DMCA.com Protection Status

Lịch sử Đoàn TNCS Hồ Chí Minh  quan tâm

Được đăng bởi: Trần Việt Thao

Cập nhật lúc 14:15 ngày 05/01/2018

Lịch sử Đoàn TNCS Hồ Chí Minh.

( Nguồn: http://huyendoanmyloc.web.officelive.com/Camnang.aspx ).


CHƯƠNG I
NGUYẾN ÁI QUỐC VÀ TỔ CHỨC VIỆT NAM THANH NIÊN CÁCH MẠNG ĐỒNG CHÍ HỘI VỚI QUÁ TRÌNH CHUẨN BỊ THÀNH LẬP ĐOÀN

---

Sau đại chiến thế giới lần thứ nhất, thực dân Pháp ráo riết thực hiện chính sách bóc lột hết sức tàn bạo nhằm vơ vét sức người, sức của ở Việt Nam. Trong thân phận người dân mất nước, cũng như cha anh mình, tuổi trẻ Việt Nam hồi đầu thế kỷ phải sống dưới gông cùm nô lệ. Ở mọi lĩnh vực kinh tế, xã hội, thanh niên là lực lượng lao động chủ yếu và là lớp người bị áp bức, bóc lột nặng nề nhất. Báo cáo ngày 17-7-1928 của Đơ Lama gửi cho Phủ toàn quyền Đông Dương về tình hình “cu li” ở đồn điền cao su Michelin (Nam Kỳ) có đoạn viết:

Một đứa tên là Trần Văn Chung 20 tuổi mang trên vai 8 cái sẹo của đầu gậy bổ sâu vào thịt. Một đứa khác tên là Vũ Viết Thu 21 tuổi mang trên vai 50 vết roi cá đuối”.

Các tầng lớp thanh niên khác, nhất là thanh niên nông dân đều cùng chung cảnh ngộ bị đọa đầy dưới ách thực dân, phong kiến. Không thể cam chịu mãi cảnh sống cơ cực nước mất, nhà tan, các phong trào yêu nước của nhân dân và thanh niên ta không ngừng phát triển ngày càng mạnh mẽ làm cho kẻ thù lo sợ và điên cuồng đối phó.

Song, trước sau do thiếu một đường lối đúng đắn, một tổ chức chặt chẽ nên cuối cùng các phong trào đấu tranh bị kẻ thù dìm trong biển máu. Tình trạng khủng hoảng về lãnh đạo đòi hỏi phải được giải quyết để đưa cách mạng nước ta tiến lên. Đúng vào thời điểm này, người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành, sau lấy tên là Nguyễn Ái Quốc đã mở đầu cuộc hành trình hết sức quả cảm và gian lao tìm đường cứu nước, cứu dân...

Giữa năm 1911, ở tuổi 20, Nguyễn Ái Quốc xuống tàu Latusơ Tơrêvin tại cảng Nhà Rồng (Sài Gòn) đi ra nước ngoài với ý thức tìm hiểu nước Pháp và các nước khác làm thế nào mà trở nên độc lập, hùng cường rồi sẽ “trở về nước, đi vào quần chúng, thức tỉnh họ, tổ chức, đoàn kết và huấn luyện để đưa họ đấu tranh giành quyền tự do, độc lập”. Nguyễn Ái Quốc đã đến Pháp, đi qua nhiều nước châu Phi, đến Mỹ, Anh,v.v... và trở lại Pháp vào cuối năm 1917 lúc chiến tranh thế giới lần thứ nhất ở vào giai đoạn quyết liệt nhất.

Tại Paris, Người kết bạn với nhiều nhà hoạt động chính trị xã hội, văn hóa có uy tín lớn của nước Pháp. Người viết nhiều bài báo tố cáo tội ác của thực dân Pháp ở các thuộc địa, tranh thủ mọi diễn đàn, những buổi hội họp, mít tinh, sinh hoạt câu lạc bộ để tuyên truyền cho cách mạng Việt Nam, Lào, Campuchia và các nước thuộc địa khác.

Với nhiệt huyết của tuổi thanh niên, Nguyễn Ái Quốc sáng lập ra “Nhóm những người Việt Nam yêu nước” tại Pháp. Thành viên của nhóm hầu hết là thanh niên công nhân, binh lính (thực dân Pháp đã bắt hơn 10 vạn thanh niên nông dân, công nhân sang phục vụ chiến tranh thế giới lần thứ nhất tại Pháp) và sinh viên... Nhóm hoạt động mạnh mẽ làm cho giới cầm quyền Pháp rất lo ngại. Do công tác tuyên truyền, tổ chức của nhóm được tiến hành tích cực nên cơ sở của nhóm phát triển khá mạnh. Đồng chí Nguyễn Ái Quốc đã chân thành mời hai nhà yêu nước Phan Châu Trinh và Phan Văn Trường tham gia hoạt động của “Nhóm những người Việt Nam yêu nước” song cơ bản cả hai ông không tán thành: “Vì các ông cho nhóm thanh niên ấy là trẻ con”

Chiến tranh thế giới thứ nhất kết thúc, Hội nghị Vécxây (Versailles) họp tại Thủ đô Paris giữa các nước thắng trận vào ngày 18-6-1919. Nguyễn Ái Quốc thay mặt những người Việt Nam yêu nước ở Pháp đưa tới hội nghị bản yêu sách đòi chính phủ Pháp phải thừa nhận quyền tự do, dân chủ, quyền bình đẳng và tự quyết của dân tộc Việt Nam. Bản yêu sách này được gửi đến các đoàn đại biểu Đồng minh và tất cả các nghị viện của Quốc hội Pháp. Báo “Nhân đạo” (L’Humanité) và nhiều nhật báo khác ở Pháp đã đăng nguyên văn hoặc trích ngang bản yêu sách chính trị quan trọng này. Nguyễn Ái Quốc cùng những đồng chí của Người đã cho in bản yêu sách thành truyền đơn gửi về trong nước. Dư luận ở Paris cũng như ở Pháp coi việc làm của người thanh niên yêu nước Nguyễn Ái Quốc như là quả bom chính trị nổ ngay giữa Paris.

Tháng 7-1920, Nguyễn Ái Quốc biết bao sung sướng, vui mừng được đọc bản "Sơ thảo lần thứ nhất Luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa" của Lênin, khẳng định lập trường kiên quyết ủng hộ phong trào giải phóng dân tộc ở các nước phương Đông của Quốc tế Cộng sản. Từ đó Người hoàn toàn tin theo Lênin, dứt khoát đứng về Quốc tế thứ ba.

Tại Đại hội của Đảng Xã hội Pháp họp ở Tua (Tours -12-1920) Nguyễn Ái Quốc đã bỏ phiếu tán thành việc gia nhập Quốc tế III, và cùng những người chủ trương gia nhập Quốc tế III tuyên bố thành lập Phân bộ Pháp của Quốc tế Cộng sản (Section Fransaise de I’Internationale communiste, viết tắt là S.F.I.C). Sự kiện Nguyễn Ái Quốc bỏ phiếu tán thành gia nhập Quốc tế III, tham gia thành lập Đảng Cộng sản Pháp và trở thành người cộng sản Việt Nam đầu tiên, đánh dấu bước ngoặt trong hoạt động của Người, từ chủ nghĩa yêu nước đến chủ nghĩa Mác - Lênin và đi theo con đường cách mạng vô sản. Sự kiện này cũng đánh dấu bước mở đường giải quyết cuộc khủng hoảng về đường lối giải phóng dân tộc Việt Nam.

Năm 1921, tại Paris, Nguyễn Ái Quốc cùng một số đồng chí của Người lại sáng lập ra “Hội Liên hiệp các dân tộc thuộc địa” để đoàn kết các lực lượng cách mạng chống chủ nghĩa thực dân, thông qua tổ chức này đưa chủ nghĩa Mác-Lênin đến các dân tộc thuộc địa.

Thành viên trong tổ chức “Hội Liên hiệp các dân tộc thuộc địa” cũng bao gồm tuyệt đại bộ phận là thanh niên giống như “Nhóm những người Việt Nam yêu nước ở Pháp”. Điều này về sau được Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định khi nhắc lại quá trình hình thành của Hội: ... “Hơn 40 năm trước đây, một nhóm thanh niên yêu nước, người các thuộc địa Pháp, trong đó có thanh niên Việt Nam và thanh niên Ghinê, đã cùng nhau đoàn kết đấu tranh chống chủ nghĩa thực dân, để giành tự do, độc lập cho đất nước mình...”

Đây chính là loại hình Quốc tế thanh niên thuộc địa theo quan điểm của Lênin mà Nguyễn Ái Quốc bước đầu bắt tay thực hiện. Qua việc sáng lập các tổ chức mà đại bộ phận thành viên là những người yêu nước trẻ tuổi Việt Nam và các thuộc địa Pháp đã giúp Nguyễn Ái Quốc sớm hình thành những quan điểm, cách nhìn nhận, đánh giá các khả năng cách mạng của tuổi trẻ cũng như hình thức, phương pháp đoàn kết, tập họp họ. Đây là một trong nhiều hoạt động của Nguyễn Ái Quốc trong phong trào thanh niên hồi đầu thế kỷ.

Thực tiễn phong phú này tạo điều kiện cho Người rút ra nhiều bài học kinh nghiệm về vận động thanh niên các nước thuộc địa.

Báo “Người cùng khổ” (Le Paria) do Nguyễn Ái Quốc làm chủ nhiệm kiêm chủ bút đã cất lên tiếng nói đầu tiên vạch trần chính sách đàn áp, bóc lột dã man của chủ nghĩa đế quốc nói chung và của đế quốc Pháp ở Đông Dương, thức tỉnh các dân tộc bị áp bức, trước hết là thanh niên tiểu tư sản, trí thức yêu nước hăng hái đứng lên đấu tranh để tự giải phóng.

Mùa hè năm 1923, đồng chí Nguyễn Ái Quốc đến Liên Xô, đất nước của Cách mạng Tháng Mười và V.I.Lênin vĩ đại. Tại Mátxcơva, Người tham gia nhiều đại hội và hội nghị quốc tế; viết nhiều bài đăng trên các báo “Sự thật” và “Thư tín quốc tế”.

Ngày 17-6-1924, Nguyễn Ái Quốc là đại biểu chính thức tại Đại hội Quốc tế Cộng sản lần thứ V khai diễn tại Nhà hát lớn Mátxcơva.

Đoàn đại biểu Ban Chấp hành Quốc tế Thanh niên Cộng sản tại Đại hội đã liên hệ với Nguyễn Ái Quốc và chính thức mời Người tham gia công việc chuẩn bị nội dung cho Đại hội Quốc tế Thanh niên Cộng sản lần thứ IV sẽ họp vào thời gian sau đó. Từ khi còn hoạt động ở Pháp, Nguyễn Ái Quốc đã có mối quan hệ với Quốc tế Thanh niên Cộng sản. Người đã đến Hội trường Thanh niên Cộng hòa ở Paris để giới thiệu về phong trào thanh niên thế giới, phong trào thanh niên Đông Dương và các chủ trương của Quốc tế Thanh niên Cộng sản được người nghe rất hoan nghênh.

Ngày 15-7-1924, Đại hội Quốc tế Thanh niên Cộng sản lần thứ IV đã khai mạc tại Hội trường Công đoàn ở Mátxcơva. Đại hội được tiến hành khi Lênin qua đời vừa được sáu tháng.

Những phần tử cơ hội và phản động Quốc tế cấu kết với các giới đế quốc điên cuồng mở rộng tuyên truyền xuyên tạc chủ nghĩa Lênin và học thuyết cách mạng của Người. Phong trào Thanh niên cộng sản Quốc tế đứng trước nhiệm vụ cấp bách là đẩy lùi và đập tan những luận điệu lừa bịp ấy nhằm tiếp tục tranh thủ trái tim và khối óc của hàng triệu thanh niên cộng sản trong đó có phong trào thanh niên cộng sản ở các nước thuộc địa và phụ thuộc.

Trong bối cảnh đó, Đại hội IV Quốc tế Thanh niên Cộng sản có ý nghĩa và tầm quan trọng đặc biệt đối với việc thực hiện di huấn của V.I.Lênin vĩ đại: “Sự nghiệp to lớn và tất yếu của các đồng chí là chuẩn bị cho tuổi trẻ sẵn sàng tham gia cuộc đấu tranh cách mạng và trong việc học tập”.

Là người đại diện ưu tú của các dân tộc bị áp bức, ngay trước khi tham dự Quốc tế Cộng sản lần thứ V, Nguyễn Ái Quốc đã đề nghị với Ban phương Đông Quốc tế Cộng sản về việc thành lập “Nhóm châu Á” tại Trường Đại học Phương Đông nhằm tạo điều kiện cho thanh niên, học viên có cơ hội nghiên cứu tình hình, đặc điểm của các nước thuộc địa và phụ thuộc.

Là thành viên trong đoàn Chủ tịch trực tiếp lãnh đạo Đại hội, bằng kinh nghiệm thực tiễn phong phú đã trải qua, nhất là sự hiểu biết sâu rộng về tình cảnh thanh niên các nước thuộc địa, Nguyễn Ái Quốc đã có những đóng góp quan trọng vào việc soạn thảo hàng loạt văn kiện của Đại hội.

Đặc biệt, Nguyễn Ái Quốc là người chủ trì và là tác giả chính trong nhóm tác giả soạn thảo “Luận cương về thanh niên thuộc địa” nổi tiếng theo tư tưởng của Lênin Người đã trực tiếp trình bày văn kiện hết sức quan trọng này tại Đại hội và được Đại hội nhất trí thông qua. Luận cương mở đầu bằng việc đánh giá và khẳng định rằng từ năm 1919 đến năm 1924, phong trào thanh niên thuộc địa đã có những chuyển biến mạnh mẽ dưới ngọn cờ của Quốc tế Cộng sản và được ảnh hưởng của Cách mạng XHCN Tháng Mười Nga. Năm 1919 là thời điểm V.I. Lênin sáng lập ra Quốc tế Thanh niên cộng sản và Nguyễn Ái Quốc đã may mắn sớm có mối liên hệ với tổ chức này như trên đã nêu. Luận cương nhận định rằng thanh niên các thuộc địa đã dần dần hướng phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc theo thắng lợi của cuộc cách mạng vô sản. Họ đi theo ngọn cờ của Lênin vì họ tìm thấy ánh sáng soi đường trong Luận cương về vấn đề dân tộc nổi tiếng của Người.

Tiếp đến, “Luận cương về thanh niên thuộc địa” nêu lên yêu cầu cấp bách phải tổ chức, tập họp lực lượng thanh niên cách mạng và xây dựng cơ sở Đoàn Thanh niên Cộng sản ở các thuộc địa. Đây là mâu thuẫn gay gắt nổi lên trong những năm đầu thế kỷ ở các thuộc địa giữa đòi hỏi của nhiệm vụ cách mạng và những khả năng để giải quyết những nhiệm vụ đó. Vấn đề “Thiếu tổ chức và thiếu người tổ chức” mà sau này vào năm 1925 trong “Thư gửi thanh niên An Nam” đồng chí Nguyễn Ái Quốc đã chỉ rõ là tình hình chung của nhiều nước thuộc địa khác trên thế giới chứ không chỉ riêng ở Việt Nam. “Luận cương về thanh niên thuộc địa” đặt ra yêu cầu khẩn thiết về việc hình thành các đoàn thể thanh niên cách mạng và tiến tới xây dựng các tổ chức thanh niên cộng sản ở thuộc địa là nhằm giải quyết mâu thuẫn nêu trên.

Cuối cùng “Luận cương về thanh niên thuộc địa” nhấn mạnh việc tăng cường mối liên hệ giữa các tổ chức thanh niên cách mạng, thanh niên cộng sản ở các thuộc địa với tổ chức thanh niên cộng sản ở chính quốc.

Luận cương vạch ra những công việc cụ thể về giúp đỡ vật chất, tinh thần của các tổ chức TNCS chính quốc với các tổ chức TNCS ở thuộc địa.

Nghiên cứu toàn bộ “Luận cương về thanh niên thuộc địa” do đồng chí Nguyễn Ái Quốc chủ trì soạn thảo Đại hội lần thứ IV Quốc tế TNCS (1924) chúng ta tìm thấy nhiều ý tưởng, quan điểm về vấn đề thanh niên thuộc địa mà trước đó đồng chí Nguyễn Ái Quốc đã nhiều lần đề cập đến trong các bài viết của Người trên báo chí của Đảng Cộng sản Pháp hoặc trong các cuộc tranh luận nội bộ về các vấn đề có liên hệ đến trách nhiệm của Đảng đối với phong trào thuộc địa cũng như các bài viết của Nga đăng trên tạp chí “Thư tín quốc tế’ của Quốc tế Cộng sản” và báo “Sự thật” của Đảng Cộng sản Liên Xô.

Luận cương về thanh niên thuộc địa đã đưa ra những quan điểm rất cơ bản và chỉ rõ nhiệm vụ cụ thể về tổ chức, giáo dục và hướng dẫn cuộc đấu tranh vì những mục tiêu độc lập, tự do, giải phóng giai cấp, giải phóng dân tộc của thanh niên các nước thuộc địa.

Luận cương vừa có giá trị như một cương lĩnh chính trị vừa như một chương trình hành động phù hợp với tình hình, nguyện vọng của hàng chục triệu thanh niên đang bị áp bức, đọa đày do chính sách và những hành động tàn bạo của chủ nghĩa thực dân, đế quốc cấu kết phong kiến bản địa.

Giữa năm 1925, nghĩa là chỉ hơn một năm sau khi “Luận cương về thanh niên thuộc địa” được nhất trí thông qua tại Đại hội Quốc tế Thanh niên Cộng sản lần thứ IV, tác giả của văn kiện nổi tiếng này - đồng chí Nguyễn Ái Quốc, lãnh tụ của dân tộc và giai cấp công nhân Việt Nam đã triển khai thắng lợi chủ trương xây dựng một tổ chức thanh niên cách mạng ở Việt Nam - một nước thuộc địa của Pháp là “Việt Nam thanh niên cách mạng đồng chí Hội”, một tổ chức bao gồm phần lớn là thành viên trẻ tuổi theo xu hướng cộng sản, tiền thân của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Trong những năm tháng Nguyễn Ái Quốc sống và hoạt động ở Liên Xô (1923-1924) cũng là lúc phong trào cách mạng ở Trung Quốc phát triển mạnh mẽ. Quảng Châu là trung tâm cách mạng của đất nước Trung Hoa rộng lớn. Quảng Châu trở thành địa bàn quan trọng cho hoạt động của nhiều nhà cách mạng Việt Nam và những nhà yêu nước Triều Tiên, Inđônêsia, Miến Điện. Nhiều thanh niên yêu nước Việt Nam xuất dương vào đầu những năm 20 cũng đã đến đây và được tập hợp lại trong tổ chức Tâm Tâm Xã. Đầu năm 1924 Phạm Hồng Thái sang Quảng Châu và gia nhập Tâm Tâm Xã. Tháng 6-1924, Phạm Hồng Thái thực hiện nhiệm vụ ném tạc đạn nhằm mưu sát tên toàn quyền Méclanh (Merlin) nhân dịp y đi công cán qua Quảng Châu.

Tiếng bom Sa Diện mưu sát toàn quyền Đông Dương Méc lanh của người thanh niên yêu nước Phạm Hồng Thái tuy không thành công “nhưng nó báo hiệu bắt đầu thời đại đấu tranh dân tộc, như chim én nhỏ báo hiệu mùa xuân”, là hiệu kèn thúc giục nhiều thanh niên yêu nước Việt Nam dấn thân trên con đường tranh đấu.

Năm 1925, cụ Phan Bội Châu bị thực dân Pháp bắt và kết án tử hình. Hàng chục vạn thanh niên thuộc đủ các tầng lớp trong cả nước đã sôi sục đấu tranh đòi bọn cầm quyền ở Đông Dương phải thả cụ. Năm 1925, cụ Phan Chu Trinh mất, hơn 140 ngàn người trong đó có hàng vạn thanh niên, học sinh đã tập hợp ở Sài Gòn để đưa đám tang cụ. Đây là một cuộc biểu dương lực lượng rất to lớn có ảnh hưởng rất rộng trong cả nước, nhất là đối với phong trào thanh niên. Nguyễn Ái Quốc, ngay thời gian đó đã nêu rõ: “Chưa bao giờ có một phong trào quần chúng rộng rãi như vậy”. Đây là một dịp rất tốt cho Nguyễn Ái Quốc tuyên truyền chủ nghĩa yêu nước, cổ vũ đấu tranh cách mạng.

Trong phong trào đấu tranh của quần chúng, hàng loạt tổ chức yêu nước do những người trẻ tuổi sáng lập ra đời. Năm 1925, nhóm sinh viên cao đẳng Hà Nội gồm 17 người, trong đó có Tôn Quang Phiệt, Đặng Thai Mai, Phạm Thiều... cùng với một số thầy giáo trẻ ở miền Trung nhóm họp tại Vinh và quyết định thành lập “Hội Phục Việt” sau này là “Tân Việt”. Tháng 3 năm 1926, một số thanh niên trí thức ở Nam Bộ trong đó có Trần Huy Liệu, lập ra “Đảng Thanh niên”. Giữa năm 1926, nhà yêu nước trẻ tuổi Nguyễn An Ninh tập hợp một số thanh niên viên chức, thầy giáo yêu nước vào tổ chức “Thanh niên Cao Vọng”. Những tổ chức thanh niên yêu nước nói trên hoạt động rất hăng hái, như “Hội Phục Việt” đã vận động hội viên tham gia cuộc đấu tranh đòi thả cụ Phan Bội Châu với nhiều hình thức phong phú. Đảng thanh niên hô hào thanh niên biến cuộc đưa đám cụ Phan Chu Trinh thành cuộc biểu dương lực lượng của quần chúng.

Vào thời gian có nhiều sự kiện đặc biệt đó, sau khi dự Đại hội Quốc tế Thanh niên Cộng sản lần thứ IV, Nguyễn Ái Quốc đã từ Liên Xô đến Quảng Châu (Trung Quốc) với trách nhiệm nặng nề đối với phong trào cách mạng ở Đông Dương và châu Á. Người đã khẩn trương tìm hiểu tình hình và tìm cách bắt liên lạc với những thanh niên Việt Nam yêu nước tại đây qua sự giúp đỡ một phần của phái đoàn cố vấn Liên Xô bên cạnh Chính phủ Tôn Dật Tiên.

Liên tiếp trong 2 ngày 18 và 19-12-1924, Nguyễn Ái Quốc gửi thư và báo cáo cho Đoàn Chủ tịch Quốc tế Cộng sản, trong đó Người đánh giá cao tinh thần cách mạng của số thanh niên yêu nước mà Người đã tiếp xúc.

Từ tháng 12 năm 1924 cho đến tháng 2 năm 1925 là thời gian Nguyễn Ái Quốc làm việc mật thiết với nhóm thanh niên trong tổ chức Tâm Tâm Xã. Người đã thẳng thắn nêu lên những thiếu sót trong nhận thức, hành động của nhóm này và tỏ rõ sự khâm phục tinh thần yêu nước của các chiến sĩ cách mạng trẻ tuổi như trường hợp Phạm Hồng Thái. Dưới hình thức những lớp bồi dưỡng nhỏ, phân tán, Nguyễn Ái Quốc đã giới thiệu với anh em về Cách mạng Tháng Mười Nga, về Quốc tế Cộng sản, về chủ nghĩa xã hội khoa học, về học thuyết Mác - Lênin. Tác dụng của các lớp học đầu tiên này đối với số thanh niên đang khát khao lý tưởng thật là to lớn. Kết luận mà Nguyễn Ái Quốc rút ra cho các học trò của Người là muốn đưa cách mạng đến thắng lợi phải dựa vào quần chúng nhân dân, nhất là công nhân, nông dân, phải có một Đảng tiên phong theo chủ nghĩa Mác - Lênin lãnh đạo.

Với lý luận sắc bén, kinh nghiệm phong phú, tác phong cởi mở, Nguyễn Ái Quốc đã tạo nên niềm tin mạnh mẽ cho số thanh niên yêu nước và đưa dần họ đến với chân lý cách mạng.

Lúc này Nguyễn Ái Quốc chủ trương tổ chức một nhóm bí mật. Tuy về quy mô chỉ là nhóm đầu tiên nhưng có đầy đủ Chương trình, Điều lệ...

Hoàn thành xong nhiệm vụ có ý nghĩa lịch sử này, ngày 19-2-1925, Nguyễn Ái Quốc đã gửi báo cáo tới Đoàn Chủ tịch Quốc tế Cộng sản. Trong mục “Công tác đã làm được”, Nguyễn Ái Quốc viết:

Chúng tôi đã lập một nhóm bí mật gồm 9 thành viên, trong đó có:

- 2 người đã được phái về nước.
            - 3 người ở tiền tuyến (trong quân đội của Tôn Dật Tiên).
            - 1 người đi công cán quân sự (cho Quốc dân đảng).

Trong số hội viên đó, có 5 người đã là đảng viên dự bị của Đảng Cộng sản.

Chúng tôi còn có 2 đoàn viên dự bị của “Đoàn thanh niên Cộng sản Lênin”.

Nhóm bí mật 9 người do Nguyễn Ái Quốc xây dựng là cái mầm non của một tổ chức cộng sản mà Người đã ấp ủ trong kế hoạch tổ chức từ sau khi tham dự đại hội Quốc tế Cộng sản lần thứ V và Đại hội Quốc tế Thanh niên Cộng sản lần thứ IV.

Con đường truyền bá tư tưởng giải phóng dân tộc theo chủ nghĩa Mác - Lênin vào giai cấp công nhân và nhân dân yêu nước Việt Nam mà Nguyễn Ái Quốc đã thực hiện lúc đó là dựa vào thanh niên, lớp người trẻ tuổi có lòng yêu nước, căm thù giặc, hăng hái cách mạng, nhạy cảm với cái mới, có học thức, được học tập lý luận giải phóng dân tộc và phương pháp tổ chức nhân dân do chính Người đào tạo.

Chính từ kết quả đầu tiên bằng tư duy rất sáng tạo và tài tổ chức của mình, Nguyễn Ái Quốc đã yêu cầu Đoàn Chủ tịch Quốc tế Cộng sản cho “gửi sinh viên Việt Nam sang học Trường Đại học Cộng sản ở Mátxcơva” và nói rõ hơn cho tôi biết “là có thể gửi bao nhiêu sinh viên Việt Nam sang”.

Sự ra đời của nhóm cách mạng trẻ tuổi 9 người tuy còn quá nhỏ bé trên con đường dài dựng Đảng, dựng Đoàn nhưng đó là thời điểm khai sinh ra một thế hệ thanh niên mới với xu hướng làm cho thực dân Pháp và bọn cai trị run sợ. Toàn quyền Đông Dương Méclanh đầu năm 1925 gửi báo cáo về Bộ thuộc địa Pháp nói: “Xuất hiện ở Quảng Châu một người cách mạng Việt Nam tên là Lý Thụy hoạt động rất tích cực trong số những người Việt Nam tại đây và dùng những biện pháp tuyên truyền kiểu mới có xu hướng cộng sản”

Việc ra đời nhóm đoàn viên thanh niên cộng sản Việt Nam đầu tiên này là sự kiện đặc biệt quan trọng mở đầu cho quá trình hình thành và phát triển các tổ chức thanh niên cách mạng theo xu hướng cộng sản chủ nghĩa cũng như sự ra đời của Đoàn Thanh niên Cộng sản ở nước ta sau này.

Đối với phong trào thanh niên cộng sản quốc tế, sự xuất hiện nhóm đoàn viên thanh niên cộng sản Việt Nam đầu tiên vào đầu năm 1925 đã góp phần minh chứng tính đúng đắn của Luận cương về thanh niên thuộc địa do Nguyễn Ái Quốc chủ trì soạn thảo như trên đã nêu.

Từ nhóm bí mật 9 người, chỉ trong vòng hơn 4 tháng sau các chiến sĩ cách mạng trẻ tuổi dưới sự hướng dẫn của Nguyễn Ái Quốc vừa lo tổ chức, huấn luyện, bồi dưỡng cho những thanh niên ở trong nước ra, vừa lo chuẩn bị chương trình điều lệ,v.v... để đến tháng 6-1925, Hội Việt Nam thanh niên cách mạng đồng chí chính thức tuyên bố thành lập và bắt đầu mở rộng các hoạt động tạo ra bước ngoặt quan trọng trong phong trào yêu nước của nhân dân, đặc biệt là của thanh niên ta.

Hội Việt Nam thanh niên cách mạng đồng chí ngay từ khi mới thành lập đã lo đặt viên đá đầu tiên để chuẩn bị cho tổ chức thanh niên sau này.

Do việc tích cực phát triển Đoàn nên từ đầu năm 1925 đến năm 1926, số đoàn viên, từ một nhóm nhỏ vài ba đồng chí đã tăng lên 25 đồng chí.

Lớp đoàn viên thanh niên cộng sản đầu tiên này phần lớn trở về nước hoạt động như trường hợp Vương Thúc Oánh, Nguyễn Ngọc Ba... một số khác được phân công học tiếp tại các lớp đào tạo cán bộ Đoàn Thanh niên Cộng sản của Quốc tế Cộng sản ở Liên Xô và học quân sự ở Trường Hoàng Phố (Quảng Châu).

Tuân theo di huấn của Lênin: “Không có lý luận cách mạng thì không có phong trào cách mạng”, Nguyễn Ái Quốc lần lượt mở các lớp huấn luyện chính trị ở Quảng Châu. Mục đích học tập là “Học làm cách mạng, học cách hoạt động bí mật. Học xong họ lại bí mật về nước truyền bá lý luận giải phóng dân tộc và tổ chức nhân dân”.

Nguyễn Ái Quốc cùng với các cộng sự đắc lực của Người như các đồng chí Hồ Tùng Mậu, Lê Hồng Phong, Lê Hồng Sơn,v.v... đã mở liên tiếp các lớp huấn luyện thu hút khá đông thanh niên yêu nước các miền Bắc, Trung, Nam sang Quảng Châu học tập.

Theo báo cáo của Nguyễn Ái Quốc gửi Ban Phương Đông Quốc tế Cộng sản, từ năm 1924 đến năm 1927, Người đã mở được ba khóa huấn luyện cho 75 người, xuất bản được 3 tờ báo nhỏ. Đây là vốn quý mà Người đã chuẩn bị cho cách mạng Việt Nam. Hy vọng tuyệt đại bộ phận được trở về Trung Kỳ, Bắc Kỳ, Nam Kỳ về Xiêm để hoạt động, tuyên truyền lý luận giải phóng dân tộc và tổ chức nhân dân. Đồng chí Phạm Văn Đồng là một trong những học viên được cử phụ trách các cơ sở Việt Nam thanh niên cách mạng đồng chí Hội ở các tỉnh phía Nam nước ta.

Học viên tuy là những người có trình độ văn hóa (phần lớn là học sinh và giáo viên) nhưng còn hết sức bỡ ngỡ với biết bao khái niệm chính trị, triết học... mà họ chưa hề biết đến... Tất cả những điều mới mẻ trên có sức hấp dẫn kỳ lạ đối với lớp thanh niên đang khát khao lý tưởng, khát khao tìm đường cứu nước, cứu dân. Họ hấp thụ chân lý chủ nghĩa Mác - Lênin như hấp thụ ánh sáng mặt trời.

Đối với công tác thanh niên, học viên được nghe giới thiệu về Quốc tế Thanh niên Cộng sản. Đây là đường lối công tác thanh niên theo chủ nghĩa Mác - Lênin lần đầu tiên được truyền bá vào Việt Nam.

Các bài giảng của Nguyễn Ái Quốc tại các lớp huấn luyện thanh niên yêu nước ở Quảng Châu đã được tập hợp và in thành sách với tên chung là “Đường kách mệnh”. Đường kách mệnh” trở thành vũ khí chiến đấu của những người cách mạng Việt Nam lúc bấy giờ nhằm chống lại mọi trào lưu tư tưởng phi vô sản và cơ hội chủ nghĩa trong và ngoài nước. Với yêu cầu đào tạo lúc bấy giờ. “Đường kách mệnh” không chỉ nêu lên những vấn đề thuộc chủ nghĩa, đường lối, sách lược mà còn hướng dẫn công việc tổ chức, tuyên truyền rất cụ thể để mỗi học viên sau khi học xong có thể bắt tay thực hành.

Bài học đầu tiên mà học viên được nghe giảng là tư cách một người cách mạng trong đó nêu lên 3 mối quan hệ của người cách mạng: “Đối với bản thân, đối với mọi người và đối với công việc”. Trong cuộc chiến đấu quyết liệt mất còn với kẻ thù vấn đề đặt ra đối với những người cách mạng, đặc biệt là đối với lớp thanh niên chưa trải qua nhiều thử thách thì bên cạnh việc bồi dưỡng về trí thức cách mạng cần đặt lên hàng đầu việc bồi dưỡng về đạo đức và phẩm chất cách mạng ấy chính là ý nghĩa của bài học đầu tiên này.

Cùng với việc mở Trường đào tạo cán bộ thanh niên tại Quảng Châu, đồng chí Nguyễn Ái Quốc đã liên hệ với Quốc tế Cộng sản và Quốc tế Thanh niên Cộng sản để gửi một số thanh niên Việt Nam đến học ở khoa đào tạo cán bộ Đoàn của trường Đảng Liên Xô.

Đồng chí Nguyễn Ái Quốc cũng đã trực tiếp gửi thư cho Ủy ban Trung ương Đội Thiếu niên Tiền phong trực thuộc Trung ương Đoàn Thanh niên Cộng sản Lênin đề nghị đào tạo theo chương trình lâu dài một số thiếu niên Việt Nam thành cán bộ Đoàn sau này. Bức thư đề ngày 22-7-1926 có đoạn viết: “Chúng tôi có tại đây (Quảng Châu-Trung Quốc) một nhóm thiếu nhi An Nam. Các em đều từ 12 đến 15 tuổi. Đó là những thiếu nhi cộng sản đầu tiên của nước An Nam bị chủ nghĩa đế quốc áp bức và ở đó mọi việc giáo dục đều bị cấm... chúng tôi hy vọng rằng các bạn sẽ không từ chối tiếp nhận 3 hay 4 bạn nhỏ An Nam”. Đề nghị trên đã được Trung ương Đoàn Thanh niên Cộng Sản Lênin đáp ứng một cách nồng nhiệt, tuy nhiên do tình hình chính trị ở Quảng Châu diễn biến xấu nên chủ trương gửi các cháu thiếu niên nói trên đi đào tạo ở Mátxcơva không thực hiện được.


Cùng với sự ra đời của Việt Nam thanh niên cách mạng đồng chí Hội một tờ báo lấy tên là “Thanh Niên”, phục vụ cho đối tượng chính là thanh niên, với tư cách là cơ quan ngôn luận của Hội phát hành số đầu tiên vào ngày 21-6-1925. Người phụ trách trực tiếp và cũng là người viết nhiều bài cho báo là Nguyễn Ái Quốc. Đây là tờ báo tiếp nối sự nghiệp của báo Le Paria (Người cùng Khổ) trong điều kiện mới với đối tượng mới. Báo “Thanh Niên” in khổ nhỏ (13x19) mỗi kỳ ra 100 bản, mỗi bản 2 trang đặc biệt có số 4 trang, báo viết bằng tiếng Việt.

Về nội dung, báo “Thanh Niên” có các loại bài xã luận, bình luận, truyện lịch sử thế giới, truyện lịch sử dân tộc và tin tức, đặc biệt có thêm việc hướng dẫn tổ chức các đoàn thể, kinh nghiệm các cuộc cách mạng trên thế giới và giới thiệu về những thành tựu của Liên Xô.

Nhìn lại các bài viết trên báo “Thanh Niên”, chúng ta thấy rõ mục đích của báo là:

- Phát động lòng yêu nước, căm thù giặc đặc biệt là đối với thanh niên, bồi dưỡng quyết tâm đánh đuổi quân xâm lược để giành lại độc lập, tự do cho đất nước.

- Giới thiệu kinh nghiệm lịch sử, nhất là kinh nghiệm các cuộc vận động cách mạng ở nhiều nước để vận dụng vào cuộc đấu tranh của nhân dân Việt Nam, giới thiệu về chủ nghĩa cộng sản và những vấn đề cơ bản của chủ nghĩa Mác-Lênin cũng như những vấn đề chủ yếu về chiến lược, sách lược của cách mạng Việt Nam.

- Từng bước lý giải về sự cần thiết phải thành lập một Đảng cách mạng theo chủ nghĩa Mác - Lênin; giáo dục về sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân và tuổi trẻ trước yêu cầu của sự nghiệp giải phóng dân tộc và giai cấp.

Với lối viết giản dị nhưng chứa đựng tinh thần tố cáo và cổ vũ sâu sắc, báo “Thanh Niên” kêu gọi nhân dân và tuổi trẻ đứng lên đấu tranh.

Về mức độ phổ biến của báo “Thanh Niên” tuy gặp nhiều khó khăn nhưng những cơ sở của Việt Nam cách mạng đồng chí Hội đã cố gắng giới thiệu báo “Thanh Niên” cho hội viên và những người cảm tình với Hội đọc. Các đầu mối tiếp nhận báo ở trong nước lúc đó là Cảng Hải Phòng, Hà Nội, Nam Định,v.v... và một số cơ sở ở Sài Gòn (nhật báo “Thanh Niên” qua đường từ Băng Cốc đưa về).

Tên mật thám cáo già Lui Mácti đã nhận xét khái quát qua 88 số báo “Thanh Niên” mà y có như sau: “Trong số báo đầu tiên, Nguyễn Ái Quốc nhấn mạnh trước hết sức mạnh và sự đoàn kết đã đem lại cho một tập thể, nhấn mạnh đến lợi ích mà những cá nhân trong tập thể ấy thu được. Nguyễn Ái Quốc đã thức tỉnh tinh thần độc lập và tình cảm dân tộc, đặc trưng cho tính khí người An Nam. Tiếp đó, dần dà ông cung cấp cho độc giả của mình những hiểu biết về lịch sử An Nam và các trào lưu tư tưởng nước ngoài, và lịch sử các cường quốc thế giới,v.v... Rồi lần lượt ông đưa ra từng thuật ngữ Hán-Việt tương ứng với một cuốn từ vựng mới về chủ nghĩa cộng sản và nêu ra một định nghĩa rõ ràng, chính xác về mặt thuật ngữ ấy. Từng bước lúc đầu còn ít và về sau thường xuyên hơn, ông công bố một câu hoặc một bài báo ngắn, thông báo cho độc giả biết sự tồn tại của Liên Xô và hạnh phúc mà nhân dân Xô Viết đã được hưởng. Nguyễn Ái Quốc cũng không ngần ngại dành đến 60 số báo của mình để chuẩn bị tinh thần cho độc giả, ít khi ông nói rõ ý đồ của mình khi ông viết: “Chỉ có Đảng cộng sản mới có thể đảm bảo hạnh phúc cho An Nam”.

Và chính Lui Mácti cũng thấy rõ rằng báo “Thanh Niên” có sức hấp dẫn thanh niên, chẳng những họ đọc mà còn chép lại để chuyển cho người khác đọc.

Báo “Thanh Niên” thực sự đã góp phần đắc lực vào việc chuẩn bị về tư tưởng, lý luận và tổ chức cho việc thành lập Đoàn, thành lập Đảng.

***

Từ năm 1926 đến năm 1929, phong trào đấu tranh của nhân dân Việt Nam, đặc biệt là phong trào đấu tranh của quần chúng công nông và thanh niên, học sinh đã phát triển lên một bước mới dưới sự lãnh đạo của Hội Việt Nam thanh niên cách mạng đồng chí. Chính từ phong trào đấu tranh đó mà Hội đã có bước phát triển mới về tổ chức, cả về số lượng và chất lượng. Hệ thống tổ chức 5 cấp từ Trung ương Hội đến cơ sở đã xây dựng hoàn chỉnh. Hội có 1.700 hội viên và hàng nghìn người có cảm tình với Hội.

Luận cương chính trị của Đảng Cộng sản Đông Dương đã chỉ rõ: “Những cuộc bãi công trong năm 1928-1929... đã chứng tỏ rằng sự tranh đấu của giai cấp ở Đông Dương ngày càng rộng khắp. Điều đặc biệt và quan trọng của phong trào cách mạng ở Đông Dương là sự tranh đấu của quần chúng công nông có tính chất độc lập rất rõ rệt, chứ không phải là chịu ảnh hưởng quốc gia chủ nghĩa như lúc trước nữa”.

Hội Việt Nam thanh niên cách mạng đồng chí đã ý thức được rằng cách mạng không phải chỉ dừng lại ở chỗ tuyên truyền đường lối mà phải vận động quần chúng thực hiện đường lối và lấy công nông làm gốc cách mạng. Hội đã cố gắng đưa hội viên của mình đi vào công nông bằng cuộc vận động “Vô sản hóa”.

Từ giữa năm 1929 trở đi, có thể nói làn sóng đấu tranh của công nhân trong cả nước ta ngày một dâng cao, là lực lượng xung kích đi đầu đấu tranh chống địch bất chấp mọi hành động khủng bố tàn bạo của đế quốc và phong kiến.

Cùng với phong trào đấu tranh của thanh niên công nhân, các phong trào đấu tranh của thanh niên nông dân, thanh niên học sinh cũng được Hội Việt Nam thanh niên cách mạng đồng chí quan tâm lãnh đạo. Ở nông thôn, Hội vận động thanh niên bài trừ hủ tục, chống phù thu lạm bổ, vạch mặt bọn quan lại địa phương. Đặc biệt Hội Việt Nam thanh niên cách mạng đồng chí đã đấu tranh mạnh mẽ chống chính sách mộ phu của bọn tư bản, thực dân.

Cuối năm 1928, trong khi đang có sự tranh luận về vấn đề thành lập Đảng Cộng sản thì các đồng chí trong Kỳ bộ Thanh niên cách mạng đồng chí Hội Bắc Kỳ rất vui mừng nhận được bản “Đề cương về phong trào cách mạng ở các nước thuộc địa và nửa thuộc địa” của Đại hội lần thứ VI Quốc tế Cộng sản. Văn kiện quan trọng này chỉ rõ nhiệm vụ, tính chất, lực lượng cách mạng và vai trò lãnh đạo cách mạng của giai cấp công nhân ở các nước thuộc địa và nửa thuộc địa làm sáng tỏ những vấn đề đang được thảo luận, nhất là vấn đề đánh giá vai trò của giai cấp công nhân ở các nước thuộc địa từ sau Đại hội Quốc tế Cộng sản lần thứ V. Văn kiện này cũng đã đề cập mạnh mẽ vấn đề thanh niên thuộc địa từ sau Đại hội Quốc tế Thanh niên Cộng sản lần thứ IV như sau:

Đại hội lần thứ VI Quốc tế Cộng sản yêu cầu các Đảng Cộng sản ở các nước thuộc địa phải chú trọng vấn đề xây dựng và phát triển phong trào thanh niên cộng sản và đấu tranh chống lại những quan điểm lạc hậu trong giai cấp công nhân cũng như trong các tổ chức công hội thường thiếu quan tâm đến những quyền lợi của thanh niên công nhân và không chú trọng lãnh đạo cuộc đấu tranh nhằm làm cho tình cảnh của những thanh niên bị bóc lột được khá hơn".

Trước yêu cầu cấp bách của phong trào và sau một quá trình đấu tranh, chi bộ Đảng Cộng sản đầu tiên ở Việt Nam ra đời vào tháng 3-1929 tại số nhà 5D phố Hàm Long (Hà Nội) đến tháng 6-1929 thì Đông Dương cộng sản Đảng ra đời. Tiếp sau đó là An Nam Cộng sản Đảng ra đời ở Nam Kỳ và Đông Dương Cộng sản liên đoàn ra đời ở Trung Kỳ. Năm 1930, Nguyễn Ái Quốc thay mặt Quốc tế cộng sản chủ trì cuộc họp thống nhất các tổ chức cộng sản ở Việt Nam. Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời đánh dấu một bước ngoặt vĩ đại trong lịch sử cách mạng Việt Nam.

Trước năm 1929 đã có một số đoàn viên thanh niên cộng sản do các cán bộ của “Việt Nam thanh niên cách mạng đồng chí Hội” vốn là đoàn viên thanh niên cộng sản được kết nạp ở Quảng Châu về nước trực tiếp tuyên truyền và tổ chức, nhưng các đồng chí đoàn viên này chưa được tổ chức vào các tổ chức cơ sở của Đoàn mà hoạt động trong mối quan hệ trực tiếp với các cán bộ Việt Nam thanh niên cách mạng đồng chí Hội. Chỉ từ sau khi các tổ chức Đảng ở nước ta hình thành, nhất là từ sau khi Đông Dương Cộng sản Đảng ở Bắc Kỳ ra đời thì các tổ chức Đoàn cơ sở mới được thành lập.

Tháng 6-1929, hai chi bộ Đoàn thanh niên cộng sản được thành lập ở Hải Phòng trong phong trào đấu tranh rộng lớn của các quần chúng.

Chi bộ Đoàn thứ nhất ra đời ở Nhà máy Xi măng Hải Phòng. Chi bộ Đoàn Nhà máy Xi măng Hải Phòng được xây dựng dưới sự chỉ đạo trực tiếp của đồng chí Nguyễn Đức Cảnh, một học viên của Trường Chính trị Quảng Châu do đồng chí Nguyễn Ái Quốc đào tạo. Đồng chí Nguyễn Đức Cảnh thường cùng lao động với thanh niên công nhân của nhà máy, đi sâu tìm hiểu hoàn cảnh của họ, tuyên truyền giác ngộ họ rồi chọn lọc một số thanh niên ưu tú kết nạp vào Đoàn. Chi bộ Đoàn ra tờ báo lấy tên “Tia lửa”, bí mật phân phát trong nhà máy để giáo dục và tập hợp thanh niên. Chi bộ Đoàn đã có sáng kiến lập một số đội bóng đá và thường đứng ra tổ chức các trận đấu giao hữu ở bãi xi măng đen. Một số nhóm đọc sách do chi bộ Đoàn đứng ra thành lập thu hút khá đông thanh niên tham gia. Ngày 7-11-1929, để kỷ niệm cách mạng xã hội chủ nghĩa Tháng Mười Nga vĩ đại, chi bộ Đoàn đã tổ chức rải truyền đơn và treo cờ đỏ búa liềm trong nhà máy, ngoài ra còn tổ chức kể chuyện về Liên Xô qua những tài liệu thu thập trong sách báo cho đoàn viên và những thanh niên cảm tình với Đoàn nghe. Cuối năm 1929, chi bộ Đoàn đã tích cực tham gia và trở thành lực lượng xung kích thực hiện chỉ thị của nhà máy đấu tranh đòi tăng lương, giảm giờ làm, chống khủng bố của đế quốc.

Chi bộ Đoàn thứ hai ra đời ở Trường Bônan (nay là trường Ngô Quyền) là nơi có phong trào đấu tranh mạnh mẽ của học sinh trong những năm 1925, 1926 và các năm sau. Chi bộ Đoàn có 11 đoàn viên, chia thành các tiểu tổ trong đó có một số học sinh ở trường khác. Chi bộ Đoàn Trường Bônan do Bùi Đức Thanh làm bí thư. Chi bộ Đoàn có tờ báo in thạch lấy tên là “Thanh niên cộng sản” để giáo dục và tập hợp thanh niên học sinh. Các đoàn viên thanh niên cộng sản ở Trường Bônan hoạt động rất tích cực, nhất là trong công tác tuyên truyền cách mạng, vận động thanh niên đấu tranh. Có tháng, chi bộ Đoàn đã cho ra ba số “Thanh niên cộng sản” nhằm đáp ứng nguyện vọng muốn hiểu biết của thanh niên. Chi bộ Đoàn thanh niên cộng sản Trường Bônan đã giúp anh chị em học sinh tổ chức ra “Học sinh đoàn” để thu hút những học sinh có tinh thần yêu nước, hăng hái hoạt động cách mạng. Lớp học sinh đoàn đầu tiên gồm có Lê Viêm, Vũ Thiện Tấn, Nguyễn Văn Cúc (tức đồng chí Nguyễn Văn Linh - Tổng Bí thư Trung ương Đảng khóa VI). Đồng chí Nguyễn Văn Linh là một học sinh yêu nước, hoạt động rất hăng hái đã bị đế quốc Pháp đày ra Côn Đảo. Nhưng chính tại đây trong chế độ lao tù vô cùng khắc nghiệt, đồng chí đã cùng với nhiều đảng viên cộng sản Việt Nam khác anh dũng biến nhà tù thành trường học, rèn luyện ý chí cách mạng. Đồng chí đã trở thành người đảng viên đấu tranh kiên cường vì lý tưởng của Đảng.

Khoảng tháng 10-1929, tại Hà Nội một nhóm đoàn viên thanh niên cộng sản đã được hình thành tại ga Hàng Cỏ trong đó có đoàn viên Long 21 tuổi là thợ cơ khí. Nhóm này do Lê Văn Nhuận (tức đồng chí Lê Duẩn) lúc ấy hoạt động trong Sở Hỏa xa Bắc Đông Dương giác ngộ và kết nạp. Nhiệm vụ của nhóm đoàn viên này dưới sự hướng dẫn của đồng chí Lê Duẩn là tuyên truyền cách mạng trong thanh niên giúp việc liên lạc cho Đảng, phát hành báo “Búa liềm” đi các tỉnh. Nhân kỷ niệm Cách mạng Xã hội chủ nghĩa Tháng Mười Nga năm đó (7-11-1929) nhóm đoàn viên thanh niên cộng sản ga Hàng Cỏ đã chuyển nhiều truyền đơn của Thành ủy lâm thời Hà Nội về các tỉnh.

Cùng thời gian trên, nhiều cơ sở “sinh hội” bí mật xuất hiện trong một số trường hợp ở Hà Nội như các trường Sinh Từ, Đỗ Hữu Vị, Trần Nhật Duật, Mạc Đĩnh Chi... Tháng 9 - 1929, Tổng Hội sinh viên ra đời ở Hà Nội và xuất bản báo “Người sinh viên” do Đặng Xuân Khu (tức đồng chí Trường Chinh) phụ trách. Nhiều bài báo hay có tác dụng cổ vũ sinh viên đứng lên cùng nhân dân đánh đuổi đế quốc của Trường Chinh đã có tiếng vang lớn không những trong hàng ngũ sinh viên và còn thức tỉnh các lớp thanh niên trí thức, tiểu tư sản, tham gia vào hàng ngũ cách mạng.

Ở Nghệ An, trong những năm 1928-1929 đã có một số thanh niên ưu tú được tổ chức vào thanh niên cộng sản Đoàn do Vương Thúc Oánh, Nguyễn Ngọc Ba... là những đoàn viên thanh niên cộng sản được dự lớp chính trị ở Quảng Châu trở về nước xây dựng cơ sở.

Năm 1929, sau khi Đông Dương Cộng sản Đảng ở Bắc Kỳ cử Nguyễn Phong Sắc, Trần Văn Cung vào Nghệ Tĩnh xây dựng cơ sở Đảng ở Trung kỳ thì một số nhóm đoàn viên thanh niên cộng sản ở các địa phương nói trên cũng được hình thành.

Cũng trong năm này, các đảng viên cộng sản hoạt động ở Sài Gòn và các tỉnh Nam Kỳ đã tuyên truyền, giác ngộ và tổ chức được nhiều thanh niên vào Đoàn. Riêng ở Sài Gòn, tại một số cơ sở quan trọng đã có những nhóm đoàn viên hoạt động dưới sự chỉ đạo của các đảng viên. Đến năm 1930, những nhóm đoàn viên này đã nhanh chóng chuyển thành các chi bộ Đoàn.

Vào thời gian nêu trên, trước yêu cầu của phong trào học sinh càng lên cao, Nguyễn Phong Sắc, Bí thư Kỳ bộ Đông Dương Cộng sản Đảng Trung Kỳ đã chủ trương thành lập Ban Chấp hành Tổng sinh hội Nghệ An do Nguyễn Tiềm học sinh Trường Quốc học Vinh làm Bí thư, Tổng sinh hội phát hành tờ báo “Xích sinh” (Học sinh đỏ) kịch liệt tố cáo chính sách giáo dục nô dịch của thực dân Pháp, tuyên truyền chủ nghĩa cộng sản...

Như vậy, cùng với sự ra đời của các tổ chức Đảng Cộng sản từ cuối năm 1929, trên đất nước ta đã hình thành những cơ sở đầu tiên của Đoàn thanh niên cộng sản, đó là các chi bộ Đoàn và các nhóm đoàn viên hoạt động dưới sự lãnh đạo của Đảng do các đảng viên trực tiếp phụ trách. Đây là mốc quan trọng trong quá trình tiến tới thành lập Đoàn.

Ngay trong hội nghị hợp nhất thành lập Đảng tháng 2-1930, công tác vận động thanh niên đã được Nguyễn Ái Quốc và các đại biểu đặc biệt quan tâm. Với việc thông qua chính cương, sách lược, điều lệ vắn tắt của Đảng, Hội nghị đã thông qua điều lệ của Đoàn thanh niên cộng sản. Và trong điều lệ vắn tắt của Đảng đã ghi rõ một điều kiện quan trọng: “Người dưới 21 tuổi phải vào Thanh niên cộng sản Đoàn”. Hội nghị cũng nói rõ Ban Chấp hành Trung ương của Đảng, ngoài công tác hàng ngày cần phải tổ chức ngay “Đoàn thanh niên cộng sản”. Như vậy, vấn đề Đoàn thanh niên cộng sản đã được khẳng định trong hai văn bản trọng yếu của Hội nghị thành lập Đảng.

Tháng 10 năm 1930 diễn ra một sự kiện hết sức quan trọng đối với phong trào cách mạng nước ta nói chung và đối với tổ chức Đoàn và phong trào thanh niên nước ta nói riêng. Đó là Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ nhất thảo luận và thông qua nhiều văn kiện lớn có ý nghĩa lịch sử trong đó có:

1- án nghị quyết về tình hình hiện tại ở Đông Dương và nhiệm vụ cần kíp của Đảng.

2- án nghị quyết về cộng sản thanh niên vận động.

Ở văn kiện án nghị quyết chung về tình hình và nhiệm vụ có phần chỉ rõ về công tác thanh niên trong đó nêu bật: “... Đảng phải thi hành ngay án nghị quyết của Quốc tế Thanh niên cộng sản Đoàn và giúp cho Đoàn có tính chất độc lập...”

Văn kiện Quốc tế mà Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ nhất nhắc đến là Nghị quyết cụ thể về công tác thanh niên thuộc địa (trên cơ sở quán triệt Luận cương về thanh niên thuộc địa năm 1924) được Đại hội Quốc tế Thanh niên cộng sản lần thứ V thông qua vào năm 1928. Sau Đại hội lần thứ V này, với mối quan tâm đặc biệt đến phong trào cách mạng của thanh niên Đông Dương, ngoài việc truyền đạt nghị quyết cụ thể về công tác thanh niên thuộc địa, tháng 4 năm 1930 Ban Chấp hành Quốc tế Thanh niên cộng sản lại gửi tiếp cho những người cộng sản ở Đông Dương một bức thư rất quan trọng với nội dung vừa tổng kết kinh nghiệm chung của phong trào thanh niên cộng sản trên thế giới, vừa gợi ra những công việc phải làm đối với tổ chức Đoàn và phong trào thanh niên cách mạng ở Đông Dương. Bức thư này đã được Hội nghị Trung ương Đảng tháng 10-1930 coi như là một văn kiện quan trọng mà những đảng viên cộng sản ở Đông Dương có trách nhiệm nghiên cứu vận dụng. Vì lẽ đó, trong án nghị quyết về tình hình và nhiệm vụ cần kíp của Đảng, Hội nghị Trung ương tháng 10-1930 đặc biệt lưu ý việc phải thi hành ngay Nghị quyết về thanh niên thuộc địa của Quốc tế Thanh niên Cộng sản.

Đối với án nghị quyết về công tác thanh niên (sau này thường gọi tắt là Nghị quyết tháng 10), đây là văn kiện đầu tiên của Đảng ta đặt nền móng vững chắc về quan điểm, tư tưởng cho công tác vận động thanh niên ở Đông Dương trong phạm trù của cuộc cách mạng vô sản. “Án nghị quyết” được trình bày theo ba phần.

Phần thứ nhất nói về: “Địa vị thanh niên lao động và sự quan trọng của thanh niên cộng sản Đoàn”. Mở đầu phần này Nghị quyết đã đánh giá khái quát tình cảnh các tầng lớp thanh niên và khả năng cách mạng to lớn của họ: ... “ở Đông Dương, số thanh niên lao động (thanh niên công nhân và cu li ở các kỹ nghệ, đồn điền; thanh niên công nhân và thanh niên dân cày nghèo, thanh niên thủ công, thanh niên ở mướn, thanh niên làm việc trong các nhà buôn...” chiếm một phần khá đông. Đó là một hạng lao động bị bóc lột, đè nén hơn hết; thanh niên và trẻ con đi làm, tuy làm một công việc như người lớn nhưng ăn ít tiền công hơn, vả lại còn bị đánh đập ngược đãi hơn nhiều nữa”... Sự phân tích này có ý nghĩa rất quan trọng đã làm sáng tỏ tình trạng bị áp bức, bóc lột nặng nề của các tầng lớp thanh niên lao động ở Đông Dương về cả 3 mặt dân tộc, giai cấp, lứa tuổi.

Từ sự phân tích này, Nghị quyết khẳng định: “Thanh niên lại là một hạng người ít bị những cái ảnh hưởng quốc gia, phong kiến, đế quốc chủ nghĩa trói buộc họ hơn người lớn, cho nên từ khi phong trào cách mạng nổi khắp trong xứ, chúng ta thấy quần chúng thanh niên tham gia rất hăng hái. Những cuộc công nhân bãi công và nông dân biểu tình trong năm nay tỏ rõ rằng thanh niên lao động đã thành một lực lượng cách mạng rất quan trọng không thể không kể tới được...”

Nghị quyết của Hội nghị Trung ương Đảng tháng 10-1930 ra đời trong hoàn cảnh phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân và nhân dân ta đang tiến tới cao trào: Hàng trăm cuộc bãi công của công nhân, biểu tình của nông dân đi đầu là thanh niên đã nổ ra trên khắp mọi miền đất nước. Tác dụng tích cực và có ý nghĩa quyết định của thanh niên với tư cách là đội quân xung kích đã được Nghị quyết khẳng định: “Thanh niên lao động đã thành một lực lượng cách mạng rất quan trọng”. Như vậy đến lúc này, ảnh hưởng mạnh mẽ của Đảng trong thanh niên và tác động cụ thể của các tổ chức Đoàn trong việc tập hợp và hướng dẫn thanh niên đã dấy lên được một phong trào yêu nước trong tuổi trẻ.

Phong trào ấy như Nghị quyết của Đảng đã nhận định là “làm cho nhiều thanh niên trong hạng tiểu tư sản, nhất là học sinh, tham gia vào cuộc sinh hoạt chính trị ở Đông Dương”.

Chính vì nhận thức được vai trò to lớn và lực lượng quan trọng của thanh niên nên các đảng phái chính trị đã tìm cách tranh thủ, lôi kéo thanh niên như Nghị quyết đã nêu rõ:... “Hết thảy những đảng phái ấy đều hiểu cái địa vị trọng yếu của thanh niên lao động...” Và kết luận được rút ra trong Nghị quyết là: “Đảng Cộng sản phải cần kíp công tác trong quần chúng thanh niên, phải lãnh đạo quần chúng thanh niên lao động thành phố, nhà quê tranh đấu hàng ngày và phải kéo họ ra khỏi ảnh hưởng quốc gia, phong kiến, đế quốc. Muốn được như vậy thì chỉ có tổ chức ra một đoàn thể của thanh niên mới được...”.

Nghị quyết Hội nghị Trung ương Đảng tháng 10-1930, đã dành một đoạn tiếp theo để nhắc lại rằng: ...“trong chương trình của Quốc tế Cộng sản thanh niên có chỗ nói rõ rằng Đảng Cộng sản, tức là đội lãnh đạo cho giai cấp công nhân, rất cần phải có một đám dự bị để lấy sức lực mới mẻ đem vào đội ngũ của mình; Đảng Cộng sản cần có một cái trường học dự bị, đào tạo những bọn con em của lao động cho Đảng Cộng sản và sau hết là phải cần có một tổ chức để chuyên trách lãnh đạo cho quần chúng thanh niên lao động tranh đấu để thực hiện chủ nghĩa cộng sản...”

Phần đánh giá tình hình này đã được kết thúc bằng một đoạn văn nói lên nhiệm vụ cần kíp của tất cả những đảng viên cộng sản ở Đông Dương lúc này là: “... Phải làm cho hết thảy đảng viên hiểu rằng công việc thanh niên cộng sản Đoàn là một việc cần kíp, quan trọng như là việc Đảng vậy...”.

Phần thứ hai của “án nghị quyết về cộng sản thanh niên vận động” nói về: “Những điều căn bản của thanh niên cộng sản Đoàn”, nghĩa là đề cập đến tính chất, chức năng, nhiệm vụ và những vấn đề về nguyên tắc tổ chức của Đoàn thanh niên cộng sản.

Mở đầu phần này, Nghị quyết viết: “Cộng sản thanh niên Đoàn là đại biểu độc nhất của đám thanh niên công nông, của tất cả đám thanh niên thành phố và nhà quê, đoàn đại biểu quyền lợi cho thanh niên lao động và tranh đấu để bênh vực những quyền lợi ấy.

Quyền chính của thanh niên lao động cũng giống như quyền lợi của lao động người lớn, nhưng thanh niên lại có những điều kiện cần và quyền lợi riêng của họ, riêng mà vẫn không trái gì với quyền lợi người lớn...”

Sự ra đời của Đảng Cộng sản đã xác lập vai trò lãnh đạo của giai cấp công nhân đối với cách mạng nước ta.

Đoàn thanh niên cộng sản là tổ chức thanh niên kiểu mới của Đảng, do Đảng tổ chức và lãnh đạo Đoàn là người đại diện cho quyền lợi của các tầng lớp thanh niên, trước hết là thanh niên công nông. Trong điều kiện của cuộc cách mạng nhằm đánh đổ đế quốc Pháp và bọn phong kiến đi tới xây dựng xã hội mới - xã hội chủ nghĩa do Đảng của giai cấp công nhân lãnh đạo thì Đoàn là người “Đại diện độc nhất” và Đoàn là “đội tiên phong, là đội lãnh tụ cho thanh niên lao động” (theo án nghị quyết).

Tuy nhiên Nghị quyết cũng chỉ rõ: ...“Cộng sản thanh niên Đoàn không phải là một Đảng cộng sản thứ hai cho thanh niên đâu. Nó là một cái tổ chức của thanh niên cộng sản thừa nhận và thi hành chương trình, điều lệ của Đảng Cộng sản...” nhưng đó lại là “...một đoàn thể độc lập, có cơ quan chỉ huy riêng...” Điều này ở thời kỳ đầu việc thực hiện đã gặp một số khó khăn do tình hình cán bộ.

Chức năng chủ yếu của Đoàn là một “đoàn thể chính trị tranh đấu” và nhiệm vụ của Đoàn là “huấn luyện quần chúng thanh niên theo chủ nghĩa Lênin và xây dựng nên một cái đoàn thể để huấn luyện họ” (theo Nghị quyết).

Nhưng Đoàn chỉ có thể thực hiện được chức năng và nhiệm vụ trên trong khi kết hợp chặt chẽ công tác giáo dục và động viên thanh niên tham gia vào phong trào đấu tranh rộng lớn của quần chúng: “... việc huấn luyện có thực hành được là chỉ trong vòng giai cấp đấu tranh mà thôi. Cộng sản thanh niên Đoàn chỉ huy công việc cộng sản huấn luyện thanh niên và tham gia vào mỗi cuộc tranh đấu (bãi công, biểu tình,v.v...) để huấn luyện thanh niên và đánh đổ sự bóc lột họ...”

Về nguyên tắc tổ chức, Nghị quyết viết... “Theo điều kiện bí mật ở Đông Dương thì cố nhiên Cộng sản thanh niên Đoàn cũng phải bí mật tổ chức và không thể bao quát được thanh niên. Song điều cốt yếu là phải như vậy; mỗi một công nhân, dân cày, mỗi một học sinh vô sản, từ 14 đến 23 tuổi có thể thành đoàn viên miễn là họ thừa nhận chương trình, điều lệ Đoàn tình nguyện vào cuộc vận động mà đấu tranh...”.

Tuy nhiên, vấn đề là phải tập hợp rộng rãi các tầng lớp thanh niên vào các tổ chức để giáo dục và đưa vào cuộc tranh đấu. Do đó “Cộng sản thanh niên Đoàn không những chỉ lo một việc chính là tổ chức những chi bộ ở các sản nghiệp và các nơi khác mà còn phải tổ chức ra những đoàn thể phụ thuộc như là những bộ phận thanh niên trong các công, nông hội, thanh niên vệ đội. Đồng Tử quân, Thiếu niên cách mạng, Ban thanh niên trong Hội phản đế, Hội thể dục,v.v... những đoàn thể này phải ở dưới quyền chỉ huy và kiểm duyệt của Cộng sản thanh niên Đoàn mới được.

Kết thúc phần này, Nghị quyết nhấn mạnh: ...“Đó là những điều chính mà đảng viên cộng sản cần phải nhớ trong lúc đi tổ chức cộng sản thanh niên Đoàn”...

Phần ba Nghị quyết nói về: “Cách tổ chức Đảng Đoàn cộng sản thanh niên Đoàn”. Nghị quyết viết: ...“Trung ương, các Xứ ủy, các tỉnh, thành, Đặc ủy phải phái ra một đồng chí trẻ tuổi hơn hết trong ủy viên hội của mình, những người này cùng với vài đồng chí thanh niên nữa lập thành những Ủy hội tổ chức cộng sản thanh niên Đoàn ở Trung ương, các xứ, tỉnh thành, đặc biệt bộ...” và ở cơ sở thì “hễ kiếm được ba người thanh niên cách mạng như vậy thì tổ chức ngay một chi bộ của Đoàn”, Nghị quyết còn quy định cụ thể: “Mỗi chi bộ của Đảng phụ trách tổ chức ra chi bộ của Đoàn”.

Đặc biệt về mối quan hệ giữa Đoàn với Đảng, Nghị quyết viết: ...“Các đoàn thể của cộng sản thanh niên Đoàn sẽ theo chương trình, điều lệ của Đảng Cộng sản mà làm việc và phải tham gia hết thảy những cuộc tranh đấu, phải hết sức giúp cho Đảng...” Như vậy là ngay từ trong Nghị quyết đầu tiên này, Đảng đã xác định rõ chức năng của Đoàn là người giúp sức cho Đảng, là đội dự bị của Đảng và hoạt động theo đường lối, chủ trương của Đảng. Đây là vấn đề thuộc tính nguyên tắc về sự lãnh đạo trực tiếp, toàn diện của Đảng đối với Đoàn, việc sớm xác lập những vấn đề mang tính chất nguyên tắc như thế đã tạo ra những thuận lợi rất cơ bản cho mọi hoạt động xây dựng tổ chức và đấu tranh của Đoàn. Nghị quyết còn chỉ rõ: ...“Báo chương của Đảng phải để một phần mà công bố, truyền bá những tài liệu của cộng sản thanh niên Đoàn, chương trình điều lệ, thư, chỉ thị của Quốc tế Cộng sản thanh niên ngày 16 tháng 4 năm 1930. Nghị quyết đã đặt vấn đề chuẩn bị để sớm tổ chức Đại hội Đoàn toàn quốc nhằm “quyết định những vấn đề quan trọng của Đoàn và cử ra Ban Trung ương ủy viên của Đoàn” (tức Ban Chấp hành Trung ương Đoàn).

Án nghị quyết về cộng sản thanh niên vận động” ra đời trong tháng 10 năm 1930 là một sự kiện hết sức quan trọng trong phong trào thanh niên nước ta. Án nghị quyết đã được xây dựng trên cơ sở tổng kết thực tiễn cách mạng phong phú ở Đông Dương trong những năm 20 kết hợp với sự vận dụng sáng tạo những nguyên lý chung của chủ nghĩa Mác-Lênin về xây dựng Đảng kiểu mới và tổ chức thanh niên của Đảng cũng như những lời chỉ dẫn xác đáng của Quốc tế Thanh niên cộng sản. Án nghị quyết là văn kiện nền tảng về lý luận vận động thanh niên đầu tiên của Đảng ta. Mặc dầu án nghị quyết ra đời cách đây hơn nửa thế kỷ nhưng nhiều vấn đề cơ bản được đề ra trong Nghị quyết vẫn còn giữ nguyên giá trị chỉ đạo cho đến ngày nay.

Án nghị quyết ra đời đáp ứng kịp thời những đòi hỏi của phong trào yêu nước trong thanh niên ta đang phát triển mạnh và đã thực sự gây nên những chuyển biến đối với sự nghiệp xây dựng Đoàn. Trước hết trong đội ngũ cán bộ của Đảng, vấn đề nhận thức về ý nghĩa và tầm quan trọng đặc biệt của công tác thanh niên cũng như trách nhiệm của người cộng sản đối với công tác này đã được nâng cao, mặt khác nghị quyết cũng đã trang bị những hiểu biết cần thiết cho cán bộ, đảng viên nhằm triển khai công tác vận động thanh niên, các cấp ủy Đảng địa phương đã gửi thông báo đến cơ sở yêu cầu “phải tổ chức thật nhanh chóng Đoàn thanh niên cộng sản từ chi bộ đến tỉnh bộ”. Chúng ta thấy rõ tác dụng tích cực của án nghị quyết tháng 10 năm 1930 trên hai mặt sau đây: Một là sự phát triển mạnh mẽ của các cơ sở Đoàn trên phạm vi cả nước; hai là vai trò của đoàn viên, thanh niên trong cao trào cách mạng mới của quần chúng lao động.

Về mặt phát triển tổ chức, chúng ta thấy như sau: ở Nghệ An, Hà Tĩnh, trước tháng 10 năm 1930, số cơ sở Đoàn chỉ có từ 3 đến 4 chục đoàn viên hoạt động dưới sự chỉ đạo trực tiếp của đảng viên, chưa có sinh hoạt riêng. Nhưng đến tháng 12 năm 1930, tức là sau khi án nghị quyết được triển khai đến một số huyện thì số cơ sở Đoàn đã lên đến chừng một trăm đoàn viên lập thành các tiểu tổ chi bộ Đoàn riêng. Vào cuối năm 1930, thi hành thông báo của Xứ ủy Trung Kỳ, các chi bộ Đảng, các cấp huyện, thị đã tích cực phát triển Đoàn nên số đoàn viên ở hai tỉnh nói trên tăng lên đến gần 500 đồng chí, và cho đến năm 1931, số đoàn viên ở hai tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh đã tăng lên trên 2000 đồng chí (theo thống kê của Ban Nghiên cứu lịch sử Đảng Nghệ An và Hà Tĩnh).

Theo báo cáo của Xứ ủy Trung Kỳ thì đến tháng 12 năm 1930 trong 5 tỉnh ở Trung Kỳ gồm Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Trị, Bình Định, Quảng Ngãi, số đoàn viên thanh niên cộng sản là 921 đồng chí, số sinh hội đỏ là 42 hội viên.

Theo thư của đồng chí Nguyễn Ái Quốc gửi Ban Chấp hành Trung ương Đảng ngày 20-4-1931 trong đó thống kê một số cơ sở Đoàn thì đến khoảng cuối năm 1930 đầu năm 1931, số lượng đoàn viên trong một số tỉnh ở nước ta là 942 đồng chí.

Theo văn bản nhan đề “Những thủ đoạn của đế quốc Pháp” được viết vào khoảng cuối năm 1930 đã thống kê một số cơ sở Đoàn và số lượng đoàn viên như sau: Hải Phòng 8 đoàn viên thanh niên cộng sản; Hòn Gai (mỏ) 10 đoàn viên thanh niên cộng sản; Nam Định 31 đoàn viên thanh niên cộng sản; Phủ Lý 13 đoàn viên thanh niên cộng sản; Thái Bình 11 đoàn viên thanh niên cộng sản tập hợp trong 3 chi bộ Đoàn và,v.v...

Bằng một số lượng cán bộ, đoàn viên được phát triển khá mạnh cộng với hàng nghìn thanh niên cảm tình với Đoàn được tập hợp trong các tổ chức như Sinh hội, Hội cứu tế, Hội thể dục thể thao... tạo thành đội ngũ nòng cốt đảm đương vai trò là lực lượng xung kích đi đầu trong cao trào cách mạng những năm 1930-1931.

Như phần trên đã trình bày chính từ trong phong trào đấu tranh mạnh mẽ, rộng lớn của thanh niên vào những năm 1928, 1929, 1930 kết hợp với những hoạt động tuyên truyền, giáo dục về lý tưởng cộng sản, về chủ nghĩa Mác-Lênin của những người Mácxít ở Đông Dương, sau này là những người cộng sản mà tổ chức cơ sở đầu tiên của Đoàn đã được hình thành. Khi phong trào đấu tranh càng lên cao thì sự đòi hỏi cấp bách lúc này là phải có đội tiên phong chiến đấu của thanh niên (tức Đoàn thanh niên cộng sản) để làm hạt nhân đoàn kết mọi lực lượng tuổi trẻ, làm người đại diện cho lợi ích chân chính của thanh niên, làm lực lượng xung kích và đội dự trữ của Đảng, làm chiếc cầu nối liền giữa thế hệ trẻ với Đảng của giai cấp công nhân, hướng dẫn quần chúng thanh niên đấu tranh dưới ngọn cờ của Đảng.

Nhận thức được quy luật này, chỉ hơn 6 tháng sau ngày thành lập, Đảng Cộng sản Việt Nam đã đề ra được một nghị quyết toàn diện về công tác thanh niên, trực tiếp bắt tay xây dựng Đoàn với một ý thức đầy đủ “coi việc Đoàn như việc Đảng” và “mọi đảng viên đều có trách nhiệm xây dựng Đoàn”.

Khi đội ngũ cán bộ, đoàn viên được phát triển, được thử thách, rèn luyện qua thực tiễn tạo thành sức mạnh trở lại tác động đến phong trào, thúc đẩy phong trào tiến lên những bước mới.

Sau khi Đảng ra đời và các tổ chức cơ sở của Đoàn được phát triển mạnh ở các trung tâm kinh tế, chính trị của đất nước, phong trào đấu tranh của nhân dân ta, trước hết là của công nhân, nông dân, thanh niên, học sinh, tiểu tư sản trí thức,v.v... dưới dự lãnh đạo của Đảng có sự phát triển vượt bậc. Từ tháng 6 đến tháng 8 năm 1930, trong cả nước đã nổ ra 121 cuộc đấu tranh. Đây là một tình hình đặc biệt, chính trên cơ sở này, Đảng ta đã chủ trương phát động một cao trào cách mạng rộng lớn nhằm giành những quyền lợi thiết thân và để tập hợp giáo dục quần chúng.

Với lòng yêu nước, căm thù giặc cao độ, phong trào đấu tranh của quần chúng đi đầu là thanh niên đã bùng lên mạnh mẽ, lan đi nhanh chóng mà đỉnh cao là sự xuất hiện các Xô viết làm chức năng chính quyền cách mạng do giai cấp công nhân lãnh đạo ở nhiều vùng rộng lớn trong hai tỉnh Nghệ An, Hà Tĩnh.

Bài ca “Thanh niên cận vệ” hùng tráng đã cổ vũ các chiến sĩ Xô viết Nghệ Tĩnh trẻ tuổi vùng lên:

... "Chúng ta là thanh niên cận vệ!

Chúng ta là đội cận vệ của ngày mai

Sinh trưởng trong nơi đớn đau, khốn cùng

Một là toàn thắng, hai là hy sinh

Vì công lý ta ra tranh đấu..."

Chỉ trong tháng 9 và tháng 10 năm 1930, cả nước có 362 cuộc đấu tranh: 29 cuộc ở miền Bắc, 316 cuộc ở miền Trung, 17 cuộc ở miền Nam.

Phong trào cách mạng của quần chúng công nông dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản đã được đồng chí Nguyễn Ái Quốc theo dõi chặt chẽ và báo cáo thường xuyên cho Quốc tế Cộng sản.

Ngày 29 tháng 9 năm 1930, Người gửi thư cho Ban Chấp hành Quốc tế Cộng sản phản ánh về tình hình đấu tranh ở Nghệ Tĩnh và yêu cầu Quốc tế Cộng sản cho ý kiến chỉ đạo.

Ngày 5 tháng 11 năm 1930, Người gửi thư cho Quốc tế nông dân phản ánh về phong trào nông dân trong nước, đặc biệt là phong trào Xô viết Nghệ Tĩnh.

Ngày 19-2-1931, Nguyễn Ái Quốc gửi báo cáo lên Ban Chấp hành Quốc tế Cộng sản về cuộc đấu tranh ở Nghệ Tĩnh trong đó khẳng định: “Bom đạn, súng máy, đốt nhà, đồn binh... đều bất lực không dập tắt nổi phong trào cách mạng của Nghệ Tĩnh”.

Xô viết Nghệ Tĩnh là kết quả phát triển của cao trào đấu tranh cách mạng của quần chúng. Điều kiện cơ bản để tạo nên cao trào đó là do Nghệ Tĩnh sớm có một Đảng bộ mạnh, sớm hình thành được khối liên mình công nông, sớm xây dựng nên đội xung kích cách mạng của Đảng là Đoàn thanh niên cộng sản.

Vai trò của đoàn viên và thanh niên trong Xô viết Nghệ Tĩnh được nhân dân và thanh niên cả nước ta đánh giá rất cao. Đó là những chiến sĩ quả cảm, chiến dấu quên mình vì lý tưởng của Đảng. Nhìn lại lực lượng đoàn viên và thanh niên có tổ chức trong phong trào Xô viết Nghệ Tĩnh chúng ta có thể nêu lên những số liệu tiêu biểu sau đây:

- 2356 đoàn viên thanh niên cộng sản được tập hợp trong hàng trăm chi bộ Đoàn.

- 9158 đội viên tự vệ đỏ (tuyệt đại bộ phận là thanh niên) được tập hợp trong 411 đơn vị do đảng viên hoặc cán bộ, đoàn viên thanh niên cộng sản chỉ huy.

- Khoảng 600 thanh niên hăng hái cách mạng là cảm tình của Đoàn do các đoàn viên thanh niên cộng sản hướng dẫn hoạt động.

- 513 đội viên thiếu niên do các chi bộ Đoàn hoặc các đội tự vệ hướng dẫn hoạt động.

Chính trong cao trào Xô viết Nghệ Tĩnh đã xuất hiện biết bao tấm gương anh hùng mở đầu cho truyền thống đấu tranh cách mạng vẻ vang của Đoàn. Một trong những tấm gương chói lọi đó là Cao Xuân Quế, 17 tuổi, quê ở xã Lĩnh Sơn, huyện Anh Sơn (tỉnh Nghệ An), anh là một thanh niên rất hăng hái cách mạng. Anh được kết nạp vào Đoàn trong những ngày đấu tranh quyết liệt và sau đó tham gia thanh niên xích vệ. Trong mọi cuộc đấu tranh, Cao Xuân Quế luôn hăng hái đi đầu, bất chấp hiểm nguy và không bao giờ từ nan một nhiệm vụ nào dù gian khổ, khó khăn đến đâu. Khi phong trào bị địch khủng bố mạnh, cơ quan của Đảng và đơn vị xích vệ phải tạm lánh vào rừng. Cao Xuân Quế vẫn sống lạc quan, tin tưởng. Một lần, trong khi đang làm nhiệm vụ, anh bị địch bắt. Biết anh là thanh niên cộng sản, địch dùng mọi cực hình tra tấn nhưng anh không hề hé môi khai với chúng nửa lời. Trong nhà giam, anh động viên những đoàn viên và thanh niên cùng bị bắt cất cao tiếng hát quen thuộc: “Chúng ta là thanh niên cận vệ”. Quế hy sinh giữa tuổi 17 trong sự tiếc thương vô hạn của đồng chí, đồng bào.

Bên cạnh Cao Xuân Quế, chúng ta còn thấy nhiều tấm gương anh hùng, bất khuất khác. Đó là Lê Cảnh Nhượng, bí thư chi bộ Đoàn thanh niên cộng sản xã Phong Nẳm, huyện Thanh Chương (tỉnh Nghệ An). Anh còn là người chỉ huy gan dạ của đội tự vệ xã. Sau khi bị bắt, địch đưa anh ra trước tòa án của đế quốc, phong kiến để xử. Lúc nghe bọn quan tòa thóa mạ Đảng ta, anh đứng phắt dậy, chỉ vào mặt chúng: ... “Các người không được nói láo, Đảng Cộng sản chúng tôi không hề cướp của, giết người, Đảng chúng tôi làm cách mạng để đánh đổ đế quốc, phong kiến, chính các người mới là bọn cướp của, giết người...”. Để khủng bố tinh thần nhân dân, địch đưa đồng chí Lê Cảnh Nhượng về chính quê anh để xử bắn. Một lần nữa Nhượng lại vạch mặt quân thù trước khi ngã xuống...

Xô viết Nghệ Tĩnh là trận thử lửa đầu tiên đối với lớp đoàn viên thanh niên cộng sản thuộc thế hệ 1925-1935 quyết một lòng theo Đảng và đã tỏ rõ khí phách anh hùng xứng đáng với lòng tin yêu của Đảng và nhân dân.

Phối hợp với tuổi trẻ Nghệ Tĩnh, tuổi trẻ cả nước ta trong thời gian này đã đẩy mạnh mọi mặt đấu tranh chống quân thù. Biết bao đoàn viên thanh niên cộng sản đã hy sinh anh dũng với tư thế hiên ngang trước họng súng của quân thù. Trong số đó, tên tuổi của Lý Tự Trọng, người đoàn viên thanh niên cộng sản được Nguyễn Ái Quốc ân cần chăm sóc, đào tạo, giáo dục từ lúc còn tuổi thiếu niên đã được tuổi trẻ Việt Nam cũng như tuổi trẻ nhiều nước trên thế giới biết đến như một biểu tượng rực rỡ của tinh thần bất khuất và lạc quan cách mạng tuyệt vời. Anh về nước công tác theo sự phân công của tổ chức nhằm góp phần xây dựng cơ sở Đoàn ở miền Nam nước ta trong cao trào đấu tranh 1930-1931, ngoài ra anh còn làm nhiệm vụ giao liên cho Trung ương và Xứ ủy Đảng. Lý Tự Trọng đã tỏ rõ tinh thần gan dạ vô song đối với mọi công việc mà anh đảm nhận. Để cứu nguy cho đồng chí mình, Lý Tự Trọng đã rút súng bắn chết tên mật thám cáo già Lơgơrăng ngay trên đường phố Sài Gòn (chiều chủ nhật ngày 8-2-1931). Sa vào tay giặc và bị chúng dùng mọi cực hình dã man để tra tấn song chính khí tiết của anh đã làm cho kẻ thù phải kính nể. Chúng gọi anh là “Ông nhỏ” và kinh ngạc mỗi lúc nghe anh ngâm Kiều trong xà lim tử hình. Tra tấn không khuất phục được anh, kẻ địch lại dùng thủ đoạn mua chuộc hèn hạ nhưng chúng cũng lại bị thất bại nhục nhã.

Trước tòa án của kẻ thù, Lý Tự Trọng đã dõng dạc tuyên bố: “Tôi hoạt động có suy nghĩ, tôi hiểu việc tôi làm. Con đường của thanh niên chỉ là con đường cách mạng, không thể có con đường nào khác”. Lời nói đanh thép mang nội dung chân lý sâu sắc đó được các thế hệ tuổi trẻ Việt Nam coi như bản tuyên ngôn bất diệt của thế hệ thanh niên mở đường cách mạng ở nước ta, có sức cổ vũ vô cùng to lớn đối với những người tiếp bước theo anh.

Theo dõi chặt chẽ hành động anh hùng của Lý Tự Trọng, ngày 21-12-1931, Nguyễn Ái Quốc đã gửi thư cho Bộ Phương Đông Quốc tế Cộng sản báo tin này và đề nghị Bộ Phương Đông yêu cầu Đảng Cộng sản Pháp tổ chức biểu tình đòi trả tự do cho Lý Tự Trọng.

***

Vào đầu năm 1931, thực hiện án nghị quyết tháng 10-1930 về công tác thanh niên của Hội nghị Trung ương Đảng, các cơ sở Đoàn đã được xây dựng trên hầu khắp nước ta từ Bắc vào Nam. Tuy nhiên, hệ thống tổ chức của Đoàn vẫn chưa được thống nhất và Đoàn chưa có sinh hoạt riêng.

Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ hai dưới sự chủ trì của đồng chí Trần Phú, Tổng Bí thư của Đảng đã diễn ra tại Sài Gòn vào những ngày cuối tháng 3-1931, Hội nghị đã dành nhiều thời gian để bàn về công tác xây dựng Đảng và xây dựng Đoàn. Hội nghị đã nghiên cứu bức thư của Ban Chấp hành Quốc tế thanh niên cộng sản gửi cho Đảng ta, kiểm điểm việc thực hiện “án nghị quyết về cộng sản thanh niên vận động của Hội nghị Trung ương lần thứ nhất” tháng 10 năm 1930 và đề ra nhiệm vụ: “Cần kíp tổ chức ra thanh niên cộng sản Đoàn”. Nghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ hai phần về công tác thanh niên đã vạch rõ: “...Lập tức các Đảng bộ địa phương phải mau mau tổ chức ra Đoàn, đốc xuất chi bộ tổ chức cơ quan báo chương về việc vận động của Đoàn và phải chỉ đạo cho các chi bộ mới thành lập của Đoàn bắt đầu khẩu hiệu của thanh niên và hiệu triệu quần chúng...”. Trước Hội nghị Trung ương lần thứ 2, tháng 3-1931 khoảng một tháng (tức là vào tháng 2 năm 1931, Thường vụ Trung ương Đảng đã cử một đồng chí trong Thường vụ phụ trách công tác thanh niên ở các cấp Trung ương. Tuy Hội nghị Trung ương lần thứ hai không ra nghị quyết mới về công tác thanh niên nhưng dã có nhiều hoạt động hết sức quan trọng có ý nghĩa quyết định đến sự phát triển của phong trào thanh niên, đặc biệt là đối với sự nghiệp xây dựng, củng cố Đoàn Thanh niên Cộng sản Đông Dương trong tình hình mới.

Theo dõi sát sao tình hình xây dựng Đảng, xây dựng Đoàn và các tổ chức quần chúng khác trong nước ngày 20-4-1931 đồng chí Nguyễn Ái Quốc đã gửi một bức thư hết sức quan trọng cho Ban Chấp hành Trung ương Đảng, nhận xét về những ưu và khuyết điểm trong công tác của Đảng, vạch ra hướng phát triển.

Trong bức thư này, đồng chí Nguyễn Ái Quốc đã làm một bản thống kê các cơ sở Đảng, cơ sở Đoàn ở nhiều địa phương trong nước và nêu lên những ý kiến so sánh. Cuối thư, Người chỉ thị: “Tôi đề nghị cần kíp nhất là thống nhất thanh niên cộng sản Đoàn và công hội, làm cho họ có sinh hoạt độc lập”. Chỉ thị của Người đã nhấn mạnh và làm sâu sắc thêm tinh thần nghị quyết hội nghị Trung ương lần thứ nhất và lần thứ hai về công tác thanh niên trong tình hình mới mà Người đã thường xuyên quan tâm.

Như vậy là đến tháng 3 năm 1931, sau một quá tình chuẩn bị lâu dài, gian khổ từ năm 1925 đến 1930 được sự tổ chức lãnh đạo của hội Việt Nam thanh niên cách mạng đồng chí và của Đảng Cộng sản Đông Dương; từ trong các phong trào đấu tranh yêu nước rộng lớn của thanh niên và nhân dân theo con đường của cách mạng vô sản; được sự trực tiếp đào tạo, bồi dưỡng và tổ chức, lãnh đạo của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc, tổ chức thanh niên cơ sở ở nước ta “từ bước đầu hiếm hoi” với một nhóm nhỏ đoàn viên do lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc chăm sóc, dìu dắt, chỉ sau một thời gian ngắn 5 năm đã phát triển nhanh chóng và lớn mạnh vượt bậc.

Vào mùa xuân năm 1931 ở thời điểm từ ngày 20 đến 26-3-1931, khi tiến hành Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ hai, trong đó Trung ương dành một phần quan trọng trong chương trình làm việc để bàn về công tác thanh niên đã đi đến những quyết định có ý nghĩa đặc biệt như các cấp Đảng từ Trung ương đến địa phương phải cử ngay các cấp ủy viên của Đảng phụ trách công tác Đoàn. Trước sự phát triển và lớn mạnh của phong trào thanh niên cũng như sự phát triển và lớn mạnh của Đoàn, trên cả ba miền Bắc, Trung, Nam, ở nước ta xuất hiện nhiều tổ chức Đoàn cơ sở với khoảng hơn 1.500 đoàn viên và một số địa phương đã hình thành hệ thống tổ chức Đoàn xã, huyện lên đến tỉnh. Đến cuối năm 1931 số lượng đoàn viên trong cả nước lên đến khoảng hơn 2500 đồng chí, chứng tỏ tác động tích cực của những quyết định quan trọng của Hội nghị Trung ương lần thứ hai (tháng 3 - 1931). Biết bao đoàn viên và thanh niên đã chiến đấu, hy sinh cho lý tưởng cộng sản chủ nghĩa của Đoàn.

Qua những đóng góp to lớn của đoàn viên, thanh niên  và sự nghiệp lớn mạnh của Đoàn trong cao trào đấu tranh cách mạng thời kỳ năm 1930 - 1931, Đoàn Thanh niên Cộng sản Đông Dương được Ban Chấp hành Quốc tế thanh niên cộng sản công nhận là một bộ phận của Quốc tế thanh niên cộng sản.

Sự ra đời của Đoàn Thanh niên Cộng sản Đông Dương đáp ứng kịp thời đòi hỏi cấp bách của phong trào thanh niên nước ta lúc bấy giờ. Đây là sự vận động khách quan phù hợp với quy luật phát triển của cách mạng nước ta đồng thời phản ánh công lao trời biển của Đảng, của Chủ tịch Hồ Chí Minh vô cùng kính yêu, Người đã sáng lập và rèn luyện Đoàn từ những ngày đầu trứng nước.

Được Bộ Chính trị Trung ương Đảng và Bác Hồ cho phép theo đề nghị của Ban Thường vụ Trung ương Đoàn Thanh niên Lao động Việt Nam, Đại hội Đoàn toàn quốc lần thứ ba họp từ ngày 22 đến 25-3-1961 đã quyết định lấy ngày 26-3-1931 (một ngày trong thời gian cuối của Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ hai đã dành để bàn bạc và quyết định những vấn đề rất quan trọng đối với công tác vận động thanh niên) làm ngày thành lập Đoàn hàng năm.

Ngày 26-3 trở thành ngày vẻ vang của tuổi trẻ Việt Nam.

 

CHƯƠNG II
ĐẤU TRANH CHỐNG KHỦNG BỐ, KHÔI PHỤC LẠI PHONG TRÀO, CHỐNG BỌN PHẢN ĐỘNG THUỘC ĐỊA ĐÒI CƠM ÁO, HÒA BÌNH, TỰ DO, DÂN CHỦ

---

Sau cao trào Xô viết - Nghệ Tĩnh, cách mạng nước ta bị đế quốc, phong kiến đàn áp, khủng bố hết sức khốc liệt. Hàng vạn cán bộ, đảng viên, đoàn viên và quần chúng yêu nước bị chém giết, tù đày. Nhiều cơ sở Đảng, cơ sở Đoàn tan vỡ. Tuy nhiên, những chiến sĩ cách mạng còn lại vẫn kiên cường hoạt động bất chấp gươm súng của kẻ thù. Trong  tình hình đó Ban Chấp hành Trung ương lâm thời của Đảng đã công bố Chương trình hành động của Đảng và các Chương trình hành động của các tổ chức quần chúng của Đảng, trong đó có Chương trình hành động của Đoàn Thanh niên Cộng Sản. Đây là một bước ngoặt quan trọng trong việc củng cố Đoàn cả về mặt nhận thức và thực tiễn. Nhờ vậy đến những năm 1933-1934, các cơ sở Đảng, cơ sở Đoàn dần dần được khôi phục.

Đại hội lần thứ nhất của Đảng (3-1935) là một sự kiện lịch sử quan trọng đánh dấu hệ thống tổ chức Đảng và phong trào cách mạng của quần chúng đã được phục hồi.

Đối với Đoàn Thanh niên Cộng sản, Đại hội đã nhận định: Cơ sở của Đoàn ở Nam Kỳ đã được khôi phục, ở Trung Kỳ và Bắc Kỳ đội ngũ của Đoàn đang được chỉnh đốn, nhiều cơ sở mới của Đoàn được tổ chức lại. Tại các tỉnh miền núi ở Bắc Kỳ và Lào - Đoàn đã thu hút thêm nhiều đoàn viên thuộc các dân tộc ít người và cả người Hoa. Đại hội đã nêu rõ: Nhiệm vụ chính của Đoàn là phải củng cố và mở rộng tổ chức, đặc biệt là ở những vùng quan trọng như các nhà  máy, hầm mỏ, đồn điền,v.v... Phải dùng các hình thức công khai và bán công khai, bí mật lập ra các tổ chức có tính phổ thông như Hội thể thao, Câu lạc bộ, Hội đọc sách báo, Hội cứu tế vv... để tập hợp thanh niên.

Sự phục hồi tổ chức Đảng, các đoàn thể quần chúng trong đó có Đoàn Thanh niên Cộng sản đã tạo điều kiện cho Đảng và Đoàn bước vào một thời kỳ đấu tranh mới.

Tháng 7 năm 1935, Đại hội lần thứ VII Quốc tế Cộng sản họp ở Mátxcơva từ ngày 25 tháng 7 đến ngày 20 tháng 8 năm 1935.

Xuất phát từ sự phân tích bản chất, âm mưu, thủ đoạn và nguy cơ của chủ nghĩa phát xít đối với cách mạng thế giới. Đại hội đã vạch rõ kẻ thù nguy hiểm nhất của nhân dân thế giới lúc này không phải là chủ nghĩa tư bản hoặc chủ nghĩa đế quốc nói chung mà là chủ nghĩa phát xít. Nhiệm vụ trước mắt của giai cấp công nhân quốc tế chưa phải là đấu tranh đánh đổ chủ nghĩa tư bản, xây dựng chủ nghĩa xã hội mà là đấu tranh giành dân chủ và hòa bình, bảo vệ Liên Xô.

Tháng 5-1935 Mặt trận nhân dân Pháp được thành lập bao gồm Đảng Cộng sản, Đảng Xã hội, Đảng cấp tiến, Tổng Liên đoàn Lao động thống nhất và các đoàn thể quần chúng khác. Trong cuộc bầu cử Quốc hội tháng 5 năm 1936, Mặt trận nhân dân giành được đa số phiếu và tháng 6 năm 1936, Chính phủ phái tả lên cầm quyền ở Pháp.

Chính phủ này thực chất vẫn là cơ quan chấp hành ý chí của giai cấp tư sản Pháp, nhưng trước sức mạnh đấu tranh của quần chúng đoàn kết trong Mặt trận nhân dân, một số yêu sách về xã hội - kinh tế trong cương lĩnh của Mặt trận đã được thực hiện.

Căn cứ vào những diễn biến của tình hình thế giới và trong nước, quán triệt và vận dụng nghị quyết của Quốc tế Cộng sản vào hoàn cảnh lịch sử cụ thể ở Việt Nam và để thực sự phối hợp giữa cách mạng Việt Nam và cách mạng thế giới, nhất là cách mạng Pháp, tháng 7 năm 1936 Hội nghị Trung ương Đảng đã định ra đường lối, phương pháp tổ chức và đấu tranh cách mạng trong thời kỳ mới.

Nhiệm vụ trước mắt của Đảng và nhân dân ta lúc này là tập trung mũi nhọn đấu tranh chống bọn phản động thuộc địa và tay sai của chúng ở Đông Dương, đòi các quyền tự do, dân chủ, cải thiện đời sống, chống chiến tranh phát xít, bảo vệ hòa bình. Vì vậy, Đảng chủ trương lập Mặt trận nhân dân phản đế rộng rãi (về sau đổi thành Mặt trận thống nhất dân chủ) bao gồm tất cả các giai cấp, đảng phái, đoàn thể chính trị, tín ngưỡng, tôn giáo khác nhau để cùng đấu tranh đòi những điều kiện dân chủ tối thiểu cho nhân dân các nước trên bán đảo Đông Dương.

Để phù hợp với sự chuyển hướng về nhiệm vụ, hội nghị chủ trương chuyển hình thức tổ chức bí mật không hợp pháp sang hình thức tổ chức công khai, hợp pháp và nửa hợp pháp.

Tiếp sau đó, Hội nghị toàn thể Ban Chấp hành Trung ương Đảng họp tháng 7 năm 1936 đã ra những quyết định quan trọng nhằm tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác vận động thanh niên. Các hội nghị của Ban Chấp hành Trung ương trong các kỳ họp tháng 3-1937, tháng 9-1937, và tháng 3-1938 đều có những quyết nghị về công tác vận động thanh niên, chỉ ra phương hướng nhiệm vụ công tác tư tưởng và tổ chức của Đoàn trong thời kỳ này.

Tháng 3-1937, Đảng quyết định tổ chức ra “Đông Dương phản đế Đoàn” để thay cho “Đông Dương cộng sản Đoàn”. Tháng 9-1937 Đảng nhấn mạnh phải ra sức tổ chức các hội quần chúng phổ thông của thanh niên (Thanh niên dân chủ, tân tiến, thể thao, khuyến học,v.v...) để thu phục quảng đại quần chúng thành một Mặt trận thống nhất thanh niên. Đến tháng 3-1938 Đảng quyết định tổ chức “Thanh niên tân tiến Hội” để giúp Đảng vận động các tầng lớp thanh niên phù hợp với hoàn cảnh, trình độ, tâm lý của họ để có khẩu hiệu và hình thức tổ chức thích hợp (phổ thông và công khai hoặc bán công khai, như hội đá bóng, đọc báo, âm nhạc,v.v...). Trong thời kỳ 1936-1939, Đoàn thanh niên có nhiều tên gọi khác nhau song đều nhằm mục đích đấu tranh đòi các quyền dân sinh dân chủ, vì vậy chúng ta thường gọi tên chung là Đoàn Thanh niên dân chủ.

Một số không ít cán bộ, đoàn viên thanh niên cộng sản thoát khỏi nhà tù đế quốc nay tiếp tục hoạt động với trách nhiệm mới trong Đoàn Thanh niên dân chủ. Được Đảng giáo dục, bồi dưỡng, Đoàn Thanh niên dân chủ đã tiếp nối xứng đáng truyền thống anh dũng của mọi trận tuyến đấu tranh chống quân thù dưới ngọn cờ của Đảng. Mở đầu là phong trào đấu tranh đòi triệu tập “Đại hội Đông Dương”.

Lúc này trước phong trào đấu tranh mạnh mẽ của giai cấp công nhân và Đảng Cộng sản Pháp, Chính phủ Mặt trận nhân dân Pháp phải quyết định thả tù chính trị, thi hành một số cải cách xã hội ở các thuộc địa Pháp và thành lập một ủy ban điều tra tình hình Đông Dương.

Nắm được cơ hội hiếm có này, Đảng ta liền chủ trương phát động phong trào đấu tranh công khai, bằng hình thức vận động lập “ủy Ban trù bị Đông Dương Đại hội” nhằm thu thập nguyện vọng cả các tầng lớp nhân dân, tiến tới triệu tập Đại hội đại biểu nhân dân Đông Dương để thông qua bản “Dân nguyện” gửi cho phái bộ điều tra Pháp sắp sang ta.

Thanh niên là lực lượng hăng hái, tích tực nhất trong các ủy ban hành động, trong việc đi thu thập nguyện vọng của nhân dân. Những yêu cầu về quyền dân sinh, dân chủ này cũng là nguyện vọng bức bách của đông đảo thanh niên và quần chúng lao động vì rằng: “Trừ một số ít thanh niên con nhà tư sản, thì hầu hết thanh niên lao động cho đến thanh niên tiểu tư sản đều phải sống cuộc đời khốn quẫn về vật chất lẫn tinh thần”(1).

Phong trào Đông Dương Đại hội phát triển nhanh chóng chỉ trong một thời gian ngắn, ở Nam Bộ đã có 600 ủy ban hành động phần lớn là thanh niên tham gia, Một số ủy ban hành động như ở thành phố Sài Gòn bao gồm gần 100% là thanh niên có cảm tình với cách mạng. Các ủy ban hành động tổ chức nhiều cuộc hội nghị, mít tinh để giải thích, thảo luận về tình hình thời cuộc, về tình cảnh đời sống, về mặt trận nhân dân và những yêu cầu về quyền dân chủ, cải thiện đời sống về luật lao động. Qua các cuộc sinh hoạt chính trị này thanh nhiên càng thấy rõ, muốn có được những quyền lợi tối thiểu thì phải đoàn kết lại và tổ chức đấu tranh.

Hoảng sợ trước sức mạnh đấu tranh của quần chúng, Chính phủ Pháp ra lệnh cấm Đông Dương Đại hội, nhưng chúng không ngăn cấm được làn sóng đòi quyền dân chủ, cải thiện đời sống của nhân dân ta.

Cùng với phong trào đấu tranh của công nhân và các tầng lớp nhân dân lao động khác, phong trào đấu tranh của thanh niên ngày một lan rộng khắp các thành phố và địa phương trong cả nước. Thanh niên công nhân đấu tranh đòi tự do lập nghiệp đoàn, tăng lương, giảm giờ làm: phản đối đánh đập, cúp phạt, chống đuổi thợ... Thanh niên nông dân đòi cứu tế nạn đói, nạn lụt, đòi chia lại ruộng công, chống sưu cao thuế nặng, cướp ruộng đất, nữ thanh niên đòi quyền lợi ngang nam giới; việc làm như nhau, tiền lương ngang nhau, cấm bắt bớ, bỏ tù phụ nữ khi đến kỳ sinh đẻ... Thanh niên học sinh đòi mở thêm trường,v.v...

Chỉ tính 6 tháng cuối năm 1936 đã có 361 cuộc đấu tranh trong đó có 236 cuộc của công nhân. Có những cuộc bãi công thu hút hàng nghìn thanh niên công nhân tham gia như cuộc bãi công của 5.000 công nhân mỏ thiếc Tĩnh Túc (Cao Bằng), tiêu biểu là cuộc bãi công lớn của hơn 30.000 công nhân mỏ Hòn Gai, Cẩm Phả.

Trước phong trào đấu tranh mạnh mẽ của nhân dân lao động Đông Dương, trước sức ép của Mặt trận nhân dân Pháp và áp lực đấu tranh của Đảng Cộng sản Pháp, theo lệnh Chính phủ Pháp, ngày 11-10-1936, toàn quyền Đông Dương ra nghị định về một số quyền lợi của công nhân và lao động làm thuê như thời gian lao động trong một ngày không quá 10 giờ kể từ 1-11-1936, không quá 9 giờ kể từ ngày 1-11-1938; được nghỉ chủ nhật, nghỉ phép hàng ngày (5 ngày từ năm 1937 và 10 ngày từ năm 1938), được hưởng lương, cấm bắt đàn bà, trẻ em làm việc ban đêm,v.v...

Ngày 30 tháng 12 năm 1936, Bộ trưởng Bộ thuộc địa Pháp ra nghị định quy định thêm một số chế độ lao động như chế độ học nghề, tiền lương tối thiểu, cấm cúp phạt bằng tiền, chế độ nghỉ đẻ, nghỉ cho con bú trong thời gian làm việc...

Chính phủ Mặt trận nhân dân Pháp đã ra sắc lệnh “ân xá” tù chính trị ở Đông Dương, vào các năm 1936 và 1937. Trên 2500 tù chính trị, phần lớn là các chiến sĩ cộng sản được thoát ra khỏi các nhà tù của bọn đế quốc.

Những thắng lợi trên đây tuy mới là bước đầu nhưng hết sức quan trọng đã nâng cao uy tín của Đảng trong nhân dân ta.

Mặc dù bọn phản động thuộc địa ngoan cố ngăn cấm và đàn áp, nhưng phong trào đấu tranh của quần chúng vẫn không ngừng phát triển. Trong năm 1937 có gần 400 cuộc đấu tranh của công nhân, có những cuộc bãi công lớn có tổ chức và kéo dài như cuộc bãi công của 300 công nhân Nhà máy Tơ Hải Phòng (tháng 1-1937) của 7.000 công nhân dệt Nam Định (tháng 2-1937), của 4.000 công nhân Ba Son (tháng 4-1937) của 20.000 công nhân mỏ Uông Bí (tháng 7-1937), tiêu biểu nhất là cuộc bãi công của 3.000 công nhân xe lửa Trường Thi (Vinh) và miền Nam Đông Dương (tháng 7 năm 1937).

Ở nông thôn, nhiều cuộc biểu tình, đấu tranh thu hút hàng chục vạn nông dân tham gia đòi giảm sưu, giảm thuế, chống cướp ruộng đất, đòi chia lại ruộng công, xóa bỏ hủ tục hương thôn, chống bọn cường hào, lý hương tham nhũng... Tiêu biểu nhất là cuộc đấu tranh của nông dân và thanh niên Cà Mau (tỉnh Bạc Liêu cũ) chống bọn địa chủ cướp đất và ức hiếp dân nghèo (cuối năm 1938). Cuộc đấu tranh này có tiếng vang lớn trong cả vùng đồng bằng Nam Bộ. Thanh niên các tỉnh Mỹ Tho, Gia Định - Sài Gòn, Vĩnh Long, Bạc Liêu,v.v... đã tích cực hưởng ứng cuộc đấu tranh của nông dân và thanh niên Cà Mau.

Dưới ngọn cờ của Đảng, phong trào đấu tranh ngày càng phát triển mạnh mẽ và thanh niên đã thể hiện là một lực lượng xã hội to lớn luôn giữ vai trò đi đầu trên các trận tuyến chống quân thù. Đoàn Thanh niên dân chủ từng bước được củng cố và phát triển tổ chức. Thông qua đấu tranh, ý thức giác ngộ của quần chúng thanh niên được nâng cao và ảnh hưởng của Đảng trong thanh niên ngày càng thêm sâu rộng.

Trong thời kỳ này, Đảng ta triệt để sử dụng báo chí công khai làm vũ khí đấu tranh cách mạng. Nhờ khôn khéo lợi dụng mọi khả năng hợp pháp, từ năm 1937, báo chí công khai do Đảng lãnh đạo phát triển nhanh chóng. Hàng chục tờ báo của Đảng, của Mặt trận dân chủ, Đoàn Thanh niên dân chủ ra đời.

Tại Hà Nội, dưới sự chỉ đạo trực tiếp của đồng chí Nguyễn Văn Cừ và đồng chí Lương Khánh Thiện, đầu năm 1937 báo “Bạn dân” tờ báo của thanh niên ra đời. Báo “Bạn dân” nhanh chóng chiếm được tình cảm của đông đảo bạn đọc trẻ tuổi trong cả nước, trở thành người tuyên truyền, người giáo dục tích cực trong quần chúng thanh niên. Sau khi báo “Bạn dân” bị đình bản, Đoàn Thanh niên dân chủ lại cho xuất bản báo “Thế giới” ở Hà Nội và Đoàn Thanh niên dân chủ Sài Gòn-Gia Định xuất bản báo “Mới” ở Sài Gòn.

Mục tiêu đấu tranh của báo “Thế Giới” và báo “Mới” trong thời gian này là vạch trần chế độ thuộc địa và phong kiến thối nát, phản động, phản ánh tình trạng bị áp bức, bóc lột và những nguyện vọng của mọi tầng lớp thanh niên, tuyên truyền chủ nghĩa Mác-Lênin; hướng dẫn, động viên quần chúng thanh niên đoàn kết đấu tranh chống bọn phản động thuộc địa và tay sai, đòi tự do dân chủ, cải thiện đời sống.

Đi đôi với việc xuất bản các tờ báo công khai của Đoàn, các Hội đọc sách báo của thanh niên, các đội văn nghệ, các nhóm thanh niên nghiên cứu chủ nghĩa Mác-Lênin được thành lập ở nhiều nơi thu hút đông đảo thanh niên tham gia. Nhiều tác phẩm chính trị và văn học của Mác, Ăgghen, Lênin, Goócki,v.v... được thanh niên chuyền tay nhau đọc như: Tuyên ngôn Đảng Cộng sản, Tư bản, Chống Duyrinh, Nhà nước là gì? Người mẹ,v.v... Thanh niên còn tham gia học tập và nghiên cứu những cuốn sách do các chiến sĩ cộng sản Việt Nam viết như cuốn “Mác xít phổ thông” của Hải Triều, “Vấn đề dân cày” của Qua Ninh và Vân Đình, v.v.v...

Sách báo mác xít của Đảng, của Đoàn thanh niên dân chủ đã góp phần quan trọng giáo dục chủ nghĩa yêu nước, những nguyên lý của chủ nghĩa Mác-Lênin và đường lối, chủ trương của Đảng trong thanh niên. Lần đầu tiên, kể từ ngày Đoàn thành lập, tuổi trẻ được học tập và nghiên cứu một cách sâu rộng về lý tưởng cộng sản chủ nghĩa cao đẹp.

Tổ chức Đoàn ở Hà Nội đã vận động hàng nghìn đoàn viên, thanh niên tham gia lễ truy điệu và đưa tang các chiến sĩ cộng sản có uy tín như Nguyễn Thế Rục, Phan Thanh... biến cuộc đưa tang thành cuộc diễu hành biểu dương lực lượng với khẩu hiệu chính trị đòi thực hiện các quyền dân chủ mà các chiến sĩ cộng sản đã kiên trì nêu gương.

Đoàn Thanh niên dân chủ đã huy động đông đảo thanh niên tham gia các cuộc đấu tranh của quần chúng trong Mặt trận dân chủ như phong trào đấu tranh đòi tự do lập hội, tự do báo chí, tự do đi lại và cư trú, đặc biệt là phong trào truyền bá quốc ngữ.

Cuối năm 1937, đầu năm 1938, Đảng ta chủ trương thành lập Hội truyền bá quốc ngữ để nâng cao trình độ hiểu biết cho nhân dân lao động. Thanh niên học sinh, sinh viên là lực lượng nòng cốt của phong trào này. Đảng còn cử nhiều đảng viên và đoàn viên thanh niên dân chủ tham gia công tác ở cơ quan thường trực của Hội và cả các ban chuyên môn, nhất là các ban dạy học và cổ động. Thanh niên công nhân, nông dân hăng hái đi học. Do những cố gắng của Đoàn Thanh niên Dân chủ, trong 2 năm 1938-1939, riêng ở Hà Nội đã thanh toán nạn mù chữ cho hàng nghìn người.

Một thắng lợi lớn của phong trào Mặt trận dân chủ Đông Dương là tổ chức kỷ niệm ngày Quốc tế lao động 1-5-1938 một cách công khai, biểu dương được sức mạnh của giai cấp công nhân, của các tầng lớp thanh niên và nhân dân ta tại nhà Đấu xảo Hà Nội.

Đoàn Thanh niên dân chủ Hà Nội là thanh niên tích cực trong ban tổ chức, đã huy động đông đảo thanh niên tham gia cuộc mít tinh lớn gồm hàng vạn người này.

Nhiều đại biểu thanh niên công nhân, nông dân, trí thức... đã lên diễn đàn kêu gọi tuổi trẻ siết chặt hàng ngũ chung quanh mặt trận dân chủ đẩy mạnh cuộc đấu tranh vì hòa bình, cải thiện dân sinh, chống phản động thuộc địa, quan lại phong kiến thối nát. Sau đó, đại biểu thanh niên cùng các giới đồng bào tham gia mít tinh đã tổ chức diễu hành qua nhiều đường phố Hà Nội. Hoạt động rầm rộ trong ngày 1-5-1938 đã cổ vũ mạnh mẽ tinh thần yêu nước của tuổi trẻ Hà Nội và nhiều địa phương lân cận.

Ngày Quốc tế lao động 1-5-1938 còn được tổ chức rầm rộ ở các địa phương trong cả nước, đặc biệt là các thành phố lớn, các tỉnh Nam Bộ... như một ngày hội của quần chúng lao động và tuổi trẻ.

Sau cuộc mít tinh kỷ niệm ngày Quốc tế lao động 1-5 ở Hà Nội, báo Tin tức, cơ quan công khai của Đảng Cộng sản Đông Dương viết: “Ngày 1-5 vừa qua đã cho ta thấy thanh niên là một tầng lớp trọng yếu trong xã hội”.

Thực hiện ý kiến chỉ đạo của đồng chí Nguyễn Văn Cừ, Tổng Bí thư của Đảng, các đại biểu Thanh niên dân chủ Bắc Kỳ đã triệu tập hội nghị đại biểu vào ngày 5-5-1938 tại nhà số 28 phố Rô Lăng, Hà Nội. Đoàn Thanh niên dân chủ Hà Nội lại được trao nhiệm vụ tổ chức hội nghị quan trọng này. Hội nghị đã thảo luận thông qua chương trình hoạt động và bầu ra Ban Chấp hành Xứ ủy Đoàn Thanh niên dân chủ Bắc Kỳ gồm Đào Duy Kỳ, Trần Hải Kế, Nguyễn Văn Trạch, Nguyễn Thị Nghĩa, Trần Đình Tri,v.v... Hội nghị thanh niên dân chủ Bắc Kỳ đánh dấu bước phát triển quan trọng của tổ chức Đoàn và phong trào thanh niên.

Dưới ngọn cờ của Đảng, Đoàn Thanh niên dân chủ đã lớn mạnh nhanh chóng và phát triển rộng rãi trong cả nước. Đoàn đã đóng vai trò là lực lượng xung kích cách mạng, là hạt nhân đoàn kết, tập hợp thanh niên bằng nhiều hình thức phong phú, linh hoạt. Đoàn đã có những cống hiến xứng đáng trong phong trào chung của thời kỳ 1936-1939, tạo ra lực lượng mới cho cao trào cứu nước rộng lớn trong những năm sau.

Hòa mình trong thực tiễn đấu tranh sôi động của cao trào vận động dân chủ do Đảng ta lãnh đạo, hàng vạn thanh niên tích cực và giác ngộ lý tưởng cộng sản đã được kết nạp vào Đoàn, vào Đảng. Đây là lực lượng hùng hậu được khôi phục và phát triển sau thời kỳ bị thực dân, phong kiến thực hiện chính sách khủng bố trắng. Ở Hà Nội, từ năm 1937 đến năm 1939, tổ chức Đoàn đưa vào hàng ngũ mình 300 đoàn viên và hàng nghìn thanh niên tham gia vào các tổ chức phổ thông, biến tướng do Đoàn chỉ đạo. Ở Huế, Quảng Trị, Quảng Nam... nhiều đoàn viên được kết nạp vào Đảng, phong trào thanh niên từ các thành phố, thị xã ảnh hưởng về nông thôn ngày càng mạnh mẽ. Ở Sài Gòn và các tỉnh Nam Kỳ, hàng trăm cán bộ thanh niên dân chủ được các Đảng bộ giao trách nhiệm chủ trì các cuộc vận động truyền bá quốc ngữ, hoạt động xã hội, từ thiện như mở chợ phiên, thi thể dục, thể thao lấy tiền giúp đồng bào gặp khó khăn... cũng như các phong trào đấu tranh chống thực dân, phong kiến cướp đoạt ruộng đất, sa thải công nhân,v.v...

Tiêu biểu cho lớp thanh niên trong giai đoạn cách mạng này là Trần Hải Kế, Nguyễn Văn Trạch...

Trần Hải Kế sinh năm 1937 trong một gia đình công nhân hỏa xa ở ngõ chợ Khâm Thiên. Anh giác ngộ cách mạng và tham gia phong trào học sinh ở trường Thăng Long. Giữa năm 1936 anh được kết nạp vào Đoàn. Trần Hải Kế đi vào con đường cách mạng với tất cả nhiệt huyết của tuổi trẻ. Anh là một thanh niên khỏe mạnh lại giỏi võ thuật nên thường được phân công bảo vệ các cán bộ lãnh đạo trong các cuộc mít tinh, diễu hành cũng như nhiều hoạt động lớn của Đoàn. Tại Hội nghị cán bộ Đoàn TNDC tháng 5-1938 Trần Hải Kế được bầu vào Ban Chấp hành Xứ đoàn Bắc Kỳ, đến năm 1939, anh được kết nạp vào Đảng lúc anh vừa tròn 22 tuổi. Sau cao trào dân chủ, Trần Hải Kế được điều động vào Nghệ An công tác. Tại đây anh bị địch bắt và tra tấn dã man song anh không hé răng khai với chúng nửa lời. Địch đẩy anh đến trại Đắc Tô (Tây Nguyên). Trong mọi hoàn cảnh, Trần Hải Kế luôn giữ vững khí tiết của người chiến sĩ cộng sản trẻ tuổi. Trần Hải Kế đã hy sinh anh dũng trong nhà tù đế quốc.

Nguyễn Văn Trạch sinh ra và lớn lên trong một gia đình viên chức nhỏ ở Thái Bình. Anh thi đỗ vào trường Đại học Luật Hà Nội và hoạt động trong phong trào sinh viên yêu nước. Trong một lần đứng lên phản đối gay gắt luận điệu thóa mạ dân tộc ta của thầy giáo người Pháp Kêrian, anh bị đuổi học. Nguyễn Văn Trạch thoát ly gia đình và trở thành cán bộ Đoàn TNDC hoạt động ở Hà Nội và các tỉnh miền Bắc. Tổ chức giao cho Nguyễn Văn Trạch (lúc này anh lấy bí danh là Hồng Quang) phụ trách hiệu sách Đồng Xuân, một đầu mối phổ biến sách báo tiến bộ công khai của Đảng, đồng thời là cơ sở liên lạc của Xứ ủy Bắc Kỳ. Anh bị địch bắt lần thứ nhất, bị tra tấn tàn nhẫn, song không đủ bằng chứng để kết án, địch buộc phải trả tự do cho anh. Ra tù, anh được Đảng cử lên Phú Thọ phụ trách một cơ sở ấn loát bí mật. Tại đây anh được kết nạp vào Đảng. Trong lần về Hưng Yên công tác, Nguyễn Văn Trạch bị địch bắt. Ngoài việc tra tấn dã man, địch đưa gia đình vào nhà tù buộc phải dụ dỗ anh khai báo nhưng anh đã lựa lời an ủi gia đình và kiên quyết phỉ nhổ vào mặt kẻ thù. Trước lúc hy sinh, Nguyễn Văn Trạch cắn tay lấy máu viết lên tường nhà giam: “Cách mạng Việt Nam thành công muôn năm!”; “Đảng Cộng sản Đông Dương muôn năm!” Hồng Quang đã để lại nhiều bài thơ hay gửi cho gia đình, bè bạn nhất là đối với người vợ thân yêu nói lên tình cảm nồng thắm của mình nhưng đầy khí phách hiên ngang của người trí thức cách mạng trẻ tuổi.

 

CHƯƠNG III
ĐOÀN KẾT ĐẤU TRANH CHỐNG THỰC DÂN PHÁP, PHÁT XÍT NHẬT, GIÀNH LẠI QUYỀN ĐỘC LẬP, TỰ DO CHO DÂN TỘC

---

Ngày 1 tháng 9 năm 1939, phát xít Đức tiến công Ba Lan. Ngày 3 tháng 9 năm 1939, Anh, Pháp tuyên chiến với Đức. Chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ đã ảnh hưởng sâu sắc đến tình hình mọi mặt ở Đông Dương và Việt Nam.

Để phục vụ cho chiến tranh, thực dân Pháp ở Đông Dương ban bố lệnh Tổng động viên ra sức cướp của, tăng giờ làm việc, giảm tiền lương của công nhân và bắt thanh niên đi lính. Chúng thẳng tay đàn áp, khủng bố phong trào cách mạng. Các quyền tự do, dân chủ mà thanh niên và nhân dân ta giành được trong trong thời kỳ Mặt trận Dân chủ đều bị xóa bỏ. Các tổ chức của công nhân và thanh niên đều bị chúng giải tán. Chúng ra sức bắt bớ, truy lùng những chiến sĩ cộng sản.

Ngày 29 tháng 9 năm 1939, Trung ương Đảng ta ra “thông cáo cho các đồng chí các cấp bộ” giải thích tình hình thế giới và tình hình trong nước, đồng thời đề ra một số chủ trương ứng phó trước mắt.

Tháng 11 - 1939, Trung ương Đảng họp Hội nghị lần thứ 6 tại Bà Điểm (Hóc Môn, Gia Định) có Nguyễn Văn Cừ, Lê Duẩn, Phan Đăng Lưu, Võ Văn Tần,v.v... tham dự. Nghị quyết hội nghị nhấn mạnh giải phóng dân tộc là nhiệm vụ hàng đầu của cách mạng Đông Dương “Bước đường sinh tồn của dân tộc Đông Dương không có con đường nào khác hơn là con đường đánh đổ đế quốc Pháp, chống tất cả ách ngoại xâm vô luận da trắng hay da vàng”.  Hội nghị chủ trương lập Mặt trận thống nhất dân tộc phản đế Đông Dương nhằm đoàn kết rộng rãi các tầng lớp nhân dân, các giai cấp và dân tộc ở Đông Dương để đánh đổ đế quốc Pháp và tay sai của chúng.

Theo chủ trương của Đảng, Đoàn Thanh niên phản đế tiếp nối sự nghiệp vẻ vang dân chủ trước đây. Đoàn đã xây dựng được cơ sở ở nông thôn, trong nhà máy và các trường học. Trong tình hình mới, tổ chức Đoàn hoạt động bí mật và được tổ chức chặt chẽ. Những đoàn viên thanh niên dân chủ chuyển thành đoàn viên thanh niên phản đế, các hội viên thanh niên trong các tổ chức thanh niên phổ thông được giao những công tác thích hợp để thử thách, bồi dưỡng. Người nào có tinh thần hăng hái đấu tranh, tích cực hoạt động được kết nạp vào Đoàn Thanh niên Phản đế. Để nhanh chóng hình thành đội quân xung kích và đội hậu bị của Đảng, các đồng chí lãnh đạo Đảng ta đã trực tiếp giúp đỡ Đoàn xây dựng tổ chức. Nhiều cơ sở Đoàn đã được phát triển ở Cao Bằng, Bắc Cạn, Bắc Ninh, Lạng Sơn, Thái Nguyên, Sơn Tây, Quảng Trị và nhiều tỉnh ở Nam Bộ. Ở các thành phố, Đoàn chú trọng công tác vận động thanh niên công nhân và học sinh.

Để mở rộng các hình thức tập hợp thanh niên sau khi phong trào dân chủ bị địch đàn áp, tại Sài Gòn, những Câu lạc bộ học sinh được hình thành, đầu tiên là ở trường Trung học Trương Vĩnh Ký do anh Huỳnh Văn Tiểng đứng đầu. Tiếp đến  là sự ra đời của tổ chức tham quan và du lịch do các anh Trịnh Kim Anh, Nguyễn Văn Ảnh, Võ Thế Quang... phụ trách. Hoạt động tham quan, du lịch thu hút nhiều bạn trẻ tham gia. Qua hoạt động này anh chị em được tuyên truyền, giác ngộ cách mạng và nhiều người đã đứng vào các tổ chức bí mật do Đảng ta lãnh đạo, hăng hái đấu tranh chống địch. Ở Hà Nội, mặc dù bị địch ra sức khủng bố, cơ sở Đoàn Thanh niên Phản đế vẫn phát triển khá nhanh. Đoàn xuất bản tờ báo “Tiền phong” không những chỉ lưu hành ở Hà Nội mà còn lưu hành trong nhiều tỉnh ở đồng bằng Bắc Bộ. Hoạt động của thanh niên phản đế Hà Nội khá phong phú. Nhiều đoàn viên và thanh niên đã tham gia rải truyền đơn kêu gọi chống chiến tranh đế quốc, bảo vệ Liên Xô, chống đàn áp khủng bố nhân dân...

Anh Nguyễn Lam là một trong những cán bộ thanh niên phản đế hoạt động rất tích cực. Bị địch bắt giam tại Hỏa Lò, anh cùng hai đồng chí đoàn viên khác đã bí mật, kiên trì đào được một đường hầm từ nơi bị giam nối liền với cống thoát nước. Trong một đêm mưa bão, anh đã cùng các đồng chí vượt ngục thành công trở về hoạt động trong đội ngũ của Đoàn.

Tháng 6-1940, nước Pháp bị quân đội phát xít Hítle chiếm đóng. Nhân cơ hội này, tháng 9 - 1940, phát xít Nhật xâm lược Đông Dương. Thực dân Pháp nhanh chóng đầu hàng quân Nhật. Từ đây nhân dân Việt Nam bị hai kẻ thù cùng thống trị là phát xít Nhật và thực dân Pháp. Nhưng nhân dân Việt Nam bất khuất và nổi đậy chống cả Nhật lẫn Pháp. Tháng 9 - 1940, nhân dân châu Bắc Sơn vùng lên khởi nghĩa dưới sự lãnh đạo của Xứ ủy Nam Kỳ, nhân dân ở nhiều tỉnh Nam Bộ cũng đã vùng lên đấu tranh quyết liệt chống quân thù. Tháng 1 - 1941, nổ ra cuộc nổi dậy của anh em binh lính ở đồn Chợ Rạng và đồn Đô Lương (Nghệ An). Các cuộc khởi nghĩa này là bước đầu đấu tranh vũ trang của cả dân tộc Việt Nam, báo hiệu một thời kỳ mới, thời kỳ chuẩn bị tiến tới khởi nghĩa vũ trang để giành chính quyền trong toàn quốc.

Theo chủ trương của Đảng, lực lượng vũ trang khởi nghĩa Bắc Sơn được chuyển vào rừng hoạt động du kích. Mùa xuân năm 1941, tại khu rừng Khuôi Nọi (xã Vũ Lê, Châu Bắc Sơn), đội du kích Bắc Sơn được thành lập. Đội gồm hơn 30 chiến sĩ mà hầu hết là đảng viên trẻ và đoàn viên, tất cả đều đã tham gia khởi nghĩa Bắc Sơn và chiến đấu chống sự đàn áp khủng bố của quân thù ngay từ đầu. Trong buổi lễ thành lập, trước đông đảo đồng bào địa phương đến tham dự, đồng chí Hoàng Văn Thụ thay mặt Trung ương Đảng giao nhiệm vụ giết giặc cứu nước cho đơn vị.

Ít lâu sau đội du kích đổi tên là Cứu quốc quân do Phùng Chí Kiên, ủy viên Trung ương Đảng làm Chỉ huy trưởng Cứu quốc quân, tuy lực lượng còn nhỏ bé, súng đạn và lương thực thiếu thốn nhưng luôn giữ vững chí khí chiến đấu ngoan cường. Có thời gian đơn vị anh dũng đương đầu với hàng nghìn quân địch trong một chiến dịch càn quét dài ngày, nhưng đơn vị đã đánh tiêu hao nhiều giặc và bảo toàn được lực lượng. Một trong những tấm gương kiên cường của Cứu quốc quân Bắc Sơn là đoàn viên Hà Văn Mạnh. Anh vào Đoàn từ trước Bắc Sơn khởi nghĩa giữ trách nhiệm tiểu đội trưởng của đơn vị. Trong một trận tấn công của giặc vào Tràng Xá, Hà Văn Mạnh tình nguyện ở lại chặn địch để trung đội rút đi nơi khác. Anh đã chiến đấu đến viên đạn cuối cùng và hy sinh anh dũng. Trong cuốn “Nhật ký Cứu quốc” đã có hai câu thơ ca ngợi anh:

"Hoa liềm búa nở trên mộ Anh yên nghỉ
            Anh không chết và chúng tôi còn chiến đấu"...

Du kích Bắc Sơn, đơn vị vũ trang do Đảng tổ chức và lãnh đạo đã nêu cao tinh thần chịu đựng gian khổ, khắc phục khó khăn. Cứu quốc quân Bắc Sơn xứng đáng là một trong những tổ chức tiền thân của lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam anh hùng sau này.

Ngày 23 tháng 11 năm 1940, cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ bùng nổ mặc dù đã có lệnh hoãn của Trung ương Đảng nhưng không truyền đạt kịp. Ở hầu khắp các tỉnh miền Nam nhất là ở Mỹ Tho, quần chúng nổi dậy chiến đấu dũng cảm. Chính quyền của địch ở một số xã và quận hoang mang, tan rã. Đội viên các đội tự vệ và du kích trong cuộc khởi nghĩa hầu hết là trẻ tuổi. Họ hăng hái chiến đấu chống địch bằng vũ khí thô sơ. Trong trận đánh quân tiếp viện của quân địch từ Tây Ninh đến ứng cứu cho quân lỵ Hóc Môn bị quân khởi nghĩa vây hãm, du kích đã bắn chết tên thực dân ác ôn cùng nhiều lính địch ở Cầu Bông. Ở Mỹ Tho, các đội tự vệ cùng nhân dân phá tan bộ máy chính quyền của địch ở 54 trong tổng số 57 xã thuộc hai huyện Châu Thành và Cai Lậy. Ở những  xã này các tổ chức Đảng và quân khởi nghĩa đã tịch thu các kho thóc của bọn địa chủ chia cho dân nghèo. Cũng tại Mỹ Tho, lần đầu tiên xuất hiện lá cờ đỏ sao vàng sau này trở thành lá cờ của Mặt trận Việt Minh, quốc kỳ của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam sau đại thắng mùa xuân 1975.

Trong ngày thành lập chính quyền đầu tiên của tỉnh, hai đội tự vệ gồm toàn đoàn viên và thanh niên đã giơ tay xin thề dưới lá cờ đỏ sao vàng quyết chiến đấu bảo vệ chính quyền cách mạng.

Tại Vĩnh Long, một đội du kích gồm 50 chiến sĩ rất trẻ dưới sự chỉ huy của đồng chí Hồng, một đảng viên 24 tuổi, bí thư quận ủy Vũng Liêm đã đánh chiếm và làm chủ quận lỵ một số ngày.

Ở đảo Hòn Khoai dưới sự chỉ huy của chiến sĩ cộng sản trẻ tuổi Phan Ngọc Hiển, quân khởi nghĩa hầu hết là đoàn viên, thanh niên đồng loạt tiến công tiêu diệt tên thực dân chủ đảo thu toàn bộ điện đài, vũ khí và kéo cờ đỏ sao vàng, cờ đỏ búa liềm cùng tấm băng lớn mang dòng chữ: “Mặt trận dân tộc thống nhất phản đế muôn năm”, quân khởi nghĩa dùng thuyền đã được chuẩn bị trước thẳng tiến về đất liền. Tuổi trẻ và nhân dân Rạch Gốc tập hợp đông đảo trên bến hân hoan đón mừng quân khởi nghĩa chiến thắng cập bến lúc mặt trời vừa ửng đỏ. Tuy nhiên lúc này cuộc khởi nghĩa trên đất liền bị địch dập tắt. Quân khởi nghĩa Hòn Khoai phải đơn độc chiến đấu quyết liệt với kẻ thù đông gấp nhiều lần. Sau mười ngày cầm cự vô cùng anh dũng, quân khởi nghĩa Hòn Khoai chẳng may lọt vào trận địa phục kích của địch.

Thực dân Pháp đã đàn áp cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ hết sức dã man. Gần 6.000 người bị bắt và bị giết, nhiều làng bị ném bom và đốt phá. Người nữ chỉ huy trẻ tuổi Nguyễn Thị Bảy đã làm cho quân thù khiếp sợ và khâm phục. Chúng gọi chị là “Hoàng hậu đỏ”. Nhục hình, tra tấn dã man không khuất phục được chị. Chị nói thẳng vào mặt kẻ thù: “Chúng bay chỉ có thể lấy máu của người cộng sản chứ không thể lấy được một lời cung khai phản bội”.

Tháng 12 năm 1941, kẻ thù đã đưa các chiến sĩ trẻ tuổi tham gia khởi nghĩa ở Hòn Khoai gồm có Phan Ngọc Hiển, Đỗ Văn Sến, Nguyễn Văn Đắc, Nguyễn Văn Cự, Đỗ Văn Biên, Ngô Văn Cẩn, Ngô Kim Luân, Nguyễn Văn Đình... cùng hai đồng chí lãnh đạo của Đảng bộ Cà Mau là Quách Văn Phàn, Lê Văn Khuyên ra hành quyết tại sân vận động thị xã.

Trước lúc hy sinh, các đồng chí ta đã đồng loạt hô to:

- Đả đảo đế quốc Pháp.
            - Việt Nam độc lập muôn năm.
            - Đảng Cộng sản Đông Dương muôn năm.

Khởi nghĩa Nam Kỳ là một trong những trang chói lọi chủ nghĩa anh hùng cách mạng của tuổi trẻ và nhân dân Việt Nam, là tiếng kèn xung trận vang vọng núi sông từ Nam ra Bắc dưới ngọn cờ của Đảng.

***

Tháng 11-1940, Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ 7 họp tại Đình Bảng (Bắc Ninh), có đồng chí Trường Chinh, Phan Đăng Lưu, Hoàng Văn Thụ... tham dự. Hội nghị đã phân tích tình hình chiến tranh thế giới lần thứ 2 và tác động của chiến tranh đối với Đông Dương. Hội nghị đã đi đến dự đoán rất sáng suốt: “Một cao trào cách mạng nhất định sẽ nổi dậy. Đảng phải chuẩn bị để gánh lấy cái sứ mệnh thiêng liêng lãnh đạo cho các dân tộc bị áp bức Đông Dương võ trang bạo động giành quyền tự do, độc lập”.

Hội nghị chủ trương đi đôi với việc mở rộng Mặt trận Phản đế, phải lựa chọn những người hăng hái nhất trong các đoàn thể của Mặt trận tổ chức  của đội tự vệ và trực tiếp võ trang cho dân chúng. Thực hiện Nghị quyết của Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ VI, tổ chức Đoàn đưa nhiều cán bộ, đoàn viên và những thanh niên tích cực tham gia vào các đội tự vệ, làm nòng cốt trong các cuộc đấu tranh chống Nhật - Pháp.

Bước sang năm 1941, tình hình thế giới và trong nước diễn biến ngày một khẩn trương và phức tạp.

Từ khi quân đội Nhật vào Đông Dương, mâu thuẫn giữa Nhật và Pháp ngày càng sâu sắc, tuy phải tạm thời thỏa hiệp với nhau nhưng cả hai đều tìm cách triển khai thế lực đợi thời cơ tiêu diệt nhau. Nhân dân Đông Dương chịu cảnh “một cổ hai tròng”, dưới ách thống trị tàn bạo của Nhật - Pháp nên ngày một bần cùng, đói khổ... do vậy ngày càng nhanh chóng giác ngộ cách mạng.

***

Ngày 28-1-1941, Nguyễn Ái Quốc, lãnh tụ của Đảng và dân tộc đã bí mật về nước ở vùng Pắc Bó để trực tiếp lãnh đạo phong trào cách mạng Việt Nam.

Đây là một sự kiện hết sức quan trọng trong tiến trình phát triển của cách mạng nước ta. Nguyễn Ái Quốc đã bắt tay vào việc xây dựng căn cứ địa, tổ chức đoàn thể Cứu quốc và chuẩn bị Hội nghị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng.

Tháng 5-1941, Hội nghị lần thứ 8 của Trung ương Đảng họp tại Pắc Bó (Cao Bằng) do đồng chí Nguyễn Ái Quốc, đại diện của Quốc tế Cộng sản triệu tập và chủ trì. Tham gia Hội nghị có các đồng chí Trường Chinh, Hoàng Văn Thụ, Phùng Chí Kiên, Hoàng Quốc Việt...

Trên cơ sở phân tích một cách sâu sắc tình hình trong nước và thế giới, Hội nghị xác định, cuộc cách mạng trước mắt là cách mạng giải phóng dân tộc, các lực lượng cách mạng của dân tộc cần tập trung mũi nhọn vào bọn phát xít xâm lược Pháp - Nhật, bởi vì: “Trong lúc này, nếu không giải quyết được vấn đề dân tộc giải phóng, không đòi được độc lập, tự do cho toàn thể dân tộc, thì chẳng những toàn thể quốc gia dân tộc còn chịu mãi kiếp trâu ngựa, mà quyền lợi của bộ phận giai cấp đến vạn năm cũng không đòi lại được”.

Để tập hợp và động viên các tầng lớp nhân dân đứng lên đánh đuổi phát xít Pháp - Nhật, Hội nghị quyết định thành lập Việt Nam Độc lập Đồng minh (gọi tắt là Việt Minh) và các Hội Cứu quốc, trong đó có Đoàn Thanh niên Cứu quốc Việt Nam. Hội nghị đã xác định: “Việt Nam Thanh niên Cứu quốc đoàn từ nay là đoàn thể của tất thẩy thanh niên từ 18 tuổi đến 22 tuổi muốn tranh đấu đánh Pháp đuổi Nhật”.

Như vậy, Đoàn Thanh niên Cứu quốc là một tổ chức của những thanh niên yêu nước có nhiệm vụ tham gia vào cuộc đấu tranh của dân tộc đánh Pháp đuổi Nhật. Đoàn TNCS tiếp nối sự nghiệp của các tổ chức thanh niên do Đảng ta và lãnh tụ Nguyễn ái Quốc sáng lập, lãnh đạo trước đó.

Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ VIII có ý nghĩa lịch sử to lớn. Hội nghị đã hoàn chỉnh việc chuyển hướng chỉ đạo chiến lược trong thời kỳ mới. Hội nghị nêu rõ vai trò, trách nhiệm của Đoàn Thanh niên Cứu quốc trong cao trào đấu tranh giành giải phóng dân tộc.

Từ khi ra đời tìm đường cứu nước cho đến lúc trở về Tổ quốc, Nguyễn Ái Quốc luôn quan tâm đến việc đào tạo, bồi dưỡng những lớp thanh niên cách mạng. Cuối năm 1940, sau khởi nghĩa Bắc Sơn và Nam Kỳ, địch ra sức khủng bố, đàn áp phong trào cách mạng nên một số người yêu nước, trong đó có hơn 40 thanh niên ở các tỉnh biên giới Việt - Trung phải tạm lánh sang Trung Quốc. Số thanh niên này đều là những người hoạt động tích cực ở các cơ sở cách mạng trong nước, nhiều người là đoàn viên thanh niên phản đế, do vậy, các cơ sở Đảng của ta ở đây đã tìm mọi cách gửi họ sang Tĩnh Tây (Trung Quốc) để tránh giặc khủng bố, bảo vệ lực lượng cách mạng. Trong thời gian này, Nguyễn Ái Quốc đang hoạt động ở gần biên giới Việt - Trung và chuẩn bị về nước. Được tin có thanh niên Việt Nam sang, Người quyết định mở lớp huấn luyện để đào tạo bồi dưỡng cho số anh em và giao cho đồng chí Phùng Chí Kiên tổ chức lớp học. Lớp học đã cung cấp một số cán bộ hoạt động tích cực cho Đoàn, cho Đảng. Họ đã trở thành những hạt nhân xây dựng phong trào, đặc biệt là xây dựng cơ sở Đoàn Thanh niên Cứu quốc.

Dưới ánh sáng nghị quyết Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ 8, công tác vận động thanh niên đã có bước phát triển mới. Được các cấp ủy Đảng quan tâm chỉ đạo, nhiều cơ sở Đoàn được khôi phục và xây dựng. Ban Chấp hành huyện Đoàn Thanh niên Cứu quốc đầu tiên ở vùng núi được thành lập tại Hà Quảng do Đàm Minh Viễn làm Bí thư.

Cuối năm 1941, Ban Chấp hành Thành Đoàn Thanh niên Cứu quốc Hà Nội được thành lập gồm 5 người trong đó có Nguyễn Lam, Nguyễn Khang... tạo ra sự chỉ đạo thống nhất trong phong trào thanh niên. Thành Đoàn đã cho in lời kêu gọi của Nguyễn Ái Quốc và truyền đơn của Mặt trận Việt Minh phổ biến trong thành phố. Từ cuối năm 1942 trở đi nhiều cơ sở Đoàn được xây dựng ở nông thôn, nhất là ở các tỉnh Cao Bằng, Bắc Cạn, Lạng Sơn... Đội Nhi đồng Cứu quốc ra đời ở Nà Mạ (Cao Bằng). Nhiều đội viên đã được già Thu tức Bác Hồ chăm sóc, giáo dục và một số đội viên đã giúp việc giao liên cho già Thu. Trong thời gian này anh Kim Đồng là người đội viên thiếu niên đầu tiên đã nêu cao tinh thần hy sinh anh dũng khi làm nhiệm vụ.

Ở Nam Bộ, sau cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ, đế quốc Pháp đàn áp đẫm máu phong trào cách mạng, nhưng cơ sở của Đoàn vẫn được duy trì. Khi có Nghị quyết Trung ương Đảng lần thứ 8 nhiều cơ sở mới lại được xây dựng tại các nhà máy, trường học, nhất là ở các vùng nông thôn. Tại một số địa phương hệ thống tổ chức của Đoàn Thanh niên Cứu quốc đã thống nhất đến huyện, có nơi đến tỉnh.

Song song với công tác xây dựng và phát triển tổ chức, Đoàn đã tập hợp đông đảo các tầng lớp thanh niên tham gia nhiều hình thức hoạt động văn hóa xã hội... động viên họ tích cực thực hiện các nhiệm vụ của Mặt trận Việt Minh, đóng góp xứng đáng vào cao trào cứu nước.

Ở Hà Nội, từ tháng 10 đến tháng 12 năm 1941, đoàn viên và thanh niên đã có những hoạt động gây ảnh hưởng sâu rộng theo lời kêu gọi của Nguyễn Ái Quốc. Thành Đoàn tổ chức được một cơ sở in bí mật đặt tại phố Hàng Nón (Hà Nội). Theo thống kê của Sở mật thám Pháp, chỉ trong tháng 12-1941 có 13 vụ rải truyền đơn và treo cờ đỏ sao vàng trong thành phố.

Tại nhiều vùng nông thôn, các cuộc đấu tranh chống thu mua thóc tạ, chống phá lúa trồng đay, trồng thầu dầu, đòi chia lại công điền của nông dân diễn ra quyết liệt dưới hình thức biểu tình có tính chất nửa vũ trang đánh trả lính Nhật quấy nhiễu, diệt trừ Việt gian... Ở Thái Bình, thanh niên và quần chúng nông thôn Tiền Hải đấu tranh đòi chia lại công điền. Ở Phúc Yên, thanh niên và nông dân đấu tranh phản đối việc trưng mua lạc, thầu dầu... Ở làng Cam (Gia Lâm, Hà Nội), thanh niên cùng nông dân giữ bãi không cho Nhật phá ngô trồng đay. Ở Gia Định, Hậu Giang, các đoàn viên thanh niên cứu quốc đã tuyên truyền điều lệ và chương trình của Mặt trận Việt Minh đến tận ấp, xã...

Phong trào của công nhân đã lôi cuốn và thu hút đông đảo thanh niên công nhân tham gia. Tháng 2-1942 công nhân mỏ than Hòn Gai đình công. Ngày 1-5-1942 công nhân xe lửa Gia Lâm mít tinh chống chủ nghĩa phát xít mở rộng chiến tranh. Tháng 7-1942 thợ máy sân bay Gia Lâm vây bàn giấy võ quan Nhật, phản đối lính Nhật đánh đập công nhân. Từ tháng 5-1942 đến tháng 6-1943, ở Nam Bộ có 24 cuộc đấu tranh của công nhân đòi tăng lương, giảm giờ làm, đòi bán gạo vải, diêm, xà phòng theo giá quy định.

Qua cuộc đấu tranh này, tổ chức Đoàn ngày càng được củng cố và phát triển trong thanh niên.

Hoảng sợ trước phong trào đấu tranh của thanh niên và nhân dân ta, bọn Pháp - Nhật một mặt thẳng tay đàn áp, khủng bố phong trào; mặt khác, chúng đưa ra nhiều thủ đoạn lừa bịp để tranh thủ và lôi kéo thanh niên.

Lúc này, phát xít Nhật tích cực rêu rao thuyết “Đại Đông Á”, “khối thịnh vượng chung”... Chúng lập ra các tổ chức “Việt Nam thanh niên ái quốc”, “Thanh niên Hưng quốc đoàn”... Bù nhìn Pétanh ở Pháp tung ra những khẩu hiệu “Cần lao - gia đình - Tổ quốc”, “Pháp - Việt phục hưng”,v.v... Bọn thống trị Pháp còn tổ chức rầm rộ phong trào thể thao “Khỏe để phụng sự”. Chúng giao cho tên sĩ quan tình báo Đuycuaroay (Đucuaroay) tổ chức những cuộc đua xe đạp, thi bơi lội, đấu quyền Anh, thi sắc đẹp để lôi cuốn thanh niên làm cho họ lạc hướng đấu tranh cách mạng. Thực dân Pháp còn lập “Hội thanh niên công giáo”, “Tổng hội sinh viên Đông Dương”, xuất bản các sách xem bói, xem tướng, sách kiếm hiệp, trinh thám, khuyến khích đồi phong bại tục, mê tín dị đoan.

Nhằm chống lại những âm mưu, thủ đoạn của địch đầu độc thanh niên về tư tưởng, phá hoại thanh niên về tổ chức, cuối tháng 2-1943, Ban Thường vụ Trung ương Đảng chỉ thị cho các cấp ủy Đảng và Đoàn Thanh niên Cứu quốc “phải ra sức chống lại chính sách mê hoặc và lôi kéo thanh niên của phát xít Nhật - Pháp và lãnh đạo thanh niên đấu tranh đòi quyền lợi kinh tế, chính trị hàng ngày. Mỗi thành phố lớn phải có một ban thanh vận và cố gắng ra một tờ báo riêng của thanh niên. Việc soạn sách riêng cho thanh niên cũng rất cần... Phải phái người vào các đoàn Hướng đạo, hội thể dục và hoạt động. Nơi nào chưa có những tổ chức như thế thì phải lợi dụng những khả năng và hoàn cảnh mà tổ chức ra, rồi tuyển trong đó những phần tử thanh niên tốt đưa vào “Thanh niên Cứu quốc Đoàn”.

Mùa hè năm 1943, nhóm sinh viên Nam Bộ học tại Hà Nội trong tổ chức Tổng hội sinh viên Đông Dương khởi xướng phong trào “xếp bút nghiêng”. Các anh trở về Sài Gòn gia nhập vào tổ chức “Truyền bá quốc ngữ” và làm báo “Thanh Niên”... Đảng bộ địa phương đã bắt được liên lạc và trực tiếp chỉ đạo hoạt động của nhóm sinh viên này trong đó có các anh Lưu Hữu Phước, Mai Văn Bộ, Huỳnh Văn Tiểng, Trần Bửu Kiếm,v.v... Các bài hát, vở kịch yêu nước như “Đêm Lam Sơn”, “Nợ Mê Linh”, “Hội nghị Diên Hồng”, “Hành khúc sinh viên” (Sau này là Tiếng gọi thanh niên), “Ải Chi Lăng”... đã cổ vũ thanh niên trở về với chân giá trị dân tộc góp phần chống lại những luận điệu lừa bịp của toàn quyền Đờ Cu (Decoux), thuyết “Đại Đông Á” của Nhật...

Thực hiện chủ trương của Đảng, cuối năm 1943 đầu năm 1944 các thành phố lớn như Hà Nội, Huế, Sài Gòn, Hải Phòng đã thành lập được ban thanh vận. Cơ sở Đoàn được phát triển khá rộng ở Nam Định, Vinh, Đà Nẵng, Chợ Lớn... Tháng 8 năm 1944, Hà Nội thành lập Ban Chấp hành Đoàn Thanh niên Cứu quốc thành Hoàng Diệu. Trong những năm 1942-1943 thanh niên Hà Nội có phong trào tìm đọc sách báo cách mạng của Hội Văn hóa cứu quốc. Đoàn thanh niên Cứu quốc Hà Nội ra tờ báo “Hồn nước” để tuyên truyền, tập hợp thanh niên.

Nhằm đấu tranh chống những tư tưởng tư sản phản động, văn hóa đồi trụy do kẻ thù gieo rắc và kịp thời giải thích đường lối, chính sách của Đảng, của Mặt trận Việt minh, Đảng cho xuất bản hàng loạt tờ báo như: Cờ Giải phóng, Cứu quốc, Bẻ xiềng sắt, Tiền phong, Giải phóng,v.v... đặc biệt là sự ra đời của bản “Đề cương văn hóa Việt Nam” do chính đồng chí Tổng Bí thư Trường Chinh khởi thảo. Đây là một văn kiện rất quan trọng của Đảng ta soi sáng nhiều vấn đề trên mặt trận văn hóa cách mạng theo tư tưởng của chủ nghĩa Mác-Lênin.

Báo chí cách mạng và bản “Đề cương văn hóa Việt Nam” được tuyên truyền phổ biến rộng rãi trong thanh niên góp phần quan trọng thu hút nhiều thanh niên trí thức tham gia cách mạng và có ảnh hưởng rất lớn trong tuổi trẻ cả nước. Song song với nhiệm vụ đấu tranh chính trị và văn hóa Đoàn có nhiệm vụ vô cùng to lớn và cấp thiết là tham gia xây dựng các đơn vị vũ trang và bán vũ trang được thành lập ở nhiều địa phương. Các cơ sở Đoàn đã động viên nam nữ thanh niên ra sức luyện tập quân sự, tham gia các đội tự vệ, chiến đấu dũng cảm chống địch đàn áp, khủng bố, càn quét, bảo vệ căn cứ địa và cơ sở cách mạng.

Tháng 2 năm 1942-1943 các Đảng bộ vùng biên giới phía Bắc đã chọn nhiều cán bộ đoàn viên ưu tú đưa đi huấn luyện quân sự ở Trung Quốc. Các đồng chí đã trở thành những cán bộ, chiến sĩ cốt cán, tích cực trong các đội tự vệ và lực lượng vũ trang cách mạng. Tháng 8 năm 1944, theo chủ trương của Đảng, Tổng bộ Việt Minh kêu gọi và phát động phong trào “Sắm vũ khí, đuổi thù chung”. Đoàn thanh niên Cứu quốc và các tổ chức cứu quốc trong Mặt trận Việt Nam đã nhiệt liệt hưởng ứng. Phong trào xây dựng lực lượng vũ trang, xây dựng căn cứ địa và chuẩn bị khởi nghĩa được Đoàn coi là nhiệm vụ hàng đầu của tất cả đoàn viên, thanh niên.

Để chuẩn bị xây dựng quân đội cách mạng của Đảng, Nguyễn Ái Quốc đã chỉ thị thành lập Đội Việt Nam Tuyên truyền giải phóng quân và giao cho đồng chí Võ Nguyên Giáp phụ trách. Ngày 22-12-1944, Đội Việt Nam Tuyên truyền giải phóng quân chính thức thành lập ở Cao Bằng. Trong số 34 chiến sĩ đầu tiên ấy, tuyệt đại bộ phận là đoàn viên và đảng viên trẻ tuổi trong đó có các đồng chí mới ở tuổi 17, 18 như đồng chí Liên, đồng chí Thế Hậu...

Sau ngày thành lập, Đội Việt Nam Tuyên truyền giải phóng quân xuất quân tiêu diệt đồn Phay Khắt và đồn Nà Ngần, thu toàn bộ vũ khí.

Sau hai trận thắng nêu trên, đơn vị được bổ sung quân số thành lập đại đội. Đoàn đã cung cấp cho lực lượng vũ trang nhân dân những cán bộ xuất sắc ngay từ những ngày đầu như Quang Trung, Nam Long, Nam Tuấn, Quốc Trung, Xuân Trường... đặc biệt có những nữ chiến sĩ và thiếu niên tham gia công tác giao liên cho đơn vị như bé Hồng đã lập công xuất sắc trong nhiệm vụ trinh sát nắm tình hình quân địch.

Thời kỳ phát triển cuộc đấu tranh vũ trang kết hợp với đấu tranh chính trị của nhân dân ta góp phần đẩy mạnh cuộc vận động giải phóng dân tộc trong cả nước đã đến.

***

Từ cuối năm 1943 đến đầu năm 1945, chiến tranh thế giới lần thứ hai bước vào giai đoạn kết thúc. Hồng quân Liên Xô đã quét sạch phát xít Đức ra khỏi lãnh thổ của mình và tiến như vũ bão về phía Béclin. Số phận của phát xít Đức sắp bị kết liễu. Ở Thái Bình Dương, phát xít Nhật ngày càng lâm vào tình trạng nguy khốn.

Để nắm chắc Đông Dương hơn nữa và trừ mối nguy bị quân Pháp đánh sau lưng, tối ngày 9-3-1945, Nhật đã làm đảo chính hất cẳng Pháp, độc chiếm Đông Dương. Chưa đầy một ngày, thực dân Pháp đã nộp súng đầu hàng Nhật trên toàn cõi Đông Dương.

Từ lâu, Đảng ta đã dự đoán về cuộc đảo chính Nhật hất Pháp sẽ nổ ra.

Từ ngày 9 đến ngày 12-3-1945, Ban Thường vụ Trung ương Đảng họp hội nghị mở rộng ở làng Đình Bảng (Từ Sơn, Bắc Ninh) do đồng chí Trường Chinh chủ trì để đánh giá tình hình cuộc đảo chính và nêu ra những chủ trương của Đảng trong thời kỳ mới. Hội nghị nhất trí nêu khẩu hiệu: “Đánh đuổi phát xít Nhật” thay cho khẩu hiệu “Đánh đuổi Nhật-Pháp” và phát động cao trào chống Nhật, cứu nước, gấp rút tiến tới Tổng khởi nghĩa giành chính quyền... Nơi nào có điều kiện thì phát triển chiến tranh du kích, giành chính quyền ở địa phương. Để nhanh chóng thúc đẩy cao trào cứu nước, Hội nghị chủ trương chuyển sang những hình thức và phương pháp đấu tranh cao hơn và mạnh hơn như tuyên truyền xung phong, biểu tình tuần hành thị uy, mít tinh công khai, thành lập các ủy ban nhân dân cách mạng, xây dựng mở rộng các chiến khu và các căn cứ địa cách mạng.

Ngày 12-3-1945, Ban Thường vụ Trung ương Đảng ra chỉ thị “Nhật - Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta” nhằm cụ thể hóa những nhận định và nghị quyết của Hội nghị Trung ương.

Từ cuối tháng 3 năm 1945 trở đi, cách mạng Việt Nam đã chuyển lên thành cao trào và những cuộc khởi nghĩa từng phần liên tiếp nổ ra ở nhiều địa phương.

Trong lúc nhân dân ta gấp rút chuẩn bị Tổng khởi nghĩa thì ở Bắc Bộ và miền Bắc Trung Bộ đã xảy ra nạn đói khủng khiếp. Hai triệu đồng bào ta bị chết đói. Đó là hậu quả thảm khốc nhất của chính sách bóc lột và gây chiến của bọn phát xít Nhật - Pháp. Khẩu hiệu “Phá kho thóc giải quyết nạn đói” của Đảng đã đáp ứng đúng nguyện vọng cấp bách nhất của quần chúng, thổi bùng ngọn lửa đấu tranh trong nhân dân đẩy tới cao trào kháng Nhật, cứu nước dâng lên trong cả nước.

Tuổi trẻ đã hăng hái đi đầu trong cao trào quần chúng phá các kho thóc, thuyền thóc của Nhật và tích cực tham gia các đội tuyên truyền xung phong của Việt Minh hoạt động ở các chợ, rạp hát, bến đò, bến xe, xí nghiệp, trường học... Nhiều nơi các đội tự vệ của Việt Minh bắt trói, tước vũ khí lính Nhật, cảnh cáo, giải tán, trừng trị bọn Việt gian đầu sỏ. Tại các thành phố, nhiều đội “danh dự Việt Minh” hoạt động trừ gian và diệt võ quan Nhật tàn ác ngay trước mũi súng quân Nhật.

Ở Hà Nội, nếu cuối năm 1944 chỉ mới có một tổ chức tự vệ ở trường bay Gia Lâm gồm 3 đồng chí đoàn viên thanh niên cứu quốc thì thời kỳ này toàn thành đã có trên 1.000 đoàn viên và những thanh niên được Đoàn giáo dục tham gia các đội tự vệ, đội tuyên truyền xung phong và đội danh dự. Ngày 18-6 đội tự vệ công nhân đã bắn tên Phó trưởng đoàn “Thanh niên ái quốc” là tay sai đắc lực của phát xít Nhật ở ngã tư phố Ngô Thì Nhậm - Lê Văn Hưu. Ngày 19-6, một tên tay sai khác của Nhật bị đội danh dự xử bắn ở dốc Hàng Kèn (nay là đường Bà Triệu), tên Phó thanh tra mật thám bị trừng trị ở Ngã Tư Sở... Đoàn Thanh niên Cứu quốc thành Hoàng Diệu tổ chức nhiều cuộc mít tinh, huy động hàng trăm nam nữ thanh niên tham gia ở xã Mễ Trì, Chợ Canh, làng Láng,v.v... Các tổ tuyên truyền xung phong của Đoàn đột nhập diễn thuyết tại các trường Gia Long, Kỹ Nghệ thực hành; nhà máy rượu... ở Chèm và dọc đường Bưởi các đội tự vệ thanh niên thường chặn các xe vận tải chở thóc, gạo của Nhật tịch thu và phân phát cho đồng bào nghèo.

Ở Huế, Đoàn Thanh niên Cứu quốc giữ vai trò nòng cốt trong các đội tự vệ và tuyên truyền xung phong - tổ chức Đoàn đã bắt mối được với các nhóm bảo an, tổ chức việc mua súng, lấy súng địch để trang bị cho lực lượng vũ trang của ta... nhiệm vụ trừng trị bọn ác ôn và bọn Việt gian ngoan cố của các đội tự vệ được nhân dân nhiệt liệt hoan nghênh và cổ vũ mạnh mẽ đã góp phần đẩy mạnh cao trào cách mạng trong cả tỉnh.

Ở Sài Gòn, các đội tự vệ, thanh niên xung phong cũng được hình thành nhanh chóng và thu hút hàng trăm đoàn viên, thanh niên tham gia. Các đội tuyên truyền xung phong đã tuyên truyền sâu rộng trong thanh niên và nhân dân chương trình và điều lệ của Mặt trận Việt Minh.

Sau cuộc đảo chính hất cẳng Pháp (9-3-1945) Iđa, quyền Tổng trưởng Thanh niên thể thao Đông Dương ngỏ ý mời bác sĩ Phạm Ngọc Thạch đứng ra lập một tổ chức để tập hợp thanh niên và bác sĩ Phạm Ngọc Thạch được quyền quyết định về tổ chức, mục đích, nội dung hoạt động. Tương kế tựu kế, Xứ ủy Nam Kỳ đồng ý giao cho Phạm Ngọc Thạch cùng một số trí thức, sinh viên yêu nước đứng ra lập tổ chức thanh niên công khai, hợp pháp để tập hợp quần chúng về phía cách mạng.

Ngày 1-6-1945, tổ chức Thanh niên Tiền phong ra đời. Các đồng chí Phạm Ngọc Thạch (Bác sĩ), Huỳnh Tấn Phát (Kiến trúc sư), Nguyễn Văn Thủ (Nha sĩ), Thái Văn Lung (Luật sư)... cùng các sinh viên Lưu Hữu Phước, Trần Bửu Kiếm, Huỳnh Văn Tiểng, Mai Văn Bộ... trở thành các thủ lĩnh của Thanh niên Tiền phong. Xứ uỷ bố trí đảng viên cán bộ cốt cán nắm giữ những vị trí then chốt trong Thanh niên Tiền phong (TNTP). TNTP đã đưa ra nội dung và hình thức hoạt động phong phú nên đã cuốn hút được tuổi trẻ. Vì vậy chỉ trong thời gian vài ba tháng, số lượng TNTP ở Sài Gòn đã lên đến 200.000 người và toàn Nam Bộ có hơn 1 triệu người. Anh chị em TNTP đóng vai trò rất tích cực trong quá trình vận động, tập hợp lực lượng thanh niên chuẩn bị cho cuộc Tổng khởi nghĩa. Đoàn Thanh niên Cứu quốc đã tuyển chọn kết nạp được nhiều đoàn viên trong phong trào thanh niên tiền phong. Thanh niên Tiền phong đã phát triển thành một phong trào quần chúng rộng lớn, một hình thức mặt trận được tổ chức công khai do Đảng lãnh đạo, giữ vai trò quan trọng trong cuộc khởi nghĩa giành chính quyền. Ngày 20-8-1945 khi Việt Minh ra công khai hoạt động ở thành phố Sài Gòn thì TNTP tuyên bố đứng vào hàng ngũ của Mặt trận Việt minh. Sau Cách mạng Tháng Tám thành công, TNTP chấm dứt vai trò của mình. Số đông gia nhập Thanh niên Cứu quốc, dân quân tự vệ...

Ở các tỉnh Nam Bộ ngoài Thanh niên Tiền phong còn có các đội thanh niên chiến đấu, thanh niên cảm tử... được thành lập đáp ứng yêu cầu tình hình cách mạng. Ở Mỹ Tho đã tổ chức được 3 trung đội du kích với 32 khẩu súng và mở lớp huấn luyện về chiến thuật du kích cho cán bộ cơ sở trong tỉnh và các tỉnh lân cận.

Giữa lúc cao trào kháng Nhật của nhân dân ta phát triển đến đỉnh điểm, toàn dân đã sẵn sàng xông lên khởi nghĩa thì ngày 8-8-1945 Liên Xô tuyên chiến với Nhật, chỉ trong thời gian ngắn Xô viết anh hùng đã tiêu diệt hoàn toàn đội quân Quan Đông tinh nhuệ nhất của Nhật gồm 1 triệu tên. Ngày 15-8-1945, Nhật đầu hàng Liên Xô và các nước đồng minh không điều kiện. Thời cơ tổng khởi nghĩa đã đến.

Trước tình hình khẩn cấp đó, từ ngày 13 đến ngày 15 tháng 8 năm 1945, Hội nghị toàn quốc của Đảng đã họp ở Tân Trào. Hội nghị nhận định: “Cơ hội rất tốt cho ta giành quyền độc lập đã tới” và quyết định phát động toàn dân tổng khởi nghĩa, giành chính quyền từ tay phát xít Nhật và tay sai trước khi quân đồng minh tiến vào Đông Dương để giải pháp quân Nhật.

Tiếp sau Hội nghị toàn quốc của Đảng Đại hội quốc dân cũng họp tại Tân Trào vào ngày 16-8-1945 thông qua mười chính sách lớn của Việt Minh, thông qua lệnh Tổng khởi nghĩa và bầu ra Uỷ ban Dân tộc giải phóng Trung ương tức Chính phủ lâm thời do Hồ Chí Minh làm Chủ tịch. Đồng chí Vũ Oanh và đồng chí Vũ Quang làm đại biểu của thanh niên Hà Nội tham dự Đại hội Tân Trào.

Mệnh lệnh khởi nghĩa đã được truyền đi từ Tân Trào. Đảng Cộng sản Đông Dương và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ra lời hiệu triệu đồng bào và chiến sĩ cả nước nổi dậy giành chính quyền. Chủ tịch Hồ Chí Minh kêu gọi: “Giờ quyết định cho vận mệnh dân tộc ta đã đến. Toàn quốc đồng bào hãy đứng dậy đem sức ta mà tự giải phóng cho ta” Ngay trong đêm 13-8-1945, Ủy ban Khởi nghĩa toàn quốc đã gửi Quân lệnh số 1 lệnh cho đồng bào và chiến sĩ cả nước nhanh chóng vùng dậy tranh quyền độc lập cho đất nước.

Dưới sự lãnh đạo của Đảng hơn hai mươi triệu đồng bào cả nước ta từ Bắc đến Nam đã đồng loạt đứng lên tiến hành cuộc Tổng khởi nghĩa long trời lở đất giải phóng toàn bộ đất nước giành chính quyền về tay nhân dân.


Đoàn Thanh niên Cứu quốc lúc này đã có lực lượng hùng hậu gần 30.000 đoàn viên và thanh niên cảm tình của Đoàn có mặt ở các trung tâm chính trị - kinh tế lớn của cả nước. Đây là đội quân xung kích giữ vai trò nòng cốt trong cao trào khởi nghĩa của quần chúng. ở tất cả các trọng điểm, hàng vạn thanh niên tự vệ, thanh niên xung phong dưới sự lãnh đạo của Đảng đã đánh chiếm các huyện lỵ, tỉnh lỵ, trại lính, công sở của địch... Từ 14 đến ngày 18-8 cuộc Tổng khởi nghĩa đã giành được thắng lợi ở nhiều huyện trong khu giải phóng và một số tỉnh đồng bằng ở miền Bắc, một số tỉnh ở miền Trung, và ở các thị xã Bắc Giang, Hải Dương, Hà Tỉnh, thị xã Hội An (Quảng Nam)...

Ở Hà Nội, ngày 17-8-1945, mặc dầu Nhật đã đầu hàng nhưng bọn tay sai Nhật còn dùng “Tổng hội viên chức” tổ chức cuộc mít tinh lớn ủng hộ chính phủ bù nhìn Trần Trọng Kim. Dưới sự lãnh đạo của Xứ ủy Bắc Kỳ và Thành ủy Hà Nội, đoàn viên thanh niên trong đội tuyên truyền xung phong và đội tự vệ đã chiếm diễn đàn cuộc mít tinh, kêu gọi nhân dân ủng hộ Việt minh và tham gia Tổng khởi nghĩa. Cuộc mít tinh biến thành cuộc biểu tình tuần hành thị uy, làm cho bọn tay sai của Nhật trong chính phủ bù nhìn hoang mang, dao động đến cực độ. Trước tình hình ấy, Xứ ủy và Thành ủy lập tức quyết định khởi nghĩa ở Hà Nội vào ngày 19-8-1945.

Từ sáng sớm ngày 19-8 cả Hà Nội đã vùng lên. Sau cuộc mít tinh lớn, quần chúng cách mạng sắp xếp thành đội ngũ dẫn đầu là các đơn vị tự vệ chiến đấu trẻ tuổi đã nhanh chóng tỏa đi các hướng chiếm phủ Khâm sai, trại Bảo an binh, Sở cảnh sát và các công sở khác của chính quyền bù nhìn.

Thắng lợi của Tổng khởi nghĩa ở Hà Nội làm cho chính quyền bù nhìn thêm tê liệt, cổ vũ mạnh mẽ nhân dân các địa phương gấp rút nổi dậy. Ngày 23-8-1945 khởi nghĩa thắng lợi ở Huế. Hàng chục vạn thanh niên và nhân dân Thừa Thiên - Huế đã vùng lên tiến công phát xít Nhật, chiếm lĩnh các cơ quan đầu não của chính quyền bù nhìn và hoàn toàn làm chủ thành phố.

Ngai vàng cuối cùng của chế độ phong kiến bị đánh đổ. Cờ đỏ sao vàng được kéo lên trên kỳ đài uy nghi. Ngày 30-8 tại lầu Ngọ Môn, trước hàng vạn đồng bào các giới, vua Bảo Đại tuyên bố thoái vị, trao lại ấn kiếm cho đại diện chính quyền cách mạng từ Hà Nội vào.

Ở Nam Bộ, lệnh khởi nghĩa đã được truyền đi. Ngay đêm 24-8-1945, ở Sài Gòn lực lượng cách mạng chiếm dinh Khâm sai và nhiều cơ quan trọng yếu khác. Ba giờ sáng ngày 25-8-1945, cả Sài Gòn đã vang lên tiếng hát “Lên đàng”, “Thanh niên hành khúc”... và tiếng hô vang “Việt Nam độc lập muôn năm”, “Đả đảo phát xít Nhật, ủng hộ Việt minh” ... Một cuộc mít tinh lịch sử diễn ra giữa Sài Gòn hân hoan chào đón kỳ bộ Việt minh, Ủy ban hành chính lâm thời ra mắt đồng bào và tuổi trẻ thành phố.

Như vậy là chỉ trong vòng hơn 10 ngày đêm, cuộc Tổng khởi nghĩa đã giành thắng lợi hoàn toàn từ Lạng Sơn đến Cà Mau. Hai mươi lăm triệu đồng bào cả nước đứng lên làm chủ vận mệnh Tổ quốc Việt Nam.

Ngày 2-9-1945, tại Quảng trường Ba Đình (Hà Nội) trước cuộc mít tinh của một biển người, Chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt Chính phủ lâm thời đọc bản Tuyên ngôn độc lập lịch sử tuyên bố trước nhân dân Việt Nam và nhân dân thế giới: Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời.

Trong cao trào giải phóng dân tộc mà đỉnh cao nhất là cuộc Tổng khởi nghĩa Tháng Thám năm 1945, dưới ngọn cờ của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đoàn Thanh niên Cứu quốc đã động viên, tổ chức tuổi trẻ cả nước góp phần xứng đáng vào thành công to lớn của cuộc Tổng khởi nghĩa. Đoàn thật sự là đội xung kích cách mạng, lực lượng tiên phong và hạt nhân tập hợp hàng triệu nam nữ thanh niên Việt Nam đứng lên cùng toàn dân đấu tranh kiên cường vì độc lập, tự do của Tổ quốc. Sự lớn mạnh về mọi mặt của tổ chức Đoàn là điều kiện hết sức quan trọng để Đoàn tiếp tục gánh vác nhiệm vụ vẻ vang cùng toàn dân xây dựng, củng cố và bảo vệ chính quyền cách mạng.

Chặng đường lịch sử từ 1925 đến Cách mạng Tháng Tám năm 1945 tuy chỉ có 20 năm song trên đất nước ta đã diễn ra nhiều sự kiện trọng đại. Đó là giai đoạn chuẩn bị thành lập Đảng, chuẩn bị xây dựng Đoàn; giai đoạn đấu tranh quyết liệt chống đế quốc, phong kiến dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam theo tư tưởng và đường lối của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Đây là nguyên nhân cơ bản nhất quyết định thắng lợi hoàn toàn của cuộc Cách mạng Tháng Tám năm 1945, mở ra kỷ nguyên độc lập, tự do cho dân tộc, xây dựng Nhà nước công nông đầu tiên ở Đông Nam châu Á.

Ngay từ năm 1925, tại Trường Huấn luyện cán bộ thanh niên ở Quảng Châu, Nguyễn Ái Quốc đã khẳng định muốn cách mạng thắng lợi phải có Đảng cách mạng lãnh đạo, Đảng ấy phải lấy chủ nghĩa Mác - Lênin làm nền tảng; Đảng ấy phải biết vận động, tập hợp, huấn luyện quần chúng để tạo ra sức mạnh thực hiện đường lối cách mạng của Đảng.

Luận điểm đúng đắn, sáng tạo của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc là thức tỉnh thanh niên để đi tới thức tỉnh cả dân tộc hoàn toàn phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh của nước ta - một nước thuộc địa và nửa phong kiến đã đưa lại những thành công to lớn trong hoạt động thực tiễn.

Xuất phát từ sự nhìn nhận đúng đắn vai trò của tuổi trẻ trong lịch sử cũng như khả năng cách mạng to lớn của họ trong sự nghiệp cứu nước, cứu dân, Chủ tịch Hồ Chí Minh là người sáng lập, lãnh đạo Đảng ta và chính Người cũng là người sáng lập, rèn luyện Đoàn ta “từ lúc đầu hiếm hoi chỉ có 8 cháu” như Người đã từng nói. Đây là vinh dự lớn cho các thế hệ trẻ nước ta.

Ngay sau khi ra đời, Đảng ta liền bắt tay vào quá trình xây dựng hệ thống tổ chức Đoàn.

Đoàn là tổ chức thanh niên kiểu mới đầu tiên ở nước ta, là đội dự bị tin cậy và đội xung kích cách mạng của Đảng. Đó là những vấn đề cốt lõi mà trong tác phẩm “Đường Kách mệnh” của Nguyễn Ái Quốc và trong “án nghị quyết về cộng sản thanh niên vận động” của Hội nghị Trung ương Đảng tháng 10 năm 1930 đã khẳng định.

Công lao to lớn không gì so sánh được của Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh đã đem lý tưởng cách mạng đến cho lớp thanh niên đầy tâm huyết đang trăn trở tìm đường đi để giải phóng dân tộc và giai cấp khỏi cảnh sống nô lệ, lầm than hồi đầu thế kỷ sau bao lần thất bại của các tiền liệt yêu nước.

Đoàn ra đời là một tất yếu khách quan, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ chính trị trọng đại trong thời kỳ cách mạng mới. Dù mang những tên gọi khác nhau, hoạt động trong những điều kiện khác nhau, song tính chất của Đoàn không bao giờ thay đổi, mối quan hệ giữa tổ chức Đoàn và các phong trào thanh niên yêu nước cũng như với đông đảo thanh niên ngày thêm gắn bó chặt chẽ.

Trong những cuộc tổng diễn tập rộng lớn, quyết liệt như Cao trào Xô viết Nghệ Tĩnh (1930-1931); cao trào đấu tranh đòi các quyền dân chủ, dân sinh (1931-1939); cao trào chuẩn bị Tổng khởi nghĩa (1940-1945) do Đảng lãnh đạo, lớp lớp đoàn viên, thanh niên đã chiến đấu, hy sinh vô cùng quả cảm xứng đáng với niềm tin yêu của Đảng và nhân dân ta. Tổ chức Đoàn như Bác Hồ đã nói lúc đầu rất hiếm hoi, song từ trong thực tiễn đấu tranh và được Đảng chăm lo xây dựng, rèn luyện nên đã phát triển không ngừng, lớn mạnh về cả tư tưởng và tổ chức, hoàn thành thắng lợi vai trò là hạt nhân chính trị tập hợp, đoàn kết các lực lượng thanh niên trong cả nước giành chính quyền về tay nhân dân vào mùa thu Cách mạng năm 1945.

Tuy nhiên quá trình phát triển của Đoàn trong thời kỳ hoạt động từ 1931 đến 1945 cũng cho thấy:

Trong giai đoạn bọn đế quốc và phong kiến tiến hành chính sách khủng bố trắng (sau Cao trào Xô viết Nghệ Tĩnh) hàng nghìn cán bộ, đảng viên bị bắn giết tù đày... Không ít Đảng bộ địa phương đã chủ trương kết nạp tất cả đoàn viên vào Đảng (số chưa bị địch phát hiện) để tăng cường lực lượng cho Đảng song lại không có kế hoạch xây dựng tổ chức Đoàn, nghĩa là trên thực tế có những nơi ấy trong một thời gian (từ 1931 đến 1933) không có tổ chức Đoàn. Hiện tượng này đã được Trung ương Đảng phê phán trong một số văn bản quan trọng. Khuyết điểm này sau đó được khắc phục để đến các năm 1934 - 1935 tổ chức Đoàn mới được khôi phục lại trên phạm vi toàn quốc.

Vào giai đoạn hoạt động vừa bí mật vừa nửa công khai (1936 - 1939) do nhu cầu khách quan phải khẩn trương mở rộng phạm vi ảnh hưởng, phải có đội ngũ cán bộ, đoàn viên đông đảo để triển khai công tác trên nhiều lĩnh vực cho nên nhiều cấp bộ Đoàn phát triển ồ ạt coi nhẹ chất lượng đoàn viên. Không ít cơ sở đã kết nạp những người mới tham gia một số hoạt động chứ chưa thật sự giác ngộ về lý tưởng của Đoàn. Vì vậy đến khi cách mạng gặp khó khăn, các tổ chức quần chúng của Đảng phải chuyển vào hoạt động bí mật hoàn toàn đặc biệt là đứng trước những thách thức mới, một số cán bộ, đoàn viên không đáp ứng được nhiệm vụ được giao, thậm chí nằm im hoặc xa rời tổ chức mà mình đã tự nguyện gia nhập.

Đến trước ngày Cách mạng Tháng Tám thành công, tổ chức Đoàn tuy đã được xây dựng ở hầu khắp các trung tâm kinh tế, chính trị lớn trong cả nước, song Đoàn chưa bao quát được việc tập hợp các lực lượng, các tổ chức thanh niên yêu nước vào một mặt trận thanh niên thật rộng rãi đáng ra phải sớm được hình thành để phát huy hiệu quả.

Đây là những vấn đề cần được rút ra ở chặng đường đầu. Lịch sử đấu tranh cách mạng vẻ vang của Đoàn và phong trào thanh niên nước ta dưới ngọn cờ của Đảng và Bác Hồ kính yêu từ những ngày đầu mới thành lập cho đến khi cùng toàn dân hoàn thành cuộc Cách mạng Tháng Tám năm 1945 vĩ đại dẫn đến sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là một chặng đường vô cùng oanh liệt, hào hùng với biết bao anh hùng, liệt sỹ, chiến sĩ cách mạng trẻ tuổi đã cống hiến trọn vẹn tuổi thanh xuân tươi đẹp của mình cho sự nghiệp cao cả của dân tộc và của Đảng. Những trang sử vàng ấy đời đời khắc ghi vào tâm trí các thế hệ trẻ nước ta.

(Lịch sử Đoàn Thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh và phong trào thanh niên Việt Nam - Nhà xuất bản Thanh niên)

 

CHƯƠNG IV
THANH NIÊN CẢ NƯỚC HĂNG HÁI THAM GIA BẢO VỆ, XÂY DỰNG CHÍNH QUYỀN CÁCH MẠNG

---

Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 và sự ra đời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa do Chủ tịch Hồ Chí Minh đứng đầu mở ra kỷ nguyên mới cho dân tộc - kỷ nguyên độc lập, tự do - Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là Nhà nước dân chủ, Nhà nước công nông đầu tiên trong lịch sử dân tộc và ở Đông Nam châu Á. Vừa mới ra đời, Nhà nước cách mạng non trẻ đã phải đương đầu ngay với thù trong, giặc ngoài, với muôn vàn khó khăn trong tình thế “ngàn cân treo sợi tóc”. Nhưng dưới sự lãnh đạo sáng suốt, khôn khéo, tài tình và kiên quyết của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, cách mạng Việt Nam đã vượt qua mọi thác ghềnh, nền độc lập vừa giành được chẳng những không bị thủ tiêu, trái lại đã đứng vững trong những hoàn cảnh hết sức hiểm nghèo. Nhờ vậy, ít lâu sau nhân dân và tuổi trẻ Việt Nam đã bước vào cuộc kháng chiến trường kỳ với tư thế của người làm chủ đất nước.

Sau khi giành được độc lập, vấn đề cơ bản nhất đặt ra cho Đảng và nhân dân ta là giữ vững chính quyền trước sự tiến công điên cuồng của kẻ thù cùng những thế lực nguy hiểm, từng bước xây dựng chế độ mới, đưa cách mạng vững bước tiến lên.

Trên đất nước Việt Nam chưa bao giờ có nhiều kẻ thù như lúc này. Ở miền Bắc, từ cuối tháng 8 đến đầu tháng 9 - 1945, khoảng 200.000 quân Tưởng Giới Thạch dưới danh nghĩa quân Đồng Minh tràn vào chiếm đóng Thủ đô Hà Nội và hầu hết các thành phố, thị xã từ biên giới Việt - Trung đến vĩ tuyến 16. Chúng tập hợp tất cả các lực lượng phản cách mạng trong Việt quốc, Việt cách, bọn Đại Việt, bọn Tờrốtkít cùng bọn phản động trong giai cấp địa chủ, tư sản, trong các tôn giáo... để chống phá, lật đổ chính quyền cách mạng.

Ở miền Nam, ngày 23-9, quân Pháp được quân Anh, quân Nhật yểm trợ, bắt đầu nổ súng đánh chiếm Sài Gòn rồi mở rộng dần các tỉnh Nam Bộ, Nam Trung Bộ, bọn Tờrốtkít, bọn phản động trong các giáo phái... nhảy ra làm tay sai cho Pháp.

Nhà nước ta đứng trước tình hình cực kỳ khó khăn, thiếu thốn từ tài chính, lương thực đến vũ khí, thuốc men... nền kinh tế của đất nước vốn nghèo nàn, lạc hậu lại bị Pháp, Nhật vơ vét xác xơ dẫn đến nạn đói khủng khiếp năm 1945 làm 2 triệu người chết; 50% ruộng đất ở đồng bằng Bắc Bộ bị bỏ hoang, sản xuất công nghiệp đình đốn, hàng vạn công nhân không có việc làm, nền tài chính khánh kiệt, kho bạc trống rỗng.

Trước tình hình đó, Ban Thường vụ Trung ương Đảng đã vạch ra những phương hướng và biện pháp đầu tiên để xây dựng chế độ mới và đối phó với các lực lượng đế quốc và phản động tiến vào đất nước ta. Theo phương hướng đó, ngày 3-9-1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh triệu tập phiên họp đầu tiên của Hội đồng Chính phủ và nêu ra 6 việc cấp bách cần làm ngay.

Tiếp đó, trong bức thư gửi cho bà con nông dân cả nước, Hồ Chủ Tịch lại nêu lên hai nhiệm vụ cấp bách trước mắt:

Hiện nay chúng ta có hai việc quan trọng nhất: cứu đói ở Bắc và kháng chiến ở Nam... Vì cứu quốc, các chiến sĩ đấu tranh ở ngoài mặt trận, vì kiến quốc, nhà nông phấn đấu ngoài đồng ruộng...

Ngày 25-11-1945, Ban Thường vụ Trung ương ra chỉ thị Kháng chiến, kiến quốc, Chỉ thị đề ra nhiệm vụ chủ yếu của Cách mạng Việt Nam lúc này là củng cố chính quyền, chống thực dân Pháp xâm lược, bài trừ nội phản, cải thiện đời sống cho nhân dân...

Theo đề nghị của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng đã phát động phong trào quần chúng tăng gia sản xuất, chống đói, phong trào chống nạn mù chữ. Sau khi thực dân Pháp đánh chiếm Nam Bộ, Đảng phát động phong trào toàn dân kháng chiến ở miền Nam và cả nước ủng hộ cuộc kháng chiến của đồng bào miền Nam.

Hưởng ứng lời kêu gọi chống giặc đói của Hồ Chủ tịch, Đoàn Thanh niên Cứu quốc động viên đoàn viên, thanh niên tích cực tham gia các cuộc vận động lạc quyên cứu đói, hưởng ứng “Hũ gạo cứu đói”, ngày đồng tâm nhịn ăn... để giúp đồng bào bị đói.

Mở đầu phong trào tăng gia sản xuất, Hồ Chủ tịch kêu gọi:

Tăng gia sản xuất! Tăng gia sản xuất ngay! Tăng gia sản xuất nữa! Đó là khẩu hiệu của chúng ta ngày nay. Đó là cách thiết thực của chúng ta để giữ vững quyền tự do, độc lập”.

Với khẩu hiệu “Không một tấc đất bỏ hoang”, “Tấc đất, tấc vàng”, phong trào thi đua sản xuất dấy lên ở khắp các vùng nông thôn, đồng bằng, trung du, miền núi và ở cả các thành phố, thị trấn. Hàng nghìn đoàn viên, thanh niên tổ chức thành những đội sản xuất đi khai hoang, phục hóa ruộng đất, bảo vệ đê điều, trồng các cây lương thực ngắn ngày: Tại Hà Nội, thanh niên tận dụng từng bãi đất nhỏ ven công viên, các bãi bồi ven sông Hồng đến những thửa ruộng hoang hóa ở ngoại thành để trồng lúa, trồng màu, Đoàn còn tổ chức các đội thanh niên đi về nông thôn, lên miền trung du, miền núi để tham gia sản xuất lương thực... Những hoạt động tích cực của đoàn viên, thanh niên đã góp phần nhanh chóng khôi phục sản xuất nông nghiệp, đẩy lùi nạn đói.

Để thiết thực giúp Chính phủ giải quyết khó khăn to lớn về tài chính, Đoàn đã động viên đoàn viên, thanh niên đi đầu tuyên truyền, vận động xây dựng “Quỹ độc lập” và “Tuần lễ vàng”. ở các tỉnh, thành trong cả nước nhất là tại Hà Nội, Sài Gòn, Hải Phòng... thanh niên đã góp phần tích cực vào việc động viên, cổ vũ lòng yêu nước của các tầng lớp nhân dân. Kết quả là đã quyên góp được cho Nhà nước 370 kilôgam vàng trong “Tuần lễ vàng” và 20.000.000 đồng vào “Quỹ độc lập”.

Đồng thời với những thắng lợi bước đầu trên mặt trận kinh tế, tài chính, chính quyền cách mạng đã có những cố gắng lớn và giành được nhiều thành tích trên lĩnh vực văn hóa. Sau Cách mạng Tháng Tám, một trong những việc mà Hồ Chủ tịch quan tâm là phát động một cao trào toàn dân chống nạn mù chữ để mở mang kiến thức cho nhân dân lao động. Chủ tịch Hồ Chí Minh nói: “Một dân tộc dốt là một dân tộc yếu. Vì vậy, tôi đề nghị mở một chiến dịch để chống nạn mù chữ”. Người nhắc nhở toàn dân hăng hái tham gia dạy và học chữ quốc ngữ: “Những người đã biết chữ hãy dạy cho những người chưa biết chữ... Những người chưa biết chữ hãy gắng sức mà học cho biết... Vợ chưa biết thì chồng bảo... cha mẹ không biết thì con bảo... phụ nữ lại càng phải học”. Người giao nhiệm vụ cho thanh niên: “Công việc này, mong anh chị em thanh niên sốt sắng giúp sức”.

Thanh niên là lực lượng nòng cốt trong phong trào diệt dốt. Ở Hà Nội, hơn 2.000 đoàn viên, thanh niên, phần lớn là học sinh, sinh viên tình nguyện làm giáo viên các lớn bình dân học vụ. Trong một thời gian ngắn, có 74.957 lớp học được tổ chức với 95.665 người tham gia làm “Chiến sĩ diệt dốt”, hầu hết là thanh niên và thiếu niên. Chỉ sau một năm đã có 2.500.000 người thoát nạn mù chữ. Hệ thống giáo dục phổ thông và đại học cũng được xây dựng và từng bước phát triển. Tiếng Việt được dùng trong các văn bản chính thức của Nhà nước và trong việc học tập, giảng dạy ở các trường lớp.

Tháng 9-1945, nhân ngày khai trường năm học đầu tiên sau ngày cách mạng thành công, Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thư cho học sinh dặn dò các cháu cố gắng, siêng năng học tập, ngoan ngoãn nghe lời thầy cô, thi đua với bạn để sau này đem tài năng đóng góp vào công cuộc xây dựng đất nước.

Người viết: “Non sông Việt Nam có trở nên tươi đẹp hay không, dân tộc Việt Nam có bước tới đài vinh quang để sánh vai với các cường quốc năm châu được hay không, chính là nhờ một phần lớn ở công học tập của các cháu”.

Cùng với việc lãnh đạo xây dựng các đoàn thể cứu quốc, Đảng ta chủ trương mở rộng hơn nữa Mặt trận dân tộc thống nhất do giai cấp công nhân lãnh đạo để đoàn kết rộng rãi toàn dân tộc phấn đấu vì mục tiêu chung của đất nước. Đầu năm 1946, Đảng chủ trương hình thành mặt trận thanh niên nhằm tập hợp rộng rãi các tầng lớp thanh niên để kháng chiến và kiến quốc, đó là tổ chức Đoàn Thanh niên Việt Nam. Trong mặt trận này, Đoàn TNCQ đóng vai trò là lực lượng nòng cốt.

Để thực hiện nhiệm vụ kháng chiến, Đảng ta chủ trương gấp rút xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân và củng cố quốc phòng: Tháng 1 năm 1946, Quân ủy Trung ương được thành lập nhằm giúp Ban Chấp hành Trung ương Đảng lãnh đạo công tác quân sự. Đông đảo đoàn viên, thanh niên đã hăng hái tham gia các đơn vị tự vệ và tự vệ chiến đấu được thành lập ở tất cả các khu phố, thị xã; trên cơ sở đó, tuyển lựa những chiến sĩ có giác ngộ chính trị, có tinh thần chiến đấu, đưa vào bộ đội tập trung. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, lực lượng vũ trang nhân dân phát triển nhanh chóng trở thành công cụ mạnh mẽ, bảo vệ đắc lực chính quyền cách mạng.

Đầu năm 1946, mặc dù tình hình chiến tranh ngày càng phức tạp nhưng để thực hiện quyền làm chủ của nhân dân và đập tan sự xuyên tạc của kẻ thù, Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh quyết định tổ chức Tổng Tuyển cử trong cả nước để bầu ra Quốc hội đầu tiên của nước Việt Nam độc lập, xây dựng Hiến pháp của Nhà nước Dân chủ Cộng hòa.

Ngày 6-1-1946, cuộc Tổng Tuyển cử được tổ chức trên khắp mọi miền đất nước.

Cuộc Tổng tuyển cử thật sự là cuộc đấu tranh giai cấp và đấu tranh dân tộc gay go, quyết liệt bởi thù trong, giặc ngoài đang tìm mọi cách lật đổ chính quyền nhân dân non trẻ. Nhiều cán bộ, đoàn viên, thanh niên phải hy sinh trong khi làm nhiệm vụ tuyên truyền, vận động và bảo vệ cuộc Tổng tuyển cử.

Mặc dù địch ra sức phá hoại, cuộc bầu cử đã thu được thắng lợi to lớn. Tỷ lệ người đi bầu rất cao, trung bình là 86%, nhiều nơi đạt trên 90%: Những đại biểu do Mặt trận Việt Minh giới thiệu đều trúng cử với số phiếu cao nhất. Chủ tịch Hồ Chí Minh ứng cử ở Thủ đô Hà Nội được cử tri tín nhiệm với 98,4% số phiếu bầu. Nhân dân cả nước đã bầu ra 333 đại biểu vào Quốc hội khóa đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Đại biểu Quốc hội trẻ nhất là Nguyễn Đình Thi, 21 tuổi là nhà thơ, nhạc sĩ, một cán bộ Đoàn hoạt động tích cực trong phong trào thanh niên học sinh yêu nước ở Hà Nội.

Trước tình hình thực dân Pháp nổ súng tiến công ta ở Nam Bộ, bọn Tưởng Giới Thạch muốn lợi dụng cơ hội này thôn tính nhanh miền Bắc Việt Nam. Đầu tháng 10 năm 1945, Hà Ứng Khâm, Tổng tham mưu trưởng quân đội Tưởng Giới Thạch đến Hà Nội để thực hiện âm mưu nói trên. Nhưng trước cuộc biểu dương lực lượng của hơn 300.000 thanh niên và nhân dân Thủ đô với đội ngũ chỉnh tề, bằng cờ biểu ngữ rợp trời, hô vang các khẩu hiệu: “Nước Việt Nam của người Việt Nam”, “Ủng hộ Chính phủ lâm thời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa”, “Ủng hộ Việt Nam độc lập Đồng minh”, “Ủng hộ Chủ tịch Hồ Chí Minh”... Hà Ứng Khâm phải chùn tay ngay từ giờ phút đầu trong việc thực hiện ý đồ thâm độc của y.

Chấp hành chủ trương của Đảng là thực hiện sách lược hòa với Tưởng để kháng chiến chống Pháp xâm lược, Đoàn giáo dục cho đoàn viên, thanh niên tinh thần đấu tranh kiên quyết nhưng phải hết sức bình tĩnh, mềm dẻo, cảnh giác, không mắc mưu khiêu khích của quân Tưởng và bọn tay sai phản động. Ở Hà Nội, đông đảo đoàn viên, thanh niên gia nhập các đơn vị tự vệ chiến đấu. Lực lượng tự vệ Thủ đô đã lập nhiều chiến công xuất sắc, hỗ trợ đắc lực cho các phong trào đấu tranh của thanh niên, học sinh; góp phần phát hiện, ngăn chặn nhiều vụ mưu sát, bắt cóc cán bộ, tống tiền nhân dân của bọn phản động.

Ngày 23-9-1945, thực dân Pháp nổ súng đánh chiếm Sài Gòn - Gia Định rồi sau đó đánh rộng ra cả Nam Bộ, Nam Trung Bộ với sự ủng hộ của quân Anh. 7 giờ sáng 23-9, Xứ ủy và Ủy ban Hành chính Nam Bộ (sau đổi thành Ủy ban Kháng chiến) họp khẩn cấp tại phố Cây Mai (Chợ Lớn) có đồng chí Hoàng Quốc Việt thay mặt Trung ương Đảng và Tổng bộ Việt Minh tham dự. Hội nghị quyết định phát động nhân dân kiên quyết kháng chiến chống xâm lược. Uỷ ban kháng chiến Nam Bộ được thành lập, ra lệnh Tổng bãi công, bãi thị, bất hợp tác với địch, phong tỏa địch...

Tuổi trẻ Nam Bộ cùng nhân dân Nam Bộ không tiếc xương máu, anh dũng bước vào cuộc kháng chiến lâu dài, gian khổ.

Ngay từ những ngày đầu của cuộc kháng chiến, tuổi trẻ Sài Gòn đã ghi được nhiều chiến công xuất sắc. Đến 23-9-1945, một đơn vị thanh niên cảm tử đã bảo vệ các đồng chí cán bộ của Trung ương Đảng, Xứ ủy và Ủy ban rút ra khỏi thành phố an toàn. Các tầng lớp thanh, thiếu niên đều tham gia vào các tổ chức chiến đấu và phục vụ chiến đấu, tiến hành cuộc chiến tranh du kích ngay trong thành phố. Các cơ quan thông tin của ta đưa hình tượng Lê Văn Tám đã xả thân đốt kho xăng của giặc gây xúc động lớn và cổ vũ mạnh mẽ thanh thiếu niên, trong phong trào yêu nước chống giặc ngoại xâm. Các tỉnh Nam Bộ đưa lực lượng đoàn viên, thanh niên về góp sức với Sài Gòn chống quân xâm lược. Nhiều trận đánh làm địch hoảng sợ như trận phục kích khu quân sự ở vùng ngoại ô Tân Định ngày 24-9-1945, diệt 200 tên; trận tấn công bất ngờ trại lính Pháp trên đường Duvuê (Hùng Vương ngày nay) diệt 100 tên, trận phục kích ở Gò Vấp ngày 28-9-1945, bắn chết tên đại tá Diuy. Ngày 30-9-1945 đội TNXP Đoàn Dũng và Đoàn Tiến phục kích tại cầu chữ Y diệt 2 xe chở đầy lính Pháp; ngày 25-9-1945, một đội du kích phá Khám lớn giải phóng tù chính trị, đột nhập vào tận nhà tên ĐờliNhông diệt 3 sĩ quan địch.

Nhiều tấm gương hy sinh anh dũng tuyệt vời của tuổi trẻ Sài Gòn đã động viên tinh thần giết giặc cứu nước của nhân dân cả nước. Đó là một tổ du kích gồm 3 thanh niên đang làm nhiệm vụ trong nội thành, bất ngờ gặp địch. Anh tổ trưởng phân công đối phó ngay: “Tao tay không đi trước cho nó bu lại xét, thằng thứ hai ném lựu đạn, còn một đứa về báo cáo. Dầu có hy sinh một đứa chẳng hề gì”. Sáng hôm sau, các báo đưa tin: “Tại đầu đường Galiêni một tổ du kích đánh lựu đạn diệt 10 tên Pháp, ta có 2 chiến sỹ hi sinh”. Một thiếu niên đi rải truyền đơn trong trại lính chẳng may bị bắt. Tên sĩ quan Anh tra hỏi, em trả lời rõ ràng: “Người sung sướng là được chết cho Tổ quốc... Lúc này tôi chỉ nghĩ một điều như vậy”. Tên sĩ quan Anh ra lệnh thả em về.

Ở Biên Hòa, các em thiếu niên lập “Đội thiếu niên xung phong cảm tử” gồm 30 em, làm nhiệm vụ trinh sát và trừ gian...

Trung ương Đảng, Chính phủ và Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng đồng bào cả nước theo dõi từng ngày tình hình chiến sự ở Nam Bộ và phát động phong trào ủng hộ cuộc kháng chiến của đồng bào Nam Bộ, Nam Trung Bộ, đồng thời tích cực chuẩn bị đối phó với âm mưu của Pháp mở rộng chiến tranh ra cả nước.

Ngày 18-1-1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã cử Bộ trưởng Nội vụ Võ Nguyên Giáp - đặc trách quân sự của Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa vào mặt trận Nam Trung Bộ, Tây Nguyên và Nam Bộ để nắm tình hình chiến trường và truyền đạt ý kiến chỉ đạo của Trung ương và Bác Hồ, động viên đồng bào chiến sĩ giữ vững tinh thần kháng chiến, phát động phong trào du kích chiến tranh để kìm chân địch và hăng hái tham gia đánh giặc cứu nước.

Phong trào “Nam tiến” lôi cuốn hàng chục vạn thanh niên lên đường vào Nam chiến đấu. Các tỉnh ở Bắc Bộ, Trung Bộ đều thành lập những chi đội, tiểu đoàn khẩn cấp vào Nam. Đầu tháng 11-1945, chi đội 1 quân Nam tiến Hải Phòng lên đường vào Nam đánh giặc. Thành phố Huế gửi vào Nam 3 chi đội, Quảng Nam gửi 5 chi đội, riêng Quảng Ngãi gửi khoảng 15.000 chiến sĩ, Thủ đô Hà Nội gửi 10.000 đoàn viên, thanh niên ưu tú vào tiếp sức cho Nam Bộ đánh giặc; Nam Định gửi 2 đại đội, Ninh Bình gửi 3 đại đội, Hà Nam gửi 1 tiểu đoàn cùng 50 cán bộ chi viện cho Nam Bộ.

Phong trào xung phong vào Nam đánh giặc đi vào từng gia đình, cuốn hút tình cảm của mọi lứa tuổi. Gia đình ông Hoàng Tâm Tích ở Hải Phòng đã tình nguyện cho cả 3 người con trai được vào Nam chiến đấu trong đợt đầu tiên. Tấm gương em thiếu niên Hà Nội trốn trong toa than tàu hỏa để theo các chiến sĩ vào Nam đánh giặc và đã hy sinh anh dũng ở mảnh đất miền Trung với chiếc bát sắt đeo bên mình. Không biết tên em, đồng đội gọi em: “Chiến sĩ bát sắt”. Noi gương em, thiếu niên Hà Nội đã lập đội tình báo chiến đấu trong lòng địch với tên gọi Đội bát sắt.

Những “Ngày Nam Bộ”, “Phòng Nam Bộ”, “Vũ khí cho Nam Bộ” thật rầm rộ, sôi nổi trong cả nước.

Cùng với Nam Bộ, tiếng súng kháng chiến ở Nha Trang nổ ra đêm 22 rạng 23-10-1945. Đêm ấy, Đại đội trưởng Võ Văn Ký quê ở Ninh Hòa đã hy sinh anh dũng khi chỉ huy đơn vị tấn công nhà ga với lựu đạn và súng trường. Ngày nay, con đường trước ga Nha Trang, nơi anh ngã xuống đêm 23-10-1945 được mang tên anh, đường Võ Văn Ký.

Chỉ trong khoảng 100 ngày đêm kháng chiến, quân dân Sài Gòn đã phá hủy 139 cơ sở phục vụ cuộc chiến tranh xâm lược của Pháp, đốt phá 22 kho, 17 đầu máy xe lửa... và quân dân toàn Nam Bộ đã tiêu diệt 5.000 lính Pháp. Nhiều tấm gương chiến đấu dũng cảm, hy sinh oanh liệt của đoàn viên thanh niên như đội cảm tử gồm 5 thanh niên Cần Thơ do anh Lê Bình chỉ huy, bất ngờ tập kích vào đồn Cái Răng diệt gọn một đại đội địch. Lê Bình hy sinh. Lúc này anh mới 22 tuổi. Trả thù cho anh, đội du kích mang tên anh đã phục kích đánh địch ở ngã tư Cái Sơn làm hỏng 1 tàu, diệt 2 tên Pháp và 1 tên Việt gian... Liệt sĩ Lê Bình được Nhà nước ta truy tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân. Tại mặt trận Bình Thủy, các anh Trần Văn Quế, Nguyễn Văn Hạnh, chiến đấu đến viên đạn cuối cùng. Anh Võ Văn Thơm chỉ huy đội cảm tử ở Gò Công đã cùng đồng đội chiến đấu quyết liệt khi giặc tràn đến. Anh đã hy sinh anh dũng. Chính quyền cách mạng lấy tên anh đặt cho ấp chợ Tân Hòa. Đó là ấp Hòa Thơm, nơi anh đã hy sinh vì đất nước.

Cuộc kháng chiến của quân dân Nam Bộ đã giam chân thực dân Pháp, tạo điều kiện để ta củng cố chính quyền cách mạng, xây dựng chế độ mới, chuẩn bị cho cuộc kháng chiến toàn quốc.

Tháng 2-1946, thay mặt Chính phủ và đồng bào cả nước Chủ tịch Hồ Chí Minh tặng Nam Bộ danh hiệu vẻ vang: “Thành đồng Tổ quốc”.

***

Sau Cách mạng Tháng Tám, Đoàn Thanh niên Cứu quốc được xây dựng, củng cố từng bước về tư tưởng và tổ chức để chuẩn bị lực lượng bước vào cuộc kháng chiến trường kỳ, gian khổ chống thực dân Pháp xâm lược.

Dưới sự chỉ đạo của Hồ Chủ tịch và Trung ương Đảng, các cấp ủy Đảng từ Xứ ủy đến các tỉnh, thành ủy đều coi trọng công tác tổ chức, vận động và giáo dục thanh niên. Chính phủ lập Nha thanh niên do các ông Dương Đức Hiền, Đào Duy Kỳ làm Giám đốc và Phó Giám đốc để phối hợp với Đoàn Thanh niên Cứu quốc trong công tác tổ chức vận động thanh niên tham gia kháng chiến và kiến quốc.

Tháng 6 năm 1946, tổ chức Tổng Đoàn thanh niên Việt Nam, Mặt trận đoàn kết, tập hợp thanh niên ra đời do Đoàn TNCQ làm nòng cốt.

Các cơ sở Đoàn được hình thành ở hầu khắp các nhà máy, xí nghiệp, đường phố, trường học, làng xã, từ thành phố đến nông thôn, từ đồng bằng lên miền núi. Hệ thống Đoàn được củng cố và thống nhất từ cấp xã lên cấp xứ. Nhiều đại hội Đoàn các cấp đã được triệu tập.

Ngày 27-9-1945, Đại hội Đoàn Thanh niên Cứu quốc thành Hoàng Diệu (Hà Nội) khai mạc tại Nhà hát Lớn thành phố với 105 đại biểu thay mặt cho các cơ sở Đoàn trong toàn thành phố.

Đại hội vinh dự được Chủ tịch Hồ Chí Minh và các vị Bộ trưởng trong Chính phủ lâm thời đến thăm.

Cả hội trường xúc động lắng nghe lời huấn thị của Bác Hồ. Người đánh giá cao vai trò của thanh niên Hà Nội trong cuộc Tổng khởi nghĩa giành chính quyền và đang phát huy vai trò tích cực trong nhiệm vụ bảo vệ chế độ mới. Người ân cần nhắc nhở tổ chức Đoàn cần khắc phục tình trạng thiếu chủ động, thiếu tổ chức chặt chẽ, tăng cường đoàn kết, tập hợp các tổ chức thanh niên, chăm lo dìu dắt thiếu niên nhi đồng... hoàn thành những nhiệm vụ nặng nề mà Tổ quốc và nhân dân giao phó...

Trong những ngày đầu tiên của nước Việt Nam vừa giành được độc lập, tự do, Đại hội Đoàn Thanh niên Cứu quốc thành Hoàng Diệu thành công tốt đẹp là một sự kiện lịch sử trọng đại trong đời sống chính trị của thanh niên Thủ đô và thanh niên cả nước.

Tiếp đó, Đại hội Xứ Đoàn Thanh niên Cứu quốc Bắc Bộ được tổ chức tại Nhà hát Lớn thành phố vào ngày 25-11-1945, dự đại hội có 120 đại biểu thay mặt cho đoàn viên thanh niên của 21 tỉnh, thành phố, Chủ tịch Hồ Chí Minh và đồng chí Phạm Văn Đồng đã đến thăm và huấn thị tại Đại Hội. Đồng chí Nguyễn Lam được Đại hội bầu làm Bí thư Xứ Đoàn TNCQ Bắc Bộ.

Tháng 11-1946, Đại hội Đoàn TNCQ các tỉnh Trung Bộ khai mạc tại thành phố Huế. Trên 150 đại biểu đại diện cho 13 vạn cán bộ, đoàn viên thanh niên từ Thanh Hóa đến các tỉnh cực Nam Trung Bộ về dự Đại hội. Đại hội được đồng chí Nguyễn Chí Thanh Uỷ viên Trung ương Đảng Bí thư Xứ ủy Trung kỳ đến thăm và nói chuyện. Toàn thể Đại biểu dự Đại hội nêu cao ý chí của thanh niên Trung Bộ nguyện chiến đấu hy sinh đến cùng chống thực dân Pháp xâm lược. Đại hội đã bầu ra Ban Chấp hành Xứ đoàn TNCQ Trung Bộ do đồng chí Trần Văn Bành làm Bí thư

Cuối năm 1945, Đoàn đại biểu Thanh niên Cứu quốc Nam Bộ do Huỳnh Tấn Phát dẫn đầu đã vượt qua vòng vây của quân thù, ngày đêm lội suối băng rừng ra Hà Nội tham dự Đại hội thanh niên toàn quốc

Đoàn đến Hà Nội vào những ngày đầu tháng 11-1945. Ngay sau đó, ngày 10-11-1945, đoàn đã được gặp Hồ Chủ tịch kính yêu.

Đoàn báo cáo với Hồ Chủ tịch phong trào thanh niên Nam Bộ trong những ngày đầu kháng chiến chống Pháp. Người khen ngợi thành tích của toàn thể thanh niên Nam Bộ đã kiên cường đánh giặc. Bác vô cùng xúc động trước những tấm gương chiến đấu, hy sinh anh dũng của thanh, thiếu nhi Nam Bộ.

Đoàn đại biểu thanh niên Trung Bộ do Hồng Chương và Hồ Mỹ Xuyên từ Huế ra Hà Nội báo cáo với Hồ Chủ tịch về phong trào thanh niên Trung Bộ. Các đồng chí đã thay mặt thanh niên miền Trung xin hứa với Người đi đầu trong phong trào kháng chiến, kiến quốc, tích cực thực hiện nhiệm vụ chống giặc đói, giặc dốt và giặc ngoại xâm mà Người đã trao cho tuổi trẻ cả nước.

Ở Hải Phòng, tháng 9-1945, Ban Chấp hành Thành bộ Thanh niên Cứu quốc được thành lập do Nguyễn Công Tỉnh, Thành ủy viên làm Bí thư.

Ở Quảng Nam, Đại hội đại biểu Đoàn thanh niên Cứu quốc lần thứ nhất được triệu tập tại Hội An vào ngày 25 tháng 10 năm 1945. Đại hội bầu Ban Chấp hành Tỉnh Đoàn do Trần Thượng Hàm làm Bí thư. Tháng 4-1946, Đại hội lần thứ II được triệu tập với nhiệm vụ tổ chức, động viên đoàn viên, thanh niên tham gia kháng chiến, kiến quốc bảo vệ và củng cố chính quyền cách mạng. Đại hội bầu ra Ban Chấp hành mới do Chế Viết Tấn làm Bí thư. Tỉnh Đoàn đã xuất bản được 1 tờ báo và 1 tạp chí lấy tên là “Hừng đông”. Đến tháng 12-1946, số lượng đoàn viên cả tỉnh đã lên đến 80.000 người.

Cuối năm 1946, Đại hội đại biểu Đoàn TNCQ toàn tỉnh Thanh Hóa được tổ chức. Đại hội bầu ra Ban Chấp hành Tỉnh Đoàn gồm 17 đồng chí do Lê Ngọc Huỳnh làm Bí thư.

Ở Nam Bộ, cuối năm 1946 Xứ ủy chủ trương củng cố tổ chức Đoàn Thanh niên Cứu quốc và phát triển phong trào thanh niên. Các ban vận động, Ban Chấp hành lâm thời Tỉnh Đoàn được thành lập. Các tỉnh đều tiến hành công tác củng cố và phát triển cơ sở Đoàn. Các huyện, xã ở Mỹ Tho, Bến Tre... đều thành lập được Ban Chấp hành. Hai Tỉnh Đoàn này mở các lớp huấn luyện, đào tạo cán bộ cho cơ sở. ở Cần Thơ, 2/3 số huyện trong tỉnh có Ban Chấp hành, ở Sóc Trăng xây dựng được 36/56 cơ sở Đoàn. ở Bạc Liêu, trong tháng 9, 10, 11-1946, hệ thống tổ chức của thanh niên Cứu quốc được hình thành từ cơ sở trở lên.

Trong điều kiện cuộc kháng chiến chống Pháp của quân dân Nam Bộ diễn ra quyết liệt, nhưng đến cuối năm 1946, Đoàn Thanh niên Cứu quốc Nam Bộ đã xây dựng được cơ sở hầu khắp các tỉnh, thành, huyện, thị... Đoàn đã động viên đoàn viên thanh niên tích cực tham gia quân du kích, tòng quân xây dựng lực lượng vũ trang, tham gia chiến đấu, phá tề, trừ giam...

Sau khi Hiệp định sơ bộ 6-3 được ký kết, Đoàn Thanh niên Cứu quốc chấp hành chủ trương của Đảng, tranh thủ thời gian hòa hoãn để củng cố, phát triển lực lượng, chuẩn bị mọi điều kiện cho cuộc kháng chiến lâu dài, gian khổ đồng thời hết sức cảnh giác, ngăn chặn các âm mưu lật đổ, hành động khiêu khích, phá hoại của thực dân Pháp và bọn phản động.

Ngày 12-7-1946, lực lượng công an xung phong phối hợp với các đội tự vệ thanh niên tiến công bọn nội phản ở số nhà 132 phố Đuyvinhô và ở số 7 phố Ôn Như Hầu, chặn đứng được mưu đồ gây bạo loạn, lật đổ chính quyền cách mạng của bọn Pháp và tay sai.

Bộ mặt xâm lược của thực dân Pháp ngày càng lộ rõ. Đảng ta khẩn trương xây dựng, phát triển lực lượng vũ trang cách mạng. ở Hà Nội, cuối tháng 6-1945, lực lượng tự vệ chiến đấu và tự vệ thành được hợp nhất với tên gọi Thanh niên tự vệ Hà Nội. Thành Đoàn TNCQ thành Hoàng Diệu đã cử các cán bộ có năng lực vào ban chỉ huy của lực lượng thanh niên tự vệ. Đơn vị pháo 75 ly, đơn vị hỏa lực mạnh đầu tiên của Quân đội nhân dân Việt Nam được thành lập vào tháng 6-1946 đã xây dựng được 4 pháo đài ở Láng, Xuân Tảo, Xuân Canh, Đào Xuyên sẵn sàng trong tư thế bảo vệ Thủ đô Hà Nội. Ở Hải Phòng, Đội thanh niên xung phong được thành lập từ những ngày đầu của chính quyền cách mạng, làm nhiệm vụ giữ gìn trật tự trị an, trấn áp bọn phản cách mạng. Với chức năng là lực lượng an ninh đặc biệt, đội đã góp phần đắc lực trong nhiệm vụ bảo vệ Nhà nước cách mạng, bảo vệ Nhân dân. Trường huấn luyện thanh niên Tô Hiệu của Hải Phòng đã kịp thời đào tạo được 2 khóa cán bộ với trên 200 học viên, cung cấp cán bộ kịp thời cho cuộc kháng chiến.

Đoàn viên, thanh niên trong cả nước sôi nổi luyện tập quân sự và tham gia các lực lượng vũ trang. ở Thanh Hóa, mỗi làng đều có trung đội du kích và tự vệ. Đội “Thanh niên xung phong” ở thị xã được thành lập gồm 200 đoàn viên, thanh niên. Chi đội chủ lực đầu tiên của tỉnh Thanh Hóa được thành lập với 1.500 chiến sĩ, mang tên Chi đội Đinh Công Tráng, Đội tự vệ thị xã được thành lập vào đầu năm 1946. Ở Quảng Nam - Đà Nẵng, hàng nghìn thanh niên tham gia Vệ quốc đoàn, tự vệ chiến đấu, công an xung phong... Ở Đà Nẵng, Hội An, thành lập được các phân đội nữ giải phóng quân. Anh chị em đã tự sắm vũ khí và quyên góp được 20.000 đồng ủng hộ Chính phủ mua sắm vũ khí chuẩn bị kháng chiến.

Đến cuối năm 1946, đoàn viên và thanh niên chiếm trên 90% trong số 8 vạn chiến sĩ trong quân đội thường trực và 1 triệu rưỡi chiến sĩ trong quân du kích, tự vệ chiến đấu. Tại Hà Nội, không khí chuẩn bị chiến đấu khẩn trương, sôi động. Các đội thanh niên tự vệ gấp rút chuẩn bị trận địa, hầm, hào để đánh địch. Ý chí bảo vệ Hà Nội của thanh niên được viết thành khẩu hiệu dán khắp nơi: “Thanh niên thành Hoàng Diệu nguyện sống chết với Thủ đô”.

Dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đoàn Thanh niên Cứu quốc và phong trào thanh niên đã góp phần tích cực trong sự nghiệp bảo vệ, củng cố Nhà nước dân chủ nhân dân, xây dựng chế độ mới, tích cực chuẩn bị cho cuộc kháng chiến lâu dài, gian khổ của dân tộc. Qua hơn một năm hoạt động dưới chế độ mới, Đoàn Thanh niên Cứu quốc đã phát triển rộng khắp. Hệ thống tổ chức Đoàn được kiện toàn từ cơ sở lên đến tỉnh, thành ở cả 3 miền. Đó là điều kiện rất quan trọng về chính trị và tổ chức để Đoàn bước vào cuộc chiến đấu lâu dài, gian khổ chống thực dân Pháp xâm lược.

 

CHƯƠNG V
KIÊN CƯỜNG KHÁNG CHIẾN CHỐNG THỰC DÂN PHÁP XÂM LƯỢC, LÀM THẤT BẠI ÂM MƯU ĐÁNH NHANH THẮNG NHANH CỦA ĐỊCH

---

Trước dã tâm xâm lược của thực dân Pháp, Đảng triệu tập khẩn cấp Hội nghị Ban Thường vụ Trung ương mở rộng, họp trong 2 ngày 18 và 19-12-1946 tại làng Vạn Phúc (Hà Đông) quyết định phát động toàn dân cầm vũ khí đứng lên chống thực dân Pháp xâm lược, bảo vệ nền độc lập, tự do vừa giành được.

Ngày 19-12-1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến. Người nói: “Chúng ta muốn hòa bình, chúng ta phải nhân nhượng. Nhưng chúng ta càng nhân nhượng, thực dân Pháp càng lấn tới, vì chúng quyết tâm cướp nước ta lần nữa. Không! Chúng ta thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ... Hỡi đồng bào!... là người Việt Nam thì phải đứng lên đánh thực dân Pháp để cứu Tổ quốc...”

Đáp lời kêu gọi cứu nước của Chủ tịch Hồ Chí Minh, theo đường lối kháng chiến đúng đắn do Đảng vạch ra, thanh niên cả nước cùng toàn dân nhất tề đứng lên giết giặc cứu nước.

Đêm 19-12-1946, cuộc chiến đấu của thanh niên và nhân dân nước ta nổ ra ở Thủ đô Hà Nội và các thành phố, thị xã như: Hải Phòng, Hải Dương, Vinh, Huế, Đà Nẵng...

Tại Thủ đô Hà Nội, với lòng căm thù giặc sôi sục, với ý chí bất khuất, kiên cường, quân dân và thanh niên thành phố đã tấn công mãnh liệt vào quân cướp nước, 20 giờ ngày 19-12-1946, công nhân nhà máy điện được lệnh phá máy, tắt đèn. Giờ cứu nước đã điểm, toàn thành phố nổ súng. Từ các pháo đài Láng, Xuân Tão, Xuân Canh, Đào Xuyên, Đoàn pháo binh Thủ đô nã đại bác vào các trại lính Pháp. Các lực lượng vệ quốc quân, công an xung phong, tự vệ chiến đấu, đồng loạt tiến công các vị trí của giặc. Thanh niên tự vệ chặt cây, nổ mìn, ngả cột điện, đánh đổ toa xe lửa, xe điện, nhân dân khuân vác giường, tủ, bàn ghế ra đường làm chướng ngại vật chặn quân thù. Tiếng súng, lựu đạn, bom, mìn, tiếng hô xung phong, tiếng loa phát thanh của tự vệ, tiếng hát của đoàn quân cảm tử... tất cả hòa quyện thành bản anh hùng ca của nhân dân Hà Nội trong đêm đầu toàn quốc kháng chiến, phản ánh ý chí sắt thép của tuổi trẻ Thủ đô: “Hà Nội mồ chôn giặc Pháp”, “Thề sống chết với Thủ đô”.

Sau những giờ phút hoảng loạn, giặc Pháp điên cuồng phản kích. Các đoàn chiến xa dẫn đầu hàng nghìn lính bộ binh lồng lộn chia làm nhiều ngả tiến đánh nơi làm việc của Chủ tịch Hồ Chí Minh ở Bắc Bộ phủ, trụ sở Bộ Quốc phòng, Bộ tổng chỉ huy tự vệ chiến đấu, Nhà hát Lớn thành phố, nhà đấu xảo, nhà ga, cầu Long Biên và nhiều vị trí khác. Cuộc chiến đấu giữa ta và giặc nổ ra khắp nơi. Đoàn viên, thanh niên trong lực lượng vũ trang đóng ở Hà Nội cùng hàng vạn tuổi trẻ Thủ đô đã anh dũng đi đầu trong cuộc chiến đấu sống mái với quân thù, nêu tấm gương sáng ngời về tinh thần xả thân vì độc lập, tự do.

Tại Bắc Bộ phủ, một đại đội Vệ quốc quân và 20 thanh niên tự vệ nêu quyết tâm “Chúng tôi còn, Bắc Bộ phủ còn”. Các chiến sĩ đã anh dũng đẩy lùi nhiều đợt tấn công của 300 lính Pháp có 18 xe tăng yểm trợ, tiêu diệt 150 tên, đốt cháy 4 xe tăng. Chiều ngày 20 - 12, nhiệm vụ bảo vệ của đại đội đã hoàn thành. Theo lệnh của cấp trên, chính trị viên Lê Gia Định cho bộ đội rút quân để bảo toàn lực lượng chuẩn bị chiến đấu lâu dài. Một mình anh ở lại chốt giữ vị trí. Quân địch mở các đợt tấn công mới. Lê Gia Định đã đập kíp bom vào một xe tăng địch tiêu diệt hàng chục lính Pháp và anh đã anh dũng hy sinh. Tổ quốc ghi công truy tặng anh, người cộng sản trẻ tuổi danh hiệu cao quý: “Cảm tử quân số 1 của Thủ đô”.

Ở Nhà hát Lớn thành phố, các chiến sĩ của một Trung đội Vệ quốc quân đã chiến đấu đến viên đạn cuối cùng, hầu hết bị thương, khi sa vào tay giặc vẫn giữ vững khí tiết cách mạng.

Ở Sở Bưu điện, 20 chiến sĩ tự vệ đã chiến đấu đến người cuối cùng bên Hồ Gươm để cản giặc tràn vào trung tâm thành phố. ở Chợ Hôm, trung đội trưởng Trần Thành dũng cảm ôm bom ba càng lao vào xe tăng giặc chặn đường tiến công của chúng.

Cùng với thanh niên trong các lực lượng vũ trang, hàng vạn phụ nữ, học sinh, sinh viên, thiếu niên Hà Nội đã tham gia chiến đấu anh dũng. Tiểu đội cứu thương ở Giảng Võ gồm những cô gái trẻ làng hoa Ngọc Hà đã lần lượt hy sinh trong khi làm nhiệm vụ. Học sinh Vũ Chí Thành là đội viên Đội cảm tử quân Hà Nội cùng nhiều bạn đã anh dũng hy sinh trong đêm đầu kháng chiến.

Tháng 1 năm 1947, các đơn vị tự vệ chiến đấu và Vệ quốc quân trong Liên khu 1 được thống nhất tổ chức thành Trung đoàn liên khu I, sau đó được vinh dự mang tên Trung đoàn Thủ đô. Các lực lượng vũ trang chiến đấu ở các cửa ô được hợp nhất thành Trung đoàn 48 và Trung đoàn 52. Mỗi trung đoàn có trên dưới 2000 cán bộ, chiến sĩ vốn là thanh niên công nhân, dân nghèo thành thị, nông dân ngoại thành, học sinh, sinh viên và một số thiếu niên... Nhiệm vụ của các trung đoàn là chiến đấu tiêu hao sinh lực và giam chân địch trong lòng Hà Nội.

Ngày 6-1-1947, hàng nghìn quân Pháp với máy bay, xe tăng, đại bác yểm trợ, ồ ạt tấn công vào khu Giảng Võ - Ô Chợ Dừa. Các chiến sĩ đại đội 2 thuộc tiểu doàn 56, chiến khu II Hà Nội chiến đấu anh dũng, ngoan cường mặc dù lực lượng không cân sức. Tấm gương hy sinh của Tiểu đội trưởng Nguyễn Phúc Lai ôm bom ba càng lao vào diệt xe tăng địch, chặn đường tiến quân của giặc, nêu tấm gương sáng “Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh”.

Trong những ngày đêm ác liệt, bộn bề công việc lãnh đạo cuộc kháng chiến nhưng khi được tin Vũ Chí Thành hy sinh. Chủ tịch Hồ Chí Minh liền viết thư chia buồn với bác sĩ Vũ Đình Tụng, cha của liệt sĩ với những lời cảm động và đầy kích lệ: “Ngài biết rằng tôi không có gia đình, cũng không có con cái. Nước Việt Nam là gia đình của tôi. Tất cả thanh niên Việt Nam là con cháu của tôi. Mất một thanh niên thì hình như tôi đứt một đoạn ruột. Nhưng cháu và anh em thanh niên khác dũng cảm hy sinh để giữ gìn đất nước. Thế là họ đã làm rạng rỡ dân tộc, vẻ vang giống nòi. Họ chết cho Tổ quốc sống mãi; vật chất họ mất nhưng tinh thần họ vẫn luôn luôn sống với non sông Việt Nam...”

Xuân Đinh Hợi (1947) đến vào lúc cuộc chiến đấu đang diễn ra quyết liệt giữa lòng Hà Nội, các cán bộ chiến sĩ Thủ đô vô cùng xúc động khi nhận thư thăm hỏi, động viên của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Trong thư, Người viết: “Các em là đội cảm tử. Các em cảm tử để cho Tổ quốc quyết sinh. Các em là đại biểu cái tinh thần tự tôn, tự lập của dân tộc ta mấy nghìn năm để lại, cái tinh thần quật cường đó đã kinh qua Hai Bà Trưng, Lý Thường Kiệt, Trần Hưng Đạo, Lê Lợi, Quang Trung, Phan Đình Phùng, Hoàng Hoa Thám, truyền lại cho các em. Nay các em gan góc tiếp tục cái tinh thần bất diệt đó, để truyền lại cho nòi giống Việt Nam muôn đời về sau”.

Ngày 7-2-1947, thực dân Pháp từ bốn hướng mở cuộc tổng tấn công vào trung tâm Thủ đô. Những cánh quân xâm lược hàng trăm tên có máy bay ném bom, xe tăng dọn đường, điên cuồng tiến vào các đường phố như Cầu Gỗ, Hàng Nón, Hàng Thiếc, Hàng Lược, Hàng Đường, Chợ Đồng Xuân,v.v... Ba mươi sáu phố phường Hà Nội rền vang tiếng súng. Cuộc chiến đấu giữa ta và địch diễn ra hết sức ác liệt. Nhiều tấm gương chiến đấu dũng cảm phi thường của cảm tử quân Thủ đô đã làm quân thù phải kinh hoàng. ở sườn phía Đông và mặt trận phía Tây liên khu I ta phản kích thắng lợi, kiên quyết không cho địch thực hiện âm mưu cắt đôi liên khu. Chiến sĩ Trần Đan được đồng đội tặng danh hiệu “Vua lựu đạn”. Tay phải anh bị thương, tay trái còn lại vẫn phát huy uy lực của lựu đạn để tiêu diệt nhiều địch. ở phố Hàng Nón, chiến sĩ Minh hai mắt bị mờ vì khói súng địch vẫn không rời trận địa, dùng tai nghe tiếng động để đoán hướng giặc tới mà nổ súng tiêu diệt. ở chợ Đồng Xuân, anh công nhân Tưởng sau khi bắn viên đạn cuối cùng đã dùng dao thái thịt quần nhau với lính lê dương làm 10 tên bỏ mạng. Nhiều em thiếu nhi làm liên lạc, trinh sát cho các đơn vị bộ đội đã lập chiến công xuất sắc như em Lai, em Dương Văn Nội. Ngày 12-4-1947, Dương Văn Nội tham gia trận chống càn ở Làng Xấu Giá (Đan Phượng, Hà Tây). Dương Văn Nội giết được 3 tên Pháp và hy sinh anh dũng. Em là liệt sĩ thiếu niên đầu tiên được Chính phủ truy tặng Huân chương chiến công hạng Hai.

Tinh thần chiến đấu ngoan cường, anh dũng của đội du kích Hồng Hà đã cản được giặc Pháp, bảo đảm an toàn cho quân dân Liên khu I trở về hậu phương. Đội du kích Hồng Hà có 15 chiến sĩ trẻ do đảng viên Nguyễn Ngọc Nại chỉ huy. Suốt 60 ngày đêm khói lửa, tiểu đội luôn giữ vững con đường huyết mạch nối liền liên khu I với vùng tự do. Sáng 18-2-1947, nhận nhiệm vụ bảo vệ Trung đoàn Thủ đô rút quân, Đội du kích Hồng Hà đã chiến đấu ngoan cường, đánh lạc hướng địch, tiêu diệt 17 tên. Lúc hết đạn, chỉ còn một quả lựu đạn duy nhất, Nguyễn Ngọc Nại chờ cho địch đến gần rồi cho nổ để khi anh hy sinh còn diệt thêm mấy tên địch nữa. Anh đã hy sinh vô cùng anh dũng.

Sau gần hai tháng đánh giặc hết sức oanh liệt, quân dân và thanh niên Thủ đô đã tiêu diệt hơn 2000 tên địch với 200 trận chiến đấu, phá huỷ trên 100 xe quân sự trong đó 22 xe tăng, xe bọc thép. Bắn rơi và phá huỷ 5 máy bay, bắn chìm 5 ca nô. Quân và dân Hà Nội đã đánh bại hoàn toàn âm mưu và kế hoạch của thực dân Pháp định “đánh úp” các cơ quan đầu não của Nhà nước Cách mạng, bóp chết lực lượng vũ trang non trẻ của ta, kìm giữ giam chân địch suốt 60 ngày đêm tại chiến trường Hà Nội, góp phần tạo điều kiện để cả nước chuẩn bị và tổ chức cuộc kháng chiến lâu dài chống thực dân Pháp xâm lược.

Khắp các tỉnh, thành trong cả nước đều nhất tề đứng lên chiến đấu, bảo vệ quê hương, đất nước. ở Nam Định, lực lượng thanh niên thành phố vinh dự nổ phát súng đầu tiên vào trại lính Tarô, mở đầu cuộc kháng chiến của quân dân trong tỉnh, 800 lính Pháp bị vây chặt trong thành phố 90 ngày đêm, 400 tên bị tiêu diệt. Tại Bắc Ninh, Bắc Giang, 2 đại đội Pháp bỏ mạng trước sức tiến công của lực lượng du kích, tự vệ. Tại Hải Dương, Hòn Gai, một số đơn vị lẻ của quân Pháp bị tiêu diệt. Tại Vinh, bọn Pháp phải đầu hàng. Tại Huế, cuộc chiến đấu quyết liệt kéo dài hơn một tháng, ta tiêu diệt 400 tên Pháp. Tại Đà Nẵng, 10.000 quân giặc bị vây hãm trong thành phố 3 tháng, 300 lính Pháp bị tiêu diệt. Quân dân Đà Nẵng phá huỷ nhiều xe tăng, đốt phá các kho bom, xăng... Các chiến sĩ Ngô Văn Minh, Trần Đức, Ngô Hiệp... mưu trí, táo bạo đã tiêu diệt hàng chục giặc Pháp. Tuổi trẻ Quảng Nam - Đà Nẵng đã góp phần xứng đáng vào phần thưởng cao quý mà đồng chí Phạm Văn Đồng, thay mặt Trung ương Đảng và Chính phủ trao tặng mặt trận Quảng Nam - Đà Nẵng lá cờ vẻ vang anh dũng bảo vệ Tổ quốc.

Ở Nam Bộ, trong 3 tháng đầu năm 1947, ta có nhiều trận đột kích vào Sài Gòn, Chợ Lớn, Gia Định, sân bay Tân Sơn Nhất và trên đường xe lửa Sài Gòn - Mỹ Tho. Tại Sài Gòn, du kích đột nhập sở mật thám Bình Tây, diệt tên ác ôn Lê Ngọc, bắn gãy chân tên Sáu Đê. Anh Trần Công Thành dũng cảm xông vào tòa soạn báo Quốc Hồn trừng trị bọn bồi bút bôi nhọ kháng chiến. Đặc biệt là chiến công của anh Võ Hồng Tám, đội viên du kích Tây Hồ đã cắt cổ tên đại tá Pháp Inphailơ tại khách sạn Nationan ở đường Sắcne (nay là đường Nguyễn Huệ). Nhiều cuộc hành quân, càn quét của địch ở đồng bằng sông Cửu Long bị đánh bại. Chiến tranh du kích ở các vùng bị địch chiếm đóng được phối hợp với những cuộc đình công, bãi khóa, bãi thị của công nhân, học sinh và nhân dân. Phong trào thanh niên tòng quân sôi nổi khắp Nam Bộ. Tại Bạc Liêu có 500 du kích tập trung và 1000 du kích xã, ấp, một đội tự vệ chiến đấu. Hầu khắp các tỉnh Nam Bộ đều có chi đội bộ đội. Toàn khu 7 có 16 chi đội, Sài Gòn có 10 ban công tác và nhiều đội cảm tử. Ở khu 9, đến cuối tháng 6-1946 mỗi tỉnh có từ hai trung đội đến một đại đội Vệ quốc đoàn. những trận đánh bất ngờ cùng những hoạt động du kích của quân dân khu 4 đã buộc địch phải rút hết đồn bốt đóng sâu trong vùng nông thôn.

Kế hoạch đánh nhanh, thắng nhanh của địch đã bị thất bại. Đồng thời với việc chuẩn bị mở những cuộc tấn công mới, thực dân Pháp chủ trương bình định những vùng đã chiếm để thực hiện âm mưu thâm độc “dùng người Việt đánh người Việt, lấy chiến tranh nuôi chiến tranh”. Đối với thanh niên, thực dân Pháp dùng thủ đoạn vừa mua chuộc, lôi kéo, vừa đàn áp, khủng bố. Chúng còn thành lập ra các tổ chức thanh niên phản động để lôi kéo, ru ngủ, chia rẽ thanh niên hòng làm cho họ lãng quên dân tộc, đất nước...

Với đường lối thanh vận đúng đắn, Đảng luôn tin tưởng ở tinh thần yêu nước, ý chí chống quân xâm lược của thanh niên. Tháng 4-1947, Đảng triệu tập Hội nghị cán bộ Trung ương để bàn về công tác vận động thanh niên trong cuộc kháng chiến. Hội nghị chỉ rõ: “Nhiệm vụ thiết thực của thanh niên trong thời kỳ này là tham gia bộ đội, dân quân để tác chiến... giúp đỡ việc tản cư, bình dân học vụ và tiểu học, đoàn kết các hạng thanh niên, động viên thanh niên ra cứu nước”.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định vai trò quan trọng của thanh niên và vạch ra những nhiệm vụ cụ thể để thanh niên góp phần thiết thực vào cuộc kháng chiến như trong thư Người gửi thanh niên tháng 8-1947.

Sau hội nghị của Trung ương, ở các cấp bộ Đảng tại nhiều tỉnh, thành, xứ đã triệu tập các cuộc hội nghị để xác định nhiệm vụ kháng chiến kiến quốc của thanh niên và kiện toàn, củng cố tổ chức Đoàn các cấp. Tại Việt Bắc, tháng 8-1947, hội nghị cán bộ Đoàn các tỉnh Bắc Bộ được triệu tập. Tháng 11-1947, mở hội nghị cán bộ Đoàn các tỉnh liên khu 4 và ở khu V. Mùa thu 1948, phân xứ ủy khu V tổ chức Hội nghị thanh niên để quán triệt chỉ thị của Trung ương Đảng về công tác vận động thanh niên phục vụ cuộc kháng chiến. Các tỉnh Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên đều có đại diện của Đoàn tham dự. Thay mặt Trung ương Đảng và Chính phủ, đồng chí Phạm Văn Đồng đã đến dự và huấn thị tại hội nghị. Hội nghị đánh dấu mốc quan trọng thúc đẩy phong trào thanh niên ở khu V phát triển. Sau hội nghị, Liên khu ủy đã cử đồng chí Bùi Tấn Linh phụ trách công tác thanh vận và Bí thư Đoàn TNCS khu V.

Liên tục trong các năm 1947, 1948, 1949, các nghị quyết của các Hội nghị Trung ương Đảng đều khẳng định tầm quan trọng của công tác vận động thanh niên và nhắc nhở các cấp bộ Đảng phải tăng cường lãnh đạo Đoàn thanh niên, giúp Đoàn củng cố tổ chức để tiến tới mở rộng và thống nhất phong trào thanh niên trong phạm vi cả nước. Chỉ thị tháng 9-1947 của Trung ương Đảng đã chỉ rõ nội dung: Công tác vận động thanh niên đều hướng theo mục đích kháng chiến, kiến quốc. Động viên thanh niên phải tuân theo tính chất, năng lực của từng giới như thanh niên lao động nằm trong công binh xưởng, tăng gia sản xuất để kháng chiến, thanh niên trí thức học tập và sáng tạo để kháng chiến kiến quốc, thanh niên nông thôn tham gia du kích, dân quân, xung phong giết giặc cứu nước Trung ương đã kịp thời chỉ rõ cần khắc phục ngay khuyết điểm phát triển đoàn viên một cách ồ ạt theo kiểu “đánh trống ghi tên” ở một số nơi.

Ngày 28-9-1948, Ban Thường vụ Trung ương có Chỉ thị gửi các cấp bộ Đảng "Về việc củng cố Thanh niên Cứu quốc, phát triển Đoàn thanh niên Việt Nam để thống nhất Mặt trận thanh niên".

Chỉ thị nêu rõ: “Chủ trương của Trung ương là thống nhất mọi lực lượng Thanh niên vào một Mặt trận, Mặt trận ấy là Đoàn Thanh niên Việt Nam... Trong Đoàn Thanh niên Việt Nam, Thanh niên Cứu quốc phải là trụ cột và có một hệ thống chắc chắn từ trên xuống dưới. Đảng sẽ nắm chắc lấy trụ cột ấy để dễ điều khiển các tổ chức khác và các tầng lớp thanh niên rộng rãi trong nước...”

Chỉ thị của Trung ương đã nêu nhiệm vụ cho các cấp bộ Đảng là phải củng cố thanh niên cứu quốc và phát triển Đoàn thanh niên Việt Nam. “Đoàn TNCQ là đoàn thể tập hợp các thanh niên yêu nước, tích cực, cấp tiến, có tinh thần dân chủ rõ rệt. Thanh niên Cứu quốc không những chỉ gồm có thanh niên nông dân mà phải bao gồm cả thanh niên trí thức, tiểu tư sản. Củng cố TNCQ còn phải đặc biệt chú trọng củng cố các Ban Chấp hành...”

Đoàn thanh niên Việt Nam cần phải đoàn kết, tập hợp rộng rãi mọi tầng lớp thanh niên, kể cả thanh niên con em gia đình phú nông, địa chủ, tư sản có tinh thần yêu nước, ủng hộ kháng chiến, phát triển Đoàn Thanh niên Việt Nam trong các vùng công giáo. Ngay trong các vùng bị chiếm đóng, Đoàn Thanh niên Việt Nam lợi dụng những khả năng hợp pháp để xây dựng tổ chức qua các hội bóng, hội nhạc, nhóm học tập của thanh niên.

Về công tác tuyên truyền huấn luyện thanh niên, bản chỉ thị nêu rõ: Đoàn Thanh niên Việt Nam và Thanh niên Cứu quốc phải ra ngay những tờ báo của mình để tuyên truyền, giáo dục, động viên đông đảo thanh niên hăng hái tham gia kháng chiến, kiến quốc.

Bản chỉ thị trên của Ban Thường vụ Trung ương đã đặt cơ sở quan trọng về tổ chức và tư tưởng của công tác vận động thanh niên, phù hợp với yêu cầu phát triển của cuộc kháng chiến.

Đặc biệt, Hội nghị Thanh vận của Đảng được triệu tập vào tháng 6-1949, tại căn cứ địa Việt Bắc, đánh dấu bước chuyển biến rất quan trọng về công tác vận động thanh niên của Đảng trước những đòi hỏi mới của công cuộc kháng chiến. Hội nghị do đồng chí Hoàng Quốc Việt, Ủy viên Ban Thường vụ Trung ương Đảng chủ trì. Sau Hội nghị này, bộ máy công tác vận động thanh niên của Đảng và Đoàn Thanh niên Cứu quốc được kiện toàn. Ban Chấp hành Đoàn Thanh niên Cứu quốc Trung ương được thành lập. Đồng chí Hoàng Phương, phụ trách Thanh niên Cứu quốc Trung ương được điều động trở lại quân đội. Đồng chí Nguyễn Lam được điều sang làm Trưởng tiểu Ban thanh vận Trung ương đồng thời là Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đoàn TNCQ Việt Nam.

Triển khai các nghị quyết thanh vận của Đảng, cấp bộ Đoàn các tỉnh, thành đã tổ chức, động viên thanh niên hăng hái chiến đấu lập công trên khắp các chiến trường.

Ngay khi địch vừa nhảy dù xuống thị xã Bắc Cạn, học viên trường sĩ quan phối hợp với dân quân địa phương tiêu diệt trên 80 tên. Tại Cao Bằng, một máy bay Pháp bị bắn rơi, tên quan năm Lampe, Phó tổng tham mưu trưởng quân đội Pháp ở Đông Dương bị tan xác. Ở Lạng Sơn, 300 tên Pháp bị tiêu diệt tại đèo Bông Lau. Trên dòng sông Lô lịch sử, trận đánh địa lôi táo bạo của 10 chiến sĩ thanh niên tự vệ thị xã Tuyên Quang cùng pháo binh ta đã tiêu diệt trên một đại đội lính Pháp, góp phần bẻ gãy cuộc hành quân của giặc từ Tuyên Quang lên Chiêm Hóa. Tấm gương chiến đấu của chiến sĩ du kích Lý Việt Va với 17 viên đạn tiêu diệt được 17 tên địch đã mở đường cho đồng đội rút lui. Anh hy sinh ngay trên mảnh đất quê hương và được Chính phủ truy tặng Huân chương kháng chiến.

Tại chiến trường Liên khu V, tiếng bom anh hùng Ngô Mây như hồi kèn xung trận giục giã thanh niên xung phong giết giặc. Từ biệt mẹ già và vợ chưa cưới, Ngô Mây vào bộ đội. Anh xung phong nhận nhiệm vụ ôm bom lao vào đội hình giặc, đánh đòn phủ đầu tạo điều kiện cho đơn vị tiêu diệt địch. Anh đã hy sinh oanh liệt.

Ở Hội An, ta đột nhập vào tận sào huyệt, bắt sống Hồ Ngạn Tỉnh trưởng bù nhìn khiến bọn Việt gian lo sợ. Những đoàn viên trong đội biệt động Đà Nẵng đốt cháy 50 tấn xăng dầu của địch.

Hầu hết các tỉnh, thành phố đều thành lập các đội du kích của thanh, thiếu niên. ở Hà Nội, tiêu biểu là đội thiếu niên tình báo Bát Sắt, được thành lập mùa thu năm 1947 tại căn cứ Nhị khê, gồm 20 đội viên “vệ út” do công an và thanh niên quận VI tuyển chọn, huấn luyện. Ngày 10-10-1947, hai chiến sĩ công an trẻ tuổi Trần Bình và Đặng Đình Kỳ bí mật đột nhập vào thành, bắn chết tên Việt gian khét tiếng Trương Đình Tri, Chủ tịch Hội đồng an dân Bắc Việt. Nhận được tin này, từ chiến khu Việt Bắc, Hồ Chủ tịch quyết định tặng các chiến sĩ Huân chương kháng chiến hạng Nhất.

Đội thiếu niên du kích thành Huế, Đội thiếu niên du kích Đình Bảng, Đội thiếu niên du kích Đồng Tháp và các tổ thiếu niên du kích ở Sài Gòn, Cần Thơ, Biên Hòa... đã làm cho địch thất điên, bát đảo. Với những chiến công xuất sắc đánh địch ngay trong sào huyệt của chúng, Đội thiếu niên du kích thành Huế được Chính phủ và Bộ Tổng Tư lệnh Quân đội nhân dân Việt Nam biểu dương và tặng thưởng Huân chương quân công hạng Ba vào dịp kỷ niệm 5 năm nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (8-1950). Đây là phần thưởng cao quý đầu tiên cho các đơn vị du kích chiến đấu trong lòng địch.


Ở Hải Phòng, tháng 7-1947, Trần Văn Bài, Đặng Văn Bát, Trần Đức Bút là những chiến sĩ công an trẻ tuổi của liên tỉnh đột nhập vào nội thành trừ khử tên Vũ Thế Uy, một tên tay sai lợi hại của địch và bốn tên Việt gian nguy hiểm ở huyện An Hải. Ngày 14-8-1947, Tổng Giám đốc Việt Nam công an vụ đã khen thưởng 3 đồng chí Bài, Bát, Bút. Như vậy, chỉ trong vòng 4 tháng đầu năm 1948, với mưu trí và lòng dũng cảm tuyệt vời, các chiến sĩ công an, biệt động đội và tự vệ mật nội thành Hải Phòng đã phá hủy 2 đầu máy xe lửa ở ga Hải Phòng, giết chết 36 sĩ quan và binh lính Pháp, trừng trị hàng chục tên Việt gian.

Ở Hà Nội, hàng nghìn đoàn viên, thanh niên xung phong gia nhập dân quân du kích, thực hiện khẩu hiệu “Mỗi thanh niên là một dân quân” ngày đêm bám đất, giữ làng, là lực lượng chủ lực phá tề, trừ gian. Lực lượng du kích đã giáng cho địch nhiều đòn phủ đầu ở Cự Đà, Quảng Tó, Văn Điển, Sơn Tây,v.v...

Thực hiện chủ trương vừa đánh địch vừa tổ chức xây dựng lực lượng chính trị, ở Nam Bộ, Xứ ủy chủ trương hình thành mặt trận đoàn kết thanh niên rộng rãi để tập hợp tất cả các tầng lớp, tổ chức thanh niên vì mục tiêu kháng chiến, kiến quốc. Ngày 7-1-1947, Liên Đoàn Thanh niên Nam Bộ được thành lập. Tiếp đó ngày 25-5-1947, số sinh viên tham gia kháng chiến tiến hành Đại hội thành lập chi hội sinh viên Nam Bộ thuộc Tổng hội sinh viên Việt Nam. Các tổ chức này đều tham gia Liên Đoàn Thanh niên Việt Nam và cử đại biểu tham gia ban Chấp hành Liên đoàn.

Để tăng cường củng cố Đoàn Thanh niên Cứu quốc - tổ chức trung kiên, nòng cốt của Mặt trận Thanh niên Nam Bộ, ngày 4-7-1947, Hội nghị thành lập ban Chấp hành Xứ Đoàn TNCQ Nam Bộ được triệu tập. Các đại biểu tập trung thảo luận về công tác xây dựng, phát triển tổ chức Đoàn từ cơ sở lên huyện, tỉnh, thành, Hội nghị đã bầu Ban Chấp hành Xứ Đoàn TNCQ Nam Bộ đầu tiên do Phạm Văn Bính làm Bí thư. Đây là một sự kiện có ý nghĩa rất quan trọng đối với Đoàn Thanh niên Cứu quốc Nam Bộ. Từ nay, hệ thống tổ chức của Đoàn được thống nhất trong toàn xứ để chỉ đạo phong trào thanh niên.

Nhằm đáp ứng yêu cầu của cuộc kháng chiến và phong trào Đoàn trong giai đoạn mới, Đoàn TNCQ Nam Bộ tiến hành Đại hội lần thứ nhất từ ngày 5 đến 8-12-1947 tại Đồng Tháp Mười. Tham dự Đại hội có 42 đại biểu chính thức đại diện cho 237.789 đoàn viên các tỉnh, thành Nam Bộ. Đại hội vinh dự được đồng chí Lê Duẩn, Bí thư Xứ ủy Nam Bộ đến dự và phát biểu ý kiến nêu bật vai trò quan trọng của thanh niên trong công cuộc kháng chiến và chỉ rõ nhiệm vụ của Đoàn và phong trào trách nhiệm trong sự nghiệp kháng chiến giành độc lập, tự do, thống nhất đất nước.

Đại hội phát động phong trào thi đua lập công với nội dung:

- Quân sự hóa thanh niên (tòng quân, luyện tập quân sự, công tác dân quân).
            - Xây dựng đời sống mới, xây dựng nông thôn mới.
            - Tăng gia sản xuất lương thực.
            - Tham gia công tác bình dân học vụ và công tác thiếu nhi.

Đại hội bầu ra Ban Chấp hành Xứ Đoàn gồm 27 ủy viên do Châu Quốc Tuấn làm Bí thư, Trần Bạch Đằng làm Phó Bí thư.

Ở Quảng Nam - Đà Nẵng, ngày 20-3-1947, đã tiến hành Đại hội Đoàn lần thứ 3 để động viên toàn bộ lực lượng thanh niên tham gia kháng chiến. Đại hội bầu ra Ban Chấp hành Tỉnh Đoàn do Nguyễn Thanh Sơn làm Bí thư, Trần Phát là Phó Bí thư. Ngày 25-7-1947 Đoàn Thanh niên Việt Nam tỉnh tổ chức đại hội. Công tác Đoàn và phong trào thanh niên ở Quảng Nam - Đà Nẵng cũng được phát triển đều, rộng khắp. Trong các năm 1947-1948-1949, Đại hội Đoàn toàn tỉnh vẫn được tiến hành thường kỳ trong điều kiện cuộc kháng chiến diễn ra ác liệt. Tính đến cuối năm 1948, ở vùng tạm chiếm, tổ chức Đoàn có 13.927 đoàn viên, trong đó có 2.172 đồng chí tham gia Vệ quốc đoàn, 1.162 đoàn viên trong lực lượng vũ trang và 113 đoàn viên trong dân quân. Tỉnh Đoàn cùng các huyện Đoàn vùng tạm chiến mở được 30 lớp huấn luyện cán bộ Đoàn cấp xã và đào tạo được 180 cán bộ Đoàn. Đoàn đưa thanh niên quyết tử vào làm nòng cốt trong dân quân du kích. Hầu hết thanh niên trong tỉnh đều tham gia dân quân và xung phong trong mọi công tác kháng chiến. Ở Duy Xuyên và Điện Bàn phong trào thanh niên phát triển vững chắc hơn cả. Đặc biệt trong việc cứu đói ở Tây Bắc Hòa Vang trong chiến dịch hè 1949, hàng nghìn thanh niên xung phong vượt núi đèo hiểm trở đưa hàng ngàn gánh gạo lên tận nơi để cứu giúp đồng bào. kết quả đã cứu được hàng nghìn dân đang trong cảnh đói khổ.

Ở Thanh Hóa, sau Hội nghị thanh - phụ vận của Đảng bộ tháng 7-1948, phong trào thanh niên Thanh Hóa có những bước phát triển mới. Chỉ tính từ cuối năm 1947 đến tháng 1-1948, Thanh Hóa có 130.000 chiến sĩ trong lực lượng vũ trang và 58.800 đoàn viên thanh niên cứu quốc. Đến cuối năm 1948, số đoàn viên đã tăng lên đến 60.001 người. Phong trào ghi tên tòng quân thu hút hàng ngàn thanh niên trong tỉnh. Trong 2 năm 1948-1949, Thanh Hóa có 80.000 thanh niên tòng quân. Từ năm 1949 đến cuối năm 1950 có 8.000 đoàn viên được tuyển lựa bổ sung bộ đội chủ lực. Nhiều làng chiến đấu được xây dựng ở các huyện miền núi như Ngọc Lạc, Bá Thước. Nhân dân và thanh niên Thanh Hóa vô cùng phấn khởi khi được tận mắt chứng kiến chiến công của tổ công an nhân dân đã làm nổ tung chiến hạm Amiô Danhvin của giặc Pháp ở biển Sầm Sơn.

Ở Nam Định, Ban Chấp hành Tỉnh Đoàn TNCQ lâm thời được thành lập tháng 9-1947. Đến tháng 10, Đại hội Đoàn toàn tỉnh lần thứ nhất được triệu tập. Đại hội bầu ra Ban Chấp hành do đồng chí Trần Việt Dung làm Bí thư. Cuối năm 1947, toàn tỉnh có 23.593 đoàn viên với các cơ sở Đoàn ở hầu khắp các vùng trong tỉnh. Đầu tháng 10-1947, Đội Thiếu niên Tiền phong của tỉnh chính thức thành lập để thu hút các em vào phong trào yêu nước, đánh giặc. Thanh, thiếu niên Nam Định đã nêu những tấm gương sáng chói về chủ nghĩa anh hùng cách mạng trong cuộc kháng chiến thần thánh của dân tộc. Đó là em Phạm Đỗ Hải, 13 tuổi, làm liên lạc cho “Trung đoàn 34 Tất Thắng” (bộ đội địa phương Nam Định) trong khi đang làm nhiệm vụ thì em bị giặc bắt. Em nhanh chóng hủy hết tài liệu, dẫn được 2 lính Pháp cùng trốn thoát khỏi trại về hàng Chính phủ Việt Nam. Được tin này, Bác Hồ đã gửi thư khen ngợi, biểu dương Phạm Đỗ Hải.

Bốn anh em ruột con cụ Tạ Quang Yên đều hy sinh anh dũng trong khi làm nhiệm vụ đã được Bác Hồ gửi thư khen và gửi quà kỷ niệm đến cụ Tạ Quang Yên.

Ở Ninh Bình, đại đội 77 bộ đội địa phương tỉnh đã bắn rơi chiếc máy bay đầu tiên của Pháp tại xã Quang Soi huyện Yên Mô vào ngày 27-10-1947, diệt 2 tên giặc lái. Lập thành tích chào mừng ngày sinh lần thứ 59 của Hồ Chủ tịch (19-5-1949), 14.607 thanh niên Ninh Bình gia nhập Vệ quốc đoàn và 2840 thanh niên tham gia dân quân du kích. Dân quân du kích góp tiền mua được 30 khẩu súng trường, 31.000 quả lựu đạn, 5.000 dao găm và 2735 mã tấu.

Tại Hải Phòng, tháng 9-1947, Đại hội lần thứ nhất Đoàn thanh niên liên tỉnh (Hải Phòng và Kiến An) được tổ chức. Đại hội bầu ra Ban Chấp hành Đoàn liên tỉnh do Phạm Tân làm Bí thư. Đại hội nêu lên nhiệm vụ của thanh niên là tích cực tham gia dân quân du kích, xây dựng làng chiến đấu. ở vùng tạm bị chiếm, thanh niên có nhiệm vụ xung kích trong các hoạt động phục hồi, xây dựng cơ sở cách mạng, diệt tề, trừ gian...

Trong các năm 1948-1949, phong trào thanh niên cả nước có bước phát triển mới. Tổ chức Đoàn được củng cố, mở rộng. Tại Hà Nội, toàn thành có 94 cơ sở Đoàn với trên 3.000 đoàn viên, 4.000 thanh niên gia nhập dân quân du kích.

Tháng 12-1949, Đại hội đại biểu Đoàn TNCQ liên khu 5 lần thứ nhất họp tại Hoài Thanh, Hoài Nhơn tỉnh Bình Định. Đại hội đã kiểm điểm về công tác của Đoàn và phong trào thanh niên trong liên khu, thảo luận về những nhiệm vụ của thanh niên để góp phần tích cực nhất vào công cuộc giải phóng quê hương. Đại hội đã bầu ra Ban Chấp hành Đoàn TNCQ liên khu V gồm 11 ủy viên, do Đống Ngạc làm Bí thư.

Trước và sau khi thành lập khu Đoàn, các Tỉnh Đoàn Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên là những Tỉnh Đoàn mạnh có phong trào thanh niên sôi nổi. Thanh niên hăng hái gia nhập bộ đội địa phương huyện, tỉnh và các đơn vị chủ lực của Liên khu. Chỉ riêng trong đợt động viên mùa xuân 1949, có hơn 11.700 thanh niên xung phong vào bộ đội. Khu Đoàn rất chú trọng đến công tác ở vùng địch tạm chiếm, thường xuyên cử cán bộ vào xây dựng cơ sở giúp tổ chức Đoàn ở Bắc Quảng Nam và hai tỉnh Khánh Hòa, Bình Thuận.

Trong hai năm 1948-1949, cả nước có 1.205.500 lượt đoàn viên và thanh niên gia nhập quân đội. Tại Huế, 100 học sinh Trường quốc học trốn ra vùng giải phóng tham gia quân đội. Thôn Tri Khê (xã Hùng Thắng, Kiến An) có 319 thanh niên thì đã có 254 thanh niên tình nguyện đi bộ đội.

Hưởng ứng sắc lệnh nghĩa vụ quân sự của Chính phủ, cuối năm 1949, đã có 500.000 thanh niên các tỉnh miền Bắc tình nguyện ghi tên ra nhập quân đội.

Lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam ngày càng trưởng thành. Từ 8.000 chiến sĩ trong quân đội chủ lực ngày toàn quốc kháng chiến, sau 3 năm xây dựng đã tăng lên 23.000 chiến sĩ. Tháng 8 - 1949, Đại đoàn chủ lực đầu tiên, Đại đoàn quân Tiên phong được thành lập. Tiếp đến, các Đại đoàn bộ binh 304, 312, 316, và Đại đoàn công binh, pháo binh 351 lần lượt ra đời. Đó là sự trưởng thành của ba thứ quân: Bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương và dân quân du kích...

Ngoài phong trào tòng quân, giết giặc, tham gia dân quân, du kích, ở vùng giải phóng Đoàn động viên tuổi trẻ cả nước tham gia mọi mặt công tác để xây dựng chế độ mới. Phong trào sản xuất tự túc được thanh niên hưởng ứng mạnh mẽ và đã thu được những thành quả quan trọng. Đoàn tổ chức các đội thanh niên xung phong đi khai hoang, phục hóa, làm thủy lợi, tăng diện tích trồng lúa và rau màu các loại, nhờ vậy, tự túc được về lương thực, thực phẩm và các hàng hóa thông dụng trong đời sống dân quân ở vùng giải phóng. ở khu 5, thanh niên đã góp phần tích cực tăng diện tích trồng màu trong toàn Liên khu lên hơn hai lần kể từ 1945 đến 1950 đã tự trang trải được nhu cầu lương thực và còn có dự trữ.

Năm 1950, hàng triệu tấn lương thực được thu hoạch ở vùng giải phóng từ Liên khu IV trở ra.

Phong trào lao động sáng tạo của thanh niên công nhân trong các công binh xưởng, nhà máy, xí nghiệp ở nơi rừng sâu, hang núi đã góp sức cùng tiền tuyến diệt thù.

Đoàn đã phát động trong thanh niên phong trào xóa nạn mù chữ, xây dựng cuộc sống mới ở vùng giải phóng. Đến cuối năm 1950, có 7500 thôn trong 1500 xã ở 84 huyện thuộc 10 tỉnh phía Bắc đã thanh toán xong nạn mù chữ. Cuộc sống ở vùng tự do và vùng du kích ngày càng đổi mới. Các tệ nạn cờ bạc, rượu chè, trộm cắp giảm dần thay vào đó là phong trào đời sống mới “vui, trẻ, khỏe” lành mạnh. ở Liên khu V có 120.000 người từ 8 tuổi trở lên thoát nạn mù chữ, 20 vạn người theo học các lớp bổ túc văn hóa...

Trong những năm 1949 - 1950, phong trào đấu tranh của thanh niên học sinh, sinh viên diễn ra rầm rộ, liên tục và rộng khắp từ Nam chí Bắc nhằm chống thực dân Pháp xâm lược và can thiệp Mỹ, chống “độc lập” giả hiệu, chống khủng bố đàn áp, đòi bảo đảm an ninh cho học sinh, đòi được học bằng tiếng mẹ đẻ...

Ngày 9-1-1950, Đoàn Thanh niên Cứu quốc và Đoàn học sinh Sài Gòn-Chợ Lớn đã vận động và tổ chức cho hơn 2.000 học sinh, sinh viên các trường Pêtơruýt Ký, Gia Long, Nguyễn Văn Khuê, Huỳnh Khương Ninh, các Trường Đại học Y dược, Pháp lý, các trường chuyên nghiệp vô tuyến điện, công chính, kỹ thuật, khoa học... cùng nhiều giáo viên và 7.000 nhân dân Sài Gòn - Chợ Lớn biểu tình đòi bảo đảm an ninh cho học sinh, sinh viên học tập và trả tự do cho những học sinh, sinh viên bị bắt. Đoàn biểu tình kéo đến Nha học chính và dinh thủ hiến bù nhìn đưa yêu sách. Bọn cảnh sát và lính lê dương đã đàn áp dã man đoàn biểu tình và giết hại anh Trần Văn Ơn, một tấm gương dũng cảm tiêu biểu cho lòng yêu nước và ý trí đấu tranh bất khuất của học sinh, sinh viên.

Thanh niên và nhân dân cả nước vô cùng căm phẫn và cực lực lên án cuộc tàn sát dã man học sinh, sinh viên Sài Gòn - Chợ Lớn của giặc Pháp.

Ngày 12-1-1950, đám tang anh Trần Văn Ơn đã biến thành cuộc biểu tình thị uy của trên 5 vạn người trực tiếp đưa tiễn anh về nơi an nghỉ cuối cùng và 10 vạn người đứng trên các hè phố Sài Gòn tỏ tình đoàn kết và ngưỡng mộ tinh thần đấu tranh bất khuất của học sinh - sinh viên.

Suốt trong tháng 1-1950, công nhân Sài Gòn - Chợ Lớn đã tổ chức 22 cuộc đình công để ủng hộ phong trào đấu tranh của sinh viên, học sinh.

Ở Hà Nội, hơn một vạn thanh niên học sinh, sinh viên và nhân dân đã tham dự lễ truy điệu anh Trần Văn Ơn và tổ chức nhiều cuộc bãi khóa lớn trongtoàn thành phố.

Thanh niên học sinh Hải Phòng, Huế và các thành phố trong cả nước đều tổ chức bãi khóa phản đối địch khủng bố, tàn sát học sinh Sài Gòn và làm lễ truy điệu anh Trần Văn Ơn. Tại trường Quốc học, 4.000 học sinh Huế đã lập bàn thờ và làm lễ truy điệu anh Trần Văn Ơn với hai câu đối lớn đặt bên cạnh bàn thờ đã cổ vũ tinh thần yêu nước của thanh niên:

"Ai chết vinh buồn chăng?

Ai sống nhục thẹn chăng?"

Phong trào đấu tranh của thanh niên học sinh, sinh viên đã có tiếng vang lớn trong cả nước và được sự ủng hộ, hưởng ứng của các tổ chức thanh niên tiến bộ trên thế giới.

Đại hội Liên Đoàn Thanh niên Việt Nam tháng 2-1950 tại Việt Bắc đã quyết định lấy ngày 9 tháng 1 hàng năm làm Ngày truyền thống của học sinh, sinh viên.

Ngày 21-3-1950, Hội Liên hiệp sinh viên quốc tế đã gửi điện ủng hộ cuộc đấu tranh anh dũng của học sinh, sinh viên Việt Nam và gửi điện cho Thủ tướng Pháp phản đối việc dùng cảnh binh bắn giết và bắt bớ học sinh, sinh viên Việt Nam.

Ngày 19-3-1950 cũng là một ngày lịch sử vẻ vang của thanh niên và nhân dân Sài Gòn. Ngày ấy, Mỹ đưa hai tàu chiến đến cảng Sài Gòn để diễu võ dương oai nhưng bị 3000 thanh niên, học sinh, sinh viên và 500.000 nhân dân Sài Gòn-Chợ Lớn bất chấp sự đàn áp của giặc, rầm rộ xuống đường biểu tình với cờ đỏ sao vàng và hô vang khẩu hiệu “Đả đảo đế quốc Mỹ”, “Đế quốc Mỹ cút đi”. Cùng với cuộc đấu tranh của nhân dân và tuổi trẻ Sài Gòn - Chợ Lớn, bộ đội ta đã nã pháo vào tàu chiến Mỹ. Cuối cùng tàu chiến Mỹ phải rút khởi Sài Gòn ngay đêm hôm 19-3.

Ngày 19-3 trở thành Ngày toàn quốc chống Mỹ của nhân dân ta.

 

CHƯƠNG VI:
ĐẠI HỘI ĐOÀN TOÀN QUỐC LẦN THỨ NHẤT.
TUỔI TRẺ THI ĐUA GÓP PHẦN ĐẨY MẠNH CUỘC KHÁNG CHIẾN TIẾN TỚI THẮNG LỢI LỊCH SỬ Ở ĐIỆN BIÊN PHỦ

---

Bước sang năm 1950, dưới ánh sáng các Nghị quyết về công tác thanh niên của Đảng, phong trào thanh niên phát triển ngày càng vững chắc, tổ chức Đoàn lớn mạnh trong cả nước cùng với sự phát triển của cuộc kháng chiến.

Ở Nam Bộ, hệ thống tổ chức Đoàn đã được xây dựng từ cơ sở lên đến Xứ Đoàn. Đầu năm 1950, toàn miền có 320.000 đoàn viên. Đoàn đã đạt nhiều thành tích trong công tác vận động thanh niên tòng quân, tham gia dân quân, xây dựng đời sống mới và công tác thiếu nhi.

Tháng 1-1950, Đại hội Đoàn Thanh niên Cứu quốc Nam Bộ lần thứ 3 tiến hành tại xã  Phiên Long Mỹ (Rạch Giá). Đại hội đã ra Nghị quyết quan trọng về nhiệm vụ của thanh niên để đẩy mạnh công cuộc kháng chiến. Đó là các Nghị quyết về:

- Thanh niên với phong trào dân quân,

- Thanh niên với công tác địch ngụy vận,

- Thanh niên với vấn đề trừ gian, phòng gian,

- Thanh niên với việc xây dựng xã chiến đấu.

Đại hội đã bầu ra Ban Chấp hành mới gồm 23 ủy viên do Trần Bạch Đằng làm Bí thư.

Do yêu cầu của cuộc kháng chiến và thực hiện chủ trương của Ban Thường vụ Trung ương Đảng về vấn đề thống nhất phong trào thanh niên, thống nhất hệ thống tổ chức Đoàn trong cả nước, Đại hội Đại biểu Đoàn Thanh niên Cứu quốc toàn quốc lần thứ nhất đã được triệu tập.

Ngày 7-2-1950, Đại hội khai mạc tại huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên với trên 400 đại biểu đại diện cho cán bộ, đoàn viên, thanh niên trong cả nước.

Thay mặt Ban Thường vụ Trung ương Đảng, đồng chí Hoàng Quốc Việt trực tiếp chỉ đạo Đại hội.

Đồng chí Nguyễn Lam, Bí thư Trung ương Đoàn trình bày trước Đại hội bản báo cáo chính trị nhan đề: “Chiến đấu và xây dựng tương lai”.

Bản báo cáo đã đánh giá sự phát triển của Đoàn TNCQ từ năm 1941 đến năm 1950 đồng thời đề ra những nhiệm vụ cấp bách của Đoàn nhằm thống nhất lực lượng thanh niên trong cả nước cùng với toàn dân đẩy mạnh công cuộc kháng chiến cứu quốc mau đến thắng lợi.

Báo cáo chính trị đã dành một phần quan trọng đề cập đến những vấn đề có tính chất định hướng trước mắt và lâu dài cho phong trào thanh niên như: Lý tưởng của thanh niên, nhiệm vụ của Đoàn, sự phát triển mới của Đoàn, công tác xây dựng và củng cố Đoàn,v.v... Báo cáo khẳng định: “Chủ nghĩa cộng sản là lý tưởng lâu dài mà các thế hệ thanh niên Việt Nam phải quyết tâm phấn đấu để thực hiện.

Nhiệm vụ trước mắt của Đoàn là động viên, giáo dục, thống nhất lực lượng thanh niên, cổ vũ thế hệ trẻ tích cực tham gia sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, quét sạch quân thù ra khỏi đất nước; xây dựng chế độ dân chủ cộng hòa góp phần vào công cuộc bảo vệ hòa bình thế giới”.

Đại hội đã thông qua báo cáo chính trị và Điều lệ Đoàn. Điều lệ xác định rõ vai trò của Đoàn là “Cánh tay và đội dự trữ của Đảng, công tác dưới dự lãnh đạo trực tiếp của Đảng”.

Đại hội Đoàn đã bầu ra Ban Chấp hành Trung ương mới. Đồng chí Nguyễn Lam được bầu lại làm Bí thư Đoàn Thanh niên Cứu quốc Việt Nam.

Sau 7 ngày làm việc, Đại hội đại biểu Đoàn toàn quốc lần thứ nhất đã thành công rực rỡ. Đại hội nêu cao quyết tâm: “Tất cả vì tiền tuyến, tất cả để chiến thắng giặc Pháp xâm lược”.

Đại hội đánh dấu bước trưởng thành của phong trào thanh niên Việt Nam dưới dự chăm sóc, lãnh đạo của Đảng và Hồ Chủ tịch kính yêu.

Tiếp theo Đại hội Đoàn là Đại hội toàn quốc lần thứ nhất của Liên Đoàn Thanh niên Việt Nam. Đại hội là sự biểu hiện khối đoàn kết của toàn thể thanh niên Việt Nam trong mặt trận thanh niên vì mục tiêu kháng chiến thắng lợi.

Đại hội Liên Đoàn Thanh niên Việt Nam lần thứ nhất vô cùng phấn khởi và vinh dự được Hồ Chủ tịch đến thăm khi Người vừa đi công tác xa về. Người ân cần dặn dò thanh niên cả nước đoàn kết, tích cực đóng góp vào công cuộc kháng chiến và chăm sóc nhi đồng.

Đại hội đã bầu ra Ban Chấp hành và bầu đồng chí Nguyễn Chí Thanh, ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng làm Chủ tịch của Liên Đoàn Thanh niên Việt Nam.

Đại hội nêu tấm gương dũng cảm của Thái Dũng, chiến sĩ trẻ của Đại Đoàn 308 đã chiến đấu trên 100 trận, tiêu diệt được nhiều sinh lực địch để thanh niên cả nước noi theo.

Đại hội đã nêu cao tinh thần đoàn kết quốc tế với thanh niên Lào, Cạmpuchia và với Tổ chức Liên Đoàn thanh niên Dân chủ thế giới mà Liên Đoàn thanh niên Việt Nam là thanh niên chính thức từ năm 1946.

Công cuộc kháng chiến càng phát triển thì vai trò của thanh niên càng to lớn. Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh rất quan tâm đến công tác vận động, giáo dục và rèn luyện thanh niên.

Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng ngày 24-7-1950 đã ra nghị quyết về vận động thanh niên, nêu rõ tầm quan trọng, vị trí, tính chất và nhiệm vụ của tổ chức thanh niên. Nghị quyết nhấn mạnh nhiệm vụ bao quát của công tác thanh vận động thanh niên “xung phong hoàn thành sự nghiệp giải phóng của dân tộc, phát triển chế độ dân chủ nhân dân tiến lên xây dựng chủ nghĩa” dưới sự lãnh đạo của giai cấp công nhân đồng thời đào tạo một thế hệ thanh niên tiến bộ, giàu lòng yêu nước và tinh thần quốc tế vô sản, có đủ khả năng hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ của cách mạng.

Nghị quyết đề ra 4 nhiệm vụ trước mắt của công tác thanh vận là:

1. Động viên thanh niên xung phong trong công cuộc kháng chiến, hoàn thành công việc chuẩn bị chuyển sang tổng phản công.
            2. Kiên quyết xây dựng tổ chức thanh niên trung kiên gần Đảng, phát triển rộng rãi Mặt trận thanh niên.
            3. Đem lại quyền lợi thiết thực cho thanh niên, đặc biệt chú trọng vấn đề học tập văn hóa và nghề nghiệp cho thanh niên.
            4. Giáo dục thiếu niên nhi đồng.

***

Thu-Đông năm 1950, Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh quyết định mở Chiến dịch Biên Giới nhằm khai thông đường liên lạc giữa nước ta với hệ thống xã hội chủ nghĩa, mở rộng và củng cố căn cứ địa Việt Bắc, thu hẹp phạm vi chiếm đóng của địch, tiến tới giành quyền chủ động chiến lược trên chiến trường chính.

Thực hiện chỉ thị của Trung ương Đảng và Hồ Chủ tịch, ngày 15-7-1950, Đảng - Đoàn thanh niên Trung ương quyết định thành lập Đội thanh niên xung phong công tác Trung ương đầu tiên để phục vụ Chiến dịch Biên Giới. Đội gồm 225 đội viên, là những đoàn viên thanh niên tích cực nhất được tuyển chọn từ các địa phương.

Liên khu Việt Bắc là địa phương chính động viên sức người, sức của, phục vụ chiến dịch. Đảng bộ Liên khu đã huy động được 121.700 thanh niên thuộc các dân tộc ở Việt Bắc tham gia phục vụ tiền tuyến với 1.716.000 ngày công.

Trong suốt thời gian chiến dịch, Hồ Chủ tịch đã ở sát mặt trận để cùng Bộ chỉ huy chiến dịch chỉ đạo bộ đội chiến đấu.

Đêm 16-9-1950, bộ đội ta tiến công vào cứ điểm Đông Khê, mở màn Chiến dịch Biên Giới lịch sử. Sau 2 ngày đêm chiến đấu ác liệt, ta tiêu diệt hoàn toàn cứ điểm Đông Khê. Ngay từ trận đầu của chiến dịch và trong suốt chiến dịch, tuổi trẻ trong các lực lượng vũ trang, lực lượng TNXP, dân công hỏa tuyến đã nêu nhiều gương chiến đấu và phục vụ chiến dấu dũng cảm tuyệt vời. Đó là chiến sĩ bộc phá, người đảng viên trẻ tuổi La Văn Cầu, nhờ đồng đội dùng lưỡi lê chặt đứt cánh tay bị thương của mình rồi tiếp tục xông lên phá công sự của giặc. Anh là lá cờ đầu trong phong trào thi đua giết giặc lập công của thanh niên cả nước. Đó là Đại đội trưởng Trần Cừ lấy thân mình bịt lỗ châu mai mở đường cho đơn vị xông lên diệt giặc. Chiến sĩ dân công Đinh Thị Dậu, nhiều lần xông lên dưới bom đạn cứu thương binh. Chiến sĩ Lý Văn Mưu mới 17 tuổi đời, đánh trận đầu tiên ở Đông Khê, anh đã 20 lần cõng thương binh, tử sĩ về hậu tuyến rồi lại xông lên chiến đấu, cùng đồng đội phá tan lô cốt địch.

Đội TNXP công tác Trung ương đã hoàn thành xuất sắc các nhiệm vụ được giao như vận chuyển vũ khí phục vụ bộ đội chiến đấu, đưa thương binh về tuyến sau và thu dọn chiến trường. Đội đã nhanh chóng vận chuyển 8 tấn đạn chiến lợi phẩm của mặt trận Đông Khê về kho an toàn. Thành tích của đội TNXP công tác Trung ương đầu tiên phục vụ chiến dịch Biên giới đã được Tổng tư lệnh Võ Nguyên Giáp tuyên dương trong buổi lễ mừng chiến thắng tổ chức tại thị xã Cao Bằng.

Chiến thắng Biên Giới đã cổ vũ mạnh mẽ tuổi trẻ cả nước xông lên giết giặc lập công.

Ở Trung du và đồng bằng miền Bắc, quân ta đã tiêu diệt và bức rút 44 vị trí, diệt 700 địch và buộc chúng phải rút khỏi thị xã Hòa Bình.

Ở Hà Nội, đêm 10-1-1950, bộ đội cùng du kích đột nhập sân bay Bạch Mai, phá hủy 25 máy bay địch, đốt cháy trên 600.000 lít xăng. Suốt mấy ngày đêm phi trường giặc ngùn ngụt khói lửa. Cho đến cuối năm 1950, lực lượng vũ trang nội, ngoại thành Hà Nội đã liên tiếp tấn công các vị trí ở Tương Mai, Đại Yên, Trung Hòa, Dịch Vọng... tiêu hao nhiều sinh lực địch.

Ở Bình Trị Thiên, quân ta đột nhập thị xã Quảng Trị, chống càn thắng lợi ở Quảng Bình, đánh giao thông trên đường Huế - Đà Nẵng...

Ở Liên khu V, quân ta diệt gần 1.000 tên địch. Chiến công của người đoàn viên Trần Đích, tiểu đội trưởng du kích xã Điện Ngọc (Điện Bàn - Quảng Nam) cùng đồng đội dùng lựu đạn tiêu diệt xe tăng địch đã mở đầu cách đánh tăng bằng lựu đạn trên khắp chiến trường Quảng Nam - Đà Nẵng. Anh Trần Đích được tuyên dương tại Đại hội Chiến sĩ thi đua Liên khu V tháng 3-1953.

Ở Nam Bộ, ta diệt hàng ngàn tên địch và phá trên 40 tháp canh.

Biết bao tấm gương chiến đấu ngoan cường, đầy mưu trí, anh dũng của thanh niên trong cả nước vì sự nghiệp kháng chiến thắng lợi, đất nước được giải phóng.

Tháng 5-1950, ở Bà Rịa (Nam Bộ) và ở tỉnh Hưng Yên, có 2 nữ chiến sĩ công an nhân dân đã dũng cảm trừ gian, giệt tề để bảo vệ cơ sở, phát triển phong trào cách mạng. Cả 2 chị đều anh dũng hy sinh và đều được Đảng và Nhà nước truy tặng danh hiệu cao quý Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.

Đó là Võ Thị Sáu, người con gái đất đỏ, đội viên công an xung phong. Căm thù giặc Pháp và bè lũ tay sai, chị dũng cảm, lập nhiều chiến công diệt trừ ác ôn, bảo vệ cơ sở. Trong khi thi hành nhiệm vụ diệt 2 tên ác ôn khét tiếng man rợ, chị bị sa vào tay giặc. Bị giặc tra khảo dã man, chết đi sống lại nhiều lần nhưng Võ Thị Sáu vẫn một mực không khai báo. Chị trả lời hiên ngang với kẻ thù: “Yêu nước mình, chống lại thực dân không phải là tội”. Trước giờ hy sinh, Võ Thị Sáu từ chối rửa tội, từ chối bịt mắt, bình tĩnh hiên ngang cất giọng hát bài “Tiến quân ca”. Chị Võ Thị Sáu bị thực dân Pháp xử bắn ở Côn Đảo mờ sáng ngày 23 tháng 2 năm 1952.

Ngày 15-1-1952, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký sắc lệnh số 77/SL truy tặng liệt sĩ Bùi Thị Cúc, cán bộ công an xung phong tỉnh Hưng Yên, Huân chương Độc lập hạng Ba và tặng chị sáu chữ vàng: “Sống anh dũng, chết vẻ vang”. Nhận nhiệm vụ tiêu diệt 2 anh em tên Doãn Nhi và Doãn Tín, là 2 tên chỉ huy bốt Cảnh Lâm, khét tiếng gian ác, có nhiều nợ máu với nhân dân và cách mạng, ngày 12-5-1950, nhờ sự mưu trí, khôn khéo và kiên quyết, chị Bùi Thị Cúc cùng đồng đội hoàn thành nhiệm vụ tiêu diệt tên Nhi. Trên đường về căn cứ, chị bị giặc bắt. Suốt 3 ngày địch đánh đập, tra tấn chị rất dã man nhưng chúng vẫn không khai thác được điều gì. Ngày 15-5-1950, tên Tín mang chị ra trói ở cọc giữa chợ huyện, dùng mọi nhục hình tra tấn và bắt nhân dân phải chứng kiến hòng lung lạc tinh thần của chị và đồng bào. Nhưng chị vẫn giữ vững khí tiết của người chiến sĩ cộng sản. Chị cố gắng nói với đồng bào: “Bà con đừng sợ! Bọn giặc dù gian ác đến mấy cũng không thể chiến thắng được chúng ta. Kháng chiến nhất định thắng lợi! Hồ Chủ tịch muôn năm!”. Chị hy sinh lúc tròn 20 tuổi.

Tấm gương trung kiên, bất khuất của đội viên thiếu niên Phạm Ngọc Đa sống mãi với truyền thống của tuổi trẻ Việt Nam. Phạm Ngọc Đa quê ở xã Bạch Đằng, Tiên Lãng (Kiến An) mồ côi cha mẹ, Đa phải đi ở để kiếm sống. Căm thù giặc Pháp, Đa tham gia công tác kháng chiến, làm quân báo cho du kích xã. Đội của em được giao nhiệm vụ đào hầm bí mật để che giấu cán bộ, du kích. Trong một trận vây càn của địch, ngay hôm đầu tiên chúng đã phát hiện được hầm của Đa. Địch bắt và trói Đa trên một tấm phản tra tấn rất dã man, bắt Đa chỉ các hầm bí mật. Đa nói lớn vào mặt kẻ thù cốt để các anh chị ẩn nấp xung quanh đấy yên tâm: “Đúng, tao biết nhiều hầm nhưng không phải là để khai ra với chúng mày!” Tên quan ba Pháp nổi tiếng tàn ác cầm dao chặt lìa một cánh tay của Đa. Trong đau đớn, em vẫn giữ khí tiết. Địch lấy dao cắt từng khoảng đùi của em nhưng em vẫn không hề khuất phục cho đến lúc hy sinh. Để ghi nhớ công lao và sự hy sinh anh dũng của người đội viên thiếu niên, Nhà nước đã truy tặng liệt sĩ Phạm Ngọc Đa danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.

Hình ảnh Bác Hồ luôn ở trong trái tim của đồng bào và thanh, thiếu niên nhi Nam Bộ trong những ngày kháng chiến ác liệt, gian khổ. Em Trần Đông, 14 tuổi là đội viên đội biệt động thị xã Cần Thơ bị bọn phản động bắt với hai quả lựu đạn định ném vào bọn Pháp. Bị cực hình, tra tấn, một mực em không khai. Giặc đưa Đông ra cầu tàu xử bắn. Chúng bảo Đông bước qua ảnh Bác Hồ thì sẽ được tha. Trần Đông bước đến cạnh ảnh Bác Hồ, quỳ xuống cầm tấm ảnh nâng đặt lên đầu, đi thẳng đến cột bắn và hô to: “Hồ Chí Minh muôn năm! Việt Nam Dân Chủ Cộng hòa muôn năm!”

Trần Văn Chuông - tiêu biểu cho tấm gương chiến đấu dũng cảm, ngoan cường của tuổi trẻ Hà Nam. Anh Chuông quê ở Bình Lục (Hà Nam) là đoàn viên thanh niên Cứu quốc, du kích xã. Tám lần anh xung phong tòng quân nhân đều bị loại vì không đủ sức khỏe. Đến năm 1948 anh mới được nhập ngũ. Do có nhiều sáng kiến đánh bom, mìn nên đồng đội tặng anh danh hiệu: “Vua mìn”. Kinh nghiệm đánh bom, mìn của anh được phổ biến rộng rãi trong toàn Liên khu III. Anh đã đánh giặc trên 200 trận, diệt 392 tên, làm bị thương 99 tên, bắt sống 19 tên, phá hủy 53 xe vận tải, 4 xe tăng. năm 1952, anh được bầu là Chiến sĩ thi đua của tỉnh Hà Nam, 1953 là Chiến sĩ thi đua của Liên khu III và được tặng Huân chương Chiến sĩ hạng Nhất. Trần Văn Chuông đã anh dũng hy sinh trong khi chỉ huy đánh tàu chiến địch trên sông Hồng vào ngày 22-2-1954. Anh được Chính phủ truy tặng danh hiệu Anh hùng quân đội và Huân chương Quân công hạng Nhất.

Ở Liên khu V, Anh hùng Bùi Chất, Đội trưởng đội công binh Hải Vân và các Chiến sĩ thi đua Nguyễn Thị Dung (chiến sĩ địch vận thị xã Hội An), ba em thiếu niên đều là Chiến sĩ thi đua Võ Lanh, Nguyễn Toản, Nguyễn Cương,v.v... là những điển hình trong biết bao tấm gương anh dũng, kiên cường vì sự thắng lợi của công cuộc kháng chiến chống ngoại xâm của dân tộc ta.

Sau chiến thắng Biên Giới và các chiến trường phối hợp, thế và lực của cuộc kháng chiến toàn dân, toàn diện của ta ngày càng phát triển. Quân dân ta ngày càng đoàn kết, tin tưởng ở sự lãnh đạo của Đảng và Hồ Chủ tịch. Trong không khí ấy, Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ II của Đảng đã họp từ ngày 11 đến ngày 19-2-1951 tại vùng căn cứ Việt Bắc. Đại hội đã quyết định 2 vấn đề hệ trọng đối với toàn Đảng và toàn dân ta:

1- Đưa cuộc kháng chiến đến thắng lợi hoàn toàn.
            2- Tổ chức Đảng Lao Động Việt Nam.

Đại hội đã định ra những chính sách và biện pháp nhằm thực hiện các mục tiêu trên. Một trong những chính sách, biện pháp quan trọng là xây dựng lực lượng vũ trang và các đoàn thể quần chúng.

Đoàn đại biểu của Tiểu ban Thanh vận Trung ương đã trình bày trước Đại hội bản tham luận quan trọng về nội dung, phương hướng tổ chức Đoàn Thanh niên Cứu quốc và công tác vận động thanh niên trong tình hình mới để góp phần cùng toàn Đảng, toàn dân đưa cuộc kháng chiến đến thắng lợi hoàn toàn.

Bản báo cáo đề ra 3 nhiệm vụ trọng tâm của Đoàn và phong trào thanh niên:

1- Đẩy mạnh công tác vận động thanh niên ở vùng địch tạm chiếm.
            2- Xây dựng Đoàn Thanh niên Cứu quốc thành tổ chức trung kiên.
            3- Tăng cường công tác giáo dục thiếu niên nhi đồng.

Toàn thể nhân dân và tuổi trẻ cả nước vô cùng phấn khởi, tin tưởng ở đường lối kháng chiến mà Đại hội Đảng quyết định, ra sức đóng góp sức lực để đưa cuộc kháng chiến đến thắng lợi hoàn toàn.

Đoàn Thanh niên Cứu quốc động viên đoàn viên, thanh niên trong cả nước đẩy mạnh các phong trào tòng quân, giết giặc lập công; phong trào tăng gia sản xuất, thực hành tiết kiệm; phong trào đi dân công, thanh niên xung phong, phục vụ tiền tuyến; phong trào đấu tranh chống địch bắt lính và đấu tranh của thanh niên trong các vùng bị tạm chiếm; phong trào xóa nạn mù chữ và xây dựng đời sống mới ở các vùng tự do; phong trào thiếu nhi.

Thực hiện chủ trương của Đảng về việc tăng cường công tác xây dựng các lực lượng vũ trang, mở nhiều chiến dịch với qui mô ngày càng lớn, tiến tới đánh bại hoàn toàn ý chí xâm lược của bọn đế quốc, hàng chục vạn thanh niên tiếp tục tình nguyện gia nhập quân đội. Số thanh niên chiếm 80% trong quân đội. ở nhiều địa phương, ngày hội tòng quân được các cấp bộ Đoàn tổ chức sôi nổi, đầy khí thế và thanh niên trúng tuyển là một niềm vinh dự lớn lao. Hàng nghìn thanh niên, học sinh, sinh viên trong vùng địch tạm chiếm vượt ra vùng tự do cầm súng chiến đấu. Hầu hết đoàn viên, thanh niên vùng tranh chấp và vùng tự do tham gia lực lượng dân quân du kích, công an xung phong. ở Nam Bộ, năm 1952 có 32.762 lượt thanh niên tòng quân, trong số đó có 10.322 đoàn viên tham gia bộ đội chủ lực. ở Hải Phòng, phong trào tòng quân giết giặc sôi nổi trong các quận, huyện. Huyện Thủy Nguyên có 2427 đoàn viên thanh niên, huyện Tiên Lãng có trên 4.000 đoàn viên thanh niên và quận Ngô Quyền có 917 đoàn viên thanh niên tòng quân. ở Quảng Nam - Đà Nẵng, riêng trong năm 1952 có hơn 28.000 đoàn viên thanh niên tình nguyện nhập ngũ.

Để trang bị cho thanh niên những hiểu biết về quân sự, nhiều cấp bộ Đoàn ở Liên khu IV, khu V, Nam Bộ , Liên khu Việt Bắc đã tổ chức các lớp huấn luyện quân sự cho cán bộ, đoàn viên, thanh niên, gây thành phong trào luyện tập quân sự sôi nổi trong tuổi trẻ. Riêng Liên khu Việt Bắc mở 258 lớp huấn luyện quân sự cho 16.741 đoàn viên, thanh niên, 9 khóa quân sự cho học sinh.

Từ cuối tháng 12-1950 đến tháng 5-1951, ta đã xây dựng thêm ba đại đoàn bộ binh, 1 đại đoàn pháo binh, công binh và 2 trung đoàn trực thuộc Bộ Tổng tư lệnh. Cuối năm 1952 lập thêm một đại đoàn ở Bình Trị Thiên. Lúc này, ta đã có 6 đại đoàn bộ binh chủ lực, một đại đoàn công binh và pháo binh; mỗi liên khu có 2 trung đoàn chủ lực, Nam Bộ có 4 trung đoàn chủ lực.

Để tăng cường công tác giáo dục chính trị, tư tưởng trong quân đội, theo chủ trương của Đảng, hệ thống tổ chức Đoàn trong quân đội được xây dựng. Ngày 2-8-1952, chi đoàn thanh niên cứu quốc đầu tiên trong quân đội được thành lập tại Trung đoàn 246.

Sự lớn mạnh của lực lượng vũ trang, của chiến tranh nhân dân là điều kiện tiên quyết để quân dân ta liên tục tiến công kẻ thù, giành được nhiều thắng lợi to lớn ở các mặt trận Nam Bộ, Khu V, Hòa Bình và Tây Bắc... Ta đã tiêu diệt được nhiều sinh lực địch, vùng giải phóng của ta được mở rộng không ngừng.

Tấm gương chiến đấu dũng cảm của tiểu đội trưởng, người đảng viên trẻ Cù Chính Lan, một mình dùng lựu đạn diệt xe tăng địch tạo điều kiện cho đơn vị tiêu diệt giặc trong chiến dịch Hòa Bình được nêu gương học tập trong toàn quân.

Phong trào chống địch bắt lính thực chất là một cuộc đấu tranh công khai, quyết liệt đối mặt với kẻ thù của thanh niên và nhân dân ta. ở các tỉnh Bến Tre, Trà Vinh, Cần Thơ, Mỹ Tho, quần chúng dùng nhiều hình thức đấu tranh để giải thoát cho hàng nghìn thanh niên. ở Quảng Nam - Đà Nẵng, trong 6 tháng, địch bắt được 1862 thanh niên thì đồng bào, thanh niên đã đấu tranh giành lại và giúp anh em bỏ trốn khỏi trại được 1.146 người.

Ngày 3-5-1953, 6.000 nhân dân thị xã Nha Trang (tỉnh Khánh Hòa) biểu tình trước nhà tên Tỉnh trưởng bù nhìn, phản đối giặc Pháp và bọn tay sai bắt thanh niên đi lính. Sau đó một tuần, ngày 10-4, 1.600 thanh niên bị bắt đi lính tập trung ở trại Suối Dầu nổi dậy đấu tranh đòi giải ngũ. ở Hải Phòng 3.000 quần chúng (trong đó có tới 600 trẻ em) ở xã Ngọc Hải, Đồ Sơn đã quyết liệt, dũng cảm, đấu tranh với địch suốt 3 ngày, buộc chúng phải nhượng bộ thả hết 200 thanh niên.

Tại Hà Nội, cuộc đấu tranh chống bắt lính diễn ra liên tục, dưới nhiều hình thức phong phú. Tiêu biểu là cuộc đấu tranh của học sinh Hà Nội bị bắt đi học lớp đào tạo sĩ quan ở Nam Định, Thủ Đức, học trường quân sự Bắc Ninh cuối năm 1951.

Phong trào đấu tranh chống bắt lính của thanh niên, học sinh, sinh viên được sự hỗ trợ mạnh mẽ của nhân dân. Qua đấu tranh, cơ sở Đoàn trong học sinh, sinh viên dần dần được củng cố và phát triển. Đến cuối năm 1952 Thành Đoàn phát triển được hơn 100 đoàn viên thanh niên Cứu quốc trong học sinh, sinh viên Hà Nội.

Từ cuối năm 1951 đến đầu năm 1952, ở miền Bắc có 400.000 gia đình tham gia đấu tranh chống bắt lính, 18.638 ngụy binh đòi giải ngũ, hàng vạn lính ngụy ra hàng hoặc bỏ trốn về với gia đình.

Để khắc phục những khó khăn về kinh tế, tài chính và đáp ứng những yêu cầu mới của cuộc kháng chiến, năm 1952, Đảng và Chính phủ phát động cuộc vận động tăng gia sản xuất, thực hành tiết kiệm.

Phong trào sản xuất nông nghiệp trở thành một phong trào quần chúng mạnh mẽ và rộng khắp. Đoàn viên thanh niên ở nông thôn nêu cao tinh thần yêu nước, khắc phục khó khăn để sản xuất. Đoàn viên, thanh niên ở các cơ quan, bộ đội, xí nghiệp, trường học đều hăng hái tham gia sản xuất lương thực, thực phẩm. Phong trào sản xuất tập thể của nông dân ở vùng tự do và vùng du kích như tổ đổi công, tổ vần công được phát triển. Công nhân cung cấp cho nông dân hàng vạn lưỡi cày, lưỡi cuốc và tổ chức những tổ lưu động đi sửa chữa dụng cụ cho nông dân.

Ở vùng sau lưng địch, đoàn viên thanh niên đi đầu trong đấu tranh chống địch để sản xuất và bảo vệ sản xuất. Các cuộc đấu tranh chính trị chống giặc bắn đại bác ra đồng, cho xe lội nước quần nát lúa, đòi bồi thường thiệt hại về người và của liên tiếp nổ ra ở nhiều nơi. Đoàn thanh niên có phong trào “Lúa xanh quanh vành đai trắng”, thanh niên dũng cảm cày cấy, gặt hái ngay trong tầm pháo đạn của địch.

Kết quả về sản xuất lương thực ở vùng tự do và vùng căn cứ du kích  năm 1953, chỉ tính từ liên khu IV trở ra đạt 2 triệu 758 nghìn tấn thóc và 650.850 tấn hoa màu. Liên khu V sản xuất cung cấp lương thực cho 2,5 triệu người và còn dành một phần tiếp tế cho cực nam Trung Bộ.

Trong ngành quân giới và quân y, đoàn viên thanh niên đã có nhiều sáng kiến về tăng năng suất và giải quyết khó khăn về kỹ thuật, nguyên liệu, vật liệu để đảm bảo kế hoạch sản xuất vũ khí và thuốc men. Tiêu biểu cho tinh thần say mê nghiên cứu, chế tạo thuốc chống bệnh sốt rét rừng là dược sĩ trẻ Lê Quang Toàn. Công trình của anh được Chính phủ tặng thưởng Huân chương Lao động và danh hiệu Chiến sĩ thi đua toàn quốc.

Trong ngành công nghiệp, đoàn viên, thanh niên dấy lên phong trào thi đua học tập tấm gương lao động quên mình phục vụ kháng chiến của người thợ trẻ Cao Viết Bảo.

Phong trào thi đua lập công trong các lực lượng vũ trang sôi nổi rộng khắp. Ngày 12-4-1952, Quân uỷ Trung ương và Bộ Quốc phòng tổ chức Hội nghị thi đua trong các lực lượng vũ trang, 50 chiến sĩ trẻ của quân đội được tặng danh hiệu Chiến sĩ thi đua toàn quốc.

Ngày 21-2-1952, tại Việt Bắc, Trung ương Đoàn tổ chức Hội nghị chiến sĩ thi đua đội TNXP công tác Trung ương. Hội nghị tuyên dương 200 cá nhân gương mẫu ở các phân đội, 27 chiến sĩ thi đua cấp liên phân đội và 7 chiến sĩ thi đua toàn đội. Vũ Viết Thân và Phạm Thị Thành được bầu đi dự Đại hội Chiến sĩ thi đua toàn quân và toàn quốc.

Ngày 20-3-1951, Hồ Chủ tịch đã đến thăm đơn vị thanh niên xung phong (Liên phân đội 312) đang làm nhiệm vụ tại NàCù (Bắc Cạn). Người rất vui khi được nghe báo cáo về tinh thần vượt khó khăn gian khổ để phục vụ kháng chiến của các đội viên thanh niên xung phong và đọc tặng các đội viên thanh niên xung phong 4 câu thơ đầy ý nghĩa:

"Không có việc gì khó
            Chỉ sợ lòng không bền
            Đào núi và lấp biển
            Quyết chí ắt làm nên"

Làm theo lời dạy của Hồ Chủ tịch, Đội thanh niên xung phong công tác Trung ương hăng hái phục vụ chiến đấu, đạt được nhiều thành tích qua các chiến dịch Biên Giới, Trung Du, Hoàng Hoa Thám, Hòa Bình, Tây Bắc và giữ vững mạch máu giao thông trong chiến khu Việt Bắc, Đội được Chính phủ tặng thưởng: Hai Huân chương Kháng chiến hạng Nhất, 30 Huân chương Chiến sĩ hạng Ba. Hàng trăm đội viên TNXP được tặng thưởng huân chương các loại, hàng nghìn đội viên đạt danh hiệu chiến sĩ thi đua và cá nhân gương mẫu,v.v...

Ngày 1-5-1952, tuổi trẻ cả nước hướng về Đại hội Chiến sĩ thi đua và Cán bộ gương mẫu toàn quốc lần thứ nhất khai mạc trọng thể tại Việt Bắc. Dự đại hội có 154 chiến sĩ tiêu biểu cho các ngành công, nông, binh và lao động trí óc toàn quốc. Chủ tịch Hồ Chí Minh, đồng chí Trường Chinh, Tôn Đức Thắng và nhiều vị lãnh đạo khác của Đảng và Chính phủ đã tới dự.

Trong diễn văn khai mạc Đại hội, Chủ tịch Hồ Chí Minh phân tích sâu sắc mục đích và nội dung của phong trào thi đua yêu nước và chỉ rõ thi đua là đoàn kết, là yêu nước một cách thiết tha và tích cực, là giành độc lập tự do, góp phần giữ gìn hòa bình, dân chủ thế giới, là cải tạo con người. Người căn dặn các cán bộ và chiến sĩ phát huy hơn nữa tinh thần gương mẫu, đẩy mạnh phong trào thi đua yêu nước nhằm thực hiện thắng lợi khẩu hiệu “Người người thi đua, ngành ngành thi đua, ta nhất định thắng, địch nhất định thua”.

Đại hội đã tôn vinh ba Anh hùng lao động Ngô Gia Khảm, Trần Đại Nghĩa, Hoàng Hanh và 4 Anh hùng quân đội Cù Chính Lan (truy tặng), La Văn Cầu, Nguyễn Thị Chiên, Ngô Quốc Trị cùng các chiến sĩ tiêu biểu như Cao Viết Bảo, Giáp Văn Khương, Vũ Viết Thân, Phạm Thị Thành,v.v... đó là bảy anh hùng đầu tiên của nước ta tiêu biểu cho phong trào thi đua yêu nước của tuổi trẻ và nhân dân ta.

Những thắng lợi của cuộc kháng chiến về chính trị, quân sự, kinh tế... tạo điều kiện thuận lợi cho công tác văn hóa, giáo dục phát triển nhanh chóng và vững chắc.

Từ Cách mạng Tháng Tám đến năm 1950 đã có 14 triệu người thoát nạn mù chữ. Từ năm 1950 đến tháng 9-1953, có 10.450 lớp bổ túc văn hóa gồm 335.946 học viên. Một số trường phổ thông lao động ở Trung ương và các tỉnh được thành lập, thu hút 1.467 cán bộ công, nông, binh và chiến sĩ thi đua theo học. Các trường phổ thông được mở ở vùng giải phóng. Ngay trong những năm kháng chiến đầy gian khổ và khó khăn, Trung ương Đảng, Chính phủ và Hồ Chủ tịch luôn quan tâm đến việc đào tạo nhân tài và đội ngũ cán bộ có trình độ văn hóa, khoa học kỹ thuật cao; Người đã ra chỉ thị hình thành các trường đại học trong vùng giải phóng và chăm sóc chu đáo cũng như tạo điều kiện cho lớp trí thức trẻ học tập, rèn luyện. Từ năm 1951 đến năm 1953 có 7.000 cán bộ kỹ thuật được đào tạo. Đến năm 1954 đã có 3400 học sinh được đưa đi học ở nước ngoài.

Ra đời trong những năm 50, báo chí của Đoàn TNCQ và Liên đoàn TNVN đã góp phần tích cực vào công tác giáo dục chính trị, tư tưởng cho thanh niên. Các tờ Tiền Phong, Xung Phong, Sức Trẻ, Thanh niên Việt Nam, Thanh niên Cứu quốc luôn là người bạn đồng hành của thanh niên trong những ngày kháng chiến gian khổ, ác liệt mà lạc quan, tin tưởng ở thắng lợi cuối cùng. Báo chí của Đoàn và Liên Đoàn thanh niên Việt Nam đã giúp cho đông đảo bạn trẻ đến với lý tưởng cách mạng, nâng cao lòng tự tôn, tự hào dân tộc để sẵn sàng chiến đấu, hy sinh. Trên các trang báo thường xuyên nêu lên những tấm gương chiến đấu ngoan cường, hy sinh oanh liệt của biết bao thanh niên khắp các miền Tổ quốc, những điển hình cá nhân và tập thể gương mẫu trong lao động sản xuất, trong dân công, thanh niên xung phong phục vụ tiền tuyến...

Thời kỳ này, nhiều cuốn sách giới thiệu về những tấm gương chiến đấu, lao động của thanh niên Liên Xô, kinh nghiệm công tác vận động thanh niên của Đoàn thanh niên Cộng sản Lê nin cùng nhiều tác phẩm văn học Xô viết đã được phát hành rộng rãi ở vùng tự do và vùng tạm bị giặc chiếm.

Cuộc kháng chiến của nhân dân ta chống thực dân Pháp và can thiệp Mỹ ngày càng có tiếng vang trên trường quốc tế, tranh thủ được sự đồng tình ủng hộ của các nước xã hội chủ nghĩa và phong trào yêu chuộng hòa bình trên thế giới. Đặc biệt từ năm 1950, việc Chính phủ Liên Xô và các nước dân chủ nhân dân lần lượt chính thức công nhận và đặt quan hệ ngoại giao với Chính phủ ta là một thắng lợi to lớn về chính trị đối với công cuộc kháng chiến của nhân dân ta. Đoàn thường xuyên giáo dục tinh thần quốc tế vô sản cho thanh niên tích cực phối hợp với tuổi trẻ Xô viết và thanh niên các nước xã hội chủ nghĩa, các nước dân chủ nhân dân, với thanh niên và nhân dân Pháp yêu chuộng hòa bình, chống cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam của thực dân Pháp.

Tại các Đại hội liên hoan thanh niên và sinh viên thế giới lần thứ nhất, thứ hai và thứ ba, các đoàn đại biểu thanh niên Việt Nam đã tích cực góp phần làm cho tuổi trẻ thế giới hiểu được cuộc chiến đấu giải phóng đất nước của thanh niên và nhân dân Việt Nam. Tham dự Đại hội liên hoan thanh niên và sinh viên thế giới lần thứ ba tổ chức ở Béclin (Cộng hòa Dân chủ Đức) từ ngày 5 đến ngày 20-8-1951, đoàn Việt Nam có 30 thanh niên tiêu biểu trong đó có 2 anh hùng quân đội là anh La Văn Cầu và Nguyễn Thị Chiên. La Văn Cầu thay mặt đoàn viên Việt Nam tham gia Uỷ ban điều hành Đại hội. Trong các cuộc mít tinh, hội thảo Đoàn Việt Nam luôn được mời tham gia Chủ tịch đoàn.

Đoàn đại biểu Việt Nam vô cùng cảm động trước sự ủng hộ, cảm phục của phong trào thanh niên dân chủ thế giới đối với cuộc chiến đấu của nhân dân ta. Một thanh niên công nhân ở bến tàu Angiê (Bắc Phi) tuyên bố: “Mặc dầu bị đói khổ, tù đày, những công nhân chúng tôi đã thề không chịu mang khí giới xuống tàu cho Pháp để chở sang Đông Dương. Chúng tôi xin hứa với các bạn Việt Nam rằng từ nay về sau chúng tôi cũng sẽ cương quyết giữ mãi lời thề ấy như chúng tôi đã giữ đúng hơn hai năm nay”.

Đoàn đã gặp gỡ, trao đổi, cám ơn các bạn bè đã chí tình ủng hộ cuộc chiến đấu của thanh niên và nhân dân Việt Nam. Đặc biệt, Đoàn đã gặp đoàn đại biểu thanh niên Pháp, cám ơn các chiến sĩ bảo vệ hòa bình Pháp đã đấu tranh phản đối Chính phủ phản động Pháp xâm lược Việt Nam như anh hùng Hăng-ri Mác-tanh. Đoàn đã gặp và cám ơn chị Ray-mông-Đien, một chiến sĩ hòa bình xuất xuất sắc đã anh hùng nằm ngang đường xe lửa để ngăn cản một chuyến xe chở vũ khí sang Việt Nam... Tháng 7-1953, tại Bucarest (Thủ đô Rumani), Đoàn đại biểu thanh niên Việt Nam do các đồng chí Vũ Quang và Nguyễn Khánh dẫn đầu, tham dự Đại hội thanh niên và sinh viên thế giới lần thứ tư. Tại Đại hội, Đoàn đại biểu Thanh niên Pháp do chị Môrixét Vanhôtơ (Mauricette Van Hautte) dẫn đầu đã long trọng trao tặng Đoàn đại biểu Thanh niên Việt Nam một tặng phẩm vô giá, đó là bức ảnh Nguyễn Ái Quốc tại Đại hội Tours năm 1920 được phóng to. Đồng chí Vũ Quang đem bức ảnh về báo cáo với Hồ Chủ tịch. Người rất vui khi thấy lại bức ảnh chụp cách đó trên 30 năm ghi lại thời thanh niên hoạt động tại Pháp.

Để huy động đến mức cao nhất sức người, sức của cho cuộc kháng chiến nhằm giành thắng lợi quyết định, Hội nghị lần thứ VI (1-1953) của Trung ương Đảng quyết định thực hiện cải cách ruộng đất để giải phóng nông dân khỏi ách phong kiến, động viên lực lượng to lớn để đưa cuộc kháng chiến đến thắng lợi hoàn toàn.

Thực hiện chủ trương của Đảng, Ban Chấp hành Trung ương Đoàn đã ra Nghị quyết động viên đoàn viên thanh niên cả nước tham gia các đội công tác phát động quần chúng trong cải cách ruộng đất. Thành quả của cải cách ruộng đất ở các vùng giải phóng đã cổ vũ, động viên to lớn đến tinh thần chiến đấu của bộ đội ta ngoài mặt trận.

Khẩu hiệu: “Tất cả cho tiền tuyết, tất cả để chiến thắng” giục giã mọi tầng lớp thanh niên Việt Nam tiến lên, góp sức mình cho kháng chiến mau đến ngày thắng lợi.

***

Bước sang đông xuân năm 1953 - 1954, cuộc kháng chiến chính nghĩa của nhân dân ta ngày càng giành được những thắng lợi to lớn và được sự đồng tình ủng hộ mạnh mẽ của nhân dân Pháp và nhân dân yêu chuộng hòa bình trên thế giới.

Thời gian này quân chủ lực cơ động của địch đã lên đến 100 tiểu đoàn bộ binh. Chúng tập trung gần 50% lực lượng và hơn 90% lực lượng cơ động trên toàn chiến trường Đông Dương ở Bắc Bộ.

Tháng 9 năm 1953, Bộ Chính trị Trung ương Đảng ta họp bàn kế hoạch tác chiến Đông - Xuân 1953 - 1954. Bộ Chính trị chủ trương đưa bộ đội lên Tây Bắc để buộc địch phải phân tán lực lượng, tạo ra thời cơ để ta tiêu diệt sinh lực chúng, mở rộng vùng giải phóng, đẩy mạnh hoạt động ở chiến trường sau lưng địch, phối hợp các chiến trường Đông Dương, chuẩn bị điều kiện tiến tới giải phóng đồng bằng Bắc Bộ.

Để đối phó với lực lượng ta ở Tây Bắc, ngày 20-11-1953, quân đội Pháp vội vã cho 6 tiểu đoàn nhảy dù chiếm Điện Biên Phủ. Đến đầu tháng 3 năm 1954 địch tăng quân ở Điện Biên Phủ lên 17 tiểu đoàn, 10 đại đội, ngoài ra còn 3 tiểu đoàn Pháp, 1 tiểu đoàn công binh, 1 đại đội xe tăng, 1 đơn vị vận tải 200 xe, 1 phi đội không quân thường trực 12 máy bay.

Thực dân Pháp và đế quốc Mỹ chủ trương xây dựng Điện Biên Phủ thành một tập đoàn cứ điểm mạnh, một pháo đài bất khả xâm phạm, sẵn sàng nghiền nát chủ lực đối phương.

Ngày 6-12-1953, Bộ Chính trị thông qua kế hoạch tác chiến của Tổng Quân ủy và quyết định mở Chiến dịch Điện Biên Phủ.

Mọi công tác chuẩn bị cho Chiến dịch Điện Biên Phủ được khẩn trương tiến hành đầu tháng 12 năm 1953. Ngày 10-12-1953, quân ta tấn công địch ở Lai Châu, mở đầu cuộc tiến công chiến lược Đông - Xuân 1953 - 1954.

Toàn quân và dân ta quyết tâm thực hiện chỉ thị của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Trong thư gửi đồng chí Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Tư lệnh chiến dịch, Người viết: “Chiến dịch này là một chiến dịch rất quan trọng, không những về quân sự mà cả về chính trị, không những đối với trong nước mà đối với quốc tế. Vì vậy toàn quân, toàn dân, toàn Đảng phải tập trung hoàn thành cho kỳ được”.

Ngày 22-12-1953, Bác Hồ trao cờ “Quyết chiến quyết thắng” cho quân đội, động viên các chiến sĩ thi đua giết giặc lập công.

Với khẩu hiệu “Tất cả cho tiền tuyến, tất cả để chiến thắng” nhằm tiêu diệt toàn bộ quân địch ở Điện Biên Phủ, nhân dân và thanh niên ở vùng tự do Việt Bắc, Liên khu III, Liên khu IV, vùng mới giải phóng Tây Bắc đến vùng du kích và căn cứ du kích đồng bằng Bắc Bộ, dồn sức người, sức của cho chiến dịch.

Cuộc chiến đấu để mở đường tiếp tế, vận tải, bảo đảm giao thông thông suốt diễn ra khẩn trương, quyết liệt ngay từ những ngày đầu chuẩn bị cho đến khi kết thúc chiến dịch.

Hàng chục vạn chiến sĩ dân công mà đại bộ phận là thanh niên vượt qua bom đạn địch, chuyển lương thực và đạn dược cho bộ đội đánh giặc, 261.461 dân công với trên 18.301.570 ngày công đã tham gia phục vụ chiến dịch. Hơn 27.400 tấn gạo đã được chuyển lên mặt trận Điện Biên Phủ.

Theo chỉ thị của Hồ Chủ tịch, Đội TNXP công tác Trung ương hợp nhất với Đội TNXP và đến tháng 1 năm 1954, Đội chính thức mang tên Đoàn thanh niên xung phong Trung ương do đồng chí Vũ Kỳ làm đoàn trưởng, Đoàn thanh niên xung phong tham gia phục vụ Chiến dịch Điện Biên Phủ. Phối hợp với các đơn vị công binh, thanh niên xung phong anh dũng mở đường và phá bom nổ chậm của địch, bảo đảm mạch máu giao thông đưa hàng lên mặt trận. Hàng nghìn kilômét đường được xây dựng và sửa chữa, phục vụ chiến dịch.

Tiêu biểu cho tinh thần lao động quên mình, hy sinh anh dũng để phá bom nổ chậm, cứu xe, bảo vệ hàng, bảo vệ những con đường xung yếu lên Điện Biên là các chiến sĩ thanh niên xung phong Trịnh Văn Huyền, Nguyễn Tiến Thụ. Trịnh Văn Huyền không quản nguy hiểm xông vào lửa đạn cứu xe, cứu đạn, Nguyễn Tiến Thụ bị bom vùi 4 lần, ngất đi nhưng khi tỉnh lại vẫn tiếp tục làm nhiệm vụ. Sau hòa bình, Trịnh Văn Huyền được cử tham gia đoàn đại biểu thanh niên và sinh viên Việt Nam đi dự Đại hội liên hoan thanh niên và sinh viên thế giới lần thứ 5 họp tại Vácsava (Ba Lan).

Do đạt được nhiều thành tích trong phục vụ Chiến dịch Điện Biên Phủ, Đoàn TNXP đã được Nhà nước tặng thưởng Huân chương Kháng chiến hạng Nhất và 60 Huân chương các loại cho các tập thể và cá nhân xuất sắc trong chiến dịch.

Trong cao trào phục vụ chiến dịch, thanh niên cùng toàn dân ta lập nên thành tích kỳ lạ về vận tải mà kẻ thù không sao tưởng tượng nổi. Hầu như tất cả các phương tiện vận chuyển đều được huy động, vừa tận dụng phương tiện thô sơ, vừa tranh thủ phương tiện cơ giới để bảo đảm cung cấp vũ khí, lương thực cho chiến dịch. Hầu hết ô tô vận tải được đưa ra phục vụ chiến dịch với 628 xe lăn bánh liên tục suốt ngày đêm. Bộ đội vận tải nêu cao tinh thần dũng cảm, khắc phục khó khăn, xe chạy không bật đèn trong đêm, vượt qua bom nổ chậm... bảo đảm một khối lượng vũ khí, đạn dược cho chiến dịch. Các đoàn xe đạp thồ dài hàng cây số, các đoàn thuyền và các đoàn dân công hàng chục nghìn người hướng về Điện Biên.

Kéo pháo ra trận địa là một kỳ công của thế hệ “anh bộ đội Cụ Hồ” thời chống Pháp. Những cỗ pháo nặng hàng chục tấn được các chiến sĩ kéo qua đèo cao dốc thẳm vào trận địa an toàn. Chiến sĩ Nguyễn Văn Chức đã lấy thân mình chèn pháo để cứu pháo khỏi lao xuống vực: Anh đã hy sinh anh dũng ở tuổi 20...

5 tuyến đường mới được bí mật mở để đưa hàng trăm tấn pháo và đạn dược vào vị trí. Tấm gương lấy thân chèn pháo của chiến sĩ Tô Vĩnh Diện đã khích lệ tinh thần chiến đấu của đồng đội. Anh được Chính phủ tặng Huân chương Quân công hạng Hai và danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.

Ngày 31-1-1954, tại đồi 75 điểm cao 536 phía Bắc Điện Biên Phủ, một trung đội thuộc tiểu đoàn 542 đã đánh bật 7 đợt xung phong của hai tiểu đoàn địch có xe tăng phối hợp; chiến sĩ trẻ Hoàng Văn Nô, dùng lưỡi lê đâm chết 5 tên địch, anh được truy tặng danh hiệu “Dũng sĩ đâm lê”.

Phối hợp với Điện Biên Phủ, đầu tháng 2 năm 1954, quân dân Liên khu V đã giải phóng Công Tum và đặc biệt đánh bại hoàn toàn cuộc hành quân Atlăng của địch từ tháng 4 năm 1954, làm cho Nava càng thêm lúng túng.

Đêm ngày 7-3-1954, ta tập kích thắng lợi vào sân bay Cát Bi (Hải Phòng) phá huỷ 59 máy bay địch cùng nhiều phương tiện chiến tranh của chúng. Đây là chiến thắng lớn nhất của lực lượng không quân đã tiêu diệt, phá huỷ nhiều máy bay của địch trong kháng chiến, góp phần quan trọng vào chiến thắng Điện Biên Phủ lịch sử. Khi nhận được báo cáo, Hồ Chủ tịch đã gửi điện khen và tặng đơn vị tập kích sân bay Cát Bi danh hiệu: “Đoàn dũng sĩ Cát Bi”. Chính phủ tặng Huân chương Quân công hạng Nhất cho đơn vị, 32 dũng sĩ đánh sân bay Cát Bi đều được tặng thưởng Huân chương.

Đầu tháng 3 năm 1954, việc chuẩn bị cho Chiến dịch Điện Biên đã hoàn thành.

Ngày 11-3-1954, Hồ Chủ tịch gửi thư động viên các cán bộ, chiến sĩ tham gia chiến dịch. Người viết:

 “Các chú sắp ra trận. Nhiệm vụ các chú lần này rất to lớn, khó khăn nhưng rất vinh quang... Bác tin chắc rằng các chú sẽ phát huy thắng lợi vừa qua, quyết tâm vượt mọi khó khăn gian khổ để làm tròn nhiệm vụ vẻ vang sắp tới. Bác chờ các chú báo cáo thành tích để thưởng những đơn vị và cá nhân xuất sắc nhất.
Chúc các chú thắng to
Bác hôn các chú"

Ngày 13-3-1953, Chiến dịch lịch sử Điện Biên Phủ bắt đầu. Đợt tấn công thứ nhất ta tiêu diệt nhanh gọn hai cứ điểm Him Lam và Độc Lập, uy hiếp và gọi hàng cứ điểm Bản Kéo. Sau 5 ngày chiến đấu quyết liệt, đợt tiến công thứ nhất kết thúc thắng lợi. Trong đợt tấn công này, tấm gương hy sinh anh dũng của chiến sĩ trẻ Phan Đình Giót, lấy thân mình lấp lỗ châu mai, tạo điều kiện cho đơn vị xông lên tiêu diệt địch đã cổ vũ tinh thần chiến đấu của các chiến sĩ trên toàn mặt trận. Đại đoàn pháo binh 351, một binh chủng mới ra đời đã vinh dự nhận cờ “Quyết chiến quyết thắng” của Bác Hồ.

17 giờ ngày 30-3-1954, đợt tấn công thứ hai bắt đầu, nhằm chia cắt địch, thắt chặt vòng vây, khống chế đi đến triệt hẳn đường tiếp viện của địch, tạo điều kiện chuyển sang tổng công kích tiêu diệt toàn bộ quân địch. Quá trình bao vây chia cắt là quá trình vừa chiến đấu anh dũng vừa lao động không biết mệt mỏi của chiến sĩ ta ở ngay trên trận địa. Đó là những tấm gương của chiến sĩ thông tin Chu Văn Mùi 23 tuổi cùng đồng đội bị lọt vào vòng vây địch trong trận chiến đấu tại đồi A1. Nhịn đói 3 ngày, anh vẫn cùng các đồng chí trong tổ vừa chiến đấu vừa gọi pháo bắn chặn đánh bật nhiều đợt xung phong của bộ binh và xe tăng địch, bảo vệ được trận địa. Chiến sĩ Phạm Viết Nghi, 18 đêm liền, một mình đào được 18 cái hầm và 11 mét hào dưới bom đạn địch.

Ngày 19-4-1954, Bộ Chính trị họp nhận định hai đợt tiến công của quân ta ở Mặt trận Điện Biên Phủ đã tạo những điều kiện căn bản để tiến tới tiêu diệt toàn bộ quân địch ở Điện Biên Phủ. Bộ Chính trị còn chỉ ra những thiếu sót cần khắc phục để tiến lên giành thắng lợi hoàn toàn.

Trên toàn mặt trận, một đợt sinh hoạt chính trị được tiến hành ngay trong đợt 2 của chiến dịch. Những tấm gương hy sinh chiến đấu trong chiến dịch Đông - Xuân 1953 - 1954 tiêu biểu cho truyền thống quyết chiến quyết thắng của quân đội và truyền thống quật cường, bất khuất của dân tộc Việt Nam được biểu dương và học tập.

Ngày 1-5-1954, quân ta mở đợt tấn công thứ 3 tổng công kích tiêu diệt toàn bộ quân địch ở Điện Biên Phủ. Sau 3 ngày đêm chiến đấu chiếm lĩnh các điểm cao còn lại ở phía Đông và thu hẹp phạm vi chiếm đóng của địch ở phía Tây, bộ đội ta đã thắt chặt vòng vây, chỉ còn cách sở chỉ huy địch 300 mét.

Giờ chết của quân địch ở Điện Biên Phủ đã điểm.

14 giờ ngày 7-5-1954, các cánh quân của ta tiến vào khu trung tâm dưới sự yểm trợ của pháo binh và tên lửa 6 nòng do Liên Xô viện trợ lần đầu tiên xuất hiện. Đến 17 giờ 30 cùng ngày, tướng Đờcáttơri và toàn bộ Bộ tham mưu tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ bị bắt sống. Một vạn quân địch ở phân khu trung tâm chui ra khỏi hầm hào xin hàng, 2.000 tên địch ở phân khu Nam bị bắt sống.

Sau 56 ngày đêm chiến đấu liên tục, mãnh liệt quân ta đã tiêu diệt hoàn toàn tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ. Ngọn cờ “Quyết chiến quyết thắng” của Hồ Chủ tịch tung bay trên Điện Biên Phủ.

Năm đại đoàn chủ lực tham gia chiến dịch Điện Biên Phủ vừa lập công lớn được vinh dự cử 6 chiến sĩ tiểu biểu cho các binh chủng về báo công với Chủ tịch Hồ Chí Minh và Trung ương Đảng nhân dịp mừng thọ Bác 64 tuổi (19 - 5 - 1954). Các chiến sĩ trẻ (người trẻ nhất 18 tuổi và người nhiều tuổi nhất mới 26 tuổi) vô cùng xúc động được gặp Hồ Chủ tịch và chăm chú ghi nhớ lời dạy của Người... “... Chiến dịch Điện Biên Phủ đã toàn thắng đó là nhờ sự cố gắng chung của đồng bào cả nước, nhưng trước hết là nhờ ở công lao và sự hy sinh to lớn của các chiến sĩ ngoài mặt trận. Bộ đội ta ở Điện Biên Phủ rất dũng cảm. Các cháu là những chiến sĩ tiêu biểu của một nhân dân anh hùng, của một quân đội anh hùng, Bác, Trung ương Đảng và Chính phủ rất vui lòng khen ngợi các cháu. Chính phủ đã quyết định thưởng cho các cháu Huân chương Chiến công hạng Nhất... riêng Bác tặng thêm mỗi cháu một Ngôi sao đỏ và một Huy hiệu”.

***

Cuộc tiến công chiến lược Đông - Xuân 1953 - 1954 mà đỉnh cao là Chiến dịch Điện Biên Phủ đã kết thúc thắng lợi.

Chiến thắng Điện Biên Phủ là niềm tự hào của cả dân tộc và tuổi trẻ Việt Nam anh hùng. Chiến thắng Điện Biên Phủ “được ghi vào lịch sử dân tộc ta như một Bạch Đằng, một Chi Lăng, một Đống Đa trong thế kỷ XX và đi vào lịch sử thế giới như một chiến công chói lọi đột phá thành trì của hệ thống nô dịch thuộc địa của chủ nghĩa đế quốc”.

Thắng lợi của cuộc tiến công chiến lược Đông - Xuân 1953 - 1954 và chiến dịch Điện Biên Phủ đã tạo khả năng giải phóng đất nước và tạo thế mạnh cho cuộc đàm phán của nhân dân Việt Nam ở Hội nghị Giơnevơ.

Trước khi Hội nghị Giơnevơ kết thúc, Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã họp hội nghị mở rộng từ ngày 15 đến 18 tháng 7-1954. Hội nghị nhận định, đế quốc Mỹ là kẻ thù chính của nhân dân thế giới và hiện đang trở thành kẻ thù chính, trực tiếp của nhân dân Đông Dương.

Hội nghị vạch ra nhiệm vụ của nhân dân ta trong giai đoạn mới là chĩa mũi nhọn đấu tranh vào đế quốc Mỹ và bọn hiếu chiến Pháp, củng cố hòa bình và thực hiện thống nhất, hoàn thành độc lập dân tộc trong cả nước.

Ngày 21-7-1954, Hội nghị Giơnevơ về Đông Dương kết thúc. Hội nghị thừa nhận độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam, Lào, Campuchia, quy định quân đội nước ngoài phải rút khỏi Đông Dương và mỗi nước Đông Dương sẽ tổ chức Tổng tuyển cử tự do.

Dưới sự lãnh đạo của Đảng và Hồ Chủ tịch, cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược của nhân dân ta kéo dài gần 9 năm đầy gian khổ, hy sinh nhưng vô cùng anh dũng đã giành được thắng lợi hoàn toàn.

Đánh giá về ý nghĩa lịch sử của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết:

Lần đầu tiên trong lịch sử, một nước thuộc địa nhỏ yếu đã đánh thắng một nước thực dân hùng mạnh. Đó là một thắng lợi vẻ vang của nhân dân Việt Nam, đồng thời cũng là một thắng lợi của các lực lượng hòa bình, dân chủ và chủ nghĩa xã hội trên thế giới”.

Cách mạng Việt Nam bước vào thời kỳ đấu tranh mới. Tuổi trẻ Việt Nam lại được lịch sử giao phó cùng toàn dân xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và hoàn thành cuộc Cách mạng Dân tộc Dân chủ nhân dân ở miền Nam.

***

Dưới sự lãnh đạo của Đảng và Bác Hồ kính yêu, qua chín năm kháng chiến đầy gian khổ nhưng vô cùng anh dũng, Đoàn Thanh niên Cứu quốc đã đoàn kết, tập hợp đoàn viên thanh niên, phát huy cao độ chủ nghĩa anh hùng cách mạng trong chiến đấu, phục vụ chiến đấu và lao động sản xuất, góp phần tích cực vào thắng lợi vĩ đại của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược của toàn dân ta.

Với những phong trào tòng quân, giết giặc lập công tăng gia sản xuất thực hành tiết kiệm, đi dân công phục vụ tiền tuyến; phong trào đấu tranh trong vùng địch tạm chiếm, phong trào tham gia dân quân và đánh du kích,v.v... Đoàn đã đưa hàng triệu đoàn viên, thanh niên tham gia xây dựng lực lượng vũ trang đánh giặc cứu nước, mở rộng vùng giải phóng và từng bước xây dựng chế độ mới, tạo sức mạnh để chiến thắng hoàn toàn bọn đế quốc xâm lược.

Trong cuộc chiến tranh giữa nước của dân tộc ta, tuổi trẻ Việt Nam đã cống hiến biêt bao thanh niên ưu tú, chiến đấu ngoan cường, hy sinh oanh liệt, “Sống anh dũng, chết vẻ vang” cho Tổ quốc. Tấm gương ngời sáng tinh thần yêu nước của các anh hùng, liệt sĩ sống mãi với non sông đất nước và thúc giục tuổi trẻ tiếp tục bảo vệ thành quả cách mạng. Cuộc chiến tranh giữ nước ấy đã tôi luyện và thử thách các tổ chức Đoàn và phong trào thanh niên Việt Nam ngày một phát triển cùng với sự lớn mạnh của cuộc kháng chiến.

Sau Cách mạng Tháng Tám, Đoàn Thanh niên Cứu quốc đã được củng cố và mở rộng từ cơ sở, lên tỉnh, thành và xứ. Nhiều đại hội Đoàn ở các miền đã được tiến hành.

Đại hội Đoàn toàn quốc lần thứ nhất (tháng 2-1950) đánh dấu một mốc lịch sử trưởng thành của Đoàn dưới sự lãnh đạo của Đảng và Hồ Chủ tịch. Hệ thống tổ chức Đoàn được thống nhất trong cả nước; mặt trận đoàn kết, tập hợp thanh niên được mở rộng qua quá trình triển khai Nghị quyết Đại hội. Công tác tổ chức và công tác chính trị tư tưởng của Đoàn Thanh niên Cứu quốc và Liên Đoàn Thanh niên Việt Nam đã phần tạo nên sức mạnh của tuổi trẻ Việt Nam để cùng cả dân tộc thực hiện khẩu hiệu: “Tất cả cho tiền tuyến, tất cả để đánh thắng” đưa cuộc kháng chiến đến thắng lợi hoàn toàn.

Tuy nhiên, trong hoàn cảnh mới, Đoàn Thanh niên Cứu quốc hoạt động công khai trong các vùng tự do, căn cứ và ở các vùng tranh chấp (trừ những nơi bị tạm chiếm sâu, các thành phố, thị xã... do địch kiểm soát), nên gặp khó khăn trong công tác tổ chức.

Vào những năm đầu của cuộc kháng chiến, việc kết nạp đoàn viên có nơi làm ồ ạt, chạy theo số lượng.

Do chưa xác định rõ tính chất, chức năng, phạm vi và phương thức vận động nên giữa tổ chức Đoàn và Tổng Đoàn thanh niên Việt Nam (Sau này là Liên Đoàn thanh niên Việt Nam) nảy sinh nhiều sự chồng chéo, lẫn lộn, thiếu sự gắn bó và phối hợp trong hoạt động. Việc phát triển đoàn viên và xây dựng Đoàn trong các lực lượng vũ trang (bộ đội chủ lực) và trong công nhân (chủ yếu là công nhân quốc phòng) làm chậm nên hạn chế phần nào quá trình rèn luyện, phấn đấu của nhiều thanh niên ưu tú. Công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ Đoàn chưa được quan tâm đúng mức.

Những hạn chế và thiếu sót nói trên đến thời gian sau Đại hội Đoàn và Đại hội Liên Đoàn thanh niên Việt Nam lần thứ nhất được khắc phục từng bước.

Với những đóng góp to lớn qua 9 năm kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, Đoàn và phong trào thanh niên trong cả nước đã xứng đáng được Đảng và Nhà nước ta tặng thưởng nhiều Huân chương cao quý.

 

CHƯƠNG VII
THANH NIÊN MIỀN BẮC THAM GIA KHẮC PHỤC HẬU QUẢ CHIẾN TRANH, KHÔI PHỤC VÀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ, VĂN HÓA, XÃ HỘI

---

Miền Bắc được hoàn toàn giải phóng nhưng hậu quả của chiến tranh và chế độ chiếm đóng của thực dân Pháp để lại cho nhân dân ta hết sức nghiêm trọng: 14 vạn hecta ruộng đất bị hoang hóa, những công trình thủy lợi quan trọng nhất bị tàn phá, hơn 10 vạn trâu bò bị giết, gần 1 triệu đồng bào không có nhà ở và việc làm, thương nghiệp bị đình đốn. Chính sách ngu dân của thực dân Pháp đã ảnh hưởng nguy hại đến trình độ văn hóa, giáo dục, khoa học kỹ thuật,v.v... của nhân dân. Bệnh sốt rét, đau mắt hột, ho lao,v.v... là những căn bệnh hoành hành ở nhiều vùng. Nạn đói, nạn thất nghiệp, gái mại dâm và các tệ nạn xã hội khác phổ biến ở các vùng bị tạm chiếm cũ. Trong khi đó kẻ thù của chúng ta tuy đã thất bại thảm hại trên mặt trận quân sự nhưng vẫn chưa từ bỏ dã tâm thôn tính nước ta một lần nữa. Chúng dùng mọi âm mưu thâm độc để phá hoại miền Bắc. Bằng thủ đoạn lừa gạt, đe dọa và cưỡng ép những người đã tham gia ngụy quân, ngụy quyền, đồng bào theo đạo Thiên chúa, một số người trong giai cấp tư sản, nhân viên và công nhân kỹ thuật di cư vào Nam hòng gây rối loạn xã hội cho miền Bắc, tạo cho bọn ngụy quân, ngụy quyền ở miền Nam có thêm chỗ dựa về chính trị, xã hội và nguồn dự trữ quân số. Chúng đã cung cấp tiền của, phương tiện cho bọn phản động gây ra những vụ phá rối trật tự trị an như ở Bùi Chu (Nam Định), Phát Diệm (Ninh Bình), Ba Làng (Thanh Hóa), Lưu Mỹ (Nghệ An),v.v... Chúng còn xúi giục và khuyến khích bọn phản động và thổ phỉ nổi dậy hoạt động phá hoại ở các tỉnh biên giới phía Bắc. Trước khi rút quân ra khỏi các vùng chiếm đóng, chúng đã tháo dỡ mang đi hoặc phá hoại hàng nghìn tấn máy móc, thiết bị, dụng cụ sản xuất, nguyên vật liệu,v.v... nhằm gây khó khăn trong sản xuất và hoạt động kinh tế ở miền Bắc.

Nhận rõ vai trò và trách nhiệm của tuổi trẻ và của tổ chức Đoàn, trước yêu cầu của nhiệm vụ cách mạng mới, hàng chục vạn cán bộ, đoàn viên và thanh niên miền Bắc đã hăng hái đi dầu thực hiện các nhiệm vụ trung tâm về kinh tế, xã hội.

Tổ chức Đoàn các cấp đã tuyển lựa nhiều cán bộ, đoàn viên, thanh niên ở các vùng tự do nhât là trong lực lượng thanh niên xung phong bổ sung vào các đội hành chính tiếp quản các thành phố, thị xã và các vùng bị địch tạm chiếm. Trung ương Đoàn trực tiếp cử 300 cán bộ, đoàn viên và đoàn viên thanh niên xung phong vào tiếp quản thủ đô Hà Nội. Với tinh thần trách nhiệm cao, các cán bộ đoàn viên và thanh niên chúng ta đã xuống tận các xí nghiệp, bến cảng, nhà ga, kho tàng,v.v... mà địch đang chiếm giữ, phối hợp với thanh niên và công nhân tại chỗ đấu tranh buộc địch phải thi hành nghiêm chỉnh những điều khoản mà các bên đã ký kết trong Hiệp định Giơnevơ, không được tháo dỡ, phá hoại và vận chuyển máy móc thiết bị, cơ sở vật chất kỹ thuật khác để giữ vững sản xuất. Riêng thanh niên công nhân Hà Nội đã cất giữ được hơn 15 tấn máy móc thiết bị, 33 xe ô tô và đã buộc địch chuyển từ Hải Phòng trả lại hàng chục tấn máy móc, 4 đầu máy xe lửa. Đêm 20 tháng 9 năm 1954, đội tự vệ thanh niên ga Hàng Cỏ gồm 44 người dã kịp thời phát hiện chủ ga cho tháo gỡ máy móc để chuyển xuống Phải Phòng. Anh chị em đã ngăn chặn được hành vi đó của địch. Thanh niên tự vệ Nhà máy xe lửa Gia Lâm gồm 33 người đã phân công canh gác ngày đêm, bảo vệ nhà xưởng máy móc, nguyên vật liệu, kiên quyết chống mọi hình thức phá hoại của địch, chống cưỡng ép công nhân di cư vào Nam, giữ vững sản xuất. Thanh niên tự vệ Nhà máy xe lửa Gia Lâm còn phân công đội viên treo cờ, biểu ngữ, cổ vũ nhân dân các vùng chung quanh đấu tranh chống lại hành động vi phạm Hiệp định Giơnevơ của địch. Thanh niên tự vệ Nhà máy điện Yên Phụ kiên quyết đấu tranh giữ lại 400 tấn than và toàn bộ tài liệu, máy móc. Cuộc đấu tranh ở Sở bưu điện và Nhà máy Đèn Bờ Hồ diễn ra hết sức quyết liệt. Pháp cho lính lê dương và bảo chính đoàn đến uy hiếp công nhân, tháo dỡ máy móc, cướp giật tài liệu. Tự vệ và thanh niên, công nhân kiên cường bao vây, gây áp lực buộc địch phải rút lui. ở nhà thương Bạch Mai, Phủ Doãn, Trường Đại Học Y - Dược, thanh niên tự vệ, y tá, bác sỹ, sinh viên, thầy giáo kiên quyết đấu tranh không cho địch cướp y cụ, thuốc men tài liệu. Đoàn viên, thanh niên xung kích ngoại thành đã cùng với nhân dân kiên quyết chống địch phá hoại, cướp bóc bảo vệ mùa màng, cầu cống, mương máng dẫn nước, chống địch bắt thanh niên vào Nam đi lính.

Nam Định, Ninh Bình là 2 tỉnh bị địch chiếm đóng sâu, lại là vùng có nhiều đồng bào theo đạo Thiên chúa; trình độ nhận thức của bà con có hạn. Do đó, kẻ thù tập trung khai thác để tuyên truyền, lừa bịp, cưỡng ép đồng bào, nhất là giáo dân di cư vào Nam. Trước tình hình ấy, dưới sự lãnh đạo của cấp ủy Đảng, các cấp bộ Đoàn ở Nam Định và Ninh Bình đã dồn phần lớn lực lượng cán bộ Đoàn các cấp thâm nhập xuống cơ sở, nhất là ở các vùng có nhiều đồng bào theo đạo Thiên chúa để cùng với đoàn viên và thanh niên địa phương tích cực xây dựng cơ sở Đoàn, tuyên truyền vận động, phát động quần chúng đấu tranh với địch, góp phần ổn định đời sống nhân dân.

Ngày 30 tháng 6 năm 1954, trên 3000 quần chúng mà đại bộ phận là thanh niên thị trấn Phát Diệm (Ninh Bình) và các vùng lân cận đã họp mít tinh chào mừng toàn tỉnh Ninh Bình được giải phóng, chào mừng ủy ban Quân chính Phát Diệm ra mắt nhân dân. Ngày 1 tháng 7 năm 1954, sau khi tiếp quản thành phố Nam Định, ủy ban Quân chính được thành lập, cán bộ, Đoàn và đoàn viên, thanh niên đã cùng với công nhân và nhân dân tích cực tham gia bảo vệ các công sở, nhà máy, xí nghiệp...

Ngày 10 tháng 1 năm 1955, thanh niên đã làm nòng cốt cho cuộc mít tinh của 7 xã gồm hơn 4000 người ở Bùi Chu lên án đế quốc Mỹ và tay sai Ngô Đình Diệm phá hoại Hiệp định Giơnevơ, sau đó là cuộc tuần hành biểu dương lực lượng đi qua các xã, gây khí thế mới trong nhân dân. Chỉ riêng hai huyện ý Yên và Vũ Bản trong một ngày đã có 4 cuộc mít tinh, có cuộc lên tới 15.000 người, đại bộ phận là thanh niên, viết trên 300 bản kiến nghị với hơn 60.000 chữ ký gửi Ủy ban quốc tế, phản đối đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai phá hoại Hiệp định Giơnevơ. Trong đợt đấu tranh từ ngày 20 tháng 3 năm 1955 đến ngày 18 tháng 4 năm 1955 khắp 3 tỉnh Hà Nam, Nam Định, Ninh Bình, phong trào “yêu nước chống cưỡng ép di cư” của tuổi trẻ đã thu hút hàng vạn đoàn viên thanh niên tham gia hỗ trợ cho đồng bào đấu tranh chống cưỡng ép giáo dân di cư vào Nam. Ngày 15 tháng 3 năm 1955, 6 xã có nhiều đồng bào theo đạo Thiên chúa ở 2 huyện Giao Thủy xã Xuân Trường có 1885 thanh niên công giáo tham gia liên hoan cùng với 7.000 thanh niên toàn tỉnh Nam  Định, biểu dương lực lượng, nêu cao khí thế chống bọn phản động tay sai, đòi chúng nghiêm chỉnh thi hành Hiệp định Giơnevơ.

Hải Phòng, Hồng Quảng (nay thuộc tỉnh Quảng Ninh) nằm trong khu tập kết 300 ngày của quân đội Liên hợp Pháp trước khi rút vào Nam. Lợi dụng tình hình đó, kẻ địch tìm cách vơ vét của cải, bắt thêm lính, cài gián điệp và cưỡng ép công nhân, cán bộ kỹ thuật, người Hoa và giáo dân di cư vào Nam.

Hải Phòng là thành phố cảng, thành phố công nghiệp lớn của miền Bắc. Lợi dụng những ngày còn lại, thực dân Pháp cấu kết với đế quốc Mỹ âm mưu biến Hải Phòng thành một thành phố chết, không điện, không nước, không công ăn việt làm, bến cảng, nhà ga không còn điều kiện hoạt động... Được Đảng giao nhiệm vụ, Thành Đoàn Hải Phòng đã đưa phần lớn cán bộ vào hoạt động ở nội thành để tổ chức, vận động thanh niên đấu tranh phá tan mọi âm mưu xảo quyệt của địch.

Tại nhà ga Hải Phòng, ngày 2 tháng 10 năm 1954, bọn chủ bắt công nhân tháo rời đầu máy 501 đưa xuống tàu, công nhân kiên quyết chống lại. Chúng cho binh lính dùng vũ khí bắt tài xế lái tàu nhưng anh em công nhân một mặt thuyết phục binh lính không thực hiện lệnh của bọn chỉ huy; mặt khác tìm cách báo ra ngoài cho thanh niên và nhân dân hỗ trợ. Mặc dù cổng chính vào ga đã bị khóa, có lính gác, song bằng các lối đi bí mật, hàng trăm thanh niên đã kéo vào phối hợp với công nhân đấu tranh giữ lại đầu máy. Cuối cùng bọn chủ đã phải làm giấy cam đoan để lại đầu máy.

Phát huy thắng lợi đầu tiên đó, công nhân nhà ga Hải Phòng còn có hơn 10 cuộc đấu tranh để giữ lại đầu máy, toa xe, máy móc thiết bị và các tài sản khác và đều giành thắng lợi.

Ở Nhà máy điện Cửa Cấm, những cuộc đấu tranh diễn ra hết sức quyết liệt. Ngày 9 tháng 11 năm 1954, địch huy động 200 lính Âu Phi xông vào nhà máy định chuyển 11 cỗ máy lên xe. Công nhân đã kéo còi báo động, lập tức hàng nghìn nam nữ thanh niên và nhân dân quanh vùng kéo tới. Có những nữ thanh niên ở vùng Hạ Đoạn đang gánh rau đi bán cũng bỏ cả rau, vác đòn gánh xông vào hỗ trợ. Công nhân và nông dân vây kín cổng nhà máy, kiên quyết cản đường không cho bất cứ chiếc xe nào chạy ra. Thấy khó thoát, bọn chỉ huy đành cho lính về trại, nhưng chúng vẫn để 11 cỗ máy trên xe. Biết được thủ đoạn của địch, công nhân và quần chúng tự bố trí lực lượng gồm toàn thanh niên khỏe mạnh, hăng hái, canh gác suốt ngày đêm. Nhiều lần, chúng cho quân tới định chuyển số máy đó, nhưng bị quần chúng vây kín, bọn chúng đành phải rút lui. Sang ngày 18 tháng 11, ngày thứ 10 của cuộc đấu tranh, bọn địch bất ngờ nhảy lên xe nổ máy phóng ra cổng nhưng anh em công nhân đã phát hiện kịp thời, đẩy một xe goòng chắn đườg. Ngót 100 thanh niên công nhân đang túc trực ca sáng xông vào giằng co, kéo chúng ra khỏi xe không cho chúng dẹp chướng ngại vật. Hàng nghìn quần chúng đã kịp kéo đến tiếp sức. Suốt cả ngày hôm đó không khí ở nhà máy điện như bốc lửa. Đến chiều tối, ủy ban quốc tế phải đến can thiệp. Bọn chủ phải ký biên bản hứa để lại toàn bộ tài sản của nhà máy.

Ngày 29 tháng 11 năm 1954, tại Nhà thương Vườn Hoa, bọn địch đã thu gom hết dụng cụ, thiết bị y tế, thuốc men cho vào hòm, chuẩn bị chuyển đi. Hai nữ thanh niên là y tá Từ và hội lý Nguyệt đã phát hiện và tìm cách báo cáo tin ra ngoài, đồng thời vận động đồng nghiệp và bệnh nhân đấu tranh. Nhiều thanh niên đã xông vào giằng co với địch, có lúc xảy ra ẩu đả nhưng họ quyết không lùi bước. Được sự hỗ trợ của thanh niên và nhân dân đường phố, kẻ địch đã buộc phải để lại toàn bộ các tài sản nói trên.

Tại cảng Hải Phòg, địch âm mưu chuyển hết tàu bè, cần cẩu, các thiết bị trong cảng và tháo gỡ toàn bộ các phao đèn, cọc tiêu, biển báo trên các luồng lạch nhằm làm cho cảng Hải Phòng không thể hoạt động được. Đầu tháng 3 năm 1955, địch âm mưu cướp hai chiếc tàu HC1 và HC2 là hai tàu hoa tiêu quan trọng của cảng. Để giữ được tàu, công nhân phải làm hỏng máy. Khi địch đưa tàu khác đến định kéo đi, một nhóm thanh niên công nhân lại tìm cách làm hỏng máy tàu mới đến. Địch lại tiếp tục cho tàu khác đến kéo, một nhóm thanh niên đã bí mật lặn xuống nước dùng dây cáp buộc chằng dây neo tàu nọ với dây neo tàu kia, đồng thời tháo và giấu đi một số thiết bị quan trọng làm cho địch không thể sửa chữa và cũng không thể kéo tàu đi được, chúng đành phải bó tay.

Gần đến ngày tiếp quản, những cuộc đấu tranh của tuổi trẻ và nhân dân Hải Phòng càng quyết liệt. Đặc biệt là cuộc đấu tranh của gần 5 vạn quần chúng kéo dài 3 ngày (từ ngày 3 đến ngày 5 tháng 5 năm 1955) để giữ lại 300 tù chính trị bị giam ở băng Máy Chai mà kẻ địch âm mưu định đưa ra biển thủ tiêu. Tuổi trẻ toàn thành phố được huy động vào cuộc dấu tranh này. Các thanh niên làm nghề đạp xích lô tự đứng về khu vực băng Máy Chai. Đường phố đông nghịt người, bất kể ai, bất kể hàng hóa, quang gánh rau quả, cơm nắm, nước uống cứ đến băng Máy Chai là được ô tô, xích lô, ba gác, xe đạp... chất lên xe chở đến nơi. Trước khí thế và sức mạnh áp đảo của quần chúng, kẻ địch phải chùn bước, không dám thực hiện tội ác, buộc phải trả lại tự do cho tất cả tù chính trị. Các anh chị em tù chính trị sung sướng và xúc động đến nghẹn ngào như những người từ cõi chết trở về với cuộc sống.

Ở Hồng Quảng (Quảng Ninh) cuộc đấu tranh cũng diễn ra hết sức quyết liệt. Tình hình chính trị - xã hội ở đây rất phức tạp. Ngoài quân đội Pháp, theo quy chế 300 ngày trước khi rút khỏi miền Bắc (do Hiệp định Giơnevơ quy định), còn một lực lượng phản động, gián điệp, đặc vụ của thực đân Pháp, của đế quốc Mỹ và tay sai của Mỹ, của Tưởng Giới Thạch đang ráo riết hoạt động phá hoại vừa công khai, vừa lén lút nhằm gây rối lạon tình hình kinh tế-xã hội trước mắt và lâu dài.

Là vùng bị quân Pháp chiếm đóng nhiều năm nên lực lượng đoàn viên rất mỏng, nhiều nơi chưa có tổ chức Đoàn, nhất là ở vùng mỏ và vùng núi. Trước tình hình đó, Trung ương Đoàn đã cử một đoàn cán bộ tham gia tiếp quản và củng cố tổ chức Đoàn các cấp. Khu Đoàn đã cử nhiều đoàn viên cán bộ thâm nhập xuống cơ sở năm tình hình tổ chức và vận động đoàn viên, thanh niên tham gia đấu tranh ngăn chặn mọi âm mưu phá hoại của địch.

Ngày 20 tháng 7 năm 1954, khu mỏ đã bí mật thành lập các tổ chức tự vệ công nhân gồm phần lớn là đoàn viên, thanh niên ở các nông trường, xí nghiệp để bảo vệ máy móc, thiết bị và các cơ sở công nghiệp. Được sự lãnh đạo của các cấp ủy Đảng, các tổ chức Đoàn đã phát huy vai trò xung kích tích cực tham gia các đội tự vệ công nhân, đội bảo vệ trật tự, an ninh...

Chiều ngày 17 tháng 12 năm 1954 bọn chủ chuyển 12 hòm máy vào một cần cẩu Xông-đơ ra cảng Cửa Ông tự vệ công nhân đã phát hiện kịp thời, huy động thợ mỏ tập trung trước nhà kho, đòi bọn chủ phải đưa máy trở lại mới đi làm, cuối cùng chúng phải chấp thuận.

Ngày 9 tháng 3 năm 1955, bọn chủ Pháp ở Nhà máy Điện Cọc 5 đã lén lút huy động binh lính và chỉ huy người Âu tháo dỡ đóng hòm định chuyển 8 mô-bin ra Cẩm Phả đưa xuống tàu. Tự vệ công nhân đã cho người canh gác và cử đại biểu đến chất vấn bọn chủ và phản đối hành động phi pháp đó. Ngày 10, chúng lén lút cho xe tải và binh lính đến chuyển đi nhưng công nhân đã kịp thời bao vây, bắt chúng phải để lại toàn bộ 8 mô-bin. Ngày 24 tháng 4 năm 1955, khi chuẩn bị xuống tàu rút khỏi miền Bắc, chủ nhà máy cơ khí Cẩm Phả định chuyển máy móc đi, công nhân đã phát hiện và buộc chúng để lại.

Trên mặt trận đấu tranh chống cưỡng ép đồng bào di cư vào Nam, tuổi trẻ Hồng Quảng và Hải Ninh (nay là Quảng Ninh) cũng đã có sự đóng góp đáng kể.

Ngày 24 tháng 4 năm 1955 quân Pháp rút khỏi Hồng Quảng. Ngày 13 tháng 5 năm 1955 thành phố Hải Phòng được giải phóng và ngày 22 tháng 5 năm 1955 quân Pháp rời đảo Cát Bà, tên lính cuối cùng của thực dân Pháp rút khỏi miền Bắc. Một nửa nước được hoàn toàn giải phóng. Đó là thắng lợi lịch sử của nhân dân và tuổi trẻ nước ta sau những năm chiến dấu kiên cường và anh dũng.

Sau khi miền Bắc được hoàn toàn giải phóng, Đảng ta chủ trương tiến hành đồng thời hai nhiệm vụ chiến lược là hoàn thành cách mạng dân tộc, dân chủ nhân dân ở miền Nam và tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc. Đường lối đó xác định con đường đi lên của cách mạng cả nước, kết hợp những yêu cầu cơ bản của cách mạng Việt Nam với cách mạng thế giới.

Thực hiện đường lối xây dựng và củng cố miền Bắc làm cơ sở vững chắc cho cuộc đấu tranh giải phóng miền Nam, tiến tới thống nhất nước nhà, Hội nghị lần thứ 7 (tháng 3 năm 1955) là Hội nghị lần thứ 8 (tháng 8 năm 1955) của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa II) đã khẳng định: “miền Bắc là chỗ dựa của ta. Bất kể tình huống nào miền Bắc cũng phải được củng cố... Củng cố miền Bắc về mọi mặt là nhiệm vụ rất quan trọng vì miền Bắc có được củng cố ta mới có đủ lực lượng để củng cố hòa bình, thực hiện thống nhất, hoàn thành độc lập và dân chủ trong toàn quốc”. Đảng ta còn chỉ rõ: “Củng cố miền Bắc là một nhiệm vụ căn bản không những quan hệ mật thiết đối với nhiệm vụ đấu tranh hiện nay mà còn quan hệ mật thiết đến sự phát triển giàu mạnh sau này của nước ta nữa”.

Để hoàn thành việc xóa bỏ chế độ phong kiến, thực hiện việc chia ruộng đất cho nong dân lao động, thủ tiêu thế lực kinh tế và ảnh hưởng chính trị của giai cấp địa chủ, xây dựng và củng cố ưu thế chính trị của nông dân lao động ở nông thôn, tháng 9 năm 1954, Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng quyết định tiếp tục hoàn thành cuộc cải cách ruộng đất. Với lực lượng chiếm hơn 50% tổng số lao động nông nghiệp, là lớp người hăng hái, nhiệt tình, các cơ sở Đoàn ở nông thôn đã hướng toàn bộ hoạt động của mình vào cuộc cách mạng ruộng đất của Đảng và Chính phủ. Đoàn thanh niên ở các cơ sở nông thôn, sau khi tổ chức cho đoàn viên, thanh niên học tập luật cải cách ruộng đất và các chủ trương của Đảng đã tổ chức các Đội thanh niên xung kích, các tổ thông tin tuyên truyền phục vụ yêu cầu của các Đội cải cách ruộng đất, đồng thời làm lực lượng nòng cốt trong các đội tự vệ, bảo vệ các cuộc đấu tranh của nông dân, giữ gìn trật tự, an ninh thôn xóm. Đoàn viên và thanh niên nông thôn đã cùng bà con nông dân ôn nghèo, kể khổ, vạch rõ ranh giới giữa lao động và bóc lột.

Tháng 12 năm 1955, cuộc vận động cải cách ruộng đất đợt 5 được triển khai ở 1720 xã có trên 6.000.000 người trong 20 tỉnh và 2 thành phố. Tháng 7 năm 1956, cải cách ruộng đất đợt 5 kết thúc ở toàn bộ vùng đồng bằng, trung du và 280 xã miền núi. Cuộc vận động cải cách ruộng đất đã đạt được thắng lợi to lớn. Nông dân được chia ruộng đất, hoàn thành xóa bỏ giai cấp địa chủ, xóa bỏ tàn dư chế độ phong kiến ở miền Bắc nước ta, quyền làm chủ của nông dân ở nông thôn được nâng cao. Nhưng trong quá trình thực hiện cải cách ruộng đất, ta đã phạm những sai lầm nghiêm trọng.

Tháng 9 năm 1956, Hội nghị lần thứ 10 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa II) đã có những kết luận về thắng lợi và sai lầm của cải cách ruộng đất, đề ra phương hướng và chủ trương sửa sai, bao gồm 10 điểm như xóa bỏ các quyết định đối với những chi bộ bị giải tán sai, khôi phục đảng tịch, đoàn tịch, quyền lợi chính trị, danh dự, công tác và quyền công dân đối với đảng viên, đoàn viên và nhân dân bị xử trí sai; sửa lại thành phần cho những người bị quy lầm là địa chủ, phú nông; bỏ lệnh quản chế những người bị quy sai là phản động; chấp hành nghiêm túc chính sách đối với quân nhân cách mạng, gia đình cách mạng, chính sách tôn giáo, chính sách dân tộc...

Với tinh thần dũng cảm tự phê bình và phê bình, Đảng và Chính phủ đã hoàn thành công tác sửa sai. Nông thôn dần dần ổn định, lòng tin của quần chúng đối với Đảng và Chính phủ được khôi phục.

Được thử thách và rèn luyện trong hoạt động thực tiễn, tổ chức Đoàn không ngừng lớn mạnh. Chỉ tính riêng năm 1956, đã có thêm 20.889 thanh niên được kết nạp vào Đoàn. Nếu kể từ năm 1954, riêng trong cải cách ruộng đất Đoàn đã kết nạp được 73.637 đoàn viên, đưa tổng số đoàn viên đến hết năm 1956 là 452.680 đồng chí.

Trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, Đoàn Thanh niên Cứu quốc, Liên Đoàn thanh niên Việt Nam, Hội học sinh, sinh viên đã được củng cố và xây dựng, thực sự phát huy vai trò và tác dụng của mình trong cuộc kháng chiến thần thánh của nhân dân, góp phần to lớn vào thắng lợi vĩ đại của dân tộc. Tuy nhiên, do sự chia cắt giữa các vùng (vùng tự do, vùng bị tạm chiếm, vùng địch hậu...) nên việc chỉ đạo của Đoàn và phong trào thanh niên có những điểm khác nhau, các tổ chức thanh niên cũng chưa có sự chỉ đạo thống nhất. Để thống nhất tổ chức và phong trào sinh viên, ngày 11 tháng 2 năm 1955, đoàn đại biểu hội sinh viên Hà Nội và đoàn đại biểu Đoàn sinh viên Việt Nam đã họp bàn thống nhất lực lượng, tổ chức và hoạt động của sinh viên. Trong 3 ngày từ 29 đến 31-7-1955, tại Hà Nội, 244 đại biểu chính thức và 250 đại biểu dự thính của các trường đại học, đại biểu sinh viên miền Nam tập kết, và đại biểu lưu học sinh Việt Nam ở nước ngoài đã họp đại hội để thống nhất tổ chức và phong trào sinh viên Việt Nam, lấy tên là Hội Liên hiệp Sinh viên Việt Nam.

Tiếp đó, ngày 8 tháng 10 năm 1956, Đại hội Hội Liên hiệp Thanh niên Việt Nam được triệu tập tại Hà Nội. Ngày 15 tháng 10 năm 1956 Đại hội vinh dự được Bác Hồ kính yêu đến thăm và nói chuyện với các đại biểu. Đồng chí Phạm Ngọc Thạch được bầu làm Chủ tịch Hội.

Ngày 19 tháng 10 năm 1955, Ban Bí thư Trung ương Đảng đã ra Nghị quyết đổi tên Đoàn Thanh niên Cứu quốc Việt Nam thành Đoàn Thanh niên Lao động Việt Nam. Đây là cuộc vận động chính trị lớn. Thông qua việc học tập đổi tên Đoàn, các cấp Đoàn đã giáo dục, bồi dưỡng, nâng cao chất lượng đoàn viên, củng cố tổ chức Đoàn, chuẩn bị về mọi mặt để đón nhận những nhiệm vụ mới mà Đảng và Bác Hồ giao cho. Với tinh thần đó, Đại hội Đoàn toàn quốc lần thứ II được triệu tập từ ngày 25-10 đến 4-11-1956, với 479 đại biểu thay mặt cho gần nửa triệu đoàn viên viên về dự. Đại hội khẳng định những cống hiến xuất sắc của Đoàn và phong trào thanh niên trong 9 năm kháng chiến và 3 năm khôi phục kinh tế. Đại hội đã đề ra nhiệm vụ của Đoàn trong giai đoạn cách mạng mới là: “Động viên mọi người, mọi tầng lớp thanh niên đem hết sức lực, trí tuệ của mình vào công cuộc khôi phcụ kinh tế, phát triển văn hóa, củng cố quốc phòng, tham gia tích cực vào công cuộc củng cố miền Bắc, tiến dần từng bước lên chủ nghĩa xã hội, làm cơ sở vững chắc cho sự nghiệp đấu tranh thống nhất nước nhà”.

Đại hội được Bác Hồ kính yêu và các đồng chí lãnh đạo cao nhất của Đảng và nhà nước đến thăm, Bác đã chỉ thị: “Muốn Đoàn củng cố và phát triển thì tất cả đoàn viên phải gương mẫu”. Đại hội đã ra Nghị quyết về công tác thiếu niên, nhi đồng và quyết định đổi tên Đội thiếu nhi Tháng Tám thành Đội Thiếu niên Tiền phong Việt Nam bao gồm hai lứa tuổi: thiếu niên và nhi đồng.

Đại hội bầu ra Ban Chấp hành Trung ương Đoàn  gồm 30 đồng chí. Đồng chí Nguyễn Lam được bầu làm Bí thư thứ nhất Ban Chấp hành TW Đoàn.

***

Thực hiện lời dạy của Bác Hồ kính yêu: “Phải quan tâm đến việc khôi phục và xây dựng lại nước nhà... Thanh niên cần phải có tinh thần và gan dạ, sáng tạo , cần phải có chí khí hăng hái và tinh thần tiến lên, vượt mọi khó khăn, gian khổ để tiến mãi không ngừng, thanh niên nông thôn đã chiến đấu quyết liệt với bão lụt, hạn hán để cứu lúa, cứu tài sản của nhân dân; rà phá bom mìn, dây thép gai, khai hoang phục hóa đem lại màu xanh cho đồng ruộng, no ấm cho nhân dân. Thanh niên khu chợ Cháy (huyện ứng Hòa, Hà Tây) đã đảm nhận trước cấp ủy Đảng và nhân dân địa phương xung phong phá gỡ hàng ngàn quả mìn, hàng vạn mét vuông dây thép gai, khai hoang, phục hóa 1.200 hécta ruộng, biến khu “trắng” thành đồng ruộng tốt tươi. Thanh niên Thanh Hóa đã tổ chức 530 chi đoàn, gồm 9.909 đoàn viên, thanh niên và lập 53 đội thanh niên xung phong tham gia xây dựng, sửa chữa đập Bái Thượng bị địch phá hoại hư hỏng nghiêm trọng và tu bổ hệ thống nông gian sông Chu. Nhiều đoàn viên, thanh niên đã lập thành tích xuất sắc. Trên công trường Bái Thượng, 7 đoàn viên được bầu là Chiến sĩ thi đua. Lê Thị Xinh là người luôn luôn dẫn đầu về năng suất lao động. Tại Hải Phòng, khi thành phố vừa được giải phóng chưa được bao lâu thì một trận bão lớn khủng khiếp (tháng 9 - 1955) ập đến đúng lúc triều cường, tạo thành những cơn sóng thần tràn qua đê biển, cuốn trôi người, vật, nhà cửa, cây cối, xóa sạch dấu vết của xã Ninh Hải. Gần 20.000 thanh niên được tổ chức thành những đội xung kích chống bão, vật lộn với mưa to, sóng dữ. Hàng trăm chiến sĩ quân đội, khoác tay nhau làm thành bức tường chắn sóng để đồng đội đóng cọc, kè vá đoạn đê bị vỡ. Đoàn viên Phạm Minh Đức, chiến sĩ đại đội 1, trung đoàn 53 liên tục vật lộn với sóng gió hàng giờ liền, cứu được 14 người khỏi bị sóng cuốn ra biển. Mặc dù quá mệt và rét, nhưng khi thấy 2 người phụ nữ bị nước cuốn đi, anh đã lao ra giữa dòng nước xiết, đưa được vào bờ và anh đã hy sinh anh dũng. Liệt sĩ Phạm Minh Đức đã được Quốc hội tuyên dương Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân, ủy ban Quân chính thành phố Hải Phòng đã lấy tên anh đặt cho một đường phố trong nội thành. Sau trận bão, hai phần ba lực lượng thanh niên nông dân được huy động lên đê, chiếm hơn 70% lực lượng lao động trên công trường. Tỉnh Kiến An được Bác Hồ tặng cờ thi đua là “Đơn vị khá nhất”. Hàng vạn thanh niên công nhân, cán bộ, học sinh đã tham gia cùng nông dân “rửa chua khua mặn” cho vùng Kiến Thụy, Hải An bị nước mặn tràn vào. Có nơi phải gánh nước mặn đổ đi, gánh nước ngọt đổ vào, đi lấy đất ngọt xa hàng bốn, năm cây số về trồng rau màu cứu đói. 4.000 thanh niên huyện Bình Lục (Hà Nam) đã dồn sức đắp lại một quãng đê bị lũ phá vỡ. Hàng trăn thanh niên khoác vai nhau làm hàng rào chắn nước để đất đắp không bị cuốn trôi và chỉ sau một ngày nước lũ đã bị chặn đứng,v.v...

Qua bão lụt, hạn hán kéo dài, gây nhiều khó khăn cho sản xuất nông nghiệp. Đoàn lại phát động phong trào đào giếng, đào mương, khơi ngòi dẫn nước về đồng cứu màu, cứu lúa. Tinh thần quyết tâm “vắt đất ra nước, thay trời làm mưa”, “nghiêng sông đổ nước vào đồng” của tuổi trẻ đã hạn chế đến mức cao nhất những thiệt hại do thiên nhêin gây ra. Tuổi trẻ Thanh Hóa đã đào được hàng vạn giếng nước, hàng triệu mét khối đất để xây dựng kênh, mương lấy nước tưới cho lúa. Tiêu biểu là thanh niên xã Khang Ninh (Hậu Lộc) đã đục hang sâu vào núi để lấy nước dẫn về đồng. Thanh niên xã Hoằng Quý (Hoằng Hóa) đã đào hàng trăm giếng, ao lấy nước tưới cho lúa. Thanh niên huyện Cẩm Thủy đã phải đấu gầu tát nước qua 13 bậc, đưa nước lên cao tưới cho lúa và hoa màu,v.v... Trong 3 năm (1955-1957), tuổi trẻ miền Bắc đã đóng góp trên 10.000.000 ngày công chống hạn, sửa chữa, khôi phục, đưa vào sử dụng 6 công trình thủy nông lớn và hàng chục công trình thủy lợi hạng vừa, giải quyết một phần tưới nước, tiêu nước cho đồng ruộng.

Để có nước chủ động phục vụ sản xuất nông nghiệp đối với vựa lúa đồng bằng sông Hồng, Đảng và Chính phủ đã quyết định xây dựng hệ thống Đại thủy nông Bắc - Hưng - Hải. Trung ương Đoàn đã chỉ đạo các Tỉnh Đoàn Hải Dương, Hưng Yên, Bắc Ninh và Thành Đoàn Hà Nội động viên hàng vạn đoàn viên, thanh niên lên công trường. Đại bộ phận cán bộ chủ chốt của Tỉnh Đoàn, Huyện Đoàn thường xuyên có mặt ở hiện trường để tổ chức, động viên thanh niên, giúp đỡ các xây dựng Đoàn hoạt động có kết quả. Ngày 20 tháng 9 năm 1958, Bác Hồ đã đến thăm công trường và căn dặn: “Cán bộ và đồng bào phải có quyết tâm vượt mọi khó khăn, làm cho nhanh, cho tốt. Công trình Bắc - Hưng - Hải thành công thì mỗi năm đồng bào đỡ mấy triệu công chống hạn, thu họch lại tăng thêm... Đảng viên và đoàn viên thanh niên phải xung phong “làm đầu tàu, làm gương mẫu”.

Tuân theo lời dạy của Bác, hàng trăm đội thanh niên xung kích ra đời, đảm nhận những nơi, những công việc khó khăn, gian khổ nhất. Tính năng động, sáng tạo của tuổi trẻ đã được phát huy mạnh mẽ, lao động không quản ngày đêm, mưa nắng, đã đạt và vượt hầu hết các chỉ tiêu, định mức được giao, góp phần hoàn thành công trình trước thời hạn. Thi đua với đoàn viên, thanh niên công trình Bắc - Hưng - Hải, tuổi trẻ nông thôn miền Bắc đẩy mạnh phong trào làm thủy lợi rộng khắp, đào mương, đắp đập, hoàn chỉnh các hệ thống nông gian, bảo đảm đủ nước, chủ động tưới tiêu cho đồng ruộng. Chỉ trong 3 năm (1958-1960) đoàn viên thanh niên miền Bắc đã đóng góp 72,25 triệu ngày công lao động, đào đắp 116,2 triệu mét khối đất để xây dựng các công trình thủy lợi, phục vụ thâm canh, góp phần giải quyết căn bản nạn hạn úng kéo dài.

Thực hiện khẩu hiệu “sạch làng tốt ruộng”, phong trào làm phân bón đã thu hút hàng triệu đoàn viên, thanh niên khắp nơi tham gia. Từ ngoại thành Hà Nội, đoàn viên Nguyễn thị Hoàn nêu kỷ lục “Kiện tướng nghìn cân”. Khi đưa tin này, Báo Tiền phong, cơ quan của Trung ương Đoàn đã đề nghị thanh niên nông thôn hãy thi đua với Nguyễn Thị Hoàn làm thật nhiều phân bón. Phong trào đã được đoàn viên, thanh niên hưởng ứng rộng rãi. Chỉ sau một thời gian ngắn, Nguyễn Thị Hoàn đã tự phá kỷ lục, đạt 3000kg rồi 6.000kg/tháng. Lê Thị Mến (Duy Tiên - Hà Nam) đạt 4.000kg; Cao Thị Min (Nam Định) đạt 5200kg. Tất cả đoàn viên chi đoàn Sàng (xã Đạo Lý, Lý Nhân, Hà Nam); chi đoàn 5 (xã Duy Tân, Ân Thi, Hưng Yên) đã đuổi kịp kiện tướng Nguyễn Thị Hoàn. Chi đoàn Đông Xuân (Nam Định), đạt bình quân 3.000kg một người,v.v... Hai chi đoàn Đông Phong (Hòa Bình) và Minh Lang (Thái Bình) và các kiện tướng Nguyễn Thị Hoàn, Lê Văn Dây (thương binh cụt một tay), Sân Mù Mây (nữ dân tộc thiểu số), Trần Danh (thiếu niên) được vinh dự nhận phần thưởng của Bác Hồ về thành tích làm phân bón.

Để có nhiều phân bón, phục vụ thâm canh tăng năng suất cây trồng, Đoàn đã động viên thanh niên làm tốt công tác chăn nuôi trâu bò, lợn; phát động thanh niên tìm kiếm và tận dụng các nguồn phân bón tại chỗ như phân bắc, phân xanh, phân bùn, phân dơi,v.v...

Hưởng ứng phong trào cải tiến công cụ, cải tiến kỹ thuật do Trung ương Đoàn phát động, học tập gương sáng của đoàn viên Phạm Trung Pồn, người Tày (Cao Bằng), bị mù hai mắt nhưng dám nghĩ, dám làm, kiên trì phấn đấu cải tiến được 11 loại công cụ cầm tay, tuổi trẻ miền Bắc đã có phong trào sử dụng “cày 51” thay cho “cày chìa vôi”, bừa sắt thay cho bừa tre, cào cỏ Nghệ An thay cho nhổ cỏ bằng tay,v.v... vừa bảo đảm kỹ thuật, vừa đạt năng suất lao động cao. Cùng với việc sử dụng các công cụ nói trên, thanh niên các dân tộc ở Hòa Bình, còn cải tiến và sử dụng các công cụ vận chuyển, công cụ làm đất là các khâu mà xưa nay chủ yếu dựa vào sức người như xe cải tiến, xe quệt, mảng vận chuyển, xe đạp thồ, xe trâu bò kéo,v.v... tùy theo địa hình và đường xá ở từng địa bàn. Thanh niên xã Liên Phương (Hòa Bình) đã sử dụng hoàn toàn cày cải tiến và 90% công việc vận chuyển bằng xe thô sơ và xe cải tiến thay quang gánh. Đó là quê hương của phong trào giải phóng đôi vai sau này. Cùng với các phong trào nói trên, tuổi trẻ nông thôn đã bước đầu đi vào kho học kỹ thuật, áp dụng những phương pháp và biện pháp lỹ thuật tiên tiến vào sản xuất và chăn nuôi. Đó là phương pháp ủ chua thức ăn cho lợn, ngâm ủ lúa giống trong nước “3 sôi 2 lạnh”, ủ phân, sử dụng thuốc trừ sâu, cấy lúa nhỏ dảnh, dày vừa phải,v.v... được áp dụng tương đối rộng rãi. Để thúc đẩy sản xuất nông nghiệp phát triển, Đảng và Nhà nước rất quan tâm đào tạo, bồi dưỡng cán bộ khoa học kỹ thuật nông nghiệp. Năm học 1957-1959 đã có 443 sinh viên và 1039 học sinh trung cấp nông nghiệp và hàng nghìn cán bộ sơ cấp kỹ thuật trồng trọt và chăn nuôi. sự nỗ lực của tuổi trẻ miền Bắc đã góp phần đáng kể vào việc thúc đẩy sản xuất nông nghiệp phát triển. Đến năm 1957, tổng sản lượng lương thực đã vượt mức cao nhất so với trước chiến tranh (1939).

Sau cải cách ruộng đất, nông thôn miền Bắc đã có bước chuyển biến mới, sản xuất nông nghiệp phát triển, đời sống nông dân được cải thiện một bước. Để đưa nền nông nghiệp miền Bắc tiếp tục phát triển ngày càng cao, Đảng ta chủ trương tiến hành hợp tác hóa nông nghiệp.

Giáo dục đoàn viên, thanh niên thấu hiểu được tính sâu sắc, triệt để của cuộc đấu tranh giữa con đường làm ăn tập thể với con đường làm ăn cá thể để tiến hành hợp tác hóa nông nghiệp, không  những bảo đảm sự tham gia tích cực, tự giác của họ vào quá trình của cuộc vận động mà còn làm cho họ nhận thức được con đường tất yếu đi lên CNXH ở miền Bắc nước ta. Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đoàn (khóa II) lần thứ VI nhấn mạnh: “Phải tổ chức hết thảy mọi đoàn viên và thanh niên nông thôn học tập đường lối hợp tác hóa nông nghiệp của Đảng”, Đoàn đã có nhiều hình thức hoạt động phong phú trong công tác tuyên truyền, vận động... Hội nghị Đại biẻu Đoàn toàn miền Bắc họp từ ngày 15 đến ngày 20-2-1960 nhận xét: Thanh niên đã hăng hái tham gia hợp tác xã, góp phần tích cực vào việc mở rộng và củng cố phong trào hợp tác hóa nông nghiệp”.

Trên mặt trận sản xuất công nghiệp, giao thông vận tải thanh niên công nhân, thanh niên xung phong đã lao động dũng cảm, không tiếc mồ hôi và công sức của mình góp phần khôi phục hệ thống giao thông, nhà máy, xí nghiệp và các cơ sở sản xuất công nghiệp.

Sau khi hoàn thành nhiệm vụ trên chiến trường Điện Biên Phủ, hàng vạn thanh niên xung phong lại bắt tay vào nhiệm vụ khắc phục hậu quả chiến tranh, khôi phục kinh tế. Hai hội thanh niên xung phong 34 và 40, gồ trên 7000 đội viên bắt tay mở đường Mộc Châu - Pa Háng, sau đó là đường Lai Châu - Phong Thổ đến biên giới Việt - Trung, nâng cấp và mở rộng đường Lai Châu - Tuần Giáo. Được thử thách, rèn luyện và trưởng thành trong chiến đấu, các đoàn viên TNXP đã đem hết nhiệt tình, hăng hái thi đua lao động sản xuất, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ trong điều kiện hết sức gay go, gian khổ. Hàng trăm đội viên đã ngã xuống vì bom mìn của địch còn sót lại, vì ốm đau, bệnh tật, vì tai nạn lao động và cả thú dữ nữa. Trong khi đó, công việc lại rất nặng nhọc, khó khăn; chặt cây, phá đá, bạt núi, san đèo, bắc cầu, xây cống,v.v... giữa rừng sâu hiểm trở, thiếu thốn mọi bề từ lương thực, thực phẩm, rau xanh và cả nước uống cũng không đủ dùng. Không khuất phục trước những thử thách mới, với tinh thần và ý chí cách mạng tấn công, phát huy tính năng động và sáng tạo của tuổi trẻ, các đối với TNXP đã từng bước nâng cao năng xuất lao động, đạt và vượt chỉ tiêu, hoàn thành nhiệm vụ được giao trước thời hạn. Riêng đại đội 407 và 302 được vinh dự nhận cờ “Thi đua khá nhất” của Bác Hồ.

Để mở rộng giao lưu quốc tế, ngay từ những ngày đầu hòa bình lập lại, Đảng và Chính phủ ta đã quyết định khôi phục nhanh chóng tuyến đường sắt Hà Nội - Mục Nam Quan và giao cho Đoàn thanh niên làm lực lượng xung kích trong nhiệm vụ quan trọng này. Hưởng ứng lời kêu gọi của Đoàn, hơn 4 vạn đoàn viên, thanh niên tình nguyện lên công trường. Anh chị em là những đội viên thanh niên xung phong trong kháng chiến chống Pháp, là chiến sĩ du kích ở khu 3, khu 5, Thừa Thiên, Quảng Trị, các tỉnh Nam Bộ tập kết ra Bắc,v.v... Những ngày đầu công việc gặp rất nhiều khó khăn, không quản ngại gian nan, vất vả, không nề hà những công việc nặng nhọc như đập đá, lấy gỗ, bắc cầu, làm đường, phá núi,v.v... Riêng đội TNXP đường sắt với 1.885 đội viên gồm quân số của các tình khu 3 và Tả ngạn, đảm nhận đoạn đườg từ ga Kép đến ga sông Hóa dài 32km. Với tinh thần lao động quên mình, với bản chất năng động và sáng tạo, tuổi trẻ trên công trường đường sắt Hà Nội - Mục Nam Quan đã hoàn thành tuyến đường dài 163km này chỉ trong chưa đầy 4 tháng. Ngày 28-2-1955 chuyến tàu liên vận quốc tế đầu tiên đã đến ga Đồng Đăng, nối liền nước ta với Trung Quốc và các nước anh em, tạo điều kiện thuận lợi cho việc tiếp nhận sự giúp dỡ chí tình của anh em, bạn bè, đồng chí. Có thể nói: Đây là chiến công đầu tiên của tuổi trẻ và nhân dân miền Bắc trong bước đường xây dựng lại đất nước.

Cùng với việc khôi phục nhanh chóng tuyến đường sắt đầu tiên này, tuổi trẻ lại tiếp tục góp phần vào việc khôi phục các tuyến đường sắt khác như Hà Nội - Lào Cai, Hà Nội - Nam Định - Thanh Hóa, trong đó TNXP vẫn là lực lượng nòng cốt. Tuyến đường Hà Nội - Lào Cai được khởi công xây dựng lại từ ngày 21-3-1955. Với truyền thống là một đội quân xung kích cách mạng do Bác Hồ tổ chức và giáo dục, đã được thử thách và rèn luyện trong những năm qua, TNXP đã không ngừng phấn đấu, vượt qua mọi khó khăn gian khổ, hoàn thành nhiệm vụ đúng thời gian quy định. Ngày 1-1-1956, chuyến tàu đầu tiên đã đến ga Lào Cai trong niềm hân hoan của đồng bào các dân tộc anh em.

Như vậy, sau khi 4 tuyến đường sắt đã được khai thông cùng với đường bộ, đường sông, đường biển, và đường hàng không, thanh niên xung phong đã lập công lớn trong quá trình khôi phục mạng lưới giao thông nối liền Thủ đô Hà Nội với các tỉnh, tạo thế liên hoàn giữa các địa phương với Trung ương, giữa các tỉnh, huyện với nhau.

Đi liền với nhiệm vụ xây dựng lại hệ thống giao thông TNXP còn đảm nhận nhiều nhiệm vụ khác. Đại đội 295 thuộc đội 38 có 165 đội viên, phục vụ ngành Bưu địn, làm nhiệm vụ mắc dây điện thoại, nối liền đường dây liên lạc các tỉnh với Thủ đô Hà Nội, đáp ứng yêu cầu lãnh đạo của Trung ương Đảng, Chính phủ với các địa phương.

Từ cuối năm 1955, đại bộ phận các đơn vị TNXP chuyển sang tham gia xây dựng và khôi phục các công trình công nghiệp như di chuyển Nhà máy Cơ khí Trần Hưng Đạo từ chiến khu Việt bắc về Hà Nội để tiếp tục sản xuất; khôi phục Nhà máy Xi măng Hải Phòng,v.v... và tham gia xây dựng Nhà máy Cơ khí Hà Nội, Gỗ Cầu Đuống, Diêm thống nhất, Chè Phú Thọ, Cá hộp Hải Phòng, Suppe phốt phát Lâm Thao, Hóa chất Việt Trì,v.v... là những cơ sở vật chất kỹ thuật đầu tiên của chủ nghĩa xây dựng ở miền Bắc. Hàng vạn đoàn viên, thanh niên đã tự nguyện đóng góp hàng chục vạn ngày công lao động để khôi phục, sửa chữa, dọn dẹp các cơ sở công nghiệp do địch phá hoại trước khi rút như ga Hàng Cỏ, Nhà máy Xe lửa Gia Lâm, Cảng Hải Phòng, Nhà máy Dệt Nam Định,v.v... nhằm góp phần ổn định sản xuất và nâng cao đời sống của nhân dân.

Sự tham gia tích cực và đông đảo của tuổi trẻ vào công cuộc khôi phục và phát triển kinh tế, đã góp phần đáng kể đẩy mạnh sản xuất công nghiệp, làm cho thành phần kinh tế quốc doanh lớn mạnh không ngừng. Năm 1955, miền Bắc chỉ có 19 xí nghiệp quốc doanh với 17.200 công nhân, sau 3 năm khôi phục và xây dựng đã có 78 xí nghiệp với 46.340 công nhân, trong đó có 50 xí nghiệp mới xây dựng.

Bước sang giai đoạn cách mạng mới, Đảng và Nhà nước ta chủ trương “Tiến hành cải tạo hòa bình công thương nghiệp tư bản tư doanh”, “cải tạo dần dần người tư sản thành người lao động”, Đoàn thanh niên có trách nhiệm tổ chức, giáo dục đoàn viên, thanh niên tham gia tích cực vào công tác này. Đoàn thanh niên trong các nhà máy, xí nghiệp, hầm mỏ... đã tổ chức cho đoàn viên thanh niên học tập để hiểu rõ và góp pầhn tích cực thực hiện chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước.

Phát huy tinh thần làm chủ nhà máy, xí nghiệp, đoàn viên, thanh niên công nhân còn có phong trào: “Phát huy sáng kiến, cải tiến kỹ thuật, tiết kiệm nguyên vật liệu, hạ giá thành sản phẩm”, ngày “lao động kiến thiết Tổ quốc”,v.v... Trong 3 năm (1958 - 1960), thanh niên công nhân Hà Nội đã có 4.995 sáng kiến, cải tiến kỹ thuật, tăng năng suất từ 10 đến 200% và thu nhặt được trên 628 tấn nguyên vật liệu. Thanh niên công nhân Hải Phòng có 2.030 sáng kiến, thanh niên công nhân khu mỏ Hồng Quảng (Quảng Ninh) đi đầu trong sản xuất, vận chuyển than, tiết kiệm được 2,8 triệu đồng,v.v... Nhiều điển hình cá nhân như Nguyễn Thế Nghĩa, công nhân Nhà máy Cơ khí Gia Lâm (Hà Nội) trong một năm có 10 sáng kiến, cải tiến kỹ thuật, trong đó có sáng kiến tăng năng suất 900% và đã trở thành lá cờ đầu của thanh niên công nhân miền Bắc. Đoàn viên, thanh niên công trường khai thác đá Sơn Tây, do có nhiều sáng kiến, cải tiến kỹ thuật, đã làm lợi cho xí nghiệp 6.000.000 đồng được Bác Hồ gửi thư khen và 5 huy hiệu của Bác để tặng cho những người có thành tích suất sắc nhất.

Phong trào “Ngày lao động xã hội chủ nghĩa” đã thu hút 25 vạn đoàn viên, thanh niên trong các cơ quan trường học, xí nghiệp, công trường, bệnh viện,v.v... tham gia.

Sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội đã tạo ra môi trường rộng lớn cho tuổi trẻ cống hiến và trở thành, mở ra con đường đi tới tương lai. Nếu trong 3 năm khôi phục kinh tế có 6 vạn thanh niên tình nguyện đi lên các công trường thì 3 năm cải tạo, xây dựng phát triển kinh tế đã có tới 20 vạn thanh niên đến với các công trình mới.

Hàng chục vạn đoàn viên, thanh niên được bổ sung vào đội ngũ công nhân đã góp phần xây dựng giai cấp công nhân Việt Nam ngày càng đông đảo và vững mạnh. Đoàn thanh niên đã đóng vai trò tích cực thúc đẩy sản xuất phát triển. Tổ chức Đoàn không những có tiếng nói xứng đáng trong nhiều vấn đề thiết yếu mà còn có đủ điều kiện cần thiết để đưa thanh niên đi vào những hoạt động chiều sâu, trong đó có việc đảm nhận giải quyết những công việc khó khăn, mới mẻ nhằm góp phần đẩy nhanh tốc độ phát triển của sự nghiệp xây dựng CNXH. Riêng Trung ương Đoàn đã đảm nhận trước Đảng và Nhà nước xây dựng tuyến đường sắt Hà Nội - Đông Anh, tuyến đường bộ 12B Hòa Bình, Nhà máy Suppe phốt phát Lâm Thao, lò cao số 1 khu gang thép Thái Nguyên,v.v... Điều đó thể hiện vai trò chủ động và trách nhiệm của Đoàn trước vận mệnh của đất nước.

Khi miền Bắc được hoàn toàn giải phóng, nửa nước được độc lập tự do, điều mà tuổi trẻ cảm nhận sâu sắc nhất là cuộc sống tinh thần đã có sự thay đổi căn bản, thể hiện bản chất của chế độ mới. Hơn ai hết, tuổi trẻ là lớp người được thừa hưởng nhiều nhất thành quả đó của cách mạng. Vì thế, ngay sau ngày hòa bình lập lại, thanh niên ở các thành phố, thị xã và các vùng vừa được giải phóng đã tích cực tham gia thu dọn chướng ngại vật trên đường phố, thôn xóm, sửa sang các công trình công cộng, xóa bỏ tàn dư, vết tích của chiến tranh và chủ nghĩa thực dân chiếm đóng. Đường làng, ngõ xóm đã trở nên sạch đẹp, phong quang, phố xá đông vui, nhộn nhịp, nhưng lại rất trật tự, đàng hoàng. Gương mặt của Thủ đô và các vùng mới giải phóng từng ngày đổi thay. Đồng thời với sự thay đổi về chính trị, kinh tế, đời sống tinh thần cũng bắt đầu mang màu sắc mới. Đoàn viên, thanh niên, nhất là học sinh, sinh viên đi tiên phong trong cuộc đấu tranh xóa bỏ tàn dư văn hóa đồi trụy, phản động của chủ nghĩa thực dân và các hủ tục của chế độ cũ để lại, vận động nhân dân xây dựng nếp sống mới, cuộc sống mới vui tươi, lành mạnh. Các tệ nạn cờ bạc, gái điếm, mê tín dị đoan,v.v... được hạn chế dần. Nhiều hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể dục thể thao được mở ra, thu hút đông đảo thanh, thiếu niên tham gia, tạo ra môi trường mới thích hợp, đáp ứng nhu cầu của tuổi trẻ. Các bài ca cách mạng và kháng chiến được phổ biến rộng rãi.

Giữa lúc tuổi trẻ và nhân dân ta đang hăng say lao động sáng tạo, xây dựng cuộc sống mới thì một nhóm nhỏ văn nghệ sĩ, trí thức vì dao động trước những khó khăn trong bước chuyển tiếp giữa hai giai đoạn cách mạng, đã lợi dụng lúc tình hình thế giới có những diễn biến phức tạp và nhân khi Đảng ta phát hiện sai lầm trong cải cách ruộng đất để tuyên truyền, xuyên tạc, bôi xấu chế độ,v.v... Dưới sự lãnh đạo của Đảng, đoàn viên, thanh niên đã tích cực tham gia đấu tranh chống lại. Một số văn nghệ sĩ cách mạng và trí thức trẻ, sinh viên trong các cơ quan và các trường đại học đã vạch trần âm mưu chống phá cách mạng của nhóm “Nhân văn - Giai phẩm” và nhóm “Đất mới”. Thanh niên công nhân Nhà máy in Xuân Thu kiên quyết không in và kiến nghị đình bản tờ “Nhân văn” số 6. Qua việc phổ biến các tác phẩm văn học - nghệ thuộc cách mạng và hiện thực XHCN của các nhà vă trong nước và thế giới, chủ yếu là văn học Xô viết, nhất là qua hoạt động văn hóa nghệ thuật của Đoàn đã góp phần nâng cao nhận thức về chính trị, về nền văn hóa - văn nghệ cách mạng. Đoàn còn mở rộng hoạt động của mình nhằm đi sâu vào cuộc sống của thanh niên như chống mê tín dị đoan, chống các tệ nạn xã hội, coi thường phụ nữ, nạn tảo hôn ma chay, cưới xin lạc hậu và các phong tục tập quán không lành mạnh khác,v.v... nhằm hình thành trong tuổi trẻ một nếp sống văn minh, khoa học, phù hợp với sự phát triển của xã hội. Những tiếng hát ca ngợi Đảng, Bác Hồ, ca ngợi đất nước luôn vang lên trong các thôn xóm, khu tập thể, trên các đường phố... làm cho nhịp sống lao động của tuổi trẻ thêm sôi nổi, tràn đầy tinh thần lạc quan cách mạng

Để giáo dục và nâng cao nhận thức về Đảng, về Bác Hồ và những phẩm chất của người cộng sản cho đoàn viên, thanh niên, nhân dịp kỷ niệm 30 năm ngày thành lập Đảng (3-2-1960) và chào mừng Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ III, đầu năm 1960, Trung ương Đoàn mở cuộc vận động: “Sống, làm việc, học tập theo gương những người cộng sản”. Đồng thời mở cuộc thi tìm hiểu về Đảng, về Bác Hồ trên quy mô lớn, đến tận đoàn viên, thanh niên.

Đi đôi với việc nâng cao nhận thức về lý tưởng cách mạng, Đoàn còn quan tâm đến việc nâng cao trình độ học vấn cho đoàn viên, thanh niên. Các lớp bình dân học vụ, bổ túc văn hóa được mở ra khắp các bản làng, thu hút đông đảo tuổi trẻ và bà con lao động đến học.

Thực hiện lời dạy của Bác Hồ: “Học cũng thế, dạy cũng thế, thanh niên là chủ lực quân trong phong trào bình dân học vụ”, “Người biết dạy cho người không biết như vết dầu loang”, các tổ chức Đoàn ở Thanh Hóa, Hòa Bình, Nam Định, Ninh Bình, Hải Phòng, Nghệ An,v.v... đã lập các đội “Thanh niên xung kích diệt dốt”, mở các “trại hè diệt dốt”, cử hàng chục vạn cán bộ, đoàn viên, thanh niên đi đến từng làng bản, khu lao động và cả từng gia đình vận động nhân dân đi học. Những người có hoàn cảnh khó khăn thì kèm cặp bà con học tại nhà. Chỉ trong thời gian ngắn, Thành Đoàn Nam Định đã thanh toán nạn mù chữ cho 1376 người trong tổng số 1407 người chưa biết chữ. Đến đầu năm 1956, Tỉnh Đoàn Thanh Hóa đã xóa mù chữ cho 7964 đoàn viên và một năm sau, Đoàn đã tham gia thanh toán nạn mù chữ cho 149.114 người, đạt 102,1% kế hoạch do Trung ương giao. Riêng thanh niên đã thanh toán nạn mù chữ cho 106 chi đoàn. Xã Vĩnh Khang (Thanh Hóa) trở thành lá cờ đầu trong phong trào xóa nạn mù chữ toàn miền Bắc, được Chính phủ khen. Năm 1958, Thanh Hóa có 30.417 đoàn viên thanh niên, tham gia ở 9.273 tổ “xung kích diệt dốt”. Đến 30-10-1958, toàn tỉnh đã thanh toán xong nạn mù chữ cho cả thanh niên và nhân dân. ở Hòa Bình, năm 1956, toàn tỉnh đã mở được 1548 lớp bình dân học vụ, có 1.600 giáo viên là thanh niên, đã thanh toán nạn mù chữ cho trên 55% dân số, riêng thanh niên là 80%. Đến năm 1960, Hòa Bình là tỉnh miền núi đầu tiên thanh toán nạn mù chữ, với 96% số người trong độ tuổi biết đọc, biết viết.

Là người luôn luôn quan tâm giáo dục và đạo tạo thế hệ trẻ, do đó tuy bận trăm công nghìn việc, nhưng ngay sau khi miền Bắc mới được giải phóng, ngày 18-12-1954, Bác Hồ đã đến thăm thầy cô giáo và học sinh các trường Nguyễn Trãi, Chu Văn An, Trưng Vương (Hà Nội), Bác dạy: “Thanh niên là một bộ phận quan trọng của dân tộc. Dân tộc bị nô lệ thì thanh niên cũng bị nô lệ. Dân tộc được giải phóng thì thanh niên mới được tự do. Vì vậy, thanh niên phải hăng hái tham gia cuộc đấu tranh của dân tộc. ... Ngày nay ta đã được độc lập, tự do, thanh niên mới thực sự là người chủ tương lai của nước nhà. Muốn xứng đáng vai trò của người chủ thì phải học tập”.

Ngày 19-1-1955, Bác đã đến dự lễ khai giảng khóa đầu tiên Trường Đại học Nhân dân tại Hà Nội.

Ngày 19-3-1955, Bác lại gửi thư cho thầy giáo và học sinh Trường Sư phạm Miền núi và căn dặn: “Nhiệm vụ của các cháu là thi đua học tập để sau này góp phần vào việc mở mang quê hương của mình và việc xây dựng nước Việt Nam yêu quý của chúng ta”.

Chính với sự quan tâm của Bác Hồ, Trung ương Đảng và Chính phủ, mà ngay sau ngày hòa bình lại, các trường học đã mở cửa đón con em nhân dân lao động đến trường. Tháng 10-1954, Trường Đại học Y - Dược mở cửa, các Trường Đại học Sư phạm Văn khoa và Đại học Sư phạm Khoa học chuẩn bị bước vào năm học mới. Ngày 1-11-1954, 51.260 con em nhân dân lao động Thủ đô Hà Nội nô nức đến trường khai giảng năm học đầu tiên sau ngày hòa bình lập lại. Lực lượng đoàn viên trong các trường đại học và các trường cấp III tuy còn rất mỏng, nhưng hoạt động của Đoàn đã có tác dụng rõ rệt. Các hoạt động học tập, lao động và sinh hoạt tập thể, công tác xã hội, kỷ luật, trật tự, các hoạt động văn hóa, văn nghệ,v.v... đã thu hút hầu hết học sinh, sinh viên tham gia. Năm học 1959 - 1960, miền Bắc đã có 1.460.596 học sinh phổ thông (gấp 3,5 lần năm học 1939 - 1940 toàn Đông Dương), 16.000 học sinh trung học chuyên nghiệp (gấp 4 lần) và 8479 sinh viên đại học (gấp 14,6 lần năm 1939 - 1940 toàn Đông Dương) và gần 2000 học sinh, sinh viên đang học ở người ngoài.

***

Đảng ta khẳng định rằng; Cách mạng Việt Nam là một bộ phận của cách mạng thế giới; cuộc đấu tranh của nhân dân ta có quan hệ mật thiết với cuộc đấu tranh của nhân dân thế giới vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội. Vì thế, Đoàn ta và thanh niên nước ta đã không ngừng hoạt động nhằm ủng hộ phong trào đấu tranh cho hòa bình thế giới và tình đoàn kết hữu nghị giữ các dân tộc, chống chiến tranh xâm lược, chống chủ nghĩa thực dân, ủng hộ phong trào độc lập dân tộc ở các nước thuộc địa và phụ thuộc. Ngược lại, chính sự phát triển của phong trào cách mạng thế giới đã cổ vũ mạnh mẽ đối với công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội và đấu tranh thống nhất nước nhà của nhân dân ta.

Trên tinh thần đó, Đoàn Thanh niên Lao động Việt Nam, Hội Liên hiệp Thanh niên Việt Nam và Hội Liên hiệp Sinh viên Việt Nam đã làm hết sức mình để thắt chặt tình đoàn kết và hữu nghị với thanh niên và sinh viên thế giới.

Chúng ta đã tham gia tích cực các Đại hội Liên hoan thanh niên và sinh viên thiế giới (Festival). Đó là Đại hội Liên hoan thanh niên và sinh viên thế giới lần thứ V, tổ chức tại Vácsava (Ba Lan) từ ngày 31-7 đến ngày 14-8-1955; lần thứ VI tổ chức tại Matxcơva (Liên Xô) từ ngày 28-7 đến ngày 11-8-1957; lần thứ VII tổ chức tại Viên (áo) từ ngày 26-7 đến ngày 4-8-1959 và lần thứ VIII tại Henxenki (Phần Lan) từ ngày 29-7 đến ngày 6-8-1962. Đây là những hoạt động rất có ý nghĩa không những đối với thanh niên nước ta mà cũng rất có ý nghĩa đối với thanh niên thế giới. Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp thắng lợi của nhân dân ta, mở đầu cho sự sụp đổ của chủ nghĩa thực dân cũ đã cổ vũ mạnh mẽ thanh niên và nhân dân các nước thuộc địa đứng lên đấu tranh giành độc lập dân tộc. Tuy nhiên, với bản chất ngoan cố và phản động của chủ nghĩa đế quốc, để duy trì ách áp bức bóc lột đối với các dân tộc, chúng lại áp dụng chủ nghĩa thực dân mới, tiêu biểu là ở miền Nam Việt Nam. Do đó, tuy cuộc chiến tranh chống thực dân Pháp ở Việt Nam đã kết thúc, nhưng phong trào nổi dậy chống chủ nghĩa thực dân cũ và mới vẫn diễn ra quyết liệt ở khắp nơi trên thế giới. Đại hội Liên hoan thanh niên và sinh viên thế giới lần thứ V (1955) cũng là nhằm mục tiêu đó. Bài học của thanh niên Việt Nam cũng là bài học của thanh niên các nước thuộc địa. Với tinh thần đó, các tổ chức thanh niên Việt Nam đã chuẩn bị tham gia đại hội một cách tích cực. Chúng đã thành lập Uỷ ban trù bị quốc gia. Ngày 23 - 3 - 1955, Hội nghị trù bị của Việt Nam tham gia Đại hội Liên hoan thanh niên và sinh viên thế giới lần thứ V đã họp tại Hà Nội, gồm 197 đại biểu đại diện cho Liên đoàn thanh niên Việt Nam, Đoàn Thanh niên Cứu quốc Việt Nam, Hội liên hiệp Sinh viên Việt Nam, thanh niên quân đội, thanh niên xung phong, thanh niên miền Nam tập kết,v.v... và các anh hùng, chiến sĩ thi đua toàn quốc, tiêu biểu cho tuổi trẻ Việt Nam. Tại Vácsava, khẩu hiệu: “Việt Nam - Hồ Chí Minh - Điện Biên Phủ” đã nhiều lần vang lên.

Trong Đại hội Liên hoan thanh niên và sinh viên thế giới lần thứ VI và các đại hội tiếp theo, vấn đề Việt Nam vẫn là một trong những chủ đề lớn được tuổi trẻ  trên khắp hành tinh đặc biệt quan tâm.

Vốn là một nước thuộc địa đã vùng lên chống chủ nghĩa thực dân Pháp thắng lợi, nay vẫn còn nửa nước bị phụ thuộc vào chủ nghĩa đế quốc, do đó tuổi trẻ Việt Nam rất thông cảm với tuổi trẻ các nước còn nằm trong tình cảnh bị áp bức dân tộc, bị sự đô hộ của ngoại bang. Vì thế chúng ta rất tích cực lên tiếng phản đối các cuộc chiến tranh xâm lược của chủ nghĩa đế quốc và chủ nghĩa thực dân. Ngày 20-2-1955 Liên đoàn Thanh niên Việt Nam đã ra lời kêu gọi thanh niên Việt Nam đoàn kết và ủng hộ thanh niên các nước thuộc địa và phụ thuộc chống chủ nghĩa đế quốc, chủ nghĩa thực dân cũ và mới nhân ngày Quốc tế chống chủ nghĩa thực dân (21 - 2) và đấu tranh đòi đối phương thi hành Hiệp nghị Giơnevơ, đòi tổ chức Hội nghị hiệp thương. Chúng ta nhiệt liệt ủng hộ cuộc đấu tranh giành độc lập của thanh niên và nhân dân Angiêri, Ghilê, Cu Ba, Ai Cập, Irắc và nhân dân các nước châu Phi và châu Mỹ La tinh bằng những cuộc mít tinh, biểu tình và những hành động thiết thực, cụ thể khác. Chúng ta đã thiết lập quan hệ hữu nghị với thanh niên các nước Nam Dương (Inđônêsia, ấn Độ và nhiều nước á Phi khác. Mối quan hệ hữu nghị và hợp tác với thanh niên Pháp, thanh niên Lào và Campuchia để chống kẻ thù chung vốn đã có từ lâu, nay lại càng được củng cố chặt chẽ hơn. Hình ảnh anh Hăngri Máctanh và chị Raymôngđiêng - những thanh niên công sản Pháp, những chiến sĩ đi tiên phong trong cuộc đấu tranh chống thực dân Pháp xâm lược Việt Nam và các thành viên đại diện cho Đoàn thanh niên cộng sản Pháp sang dự Đại hội Đoàn toàn quốc lần thứ hai đã đem đến cho Đoàn ta và tuổi trẻ nước ta những tình cảm thắm thiết và hữu nghị sâu sắc.

Chúng ta không ngừng ủng hộ và thực hiện đầy đủ các nghị quyết của Liên đoàn Thanh niên Dân chủ thế giới, của Hội Liên hiệp sinh viên quốc tế, đồng thời tranh thủ sự giúp đỡ của hai tổ chức quốc tế này. Tháng 2 - 1956, Đoàn Đại biểu Hội liên hiệp sinh viên quốc tế do anh Calô Mina dẫn đầu đã sang thăm Việt Nam, đem đến cho thanh niên và sinh viên Việt Nam tình cảm chân thành và thắm thiết. Trước khi rời Việt Nam, Đoàn Đại biểu sinh viên quốc tế đã ra tuyên bố khẳng định: “Các bạn sinh viên Việt Nam đã nêu cao tấm gương sáng về tinh thần dũng cảm và bền bỉ cho sinh viên các nước khác trên thế giới”.

 

CHƯƠNG VIII
PHONG TRÀO “XUNG PHONG TÌNH NGUYỆN VƯỢT MỨC KẾ HOẠCH NHÀ NƯỚC NĂM NĂM LẦN THỨ NHẤT”

---

Trên cơ sở những thành tựu đã giành được trong những năm khôi phục, cải tạo và phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội ở miền Bắc và phong trào yêu nước ở miền Nam, Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ III họp tháng 9 - 1960 đã quyết định đường lối chung của Đảng trong thời kỳ quá độ đưa miền Bắc đi lên chủ nghĩa xã hội, quyết định phương hướng và nhiệm vụ của kế hoạch Nhà nước năm năm lần thứ nhất (1961 - 1965), nhằm phấn đấu bước đầu xây dựng xây dựng vật chất và kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, hoàn thành cách mạng dân tộc, dân chủ nhân dân trong cả nước, thực hiện hòa bình thống nhất nước nhà. Đại hội còn chỉ rõ: “Thanh niên ta đã nêu cao tinh thần hy sinh anh dũng trong kháng chiến và trong lao động hòa bình. Thanh niên lại là lớp người đang xây dựng chủ nghĩa xã hội và sẽ xây dựng chủ nghĩa cộng sản ở nước ta. Đảng ta phải hết sức chú trọng giáo dục và rèn luyện thế hệ trẻ thành những chiến sĩ trung thành với Tổ quốc, với chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản, sẵn sàng mang hết nhiệt tình của tuổi trẻ tham gia xây dựng xã hội mới”.

Để thực hiện sứ mệnh lịch sử cao cả của Đoàn và tuổi trẻ trong giai đoạn cách mạng mới, Đại hội Đoàn toàn quốc lần thứ III được triệu tập từ ngày 23 đến ngày 25 - 3 - 1961, có 677 đại biểu, thay mặt cho hơn 1 triệu đoàn viên. Đại hội xác định nhiệm vụ của Đoàn trong giai đoạn cách mạng mới là: “Đoàn kết thanh niên, tổ chức mọi lực lượng, giáo dục thanh niên trong cả nước tiến lên dưới ngọn cờ của Đảng, cống hiến hết sức mình phấn đấu hoàn thành thắng lợi những nhiệm vụ lịch sử mà Đảng đề ra”.

Đại hội vạch rõ: “Tất cả mọi hoạt động của Đoàn và thanh niên nước ta đều cần hướng vào việc thực hiện những nhiệm vụ cách mạng của Đảng là xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, giải phóng miền Nam, thực hiện hòa bình thống nhất nước nhà”. Đại hội đã nêu ra nhiệm vụ trước mắt của Đoàn là “hướng toàn thể nam nữ đoàn viên, thanh niên suy nghĩ và hành động với tư cách là người lính xung kích, cống hiến hết sức mình cho sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội và đấu tranh thống nhất nước nhà thể hiện trên các mặt sản xuất, công tác, học tập, bảo vệ Tổ quốc, xây dựng cuộc sống văn minh”.

Đại hội vinh dự được Bác Hồ kính yêu, đồng chí Lê Duẩn - Bí thư thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương Đảng và các đồng chí trong Bộ Chính trị đến dự. Nói chuyện với đại hội, Bác Hồ chỉ rõ: “Đoàn thanh niên cần phải làm đầu tàu, gương mẫu trong phong trào thi đua yêu nước. Phải thực hiện khẩu hiệu: Đâu Đảng cần, thanh niên có, việc gì khó thanh niên làm”.

Đại hội đã bầu ra Ban Chấp hành Trung ương Đoàn gồm 71 đồng chí, trong đó có 15 đồng chí tham gia Ban Thường vụ và 5 đồng chí tham gia Ban Bí thư. Đồng chí Nguyễn Lam được bầu lại làm Bí thư thứ nhất. Sau đại hội, đồng chí Nguyễn Lam được Đảng điều đi nhận nhiệm vụ mới, đồng chí Vũ Quang được cử làm Bí thư thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương Đoàn.

Đại hội đã phát động phong trào “Xung phong tình nguyện vượt mức kế hoạch Nhà nước năm năm lần thứ nhất” (1961 - 1965) nhằm tổ chức, giáo dục, đồng viên tuổi trẻ miền Bắc phát huy vai trò và tác dụng của mình đi đầu thực hiện thắng lợi kế hoạch Nhà nước, qua đó mà “Nâng cao giác ngộ xã hội chủ nghĩa, giáo dục thanh niên ý thức đối với kế hoạch Nhà nước, giáo dục tinh thần xung phong, tự nguyện, tự giác trong bất kỳ công việc gì mà mình đang làm, nâng cao tinh thần trách nhiệm của thanh niên đối với việc thực hiện kế hoạch 05 năm”.

Do đáp ứng được yêu cầu và nguyện vọng của tuổi trẻ, phù hợp với các đối tượng, các tầng lớp thanh niên chỉ trong một thời gian ngắn đã có trên 1 triệu đoàn viên, thanh niên hoạt động trên các mặt: sản xuất công nghiệp, nông nghiệp, giao thông vận tải, lâm nghiệp, văn hóa giáo dục, an ninh quốc phòng,v.v... hưởng ứng và đăng ký tham gia.

Để chỉ đạo phong trào đi đúng hướng, đạt được mục tiêu và nội dung đề ra, đạt hiệu quả thiết thực, Ban Chấp hành Trung ương Đoàn (khóa III) đã có nhiều cuộc họp chuyên đề bàn việc triển khai phong trào trên từng lĩnh vực, từng đối tượng, từng nội dung cụ thể. Đó là Nghị quyết về nhiệm vụ của Đoàn đối với kế hoạch Nhà nước năm năm lần thứ nhất; Nghị quyết về phương hướng, nhiệm vụ của Đoàn trong công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa; Nghị quyết về nhiệm vụ của Đoàn tham gia phát triển sản xuất nông nghiệp; Nghị quyết về công tác giáo dục, về công tác thiếu niên nhi đồng, về công tác Đoàn trong trường học,v.v... Đây là bước phát triển mới về sự chỉ đạo của Đoàn đối với phong trào thanh niên; tổ chức, động viên thanh niên đi vào xây dựng chủ nghĩa xã hội. Phong trào xung phong tình nguyện tuy có bao quát, toàn diện, nhưng mỗi lĩnh vực, mỗi đối tượng cụ thể lại có nội dung riêng, có hình thức, phương thức nhất định, vừa đa dạng, phong phú, vừa mang tính đặc thù cho từng lĩnh vực hoạt động, từng loại hình trong tổng thể của một phong trào thống nhất. Điều đó đã tạo ra cho phong trào sức sống mạnh mẽ.

Cuối tháng 12 - 1961, Đại hội Hội Liên hiệp Thanh niên Việt Nam lần thứ II và đầu tháng 3 - 1962, Đại hội Hội Liên hiệp Sinh viên Việt Nam lần thứ III đã họp. Các đại hội đã đánh giá hoạt động của Hội trong thời gian qua và thảo luận phương hướng công tác sắp tới; động viên toàn thể thanh niên và sinh viên hãy tích cực tham gia phong trào “xung phong tình nguyện vượt mức kế hoạch Nhà nước năm năm lần thứ nhất” do Đại hội Đoàn toàn quốc lần thứ III phát động, đưa phong trào thanh niên và sinh viên phát triển mạnh mẽ, rộng khắp.

Trên mặt trận sản xuất nông nghiệp, ngoài công việc chống úng, chống nạn, diệt trừ sâu bệnh,v.v... các hoạt động của Đoàn đều có chương trình, kế hoạch, có tiêu chuẩn, định mức, có quy trình kỹ thuật,v.v... Trong công tác thủy lợi, các tổ chức  Đoàn ở cơ sở đã đảm nhận trước cấp ủy Đảng và hợp tác xã cải tạo đồng ruộng, xây dựng hệ thống thủy nông, bảo đảm tưới tiêu nước theo yêu cầu, phục vụ thâm canh tăng năng suất cây trồng. Từ hợp tác xã Hồng Thái (Hải Dương), Phương Trù (Vĩnh Phúc), những đội thủy lợi chuyên do Đoàn làm nòng cốt đã nhanh chóng phát triển ra nhiều cơ sở. Về sau, đội thủy lợi chuyên đã có hầu khắp các địa phương, hợp tác xã, gọi là đội thủy lợi 202. Đến cuối năm 1963, cả miền Bắc đã có trên 1 vạn đội, được chuyên môn hóa, không chỉ làm thủy lợi ở hợp tác xã mà thường xuyên có mặt ở các công trình đầu mối, trên các công trường thủy lợi của tỉnh, của huyện. Do được chuyên môn hóa, làm việc theo định mức nên thường đạt năng suất cao. Hầu như cá nhân, đơn vị nào cũng đạt và vượt năng suất. Tiêu biểu là nữ Anh hùng trẻ tuổi Phạm Thị Vách (Hưng Yên) đã đi đầu trong công tác đắp đe ngăn nước sông Hồng, có nhiều sáng kiến, cải tiến, đưa năng suất của toàn đội tăng gấp 3,5 lần chỉ tiêu, luôn hoàn thành vượt mức kế hoạch trên các công trường thủy lợi. Học tập Đoàn thanh niên xã Hồng Thái (Ninh Giang, Hải Dương), xã Vũ Thắng (Kiến Xương, Thái Bình) là vùng sâu trũng nhất huyện, thường xuyên bị ngập lụt, mất mùa, Đoàn đã đảm nhận trước Đảng ủy và hợp tác xã đào một con mương tiêu nước và xây dựng lại đồng ruộng, kết quả là đã giải quyết được nạn ngập úng, đưa năng suất lúa tăng lên rõ rệt và hợp tác xã Vũ Thắng đã trở thành lá cờ đầu về thâm canh toàn miền Bắc.

Trong phong trào làm phân bón, đi đôi với việc tổ chức, động viên đoàn viên, thanh niên làm thật nhiều phân như trước, các cơ sở Đoàn đã đảm nhận xây dựng kế hoạch làm phân và nâng cao chất lượng phân bón cho hợp tác xã. Qua tính toán, cân đối giữa yêu cầu thâm canh và khả năng phân bón của hợp tác xã, Đoàn đứng ra ký kết hợp đồng với hợp tác xã, tổ chức, động viên đoàn viên làm đủ số phân còn thiếu. Các chi đoàn đã thành lập các tổ chuyên trách làm phân, làm bèo hoa dâu. Tổ vừa có trách nhiệm làm thêm phân, thu gom của đoàn viên, thanh niên và xã viên hợp tác xã, vừa làm nhiệm vụ chế biến để nâng cao chất lượng phân bón. Để tạo điều kiện cho đoàn viên, thanh niên của mình bảo đảm chỉ tiêu về số lượng và chất lượng phân bón, với khẩu hiệu: “Sạch làng tốt ruộng”, các cơ sở Đoàn trong hợp tác xã đã có phương thức “3 chuồng 4 hố” (chuồng trâu bò, chuồng lợn, chuồng gà; hố phân, hố tiểu, hố rác và hố xí) làm nhà ủ và chế biến phân. Nhiều nơi còn ủ phân ngay tại ruộng. Các Tỉnh Đoàn, Huyện Đoàn đã phối hợp với ngành nông nghiệp mở các lớp tập huấn kỹ thuật chế biến phân, kỹ thuật làm bèo hoa dâu, kỹ thuật bón phân theo yêu cầu sinh trưởng của cây trồng,v.v.... Năm 1962, trong 20 Tỉnh, Thành Đoàn đã có 8691 chi đoàn lên được kế hoạch và ký kết hợp đồng làm phân bón cho hợp tác xã. Năm 1963, chỉ trong 16 tỉnh, thành đã có thêm 2900 chi đoàn làm được như trên, và có trên 3 vạn kỹ thuật viên được tập huấn làm bèo hoa dâu, do đó việc nuôi thả bèo hoa dâu tăng lên nhanh chóng. Năm 1962 trong 11 tỉnh, thành, riêng thanh niên đã thả được 1750 mẫu bèo ở 393 cơ sở. Vụ đông xuân 1962 - 1963 đã có 4900 cơ sở, ươm thả trên 12900 ha bèo hoa dâu và đến vụ đông xuân 1963 - 1964 con số đó đã tăng lên 13834 cơ sở và ươm thả được 140.900 ha bèo hoa dâu.

Để đảm bảo thực hiện được hợp đồng đã ký kết với hợp tác xã, mọi nguồn phân đều được đoàn viên, thanh niên tận dụng khai thác. Đoàn đã vận động, xây dựng được hàng vạn chuồng lợn hai bậc, hố xí hai ngăn khiểu mới và phát động đoàn viên, thanh niên trồng cây điền thanh, cây muồng muồng. Năm 1962, riêng thanh niên thị xã Hà Đông (Hà Tây) đã trồng được 1300 mẫu điền thanh và muồng muồng. Thanh niên Nam Hà có sáng kiến tận dụng đất, đắp mộ, tranh thủ thời gian trồng điền thanh ngay trên ruộng mới cấy, vừa lợi dụng nốt phần bộ rễ tăng độ phì nhiêu cho đất, vừa lấy lá làm phân xanh.

Phục vụ cho phong trào làm phân bón và tăng nguồn thực phẩm cho nhân dân, Đoàn ta còn có phong trào chăn nuôi lợn tập thể, đưa chăn nuôi trở thành ngành sản xuất chính. Thanh niên ngoại thành Hà Nội có phong trào “Đàn lợn 100 con” và sau đó nâng thành “Đàn lợn trăm con, vạn cân”, đã được thanh niên miền Bắc hưởng ứng. Các cơ sở Đoàn đã cử những đoàn viên, thanh niên có khả năng và nhiệt tình tham gia chăn nuôi lợn tập thể. Để hỗ trợ cho chăn nuôi, ở Hòa Bình có phong trào mỗi đoàn viên thanh niên trồng 500 gốc sắn; ở Nam Định có phong trào “100 kg thức ăn bột cho lợn”; ở Ninh Bình có phong trào “5 cây, 5 con” cho mỗi đoàn viên, thanh niên. Việc hướng dẫn phương pháp ủ chua thức ăn cho lợn rất được các tại chăn nuôi tập thể và gia đình đoàn viên, thanh niên và các cấp bộ Đoàn quan tâm. Đã có nhiều tập thể và cá nhân tiêu biểu xuất hiện, nêu lên những bài học thiết thực cho các nơi noi theo. Anh Lương Văn Nghĩa (Thanh Trì - Hà Nội) học sinh tốt nghiệp phổ thông đã say mê, kiên trì vận dụng những kiến thức đã học được trên ghế nhà trường và trong thực tế, suy nghĩ, tìm tòi và áp dụng phương pháp nuôi lợn bằng thức ăn khô, giảm được cường độ lao động cho xã viên, tiết kiệm nguyên liệu, đàn lợn tăng trọng nhanh. Anh được bà con xã viên yêu mến và được Nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng lao động. Chi đoàn Văn Quán (Vĩnh Phúc), Việt Triều, Giang Biên (Hà Nội), Gia Thịnh, Xuân Lan (Ninh Bình),v.v... là những nơi có phong trào chăn nuôi giỏi. ở những nơi này, đàn lợn tập thể có hàng trăm con, gia đình đoàn viên, thanh niên đều nuôi từ 2 - 3 con trở lên, và chăn nuôi đã thực sự có lãi.

Nhận thức được vai trò của khoa học kỹ thuật trong quá trình thâm canh tăng năng suất cây trồng, vật nuôi, Đoàn đã động viên, tổ chức đoàn viên, thanh niên đi vào những lĩnh vực mới mẻ, những khâu khó khăn, phức tạp, đòi hỏi phải vận dụng kiến thức khoa học kỹ thuật. Nghị quyết Ban Chấp hành Trung ương Đoàn về công tác giáo dục đã chỉ rõ: “Phải khôn ngừng giáo dục, nâng cao trình độ giác ngộ cộng sản chủ nghĩa, trình độ văn hóa, khoa học và kỹ thuật cho thanh niên, tổ chức động viên thanh niên mạnh mẽ tiến quân vào khoa học kỹ thuật, làm cho thanh niên trở thành lực lượng xung kích trong cuộc cách mạng kỹ thuật”

Đoàn coi trọng cả 3 mặt: Đào tạo và bồi dướng lực lượng trẻ làm khoa học kỹ thuật; xây dựng mạng lưới hoạt động khoa học, kỹ thuật; tổ chức thực hiện các biện pháp khoa học, kỹ thuật; tổ chức thực hiện các biện pháp khoa học, kỹ thuật tiên tiến, đưa tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất và đời sống. Các Tỉnh, Thành Đoàn đã phối hợp với ngành nông nghiệp, hội phổ biến khoa học kỹ thuật mở các lớp tập huấn kỹ thuật về trồng trọt, chăn nuôi; tổ chức những cuộc họp “đầu bờ”, những hội nghị khoa học kỹ thuật trẻ để rút kinh nghiệm, học tập lẫn nhau.

Để phát huy vai trò của Đoàn và tuổi trẻ, trong cuộc vận động “cải tiến quản lý hợp tác xã; cải tiến kỹ thuật nhằm phát triển sản xuất nông nghiệp toàn diện, mạnh mẽ, vững chắc” của Đảng và Nhà nước, được sự giúp đỡ tận tình của thế hệ đàn anh cùng với sự nỗ lực phấn đấu của bản thân, cán bộ, đoàn viên, thanh niên tham gia quản lý hợp tác xã ngày càng nhiều. Ngay từ những ngày đầu của kế hoạch năm năm lần thứ nhất, đã xuất hiện nhiều chủ nhiệm hợp tác xã trẻ xuất sắc, có trình độ quản lý, kỹ thuật khá vững vàng như Bàn Văn Mình, Lê Văn Anh, Đỗ Tiến Hảo, Nguyễn Thị Song, Tống Thị út, Lê Thị Lực... và hàng nghìn chủ nhiệm, đội trưởng, đội phó sản xuất giỏi, tiêu biểu cho tinh thần bền bỉ, hăng say sáng tạo của đội ngũ cán bộ quản lý trẻ tuổi đầy triển vọng. Đến năm 1963, số cán bộ quản lý hợp tác xã ở lứa tuổi thanh niên đã chiếm từ 20 - 30%. ở Nghệ An, chỉ tính trong 39 hợp tác xã, số đoàn viên, thanh niên là đội trưởng, đội phó sản xuất tăng từ 14% lên 35%, là cán bộ ban quản trị hợp tác xã từ 18% lên 25%. ở Ninh Bình, năm 1962, trong ban quản trị hợp tác xã có 18,7% là thanh niên và đầu năm 1964 là 28,2%. ở Nam Định, năm 1961, trong số 246 hợp tác xã toàn thôn đã có 347 cán bộ, đoàn viên, thanh niên ở trong ban quản trị, có nơi hầu hết là thanh niên. Năm 1962, cả tỉnh Nam Định có 2447 thanh niên tham gia ban quản trị hợp tác xã, 1851 thanh niên là đội trưởng, đội phó. ở Thanh Hóa, năm 1961 Đoàn đã cung cấp cho đội ngũ cán bộ của hợp tác xã là 6.891 người và năm 1962 là 9149 người chiếm trên 20% cán bộ hợp tác xã toàn tỉnh. Tình hình trên cho thấy rằng, Đoàn ta không chỉ có vai trò và tác dụng tổ chức, động viên thanh niên trong các khâu hành động cụ thể mà còn có vai trò trong công tác quản lý hợp tác xã.

Thực hiện cuộc vận động “Phát triển kinh tế - văn hóa miền núi”, phân bố lại lực lượng lao động, đưa miền núi tiến kịp miền xuôi, với tinh thần “xung phong tình nguyện”, thanh niên sẵn sàng đi đến mọi miền của đất nước để xây dựng chủ nghĩa xã hội. Cuộc vận động đã được đông đảo các cấp bộ Đoàn và đoàn viên, thanh niên các tỉnh, đồng bằng và đô thị hưởng ứng nhiệt liệt. Năm 1962, 12 tỉnh đã có 121.109 thanh niên xung phong đi khai hoang, đi xây dựng nông trường, lâm trường, các cơ sở sản xuất công nghiệp, thương nghiệp, hợp tác xã ở miền núi, trong đó có hơn 10 vạn đoàn viên, thanh niên đã tình nguyện ở lại xây dựng miền núi lâu dài. ở những nơi khó khăn gian khổ nhất, tuổi trẻ đã tỏ rõ phẩm chất cao quý của mình, chấp nhận mọi thử thách để cống hiến và trưởng thành. Tiêu biểu cho những phẩm chất đó là anh hùng trẻ tuổi Phạm Ngọc Chức - (ngành Lâm nghiệp), Phùng Văn Bằng (gác đèn biển, ngành Giao thông vận tải), Lâm Quang Tỉnh (ngành Nông trường),v.v... Thể hiện tinh thần “Đi bất cứ đâu, làm bất cứ việc gì khi Tổ quốc cần đến”.

Với tinh thần đó, trên 10.000 đoàn viên, thanh niên trên khắp các địa phương miền Bắc đã tình nguyện lên Thái Nguyên xây dựng khu Liên hiệp gang thép đầu tiên của Tổ quốc; trên 5.000 thanh niên xây dựng Nhà máy Thủy điện Thác Bà, 5.000 thanh niên xây dựng “Công trình đường sắt thanh niên Thanh Hóa - Vinh”. ở đó tuổi trẻ cũng không quản ngại khó khăn, gian khổ, hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao.

Từ một nước nông nghiệp lạc hậu với một nền công nghiệp nhỏ bé, tiến lên chủ nghĩa xã hội, lực lượng công nhân chủ yếu mới được bổ sung trong thời kỳ khôi phục và phát triển kinh tế, văn hóa, do đó đại bộ phận còn rất trẻ, trong đó thanh niên chiếm từ 70 - 80%, có đơn vị chiếm 100%. Vì thế, Đoàn có vai trò rất lớn đối với sản xuất công nghiệp và xây dựng giai cấp công nhân.

Qua phong trào xung phong tình nguyện vượt mức kế hoạch năm năm lần thứ nhất, đi đôi với nhiệm vụ tổ chức, động viên thanh niên hoàn thành các chỉ tiêu, kế hoạch được giao, làm ra nhiều sản phẩm cho xã hội, góp phần xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật cho chủ nghĩa xã hội, làm hậu thuẫn cho công cuộc đấu tranh thống nhất nước nhà,v.v... Đoàn còn có một nhiệm vụ hết sức nặng nề là giáo dục, đào tạo đội ngũ công nhân trẻ. Đại bộ phận công nhân mới vào nghề đều xuất thân từ nông thôn, chưa được rèn luyện trong môi trường sản xuất công nghiệp. Do đó, thông qua phong trào xung phong tình nguyện, thông qua các hoạt động của mình, các cơ sở Đoàn trong công nghiệp đã giáo dục, bồi dưỡng thanh niên về lập trường giai cấp công nhân, về trình độ văn hóa, khoa học kỹ thuật và nghề nghiệp, về đạo đức và lối sống, phong cách của người công nhân mới,v.v...

Chính vì thế mà phong trào tiến quân vào khoa học kỹ thuật càng được thanh niên công nhân hưởng ứng nhiệt liệt. Những tổ hỗ trợ sáng kiến, tổ khoa học kỹ thuật trẻ, câu lạc bộ khoa học trẻ, tổ kiểm tra chất lượng sản phẩm,v.v... ra đời, thu hút hàng vạn đoàn viên, thanh niên vào những hoạt động sáng tạo. Thanh niên Nhà máy Cơ khí Hà Nội, Nhà máy Dệt Nam Định, khu Mỏ Hòn Giai (Quảng Ninh) đã có sáng kiến “Mở hội thanh niên làm kỹ thuật”. Thi đua với thanh niên Nhà máy Cơ khí Duyên Hải (Hải Phòng), lá cờ đầu của ngành công nghiệp, năm 1961, thanh niên thành phố Hà Nội, đã phát huy được 8.800 sáng kiến trong tổng số 13.000 sáng kiến của công nhân toàn thành phố. Thanh niên Xí nghiệp Dược phẩm Hà Nội, thanh niên Nhà máy Dệt Nam Định đã biến chỉ tiêu thao diễn kỹ thuật thành chỉ tiêu sản xuất thường xuyên. Thanh niên Nhà máy Xi măng Hải Phòng, với tinh thần dám nghĩ, dám làm đã đảm nhận trước Đảng ủy và giám đốc khôi phục thành công hệ thống 4 lò nung, nhanh chóng đưa vào sản xuất. Trong số 1.283 thanh niên của nhà máy ghi tên đăng ký phấn đấu vượt mức kế hoạch, hầu hết đã có từ 1 đến 2 sáng kiến trở lên, vượt từ 5 đến 50% định mức và chỉ tiêu kế hoạch. Nguyễn Thị Lý và tổ đá nhỏ ca A của chị gồm toàn thanh niên đã đề ra việc phong danh hiệu “Kiện tướng sáng kiến” cho những đoàn viên có nhiều sáng kiến đạt và vượt chỉ tiêu quy định. Toàn tổ đã phấn đấu hợp lý hóa sản xuất, giảm thao tác thừa, phát huy trên 30 sáng kiến trong vòng 1 năm rưỡi, bố trí lại dây chuyền sản xuất, tiến từ lao động thủ công lên cơ khí, giảm được 60% nhân công, 25% số đầu xe mà vẫn hoàn thành vượt mức kế hoạch. Toàn tổ đã trở thành một tập thể gắn bó với nhau rất mật thiết, cả trong sản xuất và cuộc sống hàng ngày, giúp đỡ nhau cùng tiến bộ, đã trở thành “con chim đầu đàn” của phong trào thanh niên công nhân Hải Phòng và thanh niên công nhân miền Bắc.

Học tập tổ đá nhỏ ca A (Xi măng Hải Phòng), có đội lái máy xúc cảng Hải Phòng, gồm 21 đoàn viên, thanh niên và một số công nhân lớn tuổi. Về sau cả thành phố Hải Phòng đã có 400 tổ sản xuất, thanh niên đăng ký thi đua với tổ đá nhỏ ca A tổ máy xúc cảng.

Đoàn thanh niên Nhà máy Cơ khí Duyên Hải có sáng kiến tổ chức: “Hội thao diễn kỹ thuật”. Chính từ sáng kiến này mà thu hút hàng trăm thanh niên của nhà máy sôi nổi, hăng say học tập văn hóa, học tập lý thuyết và nhất là rèn luyện thao tác, nâng cao nghề nghiệp, có tay nghề giỏi, phấn đấu đạt kết quả cao trong các hội thao diễn. Tuyệt đại bộ phận đoàn viên, thanh niên đã tham gia hội thao và đều đem lại kết quả tốt; hầu hết đạt và vượt chỉ tiêu, định mức quy định. Qua thao diễn, trình độ tay nghề của công nhân trẻ thực sự đã được nâng lên rõ rệt. Qua đây, Đoàn đã kiến nghị sửa đổi một số chỉ tiêu định mức chưa phù hợp với điều kiện sản xuất, đại bộ phận là nâng định mức lao động, xây dựng định mức tiên tiến. Từ đó Nhà máy cơ khí Duyên Hải nói chung và Đoàn thanh niên nhà máy nói riêng đã trở thành lá cờ đầu của ngành công nghiệp. Phong trào học tập và làm theo thanh niên Nhà máy Cơ khí Duyên Hải đã được phát động rộng rãi trong thanh niên, công nhân miền Bắc trong quá trình thực hiện kế hoạch năm năm lần thứ nhất.

Thanh niên khu Mỏ Hòn Gai nỗ lực phấn đấu khắc phục khó khăn, trong “Chiến dịch than Điện Biên Phủ”, đã có 1286 sáng kiến, cải tiến kỹ thuật, đảm nhận xây dựng 9 “công trình thanh niên”, xây dựng 1950 tổ sản xuất, xe, máy mang tên thanh niên. Tất cả đều hoàn thành vượt mức kế hoạch từ 5 ngày đến 3 tháng. Tổ máy khoan BU4, xe Gấu 25, tổ máy xúc EKG1 của Anh hùng Vũ Xuân Thủy là những điển hình tiên tiến, tiêu biểu cho tinh thần dám nghĩ dám làm, quyết giành năng suất lao động cao. Tổ đi lò Đỗ Xuân Ngọc với sáng kiến “Khoan sâu, bắn mìn nặng” đã mở đầu cho phong trào đi lò nhanh của thanh niên vùng mỏ. ở Nhà máy Dệt Nam Định, thanh niên đã đảm nhận hàng chục đề tài nghiên cứu để cải tiến kỹ thuật, hợp lý hóa sản xuất để đạt năng suất cao như cải tiến 778 máy dệt từ tay đập ngang sang tay đập dọc, tăng năng suất mỗi năm 1,4 triệu mét vải và đã giúp nhà máy hoàn thành vượt mức kế hoạch Nhà nước năm 1962 trước 78 ngày. Trước đây mỗi người chỉ đứng được 4 máy, sử dụng 57% công suất, đạt 17,7mét/ca. Nay thanh niên đã cải tiến và hợp lý hóa sản xuất các khâu nên mỗi người đã đứng được 7 máy, sử dụng 77% công suất đạt năng suất 27,37mét/ca.

Với tinh thần “mình vì mọi người”, cùng nhau hoàn thành vượt mức kế hoạch nhà máy, nữ công nhân trẻ Đào Thị Hào đã tự nguyện rời những cố máy quen thuộc của mình để đi hướng dẫn thao tác tiên tiến cho chị em công nhân trẻ mới vào nghề, trong khi thu nhập bị hạ thấp từ 75 đồng xuống chỉ còn 50 đồng/1tháng. Song 400 đồng nghiệp của chị dã thành thạo tay nghề với những thao tác tiên tiến.

Thông qua hoạt động thực tiễn, Đoàn ta đã góp phần tích cực đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ công nhân trẻ, không ngừng nâng cao trình độ văn hóa, khoa học kỹ thuật, nghiệp vụ tay nghề cho anh chị em. Đoàn thanh niên ở các nhà máy, xí nghiệp, công trường đã phối hợp với phòng chuyên môn mở các lớp học nghề ngay tại cơ sở cho công nhân mới vào; mở các lớp học nâng bậc, bổ túc văn hóa, nghiệp vụ; trong đó có cả các lớp đào tạo cán bộ kỹ thuật trung cấp dành cho công nhân. Các tổ chức Đoàn trong các cơ sở công nghiệp coi nhiệm vụ học tập là một tiêu chuẩn thi đua của các chi đoàn, phân đoàn và cho mỗi đoàn viên. Đây cũng là tiêu chuẩn để phân loại đoàn viên, phân loại tổ chức Đoàn ở cơ sở. Chính vì thế mà đoàn viên, thanh niên tham gia học tập rất đông đảo và chăm chỉ.

Trong thư gửi Đại hội tổ, đội lao động xã hội chủ nghĩa toàn miền Bắc ngày 21-6-1963, Bác Hồ đã đánh giá cao vai trò của Đoàn và thanh niên ta. Bác viết: “Cho đến nay đã có trên 6.000 tổ và đội ghi tên thi đua để giành lấy danh hiệu vẻ vang là tổ và đội lao động xã hội chủ nghĩa. 389 tổ và đội đã được công nhận, trong đó có 1.400 chị em phụ nữ, 1.400 công nhân đàn ông, và 3.800 là thanh niên. Thế là thanh niên đã chiếm số đông hơn. Bác có lời khen ngợi thanh niên và khuyên các cháu cố gắng hơn nữa”.

Với nhiệm vụ nặng nề và vẻ vang là bảo vệ công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, làm hậu thuẫn cho cuộc đấu tranh giành thống nhất nước nhà phát huy truyền thống anh dũng, kiên cường trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, trong những năm khôi phục và phát triển kinh tế, thanh niên quân đội luôn luôn nắm chắc tay súng, ra sức rèn luyện kỹ thuật, chiến thuật, sẵn sàng chiến đấu và hăng hái tham gia kiến thiết Tổ quốc. Từ sau Đại hội Đoàn toàn quốc lần thứ II, trong quân đội đã hình thành hệ thống tổ chức Đoàn, lấy đại đội làm cơ sở, mỗi đại đội tổ chức một chi đoàn thanh niên. Năm 1959, Nhà nước ban hành luật nghĩa vụ quân sự. Bên cạnh hàng vạn đoàn viên, thanh niên được chuyển ra bổ sung cho các cơ quan, các ngành kinh tế, văn hóa, xã hội, hàng vạn đoàn viên, thanh niên có giác ngộ chính trị, có trình độ văn hóa, khoa học kỹ thuật đã hăng hái làm nghĩa vụ quân sự, xây dựng quân đội nhân dân Việt Nam từng bước lên chính quy và hiện đại.

Với phong trào thi đua yêu nước, xây dựng và củng cố quốc phòng, đoàn viên và thanh niên quân đội đã nêu cao tinh thần vượt qua khó khăn, gian khổ, vươn lên hàng đầu trong học tập, huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu và tham gia xây dựng chủ nghĩa xã hội. Mở đầu là phong trào thi đua với chi đoàn Mộc Châu. Trong hoàn cảnh hết sức khó khăn, thiếu thốn, đoàn viên, thanh niên chi đoàn Mộc Châu đã có nhiều sáng kiến, đảm bảo huấn luyện tốt và sẵn sàng chiến đấu tốt. Toàn chi đoàn là một tập thể vững mạnh, đoàn kết, tương trợ nhau học tập và xây dựng cuộc sống vui tươi, lành mạnh. Thi đua với chi đoàn Mộc Châu, nhiều chi đoàn thanh niên trong quân đội đã thực hiện tốt công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, làm cho đoàn viên, thanh niên hiểu được vai trò và trách nhiệm của mình, do đó đã hăng hái tập luyện, lập công xuất sắc.

Cùng với các phong trào thi đua trong các ngành kinh tế, văn hóa, giáo dục, nhằm nâng cao hơn nữa chất lượng xây dựng quân đội, Tổng cục chính trị quân đội nhân dân Việt Nam đã phát động trong toàn quân phong trào thi đua “Ba nhất”, hướng vào các mục tiêu phấn đấu xây dựng tư tưởng tốt, huấn luyện và sẵn sàng chiến đấu tốt, xây dựng đơn vị vững mạnh toàn diện. Chỉ sau một thời gian ngắn, đã có 100% chi đoàn và đoàn viên, thanh niên trong các binh chủng, quân chủng sôi nổi đăng ký phấn đấu đạt danh hiệu “Chiến sĩ ba nhất”, vươn lên lập thành tích trong huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu, trong lao động sản xuất và xây dựng đơn vị, trong cuộc sống hàng ngày. Các đồng chí Chu Văn Thanh, Mùa A - Dếnh (dân tộc Mông) là những chiến sĩ bộ đội biên phòng đã dũng cảm, mưu trí, xử lý tốt mọi tình huống trong khi làm nhiệm vụ, nêu gương sáng về tinh thần phục vụ nhân dân, hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao cùng hàng ngàn, hàng vạn điển hình tập thể và cá nhân đã góp phần công sức xây dựng quân đội ngày càng hùng mạnh.

Hòa nhịp với phong trào thi đua của thanh niên trên các mặt trận công nghiệp, nông nghiệp, quân đội, tuổi trẻ trong các cơ quan khoa học, viện nghiên cứu, các trường đại học và trung học chuyên nghiệp,v.v... ra sức đẩy mạnh phong trào phấn đấu học tập, nghiên cứu khoa học, vận dụng kiến thức khoa học và thực tiễn.

Hoạt động của Đoàn và phong trào thiếu nhi trong các trường học cũng có chuyển biến mạnh mẽ. Thực hiện lời dạy của Bác Hồ: “Giáo dục phải phục vụ đường lối chính trị của Đảng và Chính phủ, gắn liền với sản xuất và đời sống của nhân dân. Học phải đi đôi với hành, lý luận phải liên hệ với thực tế”, tuổi trẻ trong các trường đại học đã có nhiều  hoạt động thiết thực. Nhằm cụ thể hóa những nội dung trên, Ban Chấp hành Trung ương Đoàn đã ra Nghị quyết chuyên đề về công tác giáo dục. Ban Bí thư Trung ương Đoàn phối hợp với Bộ Giáo dục phát động phong trào thi đua trong tất cả các trường học, phấn đấu trở thành “học sinh, sinh viên tiên tiến, lớp học tiên tiến” với bốn nội dung cụ thể là: Học tập tốt, lao động và hoạt động xã hội tốt; bồi dưỡng tinh thần và đạo đức xã hội chủ nghĩa: rèn luyện thân thể tốt. Đồng thời các cấp bộ Đoàn đã trở thành những lá cờ đầu cho các nơi học tập, trao đổi lẫn nhau. Đó là trường cấp II Bắc Lý (Hà Nam) không những bảo đảm chất lượng học tập cho học sinh mà còn có sự kết hợp rất chặt chẽ nhiệm vụ giáo dục của nhà trường với các yêu cầu và nhiệm vụ của địa phương. Học tập điển hình Bắc Lý, các trường cấp III Lê Hồng Phong (Nam Định), Huỳnh Thúc Kháng (Nghệ An), Phan Đình Phùng (Hà Tĩnh), Lam Sơn (Thanh Hóa); các trường trung cấp Nông Lâm, Đường sắt; Đại học Tổng hợp, Đại học Sư phạm,v.v... đã có sự kết hợp giữa nhiệm vụ học tập, nghiên cứu khoa học, hoạt động xã hội với xây dựng lớp học tiên tiến, chi đoàn tiên tiến trong học sinh, sinh viên, dần dần phong trào đã mở rộng ra tất cả các trường học ở miền Bắc.

Thấm nhuần lời dạy của Bác Hồ kính yêu: “Vì lợi ích trăm năm thì phải trồng người”, Đoàn thanh niên Lao động Việt Nam rất quan tâm đến nhiệm vụ chăm sóc, giáo dục thiếu niên, nhi đồng, ra sức xây dựng Đội ngày càng vững mạnh để Đội thực sự là lực lượng hậu bị của Đoàn. Đại hội Đoàn toàn quốc lần thứ III đã chỉ rõ: “Đoàn còn phải tăng cường hơn nữa công tác giáo dục thiếu niên, nhi đồng với ý thức đào tạo một lớp người không những cho sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội hiện nay mà còn cần cho sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa cộng sản sau này... Với những đoàn viên lớn tuổi, Đoàn cần bồi dưỡng các em hiểu biết về Đoàn, nâng cao ý thức Đoàn cho các em”.

Nhân kỷ niệm 20 năm ngày thành lập Đội Thiếu niên tiền phong Việt Nam (ngày 15-5-1961) trong thư gửi cho thiếu nhi cả nước, Bác Hồ đã dạy các em 5 điều:

1. Yêu Tổ quốc - Yêu đồng bào
            2. Học tập tốt - Lao động tốt
            3. Đoàn kết tốt - Kỷ luật tốt
            4. Giữ gìn vệ sinh thật tốt
            5. Khiêm tốn, thật thà, dũng cảm.

Để giúp các cán bộ Đoàn quán triệt và thực hiện lời dạy của Bác trong công tác giáo dục thiếu nhi và những mục tiêu, nhiệm vụ do Đại hội Đoàn toàn quốc lần thứ III đề ra, Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đoàn (khóa III) đã bàn chuyên đề về công tác thiếu nhi. Nghị quyết nhấn mạnh: “Phải chuẩn bị cho các em rồi đây trở thành những người lao động nhiệt tình xây dựng chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản, những người biết sống và làm việc trong xã hội đó”. Do đó, cần mở cuộc vận động: “Toàn Đoàn làm công tác thiếu nhi”. Đoàn thanh niên trên mọi lĩnh vực hoạt động khác nhau trong xã hội hãy dành một phần thì giờ, trí tuệ, tài năng của mình về khoa học kỹ thuật, về văn học nghệ thuật, về thể dục thể thao, để giúp cho việc giáo dục thiếu nhi được tốt”.

Nhiều nội dung và hình thức hoạt động phong phú, phù hợp với các em đã được áp dụng trong công tác Đội, lôi cuốn đông đảo các em tham gia như phong trào “Kế hoạch nhỏ”, “Hợp tác xã Măng non”, “Đi thăm miền Nam yêu quý của Tổ quốc”, “Em yêu anh bộ đội”,v.v...

Phong trào “Nghìn việc tốt thực hiện 5 điều Bác Hồ dạy”, giành danh hiệu “Cháu ngoan Bác Hồ” là sáng kiến của Liên đội Thiếu niên tiền phong xã Tam Sơn (Tiên Sơn, Bắc Ninh) được dấy lên từ năm 1961, nay đã trở thành phong trào chung của thiếu nhi miền Bắc. Riêng tỉnh Thanh Hóa, tính đến năm 1964, đã có hơn 10.000 em được công nhận danh hiệu “Cháu ngoan Bác Hồ”, trong đó có 39 em được nhận phần thưởng của Bác. Nhiều điển hình tiên tiến, nhiều gương mặt đẹp trong thiếu nhi xuất hiện khắp nơi. Đó là Bùi Thị Tứ ở Thái Bình cõng bạn đi học suốt 3 năm liên tục. Nguyễn Ngọc Ký ở Nam Định, bị liệt cả 2 tay, đã dùng chân viết mà vẫn học giỏi, Nguyễn Văn Tống ở Hà Tây, dạy bổ túc văn hóa tốt được Nhà nước tặng Huân chương,v.v... và hàng nghìn gương tốt như cứu bạn khỏi chết đuối, nhặt được của rơi trả lại người mất; lao động học tập tốt, giúp đỡ bố mẹ, ông bà, chăm sóc em nhỏ, giúp đỡ gia đình thương binh, liệt sĩ, gia đình neo đơn, người tàn tật,v.v...

Để biểu dương thành tích xuất sắc của tuổi trẻ miền Bắc và rút ra những bài học bổ ích cho việc tổ chức, động viên thanh niên phấn đấu cho sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội, tháng 7 năm 1963, Trung ương Đoàn đã triệu tập Đại hội những người xuất sắc trong phong trào xung phong tình nguyện vượt mức kế hoạch năm năm lần thứ nhất. Có hơn 600 đại biểu xuất sắc, thay mặt cho hơn một triệu nam nữ thanh niên đăng ký phấn đấu tham gia phong trào về dự. Đại hội đã tổng kết các hoạt động của Đoàn và phong trào thanh niên đồng thời biểu dương những điển hình tập thể và cá nhân xuất sắc. Đó là đoàn viên, thanh niên hợp tác xã sản xuất nông nghiệp Đại Phong (Quảng Bình); đoàn viên, thanh niên công nhân Nhà máy Cơ khí Duyên Hải (Hải Phòng); đoàn viên, giáo viên và thanh, thiếu niên học sinh Trường cấp II Bắc Lý (Hà Nam); bác sỹ, y tá trẻ tuổi Bệnh viện Vân Đình (Hà Tây); đoàn viên, thanh niên Hợp tác xã thủ công Thành Công (Thanh Hóa) và phong trào thi đua “Ba nhất” của tuổi trẻ quân đội,v.v... Đó là Trần Văn Giao (Địa chất), Phùng Văn Bằng (Giao thông vận tải), Đỗ Tiến Hảo, Lương Văn Nghĩa... (Nông nghiệp), Vũ Xuân Thủy, Nguyễn Văn Bôn, Đỗ Xuân Ngọc (Công nhân mỏ), Phạm Văn Chức (Lâm nghiệp),v.v... Tại đại hội, đồng chí Lê Duẩn, Bí thư thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã đánh giá cao những cống hiến xuất sắc của đoàn viên, thanh niên ta trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc. Đồng chí Lê Duẩn nói: “Xung phong tình nguyện vượt mức kế hoạch năm năm lần thứ nhất là một phong trào thi đua có nội dung thiết thực, cổ vũ được lòng hăng hái cách mạng của thanh niên, đáp ứng được những yêu cầu của công cuộc cách mạng XHCN ở miền Bắc của chúng ta hiện nay... Đoàn viên và thanh niên khắp nơi trên miền Bắc đã lập nhiều thành tích xuất sắc trên các mặt công tác, sản xuất nông nghiệp, sản xuất công nghiệp, văn hóa, giáo dục, quân sự, bảo vệ trị an,v.v... Các đồng chí rất xứng đáng là những người con ưu tú của nhân dân lao động, những người con tin cậy của Đảng, xứng đáng là cháu Bác Hồ”.

***

Trước tình hình đế quốc Mỹ đẩy cuộc chiến tranh xâm lược ở Việt Nam lên bước mới, tháng 3 - 1964, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã triệu tập “Hội nghị chính trị đặc biệt”. Người kêu gọi: “Mỗi người hãy làm việc bằng hai để đền đáp đồng bào miền Nam ruột thịt”. Đáp lời kêu gọi của Tổ quốc, những người xung phong tình nguyện “vượt mức kế hoạch năm năm lần thứ nhất” đã không tiếc sức mình, nỗ lực phấn đấu vì miền Nam ruột thịt. Bên cạnh 50 vạn đoàn viên, thanh niên và một vạn tập thể đã hoàn thành và hoàn thành vượt mức kế hoạch, đã có thêm 80 vạn đoàn viên, thanh niên tiếp tục tự nguyện đăng ký phấn đấu vượt mức kế hoạch năm năm. Nhiều tập thể chi đoàn phân đoàn và đoàn viên, thanh niên đã nhận thêm phần việc “Vì đồng bào miền Nam ruột thịt” và đã hoàn thành tốt phần việc đó. Nhiều công trình, sản phẩm mới do đoàn viên, thanh niên đảm nhận đã đem lại hiệu quả thiết thực. Thanh niên trên công trường đường sắt Thanh Hóa - Nghệ An nêu khẩu hiệu “Vì ngày mai thống nhất Tổ quốc”, đã hăng hái lao động, tổ chức hợp lý hóa sản xuất, đạt năng suất cao, với nguyện vọng đưa con tàu thống nhất tiến nhanh về phía trước và đã hoàn thành đúng vào dịp sinh nhật của Bác Hồ (19-5-1964), vượt thời gian 4 tháng, được Bác tặng cờ và trao phần thưởng. Chi đoàn phân xưởng thành phẩm Nhà máy dệt kim Đông Xuân (Hà Nội), đã coi mỗi chiếc áo xuất xưởng là một viên đạn bắn vào đầu giặc, đã hoàn thành vượt mức kế hoạch được giao 12%. Thanh niên Nhà máy Cơ khí Trần Hưng Đạo (Hà Nội) đã tập trung giải quyết những vấn đề khó khăn về kỹ thuật, nguyên vật liệu, chế tạo thành công một số bộ phận của máy Điêzen, đòi hỏi độ chính xác cao mà nhà máy phải nhập từ nước ngoài. Chi đoàn Hợp tác xã Thọ Bình (Khoái Châu, Hưng Yên) cùng với đội thuỷ lợi có sáng kiến xây dựng hệ thống máng chìm bên cạnh hệ thống mương máng nổi để vừa tưới nước, tiêu nước cho đồng ruộng, phục vụ tăng năng suất cây trồng. Đồng chí Nguyễn Văn Độ, Bí thư Đoàn Công ty Xây dựng Nam Định đã có sáng kiến cải tạo máy cưa thành máy có hai tác dụng: vừa cưa, vừa khoan, tăng năng suất 400%, được Bác Hồ tặng huy hiệu của Người. Đến tháng 10 - 1964, thanh niên công nhân tỉnh Nam Định đã có 9.500 người vượt kế hoạch từ 10 đến 15%, riêng thanh niên Nhà máy Dệt Nam Định đã vượt 80 vạn mét vải, 6 vạn kilôgam sợi, thanh niên Nhà máy Giấy (Nam Định) vượt kế hoạch thời gian trước 2 tháng.

Phấn khởi được sống, lao động và học tập trong chế độ mới, tuổi trẻ miền Bắc không bao giờ quên nghĩa vụ của mình đối với đồng bào và tuổi trẻ miền Nam ruột thịt. Mỗi hành động, mỗi việc làm của thanh niên miền Bắc đều hướng tới đồng bào và thanh niên đang chiến đấu và hy sinh anh dũng ở tuyến đầu Tổ quốc. Mở đầu là cuộc đấu tranh đòi đối phương phải thi hành Hiệp định Giơnevơ, rồi phong trào phản đối các chiến dịch tố cộng, diệt cộng, luật 10/59; phong trào chống đàn áp và khủng bố thanh niên, sinh viên, học sinh; phong trào đòi trả tự do cho anh Lê Quang Vịnh và tiểu đội gang thép của anh, đòi trả tự do cho Nguyễn Văn Trỗi,v.v... Ngoài những cuộc mít tinh, biểu tình, xuống đường, gửi kiến nghị phản đối,v.v... tuổi trẻ miền Bắc có những đợt hành động “Vì miền Nam ruột thịt”, “Vì thống nhất Tổ quốc”,v.v...

Từ sau Đại hội toàn quốc lần thứ III, hoạt động đối ngoại của Đoàn, Hội được đẩy mạnh để tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ của tuổi trẻ và nhân dân thế giới đối với sự nghiệp chính nghĩa của nhân dân ta. Tại Đại hội Liên hoan Thanh niên và Sinh viên thế giới lần thứ VIII tổ chức ở Henxenki (8 - 1962), Đoàn đại biểu Thanh niên và Sinh viên Việt Nam đã có cuộc tiếp xúc với Đoàn đại biểu Thanh niên và Sinh viên Mỹ. Đây là cuộc gặp gỡ đầu tiên giữa thanh niên và sinh viên hai nước để trao đổi, bàn bạc, phối hợp đấu tranh chống sự can thiệp và áp đặt chủ nghĩa thực dân mới của Mỹ ở miền Nam Việt Nam.

Tháng 9 - 1961, Hội Liên hiệp sinh viên Việt Nam đã đăng cai tổ chức Hội nghị chuyên đề sinh viên quốc tế tại Hà Nội. Hội nghị thu hút hơn 30 đoàn đại biểu, đại diện cho các tổ chức sinh viên khắp các châu lục tham gia. Hội nghị đã trao đổi kinh nghiệm về các vấn đề mà các tổ chức sinh viên quan tâm trong việc phát triển nền giáo dục dân tộc và đấu tranh xóa bỏ tàn tích của chủ nghĩa thực dân trong lĩnh vực giáo dục. Ngày 1-9- 1962 Bác Hồ đã đến thăm và nói chuyện thân mật với các đại biểu. Sau khi trao đổi về kinh nghiệm hoạt động của mình, nêu lên sự phát triển của nền giáo dục Việt Nam, Bác nói: “Cách mạng Tháng Mười Nga vĩ đại đã soi đường cho chúng tôi. Chúng tôi đã không sợ thực dân và phong kiến, mà hăng hái hoạt động cách mạng và cuối cùng cách mạng đã thắng lợi.

Từ sau chiến tranh thế giới lần thứ II, nhiều dân tộc bị áp bức ở châu á, châu Phi và châu Mỹ La tinh đã thoát khỏi ách nô lệ của bọn thực dân, đế quốc và thanh niên các nước ấy được bình đẳng, tự do. Tuy vậy, trên thế giới nhiều thanh niên còn bị áp bức.

Vì vậy, cho nên thanh niên toàn thế giới cần phải đoàn kết nhau lại, tin tưởng vào khả năng đấu tranh của mình và hòa mình với công nhân và nông dân để đấu tranh tiêu diệt chủ nghĩa thực dân, chủ nghĩa đế quốc... đấu tranh để giữ gìn hòa bình thế giới, để thực hiện hợp tác anh em giữa tất cả các dân tộc, để xây dựng đời sống hạnh phúc, tươi vui”.

Là một thành viên trong phong trào thanh niên các nước xã hội chủ nghĩa, với trách nhiệm là một tổ chức thanh niên cộng sản, Đoàn ta rất coi trọng sự đoàn kết nhất trí trong các Đoàn thanh niên các nước xã hội chủ nghĩa, coi đó là nhân tố quan trọng để đoàn kết thanh niên thế giới đấu tranh cho hòa bình, độc lập dân tộc và tiến bộ xã hội.

Sau ngày hòa bình lập lại, Đoàn ta đã cử nhiều đoàn đại biểu sang các nước xã hội chủ nghĩa làm việc, trao đổi kinh nghiệm về hoạt động của Đoàn, công tác thanh niên và phong trào thanh niên, xây dựng kế hoạch hợp tác toàn diện, lâu dài giữa Đoàn thanh niên nước ta với Đoàn thanh niên các nước anh em. Đồng thời chúng ta cũng mời các đoàn đại biểu thanh niên các nước XHCN sang thăm Việt Nam, tạo ra sự hiểu biết lẫn nhau, đem đến cho Đoàn ta và thanh niên ta sự cổ vũ to lớn cả về tinh thần và vật chất. Đoàn ta còn cử nhiều cán bộ sang học tập lý luận, nghiệp vụ công tác Đoàn ở các trường Đoàn các nước anh em. Đặc biệt, Trường Đoàn thuộc Trung ương Đoàn TNCS Lênin Liên Xô đã tiếp nhận hàng trăm cán bộ Đoàn Việt Nam để đào tạo liên tục trong nhiều khóa ngắn hạn, dài hạn cũng như đào tạo nghiên cứu sinh. Trường Đoàn của Đoàn thanh niên tự do Đức (CHDC Đức) cũng đã tiếp nhận nhiều cán bộ Đoàn Việt Nam sang học và thực tập về công tác Đoàn. Nhờ hoạt động đối ngoại tích cực mà chúng ta đã tranh thủ được sự đồng tình và ủng hộ của các tổ chức thanh niên, phong trào thanh niên và nhiều nhân vật tiêu biểu ở nhiều nước trên thế giới,v.v... đối với sự nghiệp của Đoàn ta và tuổi trẻ nước ta.

***

Sau 10 năm (1954 - 1964) tham gia khôi phục và phát triển kinh tế - văn hóa - xã hội, tuổi trẻ miền Bắc đã có sự cống hiến xuất sắc, thể hiện là lực lượng xung kích cách mạng, thông qua đó hàng triệu bạn trẻ đã được thử thách, rèn luyện và trưởng thành về mọi mặt; tổ chức Đoàn và các Hội được củng cố, phát triển.

Là một tổ chức chính trị - xã hội, Đoàn ta đã quán triệt các chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước bằng các phong trào hành động cách mạng của quần chúng thanh niên.

Tuy nhiên, sau ngày hòa bình lập lại, do chưa có kinh nghiệm chỉ đạo công tác thanh niên trong thời kỳ xây dựng, trình độ đội ngũ cán bộ Đoàn và cán bộ thanh niên còn rất hạn chế, tổ chức Đoàn còn mỏng nên lúc đầu phong trào chủ yếu là phát huy nhiệt tình và khí thế cách mạng của quần chúng nhằm đáp ứng những yêu cầu trước mắt mà chưa xây dựng được phương hướng, kế hoạch lâu dài và chỉ mới thu hút được một số đối tượng thanh niên tham gia. Những hạn chế đó về sau đã được khắc phục dần bằng các phong trào “Thanh niên tích cực lao động xã hội chủ nghĩa” và nhất là phong trào “Xung phong tình nguyện vượt mức kế hoạch năm năm lần thứ nhất”. So với trước, các phong trào này có tính chất bao quát, thu hút được đông đảo thanh niên trong nhiều đối tượng tham gia.

Thực tế trong 10 năm (1954 - 1964) cho thấy: các phong trào thanh niên và sự tiến bộ của tuổi trẻ đã phát triển theo sự lớn mạnh của Đoàn từ 200.000 đoàn viên sau ngày hòa bình lập lại, đến Đại hội Đoàn toàn quốc lần thứ II phát triển lên 420.000 đoàn viên và đến Đại hội Đoàn toàn quốc lần thứ III là 780.000 đoàn viên sinh hoạt trong 12.000 chi đoàn cơ sở, tổ chức Đoàn đã có ở khắp nơi, đến thôn xóm, khu phố, trường học, cơ quan,v.v...

Giúp Đảng và Nhà nước giáo dục, đào tạo thế hệ trẻ là chức năng chủ yếu của Đoàn, là quyền lợi thiết thực của mỗi đoàn viên, thanh niên. Vì vậy, đi đôi với việc giáo dục đoàn viên, thanh niên thông qua hoạt động thực tiễn, các cấp bộ Đoàn đã coi trọng công tác giáo dục chính trị, tư tưởng nhằm góp phần nâng cao nhận thức về tình hình, nhiệm vụ; về đường lối chính sách của Đảng và nhà nước; về chủ nghĩa xã hội, về Đảng, về Bác Hồ, về lý tưởng và mục đích phấn đấu của đoàn viên, thanh niên,v.v... Trong 10 năm khôi phục và phát triển kinh tế - văn hóa - xã hội, Đoàn ta đã có rất nhiều đợt học tập, sinh hoạt chính trị như học tập về luật cải cách ruộng đất, về đổi tên Đoàn, cải tạo công thương nghiệp tư bản tư doanh, hợp tác hóa nông nghiệp, về Bác Hồ, về kế hoạch Nhà nước năm năm lần thứ nhất, các nghị quyết của Đảng, của Đoàn,v.v... Chính do sự giác ngộ về chính trị và tư tưởng đó của đoàn viên, thanh niên đã tạo ra cho Đoàn và các tổ chức thanh niên ta thế phát triển vững chắc, đủ sức đảm nhận những nhiệm vụ ngày càng nặng nề và to lớn hơn trong giai đoạn cách mạng sau.

 

CHƯƠNG IX
THANH NIÊN MIỀN NAM THAM GIA ĐẤU TRANH BẢO VỆ HÒA BÌNH, ĐÁNH BẠI “CHIẾN LƯỢC CHIẾN TRANH ĐẶC BIỆT” CỦA ĐẾ QUỐC MỸ

---

1. Phong trào đấu tranh chính trị, diệt ác phá kìm kẹp, tiến tới Đồng Khởi, giành quyền làm chủ về tay nhân dân.

Với âm mưu chia cắt đất nước lâu dài, biến miền Nam thành thuộc địa kiểu mới, đế quốc Mỹ từng bước hất cẳng Pháp, đưa Ngô Đình Diệm cùng bọn tay sai lên nắm quyền thống trị, thẳng tay đàn áp phong trào cách mạng miền Nam và phá hoại công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc.

Nhân dân và tuổi trẻ miền Nam vừa được hưởng niềm vui thắng lợi của 9 năm kháng chiến đã phải tiếp tục cuộc đấu tranh trong điều kiện mới vô cùng gay go, gian khổ để đòi Mỹ - Diệm phải thi hành Hiệp định Giơnevơ, đòi quyền dân sinh, dân chủ, bảo vệ các quyền lợi ta đã giành được, chống khủng bố và trả thù những người kháng chiến cũ.

Để bảo toàn lực lượng, tiếp tục lãnh đạo nhân dân miền Nam tranh đấu với kẻ thù mới vô cùng xảo quyệt, gian ác, tổ chức của Đảng phải rút vào hoạt động bí mật. Các Đảng bộ miền Nam tiến hành sắp xếp và củng cố lại tổ chức, thực hiện chủ trương bám đất, bám dân, trực tiếp lãnh đạo phong trào đấu tranh để gìn giữ lực lượng cách mạng và chuẩn bị cho cao trào cách mạng mới.

Các tổ chức cách mạng đều rút vào hoạt động bí mật. Đoàn Thanh niên Cứu quốc không còn hệ thống dọc, chỉ còn chi đoàn cơ sở do chi bộ Đảng trực tiếp lãnh đạo. Các tổ chức quần chúng công khai đã hình thành.

Ở nông thôn, cùng với nông dân, thanh niên tham gia vào các tổ vần công, đổi công, các hội hiếu, hội hỉ, các đội đá banh, bóng chuyền, đội múa lân, đội văn nghệ. Để duy trì các hoạt động đó, nhiều nơi còn đòi Hội đồng hương chính tài trợ tiền để đi biểu diễn văn nghệ, đấu giao hữu thể thao giữa các ấp, các xã với nhau... qua đó móc nối liên kết phong trào.

Ở đô thị, thanh niên được tổ chức vào nghiệp đoàn, thanh niên học sinh, sinh viên lập các nhóm học tập, vào hội truyền bá quốc ngữ, nhóm du ngoạn, thể thao, văn nghệ... Tổ chức đi tham quan di tích lịch sử, danh lam thắng cảnh, truyền bá các bài ca yêu nước, bài ca kháng chiến.

Tại thành phố và đô thị miền Nam, nổi lên phong trào đấu tranh bảo vệ hòa bình, đòi hiệp thương tổng tuyển cử, chống “trưng cầu dân ý” lừa bịp, chống bầu cử quốc hội bù nhìn, chống đuổi nhà, dồn dân, đòi công ăn việc làm. Từ cuối năm 1954 đến giữa năm 1955, hàng trăm ủy ban đấu tranh bảo vệ hòa bình được thành lập, tiêu biểu là phong trào hòa bình Sài Gòn - Chợ Lớn. Hưởng ứng phong trào bảo vệ hòa bình do Luật sư Nguyễn Hữu Thọ làm Chủ tịch, ngày 1-8-1954, 50 ngàn thanh niên và nhân dân Sài Gòn, 15 ngàn nhân dân và thanh niên Huế, 25 ngàn nhân dân và thanh niên Đà Nẵng xuống đường mít tinh, biểu tình mừng hòa bình, đòi thi hành Hiệp định Giơnevơ, đòi tổ chức tuyển cử tự do, hòa bình thống nhất đất nước.

Hoảng sợ trước làn sóng đấu tranh đó của tuổi trẻ và nhân dân miền Nam, Mỹ - Diệm thẳng tay đàn áp các cuộc mít tinh, biểu tình, trả thù những người kháng chiến.

Cuối năm 1954, Mỹ - Diệm bắt giam các nhân sĩ, trí thức lãnh đạo phong trào bảo vệ hòa bình, trong đó có Luật sư Nguyễn Hữu Thọ, Giáo sư Nguyễn Văn Dưỡng, Giáo sư Phạm Huy Thông, Giáo sư Từ Bá Đước,v.v... Mỹ - Diệm còn cho bọn mật vụ, ác ôn, lùng sục, vây bắt rồi bí mật thủ tiêu những người kháng chiến cũ. Tại Quảng Nam, nhiều vụ trả thù tàn khốc xảy ra như vụ Vĩnh Trinh, Duy Xuyên, Tiên Phước.

Đàn áp, trả thù tàn bạo, nhưng Mỹ - Diệm cũng không thể dập tắt được phong trào đấu tranh của thanh niên và nhân dân miền Nam. Hưởng ứng lời kêu gọi của Mặt trận Liên Nam Bộ, ngày 10-7-1955, ở Sài Gòn, Gia Định, Chợ Lớn và nhiều nơi khác như Mỹ Tho, Sa Đéc, Long Xuyên, Gò Công... nổ ra tổng bãi công, bãi thị. Nhân dân và thanh niên đã tảy chay trò hề “trưng cầu dân ý” của Diệm. Ngày 10-11-1955, 40 ngàn công nhân cao su Biên Hòa, Bà Rịa, Thủ Dầu Một, Tây Ninh... đình công đòi tăng lương, đòi tự do dân chủ. Ngày 1-5-1956, gần nửa triệu công nhân, thanh niên lao động Sài Gòn và các tỉnh, giương cao khẩu hiệu “Thống nhất đất nước bằng phương pháp hòa bình”, “Nước Việt Nam độc lập và thống nhất muôn năm”.

Cuộc đấu tranh của học sinh, sinh viên vốn đã có từ trước, nay cũng có bước phát triển mới, mang sắc thái riêng. Ngay sau ngày hòa bình lập lại, hình thức tổ chức hiệu đoàn học sinh được ta đưa từ vùng chiến khu vào thành phố để tổ chức tập hợp học sinh, chăm lo đến quyền lợi của học sinh về đức, trí, thể, mỹ, được đông đảo thanh niên học sinh hưởng ứng. ở Sài Gòn, các Trường Huỳnh Khương Ninh, Nam Việt, Việt Nam học đường đã tổ chức được hiệu đoàn, dần dần lan rộng ra hầu hết các trường. Tuy nhiên, đây cũng là một cuộc đấu tranh quyết liệt, vì chế độ Ngô Đình Diệm biết rằng hiệu đoàn học sinh là của ta, nên chúng không dễ gì chấp nhận. Tại Trường Kiến Thiết (Sài Gòn), các vị trí quan trọng như Hiệu trưởng, Giám thị đều do bọn phản động nắm nên cuộc đấu tranh phải kéo dài từ 1954 đến 1959 mới giành được thắng lợi. Hình thức đấu tranh của học sinh phổ biến là đòi lập hiệu đoàn, cử đại diện, đưa kiến nghị, yêu sách với ban giám hiệu, dần dần các trường liên kết với nhau dưới hình thức liên trường, hỗ trợ nhau kịp thời khi cần thiết, mở rộng hoạt động thành phong trào và tranh thủ sự đồng tình của các giới. Đây là một tổ chức hợp pháp, có hệ thống do Đoàn chỉ đạo, mở ra cho phong trào học sinh nói riêng và phong trào thanh niên đô thị nói chung một khả năng phát triển mới.

Một phong trào không kém phần sôi nổi, là đấu tranh chống sự xâm nhập của văn hóa đồi trụy, phản động cũng do các tổ chức Đoàn và hiệu đoàn học sinh chỉ đạo. Hình thức phổ biến là phát động thanh niên “Tẩy chay không nhận, không xem, không hưởng ứng”... các loại sách, báo, văn hóa phẩm, phim ảnh của Mỹ - Diệm và phương Tây. Chúng tung hàng loạt Tạp chí “Thế giới tự do” vào các trường, các khu phố, nhưng không được đông đảo thanh niên hưởng ứng. Do trái với đạo lý, trái với thuần phong mỹ tục của dân tộc nên các giới, cha mẹ học sinh ủng hộ phong trào đấu tranh của giới học sinh, thanh niên. Ngoài ra, phong trào đấu tranh đòi chuyển ngữ đại học, đòi dạy tiếng Việt ở bậc đại học vốn đã có từ năm 1953-1954, nay lại dấy lên trong các trường đại học. Phong trào tuy không rầm rộ, sôi nổi, nhưng quyết liệt. Bởi, nếu phải chấp nhận thì Mỹ - Diệm buộc phải thay đổi toàn bộ giáo trình bậc đại học. Cuộc đấu tranh kiên trì từng bước của học sinh, sinh viên cho đến năm 1960 buộc địch phải thực hiện chuyển ngữ hoàn toàn từ tiếng nước ngoài sang tiếng Việt ở các trường đại học.

Tháng 7-1957, cuộc đấu tranh của hàng trăm học sinh trường tư, do đồng chí Hồ Hảo Hớn, Phó Bí thư Ban Cán sự học sinh, sinh viên Sài Gòn - Gia Định trực tiếp chỉ đạo đã cử đoàn đại diện gồm 5 người đưa kiến nghị trực tiếp với Tổng giám đốc Nha học chính, đòi mở thêm trường công, chuyển ngữ đại học. Đây là cuộc đấu tranh trực diện đầu tiên với chính quyền Diệm, do đó chúng rất lúng túng, không kịp đối phó, cuối cùng chúng phải nhận đơn và hứa hẹn giải quyết. Tháng 2 - 1958, phát huy thắng lợi cuộc đấu tranh lần trước, Ban cán sự học sinh - sinh viên Sài Gòn - Gia Định lại tổ chức cuộc đấu tranh đòi tăng học bổng, bỏ lệ phí thi cử, giảm học phí trường tư, chuyển ngữ đại học. Cuộc đấu tranh lần này liên kết được nhiều trường, quy mô lớn hơn, tập hợp thành đoàn biểu tình, có biểu ngữ, đấu tranh trực diện với Bộ quốc gia giáo dục ngụy. Địch đối phó, bắt nhiều học sinh đưa về bốt. Chúng đe dọa, khủng bố tinh thần, nhằm tìm ra đầu mối tổ chức, nhưng anh chị em không nao núng, kiên quyết đòi phải trả tự do cho những người bị bắt. Chỉ sau vài tiếng đồng hồ, buộc chúng phải trả hết những anh chị em bị bắt, cuộc đấu tranh tuy chưa thu được kết quả ngay nhưng là một dịp tuyên truyền, giác ngộ quyền lợi dân sinh, dân chủ học đường trong học sinh, sinh viên nhiều trường, liên kết lực lượng, tập dượt đấu tranh trên quy mô lớn, góp phần phá vỡ một bước quan trọng âm mưu “tách chính trị ra khỏi học đường”.

Đầu năm 1959, địch đưa ra tòa xét xử 5 đại diện học sinh trong cuộc đấu tranh trực diện với Nha học chính năm 1957 hòng ngăn chặn phong trào đấu tranh của học sinh, sinh viên. Hàng ngàn học sinh, sinh viên kéo đến trước tòa án biểu dương lực lượng, đòi địch hủy bỏ bản án. Trước khí thế đấu tranh mạnh mẽ của quần chúng, chúng đã phải tuyên bố hủy bỏ vô thời hạn cuộc xử án.

Cuộc đấu tranh chống văn hóa lai căng, đồi trụy, phản động của thanh niên, học sinh, sinh viên miền Nam ngày càng phát triển mạnh mẽ, với những hình thức phong phú, đa dạng, từ chỗ tập hợp lẻ tẻ từng nhóm, từng lớp, từng trường liên trường và mở rộng ra cả đường phố, dưới các dạng học tập, báo tường, báo liếp, sinh hoạt văn nghệ thể thao, du ngoạn, cắm trại; nhất là nhân dịp diễn ra các ngày kỷ niệm như 9-1, 19-5, 20-7, kỷ niệm Bà Trưng, Bà Triệu, Quang Trung,v.v... anh chị em đã tổ chức họp mặt, diễn đàn, hội thảo, thăm mộ anh Trần Văn Ơn, tham quan các di tích lịch sử,v.v... để cổ vũ tinh thần dân tộc.

Sự phát triển phong trào học sinh, sinh viên và thanh niên đô thị đã làm cho Mỹ - Diệm lo sợ. Chúng tăng cường đàn áp, khủng bố với nhiều hình thức từ bắt bớ, tù đày, tra tấn đến mua chuộc, dụ dỗ,v.v... tuy có gây nhiều khó khăn, thiệt hại nhưng phong trào học sinh, sinh viên vẫn tiếp tục phát triển, vẫn là mũi nhọn sắc bén trong cuộc đấu tranh chính trị của nhân dân miền Nam. Các phong trào đấu tranh đòi hòa bình, dân chủ, dân sinh, chống “tố cộng, diệt cộng” đã lôi cuốn hàng triệu lượt người tham gia bao gồm mọi lứa tuổi, các dân tộc, tôn giáo, ở khắp mọi nơi từ Quảng Trị đến Cà Mau. Trong 2 năm (1955-1956) có 7 triệu lượt người tham gia đấu tranh chính trị; năm 1957 có 3 triệu lượt người; năm 1958 có 3,7 triệu lượt người; năm 1959 có 5 triệu lượt người tham gia.

Để chuẩn bị lâu dài cho cuộc chiến đấu với kẻ thù, lợi dụng địch bắt lính ồ ạt, nhiều cán bộ, đoàn viên và thanh niên cốt cán được bố trí vào các sắc lính của địch làm cơ sở nội tuyến. Ở Biên Hòa, Bà Rịa, Bến Tre... có tới một nửa số dân vệ là người của ta. Tại Thủ Dầu Một, riêng đồng chí Mười Niên, cán bộ thanh niên tỉnh đã đưa trên 200 thanh niên vào dân vệ, bảo an và quân chủ lực địch. Tại Rạch Giá, đại đội cảnh vệ binh đặc khu An Phước có 130 người thì 90 người là của ta... Trong các giáo phái đối lập với chính quyền Ngô Đình Diệm, ta đều cài được người của ta. Khi Diệm đàn áp các giáo phái, ta dùng danh nghĩa giáo phái lập các đội vũ trang ly khai, diệt bọn ác ôn, tề, điệp để bảo vệ tổ chức Đảng, bảo vệ cán bộ, giữ vững phong trào. Tây Ninh có đại đội 25 Cao Đài ly khai; Bà Rịa, Biên Hòa có các đội vũ trang Bình Xuyên, Hà Tiên, Rạch Giá, Cần Thơ, Sóc Trăng, Long Xuyên có các đơn vị vũ trang Hòa Hảo, nòng cốt trong các đội này là đoàn viên và thanh niên do các đảng viên lãnh đạo.

Trong khi địch đánh phá tổ chức Đảng, lùng bắt đảng viên quyết liệt, đoàn viên và thanh niên vịn cớ thôn xóm mất an ninh, buộc Hội đồng hương chính phải cho lập các đội tự vệ, dân canh, tuần sương chống trộm cướp. Các đội này tổ chức bảo vệ cán bộ, đảng viên, chống bọn mật vụ, thám báo.

Giai đoạn 1955 - 1956, Mỹ - Diệm tiến hành cuộc chiến tranh một phía, đánh phá ta quyết liệt, đó là thời kỳ khó khăn nhất của cách mạng miền Nam. Nhưng Mỹ - Diệm đã không thể diệt tận gốc cộng sản được, dù chúng đã phải tổ chức các chiến dịch “tố cộng, diệt cộng” đến đợt hai, đợt ba như ở Liên Khu V. Nhiều tấm gương giữ vững khí tiết và niềm tin yêu vào lý tưởng cách mạng xuất hiện khắp nơi. Tiêu biểu là Trần Thị Lý, người con gái Gò Nổi, đất Quảng anh hùng, bị tra tấn dã man, chết đi sống lại nhiều lần, với trên 40 vết thương để lại trên cơ thể vẫn giữ vững khí tiết của người đoàn viên thanh niên cộng sản. Noi gương Trần Thị Lý, Phan Thị Cam, Trần Thị Vân, Võ Chuẩn và hàng vạn đoàn viên, thanh niên khác đã nêu cao ý chí cách mạng kiên cường, thà chết chứ không khuất phục, kiên quyết không khai báo cơ sở cách mạng, không ly khai Đảng.

Em Nguyễn Thị Chi, 13 tuổi ở Giồng Trôm (Bến Tre), địch lùng bắt cán bộ, mình em ở nhà nhưng đã đưa anh cán bộ xuống hầm bí mật, ngụy trang, xóa dấu vết, vì có chỉ điểm nên chúng bắt em đánh đập, bắt chỉ hầm, nhưng em vẫn khăng khăng không nhận. Em Nguyễn Thị Thanh, 15 tuổi, ở xã Hàm Chính, huyện Hàm Thuận, (Bình Thuận) làm giao liên cho chi bộ, địch bắt khám trong người có tài liệu, chúng đánh đập, tra khảo, đốt cháy hai lòng bàn chân, em cắn răng chịu đau, không khai nửa lời.

Khí tiết của những đảng viên, đoàn viên thanh niên cộng sản đã cổ vũ khí thế đấu tranh của quần chúng nhân dân và thanh niên. Dù khó khăn đến mấy vẫn một lòng bảo vệ, nuôi giấu cán bộ, đảng viên. Thanh niên vùng căn cứ cũ ở U Minh thượng, U Minh hạ (miền Tây Nam Bộ), chiến khu Đ và vùng căn cứ miền Đông Nam Bộ, các huyện miền núi Trung Bộ và Tây Nguyên không chịu khuất phục Mỹ - Diệm, rủ nhau vào lập Làng Rừng, Làng Thanh niên, Làng Xã hội chủ nghĩa (Cà Mau); lập các căn cứ, trại bí mật miền Đông Nam Bộ, miền Trung và Tây Nguyên). Tại Bình Định, 20 thanh niên ở Bình Khê lập “Đội thanh niên nghĩa hiệp” chống Mỹ - Diệm; 45 thanh niên xã Hoài Sơn, Hoài Nhơn lập “Trung đội Cứu quốc” rồi cử người lên núi tìm Đảng xin vũ khí đánh giặc. ở Phù Cát, Phù Mỹ, Hoài Nhơn thanh niên tự động tổ chức các “Hội thanh niên yêu nước chống Mỹ” có hai nghìn hội viên...

Đầu tháng 6-1956, Bộ Chính trị họp đánh giá tình hình miền Nam, xác định cụ thể: “Hình thức đấu tranh của ta trong toàn quốc hiện nay là đấu tranh chính trị... nói như thế không có nghĩa là tuyệt đối không dùng vũ trang tự vệ trong những hoàn cảnh nhất định...” Từ thực tiễn chỉ đạo phong trào cách mạng miền Nam, tháng 8-1956 đồng chí Lê Duẩn soạn thảo “Đề cương cách mạng miền Nam” vạch ra nhiệm vụ của cách mạng miền Nam là: “Trực tiếp đánh đổ chính quyền độc tài, phát xít Ngô Đình Diệm tay sai Mỹ, giải phóng nhân dân miền Nam khỏi ách đế quốc, phong kiến, thiết lập ở miền Nam một chính quyền liên hiệp có tính chất dân tộc, dân chủ, để cùng miền Bắc thực hiện một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất...”

Chủ trương mới của Đảng là dùng bạo lực cách mạng chống lại bạo lực phản cách mạng, bảo vệ Đảng, bảo vệ nhân dân, đưa cách mạng đến thắng lợi, được nhân dân, nhất là thanh niên nhiệt liệt đón nhận. Tháng 10-1957, tại chiến khu Đ, một căn cứ chủ yếu của cách mạng, Đại đội 250, đơn vị vũ trang tập trung đầu tiên ở miền Nam được thành lập. Đến đầu năm 1958, đơn vị đã phát triển thành tiểu đoàn. Ngay sau khi thành lập, đơn vị 250 đã lập nhiều thành tích chiến đấu, bảo vệ căn cứ và mở rộng phong trào ở miền Đông Nam Bộ. Đến cuối năm 1957 ở Nam Bộ đã có 37 đại đội vũ trang cách mạng. Ở Liên khu V, nhiều đội trừ gian ra đời. Phong trào thanh niên có bước chuyển động mới, là lực lượng đi đầu diệt ác, phá kìm kẹp, tham gia lực lượng vũ trang ở khắp mọi nơi.

Anh Hà Minh Trí (Mười Thương), 22 tuổi ở Tây Ninh đã 3 lần lập kế hoạch tiêu diệt Ngô Đình Diệm. Lần đầu, Diệm lên Tòa Thánh Tây Ninh, nhưng cơ sở ở Sài Gòn báo cận ngày quá, không triển khai kịp. Lần thứ hai, kế hoạch được bố trí chu đáo khi Diệm đến dự lễ Nôen tại nhà thờ Đức Bà, Sài Gòn đêm 24-12-1956, nhưng Diệm đột ngột thay đổi, hắn đi dự lễ Nôen ở khu trù mật Đức Huệ. Làn thứ ba, Diệm bị chết hụt ở Hội chợ Buôn Ma Thuột sáng 22-2-1957. Hà Minh Trí bị bắt đưa về Sài Gòn để khai thác, tra tấn, nhưng trước sau anh chỉ khai là người của Cao Đài, giết Diệm vì ông ta đàn áp giáo phái, làm cho giáo chủ Phạm Công Tắc phải chạy qua Nam Vang. Bị kết án tử hình, nhưng nhờ vỏ bọc Cao Đài nên Diệm không xử ngay mà đày ra Côn Đảo. Sau khi anh em Diệm bị giết, năm 1964 chúng đưa anh về đất liền. Năm 1965, Phan Khắc Sửu là người của Cao Đài lên làm Thủ tướng, anh chống án lên Thủ tướng. Tháng 10-1965, chúng trả tự do cho Hà Minh Trí, anh trở lại đội ngũ tiếp tục chiến đấu.

Mỹ - Diệm đã biến bộ máy văn hóa, giáo dục tại miền Nam làm công cụ đầu độc thanh niên trở thành những mẫu người thích nghi với một xã hội tư sản, hoàn toàn lệ thuộc Mỹ, có tư tưởng quốc gia chống cộng, có lối sống Mỹ, xa rời truyền thống đạo lý, văn hóa dân tộc.

Trong thông điệp gửi cho tay sai các cấp, Ngô Đình Diệm nhấn mạnh: “Văn hóa tư tưởng là một lĩnh vực đặc thù mà kết quả của nó có tính chất quyết định cho cuộc đọ sức... đây là cuộc chiến tranh ý thức hệ chống lại ý thức hệ, chiến tranh lý tưởng đối đầu lý tưởng”. Với thủ đoạn đầu độc về lý tưởng bằng chiêu bài “Độc lập”, “Quốc gia”, “Tự do, dân chủ”, với triết lý duy tâm “nhân vị, duy linh”, nói xấu miền Bắc, xuyên tạc lịch sử đi đôi với trụy lạc hóa về lối sống, mua chuộc đi đôi với kìm kẹp, đàn áp, khủng bố, tuyên truyền cho sức mạnh vô địch của Mỹ về quân sự và kinh tế, làm cho thanh niên từ phục Mỹ, đi đến sợ Mỹ, để cam tâm làm tay sai cho chúng. Mỹ - Diệm đã tuyên bố quyết tâm: “bôi đen bọn trẻ để cộng sản không nhuộn đỏ lại được” và lớn tiếng hô hào “Bắc tiến, lấp sông Bến Hải”...

Từ năm 1957 trở đi, Mỹ bắt đầu kế hoạch dài hạn 5 năm xây dựng quân đội ngụy có chất lượng cao hơn.

Diệm tăng cường bắt lính, đôn quân, ban hành luật quân dịch, khuyến khích thanh niên trí thức vào các trường sĩ quan, ưu đãi họ để đào tạo thành những chỉ huy quân ngụy, tuyệt đối trung thành với Mỹ. Dùng mọi thủ đoạn, kể cả việc đánh hỏng hàng loạt thí sinh kỳ thi tú tài phần I, đẩy họ vào các trường hạ sĩ quan và vào sắc lính.

Trước tình thế đó, thanh niên phải đấu tranh chống bắt lính, đôn quân để bảo vệ mình. Ngày 25-4-1957, đồng chí Võ Đông Sơn, nguyên huyện Đoàn ủy viên, Bí thư chi đoàn xã Thanh Phước (Gò Dầu, Tây Ninh) dẫn đầu hàng trăm thanh niên kéo lên dinh quận trưởng đấu tranh đòi hoãn quân dịch, chúng nổ súng, đồng chí hy sinh, lập tức nhân dân quận lỵ khiêng xác đồng chí lên tỉnh đấu tranh tố cáo tội ác Mỹ - Diệm và đòi bồi thường. Tại khu trù mật Hậu Nghĩa (nay thuộc tỉnh Long An) nữ đồng chí Tư Vân, cán bộ thanh vận quận, lãnh đạo nhân dân đấu tranh giải thoát cho 100 thanh niên bị bắt vào lính. Đấu tranh chống bắt lính nổ ra ở hầu khắp các tỉnh, nhưng tập trung và rầm rộ là ở Tây Ninh. Tháng 10-1957, theo sự chỉ đạo của tỉnh ủy, hàng vạn người kéo lên tất cả các quận đưa đơn xin miễn, hoãn quân dịch. Nổi bật là cuộc đấu tranh của quận Châu Thành, chủ lực là hai xã Hải Đước, Phước Vĩnh, có nhân dân các xã Thái Bình, Thanh Điền hỗ trợ kéo lên dinh Quận trưởng đóng tại thị xã đòi hoãn, miễn quân dịch. Mấy ngàn người bao vây dinh, tên quận trưởng Huê định cho lính đàn áp, đoàn viên Tô Thị Hoa (xã Hải Đước) đã xô tới dùng khúc mía đánh túi bụi vào đầu tên Huê, mọi người xông vào ẩu đả, chúng phải huy động bảo an, dân vệ, cảnh sát đến đàn áp. Tô Thị Hoa bị chúng bắt cùng hàng trăm bà con. Nhân dân tiếp tục đấu tranh, chúng thả gần hết còn giữ lại 15 người trong đó có Tô Thị Hoa, chúng đánh đập tra tấn hết sức dã man nhưng Hoa vẫn giữ vứng khí tiết một đoàn viên. ở Tây Nguyên nếu chỉ dựa vào già làng và chủ làng, địch vẫn bắt được một số thanh niên đi lính (vì chúng dọa nếu không nộp thanh niên chúng sẽ đốt làng). Quận An Khê (Plâycu), rút kinh nghiệm đó, vận động giác ngộ thanh niên trốn ra ở rừng, không còn thanh niên ở lại làng, địch không bắt được lính mà cũng không có cớ để đốt làng. Kinh nghiệm này phổ biến thành phong trào toàn tỉnh...

Cùng với phong trào chống bắt lính, phong trào xin gia nhập bộ đội cũng phát triển. Nhiều gia đình tha thiết xin cho con đi bộ đội đánh giặc hơn là để ở nhà bị chúng bắt lính chống lại cách mạng, nên họ đã chuẩn bị đầy đủ mọi mặt cho con em mình lên đường chiến đấu. Ngoài trang bị đồ dùng cá nhân cần thiết, nhiều gia đình còn đánh xe bò chở theo 20 đến 30 giạ lúa (4 đến 6 tạ) làm lương ăn đánh giặc. Phong trào tòng quân của thanh niên sôi nổi như vậy, nên lực lượng vũ trang cách mạng càng lớn mạnh, từ dân quân du kích xã đến các đội vũ trang huyện, tỉnh, liên tỉnh hình thành. Năm 1958, liên tỉnh Trung Nam Bộ (khu 8) có 3 đại đội ở vùng Đồng Tháp Mười. Liên tỉnh Tây Nam Bộ (khu 9) có 3 đại đội, đó là đại đội Lý Thường Kiệt đứng chân tại Lấp Vò, Trà Ôn, Sa Đéc; 2 đại đội ở Cần Thơ và Sóc Trăng. Nhiều cơ sở nội tuyến khởi nghĩa diệt chỉ huy ác ôn, mang súng trở về căn cứ như đồng chí Bảy Nghĩa ở Đông Lung Lớn (Hà Tiên) đưa cả trung đội trở về với nhân dân. ở Tây Ninh làm binh biến tại đồn Trảng Cỏ (Đồn Thuận, Trảng Bàng) và đồn Băng Dung (Phước Vĩnh, Châu Thành). Tại Liên khu V, các huyện miền núi hình thành nhiều nhóm vũ trang do các già làng có uy tín chỉ đạo, tỉnh và liên tỉnh có đội du kích tập trung và các đội võ trang tuyên truyền. Miền Đông Nam Bộ, ta lập đơn vị võ trang lấy danh nghĩa các giáo phái Cao Đài, Hòa Hảo, Bình Xuyên. Đêm 10-8-1957, tập kích vào đồn điền Bến Củi, thu nhiều vũ khí, lương thực và 2 triệu đồng. Đêm 10 rạng sáng 11-11-1958, tập kích quận lỵ Dầu Tiếng (Thủ Dầu Một), đánh thiệt hại nặng 2 tiểu đoàn, diệt 200 tên và bắt 30 tên ngụy, thu 200 súng. Hoảng sợ, 20 đồn bốt chung quanh bỏ đồn rút chạy. Đây là trận đánh lớn đầu tiên của lực lượng vũ trang cách mạng miền Nam. Thua đau ở Dầu Tiếng, Ngô Đình Diệm điên cuồng thẳng tay đàn áp, khủng bố hòng ngăn chặn phong trào cách mạng đang sôi sục ở khắp miền Nam. Ngày 1-12-1958, chúng đầu độc hàng ngàn cán bộ cách mạng và đồng bào yêu nước ở trại giam Phú Lợi, Thủ Dầu Một. Trại giam có 6.000 người, 1.000 người chết ngay vì trúng độc. Phong trào phản đối vụ đầu độc ở Phú Lợi dâng lên khắp ở miền Nam, khắp cả nước ta và nhiều nước trên thế giới. Lực lượng vũ trang ở khắp miền Nam dấy lên phong trào “Trả thù cho đồng bào, đồng chí ở Phú Lợi”.

Năm 1959, lực lượng vũ trang cách mạng đã hình thành ba thứ quân đều khắp các vùng. Xứ uỷ Nam Bộ và Liên khu uỷ V chỉ đạo tăng cường các hoạt động vũ trang, hỗ trợ nhân dân nổi dậy phá ách kìm kẹp, giành quyền làm chủ, chống cướp đất, dồn dân lập các khu trù mật, ấp tân sinh, khu dinh điền... Trước phong trào cách mạng đang dâng lên mạnh mẽ, Ngô Đình Diệm tuyên bố đặt miền Nam trong tình trạng chiến tranh (23-3-1959), đến tháng 5 - 1959 ban hành luật 10 - 59, lập tòa án lưu động, kéo lê máy chém đi “xét xử” những người yêu nước, chỉ có hai mức án là tử hình và khổ sai chung thân.

Trong không khí sục sôi căm thù và trước xu thế vùng dậy của quần chúng, Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 15 (khóa II) họp ngày 13-1-1959 xác định đường lối và phương pháp cách mạng. Hội nghị đề ra nhiệm vụ cơ bản của cách mạng miền Nam là: “Giải phóng miền Nam khỏi ách thống trị của đế quốc và phong kiến, thực hiện độc lập dân tộc và người cày có ruộng, xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh”. Hội nghị khẳng định: Ngoài con đường cách mạng, nhân dân miền Nam không có con đường nào khác để tự giải phóng khỏi xiềng xích nô lệ. Chỉ có thắng lợi của Cách mạng mới chấm dứt cảnh cùng khổ của nhân dân miền Nam, mới triệt để làm thất bại mọi chính sách nô dịch, chia cắt và gây chiến của đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai ở miền Nam.

Nghị quyết Hội nghị lần thứ 15 của Trung ương Đảng kết luận: “Con đường phát triển cơ bản của cách mạng Việt Nam ở miền Nam là con đường bạo lực. Lấy sức mạnh của quần chúng, dựa vào lực lượng chính trị của quần chúng là chủ yếu kết hợp với lực lượng vũ trang, đánh đổ quyền thống trị của đế quốc và phong kiến, dựng lên chính quyền cách mạng của nhân dân”.

Nghị quyết Hội nghị lần thứ 15 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng có ý nghĩa lịch sử to lớn, mở đường cho cách mạng miền Nam tiến lên, làm xoay chuyển tình thế, dẫn đến cuộc “Đồng khởi” oanh liệt toàn miền Nam năm 1960.

Ngay sau Hội nghị lần thứ 15 của Trung ương Đảng, nhằm đáp ứng yêu cầu mới của cách mạng miền Nam, Bộ Chính trị chủ trương lập đơn vị vận tải quân sự dọc Trường Sơn, gọi tắt là Đoàn 559, và đơn vị vận tải vượt biển Đông, gọi tắt là Đoàn 759. Đoàn 559 và Đoàn 759, đường Hồ Chí Minh trên bộ và trên biển có vai trò và vị trí chiến lược trong toàn bộ cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, là biểu tượng của chủ nghĩa anh hùng cách mạng của tuổi trẻ và nhân dân Việt Nam. Thanh niên các dân tộc miền Tây, Trị Thiên và Tây Nguyên trong những ngày đầu mở đường đã gùi hàng chục tấn vũ khí, hàng hóa cùng với những đoàn tàu “Không số” chở hàng chục tấn hàng quân sự tiếp sức cho phong trào cách mạng của nhân dân miền Nam đang nổi dậy.

Ở miền Trung, nhân dân nhiều vùng đã rút vào rừng lập căn cứ chống Mỹ, lập chính quyền tự quản, xây dựng các đội vũ trang mà nòng cốt là thanh niên như vùng Thồ Lồ, huyện Đồng Xuân (Phú Yên) giáp giới 3 tỉnh Đắc Lắc, Gia Lai, Bình Định. ở Bình Định, thanh niên và nhân dân ở huyện Vĩnh Thạnh nổi dậy diệt ác, phá kìm và giành quyền làm chủ ở 60 làng với 5.000 dân. Trước khi có Nghị quyết Hội nghị lần thứ 15 của Trung ương Đảng, nhân dân Bắc ái (Ninh Thuận) nổi dậy phá tan khu tập trung Bờ Râu và Tầm Ngần, trở về làng cũ, xây dựng lực lượng vũ trang, chống càn quét, giữ quyền làm chủ. Tháng 9 - 1959, du kích Bắc ái đã đánh bại cuộc càn của 3.000 quân ngụy, diệt hơn 300 tên. Nữ đoàn viên thanh niên Chamalê Dú chẳng may bị giặc bắt, đã dũng cảm nhảy xuống vực, thà chết chứ không chịu dẫn đường cho giặc. Tại miền Tây Quảng Ngãi, ngày 28-8-1959, 16.000 nhân dân huyện Trà Bồng dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ địa phương, có sự hỗ trợ của lực lượng vũ trang, đã nổi dậy đập tan ngụy quyền ở 16 xã, bức rút 7 đồn, diệt hàng trăm tên tề ngụy ác ôn, lập chính quyền cách mạng ở thôn, xã, xây dựng lực lượng vũ trang. Quận trưởng Trà Bồng chạy trốn về tỉnh lỵ. Cuộc khởi nghĩa nhanh chóng lan sang các huyện lân cận. Nhân dân Sơn Hà, Ba Tơ, Đức Phổ (Quảng Ngãi)... đứng lên vũ trang chống địch càn quét, dồn dân, giành quyền làm chủ ở nhiều thôn xã.

Địch đối phó quyết liệt bằng các cuộc càn quét kết hợp bao vây kinh tế hòng dồn lực lượng cách mạng ở đây vào thế bí để tiêu diệt. Đoàn viên và thanh niên Trà Bồng đã đi đầu trong cuộc nổi dậy, kiên quyết giữ vững thành quả đã giành được. Học tập kinh nghiệm của Trà Bồng, các đơn vị tự vệ ở các huyện xung quanh thuộc tỉnh Quảng Ngãi, Quảng Nam đã đánh trả, bẻ gãy nhiều cuộc càn quét của địch, không những bảo vệ được dân mà còn mở rộng được căn cứ địa cách mạng liên hoàn.

Ở Nam Bộ, nhân dân nhiều nơi ở miền Đông, miền Trung và miền Tây nổi dậy diệt ác, phá kìm kẹp làm tan rã từng mảng bộ máy thống trị và kìm kẹp của địch ở cơ sở.

Ngày 26-9-1959, lực lượng vũ trang cách mạng chặn đánh địch ở Gò Quản Cung, tỉnh Kiến Phong, diệt một tiểu đoàn ngụy và bắt sống 105 tên địch, thu 705 súng. Thừa thắng xốc tới, quần chúng nổi dậy ở các xã ven Đồng Tháp Mười và các tỉnh Trung Nam Bộ.

Đêm 24-9-1959, một đơn vị vũ trang Rạch Giá diệt gọn địch ở chi khu Xẻo Rô, giải phóng nhiều tù chính trị, dấy lên phong trào nổi dậy trong tỉnh và ở miền Tây.

Tại Bến Tre, Tỉnh ủy quyết định phát động “Tuần lễ toàn dân đồng khởi” nhằm phá ách kìm kẹp của địch, xây dựng chính quyền cách mạng, 4 giờ chiều ngày 17-1-1960, huyện Mỏ Cày được chọn làm điểm mở đầu, với vũ khí thô sơ, tự tạo, nhân dân nhất tề nổi dậy, diệt ác, phá đồn, đập tan bộ máy cai trị và hệ thống kìm kẹp của địch ở thôn, xã. Sau thắng lợi của cuộc nổi dậy ở Mỏ Cày, phong trào đồng khởi lan nhanh sang các huyện Giồng Trôm, Châu Thành, Ba Tri, Thạch Phú, Bình Đại... Chỉ sau một tuần đồng khởi, ở Bến Tre có 22 xã được giải phóng hoàn toàn, 29 xã đã diệt ác, vây đồn, giải phóng nhiều ấp. Chính quyền tự quản và lực lượng vũ trang cách mạng được thành lập ở các vùng giải phóng, bọn ác ôn bị đưa ra xét xử, tịch thu ruộng đất của bọn Việt gian, địa chủ chia cho nông dân. Nhân dân vô cùng phấn khởi. Thanh niên nô nức gia nhập dân quân du kích, bộ đội huyện, tỉnh.

Thắng lợi của Đồng Khởi ở Bến Tre đã tác động mạnh đến phong trào cách mạng ở các địa phương lân cận.

Phong trào Đồng Khởi rộ lên khắp các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long, phá tan 2/3 bộ máy kìm kẹp của địch ở cơ sở. Đêm 25-1-1960, lực lượng vũ trang Long An diệt đồn Đức Lập, Đức Hòa mở đầu đồng khởi ở một tỉnh sát nách Sài Gòn. ở Mỹ Tho, Gò Công được đơn vị 514 hỗ trợ và tạo điều kiện cho nhân dân 19 xã ở Cai Lậy, Châu Thành nổi dậy, hình thành vùng giải phóng liên hoàn 32 xã thuộc ba huyện Cai Lậy, Châu Thành, Cái Bè. ở Cà Mau, Bạc Liêu ta diệt chi khu quận lỵ Ông Đốc, san bằng 62 đồn, giải phóng 55 xã, địch chỉ còn đóng ở quận lỵ, thị xã và các căn cứ lớn. Rạch Giá, Sóc Trăng bức rút 50 đồn, giải phóng hoàn toàn 28 xã, 300 ấp.

Theo chủ trương của xứ ủy Nam Bộ, lực lượng vũ trang cách mạng bất ngờ tiến công căn cứ Tua Hai (Tây Ninh) vào đêm 25 rạng ngày 26-1-1960, tiêu diệt và bắt sống 500 tên ngụy, thu 1.500 súng, làm cho tề, ngụy ở Tây Ninh hoang mang, quần chúng phấn khởi vùng lên giải phóng 24 xã trong tỉnh, 70% bộ máy kìm kẹp của địch ở xã, ấp bị xóa bỏ, vùng giải phóng mở rộng đến sát các thị trấn, thị xã, bao quanh các đồn bốt của địch. Hai huyện Châu Thành và Dương Minh Châu trở thành căn cứ của Xứ ủy và Ban Quân sự Miền ở ngay cửa ngõ phía Tây Sài Gòn.

Tỉnh Thủ Dầu Một trong năm 1960 và 25 xã trong số 60 xã được giải phóng. Tỉnh Bà Rịa đêm 2-3-1960 ta đột nhập Bình Ba diệt 3 đồn địch, mở đầu phong trào đồng khởi ở các huyện Châu Thành, Long Đất, Xuyên Mộc, phối hợp với nội tuyến diệt 1 đại đội biệt kích ở Long Mỹ...

Ở Liên khu V, diệt và bức rút 55 đồn và căn cứ, có căn cứ lớn như Măng Đen, Măng Bút, Hà Thành... diệt 40 trung đội dân vệ, bảo an, chủ lực, giành quyền làm chủ 3.200 thôn ấp, cơ sở Đảng ở đồng bằng được phục hồi. Mở rộng và nối liền đường hành lang đông Trường Sơn từ nam giới tuyến đến Tây Nguyên tới miền Đông Nam Bộ. Trong cao trào đồng khởi, thanh niên không chỉ là lực lượng xung kích, mà ở nhiều xã chi bộ Đảng chưa được khôi phục, chi đoàn đứng lên lãnh đạo nhân dân đồng khởi giành chính quyền, nhiều người trở thành đảng viên, khôi phục chi bộ Đảng như các xã Tân Thạch, Hữu Định (Bến Tre). Điển hình là đoàn viên Tư Thanh ở Cù Lao Thái Sơn (Mỹ Tho) đã lội sông sang Bến Tre học tập đường đi nước bước rồi về cùng đoàn viên lãnh đạo nhân dân đồng khởi giành chính quyền, vì ở đây chi bộ Đảng không còn.

Tính đến cuối năm 1960, cao trào đồng khởi của quân dân miền Nam đã căn bản làm tan rã cơ cấu chính quyền cơ sở địch ở nông thôn. Nhân dân đã lập chính quyền tự quản ở 1.383 xã trên 2.627 xã toàn miền Nam, đồng thời làm tê liệt chính quyền xã của Mỹ - Diệm. Ngụy quyền cơ sở ở Tây Nguyên và vùng rừng núi khu V bị quét sạch. Kế hoạch lập khu trù mật của địch bị phá sản. Chính sách “Cải cách điền địa” bị thất bại nặng, 2/3 ruộng đất Mỹ Diệm cướp trước đây đã trở về tay nhân dân...

Trong cao trào đồng khởi, lực lượng vũ trang nhân dân phát triển mạnh, thu hút đông đảo thanh niên tham gia. Ba thứ quân của lực lượng vũ trang (tự vệ, du kích xã; đội vũ trang tỉnh, huyện; tiểu đoàn tập trung ở khu) hình thành rộng khắp và phát triển. Các đội tự vệ, du kích xã có khoảng 10.000 người (Nam Bộ: 7.000, khu V: 3.000). Các đội vũ trang tỉnh, huyện có 12.500 người (Nam Bộ: 7.000, khu V: 5.500). Các đơn vị bộ đội tập trung ở khu có 3.034 người (Đông Nam Bộ 1 tiểu đoàn, khu V hơn một tiểu đoàn). Đây là sức mạnh mới của phong trào cách mạng miền Nam.

Phong trào đồng khởi ở nông thôn thúc đẩy mạnh mẽ phong trào đấu tranh chính trị ở đô thị. Tháng 1-1960, 8.600 công nhân đồn điền cao su Biên Hòa đình công, được sự ủng hộ của toàn thể công nhân cao su Nam Bộ. Ngày 1-5-1960, 1.000 công nhân Sài Gòn mít tinh nêu khẩu hiệu đả đảo đế quốc Mỹ, thành lập chính quyền liên hiệp dân tộc dân chủ. Ngày 20-7, hàng vạn quần chúng ở các đô thị, và nông thôn đã xuống đường biểu tình đòi “đế quốc Mỹ cút khỏi miền Nam Việt Nam”, đòi quyền dân sinh, dân chủ. Tháng 8-1960, 500 thanh niên trại huấn luyện thanh niên cộng hòa ở huyện Tiên Phước, tỉnh Quảng Nam bỏ trại trốn về nhà. Ngày 20-9-1960, hơn 20.000 đồng bào Khơ me, trong đó có 2.000 sư sãi tỉnh Trà Vinh kéo vào thị xã đấu tranh đòi các quyền dân chủ, dân sinh và quyền tự do tín ngưỡng. Ngày 29-9-1960, 45.000 đồng bào nông thôn tỉnh Mỹ Tho kéo vào thị xã đấu tranh buộc chính quyền địch chấm dứt việc bắn pháo vào các thôn xóm. Ngày 4-10-1960, 10.000 đồng bào huyện Cao Lãnh kéo vào thị xã Sa Đéc đấu tranh chống khủng bố, bắt phu, bắt lính. Ngày 15-10-1960, hơn 60.000 đồng bào tỉnh Bến Tre kéo vào thị xã đấu tranh đòi hủy bỏ luật 10/59.

Trong năm 1960, ở miền Nam có 10 triệu lượt người tham gia đấu tranh chính trị. Tiêu biểu nhất là phong trào đấu tranh nhân ngày 20-7-1960. Ngày hôm đó, trên khắp miền Nam nổ ra một đợt đấu tranh rộng lớn. Hình thức đấu tranh phổ biến là bãi công, bãi thị ở thành phố; mít tinh, biểu tình ở nông thôn, biểu tình từ nông thôn vào thành thị. Khẩu hiệu đấu tranh nhằm chống chính sách vơ vét, khủng bố của Mỹ - ngụy, bảo vệ quyền lợi cấp thiết của nhân dân, chống lại toàn bộ chính sách xâm lược và gây chiến của đế quốc Mỹ, động viên nhân dân lật đổ chế độ độc tài Ngô Đình Diệm, tay sai đế quốc Mỹ. Riêng ở Trung Nam Bộ, hàng nghìn cuộc biểu tình đã được tổ chức ở hơn 400 xã (trong tổng số 509 xã), thu hút 60 vạn người tham gia. Đánh giá đợt đấu tranh nhân dịp ngày 20-7 này ở miền Nam, báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng tại Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ III viết: “Cuộc đấu tranh ấy nói lên một cách rõ rệt khí thế cách mạng mạnh mẽ của đồng bào miền Nam ta hiện nay”.

Cao trào nổi dậy của nhân dân ta ở miền Nam được sự ủng hộ và đồng tình của các nước xã hội chủ nghĩa và tổ chức trên thế giới đã lên án chính sách phát xít của Ngô Đình Diệm và ủng hộ cuộc dấu tranh chính nghĩa của nhân dân ta ở miền Nam. Ngày 20-7-1959, “Ngày Việt Nam” được tổ chức ở hơn 20 nước trên thế giới đòi Mỹ rút khỏi miền Nam Việt Nam, đòi Diệm chấm dứt khủng bố, tàn sát và hủy bỏ luật lệ phát xít.

Phong trào đồng khởi trên thực tế đã chuyển cách mạng miền Nam “từ thế giữ gìn lực lượng sang thế tiến công” đã giáng một đòn bất ngờ vào chiến lược Aixenhao, làm thất bại một hình thức điển hình của chủ nghĩa thực dân mới của Mỹ. Đây là một mốc rất quan trọng của cách mạng miền Nam, tạo cơ sở vững chắc để nhân dân ta đánh thắng chiến lược chiến tranh đặc biệt của Mỹ. Một thời kỳ mới của cách mạng miền Nam đã mở ra, thời kỳ nhân dân tiến công liên tục và mạnh mẽ vào các chiến lược và chiến thuật của địch nhằm tiêu hao, tiêu diệt lực lượng địch, phát triển lực lượng của ta, tạo tiền đề cho cách mạng từng bước tiến lên.

Thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ 15 của Trung ương Đảng, sau đồng khởi, các Uỷ ban nhân dân tự quản phát triển ngày càng rộng rãi. Ngày 20-12-1960, tại xã Tân Lập, huyện Châu Thành (nay là Tân Biên), trong vùng căn cứ Tây Ninh, Đại hội Đại biểu Quốc dân miền Nam họp, thành lập Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam. Đại hội đã cử ra Uỷ ban Trung ương, thông qua tuyên ngôn, chương trình hành động 10 điểm, mà nội dung cơ bản là đánh đổ chế độ thuộc địa trá hình của đế quốc Mỹ và chế độ độc tài Ngô Đình Diệm, xây dựng một miền Nam độc lập, dân chủ, hòa bình, trung lập, tiến tới hòa bình thống nhất nước nhà.

2. Tuổi trẻ miền Nam góp phần đánh thắng “Chiến tranh đặc biệt” của Mỹ (1961 - 1964)

Để cứu vãn chế độ Sài Gòn và duy trì, áp đặt chủ nghĩa thực dân mới nhằm đối phó với cao trào cách mạng, Tổng thống Mỹ Kennơđi quyết định thực hiện chiến lược “Chiến tranh đặc biệt” ở miền Nam Việt Nam.

Chiến lược “Chiến tranh đặc biệt” là một hình thức đặc thù của chủ nghĩa thực dân mới của Mỹ được thí điểm ở miền Nam nước ta bằng thủ đoạn “dùng người Việt đánh người Việt”, kết hợp những thủ đoạn chiến tranh xâm lược tàn bạo của đế quốc Mỹ có vũ khí, kỹ thuật hiện đại với những biện pháp khủng bố, đàn áp dã man của bọn phong kiến, tư sản mại bản thân Mỹ ở miền Nam. Lực lượng chủ yếu tiến hành “Chiến tranh đặc biệt” là quân đội của ngụy quyền Sài Gòn do Mỹ tổ chức, trang bị, huấn luyện, chỉ huy và nuôi dưỡng.

Ngày 13-5-1961, Phó Tổng thống Mỹ Giôn xơn và Ngô Đình Diệm ra thông cáo chung với các điểm như: Tăng viện trợ kinh tế, phát triển các lực lượng chính quy ngụy, tăng cường cố vấn quân sự, kêu gọi sự giúp đỡ của các nước chư hầu theo Mỹ xâm lược miền Nam, đẩy mạnh công tác “bình định” nông thôn, chống du kích, lập “ấp chiến lược”, tăng cường hoạt động biệt kích phá hoại miền Bắc...

Để phát triển nhanh quân ngụy, Mỹ cho tăng viện trợ quân sự lên gấp đôi, từ 321,7 triệu đô la (trong đó có 80 triệu đô la vũ khí) cho năm 1961 - 1962, đến năm 1962 - 1963 đã lên 675 triệu (có 100 triệu đô la vũ khí). Vì thế, quân ngụy đã tăng khá nhanh. Từ 15 vạn quân chính quy trong năm 1960 lên 20 vạn quân trong năm 1961, 36,2 vạn quân trong năm 1962. Quân số lực lượng bảo an từ 70.000 tên năm 1960 lên 174.500 tên năm 1962.

Dân vệ trở thành lực lượng vũ trang thường trực gồm 128 đại đội và hơn 1.000 trung đội, 2.000 tiểu đội làm lực lượng chiếm đóng rộng, kìm kẹp nhân dân ở ấp, xã.

Một kế hoạch tổ chức “thanh niên chiến đấu” được thực hiện do CIA phụ trách huấn luyện, trang bị, đài thọ vừa để tăng cường, hỗ trợ cho quân thường trực trong việc bình định gom dân, lập “ấp chiến lược”, vừa bổ sung cho mạng lưới tình báo của Mỹ.

Mỹ-Ngụy coi bình định, dồn dân, lập “ấp chiến lược” là nội dung cơ bản, là “xương sống” của chiến lược “chiến tranh đặc biệt”. Mục tiêu cơ bản của “ấp chiến lược” là kìm kẹp dân để thực hiện “tát nước, bắt cá”, lùng bắt cán bộ, đảng viên cộng sản, tiêu diệt cơ sở cách mạng, đánh phá “tận gốc” phong trào đấu tranh của quần chúng, bóp chết từ đầu các cuộc nổi dậy của quần chúng.

Cách mạng miền Nam đứng trước những thử thách nghiêm trọng. Nhiệm vụ cấp bách trước mắt của tuổi trẻ và nhân dân miền Nam là giữ vững và mở rộng quyền làm chủ đã giành được, đánh bại chiến lược “chiến tranh đặc biệt” của đế quốc Mỹ.

Để cách mạng miền Nam tiến lên một bước mới, Đảng ta chủ trương chuyển khởi nghĩa sang chiến tranh cách mạng. Ngày 23-1-1961, Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng quyết định thành lập Trung ương Cục miền Nam để tăng cường sự chỉ đạo của Trung ương Đảng đối với cách mạng miền Nam.

Tiếp đó, ngày 31-1-1961, Bộ Chính trị ra chỉ thị về phương hướng và nhiệm vụ công tác trước mắt của cách mạng miền Nam, là: đẩy mạnh hơn nữa đấu tranh chính trị, đồng thời đẩy mạnh đấu tranh vũ trang lên song song với đấu tranh chính trị, tiến công địch bằng cả hai mặt chính trị và quân sự.

Do tương quan lực lượng giữa ta và địch ở từng vùng khác nhau nên phải nắm vững phương châm công tác ba vùng. ở vùng núi, lấy đấu tranh quân sự làm chủ yếu. ở vùng đồng bằng, kết hợp giữa đấu tranh chính trị và đấu tranh quân sự. ở vùng đô thị lấy đấu tranh chính trị làm chủ yếu gồm cả hai hình thức hợp pháp và không hợp pháp.

Thực hiện Chỉ thị của Bộ Chính trị, dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Trung ương Cục, Khu ủy khu V và các Đảng bộ địa phương, tuổi trẻ cùng quân dân ta ở miền Nam đã đấu tranh anh dũng, lần lượt đánh bại các mục tiêu của kế hoạch chiến tranh của địch, giành được thắng lợi quan trọng, đưa cách mạng tiến lên vững chắc.

Đảng bộ miền Nam đã có hệ thống tổ chức thống nhất, tập trung từ Trung ương Cục đến các chi bộ. Các cấp ủy quân khu, tỉnh ủy, huyện ủy được củng cố. Công tác phát triển Đảng được quan tâm. Nhiều đoàn viên ưu tú được vinh dự đứng vào hàng ngũ của Đảng, số Đảng bộ lớn mạnh lên trong đấu tranh quyết liệt ngày càng nhiều. Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam nhiệm vụ ngày càng mở rộng. ở các xã giải phóng, ủy ban Mặt trận đã làm chức năng của chính quyền, tổ chức nhân dân chiến đấu, sản xuất, xây dựng cuộc sống mới. Các tổ chức thành viên của Mặt trận thu hút đông đảo các tầng lớp nhân dân, có ảnh hưởng trong nước và ngoài nước.

Lực lượng vũ trang đã hình thành với ba thứ quân rõ rệt. Ngày 15-2-1961 các lực lượng vũ trang cách mạng được thống nhất thành Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam.

Ngày 2-9-1961, Trung đoàn 1 bộ binh (lúc mới thành lập mang bí số C.56 sau đổi là Q. 761) được thành lập tại căn cứ Dương Minh Châu (miền Đông Nam Bộ). Đây là đơn vị chủ lực cơ động cấp trung đoàn đầu tiên của chiến trường miền Nam trong cuộc kháng chiến chống Mỹ.

Tính đến cuối năm 1961, du kích, tự vệ có 100.000 người trong đó thanh niên chiếm 80% (70.000 ở Nam Bộ, 30.000 ở khu V). Nhiều xã vùng giải phóng thành lập được trung đội du kích tập trung, sử dụng một số súng thu được của địch và vũ khí tự tạo. Du kích tự vệ là lực lượng lòng cốt của phong trào đấu tranh chính trị ở xã, ấp, là lực lượng phối hợp chiến đấu quan trọng và nguồn bổ sung thường xuyên cho các đơn vị vũ trang tập trung. Bộ đội địa phương tỉnh, huyện và bộ đội chủ lực khu có 24.500 cán bộ, chiến sĩ. Mỗi huyện đều tổ chức được 1 trung đội bộ đội địa phương, có huyện tổ chức đến đại đội. Mỗi tỉnh có 1 đến 2 đại đội. Bộ đội chủ lực thuộc các quân khu có 11 tiểu đoàn.

Hoạt động của Đoàn và phong trào thanh niên sau đồng khởi có bước phát triển mới. Tất cả các xã vùng giải phóng và vùng tranh chấp đều có chi đoàn hoặc xã đoàn, nhiều nơi hình thành cấp huyện và cấp tỉnh. Hội liên hiệp thanh niên giải phóng thành lập và phát triển là thành viên trong Mặt trận dân tộc giải phóng. Phong trào thanh niên sôi nổi, đi đầu trên nhiều lĩnh vực công tác. Năm 1962 tại Liên khu V, trong đợt 1 tuyển quân đã có 2.600 thanh niên xung phong tòng quân. Xã Hòa Hiệp, huyện Tuy Hòa, (Phú Yên) từ đồng khởi đến năm 1962 đã có 200 thanh niên tòng quân, 400 thanh niên vào du kích. Tính chung lực lượng vũ trang toàn khu từ huyện trở lên có tới 85% là thanh niên, 95% du kích là nam nữ thanh niên. Phong trào chiến tranh du kích phát triển. Hai nữ đoàn viên thanh niên Tạ Thị Kiều (xã An Thạnh) và út Tuyết (xã Đa Phước) tỉnh Bến Tre đã phối hợp hiệp đồng, dùng mưu lấy 2 đồn giặc, thu vũ khí, bắt tù binh. Chị Tạ Thị Kiều được tuyên dương “Anh hùng lực lượng vũ trang quân giải phóng miền Nam”. ở Giồng Trôm (Bến Tre), Lê Văn Chính sáng tạo các kiểu đánh địch, bố trí trận địa toàn vũ khí thô sơ, hầm chông cạm bẫy, lựu đạn già, mìn tự tạo cùng ong vò vẽ diệt một lúc 20 tên ngụy. Tại Cà Mau, đoàn viên Nguyễn Việt Khái, đội trưởng du kích xã Tân Hưng Tây đã dũng cảm đón lõng, chờ cho máy bay địch xuống thấp, với 8 viên đạn các bin, anh đã bắn rơi 2 máy bay địch và bắn bị thương hai chiếc khác. Chiến công của anh đã mở ra phong trào dùng súng trường bắn máy bay địch trong các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long. Nguyễn Việt Khái được tuyên dương “Anh hùng lực lượng vũ trang quân giải phóng miền Nam”. ở Tân Trụ (Long An), trung đội trưởng du kích Huỳnh Văn Đảnh, với 73 viên đại hạ mấy chục tên địch. Tiêu biểu cho chủ nghĩa anh hùng cách mạng của tuổi trẻ miền Nam năm 1962 là chiến công của 10 dũng sĩ Điện Ngọc, huyện Điện Bàn, Quảng Nam. Ngày 20-4-1962, 7 chiến sĩ đặc công do tiểu đội trưởng Lê Tấn Hiển và tiểu đội phó Võ Như Hưng chỉ huy, cùng với 3 cán bộ của huyện ủy Điện Bàn về phát động quần chúng ở xã Điện Ngọc. Địch phát hiện, huy động 1 tiểu đoàn biệt kích và nhiều dân vệ bao vây tiến công. Để bảo vệ tài sản và tính mạng của nhân dân, các anh vừa chiến đấu vừa rút ra ngoài cánh đồng, cố thủ tại một giếng đìa cạn, đánh địch từ 8 giờ sáng tới chiều tối, diệt hơn 100 tên, bên ta có 3 đồng chí hy sinh. Lợi dụng đêm tối, 2 đồng chí nghi binh đánh lạc hướng địch, chôn cất tử sĩ xong đưa thương binh và toàn đội rút về nơi an toàn. Cả 10 người đều là đoàn viên thanh niên. Trận chiến đấu của họ trở thành huyền thoại về 10 dũng sĩ Điện Ngọc anh hùng. Tiểu đội phó Võ Như Hưng về sau chiến đấu nhiều trận, diệt 54 tên địch, bắt sống 9 tên Mỹ, thu 12 súng, phá huỷ nhiều phương tiện chiến tranh và anh dũng hy sinh. Ngày 5 - 5 - 1965 Võ Như Hưng được truy tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang.

Từ năm 1961 đến năm 1964, ở các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long mỗi tỉnh còn có hàng ngàn thanh niên tình nguyện lên miền Đông tham gia bộ đội chủ lực miền, đông nhất là các tỉnh Long An, Mỹ Tho, Bến Tre. Các tỉnh miền Tây như Cần Thơ, Cà Mau, Hà Tiên, Rạch Giá... lựa chọn thanh niên là xã đội trưởng, xã đội phó có thành tích, các trung đội trưởng du kích dày dạn kinh nghiệm đưa về miền Đông để đào tạo thành cán bộ chỉ huy. Riêng tỉnh Rạch Giá trong hai năm 1961 - 1962 đã gửi 2.000 thanh niên lên miền Đông. Phong trào thanh niên tòng quân đã góp phần làm thay đổi tương quan lực lượng quân sự giữa ta và địch. Năm 1960, tỉ lệ 1/17, thì năm 1961 là 1/10 và càng rút ngắn trong những năm sau. Chiến tranh du kích phát triển mạnh trên cả ba vùng chiến lược.

Để có vũ khí cung cấp cho lực lượng vũ trang, đầu năm 1962, những chiếc tàu “không số” đầu tiên lần lượt chở “hàng quân sự” vào Cà Mau. Tháng 3 - 1962, chuyến tàu chở vũ khí do đồng chí Bông Văn Dĩa phụ trách di chuyển trinh sát, mở đường mòn Hồ Chí Minh trên biển từ Bắc vào Nam đã cập bến an toàn ở Rạch Gốc, xã Tân An, huyện Ngọc Hiển, tỉnh Cà Mau. Đồng chí Bông Văn Dĩa đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, được phong tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.

Trung tuần tháng 8-1962, Quân ủy Trung ương thông qua Nghị quyết mở đường vận chuyển chiến lược trên biển. Đoàn 759 bước vào giai đoạn vận chuyển đầy bí mật, bất ngờ, viết nên những trang anh hùng về con đường huyền thoại trên biển Đông - đường Hồ Chí Minh trên biển, góp phần đánh thắng chiến lược “Chiến tranh đặc biệt” của Mỹ.

Trong hai tháng cuối năm 1962, bốn chuyến tàu “không số” đã đưa được 111 tấn vũ khí cho khu 9, cập bến ở Cà Mau an toàn.

Tháng 5-1961, Quân khu Sài Gòn - Gia Định được thành lập, chỉ một thời gian ngắn đã có 20.000 thanh niên thành phố xin gia nhập lực lượng vũ trang, đánh địch trên mọi chiến tuyến. Ngày 26-3-1961, Ban cán sự sinh viên, học sinh Sài Gòn thành lập “Đội vũ trang quyết tử” gồm thanh niên công nhân thợ tiện và anh Hà Văn Hiền lãnh đạo. Ra quân trận đầu, đội diệt tên Uyliam Tômát, chuyên viên cao cấp không quân Mỹ tại đường Ngô Thời Nhiệm. Tiếp đó, đội tập kích bằng lựu đạn vào trụ sở cơ quan USOM của Mỹ trên đường Trần Hưng Đạo, làm 7 tên chết và bị thương, cùng nhiều trận đánh khác. Đặc biệt đội đã nghiên cứu, chuẩn bị công phu, tổ chức diệt tên đại sứ Mỹ Nâutinh trên đường Páttơ, thủ pháo rớt đúng chỗ ngồi của Nâutinh nhưng kíp lâu ngày bị ẩm không phát nổ. Nâutinh thoát chết, nhưng đã gây tiếng vang lớn. Do sơ suất, chúng theo dõi bắt được Lê Hồng Tư và một số đồng chí, đồng đội của anh. Tiếp đó, tháng 8-1961 căn cứ của ban cán sự ở Mỹ Hạnh, huyện Đức Hòa bị địch phát hiện, chúng bất ngờ vây đánh, đồng chí Trần Quang Cơ, Bí thư Ban cán sự hy sinh, 2 đồng chí Lê Quang Vịnh và Lê Văn Dung bị bắt.

Ngày 24-5-1962, chính quyền Ngô Đình Diệm đưa các anh Lê Hồng Tư, Lê Quang Vịnh, Lê Văn Thành, Huỳnh Văn Chín cùng 8 đồng chí khác ra xử, với tội danh “chống lại cuộc bầu cử và mưu sát đại sứ Mỹ Nâutinh”. Trước tòa án địch, anh Lê Hồng Tư đã nói: “Tôi rất tiếc không đủ lựu đạn để giết hết những tên cầm đầu bọn xâm lược”. Các anh bị kết án tử hình, còn người thấp nhất là 5 năm tù. Tòa tuyên án vừa dứt, các anh đồng thanh hô to: “Đả đảo luật phát xít của ngụy quyền miền Nam”, “Đả đảo phát xít”, “Đả đảo đàn áp” rồi cất tiếng hát vang bài “Giải phóng miền Nam” trên đường từ tòa án về nhà giam. Phiên tòa đã gây xôn xao dư luận Sài Gòn, phong trào chống vụ án 24-5 từ Sài Gòn lan đến nhiều địa phương khác.

Đánh dấu sự phát triển của phong trào cách mạng, ngày 16-2-1962, Đại hội lần thứ nhất Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam, bầu Luật sư Nguyễn Hữu Thọ làm Chủ tịch, Đại hội công bố 4 chủ trương cứu nước khẩn cấp:

1. Đế quốc Mỹ phải đình chỉ cuộc chiến tranh xâm lược miền Nam.
            2. Giải tỏa toàn bộ “ấp chiến lược”.
            3. Thành lập ở miền Nam một Chính phủ Liên hiệp dân tộc.
            4. Thực hiện đường lối ngoại giao hòa bình trung lập.

Chính quyền Kennơđi, sau gần một năm thăm dò, đầu năm 1962, mới quyết định tiến hành chiến lược “Chiến tranh đặc biệt” mà xương sống của nó là kế hoạch Stalây-Taylo. Để hỗ trợ cho kế hoạch bình định này, năm 1962, Mỹ-Diệm đã tiến hành 2.577 cuộc hành quân cấp tiểu đoàn trở lên (gấp hai lần năm 1961).

Năm 1962, Mỹ ngụy dự định lập 16.000 “ấp chiến lược” trên toàn miền Nam. Nhưng đến hết 9 tháng chỉ lập được 3.225 ấp, đến cuối năm cũng chỉ lập được 3.900 ấp. Cùng thời gian trên, toàn miền Nam đã có 2.665 lần nhân dân nổi lên phá “ấp chiến lược”, 463 ấp bị phá hoàn toàn, 115 ấp được xây dựng thành “ấp chiến đấu”.

Hòa nhịp với đấu tranh vũ trang, đấu tranh chính trị cũng phát triển thành một phong trào rộng lớn, mãnh liệt, thu hút mọi tầng lớp nhân dân ở miền Nam. Bằng những hình thức và phương pháp đấu tranh thích hợp, mọi người già, trẻ, trai, gái đều xông lên, mặt đối mặt với kẻ thù. Trong cuộc đấu tranh trực diện với địch, chống cào nhà, gom dân, lập “ấp chiến lược”, phải kể đến vai trò nữ thanh niên. Điển hình là phân đoàn nữ thanh niên xóm Bàu Mây, ấp An Đước, xã An Tịnh do phân đoàn trưởng Bảy Trinh cùng 10 đoàn viên làm trụ cột, đấu tranh giằng co quyết liệt với địch liên tục 60 ngày đêm, chống cào nhà, gom dân thắng lợi. Những đội quân chính trị hùng hậu của quần chúng đã góp phần làm thất bại nhiều cuộc hành quân càn quét của địch, cản trở và phá vỡ kế hoạch “ấp chiến lược”, bảo vệ tài sản và tính mệnh của nhân dân. Lực lượng đó đã vận động hàng vạn binh sĩ và nhân viên ngụy quyền trở về với nhân dân.

Ở nông thôn, đấu tranh chính trị nhằm chống càn quét, gom dân, lập ấp và khi địch lập ấp được thì đấu tranh phá ấp chiến lược. Ở thành thị, đấu tranh chính trị đòi cải thiện đời sống, chống tăng thuế, đuổi nhà, chống bắt lính, chống lập “khóm chiến lược”...

Năm tháng đầu năm 1962, công nhân Sài Gòn tiến hành 82 cuộc đấu tranh. Nổi bật nhất là cuộc bãi công của 800 công nhân hãng dệt Vimitếc (tháng 2-1962), của 5.000 công nhân cao su đấu tranh kéo dài 6 tháng, của 3 vạn học sinh, sinh viên biểu tình, mít tinh, bãi khóa, hội thảo chống Mỹ-ngụy. Hàng vạn người tham gia phong trào chống địch kết án Giáo sư Lê Quang Vịnh,v.v...

Kế hoạch Stalây-Taylơ năm 1962 mở đầu coi như thất bại, đầu năm 1963 Mỹ-Diệm bổ sung kế hoạch cứu nguy (mật danh A.D.6), với ý đồ trong năm 1963-1964 sẽ liên tục mở các cuộc hành quân “dồn bộ đội địa phương và du kích Việt cộng vào thế chạy dài, tránh né vĩnh viễn”. Sau đó tổng tiến công chiến lược, tiêu diệt các “mật khu” Việt cộng gồm 13 điểm ở đồng bằng sông Cửu Long, 17 điểm ở Đông Nam Bộ và các mật khu tiếp giáp giữa các tỉnh miền Trung và cao nguyên.

Kế hoạch A.D.6 chưa kịp triển khai, đầu năm 1963, Mỹ-Diệm đã bị một đòn choáng váng bất ngờ tại ấp Bắc, xã Tân Phú Trung, huyện Cai Lậy, cách thị xã Mỹ Tho 16 kilômét. Phát hiện có chủ lực của ta tại đây, tướng P.Hakin trực tiếp vạch kế hoạch mở cuộc hành quân “Đức Thắng 1/13” nhằm tiêu diệt chủ lực Việt cộng. Lực lượng ta ở đây có 2 đại đội chủ lực (đại đội 1 tiểu đoàn 514 của tỉnh Mỹ Tho; đại đội 1 của tiểu đoàn 216 của khu 8), 1 trung đội trợ chiến, 1 trung đội bộ đội địa phương huyện Châu Thành và 1 trung đội du kích xã.

Cuộc hành quân do sư đoàn trưởng sư đoàn 7 chỉ huy, có các cố vấn Mỹ đi kèm. Sáng 2-1-1963, sau khi Hakin cho pháo và máy bay oanh kích, địch mở 13 đợt tiến công mà không vào được làng. Chiều tối, y buộc phải cho lùi quân ra lộ 4 chỉnh đốn để sáng 3-1 sẽ mở trận tiến công quyết định. Nhưng đêm ngày 2 rạng ngày 3-1-1963, nhân dân và bộ đội, du kích đã bí mật rút ra khỏi ấp về căn cứ an toàn; chiến thuật “phượng hoàng vồ mồi” đã kết thúc thảm hại với 450 tên chết, có 9 cố vấn Mỹ, 5 trực thăng bị bắn rơi, 11 chiếc khác bị thương, 3 M113 cháy trụi và 1 tàu chiến bị bắn chìm.

Ấp Bắc là trận đánh đầu tiên trên địa hình đồng bằng với 1 chọi 10, ta đã đánh thắng địch có vũ khí mạnh, quân đông, sử dụng chiến thuật tân kỳ “trực thăng vận” và “thiết xa vận”, con chủ bài của chiến lược “chiến tranh đặc biệt”.

Cùng với quân dân Ấp Bắc, ngày 2 và ngày 3-1-1963, quân và dân Châu Thành, Cai Lậy, thị xã Mỹ Tho đã nhất tề nổi dậy tiến công địch, diệt đồn bốt, đánh giao thông, phá “ấp chiến lược”. Hàng nghìn đồng bào nông thôn kéo vào thị xã Mỹ Tho “tản cư ngược”, một hình thức đấu tranh, làm ùn tắc giao thông, ngăn cản quân địch đi tăng viện, vây kín các trận địa pháo. Dòng người tràn ngập thị xã, đòi tin tức chồng, con, đòi không được bắn pháo, càn quét thôn ấp... làm hàng ngũ ngụy quân, ngụy quyền hoang mang, không dám đàn áp, phải kéo lực lượng đang hành quân càn quét về bảo vệ thị xã.

Chiến thắng Ấp Bắc đã cổ vũ mạnh mẽ tuổi trẻ miền Nam hưởng ứng phong trào “Thi đua Ấp Bắc giết giặc lập công” trên khắp các chiến trường. Tại khu 8, kết thúc đợt một (năm 1963) đã phá 135 ấp chiến lược, bức rút 207 đồn, bốt, diệt 2.600 tên địch, vận động 6.000 binh sĩ ngụy quay về với nhân dân, 51.300 thanh niên nam nữ gia nhập dân quân du kích.

Lực lượng vũ trang địa phương phát triển nhanh. Năm 1963, bộ đội địa phương tỉnh đã tăng lên gấp đôi so với năm 1962, (64.000 quân so với 30.500 quân), du kích cũng tăng hơn 10.000 người; đảng viên, đoàn viên đều tham gia chiến đấu trong lực lượng vũ trang nên đã lôi cuốn đông đảo các tầng lớp quần chúng già, trẻ, trai, gái, trong cuộc chiến tranh nhân dân rộng lớn.

Mỗi người dân đều biết dùng vũ khí thô sơ, tự tạo, làm chông mìn, cạm bẫy đánh địch. ở Nam Bộ năm 1963 số địch chết bằng vũ khí thô sơ là 27%. Xã Đông Phương, thị xã Cần thơ, 90% dân vào du kích. Bến Tre, có sáng kiến đầu tiên dùng ong vò vẽ kết hợp súng ngựa trời đánh đồn Anh Dinh, chống địch đi càn. Trong năm 1963, Bến Tre đã đặt hơn 4.500 tổ ong vò vẽ chống địch trên 71 xã.

Du kích Cà Mau dùng cách “bao vây, đánh lấn” chặn nguồn nước, cắt tiếp tế, bắt rút nhiều đồn bốt dọc các sông Cái Tàu, Cái Lớn, sông Trẹm, Đầm Dơi, giải phóng nhiều vùng.

Một phong trào săn máy bay lên thẳng, diệt M.113 được phát động rộng khắp. Tổng số máy bay bị hạ trong năm 1963 là 690 chiếc, xe cơ giới bị diệt là 800 xe.

Ngày 9-9-1963, ở Nam Bộ diễn ra trận tiến công chi khu quân sự Cái Nước-Đầm Dơi (Cà Mau). Bộ đội chủ lực Quân khu IX loại 558 tên địch, thu 200 súng. Cũng trong tháng 9, ta tập kích sân bay Sóc Trăng, phá 30 máy bay. Ngày 23-11 bộ đội địa phương tỉnh phối hợp với đặc công đánh căn cứ huấn luyện biệt kích Đức Hòa (Long An) diệt và bắt sống 170 tên, có 13 tên Mỹ, thu 540 súng. Ngày 31-12-1963, trong trận đánh vận động xuất sắc ở Đường Long (Bến Cát, Thủ Dầu Một), ta diệt gọn tiểu đoàn 32 biệt động “Cọp đen” khét tiếng tàn ác, thu 300 súng, mở đầu những trận đánh tiêu diệt quy mô ngày càng lớn của quân giải phóng.

Ở khu V Tây Nguyên, chiến tranh du kích phát triển khá mạnh. Tại nhiều khu vực ở Bắc ái, Ninh Thuận, Gia Lai, Kon Tum, miền Tây Trị Thiên, du kích vừa đánh địch vừa sản xuất, làm chủ buôn làng.

Lực lượng chủ lực Quân khu V đã khắc phục rất nhiều khó khăn về lương thực, vũ khí, mở hai đợt hoạt động mạnh. Ngày 3-1-1963, bộ đội đặc công tập kích vào trung tâm huấn luyện biệt kích Plâymơnông (Plâycu) giết và làm bị thương 250 tên địch (có 11 tên Mỹ), bắt sống 140 tên, thu 100 súng các loại. Tháng 4-1963, ta lại tập kích vào căn cứ pháo binh ngụy đóng ở Long Lếch (Tây Giá Vụt, Quảng Ngãi), diệt 1 đại đội pháo, thu vũ khí.

Năm 1963, ta đánh 24.600 trận lớn nhỏ, diệt vào làm bị thương, bắt sống trên 7,8 vạn tên địch, có 600 tên Mỹ, bắn rơi và phá hủy 609 máy bay, phá hàng trăm xe thiết giáp và xe vận tải. Cách đánh cũng được nâng cao. Đánh đồn bốt, căn cứ nhiều hơn trước: trên 800 đồn bốt bị diệt, bức hàng, bức rút. Cách đánh giao thông thủy, bộ được chú trọng; 34 đoàn xe lửa bị lật, 236 tàu xuồng bị đánh chìm, đánh hỏng; thu được hơn 1 vạn súng các loại, có cả pháo 105mm.

Đấu tranh vũ trang được đẩy mạnh, phong trào phá “ấp chiến lược” càng có điều kiện giành nhiều thắng lợi hơn. Trên toàn miền Nam, năm 1963 đã có 34 triệu lượt người tham gia đấu tranh chính trị phá “ấp chiến lược”, phá hoàn toàn 2.895 ấp (sau khi phá đi, phá lại 5.950 lần) trong số 6.164 ấp chúng lập được. Ta đã phá được thế kìm kẹp, giành quyền làm chủ ở 12.000/17.000 thôn, giải phóng 5/14 triệu dân trên toàn miền Nam. Hơn 1,5 triệu ha/3,5 triệu ha ruộng đất lại về tay nông dân; hơn 23.000 thanh niên đã tòng quân đánh giặc. Hàng nghìn “ấp chiến lược” biến thành làng chiến đấu của ta. Nhân dân các tỉnh Mỹ Tho, Gò Công, Long An, Tây Ninh, Phú Yên, Bình Định đã có thành tích xuất sắc trong phong trào phá “ấp chiến lược”.

Do tác động của đấu tranh vũ trang và phong trào phá “ấp chiến lược” ở các vùng nông thôn, phong trào đấu tranh chính trị của công nhân, nhân dân lao động, học sinh, sinh viên, tín đồ Phật giáo... ở đô thị phát triển rộng khắp. Tháng 3-1963, tại Thuận An (Huế), Hội Liên hiệp sinh viên, học sinh Trung Trung Bộ đã được thành lập. Ngày 17-3, Đoàn sinh viên phật tử Huế ra đời, quy tụ đông đảo sinh viên yêu nước tiến bộ. Nổi bật trong phong trào đô thị thời gian này là cuộc đấu tranh của tín đồ Phật giáo.

Lúc đầu là đấu tranh bảo vệ đạo Phật nhưng vì bị chính quyền Ngô Đình Diệm đàn áp, lại được sự ủng hộ của lực lượng cách mạng và các tầng lớp nhân dân, cuộc đấu tranh đã chuyển thành một phong trào chính trị rộng lớn. Ngày 7-5-1963, Ngô Đình Diệm ra lệnh hạ cờ Phật trong dịp lễ Phật đản. Tăng ni, Phật tử và nhân dân Huế xuống đường phản đối, bị địch đàn áp dã man. Tối 8-5-1963, hơn 10.000 học sinh, sinh viên và nhân dân đến Đài phát thanh Huế phản đối ngụy quyền không tường thuật lễ Phật đản trên đài, chúng cho xe cứu hỏa, xe tăng và binh lính nổ súng bắn chết 8 người (5 là học sinh). Ngày 10-5, tại chùa Từ Đàm, Phật giáo đưa ra 5 nguyện vọng đòi chấm dứt kỳ thị tôn giáo. Ngày 14-5-1963, ủy ban Trung ương Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam ra tuyên bố kêu gọi nhân dân cả nước và nhân dân thế giới ủng hộ cuộc đấu tranh của đồng bào Phật giáo. Mặc dù bị chính quyền Ngô Đình Diệm đàn áp, nhiều tín đồ bị chết, bị thương, bị bắt, phong trào vẫn bùng lên, lan rộng.

Tại Sài Gòn, sinh viên, học sinh bãi khóa, xuống đường ủng hộ cuộc đấu tranh của bà con Phật giáo, chống chế độ độc tài gia đình trị của Ngô Đình Diệm. Ngày 11-6-1963, Hòa thượng Thích Quảng Đức tự thiêu tại ngã tư đường Lê Văn Duyệt - Phan Đình Phùng để phản đối ngụy quyền Sài Gòn đàn áp Phật giáo. Ngày 16-6, hàng trăm ngàn tín đồ, thanh niên, sinh viên, học sinh và nhân dân Sài Gòn dự lễ tang Hòa thượng Thích Quảng Đức. Ngày 25-8, 5.000 học sinh Sài Gòn biểu tình tại chợ Bến Thành, cảnh sát xả súng vào đoàn nữ sinh áo trắng đi đầu, chị Quách Thị Trang, học sinh Trường Trường Sơn trúng đạn hy sinh tại chỗ. Phong trào đấu tranh bùng lên quyết liệt.

Trước hành động đàn áp cực kỳ tàn bạo của Mỹ - Diệm đối với đồng bào miền Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ra tuyên bố lên án tội ác của chúng. Người chúc đồng bào miền Nam: Đoàn kết, đấu tranh, thắng lợi.

Sau một năm rưỡi thực hiện kế hoạch Xtalây-Taylo vẫn không cứu vãn được tình thế nguy ngập của ngụy quân, ngụy quyền, Mỹ cho rằng nguyên nhân chính của tình hình đó là do bọn tay sai Ngô Đình Diệm bất tài, bất lực.

Phong trào cách mạng miền Nam phát triển như vũ bão sau đồng khởi, làm cho mâu thuẫn Mỹ - Diệm càng thêm gay gắt, buộc Mỹ phải đi đến quyết định lật đổ Diệm, đưa bọn tay sai khác lên, thực hiện tiếp kế hoạch chiến tranh của Mỹ.

Ngày 1-11-1963, thông qua bọn tướng lĩnh tay sai do Dương Văn Minh cầm đầu, Mỹ tiến hành cuộc đảo chính ở Sài Gòn. Hai anh em Diệm - Nhu bị bọn đảo chính giết chết, nhưng Mỹ - Ngụy lại bước vào giai đoạn khủng hoảng chính trị triền miên.

Ngày 2-11-1963, ngay sau khi Diệm - Nhu bị lật đổ, gần một triệu thanh niên, học sinh, sinh viên Sài Gòn - Gia Định đã tổ chức thành 20 đoàn biểu tình đi qua các phố với những khẩu hiệu: “Đánh đổ chế chộ độc tài phát xít”, “Phải thực hiện tự do, dân chủ”, “Đế quốc Mỹ cút khỏi miền Nam Việt Nam”,v.v... Đoàn biểu tình đã tiến vào trụ sở Quốc hội ngụy, Bộ Lao động dân vụ, Nha Thông tin, dinh Gia Long và đốt bốt Lê Văn Ken, truy lùng bọn ác ôn để trả thù cho chị Quách Thị Trang và những người bị chúng sát hại.

Qua phong trào, lực lượng cách mạng trong các trường học đã có bước phát triển mới, nhiều trường đã có chi đoàn thanh niên, chi bộ Đảng. Trường Pétrus Ký đã tổ chức công khai lễ kỷ niệm anh Trần Văn Ơn (9-1-1964) và đấu tranh chống tăng thu học phí trường công đạt thắng lợi.

Ngày 30-1-1964, Nguyễn Khánh đảo chính lật đổ Dương Văn Minh. Với đội ngũ được nhân lên mạnh mẽ hơn trước, phong trào thanh niên công nhân đã có sự phát triển mới cả về chiều rộng và chiều sâu, cùng với phong trào học sinh, sinh viên tạo thành một làn sóng đấu tranh mạnh mẽ ở các đô thị miền Nam. Từ đầu năm 1964, phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân, mà nòng cốt là tuổi trẻ các nhà máy, xí nghiệp đã liên tục nổ ra dưới các hình thức như bãi công, xuống đường, đòi quyền dân sinh, dân chủ, chống đàn áp, sa thải công nhân,v.v... Đó là cuộc đấu tranh của 7000 công nhân bốc vác của hãng Stic, Xôvicôtina, cảng Sài Gòn... Tháng 5-1964, 12.000 công nhân lái xe tắc-xi đấu tranh chống Mỹ giết hại anh Nguyễn Văn Bảy và 2 công nhân lái xe tắc-xi khác. Sau đám tang những công nhân lái xe tắc-xi bị sát hại, “Tuần lễ tẩy chay Mỹ”, đón đánh tiêu diệt lính Mỹ trên đường phố Sài Gòn - Gia Định nổ ra liên tiếp. Đặc biệt là cuộc đấu tranh kéo dài của thanh niên và công nhân Xí nghiệp Dệt Vimytex bắt đầu từ 17-4-1964, chống chủ đuổi 151 công nhân diễn ra rất quyết liệt. Ngày 10-8-1964, ngụy quyền cho lính đến đàn áp làm bị thương hàng trăm người. Nhằm phối hợp với cuộc đấu tranh của giai cấp công nhân, ngày 21-8-1964, 4000 thanh niên, sinh viên, học sinh Sài Gòn đã tổ chức hội thảo tẩy chay “Hiến chương Vũng Tàu” mà Nguyễn Khánh đã ký ngày 20-8, bán rẻ cảng Cam Ranh cho đế quốc Mỹ, đòi bãi bỏ lệnh thiết quân luật, đòi tự do ngôn luận, sau đó là cuộc xuống đường, phát động “Tuần lễ đấu tranh chống Hiến chương Vũng Tàu”. Cùng ngày, 5.000 học sinh, sinh viên tổ chức mít tinh ở trường Đại học Luật khoa, rồi kéo đến Bộ Thông tin ngụy đòi tự do báo chí. Ngày 22-8, sau một cuộc hội thảo, 4000 thanh niên, học sinh, sinh viên kéo đến bao vây chỗ ở của Nguyễn Khánh. Hưởng ứng phong trào đấu tranh của công nhân,thanh niên, học sinh, sinh viên Sài Gòn, ngày 24-8, tất cả các trường trung học ở Đà Nẵng đồng loạt bãi khóa. ở thành phố Đà Nẵng, 6 trường trung học xuống đường cùng với 30.000 đồng bào đình công, bãi chợ, tham gia biểu tình, tuần hành phản đối Mỹ - Khánh, đòi xóa bỏ “Hiến chương Vũng Tàu”. Bị bọn ác ôn đàn áp, làm chết một số người nên làn sóng đấu tranh càng lên cao, đoàn người kéo đến vây tòa thị chính, tên trung tá hải quân thị trưởng phải chạy trốn, tên thiếu tướng Nguyễn Chánh Thi, Tư lệnh vùng 1 chiến thuật phải ra lệnh giới nghiêm, bắt giam hàng chục học sinh và những người biểu tình. Bất chấp lưỡi lê, súng đạn, tù đày, tuổi trẻ Đà Nẵng đã đi đầu, xông lên cùng đồng bào dùng gậy gộc, vỏ chai, đất đá tấn công bọn quân cảnh, cảnh sát, giải vây những người bị bắt. Anh chị em còn bao vây và chiếm tòa thị chính, làm chủ thành phố trong 9 ngày (từ 25-8 đến 3-9-1964), diệt 80 tên ác ôn, đốt cháy hàng trăm xe Mỹ. Sáng ngày 23-8, thanh niên, sinh viên, học sinh và đồng bào Sài Gòn lại xuống đường kéo đến Bộ Thông tin ngụy đưa yêu sách, đập phá Đài phát thanh. Sáng ngày 25-8-1964, hàng trăm nghìn học sinh, sinh viên, thanh niên và đồng bào các giới đã kéo đến đường Thống Nhất trước dinh Nguyễn Khánh. Đến trưa, lực lượng bao vây dinh Nguyễn Khánh đã lên tới 400.000 người, cả thành phố rầm rập khí thế đấu tranh. Đến 15 giờ, Nguyễn Khánh phải đứng ra nhận tội lỗi và tuyên bố rút lui chức Chủ tịch Việt Nam Cộng hòa do hắn tự phong, tuyên bố hủy bỏ “Hiến chương Vũng Tàu.

Tuy nhiên, cuộc đấu tranh của thanh niên, công nhân xí nghiệp dệt Vimytex vẫn chưa đạt được yêu cầu. Ngày 13-9-1964, công nhân nha công chính, cảng Sài Gòn và các Nhà máy Tovicô, nhà máy ximăng đã ra tuyên bố ủng hộ cuộc đấu tranh của công nhân nhà máy Dệt Vimytex. Ngày 18-9, công nhân ô tô buýt, công nhân cao su, gửi tiền ủng hộ công nhân Vimytex.

Phong trào đấu tranh chống chế độ độc tài quân phiệt Nguyễn Khánh năm 1964 là đỉnh cao của phong trào đấu tranh cách mạng ở thành thị, đã làm phá sản uy tín chính trị của Nguyễn Khánh - một tên tay sai gian xảo do Mỹ đưa lên, trong đó phong trào đấu tranh của thanh niên, học sinh, sinh viên đóng vai trò nòng cốt.

Đánh giá phong trào đấu tranh ở thành thị miền Nam lúc bấy giờ, đồng chí Lê Duẩn, Bí thư thứ nhất Trung ương Đảng ta đã viết: “Cuộc nổi dậy của nhân dân đô thị trong phong trào sinh viên, Phật giáo và nhân dân lao động để đánh đổ một Chính phủ tay sai ngoài ý muốn của Mỹ, cũng là hành động có tính chất bạo lực đi đến khởi nghĩa ở thành phố”.

Tháng 12-1963, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa III họp hội nghị lần thứ 9, ra nghị quyết quan trọng về đường lối quốc tế và chủ trương lãnh đạo cách mạng miền Nam.

Tại Thủ đô Hà Nội, ngày 27-3-1964 Chủ tịch Hồ Chí Minh triệu tập Hội nghị chính trị đặc biệt. Tại Hội nghị, Người đã đọc một bản báo cáo quan trọng. Sau khi kiểm điểm lại những sự kiện lớn trong 10 năm qua ở nước ta và thế giới, Người khẳng định nhân dân ta nhất định thắng, đế quốc Mỹ nhất định sẽ thất bại. Người kêu gọi: “Mỗi người làm việc bằng hai để đền đáp đồng bào miền Nam ruột thịt”.

Đầu năm 1964, tướng Pôn Hakin mất chức, cũng là lúc cáo chung kế hoạch bổ sung A.D.6 mà ông ta là tác giả đưa ra thực hiện năm 1963.

Năm 1964, quân ngụy tăng lên trên nửa triệu, được trang bị tốt hơn, nhưng lại bị thua đau đơn, nặng nề hơn. Ta đánh địch ở tận Sài Gòn và các căn cứ, sào huyệt của Mỹ. Ngày 16-2-1964 tập kích rạp Kinh Đô diệt 150 sĩ quan Mỹ. Ngày 2-5-1964 đánh chìm tàu Cađơ trọng tải 15.000 tấn vừa cập bến Bạch Đằng với toàn bộ hàng hóa và 19 máy bay lên thẳng. Ngày 5-6-1964 khách sạn Caraven bị đánh sập, 100 sĩ quan Mỹ chết và bị thương. ngày 24-12 khách sạn Bơ rinh bị đánh mìn; sân bay Tân Sơn Nhất bị tiến công, sân bay Biên Hòa bị pháo kích, hỏng 17 máy bay có 5 chiếc B57. Các sân bay Đà Nẵng, Quy Nhơn, Plâycu cũng liên tiếp bị tiến công... Tại Sài Gòn, 30.000 thanh niên, học sinh, sinh viên và nhân dân biểu tình đả đảo Nguyễn Khánh.

Giữa lúc đó, Mỹ - ngụy đưa người chiến sĩ biệt động Sài Gòn Nguyễn Văn Trỗi, người đặt mìn trên cầu Công Lý giết hụt tên Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Mắc Namara ra xử bắn làm dư luận cả nước và thế giới phẫn nộ. Ngày 15-10-1964 Nguyễn Văn Trỗi đã biến pháp trường thành diễn đàn lên án bọn Mỹ xâm lược và bè lũ tay sai bán nước. Nguyễn Văn Trỗi đã hô vang ba lần: “Hồ Chí Minh muôn năm”, nêu khí phách lẫm liệt của người anh hùng trẻ tuổi đi vào lịch sử trong 9 phút cuối cùng của đời mình. Biến căm thù thành hành động, Quảng Nam - Đà Nẵng quê hương anh, hơn 1.000 thanh niên đã xung phong vào bộ đội, 2.500 năm nữ thanh niên gia nhập dân quân du kích, thề lấy máu giặc rửa thù cho Nguyễn Văn Trỗi.

Năm 1964, với thế đứng vững mạnh trên chiến trường chính là Đông Nam Bộ và Khu V, nhiều trận đánh sử dụng cấp trung đoàn và tiêu diệt gọn từng tiểu đoàn địch ở chiến trường nào cũng có. Cuối năm 1964, hàng vạn chiến sĩ chủ lực “Ba sẵn sàng” vượt Trường Sơn vào tăng cường cho miền Nam. Bộ đội chủ lực Quân giải phóng có sự phát triển nhảy vọt trong tư thế sẵn sàng xuất trận. Hàng vạn thanh niên tình nguyện đi dân công phục vụ tiền tuyến, vận tải hàng ngàn tấn vũ khí, lương thực, thực phẩm, dự trữ vật chất đảm bảo cho bộ đội trên các chiến trường trọng điểm có thể chiến đấu liên tục trong nhiều tháng.

Ngày 7-12-1964, Quân khu V mở chiến dịch An Lão đánh điểm, diệt viện, loại khỏi vòng chiến đấu 700 tên, thu 300 súng, giải phóng quân lỵ và toàn huyện An Lão. Phối hợp với An Lão, tại Quảng Nam, Trung đoàn 1 tiến công cứ điểm Chóp Chài, diệt sở chỉ huy tiểu đoàn, 1 đại đội chủ lực ngụy, phá 2 pháo 105 ly. Các tỉnh khu V, lực lượng vũ trang hỗ trợ nhân dân nổi dậy phá 1.485 “ấp chiến lược” vùng đồng bằng, 292 “ấp chiến lược” ở miền núi, giải phóng 123 xã. Đồng bào và thanh niên khu VI phá 3.000 trong tổng số 3.800 “ấp chiến lược” do địch lập ra.

Ở miền Đông Nam Bộ, ta mở chiến dịch Bình Giã từ 3-11-1964 đến 2-1-1965 với 5 trận đánh cấp trung đoàn, diệt gọn 2 tiểu đoàn chủ lực (có 1 tiểu đoàn dự bị chiến lược), đánh thiệt hại 7 tiểu đoàn khác, phá hàng loạt “ấp chiến lược”, giải phóng huyện Hoài Đức, 20 ngàn dân giành chính quyền làm chủ.

Quân khu V chuẩn bị mở chiến dịch, cần phải chuyển gấp 50 tấn vũ khí từ miền Bắc đưa vào bờ biển Lộ Diên (Bình Định), hàng ngàn thanh niên tình nguyện làm nhiệm vụ vận chuyển. Chị em nữ thanh niên thì nghi trang những thứ gọn nhẹ chuyển công khai ban ngày. Hàng nặng thì ban đêm nam thanh niên dùng sức người, xe bò kéo với tinh thần “vai trăm cân, chân vạn dặm” phục vụ kịp thời cho chiến dịch. Ngày 8-2-1965, chiến dịch mùa xuân đánh điểm, diệt viện tại Đèo Nhông (Phù Mỹ, Bình Định), diệt gọn 2 tiểu đoàn bộ binh, 1 chi đoàn xe bọc thép M113.

Được sự hỗ trợ của lực lượng vũ trang, nhân dân nổi dậy phá hầu hết “ấp chiến lược” của địch ở Trung Bộ, giải phóng 2,5 triệu đân (trong số 3 triệu) ở nông thôn đồng bằng. Nhiều nơi, ngụy quyền cơ sở bị diệt, chính quyền nhân dân được thành lập, “ấp chiến lược” trở thành thôn xã chiến đấu của ta.

Đội quân ngụy, “xương sống của chiến tranh đặc biệt” đứng trước nguy cơ bị tiêu diệt. Sau khi đi kiểm tra tình hình ở miền Nam, Mắc Namara phải thú nhận: Mỹ đã thất bại về quân sự ở Việt Nam. Còn Tư lệnh Bộ chỉ huy quân sự Mỹ ở Nam Việt Nam Oétmolen thì cho rằng: “Tình hình ở Việt Nam bị xấu đi hiện ra rõ rệt hơn bao giờ hết... Nếu chiều hướng này cứ tiếp diễn thì... tiến tới sự tiếp quản của Việt cộng ở đất nước này có lẽ nội trong một năm”.

Trước tình hình đó, Chính phủ Mỹ quyết định đưa một bộ phận lực lượng chiến đấu Mỹ vào miền Nam Việt Nam, dùng không quân đánh phá mạnh và liên tục đối với miền Bắc, đưa cuộc “chiến tranh đặc biệt” đến mức cao nhất; chuẩn bị để khi tình hình nguy ngập hơn sẽ đưa quân Mỹ vào tham chiến với quy mô lớn, thực hiện chiến lược “chiến tranh cục bộ”.

***

Được thử thách và rèn luyện trong cao trào cách mạng, tổ chức Đoàn và phong trào thanh niên miền Nam nhanh chóng được khôi phục và phát triển. Cùng với các tổ chức quần chúng khác, sau khi Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam ra đời (20-12-1960), Hội Liên hiệp thanh niên giải phóng được thành lập, bao gồm Hội Liên hiệp sinh viên giải phóng, Hội Học sinh giải phóng và các tổ chức thanh niên yêu nước khác, tập hợp ngày càng đông đảo thanh niên, thiếu nhi dưới mọi hình thức tổ chức và đi vào hoạt động cách mạng.

Tổ chức Đoàn ở cơ sở, bị đánh phá ác liệt trong thời kỳ “Tố cộng”, “Diệt cộng” của Diệm, nay được các cấp ủy Đảng quan tâm lãnh đạo nên từng bước được củng cố và phát triển cả về số lượng và chất lượng. Cuối năm 1960, riêng ở Quảng Nam, Đà Nẵng đã có trên 100 chi đoàn với 1.295 đoàn viên và 13.000 hội viên Hội Liên hiệp thanh niên giải phóng. Đồng thời đã xây dựng được 47 phân đội thiếu niên tiền phong với 4.909 đội viên. Tính đến năm 1962, toàn miền Nam có 21.848 đoàn viên, sinh hoạt trong 880 chi đoàn thì đến năm 1963 đã phát triển lên 46.792 đoàn viên, sinh hoạt trong 1.375 chi đoàn và đến năm 1964, số đoàn viên đã lên tới 72.375 với 2.539 chi đoàn. So với năm 1961, thì tổ chức Đoàn và đoàn viên năm 1965, năm tổ chức Đại hội Đoàn toàn miền Nam lần thứ nhất, tăng hơn 4 lần 988.947 đoàn viên và 3.276 chi đoàn). Điều quan trọng là tổ chức Đoàn đã phát triển rộng khắp ở trong tất cả các vùng, các địa phương thành hệ thống từ cơ sở đến huyện, tỉnh và toàn miền Nam.

Hầu hết các tỉnh, thành phố, từ năm 1961 đều có ban cán sự Đoàn với số cán bộ chuyên trách từ 2 đến 3 đồng chí. Ban cán sự Đoàn thành phố Sài Gòn được hình thành sớm với nhiều đồng chí trưởng thành từ phong trào, do đồng chí Phạm Chánh Trực làm Bí thư. Vừa xây dựng tổ chức, các cấp bộ Đoàn từ huyện, tỉnh và miền vừa chăm lo đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, nhất là cán bộ Đoàn cơ sở. Vượt qua muôn ngàn khó khăn trong điều kiện địch đánh phá ác liệt, từ năm 1961 đến năm 1965 các cấp bộ Đoàn đã mở được 771 lớp huấn luyện, bồi dưỡng đào tạo được 24258 cán bộ từ chi đoàn đến huyện Đoàn, trong đó số cán bộ nữ chiếm 2/3.

Đội ngũ cán bộ Đoàn ngày càng được tăng cường là đảm bảo vững chắc cho công tác Đoàn và phong trào thanh niên miền Nam phát triển. Nhiều cán bộ Đoàn các cấp đã kiên trì bám trụ cơ sở trong những điều kiện cực kỳ khó khăn, ác liệt để gây dựng phong trào, xây dựng lực lượng. Nhiều đồng chí đã hy sinh anh dũng.

Trước sự phát triển của phong trào thanh niên và yêu cầu công tác Đoàn ở miền Nam. Ban Bí thư Trung ương Đoàn Thanh niên Lao động Việt Nam đã quyết định thành lập Ban thanh niên miền Nam, có nhiệm vụ giúp Ban Bí thư theo dõi, chỉ đạo phong trào thanh niên miền Nam, đề xuất cử cán bộ tăng cường cho các tổ chức Đoàn ở miền Nam. Trong những năm 60, Ban Bí thư Trung ương Đoàn đã cử nhiều đợt cán bộ Đoàn vào miền Nam công tác, phần lớn là những đồng chí có phẩm chất, năng lực, nhiệt tình, giữ các trách nhiệm chủ chốt từ huyện trở lên. Nhiều đồng chí đã hy sinh anh dũng trong khi thực hiện nhiệm vụ.

Qua 10 năm chiến đấu vô cùng oanh liệt với đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai phản động, tuổi trẻ miền Nam đã không quản ngại gian khổ, hy sinh, lớp này ngã, lớn khác đứng lên, tiếp tục đương đầu với mọi thử thách cùng nhân dân đánh bại mọi âm mưu, thủ đoạn của địch, góp phần đưa cách mạng đi lên giành thắng lợi này đến thắng lợi khác.

Với những cống hiến xuất sắc và to lớn cho sự nghiệp cách mạng, Đoàn và tuổi trẻ miền Nam “Thành đồng Tổ quốc” xứng đáng nhận phần thưởng cao quý của Đảng và Ủy ban Trung ương Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam trao tặng: Huân chương Thành đồng hạng Nhất và hai lá cờ mang dòng chữ: “Vì sự nghiệp giải phóng miền Nam, vì thống nhất Tổ quốc, thanh niên miền Nam anh dũng tiến lên” và “Đoàn kết, xung phong, anh dũng, quyết thắng”.

 

CHƯƠNG X
CÁC PHONG TRÀO “BA SẴN SÀNG”, “NĂM XUNG PHONG” THỂ HIỆN Ý CHÍ KIÊN CƯỜNG VÀ QUYẾT TÂM CỦA THANH NIÊN CẢ NƯỚC VÌ THẮNG LỢI CỦA SỰ NGHIỆP CHỐNG MỸ, CỨU NƯỚC

---

Ngày 5-8-1964 sau khi gây ra sự kiện “vịnh Bắc Bộ”, Mỹ cho không quân tiến hành đánh phá một số điểm trên lãnh thổ miền Bắc Việt Nam (Vinh, Thanh Hóa, Quảng Ninh…) mở đầu cuộc chiến tranh bằng không quân chống nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, trắng trợn xâm phạm chủ quyền một quốc gia độc lập. Cả nước căm phẫn trước tội ác leo thang chiến tranh của Mỹ. Từ trong các xí nghiệp, công trường, nhà máy, trên các đường phố, cơ quan, các thôn xóm… ở đâu thanh niên cũng sục sôi khí thế sẵn sàng cho một cuộc đối đầu lịch sử.

Bốn ngày sau, đêm 9-8-1964, 26 vạn thanh niên Thủ đô Hà Nội đã xuống đường lên án hành động phiêu lưu chiến tranh của Mỹ. Từ quảng trường Nhà hát thành phố (nay là Quảng trường Cách mạng Tháng Tám) lớp lớp thanh niên công nhân, nông dân, trí thức, học sinh… ba lô trên vai, lá ngụy trang đầy người rầm rộ diễu hành qua các đường phố Tràng Tiền, Hai Bà Trưng, Lý Thái Tổ… biểu thị quyết tâm sẵn sàng thực hiện mọi nhiệm vụ của Đảng và Tổ quốc giao cho.

Tại hội trường Bộ Công nghiệp Nặng (đường Hai Bà Trưng) ngọn lửa truyền thống được tuổi trẻ đốt lên khi Ban Chấp hành Thành Đoàn Hà Nội kêu gọi đoàn viên và thanh niên vươn lên hàng đầu trong chiến đấu, lao động và học tập… kiên quyết thực hiện “Ba sẵn sàng”:

- Sẵn sàng chiến đấu.

- Sẵn sàng nhập ngũ.

- Sẵn sàng đi bất cứ nơi nào Tổ quốc cần đến!

Từ Hà Nội, phong trào nhanh chóng lan rộng đến các tỉnh, thành phố: Hải Phòng, Quảng Ninh, Nghệ An… Chỉ trong vòng một tháng đã có 1.500.000 đoàn viên và thanh niên đăng ký thực hiện “Ba sẵn sàng”. Riêng Sơn La, một tỉnh miền núi nằm ở phía Tây của Tổ quốc, sau khi phong trào “Ba sẵn sàng” được phát động một tháng đã có 40 ngàn đoàn viên và thanh niên đăng ký tham gia, trong đó có 19 ngàn đăng ký tình nguyện tòng quân lên đường giết giặc.

Trước hành động leo thang chiến tranh của Mỹ, đêm 2-1-1965, hơn 5 vạn thanh niên Hà Nội lại xuống đường, một lần nữa biểu thị quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược. Thanh niên các đường phố, các xí nghiệp, trường học… tự tổ chức thành đội ngũ, vai khoác ba lô, lá ngụy trang đầy người, vũ khí trong tay… hừng hực khí thế “Ba sẵn sàng”, rầm rập đi trên các đường phố chính, tổng duyệt lực lượng.

Từ đó những cuộc hành quân vũ trang liên tiếp được tổ chức trên các đường phố, trong các ngõ xóm và trở thành phong trào rèn luyện “vai trăm cân, chân ngàn dặm”, chuẩn bị sẵn sàng khi Tổ quốc cần, có đủ ý chí và sức khỏe lên đường chiến đấu được ngay.

Phát huy khí thế hào hùng của tuổi trẻ, đầu năm 1965, Ban Thường vụ Trung ương Đoàn TNLĐ Việt Nam đã ra Nghị quyết về công tác “Đẩy mạnh sản xuất và tích cực chuẩn bị sẵn sàng chiến đấu”, quyết định đẩy mạnh phong trào tình nguyện “Ba sẵn sàng” khắp miền Bắc với nội dung mới, thể hiện đầy đủ nhiệm vụ của Đoàn và phong trào thanh niên trước yêu cầu của cách mạng trong giai đoạn chống Mỹ, cứu nước. Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đoàn lần thứ IX (khóa III) họp từ ngày 4-7 tháng 5-1965 do đồng chí Bí thư thứ nhất Vũ Quang chủ trì đã quyết định nhiệm vụ của Đoàn thanh niên yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội, phát huy cao độ chủ nghĩa anh hùng cách mạng; tổ chức động viên 4 triệu đoàn viên và thanh niên miền Bắc tiến lên hàng đầu trên mặt trận sản xuất, chiến đấu, học tập và xây dựng cuộc sống mới, quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược trong bất kỳ tình huống nào để bảo vệ miền Bắc, tích cực ủng hộ cách mạng giải phóng miền Nam và đẩy mạnh công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội”.

Nhiệm vụ chủ yếu đó nêu rõ các cấp bộ Đoàn và toàn thể đoàn viên, thanh niên phương hướng hành động trên ba mặt cụ thể: Sản xuất và bảo vệ sản xuất; chiến đấu và sẵn sàng chiến đấu; học tập và rèn luyện. Nội dung phong trào “Ba sẵn sàng”, vì thế được bổ sung, hoàn thiện thêm:

- Sẵn sàng chiến đấu, chiến đấu dũng cảm và sẵn sàng nhập ngũ (bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương, dân quân tự vệ).

- Sẵn sàng khắc phục mọi khó khăn, đẩy mạnh sản xuất, công tác và học tập trong bất kỳ tình huống nào.

- Sẵn sàng đi bất cứ đâu, làm bất cứ việc gì khi Tổ quốc cần đến.

Ban Chấp hành Trung ương Đoàn Lao động Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã không ngừng quan tâm lãnh đạo phong trào có tính cách mạng sâu rộng này của Đoàn và tuổi trẻ. Hội nghị lần thứ XI của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa III, họp tháng 3-1965) trong khi nêu lên nhiệm vụ chiến lược của toàn Đảng, toàn dân đã vạch rõ nhiệm vụ của Đoàn: “Đối với Đoàn cần đẩy mạnh phong trào “Ba sẵn sàng” với nội dung và hình thức mới”. Ngày 29 tháng 7 năm 1965 Ban Bí thư Trung ương Đảng lại ra chỉ thị số 105-CT-TW “Về việc tăng cường lãnh đạo công tác vận động thanh niên trong tình hình mới” khẳng định thanh niên là một lực lượng to lớn có giác ngộ XHCN, có trình độ văn hóa, khoa học kỹ thuật, có sức khỏe, nếu được tổ chức giáo dục và lãnh đạo tốt sẽ có nhiều cống hiến cho sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước và xây dựng XHCN. Cho nên, “vấn đề đặt ra cho các cấp ủy Đảng và các ngành là phải dựa vào Đoàn TNLĐ với hơn 1 triệu đoàn viên mà tổ chức, động viên cho được 4 triệu thanh niên nam nữ trên miền Bắc tiến lên hàng đầu trên mặt trận sản xuất, chiến đấu, học tập và xây dựng cuộc sống mới, quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược, tích cực bảo vệ miền Bắc XHCN và góp phần vào sự nghiệp giải phóng miền Nam, tiến tới thống nhất Tổ quốc”.

Bản chỉ thị đã chỉ ra cho tổ chức Đoàn và phong trào thanh niên những nhiệm vụ cụ thể trên các mặt trận sản xuất, chiến đấu, học tập và xây dựng cuộc sống mới, đồng thời coi việc ra sức củng cố Đoàn TNLĐ và tăng cường đoàn kết, tập hợp thanh niên là một đảm bảo để các tầng lớp thanh niên không ngừng phấn đấu vươn lên làm tròn sứ mệnh lịch sử lực lượng xung kích đi hàng đầu trong nhiệm vụ chống Mỹ, cứu nước, sẵn sàng nhận bất cứ nhiệm vụ gì mà Đảng và Nhà nước giao phó.

Là người tổ chức, rèn luyện các thế hệ thanh niên Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm đến từng bước đi lên của tuổi trẻ. Nhân ngày 20-7-1965, Người kêu gọi thanh niên “Các cháu thanh niên gái cũng như trai hãy thực hiện tốt “Ba sẵn sàng”, xung phong hiến dâng tất cả tinh thần và lực lượng của tuổi trẻ cho sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước, cho Tổ quốc và chủ nghĩa xã hội”.

Cũng vào thời điểm này, nhân dịp Quốc khánh lần thứ XX của nước Việt Nam độc lập, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã gửi thư động viên thanh niên. Bác khen ngợi: “Các cháu là thế hệ anh hùng trong thời đại anh hùng”, đồng thời Bác căn dặn thanh niên “Phải luôn luôn nâng cao chí khí cách mạng “Trung với nước, hiếu với dân, nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng”. Không sợ gian khổ, hy sinh, hăng hái thi đua tăng gia sản xuất và anh dũng chiến đấu, xung phong đi đầu trong sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước”. Tại lễ kỷ niệm trọng thể lần thứ 35 ngày thành lập Đoàn (26-3-1931 - 26-3-1966), Bác Hồ kính yêu, đồng chí Bí thư thứ nhất BCH Trung ương Đảng Lê Duẩn (khóa III), đồng chí Chủ tịch Quốc hội Trường Chinh, đồng chí Thủ tướng Chính phủ Phạm Văn Đồng cùng nhiều đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước khác đã đến với tuổi trẻ. Bác Hồ dạy: “Với một thế hệ thanh niên hăng hái và kiên cường, chúng ta nhất định thành công trong sự nghiệp bảo vệ miền Bắc, giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc. Vì vậy Bác rất tự hào, sung sướng và thấy như mình trẻ lại, thấy tương lai của dân tộc ta vô cùng vững chắc và vẻ vang”.

Đánh giá cao vai trò xung kích cách mạng của tuổi trẻ và luôn đặt rõ vị trí của thanh niên trong tiến trình cách mạng, đặc biệt vào lúc cả nước ở trong tình trạng trực tiếp chiến đấu chống Mỹ, tại Lễ kỷ niệm Ngày truyền thống vẻ vang của Đoàn, Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã tin tưởng trao cho thế hệ trẻ lá cờ mang dòng chữ: “Vì chủ nghĩa xã hội, vì lý tưởng cộng sản, thanh niên anh dũng tiến lên!”.

Tuân theo lời dạy của Bác Hồ và chỉ thị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng, nhân Ngày Kỷ niệm thành lập Đoàn, Ban Chấp hành Trung ương Đoàn đã ra lời kêu gọi đoàn viên và thanh niên phát huy khí thế “Ba sẵn sàng”, hăng hái tiến lên hàng đầu trong sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước và xây dựng chủ nghĩa xã hội, quyết đem lá cờ trăm trận trăm thắng của Đảng và Bác Hồ vĩ đại tới đích thắng lợi cuối cùng. Tại buổi lễ trang trọng này đã vang lên lời thề “Ba sẵn sàng” chống Mỹ, cứu nước:

Vì nghĩa vụ thiêng liêng chống Mỹ, cứu nước.

Vì sự nghiệp xây dựng và bảo vệ chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc.

Vì sự nghiệp giải phóng miền Nam và thống nhất Tổ quốc.

Chúng ta thề:

1. Quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược, dù phải đánh 5 năm, 10 năm, 20 năm hoặc lâu hơn nữa, dù phải hy sinh gian khổ đến mức nào, chúng ta cũng quyết chiến đấu đến thắng lợi hoàn toàn.

2. Tuyệt đối tin tưởng vào đường lối cách mạng của Đảng để thực hiện lời dạy của Bác Hồ: “Trung với nước, hiếu với dân, nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng”.

3. Kiên quyết thực hiện “Ba sẵn sàng”

- Sẵn sàng chiến đấu, chiến đấu dũng cảm, sẵn sàng gia nhập các lực lượng vũ trang.

- Sẵn sàng khắc phục mọi khó khăn đẩy mạnh sản xuất, công tác và học tập trong bất kỳ tình huống nào.

- Sẵn sàng đi bất cứ nơi nào, làm bất cứ việc gì mà Tổ quốc cần đến”.

***

Ở miền Nam nước ta vào thời điểm này cục diện chiến trường có những chuyển biến mới. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, từ ngày 17 đến ngày 26-3-1965 Đại hội Đoàn Thanh niên Nhân dân cách mạng Việt Nam lần thứ nhất đã tiến hành tại vùng căn cứ kháng chiến Tây Ninh. Đại hội đã kiểm điểm công tác xây dựng Đoàn và phong trào thanh niên từ sau ngày ký kết Hiệp định Giơnevơ (1954) và đề ra phương hướng, nhiệm vụ công tác Đoàn và phong trào thanh niên miền Nam giai đoạn tới.

Đồng chí Nguyễn Chí Thanh, ủy viên Bộ Chính trị BCH Trung ương Đảng (khóa III) đã trực tiếp tham dự và chỉ đạo Đại hội. Sau khi nghe báo cáo tổng kết của BCH Trung ương Đoàn TNND cách mạng (lâm thời) và báo cáo bổ sung của các địa phương, đồng chí Nguyễn Chí Thanh đã phát biểu với Đại hội. Đồng chí phân tích rõ tình hình và đề ra cho thanh niên miền Nam 5 nhiệm vụ trong giai đoạn cách mạng mới.

Thấu suốt những vấn đề đang đặt ra cho công tác Đoàn và phong trào thanh niên miền Nam, Đại hội đã khẳng định nhiệm vụ trọng tâm của Đoàn TNNDCM trong giai đoạn trước mắt: “Đánh giặc, sản xuất, xây dựng đời sống mới ở vùng giải phóng, đoàn kết và tổ chức, tập hợp lực lượng thanh niên học tập, rèn luyện, phấn đấu trở thành lực lượng hậu bị của Đảng” và quyết định phát động sâu rộng trong đoàn viên và thanh niên trên toàn miền phong trào “Năm xung phong”.

1. Xung phong tiêu diệt thật nhiều sinh lực địch.

2. Xung phong tòng quân và tham gia du kích chiến tranh.

3. Xung phong đi dân công và thanh niên xung phong phục vụ tiền tuyến.

4. Xung phong đấu tranh chính trị và chống bắt lính.

5. Xung phong sản xuất nông nghiệp trong nông hội.

Cũng vào thời gian này, ở Liên khu V, Đoàn TNNDCM cũng đã tiến hành Đại hội Đoàn toàn Liên khu đánh dấu bước phát triển của phong trào thanh niên miền Trung trong giai đoạn mới của cách mạng.

Tháng 6-1966, Ban Thường vụ Trung ương Đoàn TNNDCM ra nghị quyết đẩy mạnh phong trào “Năm xung phong” lên một bước mới với khí thế “Phất cao cờ Năm xung phong, thanh niên thành đồng thừa thắng xông lên đánh bại hoàn toàn Mỹ - Ngụy”. Một trong những nhiệm vụ hết sức quan trọng của tuổi trẻ miền Nam là cầm súng giết giặc tham gia du kích địa phương và tòng quân. Nhiệm vụ ấy xác định cụ thể là “phải xung phong tiêu hao, tiêu diệt nhiều hơn nữa sinh lực địch bao gồm quân Mỹ, ngụy, chư hầu và mọi phương tiện chiến tranh của chúng. Đó là nhiệm vụ vinh quang trước nhất của thanh niên trong các lực lượng vũ trang, đồng thời đó cũng là nhiệm vụ của người thanh niên bất cứ ở đâu. Khi trên đất nước thân yêu còn một căn cứ địch, còn một bóng giặc xâm lăng thì thanh niên ta còn phải phát huy sáng kiến tiêu hao, tiêu diệt chúng, từ những hình thức đơn sơ thông thường nhất cho đến những hình thức cao là trực tiếp cầm vũ khí.

Ba sẵn sàng”“Năm xung phong” là những phong trào hành động cách mạng tiêu biểu của thế hệ trách nhiệm “xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước, mà lòng phơi phới dậy tương lai”. Phong trào có sức cuốn hút đông đảo đoàn viên và thanh niên trên mọi miền đất nước, ở mọi vị trí công tác, sản xuất, chiến đấu, học tập cũng như nghiên cứu… Khí thế “Ba sẵn sàng”, tinh thần “Năm xung phong” được bộc lộ rõ trên mọi lĩnh vực hoạt động. ở đâu có đoàn viên và thanh niên là ở đó có khí thế sôi nổi “Ba sẵn sàng” và “Năm xung phong”.

Biểu hiện rõ nét nhất là tinh thần sẵn sàng tòng quân, đi thanh niên xung phong, sẵn sàng tham gia chiến đấu, chiến đấu dũng cảm. Tòng quân, đi TNXP trở thành nguyện vọng thiết tha của tuổi trẻ trên mọi miền đất nước. ở Quảng Ninh 5 anh em họ Trương, con một gia đình công nhân ở mỏ than Hòn Gai đã đứng chung một lá đơn, thiết tha xin được nhập ngũ. 4 anh em trong một gia đình họ Nguyễn ở Hà Nội đều là sinh viên đề đạt một nguyện vọng chung xin ra tiền tuyến nhận bất cứ nhiệm vụ gì mà Đảng và quân đội giao phó. Cũng ở Hà Nội, còn có 28 anh chị em ruột, anh chị em con bác, con chú, trong gia đình đồng chí Nguyễn Thị Minh (ở quận Ba Đình) đã cùng đứng một lá đơn thiết tha xin được nhập ngũ và tái ngũ. Có nhiều lá đơn gửi đến Hội đồng nghĩa vụ quân sự thiết tha xin được nhập ngũ đã viết bằng máu.

Đứng trước tình hình đế quốc Mỹ liều lĩnh mở rộng chiến tranh xâm lược nước ta, vận mệnh Tổ quốc đứng trước những thử thách quyết liệt, tháng 7 năm 1966, Hội đồng Quốc phòng nước ta đã họp dưới sự chủ tọa của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Tiếp đó căn cứ vào quyết định của Hội đồng Quốc phòng tối cao và ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã công bố Lệnh động viên cục bộ, “động viên một bộ phận sĩ quan, binh sĩ dự bị và một bộ phận công dân thuộc ngạch dự bị nhưng chưa phục vụ tại ngũ” để tăng cường lực lượng quốc phòng, đẩy mạnh cuộc đấu tranh chính nghĩa của nhân dân ta.

Lệnh động viên cục bộ và Lời kêu gọi chống Mỹ, cứu nước của Chủ tịch Hồ Chí Minh ngay sau đó (17-7-1966) nhân ngày đấu tranh thống nhất nước nhà, cổ vũ mạnh mẽ tuổi trẻ “Ba sẵn sàng” và “Năm xung phong” sục sôi ý chí cách mạng, giục giã mọi người hăng hái gia nhập lực lượng vũ trang, đánh giặc cứu nước. Phong trào tòng quân, đi thanh niên xung phong càng trở nên sôi động. Gia đình ông Nguyễn Văn Tuyên ở Bộ Lương thực đã mở hội nghị gia đình thảo luận và  nhất trí để 15 người con, cháu, dâu, rể gia nhập hoặc trở lại quân đội. 5 anh em Bùi Đình Hồng, Việt kiều vừa về nước đã xung phong đi bộ đội cùng một lúc. ở xã Hải Thịnh, một xã phần lớn đồng bào theo đạo Thiên chúa của huyện Hải Hậu (Nam Định) chỉ trong một đợt tuyển quân đã có tới hơn 10 trường hợp phải dàn xếp vì chưa đủ tiêu chuẩn nhập ngũ hoặc thuộc diện miễn hoãn. Trong đó có 2 người lấy máu mình viết đơn xin nhập ngũ: Đỗ Nguyện và Trần Văn Thỏa. Đỗ Nguyện người bé nhỏ đã hai lần lên đường đều phải quay về, Đến lần thứ ba, anh nhất định không chịu rời đơn vị. Trần Văn Cảnh gặp một hoàn cảnh khác. Gia đình anh đã có 3 người đi bộ đội. Cảnh phải nhờ tới người anh công tác tại ủy ban hành chính xã nói hộ, vẫn không kết quả. Anh quyết định cứ hành quân theo đơn vị. Mãi 2 tháng sau anh mới đạt được nguyện vọng. Nhiều em thiếu nhi chưa đến tuổi nhập ngũ, nhưng sợ sau này lớn lên không còn cơ hội được đánh Mỹ, đã khai tăng tuổi để đi khám tuyển. Nhiều học sinh phổ thông, sinh viên đại học phát huy truyền thống của cha anh đã “xếp bút nghiên” để được lên đường đánh Mỹ.

Trong phong trào tòng quân, bên cạnh việc không ngừng tuyên truyền, giáo dục làm cho đoàn viên và thanh niên nhận rõ âm mưu, thủ đoạn xảo quyệt, tàn bạo của kẻ địch, nâng cao lòng căm thù giặc, nâng cao ý chí chiến đấu, xây dựng tinh thần dám xả thân vì nghĩa lớn… tổ chức Đoàn ở nhiều cơ sở còn có những hình thức động viên, cổ vũ tuổi trẻ. Vĩnh Phú (nay là Phú Thọ, Vĩnh Phúc) có phong trào “Trai đất tổ mở đội tòng quân”. Hải Hưng (nay là Hải Dương, Hưng Yên), Thái Bình, Nam Hà (nay là Nam Định, Hà Nam) và nhiều địa phương khác có “Ngày hội tuổi trẻ bàn việc nước”… qua đó tổ chức Đoàn nắm được tâm tư, nguyện vọng của thanh niên, chủ động phối hợp cử những người có đủ tiêu chuẩn tham gia các lực lượng vũ trang. Nhiều hình ảnh có sức cổ vũ mạnh mẽ tinh thần thanh niên lên đường chiến đấu được phát huy, mang lại nhiều hiệu quả: viếng nghĩa trang liệt sĩ, ghi sổ vàng truyền thống trồng cây lưu niệm… Các tổ chức Đoàn cơ sở còn phát huy vai trò chủ động trong việc giáo dục, sắp xếp lực lượng thanh niên làm nghĩa vụ quân sự. Cùng với việc động viên tinh thần tự nguyện đăng ký mỗi lần có đợt tuyển quân, Đoàn còn lập danh sách những thanh niên sắp đến tuổi tòng quân, lập các đội dự nhiệm cho những thanh niên đã được lựa chọn, sẵn sàng lên đường khi có lệnh. Nhiều tổ chức Đoàn còn kiểm tra việc thực hiện nghĩa vụ quân sự đối với các gia đình, đảm bảo sự công bằng trong việc thực hiện chính sách của Đảng.

Yêu cầu của công tác tuyển quân ngày càng cao cả về số lượng và chất lượng, về sức khỏe, trình độ văn hóa và kỹ thuật chiến đấu. ở Hòa Xá (huyện ứng Hòa, Hà Tây) Đảng bộ chính quyền xã đã tổ chức khám sức khỏe loại cho những người từ 18 đến 35 tuổi. Những người sức khỏe loại một được sung vào đơn vị sẵn sàng chi viện cho tiền tuyến, được mệnh danh “bộ đội làng”, thường xuyên  được bồi dưỡng nâng cao thể lực, tổ chức rèn luyện hành quân xa, mang vác nặng, học tập kỹ thuật chiến đấu để khi cần lập tức lên đường chiến đấu. Những người sức khỏe loại hai trở thành du kích, trực chiến trận địa. Những người còn lại vào dân quân xã làm nhiệm vụ canh phòng.

Ngày “bộ đội làng” lên đường trở thành bộ đội chính quy thật sự là một ngày hội. Gia đình, người thân chọn trong dãy tre đằng ngà bao quanh làng kháng chiến cũ những đoạn thẳng nhất, làm thành những chiếc gạy gửi theo các chiến sĩ ra tiền tuyến gọi là “gậy Trường Sơn”, Những người ở lại, vợ hoặc người yêu, được tặng chiếc nhẫn thủy chung, có khắc con số “500”, là kỷ niệm chiếc máy bay thứ 500 bị bắn rơi trên miền Bắc, do dân quân Hòa Xá bắn hạ ngày 17-7-1967.

Năm 1968, sau khi kiểm tra, Ban Bí thư Trung ương Đoàn TNLĐ Việt Nam ra quyết định công nhận Hòa Xá là xã có phong trào tòng quân khá nhất và phát động các địa phương làm như Hòa Xá.

Trong phong trào học tập và làm theo Hòa Xá, thanh niên các địa phương đã sáng tạo nhiều hình thức phong phú, cổ vũ tinh thần sẵn sàng chiến đấu, sẵn sàng nhập ngũ, động viên hàng triệu đoàn viên và thanh niên lên đường ra trận, với khẩu hiệu: “Tất cả cho tiền tuyến, tất cả để đánh thắng”, “Thóc không thiếu một cân, quân không thiếu một người”. Chỉ riêng tỉnh Hà Tây, trong hơn 10 năm từ 1965 đến 1975, đã có trên 17 vạn lượt thanh niên tòng quân chiến đấu trên khắp các chiến trường. Trong đó có 68 tiểu đoàn được tổ chức hoàn chỉnh, tập luyện thành thạo kỹ, chiến thuật chiến đấu được giao thẳng cho mặt trận. Đợt tuyển quân năm 1965 tỉnh đã huy động trên 25.000 thanh niên nhập ngũ, bằng tổng số thanh niên đi bộ đội trong 10 năm, từ 1954 đến 1964. Năm 1975, khi cuộc kháng chiến chống Mỹ bước vào giai đoạn quyết định, chỉ một đợt giao quân trong quí I, tỉnh đã đã vượt kế hoạch cả năm, với số quân gấp 2 lần năm trước, kịp thời chi viện cho chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử.

Nhiều thanh niên Hà Tây ra đi theo tiếng gọi “Ba sẵn sàng”, chiến đấu trên khắp các chiến trường, đã lập được nhiều chiến công xuất sắc. Tiêu biểu là anh hùng LLVT Trịnh Tố Tâm. Anh tòng quân khi cả nước bước vào cuộc kháng chiến chống Mỹ, trong cao trào “Ba sẵn sàng” và vào ngay chiến trường ác liệt nhất, Trị Thiên - Huế. Tại đây anh đã cùng đơn vị chiến đấu mưu trí, dũng cảm, diệt hơn 1.500 tên Mỹ-Ngụy, phá hủy 61 xe quân sự, đánh lật 19 đoàn xe của địch. Riêng Trịnh Tố Tâm đã diệt 272 tên địch, trong đó có 185 tên Mỹ, bắn rơi và phá hủy 3 máy bay lên thẳng, được tặng thưởng 20 huân chương các loại và 53 lần được công nhận danh hiệu “Dũng sĩ”.

Làm tốt công tác động viên thanh niên tòng quân di thanh niên xung phong chống Mỹ cứu nước, tổ chức Đoàn thanh niên ở các cơ sở đặc biệt coi trọng công tác hậu phương quân đội. Nhiều hình thức hoạt động phong phú được phát huy như thường xuyên chăm sóc, sửa sang nghĩa trang liệt sĩ, quan tâm giúp đỡ các gia đình có người đang tại ngũ. Nhiều nơi còn có sáng kiến phân công từng gia đình thương binh, bộ đội cho từng nhóm đoàn viên, thanh niên để tiện theo dõi chăm sóc giúp đỡ, nhất là đối với những gia đình neo đơn, gặp nhiều khó khăn. Nhiều đoàn viên và thanh niên đã không quản khó khăn, vất vả, hàng ngày dành thời gian đến giúp đỡ những gia đình có người đang đi chiến đấu.

Với phong trào “uống nước nhớ nguồn”, nhiều cơ sở Đoàn còn tổ chức xây dựng những công trình “đền ơn đáp nghĩa”, những ao cá, những hàng cây, những giếng nước, nhà tắm… tặng thương binh, gia đình liệt sĩ, gia đình bộ đội, TNXP. Nhiều nữ thanh niên đã tình nguyện đảm việc nhà, phụng dưỡng bố mẹ già, nuôi dạy con nhỏ để chồng yên tâm lên đường đi chiến đấu. Từ trong phong trào đã xuất hiện không ít những “cô dâu” tương lai sẵn sàng đến gánh nước, nấu cơm, đảm việc nhà, đỡ đần các bà “mẹ chồng”. Không ít nữ thanh niên tuy mới chỉ hứa hẹn với nhau, nhưng trong lúc người yêu đang chiến đấu ở chiến trường xa, không có tin tức vẫn một lòng chờ đợi, còn dành thời gian giúp đỡ gia đình bạn trai như một cô dâu thảo hiền. ở một số cơ sở, nữ thanh niên còn có phong trào tình nguyện lấy thương binh, coi đó là vinh dự, là niềm hạnh phúc đáng tự hào. Khởi đầu từ năm 1966, trong thanh niên xã Mường Hung (Sông Mã, Sơn La) đã có 36 nữa thanh niên đăng ký lấy chồng là thương binh. Lò Thị Đôi, Lò Thị Nhọt (Mộc Châu), Nguyễn Thị Thành (công nhân vắt sữa Nông trường Sao Đỏ), và nhiều chị em khác, tuổi đời còn rất trẻ vẫn đăng ký tình nguyện lấy chồng là thương binh từ hạng 3 trở lên.

Làm tốt công tác hậu phương, thanh niên yên tâm lên đường nhập ngũ, các gia đình có con em đến tuổi làm nghĩa vụ quân sự cũng sẵn sàng động viên conem mình làm tròn nghĩa vụ đối với Tổ quốc. ở huyện Sông Mã (Sơn La) chỉ trong một đợt tuyển quân đã có 990 gia đình làm đơn tình nguyện cho con em gia nhập lực lượng vũ trang. Bà Lừ Thị La (Yên Châu - Sơn La) đã có 4 con đi bộ đội, vẫn tình nguyện đưa người con thứ 5 lên đường đi đánh Mỹ.

Công tác Trần Quốc Toản của các em thiếu niên, nhi đồng cũng được đẩy mạnh. Các em thường làm nhiệm vụ quét dọn nhà cửa, chăm sóc lợn gà, vườn tược cho các gia đình thương binh, liệt sĩ, gia đình bộ đội, kết bạn học tập với các em thuộc diện gia đình chính sách, giúp đỡ các em yếu kém vươn lên…

Ở miền Nam, những năm đánh Mỹ, tuổi trẻ là đối tượng chủ yếu mà đế quốc Mỹ và tay sai tìm đủ mọi cách đầu độc ru ngủ bằng các thủ đoạn thâm độc, trắng trợn, tàn bạo nhằm làm nhụt chí khí đấu tranh, phá hoại về tinh thần và tư tưởng, làm suy kiệt cả thể chất, đưa dần thanh niên vào con đường thoái hóa, hư hỏng đi đến phản dân hại nước, phục vụ âm mưu đen tối, biến miền Nam thành thuộc địa kiểu mới của chúng. Giành và giữ thanh niên trở thành một trong những nhiệm vụ hàng đầu trong mọi công tác của tổ chức Đoàn. Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đoàn TNNDCM, xuất phát từ tình hình nhiệm vụ cụ thể của miền Nam đã đề ra công tác trọng tâm trước mắt của Đoàn là “tích cực bảo vệ, giành và giữ thanh niên. Kiên quyết đập tan kế hoạch bắt lính đôn quân của địch”.

Cùng với những cuộc đấu tranh đòi quyền dân sinh dân chủ, chống tuyên truyền lừa bịp và xuyên tạc, đòi quân Mỹ rút về nước, đánh đổ ngụy quyền tay sai bán nước… các cuộc đấu tranh chống bắt lính, chống bắt tập quân sự nổ ra liên tiếp với nhiều hình thức phong phú, linh hoạt, có những nơi cuộc đấu tranh giữa ta và địch diễn ra quyết liệt, phong trào tòng quân và tham gia du kích của thanh niên càng phát triển. Có những xã ở tỉnh Kiến Phong, tỉnh Long An, trong khi địch đang tiến hành bình định lấn chiếm, dồn bắt thanh niên đi lính, vào phòng vệ dân sự vẫn có hàng trăm thanh niên đi tòng quân và tham gia du kích. Hai tỉnh Trà Vinh và Sóc Trăng trong điều kiện địch đánh phá ác liệt vẫn thường xuyên xấp đủ tân binh bổ sung theo yêu cầu phát triển lực lượng địa phương và cung cấp nhiều tân binh cho lực lượng chủ lực toàn miền. Hai tỉnh Bến Tre và Mỹ Tho hàng tháng có từ 100-200 thanh niên tòng quân, góp phần xây dựng nên những đơn vị chủ lực lớn của quân đội cách mạng, đáp ứng đòi hỏicủa chiến trường. Riêng Mỹ Tho (ngày nay là tỉnh Tiền Giang) trong 2 năm 1967 - 1968 đã có 13.800 đoàn viên và thanh niên lên đường nhập ngũ. ở các xã Cẩm Sơn, Mỹ Thiện… có đến 80% số thanh niên đến tuổi đã lên đường đi chiến đấu.

Từ năm 1965 đến năm 1968, tuổi trẻ liên khu 5 đã có 2 khóa tòng quân tập trung. Khóa Nguyễn Văn Trỗi, kéo dài trong 2 năm 1965-1966, có trên 28.000 cán bộ, đoàn viên và thanh niên nhập ngũ, góp phần lập nên hai sư đoàn quân chủ lực, sư đoàn 3 (thành lập tháng 9-1965) và sư đoàn 2 (thành lập tháng 11-1965). Chuẩn bị cho cuộc tấn công và nổi dậy xuân Mậu Thân 1968, tổ chức Đoàn các tỉnh thuộc liên khu 5, lại phát động cao trào tòng quân “xông lên giành chính quyền, thanh niên quyết thắng”, với 25.000 đoàn viên và thanh niên nhập ngũ.

Có nhiều hình ảnh sinh động xuất hiện trong phong trào tòng quân, như vợ mới cưới tiễn đưa chồng đi làm nhiệm vụ, cha dẫn con ra mặt trận,v.v… Có những gia đình lần lượt 5-7 anh chị em hy sinh, còn lại người con út chưa đủ tuổi, vẫn thiết tha được lên đường cầm súng. ở Mộc Ninh, bà mẹ Lê có 2 người con trai đến tuổi quân dịch, bà đã tìm cách che giấu cho con suốt 4 năm trời, đến ngày quê hương được giải phóng, bà đã vui vẻ dẫn cả 2 con đến giao cho cách mạng, còn lại một mình ở nhà sản xuất.

Thấy rõ việc đưa thanh niên đứng hẳn về phía cách mạng và hình thức triệt để nhất để bảo vệ thanh niên, các tổ chức Đoàn cơ sở đã đặc biệt coi trọng việc vận động trách nhiệm đấu trah chống bắt lính, chống đôn quân, đẩy mạnh công tác binh vận và dịch vận, làm tan rã từng mảng lớn hàng ngũ địch, nhất là đấu tranh chống phá hình thức tổ chức phòng vệ dân sự, vận động thanh niên trả súng, không canh gác, không tập quân sự. Nhiều nơi tổ chức phòng vệ dân sự của địch tan rã từng mảng đến tan rã hoàn toàn, địch phải tốn nhiều công sức lập đi lập lại vẫn không duy trì được.

Thấy rõ bộ mặt tàn bạo của đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai, hầu hết thanh niên ta đều không muốn đi lính làm bia đỡ đạn cho chúng. Nhưng cũng không ít thanh niên chưa mạnh dạn đứng lên đấu tranh. Một số còn ngần ngại gian khổ không dám ra vùng giải phóng. Phần đông số thanh niên này đã chống bắt lính bằng những hình thức như: lánh né, làm giấy tờ giả, lo lót tiền bạc, thậm chí có người đã tự thương, chặt đứt cả ngón tay… Một số thanh niên khác, tích cực hơn tổ chức thành những lõm trốn lĩnh, và cả lính trốn, làm hầm bí mật có vách ngăn làm hai, tủ quần áo cũng được làm thành 2 ngăn, vừa đảm bảo chống bắt lính, vừa che giấu cán bộ hoạt động bí mật khi cần thiết. ở nhiều nơi ngoài việc trốn tránh để khỏi bị bắt lính, thanh niên còn tự trang bị vũ khí như lựu đạn, súng ngắn… để tự bảo vệ khi địch lùng bắt.

Với hành động chống bắt lính tích cực, ngay cả trong thời kỳ địch bình định lấn chiếm quyêt liệt nhất, thanh niên xã Mỹ Long (ngày nay thuộc tỉnh Tiền Giang) vẫn còn được bảo vệ. Cả 240 thanh niên của xã không có một người nào bị bắt lính. Lúc đầu tổ chức Đoàn thanh niên của địa phương hướng dẫn những thanh niên trong số bà con thân thích của cán bộ Đoàn vào các lõm địa hình thành ăn ở, sinh hoạt. Dần dần số thanh niên vào trụ bám trong địa hình ngày càng đông. Cả một số binh sĩ địch và phòng vệ dân sự đào ngũ cũng vào sống trong lõm du kích. Họ tự lực xây dựng cụm ăn ở, gắn bó với nhau như anh em ruột thịt. Từng bước, tổ chức Đoàn động viên, giáo dục các đối tượng thanh niên, vận động họ cùng tham gia công tác cách mạng. Hầu hết thanh niên đều vào các đội du kích, tham gia cài lựu đạn bảo vệ lõm địa hình, đánh địch khi chúng càn vào căn cứ, một số khác tòng quân.

Thông qua phong trào “Năm xung phong”, nhiều cơ sở Đoàn đã kiên trì tổ chức, tập hợp thanh niên theo những hình thức thích hợp: Hội những người đá banh, đội văn nghệ thanh niên, tổ thanh niên xung phong chống bắt lính, tổ thanh niên tuyên truyền xung phong, tổ thanh niên xung phong cung ứng chiến trường, đội TNXP cơ sở,v.v… Nhiều thanh niên đã từng vào phòng vệ dân sự của địch, khi được giáo dục giác ngộ  đã hăng hái tham gia du kích, tham gia diệt ác phá kềm. Xã Vĩnh Tường (Long Mỹ) có cả một liên toán phòng vệ dân sự khởi nghĩa, chuyển thành lực lượng du kích với 39 súng. ở Bắc Long An có 6 thanh niên bị bắt vào phòng vệ dân sự đã tự đặt tên: Quyết - Tâm - Bảo - Vệ - Tổ - Quốc, rồi diệt ác mang súng trở về với cách mạng tham gia du kích đánh địch. Không chỉ thanh niên vùng giải phóng, vùng giáp ranh hăng hái tòng quân mà ngay ở các vùng bị địch tạm chiếm sâu như ở Thới Bính thanh niên cùng tìm mọi cách để ra vùng giải phóng tham gia công tác cách mạng. Có 3 thanh niên trong một ấp chiến lược đã phá rào ra đồng nằm chờ 3 ngày 3 đêm để liên lạc với cách mạng, xin đi chiến đấu.

***

Trong giai đoạn cả nước có chiến tranh (1965-1975) tòng quân, đi thanh niên xung phong là trách nhiệm đồng thời cũng là vinh dự, là niềm tự hào của thanh niên trên cả 2 miền đất nước.

Được Trung ương Đảng, Bác Hồ và Chính phủ giao nhiệm vụ, tháng 3-1965 Ban Bí thư Trung ương Đoàn TNLĐ Việt Nam phát động trong đoàn viên, thanh niên phong trào tình nguyện gia nhập Đội TNXP chống Mỹ, cứu nước (tập trung). Chỉ một tháng sau, đã có hơn 10 vạn đoàn viên và thanh niên đăng ký sẵn sàng lên đường. Ngày 25-4-1965, đội TNXP chống Mỹ, cứu nước (tập trung) đầu tiên được thành lập, gồm 1.200 đội viên nam (vì điều kiện công tác đặc biệt chưa nhận nữ) của tỉnh Thanh Hóa, tổ chức thành 9 đại đội cấp tốc lên đường vào miền Tây Quảng Bình làm nhiệm vụ.

Hội nghị lần thứ IX Ban Chấp hành Trung ương Đoàn (khóa III) họp tháng 5-1965 đã quyết định “tổ chức các đội TNXP chống Mỹ, cứu nước phục vụ sản xuất và chiến đấu”. Nghị quyết nhấn mạnh: “Phát huy truyền thống của những đội TNXP trong kháng chiến, mỗi đội TNXP hiện nay phải là một đơn vị sản xuất có năng suất cao, một đơn vị chiến đấu khi cần thiết và đồng thời là một trường học giáo dục và rèn luyện thanh niên”.

Ngày 21-6-1965, Thủ tướng Chính phủ ra chỉ thị số 71-TTg cho phép chính thức thành lập đội TNXP chống Mỹ, cứu nước (tập trung).

Ngày 21 tháng 6 (tức ngày Thủ tướng Chính phủ ra chỉ thị số 71-TTg) được lấy làm số hiệu cho đội TNXP chống Mỹ, cứu nước (tập trung) thành lập đầu tiên, đó là Đội 21 và đại hội được thành lập đầu tiên của Đội 21 có số hiệu 216.

Đầu tháng 6-1965, hai đội TNXP chống Mỹ, cứu nước (tập trung) mang số hiệu 23 và 25 của Hà Tĩnh cũng được thành lập và lên đường nhận nhiệm vụ làm đường và vận chuyển hàng hóa bằng xe đạp thồ ở Nam Lào và Bắc Quảng Bình do đoàn 559 quản lý.

Cũng trong tháng 6-1965, các tỉnh đã lần lượt tổ chức các đội TNXP chống Mỹ cứu nước với tổng số quân 8.856 đội viên vào phục vụ đoàn 559 (Bộ Quốc phòng). Do yêu cầu cấp bách của chiến trường, việc tổ chức lực lượng TNXP chống Mỹ, cứu nước (tập trung) được triển khai rất khẩn trương. Chưa kịp ổn định tổ chức, các đơn vị đã phải cấp tốc hành quân trên những chặng đường dài 300-400, thậm chí hàng ngàn kilômét dưới bom đạn địch. Đến hiện trường hầu hết các đơn vị phải làm lấy lán trại để ở, tự làm công cụ để sản xuất.

Đến tháng 7-1965, phong trào tình nguyện gia nhập lực lượng TNXP chống Mỹ, cứu nước (tập trung) càng được đẩy mạnh. ở hầu khắp các cơ sở, số lượng thanh niên tình nguyện gia nhập TNXP hơn yêu cầu tiếp nhận nhiều lần. ở khu phố Hoàn Kiếm (nay là quận Hoàn Kiếm, Hà Nội) yêu cầu tuyển 200 đội viên TNXP đã có trên 1000 đoàn viên, thanh niên đăng ký. ở huyện Can Lộc (Hà Tĩnh) tỉ lệ đó là 3.193/400. Trong số người tình nguyện, tỉ lệ nữ thường chiếm tới 60-70%. Có chị đã nói: “Nam thanh niên được tham gia bộ đội, tham gia các ngành nhiều rồi nay phải nhường phần cho nữ thanh niên”. Có những gia đình có 2-3 chị em ruột cùng tuổi thanh niên đã giành nhau để được đi thanh niên xung phong. Ai cũng hiểu rõ đi thanh niên xung phong là phải chấp nhận gian khổ, hy sinh, nhưng vốn khát khao được cống hiến, tuổi trẻ sẵn sàng chấp nhận thử thách. Trong đó có không ít thanh niên xuất thân từ các thành phần không cơ bản có nhiều mặc cảm với xã hội, được Đoàn động viên, đã hăng hái gia nhập TNXP. Có trường hợp phải kiên trì mới thực hiện được nguyện vọng. Như Nguyễn Thị Liệu, sau ngày trở thành một chiến sĩ TNXP nổi tiếng trên tuyến đường “Quyết thắng” đã từng suýt bị để lại vì lý do lý lịch. Thoạt đầu Liệu trốn theo đơn vị, mãi hai tháng sau mới được tiếp nhận do chính những thành tích xuất sắc của mình.

Lực lượng TNXP chống Mỹ, cứu nước thật là nơi tập hợp, đoàn kết mọi tầng lớp thanh niên trong xã hội vào sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước, thanh niên Việt kiều về nước, thanh niên các dân tộc thiểu số, thanh niên các tôn giáo… không một tầng lớp thanh niên nào không có mặt trong đội hình TNXP chống Mỹ, cứu nước. Nói như một thanh niên Việt kiều mới trở về Tổ quốc, quê ở Hà Tĩnh: “Kháng chiến lần thứ nhất chống thực dân Pháp xâm lược, chúng tôi chưa được vinh dự đóng góp, nay xin cho chúng tôi đi TNXP để góp phần với sự nghiệp của dân của nước”.

Gia nhập lực lượng TNXP chống Mỹ, cứu nước trở thành tình cảm, thành nỗi khát vọng của nhiều đoàn viên, thanh niên. Thanh niên các dân tộc thiểu số ở Lạng Sơn, Lào Cai, Bắc Thái (nay là Bắc Cạn, Thái Nguyên), Thanh Hóa… trước đây ít khi đi xa gia đình, giờ nhận thức được trách nhiệm của tuổi trẻ cũng hăng hái lên đường làm nhiệm vụ. Thanh niên theo đạo Thiên chúa ở Nam Định, Ninh Bình cũng tình nguyện gia nhập lực lượng  TNXP chống Mỹ, cứu nước.

Theo thống kê chưa đầy đủ, đợt đầu tuyển TNXP đã có trên 1000 thanh niên các dân tộc thiểu số, 1360 thanh niên theo đạo Thiên Chúa tham gia. Cả những nhà sư cũng không thể tĩnh tâm tụng kinh gõ mõ. Như sư nữ Đàm Thị Dần, trước đây khi cắt tóc đi tu, Dần chỉ muốn được tĩnh tâm. Nhưng trước cảnh nhà tan cửa nát do giặc Mỹ gây ra, Dần muốn được phá giới. Đàm Thị Dần mạnh dạn viết đơn gửi Đoàn thanh niên xã và gặp sư bà xin cho mình đi TNXP. Sư bà tỏ ra thông cảm nhưng vì Dần ăn chay niệm Phật đã được 6 năm, sắp được lên sư bác, nên bà có ý ngần ngại. Dần không nản làm tiếp đơn thứ hai, gửi thẳng cho Huyện Đoàn đề nghị giúp đỡ. Ngày lên đường của Đàm Thị Dần thật sự là một ngày hạnh phúc. Cô hăng hái đi bộ 400 kilômét từ Hà Nội vào tận phía Tây Nam Hà Tĩnh làm nhiệm vụ.

Bên cạnh lớp thanh niên tuổi mười bảy, đôi mươi, nhiều anh chị em thuộc lớp nhiều tuổi hơn cũng hăng hái gia nhập lực lượng TNXP, với tất cả nhiệt tình cách mạng của tuổi trẻ. Có đồng chí trước đây đã tham gia Đoàn TNXP trong kháng chiến chống Pháp, nay lại thiết tha xin được trở lại đội ngũ. Nhiều thanh niên vừa hoàn thành nghĩa vụ quân sự lại tình nguyện tham gia lực lượng TNXP. Nhiều cán bộ Đoàn gia đình gặp khó khăn, được cử phụ trách các đội TNXP đã tự thu xếp để có thể lên đường. Hàng ngàn cán bộ y tế, giáo viên văn hóa đã tình nguyện vào phục vụ trong các đội TNXP. Nhiều đồng chí tình nguyện không hưởng lương, chỉ hưởng chế độ cung cấp như các đội viên TNXP.

Các bậc cha mẹ ý thức được “nước mất thì nhà tan” đã cổ vũ, động viên con em mình lên đường làm tròn nghĩa vụ đối với Tổ quốc. Nhiều gia đình chỉ có một con trai, vẫn thu xếp việc nhà để con yên tâm lên đường. Một bà mẹ ở xã Thủy Triều (huyện Ân Thi, Hưng Yên) đã nói: “Lúc còn bé, nó là con cha con mẹ, nay cháu đã lớn khôn là con dân con nước, chúng tôi xin giao cháu cho Đảng, cho Đoàn, làm sao dạy dỗ các cháu làm tròn nhiệm vụ với dân với nước là chúng tôi vui lòng”.

Trong những năm tháng cả nước cùng ra trận, biết bao bà mẹ Việt Nam đã rất tự hào khi nhắc tới những đứa con đang tham gia lực lượng TNXP chống Mỹ, cứu nước. Họ nói về con em mình với giọng thật thiêng liêng: “Cháu nó đi Ba sẵn sàng”.

Nhiều tỉnh có số lượng tuyển TNXP trong một đợt rất lớn vẫn hoàn thành nhanh gọn, đảm bảo chất lượng. Riêng tỉnh Nam Hà (nay là Nam Định và Hà Nam) chỉ trong tháng 7-1965 đã thành lập được 2 đội TNXP chống Mỹ, cứu nước (tập trung): đội 35 và 37, nhanh chóng lên đường vào các tỉnh khu IV cũ làm nhiệm vụ trên tuyến đường 15B, từ Cầu Giát qua Thái Hòa, Tân ấp, Vinh… nằm trên địa bàn 3 tỉnh: Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, ở phân tán cách nhau hàng trăm kilômét.

Trong vòng 3 tháng, từ tháng 4 đến tháng 7 năm 1965, gần 5 vạn đội viên thanh niên xung phong đã được tập hợp trong 32 đội, gồm 7 đội do đoàn 559 (Bộ Quốc phòng) quản lý làm nhiệm vụ mở đường mới và vận chuyển trên tuyến hành lang ở Quảng Bình và trên chiến trường miền Nam, chiến trường Lào: 7 đội do Tổng cục đường sắt quản lý, hoạt động dọc theo tuyến đường sắt từ Ninh Bình đến Nghệ An; số còn lại làm nhiệm vụ bảo đảm giao thông và mở đường mới do ngành giao thông vận tải quản lý, chủ yếu hoạt động trên các tuyến đường 1A, 15, 21, 22, 22B, 20 (còn có tên là đường Quyết Thắng),v.v… chốt giữ ở hầu hết các trọng điểm xung yếu: Đò Lèn, Hàm Rồng, Cầu Cấm, Hoàng Mai (trên đường số 1), Bãi Dinh, Mụ Giạ (đường 12A), đèo Ba Trại, ngầm Hạ Trạch (đường số 2, Quảng Bình), phà Địa Lợi, ngã ba Đồng Lộc, khe Tang, khe Rinh, đèo Đá Đẽo, phà Xuân Sơn, phà Long Đại (đường 15); cua chữ A, K59, dốc Đồng Tiền (đường Quyết Thắng)…

Tháng 9-1965, cuộc chiến đấu của quân và dân ta trên chiến trường miền Nam phát triển mau lẹ, cần một lực lượng trẻ, khỏe làm nhiệm vụ trên tuyến đường dây liên tỉnh Trị - Thiên. Được Đảng giao nhiệm vụ, Trung ương Đoàn đã trực tiếp chỉ đạo 3 tỉnh Nam Hà, Ninh Bình, Hà Tây, tuyển mỗi tỉnh 110 đoàn viên thanh niên nam tuổi từ 18 đến 25 thành lập đại hội TNXP đặc biệt phục vụ chiến trường miền Nam, mang phiên hiệu Đoàn K53.

Cũng tháng 9-1965, Thủ tướng Chính phủ đã chỉ thị cho phép Tổng cục Lâm nghiệp được tuyển dụng 1000 thanh niên để tổ chức thí điểm “Đội TNXP chống Mỹ, cứu nước” phục vụ ngành lâm nghiệp. Về sau, ngành lâm nghiệp đã tổ chức được 7 đội TNXP, phần lớn làm đường vận chuyển, chỉ có một đội làm nhiệm vụ trồng rừng.

Yêu cầu mở đường mới và đảm bảo giao thông trong thời chiến rất lớn. Ngoài lực lượng TNXP chống Mỹ, cứu nước do Trung ương quản lý, từ tháng 5-1965, tỉnh Thanh Hóa đã thành lập Đội TNXP chống Mỹ, cứu nước của địa phương, mang phiên hiệu 263 trên cơ sở sáp nhập các đơn vị ở 2 công trường Núi Thành và Đồng Xoài.

Cũng thời gian này, Nghệ An thành lập đội TNXP chống Mỹ, cứu nước đầu tiên của tỉnh, mang tên đội Cù Chính Lan. Đến năm 1966, đội được chuyển vào phục vụ trong ngành giao thông vận tải Quảng Bình tỉnh lại quyết định thành lập Tổng đội TNXP Cù Chính Lan trực thuộc ủy ban tỉnh nhằm phát huy tính chủ động sáng tạo, tự đảm nhận các công trình xây dựng và đảm bảo giao thông của TNXP. Qua 3 nhiệm kỳ, 18.000 lượt cán bộ, đoàn viên thanh niên đã trực tiếp phục vụ trong Tổng đội TNXP Cù Chính Lan góp phần mở thêm hàng trăm kilômét đường mới, sửa chữa hàng trăm cầu, phà, đảm bảo giao thông suốt trên nhiều tuyến đường, ở hầu hết các vị trí xung yếu như Cầu Cấm, Truông Bồn, Phương Tích, Bến Thủy, Hoàng Mai, Cầu Giát, Thái Hòa, rú Nguộc, núi Trét, Bàu Bàng…

Ngoài nhiệm vụ đảm bảo giao thông trên những tuyến đường huyết mạch trong tỉnh, Tổng đội còn cử 1.500 cán bộ, đội viên chi viện cho tỉnh Quảng Bình bốc xếp, chuyển tải hàng hóa tại nam-bắc sông Gianh từ năm 1967-1968. Năm 1969-1970 đi làm nhiệm vụ vận tải hàng hóa vào Tây Quảng Trị - Thừa Thiên. Năm 1970-1971 tham gia chiến dịch Nam Lào - đường 9. 4.000 cán bộ, đội viên làm nhiệm vụ đảm bảo tuyến đường sắt phía Nam từ Hàm Rồng đến Vinh-Bến Thủy.

Trong những tháng cuối năm 1965, đầu năm 1966, các tỉnh, thành phố đều lần lượt thành lập đội TNXP chống Mỹ, cứu nước do địa phương quản lý. Hà Nội có đội 51, Hải Phòng có đội 77, Ninh Bình có đội 3, Thanh Hóa sau khi thành lập đội 263 đến tháng 12-1965 lại thành lập thêm đội 696, Bắc Thái có đội XP91-TC,v.v…

Do tính chất nhiệm vụ của địa phương, khu vực Vĩnh Linh (nay thuộc tỉnh Quảng Trị), ngoài các đơn vị TNXP chống Mỹ, cứu nước của Trung ương hoạt động trên địa bàn địa phương. ủy ban hành chính khu vực Vĩnh Linh cũng quyết định thành lập 2 đội TNXP chống Mỹ, cứu nước phục vụ trong ngành giao thông vận tải và trong ngành thủy lợi.

Các tỉnh thuộc khu IV cũ đều thành lập từ 2 đội TNXP chống Mỹ, cứu nước trở lên, ngoài các đội do Trung ương quản lý. Riêng tỉnh Nghệ An thành lập tới 6 đội.

Một số đội TNXP chống Mỹ, cứu nước cũng được thành lập để phục vụ trong một số ngành biệt lập của giao thông vận tải: Đội 27 phục vụ công ty đường Goòng, do Tỉnh Đoàn Hà Tĩnh quản lý: đội TNXP đường sông, trực thuộc Cục vận tải đường sông, đảm nhận việc chuyển tải, xếp dỡ và bảo vệ hàng hóa theo kế hoạch.

Để phát huy sức mạnh tổng hợp của lực lượng TNXP chống Mỹ, cứu n¬ước và để thống nhất sự chỉ đạo, ngày 29-8-1968, Ban Bí thư Trung ương Đoàn TNLĐ Việt Nam đã quyết định thành lập Tổng đội TNXP chống Mỹ, cứu n¬ước 768, bao gồm các đội 39, 31, 45, 35 đang làm nhiệm vụ trên các tuyến đường 22 và 22B. Tổng đội đảm nhận toàn bộ công trình kiến thiết cơ bản và đảm bảo giao thông trên 2 tuyến đường này. Đồng chí Bùi Nguyên Tích, ủy viên Ban Chấp hành Đoàn Thanh niên GTVT Trung ương, nguyên Đội trưởng đội 39 được chỉ định làm Tổng đội trưởng.

Cùng thời gian, ở các tỉnh trên chiến trường miền Nam, trước yêu cầu bức thiết phải huy động sức người sức của ngày càng cao, khi tình hình cách mạng chuyển sang giai đoạn mới - giai đoạn đánh thắng chiến tranh đặc biệt và sau đó khi đế quốc Mỹ buộc phải ồ ạt đưa quân vào tham chiến, tiến hành cuộc chiến tranh cục bộ hết sức tàn bạo, thực hiện nghị quyết của Trung ương Đảng, triển khai nghị quyết của Đại hội Đoàn TNND Cách mạng lần thứ nhất về tổ chức ra Đội thanh niên xung phong công tác phục vụ chiến trường, ngày 20-4-1965, Trung ương Đoàn TNND cách mạng, phát động thanh niên các cơ quan chung quanh Trung ương cục miền Nam thành lập đội Thanh niên xung phong mang ký hiệu C.100, có 108 đội viên, trong đó có 14 đảng viên và 40 đoàn viên. Tháng 8-1965, đáp ứng yêu cầu của chiến trường trọng điểm miền Đông, Thường vụ Trung ương Đoàn TNND cách mạng quyết định thành lập Tổng đội TNXP giải phóng miền Nam vừa làm nhiệm vụ chỉ đạo theo hệ thống ở các tỉnh Nam Bộ (cũ), vừa chỉ huy các liên đội của miền.

C.100 được lấy làm khung cho tổ chức Tổng đội. Một nửa làm nòng cốt để xây dựng đội 198 mang tên Thành Đồng, nửa còn lại biên chế các bộ phận thuộc văn phòng Tổng đội. Đồng chí Nguyễn Đức Toàn, ủy viên Thường vụ Trung ương Đoàn được cử làm Tổng đội trưởng.

Căn cứ nghị quyết Đại hội Đoàn TNND cách mạng lần thứ nhất, TNXP giải phóng miền Nam được thành lập theo 3 hình thức: TNXP giải phóng miền Nam tập trung dài hạn, làm nhiệm vụ phục vụ chiến trường, ngày đêm sát cánh với các đơn vị quân giải phóng miền Nam, tải thương, vận chuyển hàng chiến lược, vũ khí, làm cầu đường. Các đội thường hoạt động phân tán theo từng trung đoàn quân giải phóng hoặc ở một hướng chiến trường nhất định.

Hình thức thứ hai, TNXP giải phóng miền Nam tập trung có thời hạn, do các tỉnh hoặc các khu Đoàn tổ chức và chỉ đạo. Riêng khu V đã có 5.506 thanh niên xung phong tập trung của tỉnh và khu, với các liên đội Võ Như Hưng, Võ Thị Sáu. Khu VI có 19 đại đội với 2.500 đội viên. Các tỉnh thuộc Nam Bộ cũ ít nhất cũng thành lập được một đội TNXP giải phóng tập trung. Thủ Dầu Một có đội 112 mang tên “Phú Lợi căm thù”, Tây Ninh có đội 2311 Hoàng Lệ Kha. Long An có đội 29 mang tên “Hiệp Hòa anh dũng”, Mỹ Tho có đội ấp Bắc I và ấp Bắc II, Bến Tre có đội 2012 Nguyễn Văn Tư. Cần Thơ có đội Tây Đô quyết thắng, Cà Mau có đội Nguyễn Việt Khái, Rạch Giá có đội Hòn Đất I…

Hình thức thứ ba, TNXP giải phóng miền Nam ở cơ sở (xã, ấp), được tổ chức rộng rãi ở hầu khắp các tỉnh, với hàng chục ngàn đoàn viên, thanh niên tham gia. Riêng tỉnh Bến Tre, trong chưa đầy 2 năm (1965-1966) đã có 10.215 đội viên. Một số xã, đội viên TNXP chiếm trên 60% tổng số đoàn viên, thanh niên ở địa phương.

Đội viên TNXP ở cơ sở và TNXP tập trung có thời hạn là nguồn bổ sung dồi dào cho bộ đội và TNXP tập trung dài hạn. Khi thành lập Tổng đội TNXP giải phóng miền Nam, Thường vụ Trung ương Đoàn đã quyết định rút lực lượng TNXP các tỉnh  về bổ sung lực lượng xây dựng Tổng đội.

Năm 1967, trước yêu cầu của chiến trường, các đơn vị trong Tổng đội được biên chế thành 3 liên đội (tiểu đoàn). Mỗi liên đội phối thuộc, gắn bó với một sư đoàn chủ lực miền và mang phiên hiệu của sư đoàn đó, gồm liên đội 9, liên đội 5 và liên đội 7. ở chiến trường khu V và khu VI, TNXP được chuyển sang trực thuộc hậu cần quân khu làm nhiệm vụ phục vụ theo các đường hành lang.

Tòng quân, đi TNXP là những biểu hiện sinh động khí thế “Ba sẵn sàng” và tinh thần “Năm xung phong”. Đã có trên 5 triệu lượt đoàn viên thanh niên gia nhập lực lượng vũ trang trong cuộc kháng chiến chống Mỹ. Riêng ở làng Hòa Xá, lá cờ đầu trong phong trào tòng quân đã có 6 gia đình có 4 con đi bộ đội, 11 gia đình có 3 con, 61 gia đình có 2 con, 388 gia đình có 1 con… Tính ra đã có 568 thanh niên của làng đi bộ đội chống Mỹ, chiếm tỉ lệ 16,9% dân số. Bên cạnh đó trên 133 ngàn đoàn viên và thanh niên, trong đó có trên 69 ngàn nữ, tham gia lực lượng thanh niên xung phong chống Mỹ, cứu nước (tập trung); hàng vạn đoàn viên, thanh niên tham gia lực lượng thanh niên xung phong giải phóng miền Nam… là những con số mang nhiều ý nghĩa, không chỉ đáp ứng yêu cầu cấp bách về sức người sức của cho chiến trường. Sâu xa hơn, tinh thần ấy càng nuôi lớn dậy ý chí dám xả thân vì nghĩa lớn của một thế hệ dám đương đầu với thử thách và làm nên thắng trận.

***

Từ trận đầu máy bay Mỹ đánh phá một số điểm ở Quảng Ninh, Thanh Hóa, Nghệ An, Quảng Bình… ngày 5-8-1964, với tinh thần “có lệnh là đi, giặc đến là đánh, đã đánh là phải thắng” thanh niên trong các đơn vị pháo cao xạ và dân quân tự vệ ở các địa phương đã thể hiện rõ ý chí và khả năng chiến đấu, đã chiến đấu ngoan cường, dũng cảm, hạ máy bay, bắt sống giặc lái. Hải quân nhân dân Việt Nam, lần đầu xuất kích với 3 tàu phóng lôi đã đánh đuổi tàu Ma-đốc của Mỹ xâm phạm vùng biển nước ta. Hôm sau (ngày 5-8-1964) Hải quân nhân dân Việt Nam lại cùng các đơn vị phòng không và nhân dân các địa phương khu vực sông Gianh, Cửa Hội, Lạch Trường, Hòn Gai… đánh thắng không quân Mỹ một trận oanh liệt mở đầu trang sử vẻ vang của binh chủng.

Nhiều chiến sĩ trẻ lần đầu đối mặt với máy bay Mỹ đã tỏ ra ngoan cường dũng cảm, kiên cường bám trận địa, boong tàu, bị thương cũng không chịu rời trận địa. Ngày 18-11-1964, tại miền Tây Quảng Bình, người chính trị viên trẻ tuổi Nguyễn Viết Xuân sau khi chỉ huy đại đội pháo cao xạ của mình phối hợp chiến đấu trong đội hình của tiểu đoàn bắn hạ một máy bay của Mỹ, đã bị thương nặng, chân giập nát. Không do dự, anh đề nghị cứu thương chặt đứt chân cho khỏi vướng và yêu cầu không để các chiến sĩ biết. Anh đứng tựa vào thành công sự tiếp tục chỉ huy bộ đội chiến đấu. Thấy máy bay Mỹ vẫn liều lĩnh lao xuống cắt bom, Nguyễn Viết Xuân cố nén đau, dồn sức hô to:

- Các đồng chí! Máy bay Mỹ không có gì đáng sợ, học tập Nguyễn Văn Trỗi, các đồng chí hãy nhằm thẳng quân thù mà bắn!

“Nhằm thẳng quân thù, bắn” đã trở thành khẩu hiệu chiến đấu của toàn quân, toàn dân và thanh niên Việt Nam trong những năm kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Trên các trận địa bắn máy bay Mỹ, trong các chiến hào đối mặt kẻ thù, ở đâu cũng vang lên tiếng hô đầy dũng khí: “Nhằm thẳng quân thù, bắn!”.

Càng trong gian khổ, ác liệt, phẩm chất anh hùng của tuổi trẻ “Ba sẵn sàng” càng bộc lộ rõ nét. Cầu Hàm Rồng là một trong những biểu tượng của tinh thần quyết thắng của quân và dân ta trong cuộc kháng chiến chống Mỹ. “Cầu Hàm Rồng không những tượng trưng cho cuộc chiến đấu của nhân dân Việt Nam chống Mỹ xâm lược mà còn tượng trưng cho thắng lợi. Đó là “Đài chiến thắng” xây dựng ngay trong lúc còn chiến đấu và do chiến đấu” (lời ông Chủ tịch Ban liên lạc quốc tế Hội nghị Xtốckhôm về Việt Nam Béctanhxvantrân).

Từ ngày 3 và 4 tháng 4 năm 1965 cho đến suốt hai đợt gây chiến tranh phá hoại của không quân Mỹ đối với miền Bắc, cầu Hàm Rồng (Thanh Hóa), luôn là mục tiêu đánh phá của chúng. Trong các ngày 3 và 4-4-1965 đã diễn ra những trận chiến đấu hiệp đồng tuyệt vời giữa các quân, binh chủng, các lực lượng, không quân, hải quân, bộ đội pháo cao xạ, dân quân tự vệ… không quân nhân dân trẻ tuổi lần đầu tiên xuất kích đã lập công vẻ vang. Ngày 3-4 biên đội máy bay Phạm Ngọc Lan bắn rơi chiếc F8. Ngày 4-4 biên đội máy bay  Trần Hanh bắn rơi 2 chiếc F105. Các tàu hải quân cơ động, linh hoạt chăng lưới dày đặc, góp phần hạ máy bay địch.

Các lực lượng pháo cao xạ và dân quân tự vệ ngoan cường, dũng cảm giữ vững vị trí chiến đấu. Đại đội 4 pháo cao xạ Hàm Rồng, trận địa đóng trên đồi “3 cây thông”  bất chấp những trận bom địch xối xả xuống trận địa, kiên cường bắn trả máy bay Mỹ. Nhiều chiến sĩ trẻ, như Vũ Minh Dương, 2 lần bị thương vẫn không chịu rời trận địa; Lê Như Đắc bị ngất, nhưng khi tỉnh lại câu hỏi đầu tiên của anh là: “Cầu có việc gì không? Anh em có ai việc gì không?”. Các chiến sĩ trẻ đơn vị phòng không 19-5, hiệp đồng chặt chẽ, đánh địch đúng tầm, đúng hướng, thực hiện “đã ra quân là chiến thắng”.

Lực lượng dân quân tự vệ Hàm Rồng - Nam Ngạn luôn tỏ ra ngoan cường, xông xáo hết vị trí này đến vị trí khác, phục vụ chiến đấu và chiến đấu dũng cảm. Hàn Thị Tĩnh, Trương Thị Thạch… những tay súng bắn máy bay Mỹ tầm thấp quyết liệt, khi có pháo thủ bị thương đã nhanh chóng thay thế vị trí, đảm bảo các khẩu đội pháo cao xạ có thể chiến đấu liên tục. Ngô Thị Sáu, Ngô Thị Dung và nhiều nam nữ thanh niên Nam Ngạn dũng cảm bơi ra giữa dòng sông Mã, dưới làn mưa bom của địch, cứu thuyền chở lương thực, tiếp đạn, mang lá ngụy trang cho tàu hải quân. Nguyễn Thị Hằng cùng đồng đội đã nêu cao tinh thần chiến đấu và phục vụ chiến đấu gan dạ trong nhiều đợt đánh trả máy bay Mỹ. Ngô Thị Tuyển, trong lúc khẩn trương một mình đã vác một lúc cả 2 hòm đạn nặng 98 kg, gấp 2 lần trọng lượng cơ thể mình, kịp thời tiếp đạn cho bộ đội đánh trả máy bay địch. Trong những ngày chến đấu căng thẳng với máy bay Mỹ, lúc nào Ngô Thị Tuyển cũng xông xáo, lúc tiếp đạn, lúc mang cơm và nước uống cho bộ đội. Sau này Ngô Thị Tuyển đã được Nhà nước tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang.

Chiến tranh luôn là một thử thách khắc nghiệt, trước hết đối với thế hệ trẻ, làm bộc lộ phẩm chất và năng lực hành động của những con người trẻ tuổi trước vận mệnh sống còn của Tổ quốc, của nhân dân. Với một tiềm lực quân sự khổng lồ, đế quốc Mỹ đã sử dụng đủ mọi loại máy bay, từ Thần sấm, Con ma đến siêu pháo đài bay B52, F111 cánh cụp cánh xòe.. áp dụng đủ các thứ chiến thuật đánh phá của không quân, hải quân, đánh phá ác liệt các mục tiêu trong đất liền, đánh phá cả những hòn đảo ở ngoài biển xa. Nhiều hòn đảo trở thành những túi đựng bom, đạn của không quân và hải quân Mỹ, Cồn Cỏ, Bạch Long Vĩ cũng như Hòn Ngư, Hòn Mắt… là những hòn đảo xa phải hứng chịu nhiều trận đánh phá ác liệt của chúng. Nhưng cũng chính trong những điều kiện ác liệt đó các chiến sĩ trẻ tuổi trong các lực lượng vũ trang càng bộc lộ rõ phẩm chất sẵn sàng của mình, giữa mưa bom bão đạn vẫn “rắn như thép, vững như đồng”.

Cồn Cỏ là một hòn đảo ở ngoài khơi Cửa Tùng (huyện Vĩnh Linh - Quảng Trị). Kẻ địch dùng không quân, hải quân đánh phá Cồn Cỏ ngày đêm. Mỗi mét vuông đất đai trên đảo Cồn Cỏ phải chịu hàng tấn bom đạn. Các chiến sĩ làm nhiệm vụ trên đảo, từ đồng chí nuôi quân đến các chiến sĩ thông tin, quân y, pháo thủ… đã trở thành một khối thép vững chắc, từng giờ từng phút đối mặt với máy bay, tàu chiến Mỹ, không một giây chùn bước, nêu tấm gương sáng về chủ nghĩa anh hùng cách mạng của tuổi trẻ Việt Nam. Có những chiến sĩ đã trở thành biểu tượng sinh động cho ý chí kiên cường không có gì có thể khuất phục. Thái Văn A, chiến sĩ quan trắc của đảo, ngày đêm bám vị trí chiến đấu, kể cả lúc bom đạn địch trút xuống quanh mình dày đặc, anh vẫn bình tĩnh quan sát, thông báo kịp thời từng diễn biến để đơn vị tổ chức đánh địch có hiệu quả.

Anh trở thành “Cây ra đa sống” của đảo. Bùi Thanh Phong, một pháo thủ gan góc, mấy lần bị bom Mỹ vùi xuống đất, cả mấy lần anh đều đội đất đứng lên tiếp tục chiến đấu. Cùng với tập thể đảo Cồn Cỏ, Thái Văn A và Bùi Thanh Phong đã được Nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang.

Cồn Cỏ trở thành biểu tượng của sức mạnh chiến thắng của quân và dân ta trong những năm kháng chiến chống Mỹ. Những nơi máy bay địch thường xuyên đánh phá ác liệt đều được mệnh danh là Cồn Cỏ. Và những đoàn viên và thanh niên được phân công làm nhiệm vụ ở những vị trí trọng yếu đó đều thấy vinh dự, tự hào và đều nêu cao tinh thần bám trụ đến cùng, như các chiến sĩ Cồn Cỏ kiên cường bám đảo.

Vào thời điểm quyết liệt của cuộc chiến đấu, Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam phát động phong trào giành danh hiệu “Đơn vị quyết thắng” và “Chiến sĩ quyết thắng”. Cũng thời gian này, Trung ương Đoàn TNLĐ Việt Nam quyết định đặt cờ thưởng mang chân dung Nguyễn Văn Trỗi tặng những tập thể lập công xuất sắc trong chiến đấu, sản xuất, học tập và rèn luyện. Về sau Trung ương Đoàn còn đặt phần thưởng huy hiệu mang chân dung Nguyễn Văn Trỗi tặng những cá nhân có thành tích xuất sắc. Khí thế thi đua lập công trong tuổi trẻ các lực lượng vũ trang và trong mọi đối tượng thanh niên ngày càng sôi nổi. Những gương sáng về hạ máy bay địch tại chỗ, hạ ngay từ loạt đạn đầu xuất hiện ngày một nhiều. Đó là các tập thể tiểu đoàn pháo cao xạ Nguyễn Viết Xuân, các lực lượng pháo phòng không bảo vệ Hà Nội, Hải Phòng và các địa phương khác… cảnh giác cao, cơ động linh hoạt, đón đánh địch trong  mọi tình huống, đã đánh là thắng. Là những chiến sĩ trẻ kiên cường, dũng cảm, có quyết tâm tiêu diệt địch cao, Nguyễn Văn Mật, 26 tuổi, tiểu đội trưởng súng máy trực tiếp chiến đấu hơn 200 trận với máy bay, tàu chiến Mỹ, trận nào cũng lập công. Binh nhất pháo cao xạ Nguyễn Hữu Ngạn, 21 tuổi, trong một năm liên tục chiến đấu 60 trận, có trận 3 lần bị thương vẫn không rời vị trí. Đó còn là các chiến sĩ trẻ trong các lực lượng tên lửa, ra đa, thông tin, hậu cần, công binh v.v… ngày đêm chiến đấu và sẵn sàng chiến đấu giữ vững bầu trời và mặt biển của Tổ quốc.

Vai trò và vị trí của tổ chức Đoàn trong các lực lượng vũ trang ngày càng được củng cố và phát huy. Trong tất cả các đại đội, phân đội đều có tổ chức chi đoàn, Đoàn cơ sở và hầu hết đều do đồng chí chính trị viên phó trực tiếp làm bí thư. Từ cấp trung đoàn và các đơn vị tương đương trở lên có trợ lý phụ trách công tác thanh niên nằm trong cơ quan chính trị. Các tổ chức Đoàn thanh niên ở các đơn vị đã không ngừng giáo dục đoàn viên và thanh niên tinh thần ngoan cường dũng cảm, dám xả thân vì Tổ quốc và chủ nghĩa xã hội, sẵn sàng hoàn thành mọi mệnh lệnh của các cấp chỉ huy trong bất kỳ tình huống nào.

Trong số đoàn viên thanh niên gia nhập quân đội trong những năm đầu chống chiến tranh phá hoại của Mỹ, nhiều người đã tốt nghiệp hoặc đang theo học tại các trường đại học và trung học chuyên nghiệp.Trong số này một phần vào quân đội theo lệnh điều động vào phục vụ trong các đơn vị chuyên môn kỹ thuật, còn lại phần lớn đều đi theo tiếng gọi “Ba sẵn sàng”, bổ sung cho các đơn vị trực tiếp chiến đấu. Đông đảo hơn cả vẫn là lực lượng đoàn viên thanh niên đã tốt nghiệp cấp II, cấp III phổ thông, đã được huấn luyện cơ bản về quân sự, đang sôi nổi khí thế “Ba sẵn sàng”.

Chất lượng tổ chức Đoàn trong các lực lượng vũ trang nhờ đó được tăng lên đáng kể, góp phần không nhỏ tạo thêm sức mạnh chính trị trong quân đội, và nhất là nhanh chóng vươn lên nắm vững khoa học, kỹ thuật quân sự hiện đại trước đòi hỏi cấp bách của cuộc chiến đấu. Nhiều cơ sở Đoàn coi việc vươn lên nắm vững khoa học, kỹ thuật hiện đại là thước đo trình độ giác ngộ của người chiến sĩ trẻ. Đoàn đã chủ động đề nghị tổ chức học tập, rèn luyện kỹ năng chiến đấu ngay trong các chiến hào. Vừa chiến đấu vừa học tập. Học giữa hai đợt máy bay địch đánh phá. Học cả ban ngày lẫn ban đêm. Các chiến sĩ trẻ pháo cao xạ không những học sử dụng thành thạo các binh khí kỹ thuật hiện đại mà còn học để đứng được tất cả các số trong một kíp chiến đấu. Tập thể đoàn viên và thanh niên đoàn tên lửa 61, đơn vị anh hùng, bất kể trong hoàn cảnh nào cũng ra sức học tập chính trị để nâng cao trình độ chính trị và không ngừng khổ luyện để nắm vững và nâng cao trình độ kỹ thuật, chiến thuật, liên tiếp bắn rơi nhiều máy bay Mỹ, kể cả siêu pháo đài bay B52.

Cùng với đoàn 61, binh chủng tên lửa phòng không trẻ tuổi, với lực lượng chủ yếu là thanh niên, ngay từ trận đầu ra quân đã bất ngờ diệt máy bay địch trên vùng trời Bất Bạt (Hà Tây). Từ đó (ngày 24-7-1965) bộ đội tên lửa phòng không với cách đánh mưu trí, sáng tạo, dũng cảm, kiên quyết, liên tiếp lập nhiều chiến công vẻ vang. Trong 2 cuộc chiến đấu chống chiến tranh phá hoại của Mỹ lực lượng tên lửa phòng không đã bắn rơi hơn 800 máy bay Mỹ, trong đó có 57 máy bay B52. Có trận chỉ bằng 1 quả tên lửa đã diệt 2 máy bay. Đặc biệt trong 12 ngày đêm chiến đấu quyết liệt cuối năm 1972, lực lượng tên lửa đã chiến đấu dũng cảm và sáng tạo, bắn rơi 37 máy bay Mỹ, trong đó có 32 chiếc B52. Chiến sĩ điều khiển tên lửa, Trung úy Nguyễn Tuyên là một trong những thanh niên tiêu biểu không ngừng vươn lên nắm vững khoa học kỹ thuật quân sự hiện đại, góp phần đánh thắng nhiều loại máy bay Mỹ, được Nhà nước tuyên dương Anh hùng lực lượng vũ trang ngay trong những năm đầu của cuộc chiến đấu chống chiến tranh phá hoại của Mỹ.

Tuổi trẻ phân đội 7, hải quân, Đoàn Không quân Sao Đỏ… vừa chiến đấu, vừa xây dựng đã trưởng thành nhanh chóng, đọ sức hàng trăm trận với máy bay tàu chiến Mỹ, hạ hàng chục máy bay, đánh đắm hàng trăm tàu thuyền của chúng. Tính đến năm 1975, nhân dân đã chiến đấu hàng ngàn trận với hải quân, không quân và cả bộ binh Mỹ-Ngụy  đánh chìm 353 tàu, xuồng chiến đấu, vận tải quân sự của địch, diệt 2.000 tên, phá hủy hàng chục vạn tấn vũ khí và phương tiện chiến tranh của địch; đánh bị thương nặng 45 tàu các loại, trong đó có nhiều tàu lớn như tàu tuần dương Niupo Niu, tàu khu trục Oasinhtơn… bắn rơi 118 máy bay, diệt 35 xe tăng, tháo gỡ và phá nổ hàng nghìn quả thủy lôi và bom các loại của địch.

Trong mười năm đọ sức với không quân và hải quân Mỹ, không quân nhân dân Việt Nam, một binh chủng mới được xây dựng mà hầu hết sĩ quan, chiến sĩ, đang độ tuổi thanh xuân, đã xây dựng nên truyền thống “trung thành vô hạn, tiến công kiên quyết, đoàn kết hiệp đồng lập công tập thể”, chiến đấu hơn 300 trận, bắn rơi 320 máy bay Mỹ, gồm 19 loại, trong đó có 2 máy bay B52, phá hủy 24 chiếc, đánh chìm và bắn cháy 6 tàu chiến và tàu biệt kích, đánh thiệt hại nặng 3 căn cứ quân sự địch. Có trung đoàn bắn rơi 100 máy bay, có đại đội bắn rơi trên 60 chiếc. Nhiều chiến sĩ lái đã lập công xuất sắc. Tiêu biểu là các Anh hùng không quân trẻ tuổi Nguyễn Văn Bảy, Lê Thanh Đạo, Nguyễn Văn Cốc, Phạm Tuân…

Với khẩu hiệu “Toàn dân vũ trang, toàn dân đánh giặc”, thanh niên luôn giữ vai trò nòng cốt trong các lực lượng dân quân tự vệ, đã nêu cao tinh thần chiến đấu và phục vụ chiến đấu, sản xuất và bảo vệ sản xuất trong mọi tình huống. Hàng trăm đơn vị đã bắn rơi hoặc cùng bộ đội bắn rơi máy bay Mỹ. Tiêu biểu là thanh niên dân quân Yên Vực - Nam Ngạn (Thanh Hóa), Quỳnh Lưu (Nghệ An), Cảnh Dương (Quảng Bình), Vĩnh Thái (Vĩnh Linh), Hải Thịnh (Nam Hà),v.v… với những đoàn viên, thanh niên như Ngô Thị Tuyển, Trần Thị Lý, Trương Thị Khuê… đã chiến đấu vô cùng thông minh, dũng cảm với đủ loại phương tiện chiến tranh hiện đại của Mỹ. Trần Thị Lý, ở tuổi 19, phơi phới sức thanh xuân, trong một trận chiến đấu 6 lần bị bom vùi lấp, cả 6 lần đồng chí tự bới đất đứng lên tiếp tục cuộc chiến đấu. Tại Đại hội Anh hùng, Chiến sĩ thi đua chống Mỹ, cứu nước lần thứ nhất Trần Thị Lý là người trẻ nhất được tuyên dương danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang.

Phong trào bắn máy bay Mỹ bằng súng bộ binh phát triển rộng khắp. Cùng với thanh niên dân quân Nam Ngạn, Hàm Rồng, thanh niên tự vệ nhà máy điện Hà Nội, thanh niên đội cầu 19-5 dũng cảm đánh trả địch, bảo vệ nhà máy, xí nghiệp, thanh niên dân quân xã Minh Khôi (Nông Cống, Thanh Hóa) đã bắn rơi máy bay A4D của Mỹ bằng súng bộ binh. Tiếp đó, thanh niên dân quân xã Hoằng Hải (Hoằng Hóa) Phú Lễ (Quan Hóa) nay thuộc tỉnh Thanh Hóa cũng bắn rơi máy bay Mỹ. Trung đội dân quân gái xã Hoa Lộc (Hậu Lộc, Thanh Hóa), phần lớn chỉ tuổi mười tám, đôi mươi, chỉ sau một tháng thành lập, ngày 16-6-1967, đã bắn rơi máy bay A4 của Mỹ, mở đầu phong trào dân quân gái toàn miền Bắc thi đua bắn rơi máy bay Mỹ bằng súng bộ binh. Và ngày 16-11-1967, đơn vị dân quân gái xã Hoằng Trường (Thanh Hóa) bắn rơi 2 máy bay AD6 của Mỹ, dân quân gái xã An Hồng (Hải Phòng), bắn rơi một máy bay, 13 nữ dân quân Quảng Ninh (Quảng Bình) và nhiều đơn vị dân quân gái khác đều bắn rơi máy bay Mỹ.

Phong trào bắn rơi máy bay Mỹ ở tầm thấp diễn ra ở mọi nơi, trong bất cứ hoàn cảnh nào. Ba đoàn viên thanh niên ở Diễn Châu (Nghệ An) với 3 khẩu súng trường, khi máy bay Mỹ đến đánh phá quê hương đã cùng chiến đấu, hạ 1 máy bay Mỹ. Tỉnh miền núi Sơn La trong những điều kiện hết sức khó khăn, đoàn viên và thanh niên vẫn hăng hái thực hiện “Ba sẵn sàng”. Trong những năm chiến đấu chống chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ, thanh niên Sơn La chiếm tới 90% lực lượng của các đơn vị vũ trang trong tỉnh. Hầu hết thanh niên chưa có điều kiện nhập ngũ đều tham gia các đơn vị trực chiến của dân quân tự vệ, chiến đấu và phục vụ chiến đấu dũng cảm, lập công xuất sắc. Trong đó tổ dân quân của đoàn viên thanh niên Lò Văn Sáng (Mường La) đã dùng súng bộ binh bắn rơi một máy bay F105 của Mỹ ngay năm đầu chúng đến đánh phá Sơn La, mở đầu phong trào bắn máy bay Mỹ tầm thấp trong toàn tỉnh. Tiếp đó, thanh niên các dân tộc Sơn La đã chiến đấu dũng cảm, đánh địch trong mọi tình huống. 2 thanh niên người H’Mông xã Kim Bon (Phù Yên) bắn rơi tại chỗ 1 máy bay F105, là xã vùng cao đầu tiên của miền Bắc bắn rơi máy bay Mỹ. Đoàn viên Mùa Lao Chu, người dân tộc H’Mông, đang làm ruộng, đã lợi dụng thân trâu làm giá súng bắn bị thương máy bay Mỹ. Đoàn viên Giàng A Dênh dùng súng trường bắn rơi máy bay trực thăng Mỹ khi chúng đến cứu đồng bọn, giết chết tên giặc lái đang leo thang máy bay.

***

Trên chiến trường miền Nam, ngay khi quân Mỹ vừa ồ ạt kéo vào miền Nam, tuổi trẻ “Năm xung phong” đã đương đầu một cách oanh liệt. Từ trận Vạn Tường mở đầu, tuổi trẻ cùng đồng bào và chiến sĩ miền Nam đã khẳng định là có thể đánh và nhất định đánh thắng Mỹ. Vừa chiến đấu vừa tìm hiểu những chỗ yếu của quân đội Mỹ, thanh niên miền Nam Việt Nam đã cùng quân và dân khắp các địa phương sáng tạo nhiều cách đánh phong phú, táo bạo. Quân Mỹ đi đến đâu, gieo tai họa ở chỗ nào là ở đó chúng phải trả nợ máu. Chúng bị vây, bị chặn đánh ở mọi nơi, mọi lúc. Những mũi chông sắc nhọn, những phát súng bắn tỉa bất thần của các chiến sĩ trẻ tuổi đã diệt hàng ngàn tên xâm lược. Củ Chi trở thành đất thép, với những địa đạo ngang dọc, vây hãm quân thù vào trong trận đồ bát quái, chúng đã vào là khó có đường ra. Những bài học sinh động của Củ Chi mở ra hướng đi có hiệu quả trong chiến đấu. Chiến khu Đ lần đầu tiên Mỹ đưa lực lượng lớn, kể cả bọn chư hầu đến càn quét đã bị du kích, phần lớn là đoàn viên, thanh niên đánh tiêu diệt. Du kích Thái Hòa (Phước Thành) chỉ một tiểu đội đã đương đầu với cả 2 tiểu đoàn Mỹ có máy bay, pháo binh và cơ giới yểm trợ, suốt một ngày trời, vừa sửa công sự vừa đánh địch, cuối cùng buộc chúng phải rút lui. Vành đai Rạch Kiến (Long An) vừa kết hợp đấu tranh vũ trang với đấu tranh chính trị chỉ trong 6 tháng đã diệt hơn 200 tên Mỹ.

Ở Mỹ Tho, ngay từ ngày đầu Mỹ tiến hành xây dựng căn cứ Đồng Tâm làm bàn đạp khống chế cả vùng đồng bằng sông Cửu Long rộng lớn, tuổi trẻ đã cùng quân và dân trong tỉnh hình thành thế bao vây tiến cống địch bằng “2 chân và 3 mũi giáp công”. Cả những thanh niên mới lớn cũng tham gia đánh Mỹ bằng nhiều cách có hiệu quả. Hồ Văn Nhánh, 16 tuổi, nhà ở gần căn cứ Đồng Tâm. Hàng ngày đi coi trâu gần căn cứ, Nhánh chú ý quan sát và phát hiện trên hàng rào địch gài nhiều mìn và lựu đạn. Anh nảy ra ý định gỡ trái về cho du kích, nhưng không biết làm cách nào để gỡ, phải đào nguyên cả bệ đất đựng vào mo cau mang về. Dần dần được hướng dẫn, Nhánh đã tự gỡ và còn hướng dẫn lại cho em Dũng ở gần nhà cùng gỡ. Kết quả gỡ được hàng ngàn quả mìn, lựu đạn các loại, phục vụ cho du kích và bộ đội đánh địch trên 300 trận, diệt 130 tên Mỹ và nhiều tên ngụy. Nhánh đã cùng với Dũng vào căn cứ gỡ trái tới 131 lần. Lần cuối cùng không may, mìn nổ cả 2 đã hy sinh. Về sau Hồ Văn Nhánh được tuyên dương Anh hùng lực lượng vũ trang giải phóng. Đáng chú ý là trận đánh của 4 chiến sĩ đặc công do Bảy Chịu chỉ huy. Cả 4 chiến sĩ đều là đoàn viên thanh niên, đêm 8 rạng sáng ngày 9 tháng 1 năm 1967 họ đã mưu trí vượt qua hàng rào bảo vệ dày đặc tiếp cận cho nổ gói thuốc TNT nặng 200 kg, đánh chìm tàu cuốc Giamaicabay, phá hỏng 12 tiểu pháo hạm, diệt trên 200 nhân viên kỹ thuật Mỹ.

Đi đôi với những vành đai diệt Mỹ, phong trào thi đua giành danh hiệu “Dũng sĩ diệt Mỹ”, “Dũng sĩ quyết thắng”, “Dũng sĩ diệt xe cơ giới, hạ máy bay” đã thu hút đông đảo đoàn viên, thanh niên ở các địa bàn khác nhau tham gia, thực hiện lời dạy của Bác Hồ “31 triệu đồng bào là 31 triệu dũng sĩ”. Phan Hành Sơn, 21 tuổi đời diệt một số địch gấp 21 lần số tuổi của mình. Hồ Văn Mên, 13 tuổi đã mưu trí đánh địch giữa thị xã, diệt một lúc 59 tên, phần lớn là sĩ quan. Nguyễn Văn Lên, chiến sĩ đặc công quận Tân Uyên, 2 ngày liền chống chọi với một trung đoàn địch, diệt cả trăm tên Mỹ. Bùi Văn Hòa, chiến sĩ đánh hậu cứ ngoan cường đã dẫn đồng đội vượt mọi lưới bố phòng như mạng nhện của địch tấn công vào kho Long Bình lần thứ tư, phá hủy 889 ngàn đạn pháo, 23 xe cơ giới, 3 máy đèn, diệt 107 tên Mỹ, làm bị thương 243 tên khác.

Một sự kiện đáng chú ý là sự ra đời những tập thể thanh niên chiến đấu: “Đội thanh niên quyết tử”; “Đội thanh niên quyết thắng”; “Đội thanh niên khởi nghĩa”… Thanh niên vùng ven thành phố Đà Nẵng đã mở đầu sáng kiến này. Lúc đầu là một nhóm nhỏ thanh niên, có một số em thiếu nhi phối hợp, dưới sự lãnh đạo của chi bộ Đảng, đã tổ chức đánh thử để rút kinh nghiệm. Ngày 10-3-1965, khi đợt đầu tiên của đội quân viễn chinh Mỹ đổ vào Đà Nẵng, một tên Mỹ đã ngã gục trước mũi súng bắn tỉa của “Đội thanh niên quyết tử” do Tỉnh Đoàn Quảng Đà (ngày nay là thành phố Đà Nẵng) tổ chức. Sau đó, khu Đoàn liên khu V quyết định phát triển các đội “thanh niên quyết tử” ở tất cả 9 tỉnh, từ vùng núi Tây Nguyên đến các thành phố Đà Nẵng, Qui Nhơn, Nha Trang. Đội “Thanh niên quyết tử” mang tên Anh hùng Võ Như Hưng do Huyện Đoàn Điện Bàn tổ chức, nhanh chóng nổi lên với nhiều cách đánh mưu trí, táo bạo. Đội ra mắt tại Gò Nổi, phía Nam sông Thu Bồn, với lực lượng ban đầu 31 tay súng. Trong một trận đánh không cân sức, đội đã chiến đấu kiên cường, đánh lui một lực lượng liên hợp gồm 3 tiểu đoàn quân Mỹ và ngụy, diệt 125 tên, bắn cháy 5 xe tăng và xe bọc thép, rồi thừa thắng, truy kích địch vào tận thị xã Vĩnh Diện. Tại đây, một lực nhỏ của đội trụ lại, thoắt ẩn, thoắt hiện bám đánh địch liên tiếp trong nhiều ngày. Đội “thiếu niên quyết tử Nguyễn Văn Trỗi” ở Điện Hòa chỉ có 6 em cũng đã lập công xuất sắc: Trong 3 tháng diệt 135 tên Mỹ và thu được 15 súng. Tại thành phố Sài Gòn và các thành phố, thị xã khác đã xuất hiện những “đội quân ngầm” hoạt động táo bạo, đánh sập nhiều bin đinh, cư xá Mỹ, diệt hàng trăm tên giặc xâm lược, trong đó có nhiều tên giặc lái nhà nghề và nhiều sĩ quan cao cấp Mỹ.

Tổ chức Đoàn ở nhiều nơi còn góp phần tổ chức những đơn vị chiến đấu gồm toàn nữ thanh niên. 6 nữ thanh niên du kích ở Quế Sơn (Quảng Nam) 7 ngày đêm liền chống trả một trung đoàn địch đến càn quét, diệt 59 tên Mỹ-Ngụy, hạ một máy bay. Chị em vừa cầm súng chiến đấu quyết liệt, khi lực lượng địch mạnh, tràn được vào trong thôn xóm, chị em lại giấu súng, trở thành những cô gái dịu dàng trò chuyện thuyết phục từng tên địch. Địch rút ra ngoài, chị em lại cầm súng, đón đánh đợt tấn công tiếp của chúng. Trong nhiều huyện của miền Tây và miền Đông Nam Bộ còn xuất hiện những đơn vị nữ pháo binh ở Rạch Giá, Long An, nhất là đội nữ pháo binh quận Lái Thiêu (Thủ Dầu Một) chỉ sau 10 ngày huấn luyện đã sử dụng thành thạo các trang bị kỹ thuật, bắn chính xác, diệt 37 tên địch, trong đó có một đại úy ngụy.

Trong gian khổ ác liệt, phong trào “Xung phong tiêu diệt thật nhiều sinh lực địch” của thanh niên trong tất cả các thứ quân trên chiến trường miền Nam ngày càng phát triển, làm nảy nở nhiều tấm gương tiêu biểu. Dương Văn Tân, kiện tướng diệt Mỹ trẻ tuổi của Tây Ninh, cùng tổ chiến đấu của mình trong 16 ngày đêm đánh tan xác và đánh hỏng 16 xe tăng, xe bọc thép, diệt 87 tên Mỹ. Từ Văn Phước, 26 tuổi, dũng sĩ diệt Mỹ Thủ Dầu Một, trong 13 tháng chiến đấu ở vùng sát địch quận Lái Thiêu đã diệt 71 tên Mỹ, 17 lính Nam Triều Tiên, 45 lính ngụy… Chỉ riêng năm 1966 tất cả đoàn viên và thanh niên ở miền Đông Nam Bộ đều vượt chỉ tiêu diệt Mỹ. Qua hiệp đầu đánh bại cuộc phản công mùa khô lần thứ nhất của địch (1965-1966) riêng Quảng Trị, Thừa Thiên đã xuất hiện 2.700 dũng sĩ, trong đó có gần 500 dũng sĩ diệt Mỹ. Cũng thời gian ấy, ở miền Trung Trung Bộ có 405 dũng sĩ diệt Mỹ như “Củ Chi đất thép thành đồng”, “Quảng Nam trung dũng kiên cường đi đầu diệt Mỹ”, “Long An toàn dân đánh giặc”… có sức cổ vũ tuổi trẻ trên các chiến trường vươn lên lập công với những tên tuổi như Đoàn Văn Luyện, Ngô Bê, Nguyễn Văn Hòa, Trần Thị Tâm… Là những thanh niên như Võ Thị Thắng, không may bị sa vào tay giặc vẫn một lòng tin tưởng ở tương lai của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước và trước bản án 20 năm khổ sai của kẻ thù vẫn nở nụ cười chiến thắng! Là Kpă Klơng “tuổi nhỏ chí lớn”. 13 tuổi đã tham gia du kích. Khi nhập ngũ, anh làm trinh sát cho bộ đội huyện Chưpông. Kpă Klơng có biệt tài bắn xuyên táo, luôn chọn điểm cao thích hợp, bình tĩnh chờ địch đến gần, mới nổ súng. Có lần anh bắn 3 viên đạn diệt 5 tên địch. Lần đi trinh sát ở Pleime, anh đã bám địa thế, bắn 2 viên đạn diệt 4 tên biệt kích. Trong mọi tình huống Kpă Klơng đều tìm mọi cách diệt địch đạt hiệu suất cao nhất. Có lần với 3 viên đạn còn lại, anh bám sát địch từ sáng đến chiều, đứng nấp cách địch 5 mét, chờ địch tập hợp hàng dọc mới bắn xuyên táo, diệt 7 tên, làm bị thương 1 tên khác. Một lần khác, đang làm nhiệm vụ canh gác trên rẫy, phát hiện địch kéo đến, anh bình tĩnh tìm vị trí thuận lợi, bắn 2 phát diệt ngay 4 tên. Những tên còn lại phải hốt hoảng tháo chạy. Đối với lĩnh Mỹ anh cũng có cách đánh thích hợp. Biết lĩnh Mỹ khi tác chiến thường chiếm điểm cao. Kpă Klơng bố trí mìn trên đường rồi lên chiếm điểm cao trước, nằm phục kích. Lính Mỹ từ căn cứ Pleime hành quân lấn chiếm vấp phải mìn, đứa chết, đứa bị thương. Số còn lại vội chạy lên chiếm đỉnh cao, liền bị Kpă Klơng đang ém sẵn tại đó, ném lựu đạn vào đội hình, diệt tiếp 4 tên, khiến chúng hoảng sợ phải tháo chạy.

Kpă Klơng là một chiến sĩ trẻ luôn xông xáo, gương mẫu. Trong nhiều năm anh đều được bầu là chiến sĩ thi đua của huyện, của tỉnh. Ngày 17-9-1967, anh được tuyên dương Anh hùng lực lượng vũ trang với 6 chữ vàng “Tuổi thiếu niên, chí anh hùng”.

Trong cuộc phản công chiến lược lần thứ hai, Mỹ-Ngụy đã mở tới 895 cuộc hành quân lớn nhỏ, tập trung có trọng điểm trên một hướng chính là miền Đông Nam Bộ với 3 cuộc hành quân then chốt. Trong đó cuộc hành quân Gian-xơn Xi-ty là cuộc hành quân lớn nhất trên một hướng trong toàn cuộc chiến tranh. Chúng huy động tới 7 lữ đoàn Mỹ, 2 chiến đoàn ngụy, gồm 26 tiểu đoàn, nhằm diệt cơ quan đầu não của ta, diệt chủ lực, phá kho tàng, triệt phá căn cứ, phong tỏa biên giới. Trên một chiến trường chỉ rộng 400 km2, chúng đã tập trung một lực lượng tới 4-5 vạn quân với nhiều máy bay, đại bác, xe bọc thép… cố giành thắng lợi quyết định.

Một lần nữa, tuổi trẻ, cùng quân và dân các địa phương lại thể hiện tuyệt vời phẩm chất anh hùng, ý chí tiến công tiêu diệt địch. Gần 14.000 tên địch, phần lớn là Mỹ bị tiêu diệt, 167 máy bay bị bắn rơi và bị phá hủy, hơn 1.000 xe quân sự, trong đó có 800 xe tăng và xe thiết giáp, 90 đại bác bị phá hủy.

Kế hoạch “tìm diệt” và “bình định” của Mỹ-Ngụy mùa khô 1966-1967 thực sự đã bị bẻ gãy trước sức mạnh kiên cường của quân và dân ta, trong đó tuổi trẻ đã góp một phần công sức đáng kể, cùng các lực lượng vũ trang trên toàn miền Nam loại khỏi vòng chiến đấu 151.000 tên địch (có 68.200 tên Mỹ, 5.540 tên chư hầu); tiêu diệt 22 tiểu đoàn bộ binh (có 9 tiểu đoàn Mỹ và 1 tiểu đoàn lính Nam Triều Tiên); 4 tiểu đoàn pháo Mỹ; 12 tiểu đoàn cơ giới (có 10 tiểu đoàn Mỹ); 187 đại đội (có 59 đại đội lính Mỹ và 7 đại đội lính Nam Triều Tiên); phá hủy 1.627 xe tăng, xe thiết giáp, 2.107 ô tô, 308 khẩu pháo, bắn rơi và phá hủy 1.213 máy bay, bắn chìm bắn cháy 42 tàu, xuồng.

***

Phối hợp với phong trào “Xung phong tiêu diệt nhiều sinh lực địch”, mũi đấu tranh chính trị cũng được đẩy mạnh. Sau thất bại của Mỹ trong mùa khô  1965-1966, lợi dụng mâu thuẫn trong nội bộ Ngụy quân, ngụy quyền, nhân dân, học sinh, sinh viên Huế đã xuống đường chống chính sách lệ thuộc Mỹ của Thiệu - Kỳ. Sinh viên, học sinh đã chiếm Đài phát thanh Huế (ngày 23-3-1966), hàng ngày phát đi khắp thế giới tin tức đấu tranh bằng 3 thứ tiếng Việt, Anh, Pháp. Cuộc đấu tranh thu hút cả lực lượng địch cùng tham gia. 1.600 cảnh sát ngụy tham dự mít tinh đã tuyên bố đứng vào hàng ngũ “lực lượng tranh thủ cách mạng”.

Ở Đà Nẵng hàng vạn nhân dân, thanh niên lao động và học sinh, sinh viên đã xuống đường hô vang khẩu hiệu chống độc tài, đòi Thiệu - Kỳ từ chức, đòi Mỹ không được can thiệp vào công việc nội bộ của Việt Nam, đòi chúng rút về nước. Ngụy quyền ở thành phố tê liệt, quần chúng đứng lên tự quản, làm chủ Đài phát thanh Đà Nẵng, thành lập tổ học sinh cảm tử, biệt động và đội công nhân vũ trang trấn áp bọn ác ôn phản cách mạng. Cả thành phố bãi công, bãi thị. Học sinh phá Phòng thông tin Mỹ. Trước khí thế của quần chúng, Mỹ buộc phải rút hết 30.000 lính và người Mỹ ra Hạm đội 7. Thiệu - Kỳ đưa quân từ Sài Gòn ra, nhưng trước khí thế của quần chúng, hơn nữa chưa có lệnh của quan thầy Mỹ, lại rút về. Ngày 6-4 từ Huế 2 tiểu đoàn “thanh niên quyết tử miền Trung” vượt qua hàng rào phong tỏa của địch đến chi viện cho thanh niên và nhân dân Đà Nẵng.

Sau 76 ngày đêm nhân dân giành quyền làm chủ, ngày 15-5, Mỹ dàn xếp ổn thỏa với Thiệu - Kỳ, chúng cho 6 tiểu đoàn có máy bay và xe bọc thép yểm trợ đã đánh chiếm lại các vị trí ở Đà Nẵng. Tháng 6-1966, Thiệu - Kỳ chuyển quân ra đàn áp ở Huế, nhân dân thành phố đưa bàn thờ Phật ra đường và tổ chức phong trào đấu tranh quyết liệt chống lại chúng. Tại Sài Gòn trong phong trào “chống nội chiến miền Trung”, bàn thờ Phật được dựng ở phòng tuyến ngã Bảy, Bàn Cờ, và Sư Vạn Hạnh. ở Đà Lạt, ngày 28-3-1966, học sinh các trường Bùi Thị Xuân, Trần Hưng Đạo, Bồ Đề… và học sinh Đại học Đà Lạt bãi khóa, kéo đến Phòng thông tin Mỹ đưa yêu sách, đòi Mỹ rút khỏi Đà Lạt. Cuộc đấu tranh nhanh chóng trở thành phong trào chống Mỹ, chiếm đài phát thanh, chiếm giữ khu chợ Hòa Bình. Địch huy động quân biệt động, cảnh sát dã chiến đàn áp. Ngày 21-4 học sinh xuống đường tuần hành đưa tang, biến đám tang thành cuộc đấu tranh chống Mỹ và Ngụy quyền tay sai. Thanh niên học sinh tổ chức những “đêm không ngủ”, “đốt lửa trại nhìn rõ mặt kẻ thù”, tổ chức tòa án xử tội phạm chiến tranh Giônxơn, Mắc Namara, Taylo, Thiệu-Kỳ. Cuộc  đấu tranh làm chủ thành phố kéo dài đến 15-5-1966 mới chấm dứt. Nhân dân các thị xã Phan Rang, Phan Thiết, Buôn Ma Thuột… bãi công, bãi thị ủng hộ cuộc đấu tranh của nhân dân và thanh niên Đà Lạt. ở Nha Trang, thanh niên và nhân dân biểu tình ủng hộ đồng bào và thanh niên Đà Lạt và phản đối Thiệu-Kỳ bán quân cảng Cam Ranh cho Mỹ.

***

Trong những năm chiến đấu chống Mỹ, giao thông vận tải đã trở thành một mặt trận nóng bỏng. Các tuyến đường huyết mạch, các bến phà, cầu cống đã bị máy bay địch đánh phá tới trên 80 nghìn trận, chiếm gần 70% số trận chúng đánh phá miền Bắc. Mức độ đánh phá ngày càng ác liệt, qui mô đánh phá ngày càng mở rộng. Chúng sử dụng tất cả những loại máy bay tối tân, hiện đại nhất từ F105, đến F111A, cả siêu pháo đài bay B52… sử dụng đủ các loại bom, kể cả bom từ trường, la de, bom phá, bom bi, bom nổ chậm, đánh phá cả ngày cũng như đêm với nhiều thủ đoạn chiến thuật xảo quyệt, nhằm chặn đứng việc chi viện của hậu phương lớn cho tiền tuyến lớn. Cuộc chiến đấu trên mặt trận giao thông vận tải thật sự “là một thiên anh hùng ca” theo như lời đồng chí Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã nói.

Chiến đấu trên mặt trận giao thông vận tải những năm kháng chiến chống Mỹ có đủ các lực lượng, bộ đội công binh, bộ đội hậu cần, công nhân ngành GTVT, nhân dân các địa phương… đông đảo hơn cả là lực lượng TNXP chống Mỹ, cứu nước.

Thanh niên xung phong chống Mỹ, cứu nước là một lực lượng lao động đặc biệt mang tính chất quần chúng, xung kích và quân sự hóa, với 3 nhiệm vụ được xác định là: sản xuất, chiến đấu và học tập. TNXP chỉ nhận những nhiệm vụ khó khăn gian khổ và cấp bách nhất. Trước hết là nhiệm vụ trung tâm đột xuất: Mở đường mới và đảm bảo giao thông trên các điểm quan trọng. Chỉ tính từ ngày thành lập đội TNXP chống Mỹ, cứu nước đầu tiên đến giữa năm 1968, các đơn vị TNXP nhiệm kỳ I đã mở 15 tuyến đường mới, 200 đoạn đường tránh. Tổng cộng khoảng gần 1.000 km, mở rộng và nâng cấp khoảng 345 km; xây dựng trên 500 công trình bao gồm cầu, cống, ngầm, đập, bến bãi, đường băng sân bay; phụ trách đảm bảo giao thông trên những quãng đường dài khoảng 1300 km. Tổng khối lượng đất đá do lực lượng TNXP chống Mỹ, cứu nước nhiệm kỳ I đào đắp khoảng trên 10 triệu 300 ngàn mét khối.

Với ý chí “Sống bám cầu đường, chết kiên cường dũng cảm” và “Máu có thể đổ nhưng đường không thể tắc”, lực lượng thanh niên xung phong chống Mỹ, cứu nước đã dũng cảm, ngoan cường, mưu trí, sáng tạo, ngày đêm lăn lộn với đường, với cầu, thật sự trở thành lực lượng xung kích đáng tin cậy trên những con đường ra trận.

Đại đội 759 thuộc đội 75 TNXP Quảng Bình thành lập tháng 6-1965 được giao nhiệm vụ đảm bảo giao thông trên tuyến đường 12A. Chỉ tính đến tháng 6-1966, máy bay Mỹ đã đánh vào tuyến đường do đơn vị phụ trách 663 trận, với 5570 quả bom. Bình quân mỗi đội viên trong đơn vị phải hứng chịu 40 quả bom lớn, không thể kể bom bi, rốc két, đạn 20 ly.

Với chiến thuật đánh dứt điểm, địch tập trung đánh phá vào một đoạn đường hiểm yếu, một bên núi cao, một bên vực sâu dài 2 km quanh co. Chúng đánh liên tục 60 ngày đêm. Bình quân 4-5 trận/ngày, trong đó có 43 lần chúng đánh vào đội hình đơn vị. Có lần địch rải xuống tuyến đường 157 quả bom, chỉ 10 quả trúng đường, nhưng khối lượng đất đá phải giải quyết lên tới gần 1.400 m3, vì chúng dùng chiến thuật tập trung đánh vào sườn núi, làm sạt gần nửa quả đồi xuống tuyến đường, đến mức một chiến sĩ thấy đất đồi sụt đến đâu anh trèo vượt lên tới đó. Trèo đến ngọn cây rồi đất vẫn tiếp tục sụt, lấp đến nửa người anh.

60 ngày đêm địch đánh phá liên tục tuyến đường, thì 45 ngày đêm TNXP đại đội 759 rời doanh trại, tổ chức ăn ngủ ngay trên tuyến, với phương châm: Bám sát tuyến đường như quân giải phóng miền Nam bám thắt lưng địch mà đánh. Địch đánh rừng già thì ra đồi trọc, địch đánh đồi trọc thì ra sát tuyến, xây dựng hầm hào kiên cố, bám trụ lâu dài. Tiểu đội 6 do Nguyễn Thị Kim Huế làm tiểu đội trưởng, suốt 60 ngày đêm không lúc nào vắng mặt trên tuyến. Nơi nào khó khăn nguy hiểm, nơi đó có mặt tiểu đội 6. Tất cả đều chung ý chí sắt thép: “Còn đất là còn đường!”.

Lần đầu địch đánh bom nổ chậm vào tuyến đường, đơn vị chưa ai có kinh nghiệm phá bom. Nguyễn Thị Kim Huế không ngần ngại xung phong vào phá. Những đội viên nam thấy thế cũng làm theo. Từ đó bom nổ chậm không còn cản trở được công việc ứng cứu đường của TNXP đại đội 759. Khi địch tập trung đánh dứt điểm, khối lượng phải giải quyết rất lớn. Để kịp thông xe, Nguyễn Thị Kim Huế đưa ra sáng kiến cạp bờ hố bom, mở đường tránh cho xe vượt qua. Đường thông, cả tiểu đội 6 lại tình nguyện gác bom nổ chậm, làm cọc tiêu sống dẫn đường cho xe qua trọng điểm.

Tại Đại hội Anh hùng Chiến sĩ thi đua chống Mỹ, cứu nước lần thứ nhất, đại đội 759 và Nguyễn Thị Kim Huế được Nhà nước tuyên dương Anh hùng, là tập thể và cá nhân đầu tiên được phong tặng danh hiệu Anh hùng của lực lượng TNXP, cổ vũ mạnh mẽ TNXP chống Mỹ, cứu nước hăng hái thi đua lập công.

Cùng đội 75 có Lê Viết Lân, TNXP đại đội 754. Địch đánh bom nổ chậm, có quả trúng gần tim đường. Nếu phá được bom, đường sẽ hỏng, không đảm bảo kịp thông xe. Lân đề xuất phương án tìm cách lăn quả  bom ra khỏi tuyến đường và xung phong nhận nhiệm vụ nguy hiểm đó. Lợi dụng một gờ đất, anh dùng xà beng bẩy thử. Bom bị kích thích, nóng dần lên. Không để bom nổ làm hỏng đường, Lân dùng bộc phá buộc vào phía dưới thân bom, châm lửa, để bộc phá nổ hất quả bom lên khỏi mặt đường trước khi nổ. Vừa chạy được 20 mét, bom nổ, hất anh ngã xuống. Khi tỉnh dậy, điều đầu tiên anh hỏi là: “Đường có làm sao không”.

Lê Viết Lân là người phá bom nổ chậm đầu tiên của TNXP. Anh cũng là người đầu tiên tìm được giải pháp giải phóng đôi vai cho đơn vị, đưa năng suất lao động lên 150-180%. Chưa đầy 1 năm gia nhập lực lượng TNXP chống Mỹ, cứu nước, tháng 3-1966, Lê Viết Lân đã được kết nạp vào Đảng Lao động Việt Nam, được bầu là Chiến sĩ thi đua xuất sắc đi dự Đại hội Anh hùng Chiến sĩ thi đua Chống Mỹ, cứu nước lần thứ nhất (1-1967).

Mở đường, giữ đường là những nhiệm vụ chủ yếu của lực lượng TNXP chống Mỹ, cứu nước phục vụ trong ngành giao thông vận tải. Nhiều tuyến đường do TNXP góp phần tạo nên có ý nghĩa rất lớn trong việc phá thế độc tuyến để có thể thực hiện phương châm: “Địch đánh ta cứ đi” thay cho việc “Địch đánh ta sửa ta đi”. Nhiều tuyến đường được mở trong điều kiện khó khăn khắc nghiệt của địa hình, của thời tiết… Như tuyến đường 10 (còn có tên gọi đường 20/7) chạy từ Lèn áng (Lệ Thủy, Quảng Bình) đi dần lên đỉnh Trường Sơn, ở độ cao 1.000 mét so với mặt biển.

Con đường được mở trong điều kiện bí mật hoàn toàn. Đường mở đến đâu được ngụy trang kỹ tới đó. Nhưng kẻ địch vẫn đánh hơi thấy. Thường xuyên chúng cho máy bay do thám OV10 rà thấp và thả cây nhiệt đới (một loại cây có gắn máy phát tín hiệu điện tử từ xa) cùng lực lượng thám báo để phát hiện lực lượng của ta. Hễ phát hiện thấy có hiện tượng khả nghi lập tức chúng phát tín hiệu gọi máy bay phản lực đến đánh phá. Chúng thả xuống tuyến đường đủ các loại bom, đạn. Sử dụng cả siêu pháo đài bay B52 rải thảm liên tục trong 4-5 ngày liền.

Tất cả các đơn vị TNXP tham gia mở đường đều bị đánh phá ác liệt, kể cả nơi ăn ở, đường đi, về. Dụng cụ, đồ đạc, quân trang của nhiều đơn vị bị đánh tan nát. Riêng gạo ăn bị đánh cháy nên thức ăn của anh em từ chỗ 21 kg/tháng phải rút xuống còn 18 kg, rồi 15 kg, 12 kg. Thậm chí có tháng chỉ được ăn 6 kg gạo. Tết Mậu Thân 1968, mồng một Tết, các đội viên nữ mỗi người được chia 1 cái kẹo, còn nam giới mỗi người được chia 1 điếu thuốc lá để ăn Tết.

Lực lượng tham gia mở đường gồm các đại đội xung kích của các đội 43, 41, 45, 39, 37, 35 TNXP của các tỉnh, thành phố: Hà Nội, Hải Phòng, Nam Hà, Thanh Hóa của nhiệm kỳ I. Đến nhiệm kỳ II bổ sung thêm TNXP của các tỉnh Thái Bình, Hải Hưng, Nghệ An, Hà Tây. Ngoài lực lượng thanh niên xung phong còn có các cán bộ, công nhân kỹ thuật của Bộ GTVT và bộ đội biệt phái sang. Thời gian cao điểm có tới 60 đại đội TNXP cùng làm nhiệm vụ mở đường.

Với phương châm “Địch đánh rừng già, ta ra rừng non, địch đánh rừng non ta ra sát tuyến”, các đơn vị TNXP làm nhiệm vụ mở đường luôn nêu cao tinh thần bám chắc tuyến đường. Mọi sinh hoạt đều chuyển xuống dưới hầm. Các đơn vị thường tổ chức thi đua theo từng chủ đề như: “Toàn đoàn quyết chí lập công vượt sông thông tuyến”; “Toàn đoàn cầm vững tay cương quất ngựa lên đường về thăm quê Bác”; “Phen này quyết chí lập công dâng Bác không thua bạn bè”… Nhờ đó năng suất không ngừng tăng, đảm bảo tiến bộ mở đường, góp phần tạo nên mạng lưới đường chiến lược nối liền hậu phương với tiền tuyến, kịp thời phục vụ cuộc tổng tiến công và nổi dậy của quân và dân miền Nam Tết Mậu Thân 1968 và chiến dịch đường 9 - Nam Lào.

Chiến công nổi bật trong mở đường và giữ đường của TNXP chống Mỹ, cứu nước (tập trung) phải kể đến lực lượng tham gia trên tuyến đường Quyết Thắng (còn có tên đường mòn Hồ Chí Minh, đường Thống Nhất). Trong đó chủ yếu là TNXP 2 đội: 23 (TNXP Hà Tĩnh) và 25 (TNXP Nam Hà). Cả 2 đội TNXP 25 và 23 đều có mặt trên tuyến đường từ những ngày đầu, phối hợp cùng bộ đội công binh đồng loạt ra quân “chọc thủng Trường Sơn mở đường thắng lợi”. Nhiều đoạn đường phải mở qua vực sâu, đèo cao xe cơ giới không thi công được. Đoạn vượt dốc Đồng Tiền là một vách đá cheo leo. TNXP phải bám từng vỉa đá, treo mình lơ lửng trên vách, đục đá, nổ mìn tạo thành một hàm ếch, dài tới hơn nửa kilômét.

Một cán bộ kỹ thuật giao thông từng làm đường từ thời thuộc Pháp, khi tham gia khảo sát con đường đã ước tính thông được đường nhanh lắm cũng phải mất 3 năm. Khi con đường được mở xong (tháng 11-1966) ông đã phải kinh ngạc thốt lên: “Chỉ có Đảng Cộng sản Việt Nam mới có thể làm nổi con đường trong thời gian ngắn như vậy!”.

Mở đường đã khó, nhưng giữ vững con đường là một chiến công thấm đẫm máu của không ít TNXP. Ngay khi con đường đang được mở, ngày 13-3-1966, địch đã phát hiện ra con đường vượt qua đỉnh Trường Sơn và lập tức cho máy bay đánh phá. Các đội viên TNXP đội 25 đang thi công trên tuyến, bị đánh vào đội hình. Lần đầu tiên 8 đội viên hy sinh.

Con đường vừa mở, địch đã tập trung đánh phá có tính hủy diệt. Cua chữ A, nằm trên đoạn đường Km 79, chạy quanh co theo bình độ của núi, một bên vách núi cao, một bên vực sâu. Đường gấp khúc, do đó hình thành A mẹ và A con. Một loạt bom thả xuống có thể phá hỏng cả 2A. Mỗi ngày chúng thường đánh vào trọng điểm từ 15-20 trận. Có thời gian chúng đánh liên tục 32 trận bằng máy bay chiến lược B52. Có trận chúng thả xuống hàng trăm tấn bom. Có đêm chúng thả liên tục 500-700 quả pháo sáng. Trọng điểm lúc nào cũng sáng rực như ban ngày.

Từ một rừng cây cổ thụ xanh tươi, cua chữ A biến thành màu đỏ quạch, màu nâu thẫm, màu đen xạm của tro bụi thuốc bom đạn địch. Ngót chục kilômét vuông đồi núi mấp mô dày đặc hố bom như một tổ ong khổng lồ, trơ trụi. Đất đá bị cày xới, biến thành một chất bột đen xỉn, đi bộ lội ngập ống chân.

Cuộc chiến giữ vững cua chữ A trong mọi tình huống trở thành một thử thách khắc nghiệt đối với các đội viên TNXP. Mới đầu đơn vị không muốn các đội viên nữ lên làm nhiệm vụ. Nhưng trong lửa đạn không một ai lại chịu mình phải ở tuyến sau. Khi được lên sát cánh chiến đấu bên cạnh các đội viên nam, các đội viên nữ càng nỗ lực bằng mọi cách để tự khẳng định mình. Gặp bom nổ chậm chị em cũng bàn nhau tìm cách phá để khỏi phải nhờ đến các đội viên nam. Nhưng quả bom trúng tim đường. Nếu cho nổ bom sẽ phá hỏng đường, khối lượng đất đá lớn khó lòng đảm bảo thông xe trong đêm. Nguyễn Thị Liễu, cô gái Nam Hà phải trốn theo đơn vị ngày nào đã đề xuất cách gói mìn theo hình phễu, tra kíp thuận chiều, dùng áp lực của bộc phá đẩy quả bom lên trên mặt đất mới nổ. Cái khó là phải đào một hố sâu phía dưới thân bom. Cuốc xẻng không đào được. Liễu xung phong dùng dao quì xuống bên quả bom, một tay ôm thân bom, tay kia luồn xuống phía dưới moi đất đá để bộc phá. Bom nổ, chỉ để lại một hố sâu bằng chiếc nón trên mặt đường.

Chỉ trong một thời gian ngắn trên tuyến đường Quyết Thắng đã hình thành nhiều trọng điểm hết sức ác liệt, K68, K59, K12 (dốc Đồng Tiền)… Có những trọng điểm nằm trên đoạn đường cua gấp khúc. Chỉ cần một loạt bom cũng có thể phá hỏng tới 3 km đường. Có trọng điểm như ở K59 (km 59) có đêm chúng tập trung đánh phá tới 38 trận (đêm 11-10-1968), làm khoảng 6000 m3 đất đá đổ ụp xuống mặt đường. Trọng điểm K12, vốn từ một vách đá cao dựng đứng được tạo thành con đường xuyên qua một hàm ếch. Kẻ địch nham hiểm dùng rốckét phóng vào vách đá. Mùa mưa đến chúng dùng bom phá đánh xuống đỉnh núi, làm từng khối đá bị rốckét bắn vữa, đổ ụp xuống. Đến nỗi lấp cả nửa dòng suối Xuân Sơn chảy phía dưới con đường. Chúng đã tập trung đánh vào trọng điểm trong một đợt kéo dài 3 tháng 14 ngày (từ 16-7 đến 30-10-1968) tới 16.253 quả bom. Có 4273 quả trúng đường, 500 quả trúng vào lán trại của TNXP.

Trong hoàn cảnh ác liệt TNXP đội 25 luôn “lấy tim đường làm chiến trường, lấy quyết chiến điểm làm trận địa”, ngày đêm bám đường sáng tạo nhiều phương pháp thích hợp, đảm bảo thông xe trong mọi tình huống, nâng chỉ tiêu thông xe từ 15 đến 20 rồi 30 đêm một tháng. Từ sáng kiến của đại đội 5 toàn đội đã áp dụng chiến thuật “3 tổ một đội” và biện pháp 3 nhanh (nghĩa là một đội ứng cứu đường chia làm 3 tổ: tổ trinh sát đi trước đào lỗ chôn mìn, tổ lấp và đốt mìn, tổ san lấp hố bom. Biện pháp 3 nhanh là: tiếp cận nhanh, giải quyết nhanh và rút nhanh). Nhờ đó lực lượng được rải thưa, hạn chế được thiệt hại khi tiếp cận mục tiêu bị địch đánh phá, đồng thời đảm bảo nhanh chóng thông xe. TNXP đội 25 còn sáng tạo phương pháp đánh mìn định hướng, kết hợp máy gạt san lấp, đưa năng suất lấp một hố bom 100 m3 mất 50-60 người làm trong một đêm mới xong, xuống chỉ còn 5-7 người lấp trong 2 tiếng đồng hồ, đảm bảo vượt chỉ tiêu thông xe, dù đường bị địch liên tục đánh phá ác liệt với nhiều thủ đoạn tinh vi, “bom chồng lên bom, đạn cày lên đạn”, cũng chỉ bị tắc giờ, không bị tắc đêm.

Trong những năm kháng chiến chống Mỹ, lực lượng TNXP chống Mỹ, cứu nước (tập trung) đã làm nhiệm vụ đảm bảo giao thông trên 3.000 km đường, trong đó có 2.526 trọng điểm địch thường xuyên đánh phá ác liệt. Nhiều trọng điểm của các tuyến đường đã gắn liền với các đơn vị tiêu biểu và những chiến công nổi bật của TNXP chống Mỹ, cứu nước, như trọng điểm Cầu Cấm nằm trên tuyến đường 1A, do đơn vị TNXP 333, Tổng đội TNXP Nghệ An chốt giữ. Riêng năm 1968 không quân Mỹ đã đánh vào địa bàn hoạt động của đại đội 881 trận, ném xuống 21.104 bom phá các loại, 267 bom bi mẹ, 1127 tên lửa, tàu chiến Mỹ pháo kích vào tuyến đường 54 trận với 1265 quả đại bác.

TNXP đại đội 333 nêu quyết tâm “Dù máu ngừng chảy, quyết không để đường tắc, xe ngừng chạy”, ngày đêm bám đường, bám cầu đảm bảo thông xe thông tuyến trong mọi tình huống. Ngày 27-1-1969, đơn vị vinh dự được Bác Hồ gửi thư khen. Bác viết: “Suốt 4 năm nay, Đội TNXP số 333 nhận nhiệm vụ làm đường, sửa cầu ở một nơi địch thường đánh phá ác liệt, có nhiều khó khăn, gian khổ.

Đội gồm phần lớn là các cháu gái, đã dũng cảm chiến đấu, tích cực lao động, có nhiều sáng kiến, cải tiến kỹ thuật, đảm bảo cầu đường được thông suốt luôn.

Các cháu đã đoàn kết chặt chẽ, giúp đỡ nhau, khiêm tốn học hỏi các chú công nhân và bộ đội, được đồng bào thương yêu. Các cháu đã chăm học chính trị, văn hóa và làm văn nghệ khá, biết giữ gìn sức khỏe tốt, đảng viên và đoàn viên trong đội gương mẫu. Các cháu xứng đáng là những thanh niên ưu tú của nhân dân Việt Nam anh hùng.

Bác rất vui lòng khen ngợi các cháu…”

Cùng trên địa bàn tỉnh Nghệ An, trọng điểm Truông Bồn, nằm trên đường 15, giáp giới giữa 2 huyện Đô Lương và Nam Đàn đã gắn liền với sự tích 12 cô gái của tiểu đội thép đơn vị 300 TNXP Nghệ An dũng cảm hy sinh trong khi đang làm nhiệm vụ.

Truông Bồn là một trọng điểm lợi hại. Hai bên là sườn núi cao, đồi dốc, giữa chỉ có một con đường độc đạo chạy qua dài tới 5 km, là yết hầu của tuyến giao thông, trở thành một túi bom, thành “cửa tử”. Chỉ tính riêng 4 tháng, từ tháng 6 đến 10-1968 máy bay Mỹ đã đánh xuống Truông Bồn 2692 quả bom.

Chính trong những thời điểm địch đánh phá ác liệt, các cô gái Truông Bồn trong tiểu đội thép đã đưa hàng ngàn xe qua trọng điểm. Có những đêm đến 438 lượt xe qua lại, họ vẫn hướng dẫn xe đi an toàn trên quãng đường truông dài 5 km. Trời tối, đèn gầm của xe sợ lộ, không dám bật, các đội viên TNXP lấy bẹ chuối rải trên mặt đường làm cự cho xe vượt qua trọng điểm. Nhưng bẹ chuối trắng cũng bị nát, lấm bùn. Các đội viên TNXP lại lấy thân mình, mặc áo trắng, chạy trước xe để dẫn đường, hết chiếc này đến chiếc khác.

Mỗi trọng điểm trên các tuyến đường đều gắn với những chiến công của TNXP chống Mỹ, cứu nước.

Trọng điểm đèo Đá Đẹo trên đường 15 gắn với tên tuổi người con gái anh hùng Đinh Thị Thu Hiệp, xông xáo giữ kho đạn bị máy bay địch đánh phá mở đường máu cứu hàng, cứu xe.

Trọng điểm đèo Mụ Dạ, trên đường 12, nơi rèn luyện nên người bí thư chi bộ thép Nguyễn Thị Nậy, chỉ một chiến dịch 67 ngày đêm bảo vệ tuyến đường đã có 4 lần bị sức ép, 7 lần bị thương, 9 lần bị vùi lấp vẫn liên tục bám tuyến.

Trọng điểm khe Giao, khe út, đường 21, chiến trường lập công của anh hùng Nguyễn Trí Ân, chỉ được học hết lớp 3 phổ thông, gia nhập lực lượng TNXP mới được học hết lớp 7 BTVH, nhưng không một loại bom hiện đại nào có thể khuất phục được anh. Với cương vị tiểu đội trưởng trinh sát phá bom, anh đã bình tĩnh quan sát chính xác và cắm tiêu báo hiệu 432 quả bom nổ chậm và bom từ trường, tự tay dùng mìn, bộc phá và dụng cụ bằng kim khí phá 32 quả bom nổ chậm và từ trường, cùng đồng đội phá 113 quả, gỡ được 3 quả.

Nổi bật là trọng điểm ngã ba Đồng Lộc, thuộc huyện Can Lộc, Hà Tĩnh. Chỉ tính riêng trong 240 ngày, từ tháng 3 đến tháng 10-1968, không quân Mỹ đã trút xuống ngã ba nhỏ hẹp này 43.600 quả bom, trong đó có 6.000 quả bom từ trường và bom nổ chậm.

Trong thời gian ác liệt đó, La Thị Tám, cô gái tuổi hai mươi, công nhân ngành giao thông Hà Tĩnh được phân công làm nhiệm vụ trinh sát đếm bom. Khó khăn và nguy hiểm. Lúc bom rơi dù ở sát bên mình vẫn phải hết sức tỉnh táo để không bỏ sót một quả bom chưa nổ nào không được đánh dầu trên bản đồ. Và La Thị Tám đã không phụ lòng tin của đơn vị, được Nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng.

Cùng chiến đấu trên ngã ba Đồng Lộc và cùng được tặng danh hiệu Anh hùng với La Thị Tám là Đại đội TNXP 551 (đội 55-TNXP Hà Tĩnh) và 10 cô gái Đồng Lộc huyền thoại (đại đội 552, đội 55).

10 Cô gái ngã ba Đồng Lộc gồm:

          1. Võ Thị Tần, 22 tuổi, Tiểu đội trưởng

          2. Hồ Thị Cúc, 20 tuổi, Tiểu đội phó

          3. Võ Thị Hợi, 20 tuổi, Đội viên

          4. Nguyễn Thị Xuân, 20 tuổi, Đội viên

          5. Dương Thị Xuân, 19 tuổi, Đội viên

          6. Nguyễn Thị Rạng, 19 tuổi, Đội viên

          7. Nguyễn Thị Nhỏ, 19 tuổi, Đội viên

          8. Võ Thị Hà, 19 tuổi, Đội viên

          9. Hà Thị Xanh, 19 tuổi, Đội viên

          10. Trần Thị Hường, 19 tuổi, Đội viên.

Trong 10 cô gái chỉ có Võ Thị Tần và Hồ Thị Cúc là TNXP nhiệm kỳ I được lưu lại, 8 đội viên còn lại đều thuộc TNXP nhiệm kỳ II, nhập ngũ giữa năm 1968. Tất cả đều ngã xuống trên mặt đường trong khi đang khẩn trương san lấp hố bom để kịp đón đoàn xe quan trọng vượt qua trọng điểm.

Chiến tranh càng khốc liệt công tác vận tải càng đặt ra cấp bách và cũng đặc biệt nguy hiểm. Nhiều tuyến vận chuyển không thể dùng cơ giới, TNXP chống Mỹ, cứu nước (tập trung) là lực lượng chủ yếu trực tiếp chuyển hàng vào chiến trường và chuyển thương binh.

Để làm tròn nhiệm vụ vận chuyển phần lớn đều phải vượt qua những chặng đường hiểm trở, núi cao dốc thẳm, địch thường xuyên rình rập. Có lần đại đội 10, K53 TNXP Hà Tây đang gùi hàng xuyên qua rừng già, tán cây che kín mặt. Nghe tiếng máy bay trực thăng của địch, anh em vẫn yên tâm đi. Không ngờ chúng thả biệt kích thám báo phát hiện ra con đường bí mật. Máy bay phản lực của chúng ập đến trút bom chặn đầu, chặn đuôi. Bom, đạn rốc két đánh thẳng vào đội hình đơn vị, 3 đội viên hy sinh.

Đường bị lộ, đơn vị phải mở con đường bí mật khác đi sâu vào cánh rừng già. Khi đi phải tự mở lối, lúc về phải dựng cây lên để xóa dấu vết. Cứ thế ngày này qua tháng khác, các đội viên TNXP K53 (gồm 3 đại đội của 3 tỉnh: Ninh Bình, Hà Tây, Nam Hà) lặng lẽ làm nhiệm vụ trên một tuyến chuyển tải chỉ với hai vai và đôi chân. Năng suất được nâng dần lên, từ 30-40 kg/người những ngày đầu, lên 60-76 kg/người. Tính ra mỗi người một năm cũng chuyển được trên 10 tấn hàng ra tiền tuyến. Nhưng sự hy sinh cũng không nhỏ. Chỉ riêng đại đội Ninh Bình, có 100 đội viên, đã có 52 người hy sinh tại chiến trường, 20 người bị thương.

Những ngày đầu tham gia lực lượng chuyển tải, TNXP đội 23 (Hà Tĩnh) gặp không ít gian nan. Là đơn vị có nhiệm vụ chuyển tải lương thực cho chiến trường, nhưng đơn vị thường xuyên thiếu gạo ăn (theo kỷ luật chiến trường các đơn vị không được sử dụng hàng kế hoạch). Địa hình khắc nghiệt. Ngày nắng, nắng như đổ lửa. Ngày mưa, mưa tầm tã suốt ngày đêm, áo quần mặc trên người không bao giờ được khô. Các đội viên TNXP vẫn không ngừng tăng cân, tăng chuyến. Vì ai cũng hiểu rõ “mỗi kilôgam lương thực, vũ khí vào chiến trường là quân dân miền Nam bớt xương máu”. Mỗi trạm chuyển tải cách nhau 4 tiếng đồng hồ đi bộ, cả đi và về qui định 1 ngày. Nhưng các đội viên TNXP đã tổ chức đi 2 chuyến, 3 chuyến. Năng suất từ 20-30 kg/người tăng lên 40-50 kg/người. Nhiều đội viên vừa mang vừa vác đến 50-60 kg. Riêng Nguyễn Thị Nguyệt, đại đội 3 năng suất lên 60-70 kg. Kết thúc chiến dịch chị được Nhà nước tặng thưởng Huân chương Chiến công hạng Ba và cũng là đội viên TNXP chống Mỹ, cứu nước đầu tiên được tặng thưởng huân chương.

Trong chiến dịch vận tải đó (chiến dịch kéo dài từ tháng 7 đến tháng 12 năm 1965), TNXP đội 23 đã vận chuyển, giao cho các đơn vị quân đội trên chiến trường 25.000 tấn lương thực, hàng trăm kiện hàng lớn nhỏ, hàng ngàn quả đạn pháo các loại, được đánh giá là đơn vị hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ.

Trên một tuyến chuyển tải khác, đại đội 202, đội 241 TNXP Nghệ An được tăng cường cho tuyến lửa Quảng Bình, thường xuyên phải vượt qua suối sâu, qua đèo Trụt Thai, qua dốc Khỉ… dốc cao gần thẳng đứng, người đi trước như đạp lên đầu người đi sau. Có đoạn chỉ cách vị trí địch 4 km. Chúng dùng một loại máy bay bay thấp và chậm, có trang bị một súng 12,7 ly và một trung liên, thường xuyên săm soi dọc tuyến. Hễ phát hiện được mục tiêu, chúng dừng may bay tại chỗ nhả đạn. Nhiều lần đang cáng thương vượt tuyến gặp pháo kích các đội viên TNXP đã phải nằm đè lên thương binh để thương binh không bị thương lần thứ hai. Một lần như thế, Lê Thị Tứ đã bị thương vào đầu gối. Cô vẫn giấu mọi người tự băng bó cho mình và tiếp tục nhiệm vụ cáng thương. Chỉ với một chiếc gậy Trường Sơn, một nắm cơm vắt, ngày này qua ngày khác, TNXP đại đội 202 đã bền bỉ chuyển từng chuyến thương binh ra tuyến ngoài an toàn. Nhờ rút bớt người đi một ca (trên giao 6 người/ ca, TNXP đại đội 202 đi 4 người/ca) có hôm đơn vị đã chuyển được 15-16 ca thương binh ra tuyến ngoài.

Trên mặt trận chuyển tải, thanh niên xung phong giải phóng miền Nam càng có những đóng góp đáng kể. Chỉ tính riêng ở huyện Đại Lộc (Quảng Nam - Đà Nẵng) trong năm 1966, lực lượng TNXP giải phóng địa phương đã chuyển được 14.360 tấn hàng. Nhiều đơn vị nhờ tổ chức tốt đã đưa năng suất bình quân lên gấp 3-4 lần, từ 2 tấn lên 6-7 tấn/ngày.

Trên tuyến đường 1C dài hàng trăm kilômét, không dân cư, toàn đồng hoang rừng vắng, bị chia cắt thành nhiều tuyến do đồn bốt địch. Chúng lập cả một khu chiến thuật riêng chuyên đánh phá hành lang vận chuyển trên tuyến đường 1C. Có tháng chúng đổ quân đánh phá suốt cả 30 ngày không nghỉ. Có ngày máy bay địch bắn phá tới 15-17 lần. Các tuyến lộ, sông không ngày nào không có tàu hoặc bộ binh địch ngăn đón… Các đội TNXP giải phóng của 6 tỉnh miền Tây Nam Bộ: Hòn Đất, Nguyễn Viết Khái II, Nguyễn Viết Khái III, Mai Thanh Thế, Tây Đô… đã bền bỉ, dũng cảm và mưu trí vừa đánh địch để bảo toàn lực lượng, bảo toàn tuyến chuyển tải, vừa không ngừng tăng năng suất hoàn thành xuất sắc từng nhiệm vụ.

Những ngày đầu mới tập kết, hầu hết đội viên TNXP đều ở độ tuổi từ 15-20, có đến 3/4 là nữ của các tỉnh đồng bằng trù phú, chưa quen cuộc sống khắc nghiệt của vùng rừng núi, mùa mưa lầy lội, ẩm ướt, muỗi, đỉa, vắt… như trấu. Chỉ một đợt sốt rét rừng ở núi Cô Tô đã quật ngã 100% quân số của đơn vị. 11 đội viên đã chết vì không có thuốc điều trị. Hầu hết đội viên nữ đều bị rụng tóc. Có đơn vị phải đóng quân giữa một vùng nước ngập tới bụng, không một gò đất khô, suốt ngày phải ngâm mình dưới nước, kể cả những chị em đến tháng. Cứ như vậy kéo dài trong thời gian 6 tháng. Địch phong tỏa gắt gao. Nhiều lần gạo hết phải ăn cháo, ăn rau bông súng, môn nước, củ nèo. Có lần các đơn vị đóng quân ở vùng núi Cô Tô 27 ngày liền không có gạo ăn, trong đó có 7 ngày liền chỉ được ăn rau muống…

Gian khổ ác liệt nhưng tuyến đường vận chuyển hàng chiến lược không một ngày ngừng hoạt động, liên tục trong một ngàn ngày đêm. Đội Nguyễn Viết Khái II suốt 3 tháng liền (tháng 10, 11, 12-1967) chỉ nghỉ 5 ngày để xây dựng căn cứ. Năng suất lao động ngày càng được nâng cao. Mới đầu 2 đội viên chống 1 xuồng, đã nâng lên 1 đội viên chống 1 xuồng chở 300-400 kg. Từ 2 đội viên đẩy 1 xe (loại xe cút kít) rút xuống 3 người đẩy 2 xe, chở 600-700 kg. Nhiều đội viên đi phục vụ liên tiếp 27 đêm liền trong một tháng.

Không chỉ đảm bảo vận chuyển hàng chiến lược, liên đội còn phải chiến đấu để tự bảo vệ và bảo vệ hàng. Cùng đơn vị bạn diệt hàng ngàn tên địch, bắn rơi hàng chục máy bay. Riêng liên đội trực tiếp chiến đấu 45 trận, loại khỏi vòng chiến đấu trên 200 tên địch, bắn rơi 4 máy bay, bắn bị thương 3 chiếc khác. Đội viên Trần Thị Thoa, 15 tuổi, ở đội Mai Thanh Thế, trong lúc đơn vị đi làm nhiệm vụ, ở nhà một mình, trực thăng địch đổ quân đánh chiếm doanh trại đơn vị, đã kiên cường bám trụ, chiến đấu mưu trí, dũng cảm đẩy lùi cả đại đội địch, bảo vệ được doanh trại. Lê Văn Dè, một mình chiến đấu với 1 tiểu đoàn địch trên bờ xáng trống trải, đẩy lùi nhiều đợt xung phong của 300 tên địch, diệt 17 tên, có 2 tên Mỹ.

Chuyển tải là nhiệm vụ chủ yếu của lực lượng TNXP giải phóng miền Nam. Các liên đội TNXP tập trung dài hạn của miền thường xuyên gắn bó với các đơn vị chủ lực quân giải phóng như hình với bóng. Với phong trào “4 tăng, 5 giảm, 3 rút ngắn, 10 bảo đảm” liên đội 9 luôn tổ chức rút kinh nghiệm, xây dựng những điển hình về thồ hàng, cáng tải thương, thực hiện khẩu hiệu “mạnh vai tải, vững tay thồ, công binh giỏi, chiến đấu cừ” phù hợp với từng đợt phục vụ, đưa năng suất lên ngày một cao, từ 2-5 tấn/ngày, lên 20 tấn/ngày vẫn đảm bảo dẻo dai và liên tục.

Liên đội 7, thời gian đầu phối thuộc với sư đoàn 7 giải phóng chủ yếu cáng thương, tải hàng chiến lược, sau chuyển về đoàn hậu cần chủ yếu thồ hàng. Liên đội đã tổ chức “tuần lễ đồng hóa kỹ thuật” nhằm luyện thuần thục tay thồ. Liên đội thường xuyên chuyển tải hàng trên tuyến hành lang gay go ác liệt. Trung bình mỗi tuần liên đội phải chịu đựng 3 lần máy bay chiến lược B52 rải thảm vào đội hình, phải thường xuyên di chuyển căn cứ, sinh hoạt ăn uống thiếu thôn, thiếu cơm nhạt muối, vẫn đảm bảo 85-90% quân số phục vụ, đưa năng suất bình quân từ 2 bao/người/chuyến lên 3,5 bao/người/chuyến.

Liên đội 5 hoạt động ở một địa bàn chia cắt có nhiều sông ngòi trục lộ. Có đội hàng tháng hoạt động ở một cung đường không liên lạc được với các đơn vị bạn. Có lúc đội hình hành quân của liên đội vừa cắt ngang qua, biệt kích địch đã tới phía sau. Có khi ta và địch đóng quân cách nhau không đầy 10 phút đi bộ, ra giếng lấy nước ăn đụng nhau mới biết… TNXP liên đội 5 vẫn nêu quyết tâm thực hiện “3 điểm cao TNXP làm theo lời Bác”.

Công việc chuyển tải đối với TNXP giải phóng là một cuộc chiến đấu thực sự. Một lần các chiến sĩ TNXP đội 1167 đang chuyển 60 thương binh về tuyến sau. Giữa lúc giặc càn, phải cắt rừng vượt sông vẫn không tránh được đụng đầu với chúng. Không có thuyền, các chiến sĩ trầm mình dưới nước suốt hàng tiếng đồng hồ, dùng dây chăng qua sông để đồng đội cõng thương binh qua. Địa hình trống trải, máy bay địch phát hiện gọi pháo bắn vào đội hình đơn vị đang vượt sông. Có chiến sĩ bị thương vẫn không rời vị trí, đưa hết thương binh qua sông an toàn. Được một đoạn đường, đơn vị lại đụng biệt kích Mỹ, phải vừa chiến đấu vừa đưa thương binh vượt qua.

Cũng đang làm nhiệm vụ khiêng thương binh, TNXP giải phóng đội 1256 bị lọt vào ổ phục kích của địch. Ngay loạt mìn đầu tiên nổ đã có 6 chiến sĩ hy sinh. Kẻ địch dùng cả xe tăng tấn công vào đội hình của đơn vị. Lưới lửa dày đặc. Không thể để thương binh bị thương lần thứ 2, các chiến sĩ đã lần lượt cõng thương binh vượt ra khỏi vùng lửa đạn.

Nhiều đội viên TNXP giải phóng đã nêu cao gương sáng về lòng hy sinh quả cảm. Trong một chuyến công tác, đơn vị của Nguyễn Thị Hoàng Anh (đơn vị 19/8, liên đội 9) bị địch phục kích. Chúng sử dụng cả máy bay, pháo bầy bắn phá vào đội hình của đơn vị, cho cả xe tăng xông thẳng tới hòng diệt gọn. Hoàng Anh đã kiên cường bám trụ. Trong tay chỉ còn 1 trái lựu đạn của một đồng chí bộ đội bị thương vừa trao cho. Hoàng Anh rút sẵn chốt, chờ địch đến. 2 tên Mỹ xông đến định bắt Hoàng Anh. Cô chống cự quyết liệt, 2 tên Mỹ khác thấy vậy xông vào tiếp sức đồng bọn. Chỉ chờ có thế Hoàng Anh bật ngửa người buông tay. Lựu đạn nổ, 4 tên Mỹ chết tại chỗ. Hoàng Anh hy sinh.

Tiêu biểu là tấm gương hy sinh thân mình để bảo vệ thương binh của người đội viên TNXP giải phóng - Đoàn Thị Liên, đội 112. Bình thường Liên là một cô gái dịu dàng, hết lòng thương yêu đồng chí, đồng đội, luôn nhận khó khăn về mình, nhường thuận  lợi cho bạn. Trong một năm rưỡi tham gia TNXP giải phóng Đoàn Thị Liên đã phục vụ 12 trận chiến đấu. Nhiều trận, Liên đã xông ra tận trận địa cõng từng thương binh về tuyến sau. Trên đường chuyển thương binh, mỗi lần hạ cáng xuống nghỉ, Liên lại lo đi tìm củi nấu nước phục vụ anh em, nấu cháo cho thương binh…

Trong trận đánh ở Cần Lê, trên đường 13, Đoàn Thị Liên cùng đồng đội bám sát các mũi xung kích. Trận đánh mỗi lúc càng ác liệt, Đoàn Thị Liên vừa cõng được 2 thương binh về hầm, pháo địch bỗng nã xuống tới tấp. Liện bị dính mảnh pháo, ngã khuỵu xuống, trong khi nhiều quả đạn pháo nổ ngay trước cửa hầm nơi có thương binh đang nằm. Liên thấy không yên tâm, cố trườn đến nằm chắn ngang cửa hầm, dùng thân mình che mảnh đạn cho thương binh. Một quả pháo địch nổ gần và Liên hy sinh.

***

Sát cánh chiến đấu cùng lực lượng TNXP trên mặt trận giao thông vận tải là những đoàn viên và thanh niên trong các lực lượng trong và ngoài ngành GTVT, công binh, cầu phà, tàu thuyền… Với ý chí “tim có thể ngừng đập, nhưng mạch máu giao thông không thể tắc” đoàn viên và thanh niên trong ngành giao thông vận tải đã ngày đêm bền bỉ, kiên cường giữ vững từng mét đường, từng nhịp cầu luôn thông suốt trong mọi tình huống.

Tuổi trẻ chi đội 6 đơn vị chuyên sửa chữa, khôi phục xây dựng đường với gần 2.000 đoàn viên và thanh niên đã sáng tạo nhiều biện pháp thích hợp, để tạo ra những tuyến đường nhánh, đường phụ đảm bảo lúc nào đường cũng thông suốt. Khi bom đạn địch đánh nát một đoạn đường, thì những chiếc cầu cạn được khẩn trương lắp đặt để ô tô ray, goòng đẩy tay chuyển tải hàng qua. Máy bay Mỹ nham hiểm thả bom nổ chậm xuyên sâu vào lòng đường sắt. Thanh niên không sợ nguy hiểm người ngồi trên miệng hố bom giữ chân cho người chui vào lòng đất tìm cách phá bom. Đoàn thanh niên ngành đường sắt kêu gọi thành lập đội xung kích phá bom. Lập tức một lúc 700 đoàn viên thanh niên đăng ký.

Đặc điểm của các tuyến đường sắt ở các tỉnh phía Bắc là nhiều ga và nhiều cầu (cứ 3 km đường sắt có 1 cầu), đường sắt đi gần với đường bộ. Nhiều đoạn đường sắt, đường bộ, đường thủy giao nhau tạo nên những điểm nút. Khi địch tập trung đánh phá ác liệt dễ gây ùn tắc, gặp khó khăn trong công tác ứng cứu. Thực hiện chủ trương của ngành “phá thế độc tuyến”, những người thợ cầu trẻ tuổi Việt Nam đã có nhiều sáng tạo tham gia xây dựng những cầu dã chiến, cầu tạm mang lại nhiều hiệu quả thiết thực, đảm bảo thông xe, thông tàu nhanh chóng. Những cầu phà liên hợp được xây dựng, trong đó cầu phà liên hợp SH1 bắc qua sông Hồng có những đóng góp tích cực của đoàn viên thanh niên đội cầu 5.

Trong lúc có đoàn viên và thanh niên đội cầu 10 làm nhiệm vụ trên các tuyến chuyển tải ở miền Tây Hà Tĩnh - Quảng Bình, nêu cao tinh thần tự lực, tự cường và tài trí thông minh sáng tạo, đã phát huy 181 sáng kiến có giá trị góp phần vượt sông, thông tuyến. Lần khôi phục giao thông nào đoàn viên và thanh niên đội cầu 10 cũng phấn đấu vượt trước thời gian, nâng tốc độ xe qua cầu từ 150 xe/đêm lên 300-350 xe/đêm.

Đội nữ thanh niên công nhân làm đường 609, công ty đường 6, trong điều kiện chiến tranh ác liệt, thường xuyên di chuyển đến hầu khắp các tuyến đường, làm nhiệm vụ ứng cứu đường, sửa chữa, nâng cấp… ở bất kỳ địa bàn nào cũng tìm tòi phương thức tổ chức lao động phù hợp, không ngừng nâng cao năng suất, được Nhà nước tuyên dương đơn vị anh hùng.

Trong các lực lượng vận tải đoàn viên và thanh niên là những người luôn đóng vai trò xung kích. Thanh niên ngành đường sắt sẵn sàng “có tàu là đi, có hàng là kéo”. Các tổ lái tàu thanh niên thường xuyên bám máy, bám ban trong mọi tình huống. Ngay từ những ngày đầu xảy ra chiến tranh phá hoại của không quân Mỹ ở miền Bắc, tổ lái máy xe lửa 424, xí nghiệp đầu máy Hà Nội đã tình nguyện vào khu IV phục vụ. 30 lần đầu máy bị máy bay Mỹ đón đánh, anh em vẫn bình tĩnh, mưu trí vượt qua. Phạm Hữu Hi, ban máy thanh niên (đầu máy 424) bị thương vào bụng, không thể tự mình leo lên buồng lái, đã nhờ đồng đội cõng lên tiếp tục lái tàu trong khi máy bay địch vẫn lồng lộn bắn phá.

Trên tuyến Hà-Lào, Nguyễn Tiếp Thìn, một cán bộ Đoàn phụ trách ban máy 418, trong một lần chở hàng đến Lâm Giang, bị máy bay địch chặn đánh, vẫn bình tĩnh lái tàu vào vị trí tập kết an toàn. Sau đó anh cùng đồng đội tổ chức bắn trả máy bay địch. Bị thương cả 2 chân vẫn tiếp tục chỉ huy anh em chiến đấu bảo vệ đoàn tàu. Anh hy sinh, nhưng tấm gương sáng của anh đã được tuổi trẻ toàn ngành noi theo.

Đoàn viên và thanh niên trong các đơn vị vận tải ôtô luôn coi “tàu, xe là vũ khí”. Nhiều lái xe trẻ đã thức trắng liền 48 tiếng đồng hồ, để kịp chuyển hàng lên phía trước. Đoàn viên Nguyễn Minh Ro, một lái xe kiên cường của đoàn ôtô số 8 Quảng Bình, trong điều kiện thường xuyên bị địch đánh phá ác liệt vẫn đảm bảo vượt mức vận chuyển từ 2-10%. Địch đánh vào vị trí giấu xe của đơn vị, Nguyễn Minh Ro không quản nguy hiểm xông vào lửa cứu xe. Một mình anh vẫn cố tìm cách bò lên buồng lái chiếc xe thứ tư, nổ máy lái đi, cho đến lúc hi sinh.

Cao Bá Tuyết cùng đồng đội ở đoàn xe 806 ngày đêm bám đường, bám xe, hàng chưa tới đích chưa một ai chịu rời tay lái, mặc dầu có ngày có tổ lái xe bị máy bay địch đánh phá tới 90 trận vào đội hình. Riêng Bùi Cao ẩm bị 17 vết thương trong một trận đánh phá của địch vẫn giữ vững tay lái, còn theo xe của bạn cho đến khi ngất đi.

Cùng với tuyến chuyển tải bằng đường bộ, việc chuyển tải trên đường mòn Hồ Chí Minh trên biển đã có những đóng góp đáng kể. Sau sự kiện Vũng Rô, kẻ địch tăng cường bố phòng, kiềm tỏa gắt gao. Các chiến sĩ làm nhiệm vụ vận tải trên biển phải tìm cách mở con đường mới. Tàu 42, đoàn 125 được trao nhiệm vụ mở đường. Sau 9 ngày (từ 15-10 đến 24-10-1965) tàu 42 do Thuyền trưởng Nguyễn Văn Cứng chỉ huy đã vận chuyển 60 tấn vũ khí cập bến Rạch Kiến Vàng, Cà Mau an toàn. Tiếp đó tàu 69 và 68 ra đi thắng lợi.

Phát hiện thấy hoạt động dồn dập của các chuyến chuyển tải trên biển của ta, địch đã tổ chức thêm lực lượng đặc nhiệm 116 để ngăn chặn. Các chiến sĩ vận tải trên biển vẫn kiên cường tiếp tục khai thác tuyến đường do tàu 42 mở cuối năm 1965 vận chuyển hàng cho chiến trường mà chủ yếu cho chiến trường quân khu 9. Nhiều chuyến đi phải khôn khéo luồn lách qua đội hình tàu địch, vừa chiến đấu, vừa tìm cách thoát ra khỏi vòng vây của chúng. Có lúc phải lao vào bờ, thậm chí phải phá hủy tàu để đảm bảo bí mật. Nhiều cán bộ chỉ huy và nhiều thuyền viên trẻ tuổi đã dũng cảm hy sinh để bảo vệ tàu và bảo vệ con đường vận chuyển trên biển. Các cuộc chiến đấu trên biển phần lớn đều không cân sức nhưng vẫn gây cho địch những tổn thất. Trong một lần chuyển tải tàu 43 do Thuyền trưởng Nguyễn Đức Thắng và Chính trị viên Trần Quốc Tuấn chỉ huy chở 37 tấn vũ khí vào bến Ba Làng An (Quảng Ngãi) gặp tàu địch, các chiến sĩ trên tàu đã chiến đấu quyết liệt, bắn rơi một máy bay lên thẳng và bắn bị thương 1 chiếc khác. Một tàu chiến của địch cũng bị đạn ĐKZ của tàu ta bắn bị thương.

Ngày 1-1-1967, cán bộ, chiến sĩ đoàn 125 vận tải trên biển đã được Nhà nước ta tuyên dương là Đơn vị anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân.

Tại Đại hội Anh hùng, Chiến sĩ thi đua chống Mỹ, cứu nước lần thứ nhất, Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã đánh giá: “Chủ nghĩa anh hùng cách mạng đặc biệt thấm sâu và nảy nở trong thế hệ trẻ, ở miền Nam cũng như ở miền Bắc. Lứa tuổi hai mươi kế tục một cách trung thành và xuất sắc sự nghiệp cách mạng của chúng ta”.

Cả một thế hệ thông minh, tài trí mang trong mình truyền thống của mấy ngàn năm dựng nước và giữ nước đã đẩy tới cao trào hành động cách mạng “Ba sẵn sàng” và “Năm xung phong” làm nên những sự tích kỳ diệu.

“Tay búa tay súng”, “tay cày tay súng” sẵn sàng vượt qua thử thách giữ vững sản xuất, giành nhiều thắng lợi.

Sẵn sàng khắc phục mọi khó khăn, đi đầu trong sản xuất, công tác, không ngừng vươn lên nâng cao trình độ KHKT, phấn đấu giành năng suất lao động cao và hiệu suất công tác tốt là một cuộc chiến đấu gay go, gian khổ của tuổi trẻ khi miền Bắc nước ta vừa chiến đấu vừa sản xuất, vừa chống Mỹ, cứu nước, vừa xây dựng chủ nghĩa xã hội. Bám máy, bám đồng ruộng, bám cơ quan… trong hoàn cảnh phải đọ sức quyết liệt với những trận đánh phá có tính hủy diệt của không quân nhà nghề Mỹ trở thành một thử thách đối với phẩm chất của thế hệ thanh niên “Ba sẵn sàng”.

Chuyển hướng sản xuất từ thời bình sang thời chiến, ảnh hưởng trước hết đến tình hình sản xuất, công tác của các cơ quan, xí nghiệp, công trường. Một bộ phận máy móc phải sơ tán đến những nơi an toàn, tổ chức lại sản xuất. Những thanh niên có sức khỏe, có tay nghề, phần lớn được bổ sung cho tiền tuyến. Lực lượng ở lại bám máy thiếu và yếu, máy móc phân tán mỗi nơi một thứ, không đồng bộ. Nhiều nhà máy, xí nghiệp phải chuyển hướng sản xuất, thay đổi mặt hàng, vì những mặt hàng truyền thống không còn đủ điều kiện để sản xuất, hoặc không còn phù hợp với thời chiến. Cũng có những nhà máy do yêu cầu của cuộc chiến phải chuyển sang sản xuất những  mặt hàng phục vụ cuộc chiến đấu. Chưa nói còn phải sản xuất trong điều kiện địch đánh phá thường xuyên. Một ca sản xuất phải mấy lần ngừng việc. Giờ công có ích giảm đáng kể…

Bước vào cuộc chiến đấu chống Mỹ, giữ vững dòng điện là một đòi hỏi bức thiết. Từ ngày 5-8-1964, Nhà máy Điện Hàm Rồng (Thanh Hóa) đã là mục tiêu đánh phá có tính hủy diệt của không quân Mỹ. Giữ vững dòng điện an toàn trong mọi tình huống là  những công nhân cảm tử. Trong một lần tổ máy đang hoạt động, máy bay Mỹ ập đến đánh phá. Đồng chí quản đốc phân xưởng gọi điện thoại cho phép đồng chí đoàn viên đang trực ở tổ máy rút lên đồi để tránh bom đạn địch. Nhưng không thể bỏ vị trí, đồng chí đoàn viên thanh niên đã báo cáo xin phép đồng chí quản đốc: “Máy đang chạy, nên công việc của tôi là ở đây, xin cho tôi ở lại đến cùng!”.

“Xin cho tôi ở lại đến cùng!”, trở thành ý chí của thanh niên công nhân bám máy sản xuất trong mọi tình huống. Thanh niên công nhân Nhà máy Điện Vinh, Nhà máy Điện Uông Bí, Nhà máy Điện Yên Phụ… đã xây dựng cả một hệ thống phòng tránh đến tận từng điểm nóng, cả từ trên tầng cao, đảm bảo kịp thời ứng phó với mọi tình huống xấu nhất, khi bom Mỹ đánh thẳng vào nhà máy. Thanh niên công nhân nhà máy điện Yên Phụ (Hà Nội) ngay từ những ngày đầu khi địch đánh phá miền Bắc đã thành lập các đội “Cảm tử bảo vệ dòng điện” thay nhau vừa trực chiến vừa vận hành máy. Trong suốt thời gian chiến tranh ác liệt, dòng điện từ Nhà máy Điện Yên Phụ vẫn đảm bảo cho sản xuất, sinh hoạt của nhân dân và cho công tác chỉ huy chiến đấu.

Đảm bảo sản xuất trong mọi tình huống, thanh niên công nhân đã nỗ lực không ngừng, từ việc sơ tán máy móc đến nơi an toàn, nhanh chóng ổn định sản xuất. Thiếu nhân lực, nhiều cơ sở Đoàn đã động viên đoàn viên và thanh niên làm thêm ngày công, giờ công. Một tỉnh nhỏ, công nghiệp ít phát triển như Sơn La, để sơ tán máy móc, thiết bị thanh niên công nhân cũng đã phải làm thêm 83 vạn giờ công chống Mỹ.

Để khắc phục tình trạng thiếu nhân lực, do một lực lượng lớn thanh niên được huy động ra tiền tuyến, Thành Đoàn TNCS Hồ Chí Minh thành phố Hà Nội đã phát động phong trào “giỏi một việc, biết nhiều việc” để sẵn sàng thay thế những người đi chiến đấu và phong trào “3 điểm cao thắng Mỹ”… một mặt, động viên tinh thần lao động quên mình của đoàn viên, thanh niên, mặt khác hướng công nhân tiến quân vào khoa học kỹ thuật, khắc phục khó khăn do thiếu nguyên, nhiên, vật liệu, tình trạng máy móc phân tán không đồng bộ, đảm bảo nhịp độ sản xuất trong thời chiến.

Học tập và thi đua với thanh niên công nhân Hà Nội, thanh niên công nhân các tỉnh, thành phố: Hải Phòng, Nam Hà, Nghệ An, Quảng Ninh… đã sáng tạo nhiều phương pháp thiết thực đẩy mạnh sản xuất trong những điều kiện khó khăn, thiếu thốn. Thanh niên công nhân Hà Nam Ninh (Hà Nam, Nam Định, Ninh Bình) đã “nhường thuận lợi cho bạn, nhận khó khăn về mình”, “vượt khó, làm nhanh”, “nhận giờ cao điểm, nhận nơi trọng điểm”. Nhiều cơ sở Đoàn đã tổ chức những đội thanh niên xung kích đảm nhận sản xuất trong những giờ nghỉ, ngày nghỉ, thành lập các đội thanh niên cảm tử bám máy sản xuất ngay cả khi địch đánh phá ác liệt.

Bằng nhiều biện pháp tích cực, Đoàn thanh niên trong các cơ sở sản xuất công nghiệp coi việc bám máy của người công nhân là nhân tố trước hết đem lại năng suất cao trong một ca sản xuất, đã động viên đoàn viên và thanh niên tranh thủ mọi thời gian có thể để làm ra sản phẩm. Thanh niên mỏ than Hà Tu (Quảng Ninh) đã đề ra sáng kiến tăng thêm giờ công hữu ích vì nước vì dân. Đoàn vận tải của mỏ mỗi ca chạy thêm 15 phút vì sự nghiệp giải phóng miền Nam, nhờ đó chạy tăng thêm được 3 chuyến mỗi ca. Tổ khoan của  mỏ phấn đấu tăng từng thước khoan sâu. Thực chất đó là những biện pháp để tận dụng hết thời gian có ích trong một ca sản xuất và thực tế đem lại hiệu quả rõ rệt. Từ bình quân khoan 500m/ngày, tổ đã nâng lên 700m/ngày.

Việc nhận công trình, sản phẩm mang tên thanh niên càng trở nên phổ biến. Hầu như ở cơ sở sản xuất công nghiệp nào, Đoàn cũng nhận những công trình sản phẩm theo từng cấp quản lý. Hình thức ca, máy thanh niên, lò thanh niên… cũng phát triển khá phổ biến. Về sau để đi vào nền nếp và để nâng cao chất lượng của các ca, máy thanh niên, Ban thanh niên công nhân của Trung ương Đoàn đã nghiên cứu và đề ra những tiêu chuẩn như tổ sản xuất, những ca, máy thanh niên, đoàn viên và thanh niên phải chiếm đa số, có nhiệt tình, ham tìm tòi, sáng tạo, luôn giành được năng suất cao. ở vùng than Quảng Ninh, tổ đi lò nhanh Đào Xuân Ngọc, với việc tổ chức lao động hợp lý, mạnh dạn áp dụng nhiều biện pháp kỹ thuật tiên tiến đã trở thành con chim đầu đàn, dẫn đầu năng suất đi lò. Tổ rèn 5 phân xưởng cơ khí, Công ty Gang Thép Thái Nguyên là một đơn vị sản xuất gồm toàn đoàn viên, thanh niên, nhưng công việc thường phụ thuộc vào đơn vị khác. Nhiệm vụ sản xuất phần lớn đột xuất, mặt hàng luôn thay đổi, trong khi trình độ tay nghề của công nhân còn thấp. Đoàn viên và thanh niên trong tổ thấy chỗ yếu của mình, thường xuyên tổ chức những hội nghị chuyên đề kỹ thuật, mời các bác thợ bậc cao đến trao đổi kinh nghiệm, bàn bạc sắp xếp thợ theo từng cặp, khi phân công công việc đều dựa theo khả năng của từng cặp để giao. Nhiều sản phẩm đòi hỏi độ chính xác cao, nhờ việc tổ chức hợp lý, tổ vẫn hoàn thành, chất lượng đảm bảo, có sản phẩm tăng năng suất tới 436%.

Nét nổi bật của thanh niên công nhân thời đánh Mỹ là ham tìm tòi, ham sáng tạo. Đáng chú ý là trình độ tay nghề của thanh niên công nhân thời kỳ này rất thấp, bình quân chỉ trên dưới bậc 2. Hầu như trong các ngành công nghiệp thời kỳ này không có một thợ bậc 6, bậc 7 nào ở độ tuổi thanh niên. Nhưng với tinh thần dám nghĩ dám làm nhiều đoàn viên và thanh niên đã vượt lên trên những hạn chế về kiến thức, tay nghề luôn tìm tòi phát huy sáng kiến, cải tiến kỹ thuật, hợp lý hóa sản xuất đem lại nhiều hiệu quả thiết thực. ở nhà máy chế tạo điện có thanh niên đang hưởng 85% lương bậc 1 vẫn phát huy sáng kiến đưa năng suất lên tới 300%. Cả năm 1966 thanh niên công nhân nhà máy này đã có 156 sáng kiến cải tiến. Năm 1967 con số đó là 575. Có đoàn viên phát huy tới 4-5 sáng kiến, cải tiến như trường hợp Trần Độ, tổ trưởng sản xuất nguội. Đó còn là trường hợp của những đoàn viên, thanh niên như Đậu Ngọc Xuân, Vũ Ngọc Thìn (Cảng Hải Phòng) luôn chịu khó học hỏi để sử dụng thành thạo các loại thiết bị hiện đại, phục vụ kịp thời đòi hỏi của sản xuất và chiến đấu. Nguyễn Hữu Trường, Ngô Viết Dưỡng (Vĩnh Phú), Ngô Trung Loan (công ty xây dựng than điện)… những thanh niên công nhân tay nghề chỉ bậc 1, bậc 2, trình độ văn hóa có người chưa tốt nghiệp phổ thông cơ sở, nhưng với lòng say mê nghề nghiệp, chịu khó tìm tòi đã phát huy được nhiều sáng kiến, cải tiến có giá trị, góp phần giải tỏa nhiều khó khăn, ách tắc trong sản xuất. Có sáng kiến làm lợi cho công quĩ hàng ngàn đồng (thời giá của những năm sáu mươi), tăng năng suất tới 300-400%.

Thanh niên nông thôn với “tay cày, tay súng” đã cùng với giai cấp nông dân tập thể phấn đấu quyết liệt, giành thắng lợi vẻ vang. Chính trong những năm tháng đế quốc Mỹ đánh phá ác liệt nhất đồng ruộng miền Bắc đã đạt được mục tiêu 5 tấn thóc 1 hécta.

Từ những phong trào: làm thủy lợi, bèo hoa dâu, cấy theo lối mới, đến các phong trào: phá giờ cao điểm, đường cày đảm đang, tuổi trẻ “Ba sẵn sàng” trên mặt trận sản xuất nông nghiệp đã tiến lên xây dựng “cánh đồng 5 tấn thắng Mỹ” với nhiều biện pháp tổng hợp, nhằm góp phần thực hiện mục tiêu của Đảng; 5 tấn thóc, 2 con lợn, 1 lao động làm một héc-ta gieo trồng.

“Cánh đồng 5 tấn thắng Mỹ” là một phương thức hoạt động sáng tạo của thanh niên nông thôn trên đồng ruộng. Đến năm 1967 đã có 85% cơ sở Đoàn ở nông thôn đảm nhận xây dựng cánh đồng 5-10 tấn thắng Mỹ. Đó là những cánh đồng đòi hỏi phải áp dụng đồng bộ nhiều biện pháp kỹ thuật, từ việc cải tạo đồng ruộng, áp dụng biện pháp tưới tiêu theo khoa học, đến việc cấy dày vừa phải. Thông qua hoạt động trên cánh đồng 5-10 tấn thắng Mỹ, đoàn viên và thanh niên được rèn luyện về kỹ năng lao động, góp phần hình thành một đội ngũ những người làm nghề nông mới.

Vũ Thắng (Kiến Xương - Thái Bình) là một hợp tác xã nông nghiệp nằm ở “rốn nước” chưa mưa đã bị úng ngập, độ pH trên đồng ruộng có cánh đồng lên tới 7,8. Người dân Vũ Thắng có thói quen chỉ cần cắm cây mạ xuống rồi phó mặc đồng ruộng cho trời đất, bỏ làng kéo nhau lên rừng kiếm sống. 3 tháng sau mới trở về, được ăn thì thu hoạch, mất mùa lại kéo nhau đi. Thực hiện chủ trương của Đảng phấn đấu giành mục tiêu 5 tấn/ha gieo trồng/năm, nhân dân và thanh niên Vũ Thắng đã lấy thủy lợi, cải tạo đồng ruộng làm mục tiêu đột phá. Nhiều cán bộ, trong đó  có cán bộ Đoàn thanh niên đã tìm đường đến hợp tác xã  Hồng Thái, một điển hình làm thủy lợi của tỉnh Hải Hưng (nay là Hải Dương và Hưng Yên) từng được Bác Hồ về thăm, để học hỏi kinh nghiệm. Đoàn viên và thanh niên Vũ Thắng đã thật sự trở thành lực lượng xung kích đi đầu trong cải tạo đồng ruộng quê hương. Đoàn đã tổ chức nhiều đêm “Hội hoa đăng” thắp đèn chai trên đồng để làm thủy lợi. Đoàn viên và thanh niên Vũ Thắng cũng là những người đi đầu áp dụng các biện pháp kỹ thuật canh tác tiên tiến, từ việc ngâm ủ giống, đến cấy lối mới, tưới tiêu hợp lý… Trong đó đoàn viên Hoàng Thị Huyền, một cán bộ kỹ thuật nông nghiệp của hợp tác xã luôn đứng mũi chịu sào, tổ chức cho đoàn viên và thanh niên đi đầu thực hiện thành công nhiều biện pháp kỹ thuật đồng bộ, trước hết trên những thửa ruộng đối chứng, sau đó nhân rộng ra ruộng đại trà, góp phần đưa Vũ Thắng trở thành hợp tác xã đạt được mục tiêu 5 tấn thóc/ha/năm đầu tiên trên miền Bắc và giữ vững là lá cờ đầu trong thâm canh tăng năng suất cây lúa trong nhiều năm, không ngừng đưa năng suất lên ngày một cao, 7-8 tấn rồi 9,7 tấn… ha/năm.

Thực hiện nhiều biện pháp đồng bộ trong thâm canh tăng năng suất cây trồng đòi hỏi đồng ruộng phải có độ đồng đều nhất định. Trước hết về khâu làm đất, thanh niên hợp tác xã Thọ Bình (Hưng Yên) và thanh niên ở nhiều địa phương khác đã tổ chức nhiều chiến dịch “kê” ruộng bằng biện pháp san lấp gò cao, thùng đấu, đặc biệt lấy bùn ao đổ lên mặt ruộng. Có những thửa ruộng đã được “kê” lên tới 10 centimét, đảm bảo cho việc tưới tiêu và áp dụng các biện pháp khoa học khác được thuận lợi.

Phân bón cũng là một biện pháp được đoàn viên và thanh niên coi trọng trong quá trình phấn đấu thâm canh tăng năng suất cây trồng. Nhiều cơ sở Đoàn thường xuyên tổ chức các chiến dịch làm phân bón, vừa tận dụng các nguồn phân, đồng thời áp dụng nhiều biện pháp kỹ thuật tiên tiến trong việc ủ phân và chế biến phân, kể cả việc ủ phân tại ruộng. Coi bèo hoa dâu là nhà máy phân đạm tự nhiên, nhiều cơ sở Đoàn đã có nhiều biện pháp đồng bộ trong việc nhân, ủ bèo, phấn đấu đạt từ 1 đến 2,5 diện tích bèo trên một đơn vị diện tích gieo cấy. Đáng chú ý là việc nhân thả bèo hoa dâu mùa hè, thật sự là một nỗ lực đáng kể của đoàn viên và thanh niên trong việc tận dụng nguồn phân tự nhiên. Nhiều đoàn viên và thanh niên đã ngày đêm lăn lộn chăm chút từng cánh bèo, lúc đưa vào bóng râm lúc thả ra ruông đảm bảo cây bèo phát triển ngay cả khi thời tiết nóng nực. Không chỉ ở vùng có kinh nghiệm nuôi thả bèo như Thái Bình, Nam Hà… mà ngay cả những tỉnh chưa có truyền thống sử dụng bèo hoa dâu trong thâm canh cây lúa như Nghệ An đoàn viên và thanh niên cũng kiên trì nuôi thả được bèo hoa dâu trong mùa hè.

Bên cạnh thời tiết khắc nghiệt thì bom đạn Mỹ nhiều phen cũng gây khó khăn cho các ruộng bèo phát triển. Nhiều ruộng bèo được đoàn viên và thanh niên mất nhiều công sức gây dựng được đã bị bom Mỹ quật nát. Đoàn viên và thanh niên hợp tác xã Đông Phương Hồng và ở nhiều nơi khác đã phải kiên trì nhặt từng cánh bèo hoa dâu do bom Mỹ quật nát đem rửa sạch tiếp tục ươm thả, đảm bảo diện tích cấy lúa được phủ kín bèo. Nhiều nơi đoàn viên và thanh niên còn tận dụng những hố bom để ươm thả bèo hoa dâu trước khi đưa ra đại trà làm cho diện tích bèo hoa dâu tăng lên đáng kể, tạo ra một nguồn phân đạm tự nhiên đảm bảo tăng năng suất cây trồng.

Khai thác nguồn phân tự nhiên, thanh niên Ninh Bình, còn có sáng kiến trồng điền thanh mô, một biện pháp tận dụng diện tích gieo trồng một loại cây phân xanh có hiệu quả cao, đảm bảo khi lúa được thu hoạch, cây điền thanh cũng phát triển có thể vùi ngay xuống ruộng làm phân bón.

Trong điều kiện chiến tranh ác liệt, nhiều cơ sở Đoàn thanh niên ở nông thôn vẫn tổ chức đoàn viên và thanh niên đi đầu trong việc thâm canh tăng năng suất cây trồng, coi đó vừa là nghĩa vụ của người ở hậu phương đối với tiền tuyến, vừa để góp phần xây dựng cơ sở vật chất của chủ nghĩa xã hội. Thanh niên chi đoàn Yên Vực (Thanh Hóa), phần lớn là nữ, sống giữa một “túi bom” phía Bắc cầu Hàm Rồng phải đào hầm chữ A trên đồng để tránh bom đạn địch khi cần thiết, vẫn kiên trì áp dụng các biện pháp kỹ thuật canh tác tiên tiến để làm ra 5 tấn thóc trên một hécta trong một năm. Thanh niên Thanh Trạch (Quảng Bình), thanh niên Nghệ An, Hà Tĩnh, thanh niên Vĩnh Linh trong điều kiện phải đối phó với các hoạt động đánh phá của máy bay Mỹ, nhiều cánh đồng bị bom đạn Mỹ cày đi cày lại, chúng thả bom từ trường vào ruộng lúa… không những vẫn đảm bảo diện tích cày cấy mà còn áp dụng nhiều biện pháp kỹ thuật canh tác tiên tiến, làm ruộng thí nghiệm, chăm sóc ruộng cao sản… đạt nhiều hiệu quả. Đinh Như Gia, một Đội trưởng sản xuất trẻ tuổi của đồng đất Vĩnh Linh thường xuyên phải đối mặt với những trận đánh phá có tính hủy diệt của máy bay Mỹ vẫn kiên gan tổ chức đoàn viên và thanh niên ra đồng, lợi dụng các kẽ hở trong qui luật đánh phá của máy bay Mỹ và tàu chiến Mỹ để cày cấy ngay trên những cánh đồng đầy bom đạn giặc, đảm bảo năng suất lúa tăng liên tục và bền vững. Và anh đã trở thành Anh hùng nông nghiệp đầu tiên của Vĩnh Linh ngay trong những năm đầu của cuộc kháng chiến chống Mỹ.

Năm 1966, nhân kỷ niệm lần thứ 53 Ngày truyền thống vẻ vang của Đoàn (26.3.1931 - 26.3.1966) trong thanh niên nông thôn ngoại thành Hà Nội xuất hiện phong trào “3 sào, 5 việc”, 3 và 5 là tượng trưng cho ngày kỷ niệm Đoàn lần thứ 35 (3 sào là nhận chăm sóc 3 sào ruộng xa, ruộng xấu và làm 5 việc như làm cỏ, bón phân, tưới tiêu nước, phòng trừ sâu bệnh)... Chương trình phát thanh Thanh niên của Đài tiếng nói Việt Nam và sau đó các báo đều đưa tin kịp thời việc làm thiết thực này, cổ vũ thanh niên nông thôn các nơi khác cùng làm theo. Một phong trào nhận ruộng xa, ruộng xấu chăm sóc phát triển sâu rộng trong đoàn viên và thanh niên ở hầu khắp các địa phương và kéo dài trong nhiều năm. Trên các cánh đồng tấm biển: “Nhận ruộng chăm sóc của thanh niên” được cắm phổ biến. Trên các thửa ruộng nhận chăm sóc của thanh niên đều áp dụng nhiều biện pháp thâm canh đồng bộ. Nhiều biện pháp kỹ thuật như bón phân, làm cỏ đều được thực hiện tăng hơn ruộng đại trà.

Thanh niên xung phong phục vụ chiến đấu trong phong trào “Năm xung phong” của thanh niên miền Nam.

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh tiến hành từ ngày 20 đến ngày 22-11-1980 tại Thủ đô Hà Nội.

Từ những thửa ruộng nhận chăm sóc, nhiều cơ sở Đoàn ở nông thôn đã tiến hành xây dựng những cánh đồng, những khu ruộng thanh niên. Cũng với phương thức nhận ruộng xa, ruộng xấu để chăm sóc, nhưng với qui mô lớn hơn, mang tính tập thể, nên có điều kiện áp dụng các biện pháp thâm canh đồng bộ. Lao động trên những cánh đồng, những khu ruộng thanh niên, đoàn viên và thanh niên không chỉ được làm việc theo sự phân công mà còn được học tập nâng cao trình độ nghề nông. ý thức rõ trách nhiệm của mình, các tổ chức cơ sở Đoàn thanh niên nông thôn thường xuyên coi việc rèn luyện kỹ năng lao động và trang bị kiến thức khoa học kỹ thuật cho đoàn viên thanh niên là một biện pháp có tính quyết định đến việc thâm canh tăng năng suất cây trồng và vật nuôi. Nhiều hình thức tổ chức rèn luyện kỹ năng lao động cho thanh niên đã làm hình thành cả một phong trào có sức cuốn hút đông đảo nhiều người tham gia, như phong trào “đường cày đảm đang”.

Từ trước, ở Thanh Hóa cũng như ở nhiều nơi khác, phụ nữ thường ít phải làm những công việc nặng nhọc, như cày bừa, trên đồng uộng. Khi phần lớn nam thanh niên phải ra mặt trận, công việc đồng áng phụ nữ phải đảm đang. Không còn cách nào khác, chị em phải đứng ra tập đảm nhận trọng trách này. Phá bỏ cả một tập tục có từ lâu đời, chị em phải vượt qua không ít khó khăn, kể cả dư luận xã hội. ở nhiều cơ sở chị em phải tổ chức học cày vào ban đêm. Nhờ đó nhiều nữ thanh niên nông thôn đã trở thành lao động chủ lực trong các hợp tác xã sản xuất nông nghiệp.

Phong trào học tập, rèn luyện nâng cao trình độ nghề nông trở thành phổ biến trong thanh niên nông thôn. Các cơ sở Đoàn thường xuyên phối hợp với ngành nông nghiệp tổ chức cho thanh niên học tập nắm vững kỹ thuật thâm canh, trước hết đối với cây lúa và con lợn.

Với đội ngũ những người làm nghề nông ngày càng có kiến thức, những cánh đồng 5-10 tấn thắng Mỹ, hoặc những khu đồng, cánh đồng thanh niên đã thật sự mang lại hiệu quả nhiều mặt, trong đó có việc góp phần nâng độ đồng đều của đồng ruộng, trong từng vùng, từng tỉnh - một biện pháp quan trọng góp phần giành mục tiêu 5 tấn thóc trên một hécta gieo trồng một năm, trong điều kiện vừa sản xuất vừa chiến đấu. Qua nhiều vụ thu hoạch, những cánh đồng 5-10 tấn thắng Mỹ những khu đồng thanh niên, tuy phần lớn đều xây dựng từ những khu ruộng xấu, vẫn cho năng suất cao hơn hẳn ruộng đại trà từ 10-15%, có nơi thu hoạch trội hơn tới 1-1,5 tấn thóc trên 1 hécta.

Nhờ những nỗ lực đó, cùng với Thái Bình, tỉnh đầu tiên đạt mục tiêu 5 tấn thóc trên 1 hécta, các tỉnh, thành phố khác, ngay trong những năm tháng khẩn trương kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, đều có những điển hình thâm canh đạt năng suất cao. Quỳnh Lưu, Đô Lương là những huyện của tỉnh Nghệ An nằm trong vùng đánh phá ác liệt của máy bay Mỹ, nhưng thanh niên nông thôn cùng bà con xã viên vẫn bám đồng ruộng thâm canh cây trồng. Thanh niên đã tổ chức những đội xung kích cày cấy và thu hoạch ở những khu vực địch thường xuyên đánh phá ác liệt. Nhiều lần vào thời điểm lúa chín, không quân Mỹ đã thả bom nổ chậm, bom từ trường vào ruộng lúa, thanh niên nông thôn Nghệ An vừa tổ chức lực lượng phá bom, vừa thành lập những đội cảm tử đến gặt lúa tại những nơi nguy hiểm, không bỏ phí một hạt thóc. Nhiều hợp tác xã ở Quỳnh Lưu, Đô Lương, Diễn Châu... đã đạt mục tiêu 5 tấn.

Sơn La là một tỉnh miền núi cao, nhưng từ những năm 1966-1967 phong trào xây dựng cánh đồng 5 tấn thắng Mỹ cũng đã được triển khai ở nhiều vùng nông thôn, góp phần cùng các biện pháp thâm canh khác để đến năm 1968 cũng đã có 10 hợp tác xã đạt mục tiêu 5 tấn thóc trên 1 hécta. Đến năm 1972 Sơn La đã có 7 xã và 54 hợp tác xã đạt mục tiêu 5 tấn thóc và trên 5 tấn/ha, trong đó có nhiều hợp tác xã của đồng bào các tỉnh Thái Bình, Hải Hưng lên khai hoang, nhờ áp dụng những kinh nghiệm thâm canh từ ở quê nên năng suất đạt tới 8 tấn đến 9,6 tấn/ha như các hợp tác xã Hải Sơn, Hưng Sơn, Song Mai (Sông Mã).

Phấn đấu giành mục tiêu 5 tấn thóc/ha, thanh niên nông thôn còn đẩy mạnh chăn nuôi, phấn đấu góp phần đưa chăn nuôi trở thành ngành sản xuất chính. ở nhiều cơ sở thanh niên thường đảm nhận xây dựng những ô chuồng tăng sản. Một số cơ sở cụ thể hơn, xây dựng những dãy chuồng “trăm con, vạn cân” (nuôi 100 con lợn đạt bình quân xuất chuồng 100kg/con). Tiêu biểu có Ngô Thị Phú, thanh niên nông thôn ngoại thành Hà Nội, nhờ áp dụng các biện pháp kỹ thuật tiên tiến vào chăm sóc đàn lợn, nên đã trở thành kiện tướng chăn nuôi xuất sắc trong nhiều năm.

Cùng với thanh niên nông thôn “tay cày tay súng”, thanh niên vùng biển sẵn sàng “tay lưới tay súng”, bám biển ngày đêm vừa chiến đấu vừa sản xuất. Tiêu biểu là thanh niên Cảnh Dương (Quảng Bình), thanh niên Hải Thịnh (Hải Hậu, Nam Định), thanh niên vùng biển Vĩnh Linh... vừa làm nhiệm vụ sản xuất, vừa làm nhiệm vụ tiếp tế cho các chiến sĩ đang chiến đấu trên các đảo xa, trong đó có đảo Cồn Cỏ. Nhiều lần các tay lưới thanh niên đã phải chiến đấu liên tục với máy bay, tàu chiến Mỹ để bảo vệ tàu, thuyền và các công cụ sản xuất, bảo vệ tính mạng của ngư dân.

***

Trong thư gửi cán bộ, cô giáo, thầy giáo, công nhân, nhân viên, học sinh nhân dịp bắt đầu năm học mới, ngày 16 tháng Mười, 1968, Bác Hồ dạy: “Dù khó khăn đến đâu cũng phải tiếp tục thi đua dạy tốt và học tốt”.

Phong trào thi đua “Dạy tốt và học tốt” trở thành mục tiêu phấn đấu không ngừng của tuổi trẻ trong các trường học. Tổ chức Đoàn trong các trường đại học, trung học chuyên nghiệp, trường dạy nghề cũng như ở các trường phổ thông… đã đóng góp vai trò tích cực trong việc sơ tán trường lớp đến nơi an toàn, lên rừng núi, về nông thôn, xây dựng cơ sở mới để tiếp tục dạy và học. Thanh niên, sinh viên Trường Đại học Bách Khoa và nhiều trường khác ở Hà Nội nêu khẩu hiệu “vác trường lên vai đi sơ tán”, dù trong hoàn cảnh nào cũng tiếp tục học tốt, dạy tốt, cũng tiếp tục nghiên cứu khoa học thiết thực phục vụ sản suất và chiến đấu.

Ở Vĩnh Linh, Quảng Bình… các lớp học được mở ngay trong hầm địa đạo. Thầy và trò Nghi Hương (Nghi Lộc, Nghệ An) nêu quyết tâm “đội bom đi học”. Trong điều kiện bị địch đánh phá thường xuyên vẫn đảm bảo việc dạy và học. Phong trào có sức cổ vũ hàng triệu học sinh, thầy cô giáo bất chấp bom đạn ác liệt tới trường tới lớp, chỉ với một túi vải đựng sách vở, một chiếc mũ rơm đội đầu. Chiếc mũ bện bằng rơm dùng để đội đầu che bom bi rất có hiệu quả đã gắn bó, trở thành hình ảnh sau này trở thành những người nổi tiếng như Nghệ sĩ nhân dân Đặng Thái Sơn cũng đã từng đội mũ rơm đi học trong nhiều năm.

Nhiều trường hợp mặc dù đã sơ tán đến các vùng xa, các tiết học vẫn phải đứt quãng nhiều lần vì máy bay Mỹ đến quần đảo, đánh phá. Có lớp học đã trúng bom ngay giữa giờ lên lớp. Nhiều thầy cô giáo và học sinh chết và bị thương. Nhiều lớp học phải đào hầm từ trong lớp thông ra ngoài để kịp sơ tán học sinh, vẫn không tránh khỏi thương vong.

Trong điều kiện khó khăn ác liệt, vai trò của tổ chức Đoàn trong các trường học càng được củng cố và phát huy tác dụng góp phần cải tiến chương trình, nội dung, phương pháp giảng dạy và học tập. ý thức tự chủ trong học tập của đoàn viên, thanh niên học sinh không ngừng củng cố và nâng cao làm cho phong trào học tập và rèn luyện phấn đấu trở thành con người mới phát triển toàn diện của thanh niên ngày càng đi vào chiều sâu. Số học sinh đến trường hàng năm vẫn không ngừng tăng. Riêng tỉnh Nam Hà số học sinh năm học 1965-1966 tăng 3,6% so với năm học 1964-1965. ở xã Nghĩa Phong (Nghĩa Hưng) trong một năm học, trường bị đánh phá tới 22 lần, học sinh vẫn tới trường, tới lớp đầy đủ, vẫn nêu cao tinh thần dạy tốt và học tốt.

Chất lượng học tập không ngừng được nâng lên. Bắc Lý (Lý Nhân, Hà Nam) giữ vững lá cớ đầu trong học tập và quản lý trường lớp. Các trường Lê Hồng Phong (Nam Định), Lam Sơn (Thanh Hoá), Phan Đình Phùng (Nghệ An)… cùng các trường học ở Hà Nội, Hải Phòng, trở thành những điểm sáng về nâng cao chất lượng học tập và giảng dạy. Năm 1966 trong cuộc thi học sinh giỏi môn Văn toàn miền Bắc có 73 em dự thi. Đội tuyển học sinh giỏi của Nam Hà chiếm 24 em. Đội ngũ giáo viên trẻ không ngừng được bổ sung và có ý thức vươn lên về mọi mặt. Chỉ một huyện Lý Nhân (Hà Nam) năm học 1965-1966 trong số 16 chiến sĩ thi đua của ngành giáo dục, thì 14 là đoàn viên, thanh niên. Trong 5 giáo viên dạy giỏi toàn tỉnh, thanh niên chiếm 3.

Phong trào học tập bổ túc văn hoá, Trường Đoàn Văn hoá Kỹ thuật, Trường thanh niên Dân tộc vừa học vừa làm… được giữ vững và phát triển. Xã Cẩm Bình (Hà Tĩnh), Trường Thanh niên lao động xã hội chủ nghĩa Hoà Bình trở thành những lá cờ đầu trong việc chuyển hướng mục tiêu giáo dục đào tạo. Chi đoàn Đồng Mỹ (Nam Hà) hầu hết đoàn viên và thanh niên đã tham gia học bổ túc văn hoá. Chi đoàn 3 điều tra rừng có 280 thanh niên, cả 280 đã đi học và đi dạy BTVH, trong đó có 150 đồng chí học cấp III,197 đồng chí là công nhân có trình độ trung cấp kỹ thuật, 32 cán bộ có trình độ kỹ sư.

Tỉnh Sơn La trong hoàn cảnh chiến tranh khẩn trương, gần 2 vạn đoàn viên, thanh niên các dân tộc vẫn thường xuyên theo học các lớp BTVH ngoài giờ. Các trường Thanh niên lao động xã hội chủ nghĩa, trường BTVH tập trung… hàng năm thu hút hàng ngàn đoàn viên, thanh niên theo học.

Phong trào học tập BTVH đặc biệt nổi bật trong lực lượng TNXP chống Mỹ, cứu nước (tập trung). Với 3 nhiệm vụ được xác định trong đó có nhiệm vụ học tập, ngay từ đầu lực lượng TNXP chống Mỹ, cứu nước đã được bố trí đội ngũ giáo viên chuyên trách đến tận đại đội. Nghị quyết Hội nghị chuyên đề về BTVH trong TNXP chống Mỹ, cứu nước (tập trung) do Trung ương Đoàn và Bộ Giáo dục chủ trì trong các ngày 2-5/4/1967 chỉ rõ mục tiêu phấn đấu chung của TNXP là: “nhanh chóng thanh toán cấp I, thực hiện vững chắc việc phổ cập cấp II, tích cực chuẩn bị điều kiện để từng bước phát triển tốt cấp III”. Mỗi đội TNXP đã thành lập một trường BTVH, trực thuộc ngành giáo dục địa phương nơi đóng quân, mỗi đại hội có một phân hiệu. Sau mỗi nhiệm kỳ 3 năm mỗi đội viên TNXP phấn đấu lên được 3 lớp. Nhiệm kỳ I khi mới thành lập có tới 47% đội viên còn ở trình độ văn hoá cấp I, khi hết nhiệm kỳ 3 năm, con số đó chỉ còn 5%. Có nhiều đội viên, đạt kết quả cao trong học tập, 2 năm lên được 3 lớp. Một số anh chị em khi ra đi chưa đọc thông thạo, lúc xuất ngũ đã có trình độ văn hóa lớp 4, lớp 5. Một số đội viên khi gia nhập lực lượng TNXP chống Mỹ, cứu nước (tập trung) còn mù chữ, sau một nhiệm kỳ 3 năm đã tốt nghiệp cấp II BTVH, được cử đi học các trường trung cấp. Tiêu biểu như Phan Văn Lục, khi đi TNXP còn mù chữ, nhưng vì xấu hổ đã khai học hết cấp II, được tập thể động viên, Lục phấn đấu học hết cấp II, được cử đi học công nhân kỹ thuật. Trần Thị Thu Hương cũng từ một đội viên không biết chữ, sau khi hết nghĩa vụ 3 năm đã có trình độ học vấn cấp II BTVH được cử đi học Trung  cấp Hàng hải…

Phong trào xây dựng Trường Đoàn BTVH vừa học vừa làm xuất hiện khá phổ biến trong những năm chống chiến tranh phá hoại ác liệt của Mỹ. ở nhiều xã gọi là Trường Đoàn văn hoá kỹ thuật, được tổ chức gắn liền với đội chuyên giống. Các chi đoàn ở các đội sản xuất cơ bản của các hợp tác xã chủ động luân phiên cử đoàn viên và thanh niên đến tham gia học tập và lao động, ở đội chuyên giống. ở đây đoàn viên và thanh niên được học tập văn hoá và kỹ thuật (thường qua 4 vụ lúa) các học viên trở về làm nòng cốt trong các đội sản xuất cơ bản, số khác lại được chuyển đến học tập. ở Nam Hà thường xuyên Trường Đoàn văn hoá kỹ thuật thu hút trên 3 vạn học viên theo học.

Cùng với việc đẩy mạnh thi đua dạy tốt và học tốt, công tác chăm lo, giáo dục thiếu niên nhi đồng được các cấp bộ Đoàn hết sức coi trọng. Các tổ chức cơ sở của Đoàn ngay từ đầu đã triển khai nhanh chóng chủ trương chuyển đội vào trường học, kịp thời bổ sung đội ngũ cán bộ phụ trách Đội thiếu niên, nhi đồng là những giáo viên đầy nhiệt tình. Các cơ sở Đoàn đã kết hợp chặt chẽ với nhà trường trong việc giáo dục các em ý thức công dân, tổ chức cho các em thi đua học tập và lao động, tham gia phục vụ chiến đấu tùy theo điều kiện cụ thể. Các hoạt động theo chủ đề được triển khai sâu rộng, thu hút hầu hết thiếu niên, nhi đồng tham gia; “Vì miền Nam rực lửa chiến công, nguyện làm chiến sĩ nhỏ thắng Mỹ”, “Nói lời hay làm việc tốt, phấn đấu trở thành Cháu ngoan Bác Hồ”… Các tổ chức Đoàn cơ sở còn tổ chức cho các em tham gia công tác Trần Quốc Toản, giúp đỡ các gia đình thương binh, liệt sĩ, gia đình bộ đội và TNXP, xây dựng hợp tác Măng Non, tạo điều kiện thuận lợi để các em làm quen dần với lao động và những vấn đề của KHKT. Riêng tỉnh Hà Nam, năm học 1965-1967 có 1.100 hợp tác xã. Đến tháng 10-1968 toàn tỉnh có 8 vạn thiếu niên tham gia hợp tác xã Măng Non. Trên 6.000 thiếu niên đã chăm sóc hàng vạn trâu bò béo khoẻ, hơn 2.000 em đã được khen thưởng về thành tích chăm sóc trâu bò. Có em được Bác Hồ thưởng Huy hiệu của Người.

Phong trào phấn đấu trở thành Cháu ngoan Bác Hồ đã có sức cuốn hút mạnh mẽ hàng triệu thiếu niên, nhi đồng nỗ lực vươn lên trong học tập và rèn luyện về mọi mặt. Nhiều em đã lập được thành tích xuất sắc trong học tập, công tác và tham gia lao động sản xuất, phục vụ chiến đấu. Nguyễn Bá Ngọc hy sinh thân mình bảo vệ nhiều em nhỏ trong lửa đạn. Hoa Xuân Tứ, bị tàn tật vẫn nêu tấm gương sáng về học tập. Nguyễn Thị Vệ, Nguyễn Thị Kiều Anh và hàng nghìn đội viên khác đã nêu gương tốt về tính thật thà và tinh thần dũng cảm, ý chí học tập, rèn luyện, thực hiện tốt 5 điều Bác Hồ dạy.

***

Đứng trước những đòi hỏi của nhiệm vụ cách mạng trong giai đoạn mới, Đoàn TNLĐ Việt Nam đã hết sức coi trọng giáo dục, rèn luyện thế hệ thanh niên mới phát triển toàn diện, kế tục trung thành và xuất sắc sự nghiệp cách mạng của Đảng và Bác Hồ. Nghị quyết Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đoàn lần thứ 8 (khoá III) khẳng định nhiệm vụ giáo dục của Đoàn là “nhằm đào tạo thanh niên thành lớp người phát triển toàn diện, có đầy đủ khả năng kế tục sự nghiệp cách mạng, lớp người có khí phách và đạo đức cộng sản, trung thành vô hạn với Tổ quốc và lý tưởng cộng sản, căm thù sâu sắc bọn đế quốc và bọn bóc lột, đồng thời nắm vững kiến thức văn hoá, khoa học kỹ thuật tiên tiến và có sức khỏe.

Lấy việc nâng cao giác ngộ chính trị, tư tưởng cho đoàn viên, thanh niên làm yếu tố cơ bản, tổ chức các cơ sở Đoàn đã thường xuyên tổ chức cho thanh niên học tập, tìm hiểu đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước, đồng thời đưa thanh niên vào thực tiễn đấu tranh cách mạng, thông qua các hoạt động sản xuất, chiến đấu, qua việc thực hiện chính sách cụ thể, qua các cuộc vận động lớn của Đảng và Nhà nước như “3 xây 3 chống”, “cải tiến quản lý hợp tác xã”, “xây dựng kinh tế văn hoá miền núi”, “Đoàn tham gia xây dựng Đảng và kếp nạp đảng viên lớp Hồ Chí Minh”… Đoàn đã góp phần làm cho đoàn viên và thanh niên nâng  cao một bước về trình độ hiểu biết đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước và trình độ quản lý. Mặt khác Đoàn quan tâm giáo dục cho đoàn viên, thanh niên tinh thần lao động mới, ý thức làm chủ tập thể, đồng thời nghiêm khắc phê phán những biểu hiện của chủ nghĩa cá nhân, chủ nghĩa tự do, và những ảnh hưởng của tư tưởng tư sản… Việc giáo dục về Đảng, về Đoàn, giáo dục về truyền thống cách mạng, giáo dục về văn hoá, KHKT, TDTT, nếp sống cấp bộ Đoàn ngày càng quan tâm và có nhiều biện pháp tiến hành tốt.

Các tổ chức cơ sở Đoàn đã kết hợp một cách chặt chẽ công tác giáo dục với công tác tổ chức và hoạt động thực tiễn, làm cho 3 mặt hoạt động của Đoàn gắn bó chặt chẽ với nhau, bổ sung cho nhau đưa thanh niên tiến lên thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ cách mạng, rèn luyện thanh niên thành lớp người kế tục sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc. Việc hình thành một hệ thống các hình thức, phương pháp giáo dục thích hợp với đặc điểm từng lứa tuổi, từ giáo dục tập trung theo những bài học cơ bản, giáo dục thông qua hoạt động thực tiễn, thông qua các phong trào hành động cách mạng, giáo dục cá biệt, thể dục thể thao,v.v… là một bước tiến trong công tác giáo dục của Đoàn.

Phương thức giáo dục bằng điển hình trong nhiều năm đã đạt được những hiệu quả nổi bật, không những có tác động trực tiếp đến hành động cách mạng của đoàn viên, thanh niên, lôi cuốn họ vào những mũi nhọn của sản xuất, chiến đấu, học tập và xây dựng cuộc sống mới mà còn góp phần quan trọng hình thành những phẩm chất của  con người mới, theo gương các điển hình tiên tiến. Phát hiện điển hình, bồi dưỡng và nhân điển hình, tạo thành phong trào quần chúng học tập và làm theo điển hình là một mặt công tác đã được các cấp bộ Đoàn vận dụng sáng tạo. Trong nhiều năm liền hầu như ở địa phương nào cũng xuất hiện những điển hình tập thể và cá nhân tiêu biểu, như tập thể đoàn viên và thanh niên hợp tác xã Vũ Thắng (Thái Bình), Yên Vực (Thanh Hoá), tổ đi lò nhanh Đào Xuân Ngọc, tổ lái máy xúc EKG Vũ Xuân Thủy (Quảng Ninh), tổ chức Đoàn Nhà máy xi măng Hải Phòng,v.v…

Những điển hình cá nhân xuất hiện ngày một nhiều đã góp phần giáo dục tình cảm cách mạng và cổ vũ tuổi trẻ vươn tới những hành động cao đẹp. Nguyễn Văn Trỗi, với 9 phút cuối cùng làm nên lịch sử. Nguyễn Viết Xuân với ý chí “nhằm thẳng quân thù, bắn!”… trong nhiều năm đã là những hình ảnh gần gũi của tuổi trẻ “Ba sẵn sàng”. Và được tặng cờ và huy hiệu mang hình Nguyễn Văn Trỗi là một vinh dự và tự hào của những tập thể và cá nhân nguyện “Sống như anh”.

Với “Cuộc đời đẹp nhất là ở trên trận tuyến chống quân thù” và “Nước còn giặc còn đi đánh giặc”, tấm gương Lê Mã Lương và nhiều đoàn viên, thanh niên khác thật sự đã làm dấy lên một phong trào tòng quân sôi nổi vào thời điểm cuộc chiến đấu giải phóng miền Nam đang đòi hỏi sự chi viện sức người sức của rất lớn. Ngay cả trong điều kiện thiên tai gây lụt lớn năm 1971, được cổ vũ bởi tấm gương Lê Mã Lương, ở những vùng  ngập lụt nặng như Hải Hưng, thanh niên vẫn hăng hái lên đường nhập ngũ, đảm bảo chỉ tiêu giao quân. Nhiều đoàn viên và thanh niên đã hoãn đi học đại học, đi nước ngoài để được đi chiến đấu.

Những cơ quan báo chí, xuất bản của Đảng và Nhà nước, đặc biệt là của Đoàn như báo Tiền Phong, báo Thiếu niên Tiền Phong, chương trình Phát thanh Thanh Niên, Nhà xuất bản Kim Đồng… đã góp phần to lớn trong việc giáo dục, rèn luyện thanh niên, động viên cổ vũ thanh niên học tập và làm theo những điển hình tiên tiến.

Xây dựng nếp sống thời chiến là một yêu cầu khách quan của cuộc chiến đấu. Tác phong thời chiến, nếp sống quân sự hoá, sống giản dị, gọn gàng, có lệnh là lên đường, cần thiết là cầm súng bước vào chiến hào… trở thành quen thuộc đối với nhiều đoàn viên và thanh niên. Súng luôn luôn ở bên người, kể cả khi đi làm, đi hội họp, và cả khi đi cùng người yêu. Nhà thơ Nguyễn Đình Thi viết: “Anh ôm em, ôm cả khẩu súng trường trên vai em!”. Hình tượng của thơ mà cũng rất thật của cuộc đời.

Cùng với việc xây dựng nếp sống thời chiến, Đoàn còn chú trọng cùng với các ngành liên quan, xây dựng gia đình văn hoá mới, nếp sống lành mạnh. Những công trình vệ sinh, hố xí, giếng nước, nhà tắm… phát triển. ở xã Quảng An (Hà Nội) và nhiều nơi khác thanh niên đã đi đầu thực hiện cưới xin theo đời sống mới. Thanh niên các dân tộc ở Sơn La đã đi đầu phá bỏ nhiều tập tục lạc hậu mê tín dị đoan, chống tệ tảo hôn, ở rể, chống bắt ép con gái Mèo làm vợ, phê phán tập tục quần hôn của thanh niên người Dao, chống các tập tục kiêng kỵ có hại cho sản xuất và sức khoẻ, xây dựng cuộc sống khẩn trương, lành mạnh, giản dị và tiết kiệm phù hợp với điều kiện của cuộc sống chiến đấu.

Trên những nẻo đường ra trận, trong các hầm lò, xưởng máy, trên những cánh đồng 5 tấn thắng Mỹ, tiếng hát lời ca đã trở thành nhu cầu không thể thiếu của mọi người sau những giờ phút chiến đấu, lao động căng thẳng. Tiếng hát báo hiệu sự sinh sôi, tiếng hát mang lại niềm tin và sức mạnh. Từ trong những nhu cầu đó đã ra đời phong trào “Tiếng hát át tiếng bom”. Các chiến sĩ trên đảo Cồn Cỏ anh hùng, chiến đấu căng thẳng ngày đêm, vẫn say sưa hát về “con cua đá”, một hình ảnh rất quen thuộc, rất gần gũi với các chiến sĩ trên đảo. Có biết bao nhiêu bài hát đã đi vào tình cảm của lớp thanh niên chống Mỹ, thúc giục họ xốc tới lập công. Các bài hát: “Bác vẫn cùng chúng cháu hành quân”, “Chiếc gậy Trường Sơn”… trở nên phổ biến trên khắp mọi nẻo đường ra trận. Nhiều nhóm văn nghệ xung kích, chuyên nghiệp và nghiệp dư, đã len lỏi trên khắp các trận địa, trong những thôn xóm, hát cho các chiến sĩ, cho đồng bào nghe giữa 2 đợt đánh phá của địch.

Phong trào rèn luyện 5 môn quân sự phối hợp: Chạy, nhảy, bơi, bắn, võ dân tộc, phong trào rèn luyện thân thể theo tiêu chuẩn được phát triển rộng khắp, mang tính quần chúng sôi nổi: “Vai trăm cân, chân vạn dặm”, “dẻo tay cày, hay tay súng”,v.v… góp phần tạo nên những gương mặt thể thao tiểu biểu. Tháng 11-1966, Vũ Thị Sen vận động viên bơi lội trưởng thành từ phong trào quần chúng của xã Nghĩa Phú (Nam Định) tham gia đội tuyển bơi lội nước ta đi thi đấu tại Đại hội thế vận Ganêpho châu á, giành thành tích vẻ vang. Nguyễn Thị Hồng Tiến, nhiều năm dẫn đầu giải điền kinh của ngành đường sắt: Vũ Thị Soa, cô thanh niên xung phong từng chốt giữ trên những trọng điểm địch thường xuyên đánh phá ác liệt, trở thành vô địch Giải việt dã báo Tiền Phong trong nhiều năm: Phạm Thị Điệp, Ngô Thị Phú.. trở thành những kiện tướng bơi lội ưu tú, từng mang lại vinh quang cho Tổ quốc trong những kỳ thi thể thao quốc tế… và hàng ngàn vận động viên khác đã trưởng thành nhanh chóng như một thành quả đáng tự hào của tuổi trẻ “Ba sẵn sàng”.

Thừa thắng xốc tới, tuổi trẻ cùng quân và dân tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968. Ban Bí thư Trung ương Đảng ra nghị quyết về công tác thanh niên trong tình hình mới.

Sau thất bại của cuộc phản công chiến lược mùa khô 1966-1967, vùng kiểm soát của Mỹ-Nguỵ bị thu hẹp, chính quyền Sài Gòn khủng hoảng triền miên, ngụy quân sa sút ý chí tinh thần. Cuối năm 1967, Giônxơn đưa thêm 100.000 quân chiến đấu vào miền Nam Việt Nam đưa tổng số quân Mỹ trực tiếp tham chiến ở miền Nam Việt Nam lên trên nửa triệu tên, vẫn không cứu vãn nổi tình thế. Quân và dân ta ở cả hai miền Nam-Bắc liên tiếp giành được những thắng lợi có ý nghĩa quyết định.

Nhìn thấu rõ tương lai của cuộc kháng chiến, mừng Xuân Mậu Thân 1968, trong thư chúc Tết đồng bào và chiến sĩ cả nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã kêu gọi:

            Xuân này hơn hẳn mấy xuân qua

            Thắng trận tin vui khắp nước nhà

            Nam - Bắc thi đua đánh giặc Mỹ

            Tiến lên!

            Toàn thắng ắt về ta!              

Lời chúc năm mới, cũng là lời hịch xung trận. Phát huy sức mạnh tổng hợp và thừa thắng xông lên, Đảng ta chủ trương đưa cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước bước vào một giai đoạn mới. Tháng 12-1967, Bộ Chính trị BCH Trung ương Đảng ra nghị quyết, chỉ rõ: “Chuyển cuộc chiến tranh cách mạng miền Nam của ta sang một thời kỳ mới: thời kỳ giành lấy thắng lợi quyết định”.

Nắm vững thời cơ và ý đồ chiến lược của Đảng, tháng 11-1967, Thường vụ BCH Trung ương Đoàn TNND cách mạng đã họp và quyết định động viên thanh niên thừa thắng xốc tới cùng quân và dân toàn miền tổng công kích, tổng khởi nghĩa. Trung ương Đoàn thiết tha kêu gọi: “Thời cơ hiện nay đang mở ra cho mỗi thanh niên, mỗi cán bộ, mỗi đoàn viên ánh sáng huy hoàng, soi đường cho chúng ta xông lên lập công lớn. Giặc Mỹ và tay sai đang choáng váng, chúng ta hãy bồi cho chúng những đòn chí mạng. Chúng ta phải nỗ lực phi thường, làm việc không tiếc sức, quyết không chút ngại khó khăn gian khổ, sẵn sàng hy sinh cho sự nghiệp cao cả giải phóng dân tộc. Mỗi cán bộ, đoàn viên và thanh niên trong giờ phút thiêng liêng này phải đứng ở hàng đầu trong hàng trận chống Mỹ, cứu nước”.

Hưởng ứng lời kêu gọi của Đoàn, hầu hết cán bộ, đoàn viên và thanh niên các cơ quan xung quanh Trung ương cục miền Nam đã hăng hái tình nguyện tăng cường cho 5 phân khu xung quanh Sài Gòn và các khu Đoàn, Tỉnh Đoàn. Thành Đoàn Sài Gòn - Gia Định cử nhiều cán bộ, đoàn viên cơ sở về vùng căn cứ học tập chính trị và huấn luyện quân sự, chuẩn bị các kho bí mật, phương tiện vận chuyển để kịp thời chuyển thuốc nổ, vũ khí vào nội thành cất giấu trong những ngày giáp Tết.

Đoàn viên và thanh niên ở các địa phương đã tham gia nhiều đường dây vận tải vận chuyển hàng ngàn tấn vũ khí từ các trạm trên đường hành lang biên giới về địa điểm tập kết vùng ven bằng các hệ thống công khai, bí mật vào các kho nội thành. Các tỉnh còn huy động hàng ngàn thanh niên tham gia dân công, cùng thanh niên xung phong phục vụ hoả tuyến. Khắp trong các tỉnh, thành phố đã dấy lên phong trào tòng quân sôi nổi. Hàng vạn đoàn viên và thanh niên đã lên đường bổ sung cho quân chủ lực miền, khu để thành lập các sư đoàn và trung đoàn mạnh của quân giải phóng. Riêng ở Bến Tre đã thành lập được 5 tiểu đoàn bổ sung cho lực lượng của miền. Các Tỉnh Đoàn khu V có nhiều hình thức động viên thanh niên tòng quân, Quảng Nam tổ chức “dạ hội tòng quân”, Quảng Ngãi tổ chức “Ngày hội toàn dân bàn việc nước, tính việc nhà”… Năm 1967 Đoàn khu V có 12.577 thanh niên tòng quân, 5.506 thanh niên gia nhập lực lượng TNXP giải phóng miền Nam, 57.306 nam nữ thanh niên tham gia du kích, trong đó có 2.028 du kích mật. Cao điểm năm 1968 toàn khu đã động viên 25.144 thanh niên tòng quân.

Một lực lượng đáng kể thanh niên “Ba sẵn sàng” từ hậu phương lớn miền Bắc cũng không ngừng được bổ sung cho chiến trường miền Nam, góp phần tăng cường sức mạnh của các lực lượng vũ trang trên chiến trường, cả về số lượng và chất lượng. Đầu năm 1965 đã có 46.796 cán bộ và chiến sĩ quân đội nhân dân biên chế thành 7 trung đoàn, 20 tiểu đoàn bộ binh, pháo binh, đặc công bổ sung cho các chiến trường ở miền Nam. Chuẩn bị cho giai đoạn mới của cuộc chiến đấu 54.794 cán bộ, chiến sĩ, phần lớn trưởng thành từ phong trào “Ba sẵn sang” lại được chi viện cho các chiến trường, cùng hàng vạn TNXP mở đường, đưa hàng vạn tấn vũ khí, lương thực, thực phẩm, thuốc men… kịp thời phục vụ cuộc chiến đấu. Sau đó năm 1968, khi cuộc Tổng tiến công và nổi dậy đang diễn ra quyết liệt, 57.667 cán bộ và chiến sĩ lại được chi viện cho chiến trường Nam Bộ và cực Nam Trung Bộ. Năm 1969 có 43.219 người được chi viện cho chiến trường Nam Bộ, 35.501 người cho chiến trường khu V…

Trừ một số nơi ở khu V và Tây Nguyên nổ súng sớm, cuộc tổng tiến công và nổi dậy của quân và dân miền Nam đã đồng loạt nổ súng đúng giao thừa Mậu Thân, 1968. Sài Gòn, Huế, Quảng Trị, Tam Kỳ, Quảng Ngãi, Phan Thiết, Vĩnh Long, Cần Thơ, Thủ Dầu Một, Tây Ninh… Chỉ trong 7 ngày đầu của cuộc tập kích chiến lược, thanh niên đã cùng quân và dân miền Nam tấn công 64 thành phố, thị xã, diệt 5 vạn tên Mỹ - ngụy và chư hầu. Các chiến sĩ trẻ tuổi trong các đơn vị chủ lực, bộ đội địa phương đã chiến đấu vô cùng anh dũng, chẳng những đánh trúng, đánh mạnh, mà còn anh dũng chọc thủng các phòng tuyến địch, đánh lâu ngày trong thành phố, diệt nhiều sinh lực tinh nhuệ của Mỹ - ngụy. Tại Sài Gòn (ngày nay là thành phố Hồ Chí Minh) quân ta tấn công toà đại sứ Mỹ, Bộ Tổng tham mưu ngụy, Đài phát thanh, Trung tâm truyền tin Phú Lâm, sân bay Tân Sân Nhất, trại thiết giáp Phù Đổng…

Với truyền thống “đánh đâu thắng đấy” các chiến sĩ trẻ chi đoàn 61 quân giải phóng luôn là những mũi nhọn xung kích của đơn vị. Trong đợt đánh vào sân bay Tân Sơn Nhất, chỉ 5 phút các chiến sĩ đã dũng cảm phá bung 22 lớp rào dây kẽm gai, tạo điều kiện cho đơn vị tiến vào làm chủ đường băng, đánh vào nhà của giặc lái và nhân viên kỹ thuật. Nhiều chiến sĩ trẻ đã hi sinh anh dũng, trong tư thế sẵn sàng nhả đạn. Nhà thơ Lê Anh Xuân đã coi đó là “Dáng đứng Việt Nam tạc vào thế kỷ”.

Thừa thắng, các chiến sĩ trẻ chi đoàn 61, tiếp tục đánh cho địch những đòn choáng váng. Ngày 19 tháng 2 chặn đánh một tiểu đoàn địch ở cửa ngõ Sài Gòn, diệt một đại đội. Ngày 24 tháng 2, đánh giáp lá cà diệt một đại đội ngụy và 10 tên Mỹ. Ngày 13 tháng 3, 29 chiến sĩ của đơn vị đã đánh bại 2 tiểu đoàn địch, diệt 200 tên.

Cùng với các chiến sĩ trẻ chi đoàn 61 đánh chiếm sân bay Tân Sơn Nhất, một đơn vị nhỏ quân giải phóng gồm toàn những chiến sĩ tuổi từ 19 đến 20, được nhân dân che chở và giúp đỡ đã đánh chiếm cầu chữ Y chỉ trong một thời gian ngắn. Kẻ địch ngoan cố, dùng đủ mọi cỡ hoả lực, điều đến những đơn vị thiện chiến, tổ chức nhiều đợt phản kích, vẫn không đánh bật được chiến sĩ ta ra khỏi cầu. Trong khi đó khoảng 20 chiến sĩ trẻ của ta tiến đánh toà đại sứ Mỹ ngay trung tâm Sài Gòn. Cuộc chiến đẫu diễn ra trong nhiều giờ, giành giật nhau từng góc tường, từng cầu thang gác. 6 chiến sĩ trẻ khác chiến đấu trong một khách sạn đang làm dở suốt 36 tiếng đồng hồ, đánh lui nhiều đợt phản kích của địch. Và ở Đài phát thanh của ngụy quyền Sài Gòn, đội 4, biệt động thành Sài Gòn được ém quân sẵn chỉ cách Đài 100m, có lệnh tiến công, các chiến sĩ đã nhanh chóng tiếp cận đánh chiếm mục tiêu và giữ vững trong 3 giờ 10 phút. Địch huy động hàng tiểu đoàn thiện chiến đến tìm cách giải toả. Các chiến sĩ ta dũng cảm đánh lui nhiều đợt phản kích của chúng, diệt 1 đại đội lính dù, 1 trung đội bảo an, phá huỷ 1 xe thiết giáp, 1 xe GMC. 7 chiến sĩ của đội vượt được vào tuyến trong, phá hủy hoàn toàn hệ thống máy móc của đài, làm sập tầng trệt và một phần lầu 2. Các chiến sĩ lần lượt hy sinh. Còn lại 4 người, sau khi đạn hết, cuộc chiến đấu không cân sức, các chiến sĩ đã dùng bộc phá phá huỷ đài và hy sinh anh dũng. Đội trưởng Trần Phú Cường (tức Năm Mộc) đã được tuyên dương Anh hùng lực lượng vũ trang. Toàn đội được tặng thưởng Huân chương Quân công Giải phóng hạng Nhì.

Nhà báo Mỹ Don Oberdoiter trong cuốn “Tết - viết về Mậu Thân” đã có những nhận định: “Có lẽ trận tấn công được tổ chức tốt nhất ở vùng trung tâm thành phố là trận đánh chiếm đài phát thanh, một cơ sở hết sức quan trọng trong bất cứ đảo chính hay nổi dậy nào…”.

Trong những ngày tiến công và nổi dậy của quân và dân toàn miền, Thành Đoàn Sài Gòn kịp thời thành lập ủy ban thanh niên, sinh viên, học sinh cứu trợ đồng bào bị nạn, lập  các trung tâm trợ giúp nhân dân, đồng thời là nơi thu gom, nuôi giấu thương binh ta và chiến sĩ lạc đơn vị. Lợi dụng tổ chức công khai này, Thành Đoàn Sài Gòn đã móc nối cơ sở, xây dựng các căn cứ lõm ở các khu lao động, như ở liên phường 3A (Bàn Cờ - Vườn Chuối), liên phường 3B (Nguyễn Thông - Lê Văn Duyệt), liên phường 4A (Trương Minh Giảng - Trương Tấn Bửu), liên phường 4B (Gia Định).

Tại Huế, đêm 31-1-1968 quân và dân ta đồng loạt tiến công 40 mục tiêu. Rạng sáng ngày 1-2 ta làm chủ hầu hết thành phố, cờ Mặt trận DTGP miền Nam tung bay trên cột cờ thành nội. Sáng 3-2 ta phát động nhân dân nổi dậy lập chính quyền cơ sở . Mặt trận liên minh dân tộc dân chủ và hoà bình thành phố Huế ra đời, kêu gọi các tầng lớp nhân dân đoàn kết chống Mỹ.

Sau những ngày đầu choáng váng vì bị đòn bất ngờ, trưa 7-2-1968 địch huy động 11 tiểu đoàn ngụy, 3 tiểu đoàn lính thủy đánh bộ Mỹ, có pháo và xe tăng yểm trợ phản công chiếm lại Huế. Nhiều trận chiến đấu ác liệt nổ ra. Tiểu đoàn 11 cô gái sông Hương phối hợp với các chiến sĩ phân đội K10, ngày11 và 12 tháng 2 đã tổ chức nhiều trận đánh, bẻ gãy tất cả các đợt phản kích của địch hòng chiếm lại sân vận động Huế. Tiếp đó dưới sự chỉ huy của Phạm Thị Liên, một cô gái mới 20 tuổi, đánh thắng liền 7 trận ở Vân Dương, giữ vững cầu Lò Trâu, góp phần tiêu diệt 120 tên Mỹ. Kẻ địch điên cuồng cho một tiểu đoàn Mỹ phản kích, Phạm Thị Liên cùng đồng đội bình tĩnh chờ địch vào gần mới nhất loạt nổ súng, băm nát đội hình chúng, buộc chúng phải rút chạy. Phạm Thị Liên và tiểu đội chiến đấu của cô được tặng phần thưởng xứng đáng: Huân chương Chiến công Giải phóng hạng Nhất.

Cuộc tiến công chiến lược mùa Xuân Mậu Thân, 1968 nổ ra đều khắp. Nhiều cơ sở Đoàn được chuẩn bị tốt đã tổ chức đoàn viên và thanh niên phối hợp cùng các cánh quân giải phóng đánh chiếm nhiều mục tiêu quan trọng, tiếp đó đánh địch phản kích, giữ vững trận địa nhiều ngày. ở Mỹ Tho, các cơ sở Đoàn ở vùng ven thành phố đều được củng cố, có từ 10 đến 30 đoàn viên. Các cơ sở không lộ đều được phân công đánh chiếm các vị trí địch. Được lệnh tổng công kích, các đơn vị mũi nhọn của thành phố chia làm 3 hướng vừa dẫn đường cho bộ đội chủ lực tiến đánh vào thành phố vừa diệt địch trong các đồn bốt vùng ven. Địch phản kích quyết liệt. Chúng cho lữ đoàn 7 ngụy và 2 chi đoàn thiết xa vận đánh vào lực lượng của ta trong thành phố. Đoàn viên và thanh niên trên các đường phố phối hợp cùng các chiến sĩ trẻ trong các đơn vị quân giải phóng bám trụ trong từng góc tường, hẻm phố… đánh diệt từng cánh quân địch, gây cho chúng những tổn thất nặng nề, 1 tiểu đoàn Mỹ, 1 tiểu đoàn ngụy bị diệt gọn, 20 xe M113 bị bắn cháy.

Phối hợp với các cánh quân đánh chiếm các căn cứ địch trong thành phố, đoàn viên và thanh niên trong các đơn vị du kích của các địa phương vận động nhân dân nổi dậy phá thế kìm kẹp của địch, đẩy mạnh hoạt động đánh phá giao thông, ngăn chặn địch ứng cứu cho nhau. Lộ 4 (ngày nay là quốc lộ 1, còn có tên gọi lộ Đông Dương) bị bắn phá nhiều lần. Từ ngày 1 đến ngày 16 tháng 2 năm 1968 giao thông trên lộ 4 bị cắt đứt nhiều đoạn, từ huyện Cái Bè đến Châu Thành (Tiền Giang ngày này).

Trong chiến đấu, nhiều đoàn viên và thanh niên đã lập công xuất sắc. Tại Đà Nẵng, Phạm Chu với khẩu B40 tiến vào Nam Ô diệt 1 cụm 5 tên Mỹ, truy lùng diệt nhiều tên ác ôn ngoan cố. Tại Quảng Ngãi, 8 dũng sĩ trẻ đơn vị trinh sát tỉnh đội đánh vào sân bay diệt 200 tên. Nguyễn Thị Phúc, Chính trị viên đại đội đặc công Phù Mỹ (Bình Định) tính đến Tết Mậu Thân đã đánh 52 trận, dũng cảm mưu trí diệt gần 100 tên giặc, được tuyên dương Anh hùng lực lượng vũ trang. A Sâu, một thanh niên người dân tộc cùng đơn vị đánh vào thị xã Kon-Tum, bị đánh bao vây. Từ trên nóc chợ, A Sâu vừa di chuyển vừa đánh địch, diệt nhiều tên. Chọn thời cơ anh nhảy xuống vào giữa đội hình địch, chúng chưa kịp phản ứng, anh ném 2 trái lựu đạn làm chúng hoảng loạn rồi nhanh trí vượt khỏi vòng vây. Nguyễn Văn Vân cán bộ Đoàn ở Thủ Dầu Một, vận động 3 đợt được hơn 300 thanh niên đi dân công tải thương, cùng anh em đào hầm bí mật nuôi giấu thương binh nặng, bảo vệ và chuyển an toàn thương binh về hậu cứ. Nguyễn Du, 19 tuổi, quê Thái Bình trong đơn vị bổ sung cho Khánh Hoà, Tết Mậu Thân cùng đơn vị tiến vào Nha Trang, tới ven thành phố đụng địch, khi chúng rút chạy, Du lạc đơn vị, được nhân dân nuôi giấu, anh vẫn không chịu rời bỏ súng, sẵn sàng chiến đấu khi gặp địch. Cũng  tại Nha Trang một phân đội của trung đoàn 52 đánh chiếm chợ Đầm, tuy chỉ có một tổ chốt lại nhưng địch phản kích quyết liệt 5 ngày đêm liền vẫn không chiếm lại được chợ. Các chiến sĩ lần lượt hi sinh, chỉ còn 1 người vẫn chiến đấu hết đạn. Trước khi bị giặc bắt anh đã phá hủy súng không để vũ khí rơi vào tay giặc.

Nhiều em thiếu nhi nhỏ tuổi nhưng chí không nhỏ, đã sát cánh chiến đấu bên cạnh các anh chị lớn tuổi và lập được nhiều chiến công. Nguyễn Văn Hoà làm nhiệm vụ dẫn đường cho bộ đội, đã mượn súng của các chiến sĩ đánh trận đầu diệt 8 tên Mỹ, lấy súng đạn của chúng trang bị cho mình. Lê Thị Minh, 13 tuổi, 5 lần vào căn cứ Nước Mặn trinh sát để bộ đội pháo kích, liên tiếp bị địch bắt tra tấn dã man nhưng nhất định không khai, mưu trí trốn thoát trở về đơn vị.

Địch tập trung lực lượng phản kích quyết liệt. Chúng điều đến Huế những đơn vị khét tiếng tàn bạo, sử dụng cả máy bay ném bom có tính hủy diệt… Nhưng Huế vẫn kiên cường đứng vững trong 26 ngày đêm. ở Sài Gòn các đợt hoạt động hè thu tiếp tục gây cho địch những đòn choáng váng. Nhiều vị trí quan trọng của chúng trong nội đô bị tiến công. Rạng sáng 5-5-1968 trận tiến công đánh chiếm toà hành chính quận 5 của ngụy bắt đầu bằng một trận đánh ác liệt tại góc đường Hồng Bàng - Phước Hưng (nay là đường An Dương Vương - Phước Hưng). 13 chiến sĩ thuộc đội vũ trang Ban Hoa vận của thành phố đã chiến đấu một mất một còn với lực lượng địch đông gấp bội. Phần lớn họ là những thanh niên con em hoặc người thân của một gia đình người Hoa có bà mẹ tên là Lục Tài Chi. Người nhiều tuổi nhất là Tăng Bôi, con rể tương lai của gia đình, chỉ huy đơn vị, 31 tuổi. Người trẻ nhất là Lưu Hương, chỉ mới 15 tuổi, là con dâu tương lai của gia đình. Còn Hồ Đạt Thành, Hồ ái Quần con bà Lục Tài Chi đều đang tuổi thanh niên. Mặc dầu được chuẩn bị chu đáo, vũ khí được ém sẵn gần mục tiêu, nhưng do địch tập trung lực lượng lớn, các chiến sĩ trong đội vũ trang đã phải giành giật với địch từng mét đường. 13 chiến sĩ chỉ còn lại 9 người có khả năng chiến đấu, 4 người bị thương nặng. Đạn hết. Các chiến sĩ sẵn sàng giương lê đánh giáp là cà với địch.

Trong cuộc tiến công chiến lược mùa Xuân Mậu Thân, 1968 phải kể đến tinh thần bền bỉ và kiên cường của các chiến sĩ trên mặt trận Làng Vây - Khe Sanh. Được mở ra nhằm thu hút và giam chân phần lớn lực lượng địch ở hướng Bắc Quảng Trị, tạo điều kiện cho quân và dân toàn miền Nam tổng công kích, tổng khởi nghĩa. Chiến dịch đường số 9 - Khe Sanh đã nổ súng tiến công trong đêm 20 rạng ngày 21 tháng 1 năm 1968. Ngay trận đấu mở màn chiến dịch các chiến sĩ trẻ tiểu đoàn 7 trung đoàn 66/304 phối hợp chặt chẽ với pháo binh chiến dịch đã làm chủ quận lỵ Hương Hoá. Tiếp đó trung đoàn 24/304 bằng một trận chiến đấu hiệp đồng binh chủng đã tiêu diệt cứ điểm Làng Vây bằng 3 hướng đột phá, mở rộng bàn đạp vây hãm Tà Sơn và đánh quân địch phản kích tăng viện.

Thực hiện ý đồ chiến dịch, việc vây lấn Tà Cơn dài ngày (từ 10-2 đến 31-3 và từ 8-5 đến 15-7-1968) là một thử thách đối với mỗi chiến sĩ trẻ trong các đơn vị tham chiến. Các chiến sĩ trẻ nêu khẩu hiệu: “Phải gây ác liệt đối với quân Mỹ”, “Phải biến Tà Cơn thành địa ngục trần gian, thành lò lửa thiêu quân Mỹ trên đường số 9”. Trận địa vây lấn của các chiến sĩ ta ngày càng siết chặt. Buộc bọn chỉ huy Mỹ, dù đang bị căng ra trên khắp các chiến trường đối phó với những đợt tiến công của quân và dân trên toàn miền cũng phải tổ chức lực lượng hành quân giải toả và thay quân vào những ngày tháng tư và đầu tháng 5, để cuối cùng không chịu nổi sức ép trên chiến trường, quân Mỹ phải rút chạy vào giữa tháng 7, sau 5 tháng bị vây hãm.

Những chiến sĩ trẻ trên mặt trận đường số 9 - Khe Sanh lần đầu tiên đánh hiệp đồng binh chủng lớn, đã tỏ rõ là những thanh niên tài trí thông minh, chiến đấu ngoan cường dũng cảm. Tiêu biểu như Bùi Ngọc Dương, một thanh niên Hà Nội, sinh viên Trường Đại học Bách Khoa, vào bộ đội theo tiếng gọi “Ba sẵn sàng”, anh được điều về một đơn vị công binh, từng chiến đấu ở chiến trường nước bạn Lào. Cuối năm 1967, đơn vị anh được lệnh trở về miền Nam chiến đấu. Nhận nhiệm vụ mở đường cho xe tăng ta tiến đánh cứ điểm làng Vây. Khi xe tăng ta vào tới trung tâm căn cứ địch thì bộ binh vẫn bị kìm chân ở ngoài hàng rào, Bùi Ngọc Dương đã xin cho đơn vị ở lại chiến đấu phối hợp với bộ đội xe tăng. Bị thương gãy cánh tay phải, anh đề nghị đồng chí tiểu đoàn trưởng chặt đứt hộ và tiếp tục kẹp AK vào nách, tựa người vào thành xe tăng bắn thẳng vào đội hình địch. Lần thứ tư bị thương nặng ở chân, không đứng dậy được, anh vẫn kiên gan chịu đựng, tiếp tục chỉ huy đơn vị. Nói về tấm gương kiên cường của anh, xã luận báo Nhân Dân, cơ quan của Đảng ngày 30-3-1968 đã viết: “ở anh và trong tư thế xung phong của anh là khí phách của Lý Tự Trọng, gương sáng của La Văn Cầu, tinh thần của Phan Đình Giót, dũng khí của Nguyễn Văn Trỗi, ý chí của Nguyễn Viết Xuân, là sức bật của những dũng sĩ đường số 9: Trần Minh Nghĩa, Bùi Ngọc Đủ…”.

***

Đứng trước tình hình phát triển của sự nghiệp cách mạng, để tăng cường công tác vận động thanh niên, ngày 25 tháng 9 năm 1968 Ban Bí thư Trung ương Đảng đã ra nghị quyết số 181-NQ/TW về công tác thanh niên.

Đánh giá về tình hình thanh niên, nghị quyết của Ban Bí thư Trung ương Đảng viết: “Được Đảng ta tổ chức và lãnh đạo, được Đoàn thanh niên giáo dục, được kế thừa truyền thống vẻ vang của dân tộc ta, của giai cấp công nhân ta và được rèn luyện trong đấu tranh cách mạng, thanh niên ta đã xứng đáng là đội quân xung kích của cánh mạng và là lực lượng hậu bị của Đảng”. Và: “Được đào tạo và rèn luyện trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước và xây dựng chủ nghĩa xã hội, một thế hệ thanh niên mới đang hình thành với những phẩm chất cách mạng tốt đẹp”.

Đánh giá về công tác Đoàn, nghị quyết khẳng định: “Dưới sự lãnh đạo của các cấp uỷ Đảng, mấy năm qua Đoàn Thanh niên Lao động đã có nhiều tiến bộ trên các mặt công tác”. Nghị quyết cũng nhận định” nhiều cấp ủy Đảng đã quan tâm lãnh đạo công tác thanh vận và Đoàn Thanh niên Lao động hơn trước. Nhiều cấp ủy Đảng đã nhận thức rõ hơn về khả năng, vai trò của thanh niên và đã tăng cường lãnh đạo việc giáo dục, đào tạo thanh niên, đưa thanh niên vào hành động thực hiện các nhiệm vụ cách mạng, xây dựng tổ chức Đoàn…”

Bản nghị quyết đã chỉ ra những thiếu sót của phong trào thanh niên và công tác Đoàn, đồng thời nêu lên nhiệm vụ công tác thanh niên của Đảng và công tác Đoàn Thanh niên Lao động trong tình hình mới: “Ra sức đào tạo bồi dưỡng thế hệ thanh niên mới phát triển toàn diện để giữ vững vai trò là lực lượng xung kích cách mạng đi đầu trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước và xây dựng chủ nghĩa xã hội, đồng thời trở thành lớp người kế tục một cách trung thành và xuất sắc sự nghiệp cách mạng vẻ vang của Đảng, xây dựng và củng cố Đoàn thanh niên vững mạnh, thực sự là tổ chức thanh niên cộng sản, xứng đáng là cánh tay và đội hậu bị của Đảng”.

Về những nhiệm vụ cụ thể, bản nghị quyết đã nhấn mạnh phải: “Tăng cường giáo dục chủ nghĩa cộng sản cho thanh niên, nhằm rèn luyện, bồi dưỡng và đào tạo thế hệ thanh niên mới”, đồng thời “phát huy mạnh mẽ vai trò xung kích của thanh niên đi đầu thực hiện mọi nhiệm vụ cách mạng của Đảng và Nhà nước”. “Hết sức quan tâm đến quyền lợi của thanh niên, phát huy vai trò làm chủ tập thể của thanh niên”, “ra sức củng cố, xây dựng Đoàn thanh niên vững mạnh và phát huy vai trò của thanh niên trong việc xây dựng Đảng” cũng như phải “Tăng cường công tác giáo dục thiếu niên, nhi đồng” và “công tác Trần Quốc Toản”.

Nghị quyết 181 của Ban Bí thư Trung ương Đảng là một bước cụ thể hoá công tác vận động thanh niên của Đảng trong tình hình mới. Các cơ quan Đoàn đã tiến hành tổ chức cho đoàn viên học tập thấm nhuần nghị quyết của Đảng, biến thành hành động cách mạng trong lao động, chiến đấu, học tập, rèn luyện và xây dựng cuộc sống mới. Các cấp bộ Đảng quán triệt nghị quyết của Ban Bí thư đã cụ thể hoá công tác vận động thanh niên bằng những chủ trương, biện pháp cụ thể, tạo điều kiện cho thanh niên phấn đấu trưởng thành. Nhiều cấp ủy Đảng đã định kỳ nghe Đoàn thanh niên báo cáo và cho ý kiến cụ thể về hoạt động của Đoàn và phong trào thanh niên, tổ chức để đoàn viên và thanh niên được tham gia đóng góp ý kiến xây dựng Đảng.

Công tác phát triển Đảng trong thanh niên được các cấp ủy Đảng quan tâm và có nhiều biện pháp tích cực. Tỉ lệ đoàn viên ưu tú được kết nạp vào Đảng không ngừng được tăng lên, thường chiếm từ 70-75% số người được kết nạp vào Đảng hàng năm.

Phấn khởi và tự hào, đoàn viên và thanh niên ở cả hai miền Nam - Bắc không ngừng phấn đấu vươn lên, phát huy vai trò xung kích cách mạng, kiên cường đứng vững trên mọi trận tuyến, kể cả khi Mỹ dồn sức bình định cấp tốc, hy vọng giành lại thế chủ động trên chiến trường. Cả một thế hệ thông minh, tài trí, mang trong mình truyền thống của 4000 năm dựng nước, giữ nước đã kết thành một khối kiên quyết “Đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào” theo lời Bác Hồ dạy, góp phần tạo ra sự thay đổi so sách lực lượng, buộc địch phải đổi hướng chiến lược và xuống thang. Ngày 1-11-1968 Mỹ tuyên bố ngừng ném bom miền Bắc không điều kiện và bắt đầu rút quân Mỹ về nước, thực hiện Việt Nam hoá chiến tranh.

 

CHƯƠNG XI
TUỔI TRẺ VIỆT NAM NGUYỆN SỐNG, CHIẾN ĐẤU, LAO ĐỘNG HỌC TẬP THEO GƯƠNG BÁC HỒ VĨ ĐẠI, CỐNG HIẾN XUẤT SẮC ĐƯA SỰ NGHIỆP GIẢI PHÓNG MIỀN NAM ĐẾN TOÀN THẮNG

---

Ngày 2-9-1969 giữa lúc cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta đang bước vào giai đoạn quyết định, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân và thế hệ trẻ nước ta, chịu một tổn thất lớn lao: Chủ tịch Hồ Chí Minh, lãnh tụ vĩ đại của nhân dân Việt Nam, nhà hoạt động lỗi lạc của phong trào cộng sản quốc tế, người sáng lập Đảng, Nhà nước, quân đội và Đoàn ta, người thầy, người Bác vô cùng kính yêu đã đào tạo, bồi dưỡng các thế hệ thanh niên Việt Nam thành những chiến sĩ cách mạng kiên cường, không còn nữa!

Toàn thể cán bộ, đoàn viên, thanh niên và đội viên thiếu niên, nhi đồng nước ta vĩnh biệt Người với nỗi xót thương vô hạn.

Trải qua gần nửa thế kỷ đấu tranh oanh liệt, Đoàn ta và tuổi trẻ Việt Nam, luôn được sự quan tâm chăm sóc và sự lãnh đạo trực tiếp của Đảng và của Bác Hồ kính yêu.

Đánh giá đúng đắn khả năng cách mạng to lớn của thanh niên, Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm tổ chức, bồi dưỡng đoàn viên, thanh niên thành đội quân xung kích của cách mạng, lực lượng hậu bị của giai cấp và dân tộc. Từ “Bức thư tâm huyết” gửi thanh niên Việt Nam hồi đầu thế kỷ đến lời di chúc cuối cùng, Bác Hồ luôn dành cho thế hệ trẻ Việt Nam tình cảm thương yêu trìu mến và sự ân cần chăm sóc lớn lao.

Được Đảng và Bác Hồ giáo dục và rèn luyện, các thế hệ thanh niên nước ta đã trưởng thành nhanh chóng và có những cống hiến xứng đáng. Bác Hồ và Đảng đã coi sự trưởng thành của lớp thanh niên nước ta là một trong những thành quả vĩ đại của cách mạng, có quan hệ trực tiếp đến sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay và mai sau, làm cho Người khi còn sống “rất tự hào, sung sướng và thấy mình như trẻ lại”. Vĩnh biệt chúng ta, Bác Hồ kính yêu đã để lại cho thanh niên, thiếu niên và nhi đồng nước ta “muôn vàn tình thương yêu”. Người đánh giá: “Đoàn viên và thanh niên ta nói chung là tốt, mọi việc đều hăng hái xung phong, không ngại khó khăn, có chí tiến thủ”, và căn dặn: “Đảng cần phải chăm lo giáo dục đạo đức cách mạng cho họ, đào tạo họ thành những người thừa kế xây dựng chủ nghĩa xã hội vừa “hồng” vừa “chuyên”.

Người khẳng định: “Bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau là một việc rất quan trọng và rất cần thiết” (Di chúc).

Thực hiện Di chúc thiêng liêng của Bác, đáp ứng nguyện vọng của thế hệ trẻ và theo đề nghị của Đoàn TNLĐ Việt Nam, nhân dịp kỷ niệm lần thứ 40 ngày thành lập Đảng (3.2.1930 - 3.2.1970), Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã ra nghị quyết cho Đoàn thanh niên và Đội thiếu niên, Đội nhi đồng được mang tên Bác:

- Đoàn Thanh niên Lao động Việt Nam nay là Đoàn Thanh niên Lao động Hồ Chí Minh.

- Đội Thiếu niên Tiền phong Việt Nam nay là Đội Thiếu niên Tiền Phong Hồ Chí Minh.

- Đội Nhi đồng Việt Nam nay là Đội Nhi đồng Hồ Chí Minh.

Từ ngày 30 tháng 6 năm 1970, Tổ chức Đoàn thành niên nhân dân cách mạng và Tổ chức Đội thiếu niên, nhi đồng miền Nam cũng được chính thức mang tên Bác.

Tổ chức Đoàn và tổ chức Đội được mang tên Bác là vinh dự lớn lao đồng thời là trách nhiệm nặng nề trước Tổ quốc và nhân dân. Đoàn ta được mang tên Bác Hồ càng làm nổi rõ mục đích và tính chất của Đoàn là đội tiền phong chiến đấu của thanh niên, đi đầu phấn đấu cho lý tưởng cách mạng cao cả là độc lập, tự do, thống nhất, chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản và rèn luyện nên những lớp chiến sĩ cộng sản trẻ tuổi kiên cường theo mẫu mực của Bác Hồ vĩ đại. Đó là sự đánh giá cao của Tổ quốc, của nhân dân, của thời đại đối với những cống hiến và con đường tu dưỡng, rèn luyện của thế hệ trẻ trong thời đại Hồ Chí Minh.

Hội nghị lần thứ 13, Ban Chấp hành Trung ương Đoàn, với niềm xúc động sâu sắc đã thiết tha kêu gọi toàn thể cán bộ, đoàn viên và thanh niên “Hãy ra sức thi đua sẵn sàng chiến đấu, đẩy mạnh sản xuất, công tác và học tập. Chúng ta quyết học tập và làm theo 5 điều Bác dạy, rèn luyện lập trường tư tưởng, trau dồi đạo đức phẩm chất cách mạng, nâng cao trình độ về mọi mặt, phấn đấu trở thành lớp người thừa kế xây dựng chủ nghĩa xã hội vừa “hồng” vừa “chuyên” như Bác đã dạy”.

Hội nghị cũng kêu gọi các em thiếu niên, nhi đồng “Hãy học tập và làm theo 5 điều Bác dạy, thi đua làm nghìn việc tốt, ra sức xây dựng Đội vững mạnh, phấn đấu trở thành “Cháu ngoan Bác Hồ”.

“Sống, chiến đấu, lao động và học tập theo gương Bác Hồ vĩ đại” trở thành nguyện vọng tha thiết và quyết tâm phấn đấu của thế hệ trẻ nước ta. Đây là sự biểu hiện cụ thể lòng thương nhớ và biết ơn của thế hệ trẻ đối với Chủ tịch Hồ Chí Minh, quyết mãi mãi làm theo lời dạy của Người và đi theo con đường mà Người đã vạch ra.

“Sống, chiến đấu, lao động và học tập theo gương Bác Hồ vĩ đại” trở thành khẩu hiệu hành động cụ thể, thân thiết và gần gũi nhất đối với mỗi đoàn viên và thanh niên.

Nhận rõ vinh dự và trách nhiệm, Đoàn ta đã tổ chức đợt sinh hoạt chính trị tập trung sâu rộng về Bác Hồ trong đoàn viên và thanh niên cả nước. Ban Chấp hành Trung ương Đoàn vạch rõ rằng học tập và làm theo di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh và 5 điều Bác dạy thanh niên, 5 điều Bác dạy thiếu niên, nhi đồng là đợt sinh hoạt chính trị mở đầu nhằm “làm cho đoàn viên, thanh niên, thiếu niên và nhi đồng thấm nhuần công lao, sự nghiệp, đạo đức của Bác. Từ đó nâng cao lòng tự hào, tin tưởng, đoàn kết quyết tâm phấn đấu, không sợ khó khăn gian khổ, hoàn thành mọi nhiệm vụ công tác để ngày càng xứng đáng với Bác hơn nữa”.

Kỷ niệm lần thứ 39 ngày truyền thống vẻ vang của Đoàn (26.3.1931 - 26.3.1970), Ban Chấp hành Trung ương Đoàn đã tổ chức trọng thể lễ đón nhận nghị quyết của Ban Chấp Trung ương Đảng cho phép tổ chức Đoàn và tổ chức Đội được mang tên Bác Hồ vĩ đại. ý thức rõ trách nhiệm của thế hệ thanh niên trong thời đại Hồ Chí Minh, đoàn viên và thanh niên cả nước hứa:

- Mãi mãi nêu cao chí khí cách mạng “Trung với nước, hiếu với dân, nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng”, quyết chiến đấu đến cùng vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản.

- Không ngừng học tập và rèn luyện đạo đức cách mạng để xứng đáng là thế hệ thanh niên Hồ Chí Minh vinh quang.

- Ra sức xây dựng và củng cố Đoàn, tích cực tham gia xây dựng Đảng, làm cho Đoàn thanh niên xứng đáng là đội tiền phong chiến đấu và trường học cộng sản chủ nghĩa của thế hệ trẻ nước ta, và là cánh tay đắc lực và đội hậu bị tin cậy của Đảng.

Giáo dục, rèn luyện thế hệ thanh niên đáp ứng đòi hỏi của nhiệm vụ cách mạng đang đặt ra luôn là nhiệm vụ trước hết của tổ chức Đoàn. Nghị quyết hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đoàn lần thứ 8 (khóa III) chỉ rõ nhiệm vụ công tác giáo dục của Đoàn là: “Nhằm đào tạo thanh niên thành lớp người phát triển toàn diện, có đầy đủ khả năng kế tục sự nghiệp cách mạng, lớp người có khí phách cách mạng và đạo đức cộng sản, trung thành vô hạn với Tổ quốc và lý tưởng cộng sản, căm thù sâu sắc bọn đế quốc và bọn bóc lột, đồng thời nắm vững kiến thức văn hoá, khoa học kỹ thuật tiên tiến và có sức khoẻ”.

Lấy việc nâng cao giác ngộ chính trị, tư tưởng cho đoàn viên thanh niên là cơ bản, tổ chức Đoàn đã thường xuyên tổ chức cho thanh niên học tập, tìm hiểu đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước, đồng thời đưa thanh niên vào thực tiễn đấu tranh cách mạng. Thông qua hoạt động sản xuất, chiến đấu, qua việc thực hiện các chính sách cụ thể, qua các cuộc vận động lớn của Đảng và Nhà nước như “3 xây, 3 chống”; “cải tiến quản lý”, “xây dựng kinh tế văn hoá miền núi”,v.v… làm cho nhận thức của cán bộ, đoàn viên và thanh niên ngày một nâng cao, là một biện pháp thường xuyên mang lại hiệu quả thiết thực, phù hợp với mọi đối tượng, mọi lứa tuổi. Mặt khác, Đoàn quan tâm giáo dục tinh thần lao động mới, ý thức làm chủ tập thể và nghiêm khắc phê phán những biểu hiện chủ nghĩa cá nhân, chủ nghĩa tự do, những ảnh hưởng của tư tưởng tư sản… Việc giáo dục về Đảng, về Đoàn, giáo dục về truyền thống cách mạng, về văn hoá, khoa học kỹ thuật, thể dục thể thao nếp sống mới xã hội chủ nghĩa… được các cấp bộ Đoàn ngày càng quan tâm và có nhiều hình thức phong phú. Từ cuối những năm sáu mươi, công tác giáo dục của Đoàn càng đi vào nề nếp, 5 bài học giáo dục cơ bản được các cơ sở Đoàn tổ chức định kỳ hàng năm cho tất cả đoàn viên thanh niên cùng tham gia nghiên cứu, học tập.

Việc hình thành một hệ thống các hình thức, phương pháp giáo dục thích hợp với đặc điểm lứa tuổi, từng đối tượng thanh niên, từ giáo dục tập trung theo 5 bài giáo dục cơ bản, tổ chức những đợt sinh hoạt chính trị theo từng chuyên đề, khi có những nghị quyết của Đảng, nhất là những nghị quyết, chỉ thị về công tác thanh niên; những bài nói, những lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh, thư của Bác gửi cho thanh niên… đến giáo dục cá biệt, giáo dục qua hoạt động văn hoá, văn nghệ, thể dục thể thao,v.v... là một bước tiến trong công tác giáo dục của Đoàn.

Đợt sinh hoạt chính trị về việc tổ chức Đoàn và tổ chức Đội được mang tên Bác và học tập Di chúc của Bác đã đem đến cho đoàn viên và thanh niên những nhận thức sâu sắc về Bác Hồ, về Đảng. Lúc còn sống, Hồ Chí Minh là Cha, là Bác, là Thầy dạy thanh niên, chỉ cho thanh niên con đường tiến tới, vạch cho thanh niên phương hướng hành động. Vĩnh biệt toàn Đảng, toàn dân và thanh niên nước ta Người để lại tấm gương vĩ đại nhất, trong sáng nhất, đẹp đẽ nhất về tư tưởng, đạo đức, tác phong và ý chí cách mạng, cổ vũ thanh niên kiên quyết tiến lên hàng đầu, làm người chiến sĩ cách mạng kiên cường, mang lá cờ trăm thắng của Đảng, của Bác tới đích thắng lợi cuối cùng.

Nhận thức được nâng cao, đoàn viên và thanh niên càng mong muốn được cống hiến nhiều nhất cho Tổ quốc và chủ nghĩa xã hội. Trên 3 triệu đoàn viên và thanh niên đã đăng ký chương trình hành động cách mạng và kế hoạch tu dưỡng, rèn luyện theo tấm gương vĩ đại của Bác Hồ. Hàng vạn thanh niên, nhận rõ sứ mệnh lịch sử của thế hệ mình và thấm nhuần Di chúc thiêng liêng của Bác Hồ đã phấn đấu đứng vào hàng ngũ chiến đấu của Đoàn.

Hiệu quả trong hoạt động giáo dục của Đoàn đã được chứng minh bằng những phong trào cách mạng rộng lớn, mà đỉnh cao là hàng triệu đoàn viên và thanh niên đã sôi nổi khí thế “Ba sẵn sàng” và “Năm xung phong” lập nên những chiến công sáng ngời chủ nghĩa anh hùng cách mạng Việt Nam. Càng trong thử thách ác liệt, phẩm chất của những người đoàn viên thanh niên có giác ngộ càng được bộc lộ rõ. Thanh niên đảo Hòn Mắt, một hòn đảo chưa đầy 2 kilômét vuông, nhưng là một túi bom của Mỹ. Đi qua về lại chúng đều trút bom và bắn rốc két xuống đảo. Phạm Quốc Bùi mới ra đảo, lần đầu giáp trận, tỏ ra ngán ngại, cho rằng chiến đấu ở đảo dễ bị hy sinh và không ai biết đến. Lập tức Đoàn đứng ra tổ chức diễn đàn về lẽ sống và cái chết của người đoàn viên thanh niên trước vận mệnh của Tổ quốc. Nhiều đoàn viên và thanh niên cho rằng chiến đấu không phải vì danh hiệu mà vì một lý tưởng cao đẹp, dù có phải hi sinh cũng phải biết hi sinh thế nào cho xứng đáng. Bản thân Phạm Quốc Bùi cũng nhận ra chân lý và trở thành một pháo thủ xuất sắc. Có trận địch tập trung đánh vào trận địa ác liệt, anh bị hất ngã, đã vùng dậy, động viên anh em giữ vững trận địa.

Tuổi trẻ đồn công an Nà Ngòi, trong điều kiện hoạt động ở một vùng đồng bào dân tộc thiểu số, còn nhiều phong tục tập quán lạc hậu, nhờ làm tốt công tác giáo dục chính trị tư tưởng, tất cả đoàn viên và thanh niên của đồn đều thấy rõ nguồn gốc sâu xa những lạc hậu mà đồng bào dân tộc phải gánh chịu, đã kiên trì bám sát dân, vận động từng người bỏ tệ nghiện ngập, bỏ cả việc cúng ma, từ đó tiến lên vận động nhân dân phối hợp tiêu diệt bọn phỉ hoạt động lén lút trong rừng, bảo vệ cuộc sống bình yên cho dân bản.

Cùng với công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, việc xây dựng Đoàn vững mạnh về mặt tổ chức là một yêu cầu khách quan không ngừng nâng cao sức mạnh chính trị của  tổ chức Đoàn, đáp ứng đòi hỏi của nhiệm vụ cách mạng trong giai đoạn đầy thử thách quyết liệt. Tổ chức Đoàn thật sự trở thành hạt nhân đoàn kết, tập hợp xung quanh mình mọi tầng lớp thanh niên yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội trong nhiều hình thức thích hợp, trong đó đáng chú ý là tổ chức đội TNXP chống Mỹ, cứu nước cơ sở.

Chiến tranh đã làm đảo lộn sinh hoạt của các cơ sở Đoàn và gây thêm khó khăn trong mọi hoạt động của thanh niên. Không ít cán bộ Đoàn có năng lực, có kinh nghiệm và nhiệt tình đã được bổ sung vào các lực lượng vũ trang hoặc đi thanh niên xung phong. Việc động viên một lực lượng lớn thanh niên ra mặt trận đã ảnh hưởng đáng kể đến chất lượng công tác Đoàn và phong trào thanh niên ở các vùng nông thôn. Tỷ lệ đoàn viên ở cơ sở bị giảm sút. Phần lớn cán bộ nam đi chiến đấu, do đó số bí thư Đoàn xã là nữ có thời kỳ chiếm tới 63%.

Tập hợp hết thảy đoàn viên và thanh niên vào tổ chức, cùng hướng tới hành động vì cuộc chiến đấu chống Mỹ, cứu nước là một đòi hỏi cấp bách. Cùng với việc kéo dài tuổi đoàn viên tới 30 và hạ thấp tuổi kết nạp vào Đoàn những thanh niên 15, BCH Trung ương Đoàn còn chủ trương thành lập đội TNXP chống Mỹ, cứu nước cơ sở bên cạnh đội TNXP chống Mỹ, cứu nước tập trung, thu hút hầu hết đoàn viên và thanh niên đóng góp phần công sức của mình vào sự nghiệp cách mạng của Đảng, của dân tộc.

Với đội TNXP chống Mỹ, cứu nước cơ sở, nhiều cơ sở Đoàn đã có những thay đổi phương thức hoạt động phù hợp, góp phần động viên tuổi trẻ phấn đấu tăng năng suất lao động, tích cực bảo vệ sản xuất, sẵn sàng chiến đấu. Nhiều người do những hoàn cảnh khác nhau đã bỏ sinh hoạt Đoàn, khi có đội TNXP chống Mỹ, cứu nước đã trở lại sinh hoạt. Có người đã trưởng thành nhanh chóng. Phan Thị Lan ở chi đoàn Tứ Thôn (Thái Bình) khi có con, chồng đi chiến đấu xa, đã tự bỏ sinh hoạt Đoàn. Được Đoàn động viên và làm tốt công tác hậu phương, Lan trở lại sinh hoạt, lúc đầu chỉ là tham gia các hoạt động của đội TNXP chống Mỹ, cứu nước cơ sở, phấn đấu tốt, trở thành đảng viên, được giao làm đội phó, rồi đội trưởng sản xuất, tổ trưởng Đảng. Trường hợp Trịnh Thị Luật (Nam Định) lại khác. Là một thanh niên công giáo, vốn có nhiều mặc cảm, nhưng thực tế hoạt động của Đoàn đã cuốn hút Luật. Cô tham gia công tác xã hội, làm đội phó sản xuất, mạnh dạn áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật, được kết nạp vào Đảng Cộng sản Việt Nam, làm đội trưởng một đội sản xuất lớn toàn bà con theo đạo.

Đi đôi với việc tập hợp, đoàn kết mọi lực lượng thanh niên trong đội hình TNXP chống Mỹ, cứu nước cơ sở, các cơ sở Đoàn đã chú trọng xây dựng và củng cố tổ chức vững mạnh. Phong trào xây dựng Đoàn cơ sở và chi đoàn 4 tốt được mở rộng có tác dụng nâng cao chất lượng hoạt động của các tổ chức Đoàn ở cơ sở. ở Nam Hà (nay là Nam Định và Hà Nam), bước vào năm 1966 công tác tổ chức của Đoàn. Tỉ lệ đoàn viên chỉ chiếm 21% tổng số thanh niên. Số chi đoàn đạt tiêu chuẩn 4 tốt chỉ chiếm 6,2% và chỉ có 25% số Đoàn xã có đủ điều kiện phát thẻ đoàn viên.

Bằng nhiều hình thức và biện pháp thích hợp, các cấp bộ Đoàn Nam Hà luôn gắn chặt giữa phát triển và củng cố tổ chức, coi tổ chức có ý nghĩa quyết định đối với mọi mặt công tác Đoàn và phong trào thanh niên. Hầu hết các cơ sở Đoàn đều có qui hoạch phát triển đoàn viên. Chất lượng đoàn viên mới vì thế không ngừng được nâng lên. Phần lớn số này một thời gian sau khi được kết nạp, thông qua rèn luyện trong thực tế, đều được công nhận là đoàn viên 4 tốt, góp phần đưa tỉ lệ đoàn viên đạt tiêu chuẩn 4 tốt lên 47,5% (năm 1967), số chi đoàn đạt 4 tốt từ 81,42% năm 1966 lên 33,5% năm 1967.

Cuộc vận động xây dựng chi đoàn, phân đoàn 4 tốt, phấn đấu trở thành đoàn viên 4 tốt với những nội dung cụ thể và có biện pháp chỉ đạo thích hợp, được duy trì trong nhiều năm đã góp phần đáng kể củng cố và phát triển tổ chức Đoàn ở cơ sở. Nhiều chi đoàn đã đóng vai trò nòng cốt trong hoạt động sản xuất cũng như chiến đấu ở địa phương, đơn vị. Chi đoàn Nam Ngạn (Thanh Hoá) tính đến năm 1973 đã góp phần xây dựng nên tập thể dân quân anh hùng, 8 năm liền đạt danh hiệu “Đơn vị quyết thắng”, 11 đoàn viên được kết nạp Đảng, 1 đoàn viên được tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang, 7 đoàn viên được tặng thưởng Huân chương các loại, 42 lượt đoàn viên và thanh niên được tặng danh hiệu Chiến sĩ thi đua. Chi đoàn được Trung ương Đoàn tặng cờ mang chân dung Nguyễn Văn Trỗi. Đơn vị dân quân Nam Ngạn, trong đó đoàn viên và thanh niên đóng vai trò nòng cốt, được Nhà nước tặng danh hiệu đơn vị anh hùng.

Thông qua thực tiễn sản xuất và chiến đấu cũng như học tập và rèn luyện, công tác phát triển đoàn viên mới được các cơ sở Đoàn thường xuyên coi trọng. Sau khi Bác Hồ qua đời, đầu năm 1970, cùng với đợt sinh hoạt chính trị sâu rộng trong thanh niên cả nước, BCH Trung ương Đoàn quyết định phát triển lớp đoàn viên Hồ Chí Minh. Hàng vạn thanh niên ưu tú được rèn luyện và trưởng thành trong chiến đấu, lao động và học tập, công tác đã được đứng vào hàng ngũ của Đoàn.

ở các tỉnh, thành phố trên chiến trường miền Nam, trong hoàn cảnh vừa chiến đấu, vừa xây dựng và phát triển tổ chức, từ tháng 2-1967, Đoàn TNND cách mạng quyết định phát triển lớp đoàn viên Hồ Chí Minh trong 2 năm. Đến khi tổ chức Đoàn được mang tên Bác, BCH Trung ương Đoàn TNND cách mạng lại chủ trương đẩy mạnh công tác phát triển Đoàn lên một bước mới, không chỉ trên địa bàn các vùng giải phóng hoặc ở các cơ quan, mà đi sâu vào vùng yếu, nhất là ở các thị xã, thị trấn và ở các thành phố lớn, làm tăng đáng kể số lượng đoàn viên hoạt động tại chỗ, đặc biệt là ở nhiều ấp, xã… vốn là những sơ cở trắng trong nhiều năm. Đến cuối năm 1969, trên toàn miền Nam đã có 39.762 đoàn viên so với 36.260 đoàn viên năm 1968 (không kể số đoàn viên trong lực lượng vũ trang và thanh niên xung phong). Do đó số xã, ấp “trắng” thu hẹp dần. Các tỉnh, thành đều thành lập thêm nhiều chi đoàn, phân đoàn hợp pháp, làm cho tổng số chi đoàn của toàn miền lên đến 2.529 (còn thiếu cơ sở nội thành và không kể chi đoàn trong lực lượng vũ trang). Nhiều chi đoàn nhỏ, linh hoạt, hoạt động bí mật trong thành phố được thành lập. Khả năng của các đoàn viên “mật” được phát huy tác dụng không chỉ làm nòng cốt trong chiến đấu, còn góp phần đáng kể xây dựng và củng cố tổ chức Đoàn. Nhiều đoàn viên “mật” được điều đến các vùng yếu, giáp ranh, phát triển cơ sở mới, lấp vùng  “trắng”. Chỉ trong 6 tháng đầu năm 1971 ở tỉnh Bến Tre đã phát triển được 37 chi Đoàn “mật”, số ấp trắng từ 87 xuống còn 48. Cũng thời gian đó ở Mỹ Tho (ngày này thuộc tỉnh Tiền Giang) đã phát triển 349 đoàn viên “mật”,  lập thêm 27 chi đoàn “mật”, xóa được 87 ấp “trắng”.

Nhiều thanh niên trong vùng địch tạm chiếm từ lâu vốn thiết tha với cách mạng, với Đảng, với Đoàn, được Đoàn trực tiếp dìu dắt giáo dục và được đứng vào hàng ngũ chiến đấu của Đoàn, nay càng hăng say, tận tụy vì cách mạng. Không ít đoàn viên được kết nạp lớp đoàn viên Hồ Chí Minh đã phấn đấu trưởng thành nhanh chóng. Nhiều người được đứng vào hàng ngũ của Đảng. Trong số 400 đoàn viên ở cơ sở của tỉnh Lâm Đồng, số đoàn viên là đảng viên dự bị chiếm 68%. Nhiều người trở thành cán bộ chi đoàn, phân đoàn. Số đông trở thành những chiến sĩ kiên cường, tham gia tích cực các mặt công tác cách mạng, đạt danh hiệu dũng sĩ. Trong đó các đoàn viên lớp Hồ Chí Minh tại thành phố Sài Gòn đã góp phần cùng đơn vị biệt động của thành, mưu trí, táo bạo đánh sập toà báo chính luận của ngụy quyền tay sai dám xúc phạm đến lãnh tụ kính yêu của toàn dân tộc. Các chiến sĩ còn đánh sập cư xá Mỹ diệt hàng trăm tên sĩ quan cấp cao đang tụ tập bàn mưu kế gây tội ác, đánh tầng 3 cư xá quân cảnh của lính đánh thuê Thái Lan,v.v…

ở Mỹ Tho đội biệt động của Thành Đoàn dưới sự chỉ huy của Huỳnh Văn Long đã mưu trí đưa mìn vượt qua sông Bảo Định để đánh sập Nhà hàng Việt Hải, nơi bọn sĩ quan Mỹ và bọn ác ôn thường đến ăn nhậu, diệt 30 tên ( có 8 tên Mỹ). Trong chiến công có sự đóng góp tích cực của Trịnh Văn Vũ, một thiếu niên mới 13 tuổi. Lợi dụng lứa tuổi địch còn ít để ý, Vũ đã khôn khéo áp sát mục tiêu, điều tra, nghiên cứu kỹ trận địa, vận chuyển mìn, lựu đạn, súng ngắn. .. để các chiến sĩ biệt động đánh địch.

Đáng chú ý là trong đợt thi đua “Học tập và làm theo Di chúc Bác Hồ”, trên chiến trường Tây Nguyên, một du kích trẻ, mới 16 tuổi, chỉ với 3 viên đạn súng trường đã bắn rơi chiếc máy bay trực thăng chở tên tướng 3 sao Giôn Đinla, Tư lệnh công binh Mỹ tại chiến trường miền Nam Việt Nam và tên tướng 2 sao A Đam cùng đi. Đó là chiến sĩ du kích Puil Glỡ, người làng Maih, xã Ia Rung (Chưpăh - Gia Lai). Puih Glỡ sinh ra trong một gia đình có 5 anh em thì anh, chị và mẹ đã phải chết đói và bệnh tật. Cha bị địch bắt, bị chúng đánh đập thành tật. Ngày anh tham gia vào đội du kích, cha anh dặn: “Mày đi du kích đánh Mỹ, đánh ngụy phải đi đến cùng, không được bỏ về làng”. Năm 11 tuổi Glỡ vào ở với đội du kích địa phương, từng nhiều lần vào tận nơi bọn lính Mỹ trú quân, lân la làm quen với chúng, nắm tình hình mọi mặt bố phòng của địch, làm dấu vào từng ngón tay, số quân, số súng, hầm hào, hàng rào sắt đường đi, bãi mìn… báo lại cho đội du kích, chính xác đến từng chi tiết. Đơn vị bố trí lực lượng đã đánh là thắng. Ngày 12-5-1970, đang trên đường đi công tác, Glỡ bất ngờ bắn rơi chiếc máy bay trực thăng chở tên tướng 3 sao Giôn Đinla cùng đồng bọn khi chúng sà thấp quan sát vùng Tây Bắc thị xã Peiku. Tiếp đó khi 3 chiếc phóng pháo của địch từ hướng Pleiku bay tới sà xuống thấp tìm kiếm chiếc máy bay đã bị bắn rơi trước đó, Glỡ, cũng với 3 loạt đạn bắn vỗ mặt, đã làm một chiếc trực thăng của Giôn Đinla, bổ nhào xuống đất cách chiếc trực thăng chỉ vài trăm bước chân.

***

Chuyển hướng “Việt Nam hoá chiến tranh” lấy bình định nông thôn làm nòng cốt, địch huy động 70% quân chủ lực và hầu hết bảo an, dân vệ cùng hàng vạn cảnh sát dã chiến và trên 40 ngàn cán bộ bình định càn quét, đánh phá, chà đi xát lại các vùng đông dân với những biện pháp tàn bạo, thâm độc hơn hẳn bất cứ thời kỳ nào trước đây.

Năm 1969 chúng tập trung sức vào việc đẩy lùi các đơn vị chủ lực của ta ra khỏi các vùng đông dân, đồng thời ráo riết đánh phá cơ sở cách mạng, gom dân, đóng đồn bốt lấn chiếm, xây dựng bộ máy kìm kẹp, vơ vét người, của nhằm giành và tạo cho được thế kiểm soát nhân dân nông thôn để khôi phục, củng cố ngụy quân, ngụy quyền cơ sở, tăng cường hệ thống phòng thủ, bảo vệ an toàn cho các thành thị để đưa quân chủ lực ngụy cơ động ra phía trước thay thế dần cho quân Mỹ rút. Chúng triển khai chương trình “Phượng hoàng” để tiêu diệt cơ sở ta bằng mọi thủ đoạn thâm độc, ác hiểm ở cả thành thị lẫn nông thôn.

Với chiến lược “quét và giữ” ráo riết của Mỹ-Ngụy, các cơ sở của Đoàn cũng như các cơ sở cách mạng của Đảng đứng trước nhiều khó khăn. Phần lớn căn cứ của cơ quan Tỉnh Đoàn, Huyện Đoàn bị đẩy lùi ra xa. Một bộ phận không nhỏ thanh niên phải rời bỏ địa bàn đi nơi khác.

Bên cạnh những khó khăn chung, thanh niên ở các địa phương còn phải đối phó với kế hoạch bắt lính đôn quân tàn bạo của địch nhằm tăng cường quân ngụy thay dần cho quân Mỹ. Chúng coi đó là vấn đề cấp bách. Với bộ máy kìm kẹp gắt gao, chúng thúc ép, cưỡng bức thanh niên vào các tổ chức “phòng vệ dân sự”, “nhân dân tự vệ”. Thực hiện cái gọi là “tự phòng”, ngụy quyền cố sức xây dựng một lực lượng hậu bị hơn 1 triệu người. Chúng chia tổ chức phòng vệ dân sự ra làm 3 loại: Số lớn tuổi, từ 40 trở lên, nếu chịu nộp mỗi tháng từ 500 đến 700đ thì được miễn canh gác; lứa tuổi thanh, thiếu niên chúng bắt tập quân sự, trang bị một số súng và lựu đạn (thường là súng xấu và đạn ít) bắt canh gác ở những nơi công cộng vào ban đêm. Chúng lựa một số thanh niên có sức khoẻ tổ chức thành lực lượng phòng vệ xung kích phiên chế thành từng toán (gọi là nhân dân tự vệ chiến đấu và nhân dân tự vệ nòng cốt) trang bị súng tốt và có nhiều đạn. Chúng cho số liên toán trưởng, liên toán phó luân phiên đi học chính trị, quân sự và đưa bọn bảo an, dân vệ kìm kẹp, bắt thanh niên phòng vệ đi canh gác, phục kích, giữ đồn, rồi làm dân vệ, bảo an. Sau này Mỹ-Ngụy bắt buộc bộ máy kìm kẹp ở xã, ấp bắt lính mở các cuộc hành quân cảnh sát với lực lượng ít, kết hợp do thám chỉ điểm nơi thanh niên trốn để bắt êm. Đồng thời chúng lùng bắt táo bạo ở những nơi có đông thanh niên, bao vây cả chùa chiền, thánh thất để bắt thanh niên tu sĩ vào lính.

Ở các vùng tôn giáo chúng lợi dụng danh nghĩa “bảo vệ đạo” để thu hút thanh niên vào các tổ chức bán vũ trang và các sắc lính làm nhiệm vụ tại địa phương để từng bước đôn quân. Ở thành thị chúng đánh trượt học sinh qua các kỳ thi cử. Có nơi chúng đánh trượt tới 1/2, thậm chí 2/3 để bắt lính. Chúng còn lũng đoạn bọn tay sai ở các xí nghiệp sa thải công nhân, để chúng dễ bề đẩy vào lính.

Chưa bao giờ cuộc đấu tranh giành và giữ thanh niên lại trở nên quyết liệt như trong thời kỳ đế quốc Mỹ thực hiện chiến lược “Việt Nam hoá chiến tranh”. Theo thống kê của khu Đoàn miền Trung Nam Bộ, của tổ chức Đoàn Bắc Long An, của Tỉnh Đoàn Tây Ninh đã có 35.000 thanh niên đấu tranh chống bắt lính quyết liệt. Riêng các tỉnh thuộc T.2 (Mỹ Tho, Kiến Phong, Kiến Tường, Long An, Bến Tre) có 130.000 lượt thanh niên tham gia đấu tranh chống bắt lính bằng mọi hình thức. ở các địa phương khác đã có trên 30.000 lượt thanh niên chống bắt lính thắng lợi, đồng thời làm tan rã 35.000 phòng vệ dân sự.

Đứng trước tình hình kẻ địch ngày càng điên cuồng thực hiện kế hoạch đôn quân bắt lính, tháng 2-1970, Hội nghị Thường vụ Trung ương Đoàn TNND cách mạng lần thứ 4 đã ra nghị quyết về nhiệm vụ “giành giữ, bảo vệ thanh niên, chống địch đôn quân, bắt lính, phá vỡ phòng vệ dân sự…”

Khi bàn đạp đứng chân đã vững, các cơ sở Đoàn đã tổ chức các cuộc vận động giúp đỡ thanh niên trốn lính và lính trốn. Nhiều cán bộ Đoàn đã tranh thủ mọi hoàn cảnh để vận động thanh niên không đi lính làm bia đỡ đạn cho Mỹ-Ngụy.

Phong trào chống bắt lính lan rộng khắp nơi. Hình thức chống bắt lính ngày càng phong phú. Thanh niên theo đạo Cao Đài ở Bến Tre đã tuyệt thực đấu tranh chống bắt lính. ở Mỹ Tho, thanh niên trong các khu tập trung khi địch bắt lính đã đấu tranh buộc địch phải thả hầu hết số anh chị em bị bắt. Có lúc địch dụ dỗ hàng ngàn anh em thanh niên vào chùa thầy Khanh để úp bộ bắt anh em vào lính. Được cán bộ Đoàn động viên, hướng dẫn hàng trăm thanh niên đã tìm cách rời bỏ chùa, nhờ đó thoát được âm mưu bắt lính của địch. Hình thức chống bắt lính cao nhất của thanh niên là tập hợp lại thành tổ chức có vũ trang để cùng nhau canh gác và tự vệ. Có nhiều xã anh em đã tự tổ chức thành từng tiểu đội, trung đội chống bắt lính, vừa tham gia sản xuất, vừa bố trí chiến đấu, sống chết có nhau quyết không để cho địch bắt. Tháng 3-1972 ở tỉnh Kiến Phong đã xuất hiện một kiểu chống bắt lính bằng bạo lực của khoảng 200 thanh niên. Anh em tự tổ chức ra một khu trốn lính có bố phòng cẩn mật. Họ hùn tiền mua súng đạn để tự vệ. Địch cho quân đến càn anh em đã chiến đấu suốt cả một ngày, diệt gần 50 tên. Khi bọn trên quận biết tin cho thêm lính tăng viện, anh em lại tạo ngay thế hợp pháp đấu tranh trực diện với chúng.

Thanh niên trong các thành thị miền Nam, nhất là ở thành phố Sài Gòn đã kiên quyết đấu tranh chống chế độ quân sự hoá học đường của Mỹ-Ngụy. Cuộc đấu tranh kéo dài trong nhiều năm. Đến tháng 8-1970 các phòng quân sự ở các phân khoa Đại học Cần Thơ, Huế, Đà Lạt, Sài Gòn đã bị thanh niên học sinh các trường đốt sạch. Cuối tháng 8 năm đó, sinh viên Phạm Hạnh bị chết ở quân trường Quang Trung, sinh viên đã biến đám tang anh thành một cuộc biểu tình với khẩu hiệu: “Chương trình quân sự hoá học đường là âm mưu khát máu của đế quốc Mỹ” và “Mỹ cút, ngụy nhào, quân sự học đường dẹp”… 1.700 học sinh, sinh viên đã xô xát với một tiểu đoàn lính ngụy canh giữ quân trường để đưa tang anh.

Phong trào đòi “tự trị đại học”, chống “quân sự hoá học đường” của học sinh, sinh viên ngày càng phát triển. Nhiều cuộc biểu tình bằng xe máy, tán phát hàng vạn truyền đơn, liên tục nổ ra. Địch đàn áp, bắt nhiều sinh viên lãnh đạo phong trào như các anh Nguyễn Ngọc Phương, Trần Khiêm, Dương Văn Đầy, Nguyễn Tấn Tài… Ngày 11-3-1970 chúng bắt anh Huỳnh Tấn Mẫn, Chủ tịch Tổng Hội sinh viên Sài Gòn. Phong trào đấu tranh đòi thả sinh viên, học sinh bị bắt nổ ra rầm rộ. Một đoàn các giáo sư và dân biểu quốc hội của chế độ ngụy đã vào nhà tù thăm học sinh, sinh viên bị bắt, sau đó công bố rộng rãi trên báo chí bằng chứng cụ thể về bọn mật vụ, công an đã dùng nhục hình tra tấn 41 học sinh vừa bị bắt. Bãi khoá nổ ra ở các trường đại học, trung học. Số học sinh, sinh viên Sài Gòn tham gia lên tới 6 vạn người.

Thanh niên học sinh, sinh viên còn sáng tạo nhiều hình thức đấu tranh gây ấn tượng mạnh. Trong đó có phong trào “Hát cho đồng bào tôi nghe, nghe đồng bào tôi nói”, không chỉ ảnh hưởng trong các giới đồng bào ở Sài Gòn mà đã lan rộng ra nhiều thành phố và vùng nông thôn rộng lớn.

***

Cùng với các cuộc đấu tranh giành và giữ thanh niên, đoàn viên và thanh niên trong các lực lượng vũ tranh giải phóng đã góp phần cùng quân và dân kiên cường bám trụ, ngăn chặn đánh phá lấn chiếm, tiêu hao, tiêu diệt ngày càng nhiều sinh lực địch, từng bước làm phá sản chiến lược “quét và giữ” của chúng, tiến lên giành thế chủ động trên chiến trường.

Cuộc chiến đấu thời kỳ này không chỉ trong phạm vi chiến trường miền Nam Việt Nam. Từ ngày 30-4-1970 Mỹ-Ngụy mở cuộc hành quân “Bình Tây” đánh vào 6 tỉnh phía Đông-Bắc Campuchia, đồng thời sử dụng lực lượng phỉ ở Lào, có lính đánh thuê Thái Lan và hàng ngàn lần máy bay Mỹ yểm trợ, mở các cuộc hành quân lấn chiếm nhiều bản làng, thực hiện cái gọi là “đô thị hoá” cưỡng bức ở Lào: Cả Đông Dương trở thành một chiến trường. Tuổi trẻ Việt Nam dưới ngọn cờ của Đảng, sát cánh cùng quân và dân hai nước Lào và Campuchia anh em ngoan cường, dũng cảm đập tan âm mưu mở rộng chiến tranh của đế quốc Mỹ. Sau khi giải phóng Atôpơ, phối hợp với lực lượng yêu nước Campuchia, lực lượng vũ trang Tây Nguyên đã đánh địch ở các tỉnh phía Đông-Bắc Campuchia, tiêu diệt hàng chục tiểu đoàn quân Lon-non và quân ngụy Sài Gòn, giải phóng một vùng đất đai rộng lớn từ Đông-Bắc Campuchia - Nam Lào, đến Tây Nguyên. Níchxơn bị thua đau, buộc phải tuyên bố rút quân khỏi Campuchia đúng 2 tháng sau khi hùng hổ mở cuộc hành quân “Bình Tây”. Cuối năm 1970, chúng lại ngoan cố phản kích một lần nữa để càng chuốc lấy thất bại thảm hại, bị loại khỏi vòng chiến đấu 54.000 tên, trong đó có 13.770 tên Mỹ, 620 máy bay bị bắt rơi và phá huỷ; 3.375 xe, 66 tàu, xuồng chiến đấu bị bắn cháy, v.v…

Trên chiến trường Lào, cuộc hành quân Cù Kiệt của địch kéo dài hơn nửa năm, từ tháng 8-1969 đến tháng 2-1970, bị đập tan ở cánh đồng Chum, Xiêng Khoảng. Tiếp đó một bộ phận quan trọng lực lượng phỉ Vàng Pao và lính đánh thuê Thái Lan bị tiêu diệt ở Xảm Thông - Long Chẹng và bị truy kích ở vùng Pắc-Bang (Uđômxay). Đêm 28 rạng ngày 29-4-1970 lực lượng địch ở Atôpơ và Xaravan (Nam Lào) bị tiêu diệt, 2 thị xã này và một số vùng lân cận hoàn toàn được giải phóng.

Trên chiến trường miền Nam, cùng với việc đánh bại những cuộc hành quân chặn của địch ở phía trước, tuổi trẻ cùng quân và dân các địa phương tiếp tục bao vây dài ngày, tiêu diệt hàng loạt căn cứ quan trọng của địch ở các khu giáp ranh vùng đồng bằng và ven đô thị: Đắc Xiêng (Bắc Kon-Tum), Cốc Bài, Đá Bàn (Tây Trị-Thiên). ở thành phố Huế ta vây và tiêu diệt ở điểm cao 935. ở Quảng Nam buộc chúng rút ở Hiệp Đức, loại hơn 4.100 tên, có 200 tên Mỹ; 159 máy bay, 59 xe tăng, xe bọc thép bị phá hủy.

Trong chiến đấu, nhiều đoàn viên, thanh niên đã tỏ rõ tài trí và tinh thần quả cảm đánh địch nhiều trận hết sức độc đáo. Trường hợp đội an ninh vũ trang tỉnh Mỹ Tho chiến đấu trong điều kiện không cân sức để bảo vệ căn cứ Tỉnh ủy ở Long Tiên khi bất ngờ bị lực lượng lớn địch tấn công là một trận đánh khá táo bạo. Lực lượng chênh lệch 1 phải chọi với 50, không thể đối mặt chặn đánh địch, các chiến sĩ trẻ trong đơn vị, trong đó có Ba Điện (sau này là Anh hùng lực lượng vũ trang) và Tư Bốn (tức Anh hùng lực lượng vũ trang Nguyễn Việt Thành hiện nay) đã lựa chọn một phương pháp đánh địch chưa có tiền lệ trong chiến tranh hiện đại, nhưng lại phù hợp với điều kiện tác chiến để bảo vệ căn cứ khi địch đông gấp bội: Chỉ đánh bằng lựu đạn! Lựu đạn cài ở “bãi chết”, lựu đạn được phóng tới mục tiêu bằng giàn thun… Kẻ địch không tài nào phán đoán được hướng tấn công của đối phương, càng không thể nắm được lực lượng của đội an ninh vũ trang. Trong khi chỉ với những vạch làm điểm chuẩn dưới chân và nút áo của người kẹp lựu đạn (chủ yếu do Tư Bốn đảm trách) các chiến sĩ an ninh vũ trang được một chiến sĩ ngồi trên cây cao rậm rạp “chấm toạ độ” cũng có thể cho lựu đạn nổ chụp hoặc phang thẳng vào đội hình địch, gây sát thương cho chúng trên diện rộng. Địch tìm cách đối phó. Nhưng vỏ quýt dày có móng tay nhọn. Với phương châm “lấy của địch đánh địch” các chiến sĩ của ta đã xoay hướng trái gài vào mìn Playmore của địch. Sáng ra chúng tới chỗ cũ gỡ trái thì mìn nổ. Thế là “gậy ông lại đập lưng ông”.

Nam thanh niên chiến đấu thông minh, tài trí. Nhiều nữ thanh niên chiến đấu trong vòng vây của địch cũng tỏ rõ phẩm chất của mình, chiến đấu ngoan cường và dũng cảm. Dương Thị Lệ là Thường vụ Ban Chấp hành Đoàn xã Tam Hiệp, tham gia đội du kích của xã được cử làm xã đội phó, kiêm nhiệm vụ y tá của đội. Với túi đồ nghề và khẩu carbine trong tay, Lệ đã cùng đội du kích chiến đấu nhiều trận. Trong trận chiến đấu đánh trả một tiểu đoàn bảo an càn quét lấn chiếm, Lệ đã cùng đội du kích dũng cảm đánh bật nhiều đợt tấn công của địch. Chúng không tiến nổi phải bung ra đồng trống. Chớp thời cơ, Dương Thị Lệ đã cầm cờ lao lên thúc giục toàn đội xung phong rượt địch, diệt nhiều tên. Bọn địch hoảng sợ phải bỏ dở cuộc càn chạy về lộ 4. Sau này Dương Thị Lệ đã được tuyên dương Anh hùng lực lượng vũ trang.

Tiêu biểu là người con gái anh hùng Lê Thị Hồng Gấm. Là một người con gái lớn lên trên vành đai diệt Mỹ Bình Đức (một tên khác của căn cứ Đồng Tâm - Mỹ Tho), Lê Thị Hồng Gấm đã từng chứng kiến nhiều cảnh dã man, tàn bạo của địch đối với đồng bào, đồng chí mình. Gấm đã tình nguyện gia nhập lực lượng du kích ở địa phương, thường xuyên đứng chân trên vành đai, chiến đấu nhiều trận, diệt 20 tên địch vừa Mỹ vừa ngụy. Ngày 18 tháng 4 năm 1970, Lê Thị Hồng Gấm được lệnh dẫn một số cán bộ đi nghiên cứu tình hình. Chuẩn bị vượt qua một khoảng đồng trống, bất ngờ gặp lực lượng địch đi càn. Với quyết tâm bảo vệ cán bộ, một mình một súng, Gấm đã đánh trả bọn địch đông gấp nhiều lần, diệt nhiều tên và bắn bị thương một máy bay lên thẳng của chúng. Lực lượng không cân sức cuối cùng chị đã hy sinh. Tấm gương của Lê Thị Hồng Gấm cùng với nhiều tấm gương khác như Nguyễn Văn Trỗi, Nguyễn Viết Xuân, Lê Mã Lương… từng cổ vũ lớp lớp thanh niên hai miền Nam Bắc nỗ lực vươn lên lập công, góp phần đánh thắng giặc Mỹ xâm lược.

Cùng với đòn tiến công quân sự, hàng triệu lượt đồng bào và thanh niên đã nổi dậy giành quyền làm chủ. 6 tháng đầu năm 1970 hơn 5 triệu lượt đồng bào và tuổi trẻ đồng bằng sông Cửu Long  đã nổi dậy giành quyền làm chủ ở nhiều vùng. ở Trung Trung Bộ có hơn 80 vạn thanh niên cùng nhân dân nổi dậy, làm tan rã hơn 40.000 tên trong bộ máy ngụy quyền tay sai, giải phóng thêm 270.000 người. Trong ngày lễ Phật Đản năm 1970 có tới 25 vạn đồng bào phật tử ở Sài Gòn, Huế, Đà Nẵng… đã xuống đường đòi hoà bình, chấm dứt chiến tranh xâm lược, lên án Mỹ-Ngụy giết hại Việt kiều ở Campuchia. Phối hợp với các cuộc đấu tranh trên, hơn 70.000 công nhân, thuộc 118 nghiệp đoàn Sài Gòn đã bãi công. Tiếp đó 100.000 công nhân Sài Gòn - Chợ Lớn lại bãi công đòi quyền dân sinh dân chủ, đòi Mỹ rút về nước.

***

Thời gian từ sau khi Mỹ buộc phải ngừng ném bom miền Bắc, phong trào “Ba sẵn sàng” của tuổi trẻ miền Bắc phải trải qua những thử thách để đứng vững và phát triển trong điều kiện mới đầy khó khăn, vừa phải tranh thủ hàn gắn vết thương chiến tranh, đẩy mạnh sản xuất, vừa phải luôn luôn nâng cao cảnh giác, sẵn sàng đối phó với mọi kiểu chiến tranh đế quốc Mỹ có thể gây ra, đồng thời hết lòng, hết sức chi viện cho cách mạng miền Nam và chi viện cho chiến trường 2 nước bạn Lào và Campuchia.

Tháng 12 năm 1969, Ban Thường vụ Trung ương Đoàn Thanh niên Lao động Việt Nam quyết định chuyển hướng phong trào “Ba sẵn sàng” nhằm đáp ứng tình hình và nhiệm vụ mới. Trong khi tiếp tục giáo dục đoàn viên và thanh niên phát huy hơn nữa chủ nghĩa anh hùng cách mạng, ý chí quyết chiến, quyết thắng, tinh thần cảnh giác sẵn sàng chiến đấu, Trung ương Đoàn rất coi trọng hướng nhiệm vụ trung tâm của phong trào “Ba sẵn sàng” lúc này là lao động sản xuất, học tập, tu dưỡng và rèn luyện.

Lao động có tổ chức, có kỹ thuật và năng suất cao là một đòi hỏi cấp bách. Trong điều kiện sản xuất của những năm khôi phục kinh tế, hàn vết thương chiến tranh không chỉ cần tinh thần sẵn sàng đảm nhận công việc khó khăn phức tạp mà còn phải tìm tòi những hình thức thích hợp, những phương pháp có hiệu quả nhằm động viên đoàn viên và thanh niên tác động vào những khâu yếu nhất trong khoa học công nghệ và quản lý. Khẩu hiệu hành động “kỹ thuật cao, lao động giỏi” và sau đó là cuộc vận động “hai mũi tiến công thắng Mỹ” là quá trình phát triển phong trào “Ba sẵn sàng” trong thanh niên công nhân. Cuộc vận động được bắt đầu từ những nhà máy, xí nghiệp ở Hà Nội và nhanh chóng lan ra ở nhiều nhà máy, xí nghiệp công trường khác. Từ các cuộc vận động trên, tiến thêm một bước, tổ chức Đoàn ở nhiều cơ sở, trước hết là ở Công ty Gang thép Thái Nguyên và Nhà máy Dệt 8-3 (nay là Công ty Dệt 8-3), đã mở các hội thi tài để chọn những thợ giỏi của cơ cở, về sau trở thành một phong trào mang nhiều ý nghĩa và tác dụng là phong trào “luyện tay nghề và thi chọn thợ giỏi”.

Phong trào “luyện tay nghề thi chọn thợ giỏi” ra đời trước đòi hỏi bức thiết của sản xuất cần có đội ngũ công nhân có tay nghề ngày càng vững, đã nhanh chóng phát triển sâu rộng trong thanh niên công nhân, lôi cuốn cả những người lớn tuổi cùng tham gia.

Năm 1971, ở Hà Nội trong 178 cơ sở sản xuất đã có 108 cơ sở tổ chức cho thanh niên ôn luyện tay nghề và thi chọn thợ giỏi, thu hút hơn 30.000 đoàn viên và thanh niên tham gia. Cùng thời gian, ở 11 Tỉnh, Thành Đoàn, đơn vị trực thuộc cũng đã có 400 cơ sở Đoàn tổ chức cho thanh niên ôn luyện tay nghề, thi chọn thợ giỏi, thu hút trên 40% đoàn viên và thanh niên tham gia. ở tỉnh miền núi Hoà Bình có tới 43,5% tổng số cơ sở và 43.1% tổng số đoàn viên, thanh niên công nhân trong tỉnh tham gia “luyện và thi”. ở Quảng Bình trong điều kiện khó khăn, các cơ sở sản xuất chưa kịp khôi phục, nhiều cơ sở còn phải tổ chức sản xuất trong hầm địa đạo, Đoàn thanh niên vẫn tổ chức cho đoàn viên và thanh niên ôn luyện tay nghề. 41% thanh niên công nhân trong 21 đơn vị thuộc 4 ngành trong toàn tỉnh đã chọn thợ có tay nghề khá cùng các giáo viên chia nhau về từng căn hầm kèm cặp nhau cùng ôn luyện. ở Công ty Gang thép Thái Nguyên, lúc đầu chỉ có 10 cơ sở Đoàn tổ chức luyện tay nghề, nhưng đến năm 1971 đã có hơn 30 cơ sở tổ chức cho thanh niên luyện và thi. Năm 1967 có 10 thợ giỏi cấp công ty, đến năm 1971 có tới 55 thợ giỏi.

Qua những hội thi tài, thi chọn thợ giỏi ở cơ sở, từ tổ sản xuất đến phân xưởng, nhà máy đã tiến tới thi chọn thợ giỏi ở cấp ngành. Từ năm 1971, thanh niên ngành dệt đã tổ chức thi chọn thợ giỏi trong toàn ngành, chọn được hàng trăm thợ giỏi trong toàn ngành, chọn được hàng trăm thợ giỏi tiêu biểu, phát hiện được nhiều thao tác tiên tiến, đưa vào qui trình công nghệ, góp phần nâng cao năng suất lao động. Trong đó lối đi tua “hoa hồng” của Cù Thị Hậu, công nhân đứng máy của Nhà máy Dệt 8-3 là một sáng tạo đem lại nhiều hiệu quả. Nhiều đoàn viên, thanh niên, thông qua các hội thi chọn thợ giỏi càng thêm gắn bó với nghề. Phạm Thị Liên, Nguyễn Thị Phú… đã vượt qua lựa chọn từng cách đi tua để giành năng suất cao. Trịnh Thị Toan khi bước vào nghề dệt mới chỉ là một công nhân bình thường, nhưng đã kiên trì học hỏi những thợ dệt đi trước, tìm ở họ những thao tác tiên tiến có thể vận dụng cho mình, vươn lên đứng đầu hội thi thợ dệt giỏi của toàn nhà máy, và sau đó toàn ngành.

Đoàn thanh niên ở nhiều cơ sở còn có sáng kiến kết hợp với chủ trương thi nâng bậc hàng năm của đơn vị để tổ chức luyện và thi, vì thế phong trào không còn là của riêng thanh niên. Chính quyền và công đoàn đã trực tiếp giúp đỡ và tạo mọi điều kiện, kể cả việc cử những công nhân có tay nghề cao kèm cặp, để các thợ trẻ rèn luyện nâng cao tay nghề.

Phong trào luyện tay nghề thi chọn thợ giỏi ngày càng được phát triển ở hầu khắp các ngành nghề làm nảy nở ngày càng nhiều những tay thợ trẻ xuất sắc, đảm đương được nhiều công việc của thợ bậc cao. Như trường hợp Ngô Thị Sửu, một thợ hàn cao áp, say sưa bám sát chuyên gia học hỏi kinh nghiệm, để rồi tự mình giải quyết thành công những mối hàn phức tạp. Hay như Thái Hiền Lương, vào nghề 2 năm đã có trình độ tay thợ bậc 4, vẫn không ngừng vươn lên nắm vững khoa học kỹ thuật, vừa làm thợ, vừa học hàm thụ đại học, năm nào cũng có sáng kiến cải tiến có giá trị.

Trên mặt trận sản xuất nông nghiệp, phong trào xây dựng “cánh đồng 5-10 tấn thắng Mỹ” tiếp tục được đẩy mạnh và nâng cao. Phong trào được mở rộng sang cả các lĩnh vực rau, màu và cây công nghiệp ngắn ngày. Nhất là trong lĩnh vực chăn nuôi. Những “ô chuồng, dãy chuồng” tăng trọng ra đời đáp ứng yêu cầu của các trại chăn nuôi tập thể. Từ Hà Nội, thanh niên nông dân ngoại thành đã có sáng kiến xây dựng dãy chuồng “trăm con vạn cân”, tức là mỗi đoàn viên, thanh niên nhận chăm sóc, nuôi dưỡng 100 con lợn, đạt trọng lượng xuất chuồng 100kg/con. Phong trào có sức hấp dẫn những thanh niên làm nghề chăn nuôi ham tìm tòi hiểu biết những vấn đề khoa học kỹ thuật có liên quan đến con lợn. Ngô Thị Phú (Hà Nội), Phạm Thị Hải (Hải Phòng) là những đoàn viên đã bỏ nhiều công sức tìm tòi, xây dựng nên những qui trình chăm sóc cho từng loại lợn, mang lại hiệu quả rõ rệt.

Đáng chú ý là thời kỳ này, bên cạnh việc không ngừng nêu cao quyết tâm phấn đấu mở rộng diện tích trồng trọt bằng cách khai hoang phục hoá, san lấp hố bom, thùng đào thùng đấu… thanh niên nông thôn đã đặc biệt coi trọng trau dồi và nâng cao kỹ năng nghề nông. Nhiều hội thi cấy theo lối mới, thi cày, kể cả cày bằng máy được tổ chức rộng khắp, từ cơ sở lên cấp huyện, tỉnh. Trung ương Đoàn đã phối hợp với Bộ Nông nghiệp tổ chức hội thi cấy theo lối mới ở toàn miền Bắc, chọn ra được nhiều cặp cấy đúng kỹ thuật, nông tay vừa phải và thẳng hàng. Hội thi thợ lái máy cày giỏi toàn miền Bắc cũng đã được tổ chức. Nhiều thợ lái máy cày trẻ đã trình diễn những thao tác lái máy tiên tiến trên những phương tiện cải tiến phù hợp với từng đồng đất.

Nhiều hình thức thi đua xuất hiện trong thanh niên nông thôn. ở huyện Thọ Xuân (Thanh Hoá) thanh niên thực hiện “giỏi một việc, biết nhiều việc”. Tổ chức Đoàn ở địa phương thường xuyên chú trọng bồi dưỡng nâng cao kỹ năng lao động cho thanh niên. 100% số chi đoàn trong các hợp tác xã có tổ chuyên giống, góp phần đào tạo thợ cày, thợ cấy cho hợp tác xã. Thanh niên nông thôn Hải Phòng có hình thức thi đua “hai giỏi thắng Mỹ” (Lao động giỏi, kỹ thuật giỏi) đi sâu vào thâm canh tăng năng suất cây trồng.

Thanh niên là những người đi đầu trong việc áp dụng rộng rãi những tiến bộ về khoa học kỹ thuật trong việc xử lý giống và chăm sóc cây trồng, đi đầu trong phong trào làm phân bón và áp dụng những phương pháp bón phân đạt hiệu quả cao. Công tác thuỷ lợi được đẩy mạnh. Thanh niên là những người hăng hái tham gia các đội chuyên thủy lợi. Những người không có điều kiện tham gia các đội thủy lợi 202 (tập trung) thì tham gia làm thủy lợi nội đồng, góp phần cải tại đồng ruộng, nhất là đi đầu áp dụng những biện pháp tưới tiêu theo khoa học.

Năm 1971 là năm các tỉnh miền Bắc gặp thiên tai lớn. Lũ lụt phá hoại nghiêm trọng mùa màng ở nhiều tỉnh. Thanh niên không những là lực lượng xung kích trong chống lũ mà còn đi đầu trong việc áp dụng các biện pháp kỹ thuật mới trong gieo trồng đảm bảo ứng phó kịp thời với tình hình. Trong đó có việc gieo mạ sân, ngay khi nước lụt vẫn còn trắng đồng, hoặc gieo trồng cây vụ đông trên nền đất phù sa. Nhiều nơi như ở Hải Hưng, Hà Bắc do vỡ đê, có vùng phù sa ngập đến ngang thắt lưng, thanh niên vẫn không quản khó khăn gieo trồng chăm chút từng hạt ngô, từng dây khoai lang.

Đồng thời với việc đẩy mạnh phong trào lao động sản xuất, các cơ sở Đoàn ở nông thôn đã tích cực vận động đoàn viên và thanh niên đi đầu thực hiện cuộc vận động “Phát huy dân chủ, tăng cường chế độ làm chủ tập thể của quần chúng nông thôn” của Đảng. Nghị quyết của Ban Thường vụ Trung ương Đoàn đã nhấn mạnh: “Cần xác định rõ trách nhiệm và quyền làm chủ tập thể của đoàn viên, thanh niên trên các mặt kinh tế, chính trị, xã hội và trách nhiệm của tổ chức Đoàn trong việc tham gia quản lý hợp tác xã, tăng cường nền kinh tế tập thể, phát huy quyền làm chủ tập thể của thanh niên”.

Việc hình thành những đội thanh niên kiểm tra và tổ chức các hội nghị xã viên trẻ là những hình thức hoạt động thể hiện ý thức trách nhiệm của đoàn viên và thanh niên nông thôn trong việc tham gia quản lý. Tổ chức Đoàn hợp tác xã Văn Quán (Vĩnh Phú) là đơn vị đã tổ chức sớm những hội nghị xã viên trẻ, đóng góp nhiều kinh nghiệm quí về việc Đoàn thanh niên chủ động nắm và thực hiện kế hoạch sản xuất của hợp tác xã cũng như tham gia phân bố lực lượng lao động trẻ vào các khâu của sản xuất và đời sống.

***

Trên chiến trường miền Nam, thừa thắng xốc tới, năm 1971, tuổi trẻ góp phần đánh bại 3 cuộc hành quân lớn của địch: Lam Sơn 719, Toàn Thắng 1-1971 và cuộc hành quân ra vùng 3 biên giới. Trong đó cuộc hành quân Lam Sơn 719 đánh vào khu vực đường 9-Nam Lào là cuộc hành quân điển hình của chiến lược Việt Nam hoá. Tiếp sức cho cuộc hành quân của chúng còn có các lực lượng quân ngụy Viêng Chăn và lính đánh thuê Thái Lan từ căn cứ Xênô và Pắcxế đánh vào phía Tây đường số 9 và cao nguyên Bôlôven.

Sau nhiều trận đánh phủ đầu quyết liệt vào những căn cứ bàn đạp của địch ở Khe Sanh, Đông Hà, Lao Bảo (Bắc Quảng Trị) ngày 8-2-1971, phối hợp cùng quân và dân Lào, các chiến sĩ ta đã dũng mãnh xông lên đánh chiếm Sêpôn, cứ điểm xung yếu của địch ở Nam Lào. Tiếp đó đánh các cứ điểm Phu Lan, Nậm Lực, La Tương, Cha Ky. Cuộc bao vây đánh chiếm bản Đông của quân ta bắt đầu từ ngày 13-3, các chiến sĩ trẻ, phần lớn trưởng thành từ phong trào “Ba sẵn sàng”, trải qua thử thách ác liệt của chiến trường, tỏ ra hết sức vững vàng và có nhiều mưu trí sáng tạo trong cách đánh địch ở cứ điểm, cũng như đánh địch đến ứng cứu. Sau 5 ngày chiến đấu quyết liệt ta đã buộc địch rút chạy khỏi cứ điểm và đến ngày 20-3 địch hoàn toàn bị tiêu diệt, phá tan âm mưu của chúng hòng ngăn chặn sự chi viện của hậu phương lớn cho tiền tuyến lớn qua đường Hồ Chí Minh. Đường Hồ Chí Minh vẫn do ta làm chủ. Trong năm 1971 Bộ Tư lệnh 559 vẫn vừa đánh địch vừa vận chuyển hàng ra tiền tuyến đảm bảo từ 95 đến 100% kế hoạch. Riêng tháng 2-1971 đã vận chuyển được 13.608 tấn, đạt 91% kế hoạch.

Năm 1972, tiếp tục thế tiên công, quân và dân ta đẩy địch ngày càng lún sâu vào thế bị động phòng ngự, và từ cuối tháng 3, mở cuộc tiến công chiến lược đập nát một trong 3 tuyến phòng ngự kiên cố của địch ở đường số 9, giải phóng hoàn toàn 2 huyện Gio Linh và Cam Lộ, tiếp tục bao vây uy hiếp địch ở Đông Hà, ái Tử, La Vang, thị xã Quảng Trị, vây ép thành phố Huế dài ngày. Ngày 24-4 mở đợt tiến công quyết định số phận của địch ở các vị trí này. Tuổi trẻ và đồng bào ở 2 huyện Hải Lăng, Triệu Phong và dọc đường số 1 đã nổi dậy đồng loạt làm tan rã hệ thống kìm kẹp của địch.

Với lối đánh thọc sâu dũng mạnh, các chiến sĩ trẻ trên mặt trận Quảng Trị đã đập nát hệ thống phòng ngự mạnh nhất của địch ở ái Tử, La Vang, Tích Tường. Đinh Văn Hoè, đoàn viên ưu tú, trở thành ngọn cờ chiến đấu xuất sắc cùng đơn vị đánh địch suốt dọc đường 9, qua vùng đồng bằng Hải Đăng, tiến vào tuyến sông Mỹ Chánh. Một mình Hoè sử dụng thành thạo 6 loại súng của ta, 3 loại súng lấy được của địch, bắn gục 4 máy bay Mỹ, thiêu cháy xe bọc thép, bắt sống M113 của địch, Đinh Văn Hoè thường nói: “Được làm chiến sĩ thọc sâu là vui sướng nhất”. Anh đã bám địch là bám đến cùng, hễ ở đâu có địch là anh xốc tới. Noi gương Hoè, các chiến sĩ trẻ trong đơn vị do chính trị viên Đống chỉ huy đã chiến đấu quyết liệt không cho địch co cụm lại ở Tri Bưu, cản đường tiến của quân ta vào thị xã Quảng Trị. Quyết, Duy, rồi Sâm, Vi, Lộc…. những đoàn viên xông xáo, dũng mạnh như những mũi dao sắc nhọn đánh chiếm từng bờ tường trong một khu nhà 2 tầng cạnh nhà thờ Tri Bưu, quét sạch địch ra khỏi hang ổ, bắn cháy cả máy bay địch đến chi viện cho đồng bọn.

Đến ngày 2-5-1972 quân ta đã chọc thủng tuyến phòng thủ, đuổi địch về phía bờ nam sông Mỹ Chánh, giải phóng hoàn toàn Quảng Trị và 3 xã thuộc huyện Hương Điền, Thừa Thiên. Tháng 6-1972 tiếp tục truy kích địch ở phía Tây sông Mỹ Chánh và phía Nam sông Hương, tiếp tục vây ép thành phố Huế. Đến ngày 26-6 chiến dịch Trị Thiên hoàn toàn thắng lợi, ta tiêu diệt 24.070 tên địch, bắt sống 3.358 tên, phá huỷ 636 xe, bắn rơi 340 máy bay các loại, loại khỏi vòng chiến đấu sư đoàn bộ binh số 3 và đánh thiệt hại nặng sư đoàn lính thủy đánh bộ của địch.

Bị thua đau, bè lũ Mỹ-Ngụy liều lĩnh mở cuộc hành quân Lam Sơn 72, hòng giành lại những vùng đất đã mất. Chúng huy động tới 2 sư đoàn quân dự bị chiến lược và một lực lượng lớn quân biệt động ngụy cùng với trang bị mới vào trận, có không quân và hải quân Mỹ yểm trợ tới mức tối đa. Cuộc chiến đấu kéo dài suốt 82 ngày đêm làm cho quân địch ngày càng sa lầy trong thế thất bại. Một lực lượng lớn quân dự bị chiến lược bị giam chân và bị tiêu hao dần. Các chiến sĩ ta càng đánh càng tỏ ra ngoan cường. Trong đó nổi bật là cuộc chiến đấu của các chiến sĩ trẻ trong thành cổ Quảng Trị, được coi là bản anh hùng ca chói ngời chiến công. Trong những điều kiện chiến đấu cực kỳ ác liệt, trên trời máy bay B52 rải thảm, dưới đất pháo bầy, pháo chụp tới tấp dội bão lửa, các chiến sĩ trẻ đã bám từng ụ đất, từng  bờ thành, kiên cường chiến đấu, thể hiện phẩm chất cách mạng tuyệt vời của mình. Vũ Trung Thướng cùng đơn vị của anh đã trở thành niềm tin tưởng mãnh liệt cho đồng đội khi mỗi chiến sĩ ở đây dũng mãnh giữ một hướng tiến công, sử dụng thành thạo 6 loại vũ khí. Với tinh thần “mỗi chiến sĩ là một Lê Mã Lương”, từng chiến sĩ trên trận địa đã dám chọi với hàng trăm địch. Linh hồn của những trận chiến đấu ngoan cường ấy chính là người chính trị viên trẻ tuổi Vũ Trung Thướng và các chiến sĩ trẻ Tăng Bá Bình, Tạ Đình Giong, v.v… Nói về trận địa thép ấy, xã luận báo Quân đội Nhân dân đã viết: “Đơn vị Vũ Trung Thướng tiêu biểu cho tinh thần cách mạng tiến công của các chiến sĩ quân giải phóng trong thời kỳ chiến đấu mới”…

Cùng với trận địa Vũ Trung Thướng, trên nhiều hướng tiến công, các chiến sĩ trẻ trong các đơn vị đều tỏ rõ tinh thần kiên cường bám trụ đánh địch trong mọi tình huống. 25 chiến sĩ trẻ trong một ngày đánh lui 10 đợt phản kích của 2 tiểu đoàn địch. Các chiến sĩ trinh sát Hồng và Ba luồn sâu vào mục tiêu địch. Chiến sĩ thông tin Mai Ngọc Thoảng, giữ vững đường dây liên lạc dưới mưa bom bão đạn suốt 48 ngày đêm. Có những lần đường dây thông tin bị đánh đứt, dưới làn đạn địch, không kịp nối, anh dùng răng cắn chặt 2 đầu dây cho tín hiệu đi qua, kịp thời phục vụ chỉ huy chiến đấu.

Trong thế tiến công mạnh mẽ trên toàn chiến trường miền Nam, tuổi trẻ quân đội đã lập công xuất sắc, góp phần tiêu diệt những đơn vị chủ lực lớn của địch trong một thời gian ngắn. 8 trong số 13 sư đoàn của ngụy Sài Gòn đã bị loại khỏi vòng chiến đấu hoặc bị đánh thiệt hại nặng. Nhiều vùng đất đai rộng lớn được giải phóng, ở Quảng Trị, ở Đắc Tô, Bình Định, Bình Phước và xuất hiện nhiều vùng lõm khác.

***

Đứng trước tình hình vùng giải phóng ngày càng được mở rộng, giữa năm 1972, Trung ương Đảng đã ra chỉ thị về những công tác trước mắt nhằm củng cố các vùng giải phóng và đề ra 4 nhiệm vụ cụ thể phải làm để đẩy mạnh phong trào cách mạng trong quần chúng.

Quán triệt quan điểm của Đảng về xây dựng cơ sở chính trị, kinh tế trong các vùng mới giải phóng, Đoàn ta đã nêu lên một trong 5 nội dung của phong trào “Năm xung phong” là “xung phong sản xuất nông nghiệp trong nông hội”, và nhấn mạnh: “Phải xung phong đẩy mạnh sản xuất nông nghiệp hơn nữa ở các vùng giải phóng để xây dựng một lượng dự trữ dồi dào cho kháng chiến, để đồng bào từ các vùng bị địch kìm kẹp trở về có đủ lương thực”. Để cụ thể hoá nhiệm vụ “xung phong sản xuất và thực hành tiết kiệm trong thanh niên nông thôn”, Đoàn thanh niên nhân dân cách mạng đã ra các chỉ thị 05, 06, 07 thường xuyên chỉ đạo các cấp quan tâm động viên, tổ chức đoàn viên và thanh niên đẩy mạnh sản xuất trong mọi tình huống, ngay cả ở những vùng địch tiến hành gom bắt dân ác liệt. Bằng mọi hình thức đấu tranh chính trị và vũ trang khởi nghĩa, đoàn viên và thanh niên đã cùng bà con cô bác bung ra, trở về quê cũ làm ăn theo cách “lúc đầu bung ra gần, dần dần bung ra xa”. Nhiều nơi đoàn viên và thanh niên, với tinh thần “Năm xung phong” đã thật sự làm nòng cốt trong việc khai hoang phục hoá, và áp dụng một số biện pháp kỹ thuật canh tác tiên tiến như thay giống lúa dài ngày bằng giống lúa ngắn ngày, bón phân, tưới tiêu hợp lý. Kẻ địch dùng kế mị dân, đưa nhiều biện pháp canh tác tiên tiến áp dụng vào đồng ruộng nhằm thâm canh tăng năng suất cây trồng. Đoàn viên và thanh niên nhiều địa phương đã biết lợi dụng cơ hội thuận lợi đi đầu sử dụng những giống lúa mới có năng suất cao đưa về áp dụng ở nông thôn và mạnh dạn vận dụng những biện pháp kỹ thuật canh tác tiên tiến làm cho sản xuất ngày càng đạt quả cao. ở Mỹ Tho đoàn viên và thanh niên ở các cơ sở, nhất là những nơi bom đạn ác liệt, xung quanh các căn cứ địch đã lợi dụng các hình thức hợp pháp để tổ chức sản xuất. ở các vùng địch đánh phá có tính huỷ diệt, muốn biến thành đồng hoang nhà trống.. đoàn viên và thanh niên đều xung phong để sản xuất. Họ theo dõi chặt qui luật đánh phá của địch, tổ chức canh gác bảo vệ, để bám đồng ruộng gieo mạ, làm cỏ, bón phân. Có xã địch thường xuyên cho máy bay phá nương rẫy, cho biệt kích lén lút bắt cóc và bắn bừa bãi vào nhân dân, một số bà con không dám ra nương rẫy sản xuất. Đoàn viên và thanh niên đã cùng với lực lượng du kích tăng cường tuần tra canh gác, gương mẫu đi sản xuất trước để lôi kéo bà con. Nơi nào có đoàn viên, thanh niên đi làm thì nhân dân cùng đến làm. Xóm 4, một xóm rộng khoảng 5km2 thuộc vùng trọng điểm bình định của địch, thường xuyên bị địch bắn phá ác liệt. Số bom địch ném xuống gấp bốn, năm lần số dân. Nhưng nhờ có ruộng đất được chia và có đoàn viên và thanh niên đi đầu góp phần đẩy mạnh tăng gia sản xuất và chăn nuôi nên nhà nào cũng no đủ. Có nơi đoàn viên và thanh niên còn đi đầu trong việc tổ chức làm ăn tập thể trong các tổ vần công, đổi công: tổ chức làm những thí nghiệm thâm canh cây trồng, vật nuôi.

Phong trào “xung phong sản xuất nông nghiệp trong nông hội” đặc biệt sôi nổi ở các vùng giải phóng. Với ý thức sản xuất thêm một hạt thóc là góp phần chống Mỹ, cứu nước, đoàn viên và thanh niên cùng bà con nông dân, mà số đông là chị em nữ thanh niên đã xung phong gánh vác mọi công việc đồng áng và quản lý gia đình để chồng, con em rảnh rang lên đường đi chiến đấu. Thanh niên đã tổ chức bám ruộng vườn vừa sản xuất, vừa chống giặc, đào hầm đào hào khắp trong thôn xóm và cả trên đồng ruộng để chiến đấu khi địch càn đến, để bảo vệ người và gia súc. Diện tích cày cấy ngày một tăng lên. Có các biện pháp kỹ thuật tiên tiến được thanh niên học tập đem về áp dụng và vận động bà con cùng làm nên năng suất lúa tăng lên rõ rệt.

Về chăn nuôi, số lợn, gà, vịt, ở nhiều nơi cũng đã tăng lên từ 2 đến 4 lần. Ngoài ra, được Mặt trận khuyến khích, giúp đỡ các ngành nghề khác như đánh cá, làm muối, nước mắm, lò rèn, v.v… được phát triển.

Các mặt y tế, giáo dục, văn hoá văn nghệ trong các vùng giải phóng được đoàn viên và thanh niên tích cực tham gia. Nhân kỷ niệm ngày thành lập Đoàn, nhiều tổ chức sơ sở Đoàn đã nhận những công trình mang tên 26-3, như xây dựng trường học, nhà trẻ, trạm y tế… Bộ mặt của nông thôn vùng giải phóng ngày càng mang dáng nét mới khác hẳn những “ấp tân sinh”, “ấp đời mới” ở giữa vùng Mỹ-Ngụy còn tạm kiểm soát.

Đoàn viên và thanh niên là lực lượng nòng cốt tham gia củng cố chính quyền cách mạng ở vùng mới giải phóng, xây dựng lực lượng vũ trang và an ninh địa phương. ở các tỉnh Mỹ Tho và Gò Công (nay là Tiền Giang) đã có hơn 8.000 thanh niên từ vùng gom dân của địch trở về vùng giải phóng và tích cực tham gia phong trào 4 quyết thắng do Đoàn phát động. Nhiều nơi trước kia đội du kích thiếu và yếu, qua những đợt hoạt động trong năm 1972, lực lượng được tăng cường, có khả năng độc lập tác chiến như các đội du kích ở Tân Hội, Mỹ Hạnh Đông,v.v… Riêng khu V, năm 1972 đã có 24.476 thanh niên tòng quân, gấp 4 lần năm 1969, gấp 5 lần năm 1970. Nhiều cán bộ Đoàn còn thâm nhập vào các “túi” thanh niên trốn lính ở toà thánh Tây Ninh, các thánh thất Cao Đài, các chùa Hoà Hảo, cù lao Đạo Dừa… để vận động thanh niên trở về. ở khu 9 năm 1972 đã vận động được 15.982 người bị địch bắt quay về tham gia công tác cách mạng và có 10.183 thanh niên tòng quân, trong đó có nhiều anh em ta vừa giành giật được từ tay địch.

***

Tranh thủ thời cơ, công tác giao thông vận tải thời gian này được đẩy mạnh. Nhiều tuyến đường được nâng cấp, đủ khả năng vận chuyển những phương tiện chiến đấu hiện đại vào chiến trường.

Từ giữa năm 1972, bị thất bại nặng nề trên chiến trường miền Nam nhưng Mỹ và bè lũ tay sai vẫn ngoan cố hy vọng gây sức ép với chúng ta ở Hội nghị Pari về Việt Nam. Chính vì  thế, Mỹ đã “Mỹ hoá” trở lại cuộc chiến tranh. Từ ngày 13-4-1972, chúng lại cho máy bay thả mìn, thủy lôi phong toả cảng Hải Phòng, đường sông, đường biển của ta, tiếp tục đánh phá lại các trọng điểm giao thông. Lực lượng TNXP chống Mỹ, cứu nước (tập trung) làm nhiệm vụ trên các tuyến đường phần lớn đã hoàn thành nhiệm vụ trên các tuyến đường phần lớn đã hoàn thành nhiệm vụ của nhiệm kỳ 2 (được thay quân từ nửa cuối 1968) sau một nhiệm kỳ 3 năm. Nhưng nhiệm vụ TNXP, một lần nữa lại được tăng cường để đảm bảo giao thông trong mọi tình huống. 34.058 đội viên TNXP, trong đó có 18.022 nữ, chiếm tỉ lệ 52,9% của 18 tỉnh, thành phố miền Bắc đã được gấp rút huy động. Trong đó có 4.500 đội viên TNXP của 3 tỉnh: Thanh Hoá, Hà Nam Ninh (nay là 3 tỉnh Hà Nam, Nam Định, Ninh Bình) và Vĩnh Phú (nay là Phú Thọ và Vĩnh Phúc) được Ban Bí thư Trung ương Đoàn quyết định thành lập một Tổng đội mới, Tổng đội 572, sang giúp đỡ nước bạn Lào làm nhiệm vụ mở con đường từ căn cứ kháng chiến của bạn đến biên giới Lào-Việt, nối với đường số 7 của ta, dài 64 kilômét.

3 năm làm nhiệm vụ trên đất bạn, TNXP Tổng đội 572 luôn nêu cao tinh thần “vì bạn, vì mình, vì tình đồng chí”, tổ chức nhiều chiến dịch hành động nhằm thi công dứt điểm từng hạng mục công trình. Nhiều công trình nhờ đó rút ngắn thời gian thi công tới 10 ngày. Đoàn thanh niên Tổng đội đã thường xuyên chỉ đạo đoàn viên và thanh niên đẩy mạnh phong trào lao động kiểu mẫu, phấn đấu giành năng suất cao, phát huy nhiều sáng kiến, cải tiến. Phần lớn đội viên TNXP đều chưa quen công việc làm đường, Tổng đội đã thực hiện phương châm vừa học vừa làm, đảm bảo đã ra mặt đường phải hiểu biết kỹ thuật, phải nắm được công việc, đồng thời bằng mọi cách nhanh chóng thực hiện cơ giới hoá. Nhiều đoàn viên như Chu Quốc Cầu đã tìm đến những nơi địch từng đánh phá thu nhặt phụ tùng, góp phần lắp ráp được 1 máy C100, một ĐT 54 và khôi phục được 30 xe ô tô. Có thêm phương tiện, đến cuối năm 1973, các công việc làm nền đường đã cơ giới hoá được 63%. Mặt đường và các công trình cầu, cống đến cuối năm 1974 đầu năm 1975 cũng được cơ giới hoá tới 70%.

Các đơn vị TNXP chống Mỹ, cứu nước (tập trung) làm nhiệm vụ trên các tuyến đường huyết mạch luôn nêu cao tinh thần cách mạng tiến công, tranh thủ thời cơ nâng cấp mặt đường, hoặc mở thêm đường mới. Tiêu biểu là các đội 301, 341, 57, 55… Năm 1972, đội 301 đạt bình quân 19,4% công xây lắp/tháng, năng suất lao động đạt 105%, làm lãi 110.370 đồng (thời giá năm 1972). Đội 99 thực hiện kế hoạch đạt 104%, lãi 10.000 đồng. Các đơn vị được giao làm nhiệm vụ bốc vác chuyển tải, kho tàng… hoạt động phân tán, không tổ chức hạch toán kinh tế, chỉ áp dụng hình thức nhận việc, nhận kế hoạch theo từng thời gian nhất định, vẫn luôn tìm tòi, cải tiến thao tác, đạt hiệu suất công tác cao. Các đội 39, 44, 149 làm nhiệm vụ phục vụ công tác quốc phòng luôn di động, phân tán nhiều nơi, vẫn giữ vững tinh thần thời chiến, khẩn trương và hăng say, tổ chức giao khoán nội bộ đạt hiệu quả tốt. Các ngành chủ quản nhận xét: “Đã giao việc cho TNXP là có thể tin tưởng!”

Các đội TNXP phục vụ ngành đường sắt, công việc đòi hỏi kỹ thuật cao, đã biết tổ chức hợp lý, vừa làm vừa học, nhanh chóng nắm bắt kỹ thuật tiên tiến, đảm bảo hoàn thành tốt nhiệm vụ trong mọi tình huống. Đội 81 luôn đạt năng suất từ 104- 129%. Đại hội 816 là đơn vị lá cờ đầu của toàn ngành, thường xuyên vượt năng suất 12%.

Công tác vận tải được đẩy mạnh. Nhiều lực lượng, nhiều phương tiện được huy động. Các đơn vị làm nhiệm vụ vận chuyển trên đường mòn Hồ Chí Minh trên biển đã tìm nhiều phương thức vận chuyển mới, tiếp tục trực tiếp đưa vũ khí vào chiến trường, mặc dầu kết quả rất hạn chế. Năm 1970, Đoàn 125 tổ chức 15 chuyến vận chuyển vũ khí cho chiến trường, chỉ có 5 chuyến vào được bến, 10 chuyến khác gặp địch phải quay lại. Đầu năm 1971 Đoàn tổ chức 4 chuyến đi xa bờ, song tất cả đều bị địch bám, phải quay trở lại.

Hai năm 1971-1972 là giai đoạn gian truân ác liệt của các chiến sĩ làm nhiệm vụ vận tải trên biển, thường xuyên phải chiến đấu với tàu địch và phải chịu nhiều tổn thất. Nhiều tàu phải phá hủy trước khi đến được mục tiêu, như tàu 645 do Thuyền trưởng  Lê Hà và Chính trị viên Nguyễn Văn Hiệu chỉ huy. Tàu 645 đã 2 lần nhổ neo, đều phải quay lại vì bị địch bám. Ngày 12 tháng 4 năm 1972 tàu lại ra khơi lần thứ 3. Khi tàu chuyển hướng vào bờ, cách Phú Quốc chừng 60 hải lý thì gặp tàu địch. Tàu 645 vừa cơ động ra xa vừa đánh trả địch quyết liệt. Khoảng 11 giờ ngày 23-4, một quả đạn lớn của địch trúng vào xích lái, tàu không còn điều khiển được. Nguyễn Văn Hiệu đề nghị Thuyền trưởng Lê Hà đưa anh em rời tàu, còn anh ở lại điểm hỏa huỷ tàu và anh dũng hi sinh.

Trận chiến đấu của tàu 645 đã kết thúc một phương thức, một giai đoạn vận chuyển oanh liệt của Đoàn 125 mười năm chi viện sức người và vũ khí cho chiến trường, để chuyển sang một phương thức vận chuyển mới, hoạt động công khai, chở vũ khí trên những con tàu đánh cá hợp pháp. Tháng 2 năm 1971, đã có 2 đội tàu sẵn sàng. Giữa tháng 3, một trong 2 đội tàu đó vượt biển ra Bắc an toàn. Ngày 21 tháng 7 năm 1971 Quân khu 9 đã thành lập đoàn vận tải bí mật, có mật hiệu S.950 (đến năm 1972 đổi tên là đoàn 371) thực hiện theo phương thức chuyển công khai với sự giúp đỡ, bổ trợ của Đoàn 125 trên nhiều mặt.

Trong thời gian từ 1971 đến 1972, Đoàn 125 có các tàu 525, 609, 646, 601… cùng đi làm nhiệm vụ với Đoàn 371. Các con tàu của Đoàn 125 đã dẫn dắt, hộ tống các chuyến đi của Đoàn 371 trong những vùng biển nguy hiểm, góp phần hoàn thành vận chuyển được 31 chuyến với 520 tấn vũ khí vào chiến trường khu 9.

Cuộc chiến đấu của quân và dân ta trên chiến trường càng diễn ra ác liệt, công tác vận chuyển càng đòi hỏi bức bách. Đoàn viên và thanh niên ở các địa phương đã táo bạo tổ chức đưa vũ khí đạn dược và cả thuốc men, lương thực ra tận chiến hào bằng nhiều phương thức trong mọi tình huống. Thanh niên Mỹ Tho-Gò Công (thuộc quân khu 9) lợi dụng những khía cạnh hợp pháp trong qui chế đi lại của địch để tổ chức những tuyến vận chuyển giữa ban ngày trên quốc lộ 4 (ngày nay là quốc lộ 1). Vũ khí, đạn dược, lương thực, thuốc men và cả thương binh đều được tập kết ở những điểm nhất định. Hàng ngày các đơn vị làm nhiệm vụ vận chuyển theo qui định đến các điểm hẹn nhận hàng và chuyển đi. Khi đi tất cả đều mặc áo trắng là dấu hiệu địch qui định hợp pháp khi đi lại trên đường. Với phương thức vận chuyển táo bạo đó, có thời gian đã phục vụ cả một trung đoàn quân giải phóng vẫn đảm bảo kịp yêu cầu chiến đấu. Nhiều vũ khí, đạn dược… trong đó có nhiều vũ khí, đạn dược được chuyển theo đường biển từ ngoài Bắc vào tập kết ở các bến thuộc vùng biển Gò Công được vận chuyển về căn cứ an toàn phục vụ cho những chiến dịch lớn.

***

Trước những thất bại hết sức nặng nề trên chiến trường miền Nam cũng như ở Lào và Campuchia, hòng cứu nguy cho ngụy quân, ngụy quyền từ tháng 4-1972 đế quốc Mỹ điên cuồng cho không quân đánh phá trở lại miền Bắc Việt Nam. Trường học, bệnh viện, nhà trẻ.. lại bị bom Mỹ tàn phá. Với tư thế “Ba sẵn sàng”, thanh niên công nhân một lần nữa lại sơ tán máy móc đến nơi an toàn, tiếp tục bám máy bám lò, tiếp tục tay búa, tay súng hiên ngang vừa sản xuất vừa đánh trả máy bay Mỹ. Thanh niên công nhân Quảng Ninh, Hải Phòng, Bắc Thái, Hà Nội và khắp các xí nghiệp, công trường khác đã nêu tấm gương sáng ngời về tinh thần chiến đấu hy sinh vì chủ nghĩa xã hội, vì miền Nam ruột thịt. Thanh niên công nhân vùng mỏ hiểu rõ “trong chiến đấu Tổ quốc cần than hơn bao giờ hết” đã thường xuyên bám hầm lò, phấn đấu thực hiện đi lò nhanh. Tuổi trẻ Hải Phòng bình tĩnh, gan dạ vượt qua lưới lửa phong toả của địch giữ vững sản xuất trong mọi tình huống. Trên các cầu cảng đoàn viên trong lực lượng tự vệ của cảng như Lâm Thị Chỉ, Nguyễn Văn Chiến, Đậu Ngọc Xuân… dũng cảm chiến đấu đánh trả máy bay địch, bảo vệ cảng, bảo vệ hàng.

Những ngày cuối tháng 12 năm 1972 đế quốc Mỹ điên cuồng cho máy bay B52 rải thảm xuống nhiều khu vực đông dân ở Thủ đô Hà Nội. Bệnh viện Bạch Mai bị trúng bom. Khu phố Khâm Thiên bị B52 rải thảm. Đồng ruộng Uy Nỗ (Đông Anh) bị bom Mỹ cày xới… Thanh niên Hà Nội đã ngẩng cao đầu. Một nữ dân quân ngoại thành khi nghe tin gia đình có người bị bom Mỹ sát hại, đang trực chiến, đã không rời trận địa. Cô nói với đồng đội đầy cương nghị: “Không được để nước mắt làm nhòa mặt kẻ thù”.

Cả Hà Nội hiên ngang làm nên một Điện Biên Phủ trên không, trở thành Thủ đô của lương tâm và phẩm giá con người. Trong 12 ngày đêm, Hà Nội đã nêu một kỷ lục về diệt máy bay: bắn rơi 81 chiếc, trong đó có 34 chiếc máy bay chiến lược B52 và 5 máy bay cánh cụp cánh xoè F111. Tự vệ nhà máy xay, với đơn vị thanh niên tự vệ trang bị súng 12,7 ly, cảnh giác cao đã hạ cánh cụp cánh xoè tại chỗ.

Cả Hà Nội vào trận, tầng thấp, tầng cao, lưới lửa chăng dày đón đánh địch từ mọi hướng, mọi tầm. Trên các trận địa tên lửa, trên các sân bay dã chiến, nhiều chiến sĩ trẻ lần đầu giáp trận với siêu pháo đài bay B52 đã phát huy cao độ chủ nghĩa anh hùng cách mạng, nổ súng kịp thời tiêu diệt địch. Trắc thủ tính toán Dương Nhật Thăng, vốn là sinh viên Trường Đại học Ngoại giao nhập ngũ chưa bao lâu được chuyển về phân đội 9 bộ đội tên lửa đã đánh địch liên tục mấy trận liền, không để một lần sai sót. Sĩ quan điều khiển Nguyễn Đình Kiên, 3 đêm thức trắng, vẫn tỏ ra tỉnh táo khi bắt gặp mục tiêu B52. Anh đã cùng với các trắc thủ cự ly Mè Văn Thi, trắc thủ phương vị Nguyễn Xuân Đài, trắc thủ góc tà Ngô Văn Lịch và các đoàn viên Lê Anh Chiến, Đỗ Xuân Thanh, Nguyễn Văn Vọng,v.v… hiệp đồng chặt chẽ, bắn rơi máy bay B52 khi chúng xâm phạm vùng trời Hà Nội. Phi công Phạm Tuân, người sau này trở thành phi công vũ trụ đầu tiên của Việt Nam trong chuyến bay hợp tác Xô-Việt, bằng máy bay chiến đấu Míc đã bắn hạ máy bay chiến lược B52 của Mỹ, đem lại vinh quang và niềm tự hào chính đáng cho những phi công trẻ tuổi Việt Nam.

Trong 12 ngày đêm Hà Nội hiên ngang đối đầu với siêu pháo đài bay B52, tuổi trẻ Hà Nội không chỉ chiến thắng từ trên những tầm cao hoả lực. Từ mỗi góc phố, mỗi cơ quan, xí nghiệp, công trường… tuổi trẻ Hà Nội đã luôn tỏ rõ khí thế lẫm liệt của thế hệ thanh niên “Ba sẵn sàng” từng được thử thách dày dạn.

Đoàn viên và thanh niên Nhà máy Điện Yên Phụ một lần nữa lại tình nguyện làm người cảm tử bảo vệ dòng điện. Đội thanh niên cảm tử gồm 70 đoàn viên và thanh niên được thành lập với lời thề dưới cờ Tổ quốc và cờ Đảng: “Xin dâng trọn tuổi Đoàn để bảo vệ dòng điện của Thủ đô!”

Trong suốt 12 ngày đêm chiến đấu quyết liệt đánh trả liên tiếp mấy chục đợt tấn công điên cuồng của máy bay Mỹ, dòng điện từ Nhà máy Điện Yên Phụ vẫn liên tục phát sáng. Mỹ dùng cả bom lade đánh vào nhà máy. Các chiến sĩ trong đội cảm tử bảo vệ dòng điện lấy máu mình viết lên khẩu hiệu để phấn đấu làm theo: “Tim có thể ngừng đập, nhưng dòng điện không thể nào tắt!”. Đặng Đức Thọ, Vũ Xuân Hoà, 2 đoàn viên trong đội cảm tử đang làm nhiệm vụ vận hành máy, máy bay Mỹ đến đánh phá, các anh vẫn không chịu rời vị trí. Cuối cùng cả 2 anh đều hy sinh, nhưng dòng điện của Thủ đô vẫn sáng.

Chiến công vẻ vang của đoàn viên, thanh niên và quân dân Hà Nội hoà cùng chiến công chung của quân và dân cả nước đã buộc đế quốc Mỹ phải ký kết Hiệp định Pari, công nhận chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của nước Việt Nam thống nhất. Cuộc chiến đấu của quân và dân ta bước vào một thời kỳ mới, đầy thử thách cam go và giành thắng lợi quyết định.

***

Hiệp định Pari về Việt Nam được ký kết (1-1973), đế quốc Mỹ buộc phải rút hết quân Mỹ và quân chư hầu ra khỏi miền Nam Việt Nam, cam kết tôn trọng các quyền dân tộc cơ bản của nhân dân Việt Nam là độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ: cam kết tôn trọng quyền tự quyết của nhân dân miền Nam Việt Nam, chấm dứt sự dính líu quân sự và can thiệp vào nội bộ miền Nam Việt Nam. Nhưng với bản chất hiếu chiến và xâm lược, đế quốc Mỹ vẫn không chịu từ bỏ chính sách cơ bản của chúng ở Việt Nam là thực hiện “học thuyết Níchxơn”, áp đặt chủ nghĩa thực dân mới, âm mưu chia cắt lâu dài nước ta. Trước khi rút quân, đế quốc Mỹ đã đưa thêm vào miền Nam nước ta 700 máy bay các loại, 500 khẩu pháo, 400 xe tăng, xe bọc thép các loại, nhiều tàu chiến và tăng dự trữ vật tư chiến tranh lên mức cao nhất, tới gần 2 triệu tấn. Sau khi rút quân, đế quốc Mỹ còn duy trì một lực lượng mà chúng gọi là “lực lượng răn đe” ở Đông Nam á gồm không quân, hải quân, hàng loạt nhân viên quân sự Mỹ đội lốt dân sự được để lại ở miền Nam nước ta.

Được đế quốc Mỹ hà hơi tiếp sức, Hiệp định Pari vừa ký chưa ráo mực, Nguyễn Văn Thiệu đã hò hét “tràn ngập lãnh thổ”, tập trung lực lượng thực hiện các “kế hoạch bình định 3 năm 1973-1975”, “kế hoạch bình định 6 tháng”, “kế hoạch quân sự Lý Thường Kiệt”, “Kế hoạch xây dựng quân đội 1974-1979”, v.v… Riêng trong năm 1973 Mỹ-Thiệu đã tổ chức vây bắt 240.000 thanh niên đưa vào các sắc lính, thực hiện đôn quân một cách trắng trợn, và đến cuối năm, lực lượng quân ngụy đã lên tới trên 700.000 tên, cộng với 1.500.000 tên trong lực lượng địa phương, bảo an, phòng vệ dân sự có vũ trang. Chúng hò hét “bắn bỏ” tất cả những ai đấu tranh đòi thi hành Hiệp định Pari, đòi dân sinh, dân chủ. Hàng vạn người yêu nước, mong muốn hoà bình bị chúng bắt vào tù sau ngày Hiệp định Pari được ký kết, chưa kể số 200.000 tù chính trị và 15.000 tù quân sự bị chúng giam giữ trái phép không chịu trao cho Chính phủ Cách mạng lâm thời miền Nam Việt Nam như hiệp định đã quy định.

Với thủ đoạn nham hiểm không cho đối phương kịp trở tay, khi các đại biểu của Mỹ-Thiệu vừa bước ra khỏi phòng họp ở phố Klê-be (Pari) thì ở miền Nam chúng tung ra một lực lượng đánh phá điên cuồng các căn cứ “lõm” của ta trong vùng chúng kiểm soát, lấn chiếm các vùng đã được giải phóng trước ký hiệp định. Chỉ trong 11 tháng của năm 1973, địch đã sử dụng 60% quân chủ lực và toàn bộ lực lượng vũ trang địa phương, mở trên 360.000 cuộc hành quân lớn, nhỏ lấn chiếm và tiến công với lực lượng lớn vào các vùng giải phóng của ta như Sa Huỳnh, Bắc Kon-Tum, Chư Nghé, Kiên Đức, Quảng Đức, Nam Bắc lộ 4 ở Mỹ Tho, Chương Thiện, Núi Dài, Tri Tôn,v.v… Mọi hành động đánh phá điên cuồng của chúng đều nhằm xoá bỏ trạng thái hai vùng, hai quân đội, hai chính quyền, biến miền Nam thành một vùng do chúng tự do kiểm soát, tự do kìm kẹp.

Nhận rõ bản chất của kẻ địch, BCH Trung ương Đảng (khoá III) trong Hội nghị lần thứ 21, tháng 10 năm 1973, đã chỉ ra rằng: “Con đường cách mạng của miền Nam là con đường bạo lực cách mạng. Bất kể trong tình hình nào, ta cũng phải nắm vững thời cơ, giữ vững đường lối chiến lược tiến công và chỉ đạo linh hoạt để đưa cách mạng miền Nam tiến lên. Phát triển thực lực của cách mạng, là yêu cầu vừa bức thiết vừa cơ bản trong giai đoạn mới”.

Theo lời kêu gọi của Đảng, ý thức đầy đủ trách nhiệm của thế hệ trẻ trước vận mệnh của Tổ quốc, hàng triệu đoàn viên và thanh niên trong cả nước đã tham gia đợt sinh hoạt chính trị về tình hình và nhiệm vụ, đồng thời siết chặt hàng ngũ thực hiện sứ mệnh lịch sử là đội quân xung kích cách mạng trên mọi trận tuyến, chiến đấu và xây dựng, cùng toàn Đảng, toàn quân, toàn dân bước vào giai đoạn chuẩn bị với qui mô chưa từng có, nhằm đưa sự nghiệp cách mạng lâu dài và gian khổ của nhân dân ta đến thắng lợi quyết định.

Trên miền Bắc xã hội chủ nghĩa, phong trào lao động sản xuất, nhằm hàn gắn vết thương chiến tranh, chi viện cho tiền tuyến lớn được đẩy mạnh. Đoàn viên và thanh niên ở hầu khắp các cơ sở đều sôi nổi thi đua hoàn thành vượt mức kế hoạch. Thành Đoàn Hà Nội phát động rộng rãi phong trào “lao động tình nguyện”. Tổng đội “Thanh niên tình nguyện xây dựng Thủ đô” được thành lập đảm nhận nhiều công trình, phần việc khó khăn nhằm khôi phục lại những công trình bị địch đánh phá hư hỏng. Thanh niên trong các cơ sở sản xuất thực hiện ngày giờ công cao, đăng ký phấn đấu tăng năng suất, hoàn thành vượt mức kế hoạch, xây dựng phong cách lao động mới. Nhiều công trình thanh niên, lò, máy, xe thanh niên, tổ sản xuất thanh niên, quầy hàng thanh niên… được triển khai, thu hút đông đảo đoàn viên và thanh niên tham gia. Cung Đình Phú và nhiều đoàn viên và thanh niên  khác ở Nhà máy Cơ khí Hà Nội (nay là Nhà máy Công cụ số 1), thường xuyên phát huy sáng kiến, cải tiến kỹ thuật, hợp lý hoá sản xuất đã hoàn thành kế hoạch năm trước thời gian 120 ngày. Thi đua với Cung Đình Phú, năm 1974 riêng ở Hà Nội đã có hơn sáu ngàn đoàn viên và thanh niên hoàn thành kế hoạch được giao trước thời hạn từ 15 ngày đến 6 tháng.

Đánh giá cao những cống hiến xuất sắc của tuổi trẻ, tháng 6 năm 1973, Ban Chấp hành Trung ương Đoàn đã tổ chức Đại hội tổng kết phong trào “Ba sẵn sàng” toàn miền Bắc. Đại hội đã qui tụ hàng trăm bông hoa tiêu biểu cho hàng vạn tập thể và cá nhân từng lập nên những sự tích kỳ diệu trong sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước của toàn dân, như Nguyễn Trí Ân, Hồ Thị Thu Hiền, Ngô Thị Sửu… Trong báo cáo tổng kết phong trào, đồng chí Vũ Quang, Bí thư thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương Đoàn đã rút ra những bài học sinh động về nghệ thuật phát động, chỉ đạo phong trào, vai trò của tổ chức Đoàn đối với một phong trào quần chúng rộng lớn diễn ra trong một thời gian dài, trên nhiều lĩnh vực của cuộc sống chiến đấu, sản xuất, học tập và rèn luyện.

Đại hội vinh dự được Chủ tịch Tôn Đức Thắng đến dự và đánh giá cao phong trào cách mạng của tuổi trẻ. Bác Tôn nói: “Trong những năm chống Mỹ, cứu nước, phong trào “Ba sẵn sàng” của thanh niên miền Bắc, cùng với phong trào “Năm xung phong” của thanh niên miền Nam đã góp phần to lớn vào thắng lợi vĩ đại của dân tộc ta… Nhiều tấm gương anh dũng tuyệt vời của thanh niên ta cho độc lập, tự do và chủ nghĩa xã hội, mãi mãi sáng ngời để cho mọi người noi theo”.

Nói chuyện với Đại hội, đồng chí Trường Chinh, ủy viên Bộ Chính trị, thay mặt Ban Chấp hành Trung ương Đảng, đã khẳng định: “Một trong những thành quả to lớn của cao trào chống Mỹ, cứu nước là đào tạo thanh niên “Ba sẵn sàng” thành lớp người kế tục trung thành và xuất sắc sự nghiệp vĩ đại của Đảng ta và của Hồ Chủ tịch, góp phần thực hiện lời căn dặn thiết tha của Người: “Bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau là một việc rất quan trọng và rất cần thiết”. Đồng chí đánh giá: “Phong trào “Ba sẵn sàng” thật sự là một phong trào cách mạng rộng lớn của quần chúng thanh niên, là chiến trường lập công của tuổi trẻ, là trường học bồi dưỡng một thế hệ thanh niên anh hùng của dân tộc Việt Nam anh hùng”.

Đồng chí Trường Chinh, thay mặt Ban Chấp hành Trung ương Đảng trao tặng thanh niên lá cờ mang dòng chữ: “Thanh niên hăng hái tiến lên hàng đầu trong chiến đấu, lao động, học tập và xây dựng cuộc sống mới”.

Ban Chấp hành Trung ương Đoàn coi đó là khẩu hiệu hành động của tuổi trẻ trong giai đoạn cách mạng mới. Tháng 2-1974, để kịp thời chỉ đạo phong trào hành động cách mạng của thanh niên, trong khi chưa có điều kiện tổ chức Đại hội, Ban Chấp hành Trung ương Đoàn quyết định triệu tập Hội nghị đại biểu Đoàn TNLĐ Hồ Chí Minh. Kể từ Đại hội lần thứ III (1961) đến Hội nghị đại biểu lần này vừa tròn 13 năm. Nhiều sự kiện đã diễn ra và Đoàn ta đã có những đóng góp xứng đáng. Hội nghị đại biểu của Đoàn đã khẳng định nhiệm vụ trong giai đoạn mới: “Giáo dục, động viên, tổ chức và phát huy vai trò xung kích của thanh niên trong phong trào lao động sản xuất, cần kiệm xây dựng chủ nghĩa xã hội, trong củng cố quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc, trong học tập và xây dựng cuộc sống mới, con người mới xã hội chủ nghĩa”.

Hội nghị đã tiến hành bầu bổ sung một số đồng chí vào Ban Chấp hành, Ban Thường vụ và Ban Bí thư Trung ương Đoàn theo tinh thần từng bước trẻ hoá đội ngũ cán bộ Đoàn như Nghị quyết 26 của Ban Chấp hành Trung ương Đoàn (Khoá III) đã đề ra.

Trước đó, tháng 7-1973, Đại hội Đại biểu Đoàn thanh niên nhân dân cách mạng lần thứ II đã được tiến hành tại vùng căn cứ Tây Ninh. Tại Đại hội, Đảng nhân dân cách mạng Việt Nam đã trao cho tổ chức Đoàn, tổ chức Đội và phong trào của tuổi trẻ 2 lá cờ thêu dòng chữ: “Thế hệ anh hùng, thắng Mỹ vẻ vang, thanh niên anh hùng tiến lên” và “Phát huy truyền thống dân tộc anh hùng, tiếp tục sự nghiệp Bác Hồ vĩ đại, thiếu niên hãy sẵn sàng”. Đại hội đã tập trung trí tuệ đánh giá công tác tổ chức chỉ đạo phong trào “Năm xung phong” trong toàn miền và quyết định phát động phong trào “Ba xung phong giành giữ hoà bình”, bao gồm:

- Xung phong đấu tranh chính trị.

- Xung phong tham gia xây dựng lực lượng vũ trang.

- Xung phong xây dựng vùng giải phóng và căn cứ địa cách mạng.

Đồng chí Phan Minh Tánh được bầu làm Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đoàn.

Dưới ánh sáng Nghị quyết hội nghị lần thứ 21 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (họp tháng 10-1973), Ban Thường vụ Trung ương Đoàn TNND cách mạng đã họp và ra nghị quyết động viên đoàn viên và thanh niên tiến lên hàng đầu trong cuộc chiến đấu của toàn dân, đẩy mạnh tiến công và nổi dậy, giữ vững và phát huy thế chủ động chiến lược, làm chuyển biến cục diện chiến trường.

Từ đầu năm 1974, cùng với việc phản công làm thất bại kế hoạch “bình định”, “tràn ngập lãnh thổ” của địch, mở rộng thêm nhiều vùng giải phóng, đặc biệt giải phóng hoàn toàn tỉnh Phước Long, dồn địch vào thế bị động, lúng túng… hàng chục vạn đoàn viên và thanh niên đã hăng hái gia nhập quân đội góp phần nhanh chóng xây dựng các binh đoàn chủ lực có đủ các binh chủng kỹ thuật, là bước trưởng thành mới của quân đội nhân dân Việt Nam, đáp ứng đòi hỏi của cuộc chiến đấu trong giai đoạn mới. Pháo cơ giới tầm xa, tên lửa và những xe tăng loại tốt lần đầu tiên có mặt trên các chiến trường Nam Bộ.

Công việc chuẩn bị cho trận quyết chiến chiến lược ngày càng hết sức khẩn trương. Với quyết tâm “tranh thủ từng giờ mở thêm đường mới”, 35.000 đoàn viên và thanh niên trong lực lượng TNXP chống Mỹ, cứu nước (Nhiệm kỳ 3) cùng với các chiến sĩ binh đoàn Trường Sơn đã lao động quên mình mở thêm hàng ngàn kilômét đường. Con đường chiến lược Đông Trường Sơn được mở ra những năm trước được nâng cấp, nối liền đường 9 Quảng Trị vào đến miền Đông Nam Bộ. Đến đầu năm 1975 tổng số chiều dài đường chiến lược và chiến dịch lên tới trên 20.000 km. Chiến công mở đường của tuổi trẻ đã được BCH Trung ương Đảng khen ngợi.

Dọc theo đường chiến lược Đông Trường Sơn còn có hệ thống 5.000 km đường ống dẫn dầu kéo dài từ Quảng Trị qua Tây Nguyên tới Lộc Ninh, đủ sức tiếp tế xăng dầu cho hàng chục nghìn xe các loại vào ra trên đường. Các chiến sĩ thông tin trẻ tuổi cũng góp phần to lớn kéo dài đường dây thông tin hữu tuyến từ Hà Nội tới Lộc Ninh đảm bảo trong bất kỳ tình huống nào cũng có thể truyền đạt được chỉ thị của Trung ương đến mọi chiến trường.

Ở các địa phương trên chiến trường miền Nam tình hình có những chuyển biến mau lẹ. Nhiều cuộc đấu tranh của thanh niên học sinh, sinh viên nổ ra thu hút nhiều tầng lớp nhân dân cùng tham gia. Ngày 16-3-1974 hàng ngàn học sinh, sinh viên cùng lực lượng trí thức, nhân sĩ, tôn giáo bất ngờ tập trung tại chợ Bến Thành, rải truyền đơn đòi trả tự do cho sinh viên Huỳnh Tấn Mẫm và tù chính trị đang bị giam giữ. Ngày 25-8-1974 các tầng lớp thanh niên Sài Gòn lại tổ chức tưởng niệm nữ sinh Quách Thị Trang, thu hút cả nhiều dân biểu và trí thức cùng tham dự, sau đó tuần hành qua các phố lớn. Ngày lễ Nôen, 24-12-1974, 11.000 sinh viên công giáo tập hợp trong “ủy ban hành động cho công bằng xã hội” tổ chức mít tinh tại nhà thờ dòng Chúa cứu thế và nhà thờ Vườn Xoài, chống bắt sinh viên đi lính.

Nhiều vùng giải phóng được mở rộng. ở những nơi này đã xuất hiện lực lượng “thanh niên bảo vệ vùng giải phóng” được trang bị vũ khí vừa làm nhiệm vụ đánh địch vừa đảm bảo an ninh trật tự cho nhân dân. Tổ chức Đoàn ở nhiều địa phương được củng cố và phát triển. ở Nam Bộ đến tháng 12-1974 chỉ còn từ 18-20% ấp “trắng” chưa có đoàn viên (2.000 ấp trong tổng số 11.000 ấp). Tây Nam Bộ có 2.025 ấp thì 1.490 ấp có tổ chức Đoàn, chiếm 73%. Trung Nam Bộ, trong 479 xã, có 276 xã có tổ chức Đoàn xã, 96 xã có chi đoàn và đoàn viên, 107 xã còn “trắng” cơ sở Đoàn. Đợt phát triển đoàn viên nhân ngày Đoàn được mang tên Bác Hồ, Nam Bộ có thêm 10.000 đoàn viên mới (không kể số đoàn viên trong lực lượng vũ trang), nâng tổng số đoàn viên năm 1974 lên 42.000.

Các cơ sở Đoàn có nhiều hoạt động thiết thực chuẩn bị đón nhận thời cơ chiến lược. Đáng chú ý là phong trào tòng quân, đi dân công phục vụ chiến trường diễn ra sôi nổi ở khắp các địa phương. Cuối năm 1973, riêng Củ Chi đã có trên 3.000 thanh niên tòng quân. ở Mỹ Tho- Gò Công, những ngày cao điểm có từ 3.000 đến 5.000 lượt thanh niên tham gia phục vụ chiến đấu. Riêng tháng 4-1975, có trên 40.000 lượt thanh niên trong tỉnh đi dân công phục vụ trên các mặt trận.

Ở nhiều nơi, phòng vệ dân sự của địch hầu hết bị rã, chỉ còn lại vùng yếu, thị xã, thị trấn, song thường xuyên cũng bị đánh phá , hiệu lực hoạt động không đáng kể, kể cả lực lượng phòng vệ xung kích. Lợi dụng tình hình kẻ địch đang hoang mang ta bố trí một số thanh niên nòng cốt và đoàn viên vào trong tổ chức phòng vệ của chúng chờ thời cơ hành động. Thị Đoàn Cai Lậy đã đưa được 15 đoàn viên vào tổ chức phòng vệ dân sự của địch. Chính lực lượng này trong dịp 30 tháng 4 năm 1975 đã tước súng và giải tán trên 100 phòng vệ dân sự, thu gần 70 súng, khi lực lượng ta chưa kịp vào tiếp quản thị trấn.

***

Nắm vững thời cơ, thực hiện quyết tâm của Bộ Chính trị BCH Trung ương Đảng, 2 giờ sáng ngày 10 tháng 3 năm 1975, các chiến sĩ ta đã nổ súng đánh chiếm Buôn Ma Thuột, mở đầu cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975. Nhiều chiến sĩ trẻ lần đầu ra trận đã ngoan cường cùng đồng đội đánh chiếm từng mục tiêu, chặn đánh từng đoàn xe địch. Bằng 2 phát đạn B40 chiến sĩ trẻ Triệu Kim Thành đã bắn cháy 2 xe M113. Các chiến sĩ trẻ Thắng, Hoà, Nguyên cũng dùng súng M72 lấy được của địch, bắn gục từng chiếc M113 đi đầu. Bọn địch hoang mang bỏ chạy. Trận địa được giữ vững.

Ngay từ giờ phút đầu của cuộc tiến công, đồng bào thị xã Buôn Ma Thuột, đặc biệt là anh chị em thanh niên các dân tộc, được sự hướng dẫn của các cơ sở cách mạng, đã nổi dậy giành quyền làm chủ, giúp sức đắc lực bộ đội truy quét địch, tiếp đạn, tải thương, phát hiện kho tàng và nơi ẩn náu của địch. Nhiều tổ thanh niên vũ trang đã phối hợp cùng bộ đội truy kích, gọi hàng hàng trăm tên giặc, bắt hàng chục tên ác ôn đầu sỏ.

Cùng với đòn tiến công chiến lược ở Buôn Ma Thuộc, thực hiện chỉ thị của Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương, các lực lượng vũ trang của ta tích cực bao vây Plâycu, tháo chạy khỏi Tây Nguyên. Quyết tâm không cho chúng chạy thoát, các chiến sĩ ta động viên nhau: “Đi nhanh cho đến, đánh nhanh cho thắng”. Phối hợp chặn đánh địch còn có những người con của núi rừng Tây Nguyên, như đội du kích của anh hùng Pui Thu, từng diệt xe bọc thép địch trên đường, bắn rơi máy bay, giải phóng một lúc 13 ấp. Và Y Len, một cô gái người dân tộc 19 tuổi, chỉ huy một đại đội vận tải, trong điều kiện nào cũng có mặt cõng trên vai hàng trăm kilôgam hàng. Trước khi đi chiến đấu, Y Len được mẹ trao cho một chiếc gùi và một ống nứa trong có đựng hình Bác Hồ, kỷ niệm của người cha thân yêu để lại. Y Len luôn mang theo hình ảnh Bác Hồ bên mình khi đi làm nhiệm vụ, với một tâm niệm: “Đi cách mạng để đền ơn Bác Hồ”.

Bằng một cố gắng phi thường, thanh niên cùng quân và dân ta đã chốt chặt con đường tháo chạy của địch và đã tạo ra bước ngoặt của cuộc chiến.

Khi mặt trận Tây Nguyên nổ súng thì ở Trị-Thiên-Huế và Quảng Nam-Đà Nẵng nhiều hoạt động phối hợp cũng được mở ra. Các chiến sĩ trong các đơn vị bộ đội địa phương, cùng với hơn 100 đội công tác vũ trang được tuyển chọn trong những cán bộ, đoàn viên, thanh niên ưu tú, đã thọc xuống các vùng sâu, vừa chuẩn bị chiến trường, vừa mở cuộc tiến công từ trong lòng địch, làm cho địch rất hoang mang. Ngày 19-3-1975, chính các lực lượng vũ trang địa phương và các đội vũ trang công tác này đã đón đúng thời cơ, táo bạo tổ chức cuộc tiến công giải phóng thị xã Quảng Trị, và sau đó giải phóng toàn bộ tỉnh Quảng Trị.

Tuổi trẻ thành phố Huế dưới sự lãnh đạo trực tiếp của thành ủy, đã khẩn trương chuẩn bị cho cuộc nổi dậy. Nhiều mũi công tác đã luồn sâu vào các khu dân cư phát động quần chúng. Nhiều đơn vị tự vệ thanh niên, sinh viên, học sinh giải phóng đã được cấp tốc thành lập. Đúng vào ngày kỷ niệm Hai Bà Trưng, đoàn công tác xã hội nữ sinh viên liên khoa Huế (một tổ chức hợp pháp được thành lập từ năm 1973) đã tổ chức một cuộc mít tinh lớn ở sân trường đại học sư phạm, với lời kêu gọi thiết tha: “Thành phố này mãi mãi là của chúng ta!”. Cùng thời gian đó, theo lệnh của thành ủy, một đơn vị tự vệ của sinh viên bí mật đến chốt tại trụ sở “sinh viên vụ” số 15 Phan Đình Phùng, và sau đó, 3 tổ tự vệ khác đến chốt ở 3 ngôi nhà cao tầng để giữ 3 cây cầu bắc qua sông An Cựu. Khi bộ đội chủ lực chọc thủng tuyến phòng thủ Mỹ Chánh, đập nát tuyến phòng thủ Phú Bài, cắt đứt đường bộ và đường biển ở cửa Thuận An, nhiều tổ tự vệ thuộc các đơn vị của Thành Đoàn Huế đã cải trang mặc áo lính ngụy, mang súng M16 bắt đầu xuất hiện kiểm soát những nơi xung yếu trong thành phố, chờ thời cơ phối hợp với bộ đội chủ lực nổi dậy đánh chiếm thành phố.

Thường vụ thành ủy Huế chỉ thị cho Thành Đoàn thanh niên triển khai toàn bộ lực lượng cùng nhân dân chuẩn bị sẵn sàng. Thành Đoàn phát lời kêu gọi các binh sĩ trẻ trong quân đội ngụy: “Con đường thoát của các bạn không phải là Đà Nẵng hay Sài Gòn mà là con đường về với đồng bào và cách mạng. Hãy nhận rõ thời cơ ngàn năm có một quay súng lập công chuộc tội!”. Truyền đơn được in ngay, tung vào những nơi có đông binh sĩ ngụy tụ tập.

Cuộc chiến đấu giải phóng thành phố Huế đặc biệt diễn ra ác liệt ở sân bay Đồng Tâm. Bọn địch ngoan cố co cụm lại chống cự. Từ 3 hướng, xe tăng cùng bộ binh quân giải phóng áp sát. Vũ Văn Mai dẫn đầu mũi tiến công của phân đội 1, cho xe mình vọt lên, gặp một cụm xe tăng M48 của địch án ngự, Mai ra lệnh dùng đạn xuyên tiêu diệt ngay một chiếc. Hầu như cùng lúc xe tăng ta đều nhả đạn,4 xe địch bốc cháy. Thi đua với các chiến sĩ xe tăng, một mũi đột kích của bộ binh, toàn các chiến sĩ trẻ, đã diệt gọn một tốp xe tăng địch khi chúng tìm đường tháo chạy.

Trong khi ở quân khu 5 nhận được chỉ thị của Quân ủy Trung ương và Bộ Tổng tư lệnh các lực lượng vũ trang giải phóng đã đồng loạt mở cuộc tấn công về hướng Bắc nhằm mục tiêu giải phóng Đà Nẵng, thành phố lớn thứ hai ở miền Nam mà quân địch đang co cụm cố sức chống đỡ.

Phối hợp với các cánh quân từ ngoài đánh vào, Đảng bộ Quảng Nam-Đà Nẵng đã khẩn trương chuẩn bị tổ chức lực lượng nổi dậy. Hàng trăm cán bộ, đoàn viên thanh niên đã được bố trí luồn sâu vào sau lưng địch, móc nối với lực lượng bí mật tại chỗ trong thành phố, đặc biệt là các cơ sở thanh niên trong các trường học, xưởng máy. ở nhà máy điện Liên Trì, thanh niên đã cùng với các công nhân lớn tuổi tổ chức thành đội ngũ, làm việc liên tục 12 giờ một ngày, với khẩu hiệu: “bám nhà máy duy trì sản xuất phục vụ nhân dân, đón chờ cách mạng”. Nhiều đơn vị tự vệ đã được bí mật thành lập, trang bị ngay bằng các vũ khí lấy được của địch.

Để làm tan rã tinh thần binh lính địch đang hoang mang cực độ, nhất là bọn tàn binh từ Huế, Quảng Trị và các nơi khác chạy về, đoàn viên và thanh niên ở các cơ sở đã tổ chức thành nhiều nhóm công tác, đi tuyên truyền, kêu gọi lính ngụy bỏ ngũ về nhà. 3.200 lính mới ở căn cứ Hoà Cầm, đã nổi dậy đấu tranh quyết liệt với bọn chỉ huy, phá bỏ căn cứ, chạy sang hàng ngũ cách mạng. Khi những quả đạn pháo lớn của quân giải phóng nã vào sân bay Đà Nẵng, căn cứ Hoà Khánh, nơi đóng Bộ tư lệnh quân đoàn 3 ngụy, cảng Sơn Trà… hàng ngàn người bị địch bắt giam ở nhà lao Non Nước đã nổi dậy diệt ác, phá nhà lao.

Ngày 26-3-1975, sư đoàn 2, quân khu V, do Anh hùng Nguyễn Chơn chỉ huy, chọc một mũi sắc nhọn giải phóng Tiên Phước, Phước Lâm rồi Tam Kỳ và tiến đánh vào phía Nam thành phố Đà Nẵng. Ngày hôm sau từ phía Bắc, đoàn Thành Nam vừa góp phần tiêu diệt địch ở quận lỵ Phú Lộc, đã nhanh chóng vượt qua đèo Hải Vân, diệt căn cứ chốt chặn của địch ở Lăng Cô, sau đó phối hợp với một đơn vị xe tăng tiến vào từng hốc đá dọc bán đảo ngoan cố chống lại bộ binh và xe tăng của ta. Một tổ chiến đấu của đại đội 3 đoàn Ba Gia do Hoàng Xuân Công dẫn đầu đã xông ra giữa cầu Trịnh Minh Thế, lợi dụng từng thanh dầm đánh trả địch. Công bị đạn địch xuyên thủng bàn tay. Anh tự băng bó lấy và tiếp tục áp sát địch. Cùng lúc xe tăng ta vượt qua cầu. Bọn địch hốt hoảng xô nhau chạy. Cả bọn nhân viên kỹ thuật trên các trạm rađa của không quân và hải quân ngụy trên đỉnh núi Sơn Trà đang điều khiển máy bay lên xuống cũng hốt hoảng bỏ cả hồ sơ, tài liệu chạy tháo thân.

Sau 30 giờ chiến đấu quyết liệt, kể từ lúc mở cuộc tiến công vào thành phố, các lực lượng vũ trang giải phóng đã cùng thanh niên và nhân dân Đà Nẵng tiêu diệt và làm tan rã 100.000 quân ngụy, giải phóng hoàn toàn Đà Nẵng - một căn cứ liên hợp mạnh của địch.

***

Ngày 25-3-1975, sau những chiến thắng dồn dập của quân và dân ta, tại Thủ đô Hà Nội, Bộ Chính trị Trung ương Đảng đã họp phiên lịch sử, khẳng định “thời cơ chiến lược mới đã đến, ta có điều kiện hoàn thành sớm quyết tâm giải phóng miền Nam”. Bộ Chính trị chủ trương tập trung nhanh nhất lực lượng, binh khí kỹ thuật và vật chất, giải phóng Sài Gòn trước mùa mưa.

Toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ở cả 2 miền Nam - Bắc quyết biến quyết tâm của Bộ Chính trị Trung ương Đảng thành hiện thực, giành thắng lợi cuối cùng. Hàng chục vạn đoàn viên và thanh niên, kể cả những thanh niên ở vùng mới giải phóng, xung phong gia nhập quân đội, góp phần xây dựng những đơn vị mới, kịp thời bổ sung cho chiến trường.

Các tỉnh ở hậu phương lớn miền Bắc phần lớn đều được giao chỉ tiêu tuyển quân gấp 2 lần những năm trước. Nhưng ngay trong đợt giao quân đầu năm tất cả các tỉnh đều hoàn thành chỉ tiêu giao quân cả năm. Nhiều thanh niên học sinh ở Hà Nội và ở nhiều địa phương khác đã tạm ngừng việc học tập để kịp lên đường chiến đấu.

Ở Tây Ninh, tất cả thanh niên khối cơ quan, đoàn thể tỉnh, huyện đều tình nguyện gia nhập lực lượng vũ trang. Chỉ trong 20 ngày, từ 4-4 đến 24-4-1975 đã có trên 3.000 thanh niên nhập ngũ, biên chế thành 9 tiểu đoàn mới (trong đó có 2 đại hội thanh niên tín đồ Cao Đài). Lực lượng tỉnh lúc này có 12 tiểu đoàn và nhiều đại đội độc lập ở các huyện. ở các xã lực lượng du kích đều có từ trung đội đến đại đội, đã tự lực giải phóng quê hương.

Tại miền Tây Nam Bộ, khu Đoàn đã huy động 30 ủy viên Ban Chấp hành và cán bộ chủ chốt xuống tăng cường cho thành phố Cần Thơ và các tỉnh Rạch Giá, Cà Mau, Bạc Liêu, Sóc Trăng, Trà Vinh, Long Châu Hà. Các tỉnh đã huy động hàng trăm cán bộ Tỉnh Đoàn tăng cường xuống các huyện. Hàng trăm cán bộ huyện Đoàn được tăng cường xuống các xã, phát động thanh niên tòng quân và nổi dậy. Chỉ hơn 10 ngày, toàn khu đã có 8.311 thanh niên tòng quân, 286 thanh niên được bổ sung cho chủ lực khu, 3.570 đoàn viên, thanh niên tham gia bộ đội tỉnh, số còn lại tham gia chủ lực huyện và lực lượng an ninh vũ trang.

ở Mỹ Tho - Gò Công, Đoàn thanh niên đã khẩn trương phân công hầu hết cán bộ đi về cơ sở chỉ đạo phong trào. Các tổ chức Đoàn ở cơ sở được kiện toàn, khẩn trương xây dựng lực lượng không lộ, xây dựng địa bàn bám trụ, tạo điều kiện để các lực lượng cách mạng đứng chân, hỗ trợ quần chúng nổi dậy giải phóng thị xã, thị trấn.

Trên các nẻo đường ra trận, tuổi trẻ đã sống những ngày sôi động. “Thần tốc, táo bạo, bất ngờ, chắc thắng”. Quân đi như nước chảy, xe chạy gần như chỉ có một chiều: tiến về phía Nam.

Ngày 14-4-1975, cuộc phòng thủ tiền tiêu của địch ở Phan Rang bị tiến công. Suốt 2 ngày đêm ròng rã, ta và địch giành nhau từng vị trí, các chiến sĩ trẻ, có người chỉ mới vừa tròn một tháng tuổi quân, đã nêu cao tinh thần chiến đấu dũng cảm, ngoan cường, một mình xông lên tiêu diệt hoả điểm địch, tạo điều kiện cho đồng đội đánh bật địch ra khỏi từng ổ đề kháng.

Cùng ngày 14 tháng 4, Bộ Chính Trị Trung ương Đảng đồng ý chiến dịch giải phóng Sài Gòn lấy tên là Chiến dịch Hồ Chí Minh.

Sài Gòn - Gia Định là nơi tập trung cơ quan đầu não của ngụy quân, ngụy quyền, các kho tàng và căn cứ hậu cần quan trọng, trung tâm chính trị, kinh tế, là sào huyệt cuối cùng của địch.

Sài Gòn - Gia Định cũng là một thành phố lớn với 3,5 triệu dân, có truyền thống đấu tranh cách mạng hết sức kiên cường, nơi đã chứng kiến sự tích oanh liệt của những anh hùng trẻ tuổi có sức cổ vũ hàng triệu người đứng lên, như Lý Tự Trọng, Trần Văn Ơn, Nguyễn Văn Trỗi, Quách Thị Trang, Nguyễn Thái Bình,v.v…

Trong những ngày tháng 4-1975, dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Đảng, tuổi trẻ thành phố Sài Gòn - Gia Định tranh thủ từng giờ từng phút tổ chức lực lượng và triển khai kế hoạch chiến đấu, phối hợp chặt chẽ trong và ngoài. Các đơn vị đặc công của mặt trận Sài Gòn, các chiến sĩ biệt động của Thành Đoàn, được bố trí theo thế trận. Ngoài 4 tiểu đoàn được tăng cường ở các quận ngoại thành, ở nội thành có 60 tổ biệt động mới với hơn 300 thanh niên vũ trang ém sẵn ở những vị trí xung yếu.

Thành Đoàn thanh niên thành phố gấp rút tổ chức lực lượng cán bộ, đoàn viên và quần chúng cách mạng ở từng vùng, phụ trách những công việc cần kíp như hướng dẫn quần chúng nổi dậy làm chủ đường phố, chiếm lĩnh các cơ quan quan trọng của địch khi bộ đội chủ lực chưa kịp đến. Thành Đoàn chia làm 2 bộ phận: bộ phận phụ trách phong trào công khai và chỉ đạo 5 điểm khởi nghĩa ở nội thành là Bàn Cờ - Vườn Chuối,  Gia Định, Phú Nhuận, Tân Phú - Bảy Hiền, Khánh Hội - Vĩnh Hội. Một bộ phận tăng cường cho các quận, huyện vận động quần chúng tổng công kích, tổng khởi nghĩa. Thành Đoàn còn tổ chức những trung đội tự vệ có vũ trang, triển khai ở nhiều vị trí then chốt, phân công đoàn viên, thanh niên sẵn sàng hướng dẫn các mũi tiến công của quân giải phóng trên nhiều hướng.

Sau khi chọc thủng tuyến phòng thủ của địch ở Xuân Lộc - Long Khánh và những tuyến phòng thủ khác quanh Sài Gòn, từ 5 hướng, 5 quân đoàn chủ lực tinh nhuệ, cùng các lực lượng vũ trang khác mở cuộc tổng công kích vào thành phố. Đến bước đường cùng, kẻ địch càng liều chết chống cự ở nhiều vị trí then chốt trước cửa ngõ Sài Gòn. Nhiều cuộc đấu tăng, đấu pháo đã diễn ra kịch liệt ở Cầu Bông, cầu Bình Lợi, tiến sát tới cầu Bình Triệu thì gặp ngay đoàn xe tăng gần 100 chiếc của địch tiến về phía cầu. Chúng dàn thành một tuyến dày đặc, hòng phá cầu, cản bước tiến của quân ta. Rất bình tĩnh, các chiến sĩ trẻ đoàn BK 17 theo lệnh chỉ huy chọn phương án táo bạo, áp đảo kẻ thù, xông thẳng vào đội hình xe tăng địch dùng đạn xuyên và B41 bắn gục ngay 3 chiếc tăng của chúng và tràn sang cầu, tung hoành giữa đội hình đang rối loạn của chúng.

Ở Cầu Bông, địch sử dụng những xe tăng M48, M41, M113, tháo chạy từ Đồng Dù, Hóc Môn, Củ Chi về co cụm lại thành từng cụm chiến đấu. Phía trước, chúng cho xe GMC nằm ngang ra giữa đường tạo thành vật cản. Đang đà tiến, Trung đoàn phó Tô Quốc Trịnh, một cán bộ chỉ huy trẻ, mới 28 tuổi đời, không do dự, cùng tiểu đoàn trưởng xe tăng quyết định diệt địch trong hành tiến. Các chiến sĩ bộ binh cũng được điều tới, dùng B40, B41 diệt từng xe tăng địch. Kẻ địch không chịu nổi đòn tiến công, bỏ cả xe tháo chạy.

Từ ngày 29 tháng 4, các mũi tiến công của 15 sư đoàn quân giải phóng đồng loạt tiến vào nội thành. Cả Sài Gòn - Gia Định chìm ngập trong bão táp cách mạng. 10 giờ sáng ngày 30 tháng 4, đoàn xe 7 chiếc của tiểu đoàn 7, trung đoàn 66, đoàn 304 tiến qua cầu Sài Gòn thẳng hướng về phía dinh Độc Lập (nay là Hội trường Thống Nhất), khi tân nội các của ngụy quyền Sài Gòn đang chuẩn bị làm lễ ra mắt. Sau khi xe tăng 390 do chính trị viên Vũ Đăng Toàn chỉ huy và trung sĩ Nguyễn Văn Tập lái húc đổ cánh cổng chính rồi tiến thẳng vào trong sân, Đại đội trưởng Bùi Quang Thận từ xe sau (843) vọt lên nhanh chóng cắm lá cờ cách mạng lên nóc dinh Độc Lập, báo hiệu giờ cáo chung của chế độ ngụy quyền tay sai Mỹ.

Ở những mũi tiến công khác, xe tăng và bộ binh được sự hướng dẫn của các chiến sĩ biệt động và quần chúng nổi dậy, nhanh chóng tiến vào thành phố, đánh chiếm các mục tiêu quan trọng như Bộ tổng tham mưu ngụy, Tổng nha cảnh sát… Các mũi tiến công của Thành Đoàn đón đúng thời cơ nhanh chóng tiếp quản trụ sở Tổng hội sinh viên ở số 4 Duy Tân.

Trong khi đó cuộc chiến đấu ở sân bay Tân Sơn Nhất vẫn diễn ra quyết liệt ngay cả khi Dương Văn Minh, Tổng thống ngụy quyền Sài Gòn đã tuyên bố đầu hàng không điều kiện. Với quyết tâm: “Ghìm chúng lại đánh cho đứa ở mặt đất không dám cất cánh, đứa đang bay trên trời phải tan xác”. Các chiến sĩ trẻ đoàn Trung Dũng từng quét địch ở Cầu Bông, ở ngã tư Bà Quẹo suốt 48 tiếng đồng hồ không kịp ăn cơm, không kịp uống nước, nhiều chiến sĩ bị mất tiếng, nhưng khi được điều đến đánh chiếm sân bay không một ai chịu rời trận địa. Nhiều chiến sĩ đã ngã xuống ngay trong giờ phút thắng lợi hoàn toàn. Đại đội trưởng Nguyễn Văn, rồi Đại đội phó Thọ dẫn tổ mũi nhọn xông lên áp sát hàng rào. Địch ngoan cố chống cự, đạn bắn ra như xối. Lá cờ cách mạng trên tay Quí bị đạn xuyên thủng thêm mấy chỗ. Nhưng 2 tay súng Lang và Hậu đã lọt được vào hàng rào đang xả AK về phía địch. Lợi dụng lúc bọn chúng đang hoang mang khi nghe tướng Minh tuyên bố đầu hàng, và trong những loạt đạn bắn phá dữ dội của pháo binh, Tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn 5 Nguyễn Thiết Kế dẫn đầu đơn vị xông vào phối hợp với 2 tay súng Lang và Hậu, quét địch ra khỏi những hang ổ cuối cùng.

11 giờ 30 phút dinh “Độc Lập” của ngụy quyền Sài Gòn trở thành hợp điểm của các cánh quân ta tiến vào giải phóng Sài Gòn, lá cờ cách mạng lộng gió tung bay trên nóc “phủ Tổng thống” ngụy. Theo dõi từng giây, từng phút cuộc tiến quân lịch sử của quân ta vào giải phóng Sài Gòn, cả Hà Nội, cả đất nước đổ ra đường, đốt pháo, tung hoa vẫy cờ trong khí thế tưng bừng của ngày hội lớn, miệng hát vang bài “Như có Bác Hồ trong ngày vui đại thắng”.

***

Đoàn ta và tuổi trẻ cả nước đã đi qua những năm tháng quyết liệt, đã lập nên bao kỳ tích anh hùng, thể hiện nổi bật phẩm chất của cả một thế hệ có giác ngộ lý tưởng cách mạng sâu sắc, dám chấp nhận gian khổ, ác liệt, sẵn sàng xả thân vì nghĩa lớn.

Được Đảng quang vinh và Bác Hồ vĩ đại dày công giáo dục và rèn luyện, thế hệ thanh niên chống Mỹ đã không ngừng nâng mình lên ngang tầm nhiệm vụ lịch sử để dù phải đương đầu với một tên đế quốc đầu sỏ, có tiềm lực kinh tế, quốc phòng mạnh, có nền khoa học kỹ thuật chiến tranh hiện đại vẫn chiến đấu và chiến thắng hết sức oanh liệt, không chỉ bằng lòng dũng cảm hy sinh mà còn bằng cả tài trí thông minh sáng tạo của Đảng ta, nhân dân ta.

Tạo dựng được cả một thế hệ đầy hào khí, làm nên sự nghiệp vẻ vang là thành quả đáng tự hào và cũng là bài học vô cùng sinh động về công tác giáo dục rèn luyện cũng như tổ chức, động viên, khơi dậy những tiềm năng vốn có, đưa tuổi trẻ đi vào thực tiễn hành động cách mạng ở những mũi nhọn của cuộc sống, gắn liền vận mệnh của tuổi trẻ với vận mệnh của dân tộc trong những điều kiện thử thách sống còn. Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã vận dụng một cách sáng tạo học thuyết cách mạng của Mác và Lê nin để ngay trong hoàn cảnh chiến tranh ác liệt vẫn tiếp tục đào luyện nên thế hệ thanh niên mới đủ năng lực và phẩm chất kế tục một cách trung thành và xuất sắc sự nghiệp của Đảng và của dân tộc.

Mặt khác chúng ta cũng đã phát động liên tục các phong trào quần chúng sâu rộng, có sức sống trong nhiều năm, tiêu biểu là các phong trào “Ba sẵn sàng” và “Năm xung phong”, đáp ứng nhiệt huyết của đoàn viên, thanh niên đang khát khao được cống hiến sức lực và trí tuệ cho nhân dân và cho đất nước. Cả một nghệ thuật vận động quần chúng đã được nâng lên ở tầm cao trong việc tạo ra động lực tinh thần và từ đó biến thành sức mạnh vật chất để làm nên chiến thắng.

Dưới ngọn cờ của Đảng, Đoàn TNCS Hồ Chí Minh đã có những cống hiến xuất sắc trong quá trình tổ chức, động viên một lực lượng to lớn bao gồm hàng triệu nam nữ thanh niên vươn lên hàng đầu chiến đấu cho lý tưởng cao đẹp là độc lập, tự do, thống nhất và chủ nghĩa xã hội. Tổ chức Đoàn đã trưởng thành về mọi mặt xứng đáng là đội dự bị tin cậy của Đảng, đội tiền phong chiến đấu của tuổi trẻ Việt Nam, càng vững tin đi tới cùng sự nghiệp Đảng và Bác Hồ đã lựa chọn.

 

CHƯƠNG XII
RA SỨC XÂY DỰNG ĐẤT NƯỚC, KIÊN CƯỜNG BẢO VỆ TỔ QUỐC VIỆT NAM XÃ HỘI CHỦ NGHĨA

---

Hậu quả của cuộc chiến tranh ở Việt Nam là vô cùng nặng nề. Đế quốc Mỹ đã ném xuống đất nước ta 6 triệu tấn bom đạn, gấp 4 lần tổng số bom Mỹ đã ném xuống tất cả các chiến trường trong Đại chiến thế giới lần thứ hai. Hơn 1.500 thành phố, thị xã, thị trấn, điểm tập trung dân cư bị huỷ diệt; trên 3.000 thành phố, thị xã, thị trấn, làng mạc bị thiệt hại nặng; hàng triệu người mang thương tật, mất khả năng lao động; hàng triệu người mất nhà cửa, tài sản. Đế quốc Mỹ đã rải hơn 100.000 tấn chất độc hóa học xuống 13.000 km2 rừng, 70% diện tích trồng dừa, 60% diện tích trồng cao su, 110.000 hécta trồng phi lao và 150.000 hécta rừng đước bảo hộ ven biển. Những chất độc hoá học đã tàn phá môi trường sinh thái, hủy hoại sức khoẻ con người và những hậu quả nặng nề của nó gây ra đối với môi trường và con người còn tiếp tục kéo dài hàng vài chục năm sau.

Nền kinh tế của miền Nam Việt Nam để lại là nền kinh tế què quặt, phục vụ chiến tranh và phụ thuộc vào viện trợ Mỹ. Theo số liệu của ngụy quyền Sài Gòn, năm 1973, riêng ở Sài Gòn đã có tới 300 nghìn người thất nghiệp, 500 nghìn người bán thất nghiệp. Sau ngày giải phóng, số người thất nghiệp ở miền Nam lên tới trên một triệu người. ở miền Bắc, cuộc chiến tranh phá hoại của giặc Mỹ cũng đã gây ra những tổn thất to lớn về kinh tế; đặc biệt, hệ thống giao thông vận tải và các cơ sở kinh tế quan trọng bị phá hoại nặng nề.

Hậu quả về mặt xã hội của cuộc chiến tranh cũng hết sức to lớn. Tệ nạn xã hội ở miền Nam với trên 500 nghìn gái mại dâm, 300 nghìn lưu manh, trộm cắp, du đãng, nạn nghiện hút ma túy… đã làm băng hoại thuần phong mỹ tục, đạo đức của một bộ phận lớp trẻ. Ngoài ra, trong cuộc chiến đấu chống Mỹ, hàng triệu liệt sỹ, thương binh; hàng triệu nạn nhân chiến tranh; hàng chục nghìn người mất tích…, để lại những tổn thất không gì bù đắp được.

Với tinh thần phấn khởi và tin tưởng, toàn thể nhân dân Việt Nam phát huy cao độ chủ nghĩa anh hùng cách mạng trong chiến đấu nỗ lực hàn gắn vết thương chiến tranh, ra sức khôi phục và phát triển kinh tế, tiến hành cải tạo XHCN ở các tỉnh mới giải phóng và xây dựng chủ nghĩa xã hội trên phạm vi cả nước. Vượt qua những khó khăn chồng chất do hậu quả chiến tranh, nhân dân ta đã phấn đấu hết sức kiên cường thực hiện Kế hoạch 5 năm lần thứ hai và đã đạt được những kết quả to lớn về các mặt ổn định xã hội, phát triển kinh tế, văn hoá, giáo dục.