳ 6 năm và Hạ nghị viện có 360 thành viên với nhiệm kỳ 4 năm. Thủ tướng là người đứng đầu Chính phủ, do nhà Vua bổ nhiệm theo đề nghị của Quốc hội. Chức năng chủ yếu của Thủ tướng Chính phủ là kiểm tra và chỉ đạo mọi hoạt động của Nội các và điều hành có hiệu quả các chính sách của Chính phủ. Ngoài ra, Thủ tướng còn lựa chọn và đề xuất với nhà Vua bổ nhiệm các thẩm phán và công chức cao cấp. Nội các Thái Lan gồm Thư tướng, các Phó Thủ tướng và các bộ trưởng thuộc 15 bộ và cơ quan ngang bộ. Cơ quan tư pháp bao gồm Toà án tối cao, Toà Phúc thẩm và các Toà sơ thẩm. ở Thái Lan không có toà án xét xử riêng những ván đề về vi phạm luật hành chính.

Chính quyền địa phương của Thái Lan đồng thời theo chế độ phân quyền và tản quyền, có các đơn vị chính quyền địa phương đăc biệt với quyền bán tự trị. Các loại hình chính quyền địa phương như sau:

  • Chính quyền thủ đô Băng Cốc gồm có 36 quận và có cơ quan đại diện và cơ quan hành chính. Cơ quan đại diện có tên gọi là Hội đồng thủ đô, gồm các đại biểu được bầu ra với nhiệm kỳ bốn năm. Hội đồng có thể chất vấn và tranh luận các hoạt động do cơ quan hành chính tiến hành hay dự kiến thực hiện. Cơ quan hành pháp cũng bao gồm các đại biểu dân cử, gồm một Thống đốc và bốn Phó Thống đốc.
  • Thành phố Pattaya được xem là vùng hành chính đặc biệt kể từ năm 1978 do ngành du lịch tại đây mở rộng ra rất nhiều. Thành phố có một cơ quan hội đồng đại diện gồm chín đại biểu dân cử và tám thành viên bổ nhiệm. Thị trưởng được bầu trong số đó. Hội đồng có hợp đồng thuê một người quản lý thành phố với thời hạn hai năm một.
  • Chính quyền tỉnh tại các vùng nông thôn ngoài phạm vi các đô thị và các quận vệ sinh. Hội đồng tỉnh có từ 18 đến 36 đại biểu dân cử, nhiệm kỳ bốn năm. Nhiệm vụ chính của các uỷ viên hội đồng là xem xét lại các hoạt động của chính quyền tỉnh. Tỉnh trưởng là người đứng đầu chính quyền tỉnh, chịu trách nhiệm điều hành chính.
  • Chính quyền đô thị có thể chia thành ba loại: thành phố, thị trấn và xã. Việc phân chia này căn cứ vào mật độ dân số và nguồn thu tại địa phương sở tại để tự quản lý. Mỗi chính quyền có hai loại hình cơ quan: cơ quan dân cử có từ 12 đến 24 đại biểu được bầu ra với nhiệm kỳ bốn năm, và cơ quan chấp hành có thị trưởng và các phó thị trưởng. Các thành viên của cơ quan chấp hành, kể cả thị trưởng, bắt buộc phải là đại biểu của hội đồng dân cử. Số lượng các phó thị trưởng có từ hai đến bốn người, tuỳ thuộc theo sự phân loại đo thị đó. Có một nhân viên hành chính đô thị giúp việc cho thị trưởng trong việc theo dõi các hoạt động.
  • Quận vệ sinh được tổ chức theo hệ thống uỷ ban có các quan chức dân cử và bổ nhiệm. Quận trưởng thường là chủ tịch uỷ ban. Mỗi quận có chín đại biểu được dân sở tại bầu ra cho nhiệm kỳ bốn năm. Còn Phó Quận trưởng là người đứng đầu ngành cảnh sát trong quận, cùng với những người đứng đầu các tổng và xã là các quan chức được bổ nhiệm.

Các chức năng của chính quyền địa phương bao gồm: thu lượm rác thải, vệ sinh đường phố, duy tu các phương tiện giao thông, thoát nước, ngăn ngừa bệnh truyền nhiễm, cấp nước, hệ thống đèn chiếu sáng, và phòng cháy. Cấp chính quyền địa phương càng nhỏ thì các chức năng càng ít đi. Có một số chức năng đồng thời là của Chính phủ trung ương và chính quyền địa phương. Trong trường hợp này, Chính phủ trung ương không chỉ tham gia vào việc cung cấp dịch vụ, mà còn chịu trách nhiệm theo dõi và kiểm soát việc thực hiện của chính quyền địa phương. Một số ý kiến hiện nay cho rằng một số cấp chính quyền địa phương của Thái Lan không có đủ các nguồn lực cần thiết để thực thi có hiệu quả một số chức năng giao cho mình.

          Hệ thống công vụ Thái Lan đã có từ thời Sukhothai (1238-1378), sau đó trải qua giai đoạn Ayudhya (1350-1767), và cuối cùng là giai đoạn Băng Cốc (từ 1782 tới nay). Thời kỳ đầu tiên đặc trưng bằng mối quan hệ cực kỳ chuyên quyền và gia trưởng của nhà Vua, và nhân dân lo toan kiếm sống trong thời bình và đoàn kết đấu trang chống kẻ thù mỗi khi có chiến tranh. Hình thức chuyên quyền độc đoán này về sau được thay thế bằng mối quan hệ chủ - tớ vào thời kỳ Ayudhya với nghĩa vụ của người dân là phục vụ nhà Vua, làm việc vì đất nước, được gọi là “đày tớ của nhà Vua”. Thời kỳ thứ ba, đặc biệt là từ năm 1982, nhà Vua Cholongkorn đã thực hiện nhiều biện pháp cách tân theo chiều hướng hiện đại của phương Tây, tổ chức hệ thống quyền lực theo cấp bậc và thành lập ra 12 bộ. Lần đầu tiên nước này đã có sự phân biệt chức năng quân sự với chức năng dân sự.

          Thái Lan đã ban hành Luật công vụ đầu tiên vào năm 1928 với hai đặc điểm nổi bật là “nguyên tắc làm việc suốt đời, và cơ hội bình đẳng trong tuyển dụng2 . Sau đó có các luật công vụ khác ban hành vào những năm 1936, 1942, 1952, 1954, và 1975. Luật Công vụ 1975 được xem là một cải cách lớn trong công vụ nước này, do nó thay thế hệ thống công vụ lâu đời dựa vào cấp bậc của con người bằng một hệ thống phân loại chức danh hiện đại. Theo quy định của luật này thì các quan chức chính trị không được xếp vào phạm vi điều chỉnh của Luật này, và cấm các công chức không được trở thành các quan chức chính trị.

          Nền công vụ hiện nay của Thái Lan dựa theo hệ thống công tích và căn cứ vào bốn khái niệm chủ yếu: năng lực, cơ hội công bằng, an toàn công việc và trung lập về chính trị. Cơ quan quản lý nhân sự ở trung ương là Hội đồng Công vụ Thái Lan với nhiều chức năng và nhiệm vụ khác nhau. Tổng số công chức trong cả nước có khoảng 1,2 triệu người chia thành 11 bậc tương ứng với 11 bậc lương. Các chức danh công vụ được phân loại thành ba khung: các chức danh chung, các chức danh chuyên môn, và các chức danh điều hành cấp cao nhất và cấp trung bình. Khái niệm khung nhằm giúp phát triển các thang lương, các chức danh và quản lý chức nghiệp. Các chức danh này còn được phân loại thành tám nhóm ngành nghề và các bậc. Việc tuyển dụng công chức thuộc trách nhiệm của Hội đồng Công vụ và tiến hành  theo ba hình thức là: a) thi tuyển cạnh tranh; b) chọn lựa; và c) bổ nhiệm những người có trình độ chuyên môn đặc biệt vào các chức vụ chuyên gia. Thi tuyển bao gồm ba nội dung: kiến thức chung, kiến thức cụ thể, và kiểm tra xem cá nhân đó có phù hợp với chức danh định tuyển hay không qua xem xét hồ sơ, kinh nghiệm công tác và quá trình giáo dục của người này. Đánh giá công chức do cấp trên trực tiếp của người công chức thực hiện mỗi năm hai lần, với các yếu tố đánh giá như kết quả công tác, trình độ chuyên môn, kỷ luật lao động. Kết quả đánh giá được sử dụng  làm căn cứ chính để nâng lương, và quyết định mức nâng lương cho công chức, người nào không đạt qua đánh giá thì năm đó không được nâng lương. Trả công cho công chức chia thành hai loại: lương đem về nhà và các khoản phụ cấp, với tỷ lệ trung bình là 70% và 30%.

          Với xu thế toàn cầu hoá và môi trường đang thay đổi nhanh chóng, chiến lược cải cách hành chính của Thái Lan trong tương lai là: “Một Chính phủ gọn nhẹ, thích hợp nhưng có chất lượng”. Điều đó hàm ý rằng việc tinh giản đội ngũ công chức sẽ được thúc đẩy nhanh chóng, đi đôi với tăng cường năng lực thực thi nhiệm vụ của họ. Chiến lược này được cụ thể hoá thành các nhiệm vụ chủ yếu là: (a) cơ cấu lại tổ chức bộ máy, tiến hành chế độ phục vụ “một cửa”; b) xây dựng và nâng cao năng lực của đội ngũ qua đào tạo và phát triển công chức ở mọi cấp, mọi nơi làm việc; c) vận dụng và phát triển công nghệ tiên tiến trong hoạt động công vụ; d) quản lý năng xuất và hiệu quả của hoạt động công vụ. Các nhiệm vụ này sẽ triển khai thông qua các hình thức như phân cấp, phân quyền, cải tiến các thu tục và quy định, tinh giản biên chế, khu vực tư nhân tham gia một số hoạt động vốn dĩ là lãnh địa riêng của công vụ v.v1 .

 

2. Phi-líp-pin:

Phi-líp-pin là quốc gia với hơn 7000 hòn đảo, trải qua thời kỳ thuộc địa của Tây Ban Nha, sau đó là của Mỹ. Hiện nay đất nước này theo chế độ Nghị viện, vừa theo chế độ Tổng thống. Tổng thống nước Cộng hoà là nguyên thủ quốc gia, đồng thời là người đứng đầu ngành hành pháp. Việc lập pháp phải được Tổng thống thông qua mới trở thành luật. Tổng thống và Phó Tổng thống được bầu qua tuyển cử quốc gia với nhiệm kỳ của Tổng thống là 6 năm và của Phó Tổng thống là 3 năm. Tổng thống có các cố vấn đặc biệt làm trợ lý. Quốc hội có thể bác bỏ các quyết định của Tổng thống bằng đa số phiếu.

Quốc hội Phi-líp-pin gồm có Thượng Nghị viện và Hạ Nghị viện. Thượng nghị viện có 24 thành viên được bầu từ các khu vực bầu cử quốc gia với nhiệm kỳ là 6 năm cho các thượng nghị sĩ đứng đầu và 3 năm đối với các thượng nghị sĩ còn lại. Hạ nghị viện bao gồm 250 thành viên được bầu trực tiếp từ khu vực dân cư. Tổng thống là người đứng đầu ngành hành pháp, giám sát tất cả các bộ và cơ quan của Chính phủ, duy trì sự điều hành bằng pháp luật. Nội các Phi-líp-pin bao gồm Tổng thống, Phó Tổng thống, Thư ký hành pháp, bộ trưởng các bộ và người đứng đầu các cơ quan thuộc Chính phủ. Hiện nay trong cơ cấu Chính phủ có 20 bộ. Các cơ quan tư pháp bao gồm Toà án tối cao, Toà Phúc thẩm và 13 Toà sơ thẩm thuộc các vùng trong nước.

Theo Luật Chính quyền địa phương 1991, hệ thống chính quyền địa phương Phi-líp-pin được phân quyền rất rộng rãi. Chính quyền địa phương của Phi-líp-pin gồm có các tỉnh, thành phố, các thị xã, các xã và hai khu tự trị. Mỗi địa phương đều có quyền tự chủ. Hiện tại có “76 tỉnh và 20 thành phố lớn (đo thị hoá cao) trực thuộc chính phủ trung ương. Dưới cấp tỉnh có 42 thành phố và 1548 thị xã, dưới thành phố và thị xã là các xã, phường. Dưới cấp thành phố lớn trực thuộc Trung ương có chia ra quận (không phải là đơn vị hành chính hoàn chỉnh), dưới quận là xã, phường (Tổng số xã, phường có 40.904)”[4].

 

          Ngoài ra có 14 vùng (regions), là bộ phận mở rộng của Chính phủ trung ương. Mỗi vùng có một “Thủ đô” mà phần lớn các cơ quan Bộ đóng trụ sở ở đấy.

Tại mỗi cấp chính quyền địa phương đều có một Hội đồng dân cử với nhiệm kỳ là ba năm. Mỗi đại biểu hội đồng có thể được tái cử, song không quá ba nhiệm kỳ. Và mỗi cấp chính quyền đều có bầu ra người đứng đầu tại địa bàn như Tỉnh trưởng, Phó Tỉnh trưởng, Thị trưởng v.v. để làm các công việc điều hành tại sở tại. Những người này nắm quyền hành chính nhà nước cao nhất ở địa phương, và nếu thấy nghị quyết của hội đồng không phù hợp với luật pháp và nghị quyết của cơ quan nhà nước cấp trên, thì không nhất thiết phải thi hành.

Ngân sách của chính quyền địa phương có hai nguồn thu chính: thu từ địa phương và thu từ ngân sách trung ương cấp. Các khoản thu từ địa phương có thu thuế (ví dụ thuế mua bán bất động sản), lệ phí thuê mướn, thuế chợ v.v. Nguồn ngân sách trung ương cấp thông qua Bộ Tài chính và Bộ ngân sách. Hai Bộ này cũng thực hiện việc giám sát các chức năng tài chính địa phương.

 

Nhìn chung, tại Phi-líp-pin cũng thực hiện hình thức kết hợp hai mặt phân quyền và tản quyền. “Trung ương phân quyền rõ cho các cấp chính quyền địa phương. Các cấp này chỉ đại diện cho quyền lợi địa phương và cũng không phải là cơ quan thay mặt Nhà nước để giải quyết các công việc của Trung ương tại địa phương. Do đó không có vấn đề chồng chéo chức năng, không có hiện tượng chính quyền địa phương vừa đại diện cho cả hai quyền lợi của trung ương và của địa phương, nhưng quyền hạn lại không rõ ràng. Mặt khác, cả hai đều thực hiện hình thức tản quyền, có hệ thống Sở - Ty thuộc hệ thống tổ chức của trung ương, nhưng đặt trụ sở tại địa phương để thực thi các công việc của trung ương tại địa phương như quản lý các công trình giao thông, bến cảng, sân bay, xí nghiệp trung ương, và giám sát các chính quyền địa phương”[5].

          Công vụ Phi-líp-pin được chính thức thành lập vào năm 1900 do Công luật số 5 quy định. Theo đó, công vụ là một định nghĩa chung vận dụng cho mọi người nam, nữ làm việc cho chính phủ để thực hiện các dịch vụ công tại mọi cơ quan quyền lực nhà nước và các đơn vị trực thuộc. Tuy nhiên vào thời điểm này, Philíppin vẫn đang chịu sự đô hộ của Mỹ, và Mỹ đã đưa hệ thống hành chính, kể cả hệ thống quản lý công chức vào đất nước này. Cho đến nay, ảnh hưởng của hệ thống quản lý của Mỹ đối với Phi-líp-pin vẫn còn rất rõ nét.

Cơ quan quản lý công vụ trung ương của Phi-líp-pin là Hội đồng Công vụ (CSC), chịu trách nhiệm xây dựng và thực hiện các chính sách và tiêu chuẩn đối với đội ngũ công chức cả nước. Hiện có khoảng hơn 1 triệu 300 nghìn người, các chức danh công vụ được chia ra làm hai loại: chức nghiệp (tuyển dụng căn cứ vào công tích và sự phù hợp qua thi tuyển; có cơ hội để được đề bạt lên các chức danh cao hơn; công việc bảo đảm); phi chức nghiệp (tuyển dụng căn cứ theo các yếu tố khác chứ không phải là công tích và sự phù hợp; được bổ nhiệm theo thời hạn nhất định). Các chức danh này được chia làm ba cấp: cấp phục vụ (có trình độ kiến thức dưới bậc đại học, chiếm 32% công chức); cấp chuyên môn, khoa học và kỹ thuật (có bằng cấp chuyên môn theo các chức danh và chiếm 67% tổng số công chức); và cấp quản lý và lãnh đạo (chiếm 0,5% tổng số công chức). Việc tuyển dụng công chức do Ban Công vụ tiến hành thông qua các kỳ thi tuyển mang tính cạnh tranh cao để bảo đảm cơ hội bình đẳng cho mọi công dân, trong đó có một số hình thức thi tuyển mới vận dụng qua hệ thống máy tính. Việc đánh giá công chức được ủy nhiệm cho các cơ quan thực hiện theo hướng dẫn của Ban Công vụ, lấy đó làm căn cứ để nâng bậc, thưởng, cho đi đào tạo, hoặc để có biện pháp kỷ luật thích đáng. Đánh giá công chức tiến hành theo năm cấp độ là: xuất sắc, giỏi, đạt, chưa đạt, và yếu. Chính sách trả công của Phi-líp-pin quy định rằng lương công chức phải là công bằng, bình đẳng, tương ứng với lương của khu vực tư nhân trả cho công việc tương tự và tuân thủ luật về mức lương tối thiểu. Ngoài lương ra, công chức còn được hưởng một số khoản phụ cấp khác nhau như phụ cấp may trang phục, phụ cấp nghỉ phép, nghỉ ốm, nghỉ đẻ v.v.

Các phương hướng cải cách hành chính Phi-líp-pin hiện nay đang tiến hành nhằm đáp ứng được các yêu cầu đòi hỏi của người dân, nâng cao trình độ chuyên môn, kỹ năng nghiệp vụ và tính trách nhiệm, cũng như làm giảm bớt tính chất tập trung quyền lực. Các nhiệm vụ chủ yếu bao gồm: (a) xây dựng nên một nền công vụ chuyên nghiệp với những đòi hỏi ngày càng cao về trình độ chuyên môn và nghiệp vụ của người công chức; (b) xây dựng nên một nền công vụ hiệu quả thông qua việc tinh giản và hợp lý hoá bộ máy, tăng cường các biện pháp khuyến khích vật chất; (c) một nền công vụ phi tập trung hoá, tăng cường tính tự quản và trách nhiệm của các cấp chính quyền địa phương thông qua Luật Chính quyền địa phương năm 1991; (d) tạo lập một nền công vụ có trách nhiệm cao, có năng lực, và có đầy đủ tính nhân văn. Những định hướng cải cách lớn bao gồm việc tư nhân hoá các doanh nghiệp nhà nước để thu hẹp phạm vi của công vụ; hợp lý hoá nền công vụ nhằm "sử dụng tối ưu nhân sự trong các cơ quan chính phủ thông qua hệ thống giảm biên chế, đưa ra những hình phạt..." (Luật Cộng hoà số 7430); và cải cách tiền lương cho phù hợp hơn với sự tăng trưởng kinh tế.

3. Brunõy

. Tại Brunõy, tổ chức bộ mỏy hành chớnh là sự kết hợp lý thỳ giữa mụ hỡnh bộ mỏy thư lại theo kiểu phương Tây, với mô hỡnh quõn chủ truyền thống. Mặc dự cỏc khu vực khỏc cũng phỏt triển đa dạng, song tại nước này, khu vực công vẫn chiếm vai trũ chủ đạo với tỷ trọng lớn nhất trong GDP.

          Nền hành chớnh cụng Brunõy gồm 3 bộ phận cấu thành chủ yếu: thể chế, tổ chức, cụng nghệ quản lý. Nú là 1 sự pha trộn cú chọn lọc giữa thể chế phương Đông và phương Tây. Từ kế hoạch 5 năm lần thứ 6, nền hành chính công và nền công vụ có 1 tác động to lớn đến nền kinh tế, nhất là sự phát triển của khu vực công so với khu vực tư. Bộ máy thư lại được tăng cường theo hướng hiện đại hoá, tuyển dụng những người có học thức và kỹ năng hành chính giỏi, với yêu cầu là: trung thực nhất, thật thà nhất, cú trỏch nhiệm nhất.

          Hiến pháp quy định Quốc Vương Brunây là nguyên thủ quốc gia. Đồng thời, kể từ năm 1984 khi nước này độc lập hoàn toàn, Quốc vương cũng là người kiêm giữ chức Thủ tướng với thực quyền, đứng đầu nền hành chính dân sự của Brunây với văn phũng Thủ tướng là nơi xây dựng đường lối chính sách chiến lược của Chính phủ, và bổ nhiệm các Bộ trưởng chịu trách nhiệm thực hiện các chính sách của Chính phủ, và lónh đạo, giám sát ngành hành chính của mỡnh.

          Quốc vương Brunây có một Hội đồng các Bộ trưởng làm nhiệm vụ xem xét tất cả các vấn đề thuộc công tác của Chính phủ. Hội đồng này cũng là cơ quan cố vấn cho Quốc vương. Nền công vụ có văn phũng Thủ tướng, ban công vụ, ban tổ chức, cơ quan quản lý và vụ an toàn của Chớnh phủ, tổng kiểm toỏn, cục chống tham nhũng.

          Cỏc Bộ truởng Nội cỏc gồm :

  • Thủ tướng kiêm Bộ trưởng quốc phũng
  • Bộ trưởng ngoại giao
  • Bộ trưởng tài chính
  • Cố vấn đặc biệt của Thủ tướng
  • Bộ trưởng Nội vụ
  • Bộ trưởng giáo dục
  • Bộ trưởng tư pháp
  • Bộ trưởng Công nghiệp và tài nguyên cơ bản
  • Bộ trưởng các vấn đề tôn giáo
  • Bộ trưởng Phát triển
  • Bộ trưởng Văn hoá, Thanh niên và Thể thao
  • Bộ trưởng Y tế
  • Bộ trưởng Liên lạc

Ngoài 13 Bộ trưởng, cũn cú 7 Thứ trưởng.

Về chính quyền địa phương, tại Bandar Seri Begawan, Belait, Seria và Tutong có các Hội đồng thành phố. Các hội đồng này gồm các quan chức cao cấp của Chính phủ bổ nhiệm, và các thành viên người địa phưong. Họ bao gồm các đại diện do Quốc vưong chỉ định từ ngành cảnh sát, công chính, từ văn phũng quận, phũng quản lý đất đai, cơ quan kế hoạch đô thị, sở tôn giáo, cứu hoả và y tế. Quyền hạn của các Hội đồng này bao gồm quản lý đường sá, vườn cây công viên, lập kế hoạch và kiểm soát việc phát triển xây dựng, chiếu sáng đường phố, thoát nước, đặt ra các tiêu chuẩn về y tế đối với việc cấp giấy phép kinh doanh bán lẻ, và phát triển kinh tế tại địa bàn. Bộ nội vụ điều hành các Hội đồng tại Bandar Seri Begawan và Belait.

4. Indonexia

Ở Inđônêxia, từ khi có lệnh mới của Tổng thống Suharto, kinh tế được đặt lên ưu tiên, ổn định và phát triển theo nền “dân chủ chỉ huy”. Từ những năm 1970 do khủng hoảng dầu lửa, giá lên cao, nhờ sự nỗ lực của bản thân cộng với sự viện trợ của nước ngoài, nền kinh tế có phát triển ( năm 1965: 50 rupi/ đầu người, đến năm 1994: 765 rupi/ đầu người). Đó thi hành chớnh sỏch tự do hoá và phi quy chế hoá, nhưng lại bị nợ nần nước ngoài cao, kết cấu hạ tầng và chính sách kinh tế tỏ ra ko thích hợp. Do đó phải cải cách kinh tế và hành chính. Sau khi giành được độc lập( 1945) và từ khi Hà Lan rút lui (1948), Inđônêxia thành lập một nền dân chủ nghị viện, nhưng bị rơi vào tỡnh trạng quản lý thiếu hiệu lực và hiệu quả, nạn tham nhũng. Từ năm 1957, sau cuộc biến động chính trị, suy thoái kinh tế, xung đột xó hội và ý thức hệ, Tổng thống Suharto thay Sukarno, và quõn đội giữ một vai trũ nổi bật.

Từ năm 1974, có một sự thay đổi quan trọng về cơ cấu của nền công vụ:  tập trung hoá; công chức cao và trung cấp tăng lên, công chức thấp giảm bớt; tăng cường quân sự hoá Chính phủ; Tổng thống là người nắm quyền lực tương đối tự trị. Hiến pháp tuyên bố: “ Nước Cộng hoà và chủ quyền quốc gia nằm trong tay nhân dân”.

Tổng thống đồng thời là Nguyên thủ quốc gia và là người đứng đầu hành pháp. Tổng thống có nhiệm kỳ 5 năm và do Hội đồng tư vấn nhân dân (Quốc hội) bầu ra. Vị tổng thống hiện nay là Tướng Suharto nhậm chức từ năm 1968, và đó được tái cử 5 lần. Mọi quyền hạn và trách nhiệm về quản lý nhà nước đều tập trung trong tay Tổng thống, song do ông chịu trách nhiệm trước Hội đồng tư vấn nhân dân nên mọi hoạt động của ông phải tuân theo Hướng dẫn chính sách nhà nước do Hội đồng ban hành.

Inđônêxia có một chương trỡnh phỏt triển dài hạn (kế hoạch 5 năm lần thứ sáu), tiếp tục những ưu tiên: cải cách thể chế; cải cách nhân sự; cải cách các chế độ và thủ tục; cải cách chế độ hành chính về kế hoạch hoỏ, theo dừi, kiểm tra; cải cỏch cỏc thiết chế tổ chức kinh tế trung ương và địa phương; cải cách hoàn thiện sự tham gia của cộng đồng vào sự phát triển đất nước; cải cách các cơ quan chính phủ; cải cách hoàn thiện kỷ luật và tuân thủ pháp luật của nền công vụ.

Trong suốt 25 năm thuộc chương trỡnh phỏt triển dài hạn lần thứ nhất 1970-1994, số lượng cũng như phạm vi của các cơ quan trung ương tăng lên rất nhiều. Kể từ năm 1993 tới nay, số lượng các cơ quan trung ưong gồm 21 bộ, 4 cơ quan Bộ trưởng điều phối, 13 văn phũng Bộ trưởng Nhà nước, 21 Tổng cục và 3 quan chức cao cấp có quy chế Bộ trưởng Nhà nước.

Mỗi bộ có một Tổng Thư ký đứng đầu công vụ của bộ, một tổng thanh tra và nhiều vụ trưởng. Các chức danh này có cùng địa vị, song thực thi các chức năng khác nhau. Tổng Thư ký phụ trỏch cỏc cụng việc hành chớnh của bộ, cũn tổng thanh tra thực thi chức năng kiểm toán nội bộ. Vụ truởng điều hành công việc hàng ngày của Vụ mỡnh phụ trỏch. Cỏc trưởng phũng giỳp việc cho Vụ trưởng trong mảng công việc cụ thể.

Hai mươi mốt bộ của Inđônêxia là:

  • Bộ Nụng nghiệp
  • Bộ Tư pháp
  • Bộ Hợp tỏc xó và Doanh nghiệp nhỏ
  • Bộ nhõn lực
  • Bộ Giáo dục và Văn hoá
  • Bộ Mỏ và Năng lượng
  • Bộ Quốc phũng và An ninh
  • Bộ Cụng chớnh
  • Bộ Tài chớnh
  • Bộ các vấn đề tôn giáo
  • Bộ Ngoại giao
  • Bộ xó hội
  • Bộ Lõm nghiệp
  • Bộ Du lịch, Bưu điện và Viễn thông
  • Bộ Y tế
  • Bộ Nội vụ
  • Bộ Thương mại
  • Bộ Cụng nghiệp
  • Bộ Giao thụng
  • Bộ Thụng tin
  • Bộ phụ trách di cư

Hiện tại, do nhiệm vụ ngày càng trở nên phức tạp, chính phủ Inđônêxia phải tăng thêm số lượng các cơ quan Bộ trưởng điều phối và các Bộ trưởng Nhà nước. Chỉ trong chương trỡnh phỏt triển dài hạn lần này, số lượng các cơ quan bộ trưởng điều phối tăng từ hai lên bốn, và các bộ trưởng nhà nước từ ba người lên mười ba người. Nhỡn chung cỏc cơ quan này có số lượng nhân viên không nhiều và không trực tiếp cung cấp dịch vụ và thực thi công việc theo ngành dọc, mà chỉ tập trung vào giám sát và điều phối các hoạt động của Chính phủ theo các nhóm lĩnh vực. Mỗi cơ quan do một thứ trưởng phụ trách.

Các cơ quan bộ trưởng điều phối gồm: Cơ quan Giám sát kinh tế, tài chính và phát triển; Cơ quan phúc lợi nhân dân; Cơ quan các công tác chính trị và an ninh; Cơ quan các công tác công nghiệp và thương mại.

Các cơ quan của bộ trưởng nhà nước gồm:

  • Cải cỏch hành chớnh
  • Dõn số
  • Cỏc cụng tỏc nụng nghiệp
  • Nhà ở cho nhõn dõn
  • Văn phũng nội cỏc
  • Nghiờn cứu và cụng nghệ
  • Môi trường
  • Vai trũ của phụ nữ
  • Thực phẩm
  • Văn phũng Nhà nước
  • Đầu tư
  • Thanh niờn và thể thao
  • Lập kế hoạch phỏt triển quốc gia

Ngoài ra cũn cú hàng loạt cỏc tổng cục hoạt động trong nhiều lĩnh vực. Phần lớn các tổng cục này chịu trách nhiệm báo cáo trực tiếp trước Tổng thống nước Cộng hoà. Một số tổng cục có từ sắc lệnh trước đây như Học viện Hành chính quốc gia, Cơ quan quản lý nhõn sự nhà nước, Tổng cục Thống kê, Hội đồng quản trị nhà nước. Một số tổng cục mới tách ra khỏi bộ theo sắc lệnh mới như cơ quan kiểm soát tài chính và phát triển vốn là tổng cục tài chính thuộc Bộ tài chính, thư viện quốc gia vốn trước kia thuộc Bộ Giáo dục và Văn hoá. Số cũn lại mới được thành lập theo sắc lệnh mới gồm: Hội đồng quốc gia về điều phối kế hoạch hoá gia đỡnh; Hội đồng lập kế hoạch phát triển quốc gia; cơ quan đánh giá và ứng dụng công nghệ; và cơ quan kiểm soát sự tác động tới môi trường.

Hệ thống tổ chức bộ máy chính quyền địa phương của Inđônêxia, theo quy định của Luật số 5 năm 1974, bao gồm 4 cấp: tỉnh (provinsi); huyện ( Kabupaten và Kotamdya); xó  và phường ( Kecamatan), làng, khu phố ( village).

Tỉnh là cấp chính quyền địa phương lớn nhất, sau cấp trung ương. Hiện nay trong cả nước có 27 tỉnh rất khác nhau cả về diện tích và dân số. Ví dụ năm 1990 dân số của tỉnh Tây Jawa là 35,3 triệu người, trong khi bốn tỉnh thuộc đảo Kalimantan lại chỉ có 9,1 triệu người. Năm tỉnh của đảo Jawa có tổng diện tích là 132.102 km2, song riờng tỉnh Maluku lại trải rộng 998 hũn đảo và cú diện tớch lờn tới 850.000 km2.

Tỉnh có một tỉnh trưởng, do Tổng thống nước Cộng hoà bổ nhiệm cho thời hạn 5 năm, trên cơ sở đề cử của Hội đồng tư vấn nhân dân tỉnh. Hội đồng này có thể đề cử để Tổng thống bổ nhiệm vị tỉnh trưởng đương nhiệm thêm một nhiệm kỳ nữa, song không quá hai nhiệm kỳ. Hội đồng là cơ quan dân cử và cùng làm việc với tỉnh trưởng trong việc chuẩn bị pháp luật và ngân sách. Tỉnh trưởng cũn cú sự tư vấn về chính sách và hoạt động của Hội đồng tư vấn tỉnh, bao gồm có đại diện của Hội đồng tư vấn nhân dân và các nhóm khác. Tuỳ thuộc vào diện tích, có thể có các phó tỉnh trưởng để giúp điều hành. Ngoài ra cũn cú văn phũng tỉnh với cỏc phũng chức năng như tài chính, kiểm toán, tổ chức cán bộ… để quản lý cụng tỏc trong vựng và quản lý nhõn viờn.

Trong cả nước hiện có 292 huyện, thị; 241 huyện nông thôn và 57 thị xó. Thụng thường mỗi tỉnh có từ 6-8 huyện, thị; với tỉnh lớn. tuỳ theo dân số và diện tích có thể  có nhiều huyện, thị hơn. Cơ cấu tổ chức ở huyện, thị giống như của Tỉnh. Huyện có huyện trưởng do Tỉnh trưởng bổ nhiệm với thời hạn 5 năm, có thể tái nhiệm. Huyện trưởng phối hợp công việc và báo cáo cho Hội đồng tư vấn huyện là cơ quan dân cử về các vấn đề quan trọng của địa phương. Trong huyện, có văn phũng huyện, cỏc phũng quy hoạch huyện, xây dựng phát triển và tài chính là các đơn vị chức năng giúp việc cho huyện trưởng, song huyện trưởng phải chịu trách nhiệm hoàn toàn trước tỉnh trưởng. Các Sở thuộc tỉnh có vai trũ rất lớn đối với huyện. Ngoài ra huyện cung có các phũng thuộc Chính phủ trung ương quản lý đặt tại huyện, và cỏc phũng này chịu trỏch nhiệm bỏo cỏo với huyện trưởng cũng như giám đốc sở của họ tại tỉnh.

Trong cả nước hiện có 3.638 xó và 31 thành phố hành chớnh cũng nằm tại cấp này.Xó là cỏc tổ chức tản quyền của Chớnh phủ, có từ 20 đến 40 làng. Mỗi xó cú một Xó trưởng( Camat) do Huyện trưởng bổ nhiệm với tư cách là công chức, chịu trách nhiệm điều hành mọi công việc trong xó.Làng, khu phố là cấp chớnh quyền dưới xó, gồm hơn 60.000 làng và hơn 5.000 khu phố. Trưởng làng là công chức. do huyện trưởng bổ nhiệm, lónh đạo một uỷ ban đặc biệt gồm một số nhân viên và đại diện của làng. Làng cũn được chia nhỏ thành các tổ dân cư và nhóm dân cư. Trung bỡnh một làng cú từ sỏu đến tám tổ dân cư, mỗi tổ có một tổ trưởng. do dân làng bầu ra.

5. Malaysia

 Liên bang Malaxia là một nước quân chủ lập hiến; sau độc lập( 1957) và từ năm 1960, đó sớm tiến hành một cuộc cải cỏch khu vực cụng. Chớnh phủ liờn bang là một sự kết hợp cỏc dõn tộc dựa trờn cơ sở các đảng chính trị. Nó có tính chất Chính phủ liên hiệp( người Malayxia, người Trung Quốc, người Ân) và “ theo chế độ dân chủ nghị viện mang tính tập quyền rất cao , với chính phủ liên bang chiếm khoảng 80% chi phí chung của Liên bang và Bang”. Hiến pháp Malaixia quy định nhà vua là nguyên thủ quốc gia và được bầu ra với nhiệm kỳ là năm năm trong số chín người đứng đầu chín bang theo quyền kế vị. Là nguyên thủ của chế độ quân chủ lập hiến, quyền lực tối cao của nhà vua có được từ Nội các và Nghị viện.Về thực chất, nhiệm vụ của Nhà vua chỉ mang tính chất nghi lễ.Nhà vua bổ nhiệm Thủ tướng và các chánh án toà án tối cao. Kể từ khi Hiến pháp năm 1994 ban hành, các quyền lực thực tế của Nhà vua chỉ cũn lại rất hạn chế.

Người điều hành chính của Chính phủ là Thủ tướng, đứng đầu Nội các và điều phối chính sách và hoạt động của Chính phủ. Ngoài ra, Thủ tướng cũn cố vấn cho Nhà vua bổ nhiệm cỏc chỏnh ỏn, cỏc Hội đồng bầu cử, và các chức vụ cao cấp trong công vụ.

Hệ thống hành chính của Malayxia đó trải qua một quỏ trỡnh hiện đại hoá nền hành chính công từ sau độc lập, một phần do những hạn chế về kinh tế, chuyển sang xem xét lại vai trũ và quy mụ của Chớnh phủ. Nền cụng vụ  mới nhằm vào hiệu quả và hiệu suất, trỏch nhiệm, chất lượng quản lý, tự động hoá công việc hành chính cơ quan, điện toán hoá, và đề cao những giá trị đạo đức, tinh thần, phong cách, thái độ.

Từ năm 1983, đưa ra chính sách  “Malaixia hợp nhất” tạo sự công bằng giữa khu vực công và khu vực tư”.

Cơ quan hoạch định chính sách của Malaixia là Nội các( hay cũn gọi là Hội đồng Bộ trưởng). Nội các gồm Thủ tướng và 25 Bộ trưởng, tất cả đều là thành viên của một trong hai viện thuộc Nghị viện. Nội các chịu trách nhiệm tập thể về các quyết định của mỡnh. Cỏc Thứ trưởng và thư ký Nghị viện cũng được bổ nhiệm và không là thành viên của Nội các. Như vậy, có thể thấy, lực lượng thuộc quyền hành pháp trong Nghị viện là  khá đông, có tới 69 người.

Hệ thống 25 bộ của Malaixia như sau:

-Nụng nghiệp

- Thương mại và Công nghiệp quốc tế

- Văn hoá, Nghệ thuật và Du lịch

- Điền địa và Phát triển hợp tác xó

- Quốc phũng

- Tư pháp

- Nội thương và công việc tiêu dùng

- Thống nhất quốc gia và phỏt triển xó hội

- Giỏo dục

- Văn phũng Thủ tướng

- Năng lượng, Viễn thông và Bưu điện

- Công nghiệp hàng đầu

- Tài chớnh

- Phỏt triển doanh nghiệp

- Ngoại giao

- Phỏt triển quốc gia và nụng thụn

- Y tế

- Khoa học, công nghệ và môi trường

- Nội vụ

- Giao thụng

          - Nhà ở và chính quyền địa phương

          - Lao động

          - Nguồn nhõn lực

          - Thanh niờn và thể thao

          - Thụng tin

          Một trong số cỏc bộ quan trọng nhất của chớnh phủ Malaixia là văn phong Thủ tướng. Nhiệm vụ hàng đầu của văn phũng là lập kế hoạch, xõy dựng và điều phối tất cả các vấn đề liên quan tới việc thưc hiện các chính sách quốc gia nhằm đạt được các mục tiêu nhiệm vụ do Chính phủ đề ra.Văn phũng này cú hơn 23.000 nhân viên và bao gồm rất nhiều cơ quan quan trọng như bộ phận lập kế hoạch kinh tế( EPU), cơ quan chống tham nhũng, tổng cục xử lý các khiếu nại của nhân dân. Ban công vụ( PSD), Đơn vị hiện đại hoá hành chính và kế hoạch hoá nhân lực( MAMPUZ)…

           Chức năng chính của bộ phận lập kế hoạch kinh tế là xây dựng chính sách, các chiến lược và chương trỡnh phỏt triển kinh tế ngắn hạn và dài hạn, tư vấn cho Chính phủ về các vấn đề kế hoạch hoá và phát triển kinh tế quốc gia, phụ trách vấn đề đầu tư và điều phối các dự án phát triển, chương trỡnh hợp tỏc kỹ thuật của Malaixia. Ban cụng vụ là cơ quan trung ương chịu trách nhiệm xây dựng và thực hiện các chính sách quản lý nhõn sự của toàn bộ nền công vụ. Các chức năng chủ yếu của Ban này là xây dựng các chính sách quản lý nhân sự kể từ tuyển dụng, bổ nhiệm, đề bạt, kỷ luật, cho thôi việc; phát triển công vụ gồm xác định yêu cầu nhân lực và cơ cấu tổ chức của tất cả các cơ quan chính phủ; theo dừi việc thực hiện các chính sách trả công lao động và các phương tiện trang thiết bị cần thiết cho khu vực công; đánh giá chất lượng công chức và thực hiện các chương trỡnh đào tạo, bồi dưỡng cần thiết cho công chức; điều phối việc thực thi các luật, quy định cho cụng chức. kể cả xử lý cỏc khiếu nại của ngưũi lao động theo tố tụng của Toà án công vụ.Cơ quan hiện đại hoá hành chính và kế hoạch hoá nhân lực có mục đích chính là đưa các cải cách cần thiết vào công vụ để nâng cao chất lượng, hiệu lực và hiệu quả cho nền hành chính. Các chức năng chính của cơ quan này bao gồm việc thực hiện sự biến đổi hành chính và khu vực công, góp ý kiến trỡnh Chớnh phủ về vấn đề quản lý tổ chức, công tác dịch vụ về phát triển tổ chức, thanh tra và giám sát việc thực hiện các chương trỡnh cải tiến của Chớnh phủ, cải tiến cỏc thủ tục làm việc và nõng cao việc điện toán hoá trong công vụ, hiện đại hoá nền công vụ nhằm trọng tâm là hiệu quả, năng suất,

          Bộ tài chớnh Malaixia chịu trỏch nhiệm về cỏc chớnh sỏch tài chớnh và ngõn sỏch, và bảo đảm những chính sách này phù hợp với Chính sách phát triển quốc gia. Trong cơ cấu của Bộ, có hàng loạt các Tổng cục quan trọng như: Tổng cục hải quan và thuế gián thu Malaixia. Tổng cục nguồn thu trong nước, Ngân hàng quốc gia, Quỹ dự phũng do viờn chức cung cấp, và Hội đồng chứng khoán.

Ngoài số cỏc bộ, cũn cú 65 cơ quan( kể cả các cơ quan trung ương), và một loạt các cơ quan quy chế và doanh nghiệp của nhà nước.Có một số tổ chức trung ương làm chức năng điều phối là: Hội đồng hành động quốc gia, Hội đồng kinh tế quốc gia, Hội đồng an ninh quốc gia và Uỷ ban lập kế hoạch phát triển quốc gia. Một tổ chức trung ương có vai trũ cực kỳ quan trọng  của Chớnh phủ Malaixia là Hội đồng cải tiến hành chính nền công vụ( PANEL) do Tổng thư ký Chớnh phủ( người đứng đầu công vụ) làm Chủ tịch, với những người lónh đạo của các cơ quan chủ chốt như Tài chính, công vụ, Cơ quan điều phối thực hiện với bốn uỷ ban thường trực gồm các Tổng thư ký các bộ, Tổng giám đốc các Tổng cục, các cơ quan quy chế).Hội đồng này là đầu tàu để vạch các ý đồ cải cách và điều phối các cải tiến hành chính trong nền công vụ. Chức năng của Hội đồng gồm vạch ra các cải tiến, xác định các công cụ cụ thể để thực hiện, thay đổi, theo dừi và đánh giá  các chương trỡnh cải cỏch và “ việc thực hiện liờn tục” trong nền cụng vụ.

Cơ cấu Liên bang Malaixia bao gồm 13 bang như sau:

 

Bang

Thủ đô

Bang

Thủ đô

Jụhre

Jụhre Bahru

Perak

Ipoh

Kedah

Alor Star

Perlis

Kangar

Kelõntan

KotarBahru

Sabah

Kota Kinbalu

Malacca

Malacca

Sarawak

Kuching

Negri Sembilan

Seremban

Selangor

Ahah Alam

Pahang

Kuantan

Trengganu

Kuala Trengganu

Penang

George Town

 

 

Những người đứng đầu theo quyền kế vị của chín bang có địa vị của nhà Vua. Những người đứng đầu của các bang Mallacca, Penang, Sabah và Sarawakk là được chỉ định làm thống đốc bang và không được dự vào các cuộc bầu cử Nhà vua cho Liên bang. Mỗi bang đều có Hiến pháp bằng văn bản riêng và có nghị viện với một viện duy nhất.Nghị viện này được lập pháp về những vấn đề quy định. Các nghị sĩ được bầu ra theo các đơn vị bỏ phiếu. Về phương thức hoạt động ở cấp bang cũng tương tự như ở Liên bang.

Chính quyền địa phương Malaixia có ba loại như sau : hội đồng thành phố, hội đồng thị xó đối với các vùng đô thị , và hội đồng huyện cho các vùng nông thôn. Tại vùng phía Tây Malaixia có 96 chính quyền địa phương gồm Toà Thị chính Thủ đô Kuala Lumpur, hai Hội đồng thành phố là Ipoh và Johor Bahru, 14 Hội đồng thị xó và 79 Hội đồng huyện. Ngoài ra tại hai bang Sabah và Sarawak có 47 chính quyền địa phương. Các chính quyền địa phương naỳ được Chính phủ Liên bang và bang giao cho các trách nhiệm và quyền tự quản về các vấn đề tài chính , hành chính và các chức năng như kiểm soát việc phát triển, lập kế hoạch, xây dựng các cơ sở hạ tầng thiết yếu, và rất nhiều chức năng cung cấp dịch vụ và quản lý cỏc dịch vụ ở đô thị. Tuy vậy, mức độ và phạm vi cung cấp các dịch vụ tuỳ thuộc vào mỗi địa phương.

   Malaixia có một số cơ quan thực hiện chính sách công vụ, công chức như Cục Công vụ, Ủy ban Công vụ, Ủy ban quản lư liêm khiết của công chức, Cục Giải quyết khiếu nại. Cơ quan pḥng, chống tham nhũng, Cơ quan Kế hoạch quản lư và hiện đại hóa nền hành chính.Sau đây là chức năng nhiệm vụ một số cơ quan:

  Ủy ban Công vụ: Là cơ quan độc lập trực thuộc Thủ tướng, chịu trách nhiệm về việc tuyển dụng, kỷ luật công chức. Chức năng, nhiệm vụ chính của Ủy ban là: - Bổ nhiệm Tổng thư kư các bộ, Vụ trưởng tổ chức các bộ, Cục trưởng Cục Công vụ Malaixia; - Xem xét việc bổ nhiệm của Cuc Công vụ đối với các đối tượng công chức khác theo phân cấp có phù hợp và đúng quy định không; - Xác định vị trí công việc phù hợp với các chức danh công chức; - Xem xét quyết định việc thăng tiến của công chức; - Thực hiện việc luân chuyển công chức; - Hướng dẫn thực hiện việc kỷ luật công chức và kiểm tra việc kỷ luật công chức;

  Cục Công vụ: Là cơ quan độc lập trực thuộc Thủ tướng, chịu trách nhiệm về các vấn đề công vụ và công chức ngoài chức năng  của Ủy ban Công vụ. Chức năng nhiệm vụ chính của Cục Công vụ: - Tham mưu cho Chính phủ về quản lư nhân sự trong khu vực công; - Xây dựng chính sách nhân sự như sử dụng, sắp xếp, bổ nhiệm, đề bạt, đào tạo, chế độ lương, phụ cấp, trợ cấp hưu trí, môi trường làm việc, chế độ khuyến khích; - Lập kế hoạch về nguồn nhân lực có chất lượng; - Xác định biên chế và cơ cấu tổ chức phù hợp cho khu vực công; - Quản lư các mối quan hệ giữa lănh đạo và nhân viên để tạo môi trường làm việc ḥa hợp.

   Cơ quan Pḥng chống tham nhũng: Là cơ quan độc lập trực thuộc Thủ tướng thực hiện nhiệm vụ làm trong sạch xă hội Malaixia khỏi nạn tham nhũng và lạm dụng quyền lực. Chức năng nhiệm vụ chính của cơ quan Pḥng, chống tham nhũng: Tiếp nhận, xem xét các báo cáo, tố cáo hành vi hối lộ, tham nhũng; - T́m ra các kẽ hở trong thể chế pháp luật có thể xảy ra tham nhũng; - Tư vấn cho Chính phủ các biện pháp tốt nhất để pḥng, chống tham nhũng; - Vận động công chúng tham gia đấu tranh pḥng, chống tham nhũng.

          Cục Giải quyết khiếu nại: Là cơ quan trực Thủ tướng, giải quyết khiếu nại của công chúng liên quan đến công chức và các doanh nghiệp nhà nước đă được tư nhân hóa. Chức năng nhiệm vụ chính: - Tiếp nhận và giải quyết các đơn thư về việc làm của công chức và cơ quan nhà nước liên quan đến việc đối xử không công bằng, lạm dụng quyền lực, vi phạm đạo đức trong công vụ; - Đưa ra các kiến nghị đối với Chính phủ, chính quyền địa phương và các cơ quan nhà nước; - Giám sát việc sửa chữa, điều chỉnh hoạt động của các cơ quan nhà nước; - Xem xét, điều tra mọi khiếu nại của công chúng trên các phương tiện thông tin đại chúng; - Theo dơi, kiểm tra việc giải quyết các đơn thư của các cơ quan nhà nước, lập báo cáo định kỳ hai lần một năm;

          Ngay sau khi giành được độc lập năm 1957, Malaixia đă chú trọng xây dựng một nền hành  chính có chất lượng đáp ứng được những yêu cầu của việc phát triển kinh tế - xă hội của đất nước và phục vụ tốt công chúng. Công cuộc cải cách hành chính qua các giai đoạn đă h́nh thành nên bộ máy nhà nước liên bang theo mô h́nh quân chủ lập hiến (xem phụ lục 5)

          Công chức làm việc theo các quy định của Luật công vụ chung và các luật quy định chi tiết các vấn đề lớn của luật chung, chẳng hạn như đạo đức công vụ được thực hiện theo Bộ quy tắc ứng xử. Luật công vụ của Malaixia quy định những vấn đề cơ bản nhất liên quan đến công chức nhà nước như đạo đức công vụ, việc tuyển dung, bố nhiệm, đề bạt, nghỉ hưu, thôi việc, chế độ nghỉ phép, khám chữa bệnh, phụ cấp nhà ở.

          Malaixia thực hiện chế độ công vụ theo hệ thống việc làm thay cho hệ thống chức nghiệp. Theo quy định th́ hiện nay ở Malaixia trong khu vực công không xác định biên chế mà xác định các vị trí làm việc ứng với từng chức danh. Trong hệ thống các cơ quan nhà nước có 1.295.199 vị trí công việc nhưng trên thực tế mới có 1.08.886 người làm việc. Cơ cấu của đội nguc công chức nhà nước được bố trí như sau: công chức lănh đạo chiếm tỷ lệ 1%; công chức làm công tác quản lư và chuyên môn nghiệp vụ chiếm 20,7%; công chức làm công việc hỗ trợ là 78,3%.

          Việc lựa chọn công chức được tiến hành ngay từ khâu tuyển dụng. Hàng năm vào đầu tháng 11 Ủy ban Công vụ gửi thông báo cho các Bộ, ngành yêu cầu đăng kư nhu cầu tuyển dụng công chức cho các vị trí công việc của Bộ, ngành đó để tổng hợp và thông báo tuyển dụng. Tại Malaixia Ủy ban Công vụ áp dụng một hệ thống đăng kư tuyển dụng thường xuyên  một cách rộng răi, công khai thông tin đễn công chúng.

          Ủy ban Công vụ chỉ thực hiện việc tuyển dụng công chức hành chính, c̣n đối với một số ngành như công an, quân đội và giáo viên th́ việc tuyển dụng đối tượng công chức cho các ngành này do các Ủy ban về công an, quân đội, và Ủy ban giáo dục tiến hành.

          Nhằm không ngừng hoàn thiện đội ngũ công chức, Malaixia đă chú trọng việc đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ công chức các cấp trong lĩnh vực cung ứng dịch vụ công. Malaixia đă xây dựng được chương tŕnh đào tạo cử nhân hành chính phát triển dành cho công chức. Ngoài ra, Ban phát triển nghề và đào tạo thuộc Cục Công vụ được thành lập; Chính phủ tăng ngân sách dành cho đạo tạo. Việc đào tạo chính quy cho công chức được chú trọng thay cho giáo dục truyền thống, học tập thông qua công việc như trước đây. Chính phủ đă mở rộng Học viện Hành chính Quốc gia về quy mô đào tạo, nội dung các khóa học, kết cấu chương tŕnh cũng như thời gian đào tạo. Bên cạnh việc đào tạo chính quy, Học viện cũng chú trọng các khóa đào tạo ngắn hạn với nhiều chương tŕnh đào tạo khác nhau dành cho công chức.

          Một biện pháp khác nhằm nâng cao hiệu quả, chất lượng làm việc của đội ngũ công chức đó là việc đánh giá thăng thưởng công chức trong nghề nghiệp của họ. Việc thăng thưởng đước thực hiện qua đánh giá kết quả làm việc, căn cứ trên một tiêu chí cụ thể. Việc thăng tiến trong một ngạch được thực hiện trên cơ sở đánh giá chất lượng công việc của công chức. Khi tuyển dụng hoặc chuyển từ công chức hỗ trợ sang công chức quản lư, công chức chuyên môn nghiệp vụ th́ phải thi cộng với việc xem xét một số tiêu chí khác. Việc bổ nhiệm công chức vào vị trí lănh đạo dựa trên việc đánh giá kết quả công việc của công chức trong ba năm liên tiếp và yêu cầu của lănh đạo về tiêu chí cụ thể cho từng vị trí, không có h́nh thức lấy phiếu tín nhiệm.

          Vấn đề tiên lương cũng là một biện pháp nhằm nâng cao chất lượng dịch vụ công được Chính phủ Malaixia quan tâm. Bên cạnh việc tăng tiền lương, Chính phủ c̣n giảm bớt bậc lương và điều chỉnh các bậc lương thống nhất hơn. Bên cạnh đó, Malaixia c̣n có chính sách hỗ trợ công chức về nhà ở bằng cách cung cấp các khoản tín dụng với lăi xuất thấp để mua nhà ở cho công chức, có phụ cấp về nhà ở cho công chức. Kết hợp với việc đánh giá thăng tiến của công chức, Cục Công vụ đă tiến hành việc điều chỉnh tiền lương cho những cá nhân hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ của ḿnh. Hàng năm công chức được đánh giá theo mức độ trung b́nh, tốt, rất tốt và xuất sắc. Những ai đạt mức xuất sắc sẽ được tăng gấp đôi mức lương, thưởng hàng tháng và trên cơ sở đó họ sẽ có một sự nghiệp tốt. Tuy nhiên, số lượng mức độ rất tốt và xuất sắc chỉ giới hạn ở mức 5% tổng số công chức trong cơ quan, điều này tạo nên động lực thúc đẩy công chức phấn đấu vươn lên.

          Việc luân chuyển công chức ở Malaixia được thực hiện theo nguyên tắc chỉ luân chuyển các công chức trong ngạch hành chính chung như công chức hành chính, công chức làm công tác đối ngoại hay công chức làm công tác công nghệ thông tin từ bộ này sang bộ khác. Không luân chuyển công chức lănh đạo, quản lư của các cơ quan chuyên môn đ̣i hỏi phải có chuyên môn nghiệp vụ, công chức làm một số nghề như kiến trúc sư, bác sĩ, kế toán viên.

          Nhằm khuyến khích công chức phần đấu nâng cao chất lượng và hiệu quả công việc, Chính phủ Malaixia đă đặt ra các giải thưởng. Ngày 31 tháng 10 hàng năm được gọi là ngày Công vụ hay c̣n gọi là ngày chất lượng. Nhiều giải thưởng đă được đặt ra nhằm động viên các cơ quan thi đua nâng cao chất lượng công việc như giải thưởng chất lượng của Thủ tướng giành cho khu vực công; giải thưởng chất lượng của Chánh văn pḥng Chính phủ; giải thưởng chất lượng của Cục trưởng Cục Công vụ; giải thưởng chất lượng của Giám đốc Cơ quan Kế hoạch Quản  lư và Hiện đại hóa hành chính; giải thưởng chất lượng của Văn pḥng Quận; giải thưởng Chất lượng của chính quyền địa phương; giải thưởng Quản lư nguồn nhân lực. Tiếp đó, Chính phủ có giải thưởng Đổi mới công vụ và Giải thưởng Đổi mới công tác nghiên cứu khu vực tư nhân. Việc thi đua của các cơ quan đă đem lại hiệu quả đáng khích lệ trong việc nâng cao chất lượng và năng suất của khu vực hành chính công.

          Sự phát triển nhanh chóng của cong nghệ thông tin và việc ứng dụng công nghệ này vào công việc cũng là một yếu tố đem lại chất lượng và hiệu quả công việc của nền hành chính Malaixia. Tại các cơ quan ở Malaixia, công nghệ thông tin này đă được ứng dụng rộng răi trong tuyển dụng, quản lư công chức, các pḥng ban trong một cơ quan đều được nối mạng nội bộ và nội mạng chung để trao đổi dữ liệu điện tử với các cơ quan khác của Chính phủ.

           Việc kỷ luật công chức do các cơ quan quản lư công chức tiến hành theo sự phân cấp, trừ một số chức vụ do Ủy ban Công vụ bổ nhiệm th́ Ủy ban tiến hành. Các trường hợp khiếu nại về kỷ luật của các bộ, ngành sẽ được Ủy ban xem xét giải quyết.

 

 

III. CÁC NƯỚC CÓ NỀN KINH TẾ CHUYỂN ĐỔI

 

1. Liên bang Nga:

Nước nga có diện tích lớn nhất thế giới là hơn 17 triệu km2 (gấp 1,8 lần Mỹ và Trung Quốc), với số dân khoảng 143 triệu người. Hình thức nhà nước là liên bang.

Cơ quan lập pháp cao nhất của LB Nga là Quốc hội Liên bang gồm hai Viện là: (1) Hội đồng Liên bang (hay Xô viết Liên bang) có 178 đại biểu do các quan chức lập pháp và hành pháp cao nhất của 88 đơn vị hành chính liên bang (các nước cộng hòa, các tỉnh, các khu tự trị và tỉnh tự trị, hai thành phố trực thuộc Liên Bang là Mát-xcơ-va và Sanh Pê-téc-bua) bổ nhiệm cho thời hạn 4 năm; và (2) Viện Đu ma quốc gia có 450 đại biểu được các đảng phái bầu trực tiếp ra cho thời hạn 4 năm theo tỷ lệ đại diện ít nhất phải có 7% số phiếu. Cuộc bầu cử gần đây nhất và Viện Đu ma là ngày 7/12/2003.

Hệ thống tư pháp LB Nga bao gồm Tòa án Hiến pháp, Tòa án Tối cao, Tòa Phục thẩm tối cao. Chánh án các toà này do Hội đồng Liên bang bổ nhiệm suốt đời theo đề nghị của Tổng thống.

Tổng thống LB Nga là người đứng đầu nhà nước. Chính phủ do Thủ tướng đứng đầu và có hai Phó Thủ tướng. Nội các LB Nga gồm các bộ trưởng và một số thành viên khác. Nội các do Tổng thống bổ nhiệm. Để giúp việc cho Tổng thống có Văn phòng Tổng thống với các chuyên gia giúp việc soạn thảo các sắc lệnh của Tổng thống và điều phối chính sách giữa các cơ quan của Chính phủ. Ngoài ra LB Nga còn thành lập ra Hội đồng An ninh là cơ quan trực tiếp báo cáo cho Tổng thống.

Về chính quyền địa phương, hiện này LB Nga có 48 tỉnh, 21 nước cộng hòa, 9 khu tự trị, 7 krays, 2 thành phố do liên bang quản lý, và 1 tỉnh tự trị.

Những năm cuối thập niên 80, đầu thập niên 90 của thế kỷ 20 đã chứng kiến nhiều biến động mạnh mẽ trong hệ thống kinh tế, chính trị của các nước Trung Âu, Đông Âu và của Liên Xô cũ. Sau khi Liên Xô tan rã vào tháng 12 năm 1991, để lại các di chứng của mình cho nước Nga, cơ chế hành chính tách biệt và khuôn khổ điều tiết cũ đã không còn phù hợp để giải quyết các vấn đề phức tạp và cấp bách trong giai đoạn chuyển đổi sang một thể chế kinh tế chính trị mới. Các nhà lãnh đạo Nga đứng trước một nhiệm vụ to lớn là chuyển đổi bộ máy nhà nước tập trung và bao cấp mà nước Nga thừa hưởng từ hệ thống Liên Xô cũ sang một nền hành chính hiệu quả, đủ năng lực để đáp ứng các yêu cầu của một nền kinh tế theo định hướng thị trường, một hình thái quản lý nhà nước mở rộng dân chủ và đáp ứng các mong đợi của người dân. Dưới thời Liên bang Xô viết, đã không có khái niệm rõ ràng về bộ máy hành chính và về một nền công vụ chuyên nghiệp và cũng không có một hệ thống quản lý thống nhất dưới sự bảo trợ của Đảng Cộng sản, mỗi bộ và uỷ ban nhà nước (con số này tính chung là từ 120-130) tự xây dựng nên cách thức quản lý riêng của mình.

Tới tháng 4 năm 1996, tổ chức Chính phủ vẫn theo cơ cấu Xô Viết gồm 89 bộ và cơ quan liên bang, công chức ở cấp Liên bang khoảng 33 ngàn. Mùa hè 1996, trước khi bầu cử Tổng thống, có hai kế hoạch cơ cấu lại Chính phủ do hai nhóm chuyên gia đề xuất: một nhóm do ông Yasin - Bộ trưởng Bộ Kinh tế đứng đầu; nhóm kia do ông Babichev- Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ đứng đầu. Ông Yasin đề xuất giảm số lượng các bộ và cơ quan ngang bộ cấp liên bang cần từ 89 xuống 20-25 và chia làm 4 nhóm lớn (kinh tế, tài chính, quốc phòng, xã hội). Người đứng đầu các bộ “nhỏ” hơn có thể mất địa vị cấp bộ, không còn được tiếp xúc trực tiếp với Kremlin và phải báo cáo cho người đứng đầu của 4 nhóm bộ chính.

Mặc dù có những phản đối mạnh mẽ từ một số nghị sĩ, ngày 27 tháng 1 năm 2003, Viện Duma Quốc gia đã thông qua ngay từ lần xem xét đầu tiên một dự luật có tầm quan trọng đặc biệt đối với Tổng thống Putin – Dự luật về hệ thống công vụ Liên bang Nga. Việc thông qua dự luật này là bước đầu tiên tạo nền tảng cho một hệ thống thứ bậc mới nhằm xác định nên cơ sở luật pháp và tổ chức của hệ thống công vụ Nga. Trong đó, dự luật này đề xuất sẽ có 4 loại công chức là công chức liên bang, công chức quân đội, công chức cưỡng chế luật và công chức bang. Dự luật định nghĩa thống nhất về công chức: đó là những người nhận lương từ ngân sách liên bang hoặc ngân sách vùng. Ngày 21 tháng 11 năm 2002, Tổng thống Putin đã ký chương trình “Cải cách Công vụ Liên bang Nga từ 2003- 2005”. CHLB Nga còn cần phải giải quyết rất nhiều nhiệm vụ để xây dựng một chương trình cải cách tổng thể và tạo ra một hệ thống công vụ hiệu quả.

Có thể kết luận rằng nhu cầu cải cách hành chính và công vụ Nga đã được đưa lên hàng đầu do nhu cầu thay đổi hệ thống kinh tế chính trị của đất nước trong những năm đầu 90. Mặc dù mục tiêu của công cuộc cải cách chưa bao giờ được xây dựng thành một chương trình chính thức của Chính phủ, có thể hiểu nó được thiết kế chủ yếu như một cuộc cải cách về cơ cấu với mục tiêu tổ chức lại chính phủ trung ương và địa phương, đưa ra một khuôn khổ thể chế và định chế mới, tạo ra một đội ngũ công chức mang tính chuyên nghiệp, thúc đẩy tính trách nhiệm, tính đáp ứng, phân quyền và cắt giảm biên chế. Những thành tựu ban đầu của công cuộc cải cách này góp phần quan trọng trong việc LB Nga nhanh chóng phục hồi nền kinh tế (trả hết số 28 tỷ USD nợ cho các nước thuộc Câu lạc bộ Pa-ri vào tháng 8/2006) và dần lấy lại vị thế của mình trên trường quốc tế.

IV. CÁC NƯỚC XHCN

 

1. Trung Quốc

Theo quy định của Hiến pháp, Đại hội đại biểu nhân dân toàn quốc ( National’s people Congress)là cơ quan quyền lực tối cao. Điều này có nghĩa là trong hệ thống cơ cấu nhà nước và chính phủ ở Trung quốc, đại hội đại biểu nhân dân là cơ quan có địa vị pháp lý cao nhất. Uỷ ban thường vụ của đại hội đại biểu nhân dân là cơ quan thường trực của đại hội, thực hiện các nhiệm vụ của đại hội trong thời gian đại hội không họp. Đại hội đại biểu nhân dân họp mỗi năm một lần, trong thời gian ngoài kỳ họp, thì Ủy ban Thường vụ điều hành công việc. Ủy ban Thường vụ của Đại hội đại biểu gồm có Chủ tịch, một số Phó Chủ tịch, Tổng thư ký và một số ủy viên. Các ủy viên Ủy ban Thường vụ Đại hội đại biểu không kiêm nhiệm chức danh khác. Đại hội có quyền hạn rất lớn, chủ yếu là quyền lập pháp, quyền sửa dổi hiến pháp, giám sát thực thi hiến pháp, tổ chức các cơ quan nhà nước tối cao khác, bầu chủ tịch, phó chủ tịch nước, căn cứ theo đề nghị của chủ tịch nước phê chuẩn chức vụ Thủ tướng và phê chuẩn các chức vụ phó thủ tướng, quốc vụ khanh, Bộ trưởng và tổng kiểm toán nhà nước và Tổng thư ký chính phủ theo đề nghị của Thủ tướng. Đại hội bầu ra Chánh án Toà án nhân dân tối cao, Viện trưởng viện kiểm sát nhân dân tối cao, xét duỵet kế hoạch phát triển kinh tê-xã hội và ngân sách nhà nứơc.

Đại hội có quyền bãi nhiệm, miễn nhiệm các chức vụ trên. Chủ tịch nước và phó chủ tịch nước do Đại hội đại biểu nhân dân toàn quốc bầu ra, không nhất thiết phải là đại biểu của Đại hội, có nhiệm kỳ cùng với nhiệm kỳ của đại hội.Theo nghị quyết của Đại hội đại biểu nhân dân toàn quốc hoặc Ủy ban Thường vụ đại hội đại biểu, các luật đã ban hành, Chủ tịch nước thực hiện các chức năng và quyền hạn của mình như bổnhiệm hoặc miễn nhiệm các thành viên Quốc vụ viện, ban hành các sắc lệnh, tiếp đón các đại diện ngoại giao thay mặt nhà nước, ký kết các hiệp định với nhà nước khác.    

          Hội đồng Nhà nước ( Quốc vụ viện) là Chính phủ nhân dân trung ương, là cơ quan hành chính cao nhất nước CHND Trung Hoa. Hội đồng này thi hành các luật đã ban hành, và các quyết định do Đại hội đại biểu nhân dân toàn quốc và Ủy ban Thường vụ của Đại hội đưa ra. Hội đồng Nhà nước chịu trách nhiệm và báo cáo về công việc của mình trước Đại hội đại biêủ nhân dân toàn quốc và Ủy ban Thường vụ của Đại hội đại biểu nhân dân. Hội đồng Nhà nước có các chức năng và quyền hạn chủ yếu như xây dựng các biện pháp hành chính, thông qua các quy định hành chính, ra quyết định và sắc lệnh để lãnh đạo thống nhất công việc của các bộ và các ủy ban, cũng như của các cơ quan thuộc thẩm quyền. Hội đồng gồm có Thủ tướng, các Phó Thủ tướng, các Ủy viên Hội đồng, các bộ trưởng và những người đứng đầu các ủy ban nhà nước, Tổng kiểm toán  và Tổng Thư ký. Đại hội đại biểu nhân dân có quyền bãi miễn thủ tướng và các thành viên khác của Quốc vụ viện. Dự toán ngân sách do Quốc vụ viện xây dựng và tình hình chấp hành dự toán phải được Đại hội đại biểt nhân dân toàn quốc phê chuẩn.

Hội đồng nhà nước là cơ quan hành pháp của nhà nước, là cơ quan hành chính nhà nước cao nhất. Hội đồng nhà nứoc bao gồm các bộ và các uỷ ban. Ngoài ra, còn có một tổ chức đặc biệt đặt dưới sự quản lý trực tiếp của Quốc vụ viện ( Uỷ ban hành chính và giám sát tài sản thuộc sở hữu nhà nước của Quốc vụ viện) và 16 cơ quan trực thuộc Quốc vụ viện như Tổng cục Hải quan, Tổng cục thuê, Tổng cục phát thanh, truyền hình và điện ảnh, Văn phòng quốc gia về ngăn ngừa tham nhũng và 17 đơn vị sự nghiệp của Quốc vụ viện ( Trung tâm nghiên cứu phát triển, Học viện xã hội quốc gia, viện kỹ thuật và công nghệ quốc gia, ...)

Hội đồng nhà nước theo hệ thống trách nhiệm thủ tướng và các bộ và uỷ ban của Hội đồng nhà nước theo hệ thống trách nhiệm bộ trưởng. Trong việc giải quyết các vấn đề đối ngoại, các uỷ viên hội đồng nhà nước có thể tiến hành những hoạt động quan trọng thay mặt thủ tướng sau khi được Thủ tướng uỷ quyền. Tổng kiểm toán nhà nước là người đứng đầu Kiểm toán nhà nước, có trách nhiệm giám sát và kiểm toán vấn đề tài chính của nhà nước. Tổng thư ký có trách nhiệm giải quyết các công việc hàng ngày của Hội đồng nhà nước và là chánh văn phòng của Hội đồng nhà nước.

Hội đồng nhà nước có trách nhiệm tuân thủ các nguyên tắc và chính sách của Đảng cộng sản Trung quốc cũng như các đạo luật và quy định của Đại hội đại biểu nhân dân toàn quốc ( Quốc hội), và giải quyết các công việc như chính trị nội bộ, ngoại giao, quốc phòng, tài chính, kinh tế, văn hoá và giáo dục.

Theo quy định của Hiến pháp hiện hành, Hội đồng nhà nước có thẩm quyền lập quy, trình đề xuất, điều hành hành chính, quản lý kinh tế, ngoại giao, quản lý xã hội và các quyền hạn khác được Quốc hội và Uỷ ban thường vụ quốc hội trao cho.

          Hệ thống hành chính Trung Quốc được chia thành ba cấp: trung ương, tỉnh và cơ sở. Ở trung ương, số lượng các bộ, ban, ngành rất lớn. Tại địa phương, hiện có 30 đơn vị cấp tỉnh, bao gồm 22 tỉnh, 5 khu tự trị và 3 thành phố do trung ương quản lý (Đài Loan được xếp là tỉnh thứ 23). Bên dưới có 333 quận tự trị, 2148 huyện tự trị và 697 quận thuộc các thành phố.

Theo Hiến pháp và các luật liên quan của Trung Quốc, các chính quyền địa phương được chia thành ba loại chính: chính quyền địa phương các cấp, chính quyền tự trị của các vùng dân tộc, và chính quyền các đặc khu hành chính. Tổ chức chính quyền địa phương chia thành 4 cấp: (1) Cấp tỉnh: gồm chính quyền tỉnh, khu tự trị và thành phố do trung ương quản lý là cấp chính quyền địa phương cao nhất. Hiện Trung quốc có 31 chính quyền cấp tỉnh gồm 22 tỉnh, 5 khu tự trị, và 4 thành phố do trung ương quản lý là Bắc Kinh, Thượng Hải, Tianjing và Chongqing; (2) Cấp thành phố: gồm các thành phố trực thuộc tỉnh, các quận, các quận huyện tự trị; (3) Cấp hạt (county): gồm các hạt, các hạt tự trị, các thành phố thuộc hạt quản lý, các đặc khu, các huyện công, nông, lâm nghiệp, các quận trong thành phố thuộc tỉnh v.v.; và (4) Cấp thị trấn: gồm các thị trấn và các xã là cấp chính quyền địa phương thấp nhất. Theo Hiến pháp 1982, Trung Quốc có đặc khu hành chính Hồng kông, Ma Cao và Đài Loan (hiện đang tranh chấp).

 

 

 

 

 

 

 

[1] Theo www.clgf. org.uk

1 Impersonality: người công chức làm việc không vụ lợi, nhân danh công quyền chứ không nhân danh mình với tư cách là một con người cụ thể (các TG).

2 Jim Cordell, Sđd, tr. 192-192.

1 Hội đồng Anh, Pháp luật và sự quản lý của Nhà nước (bản dịch), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội 1998, 15-16.

[2] J.A.Chandler (BT) (2000). Hành chính so sánh. Rutledger: Luân Đôn (Bản tiếng Anh). tr: 202.

1 5 D. Osborne và T. Gaebler, Sáng tạo lại chính phủ, Mỹ, 1992.

[3] J.A.Chandler (BT) (Sđd), tr: 209.

1 Học viện Hành chính quốc gia, Môn học công vụ, công chức, Nxb Giáo dục, Hà Nội, 1997,

1 Báo cáo quốc gia của Xingapo: Chuẩn bị nền công vụ cho thế kỷ XXI, in trong Hội nghị lần thứ 8 của ASEAN về các vấn đề công vụ, Hội đồng Công vụ Phi-líp-pin, 1995 (Bản tiếng Anh).

1 GS Đoàn Trọng Truyến (CB) và các tác giả khác, Sđd, tr. 123.

2 7Dhipavadee, Meksawan, đd, tr. 259.

1 Ban Tổ chức cán bộ Chính phủ, Viện nghiên cứu khoa học tổ chức Nhà nước, Hệ thống công vụ một số nước ASEAN và Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội 1997, tr. 257-266.

[4] Ban Điều hành hỗ trợ cải cách hành chính, Dự án VIE/92/002, Số 129/BĐH, Báo cáo kết quả khảo sát hành chính tại Phi-líp-pin và Thái Lan, Hà Nội 15/9/1994, tr. 6.

[5] Ban Điều hành Hỗ trợ cải cách hành chính, Dự án VIE/92/002, tài liệu đã dẫn, tr. 8.