DMCA.com Protection Status

Kỹ thuật nuôi, trồng các loại cây, con  quan tâm

Được viết bởi: Trần Việt Thao

Cập nhật lúc 09:36 ngày 18/01/2018

Kỹ thuật nuôi, trồng các loại cây, con

( theo nguồn:

http://khcncaobang.gov.vn/index.php?option=com_docman&task=cat_view&gid=86&Itemid=154 ).

Top of Form

Chăn nuôi

Kỹ thuật nuôi đà điểu

KS. Cận   -12/29/2008 9:00:00 AM

 

Một trang trại nuôi đà điểu

Hỏi: Xin quí báo hướng dẫn cho kỹ thuật nuôi đà điểu, các sản phẩm và nơi tiêu thụ đà điểu?

 

(Huỳnh Ngọc Sang – sang_1970qn@yahoo.com)- nguồn: http://nongnghiep.vn/nongnghiepvn/vi-vn/72/45/68/26320/Ky-thuat-nuoi-da-dieu.aspx )

Trả lời: Xin cung cấp cho bạn một số thông tin liên quan đến các sản phẩm từ đà điểu, các địa chỉ có thể liên hệ mua giống, tư vấn thêm về kỹ thuật nuôi và tiêu thụ sản phẩm:

- ThS. Hoàng Văn Lộc, Phó giám đốc Trung tâm Nghiên cứu gia cầm Thụy Phương (Hà Nội) cho biết: Trại Nghiên cứu đà điểu Ba Vì (trực thuộc Trung tâm) là cơ sở chăn nuôi, nghiên cứu đầu tiên và lớn nhất về đà điểu ở Việt Nam hiện nay. Sau gần 10 năm nghiên cứu, nuôi dưỡng, bước đầu Trung tâm đã hoàn thành qui trình, công nghệ chăn nuôi đà điểu và hiện đã bắt đầu chuyển giao cho một số địa phương.

Hiện Trung tâm thực hiện hình thức chuyển giao trực tiếp kết hợp với các phương thức hỗ trợ SX, nhất là về khâu kỹ thuật. Trung tâm cũng thành lập các trạm chuyển giao vệ tinh để các cán bộ chăn nuôi xuống từng hộ gia đình tư vấn, hướng dẫn cách thức chăn nuôi, cũng như phòng, trị bệnh cho đà điểu. Đà điểu có thể nuôi được trên nhiều địa hình: vườn đồi, trang trại vùng cát (miền Trung), đồng cỏ… với điều kiện phải có diện tích tương đối rộng để trồng cỏ làm thức ăn xanh, làm chuồng trại, sân chơi (nếu là nền đất thì nên lót cát, sỏi cho đà điểu dễ vận động), vườn cây để chúng trú ngụ, nghỉ ngơi…

- Bà Nguyễn Thị Tường Anh, TGĐ Tổng công ty Khánh Việt (Khánh Hòa) cho biết: Từ năm 2001 Khánh Việt bắt đầu xây dựng ngành công nghiệp đà điểu, cá sấu qui mô lớn tại Khánh Hòa và các tỉnh duyên hải miền Trung. Đây là ngành nông - công nghiệp tổng hợp và toàn diện từ chăn nuôi đến SX, chế biến và tiêu thụ. Trong đó Khánh Việt nắm vai trò chủ đạo từ cung cấp con giống, kỹ thuật đến bao tiêu sản phẩm; xây dựng và tổ chức khâu SX, chế biến, tiêu thụ. Việc nuôi dưỡng thương phẩm được giao cho nông dân, các chủ trang trại và các nhà đầu tư khác.

Năm 2007 chương trình nuôi đà điểu thương phẩm bắt đầu được triển khai tại các tỉnh Quảng Nam, Khánh Hòa, Phú Yên, Đắc Lắc, trong đó Khánh Việt bán con giống, chuyển giao kỹ thuật làm chuồng trại, kỹ thuật chăn nuôi đà điểu, phòng và chữa bệnh, cách phối trộn thức ăn tinh và kỹ thuật trồng các loại cỏ…; cho người nuôi trả chậm (gối đầu) tiền thức ăn tổng hợp và bao tiêu đà điểu thương phẩm theo giá sàn qui định trong hợp đồng. Những nông hộ tham gia chương trình này đều có hiệu quả: tỷ lệ nuôi sống đạt 100%, trọng lượng đà điểu thương phẩm đạt theo quy định lúc xuất chuồng 10-11 tháng, đảm bảo cho người nuôi có lãi. Hiện Tổng công ty Khánh Việt đã khép kín được các cơ sở cung cấp từ con giống, sản xuất và cung cấp thức ăn tinh tổng hợp.

- Về các sản phẩm từ đà điểu, anh Trần Anh Tuấn, một chủ trang trại nuôi đà điểu ở thôn Sóc Sơn 3, xã Vĩnh Hùng, huyện Vĩnh Lộc, tỉnh Thanh Hóa cho hay: nuôi đà điểu hiệu quả nhất là bán thịt cho các nhà hàng, hiện anh đang cung cấp tại thị trường Thanh Hóa với giá dao động từ 170.000-200.000 đồng/kg.

Theo các nhà khoa học thì đà điểu khai thác trên 40 năm, mỗi năm đẻ 40-50 trứng, giá từ 50.000-150.000 đồng/trứng. Thịt đà điểu khoảng 40.000 đồng/kg hơi, hiện nay nguồn cung không đủ cầu. Bộ da đà điểu cũng có giá từ 1 đến 1,5 triệu đồng dùng may túi xách, ví da, dây lưng…; lông đà điểu được dùng làm gối, đệm, áo rét, chăn cao cấp để xuất khẩu có giá trị lên tới hàng trăm USD… Bà Tường Anh, Tổng công ty Khánh Việt cho hay: Khánh Việt cũng vừa khánh thành và đưa vào hoạt động một nhà máy giết mổ, chế biến và các sản phẩm từ đà điểu và cá sấu như: thịt, trứng đà điểu và cá sấu được chế biến thành cao, rượu bổ, bột trứng dinh dưỡng, patê gan, lạp xường, xúc xích, viên đạm, khô đà điểu, đồ hộp…; da được sản xuất thành các sản phẩm da cao cấp như thắt lưng, ví, túi xách, giầy… Lông, vỏ trứng làm hàng mỹ nghệ như: điêu khắc, sơn mài, đèn ngủ, đèn chùm… được khách hàng trong và ngoài nước ưa chuộng.

- Để mua giống, mua thức ăn, được cung cấp, tư vấn, chuyển giao kỹ thuật và ký hợp đồng bao tiêu sản phẩm, bạn có thể liên hệ với các địa chỉ sau đây: Nếu ở các tỉnh phía Bắc: Trung tâm Nghiên cứu gia cầm Thụy Phương, xã Thụy Phương, huyện Từ Liêm, TP. Hà Nội, ĐT: 04. 38385622/ 04. 37570813; ở phía Nam: Tổng công ty Khánh Việt (KHATOCO), 84 Hùng Vương, TP. Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa, ĐT: 058.3524641; Trung tâm giống đà điểu Ninh Hòa, thôn Đại Cát, xã Ninh Phụng, Ninh Hòa, Khánh Hòa, ĐT: (058) 3620945; Trung tâm giống đà điểu Quảng Nam, thôn 5, xã Tam Phú, TP. Tam Kỳ, Quảng Nam, ĐT: (0510) 3888048...

In

Bottom of Form


 

Kỹ thuật nuôi đà điểu

(Nguồn: http://khcncaobang.gov.vn/index.php?option=com_docman&task=cat_view&gid=85&Itemid=154 ).

1. Nuôi đà điểu con: Đây là giai đoạn rất quan trọng, quyết định đến kết quả nuôi tốt hay xấu ở các tháng trôi sau:

Chuồng nuôi. nên chọn hướng có ánh nắng mặt trời, thoát nước tốt, mặt bằng cao ráo. Khu vực xung quanh yên tĩnh, tránh tiếng ồn. Chuồng nuôi thông thoáng nhưng phải giữ được ấm và có sân chơi có diện tích rộng, chiều dài ít nhất là 50m để đà điểu chạy múa không bị cản trở. Sân chơi tốt nhất là thảm cỏ hoặc đất nện được nhặt sạch không có các dị vật 1 -2 tuần đầu chuồng nuôi úm được lót bằng rơm hoặc trải thảm mềm để đà điểu đi lại vững chắc và giữ ấm phần bụng. Sang tuần 3 trở đi dùng trấu, phoi bào, cát khô. Vì chức năng chạy của đà điểu rất quan trọng, nếu nhốt ở nền cứng, trơn sẽ làm chân biến dạng, trật khớp dẫn đến hao hụt cao.

Nhiệt độ, ánh sáng: 24 giờ sau nở, đà điểu được đưa vào quây úm, lúc này bộ lông chưa đầy đủ, điều hoả thân nhiệt kém nên phải giữ nhiệt cho đà điểu con. Lúc này trong bụng đà điểu con còn tích khối noãn hoàng lớn, dễ bị lạnh khi nhiệt độ thấp hoặc chất độn chuồng không đủ dày, dẫn đến xơ cứng không tiêu hóa được, chúng dễ bị viêm nhiễm - đây là  nguyên nhân chính gây chết trong những tuần đầu. Từ 1tháng tuổi luyện cho đà điểu thích ứng dần với điều kiện ngoại cảnh. Khi úm, phải luôn quan sát phản ứng của đà điểu với nhiệt độ. Nêu nhiều con cùng tránh xa khu vực lò sưởi (đèn) hay há miệng thở, cần giảm nhiệt độ xuống, ngược lại có nhiều con tập trung gần nơi phát nhiệt (những con ngoài rìa run run) đó là nhiệt độ thấp, cần phải tăng nhiệt lên. Đế dễ quan sát và chăm sóc đà điểu con cần được chọn lọc đồng đều từ sơ sinh đến 1 tháng tuổi nên bố trí 20-25con/quây úm ánh sáng, cùng với sự vận động phải phù hợp để kích thích, đà điểu con ăn nhiều, tiêu hóa tốt, giảm bệnh tật, tăng trưởng nhanh. Nếu khí hậu tốt, ánh sáng đầy đủ thì 20 ngày tuổi có thể cho đà điểu con ra sân chơi để vận động và tắm nắng. Thời gian thả tăng theo từng ngày. 1 tháng tuổi trở ra thả tự do cho chúng vận động, nhưng phải đưa vào chuồng ngay khi thời tiết xấu, trời mưa. Ban đêm duy trì ánh sáng với cường độ 3W/m2 để chúng dễ dàng ăn uống.

Chăm sóc: đà điểu 1-2 ngày tuổi thường ngủ dưới bóng đèn sưởi. Từ ngày thứ 3 trở đi mới bắt đầu mổ thức ăn, nếu không để sẵn thức ăn, rau xanh thái nhỏ thì chúng sẽ ăn bất cứ vật gì nhặt được và dẫn đến tắc ruột chết. Từ 1-30 ngày tuổi cho ăn 6 lần/ngày. Từ 31 -60 ngày tuổi cho ăn 4 lần/ngày. Từ 61-90 ngày tuổi cho ăn 2-3 lần/ngày.

Cách cho ăn: có thể dùng riêng máng đựng thức ăn tinh và rau quả xanh. Trong những tuần đầu có thể trộn rau non thái nhỏ với thức ăn tinh để đà điều ăn.

2. Nuôi đà điểu thịt: Sau 3 tháng tuôi, chuyển điểu sang nuôi thịt.

Chuồng nuôi: đà điểu thích chạy nên sân chơi phải có diện  tích rộng (dài 80-100M), nền sân phải có thảm cỏ và có chỗ rải cát, vì đà điểu sống ở sa mạc, thường xuyên tắm cát làm sạch cơ thế và loại bỏ các loại ký sinh trùng ngoài da. Giai đoạn này đà điểu hầu như ngoài sân, vì vậy sân chơi với đà điểu rất quan trọng. .

Chế độ ăn: đà điểu có hệ sinh vật ở màng tràng phát triển giúp tiêu hóa thức ăn khô, xơ thô tới 60%, nên thường xuyên bổ sung rau, cỏ xanh tự do hoặc băm 3-4cm để dễ ăn cho máng riêng hoặc để lên trên thức ăn tinh. Đà điểu thương phẩm cho ăn nhiều tăng trưởng nhanh có thể giết thịt từ 10 tháng tuổi.

Khẩu phần ăn cho đà thịt tăng theo tháng tuổi và trọng lượng cơ thể. Từ 2-6-9 tháng tuổi, cơ thể đạt 12-60-90kg, thức ăn từ 500 - 1.655 - 2.000 g//ngày. Thành phần dinh dưỡng: tăng lượng cỏ., ngũ cốc theo tháng tuổi và giảm lượng đạm, protein, Ca, P, Lizin... đạt 1 0 tháng tuổi. Việc sử dụng quá nhiều xơ trong khẩu phần thời kỳ này dễ làm giảm chuyển hoá thức ăn, làm hạn chế việc hấp thụ thức ăn tinh các chất dinh dưỡng, dẫn tới tăng trọng thấp.

Máng ăn, uổng: đà điểu phát triển to lớn vì vậy phải sử dụng máng ăn bằng gỗ với kích thước 0,3 x 0,25 x 0,1m. Máng ăn. cố định ở độ cao 0,7-0,8m để đà điểu không giẫm đạp lên và ăn uống dễ dàng. Đảm bảo 4-5 con/máng ăn. Dùng bồn cao su đựng nước uống và dùng nước sạch, lượng đủ để đà điểu uống tự do. Mỗi ngày thay nước và rửa sạch máng 1 lần, duy trì nước mát, tránh dùng nước dưới ánh mặt trời.

3. Nuôi đà điểu sinh sản:

Giai đoạn hậu bị: Giai đoạn nuôi từ 4-12 tháng tuổi chăm sóc như nuôi thịt. Giai đoạn nuôi hậu bị từ 13-20 tháng tuổi cho đà điểu vận động nhiều, lượng thức ăn giảm, từ tháng 11 -14, lượng thức ăn tinh 1,2-1,5kg/con/ngày, thức ăn xanh 1,5kg/con/ngày; từ 15-24 tháng tuổi cho ăn 1,2 -1,5kg/con/ngày lượng thức ăn tinh, tự do chăn thả ăn thức ăn xanh.

Nuôi đà điểu phải cân định kỳ trọng lượng đế kiểm soát sự tăng trưởng. Đối với những con phát triển chậm hay tăng trưởng quá nhanh thì có biên pháp tăng cường hay hạn chế, bằng cách điều chỉnh khẩu phần và định mức cho ăn. Khi đà điểu còn nhỏ, tuyệt đối không được cầm vào cổ, mà phải đưa tay luồn xuống bụng nâng lên. Đà điểu trưởng thành khi bắt cân 2-3 người, một người dùng móc sắt choàng vào cổ ấn xuống, những người khác nhanh chóng giữ chặt cánh và lông đuôi hai bên. Khi kiểm tra hoặc di chuyển phải có vải che mặt đà điểu để chúng không hoảng loạn. Lưu ý những người bắt phải đi ủng cao su để đà điểu tránh giẫm phải. Từ 4-24 tháng tuổi cần chú ý tạo môi trường cho đà điểu vận động, thường xuyên kiểm soát mức độ tăng trưởng để điều chỉnh chế độ dinh dưỡng. Đà điểu khoẻ mạnh có đôi chân vững chắc, lông óng mượt và óng ả. Từ 1 2 tháng tuổi trở đi màu sắc lông con trống và con mái sẽ khác biệt. Con trống lông đen mượt, chân và mỏ chuyển màu đỏ tươi là biểu hiện sức khoẻ tốt. Con mái lông mượt, nhìn săn chắc, gờ lưng có rãnh là có thể trạng béo tốt.

Giai đoạn sinh sản: đà điểu thành thục lúc 25 tháng tuổi. Con mái thành thục sớm hơn con trống nửa năm. Nên ghép trống già hơn mái từ 6 tháng đến 1 năm tuổi ở lứa đầu. Trước 12 tháng tuổi, đà điểu khó phân biệt trống mái. Từ 12 tháng tuổi, con trống có dáng cao lớn, lông đuôi đen và 2 bên cánh có lông vũ màu trắng chân và mỏ chuyển màu đỏ. Con mái kích thước nhỏ hơn, lông màu xám, tính hiền lành hơn.

Chuồng nuôi: chuồng cho đà điểu đẻ gồm chuồng có mái che kích thước 3x5m, trong đổ cát để đà điểu có thể vào đẻ; sân chơi có chiều rông 8m, dài 80-100M. Mỗi ô chuồng ghép 1 trống với 2 mái hoặc 2 trống 5 mái.

Chọn đực giống: chọn hình thể cân đổi, cường tráng, tính ôn hoà, hoạt bát; đầu thanh tú; cổ thẳng; mắt lớn và linh hoạt; thể trạng không béo quá hoặc gầy quá hai ngón chân khoẻ mạnh, ngay ngắm cơ quan sinh dục phải lớn, dài, cong về bên trái, chiều dài trung bình 25cm.

Ghép và phối giống: từ 18-20 tháng tuổi ghép đực với cái để chúng quen nhau. Sự phối giống thường diễn ra vào buổi sáng từ 6-9 giờ và chiều từ 14-16 giờ, ít khi diễn ra vào buổi tối. Con trống tốt có thể phối 10-12 lần/ngày.

Dinh dưỡng: đóng vai trò quan trọng đôi với năng suất trứng, tỉ lệ phôi và ấp nở Khẩu phần: protein 1 6-1 6,5%; năng lượng ME: 2.600-2.650kcal; Lizin 1 ,1%; Methionin 0,4-0,45%; Canxi 2,8-3%; Photpho 0,45-0,48%; Vitamin A:16.000UI; Vitamin D 3.700UI; Vitamin E 58,5UI. Định lượng cho ăn 1,6-1,8kg/con/ngày, tùy thời điểm đầu vụ hay lúc đẻ rộ. Thức ăn xanh gồm cỏ Ghinê, cỏ voi, các loại rau khác. Nên thả đà điểu ở bãi cỏ xanh để chúng tự nhặt cỏ tươi. Đà điểu sinh sản cần uống nhiều nước, nước phải mát, sạch, mỗi ngày thay nước ở máng 1 lần.

Mùa sinh sản: đà điểu đẻ từ tháng 11 năm trước đến tháng 8-9 năm sau và thường đẻ từ 2- 7 giờ tối, vì vậy phải theo dõi nhặt trứng, tránh để chúng giẫm vỡ. Đà điểu đẻ từng đợt từ 8-10 ngày thì nghỉ 7-1 0 ngày sau đó tiếp tục đẻ lại. Trứng có khối lượng từ 900-1.600g, chiều dài 16,5cm, chiều rộng 13cm, hình dạng trong, màu trắng ngà, vỏ bóng, dày 2mm. Sản lượng trứng từ 30-80quả/năm.

Theo báo Nông thôn ngày nay

 

7 biện pháp phòng bệnh cho cá

Cá là loài động vật sống ở dưới nước, do vậy người nuôi cá muốn kiểm tra tốc độ sinh trưởng cũng như sức khoẻ của cá để phát hiện bệnh dịch là rất khó khăn. Vậy để nuôi cá đạt hiệu quả tốt, ngoài việc thực hiện đúng kỹ thuật nuôi, người nuôi còn phải theo dõi hoạt động của cá để phát hiện bệnh dịch, kịp thời có biện pháp điều trị thích hợp. Muốn phòng bệnh cho cá đạt kết quả tốt, cần thực hiện đúng 7 nguyên tắc cơ bản.

1. Vệ sinh ao sạch sẽ trước khi thả nuôi nhằm mục đích ngăn chặn sự lây nhiễm từ đáy ao. Vét bùn tích tụ đáy ao do thức ăn dư thừa phân huỷ. Nên bón vôi với lượng 10-15 kg/100m2. Phơi đáy 3-5 ngày nhằm tiêu diệt mầm bệnh nấm, rong, rêu... các ký chủ trung gian. Còn với ao bị nhiễm phèn thì không nên phơi đáy ao. Chú ý lấy nước vào ao phải qua lưới lọc, nguồn nước không bị ô nhiễm. Gây tảo, màu nước làm thức ăn tự nhiên cho cá.

2. Chọn  giống tốt không mang mầm bệnh. Trước khi thả cá vào ao phải tắm cá qua nước muối 200-300g/10 lít nước trong khoảng 10-15 phút.

3. Mật độ nuôi thích hợp sẽ hạn chế sự ô nhiễm trong quá trình nuôi và sự lây lan bệnh dịch nên cá ít bị nhiễm bệnh. Mật độ thích hợp là 4-5 con /m2.

4. Chăm sóc cho ăn đúng khoa học kỹ thuật hướng dẫn.

5. Quản lý chất lượng nước ao tốt.

6. Về mùa mưa nên đào rãnh và rải vôi quanh bờ ao để ngăn ngừa phèn, với lượng 7-10kg/10m2.

7. Quản lý các yếu tố môi trường khác nhau (nhiệt độ, độ sâu, nước ao, hàm lượng oxy hoà tan pH).

Ngoài ra trong quá trình nuôi còn sử dụng một số cây thuốc nam như lá giác, lá xoan... từ 3-5 kg/100m2 để phòng bệnh cho cá.

Dưới đây là một số nguyên tắc chọn thuốc sử dụng trong nuôi trồng thuỷ sản:

- Chọn thuốc có tính diệt trùng cao và chọn lọc thấp.

- Chọn thuốc có biên độ an toàn cao. Nếu hai loại thuốc có tác dụng như nhau thì chọn thuốc có biên độ an toàn cao.

- Chọn thuốc rẽ tiền và dễ kiếm.


 

Theo Nông nghiệp Việt Nam


 

Bệnh nấm bồ hóng hại xoài


 

* Nguyên nhân:

- Thời tiết: Trong thời kỳ mang quả cây xoài cần rất nhiều nước để duy trì tình trạng sinh trưởng, phát triển bình thường đồng thời giúp nuôi quả lớn. Tuy nhiên, nếu tưới quá nhiều nước, độ ẩm quá cao cũng dễ làm cho quả xoài bị nứt và rụng hàng loạt. Với các tỉnh phía Bắc, xoài thường đậu quả cuối tháng 3, đầu tháng 4, quả lớn trong khoảng tháng 5-6-7. Thời kỳ này thường ít mưa, hay bị hạn, quả lớn nhanh, nếu tưới nhiều hoặc sau những cơn mưa do quả hút được nhiều nước nên phần ruột tăng trưởng nhanh hơn phần vỏ dẫn đến quả bị nứt, nhất là với giống xoài tượng vỏ mỏng. Khắc phục: tưới đủ ẩm, nếu gặp mưa to (nhất là sau hạn) thì dùng các tấm nilon, màng phủ nông nghiệp che kín hết phần đất xung quanh tán cây.

- Nếu bón quá nhiều phân, đặc biệt là đạm, kali làm mất cân đối dinh dưỡng cộng với hiện tượng thiếu canxi (thành phần quan trọng trong cấu trúc vỏ quả) làm cho quả bị nứt. Khắc phục: Bón phân cân đối, bón sớm vào đầu vụ, không bón muộn hơn và bón thêm vôi bột (1-1,5 kg/cây) hoặc CaSO4 hay phun Ca(NO3)2 vào tháng 5-6.

Còn trường hợp cây ra hoa rất sai mà không đậu quả của các năm tiếp theo là do cây bị một số bệnh nấm gây hại, trong đó có bệnh bồ hóng rất nặng đi cùng với tình trạng suy dinh dưỡng gây nên.

- Bệnh bồ hóng: Do nấm Capnodium mangifera phát triển thành từng mảng đen hoặc Meliola mangifera tạo thành những đốm nhỏ bám trên mặt lá, cành và các gié hoa. Bệnh này bà con nông dân quen gọi là bệnh bồ hóng vì loại nấm này phát triển mạnh tạo thành một lớp bồ hóng trên mặt lá, trên quả non làm rụng hoa, rụng quả non, gây trở ngại cho quá trình quang hợp và hấp thụ nhiệt, quả xanh xám, không lớn được hoặc rụng hàng loạt. Bệnh thường phát triển mạnh trên những cây có nhiều rệp muội, rệp sáp… vì nấm bồ hóng này chỉ phát triển được khi có chất mật ngọt do rệp bài tiết ra.

* Phòng trị: Bằng cách không trồng dày dẫn đến thiếu ánh sáng, không trồng gần những cây ăn quả khác đang bị nhiễm bệnh bồ hóng; diệt trừ hết rầy, rệp bằng các loại thuốc trừ sâu, cây tự khắc sẽ hết bệnh bồ hóng. Trong các tháng khô nóng, các lớp nấm bồ hóng này cũng tự khô chết và bong ra.

- Bón đủ lượng phân, tưới đủ độ ẩm giúp cây nhanh hồi phục và sinh trưởng, phát triển tốt nhằm tăng cường khả năng kháng bệnh cho cây. Kết hợp với việc bón phân, làm cỏ thì cắt tỉa bớt những cành tăm, cành vượt trong tán, cành sâu bệnh cho vườn cây thông thoáng, có đủ ánh sáng giúp cây quang hợp tốt, tránh được sự phát triển của địa y, nấm bệnh. Nếu trên cành nhỏ, tán lá mà bị nhiều muội đen, bồ hóng thì có thể pha nước xà phòng phun kỹ trên tán sẽ làm cho nấm bồ hóng bong và trôi đi hết, nhất là kết hợp với đợt mưa. Pha Boócđô 1% hoặc Oxít clorua đồng 2% phun kỹ trong và ngoài tán, kể các cành nhỏ.

Với địa y và nấm nhung, nấm hồng thì dùng chổi rơm, chổi đót quét thuốc Boócđô 3% hoặc Oxít clorua đồng 3% từ các cành lớn xuống thân và gốc cây, nhất là vào những tháng cuối năm, trước khi vào mùa xuân ẩm ướt. Trước thời kỳ cây ra hoa cần phun phòng các loại thuốc chống nấm đặc hiệu như Aliette, Ridomil, Benomyl, Dithane M-45 pha nồng độ 0,15-0,2% để trị bệnh thán thư hại hoa và chống rụng quả non.

Theo Baonongnghiepvietnam

 

Bệnh virus hại cây đu đủ

Bệnh virus trên cây đu đủ là một bệnh hại phổ biến, nghiêm trọng và gây thiệt hại lớn đối với người trồng. Bệnh đốm hình nhẫn, bệnh khảm lá trên cây đu đủ do 2 virus chính gây ra là PMV (Papaya mosaic virus) và PRSV (Papaya ringspor virus).

Bệnh đốm hình nhẫn

Bệnh do virus đốm hình nhẫn PRSV gây ra, vết bệnh có đốm hình nhẫn, khảm loang lổ trên lá, quả, thân và cành có vết thâm và chảy nhựa. Ở lá, bệnh thường tạo ra các đốm sáng vàng nhạt, lúc đầu lá hơi co lại và có hiện tượng khảm. Sau dần vết đốm phát triển thành đốm hình nhẫn, xuất hiện rất nhiều trên bề mặt lá. Khi cây bị bệnh, lá còn non thường mất thuỳ, chỉ còn cuống, đôi khi cả cuống cũng bị biến dạng, co quắp. Ở quả, vết bệnh lúc đầu là những đốm thâm xanh, sẫm, vết bệnh thường tập trung ở nửa trên của quả gần cuống. Khi già, chín, các vết thâm lại và thối sâu vào bên trong. Cây bị bệnh lùn, cho ít quả và quả nhỏ theo mức độ của bệnh. Quả bị bệnh có vị nhạt, do bệnh làm giảm lượng đường trong quả. Khi cây bị nặng có thể không cho quả và chết sớm. Virus lây bằng 2 cách: lây tiếp xúc cơ học và lây bằng côn trùng môi giới (các loại rệp, rầy). Virus không lây truyền qua đường hạt giống. Bệnh lây lan rất nhanh, nhất là cây từ 5-6 tháng tuổi.

Bệnh khảm lá

Cây con mới trồng có thể nhiễm bệnh, nhưng thường chỉ thấy bệnh ở cây được 1-2 năm tuổi. Bệnh chỉ gây ra hiện tượng khảm ở lá cây, lá có nhiều vết màu vàng xanh lẫn lộn, khảm càng nặng lá biến sang màu vàng. Lá bị bệnh có kích thước nhỏ lại, biến dạng, số thùy lá già tăng, nhăn phồng. Lá già bị rụng nhiều, chỉ chừa lại chùm lá khảm vàng ở ngọn. Quả nhỏ, biến dạng, chai sượng. Chùm quả thường có một số quả chảy nhựa sớm thâm xanh lại thành vết dọc. Cành và thân có nhiều vết thâm xanh chạy dọc theo chiều dài của thân, cành. Virus khảm lá lan truyền bằng tiếp xúc cơ học, không truyền qua môi giới côn trùng.

Biện pháp phòng trị:

Hiện nay chưa có biện pháp phòng trừ hữu hiệu bệnh này. Trước mắt có thể áp dụng một số biện pháp phòng trị sau:

Tạo nguồn cây sạch bệnh trong vườn ươm cách ly chống rệp.

Không trồng đu đủ ở những vùng đã nhiễm bệnh.

Phun thuốc hoá học kết hợp biện pháp hoá học để diệt côn trùng truyền bệnh, nhất là rệp bông và rệp đào. Một số thuốc hữu hiệu trừ rệp: Bassa, Trebon, Pegasus, Applaud, Sumicidin, Supracid, Zolone.

Thực hiện chọn lọc, vệ sinh vườn đu đủ thường xuyên để loại bỏ cây bệnh, tránh lây lan.​​​​​

Theo Nông thôn ngày nay

 

Biện pháp phòng bệnh trong thời điểm giao mùa cho cá

Những tháng đầu năm, thời tiết diễn biến khá phức tạp, đang từ rét đậm, rét hại kéo dài chuyển sang nắng ấm cộng mưa phùn. Chính sự thay đổi đột ngột đó của thời tiết là "cơ hội" thuận lợi cho mầm bệnh trên cá phát triển rất nhanh, đặc biệt là bệnh về ký sinh trùng, nấm, vi khuẩn có thể bùng phát thành dịch.

Để hạn chế thiệt hại và nâng cao hiệu quả kinh tế thì người nuôi cá cần chú ý một số biện pháp phòng bệnh tổng hợp cho cá trong giai đoạn giao mùa như sau.

* Biện pháp phòng bệnh tổng hợp

- Cải tạo ao: vét bùn, bón vôi diệt tạp 7 - 10kg/100m2.

- Chọn công thức và đối tượng nuôi phù hợp cho từng mặt nước ao nuôi.

- Trước khi thả cá cần tắm cá bằng nước muối với liều lượng 2 - 4g muối/ 1lít nước.

- Không cho ăn thức ăn ôi thiu, cho ăn đúng thời gian, địa điểm.

- Dụng cụ cho ăn cần được rửa sạch sau mỗi lần cho ăn.

- Treo túi vôi 2 - 4kg/túi quanh chỗ cho ăn.

- Định kỳ 2 lần/tuần bổ sung Vitamin C bằng cách cho cá ăn với liều lượng 40g Vitamin C/100 kg thức ăn.

- Rắc vôi xuống ao 2 lần/tháng và trước khi trời mưa với liều lượng 2 - 3kg/100m2 ao.

* Dùng một số cây thảo mộc để phòng bệnh cho cá:

+ Cây chuối: thân cây thái nhỏ và lá chặt thành đoạn cho cá ăn.

+ Cây tỏi: Tỏi xay nhỏ trộn vào thức ăn với liều lượng 0.5 - 1kg/100kg thức ăn. Cho ăn 6 ngày liên tục.

+ Cây nghệ: Lấy thân, lá băm nhỏ nấu kỹ lấy nước (còn bã bỏ đi) sau đó trộn vào thức ăn cho cá ăn. Liều lượng cho ăn 3 kg thân, lá nghệ tươi/100kg cá, cho ăn 3 - 6 ngày liên tục. Lưu ý cây nghệ có tính nóng nên dùng đúng liều lượng không lạm dụng.

+ Cây Rau sam: rửa sạch bằng nước muối và cho ăn 1.5 - 3kg rau/100kg cá

+ Cây nhọ nồi: nghiền lấy nước và dùng cả bã cho cá ăn với liều lượng 2 -3kg/100kg cá/ngày.
Các cây thảo mộc trên đều phòng và chữa tốt các bệnh về đường ruột cho cá.


 

Theo khoahocchonhanong.com.vn

Cách nhận biết và phòng trị các bệnh thường gặp trên cây dưa hấu


 

Dưa hấu là cây dễ phát sinh bệnh do ảnh hưởng thay đổi của thời tiết vì vậy người trồng phải tốn nhiều công thăm ruộng, chăm sóc. Có một số bệnh xuất hiện bất chợt, bà con không kịp phát hiện dẫn đến năng suất không như ý muốn. Sau đây là một số bệnh thường gặp khi thời tiết bất thường cùng với cách phòng trị để bà con có thể nhận biết bảo đảm năng suất thu hoạch.

1. Bệnh héo xanh (Bệnh héo vi khuẩn)

Do vi khuẩn Pseudomonas solanacearum gây ra. Vi khuẩn có thể tồn tại trong tàn dư cây bệnh đến 7 tháng, trong đất trên 1 năm

- Vi khuẩn trong đất xâm nhập vào rễ cây rồi phát triển lên trong các mạch dẫn. Triệu chứng dễ thấy là cây đang sinh trưởng bình thường thì đột ngột bị héo rũ trong khi các lá vẫn còn xanh. Ban ngày khi trời nắng cây héo, ban đêm cây xanh lại, sau 2-3 ngày cây không hồi phục nữa và chết. Cắt ngang gốc thân cây bị bệnh, thấy các mạch dẫn bị nâu đen, ấn mạnh vào chỗ gần mặt cắt sẽ tiết ra chất dịch vi khuẩn màu trắng đục.

Phòng trị :

- Cày lật phơi ải đất, bón vôi.

- Luân canh với cây lúa nước.

- Không để ruộng đọng nước hoặc quá ẩm.

- Tiêu huỷ cây bị bệnh.

- Phun hoặc tưới gốc định kỳ ngừa bệnh bằng thuốc Funguran-OH 50WP : 15-20 g/bình 8 lít

2. Bệnh chết cây con (Bệnh ở cổ rễ, bệnh thối gốc)

Do nấm Rhizoctonia solani gây ra. Nấm tồn tại trên tàn dư cây trồng và trong đất dưới dạng sợi v à hạch nấm. Hạch nấm có thể sống trong nước hàng năm. Gặp điều kiện thích hợp, hạch có thể mọc ra các sợi nấm xâm nhập vào gốc cây chỗ giáp mặt đất.

- Nấm xâm nhập vào cổ rễ cây con làm thối cổ rễ, cổ rễ teo nhỏ lại, vết bệnh màu nâu đen, lá vẫn còn xanh sau héo dần, cây ngã ngang và chết.

- Bệnh thường phát sinh gây hại từ khi cây mới mọc đến khi có 1-2 lá thật.

Phòng trị :

- Vệ sinh đồng ruộng trước khi trồng.

- Phun thuốc ướt đẫm vào gốc cây con :

+ Carbenda 50SC, Bavistin 50FL : 5-10 ml/bình 8 lít

+ Hosavil 5SC; PinkVali 5DD; Vali 5DD : 25 ml/bình 8 lít

+ Topsin M 70WP; Top 70WP : 4-8 g/bình 8 lít

3. Bệnh phấn trắng

Do nấm Sphaerotheca fuliginea gây ra. Nấm tồn tại trong cây bệnh, lan truyền bệnh bằng bào tử.

- Bệnh gây hại chủ yếu trên lá. Vết bệnh lúc đầu là những đốm nhỏ màu xanh xám, sau lớn lên không có hình dạng rõ rệt, trên mặt vết bệnh có lớp phấn trắng xám và có các hạt nhỏ màu đen (túi bào tử). Lá bị bệnh sớm vàng, khô và rụng.

Phòng trị :

- Vệ sinh đồng ruộng, thu dọn tàn dư cây trồng sau thu hoạch.

- Ngắt bỏ các lá bị bệnh nặng.

- Phun thuốc ngừa hoặc khi bệnh chớm xuất hiện :

+ Manozeb 80WP; Dithane xanh M45 80WP; Sancozeb 80WP : 30-40 g/bình 8 lít

+ Sumi-eight 12,5WP : 3 g/bình 8 lít

+ Bavistin 50FL; Carbenda 50SC : 5-10 ml/bình 8 lít

+ Cozol 250 EC : 3-5 ml/bình 8 lít

+ Bemyl 50WP : 20-25 g/bình 8 lít

+ Topsin M 70WP; Top 70WP : 4-8 g/bình 8 lít

4. Bệnh nứt thân chảy nhựa (Bệnh bả trầu, bệnh chạy dây)

- Do nấm Mycosphaerella melonis gây ra. Nấm tồn tại trong tàn dư cây bệnh, lây lan bằng bào tử. Thời tiết nóng và mưa nhiều thích hợp cho bệnh phát triển.

- Bênh gây hại chủ yếu trên thân cây, đôi khi trên lá và cuống quả. Trên thân cây vết bệnh lúc đầu là đốm hình bầu dục, màu xám trắng, kích thước 1-2 cm, vết bệnh hơi lõm, làm khuyết một bên thân hay nhánh cây. Trên vùng bệnh, nhựa màu nâu đỏ ứa ra thành giọt, sau đổi thành màu nâu sẫm và khô cứng lại. Bệnh nặng làm thân cây bị nứt thành vệt dài và chảy nhựa nhiều hơn, trên đó có những hạt nhỏ màu đen (các ổ bào tử nấm), cả cây có thể bị khô chết.

- Trên lá, đốm bệnh không đều đặn và lan rộng dần, có màu nâu xám nhạt. Bệnh thường xuất hiện từ bìa lá lan vào theo những mảng hình vòng cung, trên đó có các ổ bào tử màu đen, lá bị cháy, khô rụng.

- Trên cuống quả, triệu chứng bệnh giống như trên thân, có thể nứt và chảy nhựa, quả nhỏ hoặc bị rụng sớm.

Phòng trị :

- Thu dọn tàn dư cây trồng.

- Bón phân đạm vừa đủ.

- Phun ướt đẫm cây dưa và gốc :

+ Bavistin 50FL; Carbenda 50SC : 10-15 ml/bình 8 lít

+ Polyram 80DF; Dithane xanh M45 80WP; Manozeb 80WP; Sancozeb 80WP: 30-40 g/bình 8 lít

+ Fortazeb 72WP; Ridozeb 72WP; Bemyl 50WP : 25-30 g/bình 8 lít

+ Topsin M 70WP, Top 70WP : 4-8 g/bình 8 lít.


 

Theo nongnghiep.vinhlong.gov.vn


 

Cách phòng trừ bọ xít hại nhãn, vải

 

Diệt bọ xít qua đông: Bọ xít qua đông là nguồn sâu hại di chuyển s ang mùa xuân. Cách diệt bọ xít qua đông như sau: Vào những ngày lạnh và tối trời, lấy vải bạt trải quanh tán cây, đồng thời rung mạnh tán cây, bọ xít do có tập tính giả chết sẽ co chân tự rơi xuống bạt, trời lạnh chúng chậm chạp, ta nhanh chóng cuốn bạt lại thu gom được bọ xít đem tiêu diệt hoặc làm món ăn.

Cần theo dõi mật độ bọ xít trên tán cây vải, nhãn, khi thấy mật độ bọ xít cao > 2-3con/m2, cần áp dụng biện pháp thủ công như trên để bắt.

Sử dụng thuốc bảo vệ thực vật: Nếu mật độ bọ xít vẫn cao (bọ xít ở nơi khác bay đến hoặc chúng cảnh giác bay đi khi rung cây nhiều lần) thấy xuất hiện bọ xít non nhỏ bằng hạt đậu đến khuy áo, lưng màu nâu, nâu hồng, linh động, cần tiêu diệt ngay. Dùng các loại thuốc hoá học nội hấp hay tiếp xúc mới ít độc hại với người và môi trường để tiêu diệt bọ xít.

Cụ thể dùng một trong các loại thuốc sau: Actara 25EC; Sutin 5EC; Oshin 20WP; Cruiser plus 312,5PS; Curbix 100SC hoặc Gaucho 600FS, liều lượng 1,5gói/8-10 lít nước/100m2 tán cây. Khi bọ xít trưởng thành, sức kháng thuốc cao, cần phối hợp một trong các loại thuốc nội hấp trên với một loại thuốc tiếp xúc mạnh như: Sokupi 0,36AS; Aremec 36EC; Karate 2,5EC…, cộng thêm chất bám dính, phun vào chiều tối hoặc buổi sáng khi nhiệt độ ngoài trời còn mát, lúc mới khô sương.

Theo nongnghiep.vn

 

Để dơi không phá nhãn

Cứ đến mùa thu hoạch nhãn là dơi lại đến phá hoại, gây thiệt hại lớn cho nhà vườn. xin giới thiệu một số cách phòng chống.

- Bao chùm quả bằng bao giấy, bao vải, bao Nilon, bao lá dừa nước kết lại, hay bằng bao chuyên dùng có bán ở các cửa hàng giống cây ăn quả hoặc cửa hàng nông dược (tùy theo địa phương). Biện pháp này không chỉ phòng chống dơi ăn nhãn mà còn có khả năng phòng ngừa  được khá nhiều lòai sâu bệnh thường gây hại cho quả nhãn như sâu đục quả, rệp sáp, bọ xít nhãn, bệnh thối quả...

- Dùng lá cói hay lá dừa nước đan lại thành từng tấm hoặc dùng giấy vỏ bao xi măng, bao xác rắn, bao tải cũ hoặc những túi chuyên dùng bao trái cây để bao từng chùm lại khi quả sắp chín. Nên thu hái tập trung dứt điểm hết từng cây, từng vườn trong ngày, không nên hái dở dang rồi để qua đêm đến ngày hôm sau mới hái tiếp thì đêm đó dơi sẽ đến phá hoại, thiệt hại lớn.

- Nên xử lý thu hái nhãn ra hoa kết quả tập trung, đồng loạt (vận động nhiều chủ vườn xung quanh đó cùng làm trên diện tích rộng) cũng sẽ giảm bớt được tác hại do dơi gây ra.

- Nên thu hái quả tập trung dứt điểm cho từng cây, từng vườn trong ngày. Trong một cây hay cùng trong một vườn không nên hái dở dang rồi để lại qua đêm ngày mai mới hái tiếp, vì ngay trong đêm đó dơi sẽ kéo về phá hoại rất mạnh

- Trước khi thu hoạch quả khoảng 15 ngày, dùng cóc, nhái, chuột giã dập cho chết thối rồi buộc vào các đầu que, đem treo mỗi cây vì ba con vật này làm cho dơi sợ không dám tới gần.

- Có thể dùng lưới nilon bao hết cả cây hoặc bao kín những khu vực có nhiều quả, sau vụ thu hoạch nhãn lại cất lưới đi để vụ sau sử dụng.

- Dùng ống tre trúc hay ống nước bằng nhựa (loại nhỏ) cắt thành từng đoạn dài khoảng 10cm rồi dùng giẻ thấm dầu nhớt, cặn thuốc trừ sâu có mùi hôi nồng cho thấm vào giẻ, nhét vào ống, rồi treo các ống này lên cây, dơi sẽ ít đến.


 

Theo skhcn.vinhlong.gov.vn

Điều trị gà rù bằng Đông y


 

N hững triệu chứng:

- Gà thường, khò khè, chảy nước mũi.

- Uống nhiều nước, diều căng mềm, chảy nhớt có dây ở miệng, thường vươn cổ kêu “toóc toóc” cho dễ thở.

- Lúc đầu gà bị táo bón, sau đó tiêu chảy, phân có màu trắng xám, có bọt hoặc máu.

- Gà sốt cao, mào tím tái.

- Ở thể cấp tính, gà chết nhanh chóng.

Phòng bệnh:

Bệnh gà rù do virus gây ra, để lại những bệnh tích nguy hiểm như viêm, xuất huyết, loét niêm mạc đường tiêu hóa, nhiễm trùng máu, thần kinh, tủy sống. Bệnh lây lan mạnh qua đường hô hấp. Thuốc đặc trị không mang lại hiệu quả cao nên người chăn nuôi phải coi trọng công tác phòng bệnh, đồng thời chú ý vệ sinh thức ăn, nước uống, chuồng trại. Nên sử dụng vắc-xin Lasote để phòng bệnh cho gà bằng cách trộn vào thức ăn, định kỳ 3 tháng/lần hoặc nhỏ vào mắt, mũi.

Điều trị bằng thuốc Đông y: Đây là cách làm tương đối hiệu quả, ít tốn kém...

Chế biến và sử dụng như sau:

- Sắc kỹ 2 nước rồi lọc bỏ bã, lấy dịch lọc làm thuốc.

- Cho gà uống hoặc trộn vào thức ăn. Với liều lượng nêu dưới đây chỉ dùng đủ cho 10 gà lớn, 20 gà hậu bị hoặc 40 gà theo mẹ.

Bài 1: Trắc bá diệp 16g, nọc sởi 16g, chút chít 16g, hoàng đằng 12g.

Bài 2: Sài hồ 20g, bạch cập 16g, uất kim 16g, bồ công anh 20g, địa du 12g.

Bài 3: Sinh địa 16g, xích thược 12g, bạch truật 12g, diên hồ sách 16g, mộc hương12g.

Bài 4: Hoàng liên 16g, huyền sâm 12g, bạch thược 12g, hồng hoa 8g.

Bài 5: Đơn bì 16g, hoàng kỳ 16g, đại thanh diệp 12g, ngô thù du 12g, ngũ vị tử 12g.

Các bài thuốc trên có thể dùng định kỳ 3 tháng/lần để phòng bệnh. Khi bệnh phát triển thành dịch nên dùng kết hợp với các thuốc thú y tiêm bắp thông dụng như Gentamycin, Chloramphenicol – Analgin, tiêm kèm thuốc trợ tim như caphein, long não, … và thuốc trợ sức như Bcovet,…

Theo kinhtenongthon.com.vn

 

Hướng dẫn kỹ thuật trồng hoa cúc

I. Tiêu chuẩn

Sản phẩm hoa sau thu hoạch không dập nát, héo úa, sâu bệnh. Bông to đều, màu sắc đẹp, cành thẳng mập, lá xanh đậm. Bao bì phải được đăng ký thương hiệu do cơ quan Nhà nước cấp.

II. Các biện pháp kỹ thuật

1. Thời vụ và vườn ươm

* Thời vụ

- Vụ xuân hè: Giâm cuối tháng 2 tháng 3, trồng tháng 3 – tháng 5.

- Vụ hè thu: Giâm cuối tháng 4 đầu tháng 5, trồng tháng 6 tháng 7.

- Vụ thu đông: Giâm tháng 7 tháng 8, trồng tháng 8 – tháng 10.

* Vườn ươm

- Chọn đất tốt, nhiều mùn, ẩm, tưới tiêu thuận lợi.

- Làm luống cao, mặt luống bằng phẳng hoặc mai rùa (đối với vụ hè).

- Bón phân chuồng hoai mục 2-3 kg/m2.

- Chọn ngày mát trời để râm: Cắt ngọn hoặc nhánh non vào buổi sáng sau đó giâm ngay. Cành giâm dài 5 – 8 cm, có 3 – 4 đốt.

- Khoảng cách giâm 2 x 2 cm, ấn đất chặt gốc và tưới đẫm nước. Hàng ngày tưới nhẹ. Sau 15 – 20 ngày cây ra đủ rễ có thể đem trồng ra ruộng sản xuất. Chọn cây xanh tốt khỏe mạnh, loại bỏ cây yếu, sâu bệnh.

2. Giống

Người trồng hoa cúc ở Việt Nam thường dùng giống hoá của Trung Quốc, Pháp, Nhật, Singapo, Ấn Độ, một số giống mới nhập từ Hà Lan, Đài Loan và một số giống trong nước...

3. Làm đất trồng

- Chọn đất tốt, thành phần cơ giới nhẹ, thuận lợi tưới tiêu.

- Đất được cày bừa kỹ, sạch cỏ dại.

- Lên luống rộng 100-120 cm, cao 20-30 cm, rãnh luống rộng 30-35 cm.

4. Phân bón

* Lượng bón

- Phân chuồng hoai mục:

- Phân đạm Urê:

- Phân lân Super:

- Phân Kaliclorua:

- Phân vi sinh:

500 – 700 kg/sào

8 – 10 kg/sào

20 – 25 kg/sào

8 – 10 kg/sào

50 kg/sào


 

* Cách bón

Tuỳ theo đất tốt, xấu mà tăng giảm lượng phân cho phù hợp. Có thể bổ xung tro bếp, thuốc kích thích sinh trưởng cho cây (theo hướng dẫn của đơn vị sản xuất).

- Bón lót: Toàn bộ phân chuồng (vi sinh) phân lân trộn đều với đất trước khi trồng.

- Bón thúc và chăm sóc

+ Đợt 1:  Sau trồng 15-20 ngày, bón 4-5 kg urê + 4-5 kg kali.

+ Đợt 2: Khi cây có nụ bón số phân đạm, kali còn lại, kết hợp vét rãnh vun gốc. Cắm cọc hai bên mép luống, căng dây theo ô mắt cáo để chống đổ.

5. Mật độ, khoảng cách, trồng cây

Tuỳ thuộc vào đặc điểm của giống, mục đích sử dụng hoa (để một hay chùm hoa), loại đất, kỹ thuật chăm sóc mà quyết định mật độ trồng.

Mật độ: 18.000 – 20.000 cây/sào. Khoảng cách hàng 15-17 cm; Khoảng cách cây 10-12 cm. Với loại hoa to và để 1 bông; Khoảng cách 15x15 cm với loại hoa nhỏ và để chùm; Khoảng cách 30x30 cm với hoa dùng cả dây.

Trồng cây: Chọc một lỗ nhỏ sau đó đặt cây, ấn nhẹ đất quanh gốc từ ngoài voà, phần lấp đất ngang với cổ rễ và mặt luống, xong tưới nước thật đẫm để giữ chặt gốc cây.  Che nắng và tưới nước 1-2 lần trong ngày đầu sau trồng. Các ngày sau giữ ẩm đều (ngày tưới 1 lần), cây nào chết phải trồng dặm ngay.

6. Tưới nước, vun xới

Cây hoa cúc là cây cần tưới nước trong suốt quá trình sinh trưởng nhưng không chịu được ngập úng. Chú ý đảm bảo ẩm độ thường xuyên cho cây. Nên kết hợp giữa tưới nước và bón phân để tăng hiệu quả.

Xới xáo: Chỉ xới xáo khi cây nhỏ (trước 40 ngày kể từ ngày trồng) vì rễ ăn nông xới xáo sẽ làm đứt nhiều rễ và không vun cao sẽ phát sinh nhiều mắt làm cho gốc sù xì không đẹp, tỉa lá già xung quanh gốc.

7. Làm giàn, bấm ngọn, tỉa cành, bấm nụ

* Làm giàn

- Dùng cọc tre đóng 2 mép luống, khoảng cách cọc 0,5-1 m dùng dây nilon đan bện thành mắt lưới để giữ cây được thẳng. Với giống cúc cao 0,7-0,9 m làm 2 lớp giàn, lớp dưới cách mặt đất 35 cm, lớp trên cách mặt đất 55 cm.

- Với cây cúc có tán rộng cắm 3-5 cọc xung quanh, dùng dây buộc nhẹ xung quanh cả khóm.

* Tỉa cành, bấm nụ

Thường xuyên tỉa bỏ các cành nhánh không cần thiết, thời kỳ ra hoa ngoài nụ chính còn nhiều nụ phụ, dùng tay nhẹ nhàng vặt bỏ các nụ này khi nụ còn bé (tránh tiêu hao dinh dưỡng của nụ chính) để hoa chính to, đều, màu sắc đẹp. Với loại hoa to, không bấm ngọn chỉ bấm nụ phụ, để một nụ chính trên thân, có thể để 2 nụ (một nụ chính và một nụ phụ phòng khi nụ chính hỏng để thay thế).

* Bấm ngọn

- Khi muốn cúc có nhiều hoa trên thân phải bấm ngọn cho cây.

- Bấm ngọn 1 lần: Áp dụng cho hoa có đường kính trung bình, dạng hoa tương tự hoặc loại hoa to để một bông nhưng chất lượng kém hơn một chút (đường kính cành nhỏ, thân ngắn hoa nhỏ hơn). Cúc sau trồng 15-20 ngày, bấm ngọn để lại 3-4 cành sau đó tỉa cành bấm nụ như loại hoa to.

- Bấm ngọn nhiều lần: Áp dụng cho một số giống cúc nhỏ đường kính bông 1-3 cm cây có thân mềm, cành nhánh phát triển mạnh, có thể bấm ngọn 2-4 lần. Lần 1: Sau trồng 15-20 ngày, 15 ngày sau bấm lần 1. Có thể bấm tiếp lần 3,4 đến khi cây có thế tán, dáng cây theo ý muốn, sau đó vặt bỏ mầm nách và các nụ con ra sau để hoa nở đồng đều.

8. Phòng trừ sâu bệnh

- Sâu hại: Sâu khoang, bọ trĩ, nhện đỏ, sâu xanh...

- Bệnh hại: Lở cổ rễ, sương mai, đốm lá, phấn trắng, thối rễ vi khuẩn...

Phòng trừ chủ yếu dùng các biện pháp canh tác, biện pháp sinh học, hạn chế sử dụng thuốc hoá học. Không dùng các loại thuốc cấm, thuốc hạn chế sử dụng.

Thuốc trừ sâu: Sher Sài Gòn 25 EC, Sherpa 25 EC, Supercid, Tập kỳ 1,8 EC...

- Thuốc trừ bệnh: Validacin 3L, Rhidomil MZ 72 WP, Daconil 75 WP, Tospin – M72WP, Kasuran WP, Score 250 EC...

9. Thu hoạch

- Trước khi thu hoạch (cắt hoa) một ngày, cần tưới đẫm nước, cắt bằng dao hay kéo sắc và cắt vào lúc sáng sớm (4-5 giờ sáng) hoặc lúc mặt trời sắp lặn (để hoa tươi lâu).

- Không nên cắt những hoa mới chớm nở, nên thu những hoa nở giữa chừng hoặc gần hết cánh hoa vòng ngoài.

- Sau cắt xong vệ sinh cành hoa (bỏ lá già, lá úa, sâu bệnh...) và phân loại hoa; Để thành từng bó và dựng đứng vào thùng chứa nước ngập 1/4-1/2 chiều dài cành, phun mù nước đẫm lá và không đọng trên mặt hoa; Bảo quản hoa vào phòng lạnh hoặc phòng mát, kín gió sau đó đem đi tiêu thụ. Hoa được đựng trong các thùng carton kích thước thùng (120 x 60 x 60) cm.

- Thu dọn, xử lý tàn dư trên ruộng sau khi thu hoạch./.

Nguồn Internet

Kỹ thuật trồng và chăm sóc cây hoa thiên lý


 


 


 

C ây thiên lý có tên khoa học là Telosma cordata (Bura.F) merr pergularia minorander, họ thiên lý. Cây leo bằng dây không có tua cuốn, hoa mọc thành chùm ở nách lá, hoa nở từ tháng 5 đến tháng 10. Là cây ưa ẩm, không chịu được úng, nếu bị khô hạn cây phát triển cằn cỗi. Hoa thiên lý có giá trị dinh dưỡng cao, trước kia ở nông thôn hoa thiên lý được trồng làm cây cảnh, lấy bóng mát, thưởng thức mùi thơm và làm thức ăn bổ sung hàng ngày.

Những năm gần đây nhu cầu tiêu thụ hoa thiên lý ở các thành thị rất lớn. Vì vậy mà người dân một số nơi đã đưa cây thiên lý vào trồng theo hướng hàng hoá. Xin giới thiệu kỹ thuật trồng hoa thiên lý cho bà con nông dân, những người muốn được học tập phát triển loại cây trồng này.

I. Thời vụ trồng

Có thể ươm trồng quanh năm, tuy nhiên để có trọn mùa hoa thu hoạch trong năm đầu bà con nên trồng vào vụ xuân.

II. Nhân giống

Dùng những đoạn dây bánh tẻ (không già quá và cũng không non quá) có đường kính 7 - 10 mm làm hom. Cắt mỗi hom dài khoảng 1m, sau khi cắt cần chấm tro vào hai đầu vết cắt để chống chảy nhựa, mất nước và sát khuẩn. Khoanh tròn phần phía dưới để lại 2 mắt phía trên và đem trồng.

Cũng có thể nhân giống bằng cách chọn những dây lươn mọc gần gốc, vùi đoạn sát gốc xuống đất, khoảng 15 - 20 ngày sau rễ sẽ mọc nhiều, ta cắt tách rời khỏi cây mẹ đem trồng. Chú ý khi trồng đào luôn cả đất tránh tổn thương rễ, khi trồng đảm bảo tỷ lệ sống cao hơn.

III. Chuẩn bị đất trồng và làm giàn

- Chuẩn bị đất trồng: Chọn đất pha cát, nơi dễ tưới, tiêu nước. xung quanh không có cây to và núi cao che khuất. Cày bừa kỹ, lên luống cao 40 - 50 cm, luống rộng 1,2m, rãnh giữa hai luống rộng 80 cm.

Hố trồng được dào vào giữa luống, giữa các luống được bố trí trồng so le. khoảng cách cây x cây 3 -4m. Hố trồng được đào sâu 40 cm, rộng và dài 0,5 - 1m. Đổ phân chuồng hoai (càng nhiều càng tốt) trộng với thuốc trừ nấm (Zined hoặc CopperzineZ,...) và một ít đất mặt vừa phải, toàn bộ hỗn hợp trộn đó được cho xuống hố (cao hơn miệng hố 1 - 2 cm) để sau 1 tuần thì tiến hành trồng.

- Làm giàn: Sau khi chuẩn bị đất xong tiến hành làm giàn. Làm giàn bao toàn bộ diện tích ruộng trồng, cao 1,6 - 1,7 m.

Nếu có điều kiện về vốn thì sử dụng cọc được đổ bằng bê tông, bên trong có 3 - 4 cọc sắt ỵ6. Cọc được chôn thành hàng theo rãnh giữa hai luống, khoảng cách giữa các cọc 4 - 5 m, sau đó dùng dây kẽm căng đan xen ngang, dọc để làm giàn cho dây leo. Loại giàn này vững và sử dụng được thời gian dài.

Có thể sử dụng các vật liệu sẵn có ở địa phương để làm giàn như gỗ, tre, luồng, ... Loại giàn này sử dụng cọc nhiều hơn, khoảng cách cọc 2 - 2,5m, cọc càng lớn càng tốt (tối thiểu bằng thân cây tre già). Sử dụng dây kẽm căng đan xen ngang, dọc, cũng có thể sử dụng gỗ, tre, luồng bắc nối ngang dọc làm giàn cho dây leo. Các hàng cọc ngoài cùng cần được neo, chống cố định, vững chắc.

IV. Trồng và chăm sóc.

- Trồng: Đối với cây được nhân bằng cách vùi đoạn sát gốc xuống đất để tạo rễ, tiến hành tách rời cây giống khỏi cây mẹ, đào luôn cả đất và rễ đem trồng vào hố trồng.

Đối với cây giống được nhân bằng hom, đặt phần khoanh tròn của hom xuống, lấp đất chừa lại 1-2 mắt mằm phía trên mặt đất và nén chặt.

Sau khi trồng xong tưới nước đủ ẩm và rào bảo vệ.

- Chăm sóc: Chọn những chồi tốt nhất làm dây cái cho leo lên giàn, những dây phát triển kém thì cắt bỏ. Đảm bảo đủ ẩm, úng phải tiêu nước ngay. Khi cây leo cao được 2m tiến hành bón thúc bằng nước giải pha loãng 1/20 (1 lít nước giải pha với 20 lít nước1) tưới cách gốc 60 cm. Khi cây nằm trên giàn 30 - 50 cm mới cho phát triển nhánh, chủ động dẫn nhánh toả kín giàn, tránh để các nhánh quấn vào nhau.

Khi cây thiên lý cho hoa tiến hành bón phân bổ sung cho cây. Rễ thiên lý là loại rễ ăn cạn nên khi bón phân không cần xới xáo, chỉ cần rãi phân và sau đó phủ lên một lớp mùn và lá khô là được. Bình quân mỗi tháng bổ sung phân một lần, khoảng 5 - 10 kg phân chuồng hoai + 100 - 150 g NPK (16- 16 - 8) cho một gốc.

V. Thu hoạch.

Thu hoạch hoa thiên lý khi chùm nụ hoa gần nở (khoảng 1 ngày trước khi nở hoa), nên tiến hành vào buổi sáng sớm, 3 ngày thu hoạch 1 lần. Thu hoạch xong nếu chưa vận chuyển ngay thì rải ra, để trong bóng tối hạn chế hoa nở.

IV. Sâu bệnh và cách phòng trừ.

Rệp:.phải kiểm tra hàng ngày, nếu ít bắt bằng tay, nếu nhiều phải dùng chổi lông quét rệp vào tờ bìa cứng rồi đốt cháy rệp. Khi có nụ phải kiểm tra xem rệp có chui vào kẽ chùm nụ hay không, nếu có thì dùng tăm nhọn đẩy rệp ra xử lý.

Nấm đen: phát triển trên lá và dây. Nó làm cho cây chảy nhựa và suy yếu. Phòng nấm đen bằng cách không để lá dày nhiều lớp, hái bớt lá non để ăn, lá già để làm phân. Nếu thấy nấm đen, hái toàn bộ lá có nấm rắc vôi bột và đem chôn, pha nước vôi quét vào dây có nấm.

* Nếu trồng hoa thiên lý ở những khoảng trống trong sân, vườn nhà thì cần bố trí nơi có nhiều ánh nắng. Đất phải được đắp thành ụ cao 30 40 cm, đường kính 1 - 1, 5 m. Diện tích giàn phải đảm bảo 10 - 12m2/gốc.

Cây thiên lý nếu được chăm sóc tốt, trồng một lần có thể cho thời gian kinh doanh từ 3 - 4 năm. Hàng năm vào mùa đông tiến hành cắt hết những nhánh phụ, để lại bộ khung, sang xuân cây sẽ ra những nhánh mới và tiếp tục cho hoa./.

Nguồn Internet


 


 

Kỹ thuật cho đào nở hoa đúng tết nguyên đán

Thú chơi đào Tết của ông cha ta ở miền Bắc đã có từ rất lâu, đào có 3 loại: đào phai (hoa đơn, màu hồng nhạt), đào bạch phát nhiều tán (loại đào này hiếm, ít nơi có) và cành sum xuê, đào bích (hoa kép, to, cánh dày, màu hoa đỏ tươi). Đào bích là loại đào đẹp, được nhiều người ưa thích nhất. Song nhiều người do không biết được đặc tính của cây đào, kỹ thuật trồng, chăm sóc nên có năm đào nở sớm, có năm nở muộn không đúng vào dịp Tết hoặc có năm đào chỉ ra nụ rồi thâm đen không nở được.

Để năm nào đào cũng ra nhiều hoa và nở hoa vào đúng dịp Tết Nguyên Đán cổ truyền, người trồng đào và chơi đào cần nắm bắt được đặc tính của cây đào là chịu hạn hơn chịu nước. Nếu trồng đào nơi đất trũng và thừa nước, rễ sẽ thối và cây dễ bị chết. Nếu trồng trong bóng dâm, ít ánh nắng, đất ẩm, lá sẽ xanh tốt quanh năm, đến mùa rất ít hoa. Vì vậy để năm nào đến mùa đào cũng có nhiều hoa ta phải trồng đào ở nơi cao ráo, quang đãng. Hàng năm, sau mỗi mùa thu hoạch hoa, cần bón bổ sung thêm phân chuồng, NPK cho cây để cây phát nhiều tán cành sum xuê. Mùa hoa năm sau hoa to, sắc màu đẹp, năng suất cao hơn.

Thông thường thì đào ra hoa rải rác từ trung tuần tháng chạp năm trước đến trung tuần tháng giêng năm sau. Song không phải năm nào cũng vậy, thực tế cho thấy năm thời tiết nắng ấm đến sớm, đào nở sớm hơn, năm thời tiết rét kéo dài, đào nở muộn hơn. Vì vậy nhiều năm Tết đến đào đã tàn hoa hoặc Tết song hoa đào mới nở, không có hoa đào chơi Tết, nên muốn có hoa đào nở đúng vào dịp Tết, người trồng đào, chơi đào phải biết điều chỉnh cho hoa đào nở theo ý muốn.

Theo kinh nghiệm của những người trồng và chơi đào nhiều năm có một số biện pháp điều chỉnh cho đào ra hoa vào đúng dịp Tết như sau:

Vào trung tuần tháng 11 âm lịch, tiến hành tuốt bỏ toàn bộ lá đào trên cây để cây tập trung dinh dưỡng làm nụ, đảm bảo nụ hoa ra nhiều, đều, mập, hoa to, cánh dày, màu đẹp. Theo dõi năm nào thời tiết nóng thì tuốt lá muộn hơn vài ngày, năm nào thời tiết rét thì tuốt lá đào sớm hơn thời điểm trên vài ngày. Sau khi tuốt lá đào xong, nếu trời nắng nóng kéo dài, ta phải làm giàn che và phun nước lạnh thường xuyên toàn bộ tán, thân cây đào, hãm cho đào không ra hoa sớm. Nếu trời rét kéo dài, ta cũng phải làm giàn che cho đào và hàng ngày tưới nước ấm vào quanh gốc đào để đảm bảo đủ nhiệt độ kích thích cho đào ra hoa đúng kỳ hạn.

Với cách làm như trên năm nào đào trong vườn sẽ cho ra hoa nhiều, hoa to, màu sắc đẹp và đúng dịp Tết từ ngày 28 - 29 tháng chạp đến mồng 4 - 5 tháng giêng, đúng vào dịp đón Tết mừng Xuân./

Nguồn Internet

 

Kỹ thuật nuôi cá ao

I. Ðiều kiện ao nuôi

- Các ao hồ ở trong làng xóm, do đào ao vật thổ tạo ra; nếu ao bị tù, cơm bùn đóng lại quá nhiều, phải tát cạn, dọn sạch cây que, nếu ao nhỏ phải được cải tạo, phá bờ ao nhỏ làm thành ao có diện tích 360 m2 - 1.500m2; vét (hút) bớt bùn lên vườn, chỉ để lại 1 lớp 20 - 30cm;

- Ao có độ pH - 6,7 không tù cớm, có nguồn nước cấp vào và thoát đi dễ dàng, không bị ô nhiễm;

- Ao có bờ cao hơn mức mưa cao nhất từ 0,4 - 0,5m, cống, đăng dào chắn, giữ cho cá không đi được.


 

II. Chuẩn bị ao nuôi

- Ao là môi trường sống của cá, để cho cá lớn nhanh đạt năng xuất cao, tránh bệnh tật, cần phải làm tốt việc chuẩn bị ao nuôi;

- Hàng năm, hoặc 2 năm ao nuôi cá phải được tát cạn vào cuối năm hoặc đầu xuân bắt cá lớn, chọn để lại cá nhỏ; bốc bùn ở đáy ao vứt lên quanh bờ, lấp hết hang hốc, cây cỏ, dùng bàn trang phẳng đáy và quanh bờ, dùng 10 - 15 kg vôi bột/1000m2 rắc đều quanh bờ và đáy, diệt hết cá tạp, phơi nắng 7 - 10 ngày cho mùn bã hữu cơ đáy ao phân huỷ;

- Lọc nước vào ao qua cống có vật chắn là vải màn hoặc bao trấu, ngăn cá tạp theo vào ăn hại thức ăn; nước tháo vào sâu 0,8 - 1m, dùng 100 - 150 kg phân chuồng/100m2, ủ mục rắc đều khắp ao hoặc dùng phân ủ một hố ở góc ao định kỳ múc nước té khắp ao, cho sinh vật làm thức ăn cho cá phát triển.


 

III. Ðối tượng nuôi

Những nơi có tập quán nuôi từ trước chưa có điều kiện thâm canh thì nên sử dụng các đối tượng :

  •  

+ Cá trắm cỏ, cá chép, cá mè;

+ Cá trôi ấn Ðộ, cá rô phi;

- Những nơi có điều kiện thâm canh, nuôi năng xuất cao cần sử dụng các đối tượng : Cá chim trắng; cá rô phi đơn tính; cá chép lai; tôm càng xanh.

IV. Kỹ thuật nuôi

1 Thả giống :

- Cá giống thả phải chọn giống cá khoẻ mạnh, vây vẩy hoàn chỉnh không có vết bệnh, cá sáng con, đều con, không còi cọc : Trắm cỏ: 100 - 150 gr/con; cá mè, trôi: từ 12 - 15 cm/con; cá chim trắng, rô phi : 8 - 10 cm/con; tôm càng : 2 - 3 cm/con.

- Tỷ lệ thả :

+ Thả cá trắm cỏ là chủ yếu 50%;

- Các loại cá khác như cá chim trắng, cá chép lai, cá rô phi 50%.

- Mật độ thả :

+ Thả bình thường thì mật độ 1,5 - 2 c/m2;

+ Nếu nuôi bán thâm canh thì thả 2 - 3 con/m2.

- Thời vụ thả :

+ Cuối tháng 3 đầu tháng 4 thả cá giống vào ao đã tẩy dọn sẵn, để thu hoạch tỉa vào tháng 10 - 11;

+ Nếu chuyển cá nhỏ năm trước sang thì thả vào tháng 11 - 12, giữ cá qua đông, chăm sóc nuôi, thu hoạch tỉa vào tháng 8 - tháng 9 năm sau.

2 Chăm sóc quản lý :

- Cá nuôi từ tháng 4 chăm sóc cho ăn; nếu ao nuôi thông thường thì 7 - 10 ngày phải bón phân 1 lần, mỗi lần từ 50 - 70 kg/100m2; phân ủ mục rắc khắp ao, cũng có thể dùng phân cỏ, rắc ủ vào 1 tháng ở góc ao, định kỳ hoà nước phân té khắp mặt ao, lượng té nhiều hay ít là căn cứ quan sát mầu nước, lá chuối non là tốt, nếu nhạt thì tăng phân và ngược lại;

- Nếu nuôi cá trắm cỏ là chính thì tăng cường cho cá trắm cỏ ăn mỗi ngày 40 - 100 kg/100m2 rắc vào khung cho cá trắm cỏ ăn, cá trắm cỏ thải ra phân, phân tan ra nước sinh vật phát triển nuôi được các loại mè, trôi, chép, rô phi;

- Nếu nuôi thâm canh thả mật độ dày 2 - 3 c/m2 thì phải cho ăn thức ăn tổng hợp chế biến như ngô, khoai và 25% đạm cho cá chóng lớn;

- Tất cả các trường hợp ao nuôi thông thường đến thời kỳ vỗ béo chuẩn bị thu hoạch trước 1 - 2 tháng đều phải dùng thức ăn tinh cho ăn thêm hàng ngày vào sáng sớm hoặc chiều tối với lượng 7 - 8% trọng lượng cá trong ao.

Cá nuôi : Hàng ngày phải kiểm tra bờ cống tránh để rò rỉ cá đi mất; thường xuyên vệ sinh dọn sạch cỏ rác thừa nơi cá ăn, định kỳ 10 - 15 ngày đùa ao 1 lần, đề phòng cá bị bệnh, khí độc bốc đi, cá hoạt động khoẻ phòng độc bệnh cho cá.

Trước tháng 3 và tháng 9 hằng năm, cần cho cá ăn thuốc Triên Ðắc 1 của Trung Quốc mỗi ngày 1 lần. Mỗi lần dùng 10 gr thuốc, trộn với thức ăn đã nấu chín cho 50 kg cá ăn cho 3 ngày liền đề phòng cá mắc bệnh.

Nếu cá đã mắc bệnh đốm đỏ thì sử dụng thuốc Triên Ðắc 50g, trộn với thức ăn là cám nấu cho 50 kg cá ăn, cho ăn 3 ngày liền.

3 Thu hoạch : Cá nuôi được 6 - 8 tháng đạt cỡ thu hoạch nên tiến hành thu hoạch theo 2 cách :

- Ðánh tỉa - Thả bù : Cuối hàng năm khi thu hoạch cá, chọn để lại các loại cá giống lớn, đối với trắm 150 - 200g/con; trôi 15 - 20 cm/con.

Thả cá vào ao đã tẩy dọn, tháng 3 nuôi tích cực, đến tháng 8, tháng 9 kéo lưới thu tỉa các loại cá to, thả tiếp loại cá giống để nuôi. Cuối năm thu 1 lần nữa,cuối năm thứ 2 tát cạn thu hoạch và tẩy dọn vệ sinh ao.

- Thu hoạch hằng năm : Cá nuôi tích cực 1 năm đạt cỡ như cá trắm 1,5 - 2 kg/con; cá mè, cá trôi 0,4 - 0,5 kg/con, thì kéo lưới thu hoạch bớt và tát cạn bắt hết, tẩy dọn nuôi tiếp năm sau.


 Theo Thông tin KHCN Thuỷ Sản

Kỹ thuật nuôi cá trắm cỏ


 

I. Nuôi ao:

1. Tẩy dọn ao:

- Tát hoặc tháo cạn, dọn sạch cỏ, tu sửa bờ, đăng cống, vét bùn nếu lượng bùn quá nhiều.

Bón vôi khắp đáy ao để diệt cá tạp và các mầm bệnh bằng cách rải đều từ 7 đến 10 kg vôi bột cho 100 m2 đáy ao.

- Sau tẩy vôi 3 ngày, bón lót bằng cách rải đều khắp ao từ 20 - 30 kg phân chuồng và 50 kg lá xanh cho 100 mét vuông (loại lá cây thân mềm để làm phân xanh). Lá xanh được băm nhỏ rải đều khắp đáy ao, vùi vào bùn hoặc bó thành các bó nhỏ từ 5 đến 7 kg dìm ở góc ao.

- Lấy nước vào ao ngập từ 0,3 - 0,4 mét, ngâm 5 đến 7 ngày, vớt hết bã xác phân xanh, lấy nước tiếp vào ao đạt độ sâu 1 mét. Cần phải lọc nước vào ao bằng đăng hoặc lưới đề phòng cá dữ, cá tạp xâm nhập.

Cá trắm cỏ sống ở tầng nước giữa, thức ăn chính là cây xanh như cỏ thân mềm, rau, bèo dâu, bèo tấm, lá chuối, lá sắn, cây chuối non băm nhỏ, rong, thân cây ngô non , cá trắm cỏ cũng ăn các loại bột ngô, khoai, sắn, cám gạo. Cá nuôi sau 10 - 12 tháng đạt trọng lượng từ 0,8 - 1,5 kg/con (trung bình 1 kg mỗi con).

2. Thả cá giống

- Có 2 thời kỳ thả cá giống :

Vụ xuân từ tháng 2 đến tháng 3;

Vụ thu từ tháng 8 đến tháng 9.

- Cần thả cá giống lớn, khoẻ mạnh, không sây xát, không có bệnh.

- Mật độ thả từ 1 - 2 con cho 1 mét vuông. Cỡ cá thả 8-10cm

3. Quản lý - chăm sóc ao

Thức ăn:

Thức ăn xanh gồm : các loại cỏ, rong, bèo tấm, bèo dâu, lá chuối, lá sắn nên cho cá ăn đủ hàng ngày. Sau khi cá ăn cần vớt bỏ các cọng cỏ, cây, lá già cá không ăn được. Cho cá ăn thêm cám gạo, cám ngô...  Cứ 100 con cho ăn từ 2 đến 3 kg thức ăn xanh, sau tăng dần theo sự lớn lên của cá bằng cách theo dõi hằng ngày.

Muốn tăng trọng 1kg thịt cá trắm cỏ cần từ 30-40kg thức ăn xanh như: rong, cỏ, bèo...

Với cỏ tươi cho ăn 30-40% trọng lượng thân; với rong, bèo cho ăn 70% trọng lượng thân.

Quản lý ao:

- Theo dõi thường xuyên bờ ao, cống thoát nước, xem mực nước ao vào các buổi sáng.

- Vào sáng sớm theo dõi xem cá có bị nổi đầu vì ngạt thở không, cá có nổi đầu kéo dài không. Nếu có, tạm dừng cho ăn và thêm nước vào ao.

- Khi thấy cá bị bệnh hoặc chết rải rác cần hỏi cán bộ kỹ thuật hoặc khuyến ngư để biết cách xử lý.

4. Thu hoạch

- Sau 5 đến 6 tháng nuôi có thể đánh tỉa số cá lớn để ăn hoặc bán và thả bù cá giống để tăng năng suất nuôi. Phải ghi lại số lượng cá đã thu và thả lại sau mỗi lần đánh tỉa (ghi cả số con và số kg cá).

- Cuối năm thu toàn bộ cá (có thể chọn những cá nhỏ giữ lại làm giống cho vụ nuôi sau).

Sau khi thu hoạch toàn bộ phải ghi lại sản lượng cá thu được (bao gồm cả cá đánh tỉa và cá thu cuối năm) nhằm sơ bộ hạch toán trong quá trình nuôi để có cơ sở cho đầu tư tiếp ở vụ nuôi sau.

 

II. Nuôi ở lồng bè trên sông, hồ:

Lồng có dạng hình khối chữ nhật hoặc mùng, kích thước dài x rộng x cao:

Kích thước phổ biến hiện nay là: 3m x 2m x 1,7m hoặc 4m x 3m x 1,7m

- Lồng làm bằng tre hóp cả cây, gỗ hoặc nhựa composite. Hai đầu để khe hở từ 0,5 - 1 cm để nước lưu thông dễ dàng, hai mặt bên và đáy thường bằng ván gỗ khít không để lọt thức ăn.

+ Do nuôi ở sông nên tốc độ dòng chảy 0,2 - 0,3 m/giây. Đặt mỗi cụm 20 lồng, các cụm cách nhau 150 - 200 m.

+ Nuôi ở hồ chứa nước lưu thông 0,1 - 0,2 m/giây. Nuôi cụm 15 lồng, các cụm đặt cách nhau 200 - 300 m.

Trước khi thả cá giống vào nuôi, lồng bè phải được cải tạo, vệ sinh.

- Đối với lồng bè phải cọ rửa sạch, phơi khô và dùng nước vôi hoặc Clorua vôi phun đều toàn bộ lồng nuôi cá. Sau đó phơi khô 1 - 2 ngày, cọ rửa sạch và hạ thuỷ. Lồng đặt ngặp nước 1,2 - 1,5 m, cách đáy 3 - 4 m.

1/ Tiêu chuẩn cá giống, mật độ nuôi

- Tiêu chuẩn cá giống:

+ Ngoại hình cân đối, không dị hình, vây, vẩy hoàn chỉnh, cỡ đồng đều, bơi lội nhanh nhẹn.

+ Không có dấu hiệu bệnh lý.

+ Kích cỡ cá 8-10cm.

- Mật độ nuôi:

+ Nuôi trong lồng bè 70 - 80 con/m3 . Cá có trọng lượng lớn hơn thì 30-50 con/m3

- Trước khi thả cá xuống ao, cá giống được khử trùng bằng ngâm tắm trong nước muối 3% từ 10 - 15 phút.

- Thời vụ nuôi: ở miền Bắc bắt đầu từ tháng 4.

2. Thức ăn và chế độ cho ăn :

Thức ăn xanh: cỏ, rong, bèo, lá ngô, sắn....Với cỏ tươi cho ăn 30-40% trọng lượng thân; với rong, bèo cho ăn 70% trọng lượng thân.

3. Chăm sóc cá nuôi

- Theo dõi hoạt động của cá:

Thường xuyên kiểm tra hoạt động của cá, nếu thấy cá bơi lội khác thường phải vớt lên kiểm tra.

Nếu nổi đầu do thiếu ôxy phải kéo lồng ra xa khu vực môi trường ô nhiễm. Có thể tăng cường khuấy sục khí làm tăng lượng ôxy hòa tan.

Kiểm tra sàn ăn để xác định khả năng bắt mồi của cá để điều chỉnh thức ăn.

cứ 3 ngày vệ sinh lồng cá 1 lần và kiểm tra lồng.

4. Phòng trị bệnh cho cá nuôi:

một số bệnh: Nấm thuỷ mi, trùng bánh xe, trùng quả dưa, sán lá đơn chủ. Mỗi loại bệnh có triệu chứng và bệnh lý riêng, cần thường xuyên theo dõi biểu hiện của cá để phòng trị.

Để chủ động phòng ngừa bệnh cho cá nuôi, trong quá trình nuôi nên tiến hành dùng vôi để cải tạo môi trường.

+ Đối với vôi: Đựng trong bao treo ở đầu nguồn nước, cách mặt nước khỏang 1/2 độ sâu của nước trong lồng. Liều lượng 3-4kg vôi cho 10m3 nước trong lồng.

+ Sulphat đồng (CuSO4) phòng ký sinh đơn bào, liều lượng 50g/10m3 nước, tuần 2 lần.

Không dùng thuốc, hoá chất kháng sinh đã cấm sử dụng.


 

Theo vietlinh.vn

Kỹ thuật nuôi lợn rừng


 

Kỹ thuật chọn giống lợn rừng: Vài năm trở lại đây ngày càng có nhiều hộ gia đình tìm hiểu và chăn nuôi lợn rừng. Để chọn được con giống có chất lượng, đảm bảo cho đầu ra sau này. Chúng tôi xin chia sẻ cho bà con một vài kinh nghiệm:

Thứ nhất: Chi phí con giống tương đối đắt.

Thứ hai: Vì lợn nuôi là lợn rừng nên phần tướng mạo con lợn rất quan trọng, điều này có ảnh hưởng rất lớn tới khả năng tiêu thụ sản phẩm sau này kể cả bán con giống cũng như bán thịt, khách hàng luôn luôn quan tâm đến tướng mạo hình dáng con lợn. Nếu tướng mạo lợn rừng bố mẹ mà giống như con lợn ỉ thì chắc chắn khi tiêu thụ sẽ rất khó và mất giá. 

Vì vậy khi chọn giống cần lưu ý một số đặc điểm sau:

Một là: Trước tiên bà con nên đi thăm quan tìm hiểu con giống tại các cơ sở cấp giống, để có sự so sánh, không nên chỉ xem ở một cơ sở rồi mua giống như vậy sẽ không chọn được con giống tốt nhất.

Hai là: Vì lợn giống mua về nuôi còn nhỏ nên nhiều đặc điểm trên cơ thể chưa phát tướng, do đó khi mua bà con cần tìm hiểu kỹ con bố mẹ. Lợn bố mẹ mõm phải dài, nhọn và thẳng; đầu nhỏ hình tam giác nhọn không có thịt, về cơ bản đầu chỉ có da bọc hộp sọ mặc dù phần thân trắm, chắc không gầy, đây là đặc điểm chứng tỏ giống lợn đó có tỷ lệ lạc cao hơn so với những con nuôi cùng một chế độ dinh dưỡng nhưng không có đặc điểm đó; tiếp đến cổ phải dài, thắt ngẫng, không có má, đặc điểm này đối với lợn mẹ chứng tỏ con lợn đó sẽ mắn đẻ, đẻ sai ( giống như vịt ta cổ thắt mắt treo đẻ khoẻ), nuôi con khéo; phần thân phải cao, dài, lưng thẳng, chân thẳng, lợn mẹ bụng vừa phải khi không mang thai phải trở lại bụng bồ kết, trọng lượng cơ thể vừa phải ( lợn mẹ không nên vượt quá 50 kg) ; lợn bố bờm phải rậm, lông bờm dài, trông dữ tướng, màu lông lý tưởng là 1/3 phần đầu lông màu nâu sẫm, còn lại 2/3 là màu đen, bụng bồ kếp, lưng phải hơi ngù, hai chân trước cao hơn hai chân sau một chút tạo dáng đi giống con gấu bắc cực, hậu môn hơi nồi, phần mông ở tư thế hơi cụp giống hình con chuột đàn như thế chứng tỏ đó là con đực tốt và khoẻ.

Ba là: Đàn lợn con phải đều con, nhanh nhẹn, lợn mẹ khi nuôi con phải gầy, như vậy chứng tỏ con mẹ đó tốt sữa, nuôi con khéo;

Bốn là: Mới nuôi, bà con không nên ham hố nuôi quá nhiều mà nên nuôi thử nghiệm, nhiều cũng chỉ nên nuôi khoảng 2 đôi, vì mới nuôi còn ít kinh nghiệm trong phòng chống bệnh tật và chăm sóc, nếu không may gặp rủi ro sẽ thiệt hại lớn. Một điều quan trọng nữa bà con cũng không nên mua lợn mới nhập ở các vùng khác biệt về địa lý và môi trường sống về nuôi, vì như vậy sẽ có rủi ro về bệnh tật rất cao. Sự thay đổi đột ngột về môi trường sống, khí hậu, nguồn thức ăn, qúa trình vận chuyển lâu ngày lợn sẽ dễ mắc chứng bệnh phù lề, khi bị mắc bệnh này khả năng chữa khỏi bệnh gần như không có.

Theo nhanong.net

 

Kỹ thuật nuôi ngan thịt

Giống và dụng cụ nuôi

Chọn ngan con nở đúng ngày (34-35 ngày), dáng nhanh nhẹn, lông tơi bông, mắt sáng, chân và bụng vừa phải.

- Chuồng nuôi cần khô ráo, dễ làm vệ sinh, ấm về mùa đông, thoáng mát về mùa hè, nền chuồng lát bằng gạch hoặc xi măng. Có chất độn chuồng vì ngan thải phân và nước tiểu rất nhiều. Cần làm sân, vườn, ao hồ chứa nước cho ngan vận động và từ tuần thứ 3 trở đi, để ngan tắm.

- Máng ăn dùng máng tôn kích cỡ rộng 50cm, dài 70cm, cao 2cm. Máng uống dùng loại máng tròn 5 lít.

- Chụp sưởi: có thể dùng hệ thống lò sưởi hoặc bóng điện đảm bảo cung cấp nhiệt cho ngan con.

- Quây: Dùng cót ép chiều cao 0,5m, dài 45m quây tròn cho 60-70 con ngan con.

- Rèm che: Dùng cót phên liếp…che quanh chuồng để giữ nhiệt và tránh gió lùa.

Chuồng nuôi và dụng cụ phải được cọ rửa sạch sẽ. Để trống chuồng 15-20 ngày, làm vệ sinh, quét vôi đặc 40%, khử trùng bằng formol 0,05%.

Ánh sáng

Ngay từ 1-3 tuần tuổi chiếu sáng 24/24 giờ. Từ 4-6 tuần tuổi giảm chiếu sáng từ 20-24 giờ/ngày, bóng điện treo cao cách nền chuồng 0,3-0,5m. Từ tuần thứ 8-12 hoàn toàn sử dụng ánh sáng tự nhiên.

Nước uống

Cần cho ngan uống nước sạch trong suốt quá trình nuôi. Khi mới bắt vào quây nuôi, phải cho ngan uống liên tục từ 3-4 giờ, rồi mới cho ăn.

Thức ăn

Mỗi ngày cho ngan ăn 6-8 lần để cho thức ăn luôn mới, tránh lãng phí. Nếu nuôi thâm canh sử dụng thức ăn công nghiệp trộn thêm với gạo lức. Nếu nuôi bán chăn thả, nên kết hợp sử dụng thức ăn công nghiệp với các loại thức ăn như ngô, cám gạo, đỗ tương, giun, ốc, rau…

Thời kỳ vỗ béo

- Thời gian vỗ béo ở ngan cái là 50-58 ngày tuổi và ở ngan đực là 63-70 ngày tuổi.

- Dùng ngô hạt, đỗ tương luộc chín nhồi cưỡng bức 2 lần/ngày. Lượng thức ăn tăng dần 200-300g/con/ngày.

Dùng các loại thức ăn hỗn hợp cho ngan, vịt và sử dụng thức ăn nấu chín cho ngan ăn.
Phòng ngừa bệnh tụ huyết trùng, dịch tả…bằng vaccin. Loại bỏ hoặc nhốt riêng những con ngan nhỏ, yếu, phòng bệnh Salmonella, E.coli ngay ở tuần đầu. Thường xuyên vệ sinh chuồng trại sạch sẽ.

Theo nhanong.net

Kỹ thuật nuôi ong để đạt năng suất cao


 

Nước ta, ong nội đã được nuôi từ lâu đời với nhiều hình thức khác nhau như: nuôi ong trong hốc cây hoặc hốc đá tự nhiên; nuôi trong thùng hoặc trong đõ đã có bánh tổ cố định và được đặt theo nhiều tư thế khác nhau trong hốc tường, đặt trong hốc tường, đặt đõ tròn thẳng đứng, có nơi tiến bộ hơn thì nuôi ong trong thùng có thanh ngang... Song, mọi phương thức nuôi ong kể trên đều mang tính chất thô sơ, năng suất thấp. Ngày nay, việc áp dụng kỹ thuật nuôi trong thùng cải tiến có khung cầu di động là một bước tiến nhảy vọt, đưa năng suất mật tăng gấp 5 - 10 lần. Để nuôi ong thành công và thu được nhiều sản phẩm, cần phải nắm vững và kết hợp hài hoà giữa nhiều yếu tố như : kỹ thuật tạo chúa có chất lượng cao, kỹ thuật nuôi và sử lý đàn ong, các bước đi hoa, phương pháp phòng và trị bệnh... 

1. Sinh học ong mật

Đời sống của đàn ong : Ong mật sống thành đàn, trong đàn gồm có Ong chúa, Ong đực và Ong thợ.

Các thành viên của đàn ong :

Ong chúa :

Bình thường mỗi đàn ong chỉ có một con ong chúa. Ong chúa của giống ong nội đẻ trung bình 400 - 600 trứng/ngày đêm.

Ong chúa có hình dạng lớn nhất trong đàn : dáng cân đối, bụng thon dài, chúa mới đẻ có lớp lông tơ nhiều, mịn, bò nhanh nhẹn.

Ong chúa là cá thể duy nhất có khả năng sinh sản để duy trì bầy đàn và điều tiết của hoạt động của đàn ong.

Ong đực :

Có màu đen và làm nhiệm vụ duy nhất là giao phối với ong chúa. Ong đực có thể sống trong 50 - 60 ngày. Sau khi giao phối, ong đực bị chết hoặc khi thiếu ăn chúng sẽ bị ong thợ đuổi ra ngoài và bị chết đói.

Ong thợ :

Có số lượng đông nhất trong đàn và có bộ phận sinh sản phát triển không đầy đủ. Ong thợ có cấu tạo cơ thể thích hợp với việc nuôi ấu trùng, thu mật và phấn hoa...

Tuổi thọ của ong thợ chỉ kéo dài từ 5 - 8 tuần. Khi phải nuôi nhiều ấu trùng, lấy mật nhiều thì tuổi thọ giảm và ngược lại. Một số ong thợ làm nhiệm vụ trinh sát, bay đi tìm nguồn mật, phấn hoa và thông báo cho các ong thu hoạch biết đến hút mật chuyển cho ong tiếp nhận. Ong tiếp nhận tiết thêm men vào mật, quạt gió và chuyển dần mật từ các lỗ tổ ở phía dưới lên trên của bánh tổ.


 

Các giai đoạn phát triển của ong:

Giai đoạn

Loại ong

Trứng

(ngày)

Ấu trùng

(ngày)

Nhộng

(ngày)

Tổng số

(ngày)

Ong chúa

3

5

7 - 8

15 - 16

Ong thợ

3

5

11

19

Ong đực

3

6

14

23


 

2. Chọn điểm đặt ong

Chọn điểm nuôi ong :

* Gần nguồn mật phấn hoa

* Nơi không phun thuốc sâu hóa chất.

* Không có dịch bệnh, ít hoặc không có ong rừng, chim thú hại.

* Địa hình thoáng mát, yên tĩnh, không gần đường giao thông, nhà máy đường, nhà máy hóa chất, nhà máy chế biến hoa qủa và không có hồ lớn bao quanh...

Cách đặt thùng đàn ong :

Thùng ong nên kê cao 25 - 30cm so với mặt đất, thùng nọ cách thùng kia ít nhất là 1m, cửa ra vào đặt các hướng khác nhau, chọn nơi khô ráo, thoáng mát như dưới hiên nhà, cạnh các gốc cây... Khống nên đặt trên sân gạch, nền xi măng, nơi qúa ẩm ướt hoặc gần chuồng gia súc.

 3. Chia đàn tự nhiên

Một bộ phận ong thợ cùng với ong chúa tách ra, bay đi để thành lập một số ong mới. Chia đàn ong tự nhiên thường làm giảm năng suất mật.

  Khi nào đàn ong chia đàn tự nhiên :

Điều kiện bên ngoài :

* Điều kiện bên ngoài :

* Nguồn thức ăn (mật, phấn) nhiều.

* Khí hậu thời tiết tốt (không nắng, nóng, lạnh qúa)

Điều kiện bên trong đàn ong :

* Mật độ ong đông, ong chúa đẻ mạnh, cầu con nhiều, thức ăn dự trữ thừa và ong sống trong thùng qúa chật trội.

Hiện tượng của đàn ong trước khi chia đàn tự nhiên :

* Trước khi chia đàn vài tuần, ong xây nhiều lỗ tổ ong đực và xây từ 3 - 10 mũ chúa ở hai góc và phía dưới bánh tổ.

* Bình thường khi mũ chúa già thì ong chia đàn nhưng có khi mới có nền chúa hoặc ong chúa mới đẻ vào đã chia đàn.

* Ong chia đàn từ 8 - 11 giờ sáng và 14 - 16 giờ chiều vào những ngày đẹp trời. Khi chia đàn, ong chúa cũ cùng với qúa nửa số ong thợ và một số ong đực ăn no mật rồi bay ra khỏi tổ, sau đó tụ lại ở hiên nhà, cành cây gần đó và quên tổ cũ, khi bắt đàn ong trở lại, nên cho ong vào thùng khác và đặt bất cứ nơi nào.

* Khi chia đàn tự nhiên, ong không ồn ào và náo động như khi bốc bay.

Thời gian chia đàn tự nhiên :

Ở miền Bắc : ong thường chia đàn vào tháng 3 - 4, một số ít chia vào tháng 10 - 11.

Xử lý ong chia đàn tự nhiên :

* Trong trường hợp đàn ong ít quân : khắc phục việc chia đàn bằng cách thay ong chúa cũ bằng ong chúa mới vào lúc nguồn hoa phong phú, cho thêm tầng chân, quay mật hoặc chuyển cầu mật cho đàn khác, nới rộng khoảng cách cầu và bỏ vật chống rét ra ngoài, vặt các mũ chúa và cắt bỏ lỗ tổ ong đực.

* Trong trường hợp đàn ong mạnh thì chủ động chia đàn : cần cho ăn đủ, chọn những mũ chúa thẳng dài ở vị trí trống như ở 2 góc và dưới bánh tổ để sử dụng sau khi ong chia đàn mới.

* Đàn ong chia đàn tự nhiên thường ăn no mật và phần đông ong thợ trẻ đang độ tuổi tiết sáp, xây tầng nhanh, nên ngay sau khi ổn định có thể cho đàn ong đó xây tầng chân. Đàn ong gốc chỉ giữ lại 1 mũ ong chúa tốt nhất để thay chúa còn lại cắt bỏ tất cả các mũ chúa đi.

Ong bốc bay

+ Nguyên nhân và biểu hiện ong bốc bay :

* Nguyên nhân bên ngoài : ong rừng, kiến hoặc hại khác quấy phá, trời nắng, nóng, khô hanh ; thùng ong bị đồ, bị chấn động mạnh sau khi di truyền...

* Nguyên nhân bên trong : do đàn ong thiếu thức ăn, ong chúa ngừng đẻ không có cầu con. Đặc biệt khi đàn ong bị bệnh và bị sâu phá bánh tổ.

* Hoặc do chuyển nơi ở theo mùa vì ong còn mang tính dã sinh.

Trước khi bốc bay ong chúa giảm đẻ sau đó ngừng hẳn, đàn ong đi làm uể oải. Khi sắp bốc bay cả đàn đàn ong ồn ào, náo động, chúng ăn no mật và ùn ùn kéo ra khỏi tổ.

+ Thời vụ và thời gian ong bốc bay :

Ở miền Bắc, ong thường bốc bay vào tháng 7 - 9 do thiếu ăn và nắng nóng, ong di chuyển chỗ ở từ vùng thấp lên vùng cao mát mẻ hơn. Tháng 10 - 11 ong lại bốc bay di cư về vùng thấp và tháng 1 - 2 bốc bay do đói rét.

+ Biện pháp hạn chế ong bốc bay :

* Tạo đàn ong có chúa trẻ dưới 8 tháng tuổi, đẻ tốt.

* Thức ăn đủ (cả mật vít nắp và 1 - 2 cầu phấn).

* Duy trì đàn ong lúc nào cũng có cầu con, nhất là cầu ấu trùng.

* Phòng bệnh tốt, trị bệnh kịp thời và triệt để.

* Chống nóng, nắng, hanh khô.

4.      Phương pháp nhập đàn ong, cầu ong

Nhập ong thợ từ đàn này sang đàn khác nhằm :

* Điều chỉnh thế ong cho đồng đều.

* Xử lý các trường hợp : bốc bay, mất chúa, tăng lực lượng xây bánh tổ.

* Thao tác cần nhẹ nhàng để tránh ong đánh nhau gây tình trạng mất ổn định trong đàn ong và những đàn xung quanh.

a. Các nguyên tắc nhập đàn ong, cầu ong :

* Nhập vào buổi tối.

* Nhập đàn ong không có chúa vào đàn ong có chúa.

* Nhập đàn ong yếu vào đàn ong mạnh.

b. Các cách nhập ong :

Nhập gián tiếp (ngoài ván ngăn)

* Khử hoặc tách chúa ở đàn bị nhập trước 6 giờ.

* Đến tối nhấc các cầu định nhập đặt ngoài ván ngăn của đàn ong được nhập.

* Sáng hôm sau nhấc ván ngăn ra ngoài và ổn định cầu mới nhập vào.

Nhập trực tiếp (trong ván ngăn)

Buổi chiều, tách ván ngăn ra xa, đến tối đặt nhẹ cầu nhập vào hoặc thổi nhẹ cho ong già bay khỏi tổ, còn lại toàn ong non.

 5. Phương pháp chia đàn ong :

Chia đàn nhân tạo nhằm giảm sự chia đàn tự nhiên và tăng số đàn. Có mấy phương pháp chia như sau :

  a. Chia đàn song song

* Sau khi chuẩn bị được ong chúa, mũ chúa, dùng một thùng mới có mầu sơn giống với mầu thùng cũ của đàn ong định chia.

* Chia đều số cầu, quân nhộng, ấu trùng và thức ăn ra làm đôi, đặt 2 đàn liền nhau.

* Để 2 đàn cách đều vị trí đàn cũ 20 - 30cm. Nếu đàn ong vào nhiều hơn thì nhích xa vị trí cũ, đàn nào vào ít thì nhích gần lại. Dần dần tách 2 đàn ra xa nhau, quay cửa tổ ra 2 hướng.

Cách chia này có ưu điểm là : 2 đàn được chia đều, phát triển nhanh, không phải mang ong đi, tiện kiểm tra, chăm sóc.

 b. Chia dời chỗ :

* Mang thùng mới đến gần đàn cơ bản, tách ra 2 - 3 cầu, chèn lại, rồi chuyển đi cách đó 1km, thường mang ong chúa đã đẻ đi. Nên tiến hành trước vụ mật 40 ngày.

c. Tách cầu ghép thành đàn mới :

Khi sắp tới vụ mật, có một số đàn ong mạnh muốn chia đàn tự nhiên, nếu không chia ong sẽ tự chia đàn hoặc đi làm kém. Cần lấy từ các đàn mạnh, mỗi đàn một cầu nhộng và quân để tách ra hình thành đàn mới. Vừa chống chia đàn, vừa tăng sản lượng mật, tăng được số lượng đàn. Ngày đầu chỉ nên lấy 1 cầu, ngày sau lấy 1 cầu của đàn khác và hôm sau lấy thêm 1 cầu của đàn thứ 3. Nếu ong chúa đẻ, đàn ghép sẽ phát triển nhanh.

 6. Phương pháp chống nóng, chống rét cho ong :

  Tại sao phải chống nóng, chống rét :

Ta đã biết rằng : yêu cầu nhiệt độ trong đàn ong từ 33 - 350C, độ ẩm từ 60 - 80%. Cao hơn hoặc thấp hơn ong thợ sẽ làm những công việc sau :

* Quạt gió cho mát (nếu nóng qúa)

*  Tụ lại rung cánh tạo nhiệt (rét qúa)

* Đi lấy nước về tổ (hanh, thiếu ẩm độ)

Chống nóng cho ong :

* Không để đàn ong ở ngoài nắng, không đặt cửa về hướng tây, không để đàn ong chật chội.

* Để máng có nước trong thùng ong vào những ngày nóng bức.

Chống rét, khô hanh cho ong :

* Điều chỉnh đàn ong trước mùa rét để có thế đàn đông đều, nên kết thúc nhân giống trước 30/11 để có thời gian nâng thế đàn tốt qua mùa đông.

* Cho ăn đầy đủ đến khi có mật vít nắp, nếu thiếu phấn kéo dài phải cho ăn bổ sung.

* Dùng rơm, lá chuối khô... làm vật chống rét để ở ngoài ván ngăn hoặc bên trên xà cầu.

* Bịt kín các khe hở của thùng ong, không để cửa tổ quay về hướng bắc.

* Nếu khô hanh qúa cho uống nước pha ít muối với tỷ lệ 9/1000.

7. Ong chúa và những yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng ong chúa

Cũng như con mối, con kiến...ong mật là loại côn trùng sống thành một xã hội bầy đàn. Mỗi đàn ong là một gia đình bao gồm từ vài nghìn con đến vài chục nghìn cá thể. Song, mọi hoạt động của đàn ong đều do ong chúa quyết định và phẩm chất của ong chúa có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đời sống đàn ong. Ong chúa tốt thì đàn ong sẽ phát triển, ong chúa kém chất lượng sẽ làm cho đàn ong kiệt quệ và suy tàn.

Một đàn ong bình thường chỉ có duy nhất một ong chúa : ngoài chức năng đẻ trứng để duy trì bầy đàn, ong chúa còn điều hòa các hoạt động của toàn đàn bằng một chất đặc biệt mà ta thường gọi là chất chúa (Pheromol). Ong chúa nuôi tồn tại 2 - 3 năm và cả đời ong chúa chỉ giao phối một lần ; sức đẻ trứng của ong chúa tăng dần và đỉnh cao nhất là trong khoảng thời gian 6 - 9 tháng đầu tiên, càng già ong chúa càng đẻ kém đi và đẻ nhiều trứng không thụ tinh, vì thế trong sản xuất người nuôi ong thường thay thế chúa từ 6 - 12 tháng/lần.

Trong tự nhiên, ong chúa ra đời trong 3 trường hợp sau :

+ Ong chúa chia đàn tự nhiên : xảy ra khi đàn ong mạnh, nguồn hoa phong phú ; đàn ong sẽ tạo ra từ 5 – 10 mũ chúa ở mép hoặc ở bánh tổ.

+ Ong chúa thay thế tự nhiên : khi ong chúa già hoặc bị bệnh, đàn ong sẽ tạo ra 2 – 3 mũ chúa, các mũ chúa có cả trên bề mặt và mép dưới của bánh tổ.

+ Ong chúa cấu tạo : khi ong chúa bị chết hoặc mất đột ngột, ong thợ sẽ xây mũ chúa ở cả 2 mặt của cầu ong. Trong qúa trình nuôi dưỡng, người nuôi ong rất ít khi sử dụng các loại ong chúa này vì chất lượng kém.

Chất lượng của ong chúa phụ thuộc 2 yếu tố chính : tính di truyền của đàn giống (đàn bố, đàn mẹ) và điều kiện nuôi dưỡng ấu trùng ong chúa :

* Đàn giống :

Đàn giống là đàn cung cấp ấu trùng để tạo ong chúa và các đàn tạo ra các ong đực giao phối với những con ong chúa mới đó. Vì thế việc lựa chọn và chăm sóc đàn giống được tiến hành rất cẩn thận.

* Đàn nuôi dưỡng :

Các ong chúa tốt chỉ được tạo ra từ những đàn giống có chất lượng cao, song vẫn chưa hẳn tạo được những ong chúa tốt nếu phương pháp tạo chúa không đúng kỹ thuật. Chúng ta đều biết rằng, ấu trùng ong thợ và ấu trùng ong chúa đều được tạo ra từ trứng đã thụ tinh, nghĩa là có nguồn gốc di truyền như nhau, nhưng do mức độ thức ăn khác nhau mà chúng trở thành ong chúa hay ong thợ. Vì lẽ đó, chế độ cung cấp thức ăn sẽ ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng ong chúa tạo ra.

Đàn nuôi dưỡng là đàn tiếp nhận các ấu trùng và nuôi dưỡng chúng thành ong chúa trưởng thành (trong tạo chúa công nghiệp, người ta còn tổ chức ra những đàn tiếp thu riêng để sau khi những cầu chúa được tiếp nhận mới đưa ra đàn nuôi dưỡng). Đàn nuôi dưỡng cần phải mạnh, đông quân và nhiều ong non, đủ thức ăn để nuôi được nhiều ong chúa và có chất lượng cao.

Tuy nhiên, nếu tạo chúa vào giữa vụ mật, ong mải mê đi lấy mật mà sao nhãng việc nuôi ấu trùng thì chất lượng ong chúa cũng không tốt. Vì vậy, nên tạo chúa vào đầu hoặc cuối vụ mật. Khí hậu nước ta là khí hậu nhiệt đới nên có thể tạo chúa quanh năm nhưng cần chú ý tạo chúa vào lúc có nguồn thức ăn dồi dào thì chất lượng ong chúa mới tốt. Mặt khác cần tránh tạo chúa vào mùa mưa, mùa đông rét mướt, mùa có gió to chúa không đi giao phối được đạt tỷ lệ giao phối thấp.

7.1. Phương pháp tạo chúa

Nuôi ong cần nhiều chúa mới đẻ thay thế chúa già, chúa xấu hoặc để chia đàn. Việc chủ động tạo chúa là biện pháp kỹ thuật quan trọng để tạo ra đàn ong mạnh, cho năng suất cao.

a. Chọn đàn làm giống và đàn nuôi dưỡng :

Chất lượng ong chúa phụ thuộc vào nguồn gốc bố mẹ và yếu tố nuôi dưỡng (đàn nuôi dưỡng, thức ăn).

Vì vậy việc tạo chúa phải chọn được các đàn giống tốt và đàn nuôi dưỡng tốt, trong đàn ong chia ra đàn mẹ và đàn bố.

 Đàn mẹ :

Là đàn cung cấp ấu trùng để tạo chúa, đàn mẹ phải đáp ứng được những nhu cầu sau :

* Tụ đàn đông (nhiều cầu)

* Năng suất mật cao.

*  Không bị bệnh.

* Đàn ong hiền lành, không bay bốc, không hoặc ít chia đàn.

ở những trại ong lớn thương chọn từ 2 - 3 đàn mẹ để tránh cận huyết. Trước khi lấy ấu trùng 1 - 2 ngày nên cho đàn mẹ ăn để ong tiết nhiều sữa nuôi ấu trùng.

  Đàn bố :

* Là đàn ong tạo ra ong đực sẽ giao phối với ong chúa tơ. Để ong đực ở độ tuổi giao phối thích hợp, cần tạo ong đực trước khi tạo chúa khoảng 20 - 25 ngày. Cho đàn bố ăn bổ sung, viện thêm cầu nhộng, cắt góc bánh tổ, đàn ong sẽ xây các lỗ đực và ong chúa sẽ đẻ trứng vào đó.

* Tiêu chuẩn đàn bố giống như đàn mẹ; để tránh cận huyết mỗi trại nên chọn từ 3 - 5 đàn bố, đồng thời tiến hành diệt ong đực ở đàn mẹ và các đàn khác.

 Đàn nuôi dưỡng :

* Là đàn nuôi ấu trùng ong chúa cho đến khi nở thành chúa tơ. Đàn phải thiếu nguồn mật tự nhiên, cần cho đàn nuôi dưỡng ăn trước khi tạo thành chúa 4 - 5 ngày. Cần rũ bớt cầu trong đàn nuôi dưỡng để ong bám trên cầu thật đông tiếp thu chúa nhiều hơn.

  Phương pháp di trùng :

Dùng kim di trùng băng nhôm hoặc lông ngỗng vót nhỏ đưa vào phía lưng của ấu trùng, cố gắng lấy cả sữa chúa để ấu trùng không bị tổn thương; đặt nhẹ kim di trùng vào giọt mật, ấu trùng sẽ nổi lên, nhẹ nhàng rút kim ra và tiếp tục múc ấu trùng khác.

Nên chọn ấu trùng 1 ngày tuổi để tạo ong chúa là tốt nhất (vì tuổi ấu trùng càng cao thì chất lượng ong chúa càng giảm) nếu cầu mới xây nên cẩn thận khi di trùng vì đầu kim di trùng dễ đâm thủng đáy của lỗ tổ. Nếu bánh tổ qúa cũ, lỗ tổ sẽ hẹp rất khó múc ấu trùng.

Khi di trùng cần tiến hành nhanh và ở nơi kín gió, vào lúc thời tiết ấm áp, tránh ánh nắng chiếu vào sẽ làm khô ấu trùng khi thao tác.

Di trùng xong, xoay các chén sáp xuống phía dưới và đặt vào giữa đàn nuôi dưỡng đã chuẩn bị sẵn.

Trước khi di trùng 24 - 48 giờ, bắt ong chúa ra khỏi đàn nuôi dưỡng, rũ bớt cầu cho ong bám vào các cầu còn lại ; đồng thời trước khi di trùng 2 - 3 giờ, dãn 2 cầu giữa đàn ra khoảng 3cm tạo thành khe để ong non tập trung đến khu vực đó nhiều, chúng sẽ nhanh chóng tiếp nhận và nuôi dưỡng ấu trùng.

Trong tạo chúa, một số người áp dụng phương pháp di đơn nhưng phần lớn là áp dụng phương pháp di kép. Di đơn là phương pháp di ấu trùng vào mũ chúa một lần để ong nuôi dưỡng ấu trùng đó thành ong chúa. Di kép là di ấu trùng 2 lần vào chén sáp (tức là sau khi di trùng lần thứ nhất 24 giờ, người ta gắp bỏ ấu trùng cũ đi và tiến hành di ấu trùng khác vào) làm như thế, ấu trùng di lần 2 sẽ được ăn sữa chúa ngay nên phát triển tốt.

  Chăm sóc đàn nuôi dưỡng :

Như trên đã nói, đàn nuôi dưỡng có ảnh hưởng lớn đến số lượng và chất lượng chúa, nên phải chọn những đàn mạnh từ 5 - 6 cầu, sau đó rút bớt 1 - 2 cầu để ong phủ kín trên các cầu còn lại. Cần tạo một khoảng trống rộng từ 2 - 3cm ở giữa đàn ong để tạo ong non tập trung tại đấy trước khi đặt cầu chúa vào 2 - 3 giờ. Nên cho đàn ong nuôi dưỡng ăn thêm trước khi di trùng và cho ăn đến khi vít nắp các lỗ mật.

Nếu tạo chúa vào lúc đủ phấn, mật thì không cần cho ăn, nếu thiếu thức ăn thì phải cho ăn thêm trước khi tạo chúa từ 2 - 3 ngày và cho ăn đến khi ong vít nắp mũ chúa, nếu thiếu phấn phải cho ăn thêm phấn hoa.

Sau khi di trùng 1 ngày, kiểm tra thấy mũ chúa đạt từ 15 - 20 cái là được nếu ít qúa phải di thêm, nếu nhiều qúa thì loạt bớt, kiểm tra để vặt hết các mũ ong chúa cấp tạo ở trên bánh tổ.

Sau 5 ngày, kiểm tra lần 2 để tiếp tục vặt bỏ các mũ chúa cấp tạo, nếu không chúa cấp tạo nở ra trước sẽ cắn hết các mũ chúa di trùng. Khi kiểm tra các cầu chúa cần nhẹ nhàng, tránh rung, lắc, nhất là khi mũ chúa mới vít nắp 1 - 2 ngày vì sẽ làm cho nhộng bị chết hoặc khi nở ra chúa sẽ bị xoăn cánh.

c. Bảo quản và giới thiệu mũ chúa :

Thông thường sau khi di trùng 11 - 12 ngày chúa tơ sẽ nở, do đó sau 9 - 10 ngày, các mũ chúa già có thể lấy đi để giới thiệu vào các đàn giao phối hoặc các đàn mất chúa. Trường hợp chưa sử dụng hết mũ chúa, phải cho mũ chúa vào lồng lò xo cách ly để tránh con chúa đầu tiên nở ra cắn phá các mũ chúa khác và được đặt trong đàn để ong ủ ấm. Một vài ngày sau chúa tơ ra đời, có thể bán hoặc giới thiệu cho các đàn ong bị mất chúa. Chúa tơ có thể sống ở trong lồng dự trữ từ 7 - 15 ngày.

Hiện nay, với ong nội người ta thường giới thiệu trực tiếp các mũ chúa vào đàn ong sản xuất chứ ít khi sử dụng các đàn giao phối vì số lượng ít.

  7.2. Kỹ thuật tạo chúa đơn giản

Những nơi nuôi ít ong không có dụng cụ tạo chúa, có thể áp dụng phương pháp đơn giản mà vẫn tạo được chúa có chất lượng tốt.

a. Sử dụng mũ chúa chia đàn tự nhiên :

  * Vào mùa chia đàn tự nhiên : nhiều đàn ong mạnh có thể xây từ 5 - 10 mũ chúa cần chọn mũ chúa dài, thẳng đẹp từ đàn đủ tiêu chuẩn để làm giống. Dùng dao sắc cắt trên góc mũ chúa 1,5cm rồi gắn vào đàn cần thay chúa. Không dùng mũ chúa của các đàn yếu, bị bệnh.

* Kích thích ong xây mũ chúa chia đàn tự nhiên : Chọn đàn ong mạnh (đủ tiêu chuẩn) cho ăn 2 - 3 tối, viện thêm cầu nhộng già, rút bớt cầu cũ để ong tập trung hơn.

 * Khi kiểm tra các cầu chúa cần làm nhẹ nhàng, tránh lắc, rũ mạnh nhất là khi các mũ chúa vít nắp 1 - 2 ngày nếu không sẽ làm cho nhộng bị chết hoặc khi nở ra chúa bị xoăn cánh.

b. Tạo chúa theo phương pháp cấp tạo :

Cách làm : chọn đàn ong mạnh, có năng suất cao nhất trại để làm đàn giống và cho đàn ăn thêm sirô đường, rút bớt cầu ong để bám dày hơn trên các cầu ong còn lại. Đặt cầu có trứng mới đẻ vào giữa tổ. Hai ngày sau, kiểm tra để loại bỏ tất cả các mũ chúa trên bề mặt của bánh tổ và các cầu khác, chỉ để các mũ chúa ở phía dưới của bánh tổ, sau khoảng 8 - 9 ngày thì tách các mũ chúa để sử dụng.

Cũng có thể cắt bớt phần dưới của một bánh tổ theo đường kính dích dắc để ong xây nhiều mũ chúa ở chỗ bánh tổ có ấu trùng nhỏ. Nhưng cần lưu ý chọn các bánh tổ còn mới để ong dễ tiếp thu hơn.

Ngày nay, để có nhiều ong chúa chất lượng cao phục vụ cho sản xuất vào mùa nhân đàn, người ta tiến hành tổ chức sản xuất chúa theo phương pháp công nghiệp. Đây là một công nghệ mới trong sản xuất ong chúa, có nhiều ưu thế để nâng cao chất lượng ong chúa và đem lại hiệu qủa kinh tế cao.

8. Biện pháp phòng trừ một số bệnh cho ong

8.1. Một số bệnh ong thường gặp

Cũng như các ngành chăn nuôi khác, bệnh ong cũng gây nên những tổn thất đáng kể cho người nuôi ong. Bệnh nhẹ thì ảnh hưởng đến thế đàn, giảm năng suất, bệnh nặng thì đe dọa đến sự tồn vong của đàn ong.

Hiện nay trên đàn ong nội thường xuất hiện 3 bệnh chủ yếu sau :

  * Bệnh thối ấu trùng Châu Âu (bệnh thối ấu trùng tuổi nhỏ)

  *  Bệnh ấu trùng túi (bệnh nhọn đầu, bệnh ấu trùng túi)

 *  Bệnh ỉa chảy lây lan.

 8.2. Các biện pháp phòng bệnh

Đàn ong sống trong một quần thể bầy đàn nên khả năng nhiễm và lây lan bệnh rất cao. Khi bệnh phát ra, nó không chỉ tiêu diệt từng cá thể con ong mà thường tiêu diệt cả đàn ong, thậm chí còn tiêu diệt cả một trại ong trong một thời gian ngắn.

Cũng như con người và các loại vật khác, con ong cũng chịu sự tàn phá của các loài vi khuẩn, vi rút và các loại ký sinh trùng... do đó việc phòng bệnh cho ong là hết sức cần thiết, nên lưu ý một số điểm chính sau :

 * Chọn điểm đặt : chọn nơi thoáng mát về mùa hè, ấm áp về mùa đông.

  * Thùng ong phải kín đáo, không bị dột nát.

  * Thường xuyên làm vệ sinh đàn ong.

  * Đặt ong gần nguồn nước sạch...

Việc phát hiện bệnh sớm và có biện pháp tròng trừ kịp thời là yếu tố quyết định nuôi ong đạt hiêụ qủa kinh tế cao.

  8.3. Phương pháp chẩn đoán bệnh

Muốn điều trị bệnh có hiệu qủa thì việc đầu tiên là phải chẩn đoán đúng bệnh. Việc kết luận bệnh nên dựa trên kết qủa chẩn đoán tổng hợp của các phương pháp chủ yếu sau :

  a. Chẩn đoán bệnh bằng phương pháp cảm quan :

Mỗi bệnh biểu hiện một số nét đặc trưng khác nhau và bằng phương pháp cảm quan ta có thể nhận biết bệnh một cách tương đối chính xác.

+ Với bệnh thối ấu trùng Châu Âu : nhìn trong lỗ tổ thấy các ấu trùng bị chết, ấu trùng chuyển từ màu trắng sang màu trắng đục. Khi nhấc cầu ong lên thấy ong xào xạc và chạy tụt xuống phía dưới của đáy tổ ; ong thợ có màu đen bóng do ấu trùng bị chết nên không có lớp ong non kế tiếp, trên mặt lỗ tổ có lỗ thủng nhỏ và lõm xuống.

+ Với bệnh ấu trùng túi (bệnh nhọn đầu) : thấy lỗ tổ vít nắp hơi lõm xuống, một số cắn nham nhở, có nhiều ấu trùng nhọn đầu nhô lên miệng lỗ tổ.

+ Với bệnh ỉa chảy lây lan : nhìn thấy phân màu nâu sẫm trên lá cây hay quần áo phơi xung quanh các điểm đặt ong : ong non yếu ớt, bụng của ong trưởng thành trướng lên, ong sã cánh bò ra trước cửa sổ.

  b.Chẩn đoán thông qua việc nhận biết mùi đặc trưng của bệnh :

Mỗi bệnh có một mùi đặc trưng, thông qua đó người nuôi ong có thể nhận biết được bệnh đang xảy ra trên đàn ong là bệnh gì? Ví dụ :

  * Bệnh thối ấu trùng Châu Mỹ : có mùi khét đặc trưng của keo da trâu.

  * Bệnh thối ấu trùng Châu Âu : có mùi chua.

  * Bệnh thối ấu trùng túi : không có mùi...

  c. Chẩn đoán trong phòng thí nghiệm :

Muốn chẩn đoán được bệnh chính xác, tốt nhất nên gửi bệnh phẩm về các có quan khoa học, các phòng phân tích để kiểm tra.

Trong qúa trình chẩn đoán, phải được tiến hành đồng bộ để có kết luận đúng : đâu là bệnh chính, đâu là bệnh kế phát để có biện pháp điều trị có hiệu qủa.

  8.4. Nguyên tắc điều trị bệnh ong

Khi điều trị cần tuân thủ các nguyên tắc sau :

a. Điều trị đúng thuốc, đúng bệnh :

Các bệnh do các vi khuẩn gây nên gồm các vi khuẩn Gram dương hoặc vi khuẩn Gram âm, mỗi một loại vi khuẩn có thuốc đặc trị khác nhau, nếu điều trị không đúng thuốc sẽ không khỏi bệnh mà còn làm hại đến sức khỏe của đàn ong. Cụ thể như bệnh thối ấu trùng Châu Âu, mầm bệnh là vi khuẩn Gram âm nên khi điều trị phải dùng thuốc đặc trị như Kanamycin, Stretomycin hoặc ertromycin chứ không được dùng thuốc Penicillin hoặc những thuốc đặc trị cho loại vi khuẩn Gram dương khác.

b. Điều trị đủ liều :

Khi điều trị phải chú ý dùng liều cao ngay từ đầu, đồng thời dùng đủ liệu trình theo chỉ dẫn để đạt hiệu qủa cao nhất và tránh được sự quen thuốc. Hiện nay người nuôi ong điều trị bệnh thối ấu trùng không phải bằng cách pha vào sirô đường cho ăn mà họ dùng cách hòa tan thuốc và phun trực tiếp vào lỗ tổ. Nhưng nên chú ý rằng phương pháp này chỉ có hiệu qủa khi thuốc được phun với liều lượng gấp 2 lần so với liều cho ăn.

c.  Điều trị đúng phương pháp :

Tùy từng bệnh mà có phương pháp điều trị thích hợp để nâng cao hiệu qủa. Ví dụ như bệnh thối ấu trùng Châu Âu, trước đây điều trị bằng phương pháp cho ăn nước sirô đường hòa với thuốc kháng sinh, nhưng ngày nay bằng phương pháp phun trực tiếp vào bánh tổ. Điều trị bằng phương pháp này vừa giải quyết được bệnh nhanh vừa giảm ảnh hưởng của thuốc kháng sinh đến chất lượng mật ong. Song cách pha thuốc cũng phải được chú ý : có loại thuốc chỉ được pha bằng nước nguội, nếu pha bằng nước nóng thuốc sẽ bị phân hủy, thuốc không còn tác dụng điều trị.

9. Một số bệnh ong nội và phương pháp phòng trị

a.  Bệnh của ong trưởng thành :

Do một loại bảo tử trùng gây nên. Bệnh này hay xảy ra vào thời kỳ rét đậm, mưa nhiều, độ ẩm cao.

Triệu chứng :

  * Ong trưởng thành ỉa lung tung vào các cửa sổ, vách thùng.

 * Đàn ong chết nhiều, thưa quân, mật ít.

  * Có một số ong bụng trướng lên, sã cánh bò trước cửa tổ.

Phương pháp điều trị :

  * Luôn giữ cho đàn ong mạnh, đủ thức ăn.

  * Khi phát hiện thấy đàn ong bị bệnh thì thay thùng, loại bớt cầu xấu cũ.

  * Cho ong ăn thuốc Fumagillin với liều lượng 100 mg/40 cầu/1 tối, pha với 3 lít nước đường, cho ăn trong 10 ngày.

  * Nếu không có thuốc Fumagillin có thể cho ăn sirô pha nước gừng tươi (9 - 10g gừng tươi/1 lít sirô cho 10 cầu/1tối).

  b. Bệnh của ấu trùng ong :

Thường có 2 bệnh gây nên hiện tượng thối ấu trùng, đó là bệnh ấu trùng Châu Âu và bệnh thối ấu trùng túi. Cần phải phân biệt rõ 2 bệnh này thì mới có biện pháp điều trị hiệu qủa.

  1. Bệnh thối ấu trùng Châu Âu :

  * Bệnh do vi khuẩn Melissococus pluton gây nên. ấu trùng mắc bệnh ở tuổi 3 - 5, khi chết có mùi chua.

 * Ấu trùng bị bệnh chuyển từ màu trắng ngà sang trắng đục, sau thối nhũn xẹp xuống, quan sát lỗ tổ thấy vít nắp lỗ chỗ.

  * Bệnh lây lan do khi kiểm tra đàn ong, dùng dụng cụ, ong ăn cướp mật, do di chuyển và mua bán đàn ong.

Điều trị :

- Bằng phương pháp cho ăn :

+ Streptomycin 1 lọ/10 cầu ; Kanamycin 0,5g/đàn, cho ăn liền 3 tối. Sau 1tuần không khỏi cho ăn tiếp 3 tối nữa.

+ Lưu ý : Trước khi cho ăn nên loại bớt cầu bị bệnh nặng để nuôi ong bám đông trên cầu còn lại.

*  Bằng phương pháp phun thuốc trực tiếp :

+ Sử dụng 2 loại thuốc trên nhưng liều lượng gấp đôi, pha với nước sôi để nguội hoặc với nước đường loãng.

+ Dùng bình phun có hạt loại nhỏ phun lên 2 mặt cầu ong. Cách 1 ngày phun 1 lần, phun làm 3 lần.

 2. Bệnh ấu trùng túi Sacbrood (do virut gây nên).

Triệu chứng :

Phần lớn ấu trùng chết ở giai đoạn cuối vít nắp hoặc thời kỳ tiền nhộng (ấu trùng tuổi lớn) có nhiều ấu trùng nhọn đầu nhô lên miệng lỗ tổ.

Phía đuôi ấu trùng hình thành túi nước có màu trong suốt hoặc vàng nhạt, ấu trùng chết không có mùi.

Điều trị :

Thay chúa của đàn bị bệnh bằng chúa tơ hoặc mũ chúa được tạo ra từ những đàn không bị bệnh hoặc nhốt chúa đẻ 7 - 8 ngày, đồng thời loại bớt cầu bệnh.

Cho ăn nước đường 3 - 4 tối hoặc di chuyển ong đến vùng có nhiều mật, phấn dồi dào để kích thích ong đi làm vệ sinh và dọn sạch các ấu trùng bệnh.

Tuy nhiên, cần phải hạn chế việc lạm dụng thuốc kháng sinh trong điều trị bệnh ong vì gây nên hiện tượng tồn dư chất kháng sinh trong mật ong. Muốn khắc phục được tình trạng trên, nên đầu tư vào công tác giống để nhanh chóng tạo ra giống ong có sức đề kháng bệnh cao, hoặc tổ chức các đàn ong khỏe trước mùa khai thác... Trong trường hợp đàn ong bị bệnh, nên tiến hành điều trị triệt để và phải chấm dứt việc dùng thuốc kháng sinh trước mùa khai thác mật từ 30 - 40 ngày.


 

Theo skhcn.vinhlong.gov.vn

Kỹ thuật nuôi vịt thịt


 

I. Chọn con giống

Chọn những con vịt loại 1 khoẻ mạnh, nhanh nhẹn, bóng lông, mắt sáng, không khèo chân, hở rốn, nặng bụng, không khô chân. Vịt nuôi thịt thường chọn con giống từ các tổ hợp lai 2,3,4 máu để đạt kết quả tốt nhất.

II. Nuôi dưỡng

Căn cứ vào tốc độ sinh trưởng của vịt mà người ta chia quá trình nuôi dưỡng vịt thịt thành 2 giai đoạn có nhu cầu dinh dưỡng khác nhau.

- Giai đoạn vịt con (úm) 0-2 tuần tuổi: 3000 Kcal NLTĐ/kg TAHH với 22% protein.

- Giai đoạn vịt dò 3-8 tuần tuổi: 3100 Kcal NLTĐ/kg TAHH và 17% protein

Căn cứ vào nhu cầu dinh dưỡng đã ghi trong bảng, tiến hành xây dựng khẩu phần ăn cho vịt. Thức ăn dùng trong khẩu phần ăn của vịt phải đạt và đảm bảo chất lượng tốt, không dùng thức ăn mốc. Thức ăn sau khi hỗn hợp chỉ dùng 2-3 tuần, không dự trữ lâu dưới dạng thức ăn hỗn hợp. Với thành phần dinh dưỡng của hai loại khẩu phần ăn được phối hợp (cho vịt con). Lượng thức ăn được sử dụng hàng ngày biến đổi theo tuổi của vịt.

Với đặc điểm lớn nhanh, các giống vịt hướng thịt có nhu cầu rất khắt khe về thức ăn bổ sung, đặc biệt là các khoáng vi lượng, nếu thiếu, vịt rất dễ bị bệnh thiếu khoáng.

Vịt được nuôi nhốt trong chuồng, cho ăn tự do, tốt nhất là dùng máng ăn, máng uống tự động, thức ăn đổ cho vịt mỗi ngày mỗi lần, hàng ngày kiểm tra lượng thức ăn dư thừa, thiếu để điều chỉnh cho hợp lý. Để lượng thức ăn thừa nhiều trong máng không có lợi. Nuôi vịt thâm canh luôn phải bảo đảm đựoc cho vịt ăn lượng thức ăn nhiều nhất để đạt tốc độ tăng khối lượng nhanh nhất, đó là một trong những biện pháp giảm giá thành sản phẩm. Với nhu cầu dinh dưỡng trong thức ăn và mức độ cho ăn như trên, thông thường lúc 7-8 tuần tuổi các giống vịt đã đạt đươck 2,8-3,0 kg. Vịt nuôi chăn thả, ngoài lượng thức ăn kiếm được, cần cung cấp thêm thức ăn để vịt ăn được no cả lượng và chất. Từ nhu cầu, cần tính toán để bổ sung đủ thì vịt mới lớn nhanh, khoẻ mạnh, rút ngắn được thòi gian nuôi và có hiệu quả kinh tế cao.

III. Quản lý chăm sóc

1. Chuồng nuôi

a) Diện tích nền chuồng

Có thể nuôi vịt thịt trên nền xi măng, nền gạch hoặc sàn lưới. Thông thường vịt được nuôi trên nền xi măng hoặc nền gạch. Diện tích chuồng nuôi thay đổi theo tuổi:

+ Tuần thứ nhất: 20-25con/m2

+ Tuần thứ hai: 10-15 con/m2

+ Tuần thứ ba: 6-7 con/m2

+ Từ tuần thứ 4 đến tuần thứ 7 (hoặc 8): 4 con/m2

b) Chất độn chuồng

Khác với các loại gia cầm khác, vịt hay làm ướt nền chuồng vì vịt đi phân lỏng, thích sục nước, té nước lên chất độn chuồng. Khi chất độn chuồng ướt sẽ gây nên nhiều tác hại:

+ Vịt con nằm ngủ trên nền có chất độn chuồng ướt sẽ bị rét gây cảm lạnh, đi ỉa.

+ Làm lông vịt bẩn bết lại, bán vịt con rẻ hơn

+ Tạo điều kiện cho nấm, mốc phát triển trên chất độn chuồng, vi khuẩn có điều kiện phát triển mạnh, trứng giun sán có điều kiện phát triển, sống lâu hơn

Biện pháp khắc phục ướt chất độn chuồng

+ Trải chất độn lần đầu dày 8-10cm

+ Định kỳ trải dần lên bằng chất độn khô

+ Dành riêng cho vùng có sàn lưới thoáng nước để đặt máng xuống

+ Bố trí mật độ vịt thích hợp.

c) Sưởi ấm

Trong 3 tuần tuổi đầu tiên, vịt cần được sưởi ấm, về mùa ấm cần sưởi ấm 2 tuần là đủ. Nhu cầu nhiệt độ tối thích hợp cho vịt trong 3 tuần đầu như sau:

+ Tuần thứ nhất : 35-24°C

+ Tuần thứ hai: 24-18°C

+ Tuần thứ ba:18-20°C.

Nhiệt độ chuồng nuôi cố gắng ổn định suốt ngày đêm. Đó là một trong những yếu tố quan trọng đối với vịt con, đặc biệt là tuần tuổi thứ nhất. Nếu tuần đầu không đảm bảo đủ ấm cho vịt về sau vịt sẽ phát triển không đều, dễ cảm nhiểm bệnh tật, tốc độ tăng trưởng giảm sút.

Nguồn sưởi đã được đề cập ở phần nuôi vịt sinh sản 1-56 ngày tuổi.

Có thể dùng chụp sưởi gà con để sưởi cho vịt, song mật độ phải giảm. Thông thường chụp sưởi dùng cho 500 gà con chỉ thích hợp cho khoảng 300 vịt con, sưởi ấm cho vịt con thường cao hơn gà con trong giai đoạn sưởi ấm, do vậy muốn dùng chụp của gà con để sưởi ấm cho vịt con, thì phải điều chỉnh lại độ cao cho thích hợp.

2. Nước uống

Mặc dù vịt là một loài thuỷ cầm, nhưng ngày nay người ta đã khẳng định không nhất thiết phải cung cấp nước bơi cho vịt. Thực tế nước bơi cho vịt chỉ có tác dụng làm mát môi trường trong những ngày nóng bức và làm sạch bộ lông. Nước uống là một trong những yếu tố quyết định đến sự phát triển của vịt. Một nguyên tắc tối cao đối với vịt thịt là nước uống phải cung cấp đầy đủ suốt ngày và đêm vì vịt thịt ăn suốt ngày và đêm và vịt thịt không thể ăn mà không có nước uống. Nhu cầu nước uống của vịt thịt cũng biến đổi theo tuần tuổi, khối lượng nước nhu cầu cao hơn vịt hướng trứng.


 

Theo NXB Nông Nghiệp


 

Kỹ thuật trồng hoa cẩm chướng.


 

Người ta quen gọi cẩm chướng bởi vì hoa có nhiều màu sắc đẹp, giống như bức trướng bằng gấm nhiều màu sắc.

Hoa cẩm chướng thơm thuộc họ Caryophyllaceae, đặc điểm thân mảnh, có các đốt ngắn mang lá kép, bé, thân gãy khúc nhiều, thân bò là chính, trên mặt lá có ít phấn trắng, hoa nhiều màu sắc, hoa đơn nhiều hơn hoa kép, lông nhỏ, ít bị sâu bệnh. Thân phân nhánh nhiều, có đốt dễ gãy giòn, lá cẩm chướng mọc đối phiến lá nhỏ dày, dài, không có răng cưa, mặt lá thường nhẵn.

Hoa mọc đơn từng chiếc một ở nách lá hoa kép có nhiều màu sắc ngay trên cùng một bông, quang mang nhiều hạt, có từ 330 – 550 hạt.

Yêu cầu ngoại cảnh

Nhiệt độ thích hợp cho hoa cẩm chướng là 18 – 200c hoa ưa đất thịt nhẹ, tơi xốp, có nhiều mùn, giàu dinh dưỡng, đất thoát khí, giữ ẩm tốt, đạt yêu cầu sau cơn mưa nước rút nhanh, trời nắng hạn đất không chóng khô. Độ chua đất thích hợp là 6 – 7, mùa hè thích hợp những nơi dãi nắng, mát, độ ẩm 60 – 70%, mùa hè yêu cầu mát mẻ.

Kỹ thuật trồng

Cây hoa thường được trồng bằng chồi (vô tính) ngọn, nhưng ít người làm mà thường gieo hạt. Chọn những cây khỏe, có hoa đẹp, không sâu bệnh, màu hoa tươi, sặc sỡ, hoa to và cây để lấy hạt làm giống không nên cắt hoa, chỉ để giống ở cây chính vụ. Hạt hoa khó nảy mầm, phải bảo quản tốt hạt giống.

Đất phải làm kỹ, nhỏ mịn, lên luống phẳng, thông thường luống rộng 80cm, mặt luống 60cm, đất phải xử lý Foocmalin (hay Fooc mol) 40%; pha 5 cc foocmalin 40% vào 3 – 5 lít nước phun ướt đất, đậy nilon ủ 7 – 10 ngày.

Phân bón: 10kg phân chuồng mục, 1kg Tecmo phốt phát, 1kg vôi bột, 0,5kg kali sunphát, trộn đều rải trên đất, xới nhẹ để trộn. Có thể rạch hàng nông hay gieo trên mặt luống, nếu rạch hàng cách nhau 5 –1 0cm, hạt trước khi gieo trộn với tro hay cát rắc cho đều. Hạt rắc xong phủ 1 lớp đất bột mỏng, phủ một lớp rơm rạ mỏng, sau khi gieo 4 – 6 ngày, hạt sẽ mọc, tưới nhẹ đủ ẩm 2 lần trong 1 ngày.

- Khi cây gieo cao 2- 3cm, nhổ tỉa trồng thưa trên các luống vườn ươm với khoảng cách 5 x 5cm, cây được 10 – 12 cm thì đưa trồng nơi cố định ngoài ruộng sản xuất.

- Hoa trồng mùa hè cũng được, nhưng hoa xấu, thời vụ chủ yếu là đông xuân, muốn trồng để cho hoa ngày tết thường gieo hạt khoảng tháng 8 – 9 như các giống hoa khác.

- Cây non ở tại vườn ươm khoảng 25 – 27 ngày rồi mới trồng ra ruộng mật độ 25 x 30cm.

Nhân giống vô tính bằng ngọn

Thường nhân giống bằng hạt nhưng vì quá đắt nên người ta phải giâm bằng chồi và ngọn. Bằng phương pháp này chúng ta chủ động thời vụ, lượng cây giống, nhanh ra hoa, sử dụng cây mẹ lấy giống là F1. Ta tách ngọn từ nách lá cây mẹ, tiến hành giâm từ tháng 8, ta chọn cây mẹ F1 sinh trưởng khỏe, ngắt ngọn, vạt bớt lá già lá bánh tẻ, xử lý qua aNAA cắm vào cát ẩm trong nhà giâm cành. Nên xây dựng nhà giâm cành kiểu làm tạm.

Cách làm: Đóng cọc xung quanh luống, đổ đất phù sa lên, sau đó đổ 10cm cát sạch đáy sông, phải làm sao luống cao 20 – 30cm, xử lý foomalin nồng độ 2 – 3% 10 ngày trước khi giâm cành. Cắm cách 2 – 3cm cho 1 cây, hàng ngày phun ẩm. Khoảng 10 – 15 ngày sau thì ra rễ. Khi nào kiểm tra có tới 90% số cây ra rễ thì mở giàn che, giàn che có thể mở từ từ, sau khi mở giàn che phải phun thuốc trừ nấm ngay. Thời kỳ đầu tuyệt đối không tưới nước phân, mà dùng phương pháp phun N:D.K tỷ lệ 1:1:1 phun 5 ngày một lần, lần thứ 3 là 3%.

- Chọn đất trồng cẩm chướng phải cao ráo, đất tốt, nhiều mùn luống cao tránh nắng, luống rộng 1,2 – 1,5m, cao 20 – 25cm.

- Mật độ khoảng cách bằng trồng với khoảng 30 x 30cm, sau khi trồng, ở mỗi gốc cây cắm 1 que nhỏ, rồi buộc nhẹ cây vào que để bảo vệ. Sau khi trồng ta tưới nước phân chuồng loãng tỷ lệ 1/200; lượng N:P:K = 1:1:1, tưới thường xuyên 20 ngày/lần cho tới khi cây ra nụ.

- Khi cây ra nụ, bón N:P:K = 1:2:3 dạng phân là urê, tecmôphotphat, K2SO4. Nếu cần ngắt ngọn thường xuyên để nhân giống thì N:P:K = 1:3:2. Cẩm chướng trồng bằng ngọn sau 70 – 85 ngày thì bắt đầu ra hoa.

- Cẩm chướng thơm hay bị bệnh đốm và lở cổ rễ do vi khuẩn gây nên, nên phải xử lý đất bằng Falizan…,và phun Bactoudes khi phát bệnh./.


 

Nguồn Internet


 

Kỹ thuật trồng hoa đồng tiền.


 

I. KỸ THUẬT TRỒNG

1. Chuẩn bị đất, phân

- Đất trồng hoa đồng tiền cần phải tơi xốp, có độ thoáng cao, thoát nước, nhiều mùn. Nếu đất chặt, bí cần phải bón thêm mùn rơm hoặc trấu hun (chú ý hun phải còn tro nguyên hình).

- Làm đất kỹ, sạch cỏ, lên luống cao 35 – 40 cm; mặt luống rộng 0,9 – 1,0 m; trên luống bổ các hốc để bón phân, khoảng cách giữa các hốc là 30 cm x 30 cm (mỗi luống 2 hàng, hàng ngoài cách mép luống 30 cm), lượng phân + mùn bón lót cho 1 ha đồng tiền bao gồm: 30 tấn phân chuồng hoai mục + 10 tấn trấu (hoặc mùn) + 300 kg NPK trộn đều bón vào từng hốc, bón trước khi trồng 10 – 15 ngày, bón xong trộn đều với đất và lấp đất cao trên phân từ 3 – 5 cm.

1.1 Chuẩn bị nhà che

            Đồng tiền không chịu được mưa nhiều, sương muối và cường độ ánh sáng cao do vậy trồng đồng tiền cần phải làm nhà che tránh mưa, sương muối và hạn chế ánh sáng trực xạ, có nhiều loại mẫu nhà che với chi phí từ 20.000 – 100.000đ/m2 tuỳ theo điều kiện kinh tế của từng nơi và từng chủ hộ mà áp dụng cho phù hợp.

1.2 Chọn giống, cây để trồng

            Hiện nay đồng tiền kép các màu nhập nội từ Hà Lan, Trung Quốc, Đài Loan đều được ưa chuộng và phù hợp với điều kiện miền Bắc Việt Nam.

            Đồng tiền có thể trồng từ cây nuôi cấy mô và cây tách thân.

            + Cây nuôi cấy mô: Cây nuôi cấy mô ban đầu tuy nhỏ nhưng sinh trưởng phát triển khoẻ, sạch bệnh, năng suất và chất lượng hoa sau này cao hơn so với cây tách thân nhưng giá thành cây giống cao. Tiêu chuẩn cây nuôi cấy mô để trồng ngoài sản xuất là có 3 lá thật, trong túi bầu nilon.

            + Cây tách thân: Từ một cây nuôi cấy mô sau 6 – 8 tháng trồng có thể tách ra được từ 3 – 5 cây khác để đem trồng. Khi tách đào cả bụi, rũ sạch đất, dùng tay và dao sắc nhẹ nhàng tách từng thân ra sao cho không bị đứt rễ và mỗi thân cây mới phải mang ít nhất 1 – 2 rễ trở lên.

1.3 Kỹ thuật trồng

- Mật độ khoảng cách trồng: Đồng tiền kép phát triển khoẻ, lá rộng, to nên trồng với khoảng cách 30 x 30 cm. Mật độ là 50.000 cây/ha (tức là 1.800 – 2.000 cây/sào Bắc Bộ).

- Trồng đồng tiền phải trồng nổi, cổ rễ cao bằng so với mặt đất, nếu trồng sâu cây phát triển chậm, hay bị thối thân.

- Trồng song tưới đẫm nước, nếu cây đồng tiền bị đổ ngả nghiêng dựng lại và bổ sung đất vào gốc cây.

1.4 Chăm sóc đồng tiền

- Tưới nước: Đối với đồng tiền không nên tưới phun mạnh lên khắp mặt luống sẽ làm đất và si sinh vật hại bắn lên cây, gây hại cho cây. Nên lắp hệ thống tưới nhỏ giọt vào từng gốc cây hoặc tưới rãnh cho ngấm lên trên. Nếu không có các điều kiện đó thì tưới nhẹ vào giữa hai hàng cây tránh làm đất bắn lên lá. Đồng tiền không ưa ẩm quá vì vậy 2 – 3 ngày tưới một lần tuỳ theo điều kiện thời tiết.

- Thu hoa: Sau trồng 50 - 60 ngày là có thể cho thu hoạch hoa. Chỉ nên thu hoa vào chiều. Khi thu hoa dùng tay cầm cuống hoa vặn nhẹ, không dùng kéo cắt và khi thu hoa xong không nên tưới phân ngay làm cho sâu bệnh dễ sâm nhập vào cây.

- Bón thúc: Hoa đồng tiền rất mẫn cảm với phân bón, phân bón càng đầy đủ hoa càng đẹp, màu sắc đậm, lâu tàn. Tuy nhiên cần bón cân đối N:P:K theo tỷ lệ 1:1:1. Nếu bón đạm nhiều cành hoa mềm yếu, cắt cắm lọ hoa dễ bị gục xuống. Liều lượng bón thúc cho 1 ha: 120 kg đam: 120 kg lân: 120 gk kali. Định kỳ 15 – 20 ngày bón 1 lần bằng cách hoà tan với nước và tưới cho cây.

            Ngoài việc bón phân qua rễ, cần phun thêm phân bón lá. Các loại phân bón lá có tác dụng kích thích cho phát triển là Spray-N-Grơ, Grơmore, E2001, Phân bón thiên nông...

            Vặt bỏ lá già: Đồng tiền phát triển rất nhiều lá nếu để nguyên sẽ tiêu hao dinh dưỡng và rễ sinh sâu bệnh hại do vậy muốn có nhiều hoa phải thường xuyên vặt bỏ những lá già, lá bị sâu bệnh, thường xuyên vệ sinh đồng ruộng.

II. SÂU BỆNH CÁCH PHÒNG TRỪ

A. Sâu hại

1. Nhóm sâu ăn lá (Sâu xanh, sâu khoang, sâu xám)

            Sâu tuổi nhỏ ăn phần thịt lá để lại lớp biểu bì phía trên, sâu tuổi lớn ăn khuyết lá non, ngọn non, mầm non, khi cây có nụ sâu ăn đến nụ và làm hỏng nụ, hoa. Có nhiều loại thuốc phòng trừ những loại sâu trên như: Supracide 40 ND 10 – 15 ml/bình 8 lít, Ortus 40EC 8 – 10 ml/bình 8 lít.

2. Nhện hại (Nhện đỏ hai chấm, nhện trắng và một số loại nhện khác)

            Nhện châm vào lá, cánh hoa, chỗ bị hại tạo thành vết chấm nâu vàng nhỏ tác riêng nhau.

            Khi bị hại nặng lá loang lổ màu vàng, nâu, biến dạnh cong queo, cánh hoa màu nâu vàng, hoa lệch hoặc bị dị dạng, hoa tàn và thối. Các loại thuốc phòng trừ là: Pegasus 500EC 8 – 10 ml/bình 8 lít; Mitac 20ND 30 – 40 ml/bình 8 lít; Vimite 10 ND 10 – 15 ml/bình 8 lít; Ortus 5SC 10ml/bình 8 lít.

B. Bệnh hại

1. Bệnh đốm lá (Cercospora)

            Vết bệnh ban đầu là những hình tròn nhỏ hoặc bất định, màu nâu nhạt, nâu đen, nằm dải rác ở phiến lá dọc gân lá, ở mép lá. Bệnh lan từ lá dưới lên lá trên, hại cả cuống hoa và cánh hoa, làm hoa gẫy gục dẫn đến héo. Có thể sử dụng một trong các loại thuốc sau: Anvil 5SC 10/15 ml/bình 8 lít; Tospin M70 NP 8 – 10 g/bình 8 lít; Vimonyl 72 BTN 25-30g/bình 8 lít.

2. Bệnh phấn trắng

            Vết bệnh dạng bột phấn màu xám trắng, mặt dưới lá mô vết bệnh chuyển màu vàng nhạt, bệnh hại lá là chủ yếu ngoài ra còn hại trên thân, cành hoa là hoa lá nhanh tàn, thối nụ, hoa nhỏ, xấu. Dùng các loại thuốc sau: Ridomil 500SC 5 – 8 ml/bình 8 lít; Score 250ND 10 – 15 ml/bình 8 lít; New Kausan 16,6 10 – 15 g/bình 8 lít.

3. Bệnh héo xanh vi khuẩn

            Vi khuẩn tác động vào bộ phận gốc rễ, vết bệnh màu trắng đục ủng nước, cây bị bệnh héo xanh lá thường héo từ lá gốc lên trên, bẻ ngang cuống lá có bó mạch thâm đen. Có thể sử dụng một trong các loại thuốc sau để phòng trừ: Viben 50BTN 20 – 25 g/bình 8 lít; New Kausan 16,6 BTN 10 – 15 g/bình 8 lít; Streptomicin 100 – 150ppm./.


 

Nguồn Internet


 


 

Kỹ thuật trồng hoa Hải Đường


 

Hoa hải đường ra hoa rộ vào dịp Tết Nguyên đán cổ truyền, lại có nhiều hoa to màu đỏ thẫm, nhị vàng, lá xanh, trông thật lộng lẫy, thuộc nhóm cây hoa đón xuân tượng trưng cho sự làm ăn may mắn, tấn tới. Vì thế nhiều gia đình mong ước tìm mua cho được chậu hải đường để cùng với đào, quất, mai đón xuân mới. Một chậu hải đường cao từ 1,5cm đến 2m, tán cây có đường kính 0,7 đến 1m vào ngày Tết có giá trị từ 1,5 đến 2 triệu đồng.

Cây hải đường thuộc loại chè (Theaceae), có nguồn gốc từ Trung Quốc, du nhập vào Việt Nam từ lâu đời, được trồng làm hoa cây cảnh. Hải đường là một cây thân gỗ sống lâu năm, hoa quý ngang với trà và đỗ quyên. Vùng đồng bằng và trung du Bắc bộ, Hải đường thường ra hoa rộ từ đầu tháng chạp đến hết tháng Giêng Âm lịch. Qua quá trình ươm trồng, chăm sóc cây hải đường, chúng tôi mạnh dạn trao đổi một vài kinh nghiệm cùng các bạn đam mê cây hoa quý hiếm này.

 1. Thu lượm quả là ủ hạt kích thích mọc mầm

Quả hải đường thường thu từ tháng 9 tháng 10 âm lịch. Thu hái quả già hạt mẩy (mỗi quả từ 2 đến 4 hạt). Sau khi tách lấy hạt, ta nên phơi vài nắng nhẹ để kích thích hạt dễ mọc mầm.

Dùng cát đen (hay còn gọi là cát xây) thật sạch, cứ 3 phần cát, trộn với 1 phần hạt hải đường. Trộn đều cát và hạt hải đường cho vào chậu (đáy chậu phải có lỗ thoát nước). Dàn đều, dày từ 10 đến 15cm. Để chậu vào nơi mát mẻ, tránh mưa nắng và sương muối. Hàng ngày dùng bơm tưới ẩm. Sau một tháng thì hạt bắt đầu mọc mầm. Hạt nảy mầm đến đâu, ta nhặt những hạt đó đem ươm tiếp.

  2. Cho hạt vào bầu đất hoặc túi P.E để ươm

Làm bầu đất: Dùng bùn phù sa trộn với rơm sạch. Cứ 60% bùn phù sa trộn với 40% rơm. Trộn thật dẻo, dùng hỗn hợp này, khoanh lại bằng nắm tay. Ở giữa làm trũng một lỗ bằng quả trứng sau đó chọc lỗ cho hạt đã mọc mầm để bầu đất xếp xít nhau. Bên trên có lưới đen che mưa nắng và sương muối.

Làm bầu bằng túi P.E: Dùng tui P.E có đường kính từ 7 – 10cm dài 15cm cắt góc đáy túi cho thoát nước. Dùng phân ủ, trấu mục và đất bột tỷ lệ 50:50 phủ một lớp đất mỏng, cũng xếp những bầu này vào góc sân hay góc vườn để ươm. Bên trên có lưới đen che mưa nắng, cứ 1 tháng 2 lần dùng nước bể phốt hố xí tự hoại pha loãng hoà với 3 – 4 phần nước lã, tưới đủ ẩm.

 

Cây hoa hải đường - Ảnh: dalatrose.com


Sau 3 đến 6 tháng, cây cao từ 15 đến 20cm ta tiếp tục ra hàng hay còn gọi là ra ngôi

Đất trồng là đất phải được phơi khô nỏ, sào sới nhiều lần. Tốt nhất là đất ở ruộng lúa là lý tưởng nhất. Làm đất tơi nhỏ, lên luống theo hướng Nam Bắc, rộng 1m20. Khi ra ngôi, nếu cây trong bầu bằng túi P.E thì khi trồng phải xé, bỏ túi. Nếu bầu bằng đất rơm trộn bùn thì cứ nguyên bầu để trồng. Lúc đầu khoảng cách 30 × 30. Một luống trồng 3 hàng. Đất trồng nên dùng phân NPK 16 – 16 – 5 hoặc 10 – 10 – 3, mỗi mét vuông từ 300gr đến 0,5kg. Trộn thật đều trước khi trồng. Hải đường ưa ánh sáng tán xạ nên phải có mái che. Từ lúc trồng đến khi cây cao 0,8m đến 1m, cứ một tháng cho bón phân một lần dung nước bể phốt, pha loãng với 3 đến 4 phần nước lã tưới đều. 18 tháng sau thì có hoa, và sau 2 năm, Hải đường sẽ đem bán được. Cây to phải sau 3 – 4 năm mới có nhiều hoa đẹp.

Hải đường thường có rệp làm phồng lá, từ tháng 4 đến tháng 7 hay có loài sau này. Dùng thuốc trừ sâu regan phun kép 2 lần (lần sau cách lần trước từ 4 đến 5 ngày) để diệt sâu./.


 

Nguồn Internet

Kỹ thuật trồng hoa lay ơn.


 

Layơn được ưa chuộng vì hoa có dáng đẹp, cành dài, cánh mỏng như vành khuyên nhìn rất hấp dẫn và hoa tươi rất lâu, cắm vào nước có thể tươi từ 10-15 ngày. Cây hoa Layơn có dạng thân thảo, thân giả được kết bởi các bẹ lá xếp chồng lên nhau, bẹ lá trước xếp phủ lên bẹ lá sau.

Một số đặc điểm thực vật học

       Layơn có tên khoa học là Gladiolus communis Lin. Cây có nguồn gốc từ các nước châu Phi nhiệt đới và vùng Trung Cận Đông (phía Tây của châu Á). Layơn là loài hoa đẹp, được trồng rất rộng rãi mọi nơi trên thế giới, với nhiều dạng lai, màu sắc khác nhau.  Trên thế giới hiện có khoảng 250 loài với trên 10.000 giống khác nhau, Việt Nam ta có khoảng 90 giống đang được trồng làm hoa cắt. Viện Nghiên cứu rau quả Việt Nam trong những năm qua đã xây dựng được quy trình tạo giống bằng lai hữu tính. Bước đầu Viện đã lai tạo thành công 2 giống Layơn ĐL1 và ĐL2, đồng thời tạo rất nhiều nguồn vật liệu phục vụ công tác lai tạo cho những năm tới đây.

Kỹ thuật trồng Layơn thương phẩm

       Có hai cách trồng Layơn là trồng trong chậu và trồng ngoài đồng ruộng. Mục đích trồng chậu là để trưng bày giống, bảo tồn giống quý hiếm, hoặc để tạo giống mới. Muốn trồng với mục đích thương phẩm thì nên trồng ngoài đồng ruộng. Dưới đây chúng tôi tập trung giới thiệu cách trồng ngoài đồng ruộng.

1- Chuẩn bị đất trồng:

a- Chọn đất: địa thế phải bằng phẳng, thông thoáng, gần nguồn nước, tưới tiêu thuận lợi, gần đường giao thông, bảo đảm độ chiếu sáng; tránh những vùng có khí Clo, Flo. Tốt nhất là chọn đất thịt nhẹ, tơi xốp và nên tránh xa đất trồng đậu để đề phòng virút. Layơn rất kỵ trồng gối, vì sẽ nhanh dẫn đến thoái hoá củ. Cây trồng trước tốt nhất là cây họ hòa thảo hoặc lúa nước.

b- Xử lý tiêu độc đất: Nếu do thiếu đất phải trồng liên tục 2 vụ thì phải xử lý tiêu độc đất. Tiêu độc bằng hoá chất có thể dùng Bromua methyl, mỗi ha dùng 100kg thuốc rắc đều vào ruộng rồi dùng nilông phủ lên trên. Hoặc dùng bột diclorua prophen 20% tiêu độc, 1ha dùng 200kg rắc đều và phủ kín trong 2 tuần bằng nilông. Cũng có thể dùng cloruacoban loại thuốc xông hơi để tiêu độc. Tiêu độc bằng phương pháp vật lý có hai cách: đốt lửa và tiêu độc bằng máy xông hơi lưu huỳnh.

2- Chọn giống trồng:

Tuỳ mục đích sử dụng của mỗi loại thương phẩm mà chọn giống khác nhau. Nếu là hoa cắt cành thì chủ yếu chọn về màu sắc, hình dạng và thời gian ra hoa. Ngoài ra, đối với hoa cắt cành còn phải chú ý chọn giống hoa mập, nhiều hoa, cuống hoa dài, cành hoa to,…Ở Việt Nam hiện có 7 màu layơn phổ biến: đỏ, phấn hồng, sen, tím, vàng, trắng và tạp sắc. Nếu trồng nhiều giống nên bố trí tỷ lệ giữa các phổ màu là: đỏ 30%, các loại khác mỗi loại khoảng 10-15% là vừa. Nếu là hoa để làm lẳng thì cần chú ý: nếu là loại chỉ dùng layơn làm lẵng hoa thì cần giống có màu sắc, độ cao khác nhau, nếu là loại thảm gồm nhiều chủng loại hoa cần chú ý đến chọn giống có độ cao hài hoà với các loài hoa khác.

Sau khi lựa chọn được củ tốt, cần xử lý trước hết ngâm củ vào nước 40oc khoảng 10-15 phút, sau đó thêm vào các loại thuốc sau: 0,4% Myamid, 1% disistan, 0,6% thuốc trừ nấm daconil ngâm trong 30phút rồi vớt ra, hong khô.

3- Phương pháp trồng:

a - Thời vụ trồng: Nhiệt độ cao và thấp đều rất bất lợi với sinh trưởng của Layơn. Vì vậy, với thời tiết nước ta nên trồng từ cuối tháng 8 đến giữa tháng 11 là hợp lý.

b- Cách trồng: chuẩn bị đất, lên luống như thường và phải chú ý rãnh trồng phải sâu hơn (15-20cm). Khoảng cách trồng tuỳ theo độ lớn của củ giống, thông thường trồng hàng đôi.

Sau khi trồng lấp đất, đất sét lấp mỏng hơn đất thịt nhẹ, vụ Xuân lấp mỏng hơn vụ Hè, trung bình trồng sâu 5-10cm.

4- Chăm sóc:

       Trừ cỏ, xới đất, bón phân, tưới nước, phun thuốc, chống đổ là những công việc cần thiết để chăm sóc layơn.

a- Trừ cỏ: phải theo nguyên tắc trừ sớm, trừ cỏ còn non và trừ sạch, có thể trừ cỏ bằng tay hay bằng thuốc. Khi trừ bằng thuốc nên chú ý đối với loại đất cát pha, cần thận trọng vì thuốc ngấm nhiều vào rễ gây hại cho cây.

b- Bón phân: nên bón nhiều đợt với số lượng ít, bón lót 1ha cần 50 tấn phân chuồng hoai, 450 kg super lân, 300 kg ure, 150 kg cloruakali. Thời kỳ cây con tốt nhất là bón vào ngày nắng, lúc đất ráo nước vào khoảng 3-4h chiều. Cũng có thể phun phân lên lá để bổ sung dinh dưỡng, hỗ trợ ra hoa và chống rụng. Thời kỳ phân hóa mầm hoa cần bón một đợt phân đạm, khi ra nụ và sau khi ra hoa cần bón lân và kali.

c- Tưới và tiêu nước: Lay ơn là cây không chịu được hạn, các phương pháp tưới nước cho layơn là: Tưới trên mặt chỉ thích hợp cho tưới bồn hoa, thảm hoa, diện tích nhỏ; Tưới ngấm tức dùng ống chôn ngầm dưới đất, cách này có lợi cho cây vì cấp đủ nước; Tưới nhỏ giọt là cách tưới qua lỗ nhỏ của ống dẫn nước nhỏ từng giọt xuống đất, cách này tiết kiệm được nước. Về mùa hè nên tưới vào buổi sáng sớm và chiều tối. Tất cả các giai đoạn trồng layơn đều cần tưới nước đầy đủ. Về mùa mưa cần chống úng, tháo nước kịp thời để tránh thối rễ.

d- Chống đổ: khi cây có 7 lá bắt đầu nhú hoa cần chống đổ cho cây. Dùng cây tre, gỗ buộc cố định cây. Hoặc dùng que cắm hai đầu rãnh luống, rồi dùng dây đan chằng các cây, hoặc có thể dùng lưới nilông luồn cây vào mắc lưới.

5- Thu hoạch, bảo quản củ:

Sau khi thu hoa được 40-45 ngày, khi thấy lá bắt đầu khô heo là lúc đào củ thích hợp nhất. Dùng cuốc đào xung quanh rồi nhổ củ từ từ, tránh làm đứt củ con. Sau khi nhổ lên dùng kéo cắt sát gốc cách cuống củ 0,5-1cm, không được dùng tay vặn củ làm xây sát củ, nhặt củ lớn, củ nhỏ riêng.

Xử lý củ: có thể bằng hai cách phơi khô: Hong khô ngoài trời bằng cách trải củ trên chiếu, cót,…thường xuyên đảo trộn cho đều. Hoặc hong khô trong nhà bằng cách trải trên lưới sắt, lưới nilông, mở hết cửa thông gió. Sau khi hong khô nên cắt bỏ rễ bám quanh củ nhằm tăng hiệu quả bảo quản.

Bảo quản củ: có nhiều cách, có thể bảo quản bình thường trong thời gian khoảng 7 tháng, để nơi thoáng gió, khô ráo, nhiệt độ tốt nhất từ 1-50C; bảo quản trên giàn bằng cách dùng hợp kim nhôm làm giàn cách mặt đất 60 cm, cứ 30 cm thành một tầng và đặt củ lên; bảo quản trên khay bằng gỗ ván dài 70 cm, rộng 50cm, cao 10cm, mỗi khay đựng được 15-20 kg củ; bảo quản trong túi nilông mỗi bao khoảng 30 kg củ rồi đặt lên giá đỡ.

Đối với các vùng nóng thường trồng layơn vào mùa thu đến cuối tháng 3 thu hoạch. Củ layơn trong điều kiện tự nhiên ngủ nghỉ khoảng 6 tháng, vì vậy nếu bảo quản không tốt tỷ lệ hư hao sẽ rất lớn. Vì vậy, khi bảo quản cần phải chọn củ to chắc, không có vết sâu bệnh, bầm dập, khay chứa củ phải để trong kho lạnh, cách mặt đất 30 cm. Trong quá trình bảo quản thường xuyên kiểm tra, theo dõi chặt chẽ để phát hiện củ thối và nhặt riêng ra.

Trên đây là một số kỹ thuật nhằm giúp bà con trồng hoa layơn đạt hiệu quả cao, mong bà con sớm tiếp cận được kiến thức, vận dụng vào thực tiễn để có được vụ mùa bội thu hoa layơn.

Nguồn Internet

 

Kỹ thuật trồng hoa vạn thọ

Do nhu cầu chơi hoa của người dân ngày một tăng, gần đây chúng ta nhập khá nhiều giống hoa đẹp, trong đó có cúc vạn thọ Pháp, giống có bông khá to, đường kính có khi lên tới 7-8 cm, màu vàng chanh rất đẹp. Xin giới thiệu với bà con kỹ thuật trồng, chăm sóc giống hoa này.

Chuẩn bị đất

Đất để gieo hạt và cho vào giỏ tre, chậu để trồng cây sau này là hỗn hợp gồm 1 phần đất tốt trộn đều với 2 phần phân chuồng hoai mục và 4-5 phần tro trấu đã được ngâm dưới nước để loại trừ hết chất độc hại cho rễ. Để diệt kiến và những côn trùng cắn phá hạt nên trộn thêm một ít thuốc như Regent, Padan, Basudin vào hỗn hợp này.

Cúc vạn thọ dễ bị nấm bệnh từ đất trồng, vì vậy nên xử lý đất trước khi sử dụng, bằng cách dùng dung dịch Formol pha với nước theo tỷ lệ 5% Formol pha với 95% nước, phun tưới lên đống đất, trộn đều cho đất hơi ẩm, sau đó dùng bạt nylon phủ kín 2-3 ngày rồi mở ra một ngày cho bay hết mùi Formol, sau đó mới cho vào bầu nylon để gieo hạt hoặc giỏ, chậu để trồng cây.

Gieo hạt

Cho đất đã được xử lý vào các bao nylon nhỏ có kích thước 5 x 10cm (có đục lỗ thoát nước ở phía dưới), cũng có thể cuộn lá chuối thành những cái bầu nhỏ rồi cho đất vào. Gieo mỗi bầu 1 hạt, đưa bầu giống lên giàn, phía trên có mái che. Sau khi cây mọc 5-7 ngày thì dỡ dần giàn che cho cây giống quen với nắng. Sau khi mọc khoảng 2 tuần có thể đem trồng vào giỏ, chậu... Trước khi trồng vài ngày nên phun xịt một đợt thuốc trừ sâu cho cây.

Trồng cây

Dùng giỏ tre hoặc chậu có đường kính 25-30cm, cao 25-30cm. Sau đó cho hỗn hợp đất trồng vào (thấp hơn mép giỏ, chậu 5-7cm) rồi trồng vào mỗi chậu một cây giống. Đưa chậu bông ra chỗ có nắng để cây có điều kiện sinh trưởng, phát triển tốt.

Chăm sóc

Tưới nước hàng ngày để đảm bảo đất luôn đủ ẩm, lưu ý không được tưới nước vào lúc nắng to hay chiều tối, tạo ẩm ướt vào ban đêm, dễ làm cây bị bệnh.

Dùng phân NPK (loại 20-20-15) bón bổ sung cho cây bằng cách hòa 2 muỗng canh phân cho một thùng tưới loại 10 lít, định kỳ 5-7 ngày tưới một lần. Khi cây bắt đầu có nụ hoa thì tăng cường thêm kali để hoa lâu tàn, màu sắc rực rỡ hơn.

Sau khi trồng 5-7 ngày tiến hành bấm đọt để cây ra nhiều nhánh, tạo cho cây có tán đẹp và nhiều bông sau này. Khi cây sắp có nụ, dùng phân bón lá Grow more (loại 10-30-30) xịt mỗi tuần một lần để kích thích cho cây ra bông lớn, đẹp.

Trong quá trình chăm sóc, cần lưu ý một số loại sâu bệnh thường gặp như sâu ăn tạp (sâu khoang) hại lá, sâu xám cắn cây con, bệnh chết cây con khi cây còn nhỏ. Bệnh thối hoa và đốm nâu hại lá khi cây giao tán./.


 

Nguồn Internet


 


 


 


 

 

Kỹ thuật trồng sen lấy hạt

  C ây sen lấy hạt, tên khoa học: Nemlumbo nucifera Guerin. Hầu hết các bộ phận của cây sen đều sử dụng, hoa làm cảnh, hạt để ăn (làm mứt, nấu chè) làm thuốc, ngó sen làm rau có tính an thần, tim sen dùng làm trà, lá sen dùng trà, lá sen dùng để gói. Cây sen được trồng nhiều nơi. Chúng sống được ở các loại đất trũng (trừ các vùng khả năng trong mùa nắng bị nhiễm mặn). Tuy nhiên, khi trồng thâm canh, ruộ̣ng trồng cần được gia bờ bao hoàn chỉnh để khống chế, giữ được mức nước trong ruộng theo yêu cầu kỹ thuật của từng giai đoạn sinh trưởng phát triển của cây.

Đất trồng sen cần cày bừa kỹ, mặt ruộng phải bằng phẳng để dễ thâm canh.
Khi trồng sen cần chú ý các biện pháp kỹ thuật sau:

1./ Chọn giống, cách trồng:

Cây sen hiện có 2 giống phổ biến: Giống dùng lấy hạt có kích thước thân, lá, hoa, gương to hơn, đặc biệt hoa có màu hồng sậm, dân gian thường gọi là “Sen Trâu”. Giống trồng lá ngó ngược lại, thân, lá, hoa, gương nhỏ hơn, hoa có màu hồng phấn. Do vậy, khi trồng cần chú ý chọn đúng giống.

Cây sen giống đem trồng phải đạt tiêu chuẩn: Có 2 lá mập, khỏe, đường kính lá lớn của cây giống là 30cm, không để cây bị dập lá hay gãy cọng hoặc gãy thân ngầm (ngó). Các chỉ tiêu này liên quan chặt chẻ đến tỷ lệ sống của cây khi trồng. Nếu cây giống được chọn lọc và bảo quản tốt khi trồng tỷ lệ sống cao.
Cách trồng: Cây con sau khi nhổ từ ruộng sen phải được giữ nơi mát, tránh ánh sáng mặt trời bức xạ làm cho cây khô héo, đem cấy ra ruộng đã cày bừa xong cần nhẹ nhàng để tránh gãy ngó (thân ngầm). Không nên trồng quá sâu cây lâu bén. Không nên quá nông cây dễ bị nổi. Khoảng cách trồng 2m x 2m/cây. Mật độ 2.500 cây/ha.
Cần khống chế mực nước trong ruộng 20-25 cm trong thời gian mới trồng, giúp cây mau bén rễ.

Sau khoảng 10 ngày sau cần theo dõi và trồng dặm liền. Sau đó, cho mực nước tăng dần theo sự sinh trưởng của cây. Mực nước trong ruộng cần khống chế ở mức 40-50cm là tốt nhất.

2./ Bón phân:

Số lượng phân bón sử dụng cho 1 ha/vu:

 -Super lân: 400kg, DAP: 500kg, NPK 16-16-8: 300kg, chia làm các lần bón như sau:

 - Lót trước khi trồng (lúc làm đất): 400kg Super lân

 - Thúc lần 1: 15 NST (ngày sau trồng),  50kg DAP

 - Thúc lần 2: 30 NST, 50kg DAP

 - Thúc lần 3: 45 NST, 50kg DAP

- Thúc lần 4: 60 NST, 50kg DAP

- Thúc lần 5: 75 NST, 50kg DAP + 50kg NPK

Các lần sau cứ 15 ngày bón 50kg NPK +50kg DAP cho đến hết 300kg DAP + 300kg NPK

Chú ý: Cần thay nước trước khi bón phân và khống chế nước ở mức vừa phải.

3./Sâu bệnh:

Trong giai đoạn đầu trước và chuẩn bị cho hoa cây sen dễ bị nhện đỏ, và bọ trỉ gây hại. Chúng thường bám trên cuống lá, hoa chích hút làm lá nhăn, teo lại, nếu bị nặng chúng làm khô lá, hoa hạn chế sinh trưởng cũng như năng suất.  Nên cần xử lý bằng thuốc hóa học, có thể dùng Trebon  pha với nồng độ 20cc/bình/8lít phun phía dưới lá, bông.

Bên cạnh đó, cây sen thường bị sâu xanh  và một số loại sâu ăn tạp khác phá hại nặng trên lá. Chúng thường đẻ trứng theo từng ổ, sâu non mới nở ra tập trung trên 1 – 2 lá ăn phần thĩa lá phía dưới rất dễ nhận diện trong quá trình thu hoạch trái chúng ta có thể giết chúng bằng tay. Nếu  sâu ăn lá phát sinh nhiều thì xử lý bằng thuốc hóa học như Sherpa. Decis  lượng dùng 10cc/bình/8 lít.

Khi cây đã ra hoa vào giai đoạn thu hoạch cần hạn chế sử dụng thuốc.

4./Thu hoạch:

Khi sen già trên đỉnh hạt xuất hiện màu đen, ở cuống của gương sen  có màu hồng thì thu hoạch được. Nên thu hoạch 2 ngày/lần để hạn chế hái sót tạo sen quá lứa khó chế biến vì sen già rất nhanh.

Khi thu hoạch trái thì kết hợp loại bỏ lá ở ngay cùng vị trí cuống, bông (cây sen có đặc tính từ mắt ở thân ngầm cây sẽ cho 1 cuống mang lá và một cuống mang bông) để giúp cây phát triển tiếp vì lá này sau khi đã thu gương nó trở nên vô hiệu. Nếu để chúng phát triển tiếp tạo sự cạnh tranh ánh sáng, dinh dưỡng với các lá khác nhất là các nơi phát triển ảnh hưởng lớn đến năng suất sau này./.

Nguồn Internet


 

Kỹ thuật trồng và chăm sóc hoa hướng dương

Hoa hướng dương thuộc cây thân cỏ sống nhiều năm. Mùa hoa dài, ra hoa mùa hè, tháng 10 đến tháng 4-5 năm sau cũng có thể ra hoa.

Hướng dương ưa ấm, đất tơi xốp sợ ngập úng, nhiệt độ cao cây mọc kém, cây ngủ nghỉ. Cây hướng dương có thể trồng chậu, đất chậu thường dùng là đất lá rụng trộn với đất cát, thêm một ít bột xương. Mỗi năm thay chậu 1 lần vào tháng 8-9. Trước lúc thay chậu cần tỉa thưa, chỉnh hình, cắt bớt rễ. Hàng năm vào tháng 4 đem cây ra ngoài nơi thoáng gió. Để cho cây không ngừng ra hoa tăng cường tưới phân loãng, 10 ngày tưới 1 lần. Tưới nước bình thường không nên tưới nhiều nước. Đến mùa hè nóng cây bước vào ngủ nghỉ, nên đưa cây vào nhà bệ cây. Mùa thu là mùa ra hoa cần kết hợp tưới nước bón ít phân loãng.

Sau mùa hoa cần tỉa cành, xúc tiến phân nhánh. Cây hướng dương mọc nhanh hàng năm đề phải tỉa cành, mỗi năm 3 lần: mùa xuân, mùa hè và mùa thu. Căn cứ vào sinh trưởng của cây cần để cây có 3-5 cành chính, các cành dài cũng phải được tỉa bớt. Cây hướng dương mọc được 1 năm chỉ cần cắt ngắn ít cành. Sau khi tỉa cành thường đòi hỏi một thời gian hồi phục, nên sau đó nửa tháng phải bón thúc phân, cho cây không. Ngưng ra chồi nở hoa. Để tránh cây mọc quá cao, cần phải hái ngọn, cho mọc nhánh bên và nhiều hoa.

Nhân giống cây hoa hướng dương thông thường dùng phương pháp giâm cành. Giâm cành vào mùa xuân tỷ lệ sống cao hơn mùa thu. Cánh làm cụ thể là: Cắt đầu cành có chồi đỉnh 6-8cm, cắt các đốt phía dưới, cắt bỏ lá gốc, sau khi vết cắt khô, cắm vào chậu cát hoặc sỏi, sâu 1/8 đến 1/2 cành giâm, rồi tưới nước đẫm. Sau đó 2 ngày tưới 1 lần, để ở nhiệt độ 18-20 độ C. Sau 20 ngày mọc rễ và chờ khi cây con cao 2-3cm là đưa vào chậu, chậu để nơi râm, khi cây mọc chồi mới có thể chuyển vào nơi quản lý bình thường./.


 

Nguồn Internet


 

Làm giàu nhờ trồng hoa súng trong chậu


 

 

Hoa súng trong chậu của anh Lãng - Ảnh: K.Quang

Đó là cách trồng hoa súng mới lạ, hiệu quả kinh tế cao, phù hợp với khí hậu, thổ nhưỡng của Việt Nam

 

Ông thầy bất đắc dĩ   

Cái duyên với nghề trồng hoa súng của anh Ngô Văn Lãng (điện thoại số 0914080167, ngụ ở tổ 2, phường Hòa Thọ Đông, quận Cẩm Lệ, TP Đà Nẵng) bắt đầu từ chuyến công tác ở TP.HCM cách đây 2 năm. “Tình cờ gặp giống súng quý Thái Lan, tôi liền mua 10 chậu đem về trồng thử”, anh Lãng nhớ lại. Anh Lãng khăn gói vào lại TP.HCM học hỏi kinh nghiệm lai giống, kỹ thuật chăm sóc và anh đã thành công. Cuối năm 2007, anh Lãng tăng cường nhân giống và mở rộng diện tích trồng hoa súng. Nhiều người từ Bình Thuận, Quảng Nam, Quảng Trị, Hải Phòng, Hải Dương, Bắc Giang... đã tìm đến “thọ giáo” cách trồng hoa súng trong chậu của anh Lãng. Và anh Lãng trở thành ông thầy bất đắc dĩ.

Cách chăm sóc hoa súng - theo anh Lãng - không quá khó: Sau khi gieo hạt giống (lấy từ cây bố mẹ) vào các chậu có sẵn bùn non, để nơi đầy đủ ánh sáng, khoảng 1 tháng sau đưa chậu sang hồ khác để dễ chăm sóc. Phân bón cho hoa súng là bánh dầu. 3 tháng sau ngày “ra riêng”, hoa súng đã có thể xuất ra thị trường. “Loại hoa súng có nguồn gốc Thái Lan này ra hoa liên tục, rất lâu tàn. Hoa màu trắng nở vào ban đêm, hoa tím và vàng nở vào ban ngày. Hương hoa rất thơm, đặc biệt có bông trổ rất nhiều cánh”, anh Lãng nói. Hiện anh còn trồng thêm hoa sen có xuất xứ từ Nhật Bản, thời gian thu hoạch chỉ trong 3 tháng.

Hiện mỗi ngày anh Lãng cho xuất 30 - 50 chậu súng và gần 20 chậu sen. Với giá mỗi chậu hoa súng là 25 ngàn đồng/chậu, sen là 40 ngàn đồng/chậu, mỗi ngày anh thu vài triệu đồng. Hoa súng của anh đẹp, khỏe nên tiếng lành đồn xa, trong số người đến mua có cả ở Hà Nội, TP.HCM và nhiều tỉnh khác. Đặc biệt, những đợt cao điểm như Tết hay các dịp lễ, số lượng hoa trong vườn luôn không đủ đáp ứng nhu cầu. Với thành công này, anh Lãng được Phòng Kinh tế quận Cẩm Lệ, TP Đà Nẵng tuyên dương là một trong những gương điển hình sản xuất giỏi của quận.

Hoa súng xuất ngoại

Còn với ông Ông Văn Trinh (Hòa Thọ Đông, quận Cẩm Lệ, Đà Nẵng), người trồng súng cũng khá nổi tiếng ở Đà Nẵng, chuyến đầu tiên xuất hoa ra Hà Nội là kỷ niệm đáng nhớ. Lần ấy không may chiếc xe tải bị đổ nhào, hoa súng nằm la liệt khắp nơi. Các phóng viên, nhà báo đến chụp hình lia lịa vì thấy “hiện tượng” lạ, ông Trinh kể lại. Trong rủi có may, từ lần đó, nhiều người biết đến ông hơn. Thế là các mối mua hàng cứ lần lượt đổ về tìm ông Trinh để mua cho được loại hoa súng ông trồng.

Đến nay, nơi tiêu thụ hoa súng của ông không chỉ dừng lại ở các tỉnh thành lân cận, mà vươn đến Thái Lan. Cứ khoảng 2 - 3 tháng, một đợt trồng và xuất hoa súng, khách lại tìm ông để lấy hàng. Giá một chậu hoa súng tại thị trường trong nước là 20 ngàn đồng, tại Thái Lan là 50 ngàn đồng. “Thị trường Thái Lan khó tính, yêu cầu phải trồng hoa súng với phân thủy sinh và cát. Do vậy, công trồng và chăm sóc nhiều hơn, nhưng nhờ vậy giá cũng cao hơn”, ông Trinh nói thêm.

Có được đầu ra ổn định, doanh thu của ông Trinh bình ổn mức 8-9 triệu đồng/đợt. Nhiều hộ trong phường được ông hướng dẫn cách trồng, tăng thu nhập, phát triển kinh tế địa phương. “Kiếm được tiền trong không gian an nhàn, thanh tịnh của cỏ cây cũng là một niềm vui không nhỏ...”, ông Trinh chia sẻ.

Nguồn Internet


 

Mô hình cây màu trồng xen trong ruộng

Nhằm tăng thu nhập cho nông dân trong vùng trồng mía nguyên liệu của tỉnh trong tình hình giá mía không ổn định như hiện nay, cán bộ kỹ thuật của ngành nông nghiệp đã hướng dẫn nông dân bố trí trồng xen cây màu trong ruộng mía. Một số cây đã được nông dân trồng như dưa hấu, dưa gang, bí, đậu xanh, lạc, đậu đũa... ngay sau khi thu hoạch mía. Trong đó, các loại cây họ đậu là có ưu thế nhất, vì thời gian sinh trưởng ngắn ngày, vừa có tác dụng ngắn ngày, vừa có tác dụng cải tạo đất và khi chăm sóc cho cây màu lúc mía còn nhỏ sẽ có tác dụng tốt cho mía sinh trưởng trong giai đoạn đầu, đồng thời tạo thêm thu nhập cho người trồng mía.

Đặc biệt, cây đậu xanh Đông-Xuân 208 do Trung tâm Khuyến nông tỉnh trình diễn ở các vụ trước đã được nông dân bố trí trồng xen trong ruộng mía tại ấp Búng Đôi, xã An Quãng Hữu, huyện Trà Cú, vụ Đông-Xuân 2003-2004. Một số hộ đạt năng suất khoảng 1.500kg - 1.800kg, hiện tại, để có đậu xanh phục vụ Tết, "bạn hàng" đã đến ruộng đặt mua giá 8.000 đ/kg. Như vậy, nông dân sẽ có thu nhập thêm từ 12 - 14 triệu đồng/ha/vụ, cộng với tiền bán mía khoảng 23 - 26 triệu đồng/ha/năm thì giá trị sản xuất sẽ đạt 35 - 40 triệu đồng/ha/năm.

Để đạt được 50 triệu đồng/ha/năm trên vùng trồng mía nguyên liệu, cần phải đẩy nhanh tiến bộ kỹ thuật thâm canh cây đậu xanh bằng cách sử dụng giống mới cho năng suất cao, chất lượng tốt, phù hợp điều kiện của địa phương và những kỹ thuật sản xuất tiên tiến trong bón phân chăm sóc phòng trừ sâu bệnh... năng suất đậu xanh sẽ có khả năng được nâng lên 2.400 - 2.00kg/ha/vụ. Đối với cây mía cũng sẽ phải sử dụng các giống mới có năng suất và trữ đường cao (140 - 160 tấn/ha và 11 - 12% CCS). Có như vậy người dân trong vùng nguyên liệu mía mới có thể an tâm sản xuất, xây dựng vùng nguyên liệu có tính ổn định lâu dài, tạo điều kiện cho ngành công nghiệp mía đường có thêm điều kiện cạnh tranh trên thị trường.

Đây là một mô hình xen canh có hiệu quả, đầy hứa hẹn cho nông dân vùng trồng mía, cần nhân nhanh.


 

Theo chonongnghiep.com

 

Một số bệnh ở cây xoài


 

1. Bệnh cháy lá Xoài


 

Triệu chứng của bệnh:

Những đốm bệnh bất dạng màu nâu, đường kính từ 5 mm trở lên thường xuất phát từ mép lá, chóp lá đi vào, sau đó chúng lớn nhanh với kích thước bệnh có thể 10 - 30 mm, có màu nâu xám. Trong điều kiện mùa khô có thể thấy các ổ nấm màu đen trên bề mặt vết bệnh. Những lá bệnh có thể không rụng và còn tồn tại dai dẳng trên cây bệnh, bệnh không gây nguy hại nhiều cho cây.

Phòng trị

Bệnh thường xảy ra trong điều kiện mùa nắng, các cây có sức sinh trưởng kém cũng dễ bị bệnh hơn vì vậy để phòng ngừa bệnh cho cây cần chăm sóc cho cây sinh trưởng và phát triển tốt như bón phân cân đối, độ ẩm thích hợp cho cây sinh trưởng và phát triển. Đặc biệt cần chú trọng việc bón phân hữu cơ hoai mục trong vườn cây.


 

2. Bệnh thối quả khô đọt xoài

Triệu chứng của bệnh:

Bệnh này gây hại nặng trong điều kiện nóng ẩm nhất là vào mùa mưa. Trên nhánh đọt bị các đốm sậm màu, lan dần trên các cành non, cuống lá làm lá bị biến màu nâu, bìa lá cuốn lên. Cành bị khô, nhăn và có thể chảy mủ. Chẻ dọc cành bệnh, bên trong các mạch dẫn nhựa biến nâu tạo thành những sọc màu nâu. Nếu sử dụng cành ghép, mắt ghép từ cành bị nhiễm bệnh, bệnh có thể phát triển trên cây con sau ghép.

Do đó để phòng ngừa bệnh cho cây con sau khi ghép cần chọn mắt ghép tốt trên cây mạnh, vệ sinh, khử trùng các dụng cụ ghép, để cây con nơi thoáng mát rồi đưa cây ghép ra nắng dần dần để tránh sốc nắng thì sẽ ít bị nhiễm bệnh hơn.

Bệnh này cũng tấn công quả trong giai đoạn tồn trữ hay vận chuyển, làm thối phần thịt quả nơi gần cuống hoặc nơi vỏ quả bị trầy trụa. Quả hái không chừa cuống rất dễ bị nấm bệnh xâm nhập và lây lan chỉ sau 2 – 3 ngày.

Phòng trị

Để phòng bệnh này cần tránh gây bầm dập, rụng cuống quả khi hái. Phun Benlate, Copper B (0,1%) vào 2 tuần trước khi hái. Quả sau thu hoạch có thể được xử lý bằng nước nóng 520C cũng có thể ngừa được bệnh thối quả và thán thư.

3. Bệnh đốm đen xoài


 

Triệu chứng của bệnh:

Bệnh xảy ra trên lá, quả và chồi non. Đầu tiên những đốm bệnh có màu nâu đen nhỏ xuất hiện trên lá, quả, sau đó chúng lớn dần lên, các vết bệnh có thể nối liền lại và trở thành những vết loét lớn có hình dạng bất định và cuối cùng tạo thành một vùng trũng xuống so với bề mặt lá. Những vết bệnh trên những chồi non và quả thường là những vết nứt dọc, có màu nâu đen. Đôi khi có nhựa chảy ra từ vết nứt đó. Nếu bệnh xảy ra trên cây con trong vườn ươm, khả năng lây lan của bệnh rất nhanh chóng và làm cho chết cây.

Chu kỳ phát triển bệnh:

Bệnh xảy ra quanh năm trên lá, chồi non và thân cây. Số lượng vết bệnh tăng nhanh khi lượng mưa cao và nhiệt độ không khí ấm. Vi khuẩn gây bệnh có khả năng lưu tồn trong những lá già, chồi non và thân cây. Chúng được phát tán nhờ gió, nước mưa và xâm nhiễm vào cây qua vết thương để gây bệnh cho cây.

Phòng trị

Bệnh thường xảy ra trong điều kiện mùa nắng, các cây có sức sinh trưởng kém cũng dễ bị bệnh hơn vì vậy để phòng ngừa bệnh cho cây cần chăm sóc cho cây sinh trưởng và phát triển tốt như bón phân cân đối, độ ẩm thích hợp cho cây sinh trưởng và phát triển. Đặc biệt cần chú trọng việc bón phân hữu cơ hoai mục trong vườn cây.

4. Bệnh đốm rong đỏ xoài

Triệu chứng của bệnh:

Đốm bệnh thường xuất hiện ở phiến lá, đôi khi cũng xuất hiện trên cuống lá và cành non. Đốm bệnh lúc đầu có màu xám xanh, bề mặt như lớp nhung mịn, sau đó đốm có màu nâu đỏ hơi tròn và hơi nhô lên mặt lá. Nhiều đốm bệnh có thể nối với nhau thành đốm lớn bất dạng. Bệnh làm giảm khả năng quang hợp. Bệnh nặng làm rụng lá nên cây sinh trưởng kém.

Ngoài xoài rong còn tấn công trên nhiều loại cây trồng khác. Rong sinh sản mạnh khi trời ẩm, chúng xâm nhiễm qua vết thương hoặc tế bào biểu bì ngoài.

Phòng trị

Để phòng ngừa bệnh này cần tránh trồng dày, tạo điều kiện cho vườn cây thông thoáng. Có thể phun các loại thuốc gốc đồng hay các thuốc có lưu huỳnh khi vườn cây bị bệnh quá nặng.

Theo agriviet.com

 

MỘT SỐ BỆNH THƯỜNG GẶP Ở GÀ

BỆNH CẦU TRÙNG

1. Nguyên nhân:

Bệnh lan truyền do gà ăn phải thức ăn, uống nước có lẫn các noãn bào. Bệnh dễ lây truyền từ chuồng này sang chuồng khác, nơi này sang nơi khác do người, súc vật... vô tình mang các noãn bào này đi đến. Tốc độ sinh sản nhanh của các cầu trùng khiến bệnh dễ bộc phát.

Bệnh cầu trùng thường làm tăng tỷ lệ tử vong cho gà nhỏ, gà phát triển chậm, yếu, dễ bị bội nhiễm các bệnh khác.

Mức độ gây bệnh tùy thuộc vào phương thức nuôi, nuôi trên sàn lưới ít mắc bệnh hơn nuôi trên nền.

2. Triệu chứng:

Gà ủ rũ, xù lông, chậm chạp, phân đỏ hoặc sáp nhiều khi có máu tươi.Gà đẻ vỏ trứng mỏng, tỷ lệ đẻ giảm.

3. Bệnh tích:

Manh tràng sưng to, chân đầy máu.Ruột sưng to.Trong đường tiêu hóa có dịch nhầy và máu.

4. Phòng bệnh.

Vệ sinh phòng bệnh chặt chẽ, đặc biệt không để nền chuồng, chất đọng làm chuồng ẩm ướt.

Dùng thuốc trộn vào thức ăn hay pha nước uống cho gà.

Sử dụng một trong các loại thuốc sau (dùng trong 3 ngày).

+ Anticoc 1gr/1 lít nước.

+ Baycoc 1ml/ 1 lít nước.

5. Trị bệnh:

Tăng liều gấp đôi liều phòng

 

BỆNH THƯƠNG HÀN

1. Nguyên nhân:

Do vi khuẩn gây ra, bệnh có thể truyền trực tiếp từ gà mẹ sang gà con và cũng có thể nhiễm gián tiếp qua thức ăn, nước uống bị nhiễm mầm bệnh.

2. Triệu chứng:

Gà ủ rũ, phân trắng loãng, hôi thối.Gà đẻ trứng giảm, trứng méo mó, mào tái nhợt nhạt hoặc teo.

3. Bệnh tích:

- Gà con: Gan sưng, có điểm hoại tử trắng, niêm mạc ruột viêm loét lan tràn.

- Gà đẻ: Gan có điểm hoại tử trắng, túi mật sưng to, buồng trứng đen tím, trứng non dị hình méo mó.

4. Phòng bệnh:

Bằng các biện pháp vệ sinh tổng hợp. Có thể dùng kháng sinh để phòng bệnh:

- Oxytetracyclin: 50-80 mg /gà/ngày, dùng trong 5 ngày.

- Chloramphenical: 1 gr/5-10 lít nước, dùng trong 2-3 ngày.

5. Trị bệnh:

Tăng liều gấp đôi so với liều phòng bệnh.

 

BỆNH DỊCH TẢ

1. Nguyên nhân:

Bệnh do virus gây, lây lan mạnh. Chủ yếu lây qua đường tiêu hóa, tuy nhiên bệnh cũng có thể lây qua dụng cụ chăn nuôi.

Gà mọi lứa tuổi đều mắc bệnh.

2. Triệu chứng:

Thường biểu hiện ở 2 thể: cấp tính và mãn tính.

a.Thể cấp tính: Bệnh xuất hiện đột ngột, gà chết nhanh không biểu hiện rõ triệu chứng. Thường rụt cổ, ngoẹo đầu vào cánh, ủ rũ, nhắm mắt mê man bất tỉnh, sau đó chết.

Khó thở, nhịp thở tăng, hắt hơi (con vật há mồm, vươn cổ thở).

Tiêu chảy phân màu xanh - trắng, diều căng đầy hơi.

Một số con chảy dịch nhờn ở mắt, mũi.Tích, mào tím xanh.

Nếu sau 4-5 ngày gà không chết, sẽ xuất hiện triệu chứng thần kinh: Gà vận động tròn theo một phía, đi đứng không vững.

Gà giảm đẻ, vỏ trứng mềm.Tỷ lệ chết từ 50-90%.

b. Thể mãn tính:

Những gà bị bệnh kéo dài sẽ chuyển sang thể mãn tính. Triệu chứng chủ yếu ở đường hô hấp, thở khò khè, kém ăn, giảm đẻ.... Gà trở thành vật mang trùng. Tỷ lệ chết 10%.

3. Bệnh tích:

Biến đổi tùy thuộc vào thời gian kéo dài bệnh, lứa tuổi và độc lực của virus.Dạ dày tuyến xuất huyết, có dịch nhầy ở ruột già.

4. Phòng bệnh:

Chủ yếu là bằng vaccine.

5. Trị bệnh:

Dùng các thuốc tăng sức đề kháng: Vitamix, vit-plus,....

 

BỆNH GUMBORO

1. Nguyên nhân:

Do virus. Gà thường mắc bệnh ở 4-8 tuần tuổi.

2. Triệu chứng:

Phân lúc đầu loãng, trắng, nhớt nhầy, sau loãng nâu.

Gà sút nhanh, run rẫy.

Tỷ lệ nhiễm bệnh rất nhanh: 2-5 ngày toàn đàn bị nhiễm.

Tỷ lệ chết: 10-30%.

Gà thịt thường phát bệnh sớm hơn (ở giai đoạn 20-40 ngày).

3. Bệnh tích:

Cơ đùi xuất huyết đỏ thành vệt.

Bệnh mới phát túi Fabricius sưng to.

-Ngày thứ 2: Thận sưng nhạt màu, ruột sưng có nhiều dịch nhầy.

-Ngày thứ 3: Xuất huyết lấm tấm hoặc thành vệt cơ đùi, cơ ngực.

-Ngày thứ 5,6,7 túi Fabricius teo nhỏ, cơ đùi, cơ ngực tím bầm.

4. Phòng và trị bệnh:

- Phòng bệnh bằng vệ sinh: Định kỳ tiêu độc sát trùng chuồng trại thường xuyên mỗi tháng và sau mỗi đợt nuôi.

- Phòng bằng vaccine.

- Trị bệnh: Chưa có thuốc đặc trị. Chỉ dùng thuốc tăng sức đề kháng vật nuôi.

+ Vitamix: 2 gr/1 lít nước.

+ Vitamine C: 1 gr/ 1 lít nước.

+ Dexa (0,5 gr): 1 viên/ 3-4 con.

Dùng trong 3 ngày liên tục.

 

Nguồn: Sở NN&PTNT tỉnh An Giang


 

Một số bệnh thường gặp ở ngan, vịt


 

1. Bệnh viêm gan virut ở vịt

Triệu trứng: Thời gian ủ bệnh 2- 4 ngày, bệnh tiến triển nhanh khó phát hiện kịp. Vịt sã cánh, buồn ngủ, bỏ ăn, mệt mỏi nặng, nằm đầu nghoẹo ra sau hay về một bên, co giật toàn thân sau đó mới chết ở tư thế duỗi thẳng. Bệnh tiến triển rất nhanh, trong vòng 2 giờ, tỉ lệ bệnh 100% đàn, tỉ lệ chết 95- 100% ở vịt con 1- 3 tuần tuổi , 50% ở vit 4 tuần trở lên.

Phòng chữa bệnh: Không có thuốc đặc trị nên chỉ dùng biện pháp vệ sinh thú y để phòng, tiêm phòng vacxin cho vịt con và vịt trưởng thành, cách li tốt vịt con 1- 5 tuần tuổi tránh lây nhiễm.

2. Bệnh dịch tả vịt

Triệu trứng: Thường xảy ra ở vịt từ 15 ngày tuổi trở lên, và 1- 5 ngày sau khi phát bệnh thì gia cầm bắt đầu chết. Vịt chết đột ngột cả những con đang béo, vịt đẻ giảm 25- 40%. Vịt ốm bỏ ăn, tiêu chảy phân loãng màu trắng xanh, thối khắm, lông xù, mắt nửa nhắm, nửa mở, nước mũi chảy, cánh sã, ít vận động, sốt cao >400C, liên tục trong 2 ngày, nhiều con đứng 1 chân, tỉ lệ chết cao.

Phòng bệnh: Bệnh không có thuốc điều trị. Khi dịch tả xuất hiện phải bao vây nơi có dịch, loại bỏ vịt ốm, xử lý diệt virut bằng nhiệt. Không tiêm vacxin phòng khi vịt đang bị dịch. Liều vacxin cho vịt khỏe lúc này = 1,5 lần, có thể gấp 2.

3. Bệnh tụ huyết trùng

Triệu trứng: Bệnh thể quá cấp tính, ngan vịt chết đột ngột rất nhanh mà chưa có dấu hiệu bệnh tật. Bệnh cấp trong 1- 3 ngày. Khi bị chết đột ngột báo hiệu bệnh tụ huyết trùng gia cầm, thể hiện sốt, bỏ ăn, xù lông, dịch tràn ra miệng, ỉa chảy, thở gấp, tỉ lệ chết 50%.

Phòng chữa bệnh: Chăm sóc, vệ sinh chuồng

Phòng bệnh bằng cách pha trộn vào thức ăn, hoặc uống liên tục 2- 3 ngày trong tuần khánh sinh: Cosumix 2g/ lít nước hoặc 2g/ kg thức ăn, Tetracyclin 1g/ 4 lít nước hoặc 1g/ 4kg thức ăn.
Tiêm vacxin 2 đợt lúc vịt 20- 30 ngày tuổi và 4- 5 tháng tuổi cho vịt đẻ.

4. Bệnh phó thương hàn

Triệu trứng: vịt con 3- 15 ngày tuổi thường bị nhiều ở thể cấp tính, vịt lớn 45 ngày tuổi trở lên thường bị thể mãn tính.

Vịt ốm, tiêu chày, phân loãng, có bọt khí, lông đít dính, ít đi lại, chúng tách đạn tụ tập thành nhóm tìm chỗ ấm. Vịt khát nước, bỏ ăn. Bệnh có chứng lên cơn, run rẩy 2 chân, co giật , kéo dài 3- 4 ngày thì chết đến 70%

Phòng chữa bệnh: Làm tốt công tác vệ sinh, nhất là ổ đẻ

Trộn thuốc furazolidon liều phòng cho vịt đến 2 tuần tuổi 100g/ tấn thức ăn, sau 2 tuần 50g/ tấn thức ăn, liều chữa 150g/ tấn chữa cho từng con thì 50mg/ con.

5. Bệnh nhiễm khuẩn E.COLI

Triệu trứng: vịt trên 3 ngày tuổi bị bệnh có triệu trứng lông xù, rụt cổ , mắt lim dim như buồn ngủ và tiêu chảy phân màu trắng rồi chết. Nhiều con ốm bị thần kinh co giật, nghoẹo cổ. Vịt đẻ giảm, vỏ trứng có máu, chết rải rác.

Phòng chữa bệnh: Vệ sinh, phòng tốt các bệnh cấu trùng, kí sinh trùng, viêm đường hô hấp mãn tính.

Trộn kháng sinh liều vào thức ăn: neotesol 100mg- 200mg/ kg thể trọng, Tetracyclin 50- 60mg/ kg thể trọng...

Tiêm phòng vacxin Neotyphomix liều lượng 1cc/ 3 con

6. Bệnh tụ cầu trùng

Triệu trứng: Vịt bị sưng khớp nhất là khớp chân, nước lùng bùng, nóng kéo dài 2- 3 tuần lễ. Trong ổ khớp viêm có fibrin, mủ bã đậu. Ổ khớp viêm dễ bị tróc ra, có khi viêm cả xương rồi què.
Ruột bị xung huyết, vịt tiêu chảy, mỏi mệt, gầy giảm đẻ rồi ngưng đẻ.

Phòng bệnh: Vệ sinh chuồng trại, tránh gây vết thương cho vịt, ngan. Cách li gia cầm ốm.

Chăm sóc nuôi dưõng tốt đàn vịt, đảm bảo thức ăn đủ dinh dưỡng
Tiêm kháng sinh thẳng vào khớp, Streptomycin 100- 150mg/ kg thể trọng, hoặc Penicilline 100.000UI/ kg thể trọng.

7. Bệnh bướu cổ

Triệu trứng: Vịt bệnh ở yết hầu nổi bướu to dần nhanh làm cho vịt không ăn uống được, rồi ngạt thở chết, nhiều con có bướu ở mí mắt, mép mỏ, vai, bàn chân, đùi. Vịt con gầy còm, mổ các bướu ra thấy âos giun chỉ cuộn khúc như búi chỉ

Phòng chữa bênh:

Chăm sóc tốt đàn vịt, không chăn vịt nơi nước ao tù, nước đọng nhất là mùa nắng, nước cạn.
Tách riêng vịt bị bệnh, mổ bướu lấy giun chỉ ra, sát trùng bằng glixerin, khâu lại chăm sóc tốt 7- 10 ngày sẽ khỏi

Dùng thuốc Diphevit tiêm thẳng vào bướu 20mg/ con vịt nặng 100 g, 40mg cho vịt 300- 400g thể trọng.

8. Bệnh ngộ độc AFLATOXIN

Triệu trứng: Chậm lớn, đẻ giảm, bị co giật, da tái, tiêu chảy phân loãng, xanh, sống. Vịt đi khập khiễng, xốt huyết dưới da và bàn chân. Nhiễm độc nặng có thể chết hàng loạt.

Phòng chữa bệnh: Không cho vịt ăn thức ăn nấm mốc.

Dùng Quixalus liều chữa 1g/1kg thức ăn trong 5- 7 ngày, trộn glucozo, vitamin C vào nước uống cho vịt giải độc.

9. Bệnh DERZSY ở Ngan

Triệu chứng: Bệnh do chủng Paravovarus gây ra, ngan bệnh bị rụng lông, lớn chậm, ởi lệ chết cao, bệnh dễ lây, ngan chết nhiều lúc 8- 15 ngày tuổi.

Phòng bệnh: Tiêm vacxin paravovirut nhược độc cho ngan sinh sản để truyền kháng thể sang cho ngan con qua trứng.

10. Bệnh nấm phổi

Triệu trứng: Gia cầm nhiễm nấm khó thở, kém ăn, gầy, chết nhanh vài giờ sau khi có triệu trứng.

Phòng chữa bệnh: Chăm sóc nuôi dưỡng tốt đàn vịt, bổ sung vitamin A, D, E vào thức ăn
Làm tốt vệ sinh chuồng trại, chữa bệnh bằng trộn kháng sinh vào thức ăn: Quixalus 1g/ 1kg thức ăn liền trong 5 ngày, Mycostain 2g/ kg thức ăn trong 7- 10 ngày.

Theo khoahocchonhanong.com.vn


 

Một số bệnh trên cây nhãn

1. Bệnh cháy lá trên cây nhãn

Triệu chứng:

Bệnh hại chủ yếu trên lá, nhất là các lá già, lá thành thục. Vết bệnh lúc đầu là những chấm nhỏ ở giữa hoặc đầu lá màu nâu đen, về sau vết bệnh lớn lên có hình tròn hoặc gốc cạnh, lan rộng trên phiến lá tạo thành những mảng cháy màu nâu, trên đó có những đường vân màu nâu xám nhạt. Giữa vết bệnh và phần xanh của vết bệnh có ranh giới rõ rệt. Trên vết bệnh lâu ngày có những hạt nhỏ li ti màu đen là các ổ phân sinh bào tử. Lá bị bệnh vàng khô và rụng .

Tác nhân gây hại và điều kiện phát sinh phát triển:

Tác nhân gây hại là nấm, thuộc nhóm nấm bất toàn .

Nấm hình thành phân sinh bào tử hình ống, gồm 5 tế bào giữa lớn và có màu nâu, 2 tế bào ở hai đầu nhỏ, hơi nhọn và không màu, có 2-3 sợi lông ngắ ở một đầu. Nấm ký sinh yếu nên thường phát triển và gây hại trên các lá già, vườn ít chăm sóc và sinh trưởng kém .

Biện pháp phòng trừ:

Sau mỗi đợt thu hoạch, tiến hành cắt tỉa cành, thu gom và tiêu hủy các lá bị bệnh .

Tưới nước, bón phân đầy đủ cho cây, nhất là phân hữu cơ, cây sinh trưởng phát triển tốt sẽ hạn chế được bệnh .

Phun phòng trị bệnh bằng thuốc gốc Mancozeb theo liều lượng khuyến cáo .

2. Bệnh thối rễ

Triệu chứng

Bệnh gây hại ở rễ và cổ rễ giáp mặt đất. Trên cổ rễ lúc đầu nhỏ màu nâu sau chuyển nâu đen và lan rộng bao quanh phân vỏ cổ rễ, vỏ bị thối khô, nứt và bong tróc ra để trơ phần gỗ phía trong. Nấm có thể ăn sâu vào thân làm thân bị khô đen, các rễ phía dưới cũng bị thối đen. Cây mới bị bệnh có biểu hiện sinh trưởng kém, lá bị vàng và rụng dần dần, cây còn nhỏ có thể bị chết khô hoàn toàn.

Cây bệnh dễ bị đỗ ngã do bộ rễ đã bị hại. 

Điều kiện phát sinh phát triển

Nấm sản sinh ra hai loại bào tử là đại bào tử và tiểu bào tử. Đại bào tử có dạng dài, hai đầu nhọn, có dạng cong như lưỡi liềm, không màu, có 3-4 vách ngăn. Tiểu bào tử có hình trứng, không có hoặc có vách ngăn, không màu, nấm phát triển thích hợp ở điều kiện nhiệt độ là 300C.

Bào tử tồn tại rất lâu trong đất, xâm nhập vào rễ cây hoặc cổ rễ qua các vết xây xát do bị gió lay hoặc côn trùng trong đất cắn phá, điều kiện đất cát dễ bị thiệt hại hơn so với điều kiện đất thịt. 

Biện pháp phòng trừ

Thường xuyên kiểm tra vườn, phát hiện những cây sinh trưởng kém, kiểm tra cổ rễ, nếu có vết bệnh dùng thuốc gốc Metalaxyl hay Ridomyl Gold để tưới vào gốc, vun mô cao, thoát nước tốt, bón vôi vào cuối mùa nắng.

Cây bị bệnh cần đào bỏ hết gốc, rải vôi sát trùng.

Sử dụng phân hữu cơ và bón nấm Trichoderma.

3. Bệnh thán thư

T riệu chứng:

Bệnh phát sinh và gây hại trên lá, lộc non, trên chùm hoa và quả.

-Trên lá: bệnh gây hại từ mép lá trở vào, lúc đầu vết bệnh như­ các chấm, đốm nhỏ, sau liên kết thành mảng lớn, xung quanh có đ­ường viền nâu xẫm.

-Trên chồi non: lúc đầu vết bệnh dạng thấm n­ước, sau chuyển màu nâu tối, chồi bị chết khô khi trời nắng hoặc thối khi trời mưa.

-Trên hoa và quả non: vết bệnh hơi lõm xuống kiểu chấm đen, làm hoa và quả non chuyển màu đen và rụng.

Tác nhân gây bệnh:  Bệnh do nấm gây ra.

Điều kiện phát sinh và phát triển của bệnh: Bệnh phát sinh mạnh khi trời ấm và ẩm trong tháng 3 và 4. Trời có m­ưa đúng vào thời kỳ ra hoa và hình thành quả non làm ảnh hưởng đến năng suất.

Biện pháp phòng trừ:

- Tỉa cành, tạo tán, thường xuyên cắt bỏ cành già tạo cho cây thông thoáng.

- Theo dõi vườn, khi thời tiết ấm và ẩm cần tiến hành phun thuốc: Bavistin 50 FL nồng độ 0,1%; Benlate 50 WP  0,1%. Lượng nước thuốc cần phun khoảng 600 - 800 l/ha

4 . Bệnh thối bông

Triệu chứng

Bệnh khô cháy hoa thường xuất hiện vào lúc hoa nhãn đang nở rộ, trên cánh hoa có những vết chấm nhỏ bằng đầu kim, có màu nâu đen làm hoa bị vàng, sau đó khô và rụng đi .

Nấm thường tấn công vào lúc có nhiều sương mù hay mưa nhiều, độ ẩm không khí cao.

Biện pháp phòng trừ

Nên trồng thưa giúp cây thoáng, cho ánh sáng xuyên qua tán cây làm giảm độ ẩm sẽ hạn chế được bệnh.

Phòng trị bằng các loại thuốc gốc đồng hoặc Benomyl, Bavistin theo khuyến cáo vào giai đoạn trước khi hoa nở để phòng bệnh.

5. Bệnh thối rễ

Triệu chứng

Bệnh gây hại ở rễ và cổ rễ giáp mặt đất. Trên cổ rễ lúc đầu nhỏ màu nâu sau chuyển nâu đen và lan rộng bao quanh phân vỏ cổ rễ, vỏ bị thối khô, nứt và bong tróc ra để trơ phần gỗ phía trong. Nấm có thể ăn sâu vào thân làm thân bị khô đen, các rễ phía dưới cũng bị thối đen. Cây mới bị bệnh có biểu hiện sinh trưởng kém, lá bị vàng và rụng dần dần, cây còn nhỏ có thể bị chết khô hoàn toàn. Cây bệnh dễ bị đổ do bộ rễ đã bị hại. 

Tác nhân: Bên cạnh nấm Fusarium, những nấm đất khác như Rhizoctonia, Sclerotium cũng có thể gây hại cho cây.

Điều kiện phát sinh phát triển: Nấm sản sinh ra hai loại bào tử là đại bào tử và tiểu bào tử. Đại bào tử có dạng dài, hai đầu nhọn, có dạng cong như lưỡi liềm, không màu, có 3-4 vách ngăn. Tiểu bào tử có hình trứng, không có hoặc có vách ngăn, không màu, nấm phát triển thích hợp ở điều kiện nhiệt độ là 300C.

Bào tử tồn tại rất lâu trong đất, xâm nhập vào rễ cây hoặc cổ rễ qua các vết xây xát do bị gió lay hoặc côn trùng trong đất cắn phá, điều kiện đất cát dễ bị thiệt hại hơn so với điều kiện đất thịt. 

Biện pháp phòng trừ: Thường xuyên kiểm tra vườn, phát hiện những cây sinh trưởng kém, kiểm tra cổ rễ, nếu có vết bệnh dùng thuốc Metalaxyl hay Ridomyl Gold để tưới vào gốc, vun mô cao, thoát nước tốt, bón vôi vào cuối mùa nắng.

Cây bị bệnh cần đào bỏ hết gốc, rải vôi sát trùng.

Sử dụng phân hữu cơ và bón nấm Trichoderma.

Theo dost-bentre.gov.vn

 

Một số kinh nghiệm nuôi lợn nái


 

T ừ xưa người Việt Nam đã có tập quán chăn nuôi lợn, các giống lợn chậm lớn năng suất kém, thời gian nuôi lâu, các giống lợn Ỉ, lợn Móng Cái. Thức ăn chủ yếu tận dụng cám gạo, bèo… nên thời gian nuôi 12 tháng đạt 40-50kg

1. Chọn lợn giống nái :

Cần chọn 2 khía cạnh sau :

1.1. Chọn nguồn gốc lợn cái được sinh ra từ những lợn mẹ có năng suất cao, đẻ sai con, nuôi con khéo, có lý lịch rõ ràng, xuất thân nơi không có dịch.

1.2. Chọn bản thân con cái đó cần các yêu cầu sau :

Mông nở, thân dài, 4 chân chắc, dáng đi nhanh nhẹn, lông thưa, mắt sáng.

Từ 12 vú trở lên, các vú nổi rõ cách đều nhau, không có vú kẹ, vú lép. Quá trình trên lựa chọn từ 2,5 - 3 tháng tuổi.

2. Nuôi dưỡng lợn nái :

Chương trình nuôi dưỡng lợn nái có ngoại hình đạt mức tiêu chuẩn, không béo quá, gầy quá, 2 trường hợp béo quá, quá gầy đều dẫn đến hiệu quả xấu là năng suất sinh sản thấp, đẻ ít con.

- Phương pháp cho ăn : Dùng thức ăn tổng hợp của công ty lớn.

- Phát hiện động dục, phối giống và nuôi dưỡng nái có chửa.

- Thời gian mang thai : 114 ngày, được chia 2 giai đoạn :

+ Giai đoạn 1 : Từ 1 - 90 ngày : gọi là chửa kỳ I

+ Giai đoạn 2 : Từ  90 ngày  - đẻ : gọi là chửa kỳ II

Chửa kỳ I : Là giai đoạn trứng được thụ tinh, phôi đang ở trong tử cung và trọng lượng bào thai phát triển chậm. Nuôi dưỡng giai đoạn này được gọi giai đoạn kinh tế với 2 ý nghĩa :

- Thời gian nuôi dưỡng giai đoạn này không tốt dẫn đến hậu quả xấu, tỷ lệ sống của phôi thai thấp, nái đẻ ít con.

+ Nái béo quá ảnh hưởng xấu đến giai đoạn tiết sữa như : nái ăn ít, tiết sữa kém, con còi cọc.

Nên dùng thức ăn sạch, không nấm mốc, không độc tố, không ôi thiu, nếu có thì dễ chết phôi xảy thai. Khẩu phần ăn có chất sơ hợp lý tránh táo bón; khi bị táo bón  dẫn đến chết phôi, sẩy thai do nái phải rặn nhiều.

Chăm sóc nhiệt độ môi trường :

- Nhiệt độ cao ảnh hưởng đến sức sống lợn nái, thai chết nhiều.

- Nhiệt độ cao làm cho lợn kém ăn, mệt mỏi, thở nhiều, hay sẩy và chết phôi, chết thai, sẩy thai.

- Nhiệt độ phù hợp nái : 17 - 21oC

Thấy nóng :   - Tạo thông thoáng chuồng nuôi

                    - Phun nước nền chuồng

                    - Làm nước nhỏ giọt

Giai đoạn mang thai cần được nghỉ ngơi yên tĩnh, tránh kích thích va chạm mạnh. Tránh tiếng động làm lợn nái hoảng sợ, không nên để cắn nhau, nhảy phá chuồng.

Chửa kỳ II : 91 ngày đến đẻ :

Cần tăng dinh dưỡng để nuôi thai, lượng thức ăn cấp cho nái chửa trên 90 ngày cần tăng 45 - 55% so giai đoạn trước đó.

Chăm sóc nái đẻ nuôi con

Giai đoạn này lợn nái cần được cung cấp dinh dưỡng cao để tiết sữa nuôi con, chất dinh dưỡng cung cấp tạo ra sữa như : đạm, năng lượng, can xi, phốt pho. Nếu bị hụt, bắt buộc huy động từ cơ thể ra để tạo sữa, nên làm cho cơ thể gầy sút, giảm thể trọng mỗi lứa đẻ 12%.

Mức huy động can xi, phốt pho làm xương mềm yếu, gây bại liệt.

Khẩu phần giai đoạn này không đủ cơ thể sẽ huy động đạm để làm sữa ảnh hưởng đến cơ quan sinh dục như buồng trứng, các tuyến nội tiết. Hậu quả là : khả năng sinh sản thấp, các lứa đẻ kéo dài, chi phối kéo dài, số lợn con lứa sau giảm.

Chú ý :

- Điều chỉnh thức ăn hàng ngày để duy trì thể trọng cân đối của lợn nái giai đoạn chửa.

- Áp dụng các hướng dẫn pha trộn đúng quy trình của từng giống đạt hiệu quả tốt nhất.

- Nguyên liệu pha trộn đảm bảo tươi mới không bị chua mốc, vón cục hoặc nhiễm sâu mọt.

Nếu lợn nái có chửa cho ăn không đúng tiêu chuẩn (ăn quá nhiều) thì lúc nuôi con giảm tính thèm ăn, độ ngon miệng, nái không được ăn nhiều.

Về chăm sóc lợn nái nuôi con :

Cần tạo môi trường cho phù hợp để nái ăn được nhiều và tiết sữa tốt, nhiệt độ môi trường và nguồn cung cấp nước uống là 2 yếu tố ảnh hưởng đến mức ăn, sức khoẻ và khả năng tiết sữa của nái.

Nhiệt độ thích hợp 17-21oC nếu nóng quá làm nái giảm ăn, tiết sữa kém, dễ mắc bệnh. Nếu nóng kéo dài, nái dễ bỏ ăn và mất sữa. Lợn con còi cọc, ỉa chảy.

Khắc phục thời tiết nắng nóng bằng cách tạo thông thoáng chuồng nuôi, quạt mát, cung cấp nước đầy đủ, thời tiết lạnh tránh gió lùa, độn lót chuồng chống lạnh cho lợn con, nên cho lợn mẹ ăn bổ sung vào ban đêm khi trời mát.

3. Chăm sóc lợn con sơ sinh :

Chăm sóc lợn con sơ sinh có ý nghĩa rất quan trọng, đây là giai đoạn khởi động, nó ảnh hưởng đến sức khoẻ năng suất sau này của lợn trưởng thành, sức khoẻ, năng suất của lợn con phụ thuộc 2 yếu tố chính là : sữa mẹ, môi trường.

3.1. Sữa mẹ : Khi sinh ra bắt buộc lợn con phải được bú sữa đầu vì nó giúp cho lợn con nhận được kháng thể của lợn mẹ truyền cho để chống đỡ bệnh tật, lượng sữa đầu tốt nhất là trong vòng 24 giờ sau khi sinh.

Để lợn con bú được tốt cần lưu ý các điểm sau :

- Bầu vú lợn mẹ cần được lau chùi sạch sẽ.

- Cần sắp xếp con yếu bú bằng vú đầu

- Xoa bóp kích thích đầu vú để lợn mẹ tiết sữa được thoải mái.

- Tránh để lợn mẹ, lợn con hoảng sợ.

3.2. Môi trường :

Nhiệt độ, độ ẩm ảnh hưởng rất lớn đến sức khoẻ lợn con, lợn con chỉ khoẻ mạnh khi nhiệt độ và môi trường thích hợp. Nếu nhiệt độ lạnh lợn con sẽ đau bụng, tiêu chảy, viêm phổi.

Nhiệt độ phù hợp cho lợn nái chửa, nái đẻ và nái nuôi con :

Loại lợn

Nhiệt độ phù hợp (oC)

Nhiệt độ thấp mà lợn có thể chịu đựng được

Nái chửa

17-21oC

13oC

Nái đẻ

17-21oC

13oC

Lợn con theo mẹ (1-7 ngày)

32-35oC

28oC

Lợn con theo mẹ (7-21 ngày)

31-32oC

27oC

Lợn con theo mẹ (21-45 ngày)

28-31oC

24oC

Vậy ta phải tạo nhiệt độ thích hợp cho lợn mẹ, lợn con.

- Đối với lợn con cần được sưởi ấm, ngăn gió lùa đảm bảo nhiệt độ thích hợp, tránh nóng quá, lạnh quá.

- Đối với lợn mẹ cần tạo không khí thông thoáng.

Quan sát đàn con : Nếu đủ nhiệt độ lợn con ngủ yên, nếu bị lạnh đàn con sẽ chồng đống lên nhau, ỉa phân bừa bãi, cắn tai, cắn đuôi nhau.

Về chế độ ăn : Chuồng lợn nái nuôi con cần khô ráo sạch sẽ. Nếu nền chuồng ẩm ướt cùng nước tiểu nước rửa chuồng, nước phân sẽ làm gia tăng dịch bệnh cho đàn lợn. Đặc biệt chú ý trong thời gian cho con bú không được tắm cho lợn mẹ và con.

4. Nuôi dưỡng lợn con :

4.1. Tập ăn :

Sau đẻ 10 ngày cho lợn con tập ăn vì sau 21 ngày tiết sữa, lượng sữa tốt nhất của mẹ giảm dần. Nó chỉ đáp ứng được dưới 95% nhu cầu dinh dưỡng của lợn con.

Cho lợn con ăn sớm, thức ăn tập ăn sẽ kích thích hệ tiêu hoá (các men tiêu hoá) lợn con sớm phát triển.

Các bước tiến hành lợn con tập ăn đạt kết quả cần các yếu tố như :

+ Chất lượng thức ăn tốt, mùi thơm ngon dễ tiêu hoá không bị tiêu chảy.

+ Dụng cụ phương tiện : Thức ăn giàu đạm dinh dưỡng cao nên rất dễ hư hỏng, mốc, ôi, thiu nên dụng cụ phải sạch. Lợn con dễ lấy được thức ăn, dễ rửa vệ sinh, không để lợn con cho chân vào máng ăn. Không để thức ăn rơi vãi ra ngoài, để máng lợn con ăn xa lợn mẹ.

+ Cung cấp nước sạch : Đảm bảo nước sạch tránh lợn con tiêu chảy. Không để thức ăn tồn lâu trong máng.

4.2. Cai sữa lợn con :

Cai sữa lợn con để giảm sự hao mòn cơ thể lợn mẹ. Tránh được nguy cơ yếu chân và giảm số con tiếp theo, tăng lứa đẻ, giảm chi phí thức ăn.

Tiến hành cai sữa sớm : Quá trình tập ăn kéo dài 2 tuần, quá trình cai sữa sớm cần từ từ tránh đột ngột, giảm dần số lần bú.

Tạo môi trường thích hợp : Khi cai sữa lợn con cần đảm bảo nhiệt độ tốt, giữ ẩm, tránh nóng quá, nền chuồng khô ráo không tắm cho lợn con, mật độ chuồng nuôi 4-5 con/m2.

- Về dinh dưỡng : Đảm bảo về tiêu hoá, bổ sung thêm một số kháng sinh phòng tiêu chảy của lợn.

- Khâu nước : Cần đủ cho lợn uống nên lắp núm tự động cho lợn con uống, cho lợn con ăn đúng loại thức ăn hướng dẫn của các công ty thức ăn.


 

Theo dongtamxanh.com.vn

Mùa xuân, cá nuôi ao thường mắc các bệnh và cách phòng trừ


1. Bệnh xuất huyết ở cá chép

Triệu chứng bệnh: Dưới lớp vảy cá ở phần bụng, phần đuôi và vây cá bị xung huyết chuyển sang màu hồng. Cá mắc bệnh nổi lên gần tầng nước lạnh hoặc nổi hẳn lên mặt nước, tụ thành bầy đàn, tốc độ bơi giảm dần rất dễ chết.  

(1) Bệnh bại huyết: Cá bệnh bề ngoài trông bình thường hoặc phía dưới lớp vảy ở vùng bụng bị xung huyết phát hồng, khi giải phẫu cá mắc bệnh thấy bên trong cơ thể ứa ra máu loãng, các nội tạng trong cơ thể có những đốm tụ huyết. Loại bệnh này do một loại vi khuẩn có tên Aeromonas gây nên.

(2) Bệnh xuất huyết mang cá: Các tơ ở mang cá bị sưng lên, toàn bộ tơ mang cá xuất hiện nhọt động mạch, màu sắc tơ mang cá bị nhạt đi, khi bệnh đã nặng dịch huyết có màu như màu cà phê, ngay cả khi nồng độ oxi hòa tan trong ao nuôi cá đầy đủ vẫn thấy xuất hiện hiện tượng cá nổi đầu lên mặt nước.

(3) Bệnh xuất huyết tính lặn: Khi cá mắc bệnh mới nổi lên mặt nước thì màu sắc vẫn bình thường, chất nhầy trên cơ thể rất ít, sau khi bắt nuôi trong hồ lưới từ 2 – 3 giờ, cơ thể cá xuất hiện hiện tượng xung huyết, trong đó có một bộ phận nhỏ hàm trên của cá chuyển sang màu hồng, nuôi trong hồ lưới khoảng 7 tiếng sau thì cá chết. Giải phẫu cá bệnh thấy trong gan cá có biểu hiện có mỡ trong gan, gan to hoặc chỉ có túi mật. Nguyên nhân gây ra loại bệnh này là do cho cá ăn thức ăn có hàm lượng protein cao một cách không khoa học trong một thời gian dài trong khi lượng thức ăn đó được cá tiêu thụ lại không cao gây nên.

(4) Bệnh xuất huyết tính trội: Cá mắc bệnh bị xung huyết ở bộ phận dưới vảy ở bụng, phần đuôi cá và mang cá; vây đuôi, vây lưng có màu hồng như máu. Khi giải phẫu cá bệnh thấy gan cá và túi mật sưng to, sắc nhạt. Nguyên nhân gây bệnh giống nguyên nhân gây bệnh xuất huyết tính lặn.

Phương pháp phòng và điều trị bệnh xuất huyết ở cá chép:

Loại bệnh này vào mùa xuân rất khó có thể trị khỏi, thời gian bệnh thường kéo dài, bình thường vào vụ hè thu mới có thể phát hiện để điều trị.

Cải thiện môi trường nước: Ngăn bờ và thay nước, định kỳ rắc bột vôi sống để tẩy trùng.

Rắc muối: 5 phút trước mỗi lần cho ăn, rắc xung quanh vùng khoảng 3 – 4 kg muối ăn, mỗi ngày 1 – 2 lần.

Tiêu độc cho cá: Lúc thả cá giống, tốt nhất nên dùng muối ăn và thuốc muối bột nở (Bicarbonate) tỉ lệ 3:2 hòa tan trong nước rồi ngâm cá giống trong dung dịch đó từ 5 – 10 phút.

2. Bệnh vảy thẳng đứng

Triệu chứng bệnh: Vảy cá mắc bệnh mở rộng ra phía ngoài, hình dạng bề ngoài con cá trông giống như quả thông, vảy cá bị phù thũng… Loại bệnh này thường có biến chứng thành bệnh trướng nước, noãn cầu lồi ra, vảy cá và thân cá thỉnh thoảng có hiện tượng xuất huyết, bụng trướng lên, trong ổ bụng có tích nước. Loại bệnh này do vi khuẩn Aeromonas gây ra.

Phương pháp trị bệnh:

(1) Cải thiện môi trường nước: Ngăn bờ và thay nước, định kỳ rắc bột vôi sống để tẩy trùng.

(2) Tiêu độc cho cá: Lúc thả cá giống, tốt nhất nên dùng muối ăn và thuốc muối bột nở (Bicarbonate) tỉ lệ 3:2 hòa tan trong nước, nồng độ 5% rồi ngâm cá giống trong dung dịch đó từ 10 – 15 phút.

(3) Tiêu độc cho nước nuôi cá: Khi trong ao có cá mắc bệnh, rắc bột tẩy trắng xuống ao (nồng độ thuốc là 1ppm).

(4) Cho cá ăn thuốc bổ: Cứ 100 kg cá cho ăn khoảng 5 gam thuốc chống khuẩn, cho ăn liên tục trong 5 – 7 ngày. Nếu như phối hợp trộn muối tiêu độc vào thức ăn thì hiệu quả càng cao hơn.


 

Theo thvm.vn

Những điều cần lưu ý khi nuôi gà


 

Trước nguy cơ dịch bệnh bùng phát trong mùa đông, những hộ chăn nuôi gà cần đảm bảo tốt yếu tố vệ sinh chuồng trại, phòng bệnh. Để việc chăn nuôi phát triển bền vững, bà con cần lưu ý một số vấn đề sau:

Con giống

Chọn con giống sạch bệnh, có xuất xứ rõ ràng, được lấy từ bố mẹ đã được tiêm phòng đầy đủ các loại vắc-xin.

Chuồng trại

Chuồng nuôi cách xa nhà ở, không nằm trên hướng gió chính so với nhà ở. Chuồng nuôi phải cách ly với môi trường xung quanh, không nuôi nhốt chung gà với các loại gia súc, gia cầm khác. Trước cửa ra vào phải có hố sát trùng bằng vôi bột hoặc các loại dung dịch sát trùng khác. Khu vực nuôi phải có hố ủ phân và xử lý chất thải, khu cách ly gà bệnh.

Thức ăn

Đối với gia cầm, thức ăn và nước uống rất quan trọng, đặc biệt trong giai đoạn gà còn nhỏ. Việc thay đổi thức ăn thường xuyên hoặc trong điều kiện chăn nuôi thiếu nước uống, không đảm bảo chất lượng, kém vệ sinh sẽ ảnh hưởng rất lớn đến sức khỏe, khả năng tăng trọng của gà. Do đó, phải quan tâm cho gà ăn đảm bảo đủ chất và lượng.

Chăm sóc, nuôi dưỡng

Để đảm bảo đàn gà phát triển tốt, không xảy ra dịch bệnh, từ giai đoạn gà con đến khi thả vườn phải lưu ý đến nhiệt độ, độ ẩm chuồng nuôi, gió lùa... Nhiệt độ phải phù hợp cho từng giai đoạn tuổi của gà, đảm bảo không bị lạnh hoặc quá nóng bức. Thức ăn, nước uống phải đảm bảo hợp vệ sinh, đủ nhu cầu dinh dưỡng cho từng giai đoạn sinh trưởng, hạn chế tối đa thay đổi thức ăn vì sẽ ảnh hưởng đến quá trình tiêu hóa và hấp thụ dinh dưỡng của gà.

Thú y

Đảm bảo tiêm phòng đầy đủ các loại vắc-xin theo khuyến cáo của cơ quan thú y. Ngoài ra, cần tăng cường các loại kháng sinh và thuốc bổ, thuốc trợ sức định kỳ trong trường hợp thời tiết thay đổi.

Theo kinhtenongthon.com.vn

 

Phòng trị bệnh tai xanh ở lợn

Hội chứng rối loạn sinh sản và hô hấp (PRRS, còn gọi là bệnh tai xanh). Đây là bệnh do virus gây ra, hiện chưa có phác đồ điều trị.

Tác nhân gây bệnh: Bình thường, đại thực bào sẽ tiêu diệt tất cả vi khuẩn, virus xâm nhập vào cơ thể. Tuy nhiên virus PRRS có thể nhân lên trong đại thực bào, sau đó phá huỷ và giết chết đại thực bào (tới 40%). Đại thực bào bị giết sẽ làm giảm chức năng của hệ thống bảo vệ cơ thể và làm tăng nguy cơ bị nhiễm các bệnh kế phát. Điều này có thể thấy rõ ở những đàn vỗ béo hoặc chuẩn bị giết thịt có sự tăng đột biến về tỷ lệ viêm phổi.

Đường truyền lây: Virus có trong dịch mũi, nước bọt, tinh dịch (trong giai đoạn nhiễm trùng máu), phân, nước tiểu và phát tán ra môi trường. Ở lợn mẹ mang trùng, virus có thể lây nhiễm cho bào thai từ giai đoạn giữa thai kỳ trở đi; virus được bài thải qua nước bọt và sữa. Lợn trưởng thành có thể bài thải virus trong vòng 14 ngày, lợn con và lợn choai trong1 -2 tháng. Virus có thể phát tán thông qua các hình thức: vận chuyển lợn, theo gió (có thể đi xa tới 3km), bụi, bọt nước, dụng cụ chăn nuôi, thụ tinh và dụng cụ bảo hộ lao động nhiễm trùng và có thể do một số loài chim hoang.

Triệu chứng bệnh đối với lợn các giai đoạn

Lợn nái giai đoạn cạn sữa: Trong tháng đầu tiên khi bị nhiễm virus, lợn biếng ăn 7-14 ngày, sốt 39 – 400C, sảy thai thường vào giai đoạn cuối, tai chuyển màu xanh trong thời gian ngắn, đẻ non, động đực giả, chậm động dục trở lại sau khi đẻ, ho và có dấu hiệu của viêm phổi.

Lợn nái giai đoạn đẻ và nuôi con: Biếng ăn, lười uống nước, mất sữa và viêm vú, đẻ sớm khoảng 2-3 ngày, da biến màu, lờ đờ hoặc hôn mê, thai gỗ (10-15% thai chết trong 3-4 tuần cuối của thai kỳ), lợn con chết ngay sau khi sinh (30%), lợn con yếu, tai chuyển màu xanh. Tỷ lệ chết ở đàn con có thể tới 70% ở tuần thứ 3-4 sau khi xuất hiện triệu chứng. Rối loạn sinh sản có thể kéo dài 4-8 tháng trước khi trở lại bình thường.

Lợn đực giống: Bỏ ăn, sốt, đờ đẫn hoặc hôn mê, giảm hưng phấn hoặc mất tính dục, lượng tinh dịch ít, chất lượng tinh kém và cho lợn con sinh ra nhỏ.

Lợn con theo mẹ: Thể trạng gày yếu, nhanh chóng rơi vào trạng thái tụt đường huyết do không bú được, mắt có dỉ màu nâu, trên da có vết phồng rộp, tiêu chảy nhiều, giảm số lợn con sống sót, tăng nguy cơ mắc các bệnh về hô hấp, chân choãi ra, đi run rẩy...

Lợn con cai sữa và lợn choai: Chán ăn, ho nhẹ, lông xác xơ...

Điều trị: Hiện nay, vẫn chưa có thuốc đặc trị để điều trị bệnh này. Có thể sử dụng một số thuốc tăng cường sức đề kháng, điều trị triệu chứng và chủ yếu ngăn ngừa nhiễm bệnh kế phát.

Phòng bệnh. Chủ động phòng bệnh bằng cách áp dụng các biện pháp an toàn sinh học, chuồng trại phải thoáng mát về mùa hè, ấm vào mùa đông, tăng cường chế độ dinh dưỡng, mua lợn giống từ những cơ sở đảm bảo, thiết lập hệ thống chuồng nuôi cách ly ít nhất 8 tuần, hạn chế khách tham quan, sử dụng bảo hộ lao động, không mượn dụng cụ chăn nuôi của các trại khác, thực hiện “cùng nhập, cùng xuất” lợn và để trống chuồng, thường xuyên tiêu độc khử trùng chuồng nuôi... Một biện pháp hiệu quả là tiêm phòng vắcxin. Hiện có vắcxin nhược độc dùng cho lợn con sau cai sữa, lợn nái không mang thai, lợn hậu bị

Bệnh chưa có phác đồ điều trị, người dân các địa phương đang trị bệnh cho lợn bằng cách dùng thuốc kháng sinh liều nhẹ, thuốc lợi tiểu, cho lợn ăn các chất dễ tiêu nhằm đào thải virút. Phương pháp này cũng tạm cho kết quả khả quan, giúp lợn thuyên giảm bệnh.


 

Theo kinhtenongthon.com.vn


 

Phòng trị sâu đục thân bưởi


 

S âu đục thân bưởi thường đục cành nhỏ trên tán lá, rồi đục dần vào cành lớn, đến thân và có loại đục vòng quanh gốc ăn lớp vỏ, ngăn cản quá trình vận chuyển lưu thông dinh dưỡng và chất hữu cơ, làm cây bị rối loạn trao đổi chất, tán lá héo xanh, héo vàng và có thể làm cho cây bị chết. Kinh nghiệm phòng, trị loại sâu đục thân hại bưởi như sau:

    Bón phân cân đối giữa đạm, lân và kali cho cây, tránh bón quá nhiều đạm hấp dẫn sâu đến phá hại. Định kỳ 15-20 ngày trong các tháng mùa mưa từ tháng 4 đến tháng 10 hàng năm, kiểm tra tán cây, gốc cây để phát hiện sớm khi sâu hại để có biện pháp phòng trừ thích hợp.

Thường xuyên vệ sinh, nhặt sạch cỏ dại quanh gốc cây ít nhất cách gốc 50cm để dễ dàng phát hiện sớm vết sâu cắn và mùn gỗ, phân sâu thải ra bên ngoài, có biện pháp tiêu diệt kịp thời.

    Quét vôi quanh gốc cây định kỳ 1-2 tháng/lần, đoạn sát mặt đất cao 80-100cm, lớp vôi bám vào vỏ cây ngăn không cho sâu đục thân trưởng thành (một loại xén tóc) đến đẻ trứng vào lớp vỏ của gốc cây.

Buổi tối 19-21 giờ thắp bóng điện sáng ở giữa vườn, xén tóc có tính hướng quang sẽ bay đến, dùng vợt bắt đem giết, hạn chế chúng đẻ trứng.

Kinh nghiệm phát hiện và diệt sâu hại của những người làm vườn là: Sâu non của sâu đục thân tuổi nhỏ đục những cành tăm trên tán làm héo ngọn cành. Sâu đục dần xuống cành to và thân thải phân qua các lỗ đục ra ngoài. Sâu non đục gốc mới hại nhìn thấy một lớp mùn gỗ nhỏ màu nâu trắng bám vòng quanh gốc cây, lấy tay gạt lớp mùn cưa này thấy vết sâu ăn lỗ chỗ vỏ cây. Sâu còn nhỏ thường ở tuổi 1-3, kích thước bằng chiếc kim đến cái tăm, dài 3-10mm màu trắng sữa đến đỏ nâu. Khi thấy cành to của cây hay toàn cây cằn cỗi, lá chuyển sang màu vàng là lúc sâu tuổi lớn 4-5, đục sâu vào cành lớn, thân cây hoặc vòng quanh gốc, phân rơi nhiều quanh vết sâu đục; sâu non đẫy sức gần bằng chiếc đũa ăn cơm, dài 50-100mm, màu vàng ngà, chuẩn bị hoá nhộng trong lỗ đục ở thân hoặc gốc cây.

Cách trị sâu: Khi phát hiện thấy sâu hại, bẻ cành tăm héo bắt sâu non. Dùng mũi dao, ngọn mây hoặc dây phanh lụa xe đạp luồn quanh vết sâu đục chọc chết sâu ở thân cành hay gốc cây. Có thể hoà thuốc trừ sâu loại có tác dụng tiếp xúc mạnh với nồng độ cao 5-10%, độ độc với người thấp như: Sokupi 0,36AS; Sherpa 25EC; Abamectin 36EC… cho vào bơm tiêm nhỏ tiêm vào lỗ sâu đục để diệt sâu.

Theo dongtamxanh.com.vn

 

Phòng trừ sâu bệnh cho táo

Vào mùa hè (từ tháng 4-8), khi phát hiện có sâu cắn lá, sâu cuốn lá hoặc nhện đỏ, phải tiến hành phun thuốc Wafatox pha loãng theo tỉ lệ 0,1%, tốt nhất là phun định kỳ 15 ngày/lần. Trước khi táo ra hoa rộ khoảng tháng 8-9, dù không có sâu vẫn nên phun thuốc để đề phòng sâu đục quả non.

Trong thời gian táo ra hoa rộ, nên hạn chế phun thuốc để tránh hiện tượng rụng hoa. Khi táo có quả non, nếu phát hiện có sâu đục quả thì có thể phun Bi 58 pha loãng, nồng độ khoảng 0,07%. Trong tháng 6-7, thường xuất hiện xén tóc đẻ trứng vào thân cây và sâu non gặm vỏ tạo thành đường xoắn trôn ốc xung quanh thân cây, cắt đứt đường vận chuyển nhựa từ trên xuống làm cây bị vàng và chết. Diệt trừ bằng cách dùng mũi dao sắc rạch theo đường sâu gặm để bắt sâu non, rồi dùng Wofatox pha với tỉ lệ 0,2% bôi vào chỗ gặm. Để đề phòng loại sâu này, hàng năm khi đốn cây, dùng 100g Basudin hoà vào 10 lít nước trộn với phân bò hoặc đất sét quét lên thân cây từ mặt đất lên cao 1m. Không nên trộn với vôi sẽ làm thuốc mất hiệu quả. Khi phát hiện cành lá bị héo đột ngột, phải nghĩ ngay tới sâu đục thân, cành, cách phòng trừ chính là kiểm tra thường xuyên, cắt bỏ kịp thời những cành bị sâu và tiêu diệt sâu non.

Bệnh hại táo hiện có 2 loại:

- Bệnh phấn trắng ở lá: Thường phát triển trên lá non, khi gặp điều kiện độ ẩm không khí cao (trên 85%) và nhiệt độ thấp (dưới 200C). Tác hại của bệnh này không lớn, vì mùa sinh bệnh là mùa táo ở thời kỳ nuôi quả, cành lá già ít nhiễm bệnh.

Phòng trừ bệnh phấn trắng trên lá chủ yếu bằng cách cắt tỉa những cành lá bị bệnh. Cách phòng bệnh tốt nhất là với cây giống nên ghép muộn sau tháng 9 và với cây trồng ở vườn không nên đốn cành quá sớm, vì cành lá non nảy lên gặp điều kiện nhiệt độ thấp (dưới 200C) dễ bị nhiễm bệnh).

- Bệnh thối quả: Bệnh thường phát sinh khi quả già sắp chín. Quả bị bệnh thối rất nhanh (trong 1 tuần có thể thối hết quả trên cây).

Nếu thấy quả thâm đen ủng nước là do vi khuẩn Erwinia gây nên (quả thâm đen ủng nước). Trường hợp quả bị héo, nhăn nheo hơi khô, như bị mất nước, có thể do nấm Phytophthora cactorum gây ra.

Hiện nay chưa có biện pháp phòng trừ triệt để bệnh thối quả cho táo. Muốn hạn chế bệnh phát triển, cần lưu ý thời kỳ táo có quả nên thường xuyên cắt tỉa những cành lá vô hiệu và quả sâu, héo nhăn nheo để cho tán cây thoáng gió và hứng nhiều ánh sáng.


 

Theo khoahocchonhanong.com.vn

Phương pháp chăn nuôi gà công nghiệp


 

I. Con giống:

Hiện nay công ty chúng tôi đang có bán các giống gà cao sản rất có uy tín trên thị trường như sau:

1. Giống gà ISA 30 MPK (bố mẹ và thương phẩm).

Được nhập từ nước cộng hoà Pháp, năng suất cao, trọng lượng thương phẩm đạt 2,8 - 3.0 kg ở 49 ngày tuổi. Tiêu tốn thức ăn thấp: 1,8 - 2,1 kg/1kg trọng lượng.

Đây là giống gà cao sản có tốc độ phát triển nhanh, ngoại hình đẹp, lườn rộng, tỉ lệ thịt xẻ cao, tỉ lệ mỡ thấp, sức kháng bệnh tốt, hoàn toàn thích nghi với điều kiện khí hậu Việt Nam.

2. Giống gà vàng 882.

Giống gà vàng 882 đời ông bà và bố mẹ của công ty giống gia cầm Lương Mỹ được nhập từ Công ty gia cầm Bạch Vân - Trung Quốc. Giống gà này được nuôi rộng rãi ở hầu hết các tỉnh của Trung Quốc.

Đặc trưng chủ yếu của giống gà này là: Lông màu vàng, chân vàng, da vàng, thân hình chữ nhật, thịt thơm ngon. Đồng thời có sức chống bệnh tốt, tỉ lệ nuôi sống cao, chi phí thức ăn thấp, được người tiêu dùng ưa thích.

3. Giống gà siêu trứng HY_LINE và BABCOCK_B 380.

Được nhập từ Mỹ và nước Cộng hoà pháp, là giống gà có sản lượng trứng cao nhất hiện nay. Số lượng trứng bình quân trên mái tính đến 76 tuần đạt từ 326 - 339 quả. Tỷ lệ đẻ đỉnh cao từ 93- 96%.

Lượng thức ăn tiêu thụ/ 10 quả trứng từ 1,4 - 1,5 kg. Trứng gà màu nâu, lòng đỏ có màu vàng sậm rất được thị trường ưa chuộng.

Giống gà siêu trứng có khả năng đề kháng cao, tính tình hiền lành dễ thích nghi với mọi hình thức chăn nuôi tại Việt Nam.

II. Chuồng trại và vệ sinh thú y.

1. Chuồng trại và trang thiết bị.

a. Chuồng trại: Tuỳ theo quy mô và mục đích sử dụng mà chuồng trại có thể cải tạo hoặc xây mới. Tuy nhiên chuồng trại phải đảm bảo các tiêu chuẩn kỹ thuật sau:

- Chuồng trại xây dựng nơi cao ráo thoáng mát. Đặc biệt quan tâm đến hướng, độ cao và độ thông thoáng của chuồng trong điều kiện khí hậu nước ta có nắng nóng và mưa phùn gió bắc.

- Nền chuồng: Cao ráo sạch sẽ, nền lát gạch để chống ẩm và dễ vệ sinh.

- Vị trí xây dựng cần xa khu dân cư, đường xá hay các khu chăn nuôi khác. Trước cửa chuồng phải có hố hoặc khay sát trùng. Nên có tường rào bảo vệ, chống chuột, thú hoang và các nguồn lây nhiễm khác.

- Có nguồn nước sạch không bị ô nhiễm.

b. Trang thiết bị:

- Rèm che: Bằng bạt, bao tải ... dùng che gió, mưa, nắng và giữ ấm cho gà trong mùa rét.

- Quây gà: Dùng khi úm gà con thường là cót, cót ép...

- Nguồn sưởi: Bóng điện, bóng sưởi ... nếu lò than hay củi cần thông khói tốt.

- Máng uống: Khi gà còn nhỏ dùng máng uống galon nhỏ. Sang tuần tuổi thứ hai thay bằng máng uống galon to hoặc máng uống dài.

- Máng ăn: Tuần tuổi đầu dùng khay tôn hoặc bằng mẹt. Từ tuần tuổi thứ hai, dùng máng P50 hay máng ăn đóng bằng gỗ.

- Chất độn chuồng: Có thể dùng trấu, phôi bào phải khô sạch ... lớp độn dầy 8-10cm.

2. Vệ sinh thú y.

Muốn loại trừ hoặc giảm thiểu bệnh tật thì khâu vệ sinh sạch sẽ toàn trại rất cần thiết:

- Khi chưa có gà: Quét dọn và rửa sạch toàn bộ chuồng nuôi, sau đó quét sulphát đồng (CuSO4) 5% và vôi đặc 20% từ 2-3 lần. Để khô, phun formol 5% hoặc xông formol và thuốc tím (KMnO4). Thời gian để trống chuồng tối thiểu 2 tuần. Các trang thiết bị khác cũng vệ sinh sát trùng toàn bộ bằng formol 1 %.

- Khi có gà nuôi: Khu vực chuồng nuôi luôn thoáng sạch, không ẩm thấp. Cửa chuồng có hố sát trùng bằng crezin 3% hoặc vôi bột. Không cho người ngoài, gia súc khác tiếp xúc hay lại gần khu chăn nuôi. Hết sức hạn chế khách tham quan, xem xét.

Theo Công ty giống gia cầm Lương Mỹ

 

Phương pháp nuôi gà vừa nhanh, thịt nhiều lại đẻ trứng to


 

Đ ể miễn dịch cho gà con 18 ngày tuổi (từ khi gà nở) ta thực hiện tiêm vacxin vào phôi thai bằng cách quét giấm lên một điểm trên vỏ trứng, khi vỏ trứng mềm lại thì tiến hành tiêm vacxin. Việc làm này giúp gà con nở ra có khả năng phòng bệnh rất cao.

Để giảm tỉ lệ tử vong của gà con, trong 15 ngày từ khi trứng nở ta cho gà uống nước có thêm 8% dung dịch đường mía (đường sucroza).

Gà nở trong vòng 24 giờ tiến hành cắt mào gà mái, việc làm này có thể giúp tiết kiệm thức ăn và tránh các tổn thương ở mào gà sau khi gà trưởng thành. Đồng thời nó còn giúp tăng 4% tỉ lệ đẻ trứng ở gà mẹ sau khi bắt đầu sinh sản.

Để vỗ béo gà thịt ta nên cắt cánh gà từ 2-20 ngày tuổi. Trước khi tiến hành cắt thực hiện dừng ăn, uống cho gà, dùng dây buộc chặt cánh gà phòng chảy máu quá nhiều, sau đó dùng dao đã khử trùng cắt bỏ phần cánh từ khớp xương, chỗ vết thương bôi bột kháng viêm và thuốc tím. Sau đó đặt gà ở nơi yên tĩnh có ánh sáng yếu, nhiệt độ ấm, hai ngày sau cho ăn cho uống, 1 tuần sau thì thả chung vào đàn. Loại gà không cánh này tiêu hao năng lượng ít, sinh trưởng nhanh, cơ bắp rắn chắc, tăng giá trị gà thịt.

Cho gà ăn Colin: Cho thêm chất Colin nồng độ 0,05% vào thức ăn của gà có thể tăng tỉ lệ đẻ trứng, trọng lượng trứng bình quân tăng 2,8 gam.

Thay đổi ảnh sáng trong vòng một tháng đầu khi gà mẹ đẻ trứng, lấy 28 giờ đồng hồ làm một ngày chu kì, cứ 12 giờ chiếu sáng lại có 16 giờ không có ánh sáng hoán đổi cho nhau, sự đẻ trứng có thể tăng bình quân 10%, đồng thời vỏ trứng sẽ chắc hơn, tỉ lệ đẻ trứng nhỏ là rất ít.

Theo hoinongdan.org.vn

 

Tác hại của bệnh lở mồm long móng và cách phòng bệnh

1. Tác hại của bệnh lở mồm long móng

Bệnh lở mồm long móng là bệnh truyền nhiễm nguy hiểm của gia súc do virus gây ra, có 7 typ virus phổ biến là typ O, gần đây có một số nơi xuất hiện thêm typ A. Các loại virus này đều cho triệu chứng bệnh tích giống nhau, chỉ phân biệt được chúng ở phòng thí nghiệm. Tính chất của bệnh là lây lan nhanh, mạnh thường phát thành những đợt dịch.

Trâu bò bị bệnh lở mồm long móng thì phải nghỉ cày kéo, ảnh hưởng đến thời vụ gieo trồng. Khi khỏi bệnh phải nghỉ hàng tháng mới lấy lại sức.

Những con bị long móng phải đi khập khễnh 2- 3 tháng, có khi thành tật, phải giết thịt.

Do bệnh tích của bệnh lở mồm long móng thể hiện ở miệng, ở vùng móng và ở vùng vú .Khi gia súc bị bệnh  thì núm vú, bầu vú bị sưng, da xung quanh có mụn đỏ và đau, 2- 6 ngày mụn vỡ tạo thành vết loét dễ gây viêm vú nhiễm trùng.Vì vậy đối với gia súc trong thời kỳ cho sữa,  khi mắc bệnh sẽ làm giảm lượng sữa, sức sinh sản kém, có khi bị sẩy thai; bê nghé, heo con sẽ chết do sốt cao, lở miệng không bú được, do mẹ mất sữa, do vi trùng kế phát làm viêm cơ tim, viêm đường tiêu hóa.

Nếu một vùng có bệnh lở mồm long móng xảy ra thì tất cả hàng hóa có nguồn gốc từ gia súc như thịt, da lông sừng, móng… và ngay cả các hàng nông sản trồng trong vùng đó như  gạo, bắp, đậu… đều không được phép xuất sang các nước khác. Do vậy một tỉnh hoặc một vùng có dịch không những thiệt hại về  mặt thương mại mà còn ảnh hưởng dây chuyền đến các tỉnh hoặc các vùng lân cận.

 Để phòng được bệnh này hằng năm Chi cục Thú Y triển khai tiêm phòng thường xuyên theo đợt. Đề nghị các hộ chăn nuôi nên liên hệ với cán bộ kỹ thuật viên nông nghiệp tại địa phương hoặc các Trạm Thú Y huyện, thành thị để được hướng dẫn cụ thể và tiêm phòng cho gia súc của mình là biện pháp tốt nhất để phòng chống bệnh lở mồm long móng.

2. Phòng bệnh lở mồm long móng

Cần áp dụng đồng bộ các biện pháp sau đây:

- Chẩn đoán sớm súc vật bị bệnh bằng các phương pháp chuẩn đoán như đã trình bày để phát hiện súc vật bị bệnh và súc vật mang trùng và tiêu huỷ để ngăn ngừa không có bệnh lây lan.

- Công bố dịch và bao vây ổ dịch, không cho vận chuyển súc vật từ vùng có dịch ra các vùng khác, ngược lại cũng không cho súc vật vào vùng có dịch.

- Cách ly súc vật khoẻ, triệt để tiêu hủy súc vật bị bệnh bằng các biện pháp mạnh như: giết chết, đốt xác, đổ một trong các loại thuốc sát trùng như Formol 3-5%, dung dịch xút 5%, Virkon 5%, Lodin 5% , vôi bột… rồi chôn sâu 3-4m.

- Chuồng trại và dụng cụ có súc vật bệnh phải tiêu độc bằng cách đốt rác, chất thải, phun một trong các thuốc sát trùng trên, rồi cũng chôn sâu như chôn xác súc vật sau khi đốt.

- Bãi chăn thả có súc vật ốm hoặc chết cũng phải tiêu độc như tiêu độc chuồng trại và dụng cụ, chủ yếu là phun các loại thuốc sát trùng liên tục 3-4 tuần lễ.

Xe cộ qua lại vùng dịch cũng phải phun thuốc diệt trùng.

- Lập các trạm kiểm soát tạm thời khi có dịch để cấm vận chuyển gia súc, sản phẩm từ súc vật (thịt, da) từ vùng có dịch vào khu vực không có dịch.

- Những người làm nhiệm vụ phải có trang bị bảo hộ như kính, khẩu trang, găng tay, áo bảo hộ, ủng. Sau khi ra khỏi ổ dịch, các trang bị phải để lại tiêu độc hoặc huỷ bỏ.

- Tiêm phòng văcxin cho đàn gia súc để tạo miễn dịch chủ động chống lại mầm bệnh.

 Ở nơi chưa có dịch, cần tiêm phòng văcxin vào các ổ dịch cũ, các tỉnh biên giới và quanh các trục đường giao thông lớn có nguy cơ nhiễm virus cao cho đàn gia súc. Người ta tiêm văcxin theo định kỳ 6 tháng/lần. Hiện có 3 loại văcxin, tuỳ điều kiện mà tiêm cho súc vật: văcxin chế từ typ O chỉ tiêm phòng cho lợn; văcxin chế từ typ virus A và Aasia 1 phòng bệnh cho trâu bò; văcxin chế từ các typ virus A, Aasia 1, O phòng bệnh cho cả trâu, bò, dê và lợn. Các khu vực khác trên thế giới, người ta chế tạo các văcxin từ các chủng virus gây bệnh cho các khu vực đó.

 - Thực hiện nghiêm ngặt công tác kiểm dịch động vật xuất nhập khẩu để phòng ngừa đưa mầm bệnh từ nước ngoài vào và ngược lại, từ trong nước ra, hạn chế được dịch lây lan từ nước này qua nước khác.

  Trên đây là các biện pháp tổng hợp phòng, chống bệnh lở mồm long móng mà các nước khu vực Đông Nam Á và thế giới đã và đang áp dụng có hiệu quả. Ở nước ta, các kinh nghiệm phòng, chống bệnh lở mồm long móng trên cũng đang được áp dụng để khống chế, dần dần đi đến thanh toán dịch lở mồm long móng có hiệu quả.

Nông nghiệp Việt nam


 

Trồng hoa lan kinh doanh

Hiện nay nghề trồng hoa lan phát triển rất mạnh. Hoa lan Việt Nam có rất nhiều chủng loại, mỗi loại mang một vẻ đẹp khác nhau. Mùi hương quyến rũ cùng với vẻ đẹp kiêu sa của chúng đã làm mê hoặc biết bao người. Có nhiều loài thích hợp trồng như Dendrobium, Phalaenopsis, Oncidium, Vanda, Cattleya… Đây là những loài ra hoa khỏe, đẹp và bền cây, cho thu hoạch liên tục. Nếu trồng lan để giải trí nên chọn :Dendrobium, Vũ nữ, Hồ điệp.

1 Thiết kế vườn:

- Nếu trồng để kinh doanh cần thiết kế khung giàn lan làm bằng sắt chắc chắn, đảm bảo bền, chống gió bão. Giàn che ánh sáng dùng lưới màu xám hay xanh đen. Giàn đặt chậu bằng sắt, giàn treo bằng tầm vông hay sắt ống nước. Hàng trồng nên thiết kế vuông góc với hướng đi của ánh nắng.

- Nếu trồng lan để chơi trên lan can, mái hiên, sân thượng cần đặt thêm các chậu cảnh khác như cau, mai chiếu thủy, nguyệt quế …,để giảm bớt sự khô nóng do ảnh hưởng của kết cấu bê tông, mái tôn xung quanh.


 

Thiết kế vườn trồng lan gia đình 


 

2. Chọn giống: Có rất nhiều loài:

- Loài thích hợp cho trồng lan kinh doanh là các giống: MoNaKa, Dendrobium, Phalaenopsis, Oncidium, Vanda, cattleya…,đâylà những loài hoa khỏe, đẹp và bền cây, cho ra hoa liên tục. Nên trồng nhiều chủng loại, nhiều màu sắc sẽ dễ tiêu thụ trên thị trường.


 

- Nếu trồng lan để chơi, giải trí nên trồng Dendrobium, Vũ nữ, Hồ điệp vì đây là những loài dễ chăm sóc và ra hoa.

- Trồng lan có thể nhân giống bằng nuôi cấy mô hay tách mầm, chọn tách mầm từ các chậu lan lớn, mỗi phần để 2-3 nhánh. Dùng dao sắc khử trùng bằng cồn, vết cắt cần gọn, sau cắt bôi vôi vào vết cắt cho nhanh lành sẹo.

3. Chuẩn bị giá thể và chậu:

Giá thể để trồng lan có thể dùng than gỗ, xơ dừa, vỏ đậu phộng.

+ Than gỗ nung chặt khúc, kích thước 1 x 2 x 3cm, đem ngâm, rửa sạch, phơi khô.

+ Xơ dừa xé tơi ngâm khoảng 1 tuần cho bớt tamin và mặn, phơi khô. Mụn dừa cần rửa sạch phơi khô. Vỏ dừa chặt khúc 1 x 2 x3cm xử lý nước vôi 5%.

+ Vỏ đậu xanh: Dùng vòi nước phun nhiều lần để lượt bỏ một số tạp chất, giảm nhiệt, chất dầu, sau đó cho vỏ đậu xanh vào chậu bằng nhựa hay khay đất nung, kích cở tùy loại và độ tuổi. Nếu trồng trên luống thì cho vỏ đậu vào luống dày 20cm. Nếu trồng kinh doanh thì dùng giá thể là vỏ đậu thì giá thành rẻ hơn. Ngoài ra vỏ đậu hút nước ít, độ ẩm vừa phải, lan ít bị nấm hơn.

4. Cách trồng:

- Trồng trên luống: Làm luống rộng 80cm, dài tùy khổ đất, cho vỏ đậu vào dày 20cm. Hai đầu luống có thể dùng cột bêtông hay cột sắt để căng dây cáp, mỗi luống cần 3 hàng dây cáp nhỏ trên thanh ngang để định vị cho cây lan. Có thể điều chỉnh độ cao của dây cáp theo sự phát triển của lan.

- Nếu dùng lan cấy mô thì khi lan mô đạt khoảng 4cm cần chuyển ra ngoài. Cây mô rửa sạch để trên miếng lưới hay rổ kê trên chậu nước để giữ mát cho cây con. Giai đoạn trồng chung trên giàn lấy xơ dừa bó xung quanh cây lan cấy mô, dùng dây thun cuốn lại rồi đặt lên giàn. Sau khi trồng trên giàn được 6 -7 tháng thì chuyển sang chậu nhỏ. Khoảng 6 tháng thì chuyển sang chậu lớn. Sau mỗi lần chuyển chậu khoảng 1 tuần mới được bón phân. Thay chậu còn tùy kích cỡ của cây, mức độ thối, hư mục rêu bám…

* Lưu ý: Lan trồng trong chậu lâu ngày ra hoa ít, cần dỡ lan ra khỏi chậu, cắt bớt các rễ già và quá dài, chuyển sang chậu mới, thay giá thể mới, lan sẽ sinh trưởng tốt và ra hoa trở lại.

5. Chăm sóc:

Lan là cây trồng dễ chăm sóc, nếu chúng ta đảm bảo được các điều kiện thuận lợi cho lan phát triển. Các yếu tố quan trọng nhất cho lan là ánh sáng, nước tưới, độ ẩm, chậu hay giá thể và dinh dưỡng.


 

- Ánh sáng: Lan không chịu ánh sáng mạnh, cần làm giàn lưới che bớt ánh sáng, khi mới trồng nên làm lưới che hai lớp. Ánh sáng khoảng 65 - 70% là tốt nhất. Sau khi trồng xong tưới nước luôn (tưới phun sương) và duy trì 2 lần/ngày. Sau trồng 3 ngày tưới vitamin B1, pha 1cc/lít để kích thích ra rễ. Sau 7 ngày tưới phân NPK 30 – 10 – 10, liều lượng 5 – 10g pha vào bình 8 lít để phun. Khi cây nảy chồi mới, cây ra rễ nhiều ta tăng lượng phân bón.

- Phân bón: Lan rất cần phân bón nhưng không chịu được nồng độ dinh dưỡng cao, vì vậy bón phân cho lan phải thực hiện thường xuyên và tốt nhất là bằng cách phun qua lá. Phân bón cho lan phải chứa đầy đủ các chất dinh dưỡng đa, trung và vi lượng với thành phần và tỷ lệ phù hợp với từng thời kỳ sinh trưởng và phát triển của cây. Nguyên tắc chung là lan trong thời kỳ sinh trưởng thân lá mạnh cần đạm cao, lân và kali thấp, trước khi ra hoa cần lân và kali cao, đạm thấp trong khi lan nở hoa cần kali cao, lân và đạm thấp hơn. Phân bón thích hợp cho các thời kỳ này là Đầu Trâu 501, 701 và 901, đây là loại phân có đầy đủ và cân đối đa, trung, vi lượng và các chất điều hòa sinh trưởng. Nồng độ và liều lượng phun tùy thuộc tuổi và thời kỳ phát triển.

- Tưới nước: Lan rất cần nước cho quá trình sinh trưởng phát triển. Nếu thiếu nước cây sẽ khô héo, giả hành teo lại, lá rụng nhưng không chết. Thừa nước, cây dễ bị thối đọt nhất là với các giống lan có lá đứng mọc sít nhau. Quá nhiều nước rễ có rong rêu và nấm bệnh phát triển mạnh. Nước tưới cho lan không quá mặn, phèn và clor dưới ngưỡng cho phép, pH 5,6. Chỉ tưới nước đủ ẩm, nên tưới vào sáng sớm hay chiều mát, tránh tưới buổi trưa khi trời đang nắng nóng. Sau những trận mưa bất thường, nhất là mưa đầu mùa cần tưới lại ngay để rửa bớt các chất cặn đọng lại trên thân lá.

- Phòng trừ sâu bệnh: Lan là cây cũng dễ bị sâu bệnh, nhất là trong điều kiện chăm sóc kém, điều kiện môi trường không thuận lợi. Tùy theo từng loại sâu bệnh mà dùng các loại thuốc thích hợp. Liều lượng và nồng độ phun cần theo đúng hướng dẫn trên bao bì sản phẩm. Nếu lan bị các loại sâu hại thân lá có thể dùng các thuốc chứa hoạt chất Fenitrothion, Trichlorfon như Ofatox 400EC, hoạt chất Cartap như Patox 95SP hay Captafon, Captan hoặc Actara 25WG. Lan bị rệp sáp, rệp trắng, rầy mềm dùng Supracid 40ED/ND, Suprathion 40EC, Bitox 40EC hay Ofatox 400EC. Lan bị nấm, vi khuẩn hay virus gây nên tình trạng cháy lá từng đám, vết cháy lan tròn dần, bệnh thối rễ dùng Zinep, Starner 20 WP hay Benomyl.

6. Thu hoạch và bảo quản hoa:

Hoa cắt cành ngâm trong dung dịch khoảng 15phút giúp hoa lâu héo, sau đó bọc lại bằng giấy báo./.

Nguồn Internet 


 

Tự chế biến thức ăn cho cá

( Nguồn: http://khcncaobang.gov.vn/index.php?option=com_docman&task=cat_view&gid=83&Itemid=156 ).

Hiện nay nhiều gia đình nuôi cá thịt thường mua thức ăn viên của các cơ sở chế biến thức ăn. Giá thức ăn cho cá ngày một tăng cao làm cho người nuôi cá không có lãi, thậm chí bị lỗ.

Vì vậy, tự chế biến thức ăn cho cá bằng các nguyên liệu sẵn có, rẻ tiền sẽ làm hạ giá thành sản xuất. Việc làm này bảo đảm cho cá đủ dinh dưỡng và phát triển tốt, đồng thời cũng giảm được một khoản chi phí không cần thiết do phải mua thức ăn cho cá. Người nuôi trồng thủy sản nên dùng những nguồn động, thực vật có sẵn để chế biến thức ăn, giảm chi phí chăn nuôi, không gây lãng phí và ô nhiễm môi trường.

Dưới đây là một số cách làm thức ăn cho cá:

Thức ăn tươi, có thể sử dụng loại thức ăn, như các loại rau xanh, cỏ, cá tạp, cám, lúa ngâm mộng, đầu vỏ tôm, ốc bươu vàng... Các loại thức ăn này khi chế biến chỉ cần rửa sạch, băm hoặc nghiền vừa cỡ với miệng cá, rồi cho cá ăn ngay khi còn tươi. Loại thức ăn này thích hợp với các loại cá như trê, trắm cỏ, chim trắng, rô phi, chép...

Những loại thức ăn dạng bột, lựa chọn mắt sàng của máy nghiền có kích thước phù hợp với yêu cầu rồi đưa các nguyên liệu khô vào máy nghiền nhỏ. Đối với các loại thức ăn đơn, sau khi nghiền có thể đóng gói vào bao để dùng dần. Đối với các loại thức ăn hỗn hợp sau khi nghiền, phối trộn các loại nguyên liệu theo công thức rồi đóng bao. Khi dùng, có thể tung cho cá ăn dạng bột, trộn nước vừa đủ để nắm lại thành nắm rồi thả xuống ao cho cá. Vì thức ăn dạng bột cho cá ăn ngay thì hiệu quả sử dụng thức ăn rất thấp, chỉ đạt 20-25% nên có thể dùng để tiếp tục chế biến.

Ở dạng viên, các nguyên liệu khô được phối trộn theo công thức, sau đó trộn với nước đến đủ ẩm rồi đưa vào máy ép viên. Sau khi tạo viên xong, thức ăn được phơi nắng hoặc sấy khô rồi đóng bao cho cá ăn dần. Hiện nay, một số đơn vị đã sản xuất được các máy ép thức ăn dạng viên, các hộ nuôi trồng thủy sản có thể mua vì các máy này có ưu điểm là rẻ tiền, gọn, dễ sử dụng và công suất phù hợp với quy mô sản xuất trong gia đình. Với những thức ăn chín, từ các loại thức ăn dạng bột, thức ăn tươi người nuôi có thể nấu chín để cho cá ăn.

Các loại bột mịn nấu chín thành dạng chất loãng dùng cho cá bột. Trộn các nguyên liệu dạng bột với các loại nguyên liệu tươi nấu chín thành dạng đặc để cho các loại cá ăn. Chế biến thức ăn lên men, các loại nguyên liệu được nấu chín hoặc trộn đủ ẩm, cấy giống nấm men, ủ kín 3-5 ngày. Các loại thức ăn ủ men có đặc điểm là có mùi vị thơm, giá trị dinh dưỡng cao, dễ tiêu hóa và kích thích tính thèm ăn của cá. Loại thức ăn này không thể bảo quản lâu nên mỗi lần ủ cho cá ăn trong khoảng 2-3 ngày.

Theo nongthon.net

KT nuôi, trồng các loại cây, con, theo nguồn:

 

http://khcncaobang.gov.vn/index.php?option=com_docman&task=cat_view&gid=86&Itemid=154

http://khcncaobang.gov.vn/index.php?option=com_docman&task=cat_view&gid=85&Itemid=154

 


 


 

 

93