DMCA.com Protection Status

KHÁI QUÁT VỀ LÍ LUẬN VĂN HỌC  quan tâm

Được đăng bởi: Trần Việt Thao

Cập nhật lúc 15:28 ngày 18/01/2018

KHÁI QUÁT VỀ LÍ LUẬN VĂN HỌC

( Nguồn: http://dc166.4shared.com/doc/o1xxrDjs/preview.html )

LỜI NÓI ĐẦU

Học chế tín chỉ là phương thức đào tạo hiện nay của hầu hết các trường đại học trên toàn quốc. Hình thức đào tạo này nhằm phát huy được tính chủ động ,tích cực và sáng tạo của người học.Tuy nhiên,kết qủa thu được của sinh viên phụ thuộc rất nhiều vào quan điểm, cách thức giảng dạy của người thầy. Nếu người thầy chỉ chú ý đến sinh viên như khách thể của hoạt động giảng dạy, là đối tượng để rót kiến thức thì sinh viên sẽ học thụ động: nghe giảng, ghi chép, học thuộc. Nếu người thầy chú ý đến sinh viên như chủ thể của hoạt động học tập, thả họ tự học thì việc học của họ có thể sẽ mang tính tự phát.Nếu người thầy coi sinh viên vừa là chủ thể của hoạt động học tập, vừa là khách thể của hoạt động giảng dạy thì phương pháp học tập của sinh viên sẽ rất đa dạng. Hoạt động học tập sẽ do sinh viên chủ động thực hiện dưới sự hướng dẫn của thầy. Sinh viên vừa tiếp thu kiến thức từ thầy, vừa tự tìm kiến thức dưới sự hướng dẫn của thầy bằng nhiều cách khác nhau.

Mục tiêu giảng dạy của thầy rất quan trọng, chúng ta cần đáp ứng 3 loại mục tiêu dạy học là: cung cấp nhận thức( cognitive), tác động thái độ (affective) và hình thành kĩ năng ( psychomotor). Nhưng thực tế, chúng ta mới chỉ chú ý đến việc nhận thức của sinh viên. Ngay trong mục tiêu này, vốn đã có 6 bậc là biết (knowledge), hiểu (comprehension ), áp dụng (application ), phân tích (analysis), tổng hợp (synthesis) và đánh giá (evaluation), thông thường chúng ta cũng chỉ đạt được mục tiêu nhận thức là biết và hiểu. Do vậy, chúng tôi cố gắng đưa ra một kế hoạch giảng dạy phù hợp với hình thức đào tạo theo tín chỉ, nghĩa là thông qua hình thức giảng dạy của thầy, sinh viên tự thu thập, phân tích,tổ chức thông tin.Người học được rèn luyện năng lực giải quyết vấn đề, năng lực làm việc hợp tác, năng lực tổ chức các hoạt động…

Cấu trúc nội dung các hoạt động của thầy và trò cùng kiến thức cần đạt ở mỗi chương như sau:

Chương I: KHÁI QUÁT VỀ LÍ LUẬN VĂN HỌC

Yêu cầu:

Có được cái nhìn bao quát về bộ môn lí luận văn học, mối quan hệ giữa lí luận văn học với lịch sử văn học và phê bình văn học.

Chú ý đến vai trò, ý nghĩa của bộ môn đối với với việc tìm hiểu, nghiên cứu và giảng văn học.

Xác định được phương pháp học tập và nghiên cứu lí luận văn học.​​​​​​

Tài liệu:

Tài liệu tham khảo chính:

  1.  

Phương Lựu, Trần Đình Sử, Lê Ngọc Trà (1987), Lí luận văn học, Nxb Giáo dục, phần Nhập môn, trang 11-40.

Trần Đình Sử (chủ biên) (2004), Giáo trình lí luận văn học, tập 1, Nxb ĐHSP, trang 9-25.

Tài liệu tham khảo mở rộng:

  1.  

G.N. Poxpêlốp (chủ biên) (1985), Dẫn luận nghiên cứu văn học, Nxb Giáo dục Hà Nội.

Phạm Đăng Dư, Lê Lưu Oanh (2002), Giáo trình lí luận văn học, Huế, tr.3.

  •  
  •  

Câu hỏi hướng dẫn học tập:

Bộ môn lí luận văn học có vị trí như thế nào trong Khoa nghiên cứu văn học?

Mối quan hệ giữa lí luận văn học với lịch sử văn học và phê bình văn học?

Lí luận văn học có ý nghĩa như thế nào đối với người nghiên cứu, giảng dạy văn học?

  1.  
  2.  
  3.  

1.Giảng viên thuyết giảng nhằm cung cấp một số tri thức cơ bản,đầu tiên làm nền tảng cho việc sinh viên nắm bắt những kiến thức lí luận ở các chương sau.

Nội dung chính:

Lí luận văn học là một bộ môn chính trong Khoa nghiên cứu văn học:

  1.  

Khoa nghiên cứu văn học là ngành khoa học nghiên cứu về quan điểm, nội dung, nghệ thuật, phương pháp… trong việc giải thích, đánh giá những sự kiện văn học từ bản chất đến quá trình, qui luật của từng nền văn học trên thế giới.

Nghiên cứu văn học lả tên gọi chung của nhiều bộ môn như lí luận văn học, lịch sử văn học, phê bình văn học…

  •  
  • Lí luận văn học:

    1.  

Chỉ rõ bản chất, chức năng xã hội, chức năng thẩm mỹ cũng như qui luật phát triển của văn học, trên cơ sở đó xây dựng một hệ thống các khái niệm và phạm trù phản ánh, những yếu tố và phương pháp luận, những hiện tượng tác động của văn học với hoạt động của con người.

Lí luận văn học khám phá ra bản chất của sự sáng tạo nghệ thuật, tổng kết ở cấp độ lí thuyết những quan điểm, kiến thức, phương pháp có tính phổ biến nhất từ sáng tác phê bình đến nghiên cứu văn học sử…

  • Lịch sử văn học:

    1.  

Có nhiệm vụ nghiên cứu quá trình hình thành và phát triển, các cuộc tranh luận giữa các xu hướng và trường phái, những thành tựu, những tồn tại cũng như những kinh nghiệm về mọi mặt trong các giai đoạn của một nền văn học.Người nghiên cứu lịch sử văn học cần phải tìm ra bản chất, qui luật vận động của nó trong từng giai đoạn lịch sử.

  • Phê bình văn học:

    1.  

Là bộ môn môn khoa học hướng vào đối tượng chủ yếu là những hiện tượng văn học. Phê bình văn học giúp phát hiện cái mới, cái phù hợp với chiều hướng phát triển của văn học hiện tại và tương lai. Phê bình văn học được xem như là cầu nối giữa các tác phẩm và bạn đọc.

Phạm vi quan tâm của phê bình văn học là mọi khía cạnh của hoạt động sán tác, việc tiếp cận hiện thực, cách tổ chức tác phẩm, nội dung hình thức biểu hiện của tác phẩm.

Giữa lí luận văn học, lịch sử văn học và phê bình văn học có mối quan hệ chặt chẽ, có sự tác động quan lại với nhau.

Những nội dung chính của lí luận văn học:

  1.  

Lí luận văn học có nhiệm vụ khái quát về bản chất, đặc trưng, cấu tạo, qui luật tồn tại và phát triển của văn học.

Cung cấp một hệ thống các khái niệm, các phạm trù khoa học với tư cách là công cụ, để người học vận dụng nghiên cứu văn học một cách hữu hiệu.

Lí luận văn học nghiên cứu các tác phẩm, tác giả cụ thể, xem xét các trào lưu văn học và cuộc vận động của văn học. Lí luận văn học còn vận dụng phương pháp luận triết học để trình bày, phân tích tính chất, đặc điểm, qui luật của văn học, xây dựng nên các khái niệm,các phạm trù.

Phạm vi của lí luận văn học gồm 5 bộ phận: bản chất, đặc trưng của văn học .Cấu tạo của tác phẩm và thể loại. Quá trình sáng tác. Tiến trình phát triển văn học và sự tiếp nhận văn học.​​​​​​​

Mục đích, yêu cầu và phương pháp học tập lí luận văn học:

  1.  

Người giáo viên văn học đồng thời cũng là người nghiên cứu văn học , vì vậy tất yếu cần phải có kiến thức về lí luận văn học.

Mục đích học bộ môn này nhằm xác lập hệ thống quan niệm đúng đắn, khoa học và bản chất, đặc trưng, giá trị của văn học. Hiểu được qui luật chung của văn học , nắm vững các khái niệm về văn học, lấy đó làm công cụ để phân tích, lí giải các hiện tượng văn học.

  • Mục đích:

    1.  
  •  
  •  

Yêu cầu:

  1.  

Nắm vững các khái niệm, lịch sử của chúng, phân biệt rõ sự khác nhau của các khái niệm (như đề tài khác chủ đề).

Hiểu các khái niệm gắn liền với nhận thức về một khía cạnh của văn học.Việc nắm vững hệ thống các khái niệm sẽ giúp sinh viên nhìn nhận văn học trong các mối quan hệ phức tạp của chúng.​​​​​​​

Phương pháp học bộ môn lí luận văn học:

  1.  

Sinh viên cần phải biết kết hợp giữa lí thuyết và thực hành. Cần nắm vững các khái niệm cơ bản, biết vận dụng sự hiểu biết ấy vào việc nghiên cứu ,tìm hiểu các tác phẩm văn học.

Để học tốt lí luận văn học, người học phải thường xuyên liên hệ giữa lí luận với văn học sử và phê bình văn học, từ thực tế văn học , ngưới học đào sâu thêm vào chiều sâu nội hàm của văn học.

Người học cần thường xuyên tra cứu các loại từ điển văn học. Tìm hiểu nhiều hệ thống lí luận khác nhau, cọ xát các khái niệm với nhau để mài sắc năng lực tư duy lí luận cho mình.​​​​​​​

Cần kết hợp trí nhớ với sự hiểu biết, kết hợp giữa lí luận với thực tiễn, kết hợp việc đọc văn với năng lực tư duy tìm tòi, phân tích, phê bình, thưởng thức văn học.

_Đặc biệt khi nắm vững kiến thức lí luận, người học phải thực hành , nghiên cứu, cảm nhận tác phẩm văn học một cách khoa học và sâu sắc,đúng với bản chất của văn học.

2.Trả lơi…..

Chương 2: VĂN HỌC LÀ HÌNH THÁI Ý THỨC THẨM MĨ

Yêu cầu:

Hiểu được văn học là một hình hình thái ý thức xã hội đặc thù phân biệt với các hình thái ý thức xã hội khác.

Nắm được bản chất thẩm mỹ của văn học.

  •  
  •  

Tài liệu:

Tài liệu tham khảo chính:

  1.  

Trần Đình Sử (chủ biên) (2004) Giáo trình lí luận văn học tập 1, Nbx ĐHSP, tr.27-53.

  •  

Tài liệu tham khảo mở rộng:

  1.  

Phạm Đăng Dư, Lê Lưu Oanh (2002), Giáo trình lí luận văn học, Huế, tr.8-24

Lê Ngọc Trà (2007), Văn chương thẩm mĩ và văn hóa, Nbx Giáo dục, tr.333-360.

  •  
  •  

Câu hỏi hướng dẫn học tập:

Văn học vừa là hiện tượng thẩm mĩ vừa là hiện tượng hình thái ý thức biểu hiện như thế nào? Hai mặt ấy có loại trừ nhau không?

Phân tích bản chất thẩm mĩ qua một số tac phẩm văn học cụ thề của Nam Cao:

  1.  
  2.  

Chí Phèo, Đời thừa, Một bữa no.

Nội dung chính:

Văn học là một hình thái ý thức xã hội:

  1.  
  • Bản chất ý thức xã hội của văn học:

    1.  

Muốn hiểu rõ bản chất của văn học cần đặt nó vào trong toàn bộ cấu trúc xã hội bao gồm 2 bộ phận: cơ sở kinh tế và thượng tầng kiến trúc. Đó là nền tảng của sự tồn tại xã hội, trên đó hình thành một thượng tầng kiến trúc: gồm chế độ chính trị xã hội, pháp luật và các hình thái ý thức xã hội như chính trị, pháp luật, đạo đức, tôn giáo, triết học và văn học nghệ thuật.

Với tư cách là hình thái ý thức xã hội, văn học có cội nguồn là đời sống, là sự phản ánh đời sống. Các tác phẩm văn học ở mọi thể loại đều là sự phản ánh thế này hay thế khác của đời sống.

Văn học luôn chịu sự ràng buộc của cơ sở xã hội: xã hội nguyên thủy mông muội thì con người chỉ có thể sáng tác ra thần thoại, xã hội phong kiến quân chủ, khi mọi người dân là bầy tôi của vua, là phẩm tử của gia đình thì văn học chưa thể có sự biểu hiện đầy đủ cá tính.Thời phong kiến văn học ít nhiều mang tư tưởng trung quân.Khi chưa có chữ viết văn học chỉ là truyền miệng.Khi có máy in văn học chủ yếu là để đọc. Ngoài ra, văn học còn chịu tác động qua lại với các hình thức xã hội khác như đạo đức, triết học, tôn giáo, chính trị.

  • Văn học là một hình thái quan niệm nhân sinh

    1.  

Văn học là sự phản ánh tồn tại xã hội, khi sáng tác, người nghệ sĩ đồng thời gửi gắn trong tác phẩm một quan niệm về thế giới và nhân sinh. Quan niệm ấy là sự lí giải cắt nghĩa của con người đối với thế giới xung quanh. Trong “Tấm cám” người sáng tác đưa ra quan niệm nhân sinh là cái ác luôn hãm hại cái thiện, cuối cùng cái thiện luôn thắng, ở hiền gặp lành, ác giả ác báo. “Truyện Kiều” kể về cuộc đời trôi dạt của Kiều để từ đó nêu quan niệm về số phận người tài hoa, về qui luật tạo vật đố tài, về nỗi đau nhân thế con người.

Nói văn học thể hiện quan niệm nhân sinh có nghĩa là văn học thể hiện một tư tưởng về vũ trụ, xã hội và con người trên cơ sở một thế giới quan nhất định. Việc thể hiện quan niệm đã tạo thành tính khuynh hướng, tính tư tưởng của văn học.

Tính khuynh hướng của văn học

  1.  

Khi nói đến tính khuynh hướng là nhằm chỉ sự đánh giá và thái độ chung của con người đối với hiện thực. Con người sống trong thực tại bao giờ cũng bày tỏ sự đánh giá và thái độ với cuộc sống, chẳng hạn như yêu gì, ghét gì. Đó chính là tính khuynh hướng.Nguyễn Đình Chiểu nói: “Bởi chưng hay ghét cũng là hay thương”, Hồ Xuân Hương viết “Chém cha cái kiếp lấy chồng chung” cũng là khuynh hướng tư tưởng, tình cảm cửa nữ sĩ. Nhà văn Pháp J.P.Sartre trong tác phẩm “Buồn nôn” đã miêu tả Rocăngđan, một người thờ ơ, lãnh đạm đối với thế giới và con người, anh ta quan niệm không có gì là có ý nghĩa hết, tất cả đều là vô nghĩa lí. Đó chính là khuynh hướng của chủ nghĩa hiện sinh.

Văn học thể hiện tính khuynh hướng về chân lí, về sự thật, phù hợp với xu thế tiến bộ của xã hội. Tuy nhiên, tính khuynh hướng thường phải kín đáo, được toát ra từ sự miêu tả hay tình huống. Ngoài ra, văn học còn có khuynh hướng về cái thiện, khuynh hướng này lấy sự phát triển của đạo đức làm tiêu chuẩn, yêu cầu sự chân thành và trung thực. Mọi sự dối trá trong văn học đều làm cho tác phẩm mất hết sự thuyết phục.

Tóm lại: tính khuynh hướng trong văn học là bản chất của văn học, song phục tùng đặc trưng nghệ thuật. Đi ngược lại đặc trưng nghệ thuật mọi tính khuynh hướng sẽ không có giá trị đích thực.

Văn học là một hình thái phản ánh thẩm mĩ

  1.  
  • Phản ánh thẩm mĩ là phản ánh trong tình cảm thẩm mĩ

    1.  

Tình cảm thẩm mĩ hình thành trên cơ sở thanh lọc, thăng hoa những thể nghiệm đời sống, những suy ngẫm, nếm trải về cuộc đời. Tình cảm thẩm mĩ là tình cảm xuất phát từ lợi ích cộng đồng và nhân loại. Nguyễn Du viết “Truyện Kiều” với tình cảm:” Lời rằng bạc mệnh cũng là lời chung”. Hồ Chí Minh viết bài thơ “Vọng nguyệt” với cảm xúc của nhà thơ trước thiên nhiên tươi đẹp chứ không đơn giản là tình cảm của một người tù. Tình cảm thẩm mĩ đem lại một hệ giá trị để phản ánh hiện thực.

  • Phản ánh thẩm mĩ là phản ánh dưới ánh sáng của lí tưởng thẩm mĩ

    1.  

Lí tưởng thẩm mĩ là quan niệm, mô hình về cái đẹp được hình thành trong truyền thống văn hóa của dân tộc và nhân loại. Qua sáng tạo nghệ thuật, lí tưởng thẩm mĩ được bộc lộ. Trong bài thơ viếng Bác” Bác ơi” ,Tố hữu thể hiện lí tưởng thẩm mĩ thiên về vẻ đẹp của sự hy sinh và tình thương ân nghĩa. Lí tưởng thẩm mĩ còn đóng vai trò là tâm thế phản ánh nghệ thuật của nhà văn. Tố Hữu có nhiều bài thơ xúc động viết về những tấm gương anh dũng như Trần Thị Lý:

Em là ai, cô gái hay nàng tiên

Em có tuổi hay không có tuổi

Mái tóc em đây hay là mây là suối

Đôi mắt em nhìn hay chớp lửa đêm giông

Thịt da em hay là sắt là đồng.

Trái lại, Nguyễn Công Hoan lại quen viết về các hiện tượng xấu trong xã hội cũ, Nguyễn Tuân thích viết về các hiện tượng văn hóa, con người tài hoa xuất chúng.

Lý tưởng thẩm mĩ còn gắn liền với tính độc đáo, mới mẻ, những câu thơ sau có sức ám ảnh bởi những liên kết lạ:

Bà cụ lão bán hàng bên miếu cổ

Nước thời gian gợi tóc trắng phau phau.

  • Lý tưởng thẩm mĩ gắn liền với sự tự biểu hiện của chủ thể

    1.  

Lý tưởng thẩm mỹ gắn với sự cảm thụ, hình dung có tính cá thể, cuộc sống lý tưởng trong tâm trí mỗi người đều mang đậm màu sắc cá thể. Trong văn học cá tính trở thành một nội dung phản ánh. Xuân Diệu khao khát một thế giới mà lửa sống của con người được đốt lên tận độ. Ông không chấp nhận một cuộc sống mờ nhạt, trong đó con người buồn tủi một cách tội nghiệp. Trong khi đó, Nguyễn Tuân thích một cuộc sống tự do phóng túng để mọi người có tài hoa và lương tri được phát tiết tự nhiên. Từ đề tài đến hình ảnh, ngôn từ, văn Nguyễn Tuân đều thể hiện một cá tính không muốn bị gò bó, ràng buộc.

  • Phản ánh thẩm mĩ là sáng tạo trong hình thức đẹp

    1.  

Sự phản ánh thẩm mỹ luôn được tiến hành trong quá trình kiếm tìm hình thức hoàn mỹ, và thế giới nghệ thuật của nhà văn chỉ khi tìm ra được ngôn ngữ nghệ thuật và hình thức đẹp thì mới biểu hiện ra. Tách rời cảm giác nhịp điệu, sự hài hòa, cân đối, tính nhạc điệu… thì không thể tạo thành hình tượng nghệ thuật. Hình thức đẹp trở thành điều kiện không thể thiếu để phản ánh thẩm mỹ. Trong sáng tạo nghệ thuật hình thức thẩm mỹ có vai trò quyết định đối với sự phản ánh. Chọn một hình thức thơ nào – năm chữ, bảy chữ, lục bát hay song thất lục bát, phần nhiều gắn với nội dung và hình thức có tác dụng tạo hình cho nội dung. Hình thức ấy gắn với tình cảm thẩm mỹ và thể hiện lý tưởng thẩm mỹ của nhà văn.

Văn học phản ánh đời sống nhưng đó là phản ánh thẩm mỹ theo quy luật của việc sáng tạo cái đẹp. Văn học là hiện thân của cái đẹp.

Bản chất thẩm mỹ của văn học

  1.  

Văn học vừa thuộc về thực tại, vừa siêu thoát

  1.  

Bản chất cao nhất của con người là tính người. Con người là tổng hòa của mọi quan hệ xã hội. Về phương diện thẩm mỹ và nghệ thuật, bản chất của con người là hoạt động tự giác và tự do. Con người sinh ra đã không hoàn thiện, không thể sống nếu không có người nuôi dạy. Trong cuộc sống, nó có thể trở thành ông chủ mà cũng có thể trở thành nô lệ, có thể được tôn vinh mà cũng có thể bị lăng nhục và chà đạp. Do đó, con người tồn tại được là nhờ những mơ ước và thực hiện mơ ước. Đó là bản tính hướng về lý tưởng của con người. Người bất hạnh ước mơ hạnh phúc, kẻ nô lệ ước mơ tự do. Người no đủ ước mơ thỏa mãn những khát vọng cao đẹp khác. Con người cuộc đời ngắn ngủi mơ ước vĩnh hằng, con người hữu hạn thì ước mơ vô hạn. Đó là cội nguồn làm cho văn học vừa có tính thực tại vừa có tính siêu thoát.

Văn học vừa phi vụ lợi vừa vụ lợi

  1.  

Xét về mục đích, văn học vừa phi vụ lợi lại vừa vụ lợi. Phi vụ lợi có nghĩa là một hoạt động của con người không nhằm mưu cầu những lợi ích thực tế, bản chất của văn học là nhằm đạt được khoái cảm về tinh thần.

Cảm nhận thẩm mỹ sở dĩ phi vụ lợi vì đó trước hết là cảm nhận về hình thức, khoái cảm thẩm mĩ có cơ sở là khoái cảm về hình thức. Tất nhiên, đó là những hình thức mang tính nội dung, là tín hiệu của nội dung. Họa sĩ rung động vì những hình thức đẹp. Nhà thơ sung sướng vì câu thơ mới lạ, nhà tiểu thuyết thương cảm cho một nhân vật hư cấu do mình tạo ra, không có thật.

Khoái cảm thẩm mỹ là khoái cảm hình thức, thuộc loại một khoái cảm cao cấp chỉ con người mới có, khi nó thỏa mãn với những vật bên ngoài phạm vi lợi hại trực tiếp. Cảm xúc về hình thức có những ý nghĩa quan trọng. Một là nó gián cách con người khỏi vật kích thích vật chất trực tiếp, tránh những phản ứng tâm lý căng thẳng do đối diện với ngoại giới. Hai là nó kích thích năng lực cảm thụ và tưởng tượng phong phú bên trong của con người, thức tỉnh những tình cảm trì trệ, làm hưng phấn khát vọng muốn hoạt động và chiếm hữu.

Văn học là món ăn tinh thần của con người, nuôi dưỡng tâm hồn cho con người. Tính phi vụ lợi là trực tiếp còn tính ích dụng là gián tiếp. Tính phi vụ lợi trực tiếp được sáng tạo ra để thực hiện mục đích ích dụng gián tiếp.

Văn học có tác dụng thanh lọc. Khái niệm thanh lọc có nhiều cách giải thích song có thể hiếu là nó làm cho con người quen với hi sinh, mất mát mà trở nên dày dạn.

Văn học không chấp nhận sự lặp lại, bằng phẳng, nhạt nhẽo, trái lại người ta đòi hỏi sự li kỳ, cái mới lạ bởi nó tạo ra khoái cảm tích cực của con người muốn trải nghiệm khó khăn nguy hiếm. Sự bằng phẳng dễ dãi làm cho người ta chán vì nó là sự lừa dối trước cuộc đời phức tạp. Như vậy tính không vụ lợi trực tiếp có ích dụng sâu sắc. Cái đẹp cứu vớt loài người là như vậy.

Văn học vừa cảm tính vừa lý tính

  1.  

Văn học cũng như các ngành nghệ thuật khác, sáng tạo ra tác phẩm dưới hình thức hình tượng: những bức tranh về đời sống, về con người, phong cảnh… Nói tới hình tượng là nói tới những sáng tạo giống như thật nhưng không phải thật. Nó là hình bóng hư ảo của thế giới. Nó tác động tới người đọc trước hết bằng cảm quan. Chức năng đầu tiên của hình tượng là gây khoái cảm về hình thức, sáng tạo những giá trị hình thức. Vì vậy mà hình tượng nghệ thuật cho phép sử dụng hư cấu. Giá trị của chúng là để cảm nhận trực tiếp, gợi cảm và suy nghĩ. Như vậy là hình tượng cảm tính khêu gợi được sự cảm nhận và đồng cảm của người đọc do có nội dung lý tính ở bên trong. Sức mạnh lý tính trong sáng tác thể hiện ở tư tưởng , nhận thức của nhà văn trước khi sáng tác, ở năng lực phân tích tư liệu, xây dựng chủ đề, dự kiến kết cục và quá trình sửa chữa.

Văn học vừa nhận thức vừa đánh giá

  1.  

Văn học sáng tạo ra hình tượng nghệ thuật cảm tính, thể hiện một sự nhận thức đời sống. Trong tác phẩm Ơgiêni Grăngđê, Balzac đã dựng lại lịch sử làm giàu đầy tội ác của Grăngđê và đứa cháu Sáclơ, phản ánh đúng quy luật của thời đại là thế lực quý tộc đang suy tàn, còn bọn tư sản mới giàu lên thì tham lam, tàn nhẫn. Khi buôn bán thì nhanh nhẹn, tháo vát, khi giao dịch thì giả ngô giả ngọng, giả điếc, khiến đối phương mắc lừa. Ngoài đồng tiền, Grăngđê không hề biết đến tình cảm gia đình, vợ con. Đồng tiền hoàn toàn phá hoại nhân cách con người.

Nhận thức trong văn học gắn liền với đánh giá về mặt tình cảm. Đó là khẳng định hay phủ định, tán dương hay phản đối, đồng tình hay chán ghét, yêu mến hay ghét bỏ, tiếc thương hay căn giận, hoặc sự pha trộn các tình cảm ấy. Sự đánh giá trong văn học không phải là tuyên bố ra lời mà toát ra từ hình tượng, chi tiết, giọng điệu.

Tính chất thẩm mỹ và tính thực tiễn của văn học

  1.  

Thẩm mỹ là tính chất đặc thù của văn học, làm cho nó khác biệt với các hình thái ý thức xã hội khác. Sức hấp dẫn của văn học chính là sức hấp dẫn của tính thẩm mỹ đó.

Mặt khác, văn học lại có gía trị nhận thức và thực tiễn, đặc điểm này quy định mối liên hệ sâu sắc phức tạp của văn học đối với các hình thái ý thức xã hội khác.

Như vậy, văn học có tính chất song trùng, vừa thẩm mỹ, vừa là hình thái ý thức xã hội. Đối với các hình thái ý thức xã hộ khác, văn học là một hình thái thẩm mỹ, đồng thời tự thân cũng là có tính chất ý thức hệ. hai mặt này không thể tách rời.

Chương III: VĂN HỌC-NGHỆ THUẬT NGÔN TỪ

Yêu cầu:

  1. Nắm được khái niệm văn học.

    Hiểu được đặc trưng, bản chất của hình tượng nghệ thuật.

    Nắm vững vai trò ngôn ngữ trong sáng tác văn học


 

Tài liệu:

    1. Tài liệu tham khảo chính:

      1.  
  1. Trần Đình Sử (chủ biên) (2004) Giáo trình lí luận văn học, Nbx ĐHSP, tr.81-115.

    Phương Lựu, Trần Đình sử, Lê Ngọc Trà (1997), Giáo trình lí luận văn học, Nxb Giáo dục, tr.183-193.

    •  
    •  

Tài liệu tham khảo mở rộng:

  1.  
  1. Trần Đình Sử (1996), Tính mơ hồ, đa nghĩa của văn học, Tạp chí văn học, số 1, tr.147.

    Nguyễn Đình Thi (2001),Tiếng nói nghệ thuật, Nxb Văn học.

    Đỗ Lai Thúy (2001), Nghệ thuật như là thủ pháp, Nxb Hội nhà văn, Hà Nội, 2001.

    Trần Đình Sử (2002), Thi pháp truyện Kiều, phần Nguyễn Du, nghệ sĩ ngôn từ và các biện pháp nghệ thuật, Nxb Giáo dục, Hà Nội.

    1. Sinh viên nghiên cứu giáo trình và thảo luận những nội dung sau:

    A.Nhận xét cách sử dụng ngôn ngữ độc đáo của Nguyễn Huy Thiệp:

    “Loài hoa tử huyền cứ ba chục năm mới nở một lần. Người nào gặp hoa tử huyền sẽ may mắn. Người ta vẫn gọi hoa này là muối của rừng. Khi rừng kết muối,đấy là điềm báo đất nước thanh bình, mùa màng phong túc” ( Muối của rừng)

    “Nghĩa tình chuộc lại nghĩa tình, vô sự với tạo hóa, trung thực đến đáy, dù có sống giữa bùn, chẳng sợ không xứng làm người” ( Những người thợ xẻ)

    “Liệu con người có thể hiểu được con người không, có thể tôn trọng và yêu mến con người không…Tại sao những người tốt thường đau khổ, bất hạnh?” (Con gái thủy thần).

    “Tôi biết một thứ ngôn ngữ giản dị như đất

    Thứ ngôn ngữ mộc mạc thẳng băng

    Tựa như tiếng tù và

    Như tiếng kèn đồng

    Như tiếng chuông vọng

    Có một thứ ngôn ngữ thức tỉnh con người

    Buộc họ soi vào lòng mình

    Như soi mặt xuống lòng hồ.”

    (

b.Tóm tắt giáo trình và thực hành theo nhóm:

  1.  

    •  

1.Đặc trưng của văn học với tư cách là nghệ thuật ngôn từ (ưu thế của văn học so với các loại hình nghệ thuật khác).

2.Những đặc trưng nghệ thuật của ngôn từ với tư cách là chất liệu văn học.

3.Nêu những đặc điểm của hình tượng văn học.

4.Nhận xét và phân tích sự kết hợp từ độc đáo của Chế Lan Viên trong bài thơ “Nghĩ suy 68”:

“Hỏi họ tổ quốc là gì ư? Họ lúng túng im chân lí của lắm nhời.

Phút trước họ vô danh, phút sau hóa phi thường vị đại,

Im lặng đánh. Im lặng cười, nghìn chết cũng chẳng khi lui”.

2.Giảng viên nhấn mạnh những kiến thức quan trọng:


 

Khái niệm văn học:

  1.  

Văn học theo nghĩa rộng:

  1.  

Là thuật ngữ gọi chung mọi hành vi ngôn ngữ nói, viết và tác phẩm ngôn từ, bao gồm các loại chính trị, lịch sử, triết học, tôn giáo.

Phan Bội Châu đã liệt vào văn chương “lục kinh”, bao gồm: kinh thi, kinh thư, kinh lễ, kinh dịch, kinh Xuân Thu, kinh nhạc. Ở phương Tây, tất cả các tác phẩm triết học, thần học, kinh tế học cũng đều gọi là văn chương.

Văn học theo nghĩa hẹp

  1.  

Bao gồm các tác phẩm ngôn từ, biểu hiện tình cảm và sáng tác bằng hư cấu, tưởng tượng.

Ở Việt Nam: văn học là thứ văn có tình cảm, mĩ cảm, thuộc về phạm vi nghệ thuật.

Văn học theo nghĩa chiết trung:

  1.  

Bao gồm những tác phẩm sử truyện, tạp văn, phóng sự ,văn chính luận có nghệ thuật.

Trong ba ý nghĩa trên, nghĩa hẹp của văn học quan trọng nhất, nó đánh dấu sự hình thành quan niệm về văn học như một nghệ thuật ngôn từ với nội hàm đầy đủ nhất.

Hình tượng-Đặc trưng cơ bản của văn học:

  1.  

Khái niệm hình tượng:

  1.  

Hình tượng là một sáng tạo biểu ý,do đối tượng văn học có tính cụ thể, thẩm mĩ, toàn vẹn và mang giá trị ý nghĩa nhân sinh ,cho nên hình thức phản ánh đối tượng đó chỉ có thể là hình tượng.

Hình tượng làm cho những suy nghĩ, biểu tượng trong đầu được hiện hình cho người khác cảm nhận.

Hình tượng như một kí hiệu phi ngôn ngữ:

  1.  

Hình tượng là một phương tiện dùng để truyền đạt thông tin, được gọi là kí hiệu phi ngôn ngữ. Hình tượng có khả năng biểu đạt thông tin như ngôn ngữ nhưng không có tính minh xác khái niệm như ngôn ngữ. Cụ thể khi nghe diễn thuyết khác với đọc bài diễn thuyết, bởi người nghe được tiếp nhận bằng hai hệ thống kí hiệu. Một là ngôn ngữ, hai là hệ thống “hình tượng” gồm âm thanh, điệu bộ, nét mặt, ánh mắt, giọng điệu, động tác. Hệ thống này tăng cường hiệu quả biểu đạt, biểu đạt bổ sung những nội dung mà ngôn ngữ không biểu đạt được, thậm chí có khi biểu đạt được một nội dung thông tin ngược với thông tin ngôn ngữ. Vì vậy, có khi giao tiếp, 65% thông tin được truyền đạt bằng phương tiện phi ngôn ngữ.

Ký hiệu hình tượng có những đặc điểm như: khi biểu đạt tư tưởng tình cảm nó có tính khuynh hướng xác định, nhưng lại có tính mơ hồ, không xác định về lượng. Những gợi ý phi ngôn ngữ hé lộ ra còn thú vị hơn nhiều so với điều người ta cố ý cung cấp. Các thông tin nhận được bằng hình thức phi ngôn ngữ thường là thông tin về những điều sâu kín của nội tâm, hình tượng truyền đạt thông tin bằng con đường cảm giác, nó có thể kích thích vào những miền vô thức, huy động kinh nghiệm sống trong vùng cảm giác, tình cảm, tưởng tượng và liên tưởng của con người. “Sứ mệnh nghệ thuật là ở chỗ dùng hình thức hình tượng nghệ thuật cảm tính để làm hiện lên tính chân thực”.

Tính chất tưởng tượng, hư cấu của hình tượng văn học

  1.  

Nhà văn dùng hình tượng để biểu hiện cảm nhận, ấn tượng, tư tưởng của mình đối với đời sống. Tính chất tưởng tượng và hư cấu của hình tượng văn học là rất tiêu biểu. Chí Phèo, Lão Hạc đều là sản phẩm sáng tạo bằng tưởng tượng, không có thực. Tưởng tượng và hư cấu giúp cho văn học có thể thêm bớt đối với tài liệu thực tế, không bị lệ thuộc và sự việc có thật, do đó có thể phát huy vai trò khái quát của mình để tạo ra những hình tượng điển hình. Chí Phèo có thêm cuộc tình với Thị Nở, có thêm ý nghĩ muốn làm người lương thiện và cuộc trả thù đẫm máu đã nâng cao giá trị của hình tượng Chí Phèo, hơn hẳn một anh chàng chỉ biết rạch mặt ăn vạ.

Tính hư cấu cho phép nhà văn thay đổi tỉ lệ của sự vật có thật, có thể kéo dài hay rút ngắn thời gian, có thể mở rộng hay thu hẹp không gian, có thể thêm cho nhân vật những khả năng mà thực tế không có. Hư cấu có thể cho phép nhà văn nhập thân vào bên trong nhân vật để miêu tả tâm tư, tình cảm, cảm xúc của nhân vật, thể nghiệm những kinh nghiệm nhân sinh đa dạng của chúng.

Tính chất tưởng tượng cho phép hình tượng nghệ thuật chỉ sống trong thế giới tinh thần, chứ không có thật. Tính hư cấu nói lên một quan hệ đặc biệt giữa văn học và hiện thực. Hư cấu có nghĩa là tất cả được nói tới chỉ có trong văn học mà thôi, nó đánh dấu khoảng cách thẩm mĩ giữa văn học và thực tế bên ngoài. Thực chất của hư cấu trong văn học là tạo ra một không gian thẩm mĩ mà hiện tại thiếu.

Không nên xem nhẹ tính tưởng tượng, nếu lấy thực tế làm điểm qui chiếu để đánh giá tính chân thật của hình tượng là một sai lầm.

Tính chỉnh thể và tính quan niệm của hình tượng văn học:

  1. Tính chỉnh thể:

    1.  

Trong tác phẩm các chi tiết, hình ảnh, nhân vật,sự kiện…liên kết với nhau tạo thành chỉnh thể tác phẩm.Tính chỉnh thể của hình tượng không chỉ là nói đến việc miêu tả cuộc sống toàn vẹn, cụ thể, cảm tính ,mà chủ yếu nói đến mối liên hệ nội tại của hình tượng trong tác phẩm.Chỉ trong chỉnh thể ấy,mỗi đơn vị mới thực sự có ý nghĩa.

  1. Tính quan niệm:

    1.  

Tính chỉnh thể của hình tượng có được là do hình tượng có một quan niệm chung về cuộc sống và con người. Quan niệm chung đó là cách hiểu, cách cắt nghĩa, cách cảm nhận chung về cuộc sống và nghệ thuật. Ví dụ: truyện cổ tích “Tấm cám” có được là do có quan niệm về sự trừng trị và đều bù công bằng trong cuộc sống, quan niệm về phép màu trong cuộc đời.

Tính quan niệm qui định việc lựa chọn các chi tiết, sự kiện, sắp xếp các quan hệ nhân vật, qui định cách trần thuật, miêu tả, dùng từ….

Ngôn từ-chất liệu của văn học:

  1.  

Ngôn từ-chất liệu xây dựng hình tượng văn học:

  1.  

Hình tượng nghệ thuật bao giờ cũng gắn liền với một chất liệu cụ thể. Ngôn từ là chất liệu của văn học. Chất liệu đó là phương thức tồn tại của hình tượng, một sự tồn tại cụ thể. Mối quan hệ giữa hình tượng và ngôn ngữ không phải là sự kết hợp bên ngoài, mà là sự xuyên thẩm trong nhau. Người nghệ sĩ không thể tư duy ngoài khả năng chất liệu mình sử dụng.

Ngôn từ với tư cách là chất liệu của văn học có những khả năng sau:

Khả năng gợi lên những hình tượng nghệ thuật, đưa ta thâm nhập vào thế giới cảm xúc, ấn tượng, suy tưởng mà ngôn ngữ hàng ngày ít khi đạt được. Cuối tác phẩm, Chí Phèo trong tuyệt vọng cùng đường nói: “ai cho tao lương thiện” là lời kết tội có ý nghĩa khái quát, thể hiện một nỗi khát khao muốn trở lại làm người lương thiện.

Từ ngôn từ, người đọc có thể nhận ra hình tượng nhân vật hay hình tượng người kể chuyện. Điệu hồn gay gắt, bứt rứt của Hồ Xuân Hương thể hiện qua kiểu đặt từ: “chín mòm mom” “chọc vào mắt, xọc vào tai”. Cái đam mê hòa nhập giữa tâm hồn và vạn vật, muốn tận hưởng thế giới bằng tất cả các giác quan của nhân vật trữ tình trong thơ Xuân Diệu: “Ta muốn ôm, ta muốn say, ta muốn cắm vào ngươi”……

Tính hình tượng được thể hiện trực tiếp qua các từ tượng thanh, tượng hình, các phương thức chuyển nghĩa của từ như ví von, ẩn dụ: “Thuyền về có nhớ bến chăng, bến thì một dạ khăng khăng đợi thuyền”.

Ngôn từ nghệ thuật được tổ chức một cách đặc biệt, để xây dựng một thế giới hình tượng trọn vẹn, hoàn chỉnh, giàu ý nghĩa khái quát:

Hòn đá đóng rong vì dòng nước chảy

Hòn đá bạc đầu vì bởi sương sa

Em thương anh cũng muốn nói ra

Sợ mẹ bằng đất sợ cha bằng trời

Em thương anh cũng muốn kết đôi

Sợ vầng mây bạc trên trời mau tan”

(Ca dao)

Đặc trưng của nghệ thuật ngôn từ:

  1.  

Tính chất phi vật thể của ngôn từ văn học:

  1.  

Xây dựng bằng chất liệu ngôn từ, hình tượng văn học tác động vào trí tuệ, tưởng tượng và liên tưởng của người đọc. Không ai nhìn thấy hình tượng văn học bằng mắt, nó chỉ bộc lộ qua cái “nhìn” bên trong thầm kín. Đó là tính chất tinh thần hay còn gọi là tính “phi vật thể” của hình tượng văn học.

Hình tượng văn học gây ấn tượng mạnh mẽ, tác động trực tiếp vào thế giới tình thần của con người, hình tượng văn học có thể tái hiện cả những điều mắt thấy và cả nhận biết bằng thị giác, khứu giác, thính giác, xúc giác.

Văn học có thể nắm bắt tất cả những cái mơ hồ, vô hình nhưng có thật trong cảm xúc về thế giới. Xuân Diệu khi nói về tình yêu: “không gian như có dây tơ, Bước đi sẽ đứt, động hờ sẽ tiêu”.

Ngôn từ có thể đưa con người thâm nhập vào bề sâu của thế giới bằng cách sử dụng những màu sắc hư ảo. Đó là vầng mặt trời đen chói chang trong “Sông Đông êm đềm” của M. Sôlôkhốp.

Hình tượng văn học thường được cấu tạo bằng liên tưởng, ví von, ẩn dụ, có thể làm cho các sự vật, vật chất vốn không có liên quan có thể hòa vào nhau, soi sáng trong nhau: “Nhớ chân người bước lên đèo. Người đi, rừng núi trông theo bóng người” (Tố Hữu).

Tính chất “phi vật thể” còn cho phép văn học thực hiện nguyên tắc tái hiện chỉnh thể qua bộ phận của nghệ thuật theo tính cách riêng. Giữa các chi tiết với chỉnh thể, hình tượng thường dành một khoảng không cho trí tưởng tượng hoạt động.

Chất liệu của văn học không bị hạn chế về không gian và thời gian:

  1.  

Văn học thuộc loại nghệ thuật thời gian, hình tượng trong tác phẩm được mở dần ra trong thời gian, khác hẳn các loại nghệ thuật tạo hình khác. Văn học có thể tạo ra được những dòng thời gian có nhịp độ, độ dài riêng để phản ánh hiện thực. Văn học có thể “kéo căng” thời gian bằng cách miêu tả rất chi tiết những giây phút hệ trọng của con người, như lúc Kiều thắp hương trước mộ Đạm Tiên (Truyện Kiều). Văn học cũng có thể “dồn nén” thời gian bằng cách tái hiện một khoảng thời gian dài bằng một dòng trần thuật ngắn. Khi tả Kiều ở lầu xanh, Nguyễn Du có lúc làm cho thời gian trôi nhanh, lúc kéo chậm lại, lúc quay về quá khứ, lúc hướng đến tương lai. Chính điều đó có thể làm cho văn học chiếm lĩnh đời sống trên một tầm sâu rộng mà điêu khắc, hội họa khó bề đạt được.

Không gian trong văn học cũng có đặc sắc riêng. Trong thơ văn, tác giả dễ dàng di chuyển từ không gian này sang không gian khác, từ đỉnh núi sang cánh đồng , từ thiên đường xuống trần gian. Đặc điểm này làm cho văn học có thể phản ánh đời sống trong sự toàn vẹn, đầy đặn của nó.

Tóm lại: không gian và thời gian trong văn học rất tiêu biểu cho khả năng chiếm lĩnh đời sống rộng, sâu và nhiều mặt của ngôn từ.

Khả năng phản ánh ngôn từ, tư tưởng của hình tượng văn học:

  1.  

Văn học phản ánh mọi hoạt động ngôn từ của con người. Con người trong văn học biết nói năng, suy nghĩ bằng ngôn từ. Văn bản tác phẩm là toàn bộ một hệ thống gồm những lời phát ngôn của nhân vật, người trần thuật, người kể chuyện, nhân vật trữ tình. Vì vậy, ngôn từ chẳng những là phương tiện miêu tả mà còn là đối tượng miêu tả.

Hoạt động lời nói, suy nghĩ là một mặt cơ bản đời sống xã hội của con người. Qua văn học ta có thể nghe tiếng nói của mọi tầng lớp người ở các thời đại khác nhau, các giọng điệu khác nhau. Văn học còn giữ lại lời nói, cách nói với văn hóa,phong tục, đời sống tình cảm, tư tưởng của một thời. Nhưng văn chương cũng biết nói bằng sự im lặng giữa các câu, chữ. Ngôn từ văn học có tính hàm súc là vì vậy.

Văn học khắc họa chân dung tư tưởng của con người. Trong tác phẩm, nhà văn không chỉ bộc lộ tư tưởng mà còn miêu tả tư tưởng. Đostoiepski, Goethe, Balzac được gọi là những nhà tư tưởng. Họ đã khắc họa tư tưởng của nhân vật như là sự ý thức về địa vị, hoàn cảnh, số phận của họ trong xã hội. Mỗi lời của nhân vật đều thể hiện sự đồng tình hay phản đối trước hiện tượng của cuộc đời và con người. Con người trong văn học không chỉ biết suy nghĩ, cảm xúc mà còn có ý kiến trước vận mệnh, thời cuộc.

Về bản chất, văn học là một cuộc trao đổi, tranh luận, đối thoại ngấm ngầm hay công khai về tư tưởng trong ý nghĩ đích thực của từ đó. Tuy nhiên, việc hiểu tính tư tưởng trong tác phẩm không phải dễ. Tư tưởng của văn học thường nằm sâu hơn trong mối liên hệ giữa các tư tưởng, giữa tư tưởng và đời sống.

Tính vạn năng và tính phổ thông của văn học:

  1.  

Văn học có thể phản ánh bất cứ phương diện nào của đời sống hiện thực. Không có phương diện nào mà ngôn ngữ từ con người không nói đến. Văn học có khả năng vô hạn trong tái hiện đời sống, có khả năng thực hiện chức năng nhận thức, biểu hiện tư tưởng của văn nghệ một cách trọn vẹn nhất.

Văn học lấy ngôn từ làm chất liệu nên cũng mang lại cho văn học một tính phồ thông. Từ mới lọt lòng, con người có thể tiếp xúc với câu ca qua điệu hát ru, bắt đầu đến trường là đến với tác phẩm văn học.Văn học có thể xuất bản với khối lượng lớn mà vẫn truyền được bản chính đến người đọc.

3.Sinh viên làm bài tập thực hành

a.Giải mã ngôn ngữ đoạn thơ sau:

Đôi mắt của người yêu, ôi vực thẳm!

Ôi trời xa,vừng trán của người yêu!

….

Dẫu tin tưởng: chung một trời,một mộng

Em là em,anh vẫn cứ là anh.

Có thể nào qua Vạn Lý Trường Thành

Của hai vũ trụ chứa đầy bí mật.

(Xa cách-Xuân Diệu)

b.Vận dụng những hiểu biết về ngôn ngữ văn chương để phân tích bài ‘Bánh trôi nước” của Hồ Xuân Hương:

Chương IV: NGHỆ SĨ QUÁ TRÌNH SÁNG TẠO VĂN HỌC

Yêu cầu:

Hiểu được nội dung tài năng của nghệ sĩ.

Hiểu được quá trình sáng tạo văn học và những yếu tố của nó.

Nắm được cá tính sáng tạo và vai trò của nó trong việc đổi mới văn học. Vai trò quan trọng của tư tưởng lí luận của nhà văn trong quá trình sáng tác.

  •  
  •  
  •  

Tài liệu:

Tài liệu tham khảo chính:

  1.  

Phương Lựu, Trần Đình Sử, Lê Ngọc Trà (1987), Lí luận văn học , Nxb Giáo dục, tr.201-209

Trần Đình Sử (chủ biên) (2004) Giáo trình lí luận văn học, tập 1, Nxb ĐHSP, tr.123-156.

  •  
  •  

Tài liệu tham khảo mở rộng:

  1.  

Lê Ngọc Trà (2007), Văn chương thẩm mĩ và văn hóa, Nxb Giáo dục, 2007, tr.48-54.

Phạm Đăng Dư, Lê Lưu Oanh (2002), Giáo trình lí luận văn học, Huế, tr.55-60

M.B. Khrapchencô (1987), Cá tính sáng tạo nhà văn và sự phát triển của văn học, Nxb Tác phẩm mới, Hà Nội, 1987.

M. Gorki (1985), Bàn về văn học, Nxb văn học, Hà Nội.

Nguyễn Lương Ngọc (1962), Mấy vấn đề nguyên lí văn học, Nxb Giáo dục, Hà Nội.​​​​​​​

Câu hỏi hướng dẫn học tập:

Tư tưởng lí luận của nhà văn có vai trò như thế nào đối với sáng tác văn học? Vì sao nhà thơ Đức H. Heine viết: “Thế giới chẻ làm đôi – viết nứt xuyên qua trái tim nhà thơ”.

Nhà nghệ sĩ có những năng lực đặc biệt nào? Vì sao nói nghệ sĩ là người thể nghiệm cái đẹp và sáng tạo nghệ thuật?

Hoạt động sáng tạo văn học là một quá trình như thế nào? Những yếu tố nào tạo nên hoạt động sáng tạo ấy?

Cá tính sáng tạo là gì? Nó đóng vai trò như thế nào trong quá trình đổi mới không ngừng của văn học.

  1.  
  2.  
  3.  
  4.  

Nội dung chính:

Chủ thể nghệ sĩ:

  1.  

Văn học là sản phẩm sáng tạo của người nghệ sĩ, gắn với những phẩm chất và tài năng đặc biệt. Những phẩm chất cơ bản của người nghệ sĩ là năng lực quan sát và trí nhớ, năng lực thẩm mĩ, đồng cảm và trực giác, năng lực tưởng tưởng, năng lực biểu hiện nghệ thuật.

Năng lực quan sát và trí nhớ:

  1.  

Đối với người nghệ sĩ, năng lực quan trọng hàng đầu là khả năng quan sát cuộc sống, nắm bắt những biểu hiện đặc trưng của đời sống, biết phát hiện những điều mới lạ sâu sắc trong những hiện tượng rất thông thường. Rôdin nói: “người đáng gọi là bậc thầy là người biết dùng đôi mắt của mình để nhìn những cái mà người khác cũng thấy, nhưng ở nơi mà người khác nhìn đã quá quen, không thấy gì nữa, lại phát hiện ra được cái đẹp.

Nhà văn phải có tài quan sát thật đặc biệt để phát hiện ra những điều mà người khác không phát hiện ra. Nhà văn Tô Hoài khẳng định: “Quan sát giỏi phải thấy được nét chính, tính riêng của vấn đề. Chỉ cần ghi lại những đặc điểm quan trọng như: một câu nói lột tả tính nết, những dáng người và hình bóng, tiếng động, ánh đèn, nét mặt, một trạng thái tư tưởng do mình đã khổ công ngắm, nghe, nghĩ mới bật lên và khi thấy bật lên được thì thích thú, hào hứng, không ghi không chịu được.

Sự quan sát của nhà văn còn phải phán đoán, nhìn rõ những xúc động bên trong tâm hồn mình, từ đó mà tích lũy vốn sống. Hemingway nói: “Nếu một nhà văn ngừng quan sát, thế là xong đời nhà văn”. Như vậy, quan sát đã làm nên vốn sống cần thiết cho một nhà văn.

Trí nhớ tốt là một năng lực không thể thiếu ở nhà văn. Trí nhớ là năng lực ghi nhớ các ấn tượng đời sống lâu bền, giúp nhà văn tích lũy các kinh nghiệm đời sống, kinh nghiệm sách vở. Trí nhớ tốt khiến nhà văn nhớ được các ấn tượng, các sự kiện, để nhà văn có tư liệu, tái hiện trong tác phẩm những sự kiện, nhân vật… Điều đó làm cho trong văn luôn đầy ắp ấn tượng, hồi ức, kinh nghiệm, kiến thức văn hóa, lịch sử… tạo nên chiều sâu của những nhận thức và tình cảm văn học.

Vốn kiến thức sâu rộng là một điều kiện không thể thiếu ở nhà văn. Đó là kiến thức bao quát từ văn hóa, nghệ thuật, triết học, lịch sử, xã hội, con người… Leptonxtoi đã phải mất nhiều năm tìm hiểu để viết nên “Chiến tranh và hòa bình”. Vốn kiến thức chính là kết quả của sự dấn thân vào đời sống của nhà văn. Người ta gọi Tư Mã Thiên là “nhân vật văn hóa khổng lồ” của Trung Quốc cổ đại là vì vậy.

Năng lực thẩm mĩ, tình cảm và trực giác:

  1.  

Nhà văn phải có năng lực cảm thụ thẩm mĩ. Đó là năng lực của chủ thể sáng tạo. Nhà văn phải có hệ thần kinh nhạy bén,biết xúc động trước những hiện tượng thẩm mĩ. Trong lời tựa cho tập thơ “Điêu tàn”, Chế Lan Viên nói: “Làm thơ là làm sự phi thường. Thi sĩ không phải là Người, Đó là người mơ, người say, người điên…”, ông muốn nhấn mạnh đến năng lực thẩm mĩ của nhà thơ. Mơ, say, điên thực chất là những trạng thái rung động đến tột cùng. Năng lực thẩm mĩ đòi hỏi tính chủ quan mãnh liệt.

Tính chủ quan thể hiện nổi bật ở tình cảm. Tình cảm là sức mạnh bản chất của con người, vì thế tình cảm có ý nghĩa cực kì to lớn trong đời sống. Tình cảm được bộc lộ qua các trạng thái yêu thương, căm phận, vui buồn, tình cảm thôi thúc con người làm việc có kết quả, nó có khả năng làm nảy sinh ra một năng lượng mạnh mẽ, thúc đẩy con người hoạt động tích cực.

Phẩm chất giàu tình cảm thể hiện ở chỗ nhà văn dễ rung động trước một sự kiện, biến cố. Tấm lòng dễ rung động ấy sẽ là động cơ, cội nguồn của sáng tạo.Nhà viết kịch Ipxen( Nauy) cho rằng phẩm chất chính của thiên tài là khả năng biết đau khổ.

Tình cảm của nhà văn thường mãnh liệt, yêu thương nồng nàn, đằm thắm mà khát vọng cũng lớn lao bay bổng .Nhờ thế họ mới để lại những vần thơ, trang văn đầy cảm xúc cảm. Phẩm chất giàu tình cảm góp phần làm nên nội dung của văn học, bởi nhà văn sáng tác đồng thời cũng bộc lộ cảm xúc, thái độ, sự đánh giá của mình theo một thiên hướng tình cảm và lí tưởng thẩm mĩ nhất định. Thiếu nội dung tình cảm này không thể có văn chương đích thực.

Trực giác là một năng lực không thể thiếu ở người nghệ sĩ, cùng với năng lực thẩm mĩ, người nghệ sĩ sáng tạo nên những bức tranh đầy sắc hương và tình cảm nồng nàn.

Năng lực tưởng tượng và lí giải đời sống:

  1.  

Trong nghệ thuật, cái có vai trò chủ đạo và tích cực nhất chính là tưởng tượng. Nghệ thuật là sự sáng tạo bằng hư từ, bằng những hình tượng mới mẻ, lạ lùng, hấp dẫn. Nhà văn Pháp George Sand nói: “Trong văn học, cho dù một sự hư cấu giản đơn nhất cũng phải nhờ đến tưởng tượng, nhờ đó mà các sự vật rời rạc nối liền lại với nhau, bổ sung, thêm thắt, làm cho đẹp.

Vai trò của tưởng tượng trong sáng tạo nghệ thuật chủ yếu thể hiện ở hai mặt: liên kết và cải tạo, biến đổi. Chí Phèo của Nam Cao có nguyên mẫu nhân vật ở làng Đại Hoàng, nhưng số phận mờ nhạt. Nhà văn đã thêm vào mối tình với Thị Nở và cái kết thúc dữ dội nhằm gây ấn tượng mạnh mẽ.

Vai trò khác của tưởng tượng là sự bổ sung. So với sự tích truyện Kiều lúc đầu, Nguyễn Du bổ sung rất nhiều: thêm cho Kiều một người em gái là Thúy Vân và người em trai là Vương Quan, thêm người yêu là Kim Trọng, người tình Thúc Sinh và cuộc đánh ghen của Hoạn Thư…. làm cho hình tượng toàn vẹn, hoàn chỉnh, nói được điều nhà thơ Nguyễn Du muốn thể hiện.

Nhà văn cần phải có năng lực lí giải sâu sắc cuộc sống: Balzac mỗi lần đến một gia đình, đến bên một lò sưởi, qua những sự việc y hết nhau, những con người bình yên vô sự ông đều phát hiện được những tính cách vừa tự nhiên vừa mới lạ, đến nỗi mọi người ngạc nhiên. Đó là vì ông biết dùng tài nghệ, đưa những câu chuyện vặt vào tác phẩm, chúng trở nên mới mẻ và độc đáo.

Nghệ thuật biểu hiện

  1.  

Năng lực biểu hiện:

  1.  

Trước hết là năng lực cấu tứ, đó là sự tổ chức, xây dựng hình tượng nghệ thuật thành một chỉnh thể có ý nghĩa khái quát, bao gồm nội dung và hình thức. Đây là một năng lực phức tạp. Nhà văn phải biết viết cái gì, bắt đầu từ đâu, kết thúc ở đâu. Đối với thơ, nhà thơ phải chọn hình ảnh nào làm trọng tâm để biểu đạt được cảm xúc. Nhà văn Tào Ngu muốn viết: “Lôi Vũ” chỉ diễn một tối, trong ba tiếng, ông đã phải mất năm năm để bố trí sự việc diễn ra trong một ngày một đêm, kể lại những mâu thuẫn phức tạp chất chứa trong ba mươi năm.

Thức hai là năng lực khắc họa, miêu tả hình tượng nhân vật. Ở đây, đòi hỏi nhà văn phải có năng lực tạo hình, phải huy động vốn sống, kí ức về các hiện tượng đời sống, các biểu tượng, quan niệm để xây dựng hình tượng. Đòi hỏi nhà văn phải có năng lực lựa chọn chi tiết, tổ chức kết cấu, lựa chọn giọng điệu, từ ngữ để tạo ra bức tranh văn học,. Đó là một năng lực tổng hợp.

Thứ ba là năng lực biểu hiện hình thức đẹp, khả năng thấu hiểu và sử dụng linh hoạt các phương thức, phương tiện nghệ thuật truyền thống, vận dụng ngôn từ, hình ảnh, vần nhịp linh hoạt, có tài thể hiện mọi sắc thái tinh vi của đời sống và thế giới.

Sự rung động nghệ thuật và cảm hứng sáng tạo: giai đoạn tích lũy gồm quan sát, nhận thức, ghi nhớ rất lâu dài. Sáng tác văn học bắt đầu bằng những rung động nghệ thuật, khát vọng muốn diễn đạt, muốn tác động tới tinh thần người khác, muốn gửi thông điệp. Tố Hữu nói: “thơ là một điệu hồn đi tìm các tâm hồn đồng điệu”. Paustorski nói: “người nghệ sĩ luôn luôn muốn truyền đạt một cách hào phóng nhất tất cả những cái phong phú của tư tưởng và tình cảm đang tràn ngập trong tâm hồn mình”.

Cảm hứng sáng tác bắt đầu từ hai điều kiện: một là phải có kích thích của thế giới bên ngoài. Đó có thể là một nhân vật, một sự tích, một câu chuyện nghe được, kích thích bên ngoài là một tư tưởng, một cảnh vật, một bản tin, một cuốn phim … các kích thích làm xôn xao tâm hồn, kích thích sự sáng tạo. Điều kiện thứ hai là sự nung nấu trong tâm hồn. Nhà văn thường nuôi trong tâm hồn mình những suy nghĩ về đời và người. Cảm xúc về những con người bất khuất vì nước đã có sẵn từ lâu trong tâm hồn Tố Hữu, lúc gặp Trần Thị Lý, Tố Hữu cho ra đời “Người con gái Việt Nam”. Phải có sự gặp gỡ va chạm của hai yếu tố khách quan và chủ quan thì rung động nghệ thuật, khát vọng biểu đạt mới bắt đầu.

Cấu tứ nghệ thuật: quá trình cấu tứ là quá trình đào sâu vào tư tưởng tác phẩm. Viết “chiến tranh và hòa bình”, đầu tiên tác giả định viết theo tinh thần phê phán xã hội gây gắt. Về sau ông đổi chủ đề, ca ngợi tinh thần nhân dân, sức mạnh đoàn kết đã đưa đến thắng lợi trong cuộc chiến tranh 1812 chống xâm lược,ông đã biến tiểu thuyết đó trở thành một tiểu thuyết tâm lý-sử thi đồ sộ.

Trong quá trình cấu tứ, tuy ý thức đóng vai trò chủ đạo, song tiềm thức cũng có vai trò không nhỏ. Ý đồ sáng tác ban đầu thường do ý thức chi phối, song khi thực hiện ý đồ nhà văn có thể xa rời ý định lúc nào không biết, ở đó có vai trò của vô thức. Balzac miêu tả những người quí tộc của ông một cách chế nhạo, vì nơi sâu thẩm ông tự nhận thấy họ không xứng đáng có một số phận khác hơn.


 

Sự hình thành văn bản:

  1.  

Sau giai đoạn cấu tứ là giai đoạn lập sơ đồ, hệ thống hóa những ấn tượng, hình ảnh, cảm xúc vào một chỉnh thể.

Sang giai đoạn viết, nhà văn phải vật lộn với con chữ, từng cách diễn đạt một cách khó khăn “… ba năm mới nghĩ được một chữ, mười năm mới nghĩ được một bài. Nhà văn phải thực sự sống với thế giới hình tượng, thật sự nhập vai để suy nghĩ, cảm xúc, nói năng, ứng xử hệt như nhân vật đang sống. Đó là lúc kết tinh cao độ của óc tưởng tượng phong phú với một tấm lòng đồng cảm mãnh liệt.

Cuối cùng đến giai đoạn sửa chữa, lúc này nhà văn nhìn lại bao quát toàn bộ, hoàn thiện, sửa chữa để tác phẩm mang tính nghệ thuật cao. Nhiều nhà văn phải dụng công sửa chữa rất nhiều lần để nó trở nên không thể chê trách.

Cá tính sáng tạo và sự đổi mới không ngừng của văn học:

  1.  

Một nhà văn tài năng phải có tính sáng tạo nổi bật. Cá tính thể hiện rõ các mặt thị hiếu, hứng thú, khí chất, thiên phú, năng lực, tính cách của một nhà văn.

Cá tính sáng tạo của nhà văn gắn liền cá tính của nhà văn nhưng không đồng nhất. Cá tính sáng tạo là đặc sắc nổi bật của nhà văn trong thị hiếu, hứng thú nghệ thuật, trong tài năng, sở trường về sáng tác văn học, là dấu hiệu để phân biệt nhà văn này với nhà văn khác. Cá tính sáng tạo thể hiện qua cách nhìn vể thế giới, cách thể hiện nghệ thuật. Cá tính sáng tạo bao gồm thái độ thẩm mĩ đối với xã hội, ngôn từ và lời kêu gọi nội tâm đối với công chúng.

Tóm lại: cá tính sáng tạo bao gồm tính chủ thể của nhà văn trong nghệ thuật, kinh nghiệm và sở trường đặc thù trong nghệ thuật, là con người mà xã hội và thời đại yêu cầu.

Văn học phát triển và đổi mới không ngừng trên sự đổi mới không ngừng của cá tính sáng tạo. Nhưng mọi sự đổi mới không tách rời truyền thống. Sáng tạo trên cơ sở truyền thống là sự tiếp nối các yếu tố nội dung và hình thức của văn học đã mang tính ổn định như hệ thống đề tài, chủ đề, hình tượng, các biện pháp nghệ thuật…

Sự đổi mới được đánh dấu bằng sự xuất hiện các trường phái, trào lưu, mà trong đó cá tính sáng tạo nhà văn đóng góp một phần không nhỏ trong những đặc điểm lớn của văn học thời đại.


 

Chương V: VĂN HỌC VÀ CUỘC SỐNG CON NGƯỜI

Yêu cầu:

Hiểu được đối tượng và chủ thể của văn học.

Nắm được bản chất “nhân học” của văn học.

Thấy được văn học trong các mối quan hệ xã hội nhiều mặt.

  •  
  •  
  •  

Tài liệu:

Tài liệu tham khảo chính:

  1.  
  1. Phương Lựu, Trần Đình Sử, Lê Ngọc Trà (1997), Lí luận văn học, Nxb Giáo dục, tr.41-56, tr.79-114.

    Trần Đình Sử (chủ biên) (2004), Giáo trình lí luận văn học, Nxb ĐHSP, tr.55-80.

    •  
    •  

2. Tài liệu tham khảo mở rộng:

  1. Lê Ngọc Trà (2007), Văn chương thẩm mĩ và văn hóa, Nxb Giáo dục, tr.23-37.

    Phạm Đăng Dư, Lê Lưu Oanh (2002), Giáo trình lí luận văn học, Huế, tr.54-81.

    Nguyễn Văn Hạnh, Huỳnh Như Phương, Lí luận văn học vấn đề và suy nghĩ, tr.37-48

    •  
    •  
    •  

Câu hỏi hướng dẫn học tập:

Chủ thể văn học là gì? Vì sao văn học không thể thiếu được tính chủ thể?

Nên hiểu tính chân thật nghệ thuật của văn học như thế nào?

Nêu các phương diện trong bản chất nhân học của văn học. Phân tích một ví dụ đề làm sáng tỏ.

Mối quan hệ giữa văn học và văn hóa?

Phân tích giá trị hiện thực của tác phẩm “Chí phèo” ( Nam Cao.)

  1.  
  2.  
  3.  
  4.  
  5.  

Nội dung chính

      • Văn học bắt nguồn từ đời sống:

        1.  

Khách thể và đối tượng của văn học:

  1.  

Văn chương bắt nguồn từ con người có cảnh ngộ trong lòng mà phát ra.sự đổi thay của thiên nhiên tác động đến lòng người tạo ra thơ văn (buồn vì lá thu rụng, vui vì mùa xuân tới). Trong đời sống, hành động, tình cảm, ý chí của con người có trước, văn học nghệ thuật bắt nguồn từ đó mà ra.

Đối tượng của văn học là toàn bộ thế giới trong tính cụ thể, sinh động, toàn vẹn do các giác quan của con người cảm nhận (Đây thôn vĩ dạ, Đây mùa thu tới).

Trung tâm của thế giới toàn vẹn ấy là cuộc sống, sự sống của con người. Cuộc sống là tổng thể các hoạt động sống của con người và xã hội. Sự sống là thế giới của những cảm xúc vui buồn, khổ đau, hối hận… diễn ra trong từng cá thể. Nói tới văn học là nói tới những con người cá thể, cụ thể với những tư tưởng, tình cảm, hành động… (Lạo Hạc, Chí Phèo, Huấn Cao, Paven Bêdukhốp…)

Đối tượng của văn học là đối tượng có ý nghĩa và giá trị đối với sự sống con người (cái giếng là nơi hò hẹn, ngôi nhà là nơi sinh ra…) văn học miêu tả thiên nhiên, sự vật thực ra là miêu tả cuộc sống con người, là miêu tả thiên nhiên đã người hóa.

Tính chủ thể của văn học:

  1.  

Văn học phản ánh đời sống con người từ phương diện giá trị và ý nghĩa, mà chủ thể là tiền đề để xác lập giá trị và ý nghĩa.

Các điều kiện của chủ thể như tình cảm, tư tưởng, kinh nghiệm sống, cảm thụ và lí giải đời sống xã hội tất yếu ảnh hưởng tới việc nắm bắt đời sống.

Nghệ thuật nói với thế giới bằng một thể toàn vẹn, sự toàn vẹn ấy là kết quả của tinh thần người nghệ sĩ (những buồn vui, ấm lạnh, những trạng thái cảm hứng cụ thể).

Trong văn học, tính chủ thể biểu hiện ở sự biểu hiện của tư tưởng, quan niệm, tâm hồn, tình cảm, thị hiếu, vốn sống, kinh nghiệm, tài nghệ của cá nhân nghệ sĩ.

      • Tính chân thực của văn học:

        1.  

Văn học bắt nguồn từ đời sống, văn học luôn đòi hỏi về tính chân thực. Tính chân thực tạo thành phẩm chất và giá trị của văn học.

Khái niệm tính chân thực của văn học là một vấn đề rất phức tạp. Văn học là sản phẩm của tưởng tượng, hư cấu, không phải là sự sao chép hiện thực. Khi so sánh văn học với thực tế, nếu chúng ta thấy không giống thì cho là không chân thực, điều đó không hoàn toàn đúng.

Mỗi thời có một quan niệm về tính chân thực khác nhau. Tính chân thực là một phạm trù luôn mang tính lịch sử và biến đổi.

Khi xét tính chân thực của tác phẩm nghệ thuật cần xem xét trong tính chỉnh thể.

Một phương diện rất cơ bản của tính chân thực là ý thức về phương diện giá trị xã hội của hiện tượng đời sống. Tình cảm khen chê, sự biểu dương hay chế tạo điều phải phù hợp với quan niệm về giá trị.

Tính chân thực phải phù hợp và thỏa mãn tâm lí tiếp nhận của người đọc.

Tóm lại: tính chân thực của văn học là một phạm trù lịch sử và không phải là bất biến. Nó dựa vào mối quan hệ sâu sắc của văn học đối với đời sống, với thực tiễn, và kinh nghiệm của con người.

  1. Sự biểu hiện nhân tính, tính xã hội, tính tự nhiên của con người:

    “Lịch sử văn học, xét về mặt ý nghĩa sâu sắc của nó, là một loại tâm lí học, nghiên cứu tâm hồn con người, là lịch sử tâm hồn của con người”.

    Văn học là nhân học vì văn học tái hiện đời sống muôn mặt của con người từ đời sống xã hội đến đời sống riêng tư, từ quan hệ đẳng cấp đến quan hệ giới tính, từ đời sống vật chất đến tâm hồn, từ tâm lý, phong tục tập quán đến tín ngưỡng, thói quen, thị hiếu thẩm mĩ và ngôn ngữ. Văn học là tấm gương soi chiếu đời sống muôn mặt của con người.

    Bản chất nhân học của văn học trước hết thể hiện ở việc biểu hiện tính người (nhân tính): đó là lòng ham sống, sợ chết, tình yêu nam nữ, tình cha mẹ, tình bạn, tình yêu thiên nhiên, yêu cái đẹp, có lương tâm và lòng trắc ẩn. Tình người là một lĩnh vực phong phú, bí ẩn gắn liền với từng cá thể, với tính xã hội, với khát vọng tự do, hạnh phúc, công bằng, dân chủ.

    Đặc sắc nhất của văn học là sự quan tâm tới tính cách và số phận của cá nhân con người. Văn học tìm cách lí giải về số phận, ý nghĩa cuộc đời của từng cá thể người.

    Văn học tập trung miêu tả thế giới bên trong của con người.

    Tính giai cấp, tính nhân dân, tính dân tộc, tính nhân loại của văn học:

    Tính giai cấp: trong xã hội có phân hóa giai cấp thỉ con người thường thuộc vào một giai cấp nhất định. Địa vị giai cấp sẽ tạo nên những quan niệm, giá trị và phương thức sinh hoạt khác nhau. Tuy nhiên, không nên tuyệt đối hóa tính giai cấp của văn học.

    Tính nhân dân là thuộc tính xã hội của văn học, khi văn học phản ánh cuộc sống, khát vọng và số phận của nhân dân. Nội dung của tính nhân dân bao gồm chủ nghĩa nhân đạo, chủ nghĩa yêu nước, tính thần dân chủ, tính dân tộc, tinh thần phê phán mọi biểu hiện bất công, đen tối trong cuộc sống, phản kháng mọi chế độ áp bức, bất công bóc lột con người dưới mọi hình thức.

    Tính dân tộc: khái niệm tính dân tộc trong văn học gồm có đời sống tinh thần, tâm lí, phong tục, tập quán, ngôn ngữ. Tính dân tộc gắn liền với tinh thần yêu nước, truyền thống thẩm mĩ của dân tộc. Trong quá trình tồn tại và phát triển, văn học dân tộc không ngừng tiếp xúc giao lưu với các nền văn học khác, do đó cũng đổi thay và phát triển.

    Tính nhân loại: là sự tổng hợp các tính trên của con người với những tình cảm như vui, buồn, giận, sợ, yêu, ghét phát triển trong điều kiện xã hội, mang bản chất xã hội, gắn với tính xã hội và lí tính tạo thành những phẩm chất tốt đẹp, cao thượng như lòng vị tha, tình yêu nước, yêu nhân loại, yêu dân tộc, yêu văn hóa… Tính nhân loại gắn liền với các vấn đề thuộc cá nhân như quyền sống, quyền hạnh phúc, quyền tự do con người, quyền sáng tạo.

      • Bản chất “nhân học” của văn học:

        1.  
    •  

IV. Văn học và văn hóa:

  1. Văn học với tư cách là hiện tượng văn hóa:

    Văn hóa là một vấn đề rất phức tạp, có nhiều cách hiểu khác nhau. Văn hóa là thế giới được người hóa, là tổng hòa mọi thành quả và giá trị tinh thần, vật chất của con người, bao gồm kinh nghiệm, tri thức, kĩ năng, phương thức tư duy và hành động. Văn học là một bộ phận của văn hóa.

    Văn học với tư cách là văn hóa có những đặc điểm sau:

    •  
    •  
            1. Văn học là sự tự ý thức của văn hóa.

              Văn học trực tiếp tái hiện đời sống văn hóa của từng dân tộc.

              Văn học kết tinh văn hóa thẩm mĩ của dân tộc, bảo tồn những gì được xem là đẹp, là hay.

              Văn học sử dụng ngôn ngữ, một hiện tượng độc đáo của văn hóa, trong đó mang cách hiểu, cách quan niệm của một dân tộc về thế giới

Văn học và khoa học, triết học, đạo đức, tôn giáo, chính trị:

  •  
  1. Các hình thái ý thức xã hội khác nhau không tồn tại tách rời mà luôn ảnh hưởng lẫn nhau.

    Quan hệ giữa văn học và khoa học là quan hệ của hai lĩnh vực tri thức lớn của con người. Có thời kì văn sử triết bất phân, tri thức về lịch sử và nhân học chưa tách bạch. Đến thế kỉ XVII mới có sự phân hóa rõ rệt tư duy khoa học và tư duy nghệ thuật như hai cách nhận thức đặc thù.

    Khoa học và nghệ thuật ảnh hưởng và bổ sung cho nhau, có tiểu thuyết lịch sử, truyện khoa học viễn tưởng… tư duy khoa học giúp chúng ta nhận thức nghệ thuật một cách sâu sắc.

    Văn học và triết học có quan hệ khăng khít, có ảnh hưởng rất lớn đối với nhau. Triết học ảnh hưởng rất lớn đối với văn học.

    Chính trị có một vai trò hết sức quan trọng, nó là một hiện tưởng cực kì phức tạp, thâm nhập vào mọi phương tiện của đời sống. Quan điểm chính trị tiến bộ giúp người nghệ sĩ đánh giá đúng đắn các hiện tượng đời sống, ngược lại, tư tưởng chính trị lạc hậu, phản động dẫn đến việc xuyên tạc hiện thực.

    Văn học và đạo đức có mối quan hệ bên trong, cả hai đều quan tâm tới sự ý thức về lương tâm, trách nhiệm, hành vi của con người trong đời sống xã hội. Lí tưởng về cái đẹp, cái cao cả không tách rời lí tưởng về cái thiện, về sự hi sinh, vị tha.

    Văn học và tôn giáo có mối quan hệ khá phức tạp.

    Tôn giáo là sự phản ảnh hư ảo thế giới khách quan, đem niềm tin vào cái siêu nhiên, tôn giáo biến con người thành kẻ phụ thuộc vào thần linh hư ảo, đánh mất niềm tin vào chính mình.

    Cả hai đều có đặc điểm chung là biểu hiện tình cảm xã hội và trí tưởng tượng phong phú.

    •  

Chương VI: CHỨC NĂNG CỦA VĂN HỌC

Yêu cầu:

  1. Nắm được các quan niệm về chức năng văn học trong lịch sử.

    Hiểu được các khái niệm chức năng.

    Nắm vững nội dung của các chức năng chính như chức năng thẩm mĩ, nhận thức, giáo dục.

    •  
    •  
    •  

Tài liệu:

Tài liệu tham khảo chính:

  1.  
  1. Phương Lựu, Trần Đình Sử, Lê Ngọc Trà (1987), Lí luận văn học, Nxb Giáo dục, trang 167-179.

    Trần Đình Sử (chủ biên) (2004), Giáo trình lí luận văn học, Nxb ĐHSP tr.197-233.

    •  
    •  

Tài liệu tham khảo mở rộng:

  1.  
  1. Phương Lựu (1994), Biện chứng và yếu tố trong chức năng của văn nghệ, Viện Văn hóa và Sở VHTT.

    Trần Đình Sử (1996), Văn nghệ và giải trí, Tạp chí văn học, số 4.

    Phạm Đăng Dư, Lê Lưu Oanh (2002), Giáo trình lí luận văn học, Huế, tr.37-44.

    Sinh viên đọc tác phẩm, giáo trình, tài liệu tham khảo trước và thảo luận những vấn đề sau:

    •  

Câu hỏi hướng dẫn thảo luận:

Qua tác phẩm” Khi người ta trẻ”, Phan Thị Vàng Anh muốn gửi đến người dọc thông điệp tình cảm tư tưởng gì?

L Tolstoi đã từng nói:” Những người nào phủ nhận tất cả mọi nghệ thuật rõ ràng đều không đúng,bởi vì họ đã phủ nhận cái không được phủ nhận, phủ nhận một trong những phương tiện cần thiết để giao tiếp mà thiếu nó nhân loại không thể nào sống được”.Hãy giải thích ý kiến trên.

Vì sao nói : văn học khêu gợi tư tưởng, tình cảm, nuôi dưỡng tâm hồn, niềm tin cho con người”? Cho ví dụ minh họa.

Bao giờ con người cũng cần có văn học và sự tìm đến với văn học. Vì sao? Theo anh (chị) văn học đáp ứng những yêu cầu nào của đời sống con người?

Hãy giải thích ý kiến: học văn là để học làm người.

Tìm hiểu mối quan hệ giữa giá trị thẩm mỹ. giá trị nhận thức và ý nghĩa giáo dục của văn học. .

Cá nhân anh (chị) cần gì ở văn học?

  1.  
  2.  
  3.  
  4.  
  5.  
  6.  
  7.  


 

2. Giảng viên thuyết giảng những nội dung chính:


 

      • Quan niệm về chức năng văn học trong lịch sử:

        1.  

Quan niệm ở phương Tây: thời cổ đại, người ta đã xem thẩm mĩ và có ích là chức năng chính của văn học.

  1.  
  1. Platon: nhấn mạnh tới chức năng giáo dục. Ông đánh giá cao vai trò của văn nghệ trong việc bồi dưỡng tâm hồn lành mạnh, cao thượng cho con người.

    Aristote: đưa ra thuyết “thanh lọc”,” tác dụng khơi thông khôi phục lại trạng thái thăng bằng, lành mạnh của tâm lí.

    Bielinxki: cho rằng “văn học là vị gia sư của xã hội”.

    Léptônxtôi: văn học là sự “hướng đạo về tinh thần”, văn học vừa khiến cho con người vui thú, vừa làm cho con người cao thượng.

    •  
    •  
    •  
    •  

Quan niệm ở phương Đông: thời cổ đại lí luận văn học cổ của Nho giáo ở Trung Hoa nhấn mạnh đến chức năng giáo hóa, biểu dương cái đẹp, phê phán cái xấu, vai trò “xem thơ mà biết chính sự một thời”.

  1.  
  2. Khổng Tử nhấn mạnh vai trò của văn chương đối với việc tu dưỡng đạo đức, nhân cách của nhà văn, nhà thơ, có thể khêu gợi sự cộng hưởng về tình cảm, gợi cảm về tâm trí. Khổng Tử còn nói đến chức năng chính trị là thờ cha, thờ vua (duy trì quan hệ luân lí và quan hệ chính trị giữa cha con và vua tôi).

    Đời Hán: lại coi trọng chức năng xã hội, chính trị của văn học “làm cho sự được mất dược đúng đắn, rung động đất trời, cảm được quỉ thần, không gì hơn thơ… thơ làm mầu mực cho quan hệ vợ chồng, hình thành lòng hiếu kính, khiến cho nhân dân trung hậu, giao hóa theo cái đẹp, làm đổi thay phong tục

    Nho giáo tổng kết chức năng xã hội của văn học:

    Chức năng phát tiết (khơi dòng cho người dân được nói).

    Chức năng giáo hóa (trên lấy phong hóa giáo dục kẻ dưới).

    Chức năng quan sát (xem phong tục, biết được mất tự đánh giá đúng sai).

    Chức năng giao tiếp (không đọc kinh thi không biết cách nói).

    Đời Đường: đưa ra quan niệm bảo thủ, xem văn nghệ phục vụ cho lợi ích riêng của giai cấp thống trị “nhất ngôn hưng bang, nhất ngôn táng bang” (Một lời có thể làm cho nước phồn vinh, một lời có thể làm cho nước tiêu vong).


    •  

Ở Việt Nam: quan điểm văn nghệ Nho giáo đã thấm sâu vào trí thức, kẻ sĩ Việt Nam. Văn chương chuyên chở đạo lý thánh hiền, mặt khác phục vụ chính trị, đạo đức, giáo hóa, ca ngợi các triều vua.

  1.  
  1. Nguyễn Tư Giản: “văn của thánh nhân là để chở đạo, văn của văn nhân là để bàn về đạo”.

    Vũ Phạm Khải: “văn là cái khí cụ để chứa đựng đạo đức”.

    Cao Xuân Dục: “văn là để chở đạo”.

    Nguyễn Văn Siêu: “văn do đạo mà ra”.

    •  
    •  
    •  
    •  

Quan niệm ngày nay:

  1.  

Chức năng xã hội cuả văn học được đánh giá cao. Vai trò của văn học nghệ thuật đã tác dụng đến tư tưởng, tình cảm của con người. Tác dụng của văn học chủ yếu là hướng tới tương lai. Từ tác động đến tâm hồn, trí tuệ, đổi thay tác phong cách nghĩ, cách cảm, rồi đưa đến hành động.

Khi nghiên cứu tính chất nhiều chức năng của văn học, cần chú ý: số lượng chức năng: Nhà lí luận Stôlôvích đưa ra 14 chức năng: gợi ý, giao tiếp, tổ chức xã hội, xã hội hóa, giáo dục, khai sáng, nhận thức, dự báo, đánh giá, ám thị, thanh lọc, đền bù, hưởng thụ, mua vui…

Cái khó là việc sắp xếp các chức năng theo một hệ thống. Vị trí của chúng trong hệ thống, mối liên hệ giữa các chức năng đó. Chức năng thẩm mĩ có thể coi là chức năng cốt lõi nhất, chỉ có riêng ở văn học. Là chức năng không thể thay thế được. Thông qua thẩm mĩ, văn học đem đến nhận thức về cuộc đời.

Các chức năng chính:

  1.  
      • Chức năng thẩm mĩ:

        1.  

Chức năng thẩm mĩ nhằm thỏa mãn nhu cầu thẩm mĩ, khơi dậy những khoái cảm nghệ thuật. Văn học thỏa mãn nhu cầu thẩm mĩ chủ yếu bằng cách mang đến cho con người sự hưởng thụ cái đẹp.

Nhu cầu vể cái đẹp là một nhu cầu rất quan trọng, “cuộc sống không có tiếng hát như sự sống không có ánh sáng mặt trời” (Phu Xích). Nhu cầu về cái đẹp là một nhu cầu có tính bản chất của con người. Con người luôn có xu hướng vươn lên cái đẹp. Trong bản chất, nhu cầu về cái đẹp là nhu cầu về cái gì lí tưởng, về sự hoàn thiện. Thỏa mãn nhu cầu đó là thỏa mãn khao khát của con người về sự hài hòa, về những giá trị chân thiện cao quí nhất. Do đó, đòi hỏi về cái đẹp là nhu cầu rất cao của con người, nó nói lên sự tiến hóa và phong phú của con người trong hoạt động thực tiễn, nó gắn với quá trình phát triển thể chất và tinh thần của con người.

Bên cạnh đó, nghệ thuật là nơi bồi dưỡng những năng lực sáng tạo thẩm mĩ, bồi dưỡng cảm xúc, thị hiếu thẩm mĩ cho con người. Nhờ tiếp xúc với nghệ thuật, con người trở nên sành sỏi với nghệ thuật biết nhận ra cái đẹp trong đời sống, đặc biệt là càng trở nên phong phú, nhạy cảm hơn. Nghệ thuật chính là nơi nuôi dưỡng cảm xúc thẩm mĩ, nơi giữ gìn và phát triển chất nghệ vì nó vốn có trong mỗi tâm hồn.

      • Chức năng nhận thức:

        1.  

Trong ý nghĩa thông thường nhất, nhận thức có nghĩa là biết ý nghĩa nhận thức của nghệ thuật là nó giúp người ta biết về cái gì, có thêm được những tri thức gì.

Nhiều tác phẩm văn học là những bộ bách khoa toàn thư về cuộc sống. Nhận thức trong văn hóa là sự khám phá về những vấn đề xã hội và con người trong một thời đại.

Nghệ thuật giúp con người cảm nhận và tư duy về cuộc sống “nghệ thuật có nhiệm vụ khám phá chân lí trong hình thức cảm tính” (Heghen).

Tác phẩm nghệ thuật không phải chỉ ghi chép đời sống xã hội và con người. Nghệ thuật đổng nghĩa với quá trình hiểu biết, khám phá và sáng tác.

Ý nghĩa khám phá của nghệ thuật thể hiện ở những khái quát mà nhà văn đạt tới và những vấn đề được nêu ra trong tác phẩm.

Nhà văn lớn không chỉ đưa ra những vấn đề cơ bản nhất của hiện tại mà cả những khuynh hướng phát triển của chúng trong tương lai. Nghệ thuật là một hình thức nghiên cứu về tương lai rất đáng tin cậy, nhờ sự tưởng tượng của người nghệ sĩ, những tác phẩm nghệ thuật có giá trị về tương lai thường mang ý nghĩa dự báo, giúp con người nhận thức được qui luật phát triển tất yếu của cuộc sống.

Nghệ thuật không chỉ hướng ra thế giới mà còn hướng vào con người. Theo nghĩa đó, nghệ thuật còn là một hoạt động tự nhận thức. Sáng tác đối với người nghệ sĩ, là quá trình tìm hiểu thế giới xung quanh, nhưng đồng thời cũng là quá trình tự quan sát chính bản thân mình. Tác phẩm nghệ thuật là tấm gương soi những năng lực về thế giới tinh thần của nhà văn. Tiếp xúc với tác phẩm nghệ thuật, người đọc không chỉ biết về người khác mà còn biết chính bản thân mình.

Nghệ thuật là sự ngạc nhiên vì khám phá ra điều mới mẻ trong cái quen thuộc hàng ngày, nhận ra cái chí lí sâu sa trong những gì bình thường, đơn giản.

Giá trị nhận thức của tác phẩm nghệ thuật không chỉ nằm trong cái được nói đến mà cả trong cách nói, cách lí giải, trong bản thân lí lẽ nhà văn.

      • Chức năng giáo dục:

        1.  

Giáo dục được hiểu là hoạt động rèn luyện, trao đổi những giác quan thẩm mĩ và năng lực sáng tạo của con người. Nghệ thuật trau dồi năng lực sáng tạo cho con người.

Nghệ thuật tác động, cải tạo thế giới quan của con người. Chức năng giáo dục của nghệ thuật chính là chức năng tác động cải tạo tư tưởng, đạo đức của con người.. (Lục Vân Tiên – Nguyễn Đình Chiểu: Chở bao nhiêu đạo…)

Bản chất của nghệ thuật là tình cảm, nghệ thuật tác động vào tình cảm, để lay chuyển con người. Nghệ thuật giáo dục, cải tạo con người bằng con đường tình cảm.

Giáo dục bằng nghệ thuật có tính cưỡng bức mà là một hoạt động tự giác. Nghệ thuật luôn có xu hướng khuếch đại cái tốt để nó trở nên đẹp đẽ, lộng lẫy, lôi cuốn và hấp dẫn hơn. Đồng thời nhà văn cũng phóng đại cái xấu, làm cho nó trở nên ghê tởm, đáng ghét.

Khả năng tác động của nghệ thuật rất to lớn, nhưng nó thấm vào con người dần dần, ảnh hưởng lâu dài theo kiểu lây lan. Tác phẩm nghệ thuật hay lành mạnh làm cho con người cao thượng, vị tha.

      • Chức năng giao tiếp:

        1.  

Nói đến giao tiếp là nói đến sự giao lưu, thông báo, trao đổi. Nghĩa là ở đây có vấn đề người nói, người nghe, người nhận. Văn học thực hiện nhiệm vụ giao tiếp theo một kiểu riêng. Nhà văn không phải là người đầu tiên truyền thông báo theo kiểu bình thường, đơn giản, chuyển tải thông tin. Tác phẩm văn học chứa đựng nội dung tư tưởng tình cảm và mang tính khuynh hướng xã hội rất đậm nét. Do đó, văn học trở thành phương tiện hiệu quả nhất, đưa con người xích lại gần nhau không chỉ về không gian và thời gian mà về cả tình cảm, tinh thần nữa. Hơn nữa, văn học không chỉ là giao tiếp một chiều từ tác giả đến bạn đọc, mà là sự trao đổi đối thoại, tác độn qua lại giữa nhà văn và công chúng độc giả.

Hướng dẫn ôn tập:

3.Thực hành:

  1. Dựa vào bản chất thẩm mĩ của văn học, phân tích truyện ngắn “chiếc lá cuối cùng” của O’Henry.

    Theo anh (chị) chức năng giáo dục của văn học khác với giáo dục đạo đức như thế nào? Phân tích một tác phẩm cụ thể làm sáng tỏ.

    1.  
    2.  

Làm bài tập theo nhóm:.

  1.  

Truyện Kiều giúp người đọc nghiền ngẫm về những vấn đề gì của cuộc sống?


 

Chương VII: TIẾP NHẬN VĂN HỌC

Yêu cầu:

  1. Hiểu được các vấn đề và tiếp nhận, phê bình văn học.

    Có ý thức về vai trò tích cực, chủ động, sáng tạo của người đọc đối với văn học.

    •  
    •  

Tài liệu tham khảo:

Tài liệu tham khảo chính:

  1.  
  1. Phương Lựu, Trần Đình Sử, Lê Ngọc Trà (1987), Lí luận văn học, Nxb Giáo dục, tr.221-232.

    Trần Đình Sử chủ biên (2004), Giáo trình lí luận văn học, tập 1, Nxb ĐHSP, tr.221-232.

    •  
    •  


 

Tài liệu tham khảo mở rộng:

  1.  
  1. Phương Lựu (1999), Giáo trình tiếp nhận văn học, Nxb Giáo dục.

    Văn học nghệ thuật và sự tiếp nhận. Viện Thông tin Khoa học Xã hội Hà Nội, 1991

    H Đọc và tiếp nhận văn chương (Nguyễn Thanh Hùng), Nxb Giáo dục, Hà Nội, 2002.

    Từ văn bản đến tác phẩm (Trương Đăng Dung), Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1998.

    Lí luận văn học vấn đề và suy nghĩ (Nguyễn Văn Hạnh, Huỳnh Như Phương), Nxb Giáo dục, 1995.

    Phương pháp dạy học:

    •  

1.Sinh viên đọc tác phẩm, làm bài thực hành:

“ Đọc trước hết là phát hiện trong văn bản và từ văn bản một thế giới khác, những con người khác.Người đọc sống trong thế giới tưởng tượng của mình, xây dựng cho mình,thông qua tác phẩm một xứ sở riêng.Đọc là một hoạt động tích cực, người đọc nhập cuộc, hóa thân với những cảm xúc riêng của mình,những kỉ niệm,kí ức, khát vọng riêng”

(NgỌn đèn không tắt, ngựa đen)

Câu hỏi hướng dẫn học tập:

Bản thân vấn đề tiếp nhận có phải là hoàn toàn mới mẻ trong lịch sử mĩ học và lí luận nghệ thuật không?

Thử phân loại người đọc?

Thề nào là “tầm đón nhận, của người đọc thực tế?”.

Tính sáng tạo của người đọc thường thể hiện ở những mặt nào?

Chỗ giống và khác nhau giữa phê bình và tiếp nhận văn học?

Hãy làm rõ tính chất đặc trưng của phê bình văn học trên cơ sở so sánh nó với hoạt động thưởng thức văn học?

  1.  
  2.  
  3.  
  4.  
  5.  
  6.  


 

Giảng viên thuyết giảng những nội dung chính:

      • Vai trò của người đọc trong hoat động văn học:

        1.  

1.Vai trò, ý nghĩa của tiếp nhận văn học

  1. Tiếp nhận văn học là hoạt động “tiêu dùng, thưởng thức, phê bình văn học của độc giả. Có sáng tác văn học thì có tiếp nhận văn học, hai quá trình này có sự tác động lẫn nhau, làm thỏa mãn nhu cầu tinh thần của con người trong cuộc sống.

    Tác phẩm văn học là một quá trình không nhất thành bất biến, có sự mở rộng ý nghĩa hầu như vô tận nhờ đọc giả. Khi nhà văn cho ra đời một văn bản tác phẩm, văn bản đó là một cấu trúc kí hiệu đa tầng ý nghĩa, một “đề án tiếp nhận, một mã nghệ thuật trong sự tiếp nhận của người đọc”.

    Khi đến với tác phẩm văn học, người tiếp nhận chú ý đến thế giới tinh thần hàm chứa, biểu lộ thông qua những chất liệu. Một sự tiếp nhận văn học đích thực đồng nghĩa với việc làm sống dậy khách thể tinh thần của tác phẩm, biến nó thành năng lực tư duy, cảm nhận, xúc cảm của chính người tiếp nhận, thành một yếu tố của đời sống ý thức xã hội.

    •  
    •  
    •  

: tiếp nhận văn học có vai trò, ý nghĩa quan trọng trong việc hoàn tất quá trình sáng tác. Nhờ tiếp nhận, hoạt động sáng tạo nghệ thuật trở nên có ý nghĩa trong đời sống tinh thần con người.

2.Các loại người đọc:

Có nhiều cách phân loại người đọc dựa trên những tiêu chí: nghề nghiệp, lứa tuổi, trình độ, lập trường, chính trị-xã hội. Nhiều tài liệu về lí luận văn học chia ra hai loại chính: người đọc tiềm ẩn và người đọc thực tế.

Người đọc tiềm ẩn: (người đọc giả định).

  1.  
  1. Khi sáng tác, bao giờ nhà văn cũng mường tượng đến hình ảnh sẽ tiếp nhận sản phẩm sinh thân của mình. Đây là một điều rất tự nhiên.

    Trước hết từ động cơ sáng tác của tác giả, có thể liên tưởng đến “người đọc tiềm ẩn này. Trong sở kiến hành, sau khi vẽ ra cảnh đối lập giữa một bên là mấy mẹ con người ăn mày lang thang trong cảnh mất mùa đói kém với bên kia là cảnh mâm cao cổ đầy, yến tiệc linh đình, Nguyễn Du đã viết:

    •  
    •  

Hà nhân tả thử đồ

Trì dĩ phụng quân vương”

(Ai vẽ nên bức tranh này

Để dâng lên nhà vua)

Có thể thấy, một cách gián tiếp, nhà thơ muốn đấng bề trên đọc đến bài thơ này…

  1. Có khi nhà văn xác định đối tưởng người đọc ngay trong lời đề tựa của tác phẩm. Romain Rolland viết: “tiểu thuyết Jean Chritophe của tôi không phải viết cho nhà văn xem… mà mong muốn nó được tiếp xúc với những tâm hồn cô độc và những trái tim chân thành sống bên ngoài văn giới”.

    Tuy nhiên, không nên đóng khung người đọc vào trong các hình thái cụ thể. Ngay người đọc được tác giả gọi tên cũng không phải là duy nhất đọc và có khi không thể đọc tác phẩm (như Nguyễn Du-đối tượng tâm sự chính của Tố Hữu trong bài thơ “Kính gửi cụ Nguyễn Du chẳng hạn).

    •  
    •  

: “Người đọc tiềm ẩn, được xem như một khái niệm lí luận có ý nghĩa quan trọng giúp ta nhìn ra phần nào cơ chế của hoạt động sáng tạo văn học. Cái bóng của người đọc luôn hất lên từng trang viết của nhà văn, có ý nghĩa định hướng cho hoạt động sáng tác trên các mặt xử lí đề tài, chủ đề, lựa chọn cách viết… để tác phẩm đạt tới sức tác động tối đa nhất.


 

Người đọc thực tế: là khái niệm chỉ đối tượng tiếp nhận tác phẩm văn học tồn tại thật trong cuộc đời. Đối tượng tiếp nhận này rất phong phú, đạ dạng, mở ra không cùng trong không gian và thời gian, vượt khỏi khả năng bao quát của tác giả. Có thể phân loại người đọc thực tế dựa trên tiêu chí “tầm đón nhận”

  1.  


 

3.Tầm đón nhận: “với tư cách là chủ thể tiếp nhận, với bất cứ loại tác phẩm văn học nào, người đọc không bao giờ là một tờ giấy trắng thụ động mà họ vốn có một “tầm đón nhận” được hình thành một cách tổng hợp bởi nhiều yếu tố. Trước hết là do thực tiễn sống và sự giáo dưỡng văn hóa, đã hình thành nên ở mỗi người đọc từ thế giới quan đến nhân sinh quan, từ thái độ chính trị đến khuynh hướng tình cảm và hứng thú thẩm mĩ, nghề nghiệp, tuổi tác giới tính… góp phần tác động đến tầm đón nhận của người đọc.

  1. Căn cứ vào tầm đón nhận, có thể nói đến các loại hình người đọc thực tế sau:

    Loại người đọc bình dân: thích thưởng thức những tác phẩm thuộc dòng văn hóa đại chúng, ít quan tâm đến những sáng tác mang tính chuyên nghiệp.

    Loại người đọc trí thức: quan tâm, thích bàn luận về văn chương, có những kiến thức đúng.

    Loại ngườin đọc có trình độ chuyên môn cao: có ý thức tham gia vào đời sống, có khả năng nghiên cứu, phê bình văn học.

    •  
    •  
    •  
    •  

Tóm lại: đóng góp của các loại người đọc thực tế tạo nên đời sống lịch sử của tác phẩm văn học. Đặc biệt là loại người đọc có trình độ chuyên môn.


 

II.Quá trình tiếp nhận:

Trong quá trình tiếp nhận tác phẩm văn học, bạn đọc thực tế đã chuyển hóa từ văn bản của tác giả thành văn bản của chính mình. Giữa hai loại văn bản thường chỉ có sự thống nhất chứ không thể có sự đồng nhất hoàn toàn vì phải trải qua những khâu chuyển dịch như sau:

      1. người đọc, tự mình thể nghiệm, “lấp chỗ trống, văn bản tác phẩm là một” kết cấu vẫy gọi, gợi mở cho người đọc trong phạm vi có thể. Ý nghĩa của tác phẩm nằm trong những cuộc “đối thoại”. Văn bản thứ nhất chỉ có một, nhưng văn bản thứ hai xuất hiện vô tận trong lịch sử. Tác phẩm nghệ thuật do đó là một hệ thống “mở”.

        Tái hiện để mà tái tạo: văn học là nghệ thuật của ngôn từ, chất liệu của nó là kí hiệu của vật chất, cho nên hình ảnh của nó là gián tiếp. Vì vậy, muốn thưởng thức văn học, người đọc phải trải qua khâu “tái hiện” liên tục. Trong quá trình đó, chúng ta mới thấy dần hình tượng mà nhà văn mô tả, nhưng là hình tượng được diễn lại trong đầu óc của người đọc. Văn học mang tính hình tượng gián tiếp, nó phải trải qua sự tưởng tượng của người đọc trong quá trình tiếp nhận. Ở đây là sự tưởng tưởng mang tính chất sáng tạo, hay sự tái tạo trong đọc văn theo các mặt sau:

        1.  
        2.  
  1. Tái tạo hình tượng: Khi đọc văn học, độc giả vừa bám vào sự mô tả của tác giả, vừa liên tưởng với loại người tương tự ngoài đời, đồng thời cũng đưa vào cảm nghĩ, sự lí giải của riêng mình về nhân vật. Kết quả là mỗi người mỗi khác, một nghìn bạn đọc thì có một nghìn Hamlét của Shakespeare.

    •  


 

  1. Thay đổi lại theo tình cảm khác: tác phẩm văn học nào cũng thể hiện tình cảm, những sắc thái buồn vui, giận, thương… trong đó sẽ nổi lên một trạng thái tình cảm chủ đạo. Nhưng người đọc thường chỉ nhớ nhất trạng thái tình cảm nào phù hợp với bản thân. Ví dụ: Trần Thị Lý được mọi người ca ngợi và trân trọng, Tố Hữu đã biểu hiện lại những tình cảm cao đẹp này bằng một giọng điệu rất riêng “cho tôi hôn bàn chân em lạnh ngắt, cho tôi nâng bàn tay em nắm chặt”…

    •  


 

  1. Giải thích lại theo quan niệm khác: Mỗi người đọc có quan niệm riêng về con người và thế giới, họ thường giải thích mọi việc đời, mọi kiệt tác văn học, vì đây là “những bức tranh nhân sinh thu gọn”. Ví dụ: bức tranh thánh mẫu của Leonard de Vinci, theo Freud chẳng qua chỉ là kết quả sự thăng hoa những tình cảm “tính dục ấu thơ” của ông tác đối với mẹ. Ông cho rằng: Leonard de Vinci mồ côi mẹ từ nhỏ, suốt đời luôn trong tâm trạng nhớ mẹ, tình cảm ấy đã được thể hiện trong những bức tranh của ông. Đặc biệt là nụ cười thần bí của Mona Lida, vừa có chút e lệ, vừa khêu gọi, vừa diệu dàng, vừa kiêu sa, vừa hiền từ, vừa như có chút tàn nhẫn. thật à một dáng vẻ với nhiều tâm trạng phức hợp. Qua Mona Lida, Leonard de Vinci gặp lại chính bản thân mình.

    •  


 

Lý giả và ngộ nhận:

  1.  

Trong sự tiếp nhận của người đọc, có khi người đọc có khả năng lí giải đúng, có khi lại ngô nhận ý đồ của tác giả. Nhưng không phải tất cả những ngộ nhận ý đồ tác giả đều sai. Người đọc nhìn ở một góc độ khác về tác phẩm, có thể phát hiện ra những khía cạnh mà vốn tác giả không nghĩ đến. Xuân Diệu trong bài “Biển” đã ví các chàng trai như những cồn sống đại dương vỗ mãi vào bờ “như hôn mãi ngàn năm không thỏa. Bởi yêu bờ lắm lắm em ơi”, và ví các cô gái với “Bờ đẹp đẽ cát vàng. Thoai thoải hàng thông đứng. Như lặng lẽ mơ màng. Suốt ngàn năm bên sóng”. Nhà thơ đã đọc câu thơ sau này lên với tiếng sóng bằng cách nhấn mạnh các âm: vàng, hàng, ngàn, màng… nhưng tại sao khi nói về các cô gái lại có tiếng sóng. Một bạn đọc cho rằng, mô tả các cô gái đáng yêu, thì các chàng trai chờn vờn quấn quýt chung quanh là điều dễ hiểu. Xuân Diệu nghe xong rất thích thú và về sau này cũng giải thích như vậy. Sức mạnh của văn học nghệ thuật, còn chính là nhờ sự tiếp nhận mang tính sáng tạo của người đọc.

III.Hiệu quả của sự tiếp nhận văn học:

Hiệu quả của sự tiếp nhận tác phẩm văn học phụ thuộc vào chủ thể tiếp nhận, phẩm chất của tác phẩm, sự tương tác giữa chúng với nhau. Tuy nhiên có thể thấy hiệu quả tiếp nhận theo những nấc thang như sau:

      1. Đồng cảm: sự xúc động của bạn đọc đối với những tư tưởng, những tình cảm lý tưởng và nguyện vọng được bộc lộ qua số phận của nhân vật hay nhân tình thế thái trong tác phẩm, khiến họ yêu ghét. Đồng cảm cũng có thể mang những sắc thái nội dung khác nhau:

        1.  
  1. Đồng cảm về tư tưởng quan niệm: trong “bản thảo kinh tế triết học năm 1844, Tư bản luận, Hệ tư tưởng Đức”…Marx đã trích dẫn những câu sau của Shakespeare: “Vàng, chỉ cần một chút thôi, là có thể đổi trắng thay đen, xấu thành đẹp, sai thành đúng, đê tiện thành cao quí, tên hèn nhát thành dũng sĩ, mục nát thành đầy sức sống! Ôi, tên lừa bịp lấp lánh sáng này”. Điều này chứng tỏ có một sự đồng cảm giữa Marx và Shakespeare.

    Đồng cảm về tình cảm: điều này thường xuyên xảy ra khi có sự tương đồng về tình cảm giữa người đọc và nhân vật. Nhưng có khi đồng cảm lại không do sự tương đồng như sự đồng cảm về cảnh ngộ, cảnh ngộ khác nhau vẫn có sự đồng cảm. Đọc hai câu thơ sau trong Truyện Kiều:

    1.  
    2.  

Khi sao phong gấm rủ là

Giờ sao tan tác như hoa giữa đường”

Ai mà không đồng tình thương cảm, mặc dù chưa trải qua cạnh ngộ đó bao giờ, có lẽ nhờ lòng trắc ẩn của những con người lương thiện.


 

      1. Thanh lọc: thanh lọc là kết quả của việc người đọc thâm nhập được vào thế giới tư tưởng, nghệ thuật của tác phẩm, và từ trong xúc động, cảm thấy tâm hồn được điều tiết hài hòa và mở rộng nâng cao.

        1.  

Quản Tử thời Xuân Thu bên Trung Quốc đã nhận xét “sứ mệnh của câu chuyện dân gian là làm cho mỗi người nông dân sau một ngày lao động vất vả, thân thể rã rời, tối đến trở về lại được khoan khoái, phấn chấn và an ủi, khiến anh ta quên hết mỏi mệt, có thể biến mảnh ruộng lam lũ của mình thành vườn hoa ngát hương.

Đi-đơ-rô nói về sự mở rộng và nâng cao tâm hồn bởi những tình cảm đạo đức của tác phẩm: “chỉ có trong rạp kịch, đôi mắt của người tốt, kẻ xấu mới có dịp chan hòa. Chỉ có ở đây, kẻ xấu xa mới có thể tỏ ra căm ghét một nhân vật có tính cách như mình. Kẻ xấu ra khỏi rạp, phần nào đã không muốn làm điều ác như trước nữa. (bàn về nghệ thuật).

  •  
  •  


 

      1. Bừng tỉnh: trên cơ sở của sự đồng cảm và thanh lọc, nếu người đọc tiếp tục suy ngẫm, kết hợp chân lý của tác phẩm, liên hệ với thế thái nhân tình, bỗng nhận ra thêm một khía cạnh về thế thái nhân sinh, thì đó gọi là bừng tỉnh. Hãy lấy ví dụ từ bài ca dao dân ca:

        1.  

Trong đầm gì đẹp bằng sen

Lá xanh, bông trắng lại chen nhị vàng

Nhị vàn bông trắng lá xanh

Gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn”

Ta đồng cảm trước vẻ đẹp thanh khiết của hoa sen, ta được “thanh lọc” nếu bản thân có hơi đen vì gần mực. Trên cơ sở đó, người đọc tiếp tục nghiền ngậm về nhân tình thế thái, bừng tỉnh nhận ra rằng: cây cỏ còn được như vậy, huống chi con người sống trên cõi đời phiền phức này, nếu có ý chí và quyết tâm, thì không những cần thiết, mà có thể bảo toàn được khí tiết và nhân cách của mình trong cảnh trần ai phức tạp này.

IV.Phê bình văn học:

Phê bình và tiếp nhận:

  1.  
  2. Phê bình văn học là một trong ba phân môn chính của Khoa nghiên cứu văn học. Phê bình văn học thường hướng vào đối tượng chủ yếu là những hiện tượng văn học đang diễn ra trước mắt. Nó có nhiệm vụ kịp thời biểu dương, khẳng định những tác phẩm, nhà văn có khuynh hướng tư tưởng – nghệ thuật theo đúng một quan điểm văn học nhất định, đồng thời đấu tranh phê phán, chống những cái ngược lại.

    Phê bình văn học quan tâm đến tất cả các hoạt động sáng tác, mọi lĩnh vực của hoạt động văn học, từ thị hiếu thưởng thức đến khuynh hướng sáng tác, từ đề tài nhân vật đến ngôn ngữ, thể loại

    Phê bình văn học lấy việc phân tích, đánh giá tác phẩm làm nhiệm vụ then chốt, vì vậy, phê bình văn học liên quan đến hoạt động tiếp nhận văn học. Nhưng phê bình văn học được coi là một loại tiếp nhận đặc biệt.

    Tiếp nhận văn học diễn ra với nhiều cấp độ khác nhau, phổ biến nhất là việc thưởng thức tác phẩm. Tiến lên một bước nữa, trên cơ sở thưởng thức, người ta có thể lí giải tác phẩm. Trong khi đó, phê bình văn học phải tiến hành đánh giá giá trị tác phẩm, đóng góp của nó trong khuynh hướng sáng tác đang diễn ra. Nếu việc thưởng thức thiên về cá nhân thì phê bình văn học mang thiên chức xã hội, nó phải hướng dẫn dư luận của bạn đọc, đối thoại với tác giả. Nhà phê bình phải có năng lực cảm thụ tinh tế đối với tác phẩm, công việc của họ phải đại diện xứng đáng cho sự tiếp nhận lành mạnh và công minh.

    Các loại phê bình văn học:

    •  
    •  
    •  
    •  
    • Tiểu luận: dùng để phân tích đánh giá một hiện tượng văn học một cách toàn diện, tỉ mỉ. Tiểu luận yêu cầu luận điểm phải rõ ràng, luận cứ, luận chứng sắc sảo, chặt chẽ.

      Điểm bình: bày tỏ một cách nhẹ nhàng về một khía cạnh nào đó của tác phẩm, luôn đòi hỏi ở người viết sự nhạy cảm, tinh tế, sâu sắc.

      Tùy bút: gần với loại điểm bình ở những nhận xét tinh tế, sắc sảo, nhưng từ đó vừa mở rộng vấn đề, vừa thể hiện những suy nghĩ cá nhân.

      Lời tựa: thường đặt trước và sau tác phẩm, thực chất là những lời giới thiệu nhằm giúp người đọc có thêm điều kiện để hiểu rõ thêm tác phẩm.

      Chân dung: dành riêng cho việc tái hiện có đánh giá bộ mặt tinh thần của nhà văn. Thường một bài chân dung phải có những chi tiết sinh động, độc đáo và điển hình về phong cách sống và viết của một nhà văn.


      •  

Vai trò của phê bình văn học:

  1.  
  1. Tác động tới sự nhìn nhận, đánh giá cảu nhà văn đối với hiện thực đời sống, gợi ý cho nhà văn những đề tài, vấn đề có ý nghĩa xã hội, nhân sinh….

    Lý giải, cắt nghĩa tác phẩm văn học, thường là những phát hiện mới mẻ, bất ngờ. Có trường hợp làm thay đổi diện mạo tinh thần của tác phẩm.

    Phê bình văn học có tác động mạnh mẽ đến người đọc. Nhà phê bình đã “người đọc tinh hoa, anh ta có tư cách của người hướng đạo cho việc đọc của công chúng rộng rãi. Cung cấp cho người đọc một cách nhìn, một phương pháp tiếp cận, bồi dưỡng, nâng cao thị hiếu thẩm mĩ cho công chúng

    Phê bình đóng góp tích cực vào việc xây dựng một đời sống tinh thần lành mạnh cho xã hội. Thông qua phân tích, đánh giá các hiện tượng, sự kiện văn học, phê bình có khả năng đưa ra những ý kiến, kiến nghị có giá trị về đời sông.

    •  
    •  
    •  
    •  

Tóm lại: phê bình văn học là một bộ phận hợp thành không thể thiếu của quá trình văn học, là nhân tố tổ chức của chính quá trình ấy thành một chỉnh thể có đường hướng vận động rõ ràng theo vận động của bản thân đời sống.


 

Tiêu chuẩn trong phê bình văn học:

  1.  
  1. Tiêu chuẩn về tính thẩm mĩ (tính nghệ thuật) được xác lập dựa vào đặc trưng phản ánh của văn học.Tác phẩm văn học được quan sát, nhìn nhận, đánh giá trước hết với tư cách là hiện tượng thẩm mĩ đơn nhất, không lập lại. Trước hết là cái đẹp của ngôn từ, cái sinh động của hình tượng luôn tác động vào tri giác của người đọc, gợi cảm xúc, kích thích năng lực cảm nhận về cái đẹp tiềm ẩn trong mỗi người. Tiếp theo là các bình diện giọng điệu. kết cấu, không gian, thời gian, trần thuật… tất cả kết tinh thành phong cách, thành cái nhìn nghệ thuật độc đáo.

    Tiêu chuẩn về tính tư tưởng: là một hình thái ý thức xã hội, một hình thái quan niệm về đời sống , văn học phải đem đến một nhận thức mới, sâu sắc về nhân sinh và nhân văn, tức tư tưởng có tính văn học cho người đọc. Đó là những tư tưởng sâu sắc về con người và cuộc đời, tư tưởng xuất phát từ lí tưởng về cái thiện của con người, là sự hoàn thiện mà con người và xã hội hướng tới, tư tưởng được toát ra từ tình huống độc đáo tác phẩm.

    Tiêu chuẩn về tính chân thực lịch sử: được xác lập dựa trên mối quan hệ gắn bó giữa văn học và hiện thực văn học là tiếng nói cất lên từ đời sống, nó phản ánh đời sống và quay lại tác động vào đời sống, xuất phát từ nhu cầu của đời sống, phê bình luôn muốn tìm thấy trong tác phẩm những gợi ý bổ ích về thái độ sống, về cách nhìn nhận và cải tạo hiện thực.

    •  
    •  
    •  

Tính chân thực lịch sử của văn học không thể chỉ được đo bằng sự phản ánh đơn giản kiểu chụp ảnh. Hiện thực không chỉ bao gồm các quan hệ xã hội, giai cấp được biểu hiện bên ngoài mà còn là hiện thực của tâm hồn các vấn đề được nhận thức. Tác phẩm nêu được các triết lí nhân sinh mang tính phổ quát và những vấn đề bức thiết của cuộc sống đương thời, kèm theo sự lí giải chúng.

  1. Tiêu chuẩn về tính cách tân: được xác lập trên cơ sở nhìn nhận văn học như một quá trình vận động liên tục theo sự phát triển không ngừng của cuộc sống, tầm đón nhận ở người đọc. Tiêu chuẩn về tính cách tân của văn học luôn được phê bình quan tâm, bởi phê bình là một hoạt động mang tính tích cực xã hội rất cao, vừa tác động vào chính quá trình sáng tác của nhà văn, vừa tác động vào sự tiếp nhận của người đọc, lại tác động vào chính cuộc sống xã hội đương đại. Tác phẩm thực sự có giá trị phải chứa đựng nhiều nhân tố mới, cái mới trong cách lí giải hiện thực đến cái mới trong hình thức thể hiện, và bao trùm lên cả là cái mới của tiêu chuẩn thẩm mĩ mà chính tác phẩm thể hiện thông qua các mặt nội dung và nghệ thuật đó…

    Tiêu chuẩn về tính hoàn thiện: một tác phẩm hay bao giờ cũng hướng tới sự hoàn thiện về nội dung và hình thức.

    •  
    •  

Tóm lại: các tiêu chuẩn đánh giá chính đối với văn học mà phê bình thường vận dụng được tồn tại trong một hệ thống, có khi bao hàm nhau, bởi vậy việc trình bày một cách tách bạch chỉ mang tính qui ước nhằm mục tiêu đề ra.


 


 

55