DMCA.com Protection Status

HỘI NHẬP QUỐC TẾ VÀ VẤN ĐỀ GIỮ VỮNG ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA Ở NƯỚC TA   quan tâm

Được viết bởi: Trần Việt Thao

Cập nhật lúc 15:11 ngày 12/01/2018

HỘI NHẬP QUỐC TẾ VÀ VẤN ĐỀ GIỮ VỮNG
ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA Ở NƯỚC TA

PGS,TS Nguyễn Tất Giáp

I. QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH CHỦ TRƯƠNG VÀ NHỮNG QUAN ĐIỂM CƠ BẢN CỦA ĐẢNG TA VỀ HỘI NHẬP QUỐC TẾ

1. Quá trình hình thành, phát triển chủ trương hội nhập quốc tế của Đảng

Ngay từ rất sớm, Đảng ta đã nhận thức rõ tầm quan trọng cũng như tính cấp thiết của việc mở rộng quan hệ đối ngoại nhằm đưa sự nghiệp phát triển đất nước hoà vào trào lưu phát triển chung của thế giới. Trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta luôn chú trọng việc kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh của thời đại, coi đây là một trong những nguyên tắc cơ bản trong đường lối quốc tế của mình. Cũng chính vì vậy, sự nghiệp giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc của nhân dân ta trải qua các thời kỳ lịch sử khác nhau đã luôn giành được sự đồng tình, ủng hộ, sự giúp đỡ rộng rãi của nhân dân tiến bộ trên thế giới.

Tư tưởng mở cửa đối ngoại, hội nhập với kinh tế khu vực và thế giới của Đảng đã được thể hiện rõ nét trong các văn kiện ngoại giao đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ cộng hoà. Chủ tịch Hồ Chí Minh, trong Thư gửi Tổng Thư ký Liên hợp quốc (12/1946), đã long trọng tuyên bố: “Việt Nam sẵn sàng thực thi chính sách mở cửa và hợp tác trong mọi lĩnh vực”. Đồng thời, Người khẳng định: “Việt Nam dành sự tiếp nhận thuận lợi cho đầu tư của các nhà tư bản, nhà kỹ thuật nước ngoài trong tất cả các ngành kỹ nghệ của mình; sẵn sàng mở rộng các cảng, sân bay và đường xá giao thông cho việc buôn bán và quá cảnh quốc tế; chấp nhận tham gia mọi tổ chức hợp tác kinh tế quốc tế dưới sự lãnh đạo của Liên hợp quốc”1. Đây là những tư tưởng quan trọng đặt cơ sở cho sự hình thành chủ trương, đường lối hội nhập kinh tế quốc tế nói riêng và hội nhập quốc tế nói chung của nước ta sau này. Song, trong hoàn cảnh của cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc, Việt Nam đã không thể thực hiện một cách đầy đủ công cuộc hội nhập quốc tế theo những tư tưởng nêu trên.

Sau khi thống nhất đất nước, Đại hội IV của Đảng ta (1976) đã nhấn mạnh vai trò quan trọng của kinh tế đối ngoại trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội. Đại hội khẳng định phải kết hợp phát triển kinh tế trong nước với mở rộng quan hệ kinh tế với nước ngoài. Theo đó, Việt Nam đã tích cực phát triển quan hệ và tham gia vào các cơ chế hợp tác của các nước xã hội chủ nghĩa (XHCN) trong khuôn khổ Hội đồng Tương trợ kinh tế. Sự phát triển quan hệ hợp tác kinh tế với các nước XHCN mặc dù còn mang nặng tính bao cấp nhưng đã góp phần rất quan trọng đối với công cuộc xây dựng kinh tế - xã hội và bảo vệ Tổ quốc. Mặt khác, Việt Nam cũng từng bước cải thiện quan hệ hợp tác kinh tế với nhiều nước tư bản chủ nghĩa (TBCN) dựa trên nguyên tắc bình đẳng cùng có lợi. Tuy nhiên, quá trình hợp tác quốc tế của Việt Nam trong thời kỳ chiến tranh lạnh do chịu sự chi phối của cuộc đối đầu Đông - Tây, đặc biệt là nhân tố ý thức hệ tư tưởng, nên còn những hạn chế nhất định, chưa đạt tới hiệu quả như mong muốn.

Bước vào thời kỳ đổi mới, đứng trước yêu cầu cấp bách phải nhanh chóng vượt ra khỏi tình trạng khủng hoảng kinh tế, phá thế bao vây cấm vận của chủ nghĩa đế quốc (CNĐQ) và các thế lực thù địch, đường lối mở rộng quan hệ đối ngoại và hội nhập quốc tế, trước hết trong lĩnh vực kinh tế ngày càng được bổ sung, hoàn thiện, đồng thời được thực hiện tích cực hơn.

Đại hội VI của Đảng (1986) mở ra bước ngoặt trong tư duy và thực tiễn hội nhập quốc tế của Đảng, Nhà nước ta. Đại hội chỉ rõ: “Muốn kết hợp sức mạnh của dân tộc với sức mạnh của thời đại, nước ta phải tham gia sự phân công lao động quốc tế; trước hết và chủ yếu là với Liên Xô, Lào và Campuchia, với các nước khác trong cộng đồng xã hội chủ nghĩa; đồng thời tranh thủ mở mang quan hệ kinh tế và khoa học - kỹ thuật với các nước thế giới thứ ba, các nước công nghiệp phát triển, các tổ chức quốc tế và tư nhân nước ngoài trên nguyên tắc bình đẳng cùng có lợi”. Nghị quyết Đại hội cũng xác định nội dung chính của chính sách kinh tế đối ngoại trước hết bao gồm: đẩy mạnh xuất nhập khẩu, tranh thủ vốn viện trợ và vay dài hạn, khuyến khích đầu tư trực tiếp của nước ngoài... Theo hướng này, Luật Đầu tư nước ngoài được thông qua (1987), tạo khuôn khổ pháp lý thuận lợi để mở rộng quan hệ kinh tế quốc tế, phục vụ phát triển kinh tế, khai thác những tiềm năng nội lực của đất nước.

Đại hội VII của Đảng (1991) tuyên bố đường lối đối ngoại rộng mở: “Việt Nam muốn là bạn với tất cả các nước trong cộng đồng thế giới, phấn đấu vì hoà bình, độc lập và phát triển”, mở ra bước đột phá trong quá trình hội nhập quốc tế. Đại hội xác định nguyên tắc cơ bản trong hội nhập kinh tế quốc tế là: “mở rộng, đa dạng hoá và đa phương hoá quan hệ kinh tế đối ngoại trên nguyên tắc giữ vững độc lập chủ quyền, bình đẳng, cùng có lợi”2.

Chủ trương hội nhập quốc tế trước hết về kinh tế của Đảng tiếp tục được Ban Chấp hành Trung ương và Bộ Chính trị bổ sung, làm rõ và cụ thể hơn. Nghị quyết của Hội nghị Trung ương Ba (khoá VII) ngày 29/6/1992 nhấn mạnh chủ trương mở rộng quan hệ với các tổ chức quốc tế, trong đó “cố gắng khai thông quan hệ với các tổ chức tài chính, tiền tệ quốc tế như Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF), Ngân hàng Thế giới (WB), Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB), mở rộng quan hệ với các tổ chức hợp tác khu vực, trước hết ở châu Á - Thái Bình Dương”. Bộ Chính trị ban hành Quyết định số 1005 CV/VPTW (22/11/1994) giao cho Chính phủ soạn thảo và gửi đơn xin gia nhập WTO. Theo Quyết định của Bộ Chính trị (số 493 CV/VPTW ngày 14/6/1996), Việt Nam đã gửi đơn xin gia nhập Diễn đàn APEC.

Đại hội VIII của Đảng (1996) trong khi nêu rõ đường lối đối ngoại: “Việt Nam muốn là bạn của tất cả các nước trong cộng đồng thế giới, phấn đấu vì hoà bình, độc lập và phát triển” đã đưa ra chủ trương “xây dựng nền kinh tế mở”, “đẩy nhanh quá trình hội nhập kinh tế khu vực và thế giới”. Đại hội nhấn mạnh phải mở rộng quan hệ quốc tế, hợp tác nhiều mặt, song phương và đa phương với các nước, các tổ chức quốc tế và khu vực trên nguyên tắc tôn trọng độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của nhau, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau, bình đẳng cùng có lợi. Tiếp đó, Bộ Chính trị ra Nghị quyết số 01/NQ-TƯ (18/11/1996,) “Về mở rộng và nâng cao hiệu quả kinh tế đối ngoại 5 năm 1996 - 2000”, xác định nhiệm vụ, phương hướng, giải pháp, cơ chế, chính sách chủ yếu để phát triển kinh tế đối ngoại.

Bước vào thế kỷ mới, Đại hội IX của Đảng khẳng định: "Thực hiện nhất quán đường lối ngoại độc lập tự chủ, rộng mở đa phương hoá, đa dạng hoá các quan hệ quốc tế. Việt Nam sẵn sàng là bạn, là đối tác tin cậy của các nước trong cộng đồng thế giới, phấn đấu vì hoà bình, độc lập và phát triển"3. Đại hội xác định độc lập tự chủ là cơ sở để thực hiện đường lối đối ngoại rộng mở, đa phương hoá, đa dạng hoá, đồng thời nhấn mạnh Việt Nam, không chỉ "sẵn sàng là bạn" mà còn sẵn sàng “là đối tác tin cậy của các nước" và "chủ động hội nhập kinh tế quốc tế”. Đây là sự phản ánh một nấc thang cao hơn trong nhận thức và tư duy về đối ngoại nói chung và về hội nhập quốc tế nói riêng của Đảng trong thời kỳ đổi mới. Nhằm cụ thể hoá đường lối “Chủ động hội nhập kinh tế quốc tế”, Bộ Chính trị đã ra Nghị quyết 07-NQ/TW (27/11/2001) về hội nhập kinh tế quốc tế, trong đó làm rõ mục tiêu, quan điểm chỉ đạo, nội dung và nhiệm vụ cụ thể của hội nhập quốc tế trong lĩnh vực kinh tế.

Chủ trương hội nhập quốc tế tiếp tục được hoàn thiện thêm tại Đại hội X của Đảng (4/2006). Cùng với việc nhấn mạnh sự cần thiết phải đưa các quan hệ quốc tế đã được thiết lập đi vào chiều sâu, ổn định, bền vững, Đại hội khẳng định quan điểm: “Chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế, đồng thời mở rộng hợp tác quốc tế trên các lĩnh vực khác”. Tổng kết 20 năm đổi mới, Đại hội nêu 5 bài học lớn, trong đó bài học thứ 3 là bài học về hội nhập kinh tế quốc tế và xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ. Theo đó, hội nhập kinh tế quốc tế là yêu cầu khách quan; phải chủ động, có lộ trình với bước đi tích cực, vững chắc, không do dự chần chừ, nhưng cũng không được nóng vội, giản đơn.

Đại hội XI của Đảng (2011) đánh dấu bước phát triển mới trong chủ trương hội nhập quốc tế với sự khẳng định: “Thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hoà bình, hợp tác và phát triển; đa phương hoá, đa dạng hoá quan hệ, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế; nâng cao vị thế của đất nước; vì lợi ích quốc gia, dân tộc, vì một nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa giàu mạnh; là bạn, là đối tác tin cậy và thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế, góp phần vào sự nghiệp hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội trên thế giới”4. Chủ trương “chủ động và tích cực hội nhập quốc tế” được Đại hội nêu ra thể hiện tầm nhìn chiến lược toàn diện của Đảng. Đây không chỉ là sự chủ động, tích cực hội nhập riêng ở lĩnh vực kinh tế và một số lĩnh vực khác, mà là sự tích cực mở rộng hội nhập với qui mô toàn diện, trên các lĩnh vực: kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội, quốc phòng - an ninh... Bước phát triển này trong nhận thức và tư duy đối ngoại của Đảng, phản ánh những nhu cầu cấp thiết đối với sự nghiệp cách mạng nước ta trong bối cảnh quốc tế mới. Trong quá trình hội nhập cần phát huy mọi tiềm năng và nguồn lực của mọi thành phần kinh tế, của toàn xã hội. Đó là quá trình vừa hợp tác, vừa đấu tranh và cạnh tranh, vừa có nhiều cơ hội vừa không ít thách thức, do đó cần tỉnh táo, khôn khéo và linh hoạt trong việc xử lý tính hai mặt của hội nhập tuỳ theo đối tượng, vấn đề, trường hợp, thời điểm cụ thể. Cần kết hợp chặt chẽ quá trình hội nhập quốc tế với yêu cầu giữ vững an ninh, quốc phòng, nhằm củng cố chủ quyền và an ninh đất nước5.

2. Những quan điểm cơ bản của Đảng về hội nhập quốc tế

Về mục tiêu của hội nhập quốc tế: Chủ động và tích cực hội nhập quốc tế để tranh thủ tối đa các nguồn lực từ bên ngoài (ngoại lực) phục vụ sự nghiệp bảo vệ, xây dựng và phát triển đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Trong lĩnh vực kinh tế, Nghị quyết 07 của Bộ Chính trị nêu rõ mục tiêu: “mở rộng thị trường, tranh thủ thêm vốn, công nghệ, kiến thức quản lý để đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá theo định hướng XHCN, thực hiện dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”. Quá trình hội nhập quốc tế trước hết là đáp ứng lợi ích phát triển của đất nước; mặt khác thông qua đó phát huy vai trò của nước ta trong quá trình hợp tác và phát triển khu vực và thế giới, đóng góp vào cuộc đấu tranh chung của nhân dân thế giới vì hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội.

Để hội nhập quốc tế một cách hiệu quả, Đảng ta xác định rõ nguyên tắc cơ bản và bao trùm là bảo đảm giữ vững độc lập, tự chủ và định hướng XHCN, bảo đảm vững chắc an ninh quốc gia, giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc. Giữ vững độc lập tự chủ thể hiện trước hết trong quyết sách hội nhập nhằm khai thác tối đa các lợi thế, đối phó thắng lợi với các thách thức đặt ra của quá trình hội nhập; chủ động lựa chọn các tổ chức tham gia, các đối tác và hình thức quan hệ, thời điểm tham gia hội nhập, xây dựng lộ trình hội nhập hợp lý trong khuôn khổ quy định chung; chủ động điều chỉnh chính sách cho phù hợp với mục tiêu và yêu cầu hội nhập. đường lối và chính sách đối ngoại rộng mở luôn dựa trên sự kiên trì giữ vững nguyên tắc đối ngoại cơ bản, bao trùm là vì hoà bình, độc lập, thống nhất và chủ nghĩa xã hội. Trong phát triển quan hệ đối ngoại và hội nhập quốc tế, Đảng ta còn nêu rõ 4 nguyên tắc cụ thể: Một là, tôn trọng độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau. Hai là, không dùng vũ lực hoặc đe doạ dùng vũ lực. Ba là, giải quyết các bất đồng và tranh chấp thông qua thương lượng hoà bình. Bốn là, tôn trọng lẫn nhau, bình đẳng và cùng có lợi.

Về tư tưởng chỉ đạo hội nhập quốc tế: Xuất phát từ mục tiêu và lợi ích của hội nhập quốc tế, Đảng ta đề ra tư tưởng chỉ đạo đối ngoại nói chung và hội nhập quốc tế nói riêng. Theo đó, trong hội nhập quốc tế phải giữ vững nguyên tắc vì độc lập, thống nhất và chủ nghĩa xã hội (CNXH), đồng thời phải rất sáng tạo, năng động, linh hoạt, phù hợp với vị trí, điều kiện và hoàn cảnh cụ thể của Việt Nam, cũng như diễn biến của tình hình thế giới và khu vực, phù hợp với từng đối tượng mà Việt Nam có quan hệ. Đây chính là sự kế thừa và vận dụng sáng tạo quan điểm “dĩ bất biến ứng vạn biến”, vừa kiên định về nguyên tắc chiến lược, vừa mềm dẻo, linh hoạt về sách lược trong tư tưởng Hồ Chí Minh đối với việc xử lý các vấn đề quốc tế của nước trong quá trình hội nhập. Quán triệt sâu sắc tư tưởng chỉ đạo nêu trên, Việt Nam chú trọng mở rộng quan hệ quốc tế cả song phương và đa phương nhưng có nguyên tắc, mà nguyên tắc cao nhất, đồng thời cũng là lợi ích dân tộc cao nhất, đó là độc lập dân tộc, thống nhất đất nước và phát triển theo định hướng XHCN. Đại hội XI của Đảng chỉ rõ chủ động và tích cực hội nhập quốc tế là vì lợi ích quốc gia, dân tộc, vì một nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa giàu mạnh, đồng thời góp phần tích cực vào sự nghiệp hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội trên thế giới.

Trong hội nhập quốc tế về kinh tế, Đảng ta xác định rõ 5 quan điểm chỉ đạo, bao gồm(6):

Một là: Phát huy tối đa nội lực, nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế, bảo đảm độc lập, tự chủ và định hướng XHCN, bảo vệ lợi ích dân tộc; an ninh quốc gia, giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc, bảo vệ môi trường.

Hai là: Hội nhập kinh tế quốc tế là sự nghiệp của toàn dân, trong quá trình hội nhập cần phát huy mọi tiềm năng và nguồn lực của mọi thành phần kinh tế, của toàn xã hội, trong đó kinh tế Nhà nước giữ vai trò chủ đạo.

Ba là: Hội nhập kinh tế quốc tế là quá trình vừa hợp tác vừa đấu tranh và cạnh tranh, vừa có nhiều cơ hội vừa không ít thách thức, do đó cần tỉnh táo, khôn khéo và linh hoạt trong việc xử lý tính hai mặt của hội nhập tuỳ theo đối tượng, vấn đề, trường hợp, thời điểm cụ thể; vừa phải đề phòng tư tưởng trì trệ, thụ động, vừa phải chống tư tưởng giản đơn, nôn nóng.

Bốn là: Nhận thức đầy đủ đặc điểm nền kinh tế nước ta, từ đó đề ra kế hoạch và lộ trình hợp lý, vừa phù hợp với trình độ phát triển của đất nước, vừa đáp ứng những quy định của các tổ chức kinh tế quốc tế mà nước ta tham gia.

Năm là: Kết hợp chặt chẽ quá trình hội nhập kinh tế quốc tế với yêu cầu giữ vững an ninh, quốc phòng, nhằm củng cố chủ quyền và an ninh đất nước, cảnh giác với những âm mưu thông qua hội nhập để thực hiện ý đồ diễn biến hoà bình đối với nước ta.

Về nội dung, hội nhập quốc tế là thúc đẩy phát triển quan hệ song phương và đa phương với các nước trên thế giới, tham gia các tổ chức khu vực và thế giới trong các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hoá, khoa học - kỹ thuật, các phong trào chính trị-xã hội... nhằm đáp ứng lợi ích phát triển và nâng cao vị thế quốc tế của nước ta. Việt Nam. Trong quá trình hội nhập quốc tế, Đảng và Nhà nước ta chú trọng những hướng hoạt động đối ngoại như: Tăng cường quan hệ với các nước láng giềng và các nước lớn; thúc đẩy quan hệ hợp tác toàn diện và có hiệu quả với các nước ASEAN, các nước châu Á - Thái Bình Dương; phát triển quan hệ hợp tác song phương tin cậy với các đối tác chiến lược. Củng cố quan hệ với các đảng cộng sản, công nhân, đảng cánh tả, các phong trào độc lập dân tộc và tiến bộ trên thế giới; từng bước mở rộng quan hệ với các đảng cầm quyền. Tham gia các cơ chế hợp tác chính trị, an ninh song phương và đa phương vì lợi ích quốc gia trên cơ sở tôn trọng các nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế, Hiến chương Liên Hợp quốc. Thực hiện tốt các công việc tại các tổ chức quốc tế, đặc biệt là Liên Hợp quốc. Tích cực hợp tác cùng các nước, các tổ chức khu vực và quốc tế đối phó với những thách thức an ninh phi truyền thống, nhất là tình trạng biến đổi khí hậu. Phát triển công tác đối ngoại nhân dân theo phương châm: “chủ động, linh hoạt, sáng tạo và hiệu quả”, tích cực tham gia các diễn đàn và hoạt động của nhân dân thế giới. Tăng cường vận động viện trợ và nâng cao hiệu quả hợp tác với các tổ chức phi chính phủ nước ngoài để phát triển kinh tế - xã hội. Đẩy mạnh công tác văn hoá - thông tin đối ngoại, góp phần tăng cường sự hợp tác, tình hữu nghị giữa nhân dân ta với nhân dân các nước. Chủ động tham gia cuộc đấu tranh chung vì quyền con người, sẵn sàng đối thoại với các nước, các tổ chức quốc tế và khu vực có liên quan về vấn đề nhân quyền; song đồng thời cũng kiên quyết làm thất bại các âm mưu, hành động xuyên tạc và lợi dụng các vấn đề “dân chủ”, “nhân quyền”, “dân tộc”, “tôn giáo” hòng can thiệp vào công việc nội bộ, làm mất an ninh và ổn định chính trị của nước ta...

Phương châm cơ bản để tiến hành hội nhập quốc tế là bảo đảm nguyên tắc cùng có lợi trong quan hệ song phương và đa phương. Theo nguyên tắc này, một mặt không để thiệt hại đến lợi ích cần có và hợp lý mà ta được hưởng, mặt khác phải chấp nhận một sự chia sẻ hợp lý lợi ích cho các đối tác tuỳ theo mức độ đóng góp của các bên tham hợp tác. Trong hợp tác liên kết và hội nhập quốc tế cần giữ vững nguyên tắc vừa hợp tác vừa đấu tranh, vừa kiên quyết vừa mềm dẻo để đạt tới mục tiêu, bảo vệ được lợi ích chính đáng của đất nước; đồng thời phải luôn cảnh giác, không mơ hồ trước những âm mưu và thủ đoạn lợi dụng hợp tác quốc tế để can thiệp, áp đặt về chính trị.

II. KẾT QUẢ HỘI NHẬP QUỐC TẾ

1. Thành tựu

Triển khai đường lối, chính sách của Đảng về mở rộng quan hệ đối ngoại và hội nhập quốc tế trong thời kỳ đổi mới, nước ta đã đạt được những thành tựu rất quan trọng, góp phần phát triển kinh tế - xã hội, giữ vững môi trường hoà bình, ổn định an ninh quốc gia, nâng cao vị thế của đất nước trên trường quốc tế. Trong quan hệ song phương, nước ta đã củng cố và phát triển quan hệ hữu nghị hợp tác toàn diện với các nước láng giềng. Quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào tiếp tục có nhiều bước phát triển mới. Hợp tác ngày càng tiến triển theo hướng thực chất hơn, phát huy thế mạnh và tiềm năng của mỗi nước, bình đẳng, cùng có lợi, dành sự ưu tiên ưu đãi hợp lý cho nhau, phù hợp với tính chất của quan hệ đặc biệt giữa hai nước. Hiện nay, Việt Nam là một trong những đối tác kinh tế hàng đầu của Lào với tổng vốn đầu tư đăng ký gần 4 tỷ USD, kim ngạch thương mại hai chiều đạt gần 1 tỷ USD.

Quan hệ Việt Nam - Campuchia được thúc đẩy trên cơ sở phương châm chỉ đạo “Hợp tác láng giềng tốt đẹp, đoàn kết hữu nghị truyền thống, ổn định lâu dài". Hai nước đã ký nhiều hiệp định hợp tác trong các lĩnh vực, trong đó đáng chú ý nhất và quan trọng nhất là việc Campuchia cam kết công nhận và tôn trọng các hiệp ước, hiệp định biên giới đã ký với Việt Nam những năm 80. Hợp tác kinh tế tiến triển thuận lợi, đến 2011 kim ngạch thương mại hai chiều đã đạt gần 2 tỷ USD.

Quan hệ Việt Nam - Trung Quốc phát triển nhanh và toàn diện. Khuôn khổ quan hệ được chính thức xác định với 16 chữ: "Láng giềng hữu nghị, hợp tác toàn diện, ổn định lâu dài, hướng tới tương lai", tiếp đó được bổ sung thêm tinh thần 4 tốt: "Láng giềng tốt, bạn bè tốt, đồng chí tốt, đối tác tốt" và gần đây là “Quan hệ đối tác hợp tác chiến lược toàn diện”. Hai bên có nhận thức chung rộng rãi, chia sẻ sự tương đồng quan điểm đối với nhiều vấn đề quốc tế và khu vực. Hợp tác kinh tế, thương mại Việt - Trung tăng trưởng nhanh, hiện mậu dịch hai chiều đã vượt 30 tỷ USD. Việc hai nước ký hiệp ước về biên giới trên đất liền, các hiệp định về phân định Vịnh Bắc Bộ và hợp tác nghề cá trong Vịnh Bắc Bộ tạo điều kiện thuận lợi xây dựng biên giới hai nước thành đường biên giới hoà bình, ổn định lâu dài để phát triển.

Nhận thức rõ vị trí của ASEAN, tầm quan trọng của hoà bình, ổn định và hội nhập khu vực, từ sau khi gia nhập ASEAN, Việt Nam đã ngày càng tham gia tích cực và đầy đủ vào mọi hoạt động của ASEAN. Qua đó, Việt Nam có nhiều đóng góp quan trọng trên các lĩnh vực hợp tác chính của ASEAN, góp phần tạo dựng nền tảng vững chắc để ASEAN đi đến quyết định lịch sử là tăng cường liên kết tiến tới xây dựng Cộng đồng ASEAN vào năm 2015. Các nước ASEAN hiện có hơn 1 nghìn dự án đầu tư triển khai ở Việt Nam, với số vốn đầu tư trên 13 tỉ USD. Việt Nam cũng có trên 120 dự án đang triển khai ở các nước thành viên ASEAN với tổng vốn gần 1 tỷ USD. Mặt khác, Việt Nam còn tham gia với tinh thần trách nhiệm vào các cơ chế hợp tác đa phương của ASEAN với các đối tác bên ngoài như: ASEAN+1, ASEAN+3, Hợp tác Á - Âu (ASEM), Hội nghị Thượng đỉnh Đông Á…

Bên cạnh sự phát triển quan hệ với các nước láng giềng và khu vực, Việt Nam năng động cải thiện quan hệ với các nước, nhất là các nước lớn và các tổ chức quốc tế trong quá trình hội nhập.

Quan hệ Việt- Mỹ được bình thường hoá có ý nghĩa chiến lược đối với yêu cầu an ninh và phát triển của nước ta, tác động mạnh đến quan hệ của Việt Nam với tất cả các nước khác, nhất là các nước phương Tây. Hai nước đã ký Hiệp định thương mại năm 2000 và năm 2006 chính quyền Mỹ chính thức ban hành đạo luật về thiết lập Quy chế quan hệ thương mại bình thường vĩnh viễn (PNTR) với Việt Nam, đánh dấu việc bình thường hoá hoàn toàn quan hệ song phương giữa hai nước, tạo thuận lợi cho Việt Nam gia nhập WTO. Năm 2011, kim ngạch mậu dịch hai chiều vượt 18 tỉ USD, hiện Mỹ xếp thứ 6 trong số 85 nước và vùng lãnh thổ có đầu tư ở Việt Nam. Mỹ hiện đang là thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam.

Đối với Liên bang Nga, Việt Nam đã chủ động đề ra những biện pháp nhằm duy trì và thúc đẩy quan hệ hợp tác trên nhiều lĩnh vực, kể cả an ninh quốc phòng. Hai nước đã xác lập mối quan hệ đối tác chiến lược (2001), cùng với một loạt các hiệp định về hợp tác kinh tế - thương mại, khoa học kỹ thuật, dầu khí, khuyến khích và bảo hộ đầu tư, tổ hợp công nông nghiệp. Gần đây, kim ngạch buôn bán giữa hai nước và đầu tư của Nga vào Việt Nam có chiều hướng tăng, hiện kim ngạch mậu dịch đã vượt 1,7 tỷ USD.

Với quan hệ chính trị phát triển tốt đẹp, hợp tác về kinh tế, thương mại, khoa học kỹ thuật, an ninh quốc phòng giữa Việt Nam và Ấn Độ có bước phát triển thể hiện sự tin cậy lẫn nhau. Hai nước ký Tuyên bố chung về Đối tác chiến lược mới (7/2007). Từ năm 2007 đến nay, Ấn Độ đã lọt vào nhóm 10 nước có vốn đầu tư lớn nhất ở Việt Nam, đồng thời Việt Nam cũng trở thành nước tiếp nhận FDI lớn nhất từ Ấn Độ ở Đông Nam Á.

Việt Nam tiếp tục thúc đẩy quan hệ hợp tác nhiều mặt với Nhật Bản, nhất là trên các lĩnh vực kinh tế, thương mại, đầu tư, viện trợ phát triển, văn hoá, du lịch, chuyển giao công nghệ. Hiện nay Nhật là bạn hàng lớn nhất, là nước cung cấp viện trợ phát triển nhiều nhất và đầu tư lớn ở Việt Nam. Quan hệ Việt Nam - Nhật Bản phát triển năng động trong khuôn khổ quan hệ đối tác chiến lược vì hoà bình và phồn vinh ở châu Á. Nhật Bản tiếp tục là nước viện trợ phát triển (ODA) song phương lớn nhất cho Việt Nam với tổng giá trị đạt 14 tỷ USD, trong đó 1,5 tỷ USD là viện trợ không hoàn lại.

Với Liên minh châu Âu (EU), Việt Nam đã ký với hầu hết các nước EU Hiệp định khung về hợp tác, Hiệp định khuyến khích và bảo hộ đầu tư, Hiệp định tránh đánh thuế hai lần... tạo cơ sở pháp lý cho xây dựng và phát triển mối quan hệ hợp tác ổn định, lâu dài. Việt Nam đã thiết lập quan hệ đối tác chiến lược với Tây Ban Nha, Anh, Đức, Hà Lan. Phát triển quan hệ song phương đã góp phần thúc đẩy quan hệ hợp tác Việt Nam - EU..

Hội nhập kinh tế quốc tế là một trong những nội dung quan trọng hàng đầu trong quá trình hội nhập quốc tế của nước ta. Chúng ta đã thực sự bắt đầu triển khai mạnh việc tham gia hội nhập kinh tế với khu vực và quốc tế kể từ khi gia nhập ASEAN và các định chế kinh tế, tài chính thương mại của ASEAN như: Khu vực mậu dịch tự do ASEAN (AFTA), Khu vực đầu tư ASEAN (AIA); ký Hiệp định khung với EU (1995); tham gia Diễn đàn Hợp tác Á - Âu (ASEM) năm 1996, Diễn đàn APEC năm 1998; ký Hiệp định Thương mại với Hoa Kỳ (2000) dựa trên những nguyên tắc cơ bản của WTO và cuối năm 2006 đã chính thức trở thành thành viên thứ 150 của WTO. Nhìn tổng quát, tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế (HNKTQT) của nước ta đã xúc tiến với bước đi khá vững chắc và đạt được kết quả bước đầu rất đáng khích lệ. Trước hết, Việt Nam đã mở rộng quan hệ kinh tế với hàng loạt quốc gia và khu vực, trở thành thành viên của các tổ chức kinh tế, thương mại chủ chốt, tạo điều kiện thuận lợi cho HNKTQT ngày càng hiệu quả hơn.

Việt Nam đã khắc phục được tình trạng khủng hoảng thị trường do các đối tác truyền thống ở Liên Xô và các nước Đông Âu bị thu hẹp đột ngột, và do tác động tiêu cực từ cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ khu vực bắt đầu từ năm 1997.. Một thành tựu nổi bật là đã thu hút được nguồn vốn đầu tư nước ngoài khá lớn, trước hết là FDI. Đến nay, nước ta đã có quan hệ ngoại giao chính thức với 175 nước, có quan hệ thương mại với hơn 200 nước và vùng lãnh thổ, thu hút được hơn 10 nghìn dự án FDI từ 85 nước và lãnh thổ với tổng số vốn đăng ký hơn 160 tỷ USD. Nhiều nhà đầu tư lớn, các tập đoàn xuyên quốc gia đã và đang đặc biệt quan tâm đến Việt Nam. Tại các Hội nghị tư vấn tài trợ cho Việt Nam, tổng cam kết tài trợ liên tục tăng với các kỷ lục mới, năm 2006 đạt hơn 4,4 tỷ USD, năm 2007 đạt 5,42 tỷ USD, năm 2009 đạt trên 8 tỷ, các năm 2010-2011 tổng cam kết tài trợ vẫn duy trì ở mức cao. Đây là sự thể hiện niềm tin và sự tín nhiệm của cộng đồng tài trợ quốc tế đối với Việt Nam, đồng thời phản ánh quyết tâm cao độ của Việt Nam trên đường cải cách và phát triển. Bên cạnh các thị trường chủ lực là Mỹ, Nhật Bản, ASEAN, Trung Quốc, Hàn Quốc, EU, Ôxtrâylia, hàng hoá Việt Nam đã vươn ra củng cố thế đứng trên nhiều thị trường khác như Nga, Trung Đông, Mỹ Latinh và châu Phi... Mặt khác, với việc mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại trong quá trình hội nhập, nước ta ngày càng năng động tiếp thu khoa học và công nghệ, kỹ năng quản lý, góp phần đào tạo một đội ngũ cán bộ quản lý và cán bộ kinh doanh. Hội nhập kinh tế quốc tế còn đưa lại một thành tựu đáng chú ý là từng bước đưa hoạt động của các doanh nghiệp và cả nền kinh tế vào môi trường cạnh tranh, tạo tư duy làm ăn mới, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh.

Hoạt động ngoại giao đa phương có sự trưởng thành rõ rệt. Tại các diễn đàn quốc tế và khu vực như Liên Hợp quốc, Phong trào Không liên kết, ASEAN, ARF, ASEM, Cộng đồng các nước có sử dụng tiếng Pháp..., Việt Nam đã phối hợp với nhiều nước, trước hết là các nước đang phát triển đấu tranh bảo vệ hoà bình, bảo vệ các nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế và Hiến chương Liên Hợp quốc. Việt Nam đã được bầu vào Hội đồng chấp hành Tổ chức Kinh tế - Xã hội, trở thành uỷ viên hội đồng điều hành của nhiều tổ chức quan trọng trực thuộc Liên Hợp quốc như UNDP, UNFPA, UNICEF, Uỷ ban Giải trừ quân bị. Đặc biệt, thành tựu ấn tượng nhất trên lĩnh vực ngoại giao đa phương là việc Việt Nam được bầu làm uỷ viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2008-2009 với số phiếu áp đảo, đánh dấu quá trình hội nhập quốc tế của Việt Nam đã trở nên sâu rộng. Nếu việc tham gia Tổ chức thương mại thế giới (WTO) mở đầu sự hội nhập đầy đủ vào nền kinh tế quốc tế, thì khi trở thành thành viên Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc, Việt Nam đã bắt đầu hội nhập đầy đủ vào đời sống chính trị quốc tế. Với vị thế và trọng trách này, Việt Nam không chỉ vươn lên tầm cao trong quan hệ đối ngoại ngoại, mà còn có tiếng nói quan trọng tại Liên Hợp quốc - diễn đàn quốc tế đa phương lớn nhất trên hành tinh. Thông qua đó, Việt Nam có điều kiện thuận lợi tham gia giải quyết những vấn đề chính trị- xã hội, an ninh quốc tế có liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp, đồng thời đóng góp tích cực hơn và nhiều hơn trong nỗ lực duy trì hoà bình, ổn định và phát triển trên thế giới.

Những thành tựu to lớn mà nước ta đạt được trong hội nhập quốc tế, trước hết trên lĩnh vực kinh tế, là kết quả của cả một quá trình thực hiện nhất quán đường lối, chính sách đối ngoại rộng mở, đa dạng hoá, đa phương hoá với chủ trương chủ động và tích cực hội nhập ngày càng sâu rộng với khu vực và thế giới. Những thành tựu đó đã tạo thêm niềm tin để nước ta càng vững bước trên đường hội nhập quốc tế, tận dụng tốt nhất những cơ hội mới đang mở ra. Chủ động và tích cực hội nhập quốc tế trong bối cảnh toàn cầu hoá tạo điều kiện thuận lợi cho nước ta tham gia nhanh và hiệu quả vào hệ thống phân công lao động quốc tế, tận dụng mọi nguồn lực phục vụ mục tiêu phát triển. Do vậy, chúng ta có cơ hội đẩy nhanh quá trình điều chỉnh, tái cơ cấu cấu kinh tế, chuyển dịch cơ cấu lao động và rút ngắn thời gian vật chất của công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá.

2. Hạn chế và thách thức

Bên cạnh những thành tựu lớn, quá trình hội nhập quốc tế của nước ta cũng còn những khó khăn, hạn chế nhất định.

Trong một số lĩnh vực quan hệ đối ngoại và hội nhập quốc tế vào những thời điểm cụ thể, sự đổi mới tư duy còn chậm, chưa đáp ứng được tốt nhất yêu cầu phát triển trong nước và phù hợp với những chuyển biến của tình hình thế giới. Một số mối quan hệ đối ngoại đã được xác lập nhưng vẫn còn những biểu hiện hạn chế về tính chiều sâu, vẫn còn cần có thêm các nhân tố cho sự phát triển vững chắc, ổn định, lâu dài.

Mối quan hệ giữa kinh tế, an ninh, chính trị, đối ngoại trong một số trường hợp cụ thể chưa gắn kết thật mật thiết với nhau. Sau thời kỳ mở rộng quan hệ đối ngoại, chưa có nhiều bước đột phá mới nhằm khai thác tốt nhất quan hệ lợi ích đan xen tuỳ thuộc lẫn nhau giữa các nước, nhất là với một số nước lớn có liên quan đến lợi ích chiến lược của nước ta.

Trong công tác hội nhập quốc tế, tiến độ của công việc chuẩn bị về pháp lý và thể chế vẫn còn khoảng cách so với yêu cầu hội nhập, với những chuyển biến mới của tình hình thế giới và khu vực. Nền tảng để phát triển nền kinh tế bền vững chưa vững chắc, môi trường thu hút đầu tư, năng lực giải ngân các dự án đầu tư nước ngoài và khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp cũng như của cả nền kinh tế còn hạn chế...

Việc xử lý một vài vấn đề trong nước chưa tính toán thật đầy đủ đến phản ứng và tác động quốc tế nhằm hạn chế việc bị các thế lực thù địch bên ngoài lợi dụng gây khó khăn về ngoại giao. Công tác thông tin, tuyên truyền đối ngoại còn biểu hiện chưa nhạy bén, hình thức chưa sinh động, hấp dẫn; cơ chế phối hợp giữa các ngành, các cấp chưa đồng bộ, hiệu quả chưa như mong muốn.

Công tác đào tạo, bồi dưỡng, xây dựng đội ngũ cán bộ làm công tác đối ngoại và hội nhập quốc tế nhìn chung còn không ít bất cập, chưa thật sự ngang tầm chiến lược của thời kỳ chủ động và tích cực hội nhập sâu rộng với khu vực và thế giới. Công tác nghiên cứu cơ bản, dự báo chiến lược trong lĩnh vực đối ngoại và hội nhập quốc tế còn hạn chế.

Tiến trình hội nhập quốc tế của nước ta hiện nay không chỉ có thời cơ và thuận lợi, mà còn phải đối diện với nhiều thách thức lớn. Điều quan trọng là cần tỉnh táo, nhận thức rõ những thách thức phải đối mặt để từ đó tìm ra biện pháp khắc phục hữu hiệu.

Trước hết, thách thức lớn nhất và dễ nhận thấy nhất xuất phát từ chỗ nước ta là một nước đang phát triển có trình độ kinh tế thấp, quản lý nhà nước còn nhiều yếu kém và bất cập, doanh nghiệp và đội ngũ doanh nhân còn nhỏ bé, sức cạnh tranh của hàng hoá, dịch vụ nói riêng và của toàn bộ nền kinh tế nói chung còn nhiều hạn chế, hệ thống chính sách kinh tế, thương mại chưa hoàn chỉnh... Cho nên, nước ta sẽ gặp khó khăn lớn trong cạnh tranh cả ở trong nước cả trên trường quốc tế, cạnh tranh sẽ diễn ra gay gắt hơn, với nhiều đối thủ hơn, trên bình diện sâu hơn, rộng hơn.

Thứ hai, trong quá trình hội nhập quốc tế, cũng như các nước đang phát triển khác, nước ta phải chịu sự ràng buộc của các quy tắc kinh tế, thương mại, tài chính - tiền tệ, đầu tư... chủ yếu do các nước phát triển áp đặt; phải chịu sức ép cạnh tranh bất bình đẳng và sự điều tiết vĩ mô bất hợp lý của các nước phát triển hàng đầu.

Thứ ba, trên lĩnh vực xã hội, quá trình hội nhập quốc tế trong xu thế toàn cầu hoá đặt ra một thách thức nan giải đối với nước ta trong việc thực hiện chủ trương tăng trưởng kinh tế đi đôi với xoá đói, giảm nghèo, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội. Trong tình hình như đã nêu, cơ cấu xã hội có thể biến động phức tạp và khó lường, làm cho sự phân tầng, phân hoá xã hội cũng trở thành yếu tố tiêu cực đối với bản thân sự phát triển của đất nước.

Thứ tư, hội nhập quốc tế đặt ra những vấn đề mới về bảo vệ an ninh quốc gia, giữ gìn bản sắc văn hoá và truyền thống tốt đẹp của dân tộc. Về an ninh quốc gia, các nguy cơ đe doạ an ninh ngày càng phức tạp hơn, bên cạnh các hiểm hoạ mang tính truyền thống, đã xuất hiện các nguy cơ phi truyền thống (an ninh môi trường, dịch bệnh, khủng bố...). Về văn hoá, hội nhập quốc tế đặt nước ta trước nguy cơ bị các giá trị ngoại lai, nhất là các giá trị văn hoá phương Tây xâm nhập ồ ạt, làm tổn hại bản sắc văn hoá dân tộc.

Thứ năm, trên lĩnh vực chính trị, tiến trình hội nhập quốc tế ở nước ta cũng đang đối diện trước thách thức của một số nguy cơ đe doạ độc lập dân tộc, chủ quyền quốc gia, sự lựa chọn định hướng chính trị, vai trò của nhà nước... Hội nhập quốc tế đối với nước ta rõ ràng không thể tách rời cuộc đấu tranh chống "diễn biến hoà bình" của các thế lực thù địch trên nhiều lĩnh vực.

III. VẤN ĐỀ GIỮ VỮNG ĐỘC LẬP DÂN TỘC VÀ ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA TRONG QUÁ TRÌNH HỘI NHẬP QUỐC TẾ Ở NƯỚC TA

1. Nhận thức chung

Trong bối cảnh hội nhập quốc tế, nền độc lập dân tộc và sự phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa của nước ta luôn đứng trước thách thức của hàng loạt những nguy cơ rất tiềm tàng và đa dạng. Những nguy cơ đó vừa mang tính truyền thống vừa phi truyền thống với những dạng thức mới, không chỉ xuất hiện từ những diễn biến của tình hình thế giới và khu vực, mà còn nảy sinh chính từ trong quá trình phát triển của đất nước. Hiểm hoạ bên ngoài và nguy cơ bên trong luôn tương tác với nhau và trong nhiều trường hợp chuyển hoá lẫn nhau một cách rất phức tạp, nhạy cảm. Nền tảng của độc lập dân tộc bị thách thức gay gắt trên cả hai phương diện: quyền tối cao trong việc tự định đoạt các vấn đề trong nước và quyền được bình đẳng trong quan hệ quốc tế, cũng như quyền tự quyết định các vấn đề đối ngoại của quốc gia dân tộc. Bởi vậy, để bảo vệ vững chắc độc lập dân tộc, giữ vững định hướng XHCN cần phải có cách tiếp cận linh hoạt, đúng đắn, tìm ra hệ các giải pháp khả thi, vừa mang tính tổng thể, toàn diện vừa mang tính cụ thể nhằm tăng cường “sức đề kháng quốc gia”, hoá giải thành công các nguy cơ trong tiến trình hội nhập quốc tế.

Có thể thấy, vấn đề cơ bản nhất vừa có ý nghĩa trước mắt vừa mang tầm chiến lược lâu dài đối với nước ta nhằm giữ vững độc lập, tự chủ và định hướng XHCN trong điều kiện hội nhập là tăng cường sự lãnh đạo của Đảng để tập trung mọi nỗ lực xây dựng sức mạnh tổng hợp quốc gia. Do đó, mọi chủ trương, chính sách, đường lối của Đảng và Nhà nước, nhất thiết phải được hoạch định trên cơ sở lấy lợi ích quốc gia dân tộc làm ưu tiêu số 1, phải đặt trong mối quan hệ gắn bó mật thiết, hữu cơ giữa những yêu cầu cấp thiết bên trong và tác động của bối cảnh bên ngoài. Đồng thời, trong hoạch định và thực hiện chủ trương, đường lối chính sách trên các mặt phải thấy rõ mối quan hệ biện chứng giữa xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, giữa an ninh và phát triển, giữa độc lập tự chủ và hội nhập quốc tế, lấy nhiệm vụ xây dựng kinh tế là trọng tâm hàng đầu, phát huy tối đa nội lực, tranh thủ cao độ ngoại lực, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại; coi thế và lực của đất nước là chỗ dựa vững chắc nhất cho tiến trình hội nhập.

Để tăng cường sức mạnh tổng hợp quốc gia, nước ta cần chú trọng phát triển trên cả hai phương diện: “sức mạnh cứng”, tức là thực lực mọi mặt trong nước và “sức mạnh mềm” là ảnh hưởng trên trường quốc tế. Đây thực chất là quá trình thực hiện thành công mục tiêu tổng quát phát triển kinh tế - xã hội trong 5 năm tới được Đại hội Đảng lần thứ XI xác định là: "Tiếp tục nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng; đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới; xây dựng hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh; phát huy dân chủ và sức mạnh đại đoàn kết dân tộc; phát triển kinh tế nhanh, bền vững; nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân; giữ vững ổn định chính trị-xã hội; tăng cường hoạt động đối ngoại; bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ; tạo nền tảng để đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại"7.

Sức mạnh chính trị của nước ta là sức mạnh của cả hệ thống chính trị, của khối đại đoàn kết toàn dân tộc với hạt nhân lãnh đạo của Đảng. Kinh nghiệm lịch sử cách mạng từng chứng tỏ, trong điều kiện nền tảng vật chất- kỹ thuật còn nhiều hạn chế, nhưng dưới sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng, dân tộc ta với tinh thần tự chủ, tự lực, tự cường, đã phát huy những ưu việt của thể chế chính trị, đoàn kết thống nhất tạo nên nguồn sức mạnh to lớn, vượt qua những thử thách khắc nghiệt nhất, bảo vệ vững chắc độc lập dân tộc, chủ quyền quốc gia và những thành quả cách mạng đã giành được, tiếp tục kiên định mục tiêu đi lên xây dựng CNXH. Trong bối cảnh toàn cầu hoá và hội nhập quốc tế hiện nay, bên cạnh việc tăng cường sức mạnh vật chất, kinh tế, thì việc tăng cường sức mạnh chính trị, củng cố sự đồng thuận xã hội, phát triển khối đoàn kết toàn dân tộc vẫn là một trong những nhân tố mang tính quyết định nhất đối với bảo vệ độc lập, chủ quyền và định hướng XHCN ở nước ta. Điều đó xét cho cùng lại phụ thuộc vào năng lực lãnh đạo của Đảng về mọi mặt, đòi hỏi Đảng tiếp tục đổi mới mạnh mẽ và toàn diện, thực sự trong sạch, vững mạnh ngang tầm với những nhiệm vụ lịch sử đang đặt ra trước vận mệnh dân tộc.

Sự lãnh đạo của Đảng trong vấn đề bảo vệ độc lập dân tộc cần được tăng cường trên cơ sở tư duy mới về vấn đề này, gắn với những vấn đề mới đặt ra trong xu thế phát triển của toàn cầu hoá. Theo đó, độc lập dân tộc của nước ta hiện nay, không chỉ thuần tuý là tính bất khả xâm phạm chủ quyền toàn vẹn lãnh thổ, lãnh hải, khoảng không và môi trường tự nhiên, chủ quyền trong lĩnh vực văn hoá, mà còn là sự an toàn và không bị đe doạ đối với chế độ chính trị, vai trò lãnh đạo của Đảng và định hướng chính trị xã hội chủ nghĩa, cũng như đối với quyền được duy trì, bảo vệ những lợi ích chính đáng của công dân, của thể nhân và Nhà nước ở ngoài nước. Sự chuyển biến nhận thức như đã nêu phải đi đôi với việc nâng cao một bước mới về chất trong ý thức và trách nhiệm chính trị của toàn bộ hệ thống chính trị, cũng như của mỗi công dân đối với nghĩa vụ bảo vệ độc lập dân tộc và chủ quyền quốc gia trong quá trình hội nhập quốc tế.

Hệ thống chính trị nước ta tiếp tục được đổi mới mạnh mẽ theo hướng đồng bộ và hiệu quả từ phương thức hoạt động đến cơ chế tương tác và vận hành của mỗi bộ phận cấu thành, cùng với sự tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng. Trong quá trình xây dựng, hoàn thiện hệ thống chính trị cần nghiên cứu, tham khảo và tiếp thu một cách chọn lọc các kinh nghiệm tiên tiến của nước ngoài. Đổi mới và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam của dân, do dân và vì dân phải được chú trọng một cách thực chất hơn nữa. Sự vận hành thông suốt, hiệu quả và hiệu lực cao của hệ thống chính trị là yếu tố cơ bản, then chốt nhất để tăng cường sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc và sức mạnh chính trị của đất nước, đủ năng lực xử lý linh hoạt, hiệu quả những vấn đề phát triển của đất nước nói chung, cũng như những vấn đề liên quan đến bảo vệ độc lập dân tộc và con đường xây dựng CNXH ở Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu hoá. Hệ thống chính trị vững mạnh sẽ tạo sức đề kháng cao và làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hoà bình” của các thế lực đế quốc thù địch, đồng thời đẩy lùi nguy cơ “tự diễn biến” từ bên trong.

Ngày nay, sự phát triển kinh tế được coi là yếu tố hàng đầu quyết định sức mạnh tổng hợp quốc gia. Trong bối cảnh toàn cầu hoá, một trong những thách thức lớn nhất đối với nước ta, đó là nguy cơ tụt hậu về kinh tế do trình độ xuất phát điểm thấp. Sự tụt hậu, nghèo nàn, chậm phát triển về kinh tế là nguyên nhân vừa sâu xa, vừa cơ bản và trực tiếp nhất khiến bất kỳ dân tộc nào cũng phải đối mặt hiểm hoạ rơi vào vòng lệ thuộc nước ngoài trên nhiều phương diện. Do đó, đối với nước ta, nhiệm vụ xây dựng, phát triển kinh tế càng phải thực sự được đặt cao là trọng tâm hàng đầu, nhằm tăng cường sức mạnh vật chất - kỹ thuật làm nền tảng bảo vệ độc lập dân tộc. Sức mạnh kinh tế được thể hiện trước hết ở thực lực, tiềm năng và cơ cấu hiện đại của nền kinh tế. Ưu tiên số 1 trong phát triển kinh tế ở nước ta hiện nay là đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá, xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng XHCN. Phát triển kinh tế gắn chặt với phát triển văn hoá và bảo vệ môi trường; thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội trong từng chính sách phát triển. Đây là một yêu cầu tất yếu đặt ra nhằm giữ vững định hướng XHCN trong nền kinh tế thị trường, tránh nguy cơ chệch hướng trong phát triển kinh tế nói riêng và trong toàn bộ quá trình đổi mới nói chung.

Trong tiến trình hội nhập quốc tế, phải quán triệt một cách sâu sắc và đầy đủ quan điểm của Đảng về gắn chặt việc xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ với chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế; kết hợp giữa phát triển kinh tế với quốc phòng, an ninh và đối ngoại. Xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội nhập quốc tế là một nhân tố không thể thiếu để bảo vệ độc lập dân tộc và định hướng XHCN. Trong đó, trước hết và chủ yếu phải đảm bảo độc lập tự chủ về đường lối, chính sách, tham khảo và tiếp thu kinh nghiệm của nước ngoài nhưng không bị áp đặt từ nước ngoài hoặc bị lệ thuộc vào nước ngoài. Mặt khác, phải có tiềm lực kinh tế đủ mạnh, có cơ cấu kinh tế hợp lý, có sức cạnh tranh, phát triển kết cấu hạ tầng ngày càng hiện đại, có một số ngành công nghiệp then chốt; đồng thời phải có năng lực nội sinh về khoa học và công nghệ, đủ khả năng ứng dụng công nghệ hiện đại; giữ vững ổn định kinh tế - tài chính vĩ mô, bảo đảm an ninh lương thực, an toàn năng lượng, tài chính, môi trường.

Yêu cầu hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng đòi hỏi nhất thiết phải giải quyết thành công một loạt mối quan hệ: giữa mở rộng quan hệ đối ngoại với giữ vững ổn định và phát triển đất nước; giữa hội nhập quốc tế với giữ vững độc lập dân tộc, chủ quyền quốc gia, giữ gìn và phát triển bản sắc văn hoá dân tộc; giữa mở rộng quan hệ đối ngoại với xây dựng lực lượng, tạo lập thế trận quốc phòng - an ninh dưới sự lãnh đạo của Đảng, tổ chức quản lý của Nhà nước,… Xét về thực chất, đây là việc xử lý mối quan hệ giữa an ninh và phát triển trong quá trình hội nhập quốc tế.

Giữ vững độc lập dân tộc và định hướng XHCN trong hội nhập quốc tế đặt ra vấn đề phải hết sức tránh tình trạng bị lệ thuộc vào bất cứ đối tác nào, thị trường nào, không đẩy các đối tác vào tình thế phải lựa chọn giữa ta và nước khác, kiên quyết không để rơi vào tình trạng đối đầu, bị cô lập. Trên cơ sở phương châm đa dạng hoá, đa phương hoá, cần quán triệt sâu sắc nhận thức mới về đối tác và đối tượng, tiếp tục tạo tương tác tích cực giữa các đối tác trong quan hệ với nước ta, tạo được thế đan xen lợi ích, xác định đúng các ưu tiên đối ngoại. Xuất phát từ lợi ích quốc gia dân tộc lâu dài và trước mắt, trong từng lĩnh vực và từng thời kỳ, từng hoàn cảnh điều kiện đất nước và tình hình thế giới mà có chính sách và các biện pháp cụ thể trong quan hệ với từng đối tượng, đối tác; chủ động thiết lập thêm quan hệ đối tác chiến lược với các nước, nhất là các nước lớn.

2. Một số giải pháp nhằm giữ vững độc lập dân tộc và định hướng xã hội chủ nghĩa trong quá trình hội nhập quốc tế

Sự nghiệp bảo bệ độc lập dân tộc và giữ vững định hướng XHCN ở nước ta trong thời kỳ hội nhập đòi hỏi sự phối hợp nỗ lực của tất cả các cấp, các ngành từ trung ương đến địa phương, của toàn bộ hệ thống chính trị với việc xây dựng và thực thi một hệ giải pháp toàn diện, đồng bộ, cụ thể, nhằm hoá giải thành công những nguy cơ, thách thức đang đặt ra. Trong quá trình đổi mới, Đảng và Nhà nước ta đã sớm nhận thức rõ bốn nguy cơ lớn đối với an ninh, ổn định và sự phát triển của đất nước. Ngoài quyết tâm chính trị cao, chúng ta đã có nhiều cố gắng lớn trong hành động thiết thực để từng bước khắc phục, vượt qua, nhưng trên thực tế, những nguy cơ đó vẫn tiếp tục hiện hữu một cách gay gắt. Để giữ vững độc lập dân tộc và định hướng XHCN của nước ta trong quá trình hội nhập quốc tế, cần quan tâm một số giải pháp cụ thể sau:

Thứ nhất: Đẩy mạnh công tác tư tưởng, thông tin tuyên truyền nhằm tạo sự thống nhất rộng rãi trong nhận thức xã hội về những nội dung mới, những biểu hiện mới của độc lập dân tộc và việc bảo vệ độc lập dân tộc, giữ vững định hướng XHCN trong bối cảnh toàn cầu hoá và hội nhập quốc tế.

Để tiến hành hiệu quả công tác này, thì trước tiên cần chú trọng đầu tư thoả đáng trên tầm chiến lược cho việc nghiên cứu cơ bản về tiến trình toàn cầu hoá và hội nhập quốc tế, trên cơ sở đó, chỉ rõ những tác động chung, cũng như những tác động mang tính đặc thù của tiến trình này đối với độc lập dân tộc, chủ quyền quốc gia của nước ta - một nước lựa chọn định hướng XHCN. Đồng thời, trọng tâm của việc nghiên cứu cơ bản phải làm rõ được các vấn đề về nội dung, biểu hiện mới của độc lập dân tộc; những thuận lợi cơ bản, những khó khăn chủ yếu và các giải pháp trước mắt, cũng như lâu dài để bảo vệ vững chắc độc lập dân tộc, chủ quyền, an ninh quốc gia trong quá trình hội nhập quốc tế. Kết quả nghiên cứu về những vấn đề trên là chất liệu phục vụ công tác tư tưởng, thông tin tuyên truyền về các nội dung đã nêu. Đối với vấn đề định hướng XHCN, cần nâng cao nhận thức về mục tiêu, con đường, mô hình đặc trưng của CNXH được thể hiện trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) và các văn kiện khác của Đại hội Đảng lần thứ XI.

Thứ hai: Tiếp tục mở rộng và phát huy dân chủ, tăng cường đổi mới xây dựng, củng cố và hoàn thiện hệ thống chính trị, nâng cao năng lực, hiệu lực và hiệu quả quản lý của Nhà nước.

Phát huy dân chủ thực chất trong mọi lĩnh vực là cơ sở để tăng cường hơn nữa sự tham gia tích cực của các tầng lớp nhân dân đối với việc quản lý, giám sát các quá trình kinh tế- xã hội. Đây cũng là một yêu cầu cấp thiết trong việc xây dựng, hoàn thiện hệ thống chính trị theo hướng hiện đại, đồng thời nâng cao năng lực, hiệu lực, hiệu quả quản lý của Nhà nước. Một hệ thống chính trị vững mạnh, một nhà nước pháp quyền XHCN trong sạch và hiệu năng cao, một nền dân chủ không còn những biểu hiện hình thức, dưới sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng, nhất định sẽ phát huy cao độ sức mạnh đoàn kết toàn dân tộc để vừa đẩy mạnh phát triển kinh tế-xã hội, bảo đảm an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, vừa giữ vững độc lập, chủ quyền quốc gia và định hướng XHCN trước những thách thức của quá trình hội nhập quốc tế.

Thứ ba: Tháo gỡ kịp thời những khó khăn, hạn chế, vướng mắc về cơ chế và chính sách, tạo môi trường pháp lý thuận lợi cho đổi mới, phát triển kinh tế- xã hội, đặc biệt là tái cấu trúc kinh tế và thúc đẩy sản xuất kinh doanh.

Đây phải được nhận thức như một khâu đột phá tạo môi trường thuận lợi để giải phóng sức sản xuất, đẩy lùi lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm an sinh xã hội, từ đó đẩy mạnh phát triển kinh tế, tạo nền tảng vật chất - kỹ thuật, tăng cường sức mạnh nội lực phục vụ sự nghiệp bảo vệ độc lập dân tộc, giữ vững định hướng XHCN trong quá trình hội nhập. Việc dành ưu tiên cao nhất để khắc phục kịp thời những khó khăn, hạn chế, vướng mắc về cơ chế và chính sách có ý nghĩa cực kỳ quan trọng để ổn định kinh tế vĩ mô, thúc đẩy cải cách kinh tế, chuyển dịch cơ cấu kinh tế và cơ cấu lao động, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá cả trước mắt lẫn về lâu dài. Về dài hạn, cần tập trung cao độ thực hiện ba đột phá chiến lược được Đại hội XI nêu ra trong Chiến lược phát triển kinh tế- xã hội 2011-2020: 1) Hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.. 2) Phát triển nhanh nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao… 3) Xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng đồng bộ, với một số công trình hiện đại, tập trung vào hệ thống giao thông và hạ tầng đô thị lớn

Thứ tư: Tăng cường sức mạnh quốc phòng - an ninh, kết hợp chặt chẽ quốc phòng - an ninh với kinh tế và đối ngoại.

Trong bối cảnh toàn cầu hoá và hội nhập, vấn đề bảo vệ độc lập dân tộc và sự phát triển đất nước theo con đường XHCN đòi hỏi sự kết hợp nhiều nhân tố, song vai trò của sức mạnh quốc phòng - an ninh vẫn còn giữ nguyên giá trị vốn có của nó. Do đó, phải quan tâm, đầu tư đúng mức cần thiết cho tăng cường sức mạnh và thế trận quốc phòng, an ninh. Trong đó, cùng với việc tăng cường giáo dục chính trị, tư tưởng, thì rất cần thiết phải thực hiện các chính sách tạo điều kiện thuận lợi cải thiện, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của các lực lượng vũ trang. Mặt khác, cần đầu tư có chiều sâu đối với việc đổi mới, nâng cấp vũ khí, trang thiết bị kỹ thuật hiện đại, xây dựng Quân đội nhân dân và Công an nhân dân chính quy, từng bước hiện đại, thiện chiến, đề cao cảnh giác, sẵn sàng chiến đấu, đập tan mọi âm mưu, thủ đoạn chống phá nước ta, đồng thời đủ sức đối phó thắng lợi mọi tình huống có thể xảy ra. Tăng cường sức mạnh quốc phòng- an ninh phải luôn gắn với việc phát huy sức mạnh của lực lượng và thế trận quốc phòng toàn dân, với sức mạnh của lực lượng và thế trận an ninh nhân dân, kết hợp chặt chẽ quốc phòng- an ninh- kinh tế- đối ngoại.

Thứ năm: Đề cao cảnh giác trước âm mưu của các thế lực thù địch lợi dụng chính sách mở cửa, hội nhập quốc tế của Việt Nam để "Diễn biến hoà bình".

Thực tiễn hội nhập quốc tế của nước ta trong những năm qua đã cho thấy, các thế lực đế quốc và thù địch đã không từ một âm mưu và thủ đoạn nào nhằm thực hiện “Diễn biến hoà bình” chống phá công cuộc đổi mới. Âm mưu, thủ đoạn chống phá ngày càng trở nên đa dạng, tinh vi và hiểm độc hơn. Trong đó, việc lợi dụng chính sách mở rộng quan hệ đối ngoại và hội nhập quốc tế của nước ta, để thâm nhập, can thiệp nhằm gây mất ổn định an ninh, chính trị, kinh tế- xã hội là hiện tượng phổ biến. Do đó, phải đề luôn đề cao cảnh giác, sẵn sàng làm thất bại chiến lược “Diễn biến hoà bình” của chủ nghĩa đế quốc, bảo vệ trật tự, an toàn xã hội, bảo vệ Đảng, chế độ xã hội chủ nghĩa, giữ vững độc lập, chủ quyền, an ninh quốc gia. Trong phòng, chống “Diễn biến hoà bình”, cần quán triệt Nghị quyết TƯ 4, khoá XI “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay”, chú trọng đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn và nâng cao năng lực lãnh đạo của Đảng, phát huy hơn nữa dân chủ trong Đảng và xã hội, tăng cường mối quan hệ gắn bó máu thịt giữa Đảng và các tầng lớp nhân dân, kiên quyết đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, chống quan liêu, tham nhũng, lãng phí; dồng thời chủ động và tích cực triển khai tốt chính sách dân tộc và tôn giáo, xoá đói giảm nghèo, khắc phục khoảng cách phát triển giữa các vùng miền, nhất là vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc ít người.

Thứ sáu: Quán triệt sâu sắc hơn nữa và thực hiện một cách sáng tạo, có hiệu quả chủ trương của Đảng về chủ động và tích cực hội nhập quốc tế.

Tiếp tục đẩy mạnh quá trình hội nhập ngày càng sâu rộng với khu vực và thế giới, khai thác lợi thế so sánh và nguồn lực bên ngoài phục vụ phát triển kinh tế - xã hội. Chủ động hội nhập quốc tế là phải hoàn toàn chủ động quyết định đường lối, chính sách phát triển kinh tế-xã hội nói chung, chủ trương, chính sách hội nhập quốc tế nói riêng. Chủ động là nắm vững quy luật, tính tất yếu của sự vận động chính trị, kinh tế toàn cầu, phát huy đầy đủ năng lực nội sinh, xác định bước đi phù hợp, đa dạng hoá, đa phương hoá các quan hệ quốc tế. Chủ động còn bao hàm sự sáng tạo, lựa chọn phương thức hành động đúng, dự báo được những tình huống trong hội nhập. Tích cực hội nhập quốc tế đòi hỏi phải khẩn trương điều chỉnh, đổi mới bên trong, từ phương thức lãnh đạo, quản lý đến hoạt động thực tiễn; từ trung ương đến địa phương, doanh nghiệp; khẩn trương tái cơ cấu kinh tế, đổi mới cơ chế quản lý, hoàn chỉnh hệ thống pháp luật... Tích cực hội nhập nhưng phải thận trọng, vững chắc, không do dự chần chừ, nhưng cũng không được nóng vội, giản đơn.

Thứ bảy: Xử đúng đắn, lý linh hoạt các vấn đề quốc tế có liên quan trực tiếp đến an ninh và phát triển của đất nước.

Trong xử lý các vấn đề quốc tế cần nắm vững quan điểm của Đại hội XI: “là bạn, đối tác tin cậy và thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế; vì lợi ích quốc gia, dân tộc; vì một nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa giàu mạnh”. Quán triệt sâu sắc tư tưởng chỉ đạo đối ngoại là giữ vững độc lập tự chủ, tự lực tự cường, giữ vững định hướng XHCN, đặt lợi ích quốc gia dân tộc lên trên hết, lấy đó làm tiêu chí cao nhất để xác định hay điều chỉnh biện pháp chính sách một cách kịp thời, linh hoạt, khôn khéo. Có sách lược mềm dẻo trong công tác thông tin, tuyên truyền đối ngoại nhằm phục vụ tốt nhất các yêu cầu tăng cường quan hệ đối ngoại vì hoà bình, hợp tác và phát triển. Khắc phục những vấn đề tồn tại trong nước, không để các diễn biến trong nước ảnh hưởng tiêu cực đến hoạt động đối ngoại, đặc biệt các vấn đề nhạy cảm thường bị các thế lực thù địch lợi dụng để vu cáo, xuyên tạc liên quan dân chủ, nhân quyền, tôn giáo, sắc tộc.

Do tầm quan trọng cũng như tính nhạy cảm của quan hệ với các nước láng giềng và các nước lớn đối với an ninh và phát triển của nước ta, nên trong khi kiên trì chính sách đối ngoại đa dạng hoá, đa phương hoá, vẫn dành ưu tiên cao nhất cho mối quan hệ này. Đây là yêu cầu cấp thiết nhằm tạo lập môi trường quốc tế hoà bình, ổn định thuận lợi cho công cuộc đổi mới, phát triển kinh tế-xã hội, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Trong quan hệ với các nước lớn phải hết sức thận trọng và tạo lập sự "cân bằng lợi ích" mang tính động để có thể linh hoạt, tuỳ từng vấn đề, từng thời điểm, lựa chọn cách giải quyết phù hợp. Vị thế của nước ta trên bàn cờ chiến lược quốc tế hiện nay và trong những năm tới, một phần rất quan trọng tuỳ thuộc vào việc xử lý đúng đắn, tạo dựng được vị thế thuận lợi trong quan hệ với láng giềng và các nước lớn.

---------------------

4 câu hỏi vấn đáp:

1. Phân tích sự hình thành và phát triển chủ trương hội nhập quốc tế của Đảng ta trong thời kỳ đổi mới.

2. Phân tích những quan điểm cơ bản của Đảng ta hiện nay về hội nhập quốc tế.

3. Đánh giá kết quả hội nhập quốc tế của nước ta trong thời kỳ đổi mới.

4. Đồng chí nhận thức như thế nào về vấn đề giữ vững độc lập dân tộc và định hướng xã hội chủ nghĩa trong hội nhập quốc tế của nước ta.

1 Hồ Chí Minh: Toàn tập, tập 4, Nxb. CTQG, Hà Nội. 2002, tr. 470

2 Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII, Nxb CTQG, HN 1991, tr. 119

3 Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb. CTQG, Hà Nội 2001, tr.119

4 Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb CTQG, Hà Nội 2011, tr.235-236

5 Xem: Những điểm mới và nội dung quan trọng trong Văn kiện Đại hội XI, Báo Điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam, ngày 9//4/2011

(6) Đảng Cộng sản Việt Nam, Nghị quyết của Bộ chính trị số 07/NQ-TƯ Về hội nhập kinh tế quốc tế, Nxb CTQG, Hà Nội 2002, tr. 2-4

7 Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb CTQG, Hà Nội 2011, tr.188

 

16