DMCA.com Protection Status

Lịch sử Hội LHTN Việt Nam( ST)  quan tâm

Được đăng bởi: Trần Việt Thao

Cập nhật lúc 14:10 ngày 05/01/2018

Lịch sử Hội LHTN Việt Nam.

(Theonguồn: http://tinhdoankiengiang.org.vn/detaillienhiep.php?idcate=3&PHPSESSID=1eebdff5135fb91a291c0a5dd281093f - Cảm ơn Tỉnh đoàn Kiên Giang đã giúp xây dựng cuốn lịch sử này ! ).

Lịch sử Hội LHTN Việt Nam.

Chương I: Nguyễn ái Quốc ra đi tìm đường cứu nước

Sau khi nổ súng xâm lược nước ta, thực dân Pháp phải mất gần 30 năm mới đặt được bộ máy thống trị của chúng do sự ươn hèn của vua quan nhà Nguyễn ký Hiệp ước công nhận quyền bảo hộ cho bọn thực dân năm 1884.

Từ đó, nhân dân ta phải sống trong cảnh lầm than, cơ cực dưới hai tầng áp bức, bóc lột của thực dân, phong kiến. Bọn cướp nước và bè lũ tay sai bán nước đã thi hành một chính sách cai trị cực kỳ dã man, tàn bạo. Chúng trắng trợn đàn áp về chính trị, bóc lột tàn tệ về kinh tế, đầu độc thâm hiểm về văn hoá và tinh thần. Trong tình cảnh đó, các tầng lớp thanh niên nước ta không sao thoát khỏi số phận đen tối. Một trong muôn vàn tội ác của bọn thực dân phong kiến đối với thanh niên là buôn người đưa họ bán đi biệt xứ làm phu trên các đảo xa xôi. Bán được một thanh niên, chúng lãi ba nghìn frăng (tiền Pháp). Hàng vạn thanh niên đã trở thành nạn nhân của tội ác này, đem về cho bọn thực dân món lãi kếch xù hàng trăm triệu frăng. Thanh niên công nhân bị bóc lột vô nhân đạo từ tuổi thiếu niên. Không ai khác, chính một nhà báo Pháp đã viết: “Khi tôi tới thăm Hòn Gai, mỏ than lúc nhúc những người rách rưới, gầy guộc. Đằng sau những chiếc goòng, các “nhóc” còng lưng đẩy xe, những thân hình bé nhỏ, khô rạc. Tiền lương danh nghĩa 15 xu, thực tế 12 giờ mỗi ngày chúng chỉ nhận được 7 xu rưỡi vì chúng là nhóc". Trong lúc đó vốn của Công ty than Hòn Gai lúc đầu là 16 triệu frăng, nhưng chỉ riêng năm 1925, bọn chủ mỏ đã lãi tới 36,2 triệu frăng. Tiền lãi một năm nhiều hơn hai lần tiền vốn bỏ ra lúc đầu. Tương tự như vậy, năm 1919 vốn tài chính của Công ty cao su Nam kỳ có 16 triệu frăng, sau lấy lãi bỏ thêm vào năm 1924 tăng lên 100 triệu. Năm 1925 công ty này thu lãi trên 31 triệu frăng cho bọn chủ thực dân. Cứ như thế trong lúc túi tiền của bọn chủ thực dân, tư bản ngày càng đầy thì:

Cao su xanh tốt lạ đời

Mỗi cây bón một xác người công nhân!

Từ khi Việt Nam bị thực dân Pháp thống trị cho đến năm 1929, nhân dân và tuổi trẻ nước ta liên tiếp nổi dậy đấu tranh quyết liệt không quản máu chảy, đầu rơi. Mặc dù vậy, những năm đầu thế kỷ XX, các phong trào yêu nước vẫn lâm vào tình trạng bế tắc, song ngọn lửa căm thù quân xâm lược và dũng khí đấu tranh của nhân dân ta chưa bao giờ bị dập tắt.

Nguyên nhân cơ bản của sự bế tắc nêu trên chính là do thiếu một đường lối đúng đắn, một tổ chức chặt chẽ nên cuối cùng các phong trào đấu tranh đều bị kẻ thù dìm trong biển máu. Tình trạng khủng hoảng về lãnh đạo đòi hỏi phải được giải quyết để đưa cách mạng nước ta tiến lên. Đúng vào thời điểm này, người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành, sau lấy tên là Nguyễn ái Quốc đã mở đầu cuộc hành trình hết sức quả cảm và gian lao đi tìm đường cứu nước, cứu dân…

Giữa năm 1911, ở độ tuổi 20, Nguyễn ái Quốc xuống tàu mang tên Đô đốc Latusơ Tơrêvin tại cảng Nhà Rồng (Sài Gòn) đi ra nước ngoài với ý thức tìm hiểu nước Pháp và các nước khác làm thế nào mà trở lên độc lập, hùng cường rồi sẽ “trở về nước, đi vào quần chúng, thức tỉnh họ, tổ chức, đoàn kết và huấn luyện để đưa họ đấu tranh giành quyền tự do, độc lập". Nguyễn ái Quốc đã đến Pháp, và đi qua nhiều nước châu Phi, đến Mỹ, Anh…vv… và trở lại Pháp vào cuối năm 1917 lúc chiến tranh thế giới lần thứ nhất ở vào giai đoạn quyết liệt nhất.

Tại Paris, Người kết bạn với nhiều nhà hoạt động xã hội, văn hoá có uy tín lớn của nước Pháp. Người viết nhiều bài báo tố cáo tội ác của thực dân Pháp ở các thuộc địa, tranh thủ mọi diễn đàn, những buổi hội họp, mít tinh, sinh hoạt câu lạc bộ để tuyên truyền cho cách mạng Việt Nam, Lào, Campuchia và các nước thuộc địa khác.

V ới nhiệt huyết của tuổi thanh niên, Nguyễn ái Quốc sáng lập ra “Nhóm những người Việt Nam yêu nước” tại Pháp. Thành viên của nhóm hầu hết là thanh niên công nhân, binh lính và những người du học (thực dân Pháp đã bắt hơn 10 vạn thanh niên nông dân, công nhân sang phục vụ chiến tranh thế giới lần thứ nhất tại Pháp). Nhóm hoạt động mạnh mẽ làm cho giới cầm quyền Pháp rất lo ngại. Do công tác tuyên truyền, tổ chức của nhóm được tiến hành tích cực nên cơ sở của nhóm phát triển khá mạnh. Đồng chí Nguyễn ái Quốc đã chân thành mời hai nhà yêu nước Phan Châu Trinh và Phan Văn Trường tham gia “Nhóm những người Việt Nam yêu nước”, song cả hai ông không tán thành, vì các ông cho rằng “nhóm thanh niên ấy là trẻ con”.

Chiến tranh thế giới lần thứ nhất kết thúc, Hội nghị Vécxây (Versailles) giữa các nước thắng trận họp tại Thủ đô Paris vào ngày 18/6/1919. Nguyễn ái Quốc thay mặt nhóm những người Việt Nam yêu nước ở Pháp đưa tới Hội nghị tám điểm đòi chính phủ Pháp phải thừa nhận quyền tự do, dân chủ, quyền bình đẳng và tự quyết của dân tộc Việt Nam. Bản yêu sách này được gửi đến các đoàn đại biểu Đồng minh và tất cả các nghị viên của Quốc hội Pháp. Báo “Nhân đạo” (L'Humanité) và nhiều nhật báo khác ở Pháp đã đăng nguyên văn hoặc trích đăng bản yêu sách chính trị quan trọng này. Nguyễn ái Quốc cùng những đồng chí của Người đã cho in bản yêu sách thành truyền đơn gửi về trong nước. Dư luận ở Paris cũng như ở Pháp coi việc làm của người thanh niên yêu nước Nguyễn ái Quốc như quả bom chính trị nổ ngay giữa Paris.

Tháng 7 năm 1920, Nguyễn ái Quốc sung sướng, vui mừng vì được đọc bản “Sơ thảo lần thứ nhất những Luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa” của V.I.Lênin, khẳng định lập trường kiên quyết ủng hộ phong trào giải phóng dân tộc ở các nước phương Đông của Quốc tế Cộng sản. Từ đó, Người hoàn toàn tin theo Lênin, dứt khoát đứng về Quốc tế thứ ba.

Tại Đại hội của Đảng xã hội Pháp họp ở Tua (Tours – 12/1920), Nguyễn ái Quốc đã bỏ phiếu tán thành việc gia nhập Quốc tế III, và cùng những người chủ trương gia nhập Quốc tế III tuyên bố thành lập Phân bộ Pháp của Quốc tế cộng sản (Section Fran?aise de I’Internationale Communiste, viết tắt là S.F.I.C). Sự kiện Nguyễn ái Quốc bỏ phiếu tán thành gia nhập Quốc tế III, tham gia thành lập Đảng Cộng sản Pháp và trở thành người cộng sản Việt Nam đầu tiên, đánh dấu bước ngoặt trong hoạt động của Người, từ chủ nghĩa yêu nước đến chủ nghĩa Mác – Lênin và đi theo con đường cách mạng vô sản. Sự kiện này cũng đánh dấu bước mở đường giải quyết cuộc khủng hoảng về đường lối giải phóng dân tộc Việt Nam.

Năm 1921, tại Paris, Nguyễn ái Quốc cùng một số đồng chí của Người lại sáng lập ra “Hội Liên hiệp các dân tộc thuộc địa” để đoàn kết các lực lượng cách mạng chống chủ nghĩa thực dân, thông qua tổ chức này đưa chủ nghĩa Mác – Lênin đến các dân tộc thuộc địa.

Thành viên trong tổ chức “Hội Liên hiệp các dân tộc thuộc địa” cũng bao gồm tuyệt đại bộ phận là thanh niên giống như “Nhóm những người Việt Nam yêu nước ở Pháp”. Điều này về sau được Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định khi nhắc lại quá trình hình thành của Hội: “Hơn 40 năm trước đây, một nhóm thanh niên yêu nước, người của các thuộc địa Pháp, trong đó có thanh niên Việt Nam và thanh niên Ghinê, đã cùng nhau đoàn kết đấu tranh chống chủ nghĩa thực dân, để giành tự do, độc lập cho đất nước mình…”

Đây chính là loại hình Quốc tế Thanh niên thuộc địa theo quan điểm của Lênin mà Nguyễn ái Quốc bước đầu bắt tay thực hiện. Qua việc sáng lập các tổ chức mà đại bộ phận thành viên là những người yêu nước trẻ tuổi Việt Nam và các thuộc địa Pháp đã giúp Nguyễn ái Quốc sớm hình thành những quan điểm, cách nhìn nhận, đánh giá các khả năng cách mạng của tuổi trẻ cũng như hình thức, phương pháp đoàn kết, tập hợp họ. Đây là một trong nhiều hoạt động của Nguyễn ái Quốc trong phong trào thanh niên hồi đầu thế kỷ.

Thực tiễn phong phú này tạo điều kiện cho Người rút ra nhiều bài học kinh nghiệm về vận động thanh niên các nước thuộc địa.

Báo Người cùng khổ (Le Paria) do Nguyễn ái Quốc làm chủ nhiệm kiêm chủ bút đã cất lên tiếng nói đầu tiên vạch trần chính sách đàn áp, bóc lột dã man của chủ nghĩa đế quốc nói chung và của đế quốc Pháp ở Đông Dương nói riêng, thức tỉnh các dân tộc bị áp bức, trước hết là thanh niên tiểu tư sản, trí thức yêu nước hăng hái đứng lên đấu tranh để tự giải phóng.

Tại Việt Nam, khoảng những năm 1922, 1923 ở trường Trung học bảo hộ Hà Nội (còn gọi là trường Bưởi, nay là THPT Chu Văn An) nơi có nhiều học sinh con em tầng lớp trên được vào học để nhà nước bảo hộ chuẩn bị cho đội ngũ viên chức “Tây học”. Trường có kỳ thi tuyển chọn những người giỏi, trong đó đáng chú ý là nhóm bạn thân gồm Nguyễn Đức Cảnh, Đỗ Ngọc Du, Trần Tư Chính, Ngô Gia Tự, Trịnh Đình Cửu. Tự và Cửu là hai học sinh xuất sắc, họ hay vào thư viện tìm đọc những tác phẩm của Molie, Huygô, Banzắc… Theo hồi ký của Trịnh Đình Cửu thì không rõ bằng con đường nào, một hôm Ngô Gia Tự gọi Trịnh Đình Cửu đến chỗ vắng đọc cho nghe một đoạn trong bài thơ ngắn của Phan Bội Châu từ hải ngoại gửi về:

….Thương ôi! Bách Việt giang san
Văn minh đã sẵn, khôn ngoan có thừa
Hồn mê mẩn tỉnh chưa, chưa tỉnh?
Anh em ta phải tính làm sao…?

Chẳng mấy chốc nhóm bạn thân trường Bưởi đã truyền cho nhau bài thơ chứa chan lòng yêu nước, thương nòi và trăn trở bởi câu hỏi cụ đặt ra: “Anh em ta phải tính làm sao?”

Nhưng rồi tin vui bỗng đến, mấy thanh niên từ Hải Phòng, Nam Định lên Hà Nội kể chuyện chính họ đã được đọc báo từ Pháp mang về có đăng “Yêu sách đòi quyền tự do, tự quyết” gửi đến các đại biểu nhiều nước dự Hội nghị Vécxây tại Paris của Nguyễn ái Quốc. Họ say sưa kể về ông Nguyễn lập Hội, xuất bản báo ngay trên đất Pháp để đấu tranh với Pháp. Quả là chuyện lạ mà có thật vì báo chí đã đăng, giấy trắng mực đen rõ ràng chứ đâu như thơ của cụ Phan phải truyền khẩu bí mật.

Anh em cử người về Hải Phòng và liên hệ với cả trong Nam để bắt liên lạc với thuỷ thủ trên các con tàu viễn dương từ Macxây (một hải cảng lớn của Pháp) sang, mong có thêm sách báo và tin tức về người lãnh đạo mới mà họ đang hướng tới: Nguyễn ái Quốc. Trong bối cảnh bế tắc, nghi ngờ của lớp thanh niên, học sinh, sinh viên về con đường do các sỹ phu lớp trước chủ trương bị thất bại, Nguyễn ái Quốc đưa ra nhận định sáng suốt trong bài viết về Đông Dương: “Một luồng gió giải phóng mạnh mẽ đang làm cho các dân tộc bị áp bức vùng lên. Người Airơlen, Ai Cập, Triều Tiên, ấn Độ… tất cả những người chiến bại hôm qua và nô lệ hôm nay đang đấu tranh dũng cảm cho nền độc lập ngày mai của họ”. Và Người khẳng định: “Đằng sau sự phục tùng tiêu cực, người Đông Dương giấu một cái gì đang sôi sục, đang gào thét và sẽ bùng nổ một cách ghê gớm”.

Thư của Nguyễn ái Quốc gửi thanh niên Việt Nam, báo Người cùng khổ và tác phẩm Bản án chế độ thực dân Pháp của Người từng bước thức tỉnh các tầng lớp thanh niên nước ta. Nguyễn ái Quốc là nhà yêu nước trẻ tuổi Việt Nam đầu tiên đã giải thích một cách đúng đắn rằng mọi sự chưa thành của lớp người đi trước là do thiếu tổ chức và thiếu người biết tổ chức, chưa có một đường lối đúng đắn, một tổ chức chặt chẽ.

Mùa hè năm 1923, Nguyễn ái Quốc đến Liên Xô, đất nước của Cách mạng Tháng Mười và V.I. Lênin vĩ đại. Tại Mátxcơva, Người tham gia nhiều Đại hội và Hội nghị quốc tế, viết nhiều bài đăng trên các báo Sự thật (?pabga) và Thư tín quốc tế (Correpondance Internationnale).

Ngày 17/6/1924, Nguyễn ái Quốc là đại biểu chính thức tại Đại hội Quốc tế Cộng sản lần thứ V khai diễn tại Nhà hát lớn Mátxcơva.

Đoàn đại biểu Ban Chấp hành Quốc tế Thanh niên Cộng sản tại Đại hội Quốc tế Cộng sản lần thứ V đã liên hệ với Nguyễn ái Quốc và chính thức mời Người tham gia công việc chuẩn bị nội dung cho Đại hội Quốc tế Thanh niên Cộng sản lần thứ IV sẽ họp vào thời gian sau đó. Từ khi còn hoạt động ở Pháp, Nguyễn ái Quốc đã có mối quan hệ với Quốc tế Thanh niên Cộng sản. Người đã đến Hội trường Thanh niên Cộng hoà ở Paris để giới thiệu về phong trào thanh niên thế giới, phong trào thanh niên Đông Dương và các chủ trương của Quốc tế Thanh niên Cộng sản được người nghe rất hoan nghênh.

Ngày 15/7/1924, Đại hội Quốc tế Thanh niên Cộng sản lần thứ IV đã khai mạc tại Hội trường Công đoàn ở Mátxcơva. Đại hội được tiến hành khi Lênin qua đời vừa 6 tháng.

Những phần tử cơ hội và phản động Quốc tế cấu kết với các giới đế quốc điên cuồng mở cuộc tuyên truyền xuyên tạc chủ nghĩa Lênin và học thuyết cách mạng của Người. Phong trào Thanh niên Cộng sản Quốc tế đứng trước nhiệm vụ cấp bách là đẩy lùi và đập tan những luận điệu lừa bịp ấy nhằm tiếp tục tranh thủ trái tim và khối óc của hàng triệu thanh niên cộng sản trong đó có phong trào thanh niên cộng sản ở các nước thuộc địa và phụ thuộc.

Trong bối cảnh đó, Đại hội IV Quốc tế Thanh niên Cộng sản có ý nghĩa và tầm quan trọng đặc biệt đối với di huấn của V.I.Lênin vĩ đại: “Sự nghiệp to lớn và tất yếu của các đồng chí là chuẩn bị cho tuổi trẻ sẵn sàng tham gia cuộc đấu tranh cách mạng và trong việc học tập”.

Là người đại diện ưu tú của các dân tộc bị áp bức, ngay trước khi tham dự Đại hội Quốc tế Cộng sản lần thứ V, Nguyễn ái Quốc đã đề nghị với Ban Phương Đông Quốc tế Cộng sản về việc thành lập “Nhóm châu á” tại trường Đại học Phương Đông nhằm tạo điều kiện cho thanh niên, học viên có cơ hội nghiên cứu tình hình, đặc điểm của các nước thuộc địa và phụ thuộc.

Là thành viên trong đoàn Chủ tịch trực tiếp lãnh đạo Đại hội, bằng kinh nghiệm thực tiễn phong phú đã trải qua, nhất là sự hiểu biết sâu rộng về tình cảnh thanh niên các nước thuộc địa, Nguyễn ái Quốc đã có những đóng góp quan trọng vào việc soạn thảo hàng loạt văn kiện của Đại hội.

Đặc biệt, Nguyễn ái Quốc là người chủ trì và là tác giả chính trong nhóm tác giả soạn thảo bản “Luận cương về thanh niên thuộc địa” nổi tiếng theo tư tưởng của Lênin, Người đã trực tiếp trình bày văn kiện hết sức quan trọng này tại Đại hội và được Đại hội nhất trí thông qua. Luận cương mở đầu bằng việc đánh giá và khẳng định rằng từ năm 1919 đến năm 1924, phong trào thanh niên thuộc địa đã có những chuyển biến mạnh mẽ dưới ngọn cờ của Quốc tế Cộng sản và được ảnh hưởng của Cách mạng XHCN Tháng Mười Nga. Năm 1919 là thời điểm V.I.Lênin sáng lập ra Quốc tế Thanh niên Cộng sản và Nguyễn ái Quốc đã may mắn sớm có mối liên hệ với tổ chức này. Luận cương nhận định rằng thanh niên các thuộc địa dần dần hướng phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc theo thắng lợi của cuộc cách mạng vô sản. Họ đi theo ngọn cờ của Lênin vì họ tìm thấy ánh sáng soi đường trong Luận cương về vấn đề dân tộc nổi tiếng của Người.

Tiếp đến, Luận cương về thanh niên thuộc địa nêu lên yêu cầu cấp bách phải tổ chức, tập họp lực lượng thanh niên cách mạng và xây dựng cơ sở Đoàn Thanh niên Cộng sản ở các thuộc địa. Đây là mâu thuẫn gay gắt nổi lên trong những năm đầu thế kỷ ở các thuộc địa, giữa đòi hỏi của nhiệm vụ cách mạng và những khả năng để giải quyết những nhiệm vụ đó. Vấn đề “Thiếu tổ chức và thiếu người tổ chức” mà sau này vào năm 1925 trong “Thư gửi thanh niên An Nam” của đồng chí Nguyễn ái Quốc đã chỉ rõ là tình hình chung của nhiều nước thuộc địa khác trên thế giới chứ không chỉ riêng ở Việt Nam. Luận cương về thanh niên thuộc địa đặt ra yêu cầu khẩn thiết về việc hình thành các đoàn thể thanh niên cách mạng và tiến tới xây dựng các tổ chức thanh niên cộng sản ở thuộc địa là nhằm giải quyết mâu thuẫn nêu trên.

Cuối cùng, Luận cương về thanh niên thuộc địa nhấn mạnh việc tăng cường mối liên hệ giữa các tổ chức thanh niên cách mạng, thanh niên cộng sản ở các thuộc địa với tổ chức thanh niên cộng sản ở chính quốc.

Luận cương vạch ra những công việc cụ thể về giúp đỡ vật chất, tinh thần của các tổ chức TNCS chính quốc với các tổ chức TNCS ở thuộc địa.

Nghiên cứu toàn bộ Luận cương về thanh niên thuộc địa do đồng chí Nguyễn ái Quốc chủ trì soạn thảo tại Đại hội lần thứ IV Quốc tế TNCS (1924) chúng ta tìm thấy nhiều ý tưởng, quan điểm về vấn đề thanh niên thuộc địa mà trước đó đồng chí Nguyễn ái Quốc đã nhiều lần đề cập đến trong các bài viết của Người trên báo chí của Đảng Cộng sản Pháp hoặc trong các cuộc tranh luận nội bộ về các vấn đề có quan hệ đến trách nhiệm của Đảng đối với phong trào thuộc địa cũng như các bài viết của Nguyễn ái Quốc đăng trên tạp chí Thư tín quốc tế của Quốc tế Cộng sản và báo Sự thật của Đảng Cộng sản Liên xô.

Luận cương về thanh niên thuộc địa đã đưa ra những quan điểm rất cơ bản và chỉ rõ nhiệm vụ cụ thể về tổ chức, giáo dục và hướng dẫn cuộc đấu tranh vì những mục tiêu độc lập, tự do, giải phóng giai cấp, giải phóng dân tộc của thanh niên các nước thuộc địa.

Luận cương vừa có giá trị như một cương lĩnh chính trị, vừa như một chương trình hành động phù hợp với tình hình, nguyện vọng của hàng chục triệu thanh niên đang bị áp bức, đoạ đày do chính sách và những hành động tàn bạo của chủ nghĩa thực dân, đế quốc cấu kết với phong kiến bản địa.

Giữa năm 1925, nghĩa là chỉ hơn một năm sau khi Luận cương về thanh niên thuộc địa được nhất trí thông qua tại Đại hội Quốc tế Thanh niên Cộng sản lần thứ IV, tác giả của văn kiện nổi tiếng này: Đồng chí Nguyễn ái Quốc, lãnh tụ của dân tộc và giai cấp công nhân Việt Nam đã triển khai thắng lợi chủ trương xây dựng một tổ chức thanh niên cách mạng ở Việt Nam, một nước thuộc địa của Pháp là Hội Việt Nam Cách mạng thanh niên (trước đây thường gọi là Việt Nam Thanh niên Cách mạng đồng chí Hội), một tổ chức bao gồm phần lớn là thành viên trẻ tuổi theo xu hướng cộng sản, tiền thân của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Trong những năm tháng Nguyễn ái Quốc sống và hoạt động ở Liên Xô (1923-1924) cũng là lúc phong trào cách mạng ở Trung Quốc phát triển mạnh mẽ. Quảng Châu là trung tâm cách mạng của đất nước Trung Hoa rộng lớn. Quảng Châu trở thành địa bàn quan trọng của những nhà yêu nước Triều Tiên, Indonesia,… Nhiều thanh niên yêu nước Việt Nam xuất dương vào đầu những năm 20 cũng đã đến đây và được tập hợp vào trong tổ chức Tâm Tâm Xã. Đầu năm 1924, Phạm Hồng Thái sang Quảng Châu và gia nhập Tâm Tâm Xã. Tháng 2/1924, Phạm Hồng Thái thực hiện nhiệm vụ ném tạc đạn nhằm mưu sát tên toàn quyền Méclanh (Merlin) nhân dịp y đi công cán qua Quảng Châu.

Tiếng bom Sa Diện mưu sát toàn quyền Đông Dương Méclanh của người thanh niên yêu nước Phạm Hồng Thái tuy không thành công “nhưng nó báo hiệu bắt đầu thời đại đấu tranh dân tộc, như chim én nhỏ báo hiệu mùa xuân”, là hiệu kèn thúc giục nhiều thanh niên yêu nước Việt Nam dấn thân trên con đường tranh đấu.

Năm 1925, cụ Phan Bội Châu bị thực dân Pháp bắt và kết án tử hình. Hàng chục vạn thanh niên thuộc đủ các tầng lớp trong cả nước đã sôi sục đấu tranh đòi bọn cầm quyền ở Đông Dương phải thả cụ. Năm 1925, cụ Phan Chu Trinh mất, hơn 140 ngàn người trong đó có hàng vạn thanh niên, học sinh đã tập hợp ở Sài Gòn để đưa đám tang cụ. Đây là một cuộc biểu dương lực lượng to lớn có ảnh hưởng rất rộng trong cả nước, nhất là đối với phong trào thanh niên. Nguyễn ái Quốc, ngay thời gian đó đã nêu rõ: “Chưa bao giờ có một phong trào quần chúng rộng rãi như vậy”. Đây là một dịp rất tốt cho Nguyễn ái Quốc tuyên truyền chủ nghĩa yêu nước, cổ vũ đấu tranh cách mạng.

Trong phong trào đấu tranh của quần chúng, hàng loạt tổ chức yêu nước do những người trẻ tuổi sáng lập đã ra đời. Năm 1925, nhóm sinh viên cao đẳng Hà Nội gồm 17 người, trong đó có Tôn Quang Phiệt, Đặng Thai Mai, Phạm Thiều… cùng một số thầy giáo trẻ ở miền Trung nhóm họp tại Vinh và quyết định thành lập Hội Phục Việt sau này là Tân Việt. Tháng 3 năm 1926, nhà yêu nước trẻ tuổi Nguyễn An Ninh tập hợp một số thanh niên viên chức, thầy giáo yêu nước vào tổ chức Thanh niên Cao Vọng. Những tổ chức thanh niên yêu nước đó hoạt động rất hăng hái, như: Hội Phục Việt đã vận động hội viên tham gia cuộc đấu tranh đòi thả cụ Phan Bội Châu với nhiều hình thức phong phú, hô hào thanh niên biến cuộc đưa đám tang cụ Phan Chu Trinh thành cuộc biểu dương lực lượng của quần chúng.

Vào thời gian có nhiều sự kiện đặc biệt đó, sau khi dự Đại hội Quốc tế Thanh niên Cộng sản lần thứ IV, Nguyễn ái Quốc đã từ Liên Xô đến Quảng Châu (Trung Quốc) với trách nhiệm nặng nề đối với phong trào cách mạng ở Đông Dương và Châu á. Người đã khẩn trương tìm hiểu tình hình và tìm cách bắt liên lạc với những thanh niên Việt Nam yêu nước tại đây, qua sự giúp đỡ một phần của Phái đoàn cố vấn Liên Xô bên cạnh Chính phủ Tôn Dật Tiên.

Liên tiếp trong hai ngày 18 và ngày 19 tháng 12 năm 1924, Nguyễn ái Quốc gửi thư và báo cáo cho Đoàn chủ tịch Quốc tế Cộng sản, trong đó Người đánh giá cao tinh thần cách mạng của một số thanh niên yêu nước mà Người đã tiếp xúc.

Từ tháng 12 năm 1924 cho đến tháng 2 năm 1925 là thời gian Nguyễn ái Quốc làm việc mật thiết với nhóm thanh niên trong tổ chức Tâm Tâm Xã. Người đã thẳng thắn nêu lên những thiếu sót trong nhận thức, hành động của nhóm này và tỏ rõ sự khâm phục tinh thần yêu nước của các chiến sỹ cách mạng trẻ tuổi như trường hợp Phạm Hồng Thái. Dưới hình thức những lớp bồi dưỡng nhỏ, phân tán, Nguyễn ái Quốc đã giới thiệu với anh em về Cách mạng Tháng Mười Nga, về Quốc tế Cộng sản, về Chủ nghĩa xã hội khoa học, về học thuyết Mác – Lênin. Tác dụng của các lớp học đầu tiên này đối với số thanh niên đang khát khao lý tưởng thật là to lớn. Kết luận mà Nguyễn ái Quốc rút ra cho các học trò của Người là muốn đưa cách mạng đến thắng lợi phải dựa vào quần chúng nhân dân, nhất là công nhân, nông dân, phải có một Đảng tiên phong theo chủ nghĩa Mác – Lênin lãnh đạo.

Với lý luận sắc bén, kinh nghiệm phong phú, tác phong cởi mở, Nguyễn ái Quốc đã tạo nên niềm tin mạnh mẽ cho số thanh niên yêu nước và đưa dần họ đến với chân lý cách mạng.

Lúc này, Nguyễn ái Quốc chủ trương tổ chức một nhóm bí mật. Tuy về quy mô chỉ là nhóm đầu tiên nhưng có đầy đủ Chương trình, Điều lệ…

Hoàn thành xong nhiệm vụ có ý nghĩa lịch sử này, ngày 19/2/1925, Nguyễn ái Quốc đã gửi báo cáo tới Đoàn Chủ tịch Quốc tế Cộng sản. Trong mục “Công tác đã làm được” Nguyễn ái Quốc viết: “Chúng tôi đã lập một nhóm bí mật gồm 9 thành viên, trong đó:

2 người đã được về nước.
3 người ở tiền tuyến (trong quân đội của Tôn Dật Tiên).
1 người đi công cán quân sự (cho Quốc dân Đảng).
Trong số hội viên đó, có 5 người là đảng viên dự bị của Đảng Cộng sản.
Chúng tôi còn có 2 đoàn viên dự bị của “Đoàn Thanh niên Cộng sản Lênin”

Nhóm bí mật 9 người do Nguyễn ái Quốc xây dựng là mầm non của một tổ chức cách mạng mà Người đã ấp ủ trong kế hoạch tổ chức từ sau khi tham dự Đại hội Quốc tế Cộng sản lần thứ V và Đại hội Quốc tế Thanh niên Cộng sản lần thứ IV.

 Con đường truyền bá tư tưởng giải phóng dân tộc theo chủ nghĩa Mác-Lênin vào giai cấp công nhân và nhân dân yêu nước Việt Nam mà Nguyễn ái Quốc đã thực hiện lúc đó dựa vào thanh niên, lớp người trẻ tuổi có lòng yêu nước, căm thù giặc, hăng hái cách mạng, nhạy cảm với cái mới, có học thức, được học tập lý luận giải phóng dân tộc và phương pháp tổ chức nhân dân do chính Người đào tạo.

Chính từ kết quả đầu tiên bằng tư duy rất sáng tạo và tài tổ chức của mình, Nguyễn ái Quốc đã yêu cầu Đoàn Chủ tịch Quốc tế Cộng sản cho “Gửi sinh viên Việt Nam sang học Trường Đại học Cộng sản ở Mácxcơva” và Người yêu cầu nói rõ hơn cho tôi biết là có thể gửi bao nhiêu sinh viên Việt Nam sang”.

Sự ra đời của nhóm cách mạng trẻ tuổi 9 người tuy còn quá nhỏ bé trên con đường dài dựng Đảng, dựng Đoàn, tập hợp thanh niên nhưng đó là thời điểm khai sinh ra một thế hệ thanh niên mới với xu hướng mới làm cho thực dân Pháp và bọn cai trị run sợ. Toàn quyền Đông Dương Méclanh đầu năm 1925 gửi báo cáo về Bộ thuộc địa Pháp nói: “Xuất hiện ở Quảng Châu một người cách mạng Việt Nam tên là Lý Thuỵ hoạt động rất tích cực trong số những người Việt Nam tại đây và dùng những biện pháp tuyên truyền kiểu mới có xu hướng cộng sản”.

Việc ra đời nhóm Đoàn viên Thanh niên Cộng sản Việt Nam đầu tiên này là sự kiện đặc biệt quan trọng mở đầu cho quá trình hình thành và phát triển các tổ chức thanh niên cách mạng theo xu hướng cộng sản chủ nghĩa cũng như sự ra đời của Đoàn Thanh niên Cộng sản và các Hội thanh niên yêu nước ở nước ta sau này.

Đối với phong trào thanh niên Cộng sản quốc tế, sự xuất hiện nhóm Đoàn viên Thanh niên Cộng sản Việt Nam đầu tiên vào đầu năm 1925 đã góp phần minh chứng tính đúng đắn của Luận cương về thanh niên thuộc địa do Nguyễn ái Quốc chủ trì soạn thảo.

Từ nhóm bí mật 9 người, chỉ trong vòng hơn 4 tháng sau, các chiến sĩ cách mạng trẻ tuổi dưới sự hướng dẫn của Nguyễn ái Quốc vừa lo tổ chức, huấn luyện, bồi dưỡng cho những thanh niên ở trong nước ra, vừa lo chuẩn bị chương trình, điều lệ, vv… để đến tháng 6-1925, Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên chính thức tuyên bố thành lập và bắt đầu mở rộng các hoạt động tạo được bước ngoặt quan trọng trong phong trào yêu nước của nhân dân, đặc biệt là của thanh niên ta.

Tuân theo di huấn của Lênin: “Không có lý luận cách mạng thì không có phong trào cách mạng”, Nguyễn ái Quốc lần lượt mở các lớp huấn luyện chính trị ở Quảng Châu. Mục đích học tập là: “Học làm cách mạng, học cách hoạt động bí mật. Học xong họ lại bí mật về nước truyền bá lý luận, giải phóng dân tộc và tổ chức nhân dân".

Nguyễn ái Quốc cùng với các cộng sự đắc lực của Người như các đồng chí Hồ Tùng Mậu, Lê Hồng Phong, Lê Hồng Sơn vv… đã mở liên tiếp các lớp huấn luyện thu hút khá đông thanh niên yêu nước ở các miền Bắc, Trung, Nam sang Quảng Châu học tập.

Theo báo cáo của Nguyễn ái Quốc gửi Ban Phương Đông Quốc tế Cộng sản, từ năm 1924 đến năm 1927, Người đã mở được ba khoá huấn luyện cho 75 người, xuất bản được 3 tờ báo nhỏ. Đây là vốn quý mà Người đã chuẩn bị cho cách mạng Việt Nam. Hy vọng tuyệt đại bộ phận được trở về Trung Kỳ, Nam Kỳ, Bắc Kỳ, về Xiêm để hoạt động, tuyên truyền lý luận giải phóng dân tộc và tổ chức nhân dân. Đồng chí Phạm Văn Đồng là một trong những học viên được cử phụ trách các cơ sở Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên ở các tỉnh phía Nam nước ta.

Học viên tuy là những người có trình độ văn hoá (phần lớn là học sinh, giáo viên) nhưng còn hết sức bỡ ngỡ với biết bao khái niệm chính trị, triết học… mà họ chưa biết đến.

Tất cả những điều mới mẻ trên có sức hấp dẫn kỳ lạ đối với lớp thanh niên đang khát khao lý tưởng, khát khao tìm đường cứu nước, cứu dân. Họ hấp thụ chân lý chủ nghĩa Mác – Lênin như hấp thụ ánh sáng mặt trời.

Đối với công tác thanh niên, học viên được nghe giới thiệu về Quốc tế Thanh niên Cộng sản. Đây là đường lối công tác thanh niên theo chủ nghĩa Mác – Lênin lần đầu tiên được truyền bá vào Việt Nam.

Các bài giảng của Nguyễn ái Quốc tại các lớp huấn luyện thanh niên yêu nước ở Quảng Châu đã được tập hợp và in thành sách với tên chung là Đường kách mệnh.

Đường kách mệnh trở thành vũ khí chiến đấu của những người cách mạng Việt Nam lúc bấy giờ nhằm chống lại mọi trào lưu, tư tưởng phi vô sản và cơ hội chủ nghĩa trong và ngoài nước.

Với yêu cầu cần đào tạo lúc bấy giờ, Đường kách mệnh không chỉ nêu lên những vấn đề thuộc chủ nghĩa, đường lối, sách lược mà còn hướng dẫn công việc tổ chức, tuyên truyền rất cụ thể để mỗi học viên sau khi học xong có thể bắt tay thực hành.

Bài học đầu tiên mà học viên được nghe giảng là tư cách một người cách mạng trong đó nêu lên 3 mối quan hệ của người cách mạng: “Đối với bản thân, đối với người và đối với công việc”.

Trong cuộc chiến đấu quyết liệt mất còn với kẻ thù, vấn đề đặt ra đối với những người cách mạng, đặc biệt là đối với lớp thanh niên chưa trải qua nhiều thử thách thì bên cạnh việc bồi dưỡng về trí thức cách mạng, cần đặt lên hàng đầu việc bồi dưỡng về đạo đức và phẩm chất cách mạng. ấy chính là ý nghĩa của bài học đầu tiên này.

Cùng với việc mở trường đào tạo cán bộ thanh niên tại Quảng Châu, đồng chí Nguyễn ái Quốc đã liên hệ với Quốc tế Cộng sản và Quốc tế Thanh niên Cộng sản để gửi một số thanh niên Việt Nam đến học ở khoa đào tạo cán bộ Đoàn của trường Đảng Liên Xô.

Đồng chí Nguyễn ái Quốc cũng đã trực tiếp gửi thư cho Uỷ ban Trung ương Đội Thiếu niên Tiền phong trực thuộc Trung ương Đoàn Thanh niên Cộng sản Lênin đề nghị đào tạo theo chương trình lâu dài một số thiếu niên Việt Nam thành cán bộ Đoàn sau này. Bức thư đề ngày 22/7/1926 có đoạn viết: “Chúng tôi có tại đây (Quảng Châu – Trung Quốc) một nhóm thiếu nhi An Nam. Các em đều từ 12 đến 15 tuổi. Đó là những thiếu nhi cộng sản đầu tiên của nước An Nam bị chủ nghĩa đế quốc áp bức và ở đó mọi việc giáo dục đều bị cấm… chúng tôi hy vọng rằng các bạn sẽ không từ chối tiếp nhận 3 hay 4 bạn nhỏ An Nam". Đề nghị trên đã được Trung ương Đoàn Thanh niên Cộng sản Lênin đáp ứng một cách nồng nhiệt, tuy nhiên do tình hình chính trị ở Quảng Châu diễn biến xấu nên chủ trương gửi các cháu thiếu niên nói trên đi đào tạo ở Mátxcơva không thực hiện được.

Cùng với sự ra đời của Hội Việt Nam cách mạng Thanh niên, một tờ báo lấy tên là Thanh niên, phục vụ cho đối tượng chính là thanh niên, với tư cách là cơ quan ngôn luận của Hội đã phát hành số đầu tiên vào ngày 21/6/1925.

Người phụ trách trực tiếp và cũng là người viết nhiều bài cho tờ báo là Nguyễn ái Quốc. Đây là tờ báo tiếp nối sự nghiệp báo Le Paria (Người cùng khổ) trong điều kiện mới với đối tượng mới. Báo Thanh niên in khổ nhỏ (13x19) mỗi kỳ ra 100 bản, mỗi bản 2 trang đặc biệt có số 4 trang, báo viết bằng tiếng Việt.

Về nội dung, báo Thanh niên có các loại bài xã luận, bình luận, truyện lịch sử thế giới, truyện lịch sử dân tộc và tin tức, đặc biệt có thêm việc hướng dẫn tổ chức các đoàn thể, kinh nghiệm các cuộc cách mạng trên thế giới và giới thiệu về những thành tựu của Liên Xô.

Nhìn lại các bài viết trên báo Thanh niên, chúng ta thấy rõ mục đích của báo là:

- Phát động phong trào yêu nước, căm thù giặc, đặc biệt là trong các tầng lớp thanh niên, bồi dưỡng quyết tâm đánh đuổi quân xâm lược để giành lại độc lập, tự do cho đất nước.

- Giới thiệu kinh nghiệm lịch sử, nhất là kinh nghiệm các cuộc vận động cách mạng ở nhiều nước để vận dụng vào cuộc đấu tranh của nhân dân Việt Nam, giới thiệu về chủ nghĩa cộng sản và những vấn đề cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin cũng như những vấn đề chủ yếu về chiến lược, sách lược của cách mạng Việt Nam.

- Từng bước lý giải về sự cần thiết phải thành lập một Đảng cách mạng theo chủ nghĩa Mác – Lê nin; giáo dục về sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân và tuổi trẻ trước sự nghiệp giải phóng dân tộc và giai cấp.

Với lối viết giản dị nhưng chứa đựng tinh thần tố cáo và cổ vũ sâu sắc, báo Thanh niên kêu gọi nhân dân và tuổi trẻ đứng lên đấu tranh.

Về mức độ phổ biến của báo Thanh niên, tuy gặp nhiều khó khăn nhưng những cơ sở của Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên đã cố gắng giới thiệu báo Thanh niên cho hội viên và những người cảm tình với Hội đọc. Các đầu mối tiếp nhận báo ở trong nước lúc đó là Cảng Hải Phòng, Hà Nội, Nam Định v..v.. và một số cơ sở ở Sài Gòn (Nhận báo Thanh niên qua đường từ Băng Cốc đưa về).

Tên mật thám cáo già Lui Mácti đã nhận xét khái quát qua 88 số báo Thanh niên mà y có như sau: “Trong số báo đầu tiên, Nguyễn ái Quốc nhấn mạnh trước hết sức mạnh và sự đoàn kết đã đem lại cho một tập thể, nhấn mạnh đến lợi ích mà những cá nhân trong tập thể ấy thu được. Nguyễn ái Quốc đã thức tỉnh tinh thần độc lập và tình cảm dân tộc, đặc trưng cho tính khí người An Nam. Tiếp đó, dần dà ông cung cấp cho độc giả của mình những hiểu biết về lịch sử An Nam và các trào lưu tư tưởng nước ngoài, và lịch sử các cường quốc thế giới vv… Rồi lần lượt ông đưa ra từng thuật ngữ Hán – Việt tương ứng với một cuốn từ vựng mới về chủ nghĩa cộng sản và nêu ra một định nghĩa rõ ràng, chính xác về thuật ngữ ấy. Từng bước, lúc đầu còn ít và về sau thường xuyên hơn, ông công bố một câu hoặc một bài báo ngắn thông báo cho độc giả biết sự tồn tại của Liên Xô và hạnh phúc mà nhân dân Xô Viết đã được hưởng. Nguyễn ái Quốc cũng không ngần ngại dành đến 60 số báo của mình để chuẩn bị tinh thần cho độc giả, trước khi ông nói rõ ý đồ của mình, khi ông viết: “Chỉ có Đảng Cộng sản mới có thể đảm bảo hạnh phúc cho An Nam”.

Và chính Lui Mácti cũng thấy rõ rằng báo Thanh niên có sức hấp dẫn thanh niên, chẳng những họ đọc mà còn chép lại để chuyển cho người khác đọc.

Báo Thanh niên thực sự đã góp phần đắc lực vào việc chuẩn bị về tư tưởng, lý luận và tổ chức cho việc thành lập Đoàn, thành lập Đảng và đoàn kết, tập hợp thanh niên đứng lên giành giải phóng dân tộc.

Những năm 1925, 1926, trong nước bùng lên phong trào đấu tranh của các tầng lớp nhân dân đi đầu là thanh niên, học sinh, sinh viên đòi trả tự do cho cụ Phan Bội Châu. Cụ bị mật thám Pháp bắt cóc ở Thượng Hải rồi đưa về giam ở Hoả Lò (Hà Nội). Dù là bậc cao niên nhưng Phan Bội Châu tỏ ra rất khâm phục Nguyễn ái Quốc. Chính cụ Phan đã viết về Nguyễn ái Quốc rằng: “Học vấn, tri thức nay đã tăng trưởng quá nhiều. Phan Bội Châu đây đâu có ngờ rằng sau này đứa cháu sẽ trở thành một tiểu anh hùng như thế này…. Và mừng cho đất nước ta việc thừa kế đã có người, người đi sau giỏi hơn kẻ đi trước, tiền đồ đen tối sẽ xuất hiện ánh sáng ban mai” (Thư Phan Bội Châu gửi Lý Thuỵ đề ngày 14/2/1925 trước khi cụ bị bắt cóc, lúc này cụ đã lục tuần còn Nguyễn ái Quốc mới vào tuổi 35).

Toà án đề hình Bắc Kỳ loan tin cụ Phan sẽ bị tử hình. Tin này truyền nhanh trong các nhà máy, trường học, công sở. Thanh niên, học sinh, sinh viên Hà thành xôn xao bàn tán. Nhóm học sinh trường Bưởi do Ngô Gia Tự và Trịnh Đình Cửu đứng đầu họp bàn kế hoạch đấu tranh đòi trả tự do cho cụ Phan. Có ý kiến đề xuất tổ chức bãi khoá nhưng tình hình đã khẩn trương lắm rồi nên cả Nguyễn Đức Cảnh, Trần Tư Chính đều cho rằng trước mắt là phân công nhau vận động học sinh các trường kéo nhau đi dự phiên toà thật đông và đấu tranh ngay tại đó để gây ảnh hưởng, lấy áp lực của quần chúng buộc bọn thống trị phải xử công khai.

Đường lối bí mật đã được hình thành. Đó là các đường dây của Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên, đường dây của nhóm sinh viên Tôn Quang Phiệt, Đặng Thai Mai, Phạm Thiều ở Cao đẳng Sư phạm… Chỉ trong thời gian ngắn, hầu hết các trường từ trung học đến đại học ở Hà Nội đều đã sẵn sàng.

Chiều ấy có công văn của đốc học Lông Becgie trường Bưởi gửi đến tất cả các lớp: “Ngày mai cấm học sinh đi dự phiên toà đại hình xử án ông Phan Bội Châu”. Nhưng ngày mai không những học sinh trường Bưởi bỏ học mà nhiều trường khác học sinh, sinh viên, thầy giáo… cũng bỏ học, bỏ dạy... Chẳng những thế mà học sinh Hà Đông, Hải Dương, đặc biệt là gần một trăm học sinh trường Thành Chung, Nam Định cũng về Hà Nội.

Sân toà đại hình Hà Nội đông nghịt cả trong, ngoài với các tầng lớp nhân dân nội, ngoại thành và các tỉnh, nhất là thanh niên, học sinh, sinh viên. Đây là quang cảnh chưa từng có từ khi thực dân Pháp đặt ách đô hộ lên nước ta ở Hà Nội. Toà đọc cáo trạng buộc cụ Phan phạm tội nổi loạn chống Nhà nước bảo hộ và Triều đình. Cụ đanh thép trả lời làm nức lòng đồng bào. Đặc biệt, viên trạng sư người Pháp đứng ghế bào chữa cũng phải thốt lên: “Thưa quý toà, trong mấy chục năm gần đây, lịch sử Việt Nam hoà cùng lịch sử Phan Bội Châu. Dù tôi là người Pháp, đối với Phan Bội Châu tôi cũng phải hâm mộ. Tôi hâm mộ cái thân thế quang vinh, tinh thần cao thượng, nghị lực bất khuất của ông…”.

Tuy nhiên, bất chấp tất cả, bọn quan toà vẫn tuyên án xử tử Phan Bội Châu. Hàng nghìn người trong đó đông nhất vẫn là thanh niên, học sinh, sinh viên thét lên phản đối cùng với nhiều tiếng khóc phẫn uất. Không khí đang náo loạn bỗng lắng xuống khi có một người đầu đội khăn xếp, mặc áo the, vừa thét lớn vừa băng băng chạy thẳng lên vành móng ngựa quát to:

- Không được, không được… cụ Phan Bội Châu không thể chết được! Tôi, tôi tự nguyện xin chết thay cho cụ Phan!

Đôi mắt ông quắc lên dữ dội nhìn thẳng vào kẻ thù trong lúc rừng người đang xáo động, cảm phục hành động chưa từng thấy. Người ấy là ông Tú Doanh - Tú Khắc Doanh, một tri thức yêu nước ở Nam Trực (Nam Định) dẫn đầu đoàn học sinh thành Nam lên dự phiên toà.

Ngay chiều hôm ấy và suốt cả những tuần lễ sau, học sinh, sinh viên Hà Nội rồi đến các tỉnh miền Trung, tới Sài Gòn và các tỉnh Nam Kỳ thay nhau bỏ học biểu tình rầm rộ đòi thả cụ Phan Bội Châu. Hàng nghìn bức điện, đơn, thư gửi đến phủ Toàn quyền và gửi cho chính Toàn quyền Pháp Varen đòi phải thả cụ Phan.

Hoảng sợ trước phong trào đấu tranh, đúng 30 ngày sau, Toàn quyền Varen buộc phải xoá bỏ bản án tử hình đối với nhà yêu nước Phan Bội Châu rồi đưa cụ về giam lỏng ở Huế.

Những năm cuối đời dù phải sống trong cảnh chim lồng, cá chậu nhưng cụ được lớp con cháu thanh niên, học sinh, thầy giáo, trí thức trẻ luôn tìm tới để thăm nom, yết kiến “Ông già Bến Ngự”. Cụ luôn “Chúc phường hậu tử tiến mau” và không quên nói về Nguyễn ái Quốc.

Sau phiên toà xử cụ Phan ở Hà Nội, bọn mật thám và cảnh binh Pháp lùng sục vào các trường lần tìm manh mối bắt những anh chị em chúng nghi là cầm đầu các cuộc bỏ học. Tại trường Bưởi, Ngô Gia Tự và Trịnh Đình Cửu lúc này đang học đệ tứ niên. Hai anh tức thì bị đuổi học, Tự và Cửu không một lời xin xỏ. Các anh khinh bỉ nhìn Lôngbécgie rồi tạm biệt bạn bè, hẹn ngày gặp lại. Tiếp liền sau các cuộc đấu tranh rầm rộ đòi trả tự do cho Phan Bội Châu là cuộc biểu dương lực lượng của hàng trăm nghìn thanh niên, học sinh, sinh viên, thầy giáo, viên chức, cùng các tầng lớp nhân dân Sài Gòn và các tỉnh Nam Kỳ xuống đường thương tiếc đưa tang nhà yêu nước Phan Châu Trinh suốt đời tranh đấu cho dân chủ, nhân quyền, chăm lo: “Nâng cao dân trí, chấn hưng dân khí” cho thế hệ trẻ. Có thể nói cuộc biểu dương lực lượng của giới thanh niên, học sinh, thầy giáo và các tầng lớp nhân dân được tiếp nối bằng nhiều hoạt động hợp pháp, tập hợp hàng triệu người khắp cả nước từ Nam ra Bắc qua việc tổ chức lễ truy điệu cụ Phan Châu Trinh trong các trường học. Đặc biệt là nhân dịp này, nhiều nơi đã phát hành và cho in những tác phẩm yêu nước nổi tiếng của cụ để “hoán tỉnh quốc dân hồn”. Lễ truy điệu Phan Châu Trinh ở trường Thành Chung, Nam Định thu hút hầu hết học sinh và thầy giáo tham gia. Trước bàn thờ nghi ngút trầm hương, một bức trướng lớn tỏ lòng thương tiếc cụ với dòng chữ đầy ý nghĩa: “Truy điệu Tây Hồ nhật, Hoán tỉnh quốc dân hồn” (Phan Tây Hồ tức Phan Châu Trinh).

Sinh thời, khi ở Pháp, Phan Châu Trinh biết khá rõ về Nguyễn ái Quốc. Cụ đặt kỳ vọng lớn lao vào người thanh niên yêu nước xuất chúng này. Cụ viết thư cho Nguyễn: “Cảnh tôi như hoa sắp tàn, hiềm vì quốc phá gia vong, mà hơi tàn cũng gào lên cho hả dạ, may ra có tỉnh giấc hôn mê… Anh như cây đương lộc, nghị lực có thừa, dày công học hành lý thuyết tinh thông… không bao lâu nữa chủ nghĩa anh tôn thờ sẽ thâm căn cố đế sâu rễ, bền gốc trong đám dân tình, chí sỹ nước ta…”.

Thật vậy, từ năm 1926 đến năm 1929, phong trào đấu tranh của nhân dân Việt Nam, đặc biệt là phong trào đấu tranh của quần chúng công nông và thanh niên, học sinh đã phát triển lên một bước mới dưới sự lãnh đạo của Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên. Chính từ phong trào đấu tranh đó mà Hội đã có bước phát triển mới về tổ chức, cả về số lượng và chất lượng. Hệ thống tổ chức các cấp từ Trung ương Hội đến cơ sở đã xây dựng hoàn chỉnh. Hội có 1.700 hội viên và hàng nghìn người có cảm tình với Hội.

Luận cương Chính trị của Đảng Cộng sản Đông Dương đã chỉ rõ: “Những cuộc bãi công trong năm 1928 – 1929… đã chứng tỏ rằng sự tranh đấu của giai cấp ở Đông Dương ngày càng rộng khắp. Điều đặc biệt và quan trọng của phong trào cách mạng ở Đông Dương là sự tranh đấu của quần chúng công nông có tính chất độc lập rất rõ rệt, chứ không phải là chịu ảnh hưởng quốc gia chủ nghĩa như lúc trước nữa”.

Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên đã ý thức được rằng cách mạng không chỉ dừng lại ở chỗ tuyên truyền đường lối mà phải vận động quần chúng thực hiện đường lối và lấy công nông làm gốc cách mạng. Hội đã cố gắng đưa hội viên của mình đi vào công nông bằng cuộc vận động “Vô sản hoá”.

Từ giữa năm 1929 trở đi, làn sóng đấu tranh của thanh niên, công nhân trong cả nước ngày một dâng cao, là lực lượng xung kích đi đầu đấu tranh chống địch, bất chấp mọi hành động khủng bố tàn bạo của đế quốc và phong kiến.

Cùng với phong trào đấu tranh của thanh niên công nhân, các phong trào đấu tranh của học sinh cũng được Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên quan tâm lãnh đạo. ở nông thôn, Hội vận động thanh niên bài trừ hủ tục, chống phù thu lạm bổ, vạch mặt bọn quan lại địa phương. Đặc biệt Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên đã đấu tranh mạnh mẽ chống chính sách mộ phu của bọn tư bản, thực dân.

Trước yêu cầu cấp bách của phong trào cách mạng và sau một quá trình đấu tranh, chi bộ Đảng Cộng sản đầu tiên ở Việt Nam ra đời vào tháng 3/1929 tại số nhà 5D phố Hàm Long (Hà Nội) đến tháng 6 – 1929 thì Đông Dương Cộng sản Đảng ra đời. Tiếp sau đó là An Nam Cộng sản Đảng ra đời ở Nam Kỳ và Đông Dương Cộng sản Liên đoàn ra đời ở Trung Kỳ. Năm 1930, Nguyễn ái Quốc thay mặt Quốc tế Cộng sản chủ trì cuộc họp thống nhất các tổ chức cộng sản ở Việt Nam.

Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời đánh dấu một bước ngoặt vĩ đại trong lịch sử cách mạng Việt Nam.

Trước năm 1929 đã có một số đoàn viên, thanh niên cộng sản do các cán bộ của Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên vốn là đoàn viên, thanh niên cộng sản được kết nạp ở Quảng Châu về nước trực tiếp tuyên truyền và tổ chức, nhưng các đồng chí đoàn viên này chưa được tổ chức vào các tổ chức cơ sở của Đoàn mà hoạt động trong mối quan hệ trực tiếp với các cán bộ Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên. Chỉ từ sau khi các tổ chức Đảng ở nước ta hình thành, nhất là từ sau khi Đông Dương Cộng sản Đảng ở Bắc Kỳ ra đời thì các tổ chức Đoàn cơ sở mới được thành lập. Mỗi chi bộ Đoàn phân công các đoàn viên nhiệm vụ thu hút, tập họp một số thanh niên có tinh thần yêu nước, vận động họ hoạt động tuỳ theo từng hoàn cảnh, trình độ.

Tháng 6/1929, hai chi bộ Đoàn Thanh niên Cộng sản được thành lập ở Hải Phòng trong phong trào đấu tranh rộng lớn của quần chúng.

Chi bộ Đoàn thứ nhất ra đời ở Nhà máy Xi măng Hải Phòng. Chi bộ Đoàn nhà máy Xi măng Hải Phòng được xây dựng dưới sự chỉ đạo trực tiếp của đồng chí Nguyễn Đức Cảnh, một học viên của trường Chính trị Quảng Châu do đồng chí Nguyễn ái Quốc đào tạo. Đồng chí Nguyễn Đức Cảnh thường cùng lao động với thanh niên công nhân của nhà máy, đi sâu tìm hiểu hoàn cảnh của họ, tuyên truyền, giác ngộ họ rồi chọn lọc một số thanh niên ưu tú kết nạp vào Đoàn. Chi bộ Đoàn ra tờ báo lấy tên Tin lửa, bí mật phân phát trong nhà máy để giáo dục và tập hợp thanh niên. Chi bộ Đoàn đã có sáng kiến lập một số đội bóng đá và thường đứng ra tổ chức các trận đấu giao hữu ở bãi xi măng đen. Một số nhóm đọc sách do chi bộ Đoàn đứng ra thành lập thu hút khá đông thanh niên tham gia. Đây là những hình thức tập hợp thanh niên rất có kết quả. Ngày 7/11/1929, để kỷ niệm Cách mạng Tháng Mười Nga vĩ đại, chi bộ Đoàn đã tổ chức rải truyền đơn và treo cờ đỏ búa liềm trong nhà máy, ngoài ra còn tổ chức kể chuyện về Liên Xô qua những tài liệu thu thập trong sách báo cho đoàn viên và những thanh niên cảm tình với Đoàn nghe.

Cuối năm 1929, chi bộ Đoàn đã tích cực tham gia và trở thành lực lượng xung kích thực hiện chỉ thị của nhà máy đấu tranh đòi tăng lương, giảm giờ làm, chống khủng bố đế quốc.

Chi bộ Đoàn thứ hai ra đời ở trường Bônan (nay là trường Ngô Quyền) là nơi có phong trào đấu tranh mạnh mẽ của học sinh trong những năm 1925, 1926 và các năm sau. Chi bộ Đoàn có 11 đoàn viên, chia thành các tiểu tổ trong đó có một số học sinh ở trường khác. Chi bộ Đoàn trường Bônan do anh Bùi Đức Thanh làm bí thư. Chi bộ Đoàn có tờ báo lấy tên là Thanh niên Cộng sản để giáo dục thanh niên và tập hợp thanh niên học sinh. Các đoàn viên, thanh niên cộng sản ở trường Bônan hoạt động rất tích cực, nhất là trong công tác tuyên truyền cách mạng, vận động thanh niên đấu tranh. Có tháng, chi bộ Đoàn đã cho ra ba số Thanh niên Cộng sản nhằm đáp ứng nguyện vọng muốn hiểu biết của thanh niên. Chi bộ Đoàn Thanh niên Cộng sản trường Bônan làm công tác tập hợp thanh niên bằng cách giúp anh chị em học sinh tổ chức ra “Học sinh đoàn” để thu hút những học sinh có tinh thần yêu nước, hăng hái hoạt động cách mạng. Lớp học sinh đoàn đầu tiên gồm có Lê Viêm, Vũ Thiện Tuấn, Nguyễn Văn Cúc (tức đồng chí Nguyễn Văn Linh - Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá VI). Đồng chí Nguyễn Văn Linh là một học sinh yêu nước, hoạt động rất hăng hái đã bị đế quốc Pháp bắt đày ra Côn Đảo. Nhưng chính tại đây, trong chế độ lao tù vô cùng khắc nghiệt, đồng chí đã từ một học sinh yêu nước được giác ngộ lý tưởng của Đảng rồi được đứng trong hàng ngũ của Đảng, cùng với nhiều đảng viên Cộng sản Việt Nam khác anh dũng biến nhà tù trở thành trường học, rèn luyện ý chí cách mạng. Đồng chí đã trở thành người đảng viên đấu tranh kiên cường vì lý tưởng của Đảng.

Khoảng tháng 10 năm 1929, tại Hà Nội, một nhóm Đoàn viên Thanh niên Cộng sản đã được hình thành tại ga Hàng Cỏ trong đó có đoàn viên Long 21 tuổi là thợ cơ khí. Nhóm này do Lê Văn Nhuận (tức đồng chí Lê Duẩn, sau này trở thành Tổng Bí thư của Đảng) lúc ấy hoạt động trong Sở Hoả xa Bắc Đông Dương giác ngộ và kết nạp.

Nhiệm vụ của nhóm đoàn viên này dưới sự hướng dẫn của đồng chí Lê Duẩn là tuyên truyền cách mạng trong thanh niên giúp việc liên lạc cho Đảng, phát hành báo Búa liềm đi các tỉnh. Nhân kỷ niệm Cách mạng Xã hội chủ nghĩa Tháng Mười Nga năm đó (7/11/1929) nhóm Đoàn viên Thanh niên Cộng sản ga Hàng Cỏ đã chuyển nhiều truyền đơn của Thành uỷ lâm thời Hà Nội về các tỉnh.

Cùng thời gian trên, nhiều cơ sở “sinh hội” bí mật xuất hiện trong một số trường học ở Hà Nội như các trường Sinh Từ, Đỗ Hữu Vị, Trần Nhật Duật, Mạc Đĩnh Chi… Tháng 9/1929, Tổng Hội Sinh viên ra đời ở Hà Nội và xuất bản báo Người sinh viên do Đặng Xuân Khu (tức đồng chí Trường Chinh, sau này trở thành Tổng Bí thư của Đảng) phụ trách. Nhiều bài báo hay có tác dụng cổ vũ sinh viên đứng lên cùng nhân dân đánh đuổi đế quốc của Trường Chinh đã có tiếng vang lớn không những trong hàng ngũ sinh viên mà còn thức tỉnh các lớp thanh niên trí thức, tiểu tư sản, tham gia vào hàng ngũ cách mạng.

ở Nghệ An, trong những năm 1928-1929 đã có một số thanh niên ưu tú được tổ chức vào Thanh niên Cộng sản Đoàn do Vương Thúc Oánh, Nguyễn Ngọc Ba… là những đoàn viên, thanh niên cộng sản được dự lớp chính trị ở Quảng Châu trở về nước xây dựng cơ sở.

Năm 1929, sau khi Đông Dương Cộng sản Đảng ở Bắc Kỳ cử Nguyễn Phong Sắc, Trần Văn Cung vào Nghệ Tĩnh xây dựng cơ sở Đảng ở Trung Kỳ thì một số nhóm Đoàn viên Thanh niên Cộng sản ở các địa phương nói trên cũng được hình thành.

Cũng trong năm này, các đảng viên cộng sản hoạt động ở Sài Gòn và các tỉnh Nam Kỳ đã tuyên truyền, giác ngộ và tổ chức được nhiều thanh niên vào Đoàn. Riêng ở Sài Gòn, tại một số cơ sở quan trọng đã có những nhóm đoàn viên hoạt động dưới sự chỉ đạo của các đảng viên.

Đến năm 1930, những nhóm đoàn viên này đã nhanh chóng chuyển thành các chi bộ Đoàn.

Vào thời gian nêu trên, trước yêu cầu của phong trào học sinh càng lên cao, Nguyễn Phong Sắc, Bí thư Kỳ bộ Đông Dương Cộng sản Đảng Trung Kỳ đã chủ trương thành lập Ban Chấp hành Tổng sinh hội Nghệ An do Nguyễn Tiềm - học sinh trường Quốc học Vinh làm Bí thư, Tổng sinh hội phát hành tờ báo “Xích sinh” (Học sinh đỏ) kịch liệt tố cáo chính sách giáo dục nô dịch của thực dân Pháp, tuyên truyền chủ nghĩa cộng sản …

Như vậy, cùng với sự ra đời của các tổ chức Đảng Cộng sản từ cuối năm 1929, trên đất nước ta hình thành những cơ sở đầu tiên của Đoàn Thanh niên Cộng sản, đó là các chi bộ Đoàn và các nhóm đoàn viên hoạt động dưới sự lãnh đạo của Đảng do các đảng viên trực tiếp phụ trách.

Đây là mốc quan trọng trong quá trình tiến tới thành lập Đoàn.

Ngay trong Hội nghị hợp nhất thành lập Đảng, công tác vận động thanh niên đã được Nguyễn ái Quốc và các đại biểu đặc biệt quan tâm. Với việc thông qua chính cương, sách lược, điều lệ vắn tắt của Đảng, Hội nghị đã thông qua điều lệ của Đoàn Thanh niên Cộng sản. Và trong điều lệ vắn tắt của Đảng đã ghi rõ một điều kiện quan trọng: “Người dưới 21 tuổi phải vào Thanh niên Cộng sản Đoàn”. Hội nghị cũng nói rõ Ban Chấp hành Trung ương của Đảng, ngoài công tác hàng ngày cần phải tổ chức ngay “Đoàn Thanh niên Cộng sản”. Như vậy, vấn đề Đoàn Thanh niên Cộng sản đã được khẳng định trong hai văn bản trọng yếu của Hội nghị thành lập Đảng.

Tháng 10 năm 1930 diễn ra một sự kiện hết sức quan trọng đối với phong trào cách mạng nước ta nói chung, đối với tổ chức Đoàn và phong trào thanh niên nước ta nói riêng. Đó là Hội nghị lần thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương Đảng thảo luận và thông qua nhiều văn kiện lớn có ý nghĩa lịch sử trong đó có án nghị quyết về tình hình hiện tại ở Đông Dương và nhiệm vụ của Đảng, về phần công tác vận động thanh niên, Nghị quyết của Đảng nêu rõ: “Phải mở rộng việc tuyên truyền, cổ động (ra sách, báo, truyền đơn, diễn thuyết…). Tài liệu huấn luyện phải viết rõ ràng và in sạch sẽ. Lại phải biết lợi dụng các cơ hội mà hoạt động công khai, ví dụ như ở Đông Dương, pháp luật cho lập Hội Thể dục. Đảng nên nhân cơ hội ấy mà tổ chức các Hội Thể dục để vận động thanh niên”. Như vậy, ngay từ khi thành lập và trong Nghị quyết Hội nghị Trung ương tháng 10 năm 1930 về công tác Đảng đã đề cập đến vấn đề tập hợp, đoàn kết thanh niên dưới nhiều hình thức. Đồng thời cũng vào tháng 10 năm 1930, Hội nghị Trung ương đã ban hành án nghị quyết về Cộng sản Thanh niên Vận động.

Đối với án nghị quyết về công tác thanh niên, đây là văn kiện đầu tiên của Đảng ta đặt nền móng vững chắc về quan điểm, tư tưởng cho công tác vận động thanh niên ở Đông Dương trong phạm trù của cuộc cách mạng vô sản.

án nghị quyết được trình bày theo 3 phần:

Phần thứ nhất nói về: “Địa vị thanh niên lao động và sự quan trọng của Thanh niên Cộng sản Đoàn”. Mở đầu phần này, án nghị quyết đã đánh giá khái quát tình cảnh các tầng lớp thanh niên và khả năng cách mạng to lớn của họ… “ở Đông Dương, số thanh niên lao động (thanh niên công nhân và cu li ở các kỹ nghệ, đồn điền; thanh niên công nhân và thanh niên dân cày nghèo, thanh niên thủ công, thanh niên ở mướn, thanh niên làm việc trong các nhà buôn…) chiếm một phần khá đông. Đó là một hạng lao động bị bóc lột, bị đè nén hơn hết, thanh niên và trẻ con đi làm, tuy làm một công việc như người lớn nhưng ăn ít tiền công hơn, vả lại còn bị đánh đập ngược đãi hơn nhiều nữa…”. Sự phân tích này có ý nghĩa rất quan trọng, đã làm sáng tỏ tình trạng bị áp bức, bóc lột nặng nề của các tầng lớp thanh niên lao động ở Đông Dương về cả 3 mặt dân tộc, giai cấp, lứa tuổi.

Từ sự phân tích này, án nghị quyết khẳng định: “Thanh niên lại là một hạng người ít bị những cái ảnh hưởng quốc gia, phong kiến, đế quốc chủ nghĩa nó trói buộc họ hơn người lớn, cho nên từ khi phong trào cách mạng nổi khắp trong xứ, chúng ta thấy quần chúng thanh niên tham gia rất hăng hái. Những cuộc công nhân bãi công và nông dân biểu tình trong năm nay tỏ rõ rằng thanh niên lao động đã thành một lực lượng cách mạng rất quan trọng không thể kể tới được…”.

Nghị quyết của Hội nghị Trung ương Đảng tháng 10-1930 ra đời trong hoàn cảnh phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân và nhân dân ta đang tiến tới cao trào: Hàng trăm cuộc bãi công của công nhân, biểu tình của nông dân đi đầu là thanh niên đã nổ ra trên khắp mọi miền đất nước. Tác dụng tích cực và có ý nghĩa quyết định của thanh niên với tư cách là đội quân xung kích đã được Nghị quyết khẳng định: “Thanh niên lao động đã thành một lực lượng cách mạng rất quan trọng”. Như vậy, đến lúc này ảnh hưởng mạnh mẽ của Đảng trong thanh niên và tác động cụ thể của các tổ chức Đoàn trong việc tập hợp và hướng dẫn thanh niên đã dấy lên được một phong trào yêu nước trong tuổi trẻ.

Phong trào ấy như Nghị quyết của Đảng đã nhận định là “làm cho nhiều thanh niên trong hạng tiểu tư sản, nhất là học sinh, tham gia vào cuộc sinh hoạt chính trị ở Đông Dương”.

Chính vì nhận thức được vai trò to lớn và lực lượng quan trọng của thanh niên nên các đảng phái chính trị đã tìm cách tranh thủ, lôi kéo thanh niên như Nghị quyết đã nêu rõ: “Hết thảy những đảng phái ấy đều hiểu cái địa vị trọng yếu của thanh niên lao động …”. Và kết luận được rút ra trong Nghị quyết là: “Vì những điều đã nêu trên cho nên Đảng Cộng sản phải cần kíp công tác trong quần chúng thanh niên, phải lãnh đạo quần chúng thanh niên lao động thành phố, nhà quê tranh đấu hàng ngày và phải kéo họ ra khỏi ảnh hưởng quốc gia, phong kiến, đế quốc. Muốn được như vậy thì chỉ có tổ chức ra một đoàn thể của thanh niên mới được…”.

Trong phần này, Nghị quyết đặt vấn đề: “Phải hết sức tổ chức ra những đoàn thể như là các bộ phận thanh niên trong công, nông hội, thanh niên vệ đội, Hội Phản đế, Hội Thể dục…” Quan điểm về mở rộng mặt trận đoàn kết, tập hợp thanh niên đã được xác lập vững chắc trong Nghị quyết tháng 10 năm 1930. Những đảng viên cộng sản ở Đông Dương lúc này là: “Phải làm cho hết thảy đảng viên hiểu rằng công việc Thanh niên Cộng sản Đoàn là một việc cần kíp, quan trọng như là việc Đảng vậy…”

Phần thứ hai của “án nghị quyết về cộng sản thanh niên vận động” nói về: “Những điều căn bản của Thanh niên Cộng sản Đoàn”, nghĩa là đề cập đến tính chất, chức năng, nhiệm vụ và những vấn đề về nguyên tắc tổ chức của Đoàn Thanh niên Cộng sản.

“án nghị quyết về cộng sản thanh niên vận động” của Hội nghị Trung ương Đảng ra đời trong tháng 10 năm 1930 là một sự kiện hết sức quan trọng trong phong trào thanh niên nước ta. án nghị quyết đã được xây dựng trên cơ sở tổng kết thực tiễn cách mạng phong phú ở Đông Dương trong những năm 20 kết hợp với sự vận dụng sáng tạo những nguyên lý chung của chủ nghĩa Mác – Lênin về xây dựng Đảng kiểu mới và tổ chức thanh niên của Đảng cũng như những lời chỉ dẫn xác đáng của Quốc tế Thanh niên Cộng sản. án nghị quyết là văn kiện nền tảng về lý luận vận động thanh niên đầu tiên của Đảng ta. Mặc dầu án nghị quyết ra từ những năm đầu của thế kỷ XX nhưng nhiều vấn đề cơ bản được đề ra trong Nghị quyết vẫn còn giữ nguyên giá trị chỉ đạo cho đến ngày nay.

án nghị quyết ra đời đáp ứng kịp thời những đòi hỏi của phong trào yêu nước trong thanh niên ta đang phát triển mạnh và đã thực sự gây nên những biến đổi với sự nghiệp xây dựng Đoàn và hình thành một mặt trận tập hợp, đoàn kết các tầng lớp thanh niên.

Theo thư của đồng chí Nguyễn ái Quốc gửi Ban Chấp hành Trung ương Đảng ngày 20/4/1931 trong đó có thống kê một số cơ sở Đoàn thì đến khoảng cuối năm 1930 đầu năm 1931, số lượng đoàn viên trong một số tỉnh ở nước ta là 942 đồng chí, mỗi cơ sở Đoàn đều tập hợp được số thanh niên cảm tình hoặc tổ chức các Hội Thể dục, Hội Tương thân Tương ái, Hội Học sinh để thu hút những thanh niên yêu nước.

Sau khi Đảng ra đời, các tổ chức cơ sở của Đoàn và các Hội thanh niên phát triển mạnh ở các trung tâm kinh tế, chính trị của đất nước, phong trào đấu tranh của nhân dân ta, trước hết là của công nhân, nông dân, học sinh, tiểu tư sản trí thức… dưới sự lãnh đạo của Đảng có sự phát triển vượt bậc. Từ tháng 6 đến tháng 8 năm 1930, trong cả nước đã nổ ra 121 cuộc đấu tranh. Đây là một hình thức đặc biệt, chính trên cơ sở này, Đảng ta đã chủ trương phát động một cao trào cách mạng rộng lớn nhằm giành những quyền lợi thiết thân và để tập hợp giáo dục quần chúng.

Với lòng yêu nước căm thù giặc cao độ, phong trào đấu tranh của quần chúng đi đầu là thanh niên đã bùng lên mạnh mẽ, lan đi nhanh chóng mà đỉnh cao là sự xuất hiện các Xô viết làm chức năng chính quyền cách mạng do giai cấp công nhân lãnh đạo ở nhiều vùng rộng lớn trong hai tỉnh Nghệ An, Hà Tĩnh.

Bài ca Thanh niên cận vệ hùng tráng đã cổ vũ các chiến sỹ Xô viết Nghệ Tĩnh trẻ tuổi vùng lên:

…Chúng ta là thanh niên cận vệ!
Chúng ta là đội cận vệ của ngày mai
Sinh trưởng trong nơi đớn đau, khốn cùng
Một là toàn thắng, hai là hy sinh
Vì công lý ta ra tranh đấu…

Chỉ trong tháng 9 và tháng 10 năm 1930, cả nước có 362 cuộc đấu tranh: 29 cuộc ở miền Bắc, 316 cuộc ở miền Trung, 17 cuộc ở miền Nam.

Phong trào cách mạng của quần chúng công nông dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản đã được đồng chí Nguyễn ái Quốc theo dõi chặt chẽ và báo cáo thường xuyên cho Quốc tế Cộng sản.

Ngày 29/9/1930, Người gửi thư cho Ban Chấp hành Quốc tế Cộng sản phản ánh về tình hình đấu tranh ở Nghệ Tĩnh và yêu cầu Quốc tế Cộng sản cho ý kiến chỉ đạo.

Ngày 5 tháng 11 năm 1930, Người gửi thư cho Quốc tế Nông dân phản ánh về phong trào nông dân trong nước, đặc biệt là phong trào Xô viết Nghệ Tĩnh.

Ngày 19 tháng 2 năm 1931, Nguyễn ái Quốc gửi báo cáo lên Ban Chấp hành Quốc tế Cộng sản về cuộc đấu tranh ở Nghệ Tĩnh trong đó khẳng định: “Bom đạn, súng máy, đốt nhà, đồn binh… đều bất lực không dập tắt nổi phong trào cách mạng của Nghệ Tĩnh”.

Xô viết Nghệ Tĩnh là kết quả phát triển của cao trào đấu tranh cách mạng của quần chúng. Điều kiện cơ bản để tạo nên cao trào đó là do Nghệ Tĩnh sớm hình thành được khối liên minh công nông, sớm xây dựng nên đội xung kích cách mạng của Đảng là Đoàn Thanh niên Cộng sản và đoàn kết, tập hợp được đông đủ thanh niên tham gia theo những hình thức thích hợp.

Vai trò của đoàn viên và thanh niên trong Xô viết Nghệ Tĩnh được nhân dân và thanh niên cả nước ta đánh giá rất cao. Đó là những chiến sỹ quả cảm, chiến đấu quên mình vì lý tưởng của Đảng. Nhìn lại lực lượng đoàn viên và thanh thiếu niên có tổ chức trong phong trào Xô viết Nghệ tĩnh chúng ta có thể nêu lên những số liệu tiêu biểu sau đây:

2356 đoàn viên, thanh niên cộng sản được tập hợp trong hàng trăm chi bộ Đoàn.

9158 đội viên tự vệ đỏ (tuyệt đại bộ phận là thanh niên) được tập hợp trong 411 đơn vị do đảng viên hoặc cán bộ, đoàn viên, thanh niên cộng sản chỉ huy.

Khoảng 600 thanh niên hăng hái cách mạng là hội viên của các tổ chức thanh niên rộng rãi như: Hội tương tế, Hội giúp nhau cày cấy, Hội nghề…

513 đội viên thiếu niên do các chi bộ Đoàn hoặc các đội tự vệ hướng dẫn hoạt động.

Chính trong cao trào Xô viết Nghệ Tĩnh đã xuất hiện biết bao tấm gương anh hùng mở đầu cho truyền thống cách mạng vẻ vang của tuổi trẻ nước ta. Một trong những tấm gương chói lọi đó là Cao Xuân Quế, 17 tuổi, quê ở xã Lĩnh Sơn, huyện Anh Sơn (Nghệ An), anh là một thanh niên rất hăng hái cách mạng. Trong mọi cuộc đấu tranh, Cao Xuân Quế luôn hăng hái đi đầu, bất chấp hiểm nguy và không bao giờ từ nan một nhiệm vụ dù gian khổ, khó khăn đến đâu. Khi phong trào bị địch khủng bố mạnh, đơn vị xích vệ phải tạm lánh vào rừng, Cao Xuân Quế vẫn sống lạc quan, tin tưởng. Một lần, trong khi đang làm nhiệm vụ, anh bị địch bắt, địch dùng mọi cực hình tra tấn nhưng anh không hề hé môi khai với chúng nửa lời. Trong nhà giam, anh động viên những đoàn viên và thanh niên cùng bị bắt cất cao tiếng hát quen thuộc: “Chúng ta là thanh niên cận vệ”. Quế hy sinh giữa tuổi 17 trong sự tiếc thương vô hạn của đồng chí, đồng bào.

Bên cạnh Cao Xuân Quế, chúng ta còn thấy nhiều tấm gương anh hùng, bất khuất khác. Đó là Lê Cảnh Nhượng, ở xã Phong Nẫm, huyện Thanh Chương (Nghệ An). Anh còn là người chỉ huy gan dạ của đội tự vệ xã. Sau khi bị bắt, địch đưa anh ra trước toà án của đế quốc, phong kiến để xử. Lúc nghe bọn quan toà thoá mạ Đảng ta, anh đứng phắt dậy, chỉ vào mặt chúng: “Các người không được nói láo, Đảng Cộng sản chúng tôi không hề cướp của, giết người, Đảng chúng tôi làm cách mạng để đánh đổ đế quốc, phong kiến, chính các người mới là bọn cướp của, giết người…”.

Để khủng bố tinh thần nhân dân, địch đưa đồng chí Lê Cảnh Nhượng về chính quê anh để xử bắn. Một lần nữa Nhượng lại vạch mặt quân thù trước khi ngã xuống…

Xô viết Nghệ Tĩnh là mặt trận thử lửa đầu tiên đối với lớp đoàn viên, thanh niên cộng sản thuộc thế hệ 1925–1935 quyết một lòng theo Đảng và đã tỏ rõ khí phách anh hùng xứng đáng với lòng tin yêu của Đảng và nhân dân.

Phối hợp với tuổi trẻ Nghệ Tĩnh, tuổi trẻ cả nước ta trong thời gian này đã đẩy mạnh mọi mặt đấu tranh chống quân thù. Biết bao đoàn viên, thanh niên cộng sản hy sinh anh dũng với tư thế hiên ngang trước họng súng của quân thù. Trong số đó, tên tuổi Lý Tự Trọng, người đoàn viên thanh niên cộng sản được Nguyễn ái Quốc ân cần chăm sóc, đào tạo, giáo dục từ lúc còn tuổi thiếu niên đã được tuổi trẻ Việt Nam cũng như tuổi trẻ nhiều nước trên thế giới biết đến như một biểu tượng rực rỡ của tinh thần bất khuất và lạc quan cách mạng tuyệt vời. Anh về nước công tác theo sự phân công của tổ chức nhằm góp phần xây dựng cơ sở Đoàn ở miền Nam nước ta trong phong trào đấu tranh 1930–1931, ngoài ra anh còn làm nhiệm vụ giao liên cho Trung ương và Xứ uỷ Đảng. Lý Tự Trọng đã tỏ rõ tinh thần gan dạ vô song đối với mọi công việc mà anh đảm nhận. Để cứu nguy cho đồng chí mình, Lý Tự Trọng đã rút súng bắn chết tên mật thám cáo già Lơgơrăng ngay trên đường phố Sài Gòn (chiều chủ nhật ngày 8/2/1931). Sa vào tay giặc và bị chúng dùng mọi cực hình dã man để tra tấn song chính khí tiết của anh đã làm cho kẻ thù phải kính nể. Chúng gọi anh là: “Ông nhỏ” và kinh ngạc mỗi lúc nghe anh ngâm Kiều trong xà lim tử hình. Tra tấn không khuất phục được anh, kẻ địch lại dùng thủ đoạn mua chuộc hèn hạ, nhưng chúng cũng lại bị thất bại nhục nhã.

 Trước toà án của kẻ thù, Lý Tự Trọng đã dõng dạc tuyên bố: “Tôi hành động có suy nghĩ, tôi hiểu việc tôi làm. Con đường của thanh niên chỉ là con đường cách mạng, chứ không thể có con đường nào khác”.

 Theo dõi chặt chẽ hành động anh hùng của Lý Tự Trọng, ngày 21/2/1931, Nguyễn ái Quốc đã gửi thư cho Bộ Phương Đông Quốc tế Cộng sản báo tin này và đề nghị Bộ Phương Đông yêu cầu Đảng Cộng sản Pháp tổ chức biểu tình đòi trả tự do cho Lý Tự Trọng.

Vào mùa xuân năm 1931, ở thời điểm từ ngày 20 đến ngày 26/3/1931, khi tiến hành Hội nghị lần thứ hai Ban Chấp hành Trung ương Đảng, trong đó Trung ương dành một phần quan trọng trong chương trình làm việc để bàn về công tác thanh niên đã đi đến những quyết định có ý nghĩa đặc biệt như các cấp bộ Đảng từ Trung ương đến địa phương phải cử ngay các cấp uỷ viên của Đảng phụ trách công tác Đoàn và phong trào thanh niên. Trước sự phát triển và lớn mạnh của phong trào thanh niên cũng như sự phát triển và lớn mạnh của Đoàn trên cả ba miền Bắc, Trung, Nam, ở nước ta đã xuất hiện nhiều tổ chức Đoàn cơ sở với khoảng hơn 1500 đoàn viên và một số địa phương đã hình thành hệ thống tổ chức Đoàn xã, huyện lên đến tỉnh. Đến cuối năm 1931 số lượng đoàn viên trong cả nước lên đến khoảng hơn 2500 đồng chí và số lượng thanh niên cảm tình, thanh niên tham gia hoạt động trong các nhóm, hội công khai, đặc biệt là hội thể dục, thể thao, văn hoá, nghệ thuật… lên đến hàng vạn người trong cả nước, chứng tỏ tác động tích cực của những quyết định quan trọng của Hội nghị Trung ương lần thứ hai (tháng 3 năm 1931). Bao tấm gương đoàn viên, thanh niên đã dũng cảm chiến đấu, hi sinh vì sự nghiệp giải phóng dân tộc.( Nguồn: http://tinhdoankiengiang.org.vn/detaillienhiep.php?idcate=3&PHPSESSID=1eebdff5135fb91a291c0a5dd281093f ).


CHƯƠNG II: ĐẤU TRANH CHỐNG BỌN PHẢN ĐỘNG, THUỘC ĐỊA, CHỐNG KHỦNG BỐ ĐÒI TỰ DO, DÂN CHỦ , CƠM ÁO, HÒA BÌNH

Sau cao trào Xô viết Nghệ Tĩnh, cách mạng nước ta bị đế quốc, phong kiến đàn áp, khủng bố khốc liệt. Hàng vạn đảng viên, đoàn viên, thanh niên yêu nước bị chém giết, tù đày. Tuy nhiên, những chiến sĩ cách mạng, thanh niên yêu nước còn lại vẫn hoạt động kiên cường bất chấp gươm súng của kẻ thù.

Tháng 3/1935, Mặt trận Nhân dân Pháp được thành lập bao gồm Đảng Cộng sản, Đảng Xã hội, Đảng Cấp tiến, Tổng Liên đoàn Lao động Thống nhất và các đoàn thể quần chúng khác. Trong cuộc bầu cử Quốc hội tháng 5/1936, Mặt trận Nhân dân giành được đa số phiếu và tháng 6/1936, Chính phủ phái tả lên cầm quyền ở Pháp.

Chính phủ này thực chất vẫn là cơ quan chấp hành ý chí của giai cấp tư sản Pháp. Nhưng trước sức mạnh đấu tranh của quần chúng đoàn kết trong Mặt trận Nhân dân, một số yêu sách về xã hội – kinh tế trong cương lĩnh của Mặt trận đã được thực hiện.

Căn cứ vào những diễn biến của tình hình thế giới và trong nước, quán triệt và vận dụng Nghị quyết của Quốc tế Cộng sản vào hoàn cảnh lịch sử cụ thể ở Việt Nam và để thực sự phối hợp giữa cách mạng Việt Nam với cách mạng thế giới, nhất là cách mạng Pháp. Sau Đại hội đại biểu toàn quốc của Đảng lần thứ I (tháng 3/1935), tháng 7 năm 1936, Hội nghị Trung ương Đảng đã định ra đường lối, phương pháp tổ chức và đấu tranh cách mạng trong thời kỳ mới.

Nhiệm vụ trước mắt của Đảng và nhân dân ta lúc này là tập trung mũi nhọn đấu tranh chống bọn phản động thuộc địa và tay sai của chúng ở Đông Đương, đòi các quyền tự do, dân chủ, cải thiện đời sống, chống chiến tranh phát xít, bảo vệ hoà bình. Vì vậy, Đảng chủ trương thành lập Mặt trận Nhân dân Phản đế rộng rãi (về sau đổi thành Mặt trận Thống nhất Dân chủ) bao gồm tất cả các giai cấp, đảng phái, đoàn thể chính trị, tín ngưỡng, tôn giáo khác nhau để cùng đấu tranh đòi những điều kiện dân chủ tối thiểu cho nhân dân các nước trên bán đảo Đông Dương.

Để phù hợp với sự chuyển hướng về nhiệm vụ, Hội nghị chủ trương chuyển hình thức tổ chức bí mật, không hợp pháp sang hình thức tổ chức công khai, hợp pháp và nửa hợp pháp.

Tiếp sau đó, Hội nghị toàn thể Ban Chấp hành Trung ương Đảng họp tháng 7 năm 1936 đã ra những quyết định quan trọng nhằm tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác vận động thanh niên. Các Hội nghị của Ban Chấp hành Trung ương trong các kỳ họp tháng 3/1937, tháng 9/1937 và tháng 3/1938 đều có những quyết nghị về công tác vận động thanh niên, chỉ ra phương hướng, nhiệm vụ công tác tư tưởng và tổ chức của Đoàn trong thời kỳ này.

Tháng 9/1937, Đảng nhấn mạnh phải ra sức tổ chức các hội quần chúng phổ thông của thanh niên (Thanh niên dân chủ, tân tiến, thể thao, khuyến học…vv) để thu phục quảng đại quần chúng thành một Mặt trận Thống nhất Thanh niên. Đến tháng 3/1938 Đảng quyết định tổ chức Thanh niên tân tiến Hội để giúp Đảng vận động các tầng lớp thanh niên phù hợp với hoàn cảnh, trình độ, tâm lý của họ để có khẩu hiệu và hình thức tổ chức thích hợp (phổ thông và công khai hoặc bán công khai, như hội đá bóng, đọc báo, âm nhạc…vv). Trong thời kỳ 1936 – 1939, Đoàn Thanh niên có nhiều tên gọi khác nhau song đều nhằm mục đích đấu tranh đòi các quyền dân sinh, dân chủ, vì vậy chúng ta thường gọi tên chung là Đoàn Thanh niên Dân chủ. Nhiệm vụ chủ yếu của Đoàn là vừa củng cố tổ chức vững mạnh vừa ra sức tập hợp đoàn kết các tầng lớp thanh niên vào các tổ chức rộng rãi, hình thành nên nhiều Hội quần chúng của thanh niên theo sở thích, nghề nghiệp, lợi ích… nhằm lôi kéo thanh niên đấu tranh cho các quyền dân chủ, dân sinh, nghĩa là phải hình thành cho được một mặt trận thanh niên thật sự rộng rãi.

Thanh niên là lực lượng hăng hái, tích cực nhất trong các Uỷ ban Hành động, trong việc đi thu thập nguyện vọng của nhân dân. Những yêu cầu về quyền dân sinh, dân chủ này cũng là nguyện vọng bức bách của đông đảo thanh niên và quần chúng lao động vì rằng: “Trừ một số ít thanh niên con nhà tư sản, thì hầu hết thanh niên lao động cho đến thanh niên tiểu tư sản đều phải sống cuộc đời khốn quẫn về vật chất lẫn tinh thần".

Phong trào Đông Dương Đại hội phát triển nhanh chóng chỉ trong một thời gian ngắn, ở Nam Bộ đã có 600 Uỷ ban Hành động, phần lớn là thanh niên tham gia. Một số Uỷ ban Hành động như ở thành phố Sài Gòn bao gồm 100% là thanh niên có cảm tình với cách mạng. Các Uỷ ban Hành động tổ chức nhiều cuộc hội nghị, mít tinh để giải thích, thảo luận về tình hình, thời cuộc, về tình cảnh đời sống, về Mặt trận Nhân dân và những yêu cầu về quyền dân chủ, cải thiện đời sống về luật lao động. Qua các cuộc sinh hoạt chính trị này, thanh niên càng thấy rõ, muốn có được những quyền lợi tối thiểu thì phải đoàn kết lại và tổ chức đấu tranh.

Hoảng sợ trước sức mạnh đấu tranh của quần chúng, Chính phủ Pháp ra lệnh cấm Đông Dương Đại hội, nhưng chúng không ngăn cấm được làn sóng đòi quyền dân chủ, cải thiện đời sống của nhân dân ta.

Cùng với phong trào đấu tranh của công nhân và các tầng lớp thanh niên ngày một lan rộng khắp các thành phố và địa phương trong cả nước, thanh niên công nhân đấu tranh đòi tự do lập nghiệp đoàn, tăng lương, giảm giờ làm; phản đối đánh đập, cúp phạt, chống đuổi thợ. Thanh niên nông dân đòi cứu tế nạn đói, nạn lụt, đòi chia lại ruộng công, chống sưu cao, thuế nặng, cướp ruộng đất, nữ thanh niên đòi quyền lợi ngang nam giới; việc làm như nhau, tiền lương ngang nhau, cấm bắt chị em làm công việc nặng nề có hại đến sức khoẻ, cấm bắt bớ, bỏ tù phụ nữ khi đến kỳ sinh đẻ… Thanh niên học sinh đòi mở thêm trường vv…

Chỉ tính 6 tháng cuối năm 1936 đã có 361 cuộc đấu tranh trong đó có 236 cuộc của công nhân. Có những cuộc bãi công thu hút hàng nghìn thanh niên công nhân tham gia như cuộc bãi công của 5000 công nhân mỏ thiếc Tĩnh Túc (Cao Bằng), tiêu biểu là cuộc bãi công lớn của hơn 30.000 công nhân mỏ Hòn Gai, Cẩm Phả.

Trước phong trào đấu tranh mạnh mẽ của nhân dân lao động Đông Dương, trước sức ép của Mặt trận Nhân dân Pháp và Đảng Cộng sản Pháp, theo lệnh Chính phủ Pháp, ngày 11/10/1936, toàn quyền Đông Dương ra Nghị định về một số quyền lợi của công nhân và lao động làm thuê như thời gian lao động trong một ngày không quá 10 giờ kể từ ngày 1/11/1936, không quá 9 giờ kể từ ngày 1/11/1938, được nghỉ chủ nhật, nghỉ phép hàng năm (5 ngày kể từ năm 1937 và 10 ngày kể từ năm 1938) được hưởng lương, cấm bắt đàn bà, trẻ em làm việc ban đêm…vv

Ngày 30 tháng 12 năm 1936, Bộ trưởng Bộ thuộc địa Pháp ra Nghị định quy định thêm một số chế độ lao động như chế độ học nghề, tiền lương tối thiểu, cấm cúp phạt bằng tiền, chế độ nghỉ đẻ, nghỉ cho con bú trong thời gian làm việc…

Chính phủ Mặt trận Nhân dân Pháp đã ra sắc lệnh “ân xá” tù chính trị ở Đông Dương, vào các năm 1936 và 1937. Trên 2500 tù chính trị, phần lớn là các chiến sĩ cộng sản được thoát ra khỏi các nhà tù của bọn đế quốc.

Những thắng lợi trên đây tuy mới là bước đầu nhưng hết sức quan trọng đã nâng cao uy tín của Đảng trong nhân dân ta.

Mặc dù bọn phản động thuộc địa ngoan cố ngăn cấm và đàn áp, nhưng phong trào đấu tranh của quần chúng vẫn không ngừng phát triển. Trong năm 1937 có gần 400 cuộc đấu tranh của công nhân, có những cuộc bãi công lớn có tổ chức và kéo dài như cuộc bãi công của 300 công nhân nhà máy Tơ Hải Phòng (tháng 1/1937); của 7000 công nhân Dệt Nam Định (tháng 2/1937); của 4000 công nhân Ba Son (tháng 4/1937); công nhân mỏ Uông Bí (tháng 7/1937), tiêu biểu nhất là bãi công của 3000 công nhân xe lửa Trường Thi (Vinh) và miền Nam Đông Dương (tháng 7/1937).

ở nông thôn, nhiều cuộc biểu tình, đấu tranh thu hút hàng chục vạn nông dân tham gia đòi giảm sưu, giảm thuế, chống cướp ruộng đất, đòi chia lại ruộng công, xoá bỏ hủ tục hương thôn, chống bọn cường hào, lý hương tham nhũng… Tiêu biểu nhất là cuộc đấu tranh của nông dân và thanh niên Cà Mau (tỉnh Bạc Liêu cũ) chống bọn địa chủ cướp đất và ức hiếp dân nghèo (cuối năm 1938). Cuộc đấu tranh này có tiếng vang lớn trong cả vùng đồng bằng Nam Bộ. Thanh niên các tỉnh Mỹ Tho, Gia Định – Sài Gòn, Vĩnh Long, Bạc Liêu vv… đã tích cực hưởng ứng cuộc đấu tranh của nông dân và thanh niên Cà Mau.

Dưới ngọn cờ của Đảng, phong trào đấu tranh ngày càng phát triển mạnh mẽ và thanh niên đã thể hiện là một lực lượng xã hội to lớn luôn giữ vai trò đi đầu trên các trận tuyến chống quân thù. Đoàn Thanh niên Dân chủ từng bước được củng cố và phát triển tổ chức. Thông qua đấu tranh, ý thức giác ngộ của quần chúng thanh niên được nâng cao và ảnh hưởng của Đảng trong thanh niên ngày càng thêm sâu rộng.

Trong thời kỳ này, Đảng ta triệt để sử dụng báo chí công khai làm vũ khí đấu tranh cách mạng. Nhờ khôn khéo lợi dụng mọi khả năng hợp pháp, từ năm 1937, báo chí công khai do Đảng lãnh đạo phát triển nhanh chóng. Hàng chục tờ báo của Đảng, của Mặt trận Dân chủ, Đoàn Thanh niên Dân chủ ra đời.

Tại Hà Nội, dưới sự chỉ đạo trực tiếp của đồng chí Nguyễn Văn Cừ và đồng chí Lương Khánh Thiện, đầu năm 1937 báo Bạn dân - tờ báo của thanh niên ra đời. Báo Bạn dân nhanh chóng chiếm được tình cảm của đông đảo bạn đọc trẻ tuổi trong nước, trở thành người tuyên truyền, giáo dục tích cực trong quần chúng thanh niên. Sau khi báo Bạn dân bị đình bản, Đoàn Thanh niên Dân chủ lại cho xuất bản báo Thế giới ở Hà Nội và Đoàn Thanh niên Dân chủ Sài Gòn – Gia Định xuất bản báo Mới ở Sài Gòn.

Mục tiêu đấu tranh của báo Thế Giới và báo Mới trong thời gian này là vạch trần chế độ thuộc địa và phong kiến thối nát, phản động, phản ánh tình trạng bị áp bức, bóc lột và những nguyện vọng của tầng lớp thanh niên, tuyên truyền chủ nghĩa Mác – Lênin; hướng dẫn, động viên quần chúng thanh niên đoàn kết, đấu tranh chống bọn phản động thuộc địa, tay sai, đòi tự do, dân chủ, cải thiện đời sống.

Đi đôi với việc xuất bản các tờ báo công khai của Đoàn, các Hội đọc sách báo của thanh niên, các đội văn nghệ, các nhóm thanh niên nghiên cứu của nghĩa Mác – Lênin được thành lập ở nhiều nơi thu hút đông đảo thanh niên tham gia. Nhiều tác phẩm chính trị và văn học của Mác, Ănghen, Lênin, Goocki vv… được thanh niên truyền tay nhau đọc như: Tuyên ngôn Đảng Cộng sản, Tư bản, Chống Duyrinh, Nhà nước là gì? Người mẹ vv… Thanh niên còn tham gia học tập và nghiên cứu những cuốn sách do các chiến sĩ cách mạng Việt Nam viết như cuốn Mác xít phổ thông của Hải Triều, Vấn đề dân cày của Qua Ninh và Vân Đình vv…

Tổ chức Đoàn ở Hà Nội đã vận động hàng nghìn thanh niên tham gia lễ truy điệu và đưa tang chiến sĩ cách mạng có uy tín như: Nguyễn Thế Rục, Phan Thanh… biến cuộc đưa tang thành cuộc diễu hành biểu dương lực lượng với khẩu hiệu chính trị đòi thực hiện các quyền dân chủ mà các chiến sĩ cộng sản đã kiên trì nêu gương.

Thời gian này, lãnh tụ Nguyễn ái Quốc đang hoạt động ở nước ngoài. Người dành thời gian theo dõi chặt chẽ tình hình trong nước và bằng nhiều con đường khác nhau đã truyền đạt cho Đảng ta những vấn đề về đường lối chỉ đạo rất quan trọng. Người vạch rõ: “Nhiệm vụ chủ yếu của cách mạng Đông Dương lúc này là đấu tranh đòi các quyền dân chủ, tự do tổ chức, tự do hội họp, tự do ngôn luận, đòi ân xá toàn thể chính trị phạm, đấu tranh để Đảng được hoạt động hợp pháp". Vấn đề tập hợp quần chúng, giác ngộ quần chúng là điều Người đặc biệt quan tâm.

Vượt qua mọi khó khăn, lãnh tụ Nguyễn ái Quốc liên tục viết đến 9 bài báo nói về các quan điểm chỉ đạo quần chúng đấu tranh với các bút danh khác nhau trong đó có những bài giới thiệu kinh nghiệm đấu tranh của nhân dân Pháp, nhân dân Tây Ban Nha, nhân dân Trung Quốc vv… Những bài báo quan trọng của Người đã được đăng trên các báo công khai của Đảng ta như Dân chúng và Notre voix (Tiếng nói của chúng ta bằng Pháp ngữ) phát hành công khai khắp Đông Dương. Đây là những tài liệu rất quý báu cho Đoàn và các hội quần chúng của thanh niên do Đoàn làm nòng cốt.

Đầu năm 1938, Đảng ta chủ trương thành lập Hội Truyền bá Quốc ngữ để nâng cao trình độ hiểu biết cho dân lao động. Thanh niên học sinh, sinh viên là lực lượng nòng cốt của phong trào này. Đảng còn cử nhiều đảng viên và đoàn viên Thanh niên Dân chủ tham gia công tác ở cơ quan thường trực của Hội và cả các ban chuyên môn, nhất là các ban Dạy học và Cổ động. Thanh niên công nhân, nông dân hăng hái đi học. Do những cố gắng của Đoàn Thanh niên Dân chủ, trong hai năm 1938–1939, riêng ở Hà Nội đã thanh toán nạn mù chữ cho hàng nghìn người.

Một thắng lợi lớn của phong trào Mặt trận Dân chủ Đông Dương là tổ chức kỷ niệm ngày Quốc tế Lao động 1/5/1938 một cách công khai, biểu dương được sức mạnh của giai cấp công nhân, của các tầng lớp thanh niên và nhân dân ta tại nhà Đấu xảo Hà Nội.

Đoàn Thanh niên Dân chủ và các Hội Thanh niên Hà Nội là thành viên tích cực trong ban tổ chức, đã huy động đông đảo thanh niên tham gia cuộc mít tinh lớn gồm hàng vạn người này.

Nhiều đại biểu thanh niên công nhân, nông dân, học sinh, sinh viên, trí thức,… đã lên diễn đàn kêu gọi tuổi trẻ siết chặt hàng ngũ chung quanh Mặt trận Dân chủ đẩy mạnh cuộc đấu tranh vì hoà bình, cải thiện dân sinh, chống phản động thuộc địa, quan lại phong kiến thối nát. Sau đó đại biểu thanh niên cùng các giới đồng bào tham gia mít tinh đã tổ chức diễu hành qua nhiều đường phố Hà Nội. Hoạt động rầm rộ trong ngày 1/5/1938 đã cổ vũ mạnh mẽ tinh thần yêu nước của tuổi trẻ Hà Nội và nhiều địa phương lân cận.

Ngày Quốc tế Lao động 1/5/1938 còn được tổ chức rầm rộ ở các địa phương trong cả nước, đặc biệt là các thành phố lớn, các tỉnh Nam Bộ…như một ngày hội của quần chúng và tuổi trẻ.

Tiêu biểu cho lớp thanh niên trong giai đoạn cách mạng này là Trần Hải Kế, Nguyễn Văn Trạch…

Trần Hải Kế sinh năm 1917, trong một gia đình công nhân hoả xa ở ngõ chợ Khâm Thiên. Anh giác ngộ cách mạng và tham gia phong trào học sinh ở trường Thăng Long. Trần Hải Kế đi theo cách mạng với tất cả nhiệt huyết của tuổi trẻ. Anh là một thanh niên khỏe mạnh lại giỏi võ thuật nên thường được phân công bảo vệ các cán bộ lãnh đạo trong các cuộc mít tinh, diễu hành cũng như nhiều hoạt động lớn của Đoàn.

Sau cao trào Dân chủ, Trần Hải Kế được điều động vào Nghệ An công tác. Tại đây anh bị địch bắt và tra tấn dã man, song anh không hề hé răng khai nửa lời.

Địch đẩy anh đến trại Đắc Tô (Tây Nguyên). Trong mọi hoàn cảnh, Trần Hải Kế luôn giữ vững khí tiết và đã anh dũng hy sinh.

Nguyễn Văn Trạch sinh năm 1918, quê ở ứng Hoà, Hà Tây. Xuất thân từ một gia đình nho giáo yêu nước. Cụ nội là Nguyễn Viết Bình đỗ Hoàng Giáp dưới triều đại Tự Đức. Cụ có người con là Nguyễn Văn Vinh tham gia khởi nghĩa Yên Bái bị địch bắt đem chôn sống năm 1930. Câu chuyện này ông thân sinh của Nguyễn Văn Trạch là Nguyễn Văn Lương, một công chức nhỏ làm việc ở Tiền Hải (Thái Bình), đã có lần kể cho Nguyễn Văn Trạch nghe, khi anh đang theo học ở trường tiểu học của tỉnh. Anh nuôi chí căm thù quân xâm lược từ đó. Tuy gia đình đông con (9 người), cuộc sống công chức vất vả, nhưng ông bà Nguyễn Văn Lương thấy Trạch (con cả) thông minh, học giỏi nên cố gắng dè xẻn trong chi tiêu để cho anh tiếp tục học bậc trung học. Không phụ công lao của cha mẹ, Nguyễn Văn Trạch đã thi đỗ toàn phần tú tài (theo chế độ giáo dục cũ của thực dân trước Cách mạng Tháng Tám) chỉ trong thời gian 2 năm. Chẳng những học giỏi, anh còn có năng khiếu về nhạc, thơ, đặc biệt là có thân hình cao lớn (nặng 70 kg, cao 1m75), lại rất hăng say luyện tập võ thuật, nhất là quyền Anh.

Năm 19 tuổi, Nguyễn Văn Trạch thi đỗ vào trường Đại học Luật Hà Nội và đầu năm 1937 anh tham gia hoạt động cách mạng với tên mới là Hồng Quang. Anh lĩnh hội chủ nghĩa Mác – Lênin qua lớp nghiên cứu của Đảng mở ở số nhà 14 Phạm Phú Thứ và trực tiếp đọc tác phẩm nổi tiếng của Nguyễn ái Quốc: Bản án chế độ thực dân Pháp. Đây là tác phẩm vừa làm anh thán phục vừa nâng cao giác ngộ cách mạng cho anh. Do có tài hùng biện, anh dám tổ chức tuyên truyền yêu nước công khai trong các nhóm sinh viên bạn hữu, đặc biệt là dám đứng lên phản đối luận điệu thoá mạ dân tộc ta của giáo viên người Pháp Kêrian. Việc này có tiếng vang trong giới sinh viên. Đến trường, anh thường mang theo báo La Lutte, Notre Voix (Tranh đấu, Tiếng nói của chúng ta), những tờ báo công khai bằng tiếng Pháp của Đảng ta.

Bọn phản động thuộc địa cho anh là “tên nổi loạn trong trường đại học”, một “phần tử nguy hiểm cho sinh viên” nên viện mọi lý do vô lý đuổi anh khỏi trường đại học vào cuối năm thứ hai.

Để kiếm sống, Nguyễn Văn Trạch nhận dạy tư cho một số gia đình khá giả. Lúc này tổ chức giao cho anh trực tiếp cùng một nhóm sinh viên làm chủ hiệu sách Đồng Xuân, trung tâm phát hành báo chí cách mạng lớn của Hà Nội và các tỉnh Bắc Kỳ. Đây cũng là cơ sở liên lạc của Xứ ủy Bắc Kỳ. Phát hiện anh là một sinh viên yêu nước có tài, có dũng khí, Đoàn ra sức bồi dưỡng anh về chính trị và phẩm chất cách mạng, đưa anh tham gia vào Ban Chấp hành Xứ Đoàn Thanh niên Dân chủ Bắc Kỳ và Đoàn giao cho anh trách nhiệm cùng nhiều cán bộ khác nghiên cứu xây dựng căn cứ cho Xứ uỷ Bắc Kỳ ở Phú Thọ khi dự đoán đúng đắn tình hình có thể xấu đi, bọn phản động thuộc địa sẽ trở lại chính sách khủng bố, đàn áp dã man. Nguyễn Văn Trạch đã bị bắt ở Hà Nội do “Hoạt động tuyên truyền cộng sản” cùng với nhiều đồng chí như Trần Huy Liệu, Lương Khánh Thiện, Văn Tiến Dũng… Lần đầu tiên, trong trại giam Hoả Lò, Hồng Quang được tiếp xúc với các chiến sỹ cách mạng đàn anh nổi tiếng. Anh tìm cách gần gũi các đồng chí để học tập thêm kinh nghiệm đấu tranh như giúp đồng chí Văn Tiến Dũng bồi dưỡng thêm tiếng Pháp qua các tác phẩm văn học Pháp, anh còn kể lại những đoạn văn, thơ bất hủ trong các tác phẩm của V.Huygô, Pôn Véclen, Lamáctin, Êmin Dola, Anphônxơđôđê… nên được các đồng chí càng thêm yêu mến.

Ngày địch đưa anh ra toà, gia đình thuê Luật sư Trần Văn Chương là người có thế lực bào chữa cho anh. Anh từ chối khéo với lý do mình đã là sinh viên trường Luật, hơn thế bản thân anh không có tội gì cả.

Phiên toà xử án Hồng Quang có rất đông người dự, nhất là sinh viên, học sinh các trường Hà Nội. Hồng Quang dõng dạc hỏi vặn lại quan toà: "Chủ nghĩa cộng sản có gì là không tốt, biết bao công dân Pháp đi theo chủ nghĩa cộng sản một cách công khai… nếu cần bỏ tù thì các ông hãy bỏ tù những người đó, những người đó đã từng tham gia chính phủ của các ông kia mà!”.

Hồng Quang bước ra khỏi nhà tù Hoả Lò với bản án treo 1 năm! Anh đã thắng và đã góp phần nâng cao uy tín của Đảng ta. Đảng bố trí cho anh thoát ly gia đình. Anh vinh dự được đứng vào hàng ngũ của Đảng sau những năm thử thách.

Chiến tranh thế giới lần thứ hai bùng nổ. Nội các do Daladier thiên hữu lên cầm quyền ở Pháp tiến hành đàn áp, khủng bố phong trào cách mạng ở Đông Dương. Ngày 29/9/1939, Trung ương Đảng ta ra “Thông cáo gửi các cấp bộ Đảng” giải thích tình hình, đồng thời đề ra một số chủ trương quan trọng để ứng phó với tình hình mới.

Khu căn cứ của Xứ uỷ Bắc Kỳ được hình thành ở một số huyện vùng cao tỉnh Phú Thọ. Hồng Quang được Đảng điều đến đó làm việc cùng với các đồng chí Lương Khánh Thiện, Thành Ngọc Quản, Đào Duy Kỳ, Trần Thị Minh Châu, Bùi Công Trừng… một thời gian sau, Hồng Quang được Xứ uỷ điều động về miền xuôi tham gia Tỉnh uỷ Hải Dương.

Nguỵ trang dưới hình thức một công nhân vận tải đường sông, anh xây dựng được nhiều cơ sở tại địa phương. Chùa Trại Sơn (huỵên Thuỷ Nguyên) do bà nội anh là sư cụ Huệ Trâm chủ trì trở thành một trong những cơ sở bảo vệ cán bộ. Hang Dốc Tít bên cạnh chùa là cơ sở ấn loát của Tỉnh uỷ. Ngoài nhiệm vụ trong Tỉnh uỷ, Hồng Quang còn là đường dây liên hệ của Xứ uỷ từ Bắc vào Trung. Một lần anh cải trang thành thầy giáo lên tàu từ Hải Dương về Hà Nội,  không may anh bị địch phát hiện, hai tên mật thám áp sát vào bắt anh, một tên chưa kịp gí súng vào người đã bị anh nhanh chóng cho một quả đấm nằm sóng soài ra sàn tàu, tên còn lại cũng bị quật ngã. ấy là nhờ hồi còn là sinh viên Hồng Quang rất chăm luyện tập quyền Anh. Hồng Quang chuyển toa và chờ lúc tàu sắp vào ga chạy chậm, anh lao xuống biến mất trong đêm.

Cuối tháng 4/1941, sau khi Hội nghị đại biểu Liên Tỉnh uỷ khu B vừa bế mạc, bọn mật thám Hải Dương phối hợp với lính lệ huyện Khoái Châu vây bắt những người còn lại. Sự việc cũng diễn ra trong đêm, Hồng Quang đã đánh trả quyết liệt và sắp thoát được thì chẳng may bị rơi cặp kính cận. Anh bị bắt. Địch dễ dàng biết anh vì tri huyện Khoái Châu vốn cùng học trường Luật với anh năm nào. Tên chánh mật thám Hải Dương (Quetsnoy) trực tiếp chỉ huy cuộc tra tấn anh trong suốt 10 ngày đầu để truy tìm cơ sở. Lúc này cả người anh đầy thương tích, răng gãy, mặt sưng húp, người gầy rộc vì ít được ăn (mỗi ngày địch chỉ cho anh ăn một lần). Tra tấn thất bại, tên mật thám chuyển sang mua chuộc, dụ dỗ. Hắn bày ra một bữa tiệc, mời anh dự gọi là để “xin lỗi” vì những tên cộng sự đã xâm phạm đến thân thể của một trí thức do hắn không hề biết việc này. Hồng Quang ngồi im nghe những lời đường mật khả ố của hắn. Bỗng anh co chân đạp mạnh hất tung cả bàn tiệc về phía hắn. Quetsnoy hèn hạ bỏ chạy. Sau việc này Hồng Quang bị đẩy vào xà lim và tiếp tục bị tra tấn dã man hơn.

Thấy sức khoẻ của anh quá suy kiệt do bị đánh đập tàn nhẫn hàng tháng trời, địch đưa một viên bác sỹ già người Pháp từ Hà Nội về đến thăm sức khoẻ và dụ dỗ thêm. Hồng Quang lúc này rất yếu, nhưng anh cố gắng giải thích cho viên bác sỹ nghe vì sao anh phải làm cách mạng chống lại bọn Pháp ở Đông Dương mặc dầu anh rất hâm mộ nền văn hoá Pháp, hâm mộ cuộc cách mạng 1789 của nhân dân Pháp. Viên bác sỹ già không nói thêm điều gì và lặng lẽ ra về.

Song bọn đế quốc biết vai trò của anh trong tổ chức cách mạng, trong Đảng Cộng sản nên chúng cố khai thác bằng mọi cách. Chúng đưa cả cha, mẹ anh đến xà lim để dỗ dành anh. Thấy anh quá tiều tuỵ, quần áo rách nát, da mốc và nhăn nheo như da cau, người gầy rạc, máu me khắp nơi…, mẹ anh oà khóc, nhưng anh cố khuyên mẹ đừng khóc “Bọn Tây nó cười cho”. Lời cuối cùng của Hồng Quang với mẹ là: “Con có chết nhưng nước mình nhất định sẽ độc lập, thầy mẹ, đồng bào ta và các em con sẽ được tự do, hạnh phúc”.

Trước lúc hy sinh, Nguyễn Văn Trạch (Hồng Quang), người sinh viên yêu nước nồng nàn, người chiến sỹ cộng sản kiên trung cắn tay lấy máu viết lên tường nhà lao: “Cách mạng Việt Nam thành công muôn năm”. Hồng Quang đã để lại nhiều bài thơ hay ca ngợi Tổ quốc, ca ngợi Đảng và gửi cho gia đình, bè bạn, nhất là người vợ yêu quý những tình cảm nồng thắm và khí phách hiên ngang của người sinh viên cách mạng.


CHƯƠNG III: ĐOÀN KẾT ĐẤU TRANH CHỐNG THỰC DÂN PHÁP, PHÁT XÍT – NHẬT TIẾN TỚI TỔNG KHỞI NGHĨA THÀNH CÔNG TRONG CẢ NƯỚC

Ngày 1 tháng 9 năm 1939, phát-xít Đức tiến công Ba Lan. Ngày 3 tháng 9 năm 1939, Anh, Pháp tuyên chiến với Đức. Chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ đã ảnh hưởng sâu sắc đến tình hình mọi mặt ở Đông Dương và Việt Nam.

Để phục vụ cho chiến tranh, thực dân Pháp ở Đông Dương ban bố lệnh tổng động viên, ra sức cướp của, tăng giờ làm việc, giảm tiền lương của công nhân và bắt thanh niên đi lính. Chúng thẳng tay đàn áp, khủng bố các phong trào cách mạng. Các quyền tự do, dân chủ mà thanh niên và nhân dân ta giành được trong thời kỳ Mặt trận Dân chủ đều bị xoá bỏ. Các tổ chức của công nhân và thanh niên đều bị chúng giải tán. Chúng ra sức bắt bớ, truy lùng những chiến sỹ cộng sản.

Ngày 29/9/1939, Trung ương Đảng ta ra: “Thông cáo cho các đồng chí các cấp bộ” giải thích tình hình thế giới và tình hình trong nước, đồng thời đề ra một số chủ trương ứng phó trước mắt.

Tháng 11/1939, Trung ương Đảng họp Hội nghị lần thứ 6 tại Bà Điểm (Hóc Môn, Gia Định) có các đồng chí Nguyễn Văn Cừ, Lê Duẩn, Phan Đăng Lưu, Võ Văn Tần vv… tham dự. Nghị quyết Hội nghị nhấn mạnh giải phóng là nhiệm vụ hàng đầu của cách mạng Đông Dương “Bước đường sinh tồn của dân tộc Đông Dương không có con đường nào khác hơn là con đường đánh đổ đế quốc Pháp, chống tất cả ách ngoại xâm vô luận da trắng hay da vàng”. Hội nghị chủ trương lập Mặt trận Thống nhất Dân tộc Phản đế Đông Dương nhằm đoàn kết rộng rãi các tầng lớp nhân dân, các giai cấp và dân tộc ở Đông Dương để đánh đổ đế quốc Pháp và tay sai của chúng.

Theo chủ trương của Đảng, Đoàn Thanh niên Phản đế tiếp nối sự nghiệp vẻ vang của các tổ chức thanh niên cộng sản và thanh niên dân chủ trước đây. Những đoàn viên Thanh niên Dân chủ chuyển thành đoàn viên Thanh niên Phản đế, các hội viên thanh niên trong các tổ chức thanh niên phổ thông được giao những công tác thích hợp để thử thách, bồi dưỡng. Để nhanh chóng hình thành đội quân xung kích và đội hậu bị của Đảng, các đồng chí lãnh đạo Đảng ta đã trực tiếp giúp đỡ Đoàn xây dựng tổ chức. Nhiều cơ sở Đoàn đã được phát triển ở Cao Bằng, Bắc Kạn, Bắc Ninh, Lạng Sơn, Thái Nguyên, Sơn Tây, Quảng Trị và nhiều tỉnh ở Nam Bộ. ở các thành phố, Đoàn chú trọng công tác vận động thanh niên công nhân và học sinh.

Để mở rộng các hình thức tập hợp thanh niên sau khi phong trào dân chủ bị địch đàn áp, tại Sài Gòn, những Câu lạc bộ Học sinh được hình thành, đầu tiên là ở trường Trung học Trương Vĩnh Ký do Huỳnh Văn Tiểng đứng đầu. Tiếp đến là sự ra đời của tổ chức tham quan và du lịch do các anh Trịnh Kim ảnh, Nguyễn Văn ảnh, Võ Thế Quang... phụ trách. Hoạt động tham quan, du lịch thu hút nhiều bạn trẻ tham gia. Qua hoạt động này, anh chị em được tuyên truyền, giác ngộ cách mạng và nhiều người đã đứng vào các tổ chức bí mật do Đảng ta lãnh đạo hăng hái đấu tranh chống địch. ở Hà Nội, mặc dù bị địch ra sức khủng bố, cơ sở Đoàn Thanh niên Phản đế vẫn phát triển khá nhanh, Đoàn xuất bản tờ báo Tiền phong không những chỉ lưu hành ở Hà Nội mà còn lưu hành trong nhiều tỉnh ở đồng bằng Bắc Bộ. Hoạt động của Thanh niên Phản đế Hà Nội khá phong phú. Nhiều đoàn viên và thanh niên đã tham gia rải truyền đơn kêu gọi chống chiến tranh đế quốc, bảo vệ Liên Xô, chống đàn áp khủng bố nhân dân…

Anh Nguyễn Lam là một trong những cán bộ Thanh niên Phản đế hoạt động rất tích cực. Bị địch bắt giam tại Hoả Lò, anh cùng hai đồng chí đoàn viên khác đã bí mật, kiên trì đào được một đường hầm từ nơi bị giam nối liền với cống thoát nước. Trong một đêm mưa bão, anh đã cùng các đồng chí vượt ngục thành công trở về hoạt động trong đội ngũ của Đoàn.

Tháng 6/1940, nước Pháp bị quân đội pháp xít Hitle chiếm đóng. Nhân cơ hội này, tháng 9/1940, pháp xít Nhật xâm lược Đông Dương. Thực dân Pháp nhanh chóng đầu hàng quân Nhật. Từ đây nhân dân Việt Nam bị hai kẻ thù cùng thống trị là phát xít Nhật và thực dân Pháp. Nhưng nhân dân Việt Nam bất khuất nổi dậy chống cả Nhật lẫn Pháp. Tháng 9/1940, nhân dân châu Bắc Sơn vùng lên khởi nghĩa dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ địa phương. Tháng 11/1940 dưới sự lãnh đạo của Xứ uỷ Nam Kỳ, nhân dân ở nhiều tỉnh Nam Bộ cũng đã vùng lên đấu tranh quyết liệt chống quân thù. Tháng 1/1941, nổ ra cuộc nổi dậy của anh em binh lính ở đồn Chợ Rạng và đồn Đô Lương (Nghệ An). Các cuộc khởi nghĩa này là bước đầu đấu tranh vũ trang của cả dân tộc Việt Nam, báo hiệu một thời kỳ mới, thời kỳ chuẩn bị tiến tới khởi nghĩa vũ trang để giành chính quyền trong toàn quốc.

Theo chủ trương của Đảng, lực lượng vũ trang khởi nghĩa Bắc Sơn được chuyển vào rừng hoạt động du kích. Mùa xuân năm 1941, tại khu rừng Khuổi Nọi (xã Vũ Lê, châu Bắc Sơn) đội du kích Bắc Sơn được thành lập. Đội gồm hơn 30 chiến sĩ mà hầu hết là đảng viên trẻ và đoàn viên, tất cả đều đã tham gia khởi nghĩa Bắc Sơn và chiến đấu chống sự đàn áp khủng bố của quân thù ngay từ đầu. Trong buổi lễ thành lập, trước đông đảo đồng bào địa phương đến tham dự, đồng chí Hoàng Văn Thụ thay mặt Trung ương Đảng giao nhiệm vụ giết giặc cứu nước cho đơn vị.

ít lâu sau, đội du kích đổi tên là Cứu quốc quân do đồng chí Phùng Chí Kiên, Uỷ viên Trung ương Đảng làm Chỉ huy trưởng Cứu quốc quân. Tuy lực lượng còn nhỏ bé, súng đạn và lương thực thiếu thốn, nhưng đã luôn giữ vững chí khí chiến đấu ngoan cường.

Ngày 23 tháng 11 năm 1940, cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ bùng nổ mặc dù đã có lệnh hoãn của Trung ương Đảng nhưng không truyền đạt kịp. ở hầu khắp các tỉnh miền Nam nhất là ở Mỹ Tho, quần chúng nổi dậy chiến đấu rất dũng cảm. Chính quyền của địch ở một số xã và quận hoang mang, tan rã. Đội viên các đội tự vệ và du kích trong cuộc khởi nghĩa hầu hết là trẻ tuổi. Họ hăng hái chiến đấu chống địch bằng vũ khí thô sơ. Trong trận đánh quân tiếp viện của quân địch từ Tây Ninh đến ứng cứu cho quân lỵ Hóc Môn bị quân khởi nghĩa vây hãm, du kích đã bắn chết một tên thực dân ác ôn cùng nhiều lích địch ở Cầu Bông. ở Mỹ Tho, các đội tự vệ cùng nhân dân phá tan bộ máy chính quyền của địch ở 54 trong tổng số 57 xã thuộc hai huyện Châu Thành và Cai Lậy. ở những xã này, các tổ chức Đảng và quân khởi nghĩa đã tịch thu các kho thóc của bọn địa chủ chia cho dân nghèo. Cũng tại Mỹ Tho, lần đầu tiên xuất hiện lá cờ đỏ sao vàng sau này trở thành lá cờ của Mặt trận Việt Minh, quốc kỳ cứu nước của Việt Nam Dân chủ Cộng hoà và Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam sau Đại thắng Mùa xuân năm 1975.

Trong ngày thành lập chính quyền đầu tiên của tỉnh, hai đội tự vệ gồm toàn đoàn viên và thanh niên đã giơ tay xin thề dưới lá cờ đỏ sao vàng quyết chiến đấu bảo vệ chính quyền và cách mạng.

Tại Vĩnh Long, một đội du kích gồm 50 chiến sĩ rất trẻ dưới sự chỉ huy của đồng chí Hồng, một chiến sĩ cách mạng 24 tuổi, Bí thư Quận uỷ Vũng Liêm đã đánh chiếm và làm chủ quận lỵ một số ngày.

ở đảo Hòn Khoai, dưới sự chỉ huy của chiến sĩ cách mạng trẻ tuổi Phan Ngọc Hiển, quân khởi nghĩa hầu hết là đoàn viên, thanh niên đồng loạt tiến công tiêu diệt tên thực dân chủ đảo thu toàn bộ điện đài, vũ khí và kéo cờ đỏ sao vàng, cờ đỏ búa liềm cùng tấm băng lớn mang dòng chữ: “Mặt trận Dân tộc Thống nhất Phản đế muôn năm”. Quân khởi nghĩa dùng thuyền đã được chuẩn bị trước thẳng tiến về đất liền.

Tuổi trẻ và nhân dân Rạch Gốc tập hợp đông đảo trên bến hân hoan đón mừng quân khởi nghĩa chiến thắng cập bến lúc mặt trời vừa ửng đỏ.

Tuy nhiên, lúc này cuộc khởi nghĩa trên đất liền vừa bị địch dập tắt. Quân khởi nghĩa Hòn Khoai phải đơn độc chiến đấu quyết liệt với kẻ thù đông gấp nhiều lần. Sau mười ngày cầm cự vô cùng anh dũng, quân khởi nghĩa Hòn Khoai chẳng may lọt vào trận địa phục kích của địch.

Thực dân Pháp đã đàn áp cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ hết sức dã man. Gần 6000 người bị bắt và bị giết, nhiều làng bị ném bom và đốt phá. Người nữ chỉ huy trẻ tuổi Nguyễn Thị Bảy đã làm cho quân thù khiếp sợ và khâm phục. Chúng gọi chị là “Hoàng hậu đỏ”. Nhục hình, tra tấn dã man không khuất phục được chị. Chị quát thẳng vào mặt kẻ thù: “Chúng bay chỉ có thể lấy máu của người cộng sản chứ không thể lấy được một lời cung khai phản bội”.

Tháng 12 năm 1941, kẻ thù đã đưa các chiến sĩ trẻ tuổi tham gia khởi nghĩa ở Hòn Khoai gồm có Phan Ngọc Hiển, Đỗ Văn Sến, Nguyễn Văn Đắc, Nguyễn Văn Cự, Đỗ Văn Biên, Ngô Văn Cẩn, Ngô Kim Luân, Nguyễn Văn Đình… cùng hai đồng chí lãnh đạo của Đảng bộ Cà Mau là Quách Văn Phàn, Lê Văn Khuyên ra hành quyết tại sân vận động thị xã.

Trước lúc hi sinh, các đồng chí đã đồng loạt hô to:

Đả đảo đế quốc Pháp!
Việt Nam độc lập muôn năm
Đảng Cộng sản Đông Dương muôn năm!

Khởi nghĩa Nam Kỳ là một trong những trang chói lọi chủ nghĩa anh hùng cách mạng của tuổi trẻ và nhân dân Việt Nam, là tiếng kèn xung trận vang vọng núi sông từ Nam ra Bắc dưới ngọn cờ cách mạng.

Tháng 11/1940, Hội nghị lần thứ 7 Trung ương Đảng họp tại Đình Bảng (Bắc Ninh) có đồng chí Trường Chinh, Phan Đăng Lưu, Hoàng Văn Thụ... tham dự Hội nghị đã phân tích tình hình chiến tranh thế giới lần thứ 2 và tác động của chiến tranh đối với Đông Dương. Hội nghị đã đi đến sự dự đoán rất sáng suốt: “Một cao trào cách mạng nhất định sẽ nổi dậy. Đảng phải chuẩn bị để gánh lấy cái sứ mệnh thiêng liêng lãnh đạo cho các dân tộc bị áp bức Đông Dương võ trang bạo động giành quyền tự do, độc lập”.

Bước sang năm 1941, tình hình thế giới và trong nước diễn biến ngày một khẩn trương và phức tạp.

Từ khi quân đội Nhật vào Đông Dương, mâu thuẫn giữa Nhật và Pháp ngày càng sâu sắc, tuy phải tạm thời thoả hiệp với nhau nhưng cả hai đều tìm cách triển khai thế lực đợi thời cơ tiêu diệt nhau. Nhân dân Đông Dương chịu cảnh “một cổ hai tròng”, dưới ách thống trị tàn bạo của Nhật – Pháp nên ngày một bần cùng, đói khổ… do vậy, ngày càng nhanh chóng giác ngộ cách mạng.

Ngày 28/1/1941, Nguyễn ái Quốc, lãnh tụ của Đảng và dân tộc đã bí mật về nước ở vùng Pác Pó để trực tiếp lãnh đạo phong trào cách mạng Việt Nam.

Đây là một sự kiện hết sức quan trọng trong tiến trình phát triển của cách mạng nước ta. Nguyễn ái Quốc đã bắt tay vào việc xây dựng căn cứ địa, tổ chức đoàn thể Cứu quốc và chuẩn bị Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng.

Tháng 5/1941, Hội nghị lần thứ 8 của Trung ương Đảng họp tại Pác Bó (Cao Bằng) do đồng chí Nguyễn ái Quốc, đại diện của Quốc tế Cộng sản triệu tập và chủ trì. Tham gia Hội nghị có các đồng chí Trường Chinh, Hoàng Văn Thụ, Phùng Chí Kiên, Hoàng Quốc Việt…

Trên cơ sở phân tích một cách sâu sắc tình hình trong nước và thế giới, Hội nghị xác định: Cuộc cách mạng trước mắt là cách mạng giải phóng dân tộc, các lực lượng cách mạng của dân tộc cần tập trung mũi nhọn vào bọn phát xít xâm lược Pháp – Nhật, bởi vì: “Trong lúc này, nếu không giải quyết được vấn đề dân tộc giải phóng, không đòi được độc lập, tự do cho toàn thể dân tộc, thì chẳng những toàn thể quốc gia dân tộc còn chịu mãi kiếp trâu ngựa, mà quyền lợi của bộ phận giai cấp đến vạn năm cũng không đòi lại đựơc”.

Để tập hợp và động viên các tầng lớp nhân dân đứng lên đánh đuổi phát xít Nhật – Pháp, Hội nghị quyết định thành lập Việt Nam Độc lập Đồng minh (gọi tắt làViệt Minh) và các Hội Cứu quốc, trong đó có Đoàn Thanh niên Cứu quốc Việt Nam.

Như vậy, Đoàn Thanh niên Cứu quốc (TNCQ) là một tổ chức của những thanh niên yêu nước có nhiệm vụ tham gia vào cuộc đấu tranh của dân tộc, đánh Pháp đuổi Nhật. Đoàn TNCQ tiếp nối sự nghiệp của các tổ chức thanh niên do Đảng ta và lãnh tụ Nguyễn ái Quốc sáng lập, lãnh đạo trước đó. Đoàn là hạt nhân đoàn kết, tập hợp mọi lực lượng thanh niên vì sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc.

Từ khi ra đi tìm đường cứu nước cho đến lúc trở về Tổ quốc, Nguyễn ái Quốc luôn quan tâm đến việc đào tạo, bồi dưỡng những lớp thanh niên cách mạng.

Dưới ánh sáng Nghị quyết Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ 8 và tư tưởng của Người, công tác vận động thanh niên đã có bước phát triển mới. Được các cấp uỷ Đảng quan tâm chỉ đạo, nhiều cơ sở Đoàn và các Hội quần chúng của thanh niên được khôi phục và xây dựng. Ban Chấp hành Huyện Đoàn Thanh niên Cứu quốc đầu tiên ở vùng núi được thành lập tại Hà Quảng do đồng chí Đàm Minh Viễn làm Bí thư.

Cuối năm 1941, Ban Chấp hành Thành Đoàn Thanh niên Cứu quốc Hà Nội được thành lập gồm 5 người trong đó có Nguyễn Lam, Nguyễn Khang… tạo ra sự chỉ đạo thống nhất trong phong trào thanh niên. Thành Đoàn đã cho in lời kêu gọi của lãnh tụ Nguyễn ái Quốc và truyền đơn của Mặt trận Việt Minh phổ biến trong thành phố. Từ cuối năm 1942 trở đi, nhiều cơ sở Đoàn được xây dựng ở nông thôn, nhất là ở các tỉnh Cao Bằng, Bắc Kạn, Lạng Sơn… Đội Nhi đồng Cứu quốc ra đời ở Nà Mạ (Cao Bằng). Nhiều đội viên đã được già Thu tức Bác Hồ kính yêu chăm sóc, giáo dục và một số đội viên đã giúp việc giao liên cho già Thu. Trong thời gian này, anh Kim Đồng là người đội viên thiếu niên đầu tiên đã nêu cao tinh thần hi sinh anh dũng khi làm nhiệm vụ.

ở Nam Bộ, sau cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ, đế quốc Pháp đàn áp đẫm máu phong trào cách mạng, nhưng cơ sở của Đoàn vẫn được duy trì. Khi có Nghị quyết Trung ương Đảng lần thứ 8, nhiều cơ sở mới lại được xây dựng tại các nhà máy, trường học, nhất là các vùng nông thôn. Tại một số địa phương, hệ thống tổ chức của Đoàn Thanh niên Cứu quốc đã thống nhất đến huyện, có nơi đến tỉnh.

Song song với công tác xây dựng và phát triển tổ chức, Đoàn đã tập hợp đông đảo các tầng lớp thanh niên tham gia nhiều hình thức hoạt động văn hoá xã hội... động viên họ tích cực thực hiện các nhiệm vụ của Mặt trận Việt Minh, đóng góp xứng đáng vào cao trào cứu nước.

ở Hà Nội, từ tháng 10 đến tháng 12/1941, đoàn viên và thanh niên đã có những hoạt động gây ảnh hưởng sâu rộng theo lời kêu gọi của lãnh tụ Nguyễn ái Quốc. Thành Đoàn tổ chức được một cơ sở in bí mật đặt tại phố Hàng Nón. Theo thống kê của Sở mật thám Pháp, chỉ trong tháng 12/1941 có 13 vụ rải truyền đơn và treo cờ đỏ trong thành phố.

Hà Nội là trung tâm các trường đại học của cả Đông Dương nên công tác vận động sinh viên luôn được chú trọng. Đoàn TNCQ tiếp nối truyền thống của Đoàn Thanh niên Phản đế với sứ mệnh lịch sử mới là đoàn kết, tập hợp mọi tầng lớp thanh niên đấu tranh vì sự nghiệp giải phóng dân tộc. Đoàn đã chú trọng đẩy mạnh công tác vận động giới học sinh, sinh viên bằng nhiều hình thức. Được sự chỉ đạo trực tiếp của Đảng, cuộc vận động hình thành Tổng Hội Sinh viên hoạt động công khai chịu ảnh hưởng trực tiếp của Đảng được tiếp tục xúc tiến nhằm liên kết lực lượng sinh viên yêu nước, có cảm tình với cách mạng ở các trường cao đẳng, đại học trong cả nước, đặc biệt là ở Hà Nội. Các đồng chí lãnh đạo Đảng ta đã tiếp xúc trực tiếp với một số trí thức yêu nước có uy tín và một số sinh viên có nhiệt tâm để hình thành nên một Ban Trị sự lâm thời của Tổng Hội do anh Dương Đức Hiền làm Hội trưởng niên khoá 1941–1942. Anh Dương Đức Hiền đã đỗ Cử nhân luật niên khoá trước đó. Trong Ban Trị sự còn có các sinh viên Đặng Ngọc Tốt, Phan Mỹ, Vũ Văn Cẩn, Nguyễn Ngọc Minh vv… Ban Trị sự được sự tín nhiệm của đông đảo sinh viên, mặc dầu lúc này ngoài sinh viên của ba miền Bắc, Trung, Nam còn có sinh viên Ai Lao, Cao Miên và cả sinh viên Pháp.

Việc làm đầu tiên của Tổng Hội là xây dựng khối đoàn kết trong sinh viên, chống lại mọi âm mưu chia rẽ của kẻ thù, khơi dậy lòng yêu nước, thương nòi của đông đảo sinh viên, đưa họ tham gia vào các hoạt động hữu ích. Khẩu hiệu của Tổng Hội đưa ra là “Đoàn kết để phụng sự quốc gia, tin tưởng vào tương lai đất nước, truyền lòng tin đến mọi người”.

Tổng Hội đã lập ra một Ban Vệ sinh và Ban Y học để giúp đồng bào hiểu biết về vệ sinh, phòng bệnh, chữa bệnh chống lại các hiện tượng mê tín, dị đoan được bà con thôn xóm ngoại thành Hà Nội và các tỉnh lân cận rất hoan nghênh. Ngoài ra Tổng Hội cũng lập một số ban cố vấn về luật để giúp đồng bào mỗi khi có oan ức cần đấu tranh trong quan hệ với giai cấp thống trị… Giám đốc Nha học chính Đông Dương đã cảm nhận thấy điều đó trong hoạt động của sinh viên nên ra lệnh phải ghi vào bản Điều lệ của Tổng Hội câu đầu tiên là “Tổng Hội không được phép bàn cãi về chính trị và tôn giáo”. Cuộc đấu tranh giữa những người lãnh đạo yêu nước của Tổng Hội và tên Giám đốc (Tabule) đã diễn ra gay gắt nhưng ta kiên quyết không chịu ghi câu đó vào Điều lệ dù Tổng Hội phải bị giải tán.

Từ năm học 1942 – 1943, anh Dương Đức Hiền được bầu làm Hội trưởng của Tổng Hội. Anh được may mắn nhận ý kiến chỉ đạo trực tiếp của các đồng chí lãnh đạo cao cấp của Đảng ta, trong đó có ý kiến của đồng chí Tổng Bí thư Trường Chinh. Lúc này việc giáo dục tinh thần yêu nước, rèn luyện phẩm chất, rèn luyện thân thể cho sinh viên được chú trọng. Lần đầu tiên, tại khu Đông Dương học xá, Tổng Hội đã tổ chức trọng thể lễ giỗ Tổ Hùng Vương. Các sinh viên ở khắp ba miền Bắc, Trung, Nam cùng nhau thắp nén hương trầm thơm ngát và uy nghiêm để hướng về với cội nguồn của dân tộc, thề giữ tròn khí phách của giống nòi. Sau đó, cứ hàng tháng sinh viên các trường thay nhau dùng xe đạp đi thăm các di tích Cổ Loa, Bạch Đằng, Kiếp Bạc, Đền Hùng… Nhiều cuộc nói chuyện về “Trận Bạch Đằng” của sinh viên Đặng Ngọc Tốt, “Thanh niên và tiếng Việt” của sinh viên Nguyễn Đình Thi vv… được tổ chức ở giảng đường đại học hoặc ở rạp Olympia Hà Nội (sau này là nhà hát Hồng Hà) thu hút sự tham gia của đông đảo sinh viên.

Hoạt động của sinh viên còn được mở rộng bằng việc tổ chức các cuộc cắm trại dài ngày, mở đầu là trại Bằng Trì ở Thanh Hoá (1941). Trái ngược với Sầm Sơn, nơi có nhiều nhà nghỉ của bọn thống trị, Bằng Trì là nơi chỉ có mấy túp lều tranh giữa cỏ hoang, lau rậm… Anh chị em sinh viên chọn nơi này để làm trại với ý thức rõ rệt nhằm rèn luyện tinh thần thể chất, do đó họ tự tay mình phát cỏ, đắp nền… xây dựng nơi luyện tập thể dục thể thao và cùng tham gia cày cuốc với nông dân, tìm hiểu đời sống của nông dân, cùng nhau trao đổi về cuộc sống ngày mai, tương lai của dân tộc. Trại thứ hai được tổ chức ở Tương Mai (1942) ngoại thành Hà Nội. Lần này trại được tổ chức với nhiều hoạt động phong phú hơn, thí dụ anh chị em góp tiền, góp sức tự tay mình xây được một nhà đọc sách cho bà con địa phương. Tối đến lại tổ chức các buổi nói chuyện với nhà nông như cách bón phân cho ruộng lúa, vệ sinh ở nông thôn… và tổ chức đêm diễn kịch, lửa trại.

Đặc biệt là trại Suối Lồ Ô (1943) do học sinh, sinh viên Sài Gòn học ở Hà Nội và một số tỉnh Nam Kỳ tổ chức với quy mô lớn kéo dài hơn 1 tháng, có sự tham gia của nhiều trường trung học. Được tin học sinh, sinh viên sẽ tổ chức trại, thực dân Pháp tìm mọi cách ngăn trở vì chúng sợ sức mạnh bùng lên của thanh niên, học sinh và sinh viên Nam Bộ trong khí thế cách mạng chung của cả nước đang dâng cao lúc này. Nhưng trước sự đấu tranh của ta với lời cảnh báo nếu không để sinh viên tổ chức trại, Tổng Hội sẽ cử phái đoàn từ Hà Nội vào Sài Gòn cùng sinh viên biểu tình phản đối. Trước sức ép đó, bọn thực dân buộc phải nhượng bộ. Tại trại Suối Lồ Ô đã diễn ra những đêm lửa trại, những ngày họp mặt, một số vở kịch lịch sử được công diễn, đặc biệt là nhiều bài hát mới do nhạc sĩ sinh viên Lưu Hữu Phước sáng tác như Suối Lồ Ô, Khải hoàn ca… được phổ biến rộng rãi. Phát huy kết quả của trại Suối Lồ Ô, trong năm 1943, Tổng Hội còn có sáng kiến tổ chức một số trại luân chuyển với phạm vi nhỏ hơn ở miền Đông Nam Kỳ và Trung Kỳ.

Có thể nói để cổ vũ lòng yêu nước trong học sinh, sinh viên vào những năm đầu của thập kỷ 40 (thế kỷ XX) Đảng ta đã chỉ đạo tổ chức Đoàn dùng nhiều hình thức hoạt động văn hoá, văn nghệ, báo chí, coi đó là con đường tuyên truyền, giáo dục sinh động dễ đi vào tình cảm của lớp trẻ có học thức. Nhóm Đồng vọng do nhạc sĩ Hoàng Quý (quê Hải Phòng) ra đời được học sinh, sinh viên hưởng ứng đông đảo. Nhóm Tráng ca gồm những bài hát lịch sử nổi tiếng do Lưu Hữu Phước – nhạc sĩ sinh viên tài năng mãi mãi ghi lại dấu ấn trong lòng học sinh, sinh viên như Bạch Đằng Giang, Đi hội Đền Hùng, Hận sông Gianh, ải Chi Lăng, Ta cùng đi, Người xưa đâu xá, Xếp bút nghiên, Lên đàng, Việt nữ gọi đàn, nhất là bài ca Sinh viên hành khúc (Sau này tác giả thay tên là Tiếng gọi thanh niên)… đều là những ca khúc hùng tráng lay động lòng người, thúc giục học sinh, sinh viên đứng lên cứu nước. Lưu Hữu Phước cùng với các sinh viên Nam Bộ khác như Đặng Ngọc Tốt, Huỳnh Văn Tiểng, Mai Văn Bộ, TrầnVăn Khuê, Diệp Minh Châu…đã thể hiện tinh thần yêu nước sâu sắc của mình qua nhiều hoạt động sôi nổi về nhạc, kịch, thơ. Các vở kịch Đêm Lạng Sơn, Nửa đêm truyền hịch, đặc biệt là vở kịch Hội nghị Diên Hồng của Huỳnh Văn Tiểng có tiếng vang lớn. Trong một lần công diễn trước đông đảo người xem là học sinh, sinh viên và đại diện các giới đồng bào Hà Nội, khi các nhân vật trên sân khấu quay về khán giả hỏi: “Trước nhục nước nên hoà hay nên chiến?”, liền đó là những tiếng hô rầm trời “Chiến”. Bọn thực dân và phong kiến hết sức hoảng sợ trước khí thế này, chúng tung ra hàng trăm tên mật vụ, chỉ điểm theo dõi, đe doạ và bắt bớ những người đứng đầu.

Cùng với sự phát triển của phong trào sinh viên, phong trào học sinh các trường trung học ngoài Bắc, trong Nam cũng phát triển ngày càng mạnh bởi ảnh hưởng của cuộc đấu tranh chung do Mặt trận Việt Minh và các đoàn thể cứu quốc hướng dẫn. ở trường Bưởi (Chu Văn An), nơi đã hình thành nên lớp học sinh yêu nước đầu tiên mà tiêu biểu là Ngô Gia Tự, Nguyễn Đức Cảnh, Trịnh Đình Cửu…, những học sinh về sau đã tham gia thành lập chi bộ Đảng, nay như đang tiếp thêm sức mạnh mới cho lớp theo sau. Đó là thế hệ các anh Võ Duy Tường tức Vũ Oanh (sau này là Uỷ viên Bộ Chính trị Trung ương Đảng), Nguyễn Văn Phúc, Nguyễn Viết Triết, Lê Đức Bình, Nguyễn Ngọc Giám, Cao Ngọc Liễn, Lê Quân, Vũ Mai tức Vũ Quang (sau này là Uỷ viên Trung ương Đảng, Bí thư Thứ nhất Trung ương Đoàn trong nhiều năm)… đã bắt liên lạc với cán bộ của Thành uỷ Hà Nội lập lên một tổ chức học sinh yêu nước mang tên Đội Ngô Quyền do đồng chí Vũ Oanh làm đội trưởng. Khi gia nhập đội, tất cả học sinh đều phải làm lễ tuyên thệ trước tổ chức, thề trung thành với Đội, với cách mạng, giữ gìn phẩm chất, đạo đức, rèn luyện thân thể, sinh hoạt lành mạnh. Đội Ngô Quyền đã rải truyền đơn của Mặt trận Việt Minh, tuyên truyền Điều lệ và Chính sách của Mặt trận, kêu gọi những ai yêu nước thương nòi đứng lên đấu tranh giải phóng dân tộc. Dưới sự chỉ đạo của Thành uỷ Hà Nội, Đội Ngô Quyền đã phát triển sang các trường khác như trường Văn Lang, Thăng Long, Đồng Khánh…, nhiều đội viên trở thành đoàn viên TNCQ và được giác ngộ trở thành đảng viên Đảng Cộng sản.

Vào thời điểm này, tại trường Trương Vĩnh Ký (Sài Gòn), được tác động của ta, một Câu lạc bộ Học sinh ra đời do anh Huỳnh Văn Tiểng đứng đầu. Sau khi anh Tiểng ra Hà Nội học đại học, câu lạc bộ này chuyển thành tổ chức tham quan du lịch mà mục đích hoạt động là tìm về cội nguồn dân tộc do anh Trịnh Đình ánh làm đoàn trưởng và hai đoàn phó là Nguyễn Văn ảnh và Võ Thế Quang. Hoạt động này phát triển sang nhiều trường khác ở Sài Gòn và các địa phương khác như Biên Hoà, Mỹ Tho, Cần Thơ…

Hầu hết các tỉnh ở Nam Kỳ, dưới hình thức này hay hình thức khác, phong trào học sinh được thức tỉnh bởi cuộc Nam Kỳ khởi nghĩa đã tự đứng lên tập hợp nhau lại lập ra Đoàn học sinh mang tên các anh hùng dân tộc, đặc biệt có Đoàn học sinh mang tên Đoàn Hùng Vương để nhớ về cội nguồn của dân tộc. Anh chị em chuyền tay nhau những bài thơ, bản nhạc yêu nước, đặc biệt số học sinh sau khi được dự trại Suối Lồ Ô về trở thành lực lượng nòng cốt tổ chức, tập hợp học sinh các trường ở thành phố Sài Gòn và các tỉnh. Hoạt động chính là khơi dậy lòng yêu nước bằng các cuộc đi thăm thắng cảnh, tổ chức cắm trại, hát những bài ca yêu nước của Lưu Hữu Phước, như Việt Nam bất diệt, Khải hoàn ca, Việt nữ gọi đàn, Thiếu sinh Lạc Hồng v.v... Từ những sinh hoạt tập thể này về sau phát triển thành những hoạt động mang tính tổ chức rõ rệt như thành lập các ban đại diện, ban văn hoá, ban kịch, ban du lịch… hoặc các câu lạc bộ ở từng trường mà mục tiêu là hô hào học sinh tẩy chay các hoạt động thể dục, thể thao do tên Đuycuaroay - tay sai của bọn thống trị đứng ra tổ chức để lôi kéo, chia rẽ học sinh, sinh viên và các tầng lớp thanh niên ta đang hướng về cách mạng. Hắn đã cho tay chân đến liên hệ với các ban đại diện nêu trên để kêu gọi hợp tác, nhưng anh chị em hoặc lờ đi, hoặc tẩy chay ra mặt.

Năm 1941, lớp học sinh tốt nghiệp tú tài toàn phần khá đông ở Sài Gòn và các tỉnh Nam Kỳ ra Bắc học Đại học Đông Dương. Một số anh được cử vào Ban Trị sự của Tổng Hội. Để tuyên truyền, cổ vũ tinh thần yêu nước, tình đoàn kết chặt chẽ giữa sinh viên và các miền của đất nước, Tổng Hội lúc này vẫn do anh Dương Đức Hiền làm Hội trưởng đã chủ trương xuất bản một tờ báo lấy tên là Khối đoàn kết (Le Monôme). Chủ bút là anh Mai Văn Bộ, một sinh viên đầy tâm huyết từ Sài Gòn ra (sau này là cán bộ cao cấp của Nhà nước ta). Tôn chỉ, mục đích của tờ báo là thúc đẩy sự tu dưỡng phẩm chất của người tri thức trẻ, thúc đẩy tình đoàn kết trong lực lượng sinh viên, xây dựng nền nếp học tập. Ruột báo và bìa do sinh viên trường Cao đẳng Mỹ thuật trình bày khá đẹp, trong đó có sự đóng góp hết sức tích cực của anh Diệp Minh Châu cũng là một sinh viên đầy tài năng từ Nam ra. Tiếp theo sau sự ra đời của tờ báo là việc hình thành các nhóm chuyên ngành trong Tổng Hội, thí dụ nhóm Văn học đứng đầu là Mai Văn Bộ, Huỳnh Văn Tiểng, Nguyễn Xuân Sanh… nhóm Tân nhạc là Lưu Hữu Phước, Trần Văn Khê… ở Sài Gòn có nhóm Văn học của những sinh viên yêu nước học ở Pháp về như nhóm Văn học Văn Lang của Phạm Ngọc Thạch, hay nhóm Văn học Phan Thanh Giản của Ca Văn Thỉnh vv… Báo Khối đoàn kết của Tổng Hội được phát hành ở Hà Nội và Sài Gòn. Do yêu cầu của học sinh, sinh viên ngày càng nhiều, Tổng Hội hình thành Nhà xuất bản Hoàng Mai Lưu để có điều kiện phát hành rộng rãi cả báo và các sáng tác nhạc kịch. Nhà xuất bản Hoàng Mai Lưu đã xuất bản các vở kịch Hội nghị Diên Hồng, Đêm Lam Sơn, Nợ Mê Linh, Con thỏ ngọc,… của Huỳnh Văn Tiểng và gần như hầu hết các sáng tác nhạc của Lưu Hữu Phước.

Sau ngày Nhật đảo chính Pháp 9/3/1945, Tổng Hội Sinh viên do anh Nguyễn Ngọc Minh tiếp tục làm Hội trưởng, anh Dương Đức Hiền (từ năm 1944) đã đảm nhiệm nhiệm vụ quan trọng khác của Đảng trao cho. Tổng Hội vẫn thấy cần thiết phải tiếp tục xuất bản một tờ báo của sinh viên trong tình hình đất nước đang sôi sục. Tờ tuần báo Tự trị ra đời. Phụ trách tờ Tự trị có các anh Hà Văn Lộc (tức Thép Mới), Nguyễn Sĩ Quốc, Lê Bá Huấn, Xuân Diệu, Huy Cận, Lê Khánh Cận, Nguyễn Xuân Sanh. Tổng Hội cử Lê Văn Giạng làm Chủ nhiệm, Nguyễn Xuân Sanh làm chủ bút. Báo Tự trị ghi rõ mục đích, tôn chỉ của mình ngay trên trang bìa là "Cơ quan truyền bá tư tưởng của Tổng Hội Sinh viên Việt Nam", đồng thời đóng khung 8 chữ: “Phụng sự Tổ quốc Việt Nam độc lập”. Bài xã luận của báo số ra ngày 24/4/1945 có đoạn chỉ rõ: “Có độc lập thì mới sinh tồn được, có độc lập thì mới tiến hoá được. Nghĩ lại 80 năm nô lệ ta sẽ hiểu cái thảm của cảnh vong nô”. Do báo có nhiều bài cổ vũ sinh viên vùng lên trên cơ sở quán triệt đường lối chuẩn bị tổng khởi nghĩa của Đảng ta nên phát xít Nhật đã cho hiến binh tấn công đập phá toà soạn, lấy đi nhiều tài liệu vào đêm 20/6/1945 tại số nhà 32 Lê Đại Hành. Từ thời điểm ấy, phát xít Nhật đã chiếm đóng luôn toà soạn của báo Khối đoàn kết và Tự trị là hai tờ báo của Tổng Hội Sinh viên ra đời trước Cách mạng Tháng Tám năm 1945 dưới ảnh hưởng trực tiếp của Đảng Cộng sản. Tự trị là tờ báo bằng tiếng Việt đầu tiên của Tổng Hội. Tự trị đã quảng bá bài hành khúc nổi tiếng của Lưu Hữu Phước, bài Tiếng gọi sinh viên bằng lời Việt:

Sinh viên ơi! Ta quyết đi đến cùng!
Sinh viên ơi, ta nguyện đem hết lòng
Tiến lên, đồng tiến, vẻ vang đời sống!
Chớ quên rằng ta là giống Lạc Hồng!

Tháng 2/1943, Hội nghị Ban Thường vụ Trung ương Đảng nhận định tình hình cách mạng Việt Nam có bước phát triển mới. Tổ chức của Đảng và của Mặt trận Việt Minh đã bắt rễ vào quần chúng. Trên cơ sở nhận định đó, đồng chí Tổng Bí thư Trường Chinh đã tiếp xúc với một số anh em chủ trì trong Tổng Hội Sinh viên như Dương Đức Hiền, Đặng Ngọc Tốt, Vũ Đình Hoè, Nguyễn Xuân Sanh, Phan Mỹ… để chỉ đạo việc phát triển phong trào sinh viên. Đồng chí hoan nghênh những hoạt động của Tổng Hội, đánh giá cao những đóng góp của các anh Lưu Hữu Phước, Huỳnh Văn Tiểng… và các anh khác về những sáng tác yêu nước được truyền bá trong thanh niên, học sinh, sinh viên để khơi dậy tinh thần quật cường của tuổi trẻ. Đồng chí Tổng Bí thư đặt ra yêu cầu phải mở rộng mặt trận đoàn kết, chống âm mưu chia rẽ của giặc và chuẩn bị cùng toàn dân đứng lên cứu nước, cứu nhà khi thời cơ đến. Thực hiện ý kiến chỉ đạo của đồng chí Tổng Bí thư, Tổng Hội Sinh viên tiếp tục tổ chức nhiều hoạt động để lôi kéo sinh viên như cuộc hành hương lần thứ ba lên đền Hùng, tổ chức các trại sinh viên luân phiên, đẩy mạnh các hoạt động văn nghệ như diễn kịch, đêm nhạc sinh viên….

Thực hiện Nghị quyết Hội nghị Thường vụ Trung ương Đảng năm 1943 “Phái người vào các đoàn Hướng đạo mà hoạt động”, Tổng Hội Sinh viên đã vận động nhiều hướng đạo sinh tẩy chay các hoạt động thể thao do tên thực dân Đuycuaroay lôi kéo mà hăng hái tham gia các hoạt động của Tổng Hội.

Sau đó những cuộc vận động yêu nước được nâng lên thành phong trào đấu tranh đòi giải phóng dân tộc theo lời kêu gọi của Mặt trận Việt Minh, từ cuối năm 1943 và những tháng đầu năm 1944 nổ ra cuộc vận động “Xếp bút nghiên lên đường tranh đấu”. Đồng thời với nhiều hoạt động tuyên truyền, phổ biến, bản Đề cương văn hoá Việt Nam do Tổng Bí thư Trường Chinh khởi thảo trong sinh viên và giới trí thức đã góp phần vào việc tập trung lực lượng.

Phong trào “Xếp bút nghiên” được khởi phát từ các nhóm sinh viên Nam Kỳ ra Hà Nội học như Mai Văn Bộ, Lưu Hữu Phước, Huỳnh Văn Tiểng, rồi lôi cuốn các sinh viên miền Trung, miền Bắc bỏ trường về quê bí mật tìm bắt liên lạc với cán bộ Việt Minh. Họ tổ chức thành từng nhóm, dùng xe đạp toả về các ngả đường. Các nhóm sinh viên Nam Kỳ rong đuổi trên đường số 1, dừng chân lại nơi nào là họ tổ chức ca hát… các bài hát Xếp bút nghiên, Lên đàng, Quốc dân hành khúc… vang lên trong cuộc hành trình gian lao nhưng đầy hăng hái, quyết tâm. Đây là phong trào rất đặc trưng của sinh viên Việt Nam thời tiền khởi nghĩa.

Sau khi phát xít Nhật hất cẳng thực dân Pháp độc chiếm Đông Dương, phong trào yêu nước của học sinh, sinh viên tham gia vào các đội tuyên truyền xung phong, đội danh dự làm công tác trấn áp bọn mật thám, chỉ điểm, diệt ác ôn diễn ra ngay trên đường phố. Nhiều cuộc mít tinh lớn được tổ chức ở ngoại thành Hà Nội thu hút nhiều học sinh, sinh viên nội thành tham gia. Anh chị em công khai lên diễn đàn kêu gọi học sinh, sinh viên tham gia thanh niên cứu quốc, tham gia tự vệ… sẵn sàng đứng lên đánh đổ phát xít và phong kiến giành độc lập, tự do cho dân tộc.

Từ năm 1942, 1943 tình hình trong cả nước diễn biến nhanh chóng. Tổ chức Đoàn, các Hội quần chúng của thanh niên cũng như các đoàn thể khác dưới sự lãnh đạo của Đảng được củng cố và phát triển nhanh chóng.

Tại nhiều vùng nông thôn, các cuộc đấu tranh chống thu mua thóc tạ, chống phá lúa trồng đay, trồng thầu dầu, đòi chia lại công điền của nông dân diễn ra quyết liệt dưới hình thức biểu tình có tính chất nửa vũ trang đánh trả lính Nhật quấy nhiễu, diệt trừ Việt gian… ở Thái Bình, thanh niên và quần chúng nông thôn Tiền Hải đấu tranh đòi chia lại công điền. ở Phúc Yên, thanh niên và nông dân đấu tranh phản đối việc trưng mua lạc, thầu dầu… ở làng Cam (Gia Lâm, Hà Nội), thanh niên cùng nông dân giữ bãi không cho Nhật phá ngô trồng đay. ở Gia Định, Hậu Giang, các đoàn viên Thanh niên Cứu quốc đã tuyên truyền Điều lệ và Chương trình của Mặt trận Việt Minh đến tận ấp xã…

Phong trào của công nhân đã lôi cuối và thu hút đông đảo thanh niên công nhân tham gia. Tháng 2/1942 công nhân mỏ than Hòn Gai đình công. Ngày 1/5/1942 công nhân xe lửa Gia Lâm mít tinh chống chủ nghĩa phát xít mở rộng chiến tranh. Tháng 7/1942 thợ máy sân bay Gia Lâm vây bàn giấy võ quan Nhật, phản đối lính Nhật đánh đập công nhân. Từ tháng 5/1942 đến tháng 6/1943 ở Nam Bộ có 24 cuộc đấu tranh của công nhân đòi tăng lương, giảm giờ làm, đòi bán gạo, vải, diêm, xà phòng theo giá quy định.

Qua cuộc đấu tranh này, tổ chức Đoàn ngày càng được củng cố và phát triển trong thanh niên.

Hoảng sợ trước phong trào đấu tranh của thanh niên và nhân dân ta, bọn Pháp – Nhật một mặt thẳng tay đàn áp, khủng bố phong trào, mặt khác chúng đưa ra nhiều thủ đoạn lừa bịp để tranh thủ và lôi kéo thanh niên.

Lúc này, phát xít Nhật tích cực rêu rao thuyết “Đại Đông á”, “Khối thịnh vượng chung”… Chúng lập ra các tổ chức “Việt Nam Thanh niên ái quốc”, “Thanh niên Hưng quốc đoàn”… Bù nhìn Pêtanh ở Pháp tung ra những khẩu hiệu “Cần lao – Gia đình – Tổ quốc”, “Pháp – Việt phục hưng”vv…

Bọn thống trị Pháp còn tổ chức rầm rộ phong trào thể thao “Khoẻ để phụng sự”. Chúng giao cho tên sĩ quan tình báo Đuycuaroay tổ chức những cuộc đua xe đạp, thi bơi lội, đấu quyền Anh, thi sắc đẹp để lôi cuốn thanh niên làm cho họ lạc hướng đấu tranh cách mạng. Thực dân Pháp còn lập “Hội Thanh niên Công giáo”, “Tổng Hội Sinh viên Đông Dương”, xuất bản các sách xem bói, xem tướng, sách kiếm hiệp, trinh thám, khuyến khích đồi phong bại tục, mê tín dị đoan.

Nhằm chống lại những âm mưu, thủ đoạn của địch đầu độc thanh niên về tư tưởng, phá hoại thanh niên về tổ chức, cuối tháng 2-1943, Ban Thường vụ Trung ương Đảng chỉ thị cho các cấp uỷ Đảng và Đoàn Thanh niên Cứu quốc “Phải ra sức chống lại chính sách mê hoặc lôi kéo thanh niên của phát xít Nhật – Pháp và lãnh đạo thanh niên đấu tranh đòi quyền lợi kinh tế, chính trị hàng ngày. Mỗi thành phố lớn phải có một Ban Thanh vận và cố gắng ra một tờ báo riêng của thanh niên. Việc soạn sách riêng cho thanh niên cũng rất cần… Phải phái người vào các đoàn Hướng đạo, hội thể dục mà hoạt động. Nơi nào chưa có những tổ chức như thế thì phải lợi dụng những khả năng và hoàn cảnh mà tổ chức ra, rồi tuyển trong đó những phần tử thanh niên tốt đưa vào “Thanh niên Cứu quốc Đoàn”.

Mùa hè năm 1943, nhóm sinh viên Nam Bộ học tại Hà Nội trong tổ chức Tổng Hội Sinh viên Đông Dương khởi xướng phong trào Xếp bút nghiên. Các anh trở về Sài Gòn gia nhập vào tổ chức Truyền bá quốc ngữ và làm báo Thanh niên… Đảng bộ địa phương đã bắt được liên lạc và trực tiếp chỉ đạo hoạt động của nhóm sinh viên này trong đó có các anh Lưu Hữu Phước, Mai Văn Bộ, Huỳnh Văn Tiểng, Trần Bửu Kiếm v.v… Các bài hát, vở kịch yêu nước như Đêm Lam Sơn, Nợ Mê Linh, Hội nghị Diên Hồng, Hành khúc sinh viên (Sau này là Tiếng gọi thanh niên), ải Chi Lăng… đã cổ vũ thanh niên trở về với chân giá trị dân tộc, góp phần chống lại những luận điệu lừa bịp của toàn quyền Đờcu (Decoux) và thuyết “Đại Đông á” của Nhật…

Thực hiện chủ trương của Đảng, cuối năm 1943 đầu năm 1944, các thành phố lớn như Hà Nội, Huế, Sài Gòn, Hải Phòng đã thành lập được Ban Thanh vận. Cơ sở Đoàn và các Hội quần chúng của thanh niên được phát triển khá rộng ở Nam Định, Vinh, Đà Nẵng, Chợ Lớn… Tháng 8/1944, Hà Nội thành lập Ban Chấp hành Đoàn Thanh niên Cứu quốc thành Hoàng Diệu. Trong những năm 1942–1943 thanh niên Hà Nội có phong trào tìm đọc sách báo cách mạng của Hội Văn hoá cứu quốc. Báo Hồn nước của Thanh niên thành Hoàng Diệu là cơ quan tuyên truyền, tập hợp, đoàn kết mọi tầng lớp thanh niên.

Nhằm đấu tranh chống những tư tưởng tư sản phản động, văn hoá đồi truỵ do kẻ thù gieo rắc và kịp thời giải thích đường lối, chính sách của Đảng, của Mặt trận Việt Minh, Đảng cho xuất bản hàng loạt tờ báo như: Cờ Giải phóng, Cứu quốc, Bẻ xiềng sắt, Tiền phong, Giải phóng… đặc biệt là sự ra đời của bản Đề cương văn hoá Việt Nam do chính đồng chí Tổng Bí thư Trường Chinh khởi thảo. Đây là một văn kiện rất quan trọng của Đảng ta soi sáng nhiều vấn đề trên mặt trận văn hoá cách mạng theo tư tưởng của chủ nghĩa Mác – Lênin.

Báo chí cách mạng và bản Đề cương văn hoá Việt Nam được tuyên truyền phổ biến rộng rãi trong thanh niên góp phần quan trọng thu hút nhiều thanh niên trí thức tham gia cách mạng và có ảnh hưởng rất lớn trong tuổi trẻ cả nước. Song song với nhiệm vụ đấu tranh chính trị và văn hoá, thanh niên các đơn vị vũ trang và bán vũ trang cũng được thành lập ở nhiều địa phương. Các cơ sở Đoàn và các Hội quần chúng của thanh niên đã động viên nam nữ thanh niên ra sức luyện tập quân sự, tham gia các đội tự vệ, chiến đấu dũng cảm chống địch đàn áp, khủng bố, càn quét, bảo vệ căn cứ địa và cơ sở cách mạng.

Trong 2 năm 1942–1943, các Đảng bộ vùng biên giới phía Bắc đã chọn nhiều cán bộ, đoàn viên ưu tú đưa đi huấn luyện quân sự ở Trung Quốc. Các đồng chí đã trở thành những cán bộ chiến sĩ cốt cán, tích cực trong các đội tự vệ và lực lượng vũ trang cách mạng. Tháng 8/1944, theo chủ trương của Đảng, Tổng bộ Việt Minh kêu gọi và phát động phong trào “Sắm vũ khí, đuổi thù chung”. Đoàn Thanh niên Cứu quốc và các Hội quần chúng của thanh niên cùng các đoàn thể cứu quốc trong Mặt trận Việt Minh đã nhiệt liệt hưởng ứng. Phong trào xây dựng lực lượng vũ trang, xây dựng căn cứ địa và chuẩn bị khởi nghĩa được Đoàn coi là nhiệm vụ hàng đầu của tất cả đoàn viên, thanh niên.

Để chuẩn bị xây dựng quân đội cách mạng của Đảng, Nguyễn ái Quốc đã chỉ thị thành lập Đội Việt Nam Tuyên truyền giải phóng quân và giao cho đồng chí Võ Nguyên Giáp phụ trách. Ngày 22/12/1944, Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân chính thức được thành lập ở Cao Bằng. Trong số 34 chiến sĩ đầu tiên ấy, tuyệt đại bộ phận là đảng viên, đoàn viên, thanh niên trong đó có các đồng chí mới 17, 18 tuổi.

Sau ngày thành lập, Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân xuất quân tiêu diệt đồn Phay Khắt và đồn Nà Ngần, thu toàn bộ vũ khí.

Sau hai trận thắng giòn giã, đơn vị được bổ sung quân số thành lập đại đội. Đoàn đã cung cấp cho lực lượng vũ trang nhân dân những cán bộ xuất sắc ngay từ những ngày đầu như Quang Trung, Nam Long, Nam Tuấn, Quốc Trung, Xuân Trường… Đặc biệt có những nữ chiến sĩ và thiếu niên tham gia công tác giao liên cho đơn vị như bé Hồng đã lập công suất sắc trong nhiệm vụ trinh sát nắm tình hình quân địch.

Thời kỳ phát triển cuộc đấu tranh vũ trang kết hợp với đấu tranh chính trị của nhân dân ta góp phần đẩy mạnh cuộc vận động giải phóng dân tộc trong cả nước đã đến.

Từ cuối năm 1943 đến đầu năm 1945, chiến tranh thế giới lần thứ hai bước vào giai đoạn kết thúc. Hồng quân Liên Xô đã quét sạch phát xít Đức ra khỏi lãnh thổ của mình và tiến như vũ bão về phía Beclin. Số phận của phát xít Đức sắp bị kết liễu. ở Thái Bình Dương, phát xít Nhật ngày càng lâm vào tình trạng nguy khốn.

Để nắm chắc Đông Dương hơn nữa và trừ mối nguy bị quân Pháp đánh sau lưng, tối ngày 9/3/1945, Nhật đã làm đảo chính hất cẳng Pháp, độc chiếm Đông Dương. Chưa đầy một ngày, thực dân Pháp đã nộp súng đầu hàng Nhật trên toàn cõi Đông Dương.

Từ lâu, Đảng ta đã dự đoán về cuộc đảo chính Nhật hất cẳng Pháp sẽ nổ ra.

Từ ngày 9 đến ngày 12/3/1945, Ban Thường vụ Trung ương Đảng họp Hội nghị mở rộng ở làng Đình Bảng (Từ Sơn – Bắc Ninh) do đồng chí Trường Chinh chủ trì để đánh giá tình hình cuộc đảo chính và nêu ra những chủ trương của Đảng trong thời kỳ mới. Hội nghị nhất trí nêu khẩu hiệu: “Đánh đuổi Nhật – Pháp” và phát động cao trào chống Nhật, cứu nước, gấp rút tiến tới Tổng khởi nghĩa giành chính quyền… Nơi nào có điều kiện thì phát triển chiến tranh du kích, giành chính quyền ở địa phương. Để nhanh chóng thúc đẩy cao trào cứu nước, Hội nghị chủ trương chuyển sang những hình thức và phương pháp đấu tranh cao hơn và mạnh hơn như tuyên truyền xung phong, biểu tình tuần hành thị uy, mít tinh công khai, thành lập các Uỷ ban Nhân dân Cách mạng, xây dựng mở rộng các chiến khu và các căn cứ địa cách mạng.

Ngày 12/3/1945, Ban Thường vụ Trung ương Đảng ra Chỉ thị “Nhật – Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta” nhằm cụ thể hoá những nhận định và nghị quyết của Hội nghị Trung ương.

Từ cuối tháng 3/1945 trở đi, cách mạng Việt Nam đã chuyển lên thành cao trào và những cuộc khởi nghĩa từng phần liên tiếp nổ ra ở nhiều địa phương.

Trong lúc nhân dân ta gấp rút chuẩn bị Tổng khởi nghĩa thì ở Bắc Bộ và miền Bắc Trung Bộ đã xảy ra nạn đói khủng khiếp. Hai triệu đồng bào ta bị chết đói. Đó là hậu quả thảm khốc nhất của chính sách bóc lột và gây chiến của bọn phát xít Nhật – Pháp. Khẩu hiệu “Phá kho thóc giải quyết nạn đói” của Đảng đã đáp ứng đúng nguyện vọng cấp bách nhất của quần chúng, thổi bùng ngọn lửa đấu tranh trong nhân dân đẩy tới cao trào kháng Nhật, cứu nước dâng lên trong cả nước.

Tuổi trẻ đã hăng hái đi đầu trong cao trào quần chúng phá các kho thóc, thuyền thóc của Nhật và tích cực tham gia các đội tuyên truyền xung phong của Việt Minh hoạt động ở các chợ, rạp hát, bến đò, bến xe, xí nghiệp, trường học… Nhiều nơi, các đội tự vệ của Việt Minh bắt trói, tước vũ khí lính Nhật, cảnh cáo, giải tán trừng trị bọn Việt gian đầu sỏ. Tại các thành phố, nhiều đội “Danh dự Việt Minh” hoạt động trừ gian và diệt võ quan Nhật tàn ác ngay trước mũi súng quân Nhật.

ở Hà Nội, nếu cuối năm 1944 chỉ mới có một tổ chức tự vệ ở trường bay Gia Lâm gồm 3 đồng chí đoàn viên thanh niên cứu quốc thì thời kỳ này toàn thành đã có trên 1000 đoàn viên và những thanh niên được Đoàn giáo dục tham gia các đội tự vệ, đội tuyên truyền xung phong và đội danh dự, đặc biệt là các Hội quần chúng của thanh niên hoạt động trên lĩnh vực văn hoá, văn nghệ qua đó tuyên truyền, giác ngộ quần chúng đứng lên đấu tranh tự bảo vệ quyền lợi của mình phát triển ngày càng rộng rãi. Ngày 18/6, đội tự vệ công nhân đã bắn tên Phó trưởng đoàn “Thanh niên ái quốc” là tay sai đắc lực của phát xít Nhật ở ngã tư phố Ngô Thì Nhậm – Lê Văn Hưu. Ngày 19/6 một tên tay sai khác của Nhật bị đội danh dự xử bắn ở dốc Hàng Kèn (nay là đường Bà Triệu), tên Phó thanh tra mật thám bị trừng trị ở Ngã Tư Sở… Thanh niên thành Hoàng Diệu tổ chức nhiều cuộc mít tinh, huy động hàng trăm nam nữ thanh niên tham gia ở xã Mễ Trì, Chợ Canh, Làng Láng vv… Các tổ tuyên truyền xung phong của Đoàn đột nhập diễn thuyết tại các trường Gia Long, Kỹ nghệ thực hành, nhà máy rượu… ở Chèm và dọc đường Bưởi, các đội tự vệ thanh niên thường chặn các xe vận tải chở thóc, gạo của Nhật, tịch thu và phân phát cho đồng bào nghèo.

ở Huế, thanh niên giữ vai trò nòng cốt trong các đội tự vệ và tuyên truyền xung phong – tổ chức Đoàn đã bắt nối được với các nhóm bảo an, tổ chức việc mua súng, lấy súng địch để trang bị cho lực lượng vũ trang của ta… Nhiệm vụ trừng trị bọn ác ôn và bọn Việt gian ngoan cố của các đội tự vệ được nhân dân nhiệt liệt hoan nghênh và cổ vũ mạnh mẽ đã góp phần đẩy mạnh cao trào cách mạng trong cả tỉnh.

ở Sài Gòn, các đội tự vệ, thanh niên xung phong cũng được hình thành nhanh chóng và thu hút hàng trăm thanh niên tham gia. Các đội tuyên truyền xung phong đã tuyên truyền sâu rộng trong thanh niên và nhân dân Chương trình và Điều lệ của Mặt trận Việt Minh.

Sau cuộc đảo chính hất cẳng Pháp (9/3/1945) Iđa - quyền Tổng trưởng Thanh niên thể thao Đông Dương ngỏ ý mời bác sĩ Phạm Ngọc Thạch đứng ra lập một tổ chức để tập hợp thanh niên và bác sĩ Phạm Ngọc Thạch được quyền quyết định về tổ chức, mục đích, nội dung hoạt động.

Ngày 1/6/1945, tổ chức Thanh niên Tiền phong ra đời. Các đồng chí Phạm Ngọc Thạch (Bác sĩ), Huỳnh Tấn Phát (Kiến trúc sư), Nguyễn Văn Thủ (Nha sĩ), Thái Văn Lung (Luật sư).. cùng các sinh viên Lưu Hữu Phước, Trần Bửu Kiếm, Huỳnh Văn Tiểng, Mai Văn Bộ,… trở thành các thủ lĩnh của Thanh niên Tiền phong. Xứ uỷ bố trí đảng viên cán bộ cốt cán nắm giữ những vị trí then chốt trong Thanh niên Tiền phong. Thanh niên Tiền phong đã đưa ra nội dung và hình thức hoạt động phong phú nên đã cuốn hút được tuổi trẻ. Vào tháng 7/1945 thanh niên Tiền phong Sài Gòn tổ chức lễ tuyên thệ tại Vườn Ông Thượng. Các cán bộ lãnh đạo thanh niên tiền phong ra lời hiệu triệu: "Thanh niên hãy nhận thức rằng thời cơ đất nước đang đến, thanh niên Việt Nam phải sẵn sàng, phải hiệp lực để cứu nước". Vì vậy chỉ trong thời gian vài ba tháng, số lượng Thanh niên Tiền phong ở Sài Gòn đã lên đến 200.000 người và toàn Nam Bộ có hơn 1 triệu người. Đây là một phong trào thanh niên rộng rãi hoạt động theo định hướng của Đảng. Anh chị em Thanh niên Tiền phong đóng vai trò rất tích cực trong quá trình vận động, tập hợp lực lượng thanh niên chuẩn bị cho cuộc Tổng khởi nghĩa. Đoàn Thanh niên Cứu quốc đã tuyển chọn kết nạp được nhiều đoàn viên trong phong trào quần chúng rộng lớn, một hình thức mặt trận được tổ chức công khai do Đảng lãnh đạo, giữ vai trò quan trọng trong cuộc khởi nghĩa giành chính chính quyền. Ngày 20/8/1945, khi Việt Minh ra công khai hoạt động ở thành phố Sài Gòn thì Thanh niên Tiền phong tuyên bố đứng vào hàng ngũ Mặt trận Việt Minh. (Sau Cách mạng Tháng Tám thành công, Thanh niên Tiền phong chấm dứt vai trò của mình. Số đông gia nhập Thanh niên Cứu quốc, dân quân tự vệ…)

ở các tỉnh Nam Bộ, ngoài Thanh niên Tiền phong còn có các đội thanh niên chiến đấu, thanh niên cảm tử… được thành lập đáp ứng yêu cầu tình hình cách mạng. ở Mỹ Tho đã tổ chức được 3 trung đội du kích với 32 khẩu súng và mở lớp huấn luyện về chiến thuật du kích cho cán bộ cơ sở trong tỉnh và các tỉnh lân cận.

Giữa lúc cao trào kháng Nhật của nhân dân ta phát triển đến đỉnh điểm, toàn dân đã sẵn sàng xông lên khởi nghĩa thì ngày 8/8/1945, Liên Xô tuyên chiến với Nhật, chỉ trong thời gian ngắn quân đội Xô viết anh hùng đã tiêu diệt hoàn toàn đội quân Quan Đông tinh nhuệ nhất của Nhật gồm 1 triệu tên. Ngày 15/8/1945, Nhật đầu hàng Liên Xô và các nước đồng minh không điều kiện. Thời cơ Tổng khởi nghiã đã đến.

Trước tình hình khẩn cấp đó, ngày 15/8/1945, Hội nghị toàn quốc của Đảng ta đã họp ở Tân Trào. Hội nghị nhận định “Cơ hội rất tốt cho ta giành quyền độc lập đã tới”, và quyết định phát động toàn dân Tổng khởi nghĩa, giành chính quyền từ tay phát xít Nhật và tay sai trước khi quân đồng minh tiến vào Đông Dương để giải giáp Nhật.

Tiếp sau Hội nghị toàn quốc của Đảng, Đại hội Quốc dân cũng họp tại Tân Trào vào ngày 16/8/1945 thông qua mười chính sách lớn của Việt Minh, thông qua lệnh Tổng khởi nghĩa và bầu ra Uỷ ban Dân tộc Giải phóng Trung ương tức Chính phủ Lâm thời do lãnh tụ Hồ Chí Minh làm Chủ tịch. Đồng chí Vũ Oanh và đồng chí Vũ Quang đại biểu của thanh niên Hà Nội tham dự Đại hội Tân Trào.

Mệnh lệnh khởi nghĩa được truyền đi từ Tân Trào. Đảng Cộng sản Đông Dương và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ra lời hiệu triệu đồng bào và chiến sỹ cả nước nổi dậy giành chính quyền. Chủ tịch Hồ Chí Minh kêu gọi: “Giờ quyết định cho vận mệnh dân tộc ta đã đến. Toàn quốc đồng bào hãy đứng dậy đem sức ta mà tự giải phóng cho ta”. Ngay trong đêm, 13/8/1945, Uỷ ban Khởi nghĩa toàn quốc đã gửi Quân lệnh số 1 lệnh cho đồng bào, chiến sỹ cả nước nhanh chóng vùng dậy tranh quyền độc lập cho đất nước.

Dưới sự lãnh đạo của Đảng, hơn hai mươi triệu đồng bào cả nước ta từ Bắc đến Nam đã đồng loạt đứng lên tiến hành cuộc Tổng khởi nghĩa long trời lở đất giải phóng toàn bộ đất nước giành chính quyền về tay nhân dân.

Đoàn Thanh niên Cứu quốc lúc này đã có lực lượng hùng hậu gần 30.000 đoàn viên và hội viên thanh niên cùng hàng triệu thanh niên cảm tình cách mạng có mặt ở các trung tâm chính trị – kinh tế lớn của cả nước. Đây là đội quân xung kích giữ vai trò nòng cốt trọng điểm, hàng vạn thanh niên tự vệ, thanh niên xung phong dưới sự lãnh đạo của Đảng đã đánh chiếm các huyện lỵ, tỉnh lỵ, trại lính, công sở của địch… Từ 14 đến ngày 18 tháng 8, cuộc Tổng khởi nghĩa đã giành đựơc thắng lợi ở nhiều huyện trong khu giải phóng và một số tỉnh đồng bằng ở miền Bắc, một số tỉnh ở miền Trung, và ở các thị xã Bắc Giang, Hải Dương, Hà Tĩnh, thị xã Hội An (Quảng Nam)…

ở Hà Nội, ngày 17/8/1945, mặc dầu Nhật đã đầu hàng nhưng bọn tay sai Nhật còn dùng “Tổng hội viên chức” tổ chức cuộc mít tinh lớn ủng hộ chính phủ bù nhìn Trần Trọng Kim. Dưới sự lãnh đạo của Xứ uỷ Bắc Kỳ và Thành uỷ Hà Nội, đoàn viên, hội viên thanh niên trong các đội tuyên truyền xung phong và đội tự vệ đã chiếm diễn đàn cuộc mít tinh, kêu gọi nhân dân ủng hộ Việt Minh và tham gia Tổng khởi nghĩa. Cuộc mít tinh biến thành cuộc biểu tình tuần hành thị uy, làm cho bọn tay sai của Nhật trong chính phủ bù nhìn hoang mang, dao động đến cực độ. Trước tình hình ấy, Xứ uỷ và Thành uỷ lập tức quyết định khởi nghĩa ở Hà Nội vào ngày 19/8/1945.

Từ sáng sớm ngày 19/8, cả Hà Nội đã vùng lên. Sau cuộc mít tinh lớn, quần chúng cách mạng sắp xếp thành đội ngũ dẫn đầu là các đơn vị tự vệ chiến đấu trẻ tuổi đã nhanh chóng toả đi các hướng chiếm phủ Khâm sai, trại Bảo an binh, Sở cảnh sát và các công sở khác của chính quyền bù nhìn.

Thắng lợi của Tổng khởi nghĩa ở Hà Nội làm cho chính quyền bù nhìn thêm tê liệt, cổ vũ mạnh mẽ nhân dân các địa phương gấp rút nổi dậy. Ngày 23/8/1945 khởi nghĩa thắng lợi ở Huế. Hàng chục vạn thanh niên và nhân dân Thừa Thiên –Huế đã vùng lên tiến công phát xít Nhật, chiếm lĩnh các cơ quan đầu não của chính quyền bù nhìn và hoàn toàn làm chủ thành phố.

Ngai vàng cuối cùng của chế độ phong kiến bị đánh đổ. Cờ đỏ sao vàng được kéo lên trên kỳ đài uy nghi. Ngày 30/8 tại lầu Ngọ Môn, trước hàng vạn đồng bào các giới, vua Bảo Đại tuyên bố thoái vị, trao lại ấn kiếm cho đại diện chính quyền cách mạng từ Hà Nội vào.

ở Nam Bộ, lệnh khởi nghĩa đã được truyền đi. Ngay đêm 24/8/1945, tại Sài Gòn, lực lượng cách mạng chiếm dinh Khâm sai và nhiều cơ quan trọng yếu khác. Ba giờ sáng ngày 25/8/1945, cả Sài Gòn đã vang lên tiếng hát Lên đàng, Thanh niên hành khúc… và tiếng hô vang Việt Nam độc lập muôn năm, Đả đảo phát xít Nhật, ủng hộ Việt Minh… Một cuộc mít tinh lịch sử diễn ra giữa Sài Gòn hân hoan chào đón Kỳ bộ Việt Minh, Uỷ ban Hành chính Lâm thời ra mắt đồng bào và tuổi trẻ thành phố.

Như vậy là chỉ trong vòng hơn 10 ngày đêm, cuộc Tổng khởi nghĩa đã giành thắng lợi hoàn toàn từ Lạng Sơn đến Cà Mau. Hai mươi lăm triệu đồng bào và tuổi trẻ cả nước đứng lên làm chủ vận mệnh Tổ quốc Việt Nam.

Ngày 2/9/1945, tại Quảng trường Ba Đình (Hà Nội) trước cuộc mít tinh của một biển người, Chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt Chính phủ Lâm thời đọc bản Tuyên ngôn độc lập lịch sử tuyên bố trước nhân dân Việt Nam và nhân dân thế giới: Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà ra đời.

Trong cao trào giải phóng dân tộc mà đỉnh cao nhất là cuộc Tổng khởi nghĩa Tháng Tám năm 1945, dưới ngọn cờ của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đoàn Thanh niên đã động viên, tổ chức tuổi trẻ cả nước góp phần xứng đáng vào thành công to lớn của cuộc Tổng khởi nghĩa. Đoàn thật sự là đội xung kích cách mạng, lực lượng tiên phong và hạt nhân tập hợp, đoàn kết hàng triệu nam nữ thanh niên Việt Nam đứng lên cùng toàn dân đấu tranh kiên cường vì độc lập, tự do của Tổ quốc. Sự lớn mạnh về mọi mặt của tổ chức Đoàn và các hội quần chúng của thanh niên là điều kiện hết sức quan trọng để tuổi trẻ tiếp tục gánh vác nhiệm vụ vẻ vang cùng toàn dân xây dựng, củng cố và bảo vệ chính quyền cách mạng.

Chặng đường lịch sử từ 1925 đến Cách mạng Tháng Tám năm 1945 tuy chỉ 20 năm song trên đất nước ta đã diễn ra nhiều sự kiện trọng đại. Đó là giai đoạn chuẩn bị thành lập Đảng, chuẩn bị xây dựng Đoàn, tập hợp đoàn kết các lực lượng thanh niên, giai đoạn đấu tranh quyết liệt chống đế quốc, phong kiến dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh. Đây là nguyên nhân cơ bản nhất quyết định thắng lợi hoàn toàn của cuộc Cách mạng Tháng Tám năm 1945, mở ra kỷ nguyên độc lập, tự do cho dân tộc, xây dựng Nhà nước công nông đầu tiên ở Đông Nam châu á.

Ngay từ năm 1925, tại trường Huấn luyện cán bộ thanh niên ở Quảng Châu, Nguyễn ái Quốc đã khẳng định: Muốn cách mạng thắng lợi phải có Đảng cách mạng lãnh đạo, Đảng ấy phải biết vận động, đoàn kết, tập hợp, huấn luyện quần chúng để tạo ra sức mạnh thực hiện đường lối cách mạng của Đảng.

Luận điểm đúng đắn, sáng tạo của lãnh tụ Nguyễn ái Quốc là thức tỉnh thanh niên để đi tới thức tỉnh cả dân tộc hoàn toàn phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh của nước ta – một nước thuộc địa và nửa phong kiến đã đưa lại những thành công to lớn trong hoạt động thực tiễn.

Xuất phát từ sự nhìn nhận đúng đắn vai trò của tuổi trẻ trong lịch sử cũng như khả năng cách mạng to lớn của họ trong sự nghiệp cứu nước, cứu dân, Chủ tịch Hồ Chí Minh là người sáng lập, lãnh đạo Đảng ta và chính Người cũng là người sáng lập, rèn luyện Đoàn ta “Từ lúc đầu hiếm hoi chỉ có 8 cháu" đến "khối đại đoàn kết thanh niên trong một mặt trận rộng rãi”. Đây là vinh dự to lớn cho thế hệ trẻ nước ta.

Ngay sau khi ra đời, Đảng ta liền bắt tay vào quá trình xây dựng hệ thống tổ chức Đoàn và ra sức đoàn kết, tập hợp các tầng lớp thanh niên theo nhiều phương thức khác nhau phấn đấu vì mục tiêu chung giành giải phóng dân tộc và giai cấp.

Công lao to lớn không gì so sánh được của Nguyễn ái Quốc – Hồ Chí Minh là đã đem lý tưởng cách mạng đến cho lớp thanh niên đầy tâm huyết đang trăn trở tìm đường đấu tranh đúng đắn để giải phóng dân tộc và giai cấp khỏi cảnh sống nô lệ, lầm than hồi đầu thế kỷ sau bao lần thất bại của các tiên liệt yêu nước.

Cách mạng Tháng Tám năm 1945 vĩ đại dẫn đến sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà là một chặng đường vô cùng oanh liệt, hào hùng với biết bao anh hùng, liệt sỹ, chiến sỹ cách mạng trẻ tuổi đã cống hiến trọn vẹn tuổi thanh xuân tươi đẹp của mình cho sự nghiệp cao cả của dân tộc và Tổ quốc Việt Nam yêu quý. Những trang sử vàng ấy đời đời khắc ghi vào tâm trí các thế hệ trẻ nước ta.


CHƯƠNG IV: THANH NIÊN CẢ NƯỚC TÍCH CỰC THAM GIA BẢO VỆ, XÂY DỰNG CHÍNH QUYỀN CÁCH MẠNG MỚI THÀNH LẬP

Sau khi giành được độc lập, vấn đề cơ bản nhất đặt ra cho Đảng và Nhà nước ta là giữ vững chính quyền trước sự tấn công điên cuồng của kẻ thù cùng những thế lực nguy hiểm, từng bước xây dựng chế độ mới, đưa cách mạng vững bước tiến lên.

Trên đất nước Việt Nam chưa bao giờ có nhiều kẻ thù như lúc này. ở miền Bắc, từ tháng 8 đến đầu tháng 9/1945 khoảng 200.000 quân Tưởng Giới Thạch với danh nghĩa Đồng minh tràn vào chiếm đóng Thủ đô Hà Nội và hầu hết các thành phố, thị xã từ biên giới Việt - Trung đến vĩ tuyến 16. Chúng tập hợp tất cả các lực lượng phản cách mạng để chống phá, lật đổ chính quyền cách mạng.

ở miền Nam, ngày 23/9, quân Pháp được quân Anh, quân Nhật yểm trợ bắt đầu nổ súng đánh chiếm Sài Gòn rồi mở rộng dần ra các tỉnh Nam Bộ, Nam Trung Bộ.

Nhà nước ta đứng trước tình thế cực kỳ khó khăn, thiếu thốn từ tài chính, lương thực đến vũ khí, thuốc men... Nạn đói khủng khiếp năm 1945 làm hơn 2 triệu người chết; 50% ruộng đất ở đồng bằng Bắc Bộ bị bỏ hoang, sản xuất công nghiệp bị đình đốn, hàng vạn công nhân không có việc làm, nền tài chính khánh kiệt, kho bạc trống rỗng.

Trước tình hình đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ trì phiên họp Ban Thường vụ Trung ương Đảng và vạch ra những phương hướng, biện pháp đầu tiên để xây dựng chế độ mới và đối phó với các lực lượng đế quốc, phản động.

Theo phương hướng đó, ngày 3/9/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh triệu tập phiên họp đầu tiên của Hội đồng Chính phủ và nêu ra 6 việc cấp bách cần làm ngay.

Tiếp đó, trong bức thư gửi cho bà con nông dân cả nước, Hồ Chủ tịch lại nêu lên 2 nhiệm vụ cấp bách trước mắt: “Cứu đói ở Bắc và kháng chiến ở Nam... vì cứu quốc, các chiến sĩ đấu tranh ở ngoài mặt trận, vì kiến quốc, nhà nông phấn đấu ngoài đồng ruộng”.

Ngày 25/11/1945, Ban Thường vụ Trung ương ra Chỉ thị: “Kháng chiến, Kiến quốc”, đề ra nhiệm vụ chủ yếu của cách mạng Việt Nam lúc này là củng cố chính quyền, chống thực dân Pháp xâm lược, bài trừ nội phản, cải thiện đời sống cho nhân dân...

Theo đề nghị của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng đã phát động phong trào quần chúng tăng gia sản xuất, chống đói, chống nạn mù chữ.

Hưởng ứng lời kêu gọi chống giặc đói của Hồ Chủ tịch, thanh niên cả nước tích cực tham gia các đoàn vận động lạc quyên cứu đói, hưởng ứng: Hũ gạo cứu đói, Ngày đồng tâm nhịn ăn... để giúp đồng bào bị đói.

Mở đầu phong trào tăng gia sản xuất, Hồ Chủ tịch kêu gọi:

“Tăng gia sản xuất! Tăng gia sản xuất ngay! Tăng gia sản xuất nữa! Đó là khẩu hiệu của chúng ta ngày nay. Đó là cách thiết thực của chúng ta để giữ vững quyền tự do, độc lập”.

Với khẩu hiệu “Không một tấc đất bỏ hoang”, “Tấc đất, tấc vàng”, phong trào thi đua sản xuất dấy lên ở khắp các vùng nông thôn, đồng bằng, trung du, miền núi và ở cả các thành phố, thị trấn. Hàng nghìn thanh niên tổ chức thành các đội sản xuất đi khai hoang, phục hoá ruộng đất, bảo vệ đê điều, trồng các cây lương thực ngắn ngày. Tại Hà Nội, thanh niên tận dụng những bãi đất nhỏ ven công viên, các bãi bồi ven sông Hồng đến những thửa ruộng hoang hoá ở ngoại thành để trồng lúa, trồng màu, các đội thanh niên đi về nông thôn, lên miền trung du, miền núi để tham gia sản xuất lương thực...Những hoạt động tích cực của thanh niên đã góp phần nhanh chóng khôi phục sản xuất nông nghiệp, đẩy lùi nạn đói.

Sau Cách mạng Tháng Tám, một trong những việc mà Hồ Chủ tịch quan tâm là phát động một cao trào toàn dân chống nạn mù chữ để mở mang kiến thức cho nhân dân lao động. Chủ tịch Hồ Chí Minh nói: “Một dân tộc dốt là một dân tộc yếu. Vì vậy, tôi đề nghị mở một chiến dịch chống nạn mù chữ” Người giao nhiệm vụ cho thanh niên: “Công việc này, mong anh chị em thanh niên sốt sắng giúp sức”.

Thanh niên là lực lượng nòng cốt trong phong trào diệt giặc dốt. ở Hà Nội, hơn 2.000 đoàn viên, thanh niên, phần lớn là học sinh, sinh viên tình nguyện làm giáo viên các lớp bình dân học vụ. Trong một thời gian ngắn, có 74.957 lớp học được tổ chức với 95.665 thanh niên tham gia làm “Chiến sĩ diệt dốt”. Chỉ sau một năm đã có 2,5 triệu người thoát nạn mù chữ. Hệ thống giáo dục phổ thông và đại học cũng được xây dựng và từng bước phát triển. Tiếng Việt được dùng trong các văn bản chính thức của Nhà nước và trong việc học tập, giảng dạy ở các trường, lớp.

Tháng 9/1945, nhân ngày khai trường năm học đầu tiên sau cách mạng thành công, Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thư cho học sinh dặn dò các cháu cố gắng, siêng năng học tập, ngoan ngoãn nghe lời thầy cô, thi đua với bạn để sau này đem tài năng đóng góp vào công cuộc xây dựng đất nước.

Người viết: “Non sông Việt Nam có trở nên tươi đẹp hay không, dân tộc Việt Nam có bước tới đài vinh quang để sánh vai với các cường quốc năm châu được hay không, chính là nhờ một phần lớn ở công học tập của các cháu”

Ngày 11/5/1945, Bộ Quốc gia Giáo dục ra quyết định khai giảng năm học mới của các trường đại học tại Hà Nội do đội ngũ giáo sư trẻ tuổi người Việt Nam giảng dạy để đào tạo lớp cán bộ có trình độ học vấn cao cho nước nhà.

Mặc dù bộn bề công việc sau ngày nước nhà vừa giành được độc lập, Bác vẫn giành thời gian tiếp đoàn đại biểu của Tổng hội Sinh viên Cứu quốc Hà Nội vào chiều ngày 6/9/1945.

Đối với việc học tập, rèn luyện và chăm lo đời sống của sinh viên, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dành sự quan tâm chăm sóc hết sức ân cần. Anh chị em sinh viên yêu nước ở Hà Nội vui mừng, sung sướng khi nghe tin Chủ tịch Hồ Chí Minh sắp về Hà Nội. Đúng vào tối ngày 22/8, sinh viên các trường đại học, cao đẳng ở Hà Nội, những người đã là đoàn viên, đứng trong tổ chức của Tổng Hội Sinh viên hoặc đã tham gia hoạt động công khai cùng đông đảo sinh viên tập hợp đông nghịt tại tầng dưới ngôi nhà trước đây là toà soạn một tờ báo của Pháp. Chủ trì cuộc họp là anh Dương Đức Hiền, nguyên Hội trưởng Tổng Hội Sinh viên đầu những năm 40, giờ đây là cán bộ lãnh đạo của Mặt trận Việt Minh. Trong buổi họp ấy, sự kiện quan trọng là lễ ra mắt công khai của Tổng Hội Sinh viên Cứu quốc thay cho Tổng Hội Sinh viên trước đây. Ban Thường vụ của Tổng Hội Sinh viên Cứu quốc gồm các đảng viên, đoàn viên và các sinh viên yêu nước được giới thiệu trong tiếng hoan hô nhiệt liệt của những người dự cuộc họp. Ban Thường vụ Tổng Hội Sinh viên Cứu quốc giới thiệu sơ lược về chương trình hoạt động của Hội, kêu gọi sinh viên đem nhiệt huyết cống hiến cho cách mạng và tích cực ủng hộ Mặt trận Việt Minh. Ban Thường vụ cũng giới thiệu tờ báo mới của sinh viên lấy tên là Gió mới thay cho báo Tự trị trước đây. Đây là tờ báo đầu tiên của sinh viên Việt Nam sau Cách mạng Tháng Tám. Nhà thơ Nguyễn Xuân Sanh vốn có chân trong ban phụ trách báo Tự trị được Thường vụ Trung ương Hội phân công làm chủ nhiệm kiêm chủ bút báo. Báo chuẩn bị ra số đầu tiên thì cũng là lúc toàn thể sinh viên được tin việc tổ chức cuộc mít tinh lớn tại Hội trường Ba Đình để nghe Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản “Tuyên ngôn độc lập lịch sử”. Ban Thường vụ Trung ương Hội yêu cầu báo in gấp hàng nghìn tờ truyền đơn kêu gọi sinh viên siết chặt hàng ngũ đến dự buổi lễ trọng đại này mang theo hàng chục băng rôn lớn với khẩu hiệu: “Việt Nam độc lập muôn năm”, “ủng hộ Chính phủ Lâm thời Hồ Chí Minh”, “ủng hộ Việt Minh” v.v… Sau đó, Ban Thường vụ Tổng Hội Sinh viên Cứu quốc gửi một bức thư lên Hồ Chủ tịch nhiệt liệt chào mừng Chính phủ Lâm thời và Chủ tịch Hồ Chí Minh. Chỉ mấy hôm sau, Bác Hồ có thư trả lời. Người nói lên sự cảm động của mình khi nhận được thư của đoàn thể sinh viên, một đoàn thể đứng trong Mặt trận Việt Minh, Người hoan nghênh tinh thần yêu nước của anh chị em, chúc anh chị em sinh viên học giỏi, đoàn kết và hoạt động hăng hái, vững vàng đi theo sự nghiệp cách mạng của toàn dân. Đặc biệt trong thư, Bác đồng ý tiếp một đoàn đại biểu thay mặt anh chị em sinh viên đến gặp Bác. Ban Thường vụ Tổng Hội Sinh viên Cứu quốc báo cáo ngay lên Văn phòng của Bác là đoàn đại biểu đã sẵn sàng chờ Chỉ thị.

Thật hết sức bất ngờ và biết bao sung sướng, chiều ngày 6/9/1945, nghĩa là chỉ sau 4 ngày Bác đọc Tuyên ngôn độc lập lịch sử, đoàn đại biểu Tổng Hội Sinh viên Cứu quốc đã vinh dự gặp Bác tại Bắc Bộ phủ. Hồi ký của đồng chí Nguyễn Xuân Sanh, Uỷ viên Ban Thường vụ Tổng Hội, một trong những thành viên của đoàn đại biểu kể rằng: “Vào đến phòng khách lớn của Bắc Bộ phủ, chúng tôi gặp bác sĩ Tôn Thất Tùng vừa vào tiêm thuốc cho Bác đi ra, tay anh cầm chiếc áo khoác trắng. Quặt sang tay phải vào phía sau dẫn đến phòng Bác, thấy cửa kính đang khép, tôi đưa tay nhẹ nhàng gõ cửa. Người bước ra bắt tay chào chúng tôi là anh Võ Nguyên Giáp. Anh cười nói: “Tôi cũng là cựu sinh viên đây, các anh cứ vào, Cụ Chủ tịch đang đợi”. Bác hơi gầy, xanh, im lặng đi mấy bước ra gặp chúng tôi. Đôi mắt Bác sáng ngời, Bác mặc chiếc quần soóc cũ. Lòng tôi bồi hồi, trông thấy Bác như thấy người Cha đi xa lâu mới trở về. Bác dặn dò tuổi trẻ trí thức mà chúng tôi lúc ấy có hạnh phúc được làm đại diện:

- Anh chị em sinh viên có nghe thấy lời kêu gọi của đất nước không? Nó giục giã chúng mình như cơn thác lũ cuộn sông Hồng, sông Đuống mà hôm ở căn cứ địa trở về Thủ đô Bác đã trông thấy. Đất nước mình thì bao la, mà dân ta đã bị đói nghèo xơ xác không biết bao nhiêu thế kỷ rồi.

Với nét mặt trầm ngâm, Bác nói tiếp:

- Quê hương chúng ta hùng vĩ, người đông. Chúng ta cùng đứng lên với tất cả loài người, đánh đuổi thực dân, quân phiệt ngay giữa thế kỷ XX đâu phải dễ. Nhưng ta quyết tâm làm, và ta có dũng khí của cha ông thì nhất định được. Ta phải nghe tiếng gọi 4000 năm của đất nước. Giặc cam tâm làm dân ta chết đói hơn 2 triệu người. Ta phải cố gắng làm cho đồng bào ta yêu đời và không ai bị chết đói nữa”.

Bác còn ân cần nhắc nhở, với một giọng nói nhẹ nhàng và thân thiết, chúng tôi tưởng như được lắng nghe lời dạy của cha ông: “Tuổi trẻ sinh viên hẳn còn thấy trong mình nhức nhối khi nhiều bà con, nhân dân còn đói chữ, phải quờ quạng như mù. Họ không được đọc sách báo nên cái gì cũng như đêm tối âm u. Ta phải làm cho đồng bào tìm được con đường đi cùng với cách mạng”.

Cả đoàn ra về, ai nấy đều muốn được nán lại lâu bên Bác thêm những phút giây nữa. Xúc động trào dâng, nhà thơ sinh viên Nguyễn Xuân Sanh đã viết bài thơ Đất nước trong đó có đoạn:

 …Lời Bác nói giữa Thủ đô Hà Nội
 Trái tim chúng con đập với triệu triệu trái tim
 Chúng con ngồi bên Bác trong nhiều phút lặng im.

Đầu năm 1946, mặc dù tình hình chiến tranh ngày càng phức tạp nhưng để thực hiện quyền làm chủ của nhân dân và đập tan sự xuyên tạc của kẻ thù, Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh quyết định Tổng tuyển cử trong cả nước để bầu ra Quốc hội đầu tiên của nước Việt Nam độc lập, xây dựng Hiến pháp của Nhà nước Dân chủ Cộng hoà.

Ngày 6/01/1946 cuộc Tổng tuyển cử được tổ chức trên khắp mọi miền đất nước.

Cuộc Tổng tuyển cử thật sự là cuộc đấu tranh giai cấp và đấu tranh dân tộc gay go, quyết liệt bởi thù trong, giặc ngoài đang tìm cách lật đổ chính quyền non trẻ. Nhiều cán bộ, đoàn viên, thanh niên phải hy sinh trong khi làm nhiệm vụ tuyên truyền, vận động và bảo vệ cuộc Tổng tuyển cử.

Mặc dù địch ra sức phá hoại, cuộc bầu cử đã thu được thắng lợi to lớn. Tỷ lệ người đi bầu rất cao, trung bình là 86%, nhiều nơi đạt trên 90%. Những đại biểu do Mặt trận Việt Minh giới thiệu đều trúng cử với số phiếu cao nhất. Chủ tịch Hồ Chí Minh ứng cử tại Thủ đô Hà Nội được cử tri tín nhiệm với 98,4% số phiếu bầu. Nhân dân cả nước đã bầu ra 333 đại biểu vào Quốc hội khoá đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Đại biểu Quốc hội trẻ nhất là Nguyễn Đình Thi, 21 tuổi, là nhà thơ, nhạc sĩ, một thanh niên trí thức hoạt động tích cực trong phong trào thanh niên học sinh yêu nước ở Hà Nội.

Trước tình hình thực dân Pháp nổ súng tấn công ta ở Nam Bộ, bọn Tưởng Giới Thạch muốn lợi dụng cơ hội này để thôn tính nhanh miền Bắc Việt Nam. Đầu tháng 10/1945, Hà ứng Khâm - Tổng Tham mưu trưởng quân đội Tưởng Giới Thạch đến Hà Nội để thực hiện âm mưu nói trên. Nhưng trước cuộc biểu dương lực lượng của hơn 300.000 thanh niên và nhân dân Thủ đô với đội ngũ chỉnh tề, băng cờ biểu ngữ rợp trời, hô vang khẩu hiệu: “Nước Việt Nam của người Việt Nam”, “ủng hộ Chính phủ Lâm thời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà”, “ủng hộ Việt Nam độc lập Đồng minh”, “ủng hộ Chủ tịch Hồ Chí Minh”... Hà ứng Khâm phải chùn tay trong việc thực hiện ý đồ thâm độc của y.

Ngày 23/9/1945, thực dân Pháp nổ súng đánh chiếm Sài Gòn - Gia Định rồi sau đó đánh rộng ra cả Nam Bộ, Nam Trung Bộ với sự ủng hộ của quân Anh. 7 giờ sáng 23/9, Xứ uỷ và Uỷ ban Hành chính Nam Bộ (sau đổi thành Uỷ ban Kháng chiến) họp khẩn cấp tại phố Cây Mai (Chợ Lớn) có đồng chí Hoàng Quốc Việt thay mặt Trung ương Đảng và Tổng bộ Việt Minh tham dự. Hội nghị quyết định phát động toàn thể nhân dân tiến hành kháng chiến chống quân xâm lược. Uỷ ban Kháng chiến Nam Bộ được thành lập, ra lệnh Tổng bãi công, bãi thị, bất hợp tác với địch, phong toả địch...

Tuổi trẻ Nam bộ cùng nhân dân Nam Bộ không tiếc xương máu, anh dũng bước vào cuộc kháng chiến lâu dài, gian khổ.

Đêm 23/9/1945, một đơn vị thanh niên cảm tử đã bảo vệ các đồng chí cán bộ của Trung ương Đảng, Xứ uỷ và Uỷ ban rút ra khỏi thành phố an toàn. Các tầng lớp thanh, thiếu niên đều tham gia vào các tổ chức chiến đấu và phục vụ chiến đấu, tiến hành cuộc chiến tranh du kích ngay trong thành phố. Nhiều tỉnh Nam Bộ đưa lực lượng thanh niên về góp sức với Sài Gòn chống quân xâm lược. Nhiều trận đánh làm địch hoảng sợ như trận phục kích khu quân sự ở vùng ngoại ô Tân Định ngày 24/9/1945, diệt 200 tên; trận tấn công bất ngờ trại lính Pháp trên đường Divuê (Hùng Vương ngày nay) diệt 100 tên, trận phục kích ở Gò Vấp ngày 28/9/1945, bắn chết tên đại tá Diuy. Ngày 30/9/1945, đội TNXP Đoàn Dũng và Đoàn Tiến phục kích tại cầu chữ Y diệt 2 xe chở đầy lính Pháp; ngày 25/9/1945, một đội du kích phá Khám lớn giải phóng tù chính trị, đột nhập vào tận nhà tên Đờli Nhông diệt 3 sĩ quan địch.

Nhiều tấm gương hy sinh anh dũng tuyệt vời của tuổi trẻ Sài Gòn đã động viên tinh thần giết giặc cứu nước của nhân dân cả nước. Đó là một tổ du kích gồm 3 thanh niên đang làm nhiệm vụ trong nội thành, bất ngờ gặp địch. Anh tổ trưởng phân công đối phó ngay: “Tao tay không đi trước cho nó bu lại xét, thằng thứ hai ném lựu đạn, còn một đứa về báo cáo. Dầu có hy sinh một đứa chẳng hề gì”. Sáng hôm sau, các báo đưa tin: “Tại đầu đường Galiêni một tổ du kích đánh lựu đạn diệt 10 tên Pháp, ta có 2 chiến sĩ hy sinh”. Một thiếu niên đi rải truyền đơn trong trại lính chẳng may bị bắt. Tên sĩ quan Anh tra hỏi, em trả lời rõ ràng: “Người sung sướng là được chết cho Tổ quốc... Lúc này tôi chỉ nghĩ một điều như vậy”. Tên sĩ quan Anh ra lệnh thả em về.

ở Biên Hoà, các em thiếu niên lập Đội thiếu niên cảm tử gồm 30 em, làm nhiệm vụ trinh sát và trừ gian...

Trung ương Đảng, Chính phủ và Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng đồng bào cả nước theo dõi từng ngày tình hình chiến sự ở Nam Bộ và phát động phong trào ủng hộ kháng chiến của đồng bào Nam Bộ, Nam Trung Bộ, đồng thời tích cực chuẩn bị đối phó với âm mưu của Pháp mở rộng chiến tranh ra cả nước.

Ngày 18/1/1946, Chủ tịch Hồ chí Minh đã cử Bộ trưởng Nội vụ Võ Nguyên Giáp - Đặc trách quân sự của Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà vào mặt trận Nam Trung Bộ, Tây Nguyên và Nam Bộ để nắm tình hình chiến trường và truyền đạt ý kiến chỉ đạo của Trung ương và Bác Hồ, động viên đồng bào, chiến sĩ giữ vững tinh thần kháng chiến, phát động phong trào du kích chiến tranh để kìm chân địch và hăng hái tham gia đánh giặc cứu nước.

Cả nước dấy lên phong trào Nam tiến. Sôi nổi nhất là các tầng lớp thanh niên nô nức đến các Phòng Nam Bộ ở các tỉnh thành miền Bắc, miền Trung ghi tên vào Nam chiến đấu. Những khẩu hiệu: “Nước Việt Nam là một”, “Nam Bộ là máu của máu Việt Nam, là thịt của thịt Việt Nam...” thôi thúc nhiệt huyết yêu nước của mọi người. Tất cả các trường học đều đóng cửa...Các đoàn xe lửa ngày đêm hối hả chở quân vào Nam, khắp nơi đều rộn vang tiếng hát "Xếp bút nghiên lên đường chiến đấu...”, “Anh có nghe tiếng súng miền Nam, rền đất nước Việt Nam...”

Nhanh nhất là Hà Nội, chỉ sau 3 ngày tức là ngày 26/9/1945, đoàn tàu Nam tiến đã khởi hành từ ga Hà Nội với một chi đội (Trung đoàn) gồm các đại đội Hà Nội, Bắc Sơn, Bắc Kạn (một bộ phận của đội tuyên truyền Giải phóng quân tiến về Hà Nội trong khởi nghĩa ngày 19/8). Vào Thanh Hoá rồi Vinh (Nghệ An), mỗi nơi bổ sung thêm 1 đại đội.

Trưa ngày 29 tháng 9, đoàn tàu Nam Tiến đầu tiên dừng khá lâu ở ga Huế. Cả xứ Huế rộn lên, không chỉ để tiễn đưa 1 đại đội thuộc Chi đội Trần Cao Vân theo đoàn quân Nam tiến mà còn là cuộc đón tiếp hết sức nồng nhiệt, chứa chan tình cảm của nam, nữ học sinh, thanh niên Huế, của các bà mẹ, bà chị tiểu thương chợ Đông Ba, An Cựu, Bến Ngự, thành Nội và các thôn, phường ngoại thành Huế dành cho đoàn quân Nam tiến.

Phong trào Nam tiến lôi cuốn hàng chục vạn thanh niên lên đường vào Nam chiến đấu. Các tỉnh ở Bắc bộ, Bắc Trung bộ đều thành lập những chi đội, tiểu đoàn khẩn cấp vào Nam. Đầu tháng 11/1945, chi đội 1 quân Nam tiến Hải Phòng lên đường vào Nam đánh giặc. Thành phố Huế gửi vào Nam 3 chi đội, Quảng Nam gửi 5 chi đội, riêng Quảng Ngãi gửi khoảng 15.000 chiến sĩ, Thủ đô Hà Nội gửi 10.000 thanh niên ưu tú vào tiếp sức cho Nam Bộ đánh giặc; Nam Định gửi 2 đại đội, Ninh Bình gửi 3 đại đội, Hà Nam gửi 1 tiểu đoàn cùng 50 cán bộ chi viện cho Nam Bộ.

Phong trào xung phong vào Nam đánh giặc đi vào từng gia đình, cuốn hút tình cảm của mọi lứa tuổi. Gia đình ông Hoàng Tâm Tích ở Hải Phòng đã tình nguyện cho 3 người con trai được vào Nam chiến đấu trong đợt đầu tiên. Tấm gương em thiếu niên Hà Nội trốn trong toa than tàu hoả để theo các chiến sĩ vào Nam đánh giặc và đã hy sinh anh dũng ở mảnh đất miền Trung với chiếc bát sắt bên mình. Không biết tên em, đồng đội gọi em: “Chiến sĩ Bát Sắt”. Noi gương em, thiếu niên Hà Nội đã lập đội tình báo chiến đấu trong lòng địch với tên gọi Đội Bát Sắt.

Đoàn Nam tiến đầu tiên đã tham gia chiến đấu ở miền Đông Nam Bộ, đánh giặc ở cầu Bình Lợi, Xuân Lộc, sau ra chiến đấu ở đường 21 rồi Nha Trang. Khi mặt trận Sài Gòn - Gia Định vỡ, giặc lấn lên Tây Nguyên và các tỉnh phía Nam Trung Bộ, các chi đội Nam Tiến nhập với quân chủ lực địa phương, chiến đấu ở các mặt trận các tỉnh cực Nam Trung Bộ, Nha Trang, Buôn Ma Thuột là các chi đội thuộc các tỉnh: Hưng Yên, Nam Định, Hải Dương, Thái Bình, Thanh Hoá, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Trị, Thừa Thiên, Quảng Nam và các tỉnh, thành Hà Nội, Hải Phòng, Huế, Kiến An, Đông Triều.... Hai chi đội Quảng Ngãi và Bình Định đã tác chiến ở Xuân Lộc, Sài Gòn, Nam Tây Nguyên.

Lực lượng Nam Tiến vào chiến trường Nam Bộ từ cuối tháng 9 năm 1945 đến đầu năm 1946 đã góp phần quan trọng làm tăng sức mạnh chiến đấu cho miền Nam ruột thịt.

Cùng với Nam Bộ, tiếng súng kháng chiến ở Nha Trang nổ ra đêm 22 rạng 23/10/1945. Đêm ấy, Đại đội trưởng Võ Văn Ký quê ở Ninh Hoà đã hy sinh anh dũng khi chỉ huy đơn vị tấn công nhà ga với lựu đạn và súng trường. Ngày nay, con đường trước ga Nha Trang, nơi anh ngã xuống đêm 23/10/1945 được mang tên anh - đường Võ Văn Ký.

Chỉ trong khoảng 100 ngày đêm kháng chiến, quân dân Sài Gòn đã phá huỷ 139 cơ sở phục vụ cuộc chiến tranh xâm lược của Pháp, đốt phá 22 kho, 17 đầu máy xe lửa… và quân dân toàn Nam Bộ đã tiêu diệt 5.000 lính Pháp. Nhiều tấm gương chiến đấu dũng cảm, hy sinh oanh liệt của thanh niên như đội cảm tử gồm 5 thanh niên Cần Thơ do anh Lê Bình chỉ huy, bất ngờ tập kích vào đồn Cái Răng diệt gọn một đại đội địch. Lê Bình hy sinh. Lúc này anh mới 22 tuổi. Trả thù cho anh, đội du kích mang tên anh đã phục kích đánh địch ở ngã tư Cái Sơn làm hỏng một tàu, diệt 2 tên Pháp và một tên Việt gian… Liệt sĩ Lê Bình được Nhà nước ta truy tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân. Tại mặt trận Bình Thuỷ, các anh Trần Văn Quế, Nguyễn Văn Hạnh đã chiến đấu đến viên đạn cuối cùng. Anh Võ Văn Thơm chỉ huy đội cảm tử ở Gò Công đã cùng đồng đội chiến đấu ác liệt khi giặc tràn đến. Chính quyền cách mạng lấy tên anh đặt cho ấp chợ Tân Hoà. Đó là ấp Hoà Thơm, nơi anh đã hy sinh vì đất nước.

Cuộc kháng chiến của quân dân Nam Bộ đã giam chân thực dân Pháp, tạo điều kiện để ta củng cố chính quyền cách mạng, xây dựng chế độ mới, chuẩn bị cho cuộc kháng chiến toàn quốc.

Tháng 2/1946, thay mặt Chính phủ và đồng bào cả nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh tặng Nam Bộ danh hiệu vẻ vang “Thành đồng Tổ quốc”

*
*   *

Sau Cách mạng Tháng Tám, dưới sự chỉ đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Trung ương Đảng, các cấp uỷ Đảng từ Xứ uỷ đến các Tỉnh, Thành uỷ đều coi trọng công tác tổ chức, vận động và giáo dục thanh niên. Trong Chính phủ lâm thời nước Việt Nam dân chủ cộng hòa có Bộ Thanh niên do ông Dương Đức Hiền làm Bộ trưởng. (Sau này Chính phủ Liên hiệp kháng chiến lập Nha Thanh niên do ông Dương Đức Hiền, Đào Duy Kỳ làm Giám đốc và Phó Giám đốc để phối hợp với Đoàn Thanh niên Cứu quốc trong công tác tổ chức vận động thanh niên tham gia kháng chiến và kiến quốc. Tháng 6 năm 1946, tổ chức Tổng Đoàn Thanh niên Việt Nam ra đời do ông Dương Đức Hiền làm Tổng Đoàn trưởng. Tổng Đoàn Thanh niên Việt Nam là mặt trận đoàn kết, tập hợp rộng rãi các tầng lớp thanh niên trong đó Đoàn Thanh niên Cứu quốc làm nòng cột để phục vụ công cuộc kháng chiến và kiến quốc theo Chỉ thị của Bác Hồ kính yêu).

Các cơ sở Đoàn được hình thành ở hầu khắp các nhà máy, xí nghiệp, đường phố, trường học, làng xã, từ thành phố đến nông thôn, từ đồng bằng lên miền núi. Nhiều đại hội Đoàn các cấp đã được triệu tập.

Ngày 27/9/1945, Đại hội Đoàn Thanh niên Cứu quốc thành Hoàng Diệu (Hà Nội) khai mạc tại Nhà hát Lớn thành phố. Đại hội vinh dự được Chủ tịch Hồ Chí Minh và các Bộ trưởng trong Chính phủ lâm thời đến thăm. Cả Hội trường xúc động lắng nghe lời huấn thị của Bác Hồ. Người đánh giá cao vai trò của thanh niên Hà Nội trong cuộc Tổng khởi nghĩa giành chính quyền. Người nói lên niềm vinh dự tự hào của mỗi người dân, mỗi thanh niên được làm chủ đất nước và trách nhiệm của thanh niên phải cùng nhân dân bảo vệ nền độc lập vừa giành được, xây dựng chế độ mới.

Trong những ngày đầu tiên của nước Việt Nam vừa giành được độc lập, tự do, Đại hội Đoàn Thanh niên Cứu quốc thành Hoàng Diệu thành công tốt đẹp là một sự kiện lịch sử trọng đại trong đời sống chính trị của thanh niên Thủ đô và thanh niên cả nước.

Tiếp đó, Đại hội Xứ Đoàn Thanh niên Cứu quốc Bắc Bộ được tổ chức tại Nhà hát Lớn thành phố ngày 25/11/1945, dự Đại hội có 120 đại biểu thay mặt cho đoàn viên thanh niên của 21 tỉnh, thành phố, Chủ tịch Hồ Chí Minh và đồng chí Phạm Văn Đồng đã đến thăm và huấn thị tại Đại hội. Đồng chí Nguyễn Lam được Đại hội bầu làm Bí thư Xứ Đoàn Thanh niên Cứu quốc Bắc Bộ.

Cuối năm 1945, đoàn đại biểu thanh niên Nam Bộ do anh Huỳnh Tấn Phát dẫn đầu đã vượt qua vòng vây của quân thù, ngày đêm lội suối băng rừng ra Hà Nội tham dự Đại hội Đoàn toàn quốc.

Đoàn đến Hà Nội vào những ngày đầu tháng 11/1945 và được làm việc với đồng chí Phạm Văn Đồng, đại diện Tổng Bộ Việt minh phụ trách công tác thanh niên. Trong cuộc họp trù bị cho Đại hội do đồng chí Phạm Văn Đồng chủ trì, đồng chí đã nêu phương hướng thành lập Liên đoàn Thanh niên Việt Nam để đoàn kết, tập hợp rộng rãi các tầng lớp thanh niên tham gia kháng chiến. (Sau này, đoàn đại biểu thanh niên Nam Bộ đã về báo cáo với Xứ uỷ về phương hướng thành lập Liên đoàn Thanh niên Việt Nam nên đầu năm 1947, Liên đoàn Thanh niên Việt Nam Nam Bộ đã sớm ra đời). Sau cuộc gặp gỡ và làm việc với bác Phạm Văn Đồng, ngày 10/11/1945, đồng chí Trần Văn Giàu đã đưa Đoàn đi gặp Bác Hồ kính yêu tại Bắc Bộ phủ. Bác ra tận cầu thang đón đoàn và ôm hôn từng người vô cùng thân thiết. Bác hỏi thăm sức khoẻ và tình hình đi đường của anh em trong đoàn. Ngồi cạnh Bác có đồng chí Võ Nguyên Giáp, Bộ trưởng Bộ Nội vụ kiêm Thứ trưởng Bộ Quốc phòng và Tổng thư ký Hội đồng Chính phủ. Anh Huỳnh Tấn Phát báo cáo với Hồ Chủ tịch về cuộc kháng chiến của đồng bào Nam Bộ và phong trào thanh niên Nam Bộ trong những ngày đầu kháng chiến. Bác chú ý từng chi tiết và Bác hỏi anh Phát trả lời. Qua cuộc nói chuyện toát lên nỗi lo lắng của lãnh tụ đối với cuộc đi đầu đấu tranh đầy gian khổ của đồng bào Nam Bộ. Bác vô cùng xúc động trước những tấm gương chiến đấu, hy sinh anh dũng của thanh, thiếu nhi và đồng bào Nam Bộ. Rồi Bác yêu cầu Đoàn đến phòng làm việc của Bác trong 2 ngày liền để khi rảnh việc Chính phủ, Bác sẽ hỏi thăm tường tận và dặn dò những điều cần thiết cho cán bộ và đồng bào Nam Bộ.

Đoàn đại biểu thanh niên Trung Bộ do hai đồng chí Hồng Chương và Hồ Mỹ Xuyên cũng từ Huế ra Hà Nội báo cáo với Hồ Chủ tịch về phong trào thanh niên Trung Bộ, các đồng chí đã thay mặt thanh niên miền Trung xin hứa với Người sẽ đi đầu trong phong trào kháng chiến, kiến quốc, tích cực thực hiện nhiệm vụ chống giặc đói, giặc dốt và giặc ngoại xâm mà Người đã trao cho tuổi trẻ cả nước.

Tháng 11/1946, Đại hội Đoàn Thanh niên Cứu quốc các tỉnh Trung Bộ khai mạc tại thành phố Huế. Trên 150 đại biểu đại diện cho 13 vạn cán bộ, đoàn viên, thanh niên từ Thanh Hoá đến các tỉnh cực Nam Trung Bộ về dự Đại hội. Đại hội được đồng chí Nguyễn Chí Thanh - Uỷ viên Trung ương Đảng, Bí thư Xứ uỷ Trung Kỳ đến thăm và nói chuyện. Toàn thể đại biểu dự Đại hội đã nêu cao ý chí của thanh niên Trung Bộ nguyện chiến đấu, hi sinh đến cùng chống thực dân Pháp xâm lược.

ở Nam Bộ, cuối năm 1946, Xứ uỷ chủ trương củng cố tổ chức Đoàn Thanh niên Cứu quốc và phát triển phong trào thanh niên. Các Ban vận động, Ban Chấp hành lâm thời Tỉnh Đoàn được thành lập. Các tỉnh đều tiến hành công tác củng cố và phát triển cơ sở Đoàn, Các huyện, xã ở Mỹ Tho, Bến Tre...đều thành lập được Ban Chấp hành. ở Cần Thơ, 2/3 số huyện trong tỉnh có Ban Chấp hành; ở Sóc Trăng xây dựng được 36/ 56 cơ sở Đoàn; ở Bạc Liêu, trong tháng 9,10,11/1946, hệ thống tổ chức của thanh niên Cứu quốc được hình thành từ cơ sở trở lên.

Trong điều kiện cuộc kháng chiến chống Pháp của quân dân Nam Bộ đang diễn ra quyết liệt, nhưng đến cuối năm 1946, Đoàn Thanh niên Cứu quốc Nam Bộ đã xây dựng được cơ sở ở hầu hết các tỉnh, thành, huyện, thị...Đoàn đã động viên đoàn viên, thanh niên tích cực tham gia dân quân du kích, tòng quân xây dựng lực lượng vũ trang, tham gia chiến đấu, phá tề, trừ gian...

Nhằm tỏ rõ thiện chí mong muốn giải quyết vấn đề quyền độc lập của nước Việt Nam bằng con đường hoà bình, Chính phủ ta đã cử phái đoàn ngoại giao sang Pháp, đồng thời Chủ tịch Hồ Chí Minh nhận lời sang thăm Pháp với tư cách là thượng khách của Chính phủ Pháp vào giữa năm 1946.

Trước khi tạm biệt đồng bào cả nước, nhất là đồng bào Thủ đô Hà Nội, chiều ngày 30/5/1946, một cuộc mít tinh lớn đã được tổ chức tại sân Việt Nam Học xá của sinh viên (Bạch Mai). Ngoài đại biểu các tầng lớp nhân dân Thủ đô, sinh viên các trường cao đẳng và đại học Hà Nội cũng vinh dự được gặp Người. Bác muốn trực tiếp thăm nơi ở và nói chuyện với một số anh chị em sinh viên. Người xuống ô tô và bước lên các bậc tam cấp dẫn đến đại sảnh của nhà A. Bác vẫy tay chào tất cả sinh viên đang đứng đợi. Dưới nắng hè chói chang, Người vui vẻ trò chuyện với các sinh viên cùng đi. Bác nhìn chung quanh và vui vẻ cười:

- Đang còn nhiều cây và nhiều tiếng chim hót.

Bác yêu cầu đưa Bác đến thăm nhà bếp liền kề với nhà ăn của sinh viên. Bác hỏi các anh chị nhà bếp:

- Nấu cơm cho sinh viên ăn có khó không?

- Thưa Cụ Chủ tịch, khó nhưng vẫn làm được ạ. Thưa Cụ Chủ tịch, các cậu sinh viên ăn khoẻ và họ hiền lắm.

Bác cười và tiến đến bắt tay từng anh chị nấu bếp. Chưa đến giờ mít tinh nên Bác tỏ ý muốn thăm nơi ở của sinh viên, anh chị em mời Bác lên cầu thang gác nhà A (nơi có vẻ khang trang nhất trong bốn khu nhà A, B, C, D). Tự vén chiếc màn ngăn nơi ở riêng của một sinh viên nội trú, Bác thấy giường đang còn đệm cỏ, các ngăn tủ đựng sách vở, có buồng còn có lọ hoa ngắt từ giậu quanh khuôn viên học xá. Bác bảo:

- Có đệm ấm mùa đông là tốt, nhưng giờ vào mùa hè rồi nên cất đi kẻo nực. Có sách vở đầy đủ, có “hoa rừng” thì nên chăm lo học tập để rồi phụng sự công việc xây dựng đất nước cho tốt.

Đúng giờ, Bác đến dự mít tinh trong tiếng hoan hô vang dậy của mấy nghìn người, trong đó có anh chị em sinh viên quần áo chỉnh tề đứng theo đội ngũ nghiêm trang. Tất cả đều im phăng phắc xúc động nhìn Bác không chớp mắt. Bác ân cần căn dặn đồng bào Thủ đô và đồng bào cả nước, trong đó có sinh viên đặt lòng tin vào sự nghiệp chính nghĩa của dân tộc. Lời Bác đi sâu vào từng trái tim: “Cả đời tôi chỉ có một mục đích là phấn đấu cho quyền lợi của Tổ quốc và hạnh phúc của nhân dân…Bất kỳ bao giờ và bất kỳ ở đâu tôi cũng chỉ đeo đuổi một mục đích là làm sao cho ích quốc, lợi dân”. Khi Bác lên xe ra về, cả rừng người lưu luyến, tần ngần hồi lâu trên sân Việt Nam Học Xá, biết bao sinh viên mắt rớm lệ…

Sau buổi mít tinh, Hồ Chủ tịch lên đường sang Pháp, Chính phủ Pháp đã nghênh đón Chủ tịch Hồ Chí Minh với nghi lễ trọng thể nhất đối với một nguyên thủ quốc gia. Tin tức từ Paris đưa về làm cho cả nước nức lòng phấn khởi. Thanh niên, học sinh, sinh viên Việt Nam càng thêm tự hào, tự tin tràn ngập, họ nghĩ rằng hơn 30 năm trước Bác đã sang Pháp trên chiếc tàu buôn với tư cách là người làm công, nay Bác sang Pháp với tư cách là Chủ tịch của nước Việt Nam độc lập với rừng cờ đỏ sao vàng, lá cờ đã từng thấm đượm biết bao dòng máu anh hùng của các chiến sĩ cách mạng và đồng bào yêu nước đi theo con đường Bác dẫn dắt đến thắng lợi quan trọng này.

Hơn ba tháng sau, với nhiều hoạt động phong phú, rộng rãi để nêu cao chính nghĩa Việt Nam không những ở Pháp mà còn lan toả đến châu Âu, Bác trở về nước. Nhân dân và tuổi trẻ Hà Nội, Hải Phòng cùng nhiều tỉnh khác cử đại biểu xuống Hải Phòng đón Bác. Biển người lại được reo hò vang dậy: “Hồ Chủ tịch muôn năm”, “ủng hộ Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà”, “ủng hộ Việt Minh”… làm cho các thế lực thù địch thêm run sợ.

Tổng Hội Sinh viên cứu quốc xin phép được vào thăm Bác sau khi Bác đi xa về và báo cáo với Bác về kỳ thi tốt nghiệp đại học năm 1946. Bộ Quốc gia Giáo dục do nhà dân tộc học nổi tiếng Nguyễn Văn Huyên làm Bộ trưởng đã thực hiện có kết quả tinh thần của Bác cho kỳ thi viết và hỏi miệng bằng tiếng Việt đối với sinh viên. Đây là một thành tựu quan trọng bước đầu phá tan mọi hoài nghi của những người quen giảng dạy, học tập bằng tiếng Pháp.

Văn phòng Chủ tịch trả lời Bác đồng ý. Hôm ấy là một ngày cuối tháng 10 năm 1946, tình hình Hà Nội căng thẳng do những hoạt động quân sự của Pháp và sự phá hoại của bọn phản động gây ra. Đoàn đại biểu của Tổng Hội Sinh viên cứu quốc do anh Lê Văn Giạng (Sinh viên khoa Toán – Lý) dẫn đầu, ngoài ra còn có các anh Điền Văn Hưng, quê Nam Bộ (Sinh viên trường Nông – Lâm), anh Nguyễn Xuân Sanh chủ bút báo “Gió mới” và một số anh khác… Phòng khách của Bác có bình hoa đang nở. Bác mở cửa đón và bắt tay từng người trong đoàn. Bác mặc bộ áo quần tuýtxo trắng, trông Bác khoẻ hơn hồi mới về Thủ đô, có lẽ sóng gió đại dương vừa trải qua đã giúp ích cho sức khoẻ của Bác. Bác đề nghị anh em trong đoàn đại biểu sinh viên kể lại tình hình sinh viên và những hoạt động của Tổng Hội trong thời gian qua. Bác chăm chú nghe và thỉnh thoảng gật đầu tỏ vẻ đồng tình. Nghe xong, Bác giải thích vì sao chúng ta phải khẩn trương chuẩn bị lực lượng về mọi mặt, riêng đối với sinh viên Bác dạy phải làm cho anh chị em ngày càng đoàn kết chặt chẽ, hiểu rõ âm mưu của kẻ thù và luôn luôn nhớ đến nhiệm vụ của mình là học tập để phụng sự Tổ quốc. Bác căn dặn phải vận động anh chị em tham gia hoạt động tích cực, góp phần xây dựng đoàn thể của sinh viên và tham gia góp phần xây dựng nền đại học dân tộc. Bác dạy: “Đoàn kết là sức mạnh truyền thống của dân tộc ta”. Kết thúc buổi làm việc, Bác nói: “Dân tộc Việt nam ta đời đời phải sống và làm nên lịch sử của nước mình”

Bộ mặt xâm lược của thực dân Pháp ngày càng lộ rõ. Đảng ta khẩn trương xây dựng, phát triển lực lượng vũ trang cách mạng. ở Hà Nội, cuối tháng 6/1946, lực lượng tự vệ chiến đấu và tự vệ thành đã được hợp nhất với tên gọi Thanh niên tự vệ Hà Nội. Thành Đoàn Thanh niên Cứu quốc thành Hoàng Diệu đã cử các cán bộ có năng lực vào Ban Chỉ huy của lực lượng thanh niên tự vệ. ở Hải Phòng, Đội Thanh niên xung phong được thành lập từ những ngày đầu chính quyền cách mạng, làm nhiệm vụ giữ gìn trật tự trị an, trấn áp bọn phản cách mạng.

Thanh niên trong cả nước sôi nổi luyện tập quân sự và tham gia các lực lượng vũ trang. ở Thanh Hoá, mỗi làng đều có trung đội du kích và tự vệ. Đội “Thanh niên xung phong” ở thị xã được thành lập gồm 200 thanh niên. Chi đội chủ lực đầu tiên của tỉnh Thanh Hoá được thành lập với 1.500 chiến sĩ, mang tên Chi đội Đinh Công Tráng, Đội tự vệ thị xã được thành lập đầu năm 1946. ở Quảng Nam- Đà Nẵng, hàng nghìn thanh niên tham gia vệ quốc đoàn, tự vệ chiến đấu, công an xung phong... ở Đà Nẵng, Hội An, thành lập được các phân đội nữ giải phóng quân. Anh chị em tự sắm vũ khí và quyên góp được 20.000 đồng ủng hộ Chính phủ mua sắm vũ khí chuẩn bị kháng chiến.

Đến cuối năm 1946, thanh niên chiếm trên 90% trong số 8 vạn chiến sĩ trong quân đội thường trực và 1 triệu rưỡi chiến sĩ trong dân quân du kích, tự vệ chiến đấu. Tại Hà Nội, không khí chuẩn bị chiến đấu khẩn trương, sôi động. Các đội thanh niên tự vệ gấp rút chuẩn bị trận địa, hầm, hào để đánh địch. ý chí bảo vệ Hà Nội của thanh niên được viết thành khẩu hiệu dán khắp nơi: “Thanh niên thành Hoàng Diệu nguyện sống chết với Thủ đô”

Dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, phong trào thanh niên đã góp phần tích cực trong sự nghiệp bảo vệ, củng cố Nhà nước dân chủ nhân dân, xây dựng chế độ mới, tích cực chuẩn bị cho cuộc kháng chiến lâu dài, gian khổ của dân tộc.


CHƯƠNG V: HĂNG HÁI THAM GIA CUỘC KHÁNG CHIẾN CHỐNG THỰC DÂN PHÁP

Sau Hội nghị Ban Thường vụ Trung ương mở rộng họp tại làng Vạn Phúc (Hà Đông) quyết định phát động toàn dân cầm vũ khí đứng lên chống thực dân Pháp xâm lược, bảo vệ nền độc lập, tự do vừa giành được, ngày 19/12/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến. Người nói: “Chúng ta thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ...Hỡi đồng bào!... Là người Việt Nam thì phải đứng lên đánh thực dân Pháp để cứu Tổ quốc...”

Đáp lời kêu gọi cứu nước của Chủ tịch Hồ Chí Minh, theo đường lối kháng chiến đúng đắn do Đảng vạch ra, thanh niên cả nước cùng toàn dân nhất tề đứng lên giết giặc cứu nước.

Đêm 19/12/1946, cuộc chiến đấu của thanh niên và nhân dân ta nổ ra ở Thủ đô Hà Nội và các thành phố, thị xã như: Hải Phòng, Hải Dương, Vinh, Huế, Đà Nẵng v.v…

Tại Thủ đô Hà Nội, quân dân và thanh niên thành phố đã tấn công mãnh liệt vào quân cướp nước. Đúng 20 giờ ngày 19/12/1946, công nhân nhà máy điện được lệnh phá máy, tắt đèn. Giờ cứu nước đã điểm, toàn thành phố nổ súng. Từ các pháo đài Láng, Xuân Tảo, Xuân Canh, pháo binh ta nã đại bác vào các trại lính Pháp. Các lực lượng vệ quốc quân, công an xung phong, tự vệ chiến đấu đồng loạt tiến công các vị trí của giặc. Thanh niên tự vệ chặt cây, nổ mìn, ngả cột điện, đánh đổ toa xe lửa, xe điện; nhân dân khuân vác giường, tủ, bàn ghế ra đường làm chướng ngại vật chặn quân thù. Tiếng súng, lựu đạn, bom, mìn, tiếng hô xung phong, tiếng loa phát thanh của tự vệ, tiếng hát của đoàn cảm tử... tất cả hoà quyện thành bản anh hùng ca của tuổi trẻ và nhân dân Hà Nội trong đêm đầu toàn quốc kháng chiến, phản ánh ý chí sắt thép của tuổi trẻ Thủ đô: “Hà Nội mồ chôn giặc Pháp”, “Thề sống chết với Thủ đô”.

Tại Bắc Bộ phủ, một đại đội vệ quốc quân và 20 thanh niên tự vệ nêu quyết tâm “Chúng tôi còn, Bắc Bộ phủ còn”. Các chiến sĩ đã anh dũng đẩy lùi nhiều đợt tấn công của 300 lính Pháp có 18 xe tăng yểm trợ, tiêu diệt 150 tên, đốt cháy 4 xe tăng. Chiều 20/12, nhiệm vụ bảo vệ của đại đội đã hoàn thành. Theo lệnh của cấp trên, chính trị viên Lê Gia Định cho bộ đội rút quân để bảo toàn lực lượng chuẩn bị chiến đấu lâu dài. Một mình anh ở lại chốt giữ vị trí. Quân địch mở các đợt tấn công mới. Lê Gia Định đã đập kíp bom vào một xe tăng địch tiêu diệt hàng chục lính Pháp và anh đã anh dũng hy sinh. Tổ quốc ghi công truy tặng anh, người cộng sản trẻ tuổi danh hiệu cao quý “Cảm tử quân số 1 của Thủ đô”.

ở Nhà hát Lớn thành phố, các chiến sĩ của một trung đội Vệ quốc quân đã chiến đấu đến viên đạn cuối cùng, hầu hết bị thương, khi sa vào tay giặc vẫn giữ vững khí tiết cách mạng.

ở Sở Bưu điện, 20 chiến sĩ tự vệ đã chiến đấu đến người cuối cùng bên Hồ Gươm để cản giặc tràn vào phía trong, trung đội trưởng Trần Thành dũng cảm ôm bom ba càng lao vào xe tăng giặc chặn đường tiến công của chúng.

Cùng với thanh niên trong các lực lượng vũ trang, hàng vạn học sinh, sinh viên, thiếu niên Hà Nội đã tham gia chiến đấu anh dũng. Tiểu đội cứu thương ở Giảng Võ gồm những cô gái trẻ làng hoa Ngọc Hà đã lần lượt hy sinh trong khi làm nhiệm vụ. Học sinh Vũ Chí Thành - con đẻ duy nhất của bác sĩ Vũ Đình Tụng là đội viên Đội cảm tử quân Hà Nội cùng nhiều bạn học đã anh dũng hy sinh trong đêm đầu kháng chiến. Nhận được tin này, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã gửi thư cho bác sĩ Vũ Đình Tụng trong đó có đoạn: "Tất cả thanh niên Việt Nam là con cháu tôi, mất một thanh niên thì hình như tôi đứt một đoạn ruột… Thế là họ đã làm rộng rỡ dân tộc, vẻ vang giống nòi. Họ chết cho Tổ quốc sống mãi…" Bức thư của Bác được báo chí kháng chiến ở Thủ đô và cả nước đăng tải gây xúc động cho hàng triệu trái tim con dân đất Việt.

Tháng 1 năm 1947, các đơn vị tự vệ chiến đấu và Vệ quốc quân trong Liên khu 1 thống nhất tổ chức thành Trung đoàn Liên khu I, sau đó được vinh dự mang tên Trung đoàn Thủ đô. Các lực lượng vũ trang chiến đấu ở các cửa ô được hợp nhất thành Trung đoàn 48 và Trung đoàn 52. Mỗi Trung đoàn có trên dưới 2000 cán bộ, chiến sĩ vốn là thanh niên, công nhân, dân nghèo thành thị, nông dân ngoại thành, học sinh, sinh viên và một số thiếu niên... Nhiệm vụ của các Trung đoàn là chiến đấu tiêu hao sinh lực và giam chân địch trong lòng Hà Nội.

Ngày 6/1/1947, hàng nghìn quân Pháp với máy bay, xe tăng, đại bác yểm trợ ồ ạt tấn công vào khu Giảng Võ - Ô Chợ Dừa. Các chiến sĩ đại đội 2 thuộc tiểu đoàn 56, chiến khu II Hà Nội chiến đấu anh dũng, ngoan cường, mặc dù lực lượng không cân sức. Tấm gương hy sinh của Tiểu đội trưởng Nguyễn Phúc Lai ôm bom ba càng lao vào diệt xe tăng địch, chặn đường tiến công của giặc, nêu tấm gương sáng “Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh”

Xuân Đinh Hợi (1947) đến vào lúc cuộc chiến đấu đang diễn ra quyết liệt giữa lòng Hà Nội, các cán bộ, chiến sĩ Thủ đô vô cùng xúc động khi nhận thư thăm hỏi, động viên của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Trong thư, Người viết: “Các em là đội cảm tử, các em cảm tử để cho Tổ quốc quyết sinh. Các em là đại biểu cái tinh thần tự tôn, tự lập của dân tộc ta mấy nghìn năm để lại, cái tinh thần quật cường đó đã kinh qua Hai Bà Trưng, Lý Thường Kiệt, Trần Hưng Đạo, Lê Lợi, Quang Trung, Phan Đình Phùng, Hoàng Hoa Thám, truyền lại cho các em. Nay các em gan góc tiếp tục cái tinh thần bất diệt đó, để truyền lại cho nòi giống Việt Nam muôn đời về sau”.

Ngày 7/02/1947, thực dân Pháp từ bốn hướng mở cuộc tổng tấn công vào trung tâm Thủ đô. Những cánh quân xâm lược hàng trăm tên có máy bay ném bom, xe tăng dọn đường, điên cuồng tiến vào các đường phố như Cầu Gỗ, Hàng Nón, Hàng Thiếc, Hàng Lược, Hàng Đường, chợ Đồng Xuân,v.v… Ba mươi sáu phố phường Hà Nội rền vang tiếng súng. Cuộc chiến đấu giữa ta và địch diễn ra hết sức ác liệt. Nhiều tấm gương chiến đấu dũng cảm phi thường của cảm tử quân Thủ đô đã làm quân thù phải kinh hoàng. ở sườn phía Đông và mặt trận phía Tây Liên khu I ta phản kích thắng lợi, kiên quyết không cho địch thực hiện âm mưu cắt đôi Liên khu. Chiến sĩ Trần Đan được đồng đội tặng danh hiệu “Vua lựu đạn”. Tay phải anh bị thương, tay trái còn lại vẫn phát huy uy lực của lựu đạn để tiêu diệt nhiều địch. ở phố Hàng Nón, chiến sĩ Minh hai mắt mờ vì khói súng địch vẫn không rời trận địa, dùng tai nghe tiếng động để đoán hướng giặc tới mà nổ súng tiêu diệt.. ở chợ Đồng Xuân, anh công nhân Tưởng sau khi bắn viên đạn cuối cùng đã dùng dao thái thịt quần nhau với lính lê dương làm 10 tên bỏ mạng. Nhiều em thiếu nhi làm liên lạc, trinh sát cho các đơn vị bộ đội đã lập chiến công xuất sắc như em Lai, em Dương Văn Nội. Ngày 12/4/1947, Dương Văn Nội tham gia trận chống càn ở làng Xấu Giá (Đan Phượng, Hà Tây). Dương Văn Nội giết được 3 tên Pháp và hi sinh anh dũng. Em là liệt sĩ thiếu niên đầu tiên được Chính phủ truy tặng Huân chương chiến công hạng Hai.

Tinh thần chiến đấu ngoan cường, anh dũng của đội du kích Hồng Hà đã cản được giặc Pháp, bảo đảm an toàn cho quân dân Liên khu I trở về hậu phương. Sáng 18/2/1947, nhận nhiệm vụ bảo vệ Trung đoàn Thủ đô rút quân, đội du kích Hồng Hà đã chiến đấu ngoan cường. Chỉ còn một quả lựu đạn duy nhất, Nguyễn Ngọc Nại chờ cho địch đến gần rồi cho nổ để khi anh hy sinh còn diệt thêm mấy tên địch nữa. Anh đã hy sinh vô cùng anh dũng.

Sau gần hai tháng chiến đấu hết sức oanh liệt, quân dân và thanh niên Thủ đô đã tiêu diệt hơn 2000 tên địch với 200 trận chiến đấu, phá huỷ trên 100 xe quân sự trong đó 22 xe tăng, xe bọc thép. Bắn rơi và phá huỷ 5 máy bay, bắn chìm 5 ca nô. Quân và dân Hà Nội đã đánh bại hoàn toàn âm mưu và kế hoạch của thực dân Pháp định “đánh úp” các cơ quan đầu não của Nhà nước Cách mạng, bóp chết lực lựng vũ trang non trẻ của ta, kìm giữ giam chân địch suốt 60 ngày đêm tại chiến trường Hà Nội, góp phần tạo điều kiện để cả nước chuẩn bị và tổ chức cuộc kháng chiến lâu dài chống thực dân Pháp xâm lược.

Nhân dân và thanh niên khắp các tỉnh, thành trong cả nước đều nhất tề đứng lên chiến đấu, bảo vệ quê hương, đất nước. ở Nam Định, lực lượng thanh niên thành phố vinh dự nổ phát súng đầu tiên vào trại lính Tarô, mở đầu cuộc kháng chiến của quân dân trong tỉnh, 800 lính Pháp bị vây chặt trong thành phố 90 ngày đêm, 400 tên bị tiêu diệt. Tại Bắc Ninh, Bắc Giang, 2 đại đội Pháp bỏ mạng trước sức tiến công của lực lượng du kích, tự vệ. Tại Hải Dương, Hòn Gai, một số đơn vị lẻ của quân Pháp bị tiêu diệt. Tại Vinh, bọn Pháp phải đầu hàng. Tại Huế, cuộc chiến đấu quyết liệt kéo dài hơn một tháng, ta tiêu diệt 400 tên Pháp. Tại Đà Nẵng, 10.000 quân giặc bị vây hãm trong thành phố 3 tháng, 300 lính Pháp bị tiêu diệt. Quân dân Đà Nẵng phá huỷ nhiều xe tăng, đốt phá các kho bom, xăng…Các chiến sĩ Ngô Văn Minh, Trần Đức, Ngô Hiệp… mưu trí, táo bạo đã tiêu diệt hàng chục giặc Pháp. Tuổi trẻ Quảng Nam - Đà Nẵng đã góp phần xứng đáng vào phần thưởng cao quý mà đồng chí Phạm Văn Đồng, thay mặt Trung ương Đảng và Chính phủ trao tặng mặt trận Quảng Nam - Đà Nẵng lá cờ vẻ vang với hai chữ: “Giữ vững”

ở Nam Bộ, trong 3 tháng đầu năm 1947, ta có nhiều trận đột kích vào Sài Gòn, Chợ Lớn, Gia Định, sân bay Tân Sơn Nhất và trên đường xe lửa Sài Gòn - Mỹ Tho. Tại Sài Gòn, du kích đột nhập Sở mật thám Bình Tây, diệt tên ác ôn Lò Ngọc, bắn gãy chân tên Sáu Đê. Anh Trần Công Thành dũng cảm xông vào toà soạn báo Quốc hồn trừng trị bọn bồi bút bôi nhọ kháng chiến. Đặc biệt là chiến công của anh Võ Hồng Tâm, đội viên du kích Tây Hồ đã cắt cổ tên đại tá Pháp Inphailơ tại khách sạn National ở đường Sắcne (nay là đường Nguyễn Huệ). Nhiều cuộc hành quân, càn quét của địch ở đồng bằng sông Cửu Long bị đánh bại. Chiến tranh du kích ở các vùng bị địch chiếm đóng được phối hợp với những cuộc đình công, bãi khoá, bãi thị của công nhân, học sinh và nhân dân. Phong trào thanh niên tòng quân sôi nổi khắp Nam Bộ. Tại Bạc Liêu có 500 du kích tập trung và 1000 du kích xã, ấp, một đội tự vệ chiến đấu. Hầu khắp các tỉnh đều có chi đội bộ đội Nam Bộ. Toàn khu 7 có 16 chi đội, Sài Gòn có 10 ban công tác và nhiều đội cảm tử. ở khu 9, đến cuối tháng 6/1946 mỗi tỉnh có từ hai trung đội đến một đại đội Vệ quốc đoàn. Những trận đánh bất ngờ cùng những hoạt động du kích của quân dân khu 9 đã buộc địch phải rút hết đồn bốt đóng sâu trong vùng nông thôn.

Kế hoạch đánh nhanh, thắng nhanh của địch đã bị thất bại. Đồng thời với việc chuẩn bị mở những cuộc tấn công mới, thực dân Pháp chủ trương bình định những vùng đã chiếm để thực hiện âm mưu thâm độc “dùng người Việt đánh người Việt, lấy chiến tranh nuôi chiến tranh”. Đối với thanh niên, thực dân Pháp dùng thủ đoạn vừa mua chuộc, lôi kéo, vừa đàn áp, khủng bố.

Thực hiện chủ trương vừa đánh địch vừa tổ chức xây dựng lực lượng chính trị, ở Nam Bộ, Xứ uỷ chủ trương hình thành mặt trận đoàn kết thanh niên rộng rãi để tập hợp tất cả các tầng lớp, tổ chức thanh niên vì mục tiêu kháng chiến, kiến quốc. Ngày 5/01/1947, Liên đoàn Thanh niên Việt Nam Nam Bộ được thành lập. Ban Chấp hành Liên đoàn gồm đại diện các tổ chức thanh niên. Đại diện thanh niên cứu quốc là anh Trần Bạch Đằng. Sau khi Liên đoàn Thanh niên Việt Nam Nam Bộ ra đời, một số tỉnh, thành ở Nam Bộ cũng thành lập Liên đoàn Thanh niên Việt Nam Nam Bộ.

Tiếp đó ngày 25/5/1947, số sinh viên tham gia kháng chiến tiến hành Đại hội thành lập chi hội sinh viên Nam Bộ thuộc Tổng Hội Sinh viên Việt Nam. Các tổ chức này đều tham gia Liên đoàn Thanh niên Việt Nam Nam Bộ và cử đại biểu tham gia Ban Chấp hành Liên đoàn.

Tháng 4/1947, Đảng triệu tập Hội nghị cán bộ Trung ương để bàn về công tác vận động thanh niên trong cuộc kháng chiến. Hội nghị chỉ rõ: “Nhiệm vụ thiết thực của thanh niên trong thời kỳ này là tham gia bộ đội, dân quân để tác chiến… giúp đỡ việc tản cư, bình dân học vụ và tiểu học, đoàn kết các hạng thanh niên, động viên thanh niên ra cứu nước”.

Tháng 7 năm 1947, tại Praha (CHXHCN Tiệp Khắc cũ) đã diễn ra Đại hội Liên hoan thanh niên và sinh viên thế giới lần thứ nhất. Do điều kiện kháng chiến, đoàn đại biểu thanh niên ta từ trong nước không đến được. Tuy vậy đại diện ngoại giao của ta ở Tiệp Khắc đã cử anh Trần Ngọc Danh mang lá cờ đỏ sao vàng chạy xung quanh sân vận động trong tiếng hô vang dậy "Việt Nam, Việt Nam" của 17.000 đại biểu thanh niên, sinh viên thuộc 71 nước và lãnh thổ trên thế giới.

Sau Hội nghị của Trung ương, ở các cấp bộ Đảng tại nhiều xứ tỉnh, thành, đã triệu tập các cuộc Hội nghị để xác định nhiệm vụ kháng chiến kiến quốc của thanh niên. Tại Việt Bắc, tháng 8/1947, Hội nghị cán bộ Đoàn các tỉnh Bắc Bộ được triệu tập. Tháng 11/1947, mở Hội nghị cán bộ Đoàn các tỉnh liên khu IV và ở khu V. Mùa thu 1948, phân Xứ uỷ khu V tổ chức Hội nghị Thanh vận để quán triệt Chỉ thị của Trung ương Đảng về công tác vận động thanh niên phục vụ cuộc kháng chiến. Các tỉnh Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên đều có đại diện của Đoàn tham dự. Thay mặt Trung ương Đảng và Chính phủ, đồng chí Phạm Văn Đồng đã đến dự và huấn thị tại Hội nghị. Hội nghị đánh dấu mốc quan trọng thúc đẩy phong trào thanh niên ở khu V phát triển. Sau Hội nghị, Liên khu uỷ đã cử đồng chí Bùi Tấn Linh phụ trách Công tác Thanh vận kiêm Bí thư Đoàn Thanh niên Cứu quốc khu V.

Liên tục trong các năm 1947, 1948, 1949, các Nghị quyết của Hội nghị Trung ương Đảng đều khẳng định tầm quan trọng của công tác vận động thanh niên. Chỉ thị tháng 9/1947 của Trung ương Đảng đã chỉ rõ nội dung: Công tác vận động thanh niên đều hướng theo mục đích kháng chiến, kiến quốc. Động viên thanh niên phải tuân theo tính chất, năng lực của từng giới như thanh niên lao động nằm trong công binh xưởng, tăng gia sản xuất để kháng chiến kiến quốc, thanh niên nông thôn tham gia du kích, dân quân, xung phong giết giặc cứu nước.

Ngày 28/9/1948, Ban Thường vụ Trung ương có Chỉ thị gửi các cấp bộ Đảng “Về việc củng cố Thanh niên Cứu quốc, phát triển Đoàn Thanh niên Việt Nam để thống nhất Mặt trận thanh niên”.

Chỉ thị nêu rõ: “Chủ trương của Trung ương là thống nhất mọi lực lượng Thanh niên vào một Mặt trận, Mặt trận ấy là Đoàn Thanh niên Việt Nam… Trong Đoàn Thanh niên Việt Nam, Thanh niên cứu quốc phải là trụ cột và có một hệ thống chắc chắn từ trên xuống dưới. Đảng sẽ nắm chắc lấy trụ cột ấy để dễ điều khiển các tổ chức khác và các tầng lớp thanh niên rộng rãi trong nước…”

Chỉ thị của Trung ương đã nêu nhiệm vụ cho các cấp bộ Đảng là phải củng cố thanh niên cứu quốc và phát triển Đoàn Thanh niên Việt Nam. Đoàn Thanh niên Việt Nam cần phải đoàn kết, tập hợp rộng rãi mọi tầng lớp thanh niên kể cả thanh niên con em nhà phú nông, địa chủ có tinh thần yêu nước, ủng hộ kháng chiến, phát triển Đoàn Thanh niên Việt Nam trong các vùng công giáo. Ngay trong các vùng bị chiếm đóng, ĐoànThanh niên Việt Nam lợi dụng những khả năng hợp pháp để xây dựng tổ chức qua các hội bóng, hội nhạc, nhóm học tập của thanh niên.

Về công tác tuyên truyền huấn luyện thanh niên, bản Chỉ thị nêu rõ: Đoàn Thanh niên Việt Nam và Thanh niên Cứu quốc phải ra ngay những tờ báo của mình để tuyên truyền, giáo dục, động viên đông đảo thanh niên hăng hái tham gia kháng chiến, kiến quốc.

Tháng 6/1949, Hội nghị Thanh vận của Đảng được triệu tập tại căn cứ địa Việt Bắc, đánh dấu bước chuyển biến rất quan trọng về công tác vận động thanh niên của Đảng trước những đòi hỏi mới của công cuộc kháng chiến. Sau Hội nghị này, bộ máy công tác vận động thanh niên của Đảng và Đoàn Thanh niên Việt Nam được kiện toàn. Ban Chấp hành Đoàn Thanh niên Cứu quốc Trung ương được thành lập. Đồng chí Nguyễn Lam được điều sang làm Trưởng tiểu ban Thanh vận Trung ương đồng thời là Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đoàn Thanh niên Cứu quốc Việt Nam.

Triển khai các Nghị quyết thanh vận của Đảng, Đoàn Thanh niên Việt Nam đã tổ chức, động viên thanh niên hăng hái chiến đấu lập công trên khắp các chiến trường.

Ngay khi địch vừa nhảy dù xuống thị xã Bắc Kạn, học viên trường sĩ quan phối hợp với dân quân địa phương tiêu diệt trên 80 tên. ở Lạng Sơn, 300 tên Pháp bị tiêu diệt tại đèo Bông Lau. Đường số 4 trở thành con đường máu của giặc Pháp. Trên dòng sông Lô lịch sử, trận đánh địa lôi táo bạo của 10 chiến sĩ thanh niên tự vệ thị xã Tuyên Quang cùng pháo binh ta đã tiêu diệt trên một đại đội lính Pháp, góp phần bẻ gãy cuộc hành quân của giặc từ Tuyên Quang lên Chiêm Hoá. Tấm gương chiến đấu của chiến sĩ du kích Lý Việt Va với 17 viên đạn tiêu diệt 17 tên địch đã mở đường cho đồng đội rút lui. Anh hy sinh ngày trên mảnh đất quê hương và được Chính phủ truy tặng Huân chương kháng chiến.

Tại chiến trường Liên khu V, tiếng bom anh hùng Ngô Mây như hồi kèn xung trận giục giã thanh niên xung phong giết giặc. Thanh niên trong đội biệt động Đà Nẵng đốt cháy 50 tấn xăng dầu của địch.

Hầu hết các tỉnh, thành phố đều thành lập các đội du kích của thanh, thiếu niên. ở Hà Nội, tiêu biểu là đội thiếu niên tình báo Bát Sắt gồm 20 đội viên “vệ út” do công an và thanh niên quận VI tuyển chọn, huấn luyện. Ngày 10/10/1947, hai chiến sĩ công an trẻ tuổi Trần Bình và Đặng Đình Kỳ bí mật đột nhập vào thành, bắn chết tên Việt gian khét tiếng Trương Đình Tri - Chủ tịch Hội đồng an dân Bắc Việt. Nhận được tin này, từ chiến khu Việt Bắc, Hồ Chủ tịch quyết định tặng các chiến sĩ Huân chương kháng chiến hạng Nhất.

Đội thiếu niên du kích thành Huế, Đội thiếu niên du kích Đình Bảng, Đội thiếu niên du kích Đồng Tháp và các tổ thiếu niên du kích ở Sài Gòn, Cần Thơ, Biên Hoà… đã làm cho địch thất điên, bát đảo. Với những chiến công xuất sắc đánh địch ngay trong sào huyệt của chúng, Đội thiếu niên du kích thành Huế được Chính phủ và Bộ Tổng Tư lệnh Quân đội nhân dân Việt Nam biểu dương và tặng thưởng Huân chương quân công hạng Ba vào dịp kỷ niệm 5 năm nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà (8/1950). Đây là phần thưởng cao quý đầu tiên cho các đơn vị du kích chiến đấu trong lòng địch.

ở Hải Phòng, tháng 7/1947, Trần Văn Bài, Đặng Văn Bát, Trần Đức Bút là những chiến sĩ công an trẻ tuổi của liên tỉnh đột nhập vào nội thành trừ khử tên Vũ Thế Uy, một tên tay sai lợi hại của địch và bốn tên Việt gian nguy hiểm ở huyện An Hải. Ngày 14/8/1947, Tổng Giám đốc Việt Nam Công an vụ đã khen thưởng 3 đồng chí Bài, Bát, Bút. Trong vòng 4 tháng đầu năm 1948, với mưu trí và lòng dũng cảm tuyệt vời, các chiến sĩ công an, đội biệt động và tự vệ mật nội thành Hải Phòng đã phá huỷ 2 đầu máy xe lửa ở ga Hải Phòng, giết chết 36 sĩ quan và binh lính Pháp, trừng trị hàng chục tên Việt gian.

ở Hà Nội, hàng nghìn thanh niên xung phong gia nhập dân quân du kích, thực hiện khẩu hiệu "Mỗi thanh niên là một dân quân” ngày đêm bám đất, giữ làng, là lực lượng chủ lực phá tề, trừ gian. Lực lượng du kích đã giáng cho địch nhiều đòn phủ đầu ở Cự Đà, Quảng Tó, Văn Điển, Sơn Tây v.v…

Thực hiện Nghị quyết Hội nghị Thanh vận của Trung ương Đảng,ngày 4/7/1947, Hội nghị thành lập Ban Chấp hành Xứ Đoàn Thanh niên Cứu quốc Nam Bộ được triệu tập. Hội nghị đã bầu Ban Chấp hành Xứ Đoàn Thanh niên Cứu quốc Nam Bộ đầu tiên do đồng chí Phạm Văn Bính làm Bí thư.

Từ ngày 5 đến 8/12/1947, Đoàn Thanh niên Cứu quốc Nam Bộ tiến hành Đại hội lần thứ nhất tại Đồng Tháp Mười. Đại hội vinh dự được đón đồng chí Lê Duẩn, Bí thư Xứ uỷ Nam Bộ đến dự và huấn thị. Đại hội tập trung thảo luận hai vấn đề chính:

Xây dựng Đoàn Thanh niên Cứu quốc vững mạnh để trợ thủ cho Đảng và làm nòng cốt trong phong trào thanh niên.
Mở rộng Liên đoàn Thanh niên Nam Bộ, xây dựng mặt trận đoàn kết thanh niên để phục vụ kháng chiến.
Đại hội phát động phong trào thi đua lập công với nội dung:
Quân sự hoá thanh niên (tòng quân, luyện tập quân sự, công tác dân quân)
Xây dựng đời sống mới, xây dựng nông thôn mới.
Tăng gia sản xuất lương thực.
Tham gia công tác bình dân học vụ và công tác thiếu nhi.

Đại hội bầu ra Ban Chấp hành Xứ Đoàn gồm 27 uỷ viên do đồng chí Châu Quốc Tuấn làm Bí thư, đồng chí Trần Bạch Đằng làm Phó Bí thư.

ở Quảng Nam - Đà Nẵng, ngày 20/3/1947 đã tiến hành Đại hội Tỉnh Đoàn lần thứ 3 để động viên toàn bộ lực lượng thanh niên tham gia kháng chiến. Đại hội bầu ra Ban Chấp hành Tỉnh Đoàn do Nguyễn Thanh Sơn làm Bí thư, Trần Pháp làm Phó Bí thư. Ngày 25/7/1947, Đoàn Thanh niên Việt Nam Tỉnh tổ chức Đại hội. Công tác Đoàn và phong trào thanh niên ở Quảng Nam - Đà Nẵng cũng được phát triển đều, rộng khắp. Đoàn đưa thanh niên quyết tử vào làm nòng cốt trong dân quân du kích. Hầu hết dân quân trong tỉnh đều tham gia dân quân và xung phong trong mọi công tác kháng chiến. ở Duy Xuyên và Điện Bàn phong trào thanh niên phát triển vững chắc hơn cả. Đặc biệt trong việc cứu đói ở Tây Bắc Hoà Vang trong chiến dịch hè 1949, hàng nghìn thanh niên xung phong vượt núi đèo hiểm trở đưa hàng nghìn gánh gạo lên tận nơi để cứu đồng bào.

ở Thanh Hoá, sau Hội nghị Thanh vận của Đảng bộ tháng 7/1948, phong trào thanh niên Thanh Hoá có những bước phát triển mới. Từ cuối năm 1947 đến tháng 1/1948, Thanh Hoá có 130.000 chiến sĩ trong lực lượng vũ trang và 58.800 đoàn viên, hội viên, thanh niên cứu quốc. Đến cuối năm 1948, số đoàn viên, hội viên đã tăng lên đến 60.001 người. Phong trào ghi tên tòng quân thu hút hàng nghìn thanh niên trong tỉnh. Trong 2 năm 1948 -1949, Thanh Hoá có 80.000 thanh niên tòng quân. Từ năm 1949 đến cuối năm 1950 có 8.000 thanh niên được tuyển lựa bổ sung bộ đội chủ lực.

ở Nam Định, Ban Chấp hành Tỉnh Đoàn Thanh niên Cứu quốc lâm thời được thành lập tháng 9/1947. Đến tháng 10, Đại hội Đoàn toàn tỉnh lần thứ nhất được triệu tập. Đại hội bầu ra Ban Chấp hành do đồng chí Trần Việt Dung làm Bí thư. Cuối năm 1947, toàn tỉnh có 23.593 đoàn viên với các cơ sở Đoàn ở hầu khắp các vùng trong tỉnh. Thanh, thiếu niên Nam Định đã nêu những tấm gương sáng ngời về chủ nghĩa anh hùng cách mạng trong cuộc kháng chiến thần thánh của dân tộc. Đó là em Phạm Đỗ Hải, 13 tuổi, làm liên lạc cho Trung đoàn 34 Tất Thắng (bộ đội địa phương Nam Định) trong khi đang làm nhiệm vụ thì em bị giặc bắt. Em nhanh chóng huỷ hết tài liệu, dẫn được 2 lính Pháp cùng trốn thoát khỏi trại về hàng Chính phủ Việt Nam. Được tin này, Bác Hồ đã gửi thư khen ngợi, biểu dương Phạm Đỗ Hải.

Cụ Tạ Quang Yên có 4 người con trai đều hy sinh anh dũng trong khi làm nhiệm vụ. Cụ đã được Bác Hồ gửi thư khen và gửi quà kỷ niệm.

ở Ninh Bình, 14.607 thanh niên gia nhập Vệ quốc đoàn và 2840 thanh niên tham gia dân quân du kích.

Tại Hải Phòng, tháng 9/1947, Đại hội lần thứ nhất Đoàn Thanh niên liên tỉnh (Hải Phòng và Kiến An) được tổ chức. Đại hội bầu ra Ban Chấp hành Đoàn liên tỉnh do đồng chí Phạm Tân làm Bí thư. Đại hội nêu lên nhiệm vụ của thanh niên là tích cực tham gia dân quân du kích, xây dựng làng chiến đấu. ở vùng tạm bị chiếm, thanh niên có nhiệm vụ xung kích trong các hoạt động phục hồi, xây dựng cơ sở cách mạng, diệt tề, trừ gian…

Mùa hè năm 1949, lần đầu tiên Hội nghị cán bộ học sinh, sinh viên được triệu tập tại chiến khu Việt Bắc, đánh dấu bước chuyển biến mới của phong trào học sinh, sinh viên trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược.

Trong các năm 1948-1949, phong trào thanh niên cả nước có bước phát triển mới. Tổ chức Đoàn được củng cố, mở rộng. Tại Hà Nội, toàn thành có 94 cơ sở Đoàn với trên 3.000 đoàn viên, 4.000 thanh niên gia nhập dân quân du kích.

Tháng 12/1949, Đại hội đại biểu Đoàn Thanh niên Cứu quốc liên khu 5 lần thứ nhất họp tại Hoài Thanh, Hoài Nhơn tỉnh Bình Định. Đại hội đã bầu ra Ban Chấp hành Đoàn Thanh niên Cứu quốc liên khu V gồm11 uỷ viên, do đồng chí Đống Ngạc làm Bí thư.

Giữa tháng 12 năm 1949, Liên đoàn Thanh niên Việt Nam Nam Bộ đã họp Hội nghị đại biểu để thảo luận Điều lệ mới do Trung ương gửi vào và bầu Ban Chấp hành mới. Đây là Hội nghị đại biểu trọng thể nhất của Liên đoàn Thanh niên từ ngày thành lập, có đông đủ đại biểu các đoàn Thanh niên Cứu quốc, Thanh niên Dân chủ, Nam Thanh đoàn, Thanh niên Công giáo, Thanh niên Thương mại, Đoàn học sinh Nam Bộ… Lần đầu tiên, quân đội cử một đoàn đại biểu hùng hậu đến dự Hội nghị do hai đồng chí Dương Quốc Chính (Thiếu tướng Lê Hiến Mai) và Lê Thám dẫn đầu. Hội nghị thảo luận sôi nổi về vai trò quan trọng của mặt trận thống nhất thanh niên và sự cần thiết phải tập hợp tất cả các tầng lớp thanh niên công nhân, nông dân, lao động, học sinh, sinh viên, thanh niên các tôn giáo, thanh niên người Hoa, người Khơ-me, thanh niên quân đội dưới nhiều hình thức phong phú và đa dạng. Đồng thời Hội nghị xác định sự cần thiết phải củng cố Đoàn Thanh niên Cứu quốc thật sự là một tổ chức thanh niên trung kiên, xứng đáng là lực lượng nòng cốt của Liên đoàn Thanh niên Việt Nam. Hội nghị đã bầu Ban Chấp hành Liên đoàn Thanh niên Việt Nam Nam Bộ do hai đồng chí Phạm Ngọc Thuần làm Chủ tịch và Nguyễn Duy Cương làm Tổng thư ký. Hội nghị đã thông qua một chương trình hành động trong thời gian tới.

Ngày 29 tháng 12 năm 1949, Đại hội Đại biểu Đoàn toàn Nam Bộ lần thứ II được tiến hành tại vùng giải phóng Ngang Dừa, huyện Hồng Dân, tỉnh Rạch Giá. Tham dự Đại hội có 80 đại biểu của các tỉnh Đoàn, thay mặt cho 320.000 đoàn viên. So với Đại hội toàn Nam Bộ lần thứ nhất (tháng 12/1947), số đoàn viên đã tăng lên 83.000 người.

Chủ tịch Uỷ ban Kháng chiến Hành chính Nam Bộ, luật sư Phạm Văn Bạch đã gửi thư đến chúc mừng Đại hội. Đồng chí Lê Đức Thọ thay mặt Xứ uỷ đến dự và trực tiếp chỉ đạo Đại hội.

Đại hội họp trong lúc các đơn vị chủ lực Liên khu 8 đang mở chiến dịch Cầu Kè và giành nhiều thắng lợi quan trọng nên không khí Đại hội rất sôi nổi. Đại hội có phòng triển lãm tranh của hoạ sĩ Mai Văn Hiến và các sản phẩm nông nghiệp như các quầy dừa xiêm, dừa ta, chuối già, chuối cau phục vụ Đại hội. Phòng triển lãm được vinh dự đón Trung tướng Nguyễn Bình đến dự khai mạc. Nhiều hoạt động thể thao cũng được tổ chức như thi các môn điền kinh (nhảy cao, nhảy dài, kéo co) do anh Lê Văn Đính, Tỉnh Đoàn trưởng Rạch Giá, cựu huấn luyện viên thể dục thể thao thời Ducouroy đạo diễn.

Đại hội đã thông qua một chương trình hành động khá toàn diện và bầu Ban Chấp hành mới do đồng chí Châu Quốc Tuấn làm Xứ Đoàn trưởng và đồng chí Trần Bạch Đằng làm Xứ Đoàn phó.

Sau khi Đại hội đại biểu Đoàn toàn Nam Bộ lần thứ II bế mạc, Xứ uỷ đã mở một lớp huấn luyện ngắn ngày cho các đại biểu tham dự Đại hội. Các đồng chí Lê Duẩn, Lê Đức Thọ, Nguyễn Văn Linh, Dương Quốc Chính… đã tham gia giảng dạy. Anh chị em được nghiên cứu, học tập một cách cơ bản về đường lối kháng chiến, kiến quốc, về chiến tranh nhân dân, về Đảng, về công tác đô thị, về phương hướng, nhiệm vụ của Đoàn phục vụ công cuộc kháng chiến thắng lợi.

Trong hai năm 1948-1949, cả nước có 1.205.500 lượt thanh niên gia nhập quân đội. Tại Huế, 100 học sinh Trường Quốc học trốn ra vùng giải phóng tham gia quân đội. Thôn Tri Khê (xã Hùng Thắng, Kiến An) có 319 thanh niên thì đã có 254 thanh niên tình nguyện đi bộ đội.

Hưởng ứng sắc lệnh nghĩa vụ quân sự của Chính phủ, cuối năm 1949, đã có 500.000 thanh niên các tỉnh miền Bắc tình nguyện ghi tên gia nhập quân đội.

Lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam ngày càng trưởng thành. Từ 8.000 chiến sĩ trong quân đội chủ lực ngày toàn quốc kháng chiến, sau 3 năm xây dựng đã tăng lên 23.000 chiến sĩ. Tháng 8/1949, Đại đoàn chủ lực đầu tiên, Đại đoàn quân Tiên phong được thành lập. Tiếp đến, các Đại đoàn bộ binh 304, 312, 316 và Đại đoàn công binh, pháo binh 351 lần lượt ra đời. Đó là sự trưởng thành của ba thứ quân: Bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương và dân quân du kích…

Ngoài phong trào tòng quân, giết giặc, tham gia dân quân, du kích, ở vùng giải phóng, Liên Đoàn Thanh niên động viên tuổi trẻ cả nước tham gia mọi mặt công tác để xây dựng chế độ mới. Phong trào sản xuất tự túc được thanh niên hưởng ứng mạnh mẽ và đã thu được những thành quả quan trọng nên ta đã tự túc được về lương thực, thực phẩm và các hàng hoá thông dụng trong đời sống quân dân ở vùng giải phóng. ở khu 5, thanh niên đã góp phần tích cực tăng diện tích trồng màu trong toàn Liên khu lên hơn hai lần kể từ 1945 đến 1950, đã tự trang trải được nhu cầu lương thực và còn có dự trữ.

Năm 1950, hàng triệu tấn lương thực được thu hoạch ở vùng giải phóng từ Liên khu IV trở ra.

Phong trào lao động sáng tạo của thanh niên công nhân trong các công binh xưởng, nhà máy, xí nghiệp ở nơi rừng sâu, hang núi đã góp sức cùng tiền tuyến diệt thù.

Trong những năm 1949-1950, phong trào đấu tranh của thanh niên, học sinh, sinh viên diễn ra rầm rộ, liên tục và rộng khắp từ Bắc vào Nam nhằm chống thực dân Pháp xâm lược và can thiệp Mỹ, chống “độc lập” giả hiệu, chống khủng bố đàn áp, đòi trả lại tự do cho những học sinh bị bắt, đòi đảm bảo an ninh cho học sinh, đòi được học bằng tiếng mẹ đẻ…

Tại Hà Nội, phong trào bãi khoá của 4.000 học sinh, sinh viên đại học, học sinh học nghề kéo dài 12 ngày, kết thúc thắng lợi đã có một tiếng vang lớn trong phong trào đấu tranh của nhân dân vùng địch tạm chiếm và được sự hưởng ứng mạnh mẽ của học sinh, sinh viên trong cả nước.

Ngày 9/1/1950, Liên đoàn Thanh niên Việt Nam, Đoàn Thanh niên Cứu quốc và Đoàn học sinh Sài Gòn – Chợ Lớn đã vận động và tổ chức cho hơn 2.000 học sinh, sinh viên các trường Pêtơruýt ký, Gia Long, Nguyễn Văn Khuê, Huỳnh Khương Ninh, các trường Đại học Y dược, Pháp lý, các trường chuyên nghiệp vô tuyến điện, công chính, kỹ thuật, khoa học… cùng nhiều giáo viên và 7.000 nhân dân Sài Gòn-Chợ Lớn biểu tình đòi bảo đảm an ninh cho học sinh, sinh viên học tập và trả tự do cho những học sinh, sinh viên bị bắt. Đoàn biểu tình kéo đến Nha học chính và dinh thủ hiến bù nhìn đưa yêu sách. Bọn cảnh sát và lính lê dương đã đàn áp dã man đoàn biểu tình và giết hại anh Trần Văn Ơn, một tấm gương dũng cảm tiêu biểu cho lòng yêu nước và ý chí đấu tranh bất khuất của học sinh, sinh viên.

Thanh niên và nhân dân cả nước vô cùng căm phẫn và cực lực lên án cuộc tàn sát dã man học sinh, sinh viên Sài Gòn - Chợ Lớn của giặc Pháp.

Lễ tang Trần Văn Ơn được tổ chức trọng thể, cử hành vào sáng ngày 12/1/1950, đã biến thành cuộc biểu tình thị uy của hàng vạn người đi theo linh cữu tiễn đưa anh về nơi an nghỉ cuối cùng. Dẫn đầu cuộc biểu tình đưa tang Trần Văn Ơn là Luật sư Nguyễn Hữu Thọ, Luật sư Trịnh Đình Thảo, Kỹ sư Lưu Văn Lang… Trước quan tài là hương án có 2 câu viết bằng máu của học sinh:

Chết vì Tổ quốc, chết mà vẫn sống
Sống kiếp Việt gian, ô nhục muôn đời.

Hơn 30 vạn bà con các giới đứng dọc theo các phố tiễn biệt người học sinh yêu nước kiên cường.

Lần đầu tiên sau Cách mạng Tháng Tám lịch sử, đông đảo các tầng lớp thanh niên, học sinh, công nhân, lao động, trí thức, nhân sĩ thành phố xuống đường biểu dương sức mạnh đoàn kết và ý chí đấu tranh giành độc lập tự do và thống nhất đất nước.

Năm 1950, tại Sài Gòn - Chợ Lớn còn nhiều cuộc đấu tranh lớn diễn ra. Sau lễ truy điệu Trần Văn Ơn, rất đông đảo học sinh “xếp bút nghiên” ra chiến khu tham gia kháng chiến.Học sinh trường Trương Vĩnh Ký thành lập trung đội dân quân Trần Văn Ơn do anh Phạm Hùng Phi làm trung đội trưởng, hoạt động vũ trang trong nội thành từ tháng 2 năm 1950.

Suốt trong tháng 1/1950, công nhân Sài Gòn - Chợ Lớn đã tổ chức 22 cuộc đình công để ủng hộ phong trào đấu tranh của sinh viên, học sinh.

ở Hà Nội, hàng vạn thanh niên, học sinh, sinh viên và nhân dân đã tham dự lễ truy điệu và cầu hồn cho anh Trần Văn Ơn ở chùa Quán Sứ và Nhà thờ Lớn, đồng thời tổ chức nhiều cuộc bãi khoá lớn trong toàn thành phố.

Thanh niên, học sinh Hải Phòng, Huế, Đà Nẵng và các thành phố trong cả nước đều tổ chức bãi khoá phản đối địch khủng bố, tàn sát học sinh Sài Gòn và làm lễ truy điệu anh Trần Văn Ơn. Tại trường Đồng Khánh, 4.000 học sinh Huế đã lập bàn thờ và làm lễ truy điệu anh Trần Văn Ơn với hai câu đối lớn đặt bên cạnh bàn thờ cổ vũ tinh thần yêu nước của thanh niên:

Ai chết vinh buồn chăng?
Ai sống nhục thẹn chăng?

Sát cánh với phong trào đấu tranh của học sinh, sinh viên Sài Gòn - Chợ Lớn trong những năm 1949 -1950 là phong trào đấu tranh anh dũng của học sinh người Việt gốc Hoa mà tiêu biểu là tấm gương hy sinh kiên cường, bất khuất của nữ sinh trung học người Hoa Trần Bội Cơ. Là người lãnh đạo phong trào học sinh người Việt gốc Hoa, chị Trần Bội Cơ bị giặc bắt. Giặc dùng mọi cực hình tra tấn dã man nhưng chị quyết không khai báo, nhận hết trách nhiệm về mình. Trần Bội Cơ bị giặc giết hại dã man và đã anh dũng hy sinh ở tuổi 18.

Sau ngày Trần Bội Cơ hy sinh, tháng 6/1950, Tổng hội Hoa Liên Nam Bộ tổ chức trọng thể lễ truy điệu chị tại vùng giải phóng Cà Mau. Ngày 2/9/1950, Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà ra quyết định công nhận Trần Bội Cơ là liệt sĩ và truy tặng chị Huân chương Kháng chiến hạng Hai.

Phong trào đấu tranh của thanh niên học sinh, sinh viên đã có tiếng vang lớn trong cả nước và được sự ủng hộ, hưởng ứng của các tổ chức thanh niên tiến bộ trên thế giới.

Đoàn Thanh niên Lao động Rumani gửi điện cho Liên đoàn Thanh niên Việt Nam có đoạn: “Với tinh thần đoàn kết anh em, chúng tôi hoan nghênh hành động dũng cảm của thanh niên và học sinh, sinh viên Việt Nam đang cùng nhân dân đấu tranh để tự giải phóng khỏi ách thực dân”

Đại hội toàn quốc Liên đoàn Thanh niên Việt Nam lần thứ nhất tháng 2/1950 tại căn cứ Việt Bắc đã quyết định lấy ngày 9 tháng 1 hàng năm làm Ngày truyền thống học sinh, sinh viên Việt Nam.

Ngày 21/3/1950, Hội Liên hiệp Sinh viên quốc tế đã gửi điện ủng hộ cuộc đấu tranh anh dũng của học sinh, sinh viên Việt Nam và gửi điện cho Thủ tướng Pháp phản đối việc dùng cảnh binh bắn giết và bắt bớ học sinh, sinh viên Việt Nam.

Ngày 19/3/1950 là một ngày lịch sử vẻ vang của thanh niên và nhân dân Sài Gòn. Ngày ấy, Mỹ đưa hai tàu chiến đến cảng Sài Gòn để diễu võ dương oai nhưng bị 3.000 thanh niên, học sinh, sinh viên và 500.000 nhân dân Sài Gòn - Chợ Lớn bất chấp sự đàn áp của giặc, rầm rộ xuống đường biểu tình với cờ đỏ sao vàng và hô vang khẩu hiệu “Đả đảo đế quốc Mỹ”, “Đế quốc Mỹ cút đi”.

Một cuộc mít tinh lớn được tổ chức tại trường Tôn Thọ Trường. Luật sư Nguyễn Hữu Thọ đã nói chuyện, vạch trần âm mưu cấu kết giữa Pháp và Mỹ để xâm lược nước ta và kêu gọi các tầng lớp nhân dân xuống đường biểu dương lực lượng. Khi đoàn biểu tình đến trước chợ Bến Thành thì đã trở thành một biển người trên 10 vạn.

Cùng với cuộc đấu tranh của nhân dân và tuổi trẻ Sài Gòn - Chợ Lớn, bộ đội ta đã nã pháo vào tàu chiến Mỹ. Cuối cùng, tàu chiến Mỹ phải rút khỏi Sài Gòn ngay đêm hôm 19/3. “Đây là cuộc đụng độ đầu tiên giữa nhân dân ta và đế quốc Mỹ, và cũng là lần đầu tiên đế quốc Mỹ đầu sỏ bị một vố thất bại ngay khi nó bắt đầu thực hiện âm mưu can thiệp trực tiếp nhằm kéo dài và mở rộng cuộc chiến tranh trên toàn cõi Đông Dương”

Từ đó, ngày 19 tháng 3 trở thành Ngày toàn quốc chống Mỹ của nhân dân ta


CHƯƠNG VI - ĐẠI HỘI LIÊN ĐOÀN THANH NIÊN VIỆT NAM LẦN THỨ NHẤT, ĐIỆN BIÊN PHỦ - TUỔI TRẺ VÀ CHIẾN CÔNG

Bước sang năm 1950, dưới ánh sáng các Nghị quyết về công tác thanh niên của Đảng, phong trào thanh niên phát triển ngày càng vững chắc, tổ chức Đoàn lớn mạnh trong cả nước cùng với sự phát triển của cuộc kháng chiến.

Ngày 7 tháng 2 năm 1950, tại căn cứ địa kháng chiến ở Việt Bắc, xã Cao Vân- huyện Đại Từ – tỉnh Thái Nguyên, Đại hội đại biểu Đoàn toàn quốc lần thứ I đã khai mạc. Đồng chí Nguyễn Lam, Bí thứ Trung ương Đoàn trình bày trước Đại hội bản báo cáo Chính trị nhan đề: “Chiến đấu và xây dựng tương lai”.

Bản báo cáo đã đánh giá sự phát triển của Đoàn Thanh niên Cứu quốc từ năm 1941 đến năm 1950 đồng thời đề ra những nhiệm vụ cấp bách của Đoàn nhằm thống nhất lực lượng thanh niên trong cả nước để cùng với toàn dân đẩy mạnh công cuộc kháng chiến kiến quốc mau đến thắng lợi.

Báo cáo khẳng định, nhiệm vụ trước mắt của Đoàn là động viên, giáo dục, thống nhất lực lượng thanh niên, cổ vũ thế hệ trẻ tích cực tham gia sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, quét sạch quân thù ra khỏi đất nước; xây dựng chế độ dân chủ cộng hoà góp phần vào công cuộc bảo vệ hoà bình thế giới.

Đại hội Đoàn đã bầu ra Ban Chấp hành Trung ương mới. Đồng chí Nguyễn Lam được bầu lại làm Bí thư Đoàn Thanh niên Cứu quốc Việt Nam.

Tiếp theo Đại hội Đoàn là Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ I của Liên đoàn Thanh niên Việt Nam diễn ra ngày 25/2/1950 tại xã Cao Vân, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên. Đại hội là sự thể hiện khối đoàn kết của toàn thể thanh niên Việt Nam trong mặt trận thanh niên vì mục tiêu kháng chiến thắng lợi.

Đại hội Liên đoàn Thanh niên Việt Nam lần thứ I vô cùng vinh dự và phấn khởi được Hồ Chủ tịch đến thăm. Người ân cần dặn dò thanh niên cả nước đoàn kết, tích cực đóng góp vào công cuộc kháng chiến và chăm sóc nhi đồng, xây dựng Liên đoàn Thanh niên Việt Nam thành mặt trận rộng rãi, đoàn kết, tập hợp mọi tầng lớp thanh niên để phục vụ cho công cuộc kháng chiến kiến quốc.

Đại hội đã bầu ra Ban Chấp hành và bầu đồng chí Nguyễn Chí Thanh, Uỷ viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng làm Chủ tịch của Liên đoàn Thanh niên Việt Nam. Đại hội đã thông qua Nghị quyết và Điều lệ của Liên đoàn Thanh niên Việt Nam.

Đại hội nêu tấm gương dũng cảm của đồng chí Thái Dũng - chiến sĩ trẻ của Đại đoàn 308 đã chiến đấu trên 100 trận, tiêu diệt được nhiều sinh lực địch để thanh niên cả nước noi theo.

Đại hội nêu cao tinh thần đoàn kết quốc tế với thanh niên Lào, Campuchia và với Tổ chức Liên đoàn Thanh niên Dân chủ Thế giới mà Liên đoàn Thanh niên Việt Nam là thành viên chính thức từ năm 1946.

Phát biểu tại Đại hội Đoàn và Đại hội Liên đoàn Thanh niên Việt Nam, đồng chí Lêôphighơ - đại diện Liên đoàn Thanh niên Dân chủ Thế giới và Thanh niên Pháp chân thành ca ngợi tinh thần chiến đấu anh dũng của thanh niên Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, coi thanh niên Việt Nam như một tấm gương mẫu mực về lòng yêu nước và chủ nghĩa quốc tế. Đồng chí cũng giới thiệu phong trào đấu tranh của thanh niên Pháp và thanh niên thế giới chống cuộc chiến của thực dân Pháp ở Đông Dương. Trở về nước, đồng chí Lêôphighơ đã viết nhiều bài báo và cho in nhiều ảnh trên các báo ở Pháp và Liên đoàn Thanh niên Dân chủ thế giới, phản ánh cuộc chiến đấu và các phong trào thi đua yêu nước của tuổi trẻ Việt Nam, gây ảnh hưởng sâu rộng trong thanh niên ở Pháp và ở châu Âu.

Cuộc kháng chiến càng phát triển thì vai trò của thanh niên càng to lớn. Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng ngày 24/7/1950 đã ra Nghị quyết về vận động thanh niên và đề ra 4 nhiệm vụ trước mắt là:

- Động viên thanh niên xung phong trong công cuộc kháng chiến, hoàn thành công việc chuẩn bị chuyển sang tổng phản công;

- Kiên quyết xây dựng tổ chức thanh niên trung kiên gần Đảng, phát triển rộng rãi Mặt trận thanh niên;

- Đem lại quyền lợi thiết thực cho thanh niên, đặc biệt chú trọng vấn đề học tập văn hoá và nghề nghiệp cho thanh niên;

- Giáo dục thiếu niên, nhi đồng.

Thu - Đông năm 1950, Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh quyết định mở Chiến dịch Biên Giới nhằm khai thông đường liên lạc giữa nước ta với hệ thống xã hội chủ nghĩa, mở rộng và củng cố căn cứ điạ Việt Bắc, thu hẹp phạm vi chiếm đóng của địch, tiến tới giành quyền chủ động chiến lược trên chiến trường chính.

Thực hiện Chỉ thị của Trung ương Đảng và Hồ Chủ tịch, ngày 15/7/1950, Đảng - Đoàn thanh vận Trung ương quyết định thành lập Đội Thanh niên xung phong công tác Trung ương đầu tiên để phục vụ chiến dịch Biên Giới. Đội gồm 225 đội viên, là những đoàn viên, hội viên, thanh niên tích cực nhất được tuyển chọn từ các địa phương.

Liên khu Việt Bắc là địa phương chính động viên sức người, sức của, phục vụ chiến dịch. Đảng bộ Liên khu đã huy động được 121.700 thanh niên thuộc các dân tộc ở Việt Bắc tham gia phục vụ tiền tuyến với 1.716.000 ngày công.

Chiến dịch Biên Giới, Bác Hồ ra mặt trận. Bác ngồi xe vận tải nhưng chỉ đi được từng đoạn vì đường chưa thông suốt, lại rất nhiều ổ gà nên Bác đi bộ là chính. Trong suốt thời gian chiến dịch, Bác đã ở sát mặt trận để cùng Bộ Chỉ huy chỉ đạo bộ đội chiến đấu.

Đêm 16/9/1950, bộ đội ta tấn công vào cứ điểm Đông Khê, mở màn Chiến dịch Biên Giới lịch sử. Sau 2 ngày đêm chiến đấu ác liệt, ta tiêu diệt hoàn toàn cứ điểm Đông Khê. Ngay từ trận đầu của chiến dịch và trong suốt chiến dịch, tuổi trẻ trong các lực lượng vũ trang, lực lượng Thanh niên xung phong, dân công hoả tuyến đã nêu nhiều gương chiến đấu và phục vụ chiến đấu dũng cảm tuyệt vời. Đó là chiến sĩ bộc phá, người Đảng viên trẻ tuổi La Văn Cầu, nhờ đồng đội dùng lưỡi lê chặt đứt cánh tay bị thương của mình rồi tiếp tục xông lên phá công sự của giặc. Anh là lá cờ đầu trong phong trào thi đua giết giặc lập công của thanh niên cả nước. Đó là Đại đội trưởng Trần Cừ lấy thân mình bịt lỗ châu mai mở đường cho đơn vị xông lên giết giặc. Chiến sĩ dân công Đinh Thị Dậu, nhiều lần xông lên dưới bom đạn cứu thương binh. Chiến sĩ Lý Văn Mưu mới 17 tuổi đời, đánh trận đầu tiên ở Đông Khê, anh đã 20 lần cõng thương binh, tử sĩ về hậu tuyến rồi lại xông lên chiến đấu, cùng đồng đội phá tan lô cốt địch.

Đội Thanh niên xung phong công tác Trung ương đã hoàn thành xuất sắc các nhiệm vụ được giao như vận chuyển vũ khí phục vụ bộ đội chiến đấu, đưa thương binh về tuyến sau và thu dọn chiến trường. Đội đã nhanh chóng vận chuyển 8 tấn đạn chiến lợi phẩm của mặt trận Đông Khê về kho an toàn. Thành tích của đội Thanh niên xung phong công tác đầu tiên phục vụ chiến dịch Biên Giới đã được Tổng tư lệnh Võ Nguyên Giáp tuyên dương trong buổi lễ mừng chiến thắng tổ chức tại thị xã Cao Bằng.

Chiến thắng Biên Giới đã cổ vũ mạnh mẽ tuổi trẻ cả nước xông lên giết giặc lập công.

ở trung du và đồng bằng Bắc Bộ, quân ta tiêu diệt và bức rút 44 vị trí, tiêu diệt 700 địch và buộc chúng phải rút khỏi thị xã Hoà Bình.

ở Hà Nội, đêm 10/01/1950, bộ đội cùng du kích đột nhập sân bay Bạch Mai phá huỷ 25 máy bay, đốt cháy trên 65.000 lít xăng. Suốt mấy ngày đêm phi trường địch ngùn ngụt khói lửa. Cho đến cuối năm 1950, lực lượng vũ trang nội, ngoại thành Hà Nội đã liên tiếp tấn công các vị trí ở Tương Mai, Đại Yên, Trung Hoà, Dịch Vọng…tiêu hao nhiều sinh lực địch.

ở Bình Trị Thiên, quân ta đột nhập thị xã Quảng Trị, chống càn thắng lợi ở Quảng Bình, đánh giao thông trên đường Huế - Đà Nẵng…

ở Liên khu V, quân ta diệt gần 1.000 tên địch. Chiến công của người đoàn viên Trần Đích – Tiểu đội trưởng du kích xã Điện Ngọc (Điện Bàn – Quảng Nam) dùng lựu đạn cùng đồng đội tiêu diệt xe tăng địch đã mở đầu cách đánh tăng bằng lựu đạn trên khắp chiến trường Quảng Nam - Đà Nẵng. Anh Trần Đích được tuyên dương tại Đại hội Chiến sĩ thi đua Liên khu V tháng 3/1953.

ở Nam Bộ, ta diệt hàng ngàn tên địch và phá trên 40 tháp canh.

Tháng 5/1950, ở Bà Rịa (Nam Bộ) và ở tỉnh Hưng Yên, có 2 nữ chiến sĩ công an nhân dân đã dũng cảm trừ gian, diệt tề để bảo vệ cơ sở, phát triển phong trào cách mạng. Cả 2 chị đã anh dũng hi sinh và đều được Đảng, Nhà nước truy tặng danh hiệu cao quý Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.

Đó là Võ Thị Sáu, người con gái đất đỏ ở Bà Rịa (Nam Bộ), đội viên công an xung phong chiến đấu dũng cảm, lập nhiều chiến công diệt trừ ác ôn, bảo vệ cơ sở không may bị sa vào tay giặc, chị bị tra khảo dã man, chết đi sống lại nhiều lần nhưng vẫn một mực không khai báo. Trước giờ hi sinh, Võ Thị Sáu từ chối rửa tội, từ chối bịt mắt, bình tĩnh hiên ngang hát vang quốc ca Việt Nam: "Đoàn quân Việt Nam đi…" sau này Võ Thị Sáu đã được Nhà nước ta truy tặng danh hiệu vẻ vang Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.. Chị Võ Thị Sáu bị thực dân Pháp xử bắn ở Côn Đảo mờ sáng ngày 23 tháng 1 năm 1952.

Chị Bùi Thị Cúc, cán bộ thanh niên xung phong tỉnh Hưng Yên đã mưu trí dũng cám diệt tề, trừ gian, chị bị giặc bắt, chúng đánh đập, tra tấn chị rất dã man nhưng vẫn không khai thác được điều gì. Giặc bèn mang chị ra trói ở cọc giữa chợ huyện, dùng mọi nhục hình tra tấn và bắt nhân dân phải chứng kiến hòng lung lạc tinh thần của chị và đồng bào. Nhưng chị vẫn giữ vững khí tiết của người chiến sĩ công an. Chị nói với đồng bào: "Bà con đừng sợ! Bọn giặc dù gian ác đến mấy cũng không thể chiến thắng được chúng ta. Kháng chiến nhất định thắng lợi! Hồ Chủ tịch muôn năm!"

Chị hy sinh lúc tròn 20 tuổi.

Ngày 15 tháng 1 năm 1952, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký sắc lệnh truy tặng liệt sĩ Bùi Thị Cúc Huân chương Độc lập hạng Ba và tặng chị 6 chữ vàng “Sống anh dũng, chết vẻ vang”.

Tấm gương trung kiên, bất khuất của đội viên thiếu niên Phạm Ngọc Đa sống mãi với truyền thống của tuổi trẻ Việt Nam. Phạm Ngọc Đa quê ở xã Bạch Đằng, Tiên Lãng (Kiến An) mồ côi cha mẹ, Đa phải đi ở để kiếm sống. Căm thù giặc Pháp, Đa tham gia công tác kháng chiến, làm quân báo cho du kích xã. Đội của em được giao nhiệm vụ đào hầm bí mật để che giấu cán bộ, du kích. Trong một trận vây càn của địch, ngay hôm đầu tiên chúng đã phát hiện được hầm của Đa. Địch bắt và trói Đa trên một tấm phản tra tấn rất dã man, bắt Đa chỉ các hầm bí mật. Đa nói lớn vào mặt kẻ thù cốt để các anh chị ẩn nấp xung quanh đấy yên tâm: “Đúng, tao biết nhiều hầm nhưng không phải là để khai ra với chúng mày!” Tên quan ba Pháp nổi tiếng tàn ác cầm dao chặt lìa một cánh tay của Đa. Trong đau đớn, em vẫn giữ được khí tiết.

Để ghi nhớ công lao và sự hy sinh anh dũng của người đội viên thiếu niên, Nhà nước đã truy tặng liệt sĩ Phạm Ngọc Đa danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.

Em Trần Đông, 14 tuổi là đội viên đội biệt động thị xã Cần Thơ bị bọn phản động bắt với 2 quả lựu đạn định ném vào bọn Pháp. Bị cực hình, tra tấn, em một mực không khai. Giặc đưa Đông ra cầu tàu xử bắn. Chúng bảo Đông bước qua ảnh Bác Hồ thì sẽ được tha. Trần Đông bước đến cạnh ảnh Bác Hồ, quỳ xuống, cầm tấm ảnh nâng đặt lên đầu, đi thẳng đến cột bắn và hô to: “Hồ Chí Minh muôn năm! Việt Nam Dân chủ Cộng hoà muôn năm!”

Trần Văn Chuông tiêu biểu cho tấm gương chiến đấu dũng cảm, ngoan cường của tuổi trẻ Hà Nam, tám lần anh xung phong tòng quân nhưng đều bị loại vì không đủ sức khoẻ. Đến năm 1948 anh mới được nhập ngũ. Do có nhiều sáng kiến đánh bom, mìn nên đồng đội tặng anh danh hiệu: “Vua mìn”. Kinh nghiệm đánh bom, mìn của anh được phổ biến rộng rãi trong toàn Liên khu III. Anh đã đánh giặc trên 200 trận, tiêu diệt 392 tên. Trần Văn Chuông đã hy sinh trong khi chỉ huy đánh tàu chiến dịch trên sông Hồng vào ngày 22/2/1954. Anh được Chính phủ truy tặng danh hiệu Anh hùng Quân đội và Huân chương quân công hạng Nhất.

ở Liên khu V, Anh hùng Bùi Chát, Đội trưởng Đội Công binh Hải Vân và các chiến sĩ thi đua Nguyễn Thị Dung (thị xã Hội An), Võ Lanh, Nguyễn Toản, Nguyễn Cương…là những điển hình trong biết bao tấm gương anh dũng, kiên cường vì sự thắng lợi của công cuộc kháng chiến kiến quốc.

Sau chiến thắng Biên giới và các chiến trường phối hợp, thế và lực của cuộc kháng chiến toàn dân, toàn diện của ta ngày càng phát triển. Trong không khí ấy, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ II của Đảng đã họp từ ngày 11 đến ngày 19/02/1951 tại vùng căn cứ Việt Bắc. Đại hội đã quyết định 2 vấn đề hệ trọng đối với Đảng và toàn dân:

Đưa cuộc kháng chiến đến thắng lợi hoàn toàn.

Từ nay, Đảng ta lấy tên là Đảng Lao động Việt Nam.

Đoàn đại biểu của Tiểu ban Thanh vận Trung ương đã trình bày trước Đại hội bản tham luận quan trọng về nội dung, phương hướng tổ chức Đoàn Thanh niên Cứu quốc và công tác vận động thanh niên trong tình hình mới để góp phần cùng toàn Đảng, toàn dân đưa cuộc kháng chiến đến thắng lợi hoàn toàn.

Toàn thể thanh niên và tuổi trẻ cả nước vô cùng phấn khởi và tin tưởng ở đường lối kháng chiến mà Đại hội Đảng đã quyết định, ra sức đóng góp sức lực để đưa cuộc kháng chiến đến thắng lợi hoàn toàn.

Liên đoàn Thanh niên Việt Nam mà Đoàn Thanh niên Cứu quốc làm nòng cốt đã động viên đoàn viên, thanh niên trong cả nước đẩy mạnh các phong trào tòng quân, giết giặc lập công; phong trào tăng gia sản xuất, thực hành tiết kiệm; phong trào đi dân công, thanh niên xung phong, phục vụ tiền tuyến; phong trào đấu tranh chống địch bắt lính và đấu tranh của thanh niên trong các vùng bị địch tạm chiếm; phong trào xoá nạn mù chữ và xây dựng đời sống mới ở các vùng tự do; phong trào thiếu nhi.

Một vinh dự lớn đối với Đội Thanh niên xung phong là được sự quan tâm và động viên to lớn của Bác Hồ. Ngày 20/3/1951, Bác Hồ đã đến thăm đội Thanh niên xung phong Liên phân đội 312 đang làm nhiệm vụ tại cầu Nà Cù (Bắc Kạn). Đồng chí Việt Thi, đội viên đội Thanh niên xung phong công tác Trung ương của Liên phân đội 312 vẫn còn nhớ rõ buổi đón Bác rất thiêng liêng và cảm động giữa núi rừng Việt Bắc. Đồng chí Việt Thi kể: Được tin đồng chí Trần Đăng Ninh, Tổng cục trưởng Tổng cục hậu cần sẽ đến thăm đơn vị. Chúng tôi tổ chức một đêm lửa trại trong rừng Nà Cù để đón khách… Thấy ánh đèn pin loang loáng từ ngoài cửa rừng đi vào, biết là khách đã đến, tôi cho tập hợp anh chị em và vỗ tay hoan hỉ khi đoàn khách còn chưa vào đến nơi.

“Hoan hô đồng chí Trần Đăng Ninh! Hoan hô!...”

Hô xong định thần nhìn lại, tất cả chúng tôi đều sững sờ trước niềm hạnh phúc bất ngờ: Bác Hồ. Hàng ngũ xáo động, xôn xao. Nhưng do việc giữ bí mật đã ăn sâu vào ý thức từng người, nên trong hàng ngũ chỉ truyền đi những tiếng reo se sẽ: Bác, Bác Hồ!

Đúng! Rõ ràng mở mắt còn ngờ chiêm bao. Bác đã đến thăm đơn vị chúng tôi. Đồng chí Trần Đăng Ninh chỉ là người dẫn đường. Bác mặc bộ quần áo bà ba màu gụ, chiếc khăn quàng cổ khéo léo che kín bộ râu…

Bác tươi cười trìu mến nhìn đàn cháu và giơ tay ra hiệu:
- Các cháu ngồi cả xuống!

Thế là đang lộn xộn nhốn nháo, chúng tôi răm rắp theo lời Bác ngồi xuống im phăng phắc chờ đợi…

Những câu đầu tiên Bác hỏi chúng tôi là những lời thăm hỏi ân cần về tình hình đời sống của đơn vị. Bác hỏi:
- Các cháu ăn có đủ no không?
- Thưa Bác có ạ!
- Các cháu có đủ muối ăn không?
- Thưa Bác có ạ!
- Quần áo, chăn màn, thuốc phòng bệnh, chữa bệnh có đủ không?
Nhất nhất chúng tôi đều đồng thanh trả lời:
- Thưa Bác có ạ.

Qua nụ cười hiền từ của Bác, chúng tôi thấy Bác thừa biết là chúng tôi đã nói dối Bác. Trước khi đến thăm đơn vị chắc Bác đã được đồng chí Trần Đăng Ninh báo cáo đầy đủ về tình hình ăn đói mặc rách, thiếu rau, đói muối, tình hình sốt rét, ốm đau của Thanh niên xung phong lúc đó rồi.

Bác hỏi lại:
- Các cháu có biết Đảng Lao động Việt Nam không?
- Thưa Bác có ạ!

Nhưng liền sau đó khi Bác hỏi Đảng Lao động Việt Nam khác Đảng Cộng sản Đông Dương ở chỗ nào, một số trong chúng tôi được Bác kiểm tra trực tiếp toát mồ hôi hột, đã trả lời rất lúng túng, thậm chí có những câu trả lời rất ngớ ngẩn, tất cả chúng tôi mới thấy hiểu biết của mình về Đảng còn lơ mơ quá.

Bằng những lời ngắn gọn, dễ hiểu, Bác giới thiệu sự kiện lịch sử Đại hội Đảng lần thứ II vừa họp, tại sao Đảng ta từ nay lại lấy tên là Đảng Lao động Việt Nam…

Cuối cùng Bác nghiêm khắc nhắc nhở:

- Lần sau, cái gì không biết các cháu phải nói không biết. Không biết mà nói biết là giấu dốt!

Chúng tôi đang chưa hết choáng váng về lời phê bình của Bác thì Bác lại hỏi tiếp:

- Đào núi có khó không?

Chúng tôi thận trọng không dám trả lời ào ào như trước nữa. Chẳng ai đoán được ý Bác thế nào.Thế là người trả lời khó, người trả lời không khó. Trả lời xong mà vẫn cứ nơm nớp sợ Bác vặn hỏi sâu thêm.

Bác chưa kết luận mà hỏi thêm:

- Có ai dám đào núi không?

Và Bác chỉ định một đội viên nữ ngồi ngay trước mặt Bác. Đồng chí này đứng lên mạnh dạn thưa:

- Thưa Bác có ạ! Thanh niên xung phong chúng cháu hàng ngày vẫn đào núi để đảm bảo giao thông ạ!

Bác gật đầu mỉm cười vừa ý với câu trả lời thông minh đầy khí phách của thanh niên đó và hỏi tiếp:

- Có ai lấp biển không?

Câu hỏi đối với chúng tôi thật là hóc búa. Từ thuở cha sinh mẹ đẻ chúng tôi nào ai đã được trông thấy biển, chỉ được biết biển qua sách vở hoặc chỉ được nghe câu “Lấp biển vá trời”.

Đã không vá được trời thì làm sao lấp biển được!

Tất cả đang còn lúng túng thì Bác gỡ bí cho:

- Có chuyện con người dám đào núi thì cũng có chuyện con người dám lấp biển đấy! Cảng Hải Phòng và nhiều cảng khác trên thế giới đều được con người lấp biển xây dựng lên.

- Lấp biển có khó không?

Cũng như lần trước, chúng tôi người thì trả lời khó, người trả lời không khó.

Bác cười:

- Nói không khó là không đúng. Khó nhưng con người vẫn làm được, chỉ cần có cái gì?
Chúng tôi đã dần dần lấy lại được tinh thần, mạnh dạn hẳn lên, thi nhau giơ tay xin phát biểu. Người trả lời cần quyết tâm cao, cần kiên gan, bền trí, người trả lời cần vượt khó, vượt khổ, cần xung phong, dũng cảm v.v…

Bác động viên:

- Các cháu trả lời đều đúng cả. Tóm lại là việc gì dù khó mấy cũng làm được, chỉ cần quyết chí. Tục ngữ có câu: “Cục sắt mài mãi cũng nên kim”… Để các cháu dễ nhớ buổi nói chuyện của Bác hôm nay, Bác tặng các cháu một bài thơ:

Không có việc gì khó
Chỉ sợ lòng không bền
Đài núi và lấp biển
Quyết chí cũng làm nên!

Đọc xong bốn câu thơ, Bác lại bảo tất cả đồng thanh nhắc lại. Cuối cùng tôi được Bác chỉ định nhắc lại cả bài thơ.Thật may mắn, tôi đã nhắc lại trôi chảy, không sót một chữ nào.

Bác gật đầu tươi cười tỏ ý hài lòng và bảo tôi “cầm càng” cho tất cả hát một bài, nhưng Bác không chấp nhận cho hát bài “Hồ Chí Minh muôn năm” theo đề nghị của tôi.

Giữa rừng khuya, Bác cùng đàn cháu Thanh niên xung phong hoà nhịp vỗ tay theo bài ca “Nhạc tuổi xanh”. Chúng tôi hào hứng say mê đến khi bài hát được hát lại lần thứ hai kết thúc, nhìn lại thì không thấy Bác đâu nữa!

Bác xuất hiện rồi ra đi như một ông tiên trong chuyện cổ tích, đột ngột quá, huyền ảo quá khiến chúng tôi sững sờ, ngơ ngẩn hồi lâu…

Thực hiện chủ trương của Đảng về việc tăng cường công tác xây dựng các lực lượng vũ trang, mở nhiều chiến dịch với quy mô ngày càng lớn, tiến tới đánh bại hoàn toàn ý chí xâm lược của bọn đế quốc, hàng chục vạn thanh niên tiếp tục tình nguyện gia nhập quân đội. Số thanh niên chiếm 80% trong quân đội. ở nhiều địa phương, ngày hội tòng quân được tổ chức sôi nổi, đầy khí thế và thanh niên trúng tuyển là một niềm vinh dự lớn lao. Hàng nghìn thanh niên, học sinh, sinh viên trong vùng địch tạm chiếm vượt ra vùng tự do cầm súng chiến đấu... Hầu hết thanh niên vùng tranh chấp và vùng tự do tham gia lực lượng dân quân du kích, công an xung phong. ở Nam Bộ, năm 1952 có 32.762 lượt thanh niên tòng quân, trong số đó có 10.322 thanh niên tham gia bộ đội chủ lực. ở Hải Phòng, phong trào tòng quân giết giặc sôi nổi trong các quận, huyện. Huyện Thuỷ Nguyên có 2.427 thanh niên, huyện Tiên Lãng có trên 4.000 thanh niên và quận Ngô Quyền có 917 thanh niên tòng quân. ở Quảng Nam - Đà Nẵng, riêng trong năm 1952 có hơn 28.000 thanh niên tình nguyện nhập ngũ.

Để trang bị cho thanh niên những hiểu biết về quân sự, ở Liên khu IX, khu V, Nam Bộ, Liên khu Việt Bắc đã tổ chức các lớp huấn luyện quân sự cho thanh niên, gây thành phong trào luyện tập quân sự sôi nổi trong tuổi trẻ. Riêng Liên khu Việt Bắc mở 258 lớp huấn luyện quân sự cho 16.741 đoàn viên, thanh niên, 9 khoá quân sự cho học sinh.

Từ cuối tháng 12/1950 đến tháng 5/1951, ta đã xây dựng thêm 3 đại đoàn bộ binh, 1 đại đoàn pháo binh, công binh và 2 trung đoàn trực thuộc Bộ Tổng tư lệnh. Cuối năm 1952 lập thêm một đại đoàn ở Bình Trị Thiên. Lúc này, ta đã có 6 đại đoàn bộ binh chủ lực, một đại đoàn công binh và pháo binh; mỗi liên khu có 2 trung đoàn chủ lực. Nam Bộ có 4 trung đoàn chủ lực.

Sự lớn mạnh của lực lượng vũ trang, của chiến tranh nhân dân là điều kiện tiên quyết để quân dân ta liên tục tiến công kẻ thù, giành được nhiều thắng lợi to lớn ở các mặt trận Nam Bộ, Khu V, Hoà Bình và Tây Bắc…ta đã tiêu diệt được nhiều sinh lực, vùng giải phóng của ta được mở rộng không ngừng.

Tấm gương chiến đấu dũng cảm của Tiểu đội trưởng Cù Chính Lan, một mình dùng lựu đạn diệt xe tăng địch tạo điều kiện cho đơn vị tiêu diệt giặc trong chiến dịch Hoà Bình được nêu gương học tập trong toàn quân.

Ngày 21/12/1951, Đại tướng Võ Nguyên Giáp và đồng chí Nguyễn Chí Thanh, Chủ tịch Liên đoàn Thanh niên Việt Nam đã gửi thư khen ngợi Đội Thanh niên xung phong công tác tỉnh Phú Thọ và nêu gương các bạn nam, nữ thanh niên đã có nhiều thành tích phục vụ chiến dịch Hoà Bình.

Phong trào chống địch bắt lính thực chất là một cuộc đấu tranh công khai, quyết liệt đối mặt với kẻ thù của thanh niên và nhân dân ta. ở các tỉnh Bến Tre, Trà Vinh, Cần Thơ, Mỹ Tho, quần chúng dùng nhiều hình thức đấu tranh để giải thoát cho hàng nghìn thanh niên. ở Quảng Nam - Đà Nẵng, trong 6 tháng, địch bắt được 1.862 thanh niên thì đồng bào, thanh niên đã đấu tranh giành lại và giúp anh em bỏ trốn khỏi trại được 1.146 người.

Ngày 03/5/1953, 6.000 nhân dân thị xã Nha Trang (tỉnh Khánh Hoà) biểu tình trước nhà tên tỉnh trưởng bù nhìn, phản đối giặc Pháp và bọn tay sai bắt thanh niên đi lính. Sau đó một tuần, ngày 10/4, 1.600 thanh niên bị bắt đi lính tập trung ở trại Suối Dầu nổi dậy đấu tranh đòi giải ngũ. ở Hải Phòng, 3.000 quần chúng (trong đó có tới 600 trẻ em) ở xã Ngọc Hải, Đồ Sơn đã quyết liệt, dũng cảm đấu tranh với địch suốt 3 ngày, buộc chúng phải nhượng bộ thả hết 200 thanh niên.

Tại Hà Nội, cuộc đấu tranh chống bắt lính diễn ra liên tục, dưới nhiều hình thức phong phú. Từ năm 1952 đến năm 1953, học sinh tú tài ở Hà Nội bị địch bắt đi huấn luyện để đào tạo sĩ quan cho quân đội ngụy, mà thực chất là bắt lính theo đạo dụ của Bảo Đại. Nhiều đợt học sinh tú tài bị bắt lính, thời gian này bọn nguỵ quyền đang mở rộng việc thực hiện sắc lệnh tổng động viên của chúng khiến cho mọi gia đình và học sinh đến tuổi quân dịch đều phải nâng cao cảnh giác và tìm cách đấu tranh.

Học sinh kháng chiến trường Chu Văn An được giao nhiệm vụ đưa tài liệu đến tận nhà những thanh niên có giấy gọi đi lính, vạch rõ âm mưu, thủ đoạn của kẻ địch đưa thanh niên học sinh đi làm bia đỡ đạn cho chúng, khuyến khích anh em tìm cách trốn lính.

ở ngay tại trường, nhóm của anh Tống Văn đã nghĩ ra một cách rải truyền đơn chống bắt lính khá độc đáo: “Các anh lẻn vào lớp trước giờ học, để truyền đơn lên các cánh quạt trần. Khi học sinh vào lớp vặn quạt, truyền đơn bay tứ tung, cả trường được một phen sôi nổi bàn tán”.

Việc vận động chống bắt lính đã đạt kết quả tốt, giữa năm 1952, địch triệu tập lớp sĩ quan Thủ Đức đến làm thủ tục trước một tuần ở trại Bảo Chính đoàn, số đến chỉ được non nửa số huy động. Trong dịp này, Hội Học sinh kháng chiến Hà Nội có sáng kiến rải truyền đơn bằng cách cho vào quang gánh móc sau tàu điện khi tàu chạy, truyền đơn được rải suốt từ ngã tư Trần Hưng Đạo đến Bờ Hồ, hoặc tung truyền đơn vào xe chở lính trước cửa rạp tháng Tám khi xe lăn bánh. Đợt bắt lính tháng 12/1952, đã có tới 200 học sinh, sinh viên bỏ trốn, một số ra vùng tự do được Thành Đoàn bố trí học tập, sau đó một số đi bộ đội, một số làm cán bộ, hoặc có trường hợp lại trở về hoạt động nội thành.

Năm 1952, nhiều nữ sinh trường Trưng Vương (Hà Nội) cũng tích cực tham gia phong trào đấu tranh chống bắt lính. Các nữ sinh chia nhau thành từng nhóm nhỏ, đến từng gia đình có thanh niên sắp bị địch tập trung đưa đi lính để trao thư khuyên nhủ, động viên thanh niên không mắc mưu của địch, không đi lính cho địch.

Tại các trại huấn luyện quân sự của thực dân Pháp ở Bắc Ninh, Quảng Yên, Đà Lạt, Sóc Trăng… thanh niên học sinh, sinh viên bị bắt lính đã tìm mọi cách phá rối trật tự trong trại hoặc trốn khỏi trại.

Bị thất bại nặng nề trên các chiến trường, quân số thiếu hụt nghiêm trọng, thực dân Pháp và đế quốc Mỹ quyết định trong năm 1953 khẩn trương xây dựng một lực lượng nguỵ quân mới gồm 54 tiểu đoàn “khinh quân” và đến năm 1954 phát triển lên gấp đôi tức là khoảng hơn 100 tiểu đoàn, đưa quân số quân ngụy lên đến 29 vạn tên và dự tính xây dựng lực lượng cơ động là 7 sư đoàn gồm 27 binh đoàn. Xương sống của kế hoạch Nava chính là vấn đề phát triển ngụy quân với tốc độ và quy mô lớn để có thể đảm đương nhiệm vụ chiếm đóng thay thế hoàn toàn cho quân Âu – Phi được tổ chức lại thành những binh đoàn chủ lực với nhiệm vụ tác chiến cơ động.

Ngày 1/8/1953, Bảo Đại tiếp tục ký sắc lệnh tổng động viên 100.000 người nhập ngũ. Ngày 21/8/1953, lại ký tiếp sắc lệnh thứ 2 động viên 100.000 người nữa.

Trong ngày 15/12/1953, Thủ hiến bù nhìn Bắc Việt là Nguyễn Văn Tâm ra luôn 5 Nghị định gọi nhập ngũ tất cả học sinh, sinh viên, thanh niên sinh từ ngày 1/1/1929 đến ngày 31/12/1933, động viên đợt đầu 600 người và gọi những người hết hạn, miễn, hoãn phải nhập ngũ…

Địch đã dùng mọi thủ đoạn từ dụ dỗ, lừa bịp đến vây bắt, cưỡng bức thanh niên, học sinh, sinh viên, công nhân, công chức đưa vào lính.

Các tổ chức Đoàn Thanh niên Cứu quốc trong vùng địch tạm chiếm đã tăng cường công tác tuyên truyền, vận động thanh niên, công nhân, học sinh, sinh viên, viên chức nhận rõ âm mưu, thủ đoạn của kẻ thù để không mắc mưu giặc, phản bội lại Tổ quốc.

Học sinh, sinh viên chống lại việc luyện tập quân sự trong các trường học và bí mật huỷ hoại các loại vũ khí địch đưa ra để luyện tập. ở Huế, học sinh trường Khải Định (Quốc Học) phá nhiều cuộc vây bắt lính của địch. Học sinh Huế căng khẩu hiệu “Đả đảo quân sự hoá học sinh” ở các trường; rải truyền đơn chống luyện tập quân sự, chống bắt lính ở nhiều nơi trong thành phố, có học sinh còn dùng vật nhọn như đinh viết lên bảng đen khẩu hiệu: “Không đi lính cho giặc” – “Bạn cầm súng bắn vào ai?”, khi xoá bảng khẩu hiệu hiện rõ. Sau đó Ban Giám hiệu nhà trường phải cho sơn lại bảng.

Ngày 27/5/1953, ở Hải Phòng, sau khi địch bắn chết anh thanh niên công nhân Nguyễn Bá Vượng vì kiên quyết không chịu để địch bắt lính, hơn 2 vạn đồng bào và học sinh đã biểu tình tuần hành chống bắt lính và phản đối hành động dã man của thực dân Pháp, sự kiện đó đã gây tiếng vang lớn trong cả nước.

Từ cuối năm 1951 đến đầu năm 1952, ở miền Bắc có 400.000 gia đình tham gia đấu tranh chống bắt lính, 18.638 nguỵ binh đòi giải ngũ, hàng vạn lính nguỵ ra hàng hoặc bỏ trốn về với gia đình.
Trước sự phát triển mạnh mẽ của phong trào học sinh, sinh viên trong cả nước từ vùng tự do đến vùng tạm chiếm, ngày 8/7/1951, Hội nghị cán bộ học sinh, sinh viên toàn quốc lần thứ 2 được triệu tập tại chiến khu Việt Bắc.

Hội nghị đã thông qua Đề án công tác sinh viên trong giai đoạn mới và kiện toàn Ban Thường vụ Trung ương Hội Sinh viên Việt Nam. Đồng chí Nguyễn Thương được cử làm Chủ tịch Hội. Ban Thường vụ Trung ương Hội ra thông báo gửi đến các trường đại học, cao đẳng về việc phát động phong trào thi đua phấn đấu trở thành “Sinh viên gương mẫu”. Trong thời gian này, Hội nghị giáo dục toàn quốc cũng được tiến hành tại chiến khu Việt Bắc. Ban Thường vụ Trung ương Hội Sinh viên đã cử đại biểu tham gia hội nghị. Trong bức thư gửi Hội nghị Giáo dục toàn quốc (7/1951), Chủ tịch Hồ Chí Minh căn dặn: “Đại hội nên chú ý làm thế nào cho việc giáo dục liên hệ với đời sống nhân dân, với công cuộc kháng chiến và kiến quốc của dân tộc”

Hội nghị cán bộ học sinh, sinh viên toàn quốc lần thứ 2 và Hội nghị ngành giáo dục toàn quốc đã biểu dương tấm gương yêu nước, kiên cường của học sinh Nguyễn Quốc Ân. Tháng 3/1951, hiệu trưởng trường trung học Tán Thuật (thị xã Hưng Yên) theo lệnh bọn địch bắt học sinh làm bài văn ca ngợi bọn bù nhìn vào dịp kỷ niệm một năm ngày thực dân Pháp trao trả độc lập giả hiệu cho Bảo Đại. Anh Nguyễn Quốc Ân đã dũng cảm lên án bọn bán nước và cướp nước, vạch mặt sự lừa bịp “trao trả độc lập” cho ông vua bù nhìn. Qua bài văn của mình, anh ca ngợi Chủ tịch Hồ Chí Minh và Chính phủ kháng chiến. Nguyễn Quốc Ân bị địch bắt và tra tấn dã man để “tìm cơ sở Việt minh”. Anh nói thẳng vào mặt kẻ thù: “Tôi nói sự thật”. Nguyễn Quốc Ân đã bị địch sát hại nhưng tinh thần yêu nước của anh mãi mãi ngời sáng.

Để khắc phục những khó khăn về kinh tế, tài chính và đáp ứng những yêu cầu mới của cuộc kháng chiến, năm 1952, Đảng và Chính phủ phát động cuộc vận động tăng gia sản xuất, thực hành tiết kiệm.

Phong trào sản xuất nông nghiệp trở thành một phong trào quần chúng mạnh mẽ và rộng khắp. Đoàn viên, hội viên, thanh niên ở nông thôn nêu cao tinh thần yêu nước, khắc phục khó khăn để sản xuất. Đoàn viên, hội viên thanh niên ở các cơ quan, bộ đội, xí nghiệp, trường học đều hăng hái tham gia sản xuất lương thực và thực phẩm. Phong trào sản xuất tập thể của nông dân ở vùng tự do và vùng du kích như tổ đổi công, tổ vần công được phát triển. Công nhân cung cấp cho nông dân hàng vạn lưỡi cày, lưỡi cuốc và tổ chức những tổ lưu động đi sửa chữa dụng cụ cho nông dân.

ở vùng sau lưng địch, đoàn viên, hội viên, thanh niên đi đầu trong đấu tranh chống địch để sản xuất và bảo vệ sản xuất. Các cuộc đấu tranh chính trị chống giặc bắn đại bác ra đồng, cho xe lội nước quần nát lúa, đòi bồi thường thiệt hại về người và của liên tiếp nổ ra ở nhiều nơi. Đoàn thanh niên có phong trào “Lúa xanh quanh vành đai trắng”, thanh niên dũng cảm cày cấy, gặt hái ngay trong tầm pháo đạn của địch.

Kết quả về sản xuất lương thực ở vùng tự do và vùng căn cứ du kích năm 1953, chỉ tính từ Liên khu IV trở ra đạt 2 triệu 758 nghìn tấn thóc và 650.850 tấn hoa màu. Liên khu V sản xuất cung cấp lương thực cho 2,5 triệu người và còn dành một phần tiếp tế cho cực Nam Trung Bộ.

Trong ngành quân giới và quân y, đoàn viên, hội viên thanh niên đã có nhiều sáng kiến về tăng năng suất và giải quyết khó khăn về kỹ thuật, nguyên liệu, vật liệu để đảm bảo kế hoạch sản xuất vũ khí và thuốc men. Tiêu biểu cho tinh thần say mê nghiên cứu, chế tạo thuốc chống bệnh sốt rét rừng là dược sĩ trẻ Lê Quang Toàn. Công trình của anh được Chính phủ tặng thưởng Huân chương lao động và danh hiệu chiến sĩ thi đua toàn quốc. Lê Quang Toàn là uỷ viên Ban Chấp hành Liên đoàn Thanh niên Việt Nam.

Trong ngành công nghiệp, đoàn viên, hội viên, thanh niên dấy lên phong trào thi đua học tập tấm gương lao động quên mình phục vụ kháng chiến của người thợ trẻ Cao Viết Bảo. Anh là uỷ viên Ban Chấp hành Liên đoàn Thanh niên Việt Nam.

Trong các lực lượng vũ trang, phong trào thi đua lập công sôi nổi rộng khắp. Ngày 12/4/1952, Quân uỷ Trung ương và Bộ Quốc phòng tổ chức Hội nghị thi đua trong các lực lượng vũ trang, 50 chiến sĩ trẻ của quân đội được tặng danh hiệu Chiến sĩ thi đua toàn quốc.

Ngày 21/02/1952, tại Việt Bắc, Trung ương Đoàn và Liên đoàn Thanh niên Việt Nam tổ chức Hội nghị chiến sĩ thi đua đội Thanh niên xung phong công tác Trung ương.

Hội nghị tuyên dương 200 cá nhân gương mẫu ở các phân đội, 27 chiến sĩ thi đua cấp liên phân đội và 7 chiến sĩ thi đua toàn đội. Vũ Viết Thân và Phạm Thị Thành được bầu đi dự Hội nghị chiến sĩ thi đua toàn quân và toàn quốc. Hội nghị nêu cao quyết tâm thực hiện những lời dạy bảo của Bác Hồ.

Ngày 01/5/1952, tuổi trẻ cả nước hướng về Đại hội Chiến sĩ thi đua và Cán bộ gương mẫu toàn quốc lần thứ nhất khai mạc trọng thể tại Việt Bắc. Dự đại hội có 154 chiến sĩ mà hầu hết là tuổi thanh niên, tiêu biểu cho các ngành công, nông, binh và lao động trí óc toàn quốc.

Chủ tịch Hồ Chí Minh, đồng chí Trường Chinh, đồng chí Tôn Đức Thắng và nhiều vị lãnh đạo khác của Đảng, Chính phủ đã tới dự.

Trong diễn văn khai mạc Đại hội, Chủ tịch Hồ Chí Minh phân tích sâu sắc mục đích và nội dung của phong trào thi đua yêu nước và chỉ rõ thi đua là đoàn kết, là yêu nước một cách thiết thực và tích cực, là giành độc lập, tự do, góp phần giữ gìn hoà bình, dân chủ thế giới, là cải tạo con người. Người căn dặn các cán bộ và chiến sĩ phát huy hơn nữa tinh thần gương mẫu, đẩy mạnh phong trào thi đua yêu nước nhằm thực hiện thắng lợi khẩu hiệu “Người người thi đua, ngành ngành thi đua, ta nhất định thắng, địch nhất định thua”.

Đại hội đã tôn vinh 3 Anh hùng lao động Ngô Gia Khảm, Trần Đại Nghĩa, Hoàng Hanh và 4 Anh hùng quân đội Cù Chính Lan (truy tặng), La Văn Cầu, Nguyễn Thị Chiên, Ngô Quốc Trị cùng các chiến sĩ tiêu biểu như Cao Viết Bảo, Giáp Văn Khương, Vũ Viết Thân, Phạm Thị Thành… đó là 7 Anh hùng đầu tiên tiêu biểu cho phong trào thi đua yêu nước của tuổi trẻ và nhân dân ta.

Những thắng lợi của cuộc kháng chiến về chính trị, quân sự, kinh tế… tạo điều kiện thuận lợi cho công tác văn hoá, giáo dục phát triển nhanh chóng và vững chắc.

Từ Cách mạng Tháng Tám đến năm 1950 đã có 14 triệu người thoát nạn mù chữ. Từ năm 1950 đến tháng 9/1953, có 10.450 lớp bổ túc văn hoá gồm 335.946 học viên. Một số trường phổ thông lao động ở Trung ương và các tỉnh được thành lập, thu hút 1.467 cán bộ công, nông, binh và chiến sĩ thi đua theo học.Các trường phổ thông được mở ở vùng giải phóng. Ngay trong những năm kháng chiến đầy gian khổ và khó khăn, Trung ương Đảng, Chính phủ và Hồ Chủ tịch luôn quan tâm đến việc đào tạo nhân tài và đội ngũ cán bộ có trình độ văn hoá, khoa học kỹ thuật cao; Người đã ra Chỉ thị hình thành các trường đại học trong vùng giải phóng và chăm sóc chu đáo cũng như tạo điều kiện cho lớp trí thức trẻ học tập, rèn luyện. Từ năm 1951 đến năm 1953 có 7.000 cán bộ kỹ thuật được đào tạo. Đến năm 1954 đã có 3.400 học sinh được đưa đi học ở nước ngoài.

Một sự kiện chính trị quan trọng trong phong trào học sinh, sinh viên thời kỳ kháng chiến chống Pháp là Hội nghị cán bộ học sinh, sinh viên toàn quốc lần thứ 3. Hội nghị được tổ chức ngày 15/6/1952. Gần 300 đại biểu từ mọi miền đất nước đã về Việt Bắc tham gia Hội nghị. Hội nghị đã thông qua nhiều đề án công tác quan trọng về xây dựng tổ chức Đoàn Thanh niên Cứu quốc trong nhà trường – lực lượng nòng cốt trong phong trào học sinh, sinh viên; xây dựng Hội Sinh viên Việt Nam, xây dựng các hiệu đoàn học sinh ở trường trung học. Thay mặt Ban Thường vụ Trung ương Đảng, đồng chí Hoàng Quốc Việt đã truyền đạt đường lối kháng chiến và xây dựng nền giáo dục mới của nước ta, đặc biệt là chủ trương đào tạo cán bộ chuẩn bị đội ngũ những người có đức, có tài để phục vụ cho đất nước khi kháng chiến thành công. Đồng chí nhiệt liệt biểu dương những thành tích của phong trào học sinh, sinh viên.

Tại Hội nghị, đoàn học sinh, sinh viên đã trình bày bản đề án công tác 10 điểm nhằm tổ chức, động viên toàn thể sinh viên tích cực tham gia học tập và phục vụ kháng chiến, trong đó nhấn mạnh đến việc phát động phong trào chống địch bắt lính trong thanh niên, học sinh, sinh viên.

Hội nghị cũng thông qua đề án về duy trì và phát triển mạnh mẽ hơn nữa phong trào phấn đấu trở thành học sinh, sinh viên gương mẫu.

Hội nghị nghe báo cáo điển hình của học sinh Hà Học Hợi và sinh viên Nguyễn Đình Tứ và nhất trí tặng danh hiệu “Học sinh gương mẫu” cho anh Hà Học Hợi và “Sinh viên gương mẫu” cho anh Nguyễn Đình Tứ

Ra đời trong những năm 1950, báo chí của Liên đoàn Thanh niên Việt Nam và Đoàn Thanh niên cứu quốc đã góp phần tích cực vào công tác giáo dục chính trị, tư tưởng cho thanh niên. Các tờ Tiền phong, Xung phong, Sức trẻ, Thanh niên Việt Nam, Thanh niên Cứu quốc luôn là người bạn đồng hành của thanh niên trong những ngày kháng chiến gian khổ, ác liệt mà vẫn lạc quan, tin tưởng ở thắng lợi cuối cùng. Báo chí của Đoàn và Liên đoàn Thanh niên Việt Nam đã giúp cho đông đảo bạn trẻ đến với lý tưởng cách mạng, nâng cao lòng tự tôn, tự hào dân tộc để sẵn sàng chiến đấu, hy sinh vì độc lập tự do của Tổ quốc. Trên các trang báo thường xuyên nêu lên những tấm gương chiến đấu ngoan cường, hy sinh oanh liệt của biết bao thanh niên khắp các miền Tổ quốc, những điển hình cá nhân và tập thể gương mẫu trong lao động sản xuất, trong dân công, thanh niên xung phong phục vụ tiền tuyến.

*
*   *

Cuộc kháng chiến của nhân dân ta chống thực dân Pháp và can thiệp Mỹ ngày càng có tiếng vang trên trường quốc tế, tranh thủ được sự đồng tình, ủng hộ của các nước xã hội chủ nghĩa và phong trào yêu chuộng hoà bình trên thế giới. Đặc biệt từ năm 1950, việc chính phủ Liên Xô và các nước dân chủ nhân dân lần lượt chính thức công nhận và đặt quan hệ ngoại giao với Chính phủ ta là một thắng lợi to lớn về chính trị đối với công cuộc kháng chiến của nhân dân ta. Thực hiện đường lối đối ngoại của Đảng, hoạt động quốc tế của Liên đoàn Thanh niên thời kỳ này là thắt chặt mối quan hệ mật thiết giữa phong trào thanh niên Việt Nam và phong trào thanh niên Đông Dương với phong trào thanh niên thế giới. Liên đoàn Thanh niên Việt Nam thường xuyên giáo dục tinh thần quốc tế vô sản cho thanh niên, tích cực phối hợp với tuổi trẻ Xô viết và thanh niên các nước xã hội chủ nghĩa, các nước dân chủ nhân dân, với thanh niên và nhân dân Pháp yêu chuộng hoà bình, chống cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam. Tháng 7/1947, Đại hội liên hoan thanh niên và sinh viên thế giới lần thứ nhất được tổ chức tại Praha (Thủ đô Cộng hoà Séc ngày nay). Do hoàn cảnh đang kháng chiến nên thanh niên Việt Nam không có đoàn đại biểu từ trong nước đến dự Festival nhưng một thanh niên Việt Nam ở Praha được mời tham dự và anh đã mang lá cờ đỏ sao vàng chạy quanh sân vận động trong tiếng hô vang “Việt Nam, Việt Nam”.

Thu - Đông năm 1947, được sự chỉ đạo của Trung ương, Liên đoàn Thanh niên Việt Nam Nam Bộ đã cử một đoàn đại biểu thanh niên gồm các đồng chí Nguyễn Duy Cương, Huỳnh Kim Trương, Lê Tâm cùng Tổng lãnh sự Việt Nam Dân chủ Cộng hoà tại ấn Độ Nguyễn Đức Quỳ đi dự Hội nghị thanh niên và sinh viên châu á tổ chức tại Cancútta (ấn Độ), dưới sự bảo trợ của Liên đoàn Thanh niên Dân chủ thế giới. Tại Hội nghị này, đoàn đại biểu thanh niên Việt Nam vinh dự được giao châm lửa đốt hình nộm chủ nghĩa đế quốc.

Cũng vào thời gian này, Liên đoàn Thanh niên Việt Nam Nam Bộ đã tiếp đoàn đại biểu Thanh niên Dân chủ Thượng Hải (Trung Quốc) sang Sài Gòn bằng đường công khai. Ta đã đưa bạn vào thăm chiến khu Đồng Tháp Mười và dự sinh hoạt câu lạc bộ thanh niên ở Đốc Bình Kiều.

Năm 1949, Đại hội liên hoan thanh niên và sinh viên thế giới lần thứ hai được tổ chức tại Budapest (Hungary). Đại hội tiến hành từ ngày 14/7 đến 28/8/1949 với sự tham gia của 20.000 đại biểu của 82 nước, dưới khẩu hiệu hành động “Thanh niên thế giới đoàn kết lại vì một nền hoà bình bền vững, vì dân chủ, độc lập dân tộc và vì một tương lai tươi sáng”

Đoàn đại biểu thanh niên và sinh viên Việt Nam tham gia Festival lần thứ hai có 15 người, do đồng chí Nguyễn Thương, Chủ tịch Hội Sinh viên Việt Nam dẫn đầu. Đoàn đại biểu thanh niên và sinh viên Việt Nam tham gia các chương trình hoạt động và đã tổ chức nhiều cuộc gặp mặt với các đoàn đại biểu thanh niên Pháp và một số nước khác. Bằng những câu chuyện sinh động trong cuộc kháng chiến thần thánh của nhân dân ta, các đại biểu thanh niên Việt Nam đã trao đổi để các đại biểu thanh niên thế giới hiểu rõ về cuộc chiến đấu chính nghĩa của quân và dân Việt Nam chống thực dân Pháp xâm lược, nhất là làm cho các bạn thanh niên Pháp hiểu thanh niên và nhân dân Việt Nam, hiểu chính sách của Chủ tịch Hồ Chí Minh, phân biệt rõ giữa chủ nghĩa thực dân Pháp và nhân dân cũng như thanh niên Pháp, để từ đó càng đồng tình và ủng hộ cuộc kháng chiến chính nghĩa của nhân dân Việt Nam.

Tháng 8/1951, Đại hội Liên hoan thanh niên và sinh viên thế giới lần thứ 3 được tổ chức từ ngày 5 đến ngày 20/8 tại Berlin, Thủ đô nước Cộng hoà Dân chủ Đức (cũ). Có 26.000 đại biểu từ 104 nước ở khắp các châu lục đã tới tham dự.

Khẩu hiệu hành động của Festival lần thứ 3 là: “Thanh niên hãy đoàn kết chống hiểm hoạ một cuộc chiến tranh mới, vì một nền hoà bình trên thế giới”. Đoàn đại biểu thanh niên, sinh viên Việt Nam tham dự Festival lần thứ 3 có 30 người, do anh Hoàng Tuấn trong Ban Lãnh đạo Liên đoàn Thanh niên Việt Nam dẫn đầu. Anh Cao Ngọc Thọ, Uỷ viên Ban Thường vụ Trung ương Đoàn Thanh niên Cứu quốc làm Phó trưởng đoàn. Các thành viên trong đoàn là những thanh niên và sinh viên tiêu biểu như anh La Văn Cầu, chị Nguyễn Thị Chiên, anh Nguyễn Đình Thi, Lưu Hữu Phước, Diệp Minh Châu…

Anh La Văn Cầu thay mặt cho đoàn Việt Nam tham gia Uỷ ban điều hành Đại hội. Trong các cuộc mít tinh, hội thảo, đoàn Việt Nam luôn được mời tham gia Chủ tịch đoàn.

Hoạ sĩ Diệp Minh Châu từ bưng biền Nam Bộ vượt qua chặng đường dài hơn 2000 km chủ yếu là đi bộ 6 tháng trời để đến Việt Bắc, tham gia đoàn đại biểu. Anh mang theo bức chân dung Bác Hồ kính yêu do anh vẽ bằng máu của mình. Bức chân dung đã được đưa đến Berlin, gây xúc động cho hàng nghìn đại biểu thanh niên quốc tế tham dự Festival.

Thanh niên các nước thuộc địa Pháp, như Angiêri, Marốc, Tuynidi, Mali, Sênêgan, Cônggô, Mađagasca... đặc biệt chú ý trao đổi kinh nghiệm chiến đấu với các đại biểu thanh niên Việt Nam.

Đoàn đã gặp gỡ, trao đổi, cám ơn các bạn bè đã chí tình ủng hộ cuộc chiến đấu của thanh niên và nhân dân Việt Nam. Đặc biệt, Đoàn đã gặp đoàn đại biểu thanh niên Pháp, cám ơn các chiến sĩ bảo vệ hoà bình Pháp đã đấu tranh phản đối Chính phủ phản động Pháp xâm lược Việt Nam như anh hùng Hăngri Máctanh, một thuỷ thủ vì phản chiến trong hải quân đã bị Toà án binh Pháp kết án tù. Đoàn đã gặp và cám ơn chị Raymông Đien, một chiến sĩ hoà bình xuất sắc đã anh dũng nằm ngang đường xe lửa để ngăn cản một chuyến xe chở vũ khí sang Việt Nam...

Những đóng góp thành công của Đoàn Đại biểu Thanh niên và sinh viên Việt Nam tại Festival lần thứ 3 được Bác Hồ và Trung ương Đảng đánh giá cao. Bác Hồ đã dành thời gian tiếp khi đoàn về đến căn cứ kháng chiến và mời cơm thân mật một số đại biểu.

Khi nghe nhắc đến việc các đại biểu thanh niên Việt Nam đã được Chủ tịch nước Cộng hoà Dân chủ Đức Vinhem Pích tiếp và gửi lời thăm sức khoẻ của Người, Bác Hồ rất cảm động, Bác nói:

- Ngày xưa lúc còn thanh niên, Bác sang Nga, sang Đức hoạt động cùng bác Vinhem Pích trong phong trào Cộng sản Quốc tế. Các cháu gặp được bác Vinhem Pích là rất quý.

Tháng 8/1953, hơn 30.000 đại biểu từ 111 nước đã đến Bucarest (Rumani) tham dự Đại hội Liên hoan thanh niên và sinh viên thế giới lần thứ 4, với khẩu hiệu hành động “Không, thế hệ chúng ta sẽ không phục vụ cho chết chóc và huỷ diệt”

Đoàn đại biểu thanh niên và sinh viên Việt Nam dự Festival 4 có 40 người, do anh Vũ Quang, Uỷ viên Ban Thường vụ Trung ương Đoàn và Liên đoàn Thanh niên Việt Nam cùng anh Nguyễn Khánh, Bí thư Tỉnh Đoàn Thái Nguyên dẫn đầu. Đoàn gồm đại biểu tiêu biểu cho các lĩnh vực hoạt động của thanh niên, sinh viên Việt Nam.

Tại Festival lần này, Đoàn đại biểu Việt Nam vô cùng cảm động gặp lại chị Raymông Đien và nhất là được gặp mặt anh Hăngri Máctanh vừa được thả tự do đã kịp đến dự Đại hội. Cùng với 2 chiến sĩ bảo vệ hoà bình, đoàn đại biểu thanh niên Pháp đã nói lên quyết tâm của thanh niên và nhân dân Pháp luôn đứng bên cạnh cuộc đấu tranh chống xâm lược của nhân dân và thanh niên Việt Nam.

Cũng tại cuộc gặp mặt này, đoàn đại biểu thanh niên Pháp đã trao tặng cho đoàn Việt Nam một kỷ vật vô giá. Đó là bức ảnh Bác Hồ phát biểu tại Đại hội Tours năm 1920, khi những người cộng sản Pháp quyết định tách ra khỏi Đảng Xã hội, thành lập Đảng Cộng sản Pháp. Các Đảng viên Cộng sản Pháp và các đại biểu thanh niên Pháp coi Hồ Chí Minh là một trong những sáng lập viên của Đảng Cộng sản Pháp.

Về nước, khi trực tiếp báo cáo với Bác kết quả hoạt động của đoàn đại biểu thanh niên, sinh viên Việt Nam tại Festival 4, đồng chí Vũ Quang đã trân trọng kính chuyển bức ảnh lịch sử của đoàn đại biểu thanh niên Pháp tặng đoàn đại biểu thanh niên Việt Nam. Bác Hồ rất xúc động khi được thấy lại hình ảnh của mình tại Đại hội Tours hơn 30 năm về trước vẫn được các đồng chí Pháp giữ gìn trọn vẹn. Bác đã gửi một bức thư cho thanh niên Pháp. Bức thư có đoạn: “...Các cháu thanh niên Việt Nam đi dự Đại hội Liên hoan Bucaret về kể lại cho chúng tôi nghe những cử chỉ thân ái thật là cảm động giữa các bạn thanh niên Pháp - Việt. Chúng tôi rất cảm kích trước tấm lòng của các bà mẹ và các nữ thanh niên Pháp đã gửi cho các bà mẹ và nhi đồng Việt Nam những món quà xinh và những chiếc ảnh đẹp... Bọn thực dân Pháp và bọn can thiệp Mỹ là những kẻ duy nhất phải chịu trách nhiệm về cuộc chiến tranh phi nghĩa này, nó đã gây nên biết bao điều khổ cực và tang tóc cho nhân dân Pháp cũng như nhân dân Việt Nam. Cho nên các bạn và chúng tôi, chúng ta phải sát cánh cùng nhau đấu tranh kiên quyết để thắng kẻ thù chung của chúng ta...Hoan nghênh các bạn thanh niên Pháp đang đấu tranh cho hoà bình và dân chủ..."

Trong suốt thời kỳ kháng chiến chống Pháp, Liên đoàn Thanh niên Việt Nam luôn gắn liền các hoạt động của mình với phong trào thanh niên và các tổ chức thanh niên, sinh viên tiến bộ trên thế giới.

Qua các hoạt động đối ngoại theo đường lối của Bác Hồ, của Đảng và của Nhà nước, tuổi trẻ Việt Nam đã góp phần làm cho tuổi trẻ trên thế giới hiểu rõ cuộc chiến tranh chính nghĩa của thanh niên và nhân dân ta, từ đó tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ và giúp đỡ của bạn bè năm châu, từng bước cô lập kẻ thù, góp phần đắc lực vào thành công chung trong hoạt động đối ngoại rộng lớn của Đảng và Nhà nước ta.

*
*   *

Tháng 9/1953, giữa rừng đại ngàn Việt Bắc, Bộ Chính trị Trung ương Đảng ta họp bàn kế hoạch tác chiến Đông Xuân 1953-1954. Theo tư tưởng chỉ đạo của Hồ Chủ tịch: “Địch muốn chủ động, ta buộc chúng phải lâm vào bị động. Địch muốn tập trung cơ động thì ta có kế hoạch buộc chúng phải phân tán ra mà đánh”. Bộ Chính trị chủ trương đưa bộ đội lên Tây Bắc để buộc địch phải phân tán lực lượng, tạo ra thời cơ để ta tiêu diệt sinh lực chúng, mở rộng vùng giải phóng, đẩy mạnh hoạt động ở chiến trường sau lưng địch, phối hợp các chiến trường Đông Dương, chuẩn bị điều kiện tiến tới giải phóng đồng bằng Bắc Bộ.

Thời gian này quân chủ lực cơ động của địch đã lên đến 100 tiểu đoàn bộ binh. Chúng tập trung gần 50% lực lượng và hơn 90% lực lượng cơ động trên toàn chiến trường Đông Dương ở Bắc Bộ. Với kế hoạch Nava nhằm tiêu diệt phần lớn chủ lực của quân đội ta trong vòng 18 tháng, giành một thắng lợi chiến lược quyết định, buộc chính phủ ta phải đàm phán theo những điều kiện do Pháp đề ra, nhằm kết thúc chiến tranh mà vẫn duy trì được quyền lợi của Pháp.

Để đối phó với lực lượng ta ở Tây Bắc, ngày 20/11/1953, quân đội Pháp vội vã cho 6 tiểu đoàn nhảy dù chiếm Điện Biên Phủ. Đến đầu tháng 3/1954 địch tăng quân ở Điện Biên Phủ lên 17 tiểu đoàn, 10 đại đội, ngoài ra còn 3 tiểu đoàn Pháp, 1 tiểu đoàn công binh, 1 đại đội xe tăng, 1 đơn vị vận tải 200 xe, 1 phi đội không quân thường trực 12 máy bay.

Thực dân Pháp và đế quốc Mỹ chủ trương xây dựng Điện Biên Phủ thành một tập đoàn cứ điểm mạnh, một “pháo đài bất khả xâm phạm”, sẵn sàng nghiền nát chủ lực đối phương.

Ngày 6/12/1953, Bộ Chính trị thông qua kế hoạch tác chiến của Tổng Quân uỷ và quyết định mở Chiến dịch Điện Biên Phủ.

Mọi công tác chuẩn bị cho Chiến dịch Điện Biên Phủ được khẩn trương tiến hành từ đầu tháng 12/1953. Ngày 10/12/1953, quân ta tấn công địch ở Lai Châu, mở đầu cuộc tiến công chiến lược Đông - Xuân 1953 – 1954.

Hạ tuần tháng 12/1953, Bộ Chính trị chỉ định Đảng uỷ mặt trận và thành lập Bộ Chỉ huy chiến dịch do Đại tướng Võ Nguyên Giáp làm Bí thư Đảng uỷ, kiêm Chỉ huy trưởng chiến dịch.

Trước khi lên đường, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đến chào Hồ Chủ tịch, Bác nói: “Tổng tư lệnh ra mặt trận, “Tướng quân tại ngoại”. Trao cho chú toàn quyền quyết định"…và Bác không quên dặn kỹ: “Trận này rất quan trọng, phải đánh cho thắng. Chắc thắng mới đánh, không chắc thắng không đánh”

Ngày 5/1/1954, Đại tướng Võ Nguyên Giáp cùng Sở Chỉ huy tiền phương Bộ Tổng tư lệnh lên đường ra mặt trận.

Toàn quân và nhân dân ta quyết tâm thực hiện Chỉ thị của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Trong thư gửi đồng chí Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Tư lệnh chiến dịch, Người viết: “Chiến dịch này là một chiến dịch rất quan trọng, không những về quân sự mà cả về chính trị, không những đối với trong nước mà đối với quốc tế. Vì vậy, toàn dân, toàn quân, toàn Đảng phải tập trung hoàn thành cho kỳ được”

Ngày 22/12/1953, Bác Hồ trao cờ “Quyết chiến quyết thắng” cho quân đội, động viên các chiến sĩ thi đua giết giặc lập công.

Với khẩu hiệu “Tất cả cho tiền tuyến, tất cả để chiến thắng” nhằm tiêu diệt toàn bộ quân địch ở Điện Biên Phủ, nhân dân và thanh niên ở vùng tự do Việt Bắc, Liên khu III, Liên khu IV, vùng mới giải phóng Tây Bắc đến vùng du kích và căn cứ du kích đồng bằng Bắc Bộ, dồn sức người, sức của cho chiến dịch.

Cuộc chiến đấu để mở đường tiếp tế, vận tải, bảo đảm giao thông thông suốt diễn ra khẩn trương, quyết liệt ngay từ những ngày đầu chuẩn bị cho đến khi kết thúc chiến dịch.

Hàng chục vạn chiến sĩ dân công mà đại bộ phận là thanh niên vượt qua bom đạn địch, chuyển lương thực và đạn dược cho bộ đội đánh giặc, 261.461 dân công với trên 18.301.570 ngày công đã tham gia phục vụ chiến dịch. Hơn 27.400 tấn gạo đã được chuyển lên mặt trận Điện Biên Phủ.

Theo Chỉ thị của Hồ Chủ tịch, Đội Thanh niên xung phong công tác Trung ương hợp nhất với Đội Thanh niên xung phong và đến tháng 1/1954, Đội chính thức mang tên Đoàn thanh niên xung phong Trung ương do đồng chí Vũ Kỳ làm đoàn trưởng. Đoàn thanh niên xung phong tham gia phục vụ Chiến dịch Điện Biên Phủ. Phối hợp với các đơn vị công binh, thanh niên xung phong anh dũng mở đường và phá bom nổ chậm của địch, bảo đảm mạch máu giao thông đưa hàng lên mặt trận. Hàng nghìn kilômét đường được thanh niên xung phong xây dựng và sửa chữa để phục vụ chiến dịch.

Tiêu biểu cho tinh thần lao động quên mình, hy sinh anh dũng để phá bom nổ chậm, cứu xe, bảo vệ hàng, bảo vệ những con đường xung yếu nhất lên Điện Biên là các chiến sĩ thanh niên xung phong Trịnh Văn Huyền, Nguyễn Tiến Thụ. Trịnh Văn Huyền không quản nguy hiểm xông vào lửa đạn cứu xe, cứu đạn; Nguyễn Tiến Thụ bị bom vùi 4 lần, ngất đi nhưng khi tỉnh lại vẫn tiếp tục làm nhiệm vụ. Sau hoà bình, Trịnh Văn Huyền được cử tham gia đoàn đại biểu thanh niên và sinh viên Việt Nam đi dự Đại hội Liên hoan thanh niên và sinh viên thế giới lần thứ 5 họp tại Vácsava (Ba Lan).

Do đạt được nhiều thành tích trong phục vụ Chiến dịch Điện Biên Phủ, Đoàn Thanh niên xung phong đã được Nhà nước tặng thưởng Huân chương Kháng chiến hạng Nhất và 60 huân chương các loại cho các tập thể và cá nhân xuất sắc trong chiến dịch.

Trong cao trào phục vụ chiến dịch, thanh niên cùng toàn dân ta lập nên thành tích kỳ lạ về vận tải mà kẻ thù không sao tưởng tượng nổi. Hầu như tất cả các phương tiện vận chuyển đều được huy động, vừa tận dụng phương tiện thô sơ, vừa tranh thủ phương tiện cơ giới để bảo đảm cung cấp vũ khí, lương thực cho chiến dịch. Hầu hết ô tô vận tải được đưa ra phục vụ chiến dịch với 628 xe lăn bánh liên tục suốt ngày đêm. Bộ đội vận tải nêu cao tinh thần dũng cảm, khắc phục khó khăn, xe chạy không bật đèn trong đêm, vượt qua bom nổ chậm…bảo đảm một khối lượng lớn vũ khí, đạn dược cho chiến dịch. Các đoàn xe đạp thồ dài hàng cây số, các đoàn thuyền và các đoàn dân công hàng chục nghìn người hướng về Điện Biên.

Kéo pháo vào trận địa là một kỳ công của thế hệ “anh bộ đội Cụ Hồ” thời chống Pháp. Những cỗ pháo nặng hàng chục tấn được các chiến sĩ kéo qua đèo cao, dốc thẳm vào trận địa an toàn. Chiến sĩ Nguyễn Văn Chức đã lấy thân mình chèn pháo để cứu pháo khỏi lao xuống vực. Anh đã hy sinh anh dũng ở tuổi 20…

5 tuyến đường mới được bí mật mở để đưa hàng trăm tấn pháo và đạn dược vào vị trí. Hình ảnh lấy thân chèn pháo của chiến sĩ Tô Vĩnh Diện đã khích lệ tinh thần chiến đấu của đồng đội. Anh được Chính phủ tặng Huân chương quân công hạng Hai và danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.

Ngày 31/1/1954, tại đồi 75 điểm cao 536 phía Bắc Điện Biên Phủ, một trung đội thuộc tiểu đoàn 542 đã đánh bật 7 đợt xung phong của 2 tiểu đoàn địch có xe tăng phối hợp. Chiến sĩ trẻ Hoàng Văn Nô, dùng lưỡi lê đâm chết 5 tên địch, được truy tặng danh hiệu “Dũng sĩ đâm lê”.

Sáng ngày 26/1/1954, tại Sở Chỉ huy Mường Phăng, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã triệu tập Đảng uỷ Mặt trận họp bàn vấn đề thay đổi phương châm, cách đánh để bảo đảm thắng lợi tuyệt đối của chiến dịch Điện Biên Phủ. Cuộc thảo luận trong Đảng uỷ diễn ra gay go, sôi nổi và cuối cùng Đảng uỷ đều nhất trí là trận đánh có thể gặp nhiều khó khăn mà chưa có biện pháp khắc phục, cần chuyển phương châm chiến dịch từ “Đánh nhanh thắng nhanh” sang “Đánh chắc tiến chắc”, quyết định hoãn cuộc tiến công, ra lệnh cho bộ đội trên toàn mặt trận lui về vị trí tập kết và kéo pháo ra. Trận quyết chiến Điện Biên Phủ được chuẩn bị lại theo phương châm "Đánh chắc, thắng chắc”. Đây chính là một nhân tố trực tiếp quyết định thắng lợi của trận Điện Biên Phủ.

Từ khi bước vào chiến cuộc Đông - Xuân, trên các chiến trường phối hợp ở Trung Lào, Hạ Lào và Bắc Tây Nguyên, ta tiêu diệt nhiều sinh lực địch, giải phóng nhiều vùng rộng lớn, buộc địch phải tiếp tục phân tán lực lượng. ở đồng bằng Bắc Bộ, Bình Trị Thiên, Cực Nam Trung Bộ và ở Nam Bộ, chiến tranh du kích phát triển mạnh chưa từng thấy, tiêu hao tiêu diệt và kiềm chế lực lượng địch, làm rối loạn hậu phương của chúng, tạo điều kiện thuận lợi cho chủ lực ta vây hãm và tiến công địch ở Điện Biên Phủ.

Đầu tháng 2 năm 1954, quân dân Liên khu V đã giải phóng Kon Tum và đặc biệt đánh bại hoàn toàn cuộc hành quân Atlăng của địch từ tháng 4/1954, làm cho Nava càng thêm lúng túng.

Đêm ngày 7/3/1954, ta tập kích thắng lợi vào sân bay Cát Bi (Hải Phòng) phá huỷ 59 máy bay địch cùng nhiều phương tiện chiến tranh của chúng. Đây là chiến thắng lớn nhất của ta với lực lượng không quân Pháp. Ta đã tiêu diệt, phá huỷ nhiều máy bay của địch, góp phần quan trọng vào chiến thắng Điện Biên Phủ lịch sử.

Khi nhận được báo cáo, Hồ Chủ tịch đã gửi điện khen và tặng đơn vị tập kích sân bay Cát Bi danh hiệu “Đoàn dũng sĩ Cát Bi”. Chính phủ tặng Huân chương Quân công hạng Nhất cho đơn vị, 32 dũng sĩ đánh sân bay Cát Bi đều được tặng thưởng Huân chương.

Đầu tháng 3/1954, việc chuẩn bị cho chiến dịch Điện Biên Phủ hoàn thành.
Ngày 11/3/1954, Hồ Chủ tịch gửi thư động viên các cán bộ, chiến sĩ tham gia chiến dịch.
Người viết:

“Các chú sắp ra trận. Nhiệm vụ các chú lần này rất to lớn, khó khăn nhưng rất vinh quang… Bác tin chắc rằng các chú sẽ phát huy thắng lợi vừa qua, quyết tâm vượt mọi khó khăn gian khổ để làm tròn nhiệm vụ vẻ vang sắp tới. Bác chờ các chú báo cáo thành tích để thưởng những đơn vị và cá nhân xuất sắc nhất.
Chúc các chú thắng to
Bác hôn các chú"

Ngày 13/3/1954, Chiến dịch lịch sử Điện Biên Phủ bắt đầu. Đợt tấn công thứ nhất ta tiêu diệt nhanh gọn 2 cứ điểm Him Lam và Độc Lập, uy hiếp và gọi hàng cứ điểm Bản Kéo. Sau 5 ngày chiến đấu quyết liệt, đợt tiến công thứ nhất kết thúc thắng lợi, cánh cửa phía Bắc tập đoàn cứ điểm được mở toang. Lần đầu tiên xuất hiện, lựu pháo 105 của ta đã bắn rất chính xác, phối hợp chặt chẽ với bộ binh tiêu diệt địch. Đại đoàn 312 có vinh dự lớn lập công đầu.

Trong đợt tấn công này, tấm gương hy sinh anh dũng của chiến sĩ trẻ Phan Đình Giót, lấy thân mình lấp lỗ châu mai, tạo điều kiện cho đơn vị xông lên tiêu diệt địch đã cổ vũ tinh thần chiến sĩ của các chiến sĩ trên toàn mặt trận. Đại đoàn pháo binh 351, một binh chủng mới ra đời đã vinh dự nhận cờ “Quyết chiến quyết thắng” của Bác Hồ.

Để chuẩn bị cho đợt tấn công thứ hai, Đại tướng Võ Nguyên Giáp cùng Đảng uỷ Mặt trận đề ra 3 nhiệm vụ cho các đơn vị:

- Nhanh chóng tiếp cận, bao vây địch bằng một hệ thống trận địa tiến công và bao vây vững chắc, trong tầm bắn, có hiệu quả của tất cả các loại pháo, súng lớn nhỏ của ta; chia cắt phân khu Hồng Cúm với phân khu Trung tâm của địch.

- Theo nguyên tắc bảo đảm chắc thắng, tiếp tục diệt thêm một số cứ điểm ở ngoại vi tập đoàn cứ điểm.

- Khống chế có hiệu quả hai sân bay Mường Thanh và Hồng Cúm; chuẩn bị đánh địch phản kích; tăng cường các hoạt động tiêu hao, quấy rối.

Trong 3 nhiệm vụ trên, xây dựng trận địa tiến công và bao vây là quan trọng nhất. Hai loại đường hào đã được xây dựng: Một là đường hào trục dùng cho việc cơ động bộ đội, cơ động pháo, vận chuyển thương binh, hình thành một đường vòng rộng bao quanh trận địa ở phân khu Trung tâm. Hai là đường hào tiếp cận của bộ binh, xuất phát từ vị trí trú quân của các đơn vị trong rừng rồi đổ ra cánh đồng, cắt ngang đường hào trục, tiến vào những vị trí địch mà ta định tiến công tiêu diệt… các loại hào phải có độ sâu 1m7, đáy hào trục rộng 1m2… Bộ đội ta phải đào hơn 200 km đường hào, các chiến sĩ phải lao động cật lực từ 14 tiếng đến 18 tiếng mỗi ngày. Việc xây dựng trận địa phải tiến hành chủ yếu vào ban đêm, đào đến đâu nguỵ trang đến đấy và phải triển khai cùng một lúc trên toàn mặt trận để phân tán sự chống phá của địch. Nhưng khi các đường hào đã vươn dài hàng chục km trên cánh đồng thì không còn cách nào che mắt được kẻ thù. Chúng đã dùng pháo binh và không quân bắn phá ngày đêm, đưa quân ra những trận địa ở gần để san lấp và gài mìn, ngăn quân ta đào tiếp. Từ đây, mỗi mét đường hào không phải chỉ đổ bằng mồ hôi mà cả bằng xương máu của các chiến sĩ.

18 giờ ngày 30/3/1954, quân ta bắt đầu mở đợt tấn công thứ hai. Nhiệm vụ của đợt tấn công này là nhằm chia cắt địch, thắt chặt vòng vây, khống chế đi đến triệt hẳn đường tiếp viện của địch, tạo điều kiện chuyển sang tổng công kích tiêu diệt toàn bộ quân địch. Đây là đợt đánh dài ngày và ác liệt nhất của chiến dịch. Quá trình bao vây chia cắt là quá trình vừa chiến đấu anh dũng vừa lao động không biết mệt mỏi của chiến sĩ ta ở ngay trên trận địa. Đó là những tấm gương của chiến sĩ thông tin Chu Văn Mùi, 23 tuổi, cùng đồng đội bị lọt vào vòng vây địch trong trận chiến đấu tại đồi A1, nhịn đói 3 ngày, anh vẫn cùng các đồng chí trong tổ vừa chiến đấu vừa gọi pháo bắn chặn đánh bật nhiều đợt xung phong của bộ binh và xe tăng địch, bảo vệ được trận địa. Chiến sĩ Phạm Việt Nghi, 18 đêm liền, một mình đào được 18 cái hầm và 11 mét hào dưới bom đạn địch.

Ngày 19/4/1954, Bộ Chính trị họp nhận định hai đợt tiến công của quân ta ở Mặt trận Điện Biên Phủ đã tạo những điều kiện căn bản để tiến tới tiêu diệt hoàn toàn bộ quân địch ở Điện Biên Phủ. Bộ Chính trị còn chỉ ra những thiếu sót cần khắc phục để tiến lên giành thắng lợi hoàn toàn.

Trên toàn mặt trận, một đợt sinh hoạt chính trị được tiến hành nhằm chống tư tưởng hữu huynh, tiêu cực. Những tấm gương hy sinh chiến đấu dũng cảm trong chiến dịch Đông - Xuân 1953-1954 tiêu biểu cho truyền thống quyết chiến quyết thắng của quân đội và truyền thống quật cường, bất khuất của dân tộc Việt Nam được biểu dương và học tập.

Ngày 1/5/1954, quân ta mở đợt tiến công thứ 3 tổng công kích tiêu diệt toàn bộ quân địch ở Điện Biên Phủ.

Đồi A1 ta định đánh vào đêm đầu nhưng do phải chờ công binh đào xong con đường hầm dài hơn 40 mét từ chân đồi phía Đông vào dưới hầm ngầm của địch để đặt gần 1.000 cân thuốc nổ, nên đến đêm ngày 6/5 mới đánh. Theo mệnh lệnh của Đại tướng Võ Nguyên Giáp, đúng 20 giờ 30’ đêm ngày 6/5/1954, bộc phá ta đặt ở đồi A1 nổ, quân địch đang bàng hoàng vì sức chấn động của ngót 1.000 cân thuốc nổ, bộ binh ta từ nhiều hướng đánh lên đồi A1, tiêu diệt toàn bộ tiểu đoàn Lê Dương, bắt sống chỉ huy và 200 binh lính…

Sau 3 ngày đêm chiến đấu chiếm lĩnh các điểm cao còn lại ở phía Đông và thu hẹp phạm vi chiếm đóng của địch ở phía Tây, bộ đội ta đã thắt chặt vòng vây, chỉ còn cách sở chỉ huy địch 300 mét.

Giờ chết của quân địch ở Điện Biên Phủ đã điểm.

14 giờ 30’ ngày 7/5/1954, các cánh quân của ta tiến vào khu trung tâm dưới sự yểm trợ của pháo binh và tên lửa 6 nòng do Liên Xô viện trợ lần đầu tiên xuất hiện. Đến 17 giờ 30’ cùng ngày, tướng Đờcáttơri và toàn bộ Bộ tham mưu tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ bị bắt sống. Một vạn quân địch ở phân khu trung tâm chui ra khỏi hầm hào xin hàng, 2000 tên địch ở phân khu Nam bị bắt sống.

Sau 56 ngày đêm chiến đấu liên tục, dũng cảm, kiên cường và mưu lược, quân ta đã tiêu diệt hoàn toàn tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ. Ngọn cờ “Quyết chiến, quyết thắng” của Hồ Chủ tịch tung bay trên Điện Biên Phủ.

Năm đại đoàn chủ lực tham gia chiến dịch Điện Biên Phủ vừa lập công lớn được vinh dự cử 6 chiến sĩ tiêu biểu cho các binh chủng về báo công với Chủ tịch Hồ Chí Minh và Trung ương Đảng nhân dịp mừng thọ Bác 64 tuổi (19/5/1954). Các chiến sĩ trẻ (người trẻ nhất 18 tuổi và người nhiều tuổi nhất mới 26 tuổi) vô cùng xúc động được gặp Hồ Chủ tịch và chăm chú ghi nhớ lời dạy của Người: “…Chiến dịch Điện Biên Phủ đã toàn thắng đó là nhờ sự cố gắng chung của đồng bào cả nước, nhưng trước hết là nhờ ở công lao và sự hy sinh to lớn của các chiến sĩ ngoài mặt trận. Bộ đội ta ở Điện Biên Phủ rất dũng cảm. Các cháu là những chiến sĩ tiêu biểu của một nhân dân anh hùng, của một quân đội anh hùng, Bác, Trung ương Đảng và Chính phủ rất vui lòng khen ngợi các cháu. Chính phủ đã quyết định thưởng cho các cháu Huân chương Chiến công hạng Nhất… riêng Bác tặng thêm mỗi cháu một Ngôi sao đỏ và một Huy hiệu”

Cuộc tiến công chiến lược Đông - Xuân năm 1953 -1954 mà đỉnh cao là chiến dịch Điện Biên Phủ kết thúc thắng lợi.

Chiến thắng Điện Biên Phủ là niềm tự hào của cả dân tộc và tuổi trẻ Việt Nam anh hùng. Điện Biên Phủ là cái “cột mốc bằng vàng”. Chiến thắng Điện Biên Phủ “được ghi vào lịch sử dân tộc ta như một Bạch Đằng, một Chi Lăng, một Đống Đa trong thế kỷ XX và đi vào lịch sử thế giới như một chiến công chói lọi đột phá thành trì của hệ thống nô dịch thuộc địa của chủ nghĩa đế quốc”

Thắng lợi của cuộc tiến công chiến lược Đông - Xuân 1953-1954 và chiến dịch Điện Biên Phủ đã tạo khả năng giải phóng đất nước và tạo thế mạnh cho cuộc đàm phán của nhân dân Việt Nam ở Hội nghị Giơnevơ.

Trước khi Hội nghị Giơnevơ kết thúc, Ban Chấp hành Trung Đảng đã họp hội nghị mở rộng từ ngày 15 đến 18 tháng 7 năm 1954. Hội nghị nhận định, đế quốc Mỹ là kẻ thù chính của nhân dân thế giới và hiện đang trở thành kẻ thù chính, trực tiếp của nhân dân Đông Dương.

Hội nghị vạch ra nhiệm vụ của nhân dân ta trong giai đoạn mới là chĩa mũi nhọn đấu tranh vào đế quốc Mỹ và bọn hiếu chiến Pháp, củng cố hoà bình và thực hiện thống nhất, hoàn thành độc lập dân tộc trong cả nước.

Ngày 21/7/1954, Hội nghị Giơnevơ về Đông Dương kết thúc. Hội nghị thừa nhận độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam, Lào, Campuchia, quy định quân đội nước ngoài phải rút khỏi Đông Dương và mỗi nước Đông Dương sẽ tổ chức Tổng tuyển cử tự do.

Dưới sự lãnh đạo của Đảng và Hồ Chủ tịch, cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược của nhân dân ta kéo dài gần 9 năm đầy gian khổ, hy sinh nhưng vô cùng anh dũng đã giành được thắng lợi hoàn toàn.

Đánh giá về ý nghĩa lịch sử của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết:

"Lần đầu tiên trong lịch sử, một nước thuộc địa nhỏ yếu đã đánh thắng một nước thực dân hùng mạnh. Đó là một thắng lợi vẻ vang của nhân dân Việt Nam, đồng thời cũng là một thắng lợi của các lực lượng hoà bình, dân chủ và chủ nghĩa xã hội trên thế giới”

Cách mạng Việt Nam bước vào thời kỳ đấu tranh mới. Tuổi trẻ Việt Nam lại được lịch sử giao phó cùng toàn dân xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và hoàn thành cuộc Cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam.

*
*   *

Dưới sự lãnh đạo của Đảng và Bác Hồ kính yêu, qua chín năm kháng chiến đầy gian khổ nhưng vô cùng anh dũng, Liên đoàn Thanh niên Việt Nam đã đoàn kết, tập hợp đoàn viên, hội viên, thanh niên, phát huy cao độ chủ nghĩa anh hùng cách mạng trong chiến đấu, phục vụ chiến đấu và lao động sản xuất, góp phần tích cực vào thắng lợi vĩ đại của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp.

Với những phong trào tòng quân, giết giặc lập công, tăng gia sản xuất, thực hành tiết kiệm, đi dân công phục vụ tiền tuyến;phong trào đấu tranh trong vùng địch tạm chiếm, phong trào tham gia dân quân và đánh du kích… Liên đoàn Thanh niên Việt Nam đã đưa hàng triệu đoàn viên, hội viên, thanh niên, tham gia xây dựng lực lượng vũ trang đánh giặc cứu nước, mở rộng vùng giải phóng và từng bước xây dựng chế độ mới, tạo sức mạnh để chiến thắng hoàn toàn bọn đế quốc xâm lược.

Trong cuộc kháng chiến trường kỳ gian khổ, tuổi trẻ Việt Nam đã cống hiến biết bao thanh niên ưu tú, chiến đấu ngoan cường, hy sinh oanh liệt, “Sống anh dũng, chết vẻ vang” cho đất nước. Tấm gương ngời sáng tinh thần yêu nước của các anh hùng, liệt sĩ sống mãi với non sông đất nước và thúc giục tuổi trẻ tiếp tục bảo vệ thành quả cách mạng. Cuộc chiến tranh giữ nước ấy đã tôi luyện và thử thách tổ chức Liên đoàn Thanh niên Việt Nam, Đoàn Thanh niên Cứu quốc và phong trào thanh niên Việt Nam ngày một phát triển.


CHƯƠNG VII: TÍCH CỰC THAM GIA HÀN GẮN VẾT THƯƠNG CHIẾN TRANH, KHÔI PHỤC VÀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ, VĂN HÓA, XÃ HỘI Ở MIỀN BẮC, ĐẤU TRANH CHÍNH TRỊ Ở MIỀN NAM. ĐẠI HỘI THÀNH LẬP HỘI LIÊN HIỆP THANH NIÊN VI

Suốt một thời kỳ dài sau chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ, các cuộc hội họp quốc tế, nhất là những Đại hội liên hoan thanh niên và sinh viên thế giới được lần lượt tổ chức từ Thủ đô Mát-xcơ-va đến An-giê, La-ha-ba-na. Đi đến đâu, đoàn đại biểu của tuổi trẻ Việt Nam cũng được đón tiếp nồng nhiệt, xúc động với những tiếng hô vang dội: “Việt Nam! Hồ Chí Minh!”, “Điện Biên Phủ! Võ Nguyên Giáp!”…Tuổi trẻ khắp năm châu đều hướng về Việt Nam, coi Điện Biên Phủ là biểu tượng của ý chí quật khởi, của tinh thần đấu tranh bất khuất, của sức mạnh đại đoàn kết dân tộc, của tài năng và trí tuệ Việt Nam.

Trong ánh hào quang rực rỡ của chiến thắng, tuổi trẻ và nhân dân miền Bắc bước vào thời kỳ khôi phục, phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, xây dựng lại đất nước. Sau chín năm kháng chiến anh dũng, trường kỳ, gian khổ miền Bắc có một nền kinh tế nông nghiệp nghèo nàn và lạc hậu vì bị chủ nghĩa thực dân đô hộ, vì bị chiến tranh tàn phá nặng nề. Bao khó khăn chồng chất: Nhiều ngành sản xuất bị ngưng trệ, đình đốn; nhiều công trình thuỷ lợi quan trọng bị tàn phá; 14 vạn hecta ruộng đất bị hoang hoá; hơn 10 vạn trâu bò bị giết; gần 1 triệu đồng bào không có nhà ở và việc làm; thương nghiệp bị đình trệ; bệnh tật, đói rét hoành hành; nạn đói, nạn thất nghiệp và các tệ nạn xã hội tràn lan ở các vùng bị tạm chiếm cũ…Lại thêm bao mưu mô thâm độc của kẻ thù: Bọn phản động đã lừa gạt, đe doạ, cưỡng ép gần một triệu đồng bào miền Bắc di cư vào Nam- nhất là đồng bào ở vùng Thiên chúa giáo và những người đã tham gia làm việc cho chế độ cũ. Đặc biệt, bọn thực dân trước khi rút chạy đã tháo dỡ, mang đi hoặc phá huỷ hàng nghìn tấn thiết bị, máy móc, dụng cụ sản xuất, nguyên vật liệu ở các nhà máy, xí nghiệp… hòng gây rối loạn cho nền kinh tế ở miền Bắc. Chúng còn cung cấp tiền của, phương tiện cho bọn phản động gây rối ở một số vùng như: Phát Diệm (Ninh Bình), Bùi Chu (Nam Định); Ba Làng (Thanh Hoá)…và còn xúi giục bọn thổ phỉ nổi dậy hoạt động phá hoại ở các tỉnh miền núi biên giới Tây Bắc, Đông Bắc như: Lào Cai, Sơn La, Lai Châu, Cao Bằng, Hà Giang…

Trước tình thế ấy, phát huy truyền thống của dân tộc, phát huy hào khí chiến thắng của Điện Biên, nhận thức rõ vai trò, trách nhiệm của tuổi trẻ trước thời cuộc, hàng chục vạn cán bộ, đoàn viên, hội viên và thanh niên miền Bắc đã tình nguyện, hăng hái đi đầu đảm nhiệm các nhiệm vụ then chốt, đến những vùng xung yếu, khó khăn để tổ chức, động viên quần chúng khắc phục những hậu quả của chiến tranh, khôi phục và phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội.

Hàng trăm cán bộ, đoàn viên, hội viên và thanh niên xung phong vào tiếp quản Thủ đô Hà Nội, xuống tận các xí nghiệp, bến cảng, nhà ga, kho tàng… để phối hợp với thanh niên, công nhân đấu tranh không cho địch tháo dỡ, phá hoại, vận chuyển máy móc, thiết bị… Những tháng cuối năm 1954, đội Thanh niên tự vệ ga Hàng Cỏ đã kịp thời phát hiện, ngăn chặn không cho chủ ga chỉ đạo tháo gỡ máy móc chuyển xuống cảng Hải Phòng; đội Thanh niên tự vệ nhà máy xe lửa Gia Lâm thì phân công nhau canh gác ngày đêm, bảo vệ nhà xưởng, máy móc, nguyên vật liệu, kiên quyết chống mọi hành động phá hoại của địch; đội Thanh niên tự vệ nhà máy điện Yên Phụ đấu tranh quyết liệt giữ lại 400 tấn than và toàn bộ tài liệu, máy móc… ở nhà thương Bạch Mai, Phủ Doãn, trường Đại học Y-Dược, thanh niên tự vệ, y tá, bác sỹ, thầy giáo, sinh viên kiên quyết đấu tranh không cho địch cướp y cụ, tài liệu, thuốc men…

Ngày 1-1-1955, nhân dân và tuổi trẻ Thủ đô cùng đại biểu các tỉnh đã long trọng dự lễ mít tinh lớn tại Quảng trường Ba Đình để đón mừng Trung ương Đảng, Chính phủ cùng Bác Hồ kính yêu trở về Thủ đô sau 9 năm kháng chiến trường kỳ, gian khổ và anh dũng.

Cả Thủ đô tràn ngập cờ, hoa. Những nụ cười rạng rỡ. Những gương mặt hân hoan. Những tà áo dài tha thướt. Khăn quàng đỏ thắm bừng lên trên vai các em thiếu nhi. Và các đoàn viên, thanh niên, hội viên cùng các băng rôn, khẩu hiệu rực rỡ khắp các ngả đường của Hà Nội mến yêu.

Khí thế sôi động ấy của Thủ đô đã lan truyền khắp các tỉnh, thành trong cả nước.

Ngày 10 tháng 1 năm 1955, ở Bùi Chu (Nam Định), đoàn viên, thanh niên là nòng cốt của cuộc mít tinh hơn 4000 người của 7 xã đã tuần hành biểu dương lực lượng, lên án đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai Ngô Đình Diệm phá hoại Hiệp định Giơnevơ, lên án kẻ địch đã dùng mọi âm mưu thâm độc để lừa gạt, đe doạ và cưỡng ép những người đã tham gia ngụy quân, ngụy quyền, đồng bào theo đạo Thiên chúa… di cư vào Nam, đặc biệt là ở vùng Bùi Chu (Nam Định) và Phát Diệm (Ninh Bình). Tiền của, phương tiện và những vụ phá rối, cưỡng ép của bọn phản động đối với giáo dân ở Bùi Chu, Phát Diệm chỉ càng làm tăng thêm làn sóng căm phẫn và châm ngòi cho cả một phong trào đấu tranh chống cưỡng ép di cư vào Nam của tuổi trẻ và nhân dân vùng Thiên Chúa giáo.

Khắp ba tỉnh Hà Nam, Nam Định, Ninh Bình, một đợt đấu tranh dài ngày từ 20 tháng 3 đến 18 tháng 4 năm 1955 đã thu hút hàng ngàn đoàn viên, thanh niên tham gia hỗ trợ cho đồng bào đấu tranh chống cưỡng ép giáo dân di cư vào Nam. Phong trào đấu tranh “yêu nước chống cưỡng ép di cư” vào Nam của tuổi trẻ ba tỉnh đã gây tiếng vang mạnh mẽ, giúp đồng bào các vùng theo đạo Thiên chúa giữ vững niềm tin vào Đảng, Bác, không mắc mưu lừa phỉnh, dụ dỗ của kẻ địch. Cùng thời điểm này, ở 6 xã hai huyện Giao Thuỷ, Xuân Trường có tới 1885 thanh niên công giáo tham gia liên hoan cùng 7000 đoàn viên, thanh niên toàn tỉnh Nam Định hào hùng biểu dương lực lượng đòi kẻ địch phải nghiêm chỉnh thi hành Hiệp định Giơnevơ.

Còn ở phố cảng Hải Phòng những tháng đầu năm 1955 cũng thật sôi động và quyết liệt.

Đầu tháng 3 năm 1955, bọn địch âm mưu cướp hai chiếc tàu HC1 và HC2 là hai tàu hoa tiêu quan trọng của cảng. Các đoàn viên và hội viên, thanh niên, công nhân đã tìm cách làm hỏng máy để giữ tàu lại. Khi bọn địch đưa tàu khác đến định kéo hai tàu hoa tiêu đi, một nhóm thanh niên công nhân lại tìm cách làm hỏng máy tàu mới đến. Địch lại tiếp tục cho tàu khác đến kéo, đoàn viên, thanh niên công nhân cảng lại “bí mật lặn xuống nước dùng dây cáp buộc chằng dây neo tàu nọ với dây neo tàu kia, đồng thời tháo và giấu đi một số thiết bị quan trọng làm cho địch không thể sửa chữa và cũng không thể kéo tàu đi được, chúng đành bó tay.

Gần đến ngày tiếp quản, những cuộc đấu tranh của tuổi trẻ và nhân dân Hải Phòng càng quyết liệt. Đặc biệt là cuộc đấu tranh của gần 5 vạn quần chúng kéo dài 3 ngày (từ ngày 3 đến ngày 5 tháng 5 năm 1955) để giữ lại gần 300 tù chính trị bị giam ở cảng Máy Chai mà kẻ địch âm mưu định đưa ra biển thủ tiêu. Tuổi trẻ toàn thành phố được huy động vào cuộc đấu tranh này. Các thanh niên làm nghề đạp xích lô tự đứng ra phục vụ những người đi đấu tranh từ các nơi đổ về khu vực cảng Máy Chai. Đường phố đông nghịt người…Trước khí thế và sức mạnh áp đảo của quần chúng, kẻ địch phải chùn bước, không dám thực hiện tội ác, buộc phải trả lại tự do cho tất cả tù chính trị. Các anh chị em tù chính trị sung sướng và xúc động đến nghẹn ngào như những người từ cõi chết trở về với cuộc sống”.

Cùng thời điểm này, ở Hồng Quảng (Quảng Ninh) cuộc đấu tranh bảo vệ máy móc, thiết bị ở các hầm mỏ, xí nghiệp diễn ra hết sức quyết liệt. Tình hình chính trị-xã hội ở đây cũng rất phức tạp. Vốn là một vùng bị quân Pháp chiếm đóng nhiều năm nên lực lượng đoàn viên rất mỏng, một số nơi còn chưa có tổ chức Đoàn. Hơn nữa, ngoài quân đội Pháp, ở đây 300 ngày trước khi rút khỏi miền Bắc (theo Hiệp định Giơnevơ quy định) còn có một lực lượng đặc vụ, gián điệp dày đặc của thực dân Pháp, của đế quốc Mỹ và Tưởng Giới Thạch ráo riết hoạt động vừa công khai, vừa lén lút hòng gây rối loạn tình hình chính trị, kinh tế, xã hội trước mắt và lâu dài ở Hồng Quảng, ở miền Bắc.

Trước tình hình đó, thực hiện Chỉ thị của Đảng, Trung ương Đoàn và Trung ương Hội đã cử một đoàn cán bộ về Hồng Quảng tham gia tiếp quản, củng cố các tổ chức Đoàn, Hội để chỉ đạo việc bảo vệ máy móc, thiết bị và các cơ sở công nghiệp, đặc biệt là ở các khu mỏ, công trường xí nghiệp. Được sự lãnh đạo kịp thời của các cấp uỷ Đảng, các tổ chức Đoàn, Hội đã phát huy vai trò xung kích của các đội thanh niên tự vệ, các đội tự vệ công nhân, các đội bảo vệ trật tự, an ninh…

Chính vì vậy, khi bọn chủ Pháp ở nhà máy Điện Cọc 5 lén lút huy động binh lính và chỉ huy người Âu tháo dỡ định chuyển 8 mô-bin ra Cẩm Phả đưa xuống tàu vào ngày 9 tháng 3 năm 1955 thì đội tự vệ công nhân đã kịp thời phát hiện, đấu tranh buộc bọn chủ Pháp phải để lại đủ 8 mô-bin.

ở nhà máy cơ khí Cẩm Phả, ngày 24 tháng 4 năm 1955, đội tự vệ công nhân cũng kịp thời phát hiện, vây giữ, buộc bọn chủ nhà máy phải để máy móc lại.

ở vùng Hồng Quảng, Hải Ninh (Quảng Ninh) những tháng đầu năm 1955 cũng hừng hực khí thế. Trên mặt trận đấu tranh chống cưỡng ép đồng bào di cư vào Nam, các đoàn viên, thanh niên, hội viên cũng hoạt động tích cực, góp phần bảo vệ, giúp đỡ đồng bào yên tâm, vững tin ở lại quê hương.

Ngày 24 tháng 4 năm 1955, thực dân Pháp đã buộc phải thực hiện Hiệp định Giơnevơ, rút khỏi Hồng Quảng.

 Ngày 13 tháng 5 năm 1955, thành phố cảng Hải Phòng được giải phóng; ngày 22 tháng 5 năm 1955, quân Pháp rời đảo Cát Bà, đánh dấu ngày tháng cuối cùng tên lính Pháp cuối cùng rút khỏi miền Bắc. Một nửa đất nước thân yêu được hoàn toàn giải phóng.

Để thực hiện đường lối xây dựng và củng cố miền Bắc làm cơ sở vững chắc cho cuộc đấu tranh giải phóng miền Nam, thống nhất nước nhà của Đảng ta, Hội nghị lần thứ 7 (tháng 3 năm 1955) và Hội nghị lần thứ 8 (tháng 8 năm 1955) của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (Khoá II) đã khẳng định: “Miền Bắc là chỗ dựa của ta. Bất kể tình huống nào miền Bắc cũng phải được củng cố…

Củng cố miền Bắc về mọi mặt là nhiệm vụ rất quan trọng vì miền Bắc có được củng cố ta mới có đủ lực lượng để củng cố hoà bình, thực hiện thống nhất, hoàn thành độc lập và dân chủ trong toàn quốc…”.

Được thử thách, rèn luyện trong những tháng năm kháng chiến gian khổ và anh dũng, ý thức được vai trò và trách nhiệm của mình, tuổi trẻ miền Bắc đã không quản ngại khó khăn, gian khổ, đi đầu trên mặt trận khôi phục kinh tế, hàn gắn vết thương chiến tranh, khắc phục hậu quả của chủ nghĩa thực dân và tàn tích của chế độ phong kiến. Hàng vạn đoàn viên, thanh niên, hội viên, đội viên tham gia vào các phong trào, các ngành nghề, góp phần ổn định nhanh chóng cuộc sống của nhân dân, xoá bỏ những tàn dư của văn hoá thực dân và các hủ tục của chế độ cũ. Hàng loạt công trình được khôi phục, sửa sang và làm mới, góp phần làm thay đổi diện mạo của miền Bắc sau chiến tranh.

Đó là phong trào làm vệ sinh ở các khu phố, trên các đường làng, ngõ xóm, sửa sang, quét dọn, xoá bỏ những dấu tích chiến tranh của quân đội thực dân chiếm đóng. Các đội thanh niên tự quản được thành lập để duy trì nếp sống văn minh.

Đó là phong trào bình dân học vụ được mở ra khắp nơi, lôi cuốn đông đảo các tầng lớp nhân dân và thanh niên đến học. Giáo viên của phong trào bình dân học vụ sôi nổi này đa số là đoàn viên, hội viên, thanh niên. Được tổ chức Đoàn và Liên đoàn Thanh niên động viên, cổ vũ, giao trách nhiệm, anh chị em giáo viên trẻ đã không quản khó khăn, gian khổ, xông xáo đến tận các khu phố, thôn xóm, vừa vận động nhân dân đến lớp, vừa hướng dẫn bà con học tập. Các lớp học được tổ chức cả buổi trưa, buổi tối và bất kỳ thời điểm nào khi bà con rỗi rãi. Khi tiếng kẻng reo vang, khắp các nẻo đường xóm thôn, khu phố lại í ới tiếng gọi nhau đi học. Vui nhất là các buổi tối, những chiếc đèn chai, những bó đuốc bập bùng như đêm hội hoa đăng…

Hệ thống giáo dục phổ thông trên toàn miền Bắc cũng nhanh chóng được củng cố và phát triển. Hàng vạn đoàn viên, hội viên, thanh niên đã cùng phụ huynh học sinh tích cực tu bổ trường lớp cũ, xây dựng hàng trăm trường lớp mới chuẩn bị cho năm học mới.

Ngày 19-1-1955, nhân dịp đến dự lễ khai giảng khoá đầu tiên của trường Đại học Nhân dân tại Hà Nội, Bác Hồ kính yêu đã dạy:
“Thanh niên cần phải có tinh thần gan dạ sáng tạo, cần phải có chí khí hăng hái và tinh thần tiến lên, vượt mọi khó khăn gian khổ để tiến mãi không ngừng…”

Ngày 19-3-1955, Bác Hồ lại gửi thư cho học sinh trường Sư phạm Miền núi. Bức thư có đoạn viết: “Nhiệm vụ của các cháu là phải thi đua học tập để sau này góp phần vào việc mở mang quê hương của mình và việc xây dựng đất nước Việt Nam yêu quý của chúng ta"…

Nếu năm 1944, cả nước ta chỉ có khoảng 709.000 học sinh và có tới hơn 80% người dân mù chữ thì tính đến đầu năm 1956, chỉ riêng miền Bắc đã có 984.500 học sinh và 2,5 triệu người đi học bình dân học vụ, hơn 1 triệu người thoát nạn mù chữ.

Còn trên mặt trận xây dựng những tuyến đường chiến lược mới, hàng ngàn đoàn viên, hội viên, thanh niên xung phong, các đội 34, 36, 38, 40, 56, T31… đã ngày đêm hành quân vượt đèo, leo dốc qua bao hiểm nguy, toả về các ngả để khôi phục và làm mới những con đường:

Đó là 1.885 đội viên đội Thanh niên xung phong Đường sắt do đồng chí Nguyễn Quang Vinh làm đội trưởng, đã lập thành tích xuất sắc vượt định mức 57% trong đợt 1 và 43% trong đợt 2 với 581 công, góp phần cùng các đơn vị bạn khai thông tuyến đường sắt Hà Nội- Mục Nam Quan dài 163 km đúng ngày 28-2-1955.

Đó là Tổng đội Thanh niên xung phong thuộc Thành Đoàn Hà Nội đã tham gia khôi phục nhanh chóng tuyến đường sắt Hà Nội - Lào Cai. Đây là tuyến đường sắt dài nhất miền Bắc lúc đó (295 km), lại chạy qua nhiều vùng núi non hiểm trở, dân cư thưa thớt, tình hình chính trị-xã hội phức tạp. Nhưng hàng nghìn đội viên Thanh niên xung phong đã kiên cường vượt qua mọi khó khăn, thử thách để hoàn thành khai thông tuyến đường đúng thời gian quy định. Ngày 1-1-1956, chuyến tàu đầu tiên đã đến ga Lào Cai trong niềm vui hân hoan của đồng bào các dân tộc miền núi và nhân dân miền Bắc.

Còn trên tuyến đường 1B từ Đồng Đăng (Lạng Sơn) đến Thái Nguyên, đội Thanh niên xung phong Thủ đô T31 đã vượt qua sự thử thách khốc liệt của khí hậu vùng cao hẻo lánh với gió núi, mưa ngàn để mở rộng, nâng cấp tuyến đường. Cầu Bò Đái, cầu Đàng Lang, cầu Ty Gắn, cầu Gia Bẩy, cống Kéo Koong, đèo Tam Canh, đèo Lũng Pa…mỗi địa danh trên tuyến đường 1B là một chứng tích ghi dấu những chiến công của các đội viên TNXP Thủ đô T31- những chàng trai, cô gái thư sinh của Thủ đô đã trở thành những đội viên Thanh niên xung phong rắn rỏi, kiên cường, góp phần khôi phục, làm mới con đường, vốn gập ghềnh, heo hút.

Trên các công trường, nhà máy, xí nghiệp, tuổi trẻ miền Bắc cũng góp phần quan trọng vào việc củng cố, khôi phục, xây mới để phát triển sản xuất công nghiệp.

Đội 56 Đoàn Thanh niên xung phong Trung ương với 1000 đội viên do đồng chí Trần Tôn làm đội trưởng đã hành quân về nơi đất Tổ Phú Thọ để xây dựng nhà máy chè Phú Thọ, nhà máy chè Hạ Hoà và nhà máy điện phục vụ hoạt động của hai nhà máy chè đó. Cảnh nằm lán, ăn đói, thiếu giày, mũ không làm cho các đội viên Thanh niên xung phong nhụt chí. Họ đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, góp phần xây dựng những cơ sở vật chất kỹ thuật đầu tiên của chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc nước ta.

ở Hà Nội, Hải Phòng, Quảng Ninh, sau những cuộc đấu tranh giành giật, giữ lại máy móc, thiết bị với các ông chủ Pháp, các nhà máy, xí nghiệp đã nhanh chóng được phục hồi và vận hành trở lại. Các đoàn viên, hội viên, thanh niên công nhân đã phát huy tinh thần làm chủ, sáng tạo, chắt chiu, mày mò khám phá, phục hồi những cỗ máy đồ sộ. Các nhà máy xe lửa Gia Lâm, nhà máy Điện Yên Phụ, nhà máy Đèn Bờ Hồ… (Hà Nội), nhà máy điện Cửa Cấm, nhà máy xi măng, cảng Hải Phòng, cảng Máy Chai… (Hải Phòng); nhà máy Điện Cọc 5, nhà máy cơ khí Cẩm Phả… (Quảng Ninh) hừng hực khí thế hồi sinh sau chiến tranh và nhanh chóng hoạt động trở lại.

Đặc biệt, công cuộc vận động cải cách ruộng đất ở nông thôn đã đạt được thắng lợi to lớn. Các Đội thanh niên xung kích, các tổ thông tin tuyên truyền phục vụ yêu cầu của các Đội cải cách ruộng đất, đồng thời làm lực lượng nòng cốt trong các đội tự vệ, bảo vệ các cuộc đấu tranh của nông dân, giữ gìn trật tự, an ninh thôn xóm. Tuổi trẻ nông thôn đã cùng bà con nông dân ôn nghèo, kể khổ, vạch rõ tội ác của bọn địa chủ bóc lột.

"Tháng 12 năm 1955, cuộc vận động cải cách ruộng đất đợt 5 đã được triển khai ở 1720 xã với trên 6000.000 người trong 20 tỉnh và 2 thành phố. Tháng 7 năm 1956, cải cách ruộng đất đợt 5 kết thúc ở toàn bộ vùng đồng bằng, trung du và 280 xã miền núi”.

Ước mơ nghìn đời của người nông dân đã được thực hiện: Nông dân được chia ruộng đất, được làm chủ thôn xóm, ruộng đồng, giai cấp địa chủ hoàn toàn bị xoá bỏ cùng những tàn dư của chế độ phong kiến ở miền Bắc.

Thắng lợi của công cuộc cải cách ruộng đất làm nức lòng hàng triệu người dân. Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện cải cách ruộng đất, ta đã phạm một số sai lầm. Đảng và Chính phủ đã kiên quyết chỉ đạo sửa sai. Bởi vậy, lòng tin của quần chúng đối với Đảng và Chính phủ được khôi phục và ngày càng nâng cao.

Thực hiện lời dạy của Bác Hồ kính yêu: “Phải quan tâm đến việc khôi phục và xây dựng lại nước nhà…Thanh niên cần phải có tinh thần gan dạ, sáng tạo, cần phải có chí khí hăng hái và tinh thần tiến lên, vượt mọi khó khăn, gian khổ để tiến mãi không ngừng…”. Thanh niên các vùng nông thôn miền Bắc không chỉ tham gia tích cực vào công cuộc vận động cải cách ruộng đất của Đảng và Chính phủ mà còn chiến đấu quyết liệt với lũ lụt, hạn hán để cứu lúa, cứu tài sản của nhân dân, đồng thời hăng hái, dũng cảm rà phá bom mìn, dây thép gai để khai hoang, phục hoá. Chỉ trong 3 năm đầu củng cố và khôi phục, phát triển kinh tế, đồng ruộng ở các vùng nông thôn miền Bắc đã xanh tươi mượt mà hứa hẹn những mùa no ấm: “Thanh niên huyện ứng Hoà, Hà Tây đã khai hoang, phục hoá được 1200 hécta ruộng, biến “khu trắng” thành đồng ruộng tốt tươi. Thanh niên Thanh Hoá đã tổ chức 530 chi đoàn, gồm 9.909 đoàn viên, thanh niên và lập 53 đội Thanh niên xung phong tham gia xây dựng, sửa chữa đập Bái Thượng bị địch phá hoại hư hỏng nghiêm trọng và tu bổ hệ thống nông giang sông Chu…”.

ở Hải Phòng, gần 20.000 thanh niên được tổ chức thành những đội xung kích chống bão, vật lộn với cơn bão khủng khiếp vào tháng 9 năm 1955. Tấm gương hy sinh của đoàn viên Phạm Minh Đức, chiến sỹ đại đội 1, trung đoàn 53 đã vật lộn với sóng gió hàng giờ liền để cứu sống 14 người đã làm hàng chục triệu trái tim xúc động. Phong trào noi gương anh dũng của đoàn viên Phạm Minh Đức để lao động, sản xuất và chiến đấu dâng lên khắp nơi. Phạm Minh Đức đã được Quốc hội tuyên dương Anh hùng Lực lượng Vũ trang Nhân dân. Tại vùng Kiến An, Hải An, hàng vạn thanh niên công nhân, cán bộ, học sinh đã tham gia cùng nông dân “rửa chua, khua mặn” vì cả vùng này đồng ruộng bị nước mặn tràn vào.

ở Hà Nam, 4000 thanh niên huyện Bình Lục đã dồn sức đắp lại một quãng đê bị lũ phá vỡ. Hàng trăm thanh niên đã khoác vai nhau làm hàng rào sống chắn nước để đất đắp không bị cuốn trôi. Chỉ sau một ngày, nước lũ đã bị chặn đứng…

“Trong 3 năm (1955-1957), tuổi trẻ miền Bắc đã đóng góp trên 10.000.000 ngày công chống hạn, sửa chữa, khôi phục, đưa vào sử dụng 6 công trình thuỷ nông lớn và hàng chục công trình thuỷ lợi hạng vừa, giải quyết một phần tiêu, tưới nước cho đồng ruộng”.

Trong các phong trào, các mặt trận hàn gắn vết thương chiến tranh, khôi phục và phát triển kinh tế ở miền Bắc từ năm 1955 đến năm 1957, tuổi trẻ miền Bắc đã góp phần quan trọng làm đổi thay diện mạo của nửa đất nước sau chiến tranh. Được thử thách và rèn luyện trong hoạt động thực tiễn, các tổ chức Đoàn, Hội, Đội đã không ngừng lớn mạnh. Chỉ tính riêng năm 1956, đã có thêm 20.889 thanh niên được kết nạp vào Đoàn. Liên đoàn Thanh niên Việt Nam, Hội Học sinh, Sinh viên đã được củng cố và xây dựng, thực sự phát huy vai trò của mình trong công cuộc hàn gắn vết thương chiến tranh, khôi phục và phát triển kinh tế ở miền Bắc xã hội chủ nghĩa.

*
*   *

Tuổi trẻ và nhân dân miền Nam vừa được hưởng niềm vui chiến thắng của 9 năm kháng chiến trường kỳ chưa được bao lâu đã phải tiếp tục cuộc đấu tranh quyết liệt với Mỹ – Diệm.

Theo Hiệp định Giơnevơ, sau 2 năm Việt Nam sẽ được thống nhất bằng cuộc Tổng tuyển cử tự do trong cả nước. Nhưng với dã tâm xâm lược, hòng biến miền Nam thành căn cứ quân sự và chia cắt lâu dài đất nước ta, đế quốc Mỹ đã hất cẳng Pháp, đưa tay sai Ngô Đình Diệm lên nắm độc quyền chính trị để thực hiện chủ nghĩa thực dân mới ở miền Nam Việt Nam.

Theo lệnh quan thầy, Ngô Đình Diệm đã trắng trợn phá hoại Hiệp định Giơnevơ, đàn áp phong trào cách mạng, trả thù lực lượng kháng chiến, dùng chính sách “tố cộng”, “diệt cộng”, lập “ấp chiến lược” để khống chế, cô lập nhân dân với cách mạng. Bè lũ Ngô Đình Diệm còn lập ra nhiều tổ chức như: “Thanh niên chiến đấu”, “Thanh niên công giáo”, “Tự vệ hương thôn”, “Tự vệ học đường”, “Tổng liên đoàn học sinh”, “Thanh niên cộng hoà”… để mua chuộc, đầu độc và phá hoại phong trào yêu nước trong thanh niên miền Nam.

Trước tình hình đó, để bảo toàn lực lượng, tiếp tục lãnh đạo tuổi trẻ và nhân dân miền Nam đấu tranh với kẻ thù mới vô cùng gian ác và xảo quyệt, “Tổ chức của Đảng phải rút vào hoạt động bí mật. Các Đảng bộ miền Nam tiến hành sắp xếp và củng cố lại tổ chức, thực hiện chủ trương bám đất, bám dân, trực tiếp lãnh đạo phong trào đấu tranh để gìn giữ lực lượng cách mạng và chuẩn bị cho cao trào cách mạng mới.

Các tổ chức cách mạng đều rút vào hoạt động bí mật. Đoàn Thanh niên Cứu quốc không còn hệ thống dọc, chỉ còn chi đoàn cơ sở do chi bộ Đảng trực tiếp lãnh đạo. Các tổ chức quần chúng công khai đã hình thành”.

ở các vùng đô thị, thanh niên học sinh, sinh viên thành lập các Hội truyền bá Quốc ngữ, các nhóm học tập, du lịch, thể thao, văn nghệ và tổ chức đi tham quan các di tích lịch sử, các danh lam thắng cảnh, truyền bá các bài ca yêu nước, các bài ca kháng chiến. Đặc biệt, những “Tuần lễ xuống đường” hưởng ứng phong trào đòi hoà bình do Luật sư Nguyễn Hữu Thọ khởi xướng đã thu hút hàng nghìn học sinh, sinh viên đô thị cùng các tầng lớp nhân dân. Phong trào này đã nhanh chóng lan rộng tới các vùng nông thôn miền Nam.

Cùng với nông dân, thanh niên nông thôn đã nhiệt tình hưởng ứng phong trào đòi hoà bình của Luật sư Nguyễn Hữu Thọ. Các đoàn viên, hội viên, thanh niên ở nông thôn miền Nam còn tham gia vào các tổ vần công, đổi công, các hội hiếu, hỉ, các đội đá banh, bóng chuyền, các đội múa lân, văn nghệ… ở nhiều nơi, thanh niên nông thôn còn đấu tranh đòi Hội đồng hương chính tài trợ tiền để đi biểu diễn văn nghệ, đấu giao hữu thể thao giữa các xã, ấp để qua đó móc nối liên kết phong trào.

ở các tỉnh Liên khu V, Nam Trung Bộ, nhân dân và thanh niên còn tổ chức “Tuần lễ hoà bình”. Có tới 25.000 đồng bào và tuổi trẻ thành phố Huế xuống đường “Ăn mừng hoà bình” nhằm hưởng ứng và phối hợp với cuộc biểu dương lực lượng của đồng bào và tuổi trẻ Sài Gòn. Hơn 100 Uỷ ban Bảo vệ hoà bình ở các cấp tỉnh, thành đã được thành lập, thúc đẩy phong trào “Bảo vệ hoà bình” phát triển mạnh mẽ, rộng khắp miền Nam.

Cuộc đấu tranh chống văn hoá lai căng, đồi truỵ, phản động của thanh niên, học sinh, sinh viên miền Nam cũng phát triển rầm rộ với các hình thức đa dạng, phong phú như tổ chức họp mặt, diễn đàn, hội thảo, báo liếp, báo tường, du ngoạn, cắm trại…

Trước làn sóng đấu tranh như vũ bão của tuổi trẻ và nhân dân miền Nam, bọn Mỹ- Diệm hoảng hốt tăng cường đàn áp, khủng bố với nhiều hình thức từ bắt bớ, tù đày, tra tấn đến mua chuộc, dụ dỗ… Nhưng phong trào đấu tranh chính trị của tuổi trẻ và nhân dân miền Nam vẫn không ngừng phát triển. Các phong trào đấu tranh đòi hoà bình, dân chủ, dân sinh, chống “Tố cộng, diệt cộng” đã lôi cuốn hàng triệu lượt người tham gia. Chỉ trong 2 năm 1955-1956, cả miền Nam có tới 7 triệu lượt người tham gia đấu tranh chính trị.

Những năm 1955-1956 là thời kỳ Mỹ- Diệm tiến hành cuộc chiến tranh một phía, đánh phá ta quyết liệt. Đó là thời kỳ khó khăn nhất của cách mạng miền Nam. Nhưng Mỹ-Diệm đã không thể diệt “tận gốc cộng sản” như chúng từng huyênh hoang tuyên bố. Bao tấm gương dũng cảm, kiên trung, giữ vững khí tiết của người cộng sản xuất hiện khắp miền Nam. Đó là người con gái Gò Nổi của đất Quảng anh hùng - chị Trần Thị Lý. Bị địch tra tấn dã man chết đi sống lại nhiều lần với 40 vết thương trên cơ thể, chị vẫn kiên quyết giữ vững khí tiết của người đoàn viên thanh niên cộng sản. Đó là các tấm gương của Phan Thị Cam, Trần Thị Vân, Võ Chuẩn, Nguyễn Thị Thanh cùng hàng vạn đoàn viên, thanh niên miền Nam khác đã nêu cao ý chí cách mạng kiên cường, thà chết chứ không chịu khuất phục, không chịu khai báo cơ sở cách mạng…

Nhiều đoàn viên, hội viên và thanh niên vùng căn cứ cũ ở U Minh thượng, U Minh hạ (miền Tây Nam Bộ), chiến khu D, vùng căn cứ miền Đông Nam Bộ, miền núi Trung Bộ và Tây Nguyên đã rủ nhau vào rừng lập làng Thanh niên, làng Rừng, làng Xã hội chủ nghĩa, lập căn cứ và các trại bí mật để bền bỉ chống giặc.

ở Bình Định, thanh niên xã Bình Khê đã lập “Đội thanh niên nghĩa hiệp” chống Mỹ-Diệm; thanh niên xã Hoài Nhơn, Hoài Sơn lập “Trung đội cứu quốc” rồi cử người lên núi tìm Đảng xin vũ khí đánh giặc.

Đặc biệt, để hưởng ứng lời kêu gọi của Mặt trận Liên Việt Nam Bộ, ngày 10-7-1955 ở Sài Gòn, Gia Định, Mỹ Tho, Sa Đéc, Long Xuyên… đã nổ ra tổng bãi công, bãi thị. Thanh niên cùng nhân dân tẩy chay trò hề “Trưng cầu dân ý” của Diệm. Ngày 10-11-1955 có 40 ngàn công nhân cao su Biên Hoà, Bà Rịa, Tây Ninh… đình công đòi tăng lương, đòi tự do dân chủ…

Hoảng hốt, điên cuồng trước phong trào cách mạng khắp miền Nam, bọn Mỹ - Diệm đã thẳng tay đàn áp, khủng bố, trả thù những người tham gia cách mạng, vô cớ bắt giam, đánh đập, giết hại những người có chồng, con, anh em, bố mẹ tập kết ra miền Bắc. Đặc biệt nghiêm trọng là vụ thảm sát ở Hướng Điền (Quảng Trị) trong những ngày 9-14-16 tháng 7 năm 1955. Chính quyền Ngô Đình Diệm theo lệnh của quan thầy Mỹ đã gây ra vụ thảm sát đẫm máu: “92 đồng bào vô tội đã bị giặc giết hại một cách dã man, đau đớn. Chúng giết cả cụ già năm, sáu mươi tuổi đến trẻ em chưa rời vú mẹ. Chúng chặt tay, chân phụ nữ để hãm hiếp rồi đâm xuyên ngực chết trần truồng. Chúng chọc tiết, moi gan, mổ bụng, thậm chí các chị phụ nữ có thai chúng cũng mổ bụng moi bào thai ra ngoài. Thôn Tân Hiệp chỉ còn anh Lục và chị Vân là sống sót, nhà cửa bị triệt hạ đem về làm đồn trại. Thôn Tân Lập chỉ là một đống tro tàn…”.

Hành động bạo ngược, man rợ của quân Mỹ-Diệm đã gây lên làn sóng căm phẫn khắp Việt Nam và toàn thế giới. Trùng trùng điệp điệp những đội ngũ, những tổ chức nam nữ thanh niên và nhân dân miền Nam đã xốc lại hàng ngũ, đoàn kết thành một khối, kiên cường đấu tranh chống lại kẻ thù.

Đầu tháng 6 năm 1956, Bộ Chính trị đã họp đánh giá tình hình miền Nam và xác định cụ thể: “Hình thức đấu tranh của ta trong toàn quốc hiện nay là đấu tranh chính trị… nói như thế không có nghĩa là tuyệt đối không dùng vũ trang tự vệ trong những hoàn cảnh nhất định…”.Từ thực tiễn chỉ đạo phong trào đấu tranh cách mạng ở miền Nam, từ những vụ thảm sát đồng bào vô tội hết sức man rợ của kẻ thù, từ thực tế đấu tranh ngày càng mạnh mẽ như nước triều dâng của tuổi trẻ và nhân dân miền Nam, tháng 8-1956, đồng chí Lê Duẩn đã trực tiếp soạn thảo: “Đề cương cách mạng miền Nam” trình Hồ Chủ tịch và Bộ Chính trị Trung ương Đảng. Đề cương vạch rõ nhiệm vụ của cách mạng miền Nam trong giai đoạn tới là: “Trực tiếp đánh đổ chính quyền độc tài, phát xít Ngô Đình Diệm tay sai Mỹ, giải phóng nhân dân miền Nam khỏi ách đế quốc, phong kiến, thiết lập ở miền Nam một chính quyền liên hiệp có tính chất dân tộc, dân chủ, để cùng miền Bắc thực hiện một nước Việt Nam hoà bình, thống nhất…”.

Chủ trương mới đó của Đảng đã làm nức lòng nhân dân và thanh niên cả nước. Bởi lẽ chúng ta đã dùng đấu tranh chính trị, mềm dẻo mà kiên quyết để chống lại kẻ thù. Nhưng chúng ta không thể chỉ đấu tranh chính trị khi bạo lực phản cách mạng đã tàn sát bao người dân vô tội, đã thiêu huỷ bao xóm làng, đồng ruộng. Chúng ta yêu hoà bình nhưng chúng ta không thể im lặng khi tiếng súng của kẻ thù vẫn hàng ngày điên cuồng tàn phá sự bình yên. Phải dùng bạo lực cách mạng chống lại bạo lực phản cách mạng để bảo vệ Đảng, bảo vệ nhân dân, đưa cách mạng đến ngày toàn thắng, để Bắc Nam thống nhất, sum họp một nhà.

*
*   *

Trong khí thế sôi nổi thi đua những năm 1955-1957 thanh niên và nhân dân miền Bắc cùng kề vai sát cánh hàn gắn vết thương chiến tranh, khôi phục, phát triển kinh tế; thanh niên và nhân dân miền Nam đấu tranh đòi thực hiện Hiệp định Giơnevơ, đòi tổ chức Tổng tuyển cử thống nhất nước nhà. Các tổ chức Đoàn Thanh niên; Hội Học sinh, Sinh viên trên miền Bắc đã được xây dựng và củng cố vững mạnh.

Ngày 20-2-1955, Ban Chấp hành Trung ương Liên đoàn Thanh niên Việt Nam đã ra lời kêu gọi thanh niên Việt Nam đoàn kết với thanh niên các nước thuộc địa và phụ thuộc nhân ngày Quốc tế chống chủ nghĩa thực dân (21-2). Lời kêu gọi đã có sức cổ vũ mạnh mẽ tình đoàn kết hữu nghị giữa tuổi trẻ Việt Nam và tuổi trẻ thế giới.

Ngày 23-3-1955, Ban Chấp hành Trung ương Liên đoàn Thanh niên Việt Nam và Trung ương Đoàn Thanh niên Cứu quốc Việt Nam đã triệu tập Hội nghị trù bị gồm 197 đại biểu, chuẩn bị cho Đại hội liên hoan Thanh niên và sinh viên thế giới lần thứ V tại Vacsava (Ba Lan) tổ chức vào tháng 7 năm 1955.

Ngày 7-4-1955, Ban trù bị Đại hội đã ra lời kêu gọi thanh niên cả nước hăng hái lao động sản xuất, đấu tranh chống kẻ thù phá hoại Hiệp định Giơnevơ, đòi lập lại quan hệ bình thường giữa hai miền Nam- Bắc.

Trong ba ngày từ 29 đến 31-7-1955, tại Hà Nội có 244 đại biểu chính thức và 255 đại biểu dự thính của các trường đại học, đại biểu sinh viên miền Nam và sinh viên học ở nước ngoài đã họp Đại hội để thống nhất tổ chức và phong trào học sinh, sinh viên toàn quốc. Đại hội quyết định lấy tên mới của tổ chức sinh viên là: Hội Liên hiệp Sinh viên Việt Nam. Đại hội đã thông qua Nghị quyết và nhấn mạnh các nhiệm vụ sau:

- Đoàn kết mọi lực lượng sinh viên cùng các tầng lớp thanh niên và nhân dân trong cả nước, đấu tranh cho hoà bình, độc lập dân tộc và thống nhất Tổ quốc, đòi thực hiện hiệp thương hai miền Nam-Bắc, tổ chức Tổng tuyển cử tự do trong cả nước theo đúng tinh thần Hiệp định Giơnevơ.

- Thống nhất các tổ chức và các tầng lớp sinh viên trong Hội Liên hiệp Sinh viên Việt Nam.

Đây là Đại hội đầu tiên của các tổ chức Hội quần chúng thanh niên. Đại hội đã thông qua Điều lệ, chương trình hành động và lời kêu gọi sinh viên toàn quốc.

Để phát huy vai trò của Đoàn trong giai đoạn cách mạng mới, thể theo đề nghị của Ban Chấp hành Trung ương Đoàn, ngày 19-10-1955, Ban Bí thư Trung ương Đảng đã ra Nghị quyết đổi tên Đoàn Thanh niên Cứu quốc Việt Nam thành Đoàn Thanh niên Lao động Việt Nam, đồng thời xác định vai trò nòng cốt của Đoàn trong mặt trận đoàn kết thanh niên.

Tháng 11-1955, để chuẩn bị cho Đại hội Đoàn toàn quốc lần thứ II, Ban Chấp hành Trung ương Đoàn đã tổ chức Hội nghị cán bộ Đoàn toàn quốc. Đồng chí Trường Chinh, đồng chí Phạm Văn Đồng đã tới dự và phát biểu ý kiến. Các đồng chí đã biểu dương sự đóng góp của các đoàn viên, hội viên, thanh niên trong thời gian qua, đồng thời trao cho Đoàn, Hội nhiệm vụ xung kích thực hiện kế hoạch khôi phục kinh tế và phát triển văn hoá năm 1956 và những năm tiếp theo.

Năm 1955 sôi động đã khép lại. Mở đầu mùa xuân năm 1956 - ngày 12 tháng 3, Bác Hồ đã đến thăm và chúc Tết nhân dân Thủ đô. Bác đã trao trách nhiệm vinh quang cho thanh niên, học sinh, sinh viên Thủ đô Hà Nội: Phải góp phần đắc lực sao cho trong năm 1956 mọi người dân Thủ đô đều phải biết đọc, biết viết…

Thực hiện lời dạy của Bác, Thành Đoàn Thanh niên Hà Nội đã cùng Hội Liên hiệp Sinh viên Hà Nội ra lời kêu gọi thanh niên, học sinh, sinh viên Thủ đô tiến quân vào mặt trận diệt dốt với khẩu hiệu: “Mỗi thanh niên biết chữ là một giáo viên bình dân học vụ”. Hàng nghìn thầy cô giáo trẻ thành phố đã ngày đêm toả xuống các khu lao động, các thôn xóm ngoại thành để dạy chữ. Đến tháng 7 năm 1956, Thủ đô đã có thêm 41.962 người dân biết đọc, biết viết.

Cũng tháng 7 năm 1956, trước khi bước vào năm học mới, Hội nghị cán bộ Đoàn và Hội trong trường học đã được triệu tập. Hội nghị tổng kết: Trong năm học 1955-1956 đã có trên 70% học sinh, sinh viên đạt trên điểm trung bình, 80% thi đỗ tốt nghiệp và lên lớp. Việc quan tâm đào tạo lớp tri thức trẻ đảm đương sứ mệnh lịch sử Xây dựng chủ nghĩa xã hội là một trong những quan điểm ở tầm vĩ mô của Đảng ta đối với thế hệ trẻ.

Trong khí thế tiến công mạnh mẽ của tuổi trẻ miền Bắc đang ngày đêm hàn gắn vết thương chiến tranh, khôi phục, phát triển kinh tế văn hóa xã hội và tuổi trẻ miền Nam đấu tranh ngày càng quyết liệt với quân Mỹ-Diệm, từ ngày 8-10 đến ngày 15-10-1956, Đại hội thành lập Hội Liên hiệp Thanh niên Việt Nam toàn quốc lần thứ I được khai mạc tại Nhà hát lớn Thủ đô Hà Nội.

Mở đầu Đại hội là Diễn văn khai mạc của anh Nguyễn Chí Thanh, ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Chủ tịch đầu tiên của Liên đoàn thanh niên Việt Nam (sau Đại hội này mang tên là Hội Liên hiệp Thanh niên Việt Nam).

Thưa các vị!
Thưa các bạn đại biểu Liên đoàn Thanh niên Dân chủ Thế giới, các bạn đại biểu thanh niên thân mến!

Thay mặt Liên đoàn Thanh niên Việt Nam và Ban Vận động Mặt trận Thanh niên toàn quốc, chúng tôi xin trân trọng chào mừng các vị trong Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, các vị đại biểu của Ban Thường trực Quốc hội, của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, của các Chính Đảng, các Đoàn thể, các ngành các giới, và Quân đội Nhân dân Việt Nam đã đến tham dự Đại hội với chúng tôi.

Chúng tôi xin gửi đến đoàn đại biểu Liên đoàn Thanh niên Dân chủ Thế giới lời chào nồng nhiệt và hữu nghị nhất.

Các đại biểu thanh niên thân mến!

Đại hội của chúng ta gồm 420 đại biểu chính thức, 300 đại biểu dự thính trong và ngoài nước, miền Nam và miền Bắc, có đủ các thanh niên, các chủng tộc, các tôn giáo, các tầng lớp, các tổ chức thanh niên khác nhau, thành phần của Đại hội chứng minh sự đoàn kết của thanh niên, đó là kết quả tốt đẹp của sự đoàn kết rộng rãi thanh niên, đồng thời đó cũng là một cơ sở để tiếp tục củng cố và phát triển mặt trận thống nhất thanh niên toàn quốc sau này.

Trong Đại hội của chúng ta có đại biểu thanh niên miền Nam tập kết ra Bắc, nhưng chúng ta rất tiếc vì sự ngăn cản của Mỹ - Diệm nên vắng mặt các đại biểu của thanh niên ở tại miền Nam. Họ đã tàn ác làm việc ngăn sông cách núi, nhưng đâu có dễ ngăn được lòng của chúng ta? Vì lòng chúng ta với thanh niên miền Nam là một, chúng ta gửi đến toàn thể nam nữ thanh niên miền Nam lời thăm hỏi đoàn kết và ruột thịt nhất.

Các bạn thân mến!

Thời gian qua, thanh niên và nhân dân chúng ta đã cùng thanh niên và nhân dân thế giới đấu tranh không biết mệt mỏi chống âm mưu gây chiến tranh, bảo vệ hoà bình, đấu tranh không ngừng bước cho tình hữu nghị và hợp tác giữa thanh niên các nước.

Chúng ta rất lấy làm vinh dự vì đã góp một phần sức lực vào cuộc đấu tranh vĩ đại đó.

Thời gian qua, dưới sự lãnh đạo của Đảng, Chính phủ và Hồ Chủ tịch, thanh niên chúng ta tham gia cùng toàn dân kháng chiến thắng lợi đánh đuổi bọn xâm lược ra khỏi miền Bắc, làm cho một nửa nước ta được hoàn toàn giải phóng và thực hành cuộc cải cách ruộng đất ở nông thôn. Biết bao xương máu, sức lực mồ hôi của thanh niên lao động chân tay và trí óc đã cống hiến cho Tổ quốc. Trên đồng ruộng, trong nhà máy, ngoài tiền tuyến, sau hậu phương, trong trường học, trong phòng thí nghiệm, trong quân đội nhân dân Việt Nam và dân quân du kích v.v… Chúng ta đã lao động và chiến đấu vô cùng dũng cảm, chúng ta đã phát huy được tác dụng của vai trò thanh niên, do đó chúng ta có thể tự hào rằng: Chúng ta là thanh niên của một dân tộc anh hùng.

Các bạn thân mến!

Ngày nay, tình hình thế giới đã có dịu đi một phần nào, triển vọng giữ vững và xây dựng một nền hòa bình lâu dài có nhiều hơn, nhưng âm mưu gây chiến đang còn tồn tại, hạnh phúc đời sống của thanh niên đang còn bị đe doạ, do đó, là một thành phần trong Liên đoàn Thanh niên Dân chủ Thế giới, chúng ta kiên quyết đấu tranh chống âm mưu gây chiến, bảo vệ hòa bình.

Ngày nay, hòa bình đã được lập lại, nhưng nước ta đang bị đe dọa chia cắt, đồng bào và thanh niên miền Nam đang sống quằn quại dưới ách thực dân mới, bọn họ muốn chia cắt lâu dài nước ta. Không thể được! Chúng ta phấn đấu và sẽ phấn đấu đến cùng để thống nhất Tổ quốc chúng ta. Hai năm nay ở miền Bắc chúng ta đã ra sức khôi phục kinh tế xây dựng nước nhà, ruộng đất đã về tay dân cày, nhà máy đã được khôi phục và xây dựng, trường học mở thêm liên tiếp, thể thao thể dục phát triển v.v… Các việc đó, mỗi một việc phải có khó khăn và có ít nhiều khuyết điểm, song nhìn chung đó là sự đâm chồi nẩy lộc của một chế độ xã hội tốt đẹp, mỗi một việc đều dính liền với thành tích, nhiệm vụ và quyền lợi của thanh niên hiện nay và sau này. Vì thế chúng ta còn phải tiếp tục cố gắng hơn, quyết tâm đề cao trách nhiệm của mình hơn, phát huy truyền thống tốt đẹp của thanh niên, cùng với toàn thể nhân dân ra sức củng cố miền Bắc đưa nước ta tiến lên giầu mạnh, làm cơ sở cho cuộc đấu tranh thống nhất nước nhà theo cương lĩnh của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.

Muốn làm tròn được những nhiệm vụ quan trọng đó, về phần thanh niên, trước hết chúng ta cần phải đoàn kết với nhau rộng rãi, tránh hẹp hòi thành kiến, đoàn kết các tổ chức thanh niên, đoàn kết với thanh niên của các tôn giáo, đảng phái, đoàn kết với thanh niên công nông, trí thức, đoàn kết với thanh niên các dân tộc, đoàn kết với thanh niên xuất thân ở tầng lớp tư sản, và cả các thanh niên con cái địa chủ, nghĩa là đoàn kết hết sức rộng rãi. Đại hội của chúng ta lần này nhằm mục đích đó, làm cho thanh niên thành một lực lượng rộng rãi lớn mạnh và vững chắc để cùng toàn dân đấu tranh cho tương lai của Tổ quốc, cho hạnh phúc của tuổi trẻ, cho sự nghiệp hòa bình và hữu nghị của các dân tộc trên thế giới. Ngoài vấn đề đó chúng ta sẽ bàn bạc cùng nhau tìm cách nâng cao dần dần đời sống tinh thần và vật chất của thanh niên cho thích hợp với yêu cầu của thanh niên nói riêng và hoàn cảnh nước nhà nói chung. Đồng thời chúng ta sẽ quy định một bản điều lệ thích hợp, một chương trình hoạt động sát với yêu cầu, nguyện vọng, nhiệm vụ, tài năng của thanh niên trong toàn quốc.

Đại hội chúng ta tiêu biểu cho tinh thần phấn khởi và đoàn kết rộng rãi, nó đánh dấu một bước đường trưởng thành của lực lượng thanh niên toàn quốc.

Khắp nơi, thanh niên trong và ngoài nước, từ Bắc chí Nam đang hướng về Đại hội. Thanh niên thế giới nhiệt tình theo dõi và ủng hộ chúng ta.

Đầy lòng tin tưởng vào sự thành công của Đại hội, tôi xin thay mặt Ban Chấp hành Trung ương Liên đoàn Thanh niên Việt Nam và Ban Vận động Mặt trận thống nhất thanh niên toàn quốc tuyên bố khai mạc Đại hội".

Đại hội đã vinh dự được đón tiếp các đồng chí lãnh đạo Đảng và Nhà nước đến dự. Đặc biệt, ngày 15-10-1956, cả hội trường đã vang dội tiếng vỗ tay và bừng lên niềm hân hoan vui sướng vì đã được đón Bác Hồ kính yêu đến dự và huấn thị tại Đại hội. Bác đã thân ái chúc: “Toàn thể thanh niên đoàn kết, phấn đấu, mạnh dạn, vui vẻ và tiến bộ không ngừng để giúp sức xây dựng một nước Việt Nam hoà bình, thống nhất, độc lập dân chủ và giàu mạnh”.

Sau đó, Bác đã thân mật nói chuyện với Đại hội. Bác kể về những kinh nghiệm thế giới, kinh nghiệm trong nước thời kỳ thanh niên của Người. Bác nói: “Hồi Bác đang thanh niên như các cháu, tình hình thế giới và tình hình trong nước rất đen tối… cho nên Bác và thanh niên hồi đó đều cùng bị áp bức bóc lột như tất cả đồng bào khác.

Đau lòng vì dân tộc bị nô lệ, Bác đã đi đến nhiều nước ngoài, làm nhiều nghề để sống, sống để tìm con đường cách mạng.

Lúc đã ngoài 25 tuổi, Bác còn chưa biết Đảng là gì, Đoàn là gì, phải tìm tòi lâu dần mới biết. Ngày nay, không những thanh niên mà các cháu nhi đồng 9, 10 tuổi đều đã biết Đảng, biết Đoàn và hiểu biết nhiều công việc khác.

Nhờ ảnh hưởng Cách mạng Tháng Mười và Cách mạng Trung Quốc, phong trào cách mạng nước ta tiến lên mạnh, Đảng và Đoàn Thanh niên thành lập. Lúc đó Bác đã hơn 35 tuổi. Trong mấy mươi năm, Đảng và Đoàn phải hoạt động bí mật, địch khủng bố gắt gao và thường xuyên. Nhiều đồng chí đã hy sinh vẻ vang vì Tổ quốc, vì nhân dân, vì cách mạng.

Nhờ đường lối chính sách của Đảng đúng, nhờ đảng viên và đoàn viên cương quyết, dũng cảm và tin tưởng vững chắc, cho nên dù hoàn cảnh cực kỳ khó khăn nguy hiểm, dù nhiều đồng chí đã bị bắt bớ, hy sinh, Đảng và Đoàn vẫn phát triển ngày càng mạnh. Nhờ sự giáo dục bồi dưỡng của Đảng và Đoàn, nhiều chiến sĩ, anh hùng thanh niên đã nẩy nở trong cuộc Cách mạng Tháng Tám, trong cuộc toàn dân kháng chiến và trong việc xây dựng nước nhà hiện nay.

Kinh nghiệm là:

Nếu so với thanh niên các lớp trước, trong đó có cả Bác, thì thanh niên ta ngày nay tiến bộ hơn nhiều, sung sướng hơn nhiều.

Ngày nay, thanh niên là công dân của nước Việt Nam độc lập, tự do, có Đảng, có Đoàn của mình, có chính quyền, có Mặt trận, có quân đội của mình, là người chủ tương lai của nước nhà mình.

Chính vì là người chủ tương lai cho nên toàn thể thanh niên ta phải đoàn kết chặt chẽ, phấn đấu anh dũng, vượt mọi khó khăn, thi đua giúp sức vào sự nghiệp xây dựng nước nhà tốt đẹp- một nước Việt Nam hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh, để mình làm chủ mai sau”.

Đại hội còn được đón đồng chí Trường Chinh, đồng chí Phạm Văn Đồng đến dự. Lời phát biểu của Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã khẳng định: "Đại hội của các đồng chí là tiêu biểu khối đoàn kết của thanh niên Việt Nam. Khối đoàn kết thanh niên là hình ảnh khối đoàn kết của toàn thể dân tộc chúng ta, là hình ảnh Mặt trận Tổ quốc của chúng ta. Đó là đặc sắc của Đại hội của các đồng chí…

Thanh niên là con đẻ của chế độ, đồng thời là tương lai của chế độ, thanh niên có nhiệm vụ cùng toàn dân hy sinh phấn đấu cho chế độ Dân chủ Cộng hòa của chúng ta ngày càng thêm vững mạnh và phát triển.

Đó cũng là cuộc đấu tranh cho đời sống ngày nay thêm tươi sáng và ngày mai rực rỡ của thanh niên"…

Đại hội đã đánh giá cao hoạt động của Liên đoàn và của thanh niên cả nước trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp và những ngày đầu hoà bình lập lại. Đại hội đã được nghe ý kiến đánh giá và bày tỏ tình đoàn kết hữu nghị của anh Vécne Lambe, đại biểu Liên đoàn Thanh niên Dân chủ thế giới: “Chúng tôi đã biết rõ sự dũng cảm của nam nữ thanh niên Việt Nam trong cuộc đấu tranh vì độc lập dân tộc chống lại ách áp bức đô hộ của thực dân… Các bạn hãy tin tưởng chắc chắn rằng thanh niên tiến bộ trên toàn thế giới sau này vẫn luôn ủng hộ các bạn… Không có một sức mạnh nào trên thế giới có thể chia cắt những mối liên hệ hữu nghị giữa thanh niên Việt Nam và thanh niên yêu chuộng hoà bình trên thế giới… Chúng tôi tự hào thấy thanh niên nước các bạn - thanh niên nước Việt Nam, thanh niên một dân tộc cần cù và dũng cảm, một dân tộc yêu tự do đã đứng vững vàng trong hàng ngũ của Liên đoàn Thanh niên Dân chủ Thế giới…”.

Đại hội đã đề ra mục tiêu, phương hướng, nhiệm vụ của Hội Liên hiệp Thanh niên Việt Nam và của phong trào thanh niên Việt Nam trong những năm tới; đồng thời thông qua Nghị quyết, bản Hiệu triệu thanh niên toàn quốc và Thư của Đại hội gửi các bạn thanh niên miền Nam.

Nghị quyết của Đại hội đã nêu rõ:

1- Thanh niên Việt Nam vốn có một truyền thống đoàn kết tốt đẹp. Trong bao năm dưới ánh thống trị nặng nề của bọn đế quốc và phong kiến, thanh niên ở tất cả mọi tầng lớp đều đã đoàn kết chặt chẽ, xung phong trong cuộc đấu tranh giành tự do và độc lập dân tộc, giành quyền lợi, tương lai và hạnh phúc của tuổi trẻ. Chính nhờ lực lượng đoàn kết đó, thanh niên Việt Nam trong toàn quốc đã có nhiều cống hiến vào Cách mạng Tháng Tám, vào cuộc kháng chiến trường kỳ, cùng toàn dân đem lại chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ, đem lại thắng lợi cho Hội nghị Giơnevơ lập lại hòa bình ở Việt Nam.

Chính nhờ lực lượng đoàn kết đó mà 2 năm qua, thanh niên Việt Nam đã có nhiều thành tích to lớn, góp phần vào những thắng lợi của toàn dân trong công cuộc gìn giữ hoà bình, củng cố miền Bắc và đấu tranh để thực hiện Hiệp nghị Giơnevơ, tiến tới thống nhất nước nhà.

Tinh thần đoàn kết tốt đẹp đó đã biểu hiện ngay trong Đại hội này làm cho Đại hội thành công rực rỡ.

2- Hòa bình đã được lập lại nhưng nước chúng ta chưa được thống nhất. Bọn đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai của chúng đang ra sức phá hoại Hiệp nghị Giơnevơ, âm mưu chia cắt lâu dài đất nước ta, nhằm biến miền Nam nước ta thành thuộc địa và căn cứ quân sự của đế quốc Mỹ. Âm mưu đó nằm trong âm mưu chung của đế quốc Mỹ hòng gây lại một cuộc chiến tranh mới.

Nhưng âm mưu của đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai đã vấp phải sức đấu tranh anh dũng của nhân dân ta từ Nam đến Bắc, đã vấp phải lực lượng hòa bình dân chủ xã hội chủ nghĩa và phong trào giải phóng dân tộc ngày càng lan rộng và lớn mạnh. Do sức đoàn kết đấu tranh của nhân dân thế giới, tình hình quốc tế đã dịu đi. Mặc dầu bọn đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai vẫn cố theo đuổi chính sách vũ lực, gây lại tình hình căng thẳng ở một vài nơi, âm mưu của chúng nhất định sẽ thất bại.

Đứng trước tình hình hiện nay, Đại hội nhận định rằng nguyện vọng tha thiết nhất của thanh niên ta là được sống trong cảnh hòa bình yên vui, được phát triển mọi khả năng sáng tạo của mình, xây dựng một nước Việt Nam hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh. Nhiệm vụ to lớn và cấp bách của thanh niên Việt Nam hiện nay là cùng mọi tầng lớp nhân dân ra sức củng cố miền Bắc đã được hoàn toàn giải phóng, đấu tranh thực hiện thống nhất nước nhà trên cơ sở độc lập, dân chủ và bằng phương pháp hòa bình góp phần tích cực cùng thanh niên và nhân dân thế giới đấu tranh cho hòa bình, hữu nghị giữa các dân tộc.

Đồng thời Đại hội nhận định rằng dưới chính thể Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tốt đẹp, những quyền lợi thiết thân và đời sống hàng ngày của thanh niên đã dần dần được cải thiện. Song nước ta đã trải qua 15 năm chiến tranh tàn phá, hoà bình mới được lập lại, nhân dân ta còn gặp nhiều khó khăn trên bước đường tiến lên, vì vậy mọi việc được cải thiện mới chỉ là bước đầu. Thanh niên chúng ta có trách nhiệm giúp đỡ lẫn nhau, góp sức cùng Chính phủ và toàn dân vượt mọi khó khăn, phát triển thành tích, do đó thực hiện những nguyện vọng chính đáng của thanh niên.

3- Để thực hiện được những nhiệm vụ nặng nề và vẻ vang, những quyền lợi thiết thân của thanh niên, Đại hội nhận thấy cần thiết phải ra sức mở rộng và củng cố khối đoàn kết của thanh niên.

Do đó Đại hội quyết định:

1- Thành lập Hội Liên hiệp Thanh niên Việt Nam, nhằm mục đích đoàn kết rộng rãi các tổ chức, các lực lượng nam nữ thanh niên Việt Nam trong toàn quốc từ Bắc chí Nam, trong nước và ngoài nước, không phân biệt thành phần xã hội, xu hướng chính trị, nghề nghiệp, tôn giáo, chủng tộc, không phân biệt trước đây hoặc hiện nay ở đảng phái nào, tổ chức nào, để cùng toàn dân đấu tranh cho độc lập dân tộc, cho hoà bình thế giới, cho tương lai tươi sáng của thanh niên.

Tinh thần cơ bản của Hội Liên hiệp Thanh niên Việt Nam là đoàn kết rộng rãi, lâu dài, dựa trên sự thật thà, thân ái giúp đỡ nhau, tôn trọng tính chất độc lập của các tổ chức và làm việc theo phương pháp dân chủ bàn bạc để cùng nhau thỏa thuận, thống nhất ý kiến và thực hiện.

Hội Liên hiệp Thanh niên Việt Nam hoàn toàn tán thành bản cương lĩnh của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và gia nhập Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, tán thành mục đích, tôn chỉ của Liên đoàn Thanh niên Dân chủ Thế giới và gia nhập Liên đoàn Thanh niên Dân chủ Thế giới. Đại hội nhiệt liệt hoan nghênh lời tuyên bố của Liên đoàn Thanh niên Việt Nam hoà mình vào Hội Liên hiệp Thanh niên Việt Nam.

2- Hội Liên hiệp Thanh niên Việt Nam sẽ ra sức hoạt động về những mặt sau đây:

a- Trong nước:

- Phát huy tinh thần yêu nước, tinh thần xung phong, tích cực, sáng tạo, ý chí tiến thủ của thanh niên toàn quốc:

ở miền Bắc, hăng hái tham gia khôi phục kinh tế, phát triển văn hoá, củng cố quốc phòng, nâng cao dần đời sống của nhân dân làm cho miền Bắc ngày càng vững mạnh, chế độ dân chủ ngày càng phát triển, làm cơ sở vứng chắc cho công cuộc đấu tranh thống nhất nước nhà.

ở miền Nam, ra sức tăng cường khối đoàn kết rộng rãi của thanh niên, đấu tranh đòi những quyền lợi hàng ngày, đấu tranh cho hòa bình và thống nhất.

- Đoàn kết thanh niên Việt Nam trong và ngoài nước, đấu tranh đòi thi hành đúng đắn Hiệp nghị Giơnevơ, đòi lập lại quan hệ bình thường Bắc Nam, đòi chính quyền miền Nam phải hiệp thương với Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa để bàn việc Tổng tuyển cử tự do, thống nhất Tổ quốc.

- Dùng mọi phương pháp, hình thức hoạt động để tăng cường tình đoàn kết ruột thịt Bắc Nam, tăng cường sự hiểu biết, liên hệ mật thiết giữa các tổ chức, các tầng lớp thanh niên Việt Nam trong và ngoài nước, phát triển tình bạn cao quý và tốt đẹp trong thanh niên, tạo mọi điều kiện thuận lợi để các tầng lớp, các tổ chức thanh niên có nhiều xúc tiếp với nhau, giúp đỡ nhau tiến bộ.

- Hết sức giúp đỡ các tầng lớp nam nữ thanh niên thực hiện những nguyện vọng chính đáng của mình, làm cho thanh niên có công ăn việc làm, có điều kiện thuận lợi để học tập, phát triển tài năng, cải thiện đời sống tinh thần và vật chất, lập gia đình, trau dồi và rèn luyện sức khỏe, phát triển những hoạt động văn nghệ, vui chơi, giải trí lành mạnh,v.v… Đại hội trao lại cho Ban Chấp hành Trung ương Hội Liên hiệp Thanh niên Việt Nam những đề nghị của các tiểu ban kinh tế, xã hội, văn hóa, văn nghệ, thể dục thể thao, để nghiên cứu và bàn bạc với các tổ chức thanh niên, các đoàn thể và các cơ quan có trách nhiệm, để cùng nhau tìm cách dần dần thực hiện.

b- Trên thế giới:

- Tích cực tham gia mọi hoạt động của Liên đoàn Thanh niên Dân chủ Thế giới và những hoạt động quốc tế khác nhằm mục đích phát triển tình hữu nghị, sự trao đổi đấu tranh cho hoà bình thế giới. Chống âm mưu gây chiến của bọn đế quốc do Mỹ cầm đầu và đòi sử dụng lực lượng nguyên tử vào những mục đích hoà bình, chống việc sử dụng, tàng trữ và thử các thứ vũ khí nguyên tử và khinh khí.

- Tăng cường mọi quan hệ hữu nghị với thanh niên và nhân dân các nước Liên Xô, Trung Quốc, các nước dân chủ nhân dân anh em, với thanh niên và nhân dân các nước láng giềng Cao Miên, Lào, các nước ấn Độ, Miến Điện, Nam Dương và các nước khác ở Đông Nam á, với thanh niên và nhân dân Pháp cùng các nước khác trên thế giới.

- ủng hộ phong trào giải phóng dân tộc của nhân dân Angiêri và nhân dân các nước thuộc địa, ủng hộ cuộc đấu tranh của nhân dân Ai Cập quốc hữu hoá kênh Xuyê và bảo vệ chủ quyền của mình mà ở những nơi đó thanh niên yêu nước, yêu hoà bình đang tiến lên dũng cảm, kiên quyết chống chủ nghĩa thực dân.

- Nhiệt liệt hưởng ứng Đại hội Liên hoan Thanh niên và Sinh viên thế giới lần thứ VI cho hoà bình và hữu nghị sẽ họp tại Mátxcơva năm 1957, và Đại hội Thanh niên Thế giới lần thứ 4.

3- Đại hội hướng về miền Nam, thông cảm những nỗi đau khổ của nhân dân miền Nam, gửi lời chào đoàn kết ruột thịt và nhiệt liệt hoan nghênh tinh thần đấu tranh anh dũng, bền bỉ của thanh niên và nhân dân các tầng lớp ở miền Nam đã kiên quyết chống lại những âm mưu khủng bố, lừa bịp, mua chuộc của bọn tay sai, của đế quốc Mỹ, chống những âm mưu của chúng định phá hoại hoà bình, phá hoại thống nhất của nước ta.

4- Đại hội nhiệt liệt hoan nghênh những thắng lợi vẻ vang của Liên đoàn Thanh niên Dân chủ Thế giới, của phong trào thanh niên thế giới và chân thành cảm tạ mối tình hữu nghị nồng nhiệt, sự ủng hộ chân thành của Liên đoàn Thanh niên Dân chủ Thế giới, của thanh niên thế giới đối với công cuộc đấu tranh của thanh niên Việt Nam trong kháng chiến trước đây cũng như trong hòa bình hiện nay.

Đại hội thành lập Hội Liên hiệp Thanh niên Việt Nam lần thứ I tháng 10-1956 đánh dấu một bước tiến lịch sử của phong trào thanh niên Việt Nam. Đại hội kế thừa và phát huy truyền thống đoàn kết tốt đẹp, đấu tranh anh dũng sẵn có của thanh niên ta, dựa trên cơ sở vững chắc và thống nhất là lòng yêu nước và yêu hoà bình tha thiết.

Với tinh thần yêu nước, đoàn kết đấu tranh anh dũng đó, với sự ủng hộ của thanh niên thế giới, chúng ta tiến lên giành những thắng lợi mới, làm tròn nhiệm vụ nặng nề và vinh quang của thế hệ trẻ chúng ta, cùng toàn dân xây dựng một nước Việt Nam hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh, thực hiện những quyền lợi, hạnh phúc, tương lai tươi đẹp của thanh niên chúng ta trong tiền đồ rực rỡ của dân tộc, trong thế giới hoà bình".

Bác sĩ Phạm Ngọc Thạch, Bộ trưởng Bộ Y tế sau này là Anh hùng lao động được bầu làm Chủ tịch Ban Chấp hành Trung ương Hội. Các phó Chủ tịch Hội gồm các đồng chí: Nguyễn Lam, Bí thư Thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương Đoàn Thanh niên Lao động Việt Nam; Lê Quang Toàn, Chủ tịch Hội Liên hiệp Sinh viên Việt Nam; Nguyễn Ngọc San, Trưởng Ban Vận động Mặt trận Thống nhất Thanh niên Hà Nội.

Tại Hội nghị lần thứ 2 của Ban Chấp hành Trung ương vào tháng 1-1957, theo sự giới thiệu của Trung ương Đoàn Thanh niên Lao động, Hội nghị đã bầu anh Vũ Quang vào Ban Chấp hành Hội Liên hiệp Thanh niên Việt Nam, và cử anh làm Tổng Thư ký của Trung ương Hội.

Đại hội thành lập Hội Liên hiệp Thanh niên Việt Nam lần thứ I (từ ngày 8-10 đến 15-10-1956), đã kết thúc thắng lợi sau 8 ngày làm việc trong không khí vui tươi, đoàn kết và xây dựng.

Sau Đại hội Liên hiệp Sinh viên Việt Nam và Hội Liên hiệp Thanh niên Việt Nam, Đại hội Đoàn Thanh niên Lao động Việt Nam lần thứ II cũng được triệu tập từ ngày 25-10 đến 4-11-1956 tại Thủ đô Hà Nội với 479 đại biểu, thay mặt cho hơn nửa triệu đoàn viên trong cả nước. Đại hội vô cùng phấn khởi và vinh dự được đón Bác Hồ và các đồng chí Trường Chinh, Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp, Hoàng Quốc Việt và nhiều đồng chí trong Bộ Chính trị, Ban Chấp hành Trung ương Đảng… đến dự. Trong bài phát biểu với Đại hội, Bác Hồ đã căn dặn: “Muốn Đoàn củng cố và phát triển thì tất cả đoàn viên phải gương mẫu:

- Phải giữ vững đạo đức cách mạng. Phải khiêm tốn, cần cù, hăng hái, dũng cảm. Phải tránh tư tưởng kiêu ngạo, công thần, tự tư, tự lợi.

- Phải xung phong trong mọi công tác: Xung phong là phải đi trước, làm trước để lôi cuốn quần chúng chứ không phải xa rời quần chúng.

- Phải cố gắng học tập chính trị, văn hoá, nghề nghiệp để tiến bộ mãi, để sẵn sàng trở thành cán bộ tốt, đảng viên tốt.

- Phải rèn luyện thân thể cho khoẻ mạnh, khoẻ mạnh thì mới đủ sức để tham gia một cách dẻo dai bền bỉ những công việc ích nước lợi nhà”.

Thay mặt Ban Chấp hành Trung ương Đảng, đồng chí Trường Chinh đã phát biểu với Đại hội. Đồng chí đã biểu dương những cố gắng của Đoàn và khẳng định: "Đoàn đã góp phần đáng kể cho sự nghiệp cách mạng của dân tộc - dân chủ nhân dân, trong Cách mạng Tháng Tám, trong kháng chiến trường kỳ, trong cải cách ruộng đất và khôi phục xây dựng Tổ quốc, trong đấu tranh thực hiện thống nhất nước nhà". Đồng chí Tổng Bí thư Trường Chinh còn nhắc nhở: "Đoàn Thanh niên Lao động Việt Nam phải được xây dựng thành một tổ chức quần chúng và tiên tiến của thanh niên Việt Nam để hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ do Đảng giao phó".

Đại hội đã được nghe Báo cáo Chính trị do đồng chí Nguyễn Lam - Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đoàn trình bày.

Đại hội khẳng định những cống hiến xuất sắc của Đoàn và phong trào thanh niên trong 9 năm kháng chiến và 3 năm hàn gắn vết thương chiến tranh, khôi phục kinh tế. Đại hội đã đề ra nhiệm vụ của Đoàn trong giai đoạn cách mạng mới là: "Động viên mọi người, mọi tầng lớp thanh niên đoàn kết sức lực, trí tuệ của mình vào công cuộc khôi phục kinh tế, phát triển văn hóa, củng cố quốc phòng, tham gia tích cực vào công cuộc củng cố miền Bắc, tiến dần từng bước lên chủ nghĩa xã hội, làm cơ sở vững chắc cho sự nghiệp đấu tranh thống nhất nước nhà".

Đại hội đã ra Nghị quyết về công tác thiếu nhi và quyết định đổi tên Đội Thiếu nhi Tháng Tám thành Đội Thiếu niên Tiền Phong Việt Nam bao gồm hai lứa tuổi thiếu niên và nhi đồng.

Đặc biệt, Đại hội đã gửi Quyết tâm thư lên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, hứa: "Kế tục và phát huy truyền thống cách mạng của dân tộc Việt Nam… nguyện mãi mãi đứng dưới lá cờ của Đảng, nguyện cống hiến tất cả tinh thần và lực lượng của tuổi trẻ để hoàn thành vẻ vang sự nghiệp cao quí của Đảng đã phó thác cho thanh niên. Toàn thể đoàn viên, thanh niên Lao động Việt Nam nguyện đoàn kết chặt chẽ xung quanh Đảng và tuyệt đối tin tưởng vào sự lãnh đạo của Ban Chấp hành Trung ương Đảng".

Đại hội Đoàn toàn quốc lần thứ II đã bầu Ban Chấp hành Trung ương Đoàn gồm 30 đồng chí và Ban Bí thư gồm 5 đồng chí. Đồng chí Nguyễn Lam được bầu làm Bí thư Thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương Đoàn.

Các Đại hội Đoàn, Hội được liên tiếp tổ chức; các tổ chức Đoàn, Hội được củng cố, xây dựng và phát triển không ngừng đã khẳng định sự lớn mạnh của mặt trận đoàn kết, tập hợp thanh niên trong thời kỳ đầu hàn gắn vết thương chiến tranh, khôi phục và phát triển kinh tế, xã hội ở miền Bắc, tiếp tục cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam tiến tới giành độc lập, thống nhất nước nhà.


CHƯƠNG VIII: NHỮNG THÀNH TỰU MỚI TRONG SỰ NGHIỆP KHÔI PHỤC, CẢI TẠO, PHÁT TRIỂN KINH TẾ, VĂN HÓA, XÃ HỘI Ở MIỀN BẮC VÀ PHONG TRÀO ĐẤU TRANH CHỐNG MỸ - NGỤY Ở MIỀN NAM. ĐẠI HỘI LẦN THỨ II HỘI LIÊN HIỆP

Sau thời gian khôi phục kinh tế với những thành tựu ban đầu, miền Bắc đã có sự chuyển biến quan trọng. Để tiếp tục đưa đất nước đi lên, Đảng ta chủ trương đẩy mạnh cuộc cải tạo xã hội chủ nghĩa đối với các thành phần kinh tế cá thể của nông dân, thợ thủ công và thành phần kinh tế tư bản tư doanh, đồng thời ra sức phát triển thành phần kinh tế quốc doanh- lực lượng chủ đạo của toàn bộ nền kinh tế nước nhà.

Phong trào Hợp tác hoá nông nghiệp đã làm thay đổi bộ mặt nông thôn miền Bắc. Theo chủ trương của Đảng, hợp tác hoá nông nghiệp được kết hợp chặt chẽ với cải tiến kỹ thuật và phát triển sản xuất, hợp tác hoá đi đôi với thuỷ lợi hoá và tổ chức lại sản xuất, góp phần thúc đẩy công nghiệp hoá xã hội chủ nghĩa. Lao động tập thể đã giúp cho đoàn viên, thanh niên khắp các vùng nông thôn miền Bắc phát huy tính chủ động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm và đã đổi thay dần cả một nếp sống, một phong cách lao động thụ động xưa cũ.

Thanh niên nông thôn không chỉ tham gia và góp phần mở rộng, củng cố phong trào hợp tác hoá nông nghiệp mà còn tích cực tham gia đẩy mạnh sản xuất, tiếp tục xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật cho nông nghiệp. Trong đó, thuỷ lợi được coi là biện pháp hàng đầu và cũng là nơi có nhiều khó khăn, gian khổ nhất, đòi hỏi sự sáng tạo, lòng dũng cảm và bầu nhiệt huyết của tuổi trẻ. Các cấp Đoàn và Hội như Hà Nội, Bắc Ninh, Hải Dương, Hưng Yên đã động viên hơn một chục vạn đoàn viên, hội viên, thanh niên tham gia xây dựng công trình đại thuỷ nông Bắc – Hưng – Hải để dẫn nước sông Hồng về tưới cho đồng ruộng các địa phương trên. Ngày 20-9-1958, Bác Hồ đã trực tiếp đến thăm công trình này, Người ân cần căn dặn: “Cán bộ và đồng bào phải có quyết tâm vượt mọi khó khăn, làm cho nhanh, cho tốt. Công trình Bắc – Hưng- Hải thành công thì mỗi năm đồng bào đỡ mấy triệu công chống hạn, thu hoạch lại tăng thêm…Đảng viên và Đoàn Thanh niên phải xung phong “làm đầu tàu, làm gương mẫu”…”

Làm theo lời Bác dạy, hàng trăm đội Thanh niên xung kích đã ra đời, xông pha đảm nhận những công việc ở những nơi gian khổ nhất. Thi đua với đoàn viên, thanh niên ở công trình Bắc – Hưng – Hải, tuổi trẻ nông thôn miền Bắc đã đẩy mạnh phong trào làm thuỷ lợi, đào mương, đắp đập, hoàn chỉnh các hệ thống nông giang, đảm bảo đủ nước, chủ động tưới tiêu cho đồng ruộng.

Chỉ trong 3 năm (1958- 1960) cải tạo và phát triển kinh tế ở miền Bắc, tuổi trẻ nông thôn đã đóng góp 72,25 triệu ngày công lao động, đào đắp 116,2 triệu m3 đất đá để xây dựng các công trình thuỷ lợi; phục vụ thâm canh tăng năng suất, góp phần giải quyết cơ bản nạn hạn hán, úng lụt kéo dài.

Phong trào làm phân bón, cải tiến công cụ, khai hoang phục hoá… cũng thu hút hàng triệu đoàn viên, thanh niên nông thôn miền Bắc tham gia. ở ngoại thành Hà Nội, đoàn viên Nguyễn Thị Hoàn đã nêu kỷ lục “Kiện tướng nghìn cân” và chỉ trong một thời gian ngắn, chính Hoàn đã tự phá kỷ lục từ 1000 kg đến 3000 kg rồi 6000 kg/ tháng. Khắp các vùng nông thôn miền Bắc, tuổi trẻ đã noi gương, thi đua cùng kiện tướng Nguyễn Thị Hoàn để rồi xuất hiện hàng loạt các “Phó kiện tướng" làm phân bón trong phong trào “sạch làng tốt ruộng” ”. ở huyện Duy Tiên (Hà Nam) có Lê Thị Mến đạt 4000 kg. ở Nam Định có Cao Thị Min đạt 5200 kg… Các chi đoàn Đông Phong (Hòa Bình); chi đoàn Minh Long (Thái Bình) “Các kiện tướng Nguyễn Thị Hoàn, Lê Văn Đây (thương binh cụt một tay), Sân Mỹ Mây (nữ dân tộc thiểu số), Trần Danh (thiếu niên) đã được vinh dự nhận phần thưởng của Bác Hồ về thành tích làm phân bón”.

Phong trào cải tiến công cụ, cải tiến kỹ thuật của thanh niên nông thôn cũng được khởi xướng và đã thu được những thành tựu ban đầu. Tiêu biểu là tấm gương của đoàn viên Phạm Trung Pồn (Người Tày) xã Bế Triều, tỉnh Cao Bằng. Anh bị mù cả hai mắt vẫn dám nghĩ, dám làm, kiên trì cải tiến được tới 11 loại công cụ cầm tay như cày 51 thay cho cày chìa vôi; bừa sắt thay cho bừa tre… ở Hoà Bình, thanh niên xã Liên Phương cũng cải tiến, sử dụng 100% cày cải tiến thay cho cày chìa vôi; 90% xe thô sơ và xe cải tiến thay cho quang gánh; giải phóng cho đôi vai… Phương pháp ủ chua thức ăn cho lợn; ngâm ủ lúa giống trong nước “3 sôi 2 lạnh”… cũng được áp dụng rộng khắp các vùng nông thôn miền Bắc.

Để thúc đẩy sản xuất nông nghiệp, Đảng và Nhà nước ta đặc biệt quan tâm đến đào tạo, bồi dưỡng cán bộ khoa học kỹ thuật nông nghiệp. Chỉ tính riêng những năm học từ 1957 đến 1959 đã có “443 sinh viên và 1039 học sinh trung cấp nông nghiệp và hàng nghìn cán bộ sơ cấp kỹ thuật trồng trọt và chăn nuôi”.

Trong không khí thi đua tưng bừng, sôi nổi, tuổi trẻ nông thôn miền Bắc đã góp phần đẩy mạnh sản xuất nông nghiệp qua các phong trào làm thuỷ lợi, làm phân bón, cải tiến công cụ, khai hoang phục hoá, học tập khoa học kỹ thuật để đưa vào áp dụng trong thực tiễn… Họ đã góp công lớn trong việc đẩy tổng sản lượng lương thực toàn miền Bắc năm 1959 đạt tới 5,15 triệu tấn. Năm 1960, dù bị thiên tai nặng vẫn đạt 4.212.000 tấn, vượt hơn năm 1957 tới 30 vạn tấn.

Trên mặt trận sản xuất công nghiệp, giao thông vận tải, đoàn viên, hội viên, thanh niên công nhân, thanh niên xung phong đã lao động dũng cảm, góp phần khôi phục, phát triển hệ thống giao thông, nhà máy, xí nghiệp và các cơ sở sản xuất công nghiệp. Để kịp thời tổ chức và động viên tuổi trẻ phát huy vai trò của mình, Trung ương Đoàn; Trung ương Hội đã phát động phong trào “Lao động kiến thiết Tổ quốc”, đồng thời mở thêm một số cuộc vận động như: Làm đúng giờ, chống tham ô, lãng phí…nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho đoàn viên, thanh niên công nhân tham gia tích cực vào công cuộc khôi phục, phát triển kinh tế và xây dựng đất nước.

Trong các nhà máy, xí nghiệp, công trường, hầm mỏ… ngày càng xuất hiện nhiều gương sáng đoàn viên, hội viên, thanh niên đầy nhiệt huyết. ở Hà Nội, nhà máy cơ khí Trần Hưng Đạo được sửa chữa, khôi phục sau cuộc hành trình di chuyển gian khổ từ Việt Bắc về Thủ đô; nhà máy xe lửa Gia Lâm; nhà máy điện Yên Phụ… sau những cuộc giằng co quyết liệt với giới chủ để giữ gìn, bảo vệ máy móc, thiết bị từ những năm 1955-1958, nay được các đoàn viên, hội viên, thanh niên góp hàng vạn ngày công lao động để khôi phục, sửa chữa, vận hành với công suất ngày càng cao…

Trong 3 năm (1958-1960), với tinh thần “Lao động kiến thiết Tổ quốc” và “Phát huy sáng kiến, cải tiến kỹ thuật, tiết kiệm nguyên vật liệu, hạ giá thành sản phẩm”…đoàn viên, thanh niên công nhân Hà Nội đã có "4.995 sáng kiến, cải tiến kỹ thuật, tăng năng suất từ 10 đến 200 % và thu nhặt được trên 628 tấn nguyên vật liệu…Nhiều điển hình cá nhân như Nguyễn Thế Nghĩa, công nhân nhà máy cơ khí Gia Lâm trong một năm có 10 sáng kiến, cải tiến kỹ thuật, trong đó có sáng kiến tăng năng suất 900% và đã trở thành lá cờ đầu của thanh niên công nhân miền Bắc”.

ở các tỉnh, thành khác trên miền Bắc xã hội chủ nghĩa, đoàn viên, hội viên và thanh niên công nhân đã phát huy tính tiên phong của giai cấp công nhân, hăng hái tham gia ngày “Lao động kiến thiết Tổ quốc”; ngày “Lao động xã hội chủ nghĩa” và các phong trào “Phát huy sáng kiến, cải tiến kỹ thuật”…để cải tạo và phát triển nhanh chóng các nhà máy, hầm mỏ, xí nghiệp bị tàn phá trong chiến tranh. Đoàn viên, hội viên, thanh niên công nhân Hải Phòng đã đóng góp được 2030 sáng kiến; đoàn viên, thanh niên công nhân khu mỏ Hồng Quảng (Quảng Ninh) luôn đi đầu trong sản xuất, vận chuyển than, tiết kiệm được 2,8 triệu đồng; đoàn viên, hội viên và thanh niên công trường khai thác đá Sơn Tây với nhiều sáng kiến, cải tiến kỹ thuật đã làm lợi cho xí nghiệp 6 triệu đồng, được Bác Hồ gửi thư khen…

Sự nghiệp xây dựng xã hội chủ nghĩa trên miền Bắc đã tạo ra môi trường rộng lớn cho tuổi trẻ cống hiến và trưởng thành, mở ra con đường tươi sáng đi tới tương lai. Nếu trong 3 năm đầu (1955-1957) khôi phục kinh tế có 6 vạn thanh niên tình nguyện đến các công trường đầy cam go, thử thách thì đến 3 năm (1958-1960) cải tạo, xây dựng, phát triển kinh tế đã có tới 20 vạn đoàn viên, hội viên, thanh niên tình nguyện đến với các công trình. Điển hình là các đội Thanh niên xung phong, các đoàn viên, hội viên, thanh niên tham gia xây dựng tuyến đường sắt Hà Nội - Đông Anh; tuyến đường bộ 12B Hoà Bình; các nhà máy Suppe Phốt phát Lâm Thao, Lò cao số 1 khu gang thép Thái Nguyên…

Cùng với sự phát triển của nông nghiệp, công nghiệp trong thời kỳ cải tạo, phát triển kinh tế, đời sống văn hoá, tinh thần của tuổi trẻ và nhân dân miền Bắc cũng không ngừng được nâng cao. Những nọc độc của chủ nghĩa thực dân từng bước được loại trừ. Đặc biệt, việc nâng cao trình độ học vấn cho đoàn viên, thanh niên được Đảng và Nhà nước hết sức quan tâm. Các lớp bình dân học vụ, bổ túc văn hóa tiếp tục được mở rộng, thu hút ngày càng đông tuổi trẻ và bà con lao động. Các đội “Thanh niên xung kích diệt dốt”, các “Trại hè diệt dốt” được tổ chức ở khắp nơi và phát huy hiệu quả. Chỉ tính riêng năm 1958, ở Thanh Hoá đã có 30.417 đoàn viên, thanh niên tham gia trong 9273 tổ “xung kích diệt dốt”. Bởi vậy, đến 30-10-1958, tỉnh Thanh Hoá đã thanh toán xong nạn mù chữ cho cả thanh niên và nhân dân.

Còn ở tỉnh miền núi Hoà Bình, đến năm 1960 đã có 96% số người trong độ tuổi biết đọc, biết viết. Đây cũng là tỉnh miền núi đầu tiên thanh toán được cơ bản nạn mù chữ ngay trong thời kỳ 1958-1960.

Được Đảng, Bác quan tâm, được sống, lao động và học tập trên miền Bắc xã hội chủ nghĩa, tuổi trẻ đã hăng hái, say mê đi đầu trong sự nghiệp củng cố, phát triển ngành giáo dục. Đến tháng 12-1958 trên toàn miền Bắc đã có 95% nhân dân từ 12 đến 45 tuổi biết đọc, biết viết. Năm học 1959- 1960, miền Bắc đã có 1.460.596 học sinh phổ thông (gấp 3,5 lần năm 1939-1940 của toàn Đông Dương); 16.000 học sinh trung học chuyên nghiệp (gấp 4 lần) và 8.479 sinh viên đại học (gấp 14,6 lần năm học 1939-1940 toàn Đông Dương) và gần 2000 học sinh, sinh viên được cử đi học ở nước ngoài.

Để giáo dục và nâng cao nhận thức về Đảng, Bác và những phẩm chất cao đẹp của người cộng sản cho tuổi trẻ, nhân dịp kỷ niệm lần thứ 30 ngày thành lập Đảng (3/2/1930- 3/2/1960) và chào mừng Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ III, đầu năm 1960, Trung ương Đoàn đã mở cuộc vận động: “Sống, làm việc, học tập, theo gương những người cộng sản”. Đây là một cuộc vận động lớn nhằm bồi dưỡng, nâng cao nhận thức về lý tưởng, nâng cao ý chí phấn đấu, rèn luyện theo gương Bác Hồ kính yêu, theo gương những anh hùng, liệt sỹ, những chiến sỹ cộng sản trẻ tuổi đã cống hiến trọn vẹn đời mình cho Đảng, cho nhân dân, cho Tổ quốc.

Tháng 3 năm 1960, Đại hội “Thanh niên tích cực lao động XHCN” được triệu tập tại Hà Nội. Đại hội đã biểu dương những cống hiến to lớn của tuổi trẻ trong thời kỳ cải tạo và phát triển kinh tế - văn hoá xã hội ở miền Bắc đồng thời tổng kết những kinh nghiệm để hướng phong trào thanh niên tiếp tục đáp ứng những yêu cầu mới của đất nước. Đại hội đã chính thức phát động phong trào thi đua: “Trở thành người lao động tiên tiến, tổ tiên tiến, đơn vị tiên tiến”. Ngày 17-3-1960, Đại hội vinh dự được đón Bác Hồ tới thăm và nói chuyện thân mật. Bác đã ân cần chỉ bảo: “Hiện nay có hơn 60 vạn đoàn viên, thanh niên lao động và miền Bắc có độ 4 triệu thanh niên, nhưng số thanh niên tích cực lao động XHCN chỉ có hơn 10 vạn. Thế là trong 6 đoàn viên và 40 thanh niên mới có một người tích cực. Như thế là phong trào còn hẹp. Đoàn Thanh niên Lao động phải cố gắng thêm và các cấp Đảng bộ phải giúp đỡ Đoàn Thanh niên phát triển phong trào hơn nữa”.

Trong khí thế phấn khởi, sôi nổi của tuổi trẻ và nhân dân miền Bắc thi đua lao động sáng tạo, khôi phục, phát triển kinh tế- văn hóa- xã hội thì tuổi trẻ và nhân dân miền Nam lại ngày đêm quyết liệt trong đấu tranh chính trị, vũ trang, trong phong trào chống lại luật 10-59 của Mỹ- Diệm.

*
*   *

Những năm 1958-1960, trên khắp các tỉnh thành miền Nam, làn sóng đấu tranh cách mạng ngày càng quyết liệt, mạnh mẽ, ào ào như vũ bão. Mỹ Diệm đã thẳng tay đàn áp, khủng bố, trả thù những người tham gia kháng chiến; vô cớ bắt giam, đánh đập, giết hại những người có chồng con, anh em, bố mẹ tập kết ra miền Bắc. Chúng còn huyênh hoang tuyên bố: “Bôi đen bọn trẻ để cộng sản không nhuộm đỏ lại được” với những chiêu bài: “Độc lập”, “Quốc gia”, “Tự do”, “Dân chủ”, “Nhân vị, duy linh”… và lớn tiếng hô hào: “Bắc tiến, lấp sông Bến Hải”… Chúng đã tăng cường bắt lính, đôn quân, ban hành luật quân dịch, khuyến khích thanh niên trí thức vào các trường sĩ quan và dùng mọi thủ đoạn hèn hạ, kể cả việc cố ý đánh hỏng hàng loạt thí sinh thi tú tài phần I để đẩy họ vào các trường hạ sĩ quan hoặc bắt lính…

Trước tình thế đó, các tổ chức cách mạng miền Nam đã lãnh đạo nhân dân và thanh niên đấu tranh chống bắt lính, đôn quân. ở khắp các tỉnh, thành, hàng chục nghìn thanh niên đã kề vai sát cánh cùng các tầng lớp nhân dân kéo lên các dinh quận trưởng, đấu tranh đòi hoãn quân dịch, đòi giải thoát cho những thanh niên đã bị bắt lính. ở khu trù mật Hậu Nghĩa (Long An) có nữ đồng chí Tư Vân - cán bộ thanh vận quận, đã lãnh đạo nhân dân đấu tranh giải thoát cho 100 thanh niên bị bắt vào lính. ở quận An Khê (Plâycu), thanh niên được vận động trốn ra ở rừng, địch không bắt được lính và cũng không có cớ để đốt làng…

Cùng với phong trào chống bắt lính, phong trào xin gia nhập bộ đội cũng phát triển mạnh mẽ. Nhiều gia đình tha thiết xin cho con đi bộ đội đánh giặc vì: “Thà lên cứ ăn ở kham khổ, thiếu đói mà được đánh giặc còn hơn ở nhà ăn uống đầy đủ mà bị bắt lính…”. Nhiều thiếu niên chưa đủ tuổi đi bộ đội cũng trốn gia đình lên cứ cùng các cô chú và nằng nặc đòi được đi đánh Mỹ-Diệm… Phong trào tòng quân náo nức của thanh niên miền Nam đã giúp cho lực lượng vũ trang cách mạng miền Nam ngày càng lớn mạnh, từ dân quân du kích xã đến các đội vũ trang huyện, tỉnh, liên tỉnh. Nếu tháng 10 năm 1957 mới có một đơn vị vũ trang chính quy đầu tiên (Đại đội 250) ra đời ở chiến khu Đ Nam Bộ thì đến năm 1958, liên tỉnh Trung Nam Bộ (khu 8) đã có 3 đại đội ở vùng Đồng Tháp Mười; liên tỉnh Tây Nam Bộ (khu 9) có 3 đại đội… Đến năm 1959, nhiều tỉnh thành đã lập được đơn vị vũ trang tuyên truyền như Tiểu đoàn 14 Tây Ninh; Tiểu đoàn “Lá thép” Lâm Đồng; Tiểu đoàn 7 Bến Tre, đội nữ pháo binh Châu Thành, Đội Thanh niên xung phong Hoàng Lệ Kha… Đặc biệt, có nhiều cơ sở nội tuyến đã khởi nghĩa diệt chỉ huy ác ôn, mang súng trở về căn cứ như đồng chí Bảy Nghĩa ở Đông Lung Lớn (Hà Tiên), còn ở Tây Ninh thì làm binh biến tại đồn Tràng Cỏ, đồn Băng Dung…

Phong trào đấu tranh của học sinh, sinh viên miền Nam cũng ngày càng quyết liệt. Khắp các trường học, Ban cán sự học sinh, sinh viên được thành lập đưa các kiến nghị đòi tăng học bổng, đòi bỏ lệ phí thi cử, đòi giảm học phí… Tiêu biểu là cuộc đấu tranh của Ban Cán sự học sinh, sinh viên Sài Gòn vào tháng 2–1958. Một số trong Ban Cán sự bị địch bắt, hàng nghìn học sinh, sinh viên đã kéo đến toà án nguỵ biểu tình đòi trả tự do cho học sinh, sinh viên...

Đặc biệt, tới đêm 10 rạng sáng 11-11-1958, lực lượng vũ trang miền Nam đã mở đầu một trận tập kích lớn vào quận lỵ Dầu Tiếng (Thủ Dầu Một), đánh thiệt hại nặng 2 tiểu đoàn, diệt 200 tên, bắt 30 tên nguỵ và thu 200 súng. Vô cùng hoảng sợ, sĩ quan và quân lính của 20 đồn bốt chung quanh quận lỵ Dầu Tiếng đã đồng loạt bỏ đồn rút chạy. Đây là trận đánh lớn đầu tiên của lực lượng vũ trang cách mạng miền Nam, góp phần thổi bùng lên phong trào cách mạng đang ngày càng mạnh mẽ dâng lên khắp miền Nam. Thua đau ở Dầu Tiếng và hốt hoảng trước phong trào đấu tranh cách mạng của tuổi trẻ và nhân dân miền Nam, bọn Mỹ-Diệm đã điên cuồng đàn áp, khủng bố! Điển hình là vụ đầu độc dã man hàng ngàn cán bộ cách mạng và đồng bào yêu nước ở trại giam Phú Lợi ngày 1-12-1958. Trong 6000 người ở trại giam thì có tới 1000 người đã chết ngay vì trúng độc. Cả miền Nam, cả Việt Nam và cả thế giới đã phẫn nộ lên án vụ đầu độc tàn bạo này. Phong trào “Trả thù cho đồng bào, đồng chí ở Phú Lợi” sôi sục khắp miền Nam.

Đến năm 1959, lực lượng vũ trang cách mạng miền Nam đã hình thành ba thứ quân (tự vệ, du kích xã; đội vũ trang huyện, tỉnh; tiểu đoàn tập trung ở khu) khắp các vùng. Xứ uỷ Nam Bộ và Liên khu uỷ V chỉ đạo tăng cường các hoạt động vũ trang hỗ trợ nhân dân nổi dậy phá ách kìm kẹp, giành quyền làm chủ, chống cướp đất, dồn dân lập các khu trù mật, ấp tân sinh, khu dinh điền…

Điên cuồng và hoảng sợ trước làn sóng cách mạng như triều dâng ở miền Nam, đầu năm 1959 Ngô Đình Diệm tuyên bố đặt miền Nam trong tình trạng chiến tranh đồng thời chúng thẳng tay đàn áp, khủng bố, trả thù những chiến sỹ cách mạng, những gia đình có con em tham gia cách mạng. Đặc biệt, với luật 10-59 cực kỳ tàn bạo, chúng lập toà án lưu động, kéo lê máy chém đi khắp miền Nam để “xét xử” những người yêu nước chỉ với hai mức án là tử hình và khổ sai chung thân. Chỉ tính tới cuối năm 1959, kẻ thù đã giết hại 68.000 người, bắt 466.000 người và đẩy 400.000 người vào chốn tù đầy…

Trong không khí sôi sục căm thù và trước xu thế vùng dậy mạnh mẽ của quần chúng, Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 15 (Khoá II) đã họp ngày 13-1-1959 để xác định đường lối và nhiệm vụ cách mạng cơ bản ở miền Nam giai đoạn hiện tại và sắp tới là: “Giải phóng miền Nam khỏi ách thống trị của đế quốc và phong kiến, thực hiện độc lập dân tộc và người cày có ruộng, xây dựng một nước Việt Nam hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh”. Hội nghị còn khẳng định: “Ngoài con đường cách mạng, nhân dân miền Nam không có con đường nào khác để tự giải phóng khỏi xích xiềng nô lệ. Chỉ có thắng lợi của cách mạng mới chấm dứt cảnh cùng khổ của nhân dân miền Nam, mới triệt để làm thất bại mọi chính sách nô dịch, chia cắt và gây chiến của đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai ở miền Nam”.

Trong Nghị quyết của Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 15 còn ghi rõ: “Con đường phát triển cơ bản của cách mạng Việt Nam ở miền Nam là con đường bạo lực…lấy sức mạnh của quần chúng, dựa vào lực lượng chính trị của quần chúng là chủ yếu kết hợp với lực lượng vũ trang, đánh đổ ách thống trị của đế quốc và phong kiến, dựng lên chính quyền cách mạng của nhân dân”.

Hội nghị lần thứ 15 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã có ý nghĩa lịch sử to lớn, “mở đường cho cách mạng miền Nam tiến lên, làm xoay chuyền tình thế, dẫn đến cuộc “Đồng khởi” oanh liệt toàn miền Nam năm 1960”.

Thực hiện chủ trương của Hội nghị lần thứ 15 Ban Chấp hành Trung ương Đảng và đáp ứng yêu cầu mới của cách mạng miền Nam, hàng loạt các đơn vị đặc biệt được thành lập. Đó là Đoàn 559 - đơn vị vận tải quân sự dọc Trường Sơn. Đó là Đoàn 759 - đơn vị vận tải quân sự vượt biển Đông. Các đơn vị anh hùng này đã viết nên những trang huyền thoại của chủ nghĩa anh hùng cách mạng trên đường Hồ Chí Minh vượt Trường Sơn, trên trùng khơi vượt biển Đông trong suốt cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước thần thánh của dân tộc.

Hàng nghìn, hàng nghìn thanh niên dân tộc thiểu số Bình Trị Thiên và Tây Nguyên đã cùng mở đường, cùng gùi hàng với các chiến sĩ Đoàn 559 “Vì miền Nam tiến lên phía trước”. Hàng nghìn, hàng nghìn các cô gái, các chàng trai vùng biển đã chở che, đã kiên cường cùng các chiến sỹ của những đoàn tàu không số chở hàng chục tấn vũ khí, hàng hoá tiếp sức cho miền Nam thành đồng.

Phong trào đồng khởi của nông thôn miền Nam bùng nổ khắp nơi. Tháng 8-1959, 16.000 nhân dân huyện Trà Bồng (miền Tây Quảng Ngãi) dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ địa phương với sự hỗ trợ của lực lượng vũ trang đã nổi dậy đập tan nguỵ quyền ở 16 xã, bức rút 7 đồn, diệt hàng trăm tên tề nguỵ ác ôn, lập chính quyền cách mạng ở thôn, xã. Tên quận trưởng Trà Bồng phải chạy trốn về tỉnh lỵ. Cuộc khởi nghĩa đã nhanh chóng lan sang các vùng Sơn Hà, Ba Tơ, Đức Phổ… (Quảng Ngãi).

Tháng 9-1959, du kích Bắc ái (Ninh Thuận) đã đánh bại cuộc càn quét của 3000 quân nguỵ, diệt hơn 300 tên…

Cũng tháng 9-1959, ở Gò Quản Cung, tỉnh Kiến Phong, lực lượng vũ trang cách mạng đã tiêu diệt một tiểu đoàn nguỵ, bắt sống 105 tên địch, thu 705 súng; ở chi khu Xẻo Rô (Rạch Giá), một đơn vị vũ trang đã tiêu diệt gọn quân địch ở chi khu và giải phóng nhiều tù chính trị…

Tháng 1-1960, Tỉnh uỷ Bến Tre quyết định phát động “Tuần lễ toàn dân đồng khởi”, phá ách kìm kẹp của địch, xây dựng chính quyền cách mạng. Huyện Mỏ Cày được chọn làm điểm mở đầu đã chiến thắng vang dội. Tuổi trẻ và nhân dân Mỏ Cày (Bến Tre) với vũ khí thô sơ, tự tạo đã nhất tề nổi dậy, diệt ác, phá đồn, đập tan bộ máy cai trị của địch ở thôn, xã. Phong trào đồng khởi đã lan nhanh sang các huyện Thạch Phú, Bình Đại, Giồng Trôm, Châu Thành, Ba Tri…Chỉ sau một “Tuần lễ toàn dân đồng khởi”, ở tỉnh Bến Tre đã có 22 xã được giải phóng, 29 xã đã diệt ác, vây đồn giải phóng nhiều ấp. Chính quyền tự quản và lực lượng vũ trang cách mạng được thành lập ở các vùng giải phóng…

Phong trào đồng khởi đã lan rộng khắp các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long, đập tan phần lớn bộ máy kìm kẹp của địch ở cơ sở. Đêm 25-1-1960, lực lượng vũ trang Long An đã nhanh chóng diệt đồn Đức Lập, Đức Hoà, mở đầu đồng khởi ở một tỉnh sát nách Sài Gòn. ở Mỹ Tho, Gò Công, nhân dân 19 xã thuộc Cai Lậy, Châu Thành cũng đồng loạt nổi dậy.

ở Bạc Liêu, Cà Mau, nhân dân cùng lực lượng vũ trang diệt gọn chi khu quận lỵ Ông Đốc, san bằng 62 đồn, giải phóng 55 xã. ở Rạch Giá, Sóc Trăng quân ta bức rút 50 đồn, giải phóng 28 xã, 300 ấp…

ở căn cứ Tua Hai (Tây Ninh) đêm 25 rạng 26-1-1960 quân ta cũng tiêu diệt và bắt sống 500 tên nguỵ, thu 1.500 súng. Bọn tề, nguỵ hoang mang, nhân dân cùng tuổi trẻ Tây Ninh nhất tề nổi dậy giải phóng 24 xã trong tỉnh…

ở Thủ Dầu Một, trong năm 1960 cũng có 25 xã/ 60 xã được giải phóng.

ở tỉnh Bà Rịa, đêm 2-3-1960 quân ta đột nhập Bình Ba diệt 3 đồn địch, các huyện Long Đất, Châu Thành, Xuyên Mộc… đồng loạt nổi dậy diệt tề, vây đồn.

“Tính đến cuối năm 1960, cao trào đồng khởi của quân dân miền Nam đã căn bản làm tan rã cơ cấu chính quyền cơ sở địch ở nông thôn. Nhân dân đã lập chính quyền tự quản ở 1.383 xã 2.627 xã toàn miền Nam, đồng thời làm tê liệt chính quyền xã của Mỹ – Diệm… Ba thứ quân của lực lượng vũ trang (tự vệ, du kích xã; đội vũ trang tỉnh, huyện; tiểu đoàn tập trung ở khu) đã hình thành rộng khắp và phát triển. Các đội tự vệ, du kích xã có khoảng 10.000 người: …Các đội vũ trang tỉnh, huyện có: 12.500 người… Các đơn vị bộ đội tập trung của khu có 3.034 người…”.

Phong trào đấu tranh chính trị ở các đô thị miền Nam cũng phát triển mạnh mẽ. Mở màn là cuộc đình công tháng 1 năm 1960 của 8.600 công nhân đồn điền cao su Biên Hoà; tiếp đó là cuộc đình công của 1000 công nhân Sài Gòn đúng ngày Quốc tế Lao động 1-5-1960. Đặc biệt, ngày 20-7-1960, hàng vạn quần chúng ở các đô thị miền Nam đã xuống đường biểu tình đòi “đế quốc Mỹ cút khỏi miền Nam Việt Nam”, đòi quyền dân sinh, dân chủ…

Tháng 8-1960 có 500 thanh niên trại huấn luyện Thanh niên cộng hoà ở Tiên Phước, Quảng Nam bỏ trại trốn về gia đình.

Tháng 9-1960, hơn 20.000 đồng bào Khơme (trong đó có 2.000 sư sãi) tỉnh Trà Vinh kéo vào thị xã đấu tranh đòi các quyền dân chủ, dân sinh và quyền tự do tín ngưỡng.

Tháng 10-1960, hơn 60.000 đồng bào tỉnh Bến Tre kéo vào thị xã đấu tranh đòi huỷ bỏ luật 10/59…

Trong năm 1960, trên khắp miền Nam có tới 10 triệu lượt người tham gia đấu tranh chính trị với các hình thức phong phú như bãi công, bãi thị, mít tinh, biểu tình…

Phong trào đấu tranh vũ trang, đấu tranh chính trị ở miền Nam những năm 1958-1960 với cao trào đồng khởi năm 1959-1960 đã góp phần quyết định chuyển cách mạng miền Nam “từ tư thế giữ gìn lực lượng sang thế tiến công”.

Đây là một thời kỳ rất quan trọng của cách mạng miền Nam, tạo cơ sở vững chắc để quân dân miền Nam đánh tan chiến lược “chiến tranh đặc biệt” của Mỹ những năm 1961-1964. Một thời kỳ mới của cách mạng miền Nam bắt đầu: Thời kỳ tiến công liên tục và mạnh mẽ vào các chiến lược, chiến thuật của địch nhằm tiêu hao, tiêu diệt lực lượng địch, phát triển lực lượng cách mạng, tạo tiền đề cho cách mạng miền Nam từng bước tiến lên.

Được thử thách và rèn luyện trong các phong trào cách mạng, tổ chức Đoàn và phong trào thanh niên ở miền Nam nhanh chóng được khôi phục và phát triển. Ngày 20-12-1960, Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam ra đời và Hội Liên hiệp Thanh niên giải phóng miền Nam Việt Nam là thành viên của Mặt trận. Ngày 9-1-1961, Hội Liên hiệp Sinh viên giải phóng cũng được thành lập. Sự ra đời liên tiếp của các tổ chức Hội trong bão táp cách mạng miền Nam đã đánh dấu bước trưởng thành, phát triển mới của phong trào thanh niên, học sinh, sinh viên miền Nam.

*
*   *

Trong công cuộc khôi phục, cải tạo, phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội ở miền Bắc và đấu tranh chính trị, vũ trang ở miền Nam, tuổi trẻ cùng nhân dân hai miền Nam-Bắc đã giành được những thành tựu đáng phấn khởi. Khí thế thi đua lập công náo nức trên mọi nẻo đường của Tổ quốc.

Trong không khí ấy, Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ III đã được tổ chức trọng thể tại Thủ đô Hà Nội vào tháng 9-1960. Đại hội đã đề ra hai nhiệm vụ chiến lược quan trọng: “Đẩy mạnh cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc, đồng thời đẩy mạnh cách mạng Dân tộc Dân chủ Nhân dân ở miền Nam, thực hiện thống nhất nước nhà” Đại hội đã thông qua phương hướng và nhiệm vụ kế hoạch 5 năm lần thứ nhất (1960-1965) nhằm phấn đấu từng bước xây dựng cơ sở vật chất, kỹ thuật cho chủ nghĩa xã hội, thực hiện một bước công nghiệp hoá nước nhà. Đại hội còn chỉ rõ nhiệm vụ của Đoàn Thanh niên là: “Phải hết sức chú trọng giáo dục và rèn luyện thế hệ trẻ thành những chiến sỹ trung thành với Tổ quốc, với chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản, sẵn sàng mang hết nhiệt tình của tuổi trẻ tham gia xây dựng xã hội mới”.

Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ III đã soi đường, chỉ lối cho tuổi trẻ và nhân dân hai miền Nam-Bắc thực hiện nhiệm vụ cao cả của mình trong giai đoạn cách mạng mới. Để hoàn thành sứ mệnh lịch sử vinh quang mà Đảng đã tin cậy trao cho Đoàn và thanh niên cả nước, Đại hội Đoàn Thanh niên Lao động Việt Nam lần thứ III đã được triệu tập tại Hà Nội từ ngày 23 đến 25-3-1961. Tham dự Đại hội có 677 đại biểu của 34 đơn vị, tập thể thay mặt cho 78 vạn đoàn viên trong cả nước. Trong số các đại biểu có 3 Anh hùng, 77 chiến sỹ thi đua, 30 đại biểu dân tộc thiểu số, 122 đại biểu nữ. Đến dự với Đại hội còn có 13 đoàn đại biểu thanh niên quốc tế như: Liên Xô, Triều Tiên, Mông Cổ, Đức, Tiệp Khắc, Bungari, Rumani, Inđônêxia, Hội Liên hiệp Thanh niên Dân chủ Thế giới…

Đại hội vinh dự và vô cùng phấn khởi được đón Bác Hồ kính yêu cùng các đồng chí Lê Duẩn - Bí thư Thứ nhất BCH TW Đảng và các đồng chí trong Bộ Chính trị tới dự. Nói chuyện với Đại hội, Bác Hồ đã bày tỏ niềm vui trước sự trưởng thành của Đoàn: “Từ chỗ chỉ có một Lý Tự Trọng, đến nay chúng ta đã có 78 vạn đoàn viên, thanh niên lao động hăng hái ra sức giúp Đảng xây dựng chủ nghĩa xã hội và đấu tranh thống nhất Tổ quốc, tiến bộ đó làm cho Bác sung sướng và trẻ lại, làm cho lòng Bác phơi phới như hoa nở mùa xuân”. Bác còn ân cần căn dặn: “Đoàn Thanh niên cần phải làm đầu tầu, gương mẫu trong phong trào thi đua yêu nước. Phải thực hiện khẩu hiệu: Đâu Đảng cần, thanh niên có, việc gì khó thanh niên làm”.

Đại hội Đoàn toàn quốc lần thứ III đã xác định rõ nhiệm vụ của Đoàn trong giai đoạn cách mạng mới là: “Đoàn kết thanh niên, tổ chức mọi lực lượng, giáo dục thanh niên trong cả nước tiến lên dưới ngọn cờ của Đảng, cống hiến hết sức mình, phấn đấu hoàn thành thắng lợi những nhiệm vụ lịch sử mà Đảng đề ra…Tất cả mọi hoạt động của Đoàn và thanh niên nước ta đều cần hướng vào việc thực hiện những nhiệm vụ cách mạng của Đảng là xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, giải phóng miền Nam, thực hiện hoà bình thống nhất nước nhà”.

Đại hội đã nhất trí cao bản Báo cáo chính trị do đồng chí Nguyễn Lam-Bí thư Thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương Đoàn trình bày và Báo cáo dự thảo sửa đổi Điều lệ Đoàn do đồng chí Vũ Quang trình bày. Đặc biệt, Đại hội đã thông qua quyết định lấy ngày 26-3 hàng năm làm ngày kỷ niệm của Đoàn.

Đại hội cũng thông qua Quyết tâm thư gửi lên Ban Chấp hành Trung ương Đảng và Bác Hồ, hứa: “Đoàn sẽ cố gắng hết sức mình làm cho phong trào “Tình nguyện vượt mức kế hoạch 5 năm lần thứ nhất, trở thành phong trào rộng rãi trong thanh niên”.

Đại hội đã bầu Ban Chấp hành Trung ương Đoàn gồm: 71 đồng chí, trong đó có 15 đồng chí tham gia Ban Thường vụ và 5 đồng chí tham gia Ban Bí thư. Đồng chí Nguyễn Lam được bầu lại làm Bí thư Thứ nhất, Ban Chấp hành TW Đoàn. Sau khi đồng chí Nguyễn Lam được Đảng điều đi nhận nhiệm vụ mới, tại Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đoàn (khoá III) họp từ ngày 21-2 đến 23-2-1962, đồng chí Vũ Quang được Hội nghị bầu làm Bí thư Thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương Đoàn.

Sau Đại hội Đoàn toàn quốc lần thứ III, một không khí thi đua mới trong tuổi trẻ đã phát triển mạnh mẽ trên mọi lĩnh vực: Phong trào “Xung phong tình nguyện vượt mức kế hoạch 5 năm lần thứ nhất (1960-1965)" do Đại hội phát động đã phát triển rộng khắp.

Trong không khí phấn khởi hoàn thành thắng lợi kế hoạch năm 1960-1961- năm đầu của kế hoạch 5 năm lần thứ nhất ở miền Bắc, trong cao trào đấu tranh anh dũng của tuổi trẻ và nhân dân miền Nam, Đại hội Hội Liên hiệp Thanh niên Việt Nam lần thứ II đã được tổ chức từ 18-12 đến 20-12-1961 tại Thủ đô Hà Nội. Tham dự Đại hội có hơn 400 đại biểu của các tổ chức và tầng lớp thanh niên. Đại hội đã vinh dự được đón Bác Hồ, Thủ tướng Phạm Văn Đồng và các đồng chí đại diện Bộ Chính trị, Ban Chấp hành Trung ương Đảng, đại diện Chính phủ, Quốc hội và Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tới dự. Trong bài nói chuyện với Đại hội, Bác Hồ đã bày tỏ tình yêu mến và niềm tin đối với thanh niên. Bác nói: “Bác rất yêu quý thanh niên.

- Vì thanh niên là người tiếp sức mạnh cho thế hệ thanh niên già, đồng thời là người phụ trách dìu dắt thế hệ thanh niên tương lai- tức là các cháu nhi đồng.

- Vì thanh niên là người xung phong trong công cuộc phát triển kinh tế và văn hoá trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội. Về nông nghiệp, số đông “kiện tướng” làm thủy lợi, làm phân bón, vỡ đất hoang, cải tiến nông cụ… đều là thanh niên. Về công nghiệp, trong phong trào cải tiến kỹ thuật, nâng cao năng suất, thanh niên cũng là người xung phong. Về văn hoá, trong công việc xoá nạn mù chữ, bổ túc văn hoá, thi đua 2 tốt thanh niên cố gắng nhiều và có công nhiều…

- Vì thanh niên là lực lượng cơ bản trong bộ đội, công an và dân quân tự vệ, đang hăng hái giữ gìn trật tự trị an, bảo vệ Tổ quốc.

- Vì trong mọi công việc, thanh niên thi đua thực hiện khẩu hiệu: “Đâu cần, thanh niên có, việc gì khó, thanh niên làm”.

- Vì hai người đầu tiên chinh phục vũ trụ: Hai anh hùng Liên Xô, đồng chí Gagarin và đồng chí Titốp cũng là thanh niên”… Bác còn căn dặn: “Thanh niên ta có vinh dự to thì cũng có trách nhiệm lớn. Để làm tròn trách nhiệm, thanh niên ta phải nâng cao tinh thần làm chủ tập thể, trừ bỏ chủ nghĩa cá nhân, chớ phô trương hình thức, chớ kiêu ngạo tự mãn. Phải thấm nhuần đạo đức cách mạng tức là học tập lao động, sinh hoạt theo đúng đạo đức của thanh niên xã hội chủ nghĩa, cộng sản chủ nghĩa. Như vậy là thanh niên ta góp phần xứng đáng vào sự nghiệp xây dựng thắng lợi chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, làm nền tảng vững mạnh để thực hiện hoà bình thống nhất nước nhà”.

Trong bài nói chuyện với Đại hội, Thủ tướng Phạm Văn Đồng khẳng định: “Đại hội này của các đồng chí có ý nghĩa quan trọng, nó thể hiện lực lượng to lớn và ngày càng to lớn của thanh niên, thể hiện khối đoàn kết nhất trí của thanh niên cũng như của toàn thể nhân dân ta… Thanh niên là người được hưởng nhiều nhất thành quả của cách mạng… Thanh niên là người có tiền đồ vô cùng tốt đẹp dưới chế độ ta. Tiền đồ của thanh niên gắn liền với tiền đồ của nhân dân, của đất nước… Sự cống hiến của thanh niên phải xứng đáng với phần hưởng thụ của mình. Thanh niên phải có nghĩa vụ đối với các thế hệ trước đây đã hy sinh phấn đấu đem lại thắng lợi ngày nay, có nghĩa vụ với nhân dân hiện giờ đang hết lòng chăm lo săn sóc cho mình và có nghĩa vụ đối với các thế hệ con cháu ngày sau”.

Đại hội đã xác định nhiệm vụ chung của thanh niên trong giai đoạn này là: “Tăng cường đoàn kết và thống nhất mọi lực lượng thanh niên trong cả nước, không ngừng nâng cao tinh thần yêu nước và giác ngộ chủ nghĩa xã hội, nỗ lực học tập và rèn luyện mình trở thành những người có giác ngộ xã hội chủ nghĩa, có văn hoá, có trình độ khoa học kỹ thuật và sức khoẻ, luôn ở vị trí hàng đầu trên mọi lĩnh vực hoạt động, ra sức cống hiến sức lực của tuổi trẻ cho sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội và đấu tranh thống nhất nước nhà, trước mắt là hoàn thành vượt mức kế hoạch 5 năm lần thứ nhất”.

Từ nhiệm vụ chung đó, Đại hội đã xác định nhiệm vụ cụ thể của Hội Liên hiệp Thanh niên Việt Nam trong giai đoạn hiện tại là:

“1. Phấn đấu hoàn thành vượt mức kế hoạch Nhà nước 5 năm lần thứ nhất, xây dựng thắng lợi chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, đấu tranh thực hiện hoà bình, thống nhất nước nhà.

2. Nỗ lực học tập, không ngừng nâng cao trình độ chính trị, tư tưởng, văn hoá và khoa học kỹ thuật, rèn luyện mình trở thành những con người mới của chủ nghĩa xã hội.

3. Đoàn kết và thống nhất mọi lực lượng thanh niên trong cả nước, tăng cường quan hệ hữu nghị với thanh niên thế giới vì hoà bình, độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội.

4. Củng cố tổ chức Hội và cải tiến phương thức hoạt động của Hội thích hợp với hoàn cảnh mới, đáp ứng với yêu cầu của nhiệm vụ mới”.

Đại hội đã quyết định sửa đổi điều lệ, quy định phương hướng hoạt động của Hội và mở rộng nhiều hoạt động bằng những hình thức và phương pháp thích hợp. Đại hội đã thông qua bức thư của Đại hội gửi Trung ương Đảng, Chính phủ và Hồ Chủ tịch; bản Tuyên bố về tình hình miền Nam, bức thư gửi cho thanh niên miền Nam ruột thịt và bản Hiệu triệu gửi nam nữ thanh niên trong cả nước hãy nêu cao ngọn cờ yêu nước, phấn đấu không mệt mỏi cho sự nghiệp xây dựng xã hội chủ nghĩa trên miền Bắc, sự thành công của cách mạng miền Nam, để mau chóng hoà bình thống nhất nước nhà, bảo vệ hoà bình tự do ở Đông Nam á và thế giới…

Bản Hiệu triệu của Đại hội toàn quốc lần thứ II Hội Liên hiệp Thanh niên Việt Nam gửi toàn thể nam nữ thanh niên Việt Nam cho đến nay vẫn còn sục sôi, vang vọng:

"Các bạn nam nữ thanh niên thân mến!

Trong không khí sôi nổi xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và hoàn thành thắng lợi kế hoạch năm 1961, năm đầu của kế hoạch 5 năm lần thứ nhất, trong khí thế đấu tranh đang dâng lên như vũ bão của đồng bào và thanh niên miền Nam, Đại hội toàn quốc Hội Liên hiệp Thanh niên Việt Nam lần thứ II đã khai mạc tại Thủ đô Hà Nội, và làm việc trong 3 ngày 18, 19, 20 tháng 12 năm 1961.

Đại hội vô cùng phấn khởi được các đồng chí đại diện Trung ương Đảng, Chính phủ, Quốc hội và Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và Hồ Chủ tịch đến thăm nói chuyện với Đại hội.

Đại hội đã đánh giá rất cao những thành tích của thanh niên miền Bắc trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội và đấu tranh thống nhất nước nhà. Đại hội nhiệt liệt biểu dương những tấm gương lao động dũng cảm quên mình, những bàn tay và khối óc sáng tạo không hề biết mệt mỏi của lớp thanh niên yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội.

Đại hội kêu gọi các tổ chức thanh niên và toàn thể thanh niên nam nữ hãy ra sức thực hiện Nghị quyết của Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ III, tăng cường đoàn kết, không ngừng nâng cao tinh thần yêu nước và giác ngộ xã hội chủ nghĩa, nỗ lực học tập, rèn luyện mình trở thành những người có văn hóa, có trình độ khoa học và sức khoẻ, luôn luôn ở vị trí hàng đầu trên mọi lĩnh vực hoạt động, ra sức phấn đấu và cống hiến sức lực của tuổi trẻ cho sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội và đấu tranh thực hiện thống nhất nước nhà, trước mắt là hoàn thành vượt mức kế hoạch Nhà nước 5 năm lần thứ nhất.

Đại hội vô cùng căm phẫn và nghiêm khắc lên án việc đế quốc Mỹ trực tiếp can thiệp bằng quân sự vào miền Nam nước ta, đem vũ khí, nhân viên quân sự giúp bọn tay sai khát máu Ngô Đình Diệm chém giết đồng bào ta, âm mưu dập tắt phong trào đấu tranh tự giải phóng của đồng bào miền Nam, hòng biến thanh niên và nhân dân miền Nam chúng ta thành nô lệ cho bọn đế quốc Mỹ.

Đại hội tỏ lòng khâm phục tinh thần đấu tranh kiên cường và bất khuất của thanh niên miền Nam anh hùng và vô cùng phấn khởi trước những thắng lợi vẻ vang mà thanh niên và nhân dân miền Nam đã giành được. Đại hội tin tưởng sắt đá rằng dưới sự lãnh đạo của Mặt trận giải phóng miền Nam, đoàn kết trong Hội Thanh niên giải phóng miền Nam, toàn thể thanh niên miền Nam nhất định vì sự nghiệp cao cả của cách mạng, vì độc lập và thống nhất của Tổ quốc, luôn luôn nêu cao ngọn cờ yêu nước chống Mỹ - Diệm, hy sinh phấn đấu vì thắng lợi cuối cùng của dân tộc.

Các bạn nam nữ thanh niên thân mến!

Vì quyền lợi tối cao của dân tộc, vì tương lai và hạnh phúc của tuổi trẻ, thanh niên chúng ta ngày nay đang gánh vác những nhiệm vụ vô cùng nặng nề và quan trọng. Chúng ta hãy sẵn sàng đảm nhiệm lấy sứ mệnh quang vinh đó với lòng tự hào và niềm tin tưởng vững chắc.

Thanh niên nam nữ chúng ta hãy vì mục đích cao cả của cuộc sống, vì chủ nghĩa xã hội và thống nhất Tổ quốc mà không ngừng nâng cao tinh thần yêu nước, đoàn kết lao động, học tập và đấu tranh.

Hãy ra sức học tập chính trị, văn hoá, khoa học, kỹ thuật rèn luyện mình trở thành những người lao động có tri thức và sức khoẻ, những người có phẩm chất và đạo đức cách mạng, luôn luôn biết vì lợi ích của dân tộc mà phấn đấu, những người chủ thực sự của xã hội, xây dựng lên một cuộc sống lành mạnh, tiến bộ, vui tươi.

Hãy dũng cảm đi vào cuộc sống lao động và tập thể, đem khối óc bàn tay xây dựng nên những công trình mới, những nhà máy mới, những hợp tác xã và nông trường mới, những làng mạc thị trấn mới, hãy nêu cao tinh thần thi đua xã hội chủ nghĩa, phát huy sáng kiến cải tiến kỹ thuật, đưa năng suất lao động lên cao, nhằm đẩy mạnh sản xuất, phát triển kinh tế; nâng cao không ngừng mức sống của nhân dân và thanh niên ta.

Hãy tăng cường đoàn kết hơn nữa, mở rộng và củng cố mặt trận thanh niên thành một lực lượng to lớn và vững chắc, xứng đáng là lớp người xung kích trên mọi hoạt động của Đảng và Nhà nước, vượt lên mọi khó khăn và trở lực, đề cao cảnh giác chống âm mưu phá hoại của địch, hoàn thành thắng lợi kế hoạch 5 năm lần thứ nhất, xây dựng miền Bắc tiến lên chủ nghĩa xã hội.

Hãy tiếp tục đấu tranh kiên cường và bất khuất giải phóng miền Nam khỏi ách Mỹ - Diệm, thực hiện hòa bình thống nhất nước nhà.

Thanh niên chúng ta ngày nay đang chứng kiến những chuyển biến to lớn nhất trong lịch sử loài người. Chủ nghĩa cộng sản, giấc mơ ngàn năm của nhân loại đang từng giờ, từng phút trở thành sự thực trên đất nước Liên Xô vĩ đại. Con tàu vũ trụ "Phương Đông" hiện thân của nền khoa học tiên tiến nhất trên thế giới đang mở đường cho con người đặt chân lên các vì sao. Phong trào giải phóng dân tộc ngày càng dâng lên như vũ bão, đang lay chuyển tận gốc chủ nghĩa thực dân và đế quốc. Thời đại của chúng ta là "thời đại thắng lợi của chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản trên phạm vi toàn thế giới", thời đại diệt vong của chủ nghĩa thực dân và chủ nghĩa đế quốc. Thanh niên chúng ta đang được sống những giờ phút quang vinh nhất của lịch sử.

Thế hệ trẻ ngày nay được vinh dự kế tục truyền thống của lớp người đi trước, những lớp người đã hy sinh phấn đấu vì độc lập và tự do của dân tộc và hạnh phúc của nhân loại. Chúng ta hãy tỏ ra xứng đáng là những người tiếp tục sự nghiệp anh hùng đó. Nếu trước kia cha anh chúng ta đã phải đổ bao xương máu để tiêu diệt chế độ thực dân và phong kiến thì ngày nay chúng ta hãy tiếp tục sự nghiệp của cha anh đổ mồ hôi để xây dựng lên một cuộc sống mới huy hoàng.

Vì chủ nghĩa xã hội và thống nhất Tổ quốc toàn thể thanh niên chúng ta hãy dũng cảm tiến lên!".

Đại hội đã bầu ra Uỷ ban Trung ương Hội Liên hiệp Thanh niên Việt Nam gồm 78 đại biểu của các tổ chức và các thành phần. Giáo sư Phạm Huy Thông - Giám đốc trường Đại học Sư phạm Hà Nội được bầu làm Chủ tịch Hội.

Phó Chủ tịch gồm các đồng chí:

Vũ Quang: Bí thư Trung ương Đoàn Thanh niên Lao động Việt Nam.
Nguyễn Duy Cương: Dược sĩ cao cấp, thanh niên miền Nam.
Lê Hùng Lâm: Tổng thư ký Hội Liên hiệp Sinh viên Việt Nam.

Ban Thư ký gồm có 12 đồng chí do đồng chí Hồ Trúc Bí thư TW Đoàn Thanh niên Lao động Việt Nam làm Tổng Thư ký.

Các Uỷ viên gồm có 61 đồng chí tiêu biểu đại diện cho các tỉnh, thành trong cả nước.

Đại hội đại biểu Hội Liên hiệp Thanh niên Việt Nam lần thứ II đã thành công rực rỡ, đánh dấu bước phát triển mới của mặt trận đoàn kết rộng rãi các tầng lớp thanh niên trong cả nước, tạo sức mạnh tổng hợp để hoàn thành hai nhiệm vụ chiến lược quan trọng trên cả hai miền Nam Bắc. Trong không khí thi đua sôi nổi hưởng ứng lời Hiệu triệu của các Đại hội Đoàn, Đại hội Hội Liên hiệp Thanh niên Việt Nam, ngày 3 tháng 3 năm 1962, Đại hội Hội Liên hiệp Sinh viên Việt Nam lần thứ III cũng được tổ chức tại Hà Nội với trên 500 đại biểu thay mặt cho hai vạn hội viên thuộc các trường đại học và cao đẳng. Đại hội đã khẳng định: “Vì chủ nghĩa xã hội, vì thống nhất Tổ quốc, hăng hái tiến quân vào khoa học kỹ thuật, ra sức học tập với tinh thần khẩn trương, bền bỉ và sáng tạo; kết hợp chặt chẽ học tập với nghiên cứu khoa học và lao động sản xuất để mau chóng nâng cao trình độ kỹ thuật và nghiệp vụ trên cơ sở không ngừng nâng cao phẩm chất chính trị và đạo đức, tác phong xã hội chủ nghĩa để trở thành những người trí thức mới của giai cấp công nhân, những chiến sỹ tích cực xây dựng chủ nghĩa xã hội và đấu tranh thống nhất Tổ quốc”…

Từ Đại hội Đoàn Thanh niên Lao động toàn quốc lần thứ III (3-1961) đến Đại hội Hội Liên hiệp Thanh niên Việt Nam lần thứ II (12-1961), Đại hội Hội Liên hiệp Sinh viên Việt Nam lần thứ III (3-1962), các phong trào của Đoàn, hội viên, thanh niên và sinh viên ngày càng phát triển mạnh mẽ, rộng khắp trong cả nước.

Trên mặt trận sản xuất nông nghiệp, từ công việc chống úng, chống hạn, diệt trừ sâu bệnh đến công tác thuỷ lợi, thả bèo hoa dâu, làm phân bón… các hoạt động của Đoàn, Hội đều có chương trình, kế hoạch, có tiêu chuẩn, định mức, có quy trình kỹ thuật rõ ràng.

Trong công tác thuỷ lợi, các tổ chức Đoàn, Hội ở cơ sở đã mạnh dạn đảm nhận trước cấp uỷ Đảng và hợp tác xã việc cải tạo ruộng đồng, xây dựng hệ thống thủy nông, bảo đảm tưới tiêu nước theo yêu cầu, phục vụ thâm canh tăng năng suất cây trồng. ở các địa phương, những đội thuỷ lợi chuyên do Đoàn, Hội làm nòng cốt đã hình thành và phát triển nhanh chóng. Đó là những đội thuỷ lợi mang tên 202. Đến cuối năm 1963, trên toàn miền Bắc đã có trên 1 vạn đội thuỷ lợi được chuyên môn hoá. Bởi vậy, có nhiều cá nhân, đơn vị luôn đạt và vượt năng suất. Tiêu biểu là Phạm Thị Vách (Hưng Yên) luôn đi đầu trong công tác đắp đê, ngăn nước sông Hồng với nhiều sáng kiến, cải tiến, đưa năng suất của đội tăng gấp 3,5 lần chỉ tiêu. Trên các công trình thuỷ lợi, nơi nào có Phạm Thị Vách là nơi đó luôn hoàn thành vượt mức kế hoạch. Sáng kiến, cải tiến của Phạm Thị Vách đã được áp dụng ở nhiều công trường thuỷ lợi, giúp các đội bạn cùng tăng năng suất. Chị đã được Đảng và Nhà nước trao tặng danh hiệu cao quý: Anh hùng Lao động.

Đoàn viên, thanh niên hợp tác xã Vũ Thắng (Kiến Xương, Thái Bình) cũng trở thành lá cờ đầu về thâm canh toàn miền Bắc với tinh thần dám nghĩ, dám làm, có sáng kiến đào một con mương tiêu nước và quy hoạch, xây dựng lại đồng ruộng ở vùng quê sâu trũng thường xuyên bị ngập lụt, mất mùa. Nạn ngập úng ở xã Vũ Thắng đã được giải quyết, năng suất lúa tăng lên rõ rệt.

Trên mặt trận làm “Sạch làng tốt ruộng”, tổ chức Đoàn, Hội ở các địa phương cũng đảm bảo nhận kế hoạch, chỉ tiêu, thành lập các đội chuyên trách làm phân bón, nuôi thả bèo hoa dâu, ủ chua thức ăn nuôi lợn, trồng khoai sắn để chăn nuôi… Các đội chuyên trách đã được tập huấn kỹ thuật, thực hành các thao tác chuyên sâu và đặc biệt được khuyến khích phát huy sáng kiến, cải tiến tăng năng suất… Chỉ trong năm 1963, đã có trên 3 vạn kỹ thuật viên thanh niên trên 16 tỉnh, thành miền Bắc được tập huấn làm bèo hoa dâu. Do đó, năng suất nuôi thả bèo hoa dâu đã tăng lên nhanh chóng. Nếu năm 1962, thanh niên của 11 tỉnh, thành thả được 1.750 mẫu bèo ở 393 cơ sở thì năm 1963 con số đó là 12.900 ha bèo hoa dâu được ươm thả ở 4.900 cơ sở; đến năm 1964 đã tăng lên 13.834 cơ sở ươm thả được 140.900 ha bèo hoa dâu.

Với khẩu hiệu “Sạch làng tốt ruộng” đoàn viên, hội viên, thanh niên nông thôn đã thi đua thu gom, chế biến để nâng cao chất lượng phân bón. Nhiều cơ sở Đoàn, Hội ở các địa phương đã thực hiện tốt phương thức “3 chuồng 4 hố” (Chuồng trâu bò, chuồng lợn, chuồng gà; hố rác, hố tiểu, hố xí, hố phân) để làm nhà ủ và chế biến phân bón. Đoàn viên, thanh niên còn vận động và cùng nhân dân các địa phương xây dựng được hàng vạn chuồng lợn hai bậc, hố xí hai ngăn kiểu mới và trồng được hàng nghìn ha cây muồng muồng, cây điền thanh. Tiêu biểu là đoàn viên, thanh niên thị xã Hà Đông (Hà Tây) đã trồng được 1300 mẫu muồng muồng và điền thanh trong năm 1962.

Đặc biệt, phong trào chăn nuôi phát triển, vỗ béo đàn lợn tập thể đã thu được những kết quả rực rỡ. Dẫn đầu là thanh niên ngoại thành Hà Nội từ phong trào “Đàn lợn 100 con” đến “Đàn lợn trăm con, vạn cân” đã thu hút hàng triệu đoàn viên, hội viên thanh niên nông thôn miền Bắc học tập và hưởng ứng. Anh Lương Văn Nghĩa (Thanh Trì- Hà Nội) đã say mê, sáng tạo vận dụng kiến thức phổ thông được học vào phương pháp nuôi lợn bằng thức ăn khô, giảm được cường độ lao động cho xã viên, tiết kiệm được nguyên liệu mà đàn lợn lại tăng trọng nhanh. Anh đã được Nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng Lao động. Phương pháp ủ chua thức ăn cho lợn được các trại chăn nuôi tập thể và gia đình đặc biệt quan tâm. Đoàn viên, thanh niên các tỉnh nô nức tìm tòi, sáng tạo, thi đua có đàn lợn “trăm con, vạn cân” để tăng nguồn thực phẩm cho nhân dân, đồng thời tăng thêm nguồn phân bón cho xanh tươi đồng ruộng. ở Hoà Bình có phong trào mỗi đoàn viên, thanh niên trồng 500 gốc sắn để hỗ trợ cho chăn nuôi. ở Yên Bái, các trường trung học, cao đẳng phát động đoàn viên, thanh niên biến đồi hoang thành nương ngô, nương sắn cho đàn lợn tăng cân. ở Nam Định có phong trào “100 kg thức ăn bột cho lợn”… Và ở những địa phương này, không chỉ có những đàn lợn tập thể hàng trăm con mà đàn lợn gia đình của đoàn viên, thanh niên cũng có từ 2-3 con trở nên. Phong trào chăn nuôi đã thực sự hữu ích, có hiệu quả lớn trên toàn miền Bắc.

Để phát huy vai trò của đoàn viên, thanh niên trong công cuộc “Cải tiến quản lý hợp tác xã; cải tiến kỹ thuật nhằm phát triển sản xuất nông nghiệp toàn diện, mạnh mẽ, vững chắc” do Đảng và Nhà nước khởi xướng, các tổ chức Đoàn, Hội đã chú ý tiếp thu và xin ý kiến chỉ đạo của các cấp uỷ Đảng, các cấp chính quyền địa phương để tạo điều kiện cho các cán bộ đoàn viên, thanh niên tham gia quản lý hợp tác xã. Với sự phấn đấu nỗ lực của bản thân, sự học hỏi và không ngừng tự nâng cao trình độ, nhiều đoàn viên, hội viên, thanh niên đã trở thành những cán bộ quản lý trẻ xuất sắc. Đó là các chủ nhiệm hợp tác xã tiêu biểu vừa có trình độ quản lý giỏi, vừa có chuyên môn, kỹ thuật vững vàng như Lê Văn Anh, Nguyễn Thị Song, Đỗ Tiến Hảo, Tống Thị út, Bàn Văn Mình… Đến năm 1963, số cán bộ quản lý hợp tác xã trẻ tuổi đã chiếm tới 30%. Riêng ở Nghệ An, đoàn viên, hội viên, thanh niên là đội trưởng, đội phó sản xuất chiếm 35%; cán bộ Ban quản trị hợp tác xã chiếm 25%. ở Ninh Bình, năm 1962 đã có 18,7% đoàn viên, hội viên, thanh niên trong Ban quản trị hợp tác xã, tới đầu năm 1964 là 28,2% cán bộ trẻ trong Ban quản trị hợp tác xã. ở Nam Định, năm 1962 cả tỉnh có tới 2447 đoàn viên, hội viên, thanh niên tham gia Ban quản trị hợp tác xã; có 1851 đoàn viên, hội viên, thanh niên là đội trưởng, đội phó sản xuất…

Phong trào xung phong tình nguyện “Phát triển kinh tế- văn hoá miền núi” cũng náo nức khắp mọi nẻo đường của các tỉnh, thành miền Bắc, nhất là các tỉnh đồng bằng và đô thị. Những tháng năm này, không ít những hình ảnh cảm động của các cô gái Hà thành với đôi guốc gỗ cùng mái tóc dài và vóc dáng mảnh mai vẫn hăm hở ngược về miền núi, đem ánh sáng văn hoá về các bản làng. Đó là Nhà giáo ưu tú Lê Thị Kim, với tuổi đời mới tròn 18 đã dũng cảm tạm biệt cha mẹ ở phố Hai Bà Trưng, Hà Nội để lên mạn ngược Lào Cai, “gùi chữ” đến từng bản làng ở Mường Khương, Bát Sát, Phố Lu… Cô giáo mảnh mai đã phải trèo đèo, lội suối, ăn ngô bung, mèn mén, tập cưỡi ngựa đến tận những bản làng heo hút nhất, vận động bà con không nuôi trâu, bò, lợn, gà dưới sàn nhà ở, không uống nước lã và động viên con em tới trường học chữ…

Được Đảng và Nhà nước quan tâm, được các tổ chức Đoàn, Hội trực tiếp chỉ đạo, phát động các phong trào thi đua, những đoàn viên, thanh niên như cô giáo Lê Thị Kim đã góp phần thúc đẩy sự phát triển của ngành giáo dục. Đến năm học 1961-1962, toàn miền Bắc đã có 2.280.000 học sinh phổ thông (năm học 1957-1958 là 1.008.000 học sinh); 50.700 học sinh trung cấp chuyên nghiệp (năm học 1957-1958 là 8.300 em) và sinh viên đại học là 25.000 em (năm học 1957-1958 là 3.700 em). Đặc biệt, năm học 1961-1962 đã có 3.400 học viên theo học đại học hàm thụ tại chức mà trước đây chưa từng có. Số lưu học sinh được cử ra nước ngoài học tập hàng năm cũng tăng tới 1.500 em. Ngoài ra còn có 2 triệu người tham gia học bổ túc văn hoá từ lớp 1 đến lớp 10. Những lá cờ đầu trong ngành Giáo dục những năm 1961-1965 là: Trường cấp II Bắc Lý (Hà Nam); trường cấp III Lê Hồng Phong (Nam Định); Huỳnh Thúc Kháng (Nghệ An); Phan Đình Phùng (Hà Tĩnh); Lam Sơn (Thanh Hoá); Lương Ngọc Quyến (Thái Nguyên)…

Phong trào xung phong tình nguyện “Phát triển kinh tế- văn hoá miền núi” đã thu được những thành tựu đáng phấn khởi. Chỉ tính riêng năm 1962 ở 12 tỉnh, thành đã có 121.109 đoàn viên, thanh niên xung phong đi khai hoang, đi xây dựng các lâm, nông trường, các cơ sở sản xuất công, thương nghiệp, các hợp tác xã ở miền núi. Những phẩm chất cao quý của tuổi trẻ đã được khẳng định ở những nơi khó khăn, gian khổ nhất. Những tấm gương tiêu biểu của các Anh hùng Lao động trẻ tuổi đã được đoàn viên, thanh niên miền Bắc nức lòng học tập. Đó là các Anh hùng Phạm Ngọc Chức (ngành Lâm nghiệp); Lâm Quang Tỉnh (đại biểu của các nông trường); Phùng Văn Bằng (ngành Giao thông vận tải)…

Phong trào xung phong tình nguyện “Phát triển kinh tế- văn hoá miền núi” còn thu hút trên 10.000 đoàn viên, thanh niên trên khắp các địa phương miền Bắc tình nguyện lên Thái Nguyên xây dựng khu Liên hiệp gang thép đầu tiên của Tổ quốc. Các Tổng đội Thanh niên xung phong tham gia xây dựng các công trình công nghiệp trọng điểm của Nhà nước đã nhanh chóng được thành lập. Đó là Tổng đội 3 đảm nhận xây dựng Lò cao số 1 khu Gang thép Thái Nguyên; Tổng đội Thanh niên xung phong xây dựng nhà máy Thuỷ điện Thác Bà; Tổng đội Thanh niên xung phong xây dựng đường biên giới Việt - Trung, đường 426B, đường sắt Đông Anh - Thái Nguyên… Đặc biệt, tuyến đường sắt Thanh Hoá- Nghệ An, dài 143 km đã bị phá hoại nặng trong kháng chiến chống Pháp, nay cần khôi phục gấp để vừa góp phần xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, vừa góp phần chi viện cho miền Nam thân yêu. Công trình này được mang tên “Công trình đường sắt Thanh niên” và được giao cho lực lượng Thanh niên xung phong xây dựng chủ nghĩa xã hội của hai tỉnh Thanh Hoá, Nghệ An đảm nhận. Công trình đã được triển khai nhanh chóng và hiệu quả. Ngày 1-5-1963, cán bộ, đội viên Thanh niên xung phong trên công trường đã được Bác Hồ gửi thư khen: “Trong kế hoạch 5 năm, Đảng và Chính phủ đã quyết định xây dựng lại đường sắt Thanh Hoá- Nghệ An. Trung ương Đoàn Thanh niên Lao động đã thay mặt các cháu mà nhận công trình đó và xin đặt tên là Công trình đường sắt Thanh niên. Các cháu đã xung phong tình nguyện làm việc đó. Thế là các cháu đã làm đúng khẩu hiệu: “Đâu Đảng cần thanh niên có, việc gì khó có thanh niên”.

Bác tặng các cháu một lá cờ làm giải thưởng luân lưu… Cách thi đua thế nào để giành lá cờ đó do các cháu bàn bạc với nhau mà quyết định.

Ngoài ra, đơn vị nào và cháu nào làm việc thật giỏi Bác sẽ đề nghị Chính phủ khen thưởng”.

Thư của Bác đã có sức mạnh động viên kỳ lạ. Các đơn vị Thanh niên xung phong Thanh Hoá, Nghệ An đã sôi nổi thi đua lập công. Tuyến đường sắt Thanh Hoá- Nghệ An đã được khánh thành đúng ngày 19-5-1964, vượt trước thời gian quy định 3 tháng 14 ngày, tiết kiệm cho Nhà nước tới 50 triệu đồng. Đội Thanh niên xung phong xây dựng Chủ nghĩa xã hội Nghệ An đã vinh dự được đón nhận lá cờ thi đua của Bác Hồ kính yêu.

Các đội Thanh niên Tháng Tám Thủ đô được thành lập ngày 9-8-1963 với hơn 1000 đoàn viên, hội viên, thanh niên đợt đầu cũng nhanh chóng tạm biệt Hà Nội, toả về khắp các nẻo đường miền núi xa xôi: Đội 2 do anh Nguyễn Hoàng Hồng làm đội trưởng cùng cả đoàn quân vượt muôn trùng gian khổ để vào tận Thanh Hoá, Khe Sanh xây dựng trục đường giao thông dưới nắng lửa miền Trung, trong gió Lào cát trắng. Anh Nghiêm Huy Hạ cùng những chàng trai, cô gái thư sinh Hà Nội đến với công trình Nậm Rốm- Điện Biên. Chị Ngô Tuệ Hiền (đội trưởng) cùng các bạn trèo đèo, lội suối đến với lâm trường Hữu Lũng (Lạng Sơn). Nữ sinh Nguyễn Thị Hiên cùng 86 đoàn viên, thanh niên Hà Nội đến nông trường Tô Hiệu (Sơn La) để làm những công việc xa lạ: Hái bông, làm cỏ, nhặt phân…và chân tay phồng rộp, loang lổ những vết đỏ sần vì ruồi vàng và muỗi đốt…Thế mà kỳ lạ, các đội Thanh niên Tháng Tám Thủ đô đã cùng tuổi trẻ miền Bắc lập nên bao kỳ tích: Hoàn thành vượt mức kế hoạch, vượt qua bao gian nan, thử thách để khẳng định những phẩm chất tốt đẹp của đoàn viên, hội viên, thanh niên thời đại mới.

Trong phong trào xung phong tình nguyện vượt mức kế hoạch 5 năm lần thứ nhất, đoàn viên, hội viên, thanh niên công nhân đã đồng loạt tiến quân vào khoa học kỹ thuật. Những tổ hỗ trợ sáng kiến, tổ khoa học kỹ thuật trẻ, tổ kiểm tra chất lượng sản phẩm… liên tiếp ra đời đã thu hút hàng vạn đoàn viên, hội viên, thanh niên tham gia vào những hoạt động sáng tạo. Các công nhân trẻ của nhà máy Dệt Nam Định, nhà máy Cơ khí Hà Nội, khu mỏ Hòn Gai (Quảng Ninh) đã có sáng kiến “Mở hội thanh niên làm kỹ thuật”. Thanh niên nhà máy xi măng Hải Phòng đã khôi phục thành công hệ thống 4 lò nung để nhanh chóng đưa vào sản xuất. Nguyễn Thị Lý và tổ đá nhỏ ca A của chị đã sáng tạo ra danh hiệu “Kiện tướng sáng kiến” để phong tặng những đoàn viên, hội viên, thanh niên vượt từ 5-50% định mức chỉ tiêu kế hoạch và có nhiều sáng kiến. Danh hiệu “Kiện tướng sáng kiến” đã có tác dụng mạnh mẽ, thúc đẩy các đoàn viên, hội viên, thanh niên dám nghĩ, dám làm, phát huy sáng kiến, bố trí lại các dây chuyền sản xuất cho hợp lý, hạn chế bớt lao động thủ công để cải tiến thành lao động cơ khí. Riêng tổ của chị Lý đã sáng tạo, cải tiến, phát huy hơn 30 sáng kiến trong vòng 1 năm rưỡi góp phần giảm bớt 60% sức lao động của công nhân và 25% số đầu xe mà vẫn hoàn thành vượt mức kế hoạch…Tổ đá nhỏ ca A (Nhà máy xi măng Hải Phòng) của Nguyễn Thị Lý đã trở thành “Con chim đầu đàn” của phong trào thanh niên công nhân phát huy sáng kiến, cải tiến kỹ thuật, tiến quân vào khoa học kỹ thuật trên toàn miền Bắc. Năm 1961, đoàn viên, hội viên, thanh niên công nhân Hà Nội cũng đã phát huy được 8.800 sáng kiến trong tổng số 13.000 sáng kiến của công nhân toàn thành phố.

Thanh niên khu mỏ Hòn Gai chỉ tính riêng trong “chiến dịch than Điện Biên Phủ” đã đóng góp 1.286 sáng kiến, cải tiến kỹ thuật, đảm nhận xây dựng 9 công trình thanh niên, xây dựng 1.950 tổ sản xuất, xe, máy mang tên thanh niên. Tổ đi lò nhanh của Nguyễn Văn Bôn, Đỗ Xuân Ngọc với sáng kiến “khoan sâu, bắn mìn nặng” đã mở đầu cho phong trào đi lò nhanh của thanh niên vùng mỏ. Anh hùng Vũ Xuân Thuỷ cùng tổ máy khoan BU4, xe Gấu 25, tổ máy xúc EKG1 của anh đã trở thành những điển hình tiên tiến của tinh thần dám nghĩ dám làm, dám vượt khó tiến công vào khoa học kỹ thuật…

ở nhà máy dệt Nam Định, đoàn viên, hội viên, thanh niên công nhân đã cải tiến được 778 máy dệt từ tay đập ngang sang tay đập dọc, tăng năng suất mỗi năm 1,4 triệu mét vải và giúp nhà máy hoàn thành vượt mức kế hoạch Nhà nước năm 1962 trước 78 ngày…

Trong Đại hội tổ, đội lao động xã hội chủ nghĩa toàn miền Bắc, ngày 21-6-1963, Bác Hồ đã gửi thư tới Đại hội và đánh giá cao vai trò của đoàn viên, hội viên, thanh niên: “Cho đến nay đã có 6000 tổ và đội ghi tên thi đua để giành danh hiệu vẻ vang là tổ, đội lao động xã hội chủ nghĩa. 389 tổ và đội đã được công nhận, trong đó có 1.400 chị em, 1.400 công nhân nam và 3.800 là thanh niên. Thế là thanh niên đã chiếm số đông hơn. Bác có lời khen ngợi thanh niên và khuyên các cháu cố gắng hơn nữa”.

Đoàn viên, thanh niên quân đội trên miền Bắc cũng luôn nêu cao tinh thần thi đua yêu nước, xây dựng và củng cố quốc phòng, chấp nhận và vượt qua mọi khó khăn, thử thách, không ngừng vươn lên trong học tập, huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu và tham gia xây dựng chủ nghĩa xã hội. Tổng cục Chính trị quân đội Nhân dân Việt Nam đã phát động phong trào thi đua “Ba nhất” trong toàn quân, hướng vào các mục tiêu xây dựng tư tưởng tốt, huấn luyện và sẵn sàng chiến đấu tốt, xây dựng đơn vị vững mạnh toàn diện. 100% chi đoàn và đoàn viên, thanh niên trong các đơn vị, binh chủng, quân chủng đã đăng ký phấn đấu đạt danh hiệu “chiến sỹ ba nhất”. Các tấm gương tiêu biểu là chiến sỹ bộ đội biên phòng Chu Văn Thanh, Mừa A Dếnh (dân tộc Mông) đã mưu trí, dũng cảm, xử lý tốt mọi tình huống trong khi làm nhiệm vụ. Đó cũng là những tấm gương sáng về tinh thần phục vụ nhân dân, hoàn thành suất sắc mọi nhiệm vụ được giao…

Để kịp thời biểu dương thành tích suất sắc của tuổi trẻ miền Bắc, đồng thời rút ra những bài học kinh nghiệm qua các phong trào thi đua, động viên đoàn viên, hội viên và thanh niên phấn đấu cho sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội, tháng 7-1963, Trung ương Đoàn, Trung ương Hội đã tổ chức Đại hội những người xuất sắc trong phong trào xung phong tình nguyện vượt mức kế hoạch 5 năm lần thứ nhất. Có hơn 600 đại biểu xuất sắc đã về dự. Đại hội đã tổng kết các hoạt động của Đoàn, Hội và các phong trào thi đua của tuổi trẻ miền Bắc, đồng thời biểu dương những tập thể và cá nhân xuất sắc. Đó là đoàn viên, thanh niên hợp tác xã Đại Phong (Quảng Bình); đoàn viên, hội viên, thanh niên công nhân Nhà máy cơ khí Duyên Hải, nhà máy xi măng (Hải Phòng). Đó là tập thể đoàn viên, giáo viên và thanh, thiếu niên học sinh trường cấp II Bắc Lý (Hà Nam). Đó là các y, bác sỹ và y tá trẻ tuổi của bệnh viện Vân Đình (Hà Tây). Đó là phong trào thi đua “Ba nhất” của tuổi trẻ quân đội…Đó là các cá nhân Đỗ Tiến Hảo, Lương Văn Nghĩa…(Nông nghiệp); Vũ Xuân Thuỷ, Đỗ Xuân Ngọc, Nguyễn Văn Bôn (công nhân mỏ); Phạm Văn Chức (Lâm nghiệp); Trần Văn Giao (Địa chất); Đào Thị Hào (ngành dệt); Phùng Văn Bằng (Giao thông vận tải)…

Tháng 3-1964, trước tình hình đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai đẩy cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam lên một bước mới, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã triệu tập “Hội nghị Chính trị đặc biệt” tại Thủ đô Hà Nội. Người kêu gọi: “Mỗi người làm việc bằng hai để đền đáp đồng bào miền Nam ruột thịt”.

Đáp lời kêu gọi thiêng liêng của Bác, bên cạnh 50 vạn đoàn viên, hội viên, thanh niên cùng 1 vạn tập thể đã hoàn thành và hoàn thành vượt mức kế hoạch 5 năm lần thứ nhất, có thêm 80 vạn đoàn viên, hội viên, thanh niên tiếp tục tự nguyện đăng ký phấn đấu theo tinh thần “Mỗi người làm việc bằng hai”. Nhiều công trình “Vì miền Nam ruột thịt” do tuổi trẻ đảm nhận đã hoàn thành vượt mức kế hoạch. Tiêu biểu là công trình đường sắt Thanh Hoá- Nghệ An đã được hoàn thành đúng ngày sinh nhật Bác: 19-5-1964, vượt thời gian gần 4 tháng, được Bác Hồ tặng cờ và trao phần thưởng. Chi đoàn phân xưởng thành phẩm dệt kim Đông Xuân (Hà Nội) đã coi mỗi chiếc áo xuất xưởng là một viên đạn bắn vào đầu giặc và đã hoàn thành vượt mức kế hoạch được giao 12%. Bí thư Đoàn Công ty Xây dựng Nam Định- Nguyễn Văn Độ đã có sáng kiến cải tạo máy cưa thành máy có hai tác dụng: Vừa cưa, vừa khoan, tăng năng suất 400%, được Bác Hồ khen ngợi và tặng Huy hiệu của Người…

Trong gần 10 năm (1955-1964) tham gia khôi phục và phát triển kinh tế - văn hoá - xã hội, tuổi trẻ miền Bắc đã có những cống hiến xuất sắc, luôn khẳng định được vai trò xung kích cách mạng của tuổi trẻ. Hàng triệu đoàn viên, hội viên, thanh niên đã được thử thách, rèn luyện và trưởng thành về mọi mặt. Các tổ chức Đoàn, Hội liên tục được củng cố và lớn mạnh.

*
*   *

Trong những năm 1961-1964, tuổi trẻ miền Nam đã góp phần cùng nhân dân miền Nam đánh tan chiến lược “Chiến tranh đặc biệt” của đế quốc Mỹ xâm lược. Tổng thống Mỹ Kennơđi đã quyết định thực hiện chiến lược “Chiến tranh đặc biệt” ở miền Nam hòng cứu vãn chế độ Sài Gòn và duy trì, áp đặt chủ nghĩa thực dân mới để đối phó với cao trào cách mạng.

Chiến lược “Chiến tranh đặc biệt” của đế quốc Mỹ hết sức thâm độc. Đó là thủ đoạn “dùng người Việt đánh người Việt” kết hợp với những vũ khí, kỹ thuật chiến tranh hiện đại của Mỹ cùng những biện pháp khủng bố, đàn áp dã man của bọn nguỵ quyền Sài Gòn. Lực lượng chủ yếu thực hiện “Chiến tranh đặc biệt” là quân đội nguỵ quyền Sài Gòn do Mỹ tổ chức, trang bị, huấn luyện và nuôi dưỡng.

Mỹ đã cho tăng viện trợ quân sự lên gấp đôi vào miền Nam. Nếu năm 1961-1962 là 321,7 triệu đô la (trong đó có 80 triệu đô la vũ khí) thì những năm 1962-1963 đã lên tới 675 triệu (trong đó có 100 triệu đô la vũ khí). Vì vậy, lực lượng quân nguỵ đã được vơ vét dồn ép, cưỡng bức để tăng lên nhanh chóng. Năm 1961, có 20 vạn quân thì năm 1962 đã lên tới 36,2 vạn quân chính quy. Lực lượng bảo an năm 1960 có 70.000 tên thì năm 1962 lên tới 174.500 tên. Lực lượng vũ trang thường trực là dân vệ cũng tăng tới 128 đại đội chiếm đóng, kìm kẹp nhân dân từ ấp, xã.

Đặc biệt, bọn CIA đã chọn lọc, tổ chức và huấn luyện, trang bị, đài thọ một đội quân “Thanh niên chiến đấu” rất lợi hại, vừa hỗ trợ cho quân thường trực dồn dân, lập “ấp chiến lược”, vừa bổ sung cho mạng lưới tình báo của Mỹ.

Trong chiến lược “Chiến tranh đặc biệt” bọn Mỹ - nguỵ coi việc bình định, dồn dân, lập “ấp chiến lược” là nội dung cơ bản để hòng “tát nước, bắt cá” lùng sục, bắt bớ cán bộ, đảng viên cộng sản; để hòng đánh phá tận gốc, bóp chết phong trào đấu tranh cách mạng của tuổi trẻ và nhân dân miền Nam.

Trước những thử thách khốc liệt mới, ngày 23-1-1961, Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã quyết định thành lập Trung ương Cục miền Nam để tăng cường chỉ đạo cách mạng miền Nam.

Ngày 31-1-1961, Bộ Chính trị đã ra Chỉ thị về phương hướng và nhiệm vụ công tác trước mắt của cách mạng miền Nam là: Đẩy mạnh hơn nữa đấu tranh chính trị, đồng thời đẩy mạnh đấu tranh vũ trang lên song song với đấu tranh chính trị, tiến công địch bằng cả hai mặt chính trị và quân sự.

Thực hiện Chỉ thị của Bộ Chính trị, dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Trung ương Cục, Khu uỷ khu V và các Đảng bộ địa phương, tuổi trẻ và quân dân miền Nam đã kiên cường đấu tranh, dũng cảm chiến đấu và từng bước đánh bại chiến lược “Chiến tranh đặc biệt” của Mỹ - Nguỵ.

Ngày 26-3-1961, Đội vũ trang quyết tử của học sinh, sinh viên Sài Gòn- Gia Định được thành lập. Ngày 6-4-1961, dưới sự chỉ huy của các anh Lê Hồng Tư, Hà Văn Hiền, Đội vũ trang quyết tử đã ra quân đánh trận đầu tiên giòn giã, diệt được tên Uyliam Tômát - một chuyên viên cao cấp của không quân Mỹ tại đường Ngô Thời Nhiệm (Sài Gòn). Ngay hôm sau, Đội lại tấn công bằng lựu đạn vào trụ sở cơ quan USOM của Mỹ tại đường Trần Hưng Đạo, giết và làm bị thương 6 tên cố vấn Mỹ. Xe của đại sứ Mỹ Nâu đinh cũng bị Đội tấn công ném thủ pháo như một lời cảnh cáo đanh thép bọn quan thầy Mỹ ở Sài Gòn. Sau vụ Đại sứ Mỹ bị chết hụt, bọn Mỹ- Nguỵ tăng cường lùng sục, bắt bớ. Do cơ sở sơ xuất, anh Lê Hồng Tư và một số đồng chí bị bắt. Anh Lê Quang Vịnh, Lê Văn Duy cùng một số đồng chí trong Ban Cán sự học sinh, sinh viên Sài Gòn - Gia Định cũng bị bắt.

Ngày 24-5-1962, Toà án quân sự đặc biệt của Mỹ- Nguỵ đưa các anh ra xét xử. Chúng đã kết án tử hình Lê Quang Vịnh, Lê Hồng Tư và các đồng chí khác. Trước toà án kẻ thù, các anh đã liên kết thành “Tiểu đội gang thép” tiến công địch. Anh Lê Hồng Tư đã dõng dạc nói: “Tôi chỉ tiếc là không đủ lựu đạn để giết hết những tên cầm đầu bọn xâm lược”. Cả “Tiểu đội gang thép” đã hô đến vỡ ngực: “Đả đảo luật phát xít 10-59”; “Đả đảo đàn áp” và các anh cùng hát vang bài ca “Giải phóng miền Nam”. Đồng bào dự phiên toà cùng 15.000 thanh niên, học sinh, sinh viên đã vô cùng xúc động và khâm phục tinh thần bất khuất, dũng cảm của các anh.

Cũng năm 1962, tại Liên khu V, trong đợt 1 tuyển quân đã có 2.600 thanh niên xung phong tòng quân. Tính chung lực lượng vũ trang toàn khu từ huyện trở lên có tới 85% là thanh niên, 95% du kích là nam nữ thanh niên. Phong trào tòng quân giết giặc, tham gia du kích phát triển rầm rộ khắp miền Nam. Đặc biệt, chiến tranh du kích phát triển mạnh mẽ. ở tỉnh Bến Tre, hai nữ du kích Tạ Thị Kiều (xã An Thạch) và út Tuyết (xã Đa Phước) đã hiệp đồng dùng mưu lấy được 2 đồn giặc, thu nhiều vũ khí và bắt giữ cả tù binh.

Chị Tạ Thị Kiều đã được tuyên dương Anh hùng Lực lượng Vũ trang Quân giải phóng miền Nam.

Tiêu biểu cho chủ nghĩa anh hùng cách mạng của tuổi trẻ miền Nam năm 1962 là chiến công của 10 dũng sỹ Điện Ngọc, Điện Bàn, Quảng Nam.

Ngày 20-4-1962, 7 chiến sỹ đặc công do tiểu đội trưởng Lê Tấn Hiển và tiểu đội phó Võ Như Hưng chỉ huy đã cùng 3 cán bộ Huyện uỷ Điện Bàn về xã Điện Ngọc phát động quần chúng chuẩn bị cho một đợt đấu tranh mới. Địch đã phát hiện và huy động một tiểu đoàn biệt kích cùng nhiều dân vệ bao vây, tấn công. Để bảo vệ tài sản và tính mạng của nhân dân, các anh vừa chiến đấu vừa rút ra ngoài cánh đồng, cố thủ tại một đìa cạn. Các anh đã kiên cường mưu trí, dũng cảm đánh địch từ 8 giờ sáng đến chiều tối, diệt hơn 100 tên, bên ta có 3 đồng chí hy sinh. Lợi dụng đêm tối, các anh nghi binh đánh lạc hướng địch, chôn cất tử sĩ, đưa thương binh và toàn đội rút về nơi an toàn. Trận chiến đấu của 10 đoàn viên, thanh niên - 10 dũng sĩ Điện Ngọc đã trở thành huyền thoại và trở thành niềm tự hào của tuổi trẻ Việt Nam. Lực lượng vũ trang miền Nam liên tiếp lập chiến công trên khắp các chiến trường.

Để tiếp thêm sức mạnh và vũ khí cho lực lượng vũ trang, từ đầu năm 1962, những đoàn “tàu không số” đã được thành lập và viết lên những trang hào hùng đầy kỳ tích trên biển Đông. Chỉ trong 2 tháng cuối năm 1962 đã có 4 chuyến “tàu không số” vượt biển, cập bến an toàn ở Cà Mau, đưa được 111 tấn vũ khí cho Khu 9.

Đầu năm 1963, Mỹ - Nguỵ bị một đòn choáng váng, bất ngờ tại ấp Bắc, xã Tân Phú Trung, huyện Cai Lậy, cách thị xã Mỹ Tho 16 km. Phát hiện có chủ lực của ta tại ấp Bắc, tướng Mỹ P.Hakin đã trực tiếp lên kế hoạch mở cuộc hành quân với chiến thuật “phượng hoàng vồ mồi” với vũ khí mạnh, quân đông gấp 10 lần hòng tiêu diệt chủ lực Việt cộng. Sáng 2-1-1963, chúng cho pháo và máy bay, tàu chiến oanh kích, đồng thời mở 13 đợt tấn công liên tục mà không vào được ấp. Chiều tối địch buộc phải lui quân ra quốc lộ để sáng 3-1 sẽ mở trận tấn công quyết định. Nhưng đêm mùng 2 rạng sáng 3-1, bộ đội, du kích và nhân dân ấp Bắc đã bí mật rút khỏi ấp về khu căn cứ an toàn, để lại chiến trường ngổn ngang với 450 xác giặc, trong đó có 9 cố vấn Mỹ cùng 5 trực thăng tan xác, 11 chiếc bị thương, 3 xe M113 bị cháy trụi, 1 tàu chiến bị bắn chìm.

Đây là chiến thắng đầu tiên vang dội của quân dân miền Nam trên địa hình đồng bằng với lực lượng chênh lệch 1 chọi 10 cùng vũ khí hiện đại của địch.

Chiến thắng ấp Bắc đã cổ vũ mạnh mẽ tuổi trẻ miền Nam trên khắp các chiến trường. Tại Khu 8, kết thúc phong trào “Thi đua ấp Bắc giết giặc lập công” đợt I đã có 135 ấp chiến lược bị phá; 2.600 tên địch bị tiêu diệt, bức rút 207 đồn và vận động được 6000 binh sĩ nguỵ trở về với nhân dân.

Cũng trong năm 1963, riêng Khu 8 đã có 51.300 thanh niên nam nữ gia nhập dân quân du kích. Lực lượng vũ trang địa phương phát triển tăng gấp đôi so với năm 1962 (1962 có 30.500 quân; 1963 là 64.000 quân).

Tháng 9-1963, bộ đội chủ lực Quân khu 9 đã tấn công chi khu quân sự Cái Nước, Đầm Dơi (Cà Mau) loại 558 tên địch, thu 200 súng.

Tháng 11-1963, căn cứ huấn luyện biệt kích Đức Hoà (Long An) bị bộ đội đặc công phối hợp với bộ đội địa phương tiêu diệt gọn, bắt sống 170 tên (có 13 tên Mỹ), thu 540 súng.

Tháng 12-1963, trong trận đánh Đường Long (Bến Cát, Thủ Dầu Một), quân ta diệt gọn tiểu đoàn 32 biệt động “Cọp đen” khét tiếng tàn ác, thu 300 súng…

Trong năm 1963, trên các mặt trận miền Nam, quân ta đánh 24.600 trận lớn nhỏ; tiêu diệt, làm bị thương và bắt sống 7,8 vạn tên địch (có 600 tên Mỹ); bắn rơi và phá huỷ 609 máy bay, phá hàng trăm xe thiết giáp và xe vận tải; trên 800 đồn bốt bị diệt, bị bức rút; 34 đoàn xe lửa bị lật, 236 tàu xuồng bị đánh chìm, đánh hỏng; thu hơn 1 vạn súng các loại…

Thừa thắng, các lực lượng đấu tranh vũ trang, đấu tranh chính trị của quân dân miền Nam xốc tới.

Để thực hiện nhiệm vụ “xương sống” trong chiến lược “Chiến tranh đặc biệt”, bọn Mỹ - nguỵ dự định lập 16.000 “ấp chiến lược” trên toàn miền Nam ngay từ năm 1962. Nhưng đến cuối năm 1962 chúng mới lập được 3.900 ấp và ngay trong năm 1962 đã có 2.665 lần tuổi trẻ và nhân dân miền Nam nổi dậy phá “ấp chiến lược”. Kết quả là đã có 463 ấp bị phá hoàn toàn và 115 ấp được xây dựng thành “ấp chiến đấu”.

Năm 1963, trên toàn miền Nam có 34 triệu lượt người tham gia phá “ấp chiến lược”. Tuổi trẻ và nhân dân miền Nam đã phá hoàn toàn 2.895 ấp và phá đi, phá lại 5.950 lần trong tổng số 6.164 ấp địch lập được. Hàng nghìn “ấp chiến lược” biến thành “ấp chiến đấu”. 23.000 thanh niên tòng quân đánh giặc. Tiêu biểu cho phong trào phá “ấp chiến lược” của địch là tuổi trẻ và nhân dân các tỉnh Mỹ Tho, Gò Công, Long An, Tây Ninh, Bình Định, Phú Yên…

Quân và dân miền Nam trong năm 1963 đã phá thế kìm kẹp, giành quyền làm chủ ở 12.000/17.000 thôn; giải phóng được 5/14 triệu dân.

Phong trào đấu tranh chính trị ngày càng phát triển rộng khắp miền Nam và thu hút mọi tầng lớp nhân dân.

Chỉ riêng ở Sài Gòn, trong 6 tháng đầu năm 1962 đã có 82 cuộc bãi công, biểu tình, bãi khoá chống Mỹ - nguỵ. Tiêu biểu là cuộc bãi công của 800 công nhân hãng dệt Vimitếc (2-1962) và 5000 công nhân cao su đấu tranh kéo dài tới 6 tháng.

Phong trào chống vụ án 24-5-1962 kẻ thù xét xử, kết án tử hình Lê Quang Vịnh, Lê Hồng Tư… đã lan rộng trong tất cả các trường học trên cả nước. Đặc biệt là cuộc biểu tình của 8000 học sinh, sinh viên và thanh niên Tân An, Chợ Lớn ngày 8-6-1962. Truyền đơn, khẩu hiệu được rải hàng loạt suốt một tuần lễ trong các trường học ở Sài Gòn như trường Hồng Lạc, Phan Sào Nam, Nguyễn Văn Khuê, Việt Nam học đường… nhưng nhiều nhất là ở trường Văn Lang nơi anh Lê Hồng Tư theo học. Hoảng sợ trước làn sóng đấu tranh sôi sục của học sinh, sinh viên và đồng bào, chính quyền Diệm đã buộc phải tuyên bố sẽ giảm án.

Trong khí thế đấu tranh sôi động của tuổi trẻ khắp miền Nam, đầu tháng 3-1963, tại Thuận An (Huế) Hội Liên hiệp Học sinh, Sinh viên Trung Trung Bộ đã được thành lập. Tiếp đến ngày 17-3, Đoàn sinh viên Phật tử Huế cũng ra đời. Các tổ chức này đã nhanh chóng quy tụ được đông đảo sinh viên yêu nước tiến bộ cùng tranh đấu. Tiểu biểu trong phong trào đấu tranh chính trị ở đô thị thời kỳ này là cuộc đấu tranh của tín đồ Phật giáo.

Ngày 7-5-1963, trong dịp lễ Phật đản, Ngô Đình Diệm đã ra lệnh hạ cờ Phật, hàng nghìn Tăng ni, phật tử và nhân dân Huế đã xuống đường biểu tình phản đối. Đoàn biểu tình đã bị địch đàn áp dã man. Lại tối ngày 8-5-1963, hơn 10.000 học sinh, sinh viên và nhân dân Huế đã kéo đến Đài phát thanh Huế phản đối nguỵ quyền không tường thuật lễ Phật đản trên đài. Kẻ thù đã điên cuồng cho xe cứu hoả, xe tăng và binh lính đàn áp, bắn vào đoàn biểu tình. 8 người trong đoàn biểu tình (trong đó có 5 học sinh) đã trúng đạn và hy sinh.

Ngày 14-5-1963, Uỷ ban Trung ương Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam đã ra tuyên bố kêu gọi nhân dân cả nước và nhân dân thế giới ủng hộ cuộc đấu tranh của đồng bào Phật giáo.

Sinh viên, học sinh tại Sài Gòn cũng rầm rộ xuống đường biểu tình, bãi khoá ủng hộ cuộc đấu tranh của đồng bào Phật giáo. Ngày 11-6-1963, Hoà thượng Thích Quảng Đức đã tự thiêu tại ngã tư Lê Văn Duyệt - Phan Đình Phùng để phản đối nguỵ quyền đàn áp Phật giáo. Những ngày tiếp theo, hàng trăm ngàn tín đồ, sinh viên, học sinh và nhân dân Sài Gòn đã dự lễ tang Hoà thượng. Phong trào đấu tranh chính trị bùng lên quyết liệt ở khắp nơi…

Ngày 1 tháng 11 năm 1963, thông qua bọn tướng lĩnh tay sai ở Sài Gòn do Dương Văn Minh cầm đầu, Mỹ tiến hành cuộc đảo chính ở Sài Gòn, lật đổ Diệm - Nhu.

Sau khi Diệm - Nhu bị lật đổ, lại tiếp đến Dương Văn Minh cũng bị Nguyễn Khánh đảo chính lật đổ ngày 30-1-1964, phong trào đấu tranh vũ trang, đấu tranh chính trị của tuổi trẻ và nhân dân miền Nam càng phát triển mạnh mẽ cả chiều rộng lẫn chiều sâu.

Ngày 17-4-1964, hàng trăm thanh niên và công nhân xí nghiệp dệt Vimitếc (Sài Gòn) đã đấu tranh quyết liệt chống bọn chủ đuổi 151 công nhân.

Tháng 5-1964, 12.000 công nhân lái xe tắc-xi đấu tranh chống Mỹ giết hại anh Nguyễn Văn Bảy và hai công nhân lái xe tắc-xi khác. “Tuần lễ tẩy chay Mỹ” với những trận đón đánh, tiêu diệt Mỹ liên tiếp nổ ra trên các đường phố Sài Gòn - Gia Định…

Ngày 21-8-1964, hơn 4000 thanh niên, sinh viên, học sinh Sài Gòn đã tổ chức hội thảo tẩy chay “Hiến chương Vũng Tàu” vì Nguyễn Khánh đã ký bán rẻ cảng Cam Ranh cho đế quốc Mỹ.

Cũng ngày 21-8-1964, 5000 học sinh, sinh viên tổ chức mít tinh ở trường Đại học Luật khoa rồi kéo đến Bộ Thông tin nguỵ đòi tự do báo chí.
Ngày 24-8-1964, 30.000 đồng bào cùng tất cả các trường trung học thành phố Đà Nẵng xuống đường biểu tình, đình công, bãi chợ, tuần hành phản đối Mỹ- Khánh; đòi xoá bỏ “Hiến chương Vũng Tàu”…

Ngày 25-8-1964, 400.000 đồng bào, học sinh, sinh viên, thanh niên Sài Gòn kéo tới bao vây dinh Nguyễn Khánh. Trước khí thế đấu tranh sôi sục ấy, đến 15 giờ cùng ngày Nguyễn Khánh buộc phải tuyên bố huỷ bỏ “Hiến chương Vũng Tàu” và rút lui chức Chủ tịch Việt Nam Cộng hoà do hắn tự phong.

Liên tiếp những tháng cuối năm 1964, đầu năm 1965, phong trào đấu tranh biểu tình, bãi khoá, đình công… của tuổi trẻ và nhân dân khắp các tỉnh, thành miền Nam rầm rập, hừng hực khí thế đã góp phần cùng đấu tranh vũ trang làm thay đổi cục diện chiến trường miền Nam.

Từ năm 1964, quân nguỵ được Mỹ trang bị vũ khí tốt hơn và quân số tăng thêm nửa triệu nhưng chúng càng bị thua đau và nặng nề hơn.

Ngày 16-2-1964, quân ta tập kích rạp Kinh Đô tiêu diệt 150 sĩ quan Mỹ.

Ngày 2-5-1964, tàu Cađơ trọng tải 15.000 tấn vừa cập bến Bạch Đằng với toàn bộ hàng hoá và 19 máy bay lên thẳng bị bộ đội đặc công đánh chìm.

Ngày 5-6-1964, khách sạn Caraven bị quân ta đánh sập, 100 sĩ quan Mỹ bị chết và bị thương.

Những tháng năm này, câu chuyện huyền thoại về người chiến sỹ biệt động Sài Gòn Nguyễn Văn Trỗi đặt mìn trên cầu Công Lý giết hụt tên Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Mắc Namara đã làm chấn động cả Việt Nam và thế giới. Đặc biệt, những phút giây lịch sử vang dội của người đoàn viên Nguyễn Văn Trỗi trong ngày 15-10-1964 biến pháp trường thành diễn đàn lên án đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai bán nước đã trở thành bất tử. Khí phách lẫm liệt của người anh hùng trẻ tuổi đã đi vào lịch sử; "Phút giây thiêng Anh gọi Bác ba lần" mãi mãi âm vang sông núi...

Biến đau thương, căm thù thành hành động cách mạng, trên quê hương Quảng Nam - Đà Nẵng của Nguyễn Văn Trỗi đã có hơn 1000 thanh niên xung phong vào bộ đội, 2.500 nam nữ thanh niên gia nhập dân quân du kích.

Ngày 24-12-1964 khách sạn Bơrinh (Sài Gòn) rung chuyển, đổ sập vì bị quân ta đánh mìn. Sân bay Tân Sơn Nhất cũng bị bộ đội ta tấn công.

Tin vui thắng trận vang dội khắp miền Nam. Sân bay Biên Hoà bị quân giải phóng pháo kích làm cháy, hỏng 17 máy bay. Các sân bay Đà Nẵng, Quy Nhơn, Plâycu cũng bị quân ta liên tiếp tiến công…

Ngày 7-12-1964, Quân khu V mở chiến dịch An Lão đánh điểm, diệt viện làm 700 tên địch bị loại khỏi vòng chiến đấu, quân ta thu 300 súng, giải phóng toàn huyện An Lão. Thừa thắng xốc tới, Trung đoàn 1 tại Quảng Nam đã tấn công cứ điểm Chóp Chài của địch, diệt gọn Sở chỉ huy tiểu đoàn và 1 đại đội chủ lực của địch.

Đặc biệt, chiến thắng Bình Giã ở miền Đông Nam Bộ đã làm nức lòng tuổi trẻ và nhân dân cả nước. Từ 3-11-1964 đến 2-1-1965, quân ta với 5 trận đánh cấp trung đoàn đã diệt gọn 2 tiểu đoàn chủ lực, đánh thiệt hại 7 tiểu đoàn khác, phá hàng loạt “ấp chiến lược” giải phóng huyện Hoài Đức với 20 ngàn dân.

Tháng 2-1965, chiến dịch Mùa xuân đánh điểm, diệt viện của quân giải phóng tại Đèo Nhông (Phú Mỹ, Bình Định) đã diệt gọn 2 tiểu đoàn bộ binh, 1 chi đoàn xe bọc thép M113 của địch…

Chiến thắng liên tiếp của tuổi trẻ và nhân dân miền Nam đã làm phá sản chiến lược “Chiến tranh đặc biệt” của Mỹ - nguỵ, làm thay đổi cục diện chiến trường miền Nam.

Dưới ngọn cờ vinh quang của Đảng, lại thường xuyên được thử thách và rèn luyện trong cao trào cách mạng, các tổ chức Đoàn, Hội và phong trào thanh niên miền Nam đã từng bước được củng cố và phát triển. Cùng sự ra đời, trưởng thành của các tổ chức quần chúng khác, sau khi Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam ra đời (20-12-1960), Hội Liên hiệp Thanh niên giải phóng được thành lập, bao gồm Hội Liên hiệp Sinh viên giải phóng, Hội Liên hiệp Học sinh giải phóng cùng các tổ chức thanh niên yêu nước khác với các hình thức tổ chức, hoạt động cách mạng phong phú, đa dạng và hiệu quả.

Hệ thống tổ chức Đoàn, Hội từ cơ sở bị địch đánh phá ác liệt trong suốt thời kỳ “Tố cộng”, “Diệt cộng” của Mỹ - nguỵ nay được các cấp uỷ Đảng quan tâm lãnh đạo nên từng bước được khôi phục, củng cố, phát triển cả về số lượng và chất lượng. Cuối năm 1960, riêng ở Quảng Nam - Đà Nẵng đã có trên 100 chi đoàn với 1295 đoàn viên và có 13.600 hội viên Hội Liên hiệp Thanh niên giải phóng. Đoàn còn xây dựng được 47 phân đội thiếu niên Tiền phong với 4.909 đội viên.

Vào thời điểm cuối năm 1961, toàn miền Nam có 21.748 đoàn viên, sinh hoạt trong 880 chi đoàn thì đến năm 1962 đã có 46.792 đoàn viên và 1.375 chi đoàn cùng nhiều chi hội với số hội viên lên đến gần 100 nghìn. Năm 1964, số đoàn viên đã lên tới 72.375 người hoạt động trong 2.539 chi đoàn. So với năm 1961 thì tổ chức Đoàn và đoàn viên năm 1965 đã tăng hơn 4 lần (Năm 1965, số đoàn viên toàn miền Nam là 88.947 với 3.276 chi đoàn).

Đặc biệt là các tổ chức Đoàn, Hội đã phát triển rộng khắp trong tất cả các vùng, các địa phương, tạo thành một hệ thống Đoàn, Hội từ các cơ sở đến các huyện, tỉnh và toàn miền Nam. Hầu hết các tỉnh đều có Ban cán sự Đoàn với số cán bộ chuyên trách từ 2 đến 4 đồng chí. Từ 1961 đến 1965, các cấp bộ Đoàn ở miền Nam đã mở được 771 lớp huấn luyện, bồi dưỡng, đào tạo được 24.258 lượt cán bộ Đoàn, Hội, trong đó số cán bộ nữ chiếm tới 2/3. Đội ngũ cán bộ Đoàn, Hội ngày càng được tăng cường, phát triển cả bề rộng lẫn chiều sâu đã đảm bảo vững chắc cho công tác Đoàn, Hội và phong trào thanh niên miền Nam phát triển đồng thời đã tập hợp, đoàn kết rộng rãi các thành phần thanh niên, hội viên cùng trong một trận tuyến đánh thù.

Các cán bộ Đoàn, Hội đã kiên trì bám trụ, kiên cường chiến đấu và nhiều đồng chí đã anh dũng hy sinh. Nhưng tuổi trẻ miền Nam cùng nhân dân miền Nam đã viết lên những trang sử oai hùng, chói sáng. Nhiều tên tuổi đã trở thành bất tử.

*
*   *

Trong gần 10 năm (1955-1964) chiến đấu vô cùng gian khổ và oanh liệt với đế quốc Mỹ cùng bè lũ tay sai bán nước, tuổi trẻ miền Nam đã kiên cường đương đầu với mọi khó khăn, thử thách, không quản ngại gian khổ, hy sinh cùng nhân dân miền Nam bất khuất, đánh bại mọi âm mưu, thủ đoạn của kẻ thù, góp phần đưa cách mạng đi lên, giành hết thắng lợi này đến thắng lợi khác.

Cũng trong gần 10 năm (1955-1964) tham gia hàn gắn vết thương chiến tranh, khôi phục và phát triển kinh tế-văn hoá-xã hội, tuổi trẻ miền Bắc đã có sự cống hiến xuất sắc, luôn thể hiện là lực lượng xung kích cách mạng. Hàng triệu bạn trẻ đã được thử thách, rèn luyện và trưởng thành về mọi mặt, tổ chức Đoàn, Hội liên tục được củng cố, phát triển. Với những phong trào “Thanh niên tích cực lao động xã hội chủ nghĩa”, “Sạch làng, tốt ruộng”, “Kiện tướng nghìn cân”, “Phát huy sáng kiến, cải tiến kỹ thuật”… Đặc biệt là phong trào: “Xung phong tình nguyện vượt mức kế hoạch 5 năm lần thứ nhất”, tuổi trẻ miền Bắc đã có những bước phát triển vượt bậc: Từ 200.000 đoàn viên sau ngày hoà bình lập lại, đến Đại hội Đoàn toàn quốc lần thứ II (1956) đã phát triển lên 420.000 đoàn viên, cho tới Đại hội Đoàn toàn quốc lần thứ III (1961) đã có 780.000 đoàn viên sinh hoạt trong 12.000 chi đoàn cơ sở. Số lượng hội viên của Hội Liên hiệp Thanh niên Việt Nam, Hội Liên hiệp sinh viên Việt Nam và Lực lượng thanh niên xung phong cũng tăng hơn nửa triệu…

Cũng từ Đại hội Hội Liên hiệp Thanh niên Việt Nam lần thứ I (1956) đến Đại hội Hội Liên hiệp Thanh niên Việt Nam lần thứ II (1961), Mặt trận đoàn kết, tập hợp đoàn viên, hội viên, thanh niên ngày càng rộng rãi và phát triển mạnh mẽ với đầy đủ các tầng lớp thanh niên công nhân, nông dân, quân đội, sinh viên, học sinh, trí thức, thanh niên các tôn giáo, các dân tộc thiểu số…Các phong trào do Đoàn, Hội vận động từ Bắc tới Nam đã thu được những thành tựu rực rỡ.

Tuổi trẻ miền Nam, tuổi trẻ miền Bắc trong những tháng năm sôi động của cả nước (1955-1964) đã xứng đáng với lời khen ngợi của Bác Hồ: “Các cháu là thế hệ anh hùng trong thời đại anh hùng”. Thế hệ trẻ Việt Nam đã trở thành đội xung kích cách mạng xứng đáng với niềm tin vững chắc của dân tộc như Bác từng tiên đoán: “Với một thế hệ thanh niên hăng hái và kiên cường, chúng ta nhất định thành công trong sự nghiệp bảo vệ miền Bắc, giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc. Vì vậy Bác rất tự hào, sung sướng và như thấy mình trẻ lại, thấy tương lai của dân tộc ta vô cùng vững chắc và vẻ vang”.


CHƯƠNG IX: PHONG TRÀO “BA SẴN SÀNG” PHẢN ÁNH KHÍ THẾ XẺ DỌC TRƯỜNG SƠN ĐI CỨU NƯỚC

Ngày 5/8/1964, sau khi trắng trợn gây ra sự kiện “Vịnh Bắc Bộ”, Mỹ cho không quân tiến hành đánh phá các mục tiêu quan trọng ở miền Bắc như Vinh, Thanh Hoá, Quảng Ninh… mở đầu cuộc chiến tranh bằng không quân chống nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, xâm phạm chủ quyền một quốc gia độc lập. Tuổi trẻ cả nước sục sôi khí thế chống Mỹ cứu nước.

Với lòng yêu nước nồng nàn và chí căm thù giặc sâu sắc, chỉ 4 ngày sau khi Mỹ cho máy bay và tàu chiến đánh phá miền Bắc (9-8-1964), 26 vạn lượt đoàn viên, hội viên, thanh niên, học sinh, sinh viên Hà Nội đã xuống đường tuần hành, biểu thị quyết tâm chống Mỹ xâm lược với tinh thần “Ba sẵn sàng”:

1. Sẵn sàng chiến đấu.
2. Sẵn sàng nhập ngũ.
3. Sẵn sàng đi bất cứ nơi nào Tổ quốc cần.

Chỉ trong một tháng từ sau ngày 9-8-1964 đã có 1,5 triệu nam nữ thanh niên ở tất cả các tỉnh miền Bắc đăng ký “Ba sẵn sàng”. “Ba sẵn sàng” thực sự trở thành phong trào cách mạng sâu rộng của tuổi trẻ miền Bắc.

Từ Hà Nội, phong trào nhanh chóng lan rộng đến các tỉnh, thành phố: Hải Phòng, Quảng Ninh, Nghệ An. Ngay trong tuần đầu phát động, hàng trăm đoàn viên, hội viên thanh niên ở thị xã Lạng Sơn đã viết đơn tình nguyện. Trong số đó có lá đơn của 11 người con ông Lê Chí Hồ (gồm trai, gái, dâu, rể) thiết tha xin vào bộ đội. Riêng Sơn La, một tỉnh miền núi nằm ở phía Tây của Tổ quốc, đã có 40 ngàn đoàn viên, hội viên, thanh niên đăng ký tham gia, trong đó có 19 ngàn đăng ký tình nguyện tòng quân lên đường giết giặc.

Ngay từ trận đầu máy bay Mỹ đánh phá một số điểm ở Quảng Ninh, Thanh Hoá, Nghệ An, Quảng Bình… ngày 5/8/1964, với tinh thần “có lệnh là đi, giặc đến là đánh, đã đánh là phải thắng” thanh niên trong các đơn vị pháo cao xạ và dân quân tự vệ ở các địa phương đã thể hiện rõ ý chí và khả năng chiến đấu, đã chiến đấu ngoan cường, dũng cảm, hạ máy bay, bắt sống giặc lái. Hải quân nhân dân Việt Nam lần đầu xuất kích với 3 tàu phóng lôi đã đánh đuổi tàu Ma-đốc của Mỹ xâm phạm vùng biển nước ta. Hôm sau (ngày 6-8-1964) Hải quân nhân dân Việt Nam lại phối hợp với không quân và nhân dân các địa phương khu vực sông Gianh, Cửa Hội, Lạch Trường, Hòn Gai… đánh thắng không quân Mỹ một trận oanh liệt mở đầu trang sử vẻ vang của binh chủng.

Nhiều chiến sỹ trẻ lần đầu đối mặt với máy bay Mỹ đã tỏ ra dũng cảm ngoan cường, kiên cường bám trận địa, bị thương không chịu rời vị trí chiến đấu. Đó là thuyền trưởng tàu 187 Lê Văn Tiếu, một cánh tay bị thương dập nát vẫn dũng cảm chỉ huy đoàn tàu bắn máy bay Mỹ. Đó là hạ sỹ Hoàng Thanh Sơn bị mảnh đạn xuyên thủng bụng, vẫn tiếp tục chiến đấu. Khẩu đội trưởng Lê Sỹ Hằng, dùng dây buộc chân gãy lên thành pháo đứng vững ở vị trí chỉ huy khẩu đội. Là binh nhất Đặng Quốc Bình, 19 tuổi được nghỉ phép về thăm nhà, trên đường về thấy máy bay Mỹ đến bắn phá đã quay lại dùng thuyền nan đuổi theo đơn vị làm nhiệm vụ tiếp đạn cho đồng đội, bị thương 3 lần, một đoạn ruột bị sổ ra nhưng vẫn bình tĩnh dùng tay nhét lại, một tay giữ bụng, một tay tiếp đạn cho đến khi ngã xuống. Đó là pháo thủ Đặng Đình Lống, sau khi bắn không trúng đích theo yếu lĩnh đã học, anh nảy ra ý định ngắm bắn thẳng vào máy bay địch khi nó bổ nhào. Chỉ một điểm xạ ngắn, anh đã bắn rơi ngay một máy bay A4 của địch. Khẩu lệnh nhằm thẳng máy bay địch mà bắn ra đời ngay trên mâm pháo, trong trận đánh đầu tiên này. Sau đó, được áp dụng bắn rơi tiếp 2 máy bay Mỹ. Bị thương lần lượt ở hai chân, anh đã dùng thắt lưng buộc mình vào càng pháo để tiếp tục chiến đấu. Đặng Đình Lống được Nhà nước tặng Huân chương Chiến công Hạng Nhất ngay sau trận đánh.

Ngày 18-11-1964, tại miền Tây Quảng Bình, người chính trị viên trẻ tuổi Nguyễn Viết Xuân sau khi chỉ huy đại đội pháo cao xạ của mình phối hợp chiến đấu trong đội hình của tiểu đoàn bắn hạ một máy bay Mỹ, đã bị thương nặng, chân dập nát. Không do dự, anh đề nghị cứu thương chặt đứt chân cho khỏi vướng và yêu cầu không để các chiến sỹ biết. Anh đứng tựa vào thành công sự tiếp tục chỉ huy bộ đội chiến đấu. Thấy máy bay Mỹ vẫn liều lĩnh lao xuống cắt bom, Nguyễn Viết Xuân cố nén đau, dồn sức hô to:

- Các đồng chí! Máy bay Mỹ không có gì đáng sợ, học tập Nguyễn Văn Trỗi, các đồng chí nhằm thẳng quân thù mà bắn!

“Nhằm thẳng quân thù, bắn!” đã trở thành khẩu hiệu chiến đấu của toàn quân, toàn dân và thanh niên Việt Nam trong những năm kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.

Trước hành động leo thang chiến tranh của Mỹ, đêm 2-1-1965, hơn 5 vạn thanh niên Hà Nội lại xuống đường, một lần nữa biểu thị quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược. Thanh niên các đường phố, các xí nghiệp, trường học... tự tổ chức thành đội ngũ, vai khoác ba lô, lá nguỵ trang đầy người, vũ khí trong tay... hừng hực khí thế ''Ba sẵn sàng'', rầm rập đi trên các đường phố chính tổng duyệt lực lượng. Từ những cuộc hành quân vũ trang liên tiếp được tổ chức như vậy đã trở thành phong trào rèn luyện ''vai trăm cân, chân ngàn dặm'', chuẩn bị sẵn sàng để khi Tổ quốc cần có thể sẵn sàng lên đường nhập ngũ.

Tháng 3-1965, Hội nghị lần thứ 11 Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã họp và chỉ rõ: “Đối với Đoàn, cần đẩy mạnh phong trào “Ba sẵn sàng” với nội dung và hình thức mới”. Thực hiện “Ba sẵn sàng” đã trở thành nguyện vọng thiết tha, tình cảm cách mạng chân thành của đoàn viên, hội viên, thanh niên Việt Nam.

Ngày 1-4-1965, Trung ương Hội LHTN Việt Nam ra bản tuyên bố: ''Nước Việt Nam là một dải đất thống nhất từ Lạng Sơn đến mũi Cà Mau, Tổ quốc chúng ta đang đứng trước một thử thách nặng nề trong lịch sử chống ngoại xâm. Giờ đây, hơn lúc nào hết, hơn 4 triệu nam nữ thanh niên miền Bắc chúng tôi đã chuẩn bị sẵn sàng để cùng hơn 30 triệu đồng bào cả nước làm nghĩa vụ thiêng liêng chiến đấu bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ chủ quyền toàn vẹn lãnh thổ của đất nước''.

Hội nghị Ban Chấp hành TW Đoàn lần thứ IX (khóa III) họp ngày 4 đến 7 tháng 5/1965 do đồng chí Vũ Quang, Bí thư Thứ nhất TW Đoàn, Phó Chủ tịch Hội LHTNVN chủ trì, đã quyết định nhiệm vụ của Đoàn trong lúc này là "Đoàn kết mọi lực lượng yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội, phát huy cao độ chủ nghĩa anh hùng cách mạng; tổ chức động viên 4 triệu đoàn viên và thanh niên miền Bắc tiến lên hàng đầu trên mặt trận sản xuất, chiến đấu, học tập và xây dựng cuộc sống mới, quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược trong bất kỳ tình huống nào để bảo vệ miền Bắc, tích cực ủng hộ cách mạng giải phóng miền Nam và đẩy mạnh công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội".

Quán triệt nhiệm vụ của Đảng, của Đoàn, Hội nghị Uỷ ban Trung ương Hội LHTNVN lần thứ 5 (5/1965) đã đề ra nhiệm vụ chung của Hội: "Mở rộng hơn nữa khối đoàn kết thanh niên, đoàn kết tất cả các tầng lớp thanh niên thành một khối vững chắc, tăng cường hơn nữa công tác giáo dục chính trị, bồi dưỡng họ trở thành những chiến sĩ triệt để cách mạng, trung thành với Tổ quốc, với Đảng, tin tưởng tuyệt đối ở sự lãnh đạo của Đảng, ở thắng lợi cuối cùng, ra sức khắc phục khó khăn, gian khổ, tiến lên hàng đầu thực hiện tốt nhất 3 nhiệm vụ: "Sản xuất và bảo vệ sản xuất, chiến đấu và sẵn sàng chiến đấu, học tập, rèn luyện với ý chí kiên cường nhất, với quyết tâm tạo nên một năng suất lao động cao, hiệu suất công tác cao nhất với tinh thần kiên quyết chiến đấu đánh bại mọi hành động chiến tranh của đế quốc Mỹ và tay sai, động viên mọi khả năng của toàn thể thanh niên kịp thời đáp ứng yêu cầu cấp thiết của cách mạng miền Nam để giữ vững tiền đồn của phe xã hội chủ nghĩa, của cách mạng giải phóng dân tộc và bảo vệ hòa bình thế giới".

Hội nghị Ban Chấp hành TW Đoàn lần thứ 9 và Hội nghị TW Hội lần thứ 5 đã bổ sung nội dung phong trào "Ba sẵn sàng":

- Sẵn sàng chiến đấu, chiến đấu dũng cảm và sẵn sàng nhập ngũ (bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương, dân quân tự vệ).

- Sẵn sàng khắc phục mọi khó khăn, đẩy mạnh sản xuất, công tác và học tập trong bất kỳ tình huống nào.

- Sẵn sàng đi bất cứ đâu, làm bất cứ việc gì khi Tổ quốc cần đến.
"Ba sẵn sàng" thực sự trở thành phong trào cách mạng sâu rộng của quần chúng thanh niên trong sự nghiệp chống Mỹ cứu nước và xây dựng CNXH ở miền Bắc và đấu tranh thống nhất nước nhà.

Ngày 29-7-1965, Ban Bí thư Trung ương Đảng ra Chỉ thị số 105CT/TW "Về việc tăng cường lãnh đạo công tác vận động thanh niên trong tình hình mới". Chỉ thị khẳng định thanh niên là một lực lượng to lớn có giác ngộ XHCN, có trình độ văn hóa, khoa học kỹ thuật, có sức khoẻ, nếu được tổ chức giáo dục và lãnh đạo tốt sẽ có nhiều cống hiến cho sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước và xây dựng CNXH. Cho nên "vấn đề đặt ra cho các cấp ủy Đảng và các ngành là phải dựa vào Đoàn TNLĐ với hơn 1 triệu đoàn viên mà tổ chức, động viên cho được 4 triệu thanh niên nam nữ trên miền Bắc tiến lên hàng đầu trên mặt trận sản xuất, chiến đấu, học tập và xây dựng cuộc sống mới, quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược, tích cực bảo vệ miền Bắc XHCN và góp phần vào giải phóng miền Nam, tiến tới thống nhất Tổ quốc".

Bản Chỉ thị đã định hướng cho tổ chức Đoàn, tổ chức Hội và phong trào thanh niên những nhiệm vụ cụ thể trên các mặt sản xuất, chiến đấu, học tập và xây dựng cuộc sống mới, đồng thời coi việc ra sức củng cố Đoàn TNLĐ và tăng cường đoàn kết tập hợp thanh niên là một đảm bảo để vươn lên làm tròn sứ mệnh lịch sử là lực lượng xung kích đi đầu trong sự nghiệp chống Mỹ cứu nước, sẵn sàng nhận bất cứ nhiệm vụ gì mà Đảng và Nhà nước giao phó.

Chỉ thị 105/CT/TW chỉ rõ nhiệm vụ đoàn kết, tập hợp thanh niên là: "Cần tăng cường đoàn kết và giáo dục thanh niên ngoài Đoàn, nhất là thanh niên công nông đi đầu trong sản xuất, chiến đấu, học tập. Cần quan tâm giáo dục, rèn luyện thanh niên con em các gia đình địa chủ, tư sản, thanh niên các tôn giáo và thanh niên chậm tiến, giúp cho anh chị em đó nhận rõ tình hình và nhiệm vụ mới, đoàn kết chung quanh các chi đoàn, phân đoàn và giao cho họ những công tác thích hợp với trình độ và khả năng để giúp họ tiến bộ".

 Là người tổ chức, rèn luyện các thế hệ thanh niên Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm đến từng bước trưởng thành của tuổi trẻ. Ngày 20/7/1965, Người kêu gọi thanh niên: "Các cháu thanh niên gái cũng như trai hãy thực hiện tốt "Ba sẵn sàng", xung phong hiến dâng tất cả tinh thần và lực lượng của tuổi trẻ cho sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước, cho Tổ quốc và chủ nghĩa xã hội".

Cũng vào thời điểm này, nhân dịp Quốc khánh lần thứ XX của nước Việt Nam dân chủ độc lập, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã gửi thư động viên thanh niên. Bác khen ngợi: "Các cháu là thế hệ anh hùng trong thời đại anh hùng", đồng thời Bác căn dặn thanh niên "Phải luôn luôn nâng cao chí khí cách mạng "Trung với nước, hiếu với dân, nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng". Không sợ gian khổ, hi sinh, hăng hái thi đua tăng gia sản xuất và anh dũng chiến đấu, xung phong đi đầu trong sự nghiệp chống Mỹ cứu nước.

Tháng 12/1965, Hội nghị Ban Chấp hành TW Đảng lần thứ XII khẳng định: "Chống Mỹ, cứu nước là nhiệm vụ thiêng liêng của dân tộc ta".

Thực hiện nhiệm vụ của Đảng và của Đoàn, thanh niên trong các lực lượng vũ trang, dân quân tự vệ đã thể hiện tinh thần chiến đấu dũng cảm ngoan cường, giặc đến là đánh, đã đánh là thắng. Thanh Hóa anh hùng là một minh chứng lịch sử. Kể từ ngày 3 và ngày 4 năm 1965 cho đến suốt hai đợt gây chiến tranh phá hoại của không quân Mỹ đối với miền Bắc, cầu Hàm Rồng (Thanh Hoá) luôn là mục tiêu đánh phá của chúng. Tại đây diễn ra những trận chiến đấu hiệp đồng tuyệt vời giữa các quân, binh chủng, các lực lượng không quân, hải quân, bộ đội cao xạ, dân quân tự vệ… lực lượng không quân trẻ tuổi lần đầu tiên xuất kích đã lập công vẻ vang. Ngày 3-4 biên đội máy bay Phạm Ngọc Lan đã bắn rơi 2 chiếc F8. Ngày 4-4 biên đội máy bay Trần Hanh bắn rơi 2 chiếc F105. Các đoàn tàu hải quân cơ động, linh hoạt chăng lưới dày đặc, góp phần hạ máy bay địch.

Các lực lượng pháo cao xạ và dân quân tự vệ ngoan cường, dũng cảm giữ vững vị trí chiến đấu. Nhiều chiến sỹ trẻ pháo cao xạ như Vũ Minh Dương, 2 lần bị thương vẫn không chịu rời trận địa, Lê Như Đắc bị ngất, nhưng khi tỉnh lại hỏi ngay: “Cầu có việc gì không? Anh em có ai việc gì không?”.

Lực lượng dân quân tự vệ Hàm Rồng – Nam Ngạn luôn tỏ ra ngoan cường, xông xáo hết vị trí này đến vị trí khác, phục vụ chiến đấu và chiến đấu dũng cảm. Hàn Thị Tĩnh, Trương Thị Thạch… những tay súng bắn máy bay Mỹ tầm thấp quyết liệt, khi có pháo thủ bị thương đã nhanh chóng thay thế vị trí, đảm bảo các khẩu đội pháo cao xạ có thể chiến đấu liên tục. Ngô Thị Sáu, Ngô Thị Dung và nhiều nam nữ thanh niên Nam Ngạn dũng cảm bơi ra giữa dòng sông Mã, dưới làn mưa bom của địch, cứu thuyền chở lương thực, tiếp đạn, mang lá ngụy trang cho tàu hải quân. Nguyễn Thị Hằng cùng đồng đội đã nêu cao tinh thần chiến đấu và phục vụ chiến đấu gan dạ trong nhiều đợt đánh trả máy bay Mỹ. Ngô Thị Tuyển, trong khí thế khẩn trương, quyết liệt đã vác một lúc cả hai hòm đạn nặng 98 kg, gấp 2 lần trọng lượng cơ thể mình, kịp thời tiếp đạn cho bộ đội đánh trả máy bay địch. Trong những ngày chiến đấu căng thẳng với máy bay Mỹ, lúc nào Ngô Thị Tuyển cũng xông xáo, lúc tiếp đạn, lúc mang cơm và nước uống cho bộ đội. Sau này, Ngô Thị Tuyển được Nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân.

Với một tiềm lực quân sự khổng lồ, đế quốc Mỹ đã sử dụng đủ mọi máy bay từ "thần sấm, con ma" đến siêu pháo đài bay B52, F111 cánh cụp cánh xoè…áp dụng đủ các thứ chiến thuật đánh phá của không quân, hải quân đánh phá ác liệt các mục tiêu trong đất liền, đánh phá cả những hòn đảo ở ngoài biển xa. Nhiều hòn đảo trở thành những túi đựng bom, đạn của không quân và hải quân Mỹ như: Cồn Cỏ, Bạch Long Vĩ, Hòn Ngư, Hòn Mắt…. Nhưng cũng chính trong những điều kiện ác liệt đó, những chiến sỹ trẻ tuổi trong các lực lượng vũ trang càng bộc lộ rõ phẩm chất sẵn sàng của mình, giữa mưa bom bão đạn vẫn “rắn như thép, vững như đồng”. Đó là Thái Văn A, chiến sỹ quan trắc của đảo Cồn Cỏ, ngày đêm bám vị trí chiến đấu, kể cả lúc bom đạn địch trút xuống quanh mình dày đặc, anh vẫn bình tĩnh quan sát, thông báo kịp thời từng diễn biến để đơn vị tổ chức đánh địch có hiệu quả. Anh trở thành “Cây rađa sống" của đảo. Bùi Thanh Phong, một pháo thủ gan góc, mấy lần bị bom Mỹ vùi xuống đất, cả mấy lần anh đều đội đất đứng lên tiếp tục chiến đấu. Cùng với tập thể đảo Cồn Cỏ, Thái Văn A và Bùi Thanh Phong đã được Nhà nước tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân. Cồn Cỏ trở thành biểu tượng sức mạnh, chiến thắng của quân và dân ta trong những năm kháng chiến chống Mỹ…

Vào thời điểm quyết liệt của cuộc chiến đấu, Tổng cục Chính trị Quân đội Nhân dân Việt Nam phát động phong trào giành danh hiệu “Đơn vị quyết thắng”. Cũng thời gian này, Trung ương Đoàn TNLĐ Việt Nam quyết định đặt cờ thưởng mang chân dung Nguyễn Văn Trỗi tặng những tập thể lập công xuất sắc trong chiến đấu, sản xuất, học tập và rèn luyện. Về sau Trung ương Đoàn còn đặt phần thưởng huy hiệu mang chân dung Nguyễn Văn Trỗi tặng những cá nhân có thành tích xuất sắc. Khí thế thi đua lập công của tuổi trẻ các lực lượng vũ trang và trong mọi đối tượng thanh niên ngày càng sôi nổi. Những gương sáng về hạ máy bay địch tại chỗ, ngay từ loạt đạn đầu xuất hiện ngày một nhiều. Đó là tập thể tiểu đoàn pháo cao xạ Nguyễn Viết Xuân, các lực lượng pháo phòng không bảo vệ Hà Nội, Hải Phòng và các địa phương khác… Cảnh giác cao, cơ động, linh hoạt, đón đánh địch trong mọi tình huống, đã đánh là thắng, là những chiến sỹ trẻ kiên cường, dũng cảm có quyết tâm tiêu diệt địch cao, Nguyễn Văn Mật, 26 tuổi, tiểu đội trưởng súng máy trực tiếp chiến đấu hơn 200 trận với máy bay, tàu chiến Mỹ, trận nào cũng lập công. Binh nhất pháo cao xạ Nguyễn Hữu Ngoạn, 21 tuổi, trong một năm liên tục chiến đấu 60 trận, có 3 lần bị thương vẫn không rời vị trí. Đó là các chiến sỹ trẻ trong các lực lượng tên lửa, ra đa, thông tin, hậu cần, công binh.vv… ngày đêm chiến đấu và sẵn sàng chiến đấu giữ vững bầu trời và mặt biển của Tổ quốc.

Tại lễ kỷ niệm trọng thể lần thứ 35 ngày thành lập Đoàn (26/3/1931 – 26/3/1966) Bác Hồ kính yêu đã dạy: “Với một thế hệ thanh niên hăng hái, kiên cường, chúng ta nhất định thành công trong sự nghiệp bảo vệ miền Bắc, giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc. Vì vậy Bác rất tự hào, sung sướng và như thấy mình trẻ lại”.

Đánh giá cao vai trò xung kích cách mạng của tuổi trẻ và luôn đặt rõ vị trí của thanh niên trong tiến trình cách mạng, đặc biệt vào lúc cả nước trong tình trạng trực tiếp chiến đấu chống Mỹ, tại Lễ kỷ niệm ngày truyền thống vẻ vang của Đoàn, Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã tin tưởng trao cho thế hệ trẻ lá cờ mang dòng chữ: “Vì chủ nghĩa xã hội, vì lý tưởng cộng sản, thanh niên anh dũng tiến lên”.

Tuân theo lời dạy của Bác Hồ và Chỉ thị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng, nhân ngày kỷ niệm thành lập Đoàn, Ban Chấp hành Trung ương Đoàn đã ra lời kêu gọi đoàn viên và thanh niên phát huy khí thế “Ba sẵn sàng”, hăng hái tiến lên hàng đầu trong sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước và xây dựng chủ nghĩa xã hội, quyết đem lá cờ trăm trận trăm thắng của Đảng và Bác Hồ vĩ đại tới đích thắng lợi cuối cùng. Tại buổi lễ trang trọng này đã vang lên lời thề “Ba sẵn sàng” chống Mỹ, cứu nước:

“Vì nghĩa vụ thiêng liêng chống Mỹ cứu nước
Vì sự nghiệp xây dựng và bảo vệ chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc
Vì sự nghiệp giải phóng miền Nam và thống nhất Tổ quốc.
Chúng ta thề:

1. Quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược, dù phải đánh 5 năm, 10 năm, 20 năm hoặc lâu hơn nữa, dù phải hy sinh gian khổ đến mức nào, chúng ta cũng quyết chiến đấu đến thắng lợi hoàn toàn.

2. Tuyệt đối tin tưởng vào đường lối cách mạng của Đảng để thực hiện lời dạy của Bác Hồ: “Trung với nước, hiếu với dân, nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng”.

3. Kiên quyết thực hiện “Ba sẵn sàng”
Sẵn sàng chiến đấu, chiến đấu dũng cảm, sẵn sàng gia nhập các lực lượng vũ trang.
Sẵn sàng khắc phục mọi khó khăn đẩy mạnh sản xuất, công tác và học tập trong bất kỳ tình huống nào.
Sẵn sàng đi bất cứ nơi nào, làm bất cứ việc gì mà Tổ quốc cần đến”.

Đứng trước tình hình đế quốc Mỹ liều lĩnh mở rộng chiến tranh xâm lược nước ta, vận mệnh Tổ quốc đứng trước những thử thách quyết liệt, tháng 7/1966, Hội đồng Quốc phòng được triệu tập do Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ trì cuộc họp. Tiếp đó căn cứ vào quyết định của Hội đồng Quốc phòng tối cao và Uỷ ban Thường vụ Quốc hội, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã công bố Lệnh động viên cục bộ. Ngày 17-7-1966, Chủ tịch Hồ Chí Minh kêu gọi: “Lúc này chống Mỹ, cứu nước là nghĩa vụ thiêng liêng nhất của mọi người Việt Nam yêu nước. Tất cả chúng ta hãy đoàn kết nhất trí, triệu người như một, quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược”. Người chỉ rõ: “Chúng có thể đưa 50 vạn quân, 1 triệu quân xâm lược hoặc nhiều hơn nữa để đẩy mạnh chiến tranh xâm lược ở miền Nam Việt Nam. Chúng có thể dùng hàng ngàn máy bay, tăng cường đánh phá miền Bắc. Nhưng chúng quyết không thể lay chuyển được ý chí sắt đá, quyết tâm chống Mỹ, cứu nước của nhân dân Việt Nam anh hùng…”. Và “chiến tranh có thể kéo dài 5 năm, 10 năm, 20 năm hoặc lâu hơn nữa. Hà Nội, Hải Phòng và một số thành phố, xí nghiệp có thể bị tàn phá, song nhân dân Việt Nam quyết không sợ!  Không có gì quý hơn độc lập, tự do”. Người dạy: “Hễ còn một tên xâm lược trên đất nước ta thì ta còn phải chiến đấu quét sạch nó đi”.

Những nhiệm vụ chiến lược đặt ra trong bước ngoặt của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước trở thành động lực thúc đẩy mọi tầng lớp thanh niên Việt Nam siết chặt hàng ngũ trong mọi hành động cách mạng, góp phần xứng đáng vào sự nghiệp của toàn dân.

ở quận Hai Bà Trưng, Hà Nội trong một gia đình gồm có 4 con là sinh viên: Nguyễn Phương Dung 23 tuổi, sinh viên năm thứ năm trường Đại học Y Hà Nội, Nguyễn Phương Diệp 21 tuổi, sinh viên năm thứ tư, Nguyễn Phương Duyên, 19 tuổi, sinh viên năm thứ 3 trường Đại học Nông nghiệp và Nguyễn Phước Tuân 17 tuổi học sinh học nghề ở nhà máy cơ khí Quang Trung cùng viết đơn xin nhập ngũ.

Cũng ở Hà Nội, còn có 28 anh chị em ruột, anh chị em con bác, con chú, trong gia đình đồng chí Nguyễn Thị Minh (ở quận Ba Đình) đã cùng đứng một lá đơn thiết tha xin được nhập ngũ và tái ngũ. Có nhiều lá đơn gửi đến Hội đồng nghĩa vụ quân sự thiết tha xin được nhập ngũ đã viết bằng máu.

Đặc biệt trong số hàng nghìn lá thư tình nguyện vào Nam chiến đấu tới tấp gửi đến toà soạn Báo Nhân dân, có lá thư mang 23 chữ ký của kỹ sư, cán bộ kỹ thuật công tác ở Cục Điện lực – Bộ Công nghiệp nặng, ghi lời tha thiết ở đoạn cuối “… Chúng tôi đã sẵn sàng kể cả sẵn sàng hi sinh cuộc sống của mình cho sự nghiệp giải phóng miền Nam, và đang hằng ngày hằng giờ chờ lệnh”.

Yêu cầu của công tác tuyển quân ngày càng cao, cả về số lượng và chất lượng, về sức khoẻ, trình độ văn hoá và kỹ thuật chiến đấu. ở Hoà Xá (huyện ứng Hoà, Hà Tây) Đảng bộ và chính quyền xã đã tổ chức khám sức khoẻ cho những người từ 18 đến 35 tuổi. Những người sức khoẻ loại một được bổ sung vào đơn vị sẵn sàng chi viện cho tiền tuyến, mệnh danh là “bộ đội làng”, thường xuyên được bồi dưỡng nâng cao thể lực, tổ chức rèn luyện hành quân xa, mang vác nặng, học tập kỹ thuật chiến đấu để khi cần lập tức lên đường chiến đấu. Những người sức khoẻ loại hai trở thành du kích trực chiến trận địa. Những người còn lại vào dân quân xã làm nhiệm vụ canh phòng.

Ngày “bộ đội làng” lên đường trở thành bộ đội chính quy thật sự là một ngày hội. Gia đình, người thân chọn trong dãy tre đằng ngà bao quanh làng kháng chiến cũ những đoạn thẳng nhất, làm thành những chiếc gậy gửi theo các chiến sĩ ra tiền tuyến gọi là “gậy Trường Sơn”. Những người ở lại, vợ hoặc người yêu, được tặng chiếc nhẫn thuỷ chung, có khắc con số “500”, là kỷ niệm chiếc máy bay thứ 500 bị bắn rơi trên miền Bắc, do dân quân Hoà Xá bắn hạ ngày 17-7-1967. Năm 1968, Ban Bí thư Trung ương  Đoàn ra quyết định công nhận Hoà Xá là xã có phong trào tòng quân khá nhất và phát động các địa phương làm như Hoà Xá.

Trong phong trào học tập và làm theo Hoà Xá, thanh niên các địa phương đã sáng tạo nhiều hình thức phong phú, cổ vũ tinh thần sẵn sàng chiến đấu, sẵn sàng nhập ngũ, động viên hàng triệu đoàn viên và thanh niên lên đường ra trận, với khẩu hiệu: “Tất cả cho tiền tuyến, tất cả để đánh thắng”, “Thóc không thiếu một cân, quân không thiếu một người”. Chỉ riêng tỉnh Hà Tây, trong hơn 10 năm từ 1965 –1975, đã có trên 17 vạn lượt, tỉnh Thái Bình có trên 20 vạn lượt v.v… thanh niên tòng quân chiến đấu trên khắp các chiến trường.

Nhiều thanh niên tỉnh Hà Tây ra đi theo tiếng gọi “Ba sẵn sàng”, chiến đấu trên khắp các chiến trường, đã lập được nhiều chiến công xuất sắc. Tiêu biểu là Anh hùng lực lượng vũ trang Trịnh Tố Tâm. Anh tòng quân khi cả nước bước vào cuộc kháng chiến chống Mỹ, trong cao trào “Ba sẵn sàng” và vào ngay chiến trường ác liệt nhất, Trị Thiên –Huế. Tại đây anh đã cùng đơn vị chiến đấu mưu trí, dũng cảm, diệt hơn 1500 tên Mỹ – nguỵ, phá huỷ 61 xe quân sự, đánh lật 19 đoàn xe của địch. Riêng Trịnh Tố Tâm đã diệt 272 tên địch, trong đó có 185 tên Mỹ, bắn rơi và phá huỷ 3 máy bay lên thẳng, được tặng thưởng 20 huân chương các loại và 53 lần được tặng danh hiệu “Dũng sĩ diệt Mỹ”.

Tòng quân và đi Thanh niên xung phong là những biểu hiện sinh động của khí thế “Ba sẵn sàng”.

Được Trung ương Đảng, Bác Hồ và Chính phủ giao nhiệm vụ, tháng 3/1965, Ban Bí thư Trung ương Đoàn TNLĐ Việt Nam (nay là Đoàn TNCS Hồ Chí Minh) phát động trong đoàn viên, thanh niên phong trào tình nguyện gia nhập Đội TNXP chống Mỹ, cứu nước (tập trung). Chỉ sau một tháng đã có hơn 10 vạn đoàn viên và thanh niên đăng ký sẵn sàng lên đường. Ngày 25-4-1965, đội TNXP chống Mỹ cứu nước (tập trung) đầu tiên được thành lập gồm 1200 đội viên nam của tỉnh Thanh Hoá, tổ chức thành 9 đại đội cấp tốc lên đường vào miền Tây Quảng Bình làm nhiệm vụ.

Đầu tháng 6/1965, hai đội TNXP chống Mỹ, cứu nước (tập trung) mang số hiệu 23 và 25 của Hà Tĩnh cũng được thành lập và lên đường nhận nhiệm vụ làm đường và vận chuyển hàng hoá bằng xe đạp thồ ở Nam Lào và Bắc Quảng Bình do Đoàn 559 quản lý.

Cũng trong tháng 6/1965, các tỉnh đã lần lượt tổ chức các đội TNXP chống Mỹ cứu nước với tổng số quân 8.856 đội viên vào phục vụ ở Đoàn 559 (Bộ Quốc phòng). Do yêu cầu cấp bách của chiến trường, việc tổ chức lực lượng TNXP chống Mỹ, cứu nước (tập trung) được triển khai rất khẩn trương. Chưa kịp ổn định tổ chức, các đơn vị đã phải cấp tốc hành quân trên những chặng đường dài 300-400, thậm chí hàng ngàn ki-lô-mét dưới bom đạn địch. Đến hiện trường hầu hết các đơn vị phải tự làm lấy lán trại để ở, tự làm công cụ để sản xuất.

Đến tháng 7/1965, phong trào tình nguyện gia nhập lực lượng TNXP chống Mỹ, cứu nước (tập trung) càng được đẩy mạnh. ở khu phố Hoàn Kiếm (nay là quận Hoàn Kiếm, Hà Nội) yêu cầu tuyển 200 đội viên TNXP đã có trên 1000 đoàn viên, thanh niên đăng ký. ở huyện Gia Lộc (Hà Tĩnh) tỉ lệ đó là 3192/400. Trong số người tình nguyện, tỉ lệ nữ thường chiếm tới 60-70%. Có chị đã nói: “Nam thanh niên được tham gia bộ đội, tham gia các ngành nhiều rồi nay phải nhường phần cho nữ thanh niên”. Có những gia đình 2-3 chị em ruột cùng tuổi thanh niên đã giành nhau để được đi thanh niên xung phong. Ai cũng hiểu rõ đi thanh niên xung phong là phải chấp nhận gian khổ, hi sinh nhưng tuổi trẻ khát khao được cống hiến sẵn sàng chấp nhận mọi thử thách.

Lực lượng TNXP chống Mỹ cứu nước thật sự là nơi tập hợp, đoàn kết mọi tầng lớp thanh niên trong xã hội vào sự nghiệp chống Mỹ cứu nước.

Gia nhập lực lượng TNXP chống Mỹ, cứu nước trở thành tình cảm, thành nỗi khát vọng của nhiều đoàn viên, thanh niên. Thanh niên các dân tộc thiểu số ở Lạng Sơn, Lào Cai, Bắc Thái (nay là Bắc Kạn, Thái Nguyên), Thanh Hoá… trước đây ít khi đi xa gia đình, giờ nhận thức được trách nhiệm của tuổi trẻ cũng hăng hái lên đường làm nhiệm vụ. Thanh niên theo đạo Thiên chúa ở Nam Định, Ninh Bình cũng tình nguyện gia nhập lực lượng TNXP chống Mỹ cứu nước.

Theo thống kê đợt đầu tuyển TNXP đã có trên 1000 thanh niên các dân tộc thiểu số, 1360 thanh niên theo đạo Thiên chúa tham gia. Cả những nhà sư như sư nữ Đàm Thị Dần, trước đây khi cắt tóc đi tu, Dần chỉ muốn được tĩnh tâm. Nhưng trước cảnh nhà tan cửa nát do giặc Mỹ gây ra, Dần muốn được phá giới. Đàm Thị Dần mạnh dạn viết đơn gửi Đoàn Thanh niên xã và gặp sư bà xin cho mình đi TNXP. Sư bà tỏ ra thông cảm vì Dần ăn chay niệm Phật đã 6 năm, sắp được lên sư bác, nên bà có ý ngần ngại. Dần không nản và làm tiếp đơn thứ hai, gửi thẳng cho Huyện Đoàn đề nghị giúp đỡ. Ngày lên đường của Đàm Thị Dần thật sự là một ngày hạnh phúc. Cô hăng hái đi bộ 400km từ Hà Nội vào tận phía Tây Nam Hà Tĩnh làm nhiệm vụ.

Trong vòng 3 tháng, từ tháng 4 đến tháng 7 năm 1965, gần 5 vạn đội viên thanh niên xung phong đã được tập hợp trong 32 đội, trong đó 7 đội do Đoàn 559 (Bộ Quốc phòng) quản lý làm nhiệm vụ mở đường mới và vận chuyển trên tuyến hành lang ở Quảng Bình và trên chiến trường miền Nam, chiến trường Lào, 7 đội do Tổng cục đường sắt quản lý, hoạt động dọc theo tuyến đường sắt từ Ninh Bình đến Nghệ An; số còn lại làm nhiệm vụ đảm bảo giao thông mở đường mới do ngành giao thông vận tải quản lý, chủ yếu hoạt động trên các tuyến đường 1A, 15, 21, 22, 22B, 20 (còn có tên gọi là đường Quyết Thắng), v.v… chốt giữ ở hầu hết các trọng điểm Đò Lèn, Hàm Rồng, Cầu Cấm, Hoàng Mai (trên đường số 1), Bãi Dinh, Mụ Giạ (đường 12A), đèo Ba Trại, ngầm Hạ Trạch (đường số 2, Quảng Bình), phà Địa Lợi, ngã ba Đồng Lộc, khe Tang, khe Rinh, đèo Đã Đẽo, phà Xuân Sơn, phà Long Đại (đường 15), cua chữ A, K59, dốc Đồng Tiến (đường Quyết Thắng)…

Tháng 9/1965, cuộc chiến đấu của quân và dân ta trên chiến trường miền Nam phát triển mau lẹ, cần một lực lượng trẻ, khoẻ làm nhiệm vụ trên tuyến đường dây liên tỉnh Trị – Thiên. Được Đảng giao nhiệm vụ, Trung ương Đoàn đã trực tiếp chỉ đạo 3 tỉnh Nam Hà, Ninh Bình, Hà Tây tuyển mỗi tỉnh 110 đoàn viên thanh niên nam tuổi từ 18–25 mang phiên hiệu Đoàn K53. Trong những tháng cuối năm 1965 đầu năm 1966 các tỉnh, thành phố đều lần lượt thành lập đội TNXP chống Mỹ, cứu nước do địa phương quản lý. Hà Nội có đội 51, Hải Phòng có đội 77, Ninh Bình có đội 3, Thanh Hóa thành lập thêm đội 696, Bắc Thái có đội X 91 - TC .v.v…

Do những thành tích chiến đấu của toàn quân và toàn dân đã đạt được, đầu tháng 1 năm 1967, Đại hội Anh hùng và chiến sỹ thi đua chống Mỹ cứu nước đã tuyên dương 45 đơn vị anh hùng và 111 anh hùng, trong đó có 44 anh hùng là thanh niên, đặc biệt có 12 anh hùng là nữ thanh niên. Trong buổi tiếp các đơn vị anh hùng và anh hùng dự Đại hội, Bác Hồ căn dặn: “Các anh hùng và đơn vị anh hùng dự Đại hội anh hùng phải luôn luôn khiêm tốn, không được kiêu ngạo. Phải luôn luôn đoàn kết giúp đỡ nhau, cố gắng học hỏi, không ngừng sản xuất, công tác và chiến đấu để tiến bộ mãi, lập nhiều thành tích to lớn hơn nữa, làm tròn mọi nhiệm vụ, góp phần cùng toàn dân đánh thắng giặc Mỹ xâm lược, bảo vệ miền Bắc, giải phóng miền Nam, tiến tới thống nhất đất nước".

Cũng vào thời điểm này, cán bộ chiến sỹ đoàn 125 vận tải biển đã được Nhà nước ta tuyên dương là đơn vị Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.
Để phát huy sức mạnh tổng hợp của lực lượng TNXP chống Mỹ, cứu nước và để thống nhất sự chỉ đạo, ngày 29-8-1968, Ban Bí thư TW Đoàn TNLĐ Việt Nam đã quyết định thành lập Tổng đội TNXP chống Mỹ, cứu nước 768, bao gồm các đội 39,31,45,35 đang làm nhiệm vụ trên các tuyến đường 22 và 22B. Tổng đội đảm nhận toàn bộ công trình kiến thiết cơ bản và đảm bảo giao thông trên 2 tuyến đường này. Đồng chí Bùi Nguyên Tích, Uỷ viên BCH Đoàn Thanh niên Giao thông Vận tải (GTVT) Trung ương, nguyên đội trưởng đội 39 được chỉ định làm Tổng đội trưởng.

Trong những năm chiến đấu chống Mỹ, giao thông vận tải đã trở thành một mặt trận nóng bỏng. Các tuyến đường huyết mạch, các bến phà, cầu cống đã bị máy bay địch đánh phá tới trên 80 nghìn trận, chiếm gần 70% số trận chúng đánh phá miền Bắc. Mức độ đánh phá ngày càng ác liệt, quy mô đánh phá ngày càng mở rộng. Chúng sử dụng tất cả những loại máy bay tối tân, hiện đại nhất từ F105, đến F111A, cả siêu pháo đài bay B52… sử dụng đủ các loại bom, kể cả bom từ trường, la de, bom phá, bom bi, bom nổ chậm, đánh phá ngày đêm với nhiều thủ đoạn chiến thuật xảo quyệt nhằm chặn đứng việc chi viện của hậu phương lớn cho tiền tuyến lớn. Cuộc chiến đấu trên mặt trận giao thông vận tải thật sự “là một thiên anh hùng ca” như lời Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã nói.

Chiến đấu trên mặt trận giao thông vận tải những năm kháng chiến chống Mỹ có đủ các lực lượng, bộ đội công binh, bộ đội hậu cần, công nhân ngành Giao thông Vận tải, nhân dân các địa phương… đông đảo hơn cả là lực lượng TNXP chống Mỹ, cứu nước.

Chỉ tính từ ngày thành lập đội TNXP chống Mỹ, cứu nước (đầu tiên năm 1965 đến giữa năm 1968), các đơn vị TNXP nhiệm kỳ I đã mở 15 tuyến đường mới, 200 đoạn đường tránh. Tổng cộng khoảng gần 1000 km, mở rộng và nâng cấp khoảng 345 km, xây dựng trên 500 công trình bao gồm cầu, cống, ngầm, đập, bến, bãi, đường băng sân bay: Phụ trách đảm bảo giao thông trên những quãng đường dài khoảng 1300 km. Tổng khối lượng đất đá do lực lượng TNXP chống Mỹ, cứu nước nhiệm kỳ I đào đắp khảng trên 10 triệu 300 ngàn m3.

Với ý chí: “Sống bám cầu đường, chết kiên cường dũng cảm” và “máu có thể đổ nhưng đường không thể tắc”, lực lượng thanh niên xung phong chống Mỹ, cứu nước đã dũng cảm, ngoan cường, mưu trí, sáng tạo, ngày đêm lăn lộn với đường, với cầu, thật sự trở thành lực lượng xung kích đáng tin cậy trên những con đường ra trận.

Đại đội 759 thuộc đội 75 TNXP Quảng Bình thành lập tháng 6/1965 được giao nhiệm vụ đảm bảo giao thông trên tuyến đường 12A. Chỉ tính đến tháng 6/1966, máy bay Mỹ đã đánh vào tuyến đường do đơn vị phụ trách 663 trận, với 5570 quả bom. Bình quân mỗi đội viên trong đơn vị phải hứng chịu 40 quả bom lớn, không kể bom bi, rốckét, đạn 20ly.

Tiểu đội 6 thuộc đại đội 759 do Nguyễn Thị Kim Huế làm tiểu đội trưởng, suốt 60 ngày đêm không lúc nào vắng mặt trên tuyến. Nơi nào có khó khăn nguy hiểm, nơi đó có mặt tiểu đội 6. Tất cả đều chung ý chí sắt thép: “Còn đất là còn đường”.

Lần đầu địch đánh bom nổ chậm vào tuyến đường, đơn vị chưa ai có kinh nghiệm phá bom, Nguyễn Thị Kim Huế không ngần ngại xung phong vào phá bom. Những đội viên nam thấy thế cũng làm theo. Từ đó bom nổ chậm không còn cản trở được công việc ứng cứu đường của TNXP đại đội 759. Khi địch tập trung đánh dứt điểm, khối lượng giải quyết rất lớn. Để kịp thông xe, Nguyễn Thị Kim Huế đưa ra sáng kiến cạp bờ hố bom, mở đường tránh cho xe vựơt qua. Đường thông, cả tiểu đội 6 lại tình nguyện gác bom nổ chậm, làm cọc tiêu sống dẫn đường cho xe qua trọng điểm.

Tại Đại hội Anh hùng Chiến sỹ thi đua chống Mỹ cứu nước lần thứ nhất, đại đội 759 và Nguyễn Thị Kim Huế đã được Nhà nước tuyên dương Anh hùng, là tập thể và cá nhân đầu tiên được phong tặng danh hiệu Anh hùng của lực lượng TNXP, cổ vũ mạnh mẽ TNXP chống Mỹ, cứu nước hăng hái thi đua lập công.

Cùng đội 75 có Lê Viết Lân, TNXP đại đội 754. Địch đánh bom nổ chậm, có quả trúng tim đường. Nếu phá được bom, đường sẽ hỏng, không đảm bảo kịp thông xe. Lân đề xuất phương án tìm cách lăn quả bom ra khỏi tuyến đường và xung phong nhận nhiệm vụ nguy hiểm đó. Lợi dụng một gờ đất, anh dùng xà beng bẩy thử. Bom bị kích thích, nóng dần lên. Không để bom nổ làm hỏng đường, Lân dùng bộc phá buộc vào phía dưới thân bom, châm lửa, để bộc phá nổ hất quả bom lên khỏi mặt đường trước khi nổ. Vừa chạy được 20mét, bom nổ hất anh ngã xuống. Khi tỉnh dậy, điều đầu tiên anh hỏi là: “Đường có làm sao không”.

Lê Viết Lân không chỉ là người đầu tiên phá bom nổ chậm. Anh cũng là người đầu tiên tìm được giải pháp giải phóng đôi vai cho đơn vị, đưa năng suất lao động lên 150 – 180%. Chưa đầy 1 năm gia nhập lực lượng TNXP chống Mỹ, cứu nước, Lê Viết Lân đã là chiến sỹ thi đua xuất sắc đi dự Đại hội Anh hùng Chiến sỹ thi đua chống Mỹ, cứu nước lần thứ nhất.

Chiến công nổi bật trong mở đường và giữ đường của TNXP chống Mỹ, cứu nước (tập trung) phải kể đến lực lượng tham gia trên tuyến đường Quyết Thắng (còn có tên đường mòn Hồ Chí Minh, đường Thống Nhất). Trong đó chủ yếu là TNXP 2 đội: 23 (Hà Tĩnh) và 25 (Nam Hà). Cả hai đội TNXP 25 và TNXP 23 đều có mặt trên tuyến đường từ những ngày đầu, phối hợp cùng bộ đội công binh đồng loạt ra quân “chọc thủng Trường Sơn mở đường thắng lợi”. Nhiều đoạn đường phải mở qua vực sâu, đèo cao xe cơ giới không thi công được. Đoạn vượt dốc Đồng Tiền là một vách đá cheo leo, TNXP phải bám từng vỉa đá, treo mình lơ lửng trên vách, đục đá, nổ mìn tạo thành một hàm ếch, dài tới hơn nửa km.

Mở đường đã khó, nhưng giữ vững con đường là một chiến công thấm đẫm máu của không ít TNXP. Ngay khi con đường đang được mở, ngày 13-3-1966, địch đã phát hiện ra con đường vựơt qua đỉnh Trường Sơn và lập tức cho máy bay đánh phá. Các đội viên TNXP đội 25 đang thi công trên tuyến, bị đánh vào đội hình, lần đầu tiên 8 đội viên hy sinh.

Con đường vừa mở xong, địch đã tập trung đánh phá có tính huỷ diệt. Cua chữ A, nằm trên đoạn đường Km 79, chạy quanh co theo bình độ của núi, một bên là vách núi cao, một bên là vực sâu. Đường gấp khúc, do đó hình thành A mẹ và A con. Một loạt bom thả xuống có thể phá hỏng cả 2A. Mỗi ngày chúng thường đánh vào trọng điểm từ 15 – 20 trận. Có thời gian chúng đánh liên tục 32 trận bằng máy bay chiến lược B52. Có trận chúng thả xuống hàng trăm tấn bom. Có đêm chúng thả liên tục từ 500 – 700 quả pháo sáng. Trọng điểm lúc nào cũng sáng rực như ban ngày.

Từ một rừng cây cổ thụ xanh tươi, cua chữ A biến thành màu đỏ quạch, màu nâu thẫm, màu đen sạm của tro bụi, của thuốc bom đạn địch. Ngót chục km2 đồi núi mấp mô dày đặc hố bom như một tổ ong khổng lồ, trơ trụi. Đất đá bị cày xới, biến thành một chất bột đen xỉn, đi bộ lội ngập ống chân.

Cuộc chiến đấu giữ vững cua chữ A trong mọi tình huống trở thành một thử thách khắc nghiệt đối với các đội viên TNXP. Mới đầu đơn vị không muốn các đội viên nữ lên làm nhiệm vụ. Nhưng trong lửa đạn không ai chịu ở tuyến sau. Khi được lên sát cánh chiến đấu bên cạnh các đội viên nam, các đội viên nữ càng nỗ lực bằng mọi cách để tự khẳng định mình. Gặp bom nổ chậm chị em cũng bàn nhau tìm cách phá để khỏi phải nhờ đến đội viên nam. Nhưng quả bom trúng tim đường. Nếu cho bom nổ sẽ phá hỏng đường, khối lượng đất đá lớn khó lòng đảm bảo thông xe trong đêm. Nguyễn Thị Vân Liệu, cô gái Hà Nam phải trốn theo đơn vị ngày nào đã đề xuất cách gói mìn theo hình phễu, tra kíp thuận chiều, dùng áp lực của bộc phá đẩy quả bom lên trên mặt đất mới nổ. Cái khó là phải đào một hố sâu phía dưới thân bom. Cuốc xẻng không đào được. Liệu xung phong dùng dao quỳ xuống bên quả bom, một tay ôm thân bom, một tay kia luồn xuống phía dưới để đặt bộc phá. Bom nổ, chỉ để lại một hố sâu bằng chiếc nón trên mặt đường. Sáng kiến của Nguyễn Thị Vân Liệu được phổ biến cho toàn binh trạm 14 và toàn tuyến đường áp dụng. Chị vinh dự được Bác Hồ tặng Huy hiệu của Người và Nhà nước tặng Huân chương Chiến công Hạng Hai. Tháng 4-2000, Nhà nước ghi công đã tặng Nguyễn Thị Vân Liệu danh hiệu Anh hùng.

Chỉ trong một thời gian ngắn trên tuyến đường Quyết Thắng đã hình thành nhiều trọng điểm hết sức ác liệt, K68, K59, K12 (Dốc Đồng Tiền)… Có những trọng điểm nằm trên đoạn đường cua gấp khúc. Chỉ cần một loạt bom cũng có thể phá hỏng tới 3 km đường. Có trọng điểm như ở K 59 (km 59) có đêm chúng tập trung đánh phá tới 38 trận (đêm 11-10-1968), làm khoảng 6000m3 đất đá đổ ụp xuống mặt đường. Trọng điểm K12, vốn từ một vách đá cao dựng đứng được tạo thành con đường xuyên qua hàm ếch. Kẻ địch nham hiểm dùng rốckét phóng vào vách đá. Mùa mưa đến, chúng dùng bom phá đánh xuống đỉnh núi, làm từng khối đá bị rốckét bắn vữa, đổ ụp xuống. Đến nỗi lấp cả nửa dòng suối Xuân Sơn chảy phía dưới con đường. Chúng đã tập trung đánh vào trọng điểm trong một đợt kéo dài 3 tháng 14 ngày (từ 16/7 đến 30/10/1968) tới 16253 quả bom. Có 4273 quả trúng đường, 500 quả trúng vào lán trại của TNXP.

Trong hoàn cảnh ác liệt, TNXP đội 25 luôn “lấy tim đường làm chiến trường, lấy quyết chiến điểm làm trận địa”, ngày đêm bám đường, sáng tạo nhiều phương pháp thích hợp, đảm bảo thông xe trong mọi tình huống, nâng chỉ tiêu thông xe từ 15 đến 20 rồi 30 đêm một tháng. Từ sáng kiến của đại đội 5 toàn đội đã áp dụng chiến thuật “3 tổ một đội” và biện pháp 3 nhanh (nghĩa là một đội ứng cứu đường chia làm 3 tổ: Tổ trinh sát đi trước đào lỗ chôn mìn, tổ lấp và đốt mìn, tổ san lấp hố bom. Biện pháp 3 nhanh là: Tiếp cận nhanh, giải quyết nhanh và rút nhanh). Nhờ đó lực lượng rải thưa, hạn chế được thiệt hại khi tiếp cận mục tiêu bị địch đánh phá, đồng thời đảm bảo nhanh chóng thông xe. TNXP đội 25 còn sáng tạo phương pháp đánh mìn định hướng, kết hợp máy gạt san lấp, đưa năng suất lấp một hố bom 100m3 mất 50 – 60 người làm trong một đêm mới xong, xuống chỉ còn 5-7 người lấp trong 2 tiếng đồng hồ, đảm bảo vượt chỉ tiêu thông xe, dù đường bị liên tục đánh phá ác liệt với nhiều thủ đoạn tinh vi, “bom chồng lên bom, đạn cày lên đạn”, cũng chỉ bị tắc giờ, không bị tắc đêm.

Trong những năm kháng chiến chống Mỹ, lực lượng TNXP chống Mỹ cứu nước (tập trung) đã làm nhiệm vụ đảm bảo giao thông trên 3000 km đường, trong đó có 2526 trọng điểm địch thường xuyên đánh phá ác liệt. Nhiều trọng điểm của các tuyến đường đã gắn liền với các đơn vị tiêu biểu và những chiến công nổi bật của TNXP chống Mỹ, cứu nước, như trọng điểm Cầu Cấm nằm trên tuyến đường 1A, do đơn vị TNXP 333, Tổng đội TNXP Nghệ An chốt giữ. Riêng năm 1968, không quân Mỹ đánh vào địa bàn hoạt động của đại đội 881 trận, ném xuống 21104 bom phá các loại, 267 bom bi mẹ, 1127 tên lửa, tàu chiến Mỹ pháo kích vào tuyến đường 54 trận với 1265 quả đại bác.

TNXP đại đội 333 nêu quyết tâm “Dù máu ngừng chảy, quyết không để đường tắc, xe ngừng chạy”, ngày đêm bám đường, bám cầu đảm bảo thông xe thông tuyến trong mọi tình huống. Ngày 27-1-1969, đơn vị vinh dự được Bác Hồ gửi thư khen. Bác viết: “Suốt 4 năm nay, Đội TNXP số 333 nhận nhiệm vụ làm đường, sửa cầu, ở một nơi địch thường đánh phá ác liệt, có nhiều khó khăn, gian khổ.

Đội gồm phần lớn là các cháu gái, đã dũng cảm chiến đấu, tích cực lao động, có nhiều sáng kiến, cải tiến kỹ thuật, bảo đảm cầu đường được thông suốt luôn.

Các cháu đã đoàn kết chặt chẽ, giúp đỡ nhau, khiêm tốn học hỏi các chú công nhân và bộ đội, được đồng bào thương yêu. Các cháu đã chăm học chính trị, văn hoá và làm văn nghệ khá, biết giữ gìn sức khoẻ tốt, đảng viên và đoàn viên trong đội gương mẫu. Các cháu xứng đáng là những thanh niên ưu tú của nhân dân Việt Nam anh hùng.

Bác rấzt vui lòng khen ngợi các cháu…”

Cùng trên địa bàn tỉnh Nghệ An, trọng điểm Truông Bồn, nằm trên đường 15, giáp giới giữa hai huyện Đô Lương và Nam Đàn đã gắn liền với sự tích 12 cô gái của tiểu đội thép đơn vị 300 TNXP Nghệ An dũng cảm hi sinh trong khi đang làm nhiệm vụ.

Chỉ tính riêng 4 tháng, từ tháng 6 đến tháng 10/1968 máy bay Mỹ đã đánh xuống Truông Bồn 2692 quả bom.

Chính trong những thời điểm địch đánh phá ác liệt, các cô gái Truông Bồn trong tiểu đội thép đã đưa hàng ngàn xe qua trọng điểm. Có những đêm đến 438 lượt xe qua lại, họ vẫn hướng dẫn xe đi an toàn trên quãng đường truông dài 5 km. Trời tối, đèn gầm của xe sợ lộ, không dám bật, các đội viên TNXP lấy bẹ chuối rải trên mặt đường làm cự cho xe vượt qua trọng điểm. Nhưng bẹ chuối trắng cũng bị nát, lấm bùn. Các đội viên TNXP lại lấy thân mình, mặc áo trắng, chạy trước xe để dẫn đường, hết chiếc này đến chiếc khác.

Mỗi trọng điểm trên các tuyến đường đều gắn với những chiến công của TNXP chống Mỹ, cứu nước.

Trọng điểm đèo Đá Đẽo trên đường 15 gắn với tên tuổi người con gái anh hùng Đinh Thị Thu Hiệp, xông xáo giữa kho đạn bị máy bay địch đánh phá mở đường máu cứu hàng, cứu xe.

Trọng điểm đèo Mụ Dạ, trên đường 12, nơi rèn luyện lên người cán bộ TNXP Nguyễn Thị Nậy, chỉ một chiến dịch 67 ngày đêm bảo vệ tuyến đường đã có 14 lần bị sức ép, 7 lần bị thương, 9 lần bị vùi lấp vẫn liên tục bám tuyến.

Trọng điểm khe Giao, khe út, đường 21 là chiến trường lập công của Anh hùng Nguyễn Trí Ân, chỉ được học hết lớp 3 phổ thông, gia nhập lực lượng TNXP khi mới được học hết lớp 7 bổ túc văn hóa, nhưng không một loại bom hiện đại nào có thể khuất phục được anh. Với cương vị tiểu đội trưởng trinh sát phá bom, anh đã bình tĩnh quan sát chính xác và cắm tiêu báo hiệu 432 quả bom nổ chậm và bom từ trường, tự tay dùng mìn, bộc phá và sử dụng bằng kim khí phá 32 quả bom nổ chậm và từ trường, cùng đồng đội phá 113 quả, gỡ được 3 quả.

Nổi bật là trọng điểm ngã ba Đồng Lộc, thuộc huyện Can Lộc, Hà Tĩnh. Chỉ tính riêng trong 240 ngày, từ tháng 3 đến tháng10/1968, không quân Mỹ đã trút xuống ngã ba nhỏ hẹp này 43.600 quả bom, trong đó có 6.000 quả bom nổ từ trường và bom nổ chậm

Trong thời gian ác liệt đó, La Thị Tám, cô gái tuổi 20, công nhân ngành giao thông Hà Tĩnh được phân công làm nhiệm vụ trinh sát đếm bom. Khó khăn và nguy hiểm. Lúc bom rơi dù sát ở bên mình vẫn phải hết sức tỉnh táo để không bỏ sót một quả bom chưa nổ nào không được đánh dấu trên bản đồ. Chị đã được Nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng.

Cùng chiến đấu trên ngã ba Đồng Lộc và cùng được tặng danh hiệu Anh hùng với La Thị Tám là Đại đội TNXP 551(đội 55 – TNXP Hà Tĩnh) và 10 cô gái Đồng Lộc huyền thoại (đại đội 552, đội 55).

Trong 10 cô gái chỉ có Võ Thị Tần và Hồ Thị Cúc là TNXP nhiệm kỳ I được lưu lại, 8 đội viên còn lại đều thuộc TNXP nhiệm kỳ II, nhập ngũ giữa năm 1968. Tất cả đều ngã xuống trên mặt đường trong thời gian đang làm nhiệm vụ.

Tại Đại hội anh hùng, chiến sĩ thi đua chống Mỹ, cứu nước lần thứ nhất, Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã đánh giá: "Chủ nghĩa anh hùng cách mạng đặc biệt thấm sâu và nảy nở trong thế hệ trẻ, ở miền Nam cũng như ở miền Bắc. Lứa tuổi 20 kế tục một cách trung thành và xuất sắc sự nghiệp cách mạng của chúng ta".

*
*   *

Sẵn sàng khắc phục mọi khó khăn, đi đầu trong sản xuất, công tác không ngừng vươn lên nâng cao trình độ khoa học kỹ thuật, phấn đấu giành năng suất lao động cao và hiệu suất công tác tốt là một cuộc chiến đấu gay go gian khổ của tuổi trẻ khi miền Bắc nước ta vừa chiến đấu, vừa sản xuất vừa chống Mỹ cứu nước, vừa xây dựng CNXH. Bám máy, bám đồng ruộng, bám cơ quan… trong hoàn cảnh phải đọ sức quyết liệt với những trận đánh phá có tính hủy diệt của không quân nhà nghề Mỹ đã trở thành một thử thách đối với phẩm chất của thế hệ thanh niên "Ba sẵn sàng".

Từ năm 1966 trở đi, phong trào “Ba sẵn sàng” tiếp tục phát triển mạnh mẽ và đi vào chiều sâu, đến với từng đối tượng thanh niên như “tay cày, tay súng”, “tay búa, tay súng”… nhà máy điện Hàm Rồng (Thanh Hoá) là mục tiêu đánh phá có tính huỷ diệt của không quân Mỹ. Giữ vững dòng điện an toàn trong mọi tình huống là những thanh niên công nhân cảm tử. Các anh đã xin ở lại nhà máy đến cùng để giữ vững dòng điện: “Xin cho chúng tôi ở lại đến cùng”, trở thành ý chí của thanh niên công nhân bám máy sản xuất trong mọi tình huống. Thanh niên công nhân Nhà máy điện Vinh, Nhà máy điện Uông Bí, Nhà máy điện Yên Phụ… đã xây dựng cả một hệ thống phòng tránh đến tận từng điểm nóng, cả từ trên tầng cao, đảm bảo kịp thời ứng phó với mọi tình huống xấu nhất, khi bom Mỹ đánh thẳng vào nhà máy. Thanh niên công nhân Nhà máy điện Yên Phụ (Hà Nội) ngay từ những ngày đầu khi địch đánh phá miền Bắc đã thành lập đội “Cảm tử bảo vệ dòng điện” thay nhau vừa trực chiến vừa vận hành máy. Trong suốt thời gian chiến tranh ác liệt, dòng điện từ Nhà máy điện Yên Phụ vẫn đảm bảo cho sản xuất, sinh hoạt của nhân dân và cho công tác chỉ huy chiến đấu.

Để khắc phục tình trạng thiếu nhân lực, do một lực lượng lớn thanh niên được huy động ra tiền tuyến, Thành Đoàn TNCS Hồ Chí Minh thành phố Hà Nội đã phát động phong trào “giỏi một việc, biết nhiều việc” để sẵn sàng thay thế những người đi chiến đấu và phong trào “3 điểm cao thắng Mỹ”… một mặt, động viên tinh thần lao động quên mình của đoàn viên, thanh niên, mặt khác hướng công nhân tiến quân vào khoa học kỹ thuật, khắc phục khó khăn do thiếu nguyên, nhiên vật liệu, máy móc phân tán không đồng bộ… đảm bảo nhịp độ sản xuất trong thời chiến.

Học tập và thi đua với thanh niên công nhân Hà Nội, thanh niên công nhân các tỉnh, thành phố: Hải Phòng, Nam Hà, Nghệ An, Quảng Ninh… Đã sáng tạo nhiều phương pháp thiết thực, đẩy mạnh sản xuất trong những điều kiện khó khăn thiếu thốn. Thanh niên công nhân Hà Nam Ninh (Hà Nam, Nam Định, Ninh Bình) đã “nhường thuận lợi cho bạn, nhận khó khăn về mình”, “vượt khó, làm nhanh”, “nhận giờ cao điểm, nhận nơi trọng điểm”. Nhiều cơ sở Đoàn đã tổ chức những đội thanh niên xung kích đảm nhận sản xuất trong những giờ nghỉ, ngày nghỉ, thành lập các đội thanh niên cảm tử, bám máy sản xuất ngay cả khi địch đánh phá ác liệt.

Bằng nhiều biện pháp tích cực, Đoàn Thanh niên trong các cơ sở sản xuất công nghiệp coi việc bám máy của người công nhân là nhân tố trước hết đem lại năng xuất cao trong một ca sản xuất, đã động viên đoàn viên và thanh niên tranh thủ mọi thời gian để có thể làm ra sản phẩm. Thanh niên mỏ Hà Tu (Quảng Ninh) đã đề ra sáng kiến tăng thêm giờ công hữu ích vì nước vì dân. Đoàn vận tải của mỏ mỗi ca chạy thêm 15 phút vì sự nghiệp giải phóng miền Nam, nhờ đó chạy tăng thêm được 3 chuyến mỗi ca. Tổ khoan của mỏ phấn đấu tăng từng thước khoan sâu. Thực chất đó là những biện pháp để tận dụng hết thời gian có ích trong một ca sản xuất và thực tế đã đem lại hiệu quả rõ rệt. Từ bình quân khoan 500m/ngày tổ đã nâng lên 700m/ngày.

Việc nhận công trình, sản phẩm mang tên thanh niên ngày càng trở nên phổ biến. Hầu hết ở cơ sở sản xuất công nghiệp nào, Đoàn cũng nhận những công trình sản phẩm theo từng cấp quản lý. Hình thức ca, máy thanh niên, lò thanh niên… cũng phát triển khá phổ biến. Về sau, để đi vào nề nếp và nâng cao chất lượng của các ca máy thanh niên, Ban Thanh niên công nhân của Trung ương Đoàn đã nghiên cứu và đề ra những tiêu chuẩn như tổ sản xuất, những ca, máy thanh niên, đoàn viên, thanh niên phải chiếm đa số, có nhiệt tình, ham tìm tòi sáng tạo, luôn giành được năng suất cao. Tổ rèn 5, phân xưởng cơ khí Công ty Gang thép Thái Nguyên là một đơn vị sản xuất gồm toàn thanh niên nhưng công việc thường phụ thuộc vào đơn vị khác. Nhiệm vụ sản xuất phần lớn đột xuất, mặt hàng luôn thay đổi, trong khi trình độ tay nghề của công nhân còn thấp. Thanh niên trong tổ thấy chỗ yếu của mình nên thường xuyên tổ chức những hội nghị chuyên đề kỹ thuật, mời các bác thợ bậc cao đến trao đổi kinh nghiệm, bàn bạc sắp xếp thợ theo từng cặp, khi phân công công việc đều dựa theo khả năng của từng cặp để giao. Nhiều sản phẩm đòi hỏi độ chính xác cao, nhờ việc tổ chức hợp lý tổ vẫn hoàn thành, chất lượng đảm bảo, có sản phẩm tăng năng suất tới 436%.

Nét nổi bật của thanh niên công nhân thời kỳ đánh Mỹ là ham tìm tòi, ham sáng tạo. Đáng chú ý là trình độ tay nghề của thanh niên công nhân thời kỳ này rất thấp, bình quân chỉ trên dưới bậc hai. Hầu như trong các ngành công nghiệp thời kỳ này không có một thợ bậc 6, bậc 7 nào ở độ tuổi thanh niên. Nhưng với tinh thần dám nghĩ, dám làm, nhiều đoàn viên và thanh niên đã vượt lên những hạn chế về kiến thức, tay nghề luôn tìm tòi, phát huy sáng kiến, cải tiến kỹ thuật, hợp lý hoá sản xuất đem lại hiệu quả thiết thực. ở nhà máy chế tạo điện có thanh niên đang hưởng 80% lương bậc 1 vẫn phát huy sáng kiến đưa năng xuất lên tới 300%. Cả năm 1966 thanh niên công nhân nhà máy này đã có 156 sáng kiến cải tiến, năm 1967 con số đó là 575. Có đoàn viên phát huy tới 4-5 sáng kiến, cải tiến, như trường hợp Trần Độ, tổ trưởng sản xuất nguội; như Đậu Ngọc Xuân, Vũ Ngọc Thìn (cảng Hải Phòng) luôn chịu khó học hỏi để sử dụng thành thạo các loại thiết bị hiện đại, phục vụ kịp thời đòi hỏi của sản xuất và chiến đấu. Nguyễn Hữu Trường, Ngô Viết Dưỡng (Vĩnh Phú), Ngô Trung Loan (Công ty xây dựng than điện)… Những thanh niên công nhân, tay nghề chỉ bậc 1, bậc 2, trình độ văn hoá có người chưa tốt nghiệp phổ thông cơ sở, nhưng với lòng say mê nghề nghiệp, chịu khó tìm tòi đã phát huy được nhiều sáng kiến cải tiến có giá trị, góp phần giải toả nhiều khó khăn, ách tắc trong sản xuất. Có sáng kiến làm lợi cho công quĩ hàng ngàn đồng (giá của những năm 60), tăng năng xuất tới 300-400%.

Các phong trào của thanh niên nông thôn như: làm thủy lợi, bèo hoa dâu, cấy theo lối mới, phá giờ cao điểm, đường cày đảm đang, tuổi trẻ “Ba sẵn sàng” trên mặt trận sản xuất nông nghiệp đã đạt những kết quả rực rỡ với việc: xây dựng “cánh đồng 5 tấn thắng Mỹ” bằng nhiều biện pháp tổng hợp, góp phần thực hiện mục tiêu của Đảng: “5 tấn thóc, 2 con lợn, 1 lao động làm một héc-ta gieo trồng".

“Cánh đồng năm tấn thắng Mỹ” là một phương thức hoạt động sáng tạo của thanh niên nông thôn trên đồng ruộng. Đến năm 1967 đã có tới 85% cơ sở Đoàn, Hội ở nông thôn đảm nhận việc xây dựng “cánh đồng 5 –10 tấn thắng Mỹ”. Đó là những cánh đồng đòi hỏi phải áp dụng đồng bộ nhiều biện pháp kỹ thuật, từ việc cải tạo đồng ruộng, áp dụng biện pháp tưới tiêu theo khoa học, đến việc cấy dày vừa phải. Thông qua hoạt động trên cánh đồng 5 –10 tấn thắng Mỹ, thanh niên được rèn luyện về kỹ năng lao động, góp phần hình thành một đội ngũ những người làm nghề nông mới.

Vũ Thắng (Kiến Xương, Thái Bình) là một hợp tác xã nông nghiệp nằm ở “rốn nước” chưa mưa đã bị úng ngập, độ PH trên đồng ruộng có cánh đồng lên tới 7,8. Người dân Vũ Thắng có thói quen chỉ cần cắm cây mạ xuống đồng ruộng rồi phó mặc cho trời đất. Thực hiện chủ trương của Đảng phấn đấu giành mục tiêu 5 tấn/ha gieo trồng/ năm, nhân dân Vũ Thắng đã lấy thuỷ lợi, cải tạo đồng ruộng làm mục tiêu đột phá. Thanh niên Vũ Thắng trở thành lực lượng xung kích đi đầu trong cải tạo đồng ruộng quê hương. Với những đêm “Hội hoa đăng” thắp đèn chai trên đồng để làm thuỷ lợi. Đoàn viên và thanh niên Vũ Thắng cũng là những người đi đầu áp dụng những biện pháp kỹ thuật canh tác tiên tiến, từ việc ngâm ủ giống đến việc cấy theo lối mới, tưới tiêu hợp lý…. Trong đó Hoàng Thị Huyền - một cán bộ kỹ thuật nông nghiệp của HTX luôn đứng mũi chịu sào, tổ chức cho thanh niên đi đầu thực hiện thành công nhiều biện pháp kỹ thuật đồng bộ, trước hết trên những thửa ruộng đối chứng, sau đó nhân rộng ra ruộng đại trà, góp phần đưa Vũ Thắng trở thành HTX đạt được mục tiêu 5 tấn thóc/ha/năm đầu tiên trên miền Bắc và giữ vững lá cờ đầu trong thâm canh năng suất cây lúa trong nhiều năm, 7 –8 tấn rồi 9,7 tấn…ha/năm.

Thực hiện nhiều biện pháp đồng bộ trong thâm canh tăng năng suất cây trồng đòi hỏi đồng ruộng phải có độ đồng đều nhất định, trước hết là mặt ruộng. Thanh niên HTX Thọ Bình (Hưng Yên) và thanh niên ở nhiều địa phương khác đã tổ chức nhiều chiến dịch “kê ” ruộng bằng phương pháp san gò cao, lấp thùng đấu, lấy bùn ao đổ lên mặt ruộng, có thửa đã được "kê" lên tới 10 cm, đảm bảo cho việc tưới tiêu và áp dụng các biện pháp khoa học khác được thuận lợi.

Phân bón cũng là một biện pháp được hội viên và thanh niên coi trọng trong quá trình phấn đấu thâm canh tăng năng suất cây trồng. Nhiều cơ sở Đoàn thường xuyên tổ chức các chiến dịch làm phân bón, vừa tận dụng các nguồn phân, đồng thời áp dụng nhiều biện pháp kỹ thuật tiên tiến trong việc ủ phân và chế biến phân, kể cả việc ủ phân tại ruộng. Coi bèo hoa dâu là nhà máy phân đạm tự nhiên, nhiều cơ sở Đoàn, Hội đã có những biện pháp đồng bộ trong việc nhân, ủ bèo, phấn đấu đạt từ 1 đến 2,5 diện tích bèo trên một đơn vị diện tích gieo cấy. Không chỉ ở vùng có kinh nghiệm nuôi thả bèo như ở Thái Bình, Nam Hà… mà ngay cả những tỉnh chưa có truyền thống sử dụng bèo hoa dâu trong thâm canh cây lúa như Nghệ An, đoàn viên và thanh niên cũng kiên trì nuôi thả được bèo hoa dâu trong mùa hè.

Bên cạnh thời tiết khắc nghiệt thì bom đạn Mỹ nhiều phen cũng gây khó khăn cho các ruộng bèo phát triển. Nhiều ruộng bèo được đoàn viên và thanh niên hợp tác xã Đông Phương Hồng và ở nhiều nơi khác phải kiên trì nhặt từng cánh bèo hoa dâu do bom Mỹ quật nát đem rửa sạch tiếp tục ươm thả, đảm bảo diện tích cấy lúa được phủ kín bèo. Nhiều nơi đoàn viên và thanh niên còn tận dụng những hố bom để ươm thả bèo hoa dâu trước khi đưa ra đại trà làm cho diện tích bèo hoa dâu tăng lên đáng kể, tạo ra một nguồn phân đạm tự nhiên đảm bảo tăng năng suất cây trồng.

Khai thác nguồn phân tự nhiên, thanh niên Ninh Bình còn có sáng kiến trồng điền thanh mô, một biện pháp tận dụng diện tích gieo trồng một loại cây phân xanh có hiệu quả cao, đảm bảo khi lúa được thu hoạch, cây điền thanh có thể vùi ngay xuống ruộng làm phân bón.

Nhân kỷ niệm lần thứ 35 ngày thành lập Đoàn (26/3/1931 – 26/3/1966) trong thanh niên nông thôn ngoại thành Hà Nội xuất hiện phong trào “3 sào, 5 việc”. 3 và 5 là tượng trưng cho ngày kỷ niệm Đoàn lần thứ 35 (3 sào là nhận chăm sóc 3 sào ruộng xa, 5 việc làm như làm cỏ, bón phân, tưới tiêu nước, phòng trừ sâu bệnh)… Chương trình phát thanh Thanh niên của Đài tiếng nói Việt Nam và các báo đều đưa tin kịp thời việc làm thiết thực này, cổ vũ thanh niên nông thôn các nơi khác cùng làm theo. Một phong trào nhận ruộng xa, ruộng xấu chăm sóc phát triển sâu rộng trong đoàn viên và thanh niên ở hầu khắp các địa phương và kéo dài trong nhiều năm. Trên các cánh đồng, tấm biển: “Nhận ruộng chăm sóc của thanh niên” được cắm phổ biến. Nhiều biện pháp kỹ thuật như bón phân, làm cỏ đều được thực hiện tăng hơn ruộng đại trà.

Từ những thửa ruộng do thanh niên nhận chăm sóc, đã tiến lên xây dựng những cánh đồng, những khu ruộng thanh niên.

Từ trước, ở Yên Vực, Thanh Hoá cũng như ở nhiều nơi khác, phụ nữ thường ít phải làm những công việc nặng nhọc như cày bừa trên đồng ruộng. Khi phần lớn nam thanh niên phải ra mặt trận, công việc đồng áng phụ nữ phải đảm đang. Không còn cách nào khác, chị em phải đứng ra tập đảm nhận trọng trách này. Phá bỏ cả một tập tục có từ lâu đời, chị em phải vượt qua không ít khó khăn, kể cả dư luận xã hội. ở nhiều cơ sở, chị em phải tổ chức học cày vào ban đêm. Nhờ đó nhiều phụ nữ thanh niên nông thôn đã trở thành lao động chủ lực trong các hợp tác xã sản xuất nông nghiệp với đường cày đảm đang.

Phong trào học tập, rèn luyện nâng cao trình độ nghề nông trở thành phổ biến trong thanh niên nông thôn. Các cơ sở Đoàn, Hội thường xuyên phối hợp với ngành nông nghiệp tổ chức cho thanh niên học tập nắm vững kỹ thuật thâm canh, trước hết đối với cây lúa và con lợn.

Với đội ngũ những người làm nghề nông ngày càng có kiến thức, những cánh đồng 5–10 tấn thắng Mỹ, hoặc những khu đồng, cánh đồng thanh niên đã thật sự mang lại hiệu quả nhiều mặt, trong đó có việc góp phần nâng độ đồng đều của đồng ruộng, trong từng vùng, từng tỉnh – một biện pháp quan trọng góp phần giành mục tiêu 5 tấn thóc/ha/năm, trong điều kiện vừa sản xuất vừa chiến đấu. Qua nhiều vụ thu hoạch, những cánh đồng 5–10 tấn thắng Mỹ, những khu đồng thanh niên, tuy phần lớn đều xây dựng từ những khu ruộng xấu, vẫn cho năng suất cao hơn hẳn ruộng đại trà từ 10–15% có nơi thu hoạch trội hơn tới 1–1,5 tấn thóc.

Cùng với Thái Bình, tỉnh đầu tiên đạt mục tiêu 5 tấn thóc/ha, các tỉnh, thành phố khác ngay trong những năm tháng khẩn trương kháng chiến chống Mỹ, cứu nước đều có những điển hình thâm canh đạt năng suất cao: Quỳnh Lưu, Đô Lương là những huyện của tỉnh Nghệ An nằm trong vùng đánh phá ác liệt của máy bay Mỹ, nhưng thanh niên nông thôn cùng bà con xã viên vẫn bám đồng ruộng thâm canh cây trồng. Thanh niên đã tổ chức những đội xung kích cày cấy và thu hoạch ở những khu vực địch thường xuyên đánh phá ác liệt. Nhiều lần vào thời điểm lúa chín, không quân Mỹ đã thả bom nổ chậm, bom từ trường vào ruộng lúa, thanh niên nông thôn Nghệ An đã vừa tổ chức lực lượng phá bom, vừa thành lập những đội cảm tử đến gặt lúa tại những nơi nguy hiểm, không bỏ phí một hạt thóc. Nhiều hợp tác xã ở Quỳnh Lưu, Đô Lương, Diễn Châu… đã đạt mục tiêu 5 tấn.

Thanh niên chi đoàn Yên Vực, Thanh Hóa sống giữa một "túi bom" phía bắc cầu Hàm Rồng phải đào hầm chữ A trên đồng để tránh bom đạn địch; khi cần thiết vẫn kiên trì áp dụng các biện pháp kỹ thuật canh tác tiên tiến để làm ra 5 tấn thóc trên một ha/năm. Thanh niên Vĩnh Linh trong điều kiện phải đối phó với các hoạt động đánh phá của máy bay Mỹ, nhiều cánh đồng bị bom Mỹ cày đi cày lại… không chỉ đảm bảo diện tích cày cấy mà còn áp dụng nhiều biện pháp kỹ thuật… làm ruộng thí nghiệm, chăm sóc ruộng cao sản đạt nhiều hiệu quả. Đinh Như Gia, đội trưởng sản xuất trẻ tuổi đã biết lợi dụng các kẽ hở trong qui luật đánh phá của máy bay Mỹ và tàu chiến Mỹ, tổ chức đoàn viên, thanh niên ra đồng đảm bảo năng suất lúa tăng liên tục và trở thành Anh hùng nông nghiệp đầu tiên của Vĩnh Linh ngay trong những năm đầu của cuộc kháng chiến chống Mỹ.

Sơn La là một tỉnh miền núi cao, nhưng từ những năm 1966 – 1967 phong trào xây dựng cánh đồng 5 tấn thắng Mỹ cũng đã được triển khai ở nhiều vùng nông thôn, góp phần cùng các biện pháp thâm canh khác để đến năm 1968 cũng đã có 10 hợp tác xã đạt mục tiêu 5 tấn thóc/ha. Đến năm 1972, Sơn La đã có 7 xã và 54 hợp tác xã đạt mục tiêu 5 tấn thóc và trên 5 tấn/1ha.

Cùng với thanh niên nông thôn “tay cày, tay súng”, thanh niên vùng biển sẵn sàng “tay lưới, tay súng”, bám biển ngày đêm vừa chiến đấu vừa sản xuất. Tiêu biểu là thanh niên Cảnh Dương (Quảng Bình), thanh niên Hải Thịnh (Hải Hậu, Nam Định), thanh niên vùng biển Vĩnh Linh… vừa làm nhiệm vụ sản xuất, vừa làm nhiệm vụ tiếp tế cho các chiến sỹ đang chiến đấu trên các đảo xa, trong đó có đảo Cồn Cỏ. Nhiều lần các tay lưới thanh niên đã phải chiến đấu liên tục với máy bay, tàu chiến Mỹ để bảo vệ tàu, thuyền và các công cụ sản xuất, bảo vệ tính mạng của ngư dân.

Trong thư gửi cán bộ, cô giáo, thầy giáo, công nhân, nhân viên, học sinh nhân dịp năm học mới, ngày 16/10/1968, Bác Hồ dạy: “Dù khó khăn đến đâu cũng phải tiếp tục thi đua dạy tốt và học tốt”.

Phong trào “Thi đua dạy tốt và học tốt” trở thành mục tiêu phấn đấu không ngừng của tuổi trẻ trong các trường học. Tổ chức Đoàn trong các trường đại học, trung học chuyên nghiệp, trường dạy nghề cũng như ở các trường phổ thông… đã đóng góp vai trò tích cực trong việc sơ tán trường lớp đến nơi an toàn, lên rừng núi, về nông thôn, xây dựng cơ sở mới để tiếp tục dạy và học. Thanh niên sinh viên trường Đại học Bách khoa và nhiều trường khác ở Hà Nội nêu khẩu hiệu: “Vác trường lên vai đi sơ tán”, dù trong hoàn cảnh nào cũng tiếp tục dạy tốt, học tốt, cũng tiếp tục nghiên cứu khoa học thiết thực phục vụ sản xuất.

ở Vĩnh Linh, Quảng Bình... các lớp học được mở ngay trong hầm địa đạo. Thầy và trò Nghi Hương (Nghi Lộc, Nghệ An) nêu quyết tâm “đội bom đi học”. Trong điều kiện bị địch đánh phá thường xuyên vẫn đảm bảo việc dạy và học. Phong trào có sức cổ vũ hàng triệu học sinh, thầy cô giáo bất chấp bom đạn ác liệt tới trường tới lớp, chỉ với một túi vải đựng sách vở, một chiếc mũ rơm đội đầu. Chiếc mũ bện bằng rơm dùng để đội đầu che chắn bom đạn, nhất là phòng tránh những viên bom bi rất có hiệu quả đã gắn bó, trở thành hình ảnh quen thuộc của học sinh thời chống Mỹ. Nhiều học sinh sau này trở thành những người nổi tiếng như Nghệ sỹ nhân dân Đặng Thái Sơn cũng đã từng đội mũ rơm đi học trong nhiều năm.

Nhiều trường lớp mặc dù đã sơ tán đến các vùng xa, các tiết học vẫn phải đứt quãng nhiều lần vì máy bay Mỹ đến quần đảo, đánh phá. Có lớp học đã trúng bom ngay giữa giờ lên lớp. Nhiều thầy cô giáo và học sinh chết và bị thương. Nhiều lớp học phải đào hầm từ trong lớp thông ra ngoài để kịp sơ tán học sinh, vẫn không tránh khỏi thương vong.

Trong điều kiện khó khăn ác liệt, vai trò của tổ chức Đoàn, Hội trong các trường học càng được củng cố và phát huy tác dụng, góp phần cải tiến chương trình, nội dung, phương pháp giảng dạy và học tập. ý thức tự chủ trong học tập của đoàn viên, thanh niên học sinh không ngừng được củng cố và nâng cao làm cho phong trào học tập và rèn luyện phấn đấu trở thành con người mới phát triển toàn diện của thanh niên ngày càng đi vào chiều sâu. Số học sinh đến trường hàng năm vẫn không ngừng tăng. Riêng tỉnh Hà Nam, số học sinh năm học 1965 – 1966 tăng 3,6% so với năm học 1964 – 1965. ở xã Nghĩa Phong (Nghĩa Hưng) trong một năm học, trường bị đánh phá tới 22 lần, học sinh vẫn tới trường, tới lớp đầy đủ, vẫn nêu cao tinh thần "dạy tốt và học tốt".

Chất lượng học tập không ngừng được nâng lên. Trường Bắc Lý (Lý Nhân – Hà Nam) giữ vững lá cờ đầu trong học tập và quản lý trường lớp. Các trường Lê Hồng Phong (Nam Định), Lam Sơn (Thanh Hoá), Phan Đình Phùng (Nghệ An)… cùng các trường học ở Hà Nội, Hải Phòng trở thành những điểm sáng về nâng cao chất lượng học tập và giảng dạy. Năm học 1968-1969, miền Bắc có 30 trường đại học, cao đẳng với 6 vạn sinh viên, 200 trường trung học chuyên nghiệp với trên 15 vạn học sinh. Như vậy, số trường đại học và trung học chuyên nghiệp đã tăng hơn 2 lần, số học sinh, sinh viên đã tăng hơn 3 lần so với trước chiến tranh chống Mỹ, cứu nước.

Từ ngày 25-7 đến 6-8-1965 đã diễn ra Đại hội Liên hoan thanh niên, sinh viên Quốc tế lần thứ IX tại Xôphia (thủ đô Bungari) với 20.000 đại biểu của 143 nước tham dự, khẩu  hiệu của Đại hội là: "Đoàn kết với Việt Nam". Đoàn của thanh niên, sinh viên Việt nam có 200 đại biểu do đồng chí Tạ Quang Thiến - Bí thư Trung ương Đoàn dẫn đầu. Đại hội đã dành hẳn ngày thứ 2 cho chủ đề Việt Nam với khẩu hiệu" "Ngày thanh niên thế giới đoàn kết với cuộc đấu tranh của nhân dân Việt Nam chống đế quốc Mỹ xâm lược". Tại buổi lễ bế mạc, chủ tịch Liên đoàn thanh niên dân chủ thế giới Rôđônphô Meki nói: "… Cùng với Việt Nam chúng ta có thể đánh bại chủ nghĩa đế quốc".

Trong khí thế sôi nổi thi đua lập thành tích chào mừng Đảng ta 40 tuổi và thực hiện Di chúc thiêng liêng của Bác Hồ kính yêu, Đại hội đại biểu Hội Liên hiệp Học sinh đại học lần thứ IV đã họp trong 2 ngày 6 và 7 tháng 1 năm 1970 tại Hà Nội. Đại hội đã vạch ra phương hướng, nhiệm vụ mới là "Thi đua học tốt, xây dựng động cơ, thái độ học tập đúng, xây dựng nề nếp học tập tốt, phát huy vai trò làm chủ của học sinh trong xây dựng nhà trường xã hội chủ nghĩa". Đại hội rất phấn khởi được Thủ tướng Phạm Văn Đồng đến thăm và nói chuyện với toàn thể các đại biểu.

Phong trào học tập bổ túc văn hoá, Trường Đoàn Văn hoá Kỹ thuật, Trường Thanh niên Dân tộc vừa học vừa làm… được giữ vững và phát triển. Xã Cẩm Bình trở thành những lá cờ đầu trong việc chuyển hướng mục tiêu giáo dục đào tạo. Chi đoàn Đồng Mỹ (Nam Hà) hầu hết đoàn viên, thanh niên đã tham gia bổ túc văn hoá. Chi đoàn 3 điều tra rừng có 280 thanh niên, cả 280 đã đi học và đi dạy bổ túc văn hóa, trong đó có 150 đồng chí học cấp III, 197 đồng chí là công nhân có trình độ trung cấp kỹ thuật, 32 cán bộ có trình độ kỹ sư.

Tỉnh Sơn La trong hoàn cảnh chiến tranh khẩn trương, gần 2 vạn đoàn viên, thanh niên các dân tộc vẫn thường xuyên theo học các lớp bổ túc văn hóa ngoài giờ. Các trường thanh niên lao động xã hội chủ nghĩa, trường bổ túc văn hóa tập trung… hàng năm thu hút hàng ngàn đoàn viên, thanh niên theo học.

Phong trào học tập bổ túc văn hóa đặc biệt nổi bật trong lực lượng TNXP chống Mỹ, cứu nước (tập trung). Với 3 nhiệm vụ được xác định trong đó có nhiệm vụ học tập.

Đứng trước những đòi hỏi của nhiệm vụ cách mạng trong giai đoạn mới, tổ chức Đoàn và Hội đã hết sức coi trọng giáo dục, rèn luyện thế hệ thanh niên mới phát triển toàn diện, kế tục trung thành và xuất sắc sự nghiệp cách mạng của Đảng và Bác Hồ. Nghị quyết Hội nghị Ban Chấp hành TW Đoàn lần thứ VIII (khóa III) khẳng định nhiệm vụ giáo dục của Đoàn là “Nhằm đào tạo thanh niên thành lớp người phát triển toàn diện, có đầy đủ khả năng kế tục sự nghiệp cách mạng, lớp người có khí phách và đạo đức cộng sản, trung thành vô hạn với Tổ quốc và lý tưởng cộng sản, căm thù sâu sắc bọn đế quốc và bọn bóc lột, đồng thời nắm vững kiến thức văn hoá, khoa học kỹ thuật tiên tiến và có sức khoẻ”.

Căn cứ vào nhiệm vụ chính trị của Đảng, từ tình hình đặc điểm của giai đoạn cách mạng hiện nay, Hội nghị Uỷ ban Trung ương Hội Liên hiệp Thanh niên Việt Nam (7/1969) chỉ rõ: "Tăng cường khối đoàn kết thanh niên, phát huy vai trò xung kích cách mạng, đi đầu trong công cuộc chống Mỹ cứu nước và xây dựng chủ nghĩa xã hội, trở thành lớp người kế tục một cách trung thành và xuất sắc sự nghiệp cách mạng vẻ vang của Đảng". Để thực hiện được nhiệm vụ này, công tác giáo dục thanh niên trong thời gian tới phải quán triệt sâu sắc tinh thần xây dựng con người một cách toàn diện nhằm đáp ứng yêu cầu to lớn của sự nghiệp chống Mỹ cứu nước và xây dựng chủ nghĩa xã hội hiện nay, chuẩn bị cho bước phát triển mới sau này. Nhiệm vụ chống Mỹ cứu nước còn đòi hỏi thanh niên ta những cố gắng to lớn, tiếp tục đẩy mạnh cao trào "Ba sẵn sàng" trong thanh niên. Nội dung phong trào "Ba sẵn sàng" cần quán triệt tinh thần phấn đấu tăng năng suất lao động, tăng cường học tập rèn luyện trong thanh niên.

Quán triệt tinh thần do Hội Liên hiệp Thanh niên đề ra, những điển hình cá nhân xuất hiện ngày một nhiều đã góp phần giáo dục tình cảm cách mạng và cổ vũ tuổi trẻ vươn tới những hành động cao đẹp.

“Cuộc đời đẹp nhất là ở trên trận tuyến chống quân thù” và “Nước còn giặc thì còn đi đánh giặc”, tấm gương Lê Mã Lương và nhiều đoàn viên, thanh niên khác thật sự đã làm dấy lên một phong trào tòng quân sôi nổi vào thời điểm cuộc chiến đấu giải phóng miền Nam đang đòi hỏi sự chi viện sức người, sức của rất lớn.

Tại trường Đại học Sư phạm Hà Nội I, Đặng Xuân Rương vừa tốt nghiệp khoa Nga một lúc nhận được 2 giấy gọi: Giấy gọi đi học nước ngoài và giấy gọi nhập ngũ. Không đắn đo, do dự, anh chọn con đường làm người chiến sỹ quân đội. Đặng Xuân Rương đã vào chiến trường và hy sinh anh dũng ở mặt trận Khe Sanh. Trường hợp Tô Thị Tính lại khác, chị được bố trí vào vùng địch ở miền Nam hoạt động. Bị địch bắt tra tấn dã man nhưng vẫn giữ vững khí tiết. Sau Hiệp nghị Pari chị được trở về nhận nhiệm vụ mới.

ở trường Đại học Bách khoa có sinh viên Bùi Ngọc Dương tình nguyện nhập ngũ, anh được đề bạt làm trung đội trưởng công binh. Dương đã sang chiến đấu bên cạnh các chiến sỹ Pathét Lào, sau đó đơn vị anh trở về tham gia chiến dịch Làng Vây (Quảng Trị). Dương đã kiên cường cùng đồng đội mở đường cho xe tăng tiến sâu vào trận địa và trong trận chiến đấu quyết liệt này, anh đã hiến dâng tuổi thanh xuân cho Tổ quốc và được truy tặng danh hiệu “Dũng sỹ mở đường” tại trận địa. Sau này anh được truy tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân. Bên cạnh Bùi Ngọc Dương còn có Vương Đình Cung, sinh viên trường Đại học Nông nghiệp hy sinh anh dũng tại chiến trường miền Nam, với dòng nhật ký thể hiện lòng yêu nước nồng nàn: “Mẹ Tổ quốc đang cần đến chúng con, chúng con sẵn sàng hiến dâng tuổi thanh xuân cho Mẹ”.

Cùng ra chiến trường với Dương còn có Vũ Xuân Thiều. Thiều xin nhập ngũ lúc tròn 20 tuổi, khi đang làm đồ án tốt nghiệp ngành vô tuyến điện. Anh được đi lái máy bay ở Liên Xô (cũ). Đêm 28/12/1972, đêm thứ 11 của chiến dịch Điện Biên Phủ trên không tại Hà Nội, Thiều đã lao thẳng máy bay của mình vào chiếc B52 của giặc đang gây tội ác. Chiến công vang dội của anh làm cho kẻ thù vô cùng khiếp sợ. Anh được truy tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân.

Được Đảng và Bác Hồ giáo dục và rèn luyện, các thế hệ thanh niên nước ta đã trưởng thành nhanh chóng và có những cống hiến xứng đáng. Bác Hồ và Đảng đã coi trọng những thành quả vĩ đại của cách mạng, có quan hệ trực tiếp đến sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay và mai sau, làm cho Người khi còn sống “rất tự hào, sung sướng và thấy mình như trẻ lại”. Vĩnh biệt chúng ta, Bác Hồ kính yêu đã để lại cho thanh niên, thiếu niên và nhi đồng nước ta “muôn vàn tình thương yêu”. Người đánh giá: “Đoàn viên và thanh niên ta nói chung là tốt, mọi việc đều hăng hái xung phong, không ngại khó khăn, có chí  tiến thủ”, và căn dặn: “Đảng cần phải chăm lo giáo dục đạo đức cách mạng cho họ, đào tạo họ thành những người thừa kế xây dựng chủ nghĩa xã hội vừa “hồng” vừa “chuyên”.

Người khẳng định: “Bồi dưỡng thế hệ trẻ cách mạng cho đời sau là một việc rất quan trọng và rất cần thiết”. (Di chúc).

Thực hiện Di chúc thiêng liêng của Bác, đáp ứng nguyện vọng của thế hệ trẻ và theo đề nghị của Đoàn TNLĐ Việt Nam, nhân dịp kỷ niệm lần thứ 40 ngày thành lập Đảng (3/2/1930 – 3/2/1970), Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã ra nghị quyết cho Đoàn Thanh niên và Đội thiếu niên, Đội Nhi đồng được mang tên Bác.

Từ ngày 30/6/1970, Tổ chức Đoàn Thanh niên nhân dân cách mạng và Tổ chức Đội Thiếu niên, Nhi đồng miền Nam cũng được chính thức mang tên Bác.

Hội nghị lần thứ 13, Ban Chấp hành TW Đoàn, với niềm xúc động sâu sắc đã thiết tha kêu gọi toàn thể cán bộ, đoàn viên và thanh niên: “Hãy ra sức thi đua sẵn sàng chiến đấu, đẩy mạnh sản xuất, công tác và học tập. Chúng ta quyết học tập và làm theo 5 điều Bác Hồ dạy, rèn luyện lập trường, tư tưởng, trau dồi đạo đức phẩm chất cách mạng, nâng cao trình độ về mọi mặt, phấn đấu trở thành lớp người thừa kế xây dựng chủ nghĩa xã hội vừa “hồng” vừa “chuyên” như Bác đã dạy.

“Sống, chiến đấu, lao động và học tập theo gương Bác Hồ vĩ đại” trở thành nguyện vọng tha thiết và quyết tâm phấn đấu của thế hệ trẻ nước ta. Đây là sự biểu hiện cụ thể lòng thương nhớ và biết ơn của thế hệ trẻ đối với Chủ tịch Hồ Chí Minh, quyết mãi mãi làm theo lời dạy của Người và đi theo con đường mà Người đã vạch ra.

“Sống, chiến đấu, lao động và học tập theo gương Bác Hồ vĩ đại” trở thành khẩu hiệu hành động cụ thể, thân thiết và gần gũi nhất đối với mỗi đoàn viên và thanh niên.

Nhận rõ vinh dự và trách nhiệm, tổ chức Đoàn và Hội đã tổ chức đợt sinh hoạt chính trị tập trung sâu rộng về Bác Hồ trong đoàn viên, hội viên và thanh niên cả nước.

Uỷ ban TW Hội Liên hiệp Thanh niên Việt Nam đã đề ra những hành động cụ thể trong năm 1970 là:

1- Động viên các tầng lớp thanh niên sôi nổi trên các mặt trận lao động sản xuất, chiến đấu và phục vụ chiến đấu, hành động và xây dựng cuộc sống mới, lập thành tích xuất sắc để thiết thực đón 4 ngày lễ lịch sử. Mọi suy nghĩ và hành động của thanh niên phải quán triệt tinh thần "Sống, chiến đấu, lao động và học tập theo gương Bác Hồ vĩ đại".

2- Để góp phần bồi dưỡng đào tạo con người phát triển toàn diện, Hội Liên hiệp Thanh niên các thành phố và Hội Liên hiệp Học sinh đại học cần vận động đông đảo thanh niên và học sinh hưởng ứng những quy định sau do Đoàn Thanh niên phát động: Hát 4 bài là: Tin tưởng Đảng (sáng tác tập thể của trường sĩ quan lục quân Việt Nam); Đảng cho ta cả một mùa xuân (Nhạc - Lời Phạm Tuyên); Ca ngợi Hồ Chủ tịch (Nhạc và lời của Đỗ Nhuận); Khi ta nghe tiếng Người (Nhạc và lời của Lê Lam); đọc 4 cuốn sách là: Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch (Trần Dân Tiên - Nxb Văn Hóa); 40 năm hoạt động của Đảng (Ban nghiên cứu lịch sử Đảng Trung ương - Nxb Sự Thật); Xem 4 cuốn phim: Những chặng đường lịch sử; Vài hình ảnh hoạt động của Hồ Chủ tịch; Bác Hồ sống mãi; Mười năm thắng lợi. Chương trình hành động do Hội Liên hiệp Thanh niên đề ra đã được toàn thể hội viên thanh niên hưởng ứng mạnh mẽ trong cả nước.

Thất bại hết sức nặng nề trên chiến trường miền Nam cũng như ở Lào và Campuchia, hòng cứu nguy cho nguỵ quân, nguỵ quyền từ tháng 4/1972 đế quốc Mỹ điên cuồng cho không quân đánh phá trở lại miền Bắc Việt Nam. Trường học, bệnh viện, nhà trẻ… lại bị bom Mỹ tàn phá. Với tư thế “Ba sẵn sàng”, thanh niên, công nhân một lần nữa lại sơ tán máy móc đến nơi an toàn, tiếp tục bám máy, bám lò, tiếp tục tay búa, tay súng hiên ngang vừa sản xuất vừa đánh trả máy bay Mỹ. Thanh niên công nhân Quảng Ninh, Hải Phòng, Bắc Thái (Bắc Kạn, Thái Nguyên), Hà Nội và khắp các xí nghiệp, công trường khác đã nêu tấm gương sáng ngời về tinh thần chiến đấu hi sinh vì chủ nghĩa xã hội, vì miền Nam ruột thịt. Thanh niên công nhân vùng mỏ hiểu rõ “ trong chiến đấu Tổ quốc cần than hơn bao giờ hết”, đã thường xuyên bám hầm lò, phấn đấu thực hiện đi lò nhanh. Tuổi trẻ Hải Phòng bình tĩnh, gan dạ vượt qua lưới lửa phong toả của địch giữ vững sản xuất trong mọi tình huống. Trên các cầu cảng, đoàn viên trong lực lượng tự vệ của cảng như Lâm Thị Chỉ, Nguyễn Văn Chiến, Đậu Ngọc Xuân… dũng cảm chiến đấu đánh trả máy bay địch, bảo vệ cảng, bảo vệ hàng.

Những ngày cuối tháng 12 năm 1972, đế quốc Mỹ điên cuồng cho máy bay B52 rải thảm xuống nhiều khu vực đông dân ở Thủ đô Hà Nội. Bệnh viện Bạch Mai bị trúng bom. Khu phố Khâm Thiên bị B52 rải thảm. Đồng ruộng Uy Mỗ (Đông Anh) bị bom cày xới… Thanh niên Hà Nội đã ngẩng cao đầu. Một nữ dân quân ngoại thành khi nghe tin gia đình có người bị bom Mỹ sát hại, đang trực chiến, đã không rời trận địa. Cô nói với đồng đội đầy cương nghị: “Không được để nước mắt làm nhoà mặt kẻ thù”.

Cả Hà Nội hiên ngang làm lên một Điện Biên Phủ trên không, trở thành Thủ đô của lương tâm và phẩm giá con người. Trong 12 ngày đêm, Hà Nội đã nêu một kỷ lục về diệt máy bay: Bắn rơi 81 chiếc, trong đó có 34 chiếc máy bay chiến lược B52 và 5 máy bay cánh cụp cánh xoè F111. Tự vệ nhà máy xay, với đơn vị thanh niên tự vệ trang bị súng 12,7 ly, cảnh giác cao đã hạ cánh cụp cánh xoè tại chỗ.

Cả Hà Nội vào trận, tầng thấp, tầng cao, lưới lửa chăng dày đón đánh địch từ mọi hướng, mọi tầm. Trên các trận địa tên lửa, trên các sân bay dã chiến, nhiều chiến sỹ trẻ lần đầu giáp trận với siêu pháo đài bay B52 đã phát huy cao độ chủ nghĩa anh hùng cách mạng, nổ súng kịp thời tiêu diệt địch. Trắc thủ tính toán Dương Nhật Thăng, vốn là sinh viên trường Đại học Ngoại giao nhập ngũ chưa bao lâu được chuyển về phân đội 9 bộ đội tên lửa đã đánh địch liên tục mấy trận liền, không để một lần sai sót. Sĩ quan điều khiển Nguyễn Đình Kiên, 3 đêm thức trắng, vẫn tỏ ra tỉnh táo khi bắt gặp mục tiêu 52. Anh đã cùng với trắc thủ cự ly Mè Văn Thi, trắc thủ phương vị Nguyễn Xuân Đài, trắc thủ góc tà Ngô Văn Lịch và các đoàn viên Lê Anh Chiến, Đỗ Xuân Thanh, Nguyễn Văn Vọng.v.v... hiệp đồng chặt chẽ, bắn rơi máy bay B52 khi chúng xâm phạm vùng trời Hà Nội. Phi công Phạm Tuân, người sau này trở thành phi công vũ trụ đầu tiên của Việt Nam trong chuyến bay hợp tác Xô - Việt, bằng máy bay chiến đấu Míc đã bắn hạ máy bay chiến lược B52 của Mỹ, đem lại vinh quang và niềm tự hào chính đáng cho những phi công trẻ tuổi Việt Nam.

Trong 12 ngày đêm, Hà Nội hiên ngang đối đầu với siêu pháo đài bay B52, tuổi trẻ Hà Nội không chỉ chiến thắng từ trên những tầm cao hoả lực. Từ mỗi góc phố, mỗi cơ quan, xí nghiệp, công trường… tuổi trẻ Hà Nội đã luôn tỏ rõ khí thế lẫm liệt của thế hệ thanh niên “ Ba sẵn sàng” từng được thử thách dày dạn.
Đoàn viên, thanh niên Nhà máy điện Yên Phụ một lần nữa lại tình nguyện làm người cảm tử bảo vệ dòng điện. Đội thanh niên cảm tử gồm 70 đoàn viên và thanh niên được thành lập với lời thề dưới cờ Tổ quốc và cờ Đảng: Xin dâng trọn tuổi Đoàn để bảo vệ dòng điện của Thủ đô!

Trong suốt 12 ngày đêm chiến đấu quyết liệt đánh trả liên tiếp mấy chục đợt tiến công của máy bay Mỹ, dòng điện từ Nhà máy điện Yên Phụ vẫn liên tục phát sáng. Mỹ dùng cả bom lade đánh vào nhà máy. Các chiến sỹ trong đội cảm tử bảo vệ dòng điện lấy máu mình viết lên khẩu hiệu để phấn đấu làm theo: “Tim có thể ngừng đập, nhưng dòng điện không thể nào tắt!”. Đặng Đức Thọ, Vũ Xuân Hoà, 2 đoàn viên trong đội cảm tử đang làm nhiệm vụ vận hành máy, máy bay Mỹ đến đánh phá, các anh vẫn không chịu rời vị trí. Cuối cùng cả hai anh đều hy sinh, nhưng dòng điện của Thủ đô vẫn sáng.

Chiến công vẻ vang của đoàn viên, thanh niên, quân dân Hà Nội hoà cùng chiến công chung của quân và dân cả nước đã buộc đế quốc Mỹ phải ký Hiệp định Pari, công nhận chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của nước Việt Nam thống nhất. Cuộc chiến đấu của quân và dân ta bước vào một thời kỳ mới đầy thử thách cam go và giành thắng lợi quyết định.

Trên miền Bắc xã hội chủ nghĩa, phong trào lao động sản xuất, nhằm hàn gắn vết thương chiến tranh, chi viện cho tiền tuyến lớn được đẩy mạnh. Đoàn viên và thanh niên ở hầu khắp các cơ sở đều sôi nổi thi đua hoàn thành vượt mức kế hoạch. Thành Đoàn Hà Nội phát động rộng rãi phong trào “Lao động tình nguyện”. Tổng đội “Thanh niên tình nguyện xây dựng Thủ đô” được thành lập đảm nhận nhiều công trình, phần việc khó khăn và nhằm khôi phục lại những công trình bị địch đánh phá hư hỏng. Thanh niên trong các cơ sở sản xuất thực hiện ngày giờ công cao, đăng ký phấn đấu tăng năng suất, hoàn thành vượt mức kế hoạch, xây dựng phong cách lao động mới. Nhiều công trình thanh niên, lò, máy, xe thanh niên, tổ sản xuất thanh niên, quầy hàng thanh niên… được triển khai, thu hút đông đảo đoàn viên, thanh niên khác ở Nhà máy Cơ khí Hà Nội (nay là Nhà máy Công cụ số 1), thường xuyên phát huy sáng kiến, cải tiến kỹ thuật, hợp lý hoá sản xuất đã hoàn thành kế hoạch năm trước thời gian 120 ngày. Thi đua với Cung Đình Phú, năm 1974 riêng ở Hà Nội đã có hơn sáu ngàn đoàn viên và thanh niên hoàn thành kế hoạch được giao trước thời hạn từ 15 ngày đến 6 tháng.

Đánh giá cao những cống hiến xuất sắc của tuổi trẻ, tháng 6 năm 1973, Ban Chấp hành Trung ương Đoàn đã tổ chức Đại hội tổng kết phong trào “Ba sẵn sàng” toàn miền Bắc. Đại hội đã quy tụ hàng trăm bông hoa tiêu biểu cho hàng vạn tập thể và cá nhân từng lập nên những sự tích kỳ diệu trong sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước của toàn dân, như Nguyễn Tri Ân, Hồ Thị Thu Hiền, Ngô Thị Sửu… Trong báo cáo tổng kết phong trào, đồng chí Vũ Quang, Bí thư thứ nhất Ban Chấp hành TW Đoàn đã rút ra những bài học sinh động về nghệ thuật phát động, chỉ đạo phong trào, vai trò của tổ chức Đoàn đối với một phong trào quần chúng rộng lớn diễn ra trong một thời gian dài, trên nhiều lĩnh vực của cuộc sống chiến đấu, sản xuất, học tập và rèn luyện.

Đại hội vinh dự được đón Chủ tịch Tôn Đức Thắng đến dự. Bác Tôn nói: “Trong những năm chống Mỹ, cứu nước, phong trào “Ba sẵn sàng” của thanh niên miền Bắc, cùng với phong trào “Năm xung phong” của thanh niên miền Nam đã góp phần to lớn vào thắng lợi vĩ đại của dân tộc ta… Nhiều tấm gương anh dũng tuyệt vời của thanh niên ta cho độc lập, tự do và chủ nghĩa xã hội, mãi mãi sáng ngời để cho mọi người tin theo”.
Nói chuyện với Đại hội, đồng chí Trường Chinh, Uỷ viên Bộ Chính trị, thay mặt Ban Chấp hành Trung ương Đảng, đã khẳng định: “Một trong những thành quả to lớn của cao trào chống Mỹ, cứu nước là đào tạo thanh niên “Ba sẵn sàng” thành lớp người kế tục trung thành và xuất sắc sự nghiệp vĩ đại của Đảng ta và của Hồ Chủ tịch, góp phần thực hiện lời căn dặn thiết tha của Người: “Bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau là một việc rất quan trọng và rất cần thiết”. Đồng chí đánh giá: “Phong trào “Ba sẵn sàng” thật sự là một phong trào cách mạng rộng lớn của quần chúng thanh niên, là chiến trường lập công của tuổi trẻ, là trường học bồi dưỡng một thế hệ thanh niên anh hùng của dân tộc Việt Nam anh hùng”.

Đồng chí Trường Chinh, thay mặt Ban Chấp hành Trung ương Đảng trao tặng thanh niên lá cờ mang dòng chữ: “Thanh niên hăng hái tiến lên hàng đầu trong chiến đấu, lao động, học tập và xây dựng cuộc sống mới”.

Ban Chấp hành Trung ương Đoàn coi đó là khẩu hiệu hành động của tuổi trẻ trong giai đoạn cách mạng mới.

Từ ngày 25-7 đến ngày 5-8-1973 đã diễn ra Đại hội liên hoan thanh niên, sinh viên quốc tế lần thứ X tại Berlin (thủ đô CHDC Đức cũ), 25.000 đại biểu đại diện cho tổ chức thanh niên của 130 nước. Khẩu hiệu hành động của Đại hội là "Đoàn kết với Việt Nam bây giờ hơn lúc nào hết". Đoàn đại biểu của thanh niên, sinh viên Việt Nam có 200 người, do Tạ Thị Kiều - Anh hùng lực lượng vũ trang giải phóng miền Nam Việt Nam dẫn đầu. Đại hội dành ngày thứ hai là ngày "Đoàn kết với Việt Nam, Lào, Campuchia". Đoàn đại biểu của thanh niên, sinh viên Việt Nam đã làm hết sức mình để thanh niên thế giới hiểu cuộc đấu tranh của thanh niên và nhân dân ta.

Tháng 2/1974, để kịp thời chỉ đạo phong trào hành động cách mạng của thanh niên, trong khi chưa có điều kiện tổ chức Đại hội, Ban Chấp hành Trung ương Đoàn quyết định triệu tập Hội nghị đại biểu Đoàn TNLĐ Hồ Chí Minh. Hội nghị đại biểu của Đoàn đã khẳng định nhiệm vụ trong giai đoạn mới: “Giáo dục, động viên, tổ chức và phát huy vai trò xung kích của thanh niên trong phong trào lao động sản xuất, cần kiệm xây dựng chủ nghĩa xã hội, trong củng cố quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc, trong học tập và xây dựng cuộc sống mới, con người mới xã hội chủ nghĩa”.


CHƯƠNG X-PHONG TRÀO “NĂM XUNG PHONG” NÊU CAO QUYẾT TÂM “ĐÁNH CHO MỸ CÚT, ĐÁNH CHO NGỤY NHÀO”

Thất bại nặng nề trong việc thực hiện chính sách thực dân mới, nhất là trong chiến lược “Chiến tranh đặc biệt”, đế quốc Mỹ điên cuồng mở rộng chiến tranh với quy mô chưa từng có, ồ ạt đưa quân viễn chinh vào miền Nam nước ta tiến hành “Chiến tranh cục bộ” đồng thời leo thang đánh phá miền Bắc bằng không quân và hải quân.

Phấn khởi, tin tưởng trước những thành tựu và thắng lợi về mọi mặt của quân dân và tuổi trẻ trên hậu phương lớn miền Bắc, sôi sục khí thế đánh Mỹ diệt nguỵ trên khắp các chiến trường miền Nam, tháng 3/1965, Đại hội lần thứ I Đoàn Thanh niên Nhân dân Cách mạng Việt Nam và sau đó Đại hội lần thứ II của Hội Liên hiệp Thanh niên giải phóng miền Nam Việt Nam đã họp trọng thể với sự có mặt của hơn 200 đại biểu các tầng lớp nam nữ thanh niên, bộ đội, công nhân, nông dân, sinh viên, học sinh, thanh niên các dân tộc ít người, các tôn giáo v.v… Đại hội đã đánh dấu sự trưởng thành mau chóng của Hội.

Tại Đại hội, Đoàn chủ tịch UBTW Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam đã trao tặng "Huân chương thành đồng hạng nhất" và lá cờ danh dự thêu 4 chữ "Đoàn kết, xung phong, anh dũng, quyết thắng" để đánh giá thành tích và sự cống hiến vô cùng to lớn của phong trào thanh niên miền Nam trong cuộc đấu tranh chung của dân tộc.

Hoà nhịp với "Ba sẵn sàng" của thanh niên miền Bắc, phong trào "Năm xung phong" của thanh niên miền Nam tạo nên một sức mạnh vĩ đại động viên 3 triệu thanh niên miền Nam chiến thắng mọi khó khăn gian khổ, đánh bại mọi âm mưu xâm lược của Mỹ và tay sai, để thực hiện giải phóng miền Nam thống nhất Tổ quốc.

Từ trận Vạn Tường mở đầu, tuổi trẻ cùng đồng bào và chiến sĩ miền Nam đã khẳng định là có thể đánh và nhất định đánh thắng Mỹ. Vừa chiến đấu, vừa tìm hiểu những chỗ yếu của quân đội Mỹ, thanh niên miền Nam Việt Nam đã cùng quân và dân khắp các địa phương sáng tạo nhiều cách đánh phong phú, táo bạo. Quân Mỹ đi đến đâu, gieo tai hoạ ở chỗ nào là ở đó chúng phải trả nợ máu. Chúng bị vây, bị chặn đánh ở mọi nơi, mọi lúc. Những mũi chông sắc nhọn, những phát súng bắn tỉa bất thần của các chiến sĩ trẻ tuổi đã diệt hàng ngàn tên xâm lược. Củ Chi trở thành đất thép, với những địa đạo ngang dọc, vây hãm quân thù vào trong trận đồ bát quái, chúng đã vào là khó có đường ra. Những bài học sinh động của Củ Chi mở ra hướng đi có hiệu quả trong chiến đấu. Chiến khu Đ lần đầu tiên Mỹ đưa lực lượng lớn, kể cả bọn chư hầu đến càn quét đã bị du kích, phần lớn là đoàn viên, hội viên, thanh niên đánh tiêu diệt. Du kích Thái Hoà (Phước Thành) chỉ một tiểu đội đã đương đầu với cả hai tiểu đoàn Mỹ có máy bay, pháo binh và cơ giới yểm trợ, suốt một ngày trời, vừa sửa công sự vừa đánh địch, cuối cùng buộc chúng phải rút lui. Vành đai Rạch Kiến (Long An) vừa kết hợp đấu tranh vũ trang với đấu tranh chính trị, chỉ trong 6 tháng đã diệt hơn 200 tên Mỹ.

ở Mỹ Tho, ngay từ ngày đầu Mỹ tiến hành xây dựng căn cứ Đồng Tâm làm bàn đạp khống chế cả vùng đồng bằng sông Cửu Long rộng lớn, tuổi trẻ đã cùng quân và dân trong tỉnh hình thành thế bao vây tiến công địch bằng “2 chân và 3 mũi giáp công". Cả những thanh niên tuổi mới lớn cũng tham gia đánh Mỹ bằng nhiều cách có hiệu qủa. Hồ Văn Nhánh, 16 tuổi, nhà ở gần căn cứ Đồng Tâm. Hàng ngày đi coi trâu gần căn cứ, Nhánh chú ý quan sát và phát hiện trên hàng rào địch gài nhiều mìn và lựu đạn. Anh nẩy ra ý định gỡ trái về cho du kích, nhưng không biết làm cách nào để gỡ, phải đào nguyên cả bệ đất đựng vào mo cau mang về. Dần dần được hướng dẫn, Nhánh đã tự gỡ và còn hướng dẫn lại cho em Dũng ở gần nhà cùng gỡ. Kết quả đã gỡ được hàng ngàn quả mìn, lựu đạn các loại, phục vụ cho du kích và bộ đội đánh diệt trên 300 tên Mỹ và nhiều tên nguỵ. Nhánh đã cùng với Dũng vào căn cứ gỡ trái tới 131 lần. Lần cuối cùng không may, mìn nổ, cả hai đã hi sinh. Về sau Hồ Văn Nhánh được tuyên dương Anh hùng Lực lượng vũ trang giải phóng.

Phong trào thi đua giành danh hiệu “Dũng sĩ diệt Mỹ”, “Dũng sĩ quyết thắng”, “Dũng sĩ diệt xe cơ giới, hạ máy bay” đã thu hút đông đảo đoàn viên, hội viên, thanh niên ở các địa bàn khác nhau tham gia, thực hiện lời dạy của Bác Hồ “31 triệu đồng bào là 31 triệu dũng sĩ”. Phan Hành Sơn, 21 tuổi đời diệt một số địch gấp 21 lần số tuổi của mình. Hồ Văn Mên, 13 tuổi đã mưu trí đánh địch giữa thị xã, diệt một lúc 59 tên, phần lớn là sĩ quan. Nguyễn Văn Lên, chiến sĩ đặc công quận Tân Uyên, 2 ngày liền chống chọi với một trung đoàn địch, diệt cả trăm tên Mỹ. Bùi Văn Hoà, chiến sĩ đánh hậu cứ ngoan cường đã dẫn đồng đội vượt mọi lưới bố phòng như mạng nhện của địch tấn công vào kho Long Bình lần thứ 4, phá huỷ 889 ngàn đạn pháo, 23 xe cơ giới, 3 máy đèn, diệt 107 tên Mỹ, làm bị thương 243 tên khác.

Đáng chú ý là sự ra đời những tập thể thanh niên chiến đấu: “Đội thanh niên quyết tử”; “Đội thanh niên quyết thắng”; “Đội thanh niên khởi nghĩa”… Thanh niên vùng ven thành phố Đà Nẵng đã mở đầu sáng kiến này. Lúc đầu là một nhóm nhỏ thanh niên, có một số em thiếu nhi phối hợp, dưới sự lãnh đạo của chi bộ Đảng, đã tổ chức đánh thử để rút kinh nghiệm. Ngày 10/3/1965, khi đợt đầu tiên của đội quân viễn chinh Mỹ đổ vào Đà Nẵng, một tên Mỹ đã ngã gục trước mũi súng bắn tỉa của “Đội thanh niên quyết tử” do Tỉnh Đoàn Quảng Đà (ngày nay là thành phố Đà Nẵng) tổ chức. Sau đó, khu Đoàn liên khu V quyết định phát triển các đội “Thanh niên quyết tử” ở tất cả 9 tỉnh, từ vùng núi Tây Nguyên đến các thành phố Đà Nẵng, Quy Nhơn, Nha Trang. Đội “Thanh niên quyết tử” mang tên Anh hùng Võ Như Hưng do Huyện Đoàn Điện Bàn tổ chức, nhanh chóng nổi lên với nhiều cách đánh mưu trí, táo bạo. Đội ra mắt tại Gò Nổi, phía Nam sông Thu Bồn, với lực lượng ban đầu là 31 tay súng. Trong một trận đánh không cân sức, đội đã chiến đấu kiên cường, đánh lui một lực lượng liên hợp gồm 3 tiểu đoàn quân Mỹ và nguỵ, diệt 125 tên, bắn cháy 5 xe tăng và xe bọc thép, rồi thừa thắng, truy kích địch vào tận thị xã Vĩnh Diện. Tại đây, một lực lượng nhỏ của đội trụ lại, thoắt ẩn, thoắt hiện bám đánh địch liên tiếp trong nhiều ngày. Đội “Thiếu niên quyết tử Nguyễn Văn Trỗi” ở Điện Hoà chỉ có 6 em cũng đã lập công xuất sắc: Trong 3 tháng diệt 135 tên Mỹ và thu được 15 súng. Tại thành phố Sài Gòn và các thành phố, thị xã khác đã xuất hiện những “đội quân ngầm” hoạt động táo bạo, diệt hàng trăm tên giặc xâm lược, trong đó có nhiều tên giặc lái nhà nghề và nhiều sĩ quan cao cấp Mỹ.

Tổ chức Đoàn, Hội ở nhiều nơi còn góp phần tổ chức những đơn vị chiến đấu gồm toàn nữ thanh niên, 6 nữ thanh niên du kích ở Quế Sơn (Quảng Nam) 7 ngày đêm liền chống trả một trung đoàn địch đến càn quét, diệt 59 tên Mỹ – Nguỵ, hạ một máy bay. Chị em vừa cầm súng chiến đấu quyết liệt, khi lực lượng địch mạnh, tràn được vào trong thôn xóm, chị em lại giấu súng, trở thành những cô gái dịu dàng trò chuyện thuyết phục từng tên địch. Địch rút ra ngoài, chị em lại cầm súng, đón đánh đợt tấn công tiếp của chúng. Trong nhiều huyện của miền Tây và miền Đông Nam Bộ còn xuất hiện những đơn vị nữ pháo binh chiến đấu ngoan cường. Các đội nữ pháo binh ở Rạch Giá, Long An, nhất là đội nữ pháo binh quận Lái Thiêu (Thủ Dầu Một) chỉ sau 10 ngày huấn luyện đã sử dụng thành thạo các trang bị kỹ thuật, bắn chính xác, diệt 37 tên địch, trong đó có một đại uý nguỵ.

Trong gian khổ ác liệt, phong trào “Xung phong tiêu diệt thật nhiều sinh lực địch” của thanh niên trong tất cả các thứ quân trên chiến trường miền Nam ngày càng phát triển, nẩy nở nhiều tấm gương tiêu biểu. Dương Văn Tân, kiện tướng diệt Mỹ trẻ tuổi của Tây Ninh, cùng tổ chiến đấu của mình trong 16 ngày đêm đánh tan xác và đánh hỏng 16 xe tăng, xe bọc thép, diệt 87 tên Mỹ. Từ Văn Phước, 26 tuổi, Dũng sĩ diệt Mỹ Thủ Dầu Một, trong 13 tháng chiến đấu ở vùng sát địch quận Lái Thiêu diệt 71 tên Mỹ, 17 lính Nam Triều Tiên, 45 lính nguỵ… Qua hiệp đầu đánh bại cuộc phản công mùa khô lần thứ nhất của địch (1965-1966) riêng Quảng Trị, Thừa Thiên đã xuất hiện 2.700 dũng sĩ, trong đó có gần 500 dũng sĩ diệt Mỹ. Cũng thời gian ấy, ở miền Trung Trung Bộ có 405 dũng sĩ diệt Mỹ, 107 đơn vị anh dũng diệt Mỹ. Những lá cờ đầu diệt Mỹ như “Củ Chi đất thép thành đồng”, “Quảng Nam trung dũng kiên cường đi đầu diệt Mỹ”, “Long An toàn dân đánh giặc”… có sức cổ vũ tuổi trẻ trên các chiến trường vươn lên lập công với những tên tuổi như Đoàn Văn Luyện, Ngô Bê, Nguyễn Văn Hoà, Trần Thị Tâm… Là những thanh niên kiên cường như Võ Thị Thắng, không may bị sa vào tay giặc vẫn một lòng tin tưởng ở tương lai của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước và trước bản án 20 năm khổ sai của kẻ thù chị vẫn nở nụ cười chiến thắng! Là Kpă Klơng “Tuổi nhỏ chí lớn”, 13 tuổi đã tham gia du kích. Khi nhập ngũ, anh làm trinh sát cho bộ đội huyện Chưpông. Kpă Klơng có biệt tài bắn xuyên táo, luôn chọn điểm cao thích hợp, bình tĩnh chờ địch đến gần, mới nổ súng. Có lần anh bắn 3 viên đạn diệt 5 tên địch. Lần đi trinh sát ở Plêime anh đã bám lợi thế bắn 2 viên đạn diệt 4 tên biệt kích. Trong mọi tình huống, Kpă Klơng đều tìm mọi cách diệt địch đạt hiệu suất cao nhất. Có lần với 3 viên đạn còn lại, anh bám sát địch từ sáng đến chiều, đứng nấp cách địch 5 mét, chờ địch tập hợp hàng dọc mới bắn xuyên táo, diệt nhiều tên, làm bị thương 1 tên khác. Một lần khác đang làm nhiệm vụ canh gác trên rẫy, phát hiện địch kéo đến, anh bình tĩnh tìm vị trí thuận lợi, bắn 2 phát diệt ngay 4 tên. Những tên còn lại phải hốt hoảng tháo chạy. Đối với lính Mỹ, anh cũng có cách đánh thích hợp. Biết lính Mỹ khi tác chiến thường chiếm điểm cao, Kpă Klơng bố trí mìn trên đường rồi lên chiếm điểm cao trước, nằm phục kích. Lính Mỹ từ căn cứ Pleime hành quân lấn chiếm vấp phải mìn, đứa chết, đứa bị thương. Số còn lại vội chạy lên chiếm đỉnh cao, liền bị Kpă Klơng đang ém sẵn tại đó, ném lựu đạn vào đội hình diệt tiếp 4 tên, khiến chúng hoảng sợ tháo chạy.

Kpă Klơng là một chiến sĩ trẻ luôn xông xáo, gương mẫu. Trong nhiều năm anh đều được bầu là chiến sĩ thi đua của huyện, của tỉnh. Ngày 17/9/1967, anh được tuyên dương Anh hùng Lực lượng vũ trang với sáu chữ vàng “Tuổi thiếu niên, chí anh hùng”.
Ngày 20/4/1966, nhân kỷ niệm 5 năm ngày thành lập Hội Liên hiệp Thanh niên giải phóng miền Nam Việt Nam, Giáo sư Phạm Huy Thông, Chủ tịch Hội LHTN Việt Nam đã đọc bài diễn văn quan trọng tại cuộc mít tinh do Hội LHTN tổ chức tại Hà Nội. Giáo sư đã nhiệt liệt ca ngợi những thành tích xuất sắc của Hội LHTN giải phóng miền Nam Việt Nam trong cuộc đấu tranh chống Mỹ-nguỵ, nhất là trong quá trình đẩy mạnh phong trào "5 xung phong". Thay mặt Hội LHTN Việt Nam, Giáo sư Phạm Huy Thông đã tuyên bố nhiệt liệt hưởng ứng lời đề nghị của Hội LHTN giải phóng miền Nam Việt Nam về việc thanh niên hai miền Nam - Bắc cùng nhau bắt tay thi đua thực hiện có kết quả 2 phong trào "Năm xung phong" và "Ba sẵn sàng" để thực hiện mục tiêu đánh cho Mỹ cút, đánh cho Nguỵ nhào, giải phóng hoàn toàn miền Nam, đem lại độc lập, tự do thống nhất cho Tổ quốc.

Diễn văn của Giáo sư Phạm Huy Thông đã được các cơ quan truyền thông đại chúng tuyên truyền rộng rãi góp phần cổ vũ tuổi trẻ miền Nam trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước từ thành thị đến nông thôn.

Tháng 6/1966, Ban Thường vụ Trung ương Đoàn Thanh niên Nhân dân cách mạng và TW Hội LHTN giải phóng chủ trương đẩy mạnh phong trào "Năm xung phong" lên một bước mới với khí thế “Phất cao cờ Năm xung phong, thanh niên thành đồng thừa thắng xông lên đánh bại hoàn toàn Mỹ – nguỵ”. Một trong những nhiệm vụ hết sức quan trọng của tuổi trẻ miền Nam là cầm súng giết giặc tham gia du kích địa phương và tòng quân. Nhiệm vụ ấy xác định cụ thể là phải xung phong tiêu hao, tiêu diệt nhiều hơn nữa sinh lực địch bao gồm quân Mỹ - nguỵ, chư hầu và mọi phương tiện chiến tranh của chúng. Đó là nhiệm vụ vinh quang trước nhất của thanh niên trong các lực lượng vũ trang, đồng thời đó cũng là nhiệm vụ của người thanh niên bất cứ ở đâu. Khi trên đất nước thân yêu còn một căn cứ địch, còn một bóng giặc xâm lăng thì thanh niên ta còn phải phát huy sáng kiến tiêu hao, tiêu diệt chúng, từ những hình thức đơn sơ, thông thường nhất cho đến những hình thức cao là trực tiếp cầm vũ khí.

Kế hoạch “tìm diệt” và “bình định” của Mỹ – nguỵ mùa khô 1966–1967 thực sự đã bị bẻ gãy trước sức mạnh kiên cường của quân và dân ta, trong đó tuổi trẻ đã đóng góp một phần công sức đáng kể, cùng các lực lượng vũ trang trên toàn miền Nam loại khỏi vòng chiến đấu 151.000 tên địch (có 68.200 tên Mỹ, 5.540 tên chư hầu); tiêu diệt 22 tiểu đoàn bộ binh (có 9 tiểu đoàn Mỹ và 1 tiểu đoàn lính Nam Triều Tiên); 4 tiểu đoàn pháo Mỹ; 12 tiểu đoàn cơ giới (có 10 tiểu đoàn Mỹ); 187 đại đội (có 59 đại đội lính Mỹ và 7 đại đội lính Nam Triều Tiên); phá huỷ 1627 xe tăng, xe thiết giáp, 2107 ô tô, 308 khẩu pháo, bắn rơi và phá huỷ 1213 máy bay, bắn chìm bắn cháy 42 tàu, xuồng.

Phối hợp với phong trào "Xung phong tiêu diệt nhiều sinh lực địch", mũi đấu tranh chính trị cũng được đẩy mạnh. Sau thất bại của Mỹ trong mùa khô 1965 - 1966, lợi dụng mâu thuẫn trong nội bộ ngụy quân, ngụy quyền, nhân dân, học sinh, sinh viên Huế đã xuống đường chống chính sách lệ thuộc Mỹ của Thiệu - Kỳ. Sinh viên, học sinh đã chiếm Đài phát thanh Huế (ngày 23/3/1966), hàng ngày phát đi khắp thế giới tin tức đấu tranh bằng 3 thứ tiếng Việt, Anh, Pháp. Cuộc đấu tranh thu hút cả lực lượng địch cùng tham gia, 1600 cảnh sát ngụy tham dự mít tinh đã tuyên bố đứng vào hàng ngũ cách mạng.

ở Đà Nẵng, hàng vạn nhân dân, hội viên, thanh niên lao động và học sinh, sinh viên đã xuống đường hô vang khẩu hiệu chống độc tài, đòi Thiệu - Kỳ từ chức, đòi Mỹ không được can thiệp vào công việc nội bộ của Việt Nam, đòi chúng cút về nước. Ngụy quyền ở thành phố tê liệt, quần chúng đứng lên tự quản, làm chủ Đài phát thanh Đà Nẵng, thành lập tổ học sinh cảm tử, biệt động và đội công nhân vũ trang trấn áp bọn ác ôn phản cách mạng. Cả thành phố bãi công, bãi thị. Học sinh phá Phòng Thông tin Mỹ. Trước khí thế của quần chúng, Mỹ buộc phải rút hết 30.000 lính và cố vấn quân sự Mỹ ra Hạm đội 7. Thiệu - Kỳ đưa quân từ Sài Gòn ra, nhưng trước khí thế của quần chúng, hơn nữa chưa có lệnh của quan thầy Mỹ, lại rút về. Ngày 6/4, từ Huế, 2 tiểu đoàn "thanh niên quyết tử miền Trung" vượt qua hàng rào phong toả của địch đến chi viện cho thanh niên và nhân dân Đà Nẵng.

Sau 76 ngày đêm nhân dân và tuổi trẻ giành quyền làm chủ, ngày 15/5, Mỹ dàn xếp ổn thoả với Thiệu - Kỳ, chúng cho 6 tiểu đoàn có máy bay và xe bọc thép yểm trợ đã đánh chiếm lại các vị trí ở Đà Nẵng. Tháng 6/1966, Thiệu - Kỳ chuyển quân ra đàn áp ở Huế, nhân dân và tuổi trẻ thành phố đưa bàn thờ Phật ra đường và tổ chức phong trào đấu tranh quyết liệt chống lại chúng. Tại Sài Gòn, trong phong trào "chống nội chiến miền Trung", bàn thờ Phật được dựng ở phòng tuyến ngã Bảy, Bàn Cờ, và Sư Vạn Hạnh. ở Đà Lạt, ngày 28/3/1966, học sinh các trường Bùi Thị Xuân, Trần Hưng Đạo, Bồ Đề... và sinh viên trường Đại học Đà Lạt bãi khoá, kéo đến phòng thông tin Mỹ đưa ra yêu sách, đòi Mỹ rút khỏi Đà Lạt. Cuộc đấu tranh nhanh chóng trở thành phong trào chống Mỹ, chiếm đài phát thanh, chiếm giữ khu chợ Hoà Bình. Địch  huy động quân biệt động, cảnh sát dã chiến đàn áp. Ngày 21/4, học sinh xuống đường tuần hành đưa tang, biến đám tang thành cuộc đấu tranh chống Mỹ và ngụy quyền tay sai. Thanh niên học sinh tổ chức những "đêm không ngủ", "đốt lửa trại nhìn rõ mặt kẻ thù", tổ chức toà án xử tội phạm chiến tranh Giônxơn, Mắc Namara, Taylo.

"Năm xung phong" từng bước đi vào cuộc sống chiến đấu của tuổi trẻ miền Nam bằng nhiều hình thức phong phú, linh hoạt, có những nơi cuộc đấu tranh giữa ta và địch diễn ra quyết liệt, phong trào tòng quân và tham gia du kích của thanh niên càng phát triển. Có những xã ở Kiến Phong, tỉnh Long An trong khi địch đang tiến hành bình định, lấn chiếm, dồn bắt thanh niên đi lính, vào phòng vệ dân sự vẫn có hàng trăm thanh niên đi tòng quân và tham gia du kích. Hai tỉnh Trà Vinh và Sóc Trăng trong điều kiện địch đánh phá ác liệt vẫn thường xuyên cấp đủ tân binh bổ sung theo yêu cầu phát triển lực lượng địa phương và cung cấp nhiều tân binh cho lực lượng chủ lực toàn miền. Hai tỉnh Bến Tre và Mỹ Tho hàng tháng có từ 100 - 200 thanh niên tòng quân, góp phần xây dựng nên những đơn vị chủ lực lớn của quân đội cách mạng, đáp ứng đòi hỏi của chiến trường. Riêng Mỹ Tho (ngày nay là tỉnh Tiền Giang) trong hai năm 1967-1968 đã có 13.800 đoàn viên và hội viên, thanh niên lên đường nhập ngũ. ở các xã Cẩm Sơn, Mỹ Thiện... có đến 80% số thanh niên đến tuổi đã lên đường đi chiến đấu.

Từ năm 1965 đến năm 1968, tuổi trẻ liên khu 5 đã có 2 khoá tòng quân tập trung. Khoá Nguyễn Văn Trỗi kéo dài trong 2 năm 1965 - 1966, có trên 28.000 cán bộ, đoàn viên, hội viên và thanh niên nhập ngũ, góp phần lập nên hai sư đoàn quân chủ lực, sư đoàn 3 (thành lập tháng 9/1965) và sư đoàn 2 (thành lập tháng 11/1965): Chuẩn bị cho cuộc tấn công và nổi dậy xuân Mậu Thân 1968, tổ chức Đoàn, Hội các tỉnh thuộc liên khu 5 lại phát động cao trào tòng quân "xông lên giành chính quyền, thanh niên quyết thắng", với 25.000 đoàn viên và thanh niên nhập ngũ.

Có nhiều hình ảnh sinh động xuất hiện trong phong trào tòng quân, như vợ mới cưới tiễn đưa chồng đi làm nhiệm vụ, cha dẫn con ra mặt trận v.v... Có những gia đình lần lượt 5-7 anh chị em hy sinh, còn lại người con út chưa đủ tuổi, vẫn thiết tha được lên đường cầm súng. ở Lộc Ninh, bà mẹ Lê có 2 người con trai đến tuổi quân dịch, bà đã tìm cách che giấu cho con suốt 4 năm trời, đến ngày quê hương được giải phóng, bà đã vui vẻ dẫn cả 2 con đến giao cho cách mạng, còn lại một mình ở nhà sản xuất.

Thấy rõ việc đưa thanh niên đứng hẳn về phía cách mạng là hình thức triệt để nhất để bảo vệ thanh niên, các tổ chức Đoàn, Hội cơ sở đã đặc biệt coi trọng việc vận động thanh niên đấu tranh chống bắt lính, chống đôn quân, đẩy mạnh công tác binh vận và địch vận, làm tan rã từng mảng lớn hàng ngũ địch, nhất là đấu tranh chống phá hình thức tổ chức phòng vệ dân sự, vận động thanh niên trả súng, không canh gác, không tập quân sự. Nhiều nơi tổ chức phòng vệ dân sự của địch tan rã từng mảng đến tan rã hoàn  toàn, địch phải tốn nhiều công sức lập đi lập lại vẫn không duy trì được.

Thấy rõ bộ mặt tàn bạo của đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai, hầu hết thanh niên ta đều không muốn đi lính làm bia đỡ đạn cho chúng. Nhưng cũng không ít thanh niên chưa mạnh dạn đứng lên đấu tranh. Một số còn ngần ngại gian khổ, không dám ra vùng giải phóng. Phần đông thanh niên này đã chống bắt lính bằng những hình thức như: Lánh né, làm giấy tờ giả, lo lót tiền bạc, thậm chí có người đã tự thương, chặt đứt cả ngón tay... Một số thanh niên khác, tích cực hơn tổ chức thành những lõm trốn lính, làm hầm bí mật có vách ngăn làm hai, tủ quần áo cũng được làm thành 2 ngăn, vừa đảm bảo chống bắt lính, vừa che giấu cán bộ hoạt động bí mật khi cần thiết. ở nhiều nơi, ngoài việc trốn tránh để khỏi bị bắt lính, thanh niên còn tự trang bị vũ khí như lựu đạn, súng ngắn... để tự bảo vệ khi địch lùng bắt.

Với hành động chống bắt lính tích cực, ngay cả trong thời kỳ địch bình định lấn chiếm quyết liệt nhất, thanh niên xã Mỹ Long (ngày nay thuộc tỉnh Tiền Giang) vẫn được bảo vệ. Cả 240 thanh niên của xã không có một người nào bị bắt lính. Lúc đầu tổ chức Đoàn, Hội của địa phương hướng dẫn những thanh niên trong số bà con thân thích của cán bộ Đoàn, Hội vào các "lõm địa hình" ăn ở, sinh hoạt. Dần dần số thanh niên vào trụ bám trong "lõm" ngày càng đông. Cả một số binh sĩ địch và phòng vệ dân sự đào ngũ cũng vào sống trong "lõm" du kích. Họ tự lực xây dựng cụm ăn ở, gắn bó với nhau như anh em ruột thịt. Từng bước, tổ chức Đoàn, Hội động viên, giáo dục các đối tượng thanh niên, vận động họ cùng tham gia công tác cách mạng. Hầu hết thanh niên đều vào các đội du kích, tham gia cài lựu đạn bảo vệ "lõm địa hình", đánh địch khi chúng càn vào căn cứ, một số khác tòng quân.

Thông qua phong trào"Năm xung phong", nhiều cơ sở Đoàn, Hội đã kiên trì tổ chức, tập hợp thanh niên theo những hình thức thích hợp: Hội những người đá banh, đội văn nghệ thanh niên, tổ chức thanh niên xung phong chống bắt lính, tổ chức thanh niên tuyên truyền xung phong, tổ thanh niên xung phong cung ứng chiến trường, đội TNXP cơ sở v.v... Nhiều thanh niên đã từng vào phòng vệ dân sự của địch, khi được giáo dục, giác ngộ đã hăng hái tham gia du kích, tham gia diệt ác phá kềm. Xã Vĩnh Tường (Long Mỹ) có cả một liên toán phòng vệ dân sự khởi nghĩa, chuyển thành lực lượng du kích với 39 súng. ở Bắc Long An có 6 thanh niên bị bắt vào phòng vệ dân sự đã tự đặt tên: Quyết - Tâm - Bảo - Vệ - Tổ - Quốc, rồi diệt ác mang súng trở về với cách mạng tham gia du kích đánh địch. Không chỉ thanh niên vùng giải phóng, vùng giáp ranh hăng hái tòng quân mà ngay cả ở các vùng bị địch tạm chiếm sâu như ở Thới Bình thanh niên cũng tìm mọi cách để ra vùng giải phóng tham gia công tác cách mạng. Có 3 thanh niên trong một ấp chiến lược đã phá rào ra đồng nằm chờ 3 ngày 3 đêm để liên lạc với cách mạng, xin đi chiến đấu. Trước yêu cầu bức thiết phải huy động sức người, sức của ngày càng cao, khi tình hình cách mạng chuyển sang giai đoạn mới, Trung ương Đoàn và Trung ương Hội chủ trương tổ chức ra Đội Thanh niên xung phong công tác phục vụ chiến trường. Ngày 20/4/1965, đội thanh niên xung phong mang ký hiệu C100 có 108 đội viên ra đời. Tháng 8/1965, đáp ứng yêu cầu của chiến trường trọng điểm miền Đông, Trung ương Đoàn, Trung ương Hội quyết định thành lập Tổng đội TNXP giải phóng miền Nam vừa làm nhiệm vụ chỉ đạo theo hệ thống ở các tỉnh Nam Bộ (cũ) vừa chỉ huy các liên đội của Miền.

C100 được lấy làm khung cho tổ chức Tổng đội. Một nửa làm nòng cốt để xây dựng đội 198 mang tên Thành đồng, nửa còn lại biên chế các bộ phận thuộc văn phòng Tổng đội. Đồng chí Nguyễn Đức Toàn, ủy viên Thường vụ Trung ương Đoàn được cử làm Tổng đội trưởng.

Căn cứ chủ trương của Đoàn Thanh niên nhân dân cách mạng và Hội LHTN giải phóng miền Nam, lực lượng TNXP miền Nam được thành lập theo 3 hình thức: TNXP giải phóng miền Nam tập trung dài hạn, làm nhiệm vụ phục vụ chiến trường, ngày đêm sát cánh với các đơn vị quân giải phóng miền Nam, tải thương, vận chuyển hàng chiến lược, vũ khí, làm cầu đường. Các đội thường hoạt động phân tán theo từng trung đoàn quân giải phóng hoặc ở một hướng chiến trường nhất định.

Hình thức thứ hai, TNXP miền Nam tập trung có thời hạn, do các tỉnh hoặc các khu Đoàn tổ chức và chỉ đạo. Riêng khu V đã có 5506 thanh niên xung phong tập trung của tỉnh và khu, với các liên đội Võ Như Hưng, Võ Thị Sáu. Khu VI có 19 đại đội với 2500 đội viên. Các tỉnh thuộc Nam Bộ cũ cũng thành lập được một đội TNXP giải phóng tập trung. Thủ Dầu Một có đội 112 mang tên Phú Lợi căm thù, Tây Ninh có đội 2311 Hoàng Lệ Kha, Long An có đội 29 mang tên Hiệp Hoà anh dũng, Mỹ Tho có đội ấp Bắc I và ấp  Bắc II, Bến Tre có đội 2012 Nguyễn Văn Tư, Cần Thơ có đội Tây Đô quyết thắng, Cà Mau có đội Nguyễn Việt Khái, Rạch Giá có đội Hòn Đất I...

Hình thức thứ ba, TNXP miền Nam ở cơ sở (xã, ấp) được tổ chức rộng rãi ở hầu khắp các tỉnh, với hàng chục ngàn đoàn viên, thanh niên tham gia. Riêng tỉnh Bến Tre, trong chưa đầy 2 năm (1965 - 1966) đã có 10215 đội viên. Một số xã, đội viên TNXP chiếm trên 60% tổng số đoàn viên, thanh niên ở địa phương.

Đội viên TNXP ở cơ sở và TNXP tập trung có thời hạn là nguồn bổ sung dồi dào cho bộ đội và TNXP tập trung dài hạn.

Đồng thời với sự phát triển cuộc đấu tranh trong các đô thị, trên toàn chiến trường miền Nam, công tác phục vụ chiến đấu do các thanh niên xung phong đảm nhiệm ngày càng có những đóng góp đáng kể. Chỉ tính riêng ở huyện Đại Lộc (Quảng Nam - Đà Nẵng) trong năm 1966, lực lượng TNXP giải phóng địa phương đã chuyển được 14360 tấn hàng. Nhiều đơn vị nhờ tổ chức tốt đã đưa năng suất bình quân lên gấp 3-4 lần, từ 2 tấn lên 6-7 tấn/ngày.

Trên tuyến đường 1C dài hàng trăm km, không dân cư, toàn đồng hoang rừng vắng, bị chia cắt thành nhiều tuyến do đồn bốt địch, chúng lập cả một khu chiến thuật riêng chuyên đánh phá hành lang vận chuyển trên tuyến đường 1C. Có tháng chúng đổ quân đánh phá suốt cả 30 ngày không nghỉ. Có ngày, máy bay địch bắn phá tới 15-17 lần. Các tuyến lộ, sông không ngày nào không có tàu hoặc bộ binh địch ngăn đón... các đội TNXP giải phóng của 6 tỉnh miền Tây Nam Bộ: Hòn Đất, Nguyễn Viết Khái II, Nguyễn Viết Khái III, Mai Thanh Thế, Tây Đô... đã bền bỉ, dũng cảm và mưu trí vừa đánh địch để bảo toàn lực lượng, bảo toàn tuyến chuyển tải, vừa không ngừng tăng năng suất hoàn thành xuất sắc từng nhiệm vụ.

Những ngày đầu mới tập kết, hầu hết đội viên TNXP đều ở độ tuổi từ 15-20, có đến 3/4 là nữ của các tỉnh đồng bằng phù trú, chưa quen cuộc sống khắc nghiệt của vùng rừng núi, mùa mưa lầy lội, ẩm ướt, muỗi, đỉa, vắt... như trấu. Chỉ một đợt sốt rét rừng ở núi Cô Tô đã làm 100% quân số của một đơn vị gồm 11 đội viên đã chết vì không có thuốc điều trị. Hầu hết đội viên nữ đều bị rụng tóc. Có đơn vị phải đóng quân giữa một vùng nước ngập tới bụng, không một gò đất khô, suốt ngày phải ngâm mình dưới nước, kể cả những chị em đến tháng. Cứ như vậy kéo dài trong thời gian 6 tháng.

Địch phong toả gắt gao, nhiều lần gạo hết phải ăn cháo, ăn rau bông súng, môn nước, củ nèo. Có lần các đơn vị đóng quân ở vùng núi Cô Tô 27 ngày liền không có gạo ăn, trong đó có 7 ngày liền chỉ được ăn rau muống.

Gian khổ ác liệt nhưng tuyến đường vận chuyển hàng chiến lược không một ngày ngừng hoạt động, liên tục trong một ngàn ngày đêm. Đội Nguyễn Viết Khái II suốt 3 tháng liền (tháng 10, 11, 12/1967) chỉ nghỉ 5 ngày để xây dựng căn cứ. Năng suất lao động ngày càng được nâng cao. Mới đầu, 2 đội viên chống 1 xuồng, đã nâng lên 1 đội viên chống 1 xuồng chở 300 - 400kg. Từ 2 đội viên đẩy 1 xe (loại xe cút kít) rút xuống 3 người đẩy 2 xe, chở 600 - 700kg. Nhiều đội viên đi phục vụ liên tiếp 27 đêm liền trong một tháng.

Không chỉ đảm bảo vận chuyển hàng chiến lược, liên đội còn phải chiến đấu để tự bảo vệ và bảo vệ hàng. Cùng đơn vị bạn diệt hàng ngàn tên địch, bắn rơi hàng chục máy bay. Riêng liên đội trực tiếp chiến đấu 45 trận, loại khỏi vòng chiến đấu trên 200 tên địch, bắn rơi 4 máy bay, bắn bị thương 3 chiếc khác. Đội viên Trần Thị Thoa, 18 tuổi ở Mai Thanh Thế, trong lúc đơn vị đi làm nhiệm vụ, ở nhà một mình, trực thăng địch đổ quân đánh chiếm doanh trại đơn vị, đã kiên cường bám trụ, chiến đấu mưu trí, dũng cảm, đẩy lùi cả đại đội địch, bảo vệ được doanh trại. Lê Văn Dè, một mình chiến đấu với 1 tiểu đoàn địch trên bờ sáng trống trải, đẩy lùi nhiều đợt xung phong của 300 tên địch, diệt 17 tên, và 2 tên Mỹ.

Chuyển tải là nhiệm vụ chủ yếu của lực lượng TNXP giải phóng miền Nam. Các liên đội TNXP tập trung dài hạn của miền thường xuyên gắn bó với các đơn vị chủ lực quân giải phóng như hình với bóng. Với phong trào "4 tăng, 5  giảm, 3 rút ngắn, 10 bảo đảm", liên đội 9 luôn tổ chức rút kinh nghiệm, xây dựng những điển hình về thồ hàng, cáng tải thương, thực hiện khẩu hiệu "mạnh vai tải, vững tay thồ, công binh giỏi, chiến đấu cừ" phù hợp với từng đợt phục vụ, đưa năng suất lên ngày một cao, từ 2-5 tấn/ngày lên 20 tấn/ngày vẫn đảm bảo dẻo dai và liên tục.

Liên đội 7, thời gian đầu phối thuộc với sư đoàn 7 quân giải phóng chủ yếu cáng thương, tải hàng chiến lược, sau chuyển về đoàn hậu cần chủ yếu thồ hàng. Liên đội đã tổ chức "tuần lễ đồng hóa kỹ thuật" nhằm luyện thuần thục tay thồ. Liên đội thường xuyên chuyển tải hàng trên tuyến hành lang gay go ác liệt. Trung bình mỗi tuần liên đội phải chịu đựng 3 lần máy bay chiến lược B52 rải thảm vào đội hình, phải thường xuyên di chuyển căn cứ, sinh hoạt ăn uống thiếu thốn, thiếu cơm nhạt muối vẫn phải đảm bảo 85-90% quân số phục vụ, đưa năng suất bình quân từ 2 bao/người/chuyến lên 3,5 bao/người/chuyến.

Công việc chuyển tải đối với TNXP giải phóng là một cuộc chiến đấu thực sự. Một lần các chiến sĩ TNXP đội 1167 đang chuyển 60 thương binh về tuyến sau giữa lúc giặc càn, phải cắt rừng vượt sông vẫn không tránh được đụng đầu với chúng. Không có thuyền, các chiến sĩ trầm mình dưới nước suối hàng tiếng đồng hồ, dùng dây chằng qua sông để đồng đội cõng thương binh đi qua. Địa hình trống trải, máy bay địch phát hiện gọi pháo bắn vào đội hình đơn vị đang vượt sông. Có chiến sĩ bị thương vẫn không rời vị trí, đưa hết thương binh qua sông an toàn. Được một đoạn đường, đơn vị lại đụng biệt kích Mỹ, phải vừa chiến đấu, vừa đưa thương binh vượt qua.

Có lần đang làm nhiệm vụ khiêng thương binh, TNXP giải phóng đội 1265 bị lọt vào ổ phục kích của địch. Ngay loạt mìn đầu tiên nổ đã có 6 chiến sĩ hy sinh. Kẻ địch dùng ngay cả xe tăng tấn công vào đội hình của đơn vị. Lưới lửa dày đặc. Không thể để thương binh bị thương lần thứ 2, các chiến sĩ lần lượt cõng thương binh vượt ra khỏi vùng lửa đạn.

Nhiều đội viên TNXP giải phóng đã nêu cao gương sáng về lòng hy sinh quả cảm. Trong một chuyến công tác, đơn vị của Nguyễn Thị Hoàng Anh (đơn vị 19/8 liên đội 9) bị địch phục kích. Chúng sử dụng cả máy bay, pháo bầy bắn phá vào đội hình của đơn vị, cho cả xe tăng xông thẳng tới hòng diệt gọn. Hoàng Anh đã kiên cường bám trụ. Trong tay chỉ còn 1 trái lựu đạn của một đồng chí bộ đội bị thương vừa trao cho. Hoàng Anh rút sẵn chốt, chờ địch đến, 2 tên Mỹ xông đến định bắt Hoàng Anh. Cô chống cự quyết liệt, 2 tên Mỹ khác thấy vậy xông vào tiếp sức đồng bọn. Chỉ chờ có thế, Hoàng Anh bật ngửa người, buông tay. Lựu đạn nổ, 4 tên Mỹ chết tại chỗ, Hoàng Anh hy sinh.

Tiêu biểu là tấm gương hy sinh thân mình để bảo vệ thương binh của người đội viên TNXP giải phóng Đoàn Thị Liên, đội 112. Bình thường Liên là một cô gái dịu dàng, hết lòng thương yêu đồng chí, đồng đội, luôn nhận khó khăn về mình, nhường thuận lợi cho bạn. Trong một năm rưỡi tham gia TNXP giải phóng, Đoàn Thị Liên đã phục vụ 12 trận chiến đấu. Nhiều trận, Liên đã xông ra trận địa cõng thương binh, mỗi lần hạ cáng nghỉ, Liên lại lo đi tìm củi nấu nước phục vụ anh em, nấu cháo cho thương binh...

Trong trận đánh ở Cần Lê, trên đường 13, Đoàn Thị Liên cùng đồng đội bám sát các mũi xung kích. Trận đánh mỗi lúc một ác liệt, Đoàn Thị Liên vừa cõng được 2 thương binh về hầm, pháo địch bỗng nã xuống tới tấp. Liên bị dính mảnh pháo, ngã khuỵ xuống, trong khi nhiều quả đạn pháo nổ ngay trước cửa hầm nơi có thương binh đang nằm. Liên thấy không yên tâm, cố trườn đến nằm chắn ngang cửa hầm, dùng thân mình che mảnh đạn cho thương binh. Một quả pháo địch nổ gần và Liên hy sinh.

Sau thất bại của cuộc phản công chiến lược mùa khô 1966 - 1967, vùng kiểm soát của Mỹ - ngụy bị thu hẹp, chính quyền Sài Gòn khủng hoảng triền miên, ngụy quân sa sút ý chí và tinh thần. Cuối năm 1967, Giônxơn đưa thêm 100.000 quân chiến đấu vào miền Nam, đưa tổng số quân Mỹ trực tiếp tham chiến ở Việt Nam lên nửa triệu tên, vẫn không cứu vãn nổi tình thế. Quân và dân ta ở cả hai miền Nam - Bắc liên tiếp giành được những thắng lợi có ý nghĩa quyết định. Nhìn thấu rõ tương lai của cuộc kháng chiến, mừng xuân Mậu Thân 1968, trong Thư chúc Tết đồng bào và chiến sĩ cả nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã kêu gọi:

Xuân này hơn hẳn mấy Xuân qua
Thắng trận tin vui khắp nước nhà
Nam - Bắc thi đua đánh giặc Mỹ
Tiến lên!
Toàn thắng ắt về ta!

Lời chúc năm mới cũng là lời hịch xung trận. Phát huy sức mạnh tổng hợp và thừa thắng xông lên, tháng 12/1967, Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng ra Nghị quyết, chỉ rõ: "Chuyển cuộc chiến tranh cách mạng miền Nam của ta sang một thời kỳ mới: Thời kỳ giành lấy thắng lợi quyết định".

Nắm vững thời cơ và chiến lược của Đảng, tháng 11/1968, Trung ương Đoàn Thanh niên Nhân dân Cách mạng và Trung ương Hội Liên hiệp Thanh niên giải phóng miền Nam quyết định động viên thanh niên thừa thắng xốc tới cùng quân và dân toàn miền tổng kích. Trung ương Đoàn, Trung ương Hội thiết tha kêu gọi: "Thời cơ hiện nay đang mở ra cho mỗi thanh niên, mỗi cán bộ, mỗi đoàn viên, hội viên ánh sáng huy hoàng, soi đường cho chúng ta xông lên lập công lớn. Giặc Mỹ và tay sai đang choáng váng, chúng ta hãy bồi cho chúng những đòn chí mạng. Chúng ta phải nỗ lực phi thường, làm việc không tiếc sức, quyết không chút ngại khó khăn gian khổ, sẵn sàng hy sinh cho sự nghiệp cao cả giải phóng dân tộc. Mỗi cán bộ, đoàn viên và thanh niên trong giờ phút thiêng liêng này phải đứng ở hàng đầu trong trận chiến  chống Mỹ cứu nước".

Hưởng ứng lời kêu gọi đó, hầu hết cán bộ, đoàn viên, hội viên và thanh niên các cơ quan xung quanh Trung ương cục miền Nam đã hăng hái tình nguyện tăng cường cho 5 phân khu xung quanh Sài Gòn và các khu tỉnh, thành.

Đoàn viên, hội viên và thanh niên ở các địa phương đã tham gia nhiều đường dây vận tải vận chuyển hàng ngàn tấn vũ khí từ các trạm trên đường hành lang biên giới về địa điểm tập kết vùng ven bằng các hệ thống công khai, bí mật vào các kho nội thành. Các tỉnh còn huy động hàng ngàn thanh niên tham gia dân công, cùng thanh niên xung phong phục vụ hoả tuyến. Khắp trong các tỉnh, thành phố đã dấy lên phong trào tòng quân sôi nổi. Hàng vạn đoàn viên, hội viên và thanh niên đã lên đường bổ sung cho quân chủ lực miền, khu để lập các sư đoàn và trung đoàn mạnh của quân giải phóng. Riêng ở Bến Tre đã thành lập được 5 tiểu đoàn bổ sung cho lực lượng của miền. Khu V có nhiều hình thức động viên thanh niên tòng quân, Quảng Nam tổ chức "dạ hội tòng quân", Quảng Ngãi tổ chức "ngày hội toàn dân bàn việc nước, tính việc nhà"... Năm 1967, Đoàn quân khu V có 12.577 thanh niên tòng quân, 5.506 thanh niên gia nhập lực lượng TNXP giải phóng miền Nam, 57.306 nam nữ thanh niên tham gia du kích, trong đó có 2.028 du kích mật. Cao điểm năm 1968, toàn khu đã động viên 25.144 thanh niên tòng quân.

Một lực lượng đáng kể thanh niên "Ba sẵn sàng" từ hậu phương lớn miền Bắc cũng không ngừng được bổ sung cho chiến trường miền Nam, góp phần tăng cường sức mạnh của các lực lượng vũ trang trên chiến trường cả về số lượng và chất lượng.

Hàng vạn TNXP mở đường, đưa hàng vạn tấn vũ khí, lương thực, thực phẩm, thuốc men... kịp thời phục vụ cuộc chiến đấu. Khi cuộc tổng tiến công và nổi dậy đang diễn ra quyết liệt, 57.667 cán bộ và chiến sĩ lại được chi viện cho chiến trường Nam Trung Bộ. Năm 1969 có 43.219 người được chi viện cho chiến trường Nam Bộ, 35.501 người cho chiến trường khu V...

Trừ một số nơi ở khu V và Tây Nguyên nổ súng sớm, cuộc tổng tiến công và nổi dậy của quân và dân miền Nam đã đồng loạt nổ súng đúng giao thừa Mậu Thân 1968. Sài Gòn, Huế, Quảng Trị, Tam Kỳ, Quảng Ngãi, Phan Thiết, Vĩnh Long, Cần Thơ, Thủ Dầu Một, Tây Ninh... chỉ trong 7 ngày đầu của cuộc tập kích chiến lược, thanh niên đã cùng quân và dân miền Nam tấn công 64 thành phố, thị xã, diệt 5 vạn tên Mỹ - ngụy và chư hầu. Các chiến sĩ trẻ tuổi trong các đơn vị chủ lực, bộ đội địa phương đã chiến đấu vô cùng anh dũng, chẳng những đánh trúng, đánh mạnh mà còn anh dũng chọc thủng các phòng tuyến của địch, đánh lâu ngày trong thành phố, diệt nhiều sinh lực tinh nhuệ của Mỹ - ngụy. Tại Sài Gòn, quân ta tiến công toà đại sứ Mỹ, Bộ Tổng tham mưu ngụy, Đài phát thanh, Trung tâm truyền tin Phú Nhuận, sân bay Tân Sơn Nhất, trại thiết giáp Phù Đổng...

Với truyền thống "đánh đâu thắng đấy", các chiến sĩ trẻ chi đoàn 61 quân giải phóng luôn là những mũi nhọn xung kích của đơn vị. Trong đợt đánh vào sân bay Tân Sơn Nhất, chỉ 5 phút các chiến sĩ đã dũng cảm phá bung 22  lớp rào dây kẽm gai, tạo điều kiện cho đơn vị tiến vào làm chủ đường băng, đánh vào nhà của giặc lái và nhân viên kỹ thuật. Nhiều chiến sĩ trẻ đã hy sinh anh dũng trong tư thế sẵn sàng nhả đạn. Đó là "Dáng đứng Việt Nam tạc vào thế kỷ" như Lê Anh Xuân đã ngợi ca. Thừa thắng, các chiến sĩ trẻ chi đoàn 61 tiếp tục đánh cho địch những đòn choáng váng: Ngày 19/2 chặn đánh một tiểu đoàn địch ở cửa ngõ Sài Gòn, diệt một đại đội. Ngày 24/2, đánh giáp lá cà diệt một đại đội ngụy và 10 tên Mỹ. Ngày 13/3, 29 chiến sĩ của đơn vị đã đánh bại 2 tiểu đoàn địch, diệt 200 tên.

Chi đoàn 61 đánh chiếm sân bay Tân Sơn Nhất, một đơn vị nhỏ quân giải phóng gồm toàn những chiến sĩ tuổi từ 19-20, được nhân dân che chở giúp đỡ đã tiếp tục đánh chiếm cầu chữ Y chỉ trong một thời gian ngắn. Kẻ địch ngoan cố, dùng đủ mọi cỡ hoả lực, điều đến những đơn vị thiện chiến, tổ chức nhiều đợt phản kích, vẫn không đánh bật được đơn vị ta ra khỏi cầu. Trong khi đó khoảng 20 chiến sĩ trẻ của ta tiến đánh toà đại sứ Mỹ ngay trung tâm Sài Gòn. Cuộc chiến đấu diễn ra trong nhiều giờ, giành giật nhau từng góc tường, từng cầu thang gác. 6 chiến sĩ trẻ khác chiến đấu trong một khách sạn đang làm dở suốt 36 tiếng đồng hồ, đánh lui nhiều đợt phản kích của địch. Và ở Đài phát thanh của ngụy quyền Sài Gòn, đội 4, biệt động thành Sài Gòn được ém quân sẵn chỉ cách Đài 100m, có lệnh tiến công, các chiến sĩ đã nhanh chóng tiếp cận đánh mục tiêu và giữ vững trong 3h10 phút. Địch huy động hàng tiểu đoàn thiện chiến đến tìm cách giải toả. Các chiến sĩ ta dũng cảm đánh lui nhiều đợt phản kích của chúng, diệt 1 đại đội lính dù, 7 trung đội bảo an, phá huỷ 1 xe thiết giáp, 1 xe GMC, 7 chiến sĩ của đội vượt được vào tuyến trong, phá huỷ hoàn toàn hệ thống máy móc của Đài, làm sập tầng trệt và 1 phần lầu 2. Các chiến sĩ lần lượt hy sinh. Còn lại 4 người, sau khi đạn hết, cuộc chiến đấu không cân sức, các chiến sĩ đã dùng bộc phá phá huỷ đài và hy sinh anh dũng. Đội trưởng Trần Phú Cường (tức Năm Mộc) đã được tuyên dương Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân. Toàn đội được tặng thưởng Huân chương quân công giải phóng hạng Nhì.

Nhà báo Mỹ Don Oberdoiter trong cuốn "Tết" viết về cuộc tấn công Mậu Thân của ta đã có những nhận định: "Có lẽ trận tấn công được tổ chức tốt nhất ở vùng trung tâm thành phố là trận đánh chiếm đài phát thanh, một cơ sở hết sức quan trọng trong bất cứ cuộc đảo chính hay nổi dậy nào...".

Trong những ngày tiến công và nổi dậy của quân và dân toàn miền, Thành Đoàn Sài Gòn kịp thời thành lập ủy ban Thanh niên, sinh viên, học sinh cứu trợ đồng bào bị nạn, lập các trung tâm hỗ trợ giúp dân, đồng thời là nơi thu gom, nuôi giấu thương binh ta và chiến sĩ lạc đơn vị. Lợi dụng tổ chức công khai này, tuổi trẻ Sài Gòn đã móc nối cơ sở, xây dựng các căn cứ lõm ở các khu lao động, như ở liên phường 3A (Bàn Cờ - Vườn Chuối), liên phường 3B (Nguyễn Thông - Lê Văn Duyệt), liên phường 4A (Trương Minh Giảng - Trương Tấn Bửu), liên phường 4B (Gia Định).

Tại Huế, đêm 31/1/1968 quân và dân ta đồng loạt tiến công 40 mục tiêu. Rạng sáng ngày 1/2, ta làm chủ hầu hết thành phố, cờ Mặt trận miền Nam tung bay trên đỉnh cột cờ Thành nội. Sáng 3/2, ta phát động nhân dân nổi dậy lập chính quyền cơ sở. Mặt trận Liên minh Dân tộc Dân chủ và Hòa bình thành phố Huế ra đời, kêu gọi các tầng lớp nhân dân đoàn kết chống Mỹ.

Sau những ngày đầu choáng váng vì bị đòn bất ngờ, trưa ngày 7/2/1968, địch huy động 11 tiểu đoàn ngụy, 3 tiểu đoàn lính thuỷ đánh bộ Mỹ, có pháo và xe tăng yểm trợ phản công chiếm lại Huế. Nhiều trận chiến đấu ác liệt nổ ra. Ngày 11 và 12/2, tiểu đội 11 cô gái sông Hương phối hợp với các chiến sĩ phân đội K10 đã tổ chức nhiều trận đánh, bẻ gãy tất cả các đợt phản kích của địch hòng chiếm lại sân vận động Huế. Tiếp đó, dưới sự chỉ huy của Phạm Thị Liên, một cô gái mới 20 tuổi, đánh thắng liền 7 trận ở Vân Dương, giữ vững cầu Lò Trâu, góp phần tiêu diệt 120 tên Mỹ. Kẻ địch điên cuồng cho một tiểu đoàn Mỹ phản kích, Phạm Thị Liên cùng đồng đội bình tĩnh chờ địch vào gần mới nhất loạt nổ súng, băm nát đội hình chúng, buộc chúng phải rút chạy. Phạm Thị Liên và tiểu đội chiến đấu của cô được tặng phần thưởng xứng đáng: Huân chương Chiến công giải phóng hạng Nhất.

Cuộc tiến công chiến lược mùa xuân Mậu Thân 1968 nổ ra đều khắp. Nhiều cơ sở Đoàn, Hội được chuẩn bị tốt đã tổ chức đoàn viên và thanh niên phối hợp cùng các cánh quân giải phóng đánh chiếm nhiều mục tiêu quan trọng, tiếp đó đánh địch phản kích, giữ vững trận địa nhiều ngày. ở Mỹ Tho, các cơ sở Đoàn, Hội ở vùng ven thành phố đều được củng cố, có từ 10 đến 30 người. Các cơ sở không lộ đều được phân công đánh chiếm các vị trí địch. Được lệnh tổng công kích, các đơn vị mũi nhọn của thành phố chia làm 3 hướng vừa dẫn đường cho bộ đội chủ lực tiến đánh vào thành phố vừa diệt địch trong các đồn bốt vùng ven. Địch phản kích quyết liệt. Chúng cho lữ đoàn 3 sư đoàn 9 Mỹ cùng 3 tiểu đoàn của sư đoàn 7 ngụy và 2 chi đoàn thiết xa vận đánh vào lực lượng của ta trong thành phố. Đoàn viên và thanh niên trên các đường phố phối hợp cùng các chiến sĩ trẻ trong các đơn vị quân giải phóng bám trụ trong từng góc tường, hẻm phố... đánh diệt từng cánh quân địch, gây cho chúng những tổn thất nặng nề, 1 tiểu đoàn Mỹ, 1 tiểu đoàn ngụy bị diệt gọn, 20 xe M113 bị bắn cháy.

Phối hợp với cánh quân đánh chiếm các căn cứ địch trong thành phố, đoàn viên và thanh niên trong các đơn vị du kích của các địa phương vận động nhân dân nổi dậy phá thế kìm kẹp của địch, đẩy mạnh hoạt động đánh phá giao thông, ngăn chặn địch ứng cứu cho nhau. Lộ 4 (ngày nay là quốc lộ 1 còn có tên gọi lộ Đông Dương) bị bắn phá nhiều lần. Từ ngày 1 đến ngày 16/2/1968, giao thông trên lộ 4 bị cắt đứt nhiều đoạn từ huyện Cái Bè đến Châu Thành (Tiền Giang ngày nay).

Trong chiến đấu, nhiều đoàn viên, hội viên và thanh niên đã lập công xuất sắc. Tại Đà Nẵng, Phạm Chu với khẩu B40 tiến vào Nam Ô diệt 1 cụm 5 tên Mỹ, truy lùng diệt nhiều tên ác ôn ngoan cố. Tại Quảng Ngãi, 8 dũng sĩ trẻ đơn vị trinh sát tỉnh đội đánh vào sân bay diệt 200 tên. Nguyễn Thị Phúc, chính trị viên đại đội đặc công Phù Mỹ (Bình Định) tính đến Tết Mậu Thân đã đánh 52 trận, dũng cảm mưu trí diệt gần 100 tên giặc, được tuyên dương Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân. A Sâu, một thanh niên người dân tộc cùng đơn vị đánh vào thị xã Kon Tum, bị địch bao vây. Từ trên nóc chợ, A Sâu vừa di chuyển, vừa đánh địch, diệt nhiều tên. Chọn thời cơ anh nhảy xuống, vào giữa đội hình địch, chúng chưa kịp phản ứng, anh ném 2 trái lựu đạn làm chúng hoảng loạn rồi nhanh trí vượt khỏi vòng vây. Nguyễn Văn Vân ở Thủ Dầu Một, vận động 3 đợt được hơn 300 thanh niên đi dân công tải thương cùng anh em đào hầm bí mật nuôi giấu thương binh nặng, bảo vệ và chuyển an toàn thương binh về hậu cứ. Nguyễn Du, 19 tuổi, quê ở Thái Bình trong đơn vị bổ sung cho Khánh Hoà, Tết Mậu Thân cùng đơn vị tiến vào Nha Trang, tới ven thành phố đụng địch, khi chúng rút chạy, Du lạc đơn vị được nhân dân nuôi giấu, anh vẫn không chịu rời bỏ súng, sẵn sàng chiến đấu khi gặp địch. Cũng tại Nha Trang, một phân đội của trung đoàn 52 đánh chiếm chợ Đầm, tuy chỉ có một tổ chốt lại nhưng địch phản kích quyết liệt 5 ngày đêm liền vẫn không chiếm lại được chợ. Các chiến sĩ lần lượt hy sinh, chỉ còn 1 người vẫn chiến đấu đến hết đạn. Trước khi bị giặc bắt, anh đã phá huỷ súng, không để vũ khí rơi vào tay giặc.

Nhiều em thiếu nhi tuổi nhỏ nhưng chí không nhỏ, đã sát cánh chiến đấu bên cạnh các chị lớn tuổi và lập được nhiều chiến công. Nguyễn Văn Hoà làm nhiệm vụ dẫn đường cho bộ đội, đã mượn súng của các chiến sĩ đánh trận đầu diệt 8 tên Mỹ, lấy súng đạn của địch trang bị cho mình. Lê Thị Minh, 13 tuổi, 5 lần vào căn cứ Nước Mặn trinh sát để bộ đội pháo kích, liên tiếp bị địch bắt tra tấn dã man nhưng nhất định không khai, mưu trí trốn thoát trở về đơn vị.

Tại Huế, địch tập trung lực lượng phản kích quyết liệt. Chúng điều đến Huế những đơn vị khét tiếng tàn bạo, sử dụng cả máy bay ném bom có tính huỷ diệt... Nhưng Huế vẫn kiên cường đứng vững trong 26 ngày đêm. ở Sài Gòn, các đợt hoạt động hè thu tiếp tục gây cho địch những đòn choáng váng. Rạng sáng 5/5/1968, trận tiến công đánh chiếm toà hành chính quận 5 của ngụy bắt đầu bằng một trận đánh ác liệt tại góc đường Hồng Bàng - Phước Hưng (nay là đường An Dương Dương - Phước Hưng), 13 chiến sĩ thuộc đội vũ trang Ban Hoa vận của thành phố đã chiến đấu một mất một còn với lực lượng địch đông gấp bội. Phần lớn họ là những thanh niên con em hoặc người thân của một gia đình người Hoa có bà mẹ tên là Lục Tài Chi. Người nhiều tuổi nhất là Tăng Bôi, con rể tương lai của gia đình, chỉ huy đơn vị, 31 tuổi. Người trẻ nhất là Lưu Hương, chỉ mới 15 tuổi, là con dâu tương lai của gia đình. Còn Hồ Đạt Thành, Hồ ái Quần, con bà Lục Tài Chi đều đang tuổi thanh niên. Mặc dù được chuẩn bị chu đáo, vũ khí được ém sẵn gần mục tiêu, nhưng do địch tập trung lực lượng lớn, các chiến sĩ trong đội vũ trang đã phải giành giật với địch từng mét đường, 13 người bị thương nặng. Đạn hết. Các chiến sĩ sẵn sàng giương lê đánh giáp lá cà với địch.

Trong cuộc tiến công chiến lược mùa xuân Mậu Thân 1968 phải kể đến tinh thần bền bỉ và kiên cường của các chiến sĩ trên mặt trận Làng Vây - Khe Sanh. Được mở ra nhằm thu hút và giam chân phần lớn lực lượng địch ở hướng Bắc Quảng Trị, tạo điều kiện cho quân và dân toàn miền Nam tổng công kích, tổng khởi nghĩa. Chiến dịch đường số 9 - Khe Sanh đã nổ súng tiến công trong đêm 20 rạng sáng ngày 21/1/1968. Ngay trận đầu mở màn chiến dịch, các chiến sĩ trẻ tiểu đoàn 7 trung đoàn 66/304 bằng một trận chiến đấu hiệp đồng binh chủng đã tiêu diệt cứ điểm Làng Vây bằng 3 hướng đột phá, mở rộng bàn đạp vây hãm Tà Cơn và đánh quân địch phản kích tăng viện.

Thực hiện ý đồ chiến dịch, việc vây lấn Tà Cơn dài ngày (từ 10/2 đến 15/7/1968) là một thử thách đối với mỗi chiến sĩ trẻ trong các đơn vị tham gia chiến đấu. Các chiến sĩ trẻ nêu khẩu hiệu: "Phải biến Tà Cơn thành địa ngục trần gian, thành lò lửa thiêu quân Mỹ trên đường số 9". Trận địa vây lấn của các chiến sĩ ta ngày càng siết chặt buộc bọn chỉ huy Mỹ, dù đang bị căng ra trên khắp các chiến trường đối phó với những đợt tiến công của quân và dân trên toàn miền cũng phải tổ chức lực lượng hành quân giải toả và thay quân vào những ngày tháng 4 và đầu tháng 5, để cuối cùng không chịu nổi sức ép trên chiến trường, quân Mỹ phải rút chạy vào giữa tháng 7, sau 5 tháng bị vây hãm.

Đứng trước những nhiệm vụ cách mạng hết sức cấp bách và nặng nề, ngày 20/12/1968 (kỷ niệm 8 năm ngày thành lập Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam), Hội Liên hiệp Thanh niên giải phóng miền Nam Việt Nam ra lời kêu gọi các tổ chức hội viên, toàn thể các hội viên và thanh niên:

"1. Hãy tích cực học tập, nhận rõ tình hình nhiệm vụ, thời cơ trước mắt, nhận rõ trách nhiệm của thanh niên trước lịch sử, ra sức rèn luyện lập trường tư tưởng, chiến đấu kiên định vì độc lập tự do, vì lý tưởng cách mạng cao đẹp, sẵn sàng xả thân vì nước, thề quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh!

2. Hãy đẩy mạnh đợt thi đua "Phất cao cờ 5 xung phong giành 4 nhất thắng Mỹ" đưa lên thành cao điểm từ nay đến 26/3/1969, biến phong trào 5 xung phong thành cao trào cách mạng sôi nổi trong thanh niên ở khắp các vùng bằng những hành động cụ thể như đăng ký tòng quân, tham gia dân quân du kích, gia nhập đội thanh niên xung phong, đi dân công, phục vụ chiến đấu, chống bắt lính... góp phần giành thắng lợi lớn trong thời gian tới, đồng thời chuẩn bị sẵn sàng đối phó với mọi tình huống.

3. Hãy tích cực nổi dậy tại chỗ, diệt ác, trừ gian, tổ chức chiến đấu chống càn, chống biệt kích, thanh niên ta quyết làm lực lượng xung kích bẻ gẫy cái gọi là kế hoạch "Bình định cấp tốc" gắn liền với kế hoạch "Phượng hoàng" của địch. Hãy đập nát cái gọi là tổ chức "phòng vệ dân sự", phá tan âm mưu bắt lính của giặc đồng thời tích cực kêu gọi binh sĩ ngụy trở về, quyết không để một thanh niên bị bắt đi lính làm bia đỡ đạn cho địch.

4. Hãy nỗ lực xây dựng hậu phương vững mạnh, thanh niên ta quyết góp phần tích cực vào xây dựng và bảo vệ chính quyền cách mạng, xây dựng đời sống lành mạnh.

5. Hãy ra sức củng cố Hội và mở rộng khối đoàn kết thanh niên, thu hút ngày càng đông các tầng lớp thanh niên tham gia chống Mỹ cứu nước, phát huy vai trò xung kích của thanh niên trong cao trào cách mạng hiện nay".

Thực hiện lời kêu gọi của Hội Liên hiệp Thanh niên giải phóng miền Nam và để xứng đáng với những chữ vàng do Mặt trận khen tặng: "Đoàn kết, xung phong, anh dũng, quyết thắng", thanh niên trong các lực lượng quân giải phóng, các đội TNXP đã nêu cao chủ nghĩa anh hùng cách mạng, quyết  chiến, quyết thắng giặc Mỹ và bè lũ tay sai. Thanh niên công nhân, lao động, học sinh, sinh viên các đô thị, thị xã, thị trấn, các vùng còn bị địch kiểm soát đã đóng vai trò là ngòi pháo nhạy bén trong các cuộc đấu tranh bền bỉ, quyết liệt và dai dẳng cho những quyền lợi dân sinh, dân chủ, đấu tranh chống bắt lính, nổi dậy diệt ác ôn, trừ gian, diệt địch ngay trong sào huyệt của chúng, giành quyền làm chủ về cho nhân dân. Thanh niên nông thôn phát huy khí thế đồng khởi, luôn đi đầu trong chiến đấu, sản xuất, xây dựng và bảo vệ hậu phương.

Nữ thanh niên cũng đã đóng góp rất to lớn, xứng đáng với danh hiệu "Bất khuất, trung hậu, đảm đang".

Giữa lúc quân dân và tuổi trẻ miền Nam đang phát huy những thắng lợi hết sức to lớn và toàn diện đã giành được thì Hồ Chủ tịch, vị lãnh tụ kính yêu của cả dân tộc không còn nữa.

Trong đợt thi đua "Học tập và làm theo di chúc của Bác Hồ", trên chiến trường Tây Nguyên, một du kích trẻ, mới 16 tuổi, chỉ với 3 viên đạn súng trường đã bắn rơi chiếc trực thăng chở tên tướng 3 sao Giôn Đinla, Tư lệnh công binh Mỹ tại chiến trường miền Nam và tên tướng 2 sao A Đam cùng đi. Đó là chiến sĩ du kích Puih Gio người làng Maih, xã Ia Rung (Chưpah - Gia Lai). Puil Giơ, sinh ra trong một gia đình có 5 anh em thì anh, chị và mẹ đã phải chết vì đói và bệnh tật. Cha bị địch bắt, bị chúng đánh thành tật. Ngày anh tham gia vào đội du kích, cha anh dặn: "Mày đi du kích đánh Mỹ, đánh ngụy phải đến cùng, không được bỏ về làng". Năm 11 tuổi, Giơ vào ở với bộ đội du kích địa phương, từng nhiều lần vào tận nơi bọn lính Mỹ trú quân, lân la làm quen với chúng, nắm tình hình mọi mặt bố phòng của địch, làm dấu vào từng ngón tay, số quân, số súng, hầm hào, hàng rào sắt, đường đi, bãi mìn... báo lại cho đội du kích chính xác đến từng chi tiết, đơn vị bố trí lực lượng đã đánh là thắng.

Liên tiếp thất bại trên các chiến trường trong chiến lược chiến tranh cục bộ, đế quốc Mỹ và tay sai buộc phải đến Paris ngồi vào bàn hội nghị đồng thời chủ trương chuyển hướng "Việt Nam hóa chiến tranh", ra sức bắt thanh niên đi lính, xây dựng lực lượng ngụy quân khá đông đảo, chúng ra sức bình định nông thôn, huy động 70% quân chủ lực hầu hết bảo an, dân vệ cùng hàng vạn cảnh sát dã chiến và trên 40 ngàn cán bộ bình định càn quét, đánh phá, chà đi xát lại các vùng đông dân với những biện pháp tàn bạo, thâm độc hơn hẳn bất cứ thời kỳ nào trước đây.

Đồng thời địch tăng cường xây dựng bộ máy kìm kẹp, vơ vét người, của nhằm giành và tạo cho được thế kiểm soát nhân dân nông thôn để khôi phục củng cố ngụy quân, ngụy quyền cơ sở, tăng cường hệ thống phòng thủ, bảo vệ an toàn cho các thành thị để đưa quân chủ lực ngụy cơ động ra phía trước thay thế dần cho quân Mỹ rút. Chúng triển khai chiến dịch "Phượng hoàng" để tiêu diệt cơ sở ta bằng mọi thủ đoạn thâm độc, ác hiểm ở cả thành thị lẫn nông thôn.

Với chiến lược "quét và giữ" ráo riết của Mỹ-ngụy, các cơ sở của Đoàn cũng như các cơ sở cách mạng của Đảng đứng trước nhiều khó khăn. Phần lớn căn cứ của cơ quan Tỉnh Đoàn, Huyện Đoàn bị đẩy lùi ra xa. Một bộ phận không nhỏ thanh niên phải rời bỏ đi nơi khác.

Bên cạnh những khó khăn chung, thanh niên ở các địa phương còn phải đối phó với kế hoạch bắt lính đôn quân tàn bạo của địch nhằm tăng cường quân ngụy thay dần cho quân Mỹ. Chúng coi đó là vấn đề cấp bách. Với bộ máy kìm kẹp gắt gao, chúng thúc ép, cưỡng bức thanh niên vào các tổ chức "phòng vệ dân sự", "nhân dân tự vệ". Thực hiện cái gọi là "tự phòng", ngụy quyền cố sức xây dựng một lực lượng hậu bị hơn 1 triệu người. Chúng chia tổ chức phòng vệ dân sự ra làm 3 loại: Số lớn tuổi, từ 40 trở lên, nếu chịu nộp mỗi tháng từ 500 đến 700 đồng thì được miễn canh gác, lứa tuổi thanh niên, thiếu niên chúng bắt tập quân sự, trang bị một số súng và lựu đạn (thường là súng xấu và đạn ít) bắt canh gác ở những nơi công cộng ban đêm. Chúng lựa một số thanh niên có sức khoẻ tổ chức thành lực lượng phòng vệ xung kích phiên chế thành từng toán (gọi là nhân dân tự vệ chiến đấu và nhân dân tự vệ nòng cốt) trang bị súng tốt và có nhiều đạn. Chúng cho số liên toán trưởng, liên toán phó luân phiên phòng vệ đi canh gác, phục kích, giữ đồn, cả dân vệ, bảo an. Sau này Mỹ-ngụy bắt buộc bộ máy kìm kẹp ở xã, ấp bắt lính mở các cuộc hành quân cảnh sát với lực lượng ít, kết hợp do thám chỉ điểm nơi thanh niên trốn để bắt êm. Đồng thời chúng lùng bắt táo bạo ở nơi có đông thanh niên, bao vây cả chùa chiền, thánh thất để bắt những thanh niên tu sĩ vào lính.

ở các vùng tôn giáo chúng lợi dụng danh nghĩa "bảo vệ đạo" để thu hút thanh niên vào các tổ chức bán vũ trang và các sắc lính làm nhiệm vụ tại địa phương để từng bước đôn quân.

ở thành thị, chúng đánh trượt học sinh qua các kỳ thi cử. Có nơi chúng đánh trượt tới 1/2 để bắt lính. Chúng còn lũng đoạn bọn tay sai ở các xí nghiệp sa thải công nhân, để chúng dễ bề đẩy vào lính.

Chưa bao giờ cuộc đấu tranh giành và giữ thanh niên lại trở nên quyết liệt như trong thời kỳ đế quốc Mỹ thực hiện chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh". Theo thống kê của Khu Đoàn miền Trung Nam Bộ, của tổ chức Đoàn, Hội Bắc Long An, của tỉnh Tây Ninh đã có 35.000 thanh niên đấu tranh chống bắt lính quyết liệt. Riêng các tỉnh Mỹ Tho, Kiến Phong, Kiến Tường, Long An, Bến Tre có 130.000 lượt thanh niên tham gia đấu tranh chống bắt lính bằng mọi hình thức. ở các địa phương khác đã có trên 30.000 lượt thanh niên chống bắt lính thắng lợi, đồng thời làm tan rã 35.000 phòng vệ dân sự.

Phong trào chống bắt lính lan rộng khắp nơi. Hình thức chống bắt lính ngày càng phong phú, thanh niên theo đạo Cao Đài ở Bến Tre đã tuyệt thực đấu tranh chống bắt lính. ở Mỹ Tho, thanh niên trong các khu tập trung khi địch bắt lính đã đấu tranh buộc địch phải thả hầu hết số anh chị em bị bắt. Có lúc địch dụ dỗ hàng ngàn thanh niên vào chùa Thầy Khanh để úp bộ bắt anh em vào lính. Được cán bộ Đoàn động viên, hướng dẫn, hàng trăm thanh niên đã tìm mọi cách rời bỏ chùa, nhờ đó thoát được âm mưu bắt lính của địch. Hình thức chống bắt lính cao nhất của thanh niên là tập hợp lại thành tổ chức có vũ trang để cùng nhau canh gác và tự vệ. Có nhiều xã anh em đã tự tổ chức thành từng tiểu đội, trung đội chống bắt lính, vừa tham gia sản xuất, vừa bố trí chiến đấu, sống chết có nhau, quyết không để cho địch bắt. Tháng 3/1972 ở tỉnh Kiến Phong đã xuất hiện một kiểu chống bắt lính bằng bạo lực của khoảng 200 thanh niên. Anh em tự tổ chức ra một khu trốn lính có bố phòng cẩn mật. Họ hùn tiền mua súng đạn để tự vệ. Địch cho quân đến càn, anh em đã chiến đấu suốt cả ngày, diệt gần 50 tên. Khi bọn trên quận biết tin cho thêm lính tăng viện, anh em lại tạo ngay thế hợp pháp đấu tranh trực diện với chúng.

Thanh niên trong các thành thị miền Nam, nhất là ở thành phố Sài Gòn đã kiên quyết đấu tranh chống chế độ quân sự hóa học đường của Mỹ - Ngụy. Cuộc đấu tranh kéo dài trong nhiều năm. Đến tháng 8/1970, các phòng quân sự ở các phân khoa đại học Cần Thơ, Huế, Đà Lạt, Sài Gòn đã bị thanh niên học sinh các trường đốt sạch. Cuối tháng 8 năm đó, sinh viên Phạm Hạnh bị chết ở quân trường Quang Trung, sinh viên đã biến đám tang anh thành cuộc biểu tình với khẩu hiệu: "Chương trình quân sự hóa học đường là âm mưu khát máu của đế quốc Mỹ" và "Mỹ cút, ngụy nhào, quân sự học đường dẹp"... 1700 học sinh, sinh viên đã xô xát với một tiểu đoàn lính ngụy canh giữ quân trường để đưa tang anh Hạnh.

Phong trào đòi "tự trị đại học" chống "quân sự hóa học đường" của học sinh, sinh viên ngày càng phát triển. Nhiều cuộc biểu tình bằng xe máy, tán phát hàng vạn truyền đơn, liên tục nổ ra. Địch đàn áp, bắt nhiều sinh viên lãnh đạo phong trào như các anh Nguyễn Ngọc Phương, Trần Khiêm, Dương Văn Đầy, Nguyễn Tấn Tài... Ngày 11/3/1970, chúng bắt anh Huỳnh Tấn Mẫn, Chủ tịch Tổng hội Sinh viên Sài Gòn. Phong trào đấu tranh đòi thả sinh viên, học  sinh bị bắt nổ ra rầm rộ. Một đoàn các giáo sư và dân biểu quốc hội của chế độ ngụy đã vào nhà tù thăm học sinh, sinh viên bị bắt, sau đó công bố rộng rãi trên báo chí bằng chứng cụ thể về bọn mật vụ, công an đã dùng nhục hình tra tấn 41 học sinh vừa bị bắt. Bãi khoá liên tiếp nổ ra ở các trường đại học, trung học. Số học sinh, sinh viên Sài Gòn tham gia lên tới 6 vạn người.

Thanh niên, học sinh, sinh viên còn sáng tạo ra nhiều hình thức đấu tranh gây ấn tượng mạnh. Trong đó có phong trào "Hát cho đồng bào tôi nghe, nghe đồng bào tôi nói", không chỉ tác động mạnh trong các giới đồng bào ở Sài Gòn mà đã lan rộng ra nhiều thành phố và vùng nông thôn rộng lớn.

Trên chiến trường miền Nam, cùng với việc đánh bại những cuộc hành quân ngăn chặn của địch ở phía trước, tuổi trẻ cùng quân và dân các địa phương tiếp tục bao vây dài ngày, tiêu diệt hàng loạt căn cứ quan trọng của địch ở các khu giáp ranh vùng đồng bằng và ven đô thị như Đắc Xiêng (Bắc Kon Tum), Cốc Bài, Đá Bàn (Tây Trị Thiên). Tại thành phố Huế, quân ta vây và tiêu diệt địch ở điểm cao 935. Tại Quảng Nam, quân ta buộc địch rút ở Hiệp Đức, loại hơn 4.100 tên, có 200 tên Mỹ, 159 máy bay, 59 xe tăng, xe bọc thép bị phá huỷ.

Trong chiến đấu, tuổi trẻ miền Nam tỏ rõ tài trí và tinh thần quả cảm đánh địch nhiều trận hết sức độc đáo. Trường hợp của đội An ninh vũ trang tỉnh Mỹ Tho chiến đấu trong điều kiện không cân sức để bảo vệ căn cứ Tỉnh uỷ ở Long Tiên khi bất ngờ bị lực lượng lớn địch tấn công là một trận đánh khá táo bạo. Lực lượng chênh lệch 1 phải chọi với 50, không thể đối mặt chặn đánh địch, các chiến sĩ trẻ trong đơn vị, trong đó có Ba Điện (sau này là Anh hùng Lực lượng vũ trang) và Tư Bốn (tức Anh hùng Lực lượng vũ trang Nguyễn Việt Thành hiện nay) đã lựa chọn một phương pháp đánh địch chưa từng có tiền lệ trong chiến tranh hiện đại, nhưng lại phù hợp với điều kiện tác chiến để bảo vệ căn cứ khi địch đông gấp bội. Cách đánh độc đáo đó là chỉ đánh bằng lựu đạn; lựu đạn cài ở "bãi chết", lựu đạn được phóng tới mục tiêu bằng giàn thun... Kẻ địch không tài nào phán đoán được hướng tấn công của đối phương, càng không thể nắm được lực lượng của đội an ninh vũ trang. Trong khi chỉ với những vạch làm điểm chuẩn dưới cân và nút áo của người kẹp lựu đạn (chủ yếu là do Tư Bốn đảm trách) các chiến sĩ an ninh vũ trang được một chiến sĩ ngồi trên cây cao rậm rạp "chấm toạ độ", cũng có thể cho lựu đạn nổ chụp hoặc phang thẳng vào đội hình địch, gây sát thương cho chúng trên diện rộng. Địch tìm cách đối phó. Nhưng vỏ quýt dày có móng tay nhọn. Với phương châm "lấy của địch đánh địch", các chiến sĩ của ta đã xoay hướng trái gài mìn Playmore của địch. Sáng ra chúng tới chỗ cũ gỡ mìn thì mìn nổ. Thế là gậy ông lại đập lưng ông.

Nam thanh niên chiến đấu thông minh, tài trí. Nhiều nữ thanh niên chiến đấu trong vòng vây của địch cũng tỏ rõ phẩm chất của mình, chiến đấu ngoan cường, dũng cảm. Dương Thị Lệ tham gia đội du kích của xã được cử làm xã đội phó, kiêm nhiệm vụ y tá của đội. Với túi đồ nghề và khẩu carbine trong tay, Lệ đã cùng đội du kích dũng cảm đánh bật nhiều đợt tấn công của địch. Chúng không tiến nổi phải bung ra đồng trống. Chớp thời cơ, Dương Thị Lệ đã cầm cờ lao lên thúc giục toàn đội xung phong rượt địch, tiêu diệt nhiều tên. Bọn địch hoảng sợ phải bỏ dở cuộc càn chạy về lộ 4. Sau này, Dương Thị Lệ đã được tuyên dương Anh hùng Lực lượng vũ trang.

Tiêu biểu là người con gái anh hùng Lê Thị Hồng Gấm. Chị lớn lên trên vành đai diệt Mỹ ở Bình Đức (một tên khác của căn cứ Đồng Tâm - Mỹ Tho), Lê Thị Hồng Gấm đã từng chứng kiến nhiều cảnh dã man, tàn bạo của địch đối với đồng bào, đồng chí mình. Gấm đã tình nguyện gia lập lực lượng du kích ở địa phương, thường xuyên đứng chân trên vành đai, chiến đấu nhiều trận, diệt 20 tên địch (cả Mỹ, ngụy). Ngày 18/4/1970, Lê Thị Hồng Gấm được lệnh dẫn một số cán bộ đi nghiên cứu tình hình. Chuẩn bị vượt qua một khoảng đồng trống, bất ngờ gặp lực lượng địch đi càn. Với quyết tâm bảo vệ cán bộ, một mình một súng, Gấm đã đánh trả bọn địch đông gấp nhiều lần, diệt nhiều tên và bắn bị thương một máy bay lên thẳng của chúng và chị đã hy sinh anh dũng. Năm 1971, chị đã được Hội đồng Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam tuyên dương là Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng miền Nam.

Cùng với đòn tiến công quân sự, hàng triệu lượt đồng bào và thanh niên đã nổi dậy giành chính quyền làm chủ. Sáu tháng đầu năm 1970 hơn 5 triệu lượt đồng bào và tuổi trẻ đồng bằng sông Cửu Long đã nổi dậy giành quyền làm chủ ở nhiều vùng. ở Trung Trung Bộ có hơn 80 vạn thanh niên cùng nhân dân nổi dậy, làm tan rã hơn 40.000 tên trong bộ máy ngụy quyền tay sai, giải phóng thêm 270.000 người. Trong ngày lễ Phật Đản năm 1970 có tới 25 vạn đồng bào phật tử ở Sài Gòn, Huế, Đà Nẵng... xuống đường đòi hòa bình, chấm dứt chiến tranh xâm lược, lên án Mỹ - ngụy giết hại Việt kiều ở Campuchia. Phối hợp với các cuộc đấu tranh trên, hơn 70.000 công nhân, thuộc 118 nghiệp đoàn Sài Gòn đã bãi công. Tiếp đó, 100.000 công nhân Sài Gòn - Chợ Lớn lại bãi công đòi quyền dân sinh, dân chủ, đòi Mỹ cút về nước.

Năm 1971, trên chiến trường miền Nam tuổi trẻ góp phần đánh bại các cuộc hành quân lớn của địch như: Lam Sơn 719 và cuộc hành quân ra vùng 3 biên giới. Trong đó cuộc hành quân Lam Sơn 719 đánh vào khu vực đường 9 Nam Lào là cuộc hành quân điển hình của chiến lược Việt Nam hóa. Tiếp sức cho cuộc hành quân của chúng còn có các lực lượng quân ngụy Viêng Chăn và lính đánh thuê Thái Lan từ căn cứ Xênô và Pắc xế đánh vào phía Tây đường số 9 và cao nguyên Bôlôven.

Sau nhiều trận đánh phủ đầu quyết liệt vào những căn cứ bàn đạp của địch ở Khe Sanh, Đông Hà, Lao Bảo (Bắc Quảng Trị), ngày 8/2/1971, phối hợp cùng quân và dân Lào, các chiến sĩ ta đã dũng mãnh xông lên đánh chiếm Sêpôn, cứ điểm xung yếu của địch ở Nam Lào. Tiếp đó đánh các cứ điểm Phu Lan, Nậm Lực, La Tương, Cha Ky. Cuộc bao vây đánh chiếm bản Đông của  quân ta bắt đầu từ ngày 13/3, các chiến sĩ trẻ, phần lớn trưởng thành từ phong trào "Ba sẵn sàng", trải qua thử thách ác liệt của chiến trường, tỏ ra hết sức vững vàng và có nhiều mưu trí sáng tạo trong cách đánh địch ở cứ điểm, cũng như đánh địch đến ứng cứu. Sau 5 ngày chiến đấu quyết liệt, ta đã buộc địch rút chạy khỏi cứ điểm và đến ngày 20/3 địch hoàn toàn bị tiêu diệt, phá tan âm mưu của chúng, hòng ngăn chặn sự chi viện của hậu phương lớn cho tiền tuyến lớn qua đường Hồ Chí Minh. Đường Hồ Chí Minh vẫn do ta làm chủ. Trong năm 1971, Bộ Tư lệnh 559 vẫn chỉ huy việc vận chuyển hàng ra tiền tuyến đảm bảo từ 95 đến 100% kế hoạch. Riêng tháng 2/1971 đã vận chuyển được 13.608 tấn, đạt 91% kế hoạch.

Năm 1972, tiếp tục thế tiến công, quân và dân ta đẩy địch ngày càng lún sâu vào thế bị động phòng ngự, và từ cuối tháng 3 mở cuộc tiến công chiến lược đập nát một trong 3 tuyến phòng ngự kiên cố của địch ở đường số 9, giải phóng hoàn toàn 2 huyện Gio Linh và Cam Lộ, tiếp tục bao vây uy hiếp địch ở Đông Hà, ái Tử, La Vang, thị xã Quảng Trị, vây ép thành phố Huế dài ngày. Ngày 24/4 mở đợt tiến công quyết định ở các vị trí này. Tuổi trẻ và đồng bào ở hai huyện Hải Lăng, Triệu Phong và dọc đường số 1 đã nổi dậy đồng loạt làm tan rã hệ thống kìm kẹp của địch.

Với lối đánh thọc sâu dũng mãnh, các chiến sĩ trẻ trên mặt trận Quảng Trị đã đập nát hệ thống phòng ngự mạnh nhất của địch ở ái Tử, La Vang, Tích Tường. Đinh Văn Hoè người chiến sĩ trẻ, trở thành ngọn cờ chiến đấu xuất sắc cùng đơn vị đánh địch suốt dọc đường 9, qua vùng đồng bằng Hải Lăng, tiến vào tuyến sông Mỹ Chánh. Một mình Hoè sử dụng thành thạo 6 loại súng của ta, 3 loại súng lấy được của địch, bắn gục 4 máy bay Mỹ, thiêu cháy xe bọc thép, bắt sống M113 của địch. Đinh Văn Hoè thường nói: "Được làm chiến sĩ thọc sâu là vui sướng nhất". Anh đã bám địch đến cùng, hễ ở đâu có địch là anh xốc tới. Noi gương Hoè, các chiến sĩ trẻ trong đơn vị do chính trị viên Đống chỉ huy đã chiến đấu quyết liệt không cho địch co cụm lại ở Tri Bưu, cản đường tiến của quân ta vào thị xã Quảng Trị. Quyết, Duy, rồi Sâm, Vi, Lộc... những thanh niên rất trẻ xông xáo, dũng mãnh như những mũi dao sắc nhọn đánh chiếm từng bờ tường trong một khu nhà thờ hai tầng cạnh nhà thờ Tri Bưu, quét sạch địch ra khỏi hang ổ, bắn cháy cả máy bay địch đến chi viện cho đồng bọn.

Đến ngày 2/5/1972, quân ta đã chọc thủng tuyến phòng thủ, đuổi địch về phía bờ Nam sông Mỹ Chánh, giải phóng hoàn toàn tỉnh Quảng Trị và 3 xã thuộc huyện Hương Điền, Thừa Thiên. Tháng 6/1972, tiếp tục truy kích địch ở phía Tây sông Mỹ Chánh và phía Nam sông Hương, tiếp tục vây ép thành phố Huế. Đến ngày 26/6, chiến dịch Trị Thiên thắng lợi, ta tiêu diệt 24.070 tên địch, bắt sống 3358 tên, phá huỷ 636 xe, bắn rơi 340 máy bay các loại, loại khỏi vòng chiến đấu sư đoàn bộ binh số 3 và đánh thiệt hại nặng sư đoàn lính thuỷ đánh bộ của địch.

Bị thua đau, bè lũ Mỹ - ngụy liều lĩnh mở cuộc hành quân Lam Sơn 72 hòng giành lại những vùng đất đã mất. Chúng huy động tới 2 sư đoàn quân dự bị chiến lược và một lực lượng lớn quân biệt động ngụy cùng với trang bị mới vào trận, có không quân và hải quân Mỹ yểm trợ tới mức tối đa. Cuộc chiến đấu kéo dài suốt 82 ngày đêm làm cho quân địch ngày càng sa lầy trong thế thất bại. Một lực lượng lớn quân dự bị chiến lược bị giam chân và bị tiêu hao dần. Các chiến sĩ ta càng đánh càng tỏ ra ngoan cường. Trong đó nổi bật là cuộc chiến đấu của các chiến sĩ trẻ trong thành phố Quảng Trị, được coi là bản anh hùng ca chói ngời chiến công. Trong những điều kiện chiến đấu cực kỳ ác liệt, trên trời máy bay B52 rải thảm, dưới đất pháo bầy, pháo chụp tới tấp dội bão lửa, các chiến sĩ trẻ đã bám trụ từng ụ đất, từng bờ thành, kiên cường chiến đấu, thể hiện phẩm chất cách mạng tuyệt vời của mình. Vũ Trung Thướng cùng đơn vị của anh đã trở thành niềm tự hào, niềm tin tưởng mãnh liệt cho đồng đội khi mỗi chiến sĩ ở đây dũng mãnh giữ một hướng tiến công, sử dụng thành thạo 6 loại vũ khí. Với tinh thần "mỗi chiến sĩ là một Lê Mã Lương", từng chiến sĩ trên trận địa đã dám chọi với hàng trăm địch. Linh hồn của những trận chiến đấu ngoan cường ấy là chính trị viên trẻ tuổi Vũ Trung Thướng và các chiến sĩ trẻ Tăng Bá Bình, Tạ Đình Giong, v.v... Nói về trận địa thép ấy, xã luận báo Quân đội Nhân dân viết: "Đơn vị Vũ Trung Thướng tiêu biểu cho tinh thần cách mạng tiến công của các chiến sĩ quân giải phóng trong thời kỳ chiến đấu mới".

Cùng với Vũ Trung Thướng, trên nhiều hướng tiến công, các chiến sĩ trẻ trong các đơn vị đều tỏ rõ tinh thần kiên cường bám trụ đánh địch trong mọi tình huống, 25 chiến sĩ trẻ trong một ngày đánh lui 10 đợt phản kích của 2 tiểu đoàn địch. Các chiến sĩ trinh sát Hồng và Ba luồn sâu vào sau lưng địch bám trụ trong những địa hình phức tạp, theo dõi địch, làm tai mắt cho pháo binh bắn chính xác vào mục tiêu địch. Chiến sĩ thông tin Mai Ngọc Thoảng, giữ vững đường dây liên lạc dưới mưa bom bão đạn suốt 48 ngày đêm. Có những lần đường dây thông tin bị đánh đứt, dưới làn đạn địch, không kịp nối, anh dùng răng cắn chặt 2 đầu dây cho tín hiệu đi qua, kịp thời phục vụ chỉ huy chiến đấu.

Trong thế tiến công mạnh mẽ trên toàn chiến trường miền Nam, tuổi trẻ quân đội đã lập công xuất sắc, góp phần tiêu diệt những đơn vị chủ lực lớn của địch trong một thời gian ngắn, 8 trong số 13 sư đoàn của ngụy Sài Gòn đã bị loại khỏi vòng chiến đấu hoặc bị đánh thiệt hại nặng. Nhiều vùng đất đai rộng lớn được giải phóng, ở Quảng Trị, Đắc Tô, Bình Định, Bình Phước…

Trước tình hình vùng giải phóng ngày càng được mở rộng, giữa năm 1972, Trung ương Đảng đã ra Chỉ thị về những công tác trước mắt nhằm củng cố các vùng giải phóng và đề ra nhiệm vụ cụ thể để đẩy mạnh phong trào cách mạng trong quần chúng.

Quán triệt quan điểm của Đảng về xây dựng cơ sở chính trị, kinh tế trong các vùng mới giải phóng, Đoàn Thanh niên Nhân dân cách mạng và Hội Liên hiệp Thanh niên giải phóng miền Nam đã chủ trương chỉ đạo một trong 5 nội dung của phong trào "Năm xung phong" là "xung phong sản xuất nông nghiệp trong nông hội" và nhấn mạnh "Phải xung phong đẩy mạnh sản xuất nông nghiệp hơn nữa ở các vùng giải phóng để xây dựng một lực lượng dự trữ dồi dào cho kháng chiến, để đồng bào từ các vùng bị địch kìm kẹp trở về có đủ lương thực". Để cụ thể hóa nhiệm vụ "xung phong sản xuất và thực hành tiết kiệm trong thanh niên nông thôn", thường xuyên chỉ đạo các cấp quan tâm, động viên tổ chức đoàn viên và thanh niên đẩy mạnh sản xuất trong mọi tình huống, ngay cả ở những vùng địch tiến hành gom bắt dân ác liệt. Bằng mọi hình thức đấu tranh chính trị và vũ trang khởi nghĩa, đoàn viên, hội viên và thanh niên đã cùng bà con cô bác bung ra, trở về quê cũ làm ăn theo cách "lúc đầu bung ra gần, dần dần bung ra xa". Nhiều nơi đoàn viên và thanh niên với tinh thần "năm xung phong", thanh niên đã thật sự làm nòng cốt trong việc khai hoang, phục hóa và áp dụng một số biện pháp kỹ thuật canh tác tiên tiến như thay giống lúa dài ngày bằng giống lúa ngắn ngày, bón phân, tưới tiêu hợp lý. Kẻ địch dùng kế mị dân, đưa nhiều biện pháp canh tác tiên tiến áp dụng vào đồng ruộng nhằm thâm canh tăng năng suất cây trồng. Đoàn viên và thanh niên nhiều địa phương đã biết lợi dụng cơ hội thuận lợi đi đầu sử dụng những giống lúa mới có năng suất cao đưa về áp dụng ở nông thôn và mạnh dạn vận dụng những biện pháp kỹ thuật canh tác tiên tiến làm cho sản xuất ngày càng đạt hiệu quả cao. ở Mỹ Tho, thanh niên các cơ sở, nhất là những nơi bom đạn  ác liệt, xung quanh các căn cứ địch đã lợi dụng các hình thức hợp pháp để tổ chức sản xuất. ở các vùng giặc đánh phá có tính huỷ diệt, muốn biến thành đồng hoang nhà trống... thanh niên đều xung phong đến sản xuất. Họ theo dõi chặt quy luật đánh phá của địch, tổ chức canh gác, bảo vệ, để bám đồng ruộng gieo mạ, làm cỏ, bón phân. Có xã địch thường xuyên cho máy bay phá nương rẫy, cho biệt kích lén lút bắt cóc và bắn bừa bãi vào nhân dân, một số  bà con không dám ra nương rẫy sản xuất. Thanh niên đã cùng với lực lượng du kích tăng cường tuần tra, canh gác, gương mẫu đi sản xuất trước để lôi kéo bà con. Nơi nào có đoàn viên, hội viên, thanh niên đi làm thì nhân dân cùng đến làm. Xóm 4, một xóm rộng khoảng 5km2 thuộc vùng trọng điểm bình định của địch, thường xuyên bị địch bắn phá ác liệt. Số bom địch ném xuống gấp 4, 5 lần số dân. Nhưng nhờ có ruộng đất được chia và có thanh niên đi đầu góp phần đẩy mạnh tăng gia sản xuất và chăn nuôi nên nhà nào cũng no đủ. Có nơi thanh niên còn đi đầu trong việc tổ chức làm ăn tập thể trong các tổ vần công, đổi công, tổ chức làm những thí nghiệm thâm canh cây trồng, vật nuôi.

Phong trào "Xung phong sản xuất nông nghiệp trong nông hội" đặc biệt sôi nổi ở các vùng giải phóng. Với ý thức sản xuất thêm một hạt thóc là góp phần chống Mỹ cứu nước, đoàn viên, hội viên và thanh niên cùng bà con nông dân, mà số đông là chị em nữ thanh niên đã xung phong gánh vác mọi công việc đồng áng và quản lý gia đình để chồng, con em rảnh rang lên đường đi chiến đấu. Thanh niên đã tổ chức bám ruộng vườn vừa sản xuất, vừa chống giặc, đào hầm hào khắp trong thôn xóm và cả trên đồng ruộng để chiến đấu khi địch càn đến, để bảo vệ người và gia súc. Diện tích cày cấy ngày một tăng lên. Có các biện pháp kỹ thuật tiên tiến được thanh niên học tập đem về áp dụng và vận động bà con cùng làm, nên năng suất lúa tăng lên rõ rệt.

Về chăn nuôi, số lợn, gà vịt ở nhiều nơi cũng đã tăng lên từ 2 đến 4 lần. Ngoài ra, được Mặt trận khuyến khích, giúp đỡ, các ngành nghề khác như đánh cá, làm muối, nước mắm, lò rèn v.v... cũng được phát triển.

Các mặt y tế, giáo dục, văn hóa văn nghệ trong các vùng giải phóng được đoàn viên và thanh niên tích cực tham gia. Nhân kỷ niệm ngày thành lập Đoàn, nhiều tổ chức cơ sở Đoàn đã nhận những công trình mang tên 26/3, như xây dựng trường học, nhà trẻ, trạm y tế... Bộ mặt của nông thôn vùng giải phóng ngày càng mang dáng nét mới khác hẳn những "ấp tân sinh", "ấp đời mới" ở giữa vùng Mỹ-ngụy còn tạm kiểm soát.

Được sự hướng dẫn của Hội Liên hiệp Thanh niên giải phóng, thanh niên là lực lượng nòng cốt tham gia củng cố chính quyền cách mạng ở vùng mới giải phóng, xây dựng lực lượng vũ trang và an ninh địa phương. ở các tỉnh Mỹ Tho, Gò Công (nay là Tiền Giang) đã có hơn 8000 thanh niên từ vùng gom dân của địch trở về vùng giải phóng và tích cực tham gia phong trào thanh niên. Nhiều nơi trước kia đội du kích thiếu và yếu, nhưng qua những đợt hoạt động trong năm 1972, lực lượng được tăng cường, có khả năng độc lập tác chiến như các đội du kích ở Tân Hội, Mỹ Hạnh Đông v.v... Riêng khu V, năm 1972 đã có 24.476 thanh niên tòng quân, gấp 4 lần năm 1969, 5 lần năm 1970. Nhiều cán bộ còn thâm nhập vào các "túi" thanh niên trốn lính ở Toà thánh Tây Ninh, các thánh thất Cao Đài, các chùa Hoà Hảo, cù lao Đạo Dừa... để vận động thanh niên trở về. ở khu 9 năm 1972 đã vận động được 15.982 người bị địch bắt quay về tham gia công tác cách mạng và có 10.183 thanh niên tòng quân, trong đó có nhiều thanh niên ta vừa giành giật được từ tay địch.

*
*   *

Hiệp định Pari về Việt Nam được ký kết (1/1973), đế quốc Mỹ buộc phải rút hết quân Mỹ và quân chư hầu ra khỏi miền Nam Việt Nam, cam kết tôn trọng các quyền dân tộc cơ bản của nhân dân Việt Nam là độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ; cam kết tôn trọng quyền tự quyết của nhân dân miền Nam Việt Nam, chấm dứt sự dính líu quân sự và can thiệp vào nội bộ miền Nam Việt Nam. Nhưng với bản chất hiếu chiến và xâm lược, đế quốc Mỹ vẫn không chịu từ bỏ chính sách cơ bản của chúng ở Việt Nam là thực hiện "học thuyết Nichxon", áp đặt chủ nghĩa thực dân mới, âm mưu chia cắt lâu dài nước ta. Trước khi rút quân, đế quốc Mỹ đã đưa thêm vào miền Nam nước ta 700 máy bay các loại, 500 khẩu pháo, 400 xe tăng, xe bọc thép các loại, nhiều tàu chiến và tăng cường dự trữ vật tư chiến tranh lên mức cao nhất tới gần 2 triệu tấn. Sau khi rút quân, đế quốc Mỹ còn duy trì một lực lượng mà chúng gọi là "lực lượng răn đe" ở Đông Nam á gồm không quân, hải quân, hàng loạt nhân viên quân sự Mỹ đội lốt dân sự được để lại ở miền Nam nước ta.

Được đế quốc Mỹ hà hơi tiếp sức, Hiệp định Pari vừa ký chưa ráo mực, Nguyễn Văn Thiệu đã hò hét "tràn ngập lãnh thổ", tập trung lực lượng thực hiện các "kế hoạch bình định 3 năm 1973-1975", "kế hoạch bình định 6 tháng", "kế hoạch quân sự Lý Thường Kiệt", "kế hoạch xây dựng quân đội 1974 - 1979" v.v... Riêng trong năm 1973, Mỹ - Thiệu đã tổ chức vây bắt 240.000 thanh niên đưa vào các sắc lính, thực hiện đôn quân một cách trắng trợn, và đến cuối năm, lực lượng quân ngụy đã lên tới trên 700.000 tên, cộng với 1.500.000 tên trong lực lượng địa phương, bảo an, phòng vệ dân sự có vũ trang. Chúng hò hét "bắn bỏ" tất cả những ai đấu tranh đòi thi hành Hiệp định Pari, đòi dân sinh, dân chủ... Hàng vạn người yêu nước, mong muốn hòa bình bị chúng bắt vào tù sau ngày Hiệp định Pari được ký kết, chưa kể số 200.000 tù chính trị và 15.000 tù quân sự bị chúng giam giữ trái phép không chịu trao cho Chính phủ cách mạng lâm thời miền Nam Việt Nam như Hiệp định dã quy định.

Với thủ đoạn nham hiểm không cho đối phương kịp trở tay, khi các đại biểu của Mỹ - Thiệu vừa bước ra khỏi phòng họp ở phố Klê-be (Pari) thì ở miền Nam chúng tung ra một lực lượng đánh phá điên cuồng các căn cứ "lõm" của ta trong vùng chúng kiểm soát, lấn chiếm các vùng đã được giải phóng trước khi ký Hiệp định. Chỉ trong 11 tháng của năm 1973, địch đã sử dụng 60% quân chủ lực và toàn bộ lực lượng vũ trang địa phương mở trên 360.000 cuộc hành quân lớn, nhỏ lấn chiếm và tiến công với lực lượng lớn vào các vùng giải phóng của ta như Sa Huỳnh, Bắc Kon Tum, Chư Nghé, Kiên Đức, Quảng Đức, Mỹ Tho, Chương Thiện, núi Dài, Tri Tôn v.v... mọi hành động đánh phá điên cuồng của chúng đều nhằm xoá bỏ trạng thái hai vùng, hai quân đội, hai chính quyền, biến miền Nam thành một vùng do chúng tự do kiểm soát, kìm kẹp, thống trị.

Ngày 30/01/1973, ủy ban TW Hội LHTN Việt Nam đã họp phiên đặc biệt nghe báo cáo về kết quả cuộc đàm phán tại Pari và nghiên cứu lời kêu gọi của Ban Chấp hành TW Đảng Lao động Việt Nam và Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, lời kêu gọi của Chính phủ cách mạng lâm thời cộng hòa miền Nam Việt Nam trước thắng lợi cực kỳ oanh liệt của dân tộc ta, mở ra một giai đoạn phát triển mới của cách mạng Việt Nam.

Tháng 7/1973, Đại hội Đại biểu Đoàn Thanh niên Nhân dân Cách mạng lần thứ II và sau đó là Hội nghị Ban Chấp hành Hội Liên hiệp Thanh niên giải phóng đã được tiến hành tại vùng căn cứ Tây Ninh. Tại Đại hội, Đảng Nhân dân Cách mạng Việt Nam đã trao cho tổ chức Đoàn, tổ chức Đội và phong trào thanh niên 2 lá cờ thêu dòng chữ: "Thế hệ anh hùng, thắng Mỹ vẻ vang, thanh niên anh dũng tiến lên" và "Phát huy truyền thống dân tộc anh hùng, tiếp tục sự nghiệp của Bác Hồ vĩ đại, thiếu niên hãy sẵn sàng". Đại hội đã tập trung trí tuệ đánh giá công tác tổ chức chỉ đạo phong trào "Năm xung phong" trong toàn miền và quyết định chuyển phong trào "Năm xung phong" thành phong trào "Ba xung phong giành giữ hòa bình", bao gồm:

- Xung phong đấu tranh chính trị.
- Xung phong tham gia xây dựng lực lượng vũ trang.
- Xung phong xây dựng vùng giải phóng và căn cứ địa cách mạng.

Đồng chí Phan Minh Tánh được bầu làm Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đoàn.

Nhận rõ bản chất của kẻ địch, Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khoá III) trong Hội nghị lần thứ 21, tháng 10/1973 đã chỉ ra rằng: "Con đường cách mạng của miền Nam là con đường bạo lực cách mạng. Bất kể trong tình hình nào, ta cũng phải nắm vững thời cơ, giữ vững đường lối chiến lược tiến công và chỉ đạo linh hoạt để đưa cách mạng miền Nam tiến lên. Phát triển thực lực của cách mạng là yêu cầu vừa bức thiết vừa cơ bản trong giai đoạn mới".

Thực hiện quyết tâm của Đảng, ý thức đầy đủ trách nhiệm của thế hệ trẻ trước vận mệnh của Tổ quốc, hàng chục triệu đoàn viên, hội viên và thanh niên trong cả nước đã siết chặt hàng ngũ thực hiện sứ mệnh lịch sử là đội quân xung kích cách mạng trên mọi trận tuyến, chiến đấu và xây dựng, cùng toàn Đảng, toàn quân, toàn dân bước vào giai đoạn chuẩn bị với quy mô chưa từng có, nhằm đưa sự nghiệp cách mạng lâu dài và gian khổ của nhân dân ta đến thắng lợi hoàn toàn.

Từ đầu năm 1974, cùng với việc phản công làm thất bại kế hoạch "bình định", "tràn ngập lãnh thổ" của địch, mở rộng thêm nhiều vùng giải phóng, đặc biệt giải phóng hoàn toàn tỉnh Phước Long, dồn địch vào thế bị động, lúng túng... hàng chục vạn đoàn viên và thanh niên đã hăng hái gia nhập quân đội góp phần nhanh chóng xây dựng các binh đoàn chủ lực có đủ các binh chủng kỹ thuật, là bước trưởng thành mới của quân đội nhân dân Việt Nam, đáp ứng đòi hỏi của cuộc chiến đấu trong giai đoạn mới. Pháo cơ giới tầm xa, tên lửa và những xe tăng loại tốt lần đầu tiên có mặt trên các chiến trường Nam Bộ.

Công việc chuẩn bị cho trận quyết chiến chiến lược ngày càng hết sức khẩn trương. Với quyết tâm "Tranh thủ từng giờ mở thêm đường mới", 35.000 đoàn viên, hội viên và thanh niên trong lực lượng TNXP chống Mỹ, cứu nước (nhiệm kỳ 3) cùng với các chiến sĩ binh đoàn Trường Sơn đã lao động quên mình mở thêm hàng ngàn ki-lô-mét đường. Con đường chiến lược Đông Trường Sơn được mở ra những năm trước được nâng cấp nối liền đường 9 Quảng Trị vào đến miền Đông Nam Bộ. Đến đầu năm 1975, tổng số chiều dài đường chiến lược và chiến dịch lên đến trên 20.000 km. Chiến công mở đường của tuổi trẻ đã được Ban Chấp hành Trung ương Đảng khen ngợi.

Dọc theo đường chiến lược Đông Trường Sơn còn có hệ thống 5.000 km đường ống dẫn dầu kéo dài từ Quảng Trị qua Tây Nguyên tới Lộc Ninh, đủ sức tiếp tế xăng dầu cho hàng chục nghìn xe các loại vào ra trên đường. Các chiến sĩ thông tin trẻ tuổi cũng góp phần to lớn kéo dài đường dây thông tin hữu tuyến từ Hà Nội tới Lộc Ninh đảm bảo trong bất kỳ tình huống nào cũng có thể truyền đạt được Chỉ thị của Trung ương đến mọi chiến trường.

ở các địa phương trên chiến trường miền Nam tình hình có những chuyển  biến mau lẹ. Nhiều cuộc đấu tranh của thanh niên học sinh, sinh viên nổ ra thu hút nhiều tầng lớp nhân dân cùng tham gia. Ngày 16/3/1974 hàng ngàn học sinh, sinh viên cùng lực lượng trí thức, nhân sĩ, tôn giáo bất ngờ tập trung tại chợ Bến Thành, rải truyền đơn đòi trả tự do cho sinh viên Huỳnh Tấn Mẫm, Tổng thư ký Tổng hội Sinh viên Sài Gòn và tù chính trị đang bị giam giữ. Ngày 25/8/1974 các tầng lớp thanh niên Sài Gòn lại tổ chức tưởng niệm nữ sinh Quách Thị Trang, thu hút cả nhiều dân biểu và trí thức cùng tham dự, sau đó tuần hành qua các phố lớn. Ngày lễ Noen 24/12/1974, 11.000 sinh viên công giáo tập hợp trong "Uỷ ban hành động cho công bằng xã hội" tổ chức mít tinh tại nhà thờ dòng Chúa Cứu thế và nhà thờ Vườn Xoài, chống bắt sinh viên đi lính.

Nhiều vùng giải phóng được mở rộng. ở những nơi này đã xuất hiện lực lượng "thanh niên bảo vệ vùng giải phóng" được trang bị vũ khí vừa làm nhiệm vụ đánh địch, vừa đảm bảo an ninh trật tự cho nhân dân. Tổ chức Đoàn, Hội ở nhiều địa phương được củng cố và phát triển. ở Nam Bộ đến tháng 12/1974 chỉ còn từ 18-20% ấp "trắng" chưa có đoàn viên, hội viên (2000 ấp trong tổng số 11.000 ấp). Tây Nam Bộ có 2025 ấp thì có 1490 ấp có tổ chức Đoàn, Hội chiếm 73%.

Các cơ sở Đoàn, Hội có nhiều hoạt động thiết thực chuẩn bị đón nhận thời cơ chiến lược. Đáng chú ý là phong trào tòng quân, đi dân công phục vụ chiến trường đã diễn ra sôi nổi ở hầu khắp các địa phương. Cuối năm 1973, riêng Củ Chi đã có trên 3000 thanh niên tòng quân. ở Mỹ Tho - Gò Công, những ngày cao điểm có từ 3000 đến 5000 lượt thanh niên tham gia phục vụ chiến đấu. Riêng tháng 4/1975, có trên 40.000 lượt thanh niên trong tỉnh đi dân công phục vụ trên các mặt trận.

ở nhiều nơi, phòng vệ dân sự của địch hầu hết bị rã, chỉ còn lại vùng thị xã, thị trấn, song thường xuyên cũng bị đánh phá, hiệu lực hoạt động không đáng kể, kể cả lực lượng phòng vệ xung kích. Lợi dụng tình hình kẻ địch đang hoang mang ta bố trí một số thanh niên nòng cốt vào trong các tổ chức phòng vệ của chúng chờ thời cơ hành động.

Thực hiện quyết tâm của Bộ Chính trị Trung ương Đảng, 2 giờ sáng ngày 10/3/1975, các chiến sĩ ta đã nổ súng đánh chiếm Buôn Ma Thuột, mở đầu cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Mùa Xuân năm 1975. Nhiều chiến sĩ trẻ lần đầu ra trận đã ngoan cường cùng đồng đội đánh chiếm từng mục tiêu, chặn từng đoàn xe địch. Bằng 2 phát đạn B40 chiến sĩ trẻ Triệu Kim Thành đã bắn cháy 2 xe M113. Các chiến sĩ trẻ Thắng, Hoà, Nguyên cũng dùng súng M72 lấy được của địch, bắn gục từng chiếc M113 đi đầu. Bọn địch hoang mang bỏ chạy.

Ngay từ giờ phút đầu của cuộc tiến công, đồng bào thị xã Buôn Ma Thuột, đặc biệt là anh chị em thanh niên các dân tộc, được sự hướng dẫn của các cơ sở cách mạng, đã nổi dậy giành quyền làm chủ, giúp sức đắc lực cho bộ đội truy quét địch, tiếp đạn, tải thương, phát hiện kho tàng và nơi ẩn náu của địch. Nhiều tổ thanh niên vũ trang đã phối hợp cùng bộ đội truy kích, gọi hàng trăm tên giặc bắt hàng chục tên ác ôn đầu sỏ.

Cùng với đòn tiến công chiến lược ở Buôn Ma Thuột, các lực lượng vũ trang của ta tích cực bao vây Plâycu, triệt cả đường bộ và đường không của địch. Địch hoang mang cao độ. Ngày 16/3/1975 chúng phải rút khỏi Plâycu, tháo chạy khỏi Tây Nguyên. Quyết tâm không cho chúng chạy thoát, các chiến sĩ ta động viên nhau: "Đi nhanh cho đến, đánh nhanh cho thắng". Phối hợp chặn đánh địch còn có những người con của núi rừng Tây Nguyên, như đội du kích của anh hùng Pui Thu, từng diệt xe bọc thép địch trên đường, bắn rơi máy bay, giải phóng một lúc 13 ấp. Và Y Len, một cô gái người dân tộc 19 tuổi, chỉ huy một đại đội vận tải, trong điều kiện nào cũng có mặt, cõng trên vai hàng trăm kilogam hàng. Trước khi đi chiến đấu, Y Len được mẹ trao cho một chiếc gùi và một ống nứa trong có đựng hình Bác Hồ, kỷ niệm của người cha thân yêu để lại. Y Len luôn mang theo hình ảnh Bác Hồ bên mình khi đi làm nhiệm vụ, với một tâm niệm: "Đi cách mạng để đền ơn Bác Hồ".

Bằng một cố gắng phi thường, thanh niên cùng quân và dân ta đã chốt chặt con đường tháo chạy của địch và tạo ra bước ngoặt của cuộc chiến.

Khi mặt trận Tây Nguyên nổ súng thì ở Trị Thiên - Huế và Quảng Nam - Đà Nẵng nhiều hoạt động phối hợp cũng được mở ra. Các chiến sĩ trong các đơn vị bộ đội địa phương, cùng với hơn 100 đội công tác vũ trang được tuyển chọn trong những cán bộ, đoàn viên, thanh niên ưu tú, đã thọc xuống các vùng sâu, vừa chuẩn bị chiến trường, vừa mở cuộc tiến công từ trong lòng địch làm cho địch rất hoang mang. Ngày 19/3/1975, chính các lực lượng vũ trang địa phương và các đội vũ trang công tác này đã đón đúng thời cơ, táo bạo tổ chức cuộc tiến công giải phóng thị xã Quảng Trị, và sau đó giải phóng toàn bộ tỉnh Quảng Trị.

Tuổi trẻ thành phố Huế dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Thành uỷ, đã khẩn trương chuẩn bị cho cuộc nổi dậy. Nhiều mũi công tác đã luồn sâu vào các khu dân cư phát động quần chúng. Nhiều đơn vị tự vệ thanh niên, sinh viên, học sinh giải phóng đã được cấp tốc thành lập. Đúng vào ngày kỷ niệm Hai Bà Trưng, đoàn công tác xã hội nữ sinh liên khoa Huế (một tổ chức hợp pháp được thành lập từ năm 1973) đã tổ chức một cuộc mít tinh lớn ở sân trường Đại học Sư phạm với lời kêu gọi thiết tha: "Thành phố này mãi mãi là của chúng ta".

Cùng thời gian đó, theo lệnh của Thành uỷ, một đơn vị tự vệ của sinh viên bí mật đến chốt tại trụ sở "Sinh viên vụ" số 15 Phan Đình Phùng, và sau đó, 3 tổ tự vệ khác đến chốt ở 3 ngôi nhà cao tầng để giữ 3 cây cầu bắc qua sông An Cựu. Khi bộ đội chủ lực chọc thủng tuyến phòng thủ Mỹ Chánh, đập nát tuyến phòng thủ Phú Bài, cắt đứt đường bộ và đường biển ở cửa Thuận An, nhiều tổ tự vệ cải trang mặc áo lính ngụy, mang súng M16 bắt đầu xuất hiện kiểm soát những nơi xung yếu trong thành phố, chờ thời cơ phối hợp với bộ đội chủ lực nổi dậy đánh chiếm thành phố.

Thường vụ Thành uỷ Huế chỉ thị cho Thành Đoàn triển khai toàn bộ lực lượng cùng nhân dân chuẩn bị sẵn sàng. Thành Đoàn và Hội Thanh niên, Hội Sinh viên thành phố phát lời kêu gọi các binh sĩ trẻ trong quân đội  ngụy: "Con đường thoát của các bạn không phải là Đà Nẵng hay Sài Gòn mà là con đường về với đồng bào và cách mạng. Hãy nhận rõ thời cơ ngàn năm có một quay súng lập công chuộc tội". Truyền đơn được in ngay, tung vào những nơi có đông binh sĩ ngụy tụ tập.
Cuộc chiến đấu giải phóng thành phố Huế đặc biệt diễn ra ác liệt ở sân bay Đồng Tâm. Bọn địch ngoan cố co cụm lại chống cự. Từ 3 hướng, xe tăng cùng bộ binh quân giải phóng áp sát. Vũ Văn Mai dẫn đầu mũi tiến công của phân đội 1, cho xe mình vọt lên, gặp một cụm xe tăng M48 của địch án ngự, Mai ra lệnh dùng đạn xuyên tiêu diệt ngay một chiếc. Hầu như cùng một lúc các xe tăng đều nhả đạn, 4 xe địch bị bốc cháy. Thi đua với các chiến sĩ xe tăng, một mũi đột kích của bộ binh, toàn các chiến sĩ trẻ, đã diệt gọn một tốp xe tăng địch khi chúng tìm đường tháo chạy. Trong khi đó ở Quân khu 5 nhận được chỉ thị của Quân uỷ Trung ương và Bộ Tổng tư lệnh các lực lượng vũ trang giải phóng đã đồng loạt mở cuộc tấn công về hướng Bắc nhằm mục tiêu giải phóng Đà Nẵng, thành phố lớn thứ hai ở miền Nam mà quân địch đang co cụm chống đỡ.

Phối hợp với các cánh quân từ ngoài đánh vào, Đảng bộ Quảng Nam - Đà Nẵng đã khẩn trương chuẩn bị tổ chức lực lượng nổi dậy. Hàng trăm cán bộ, đoàn viên, hội viên và thanh niên đã được bố trí luồn sâu vào sau lưng địch, móc nối với lực lượng bí mật tại chỗ trong thành phố, đặc biệt là các cơ sở thanh niên trong các trường học, xưởng máy. ở nhà máy điện Liên Trì, thanh niên đã cùng với công nhân lớn tuổi tổ chức thành đội ngũ, làm việc liên tục 12 giờ một ngày, với khẩu hiệu: "Bám nhà máy duy trì sản xuất phục vụ nhân dân, đón chờ cách mạng". Nhiều đơn vị tự vệ được bí mật thành lập, trang bị ngay bằng các vũ khí lấy được của địch.

Để làm tan rã tinh thần lính địch đang hoang mang cực độ, nhất là bọn tàn binh từ Huế, Quảng Trị và các nơi khác chạy về, đoàn viên, hội viên và thanh niên ở các cơ sở đã tổ chức thành nhiều nhóm công tác đi tuyên truyền, kêu gọi lính ngụy bỏ ngũ về nhà. 3200 lính mới ở căn cứ Hoà Cầm đã nổi dậy đấu tranh quyết liệt với bọn chỉ huy, phá bỏ căn cứ, chạy sang hàng ngũ cách mạng. Khi những quả đạn pháo lớn của quân giải phóng nã vào sân bay Đà Nẵng, căn cứ Hoà Khánh, nơi đóng Bộ Tư lệnh quân đoàn 3 ngụy, cảng Sơn Trà... hàng ngàn người bị địch bắt giam ở nhà lao Non Nước đã nổi dậy diệt ác, phá nhà lao.

Ngày 26/3/1975, sư đoàn 2, Quân khu V do Anh hùng Nguyễn Chơn chỉ huy, chọc một mũi sắc nhọn giải phóng Tiên Phước, Phước Lầm rồi Tam Kỳ và tiến đánh vào Nam thành phố Đà Nẵng. Ngày hôm sau, từ phía Bắc, đoàn Thành Nam vừa góp phần tiêu diệt địch ở quận lỵ Phú Lộc, đã nhanh chóng vượt qua đèo Hải Vân, diệt căn cứ chốt chặt của địch ở Lăng Cô, sau đó phối hợp với một đơn vị xe tăng tiến vào thành phố Đà Nẵng. Cuộc chiến đấu quyết liệt diễn ra xung quanh bán đảo Sơn Trà. Địch dựa vào từng hốc đá dọc bán đảo ngoan cố chống lại bộ binh và xe tăng của ta. Một tổ chiến đấu của đại đội 3 đoàn Ba Gia do Hoàng Xuân Công dẫn đầu đã xông ra giữa cầu Trịnh Minh Thế, lợi dụng từng thanh dầm đánh trả địch. Công bị đạn địch xuyên thủng bàn tay. Anh tự băng bó lấy và tiếp tục áp sát địch. Cùng lúc xe tăng ta vượt qua cầu. Bọn địch hốt hoảng xô nhau chạy. Cả bọn nhân viên kỹ thuật trên các trạm ra-đa của không quân và hải quân ngụy trên đỉnh núi Sơn Trà đang điều khiển máy bay lên xuống cũng hốt hoảng bỏ cả hồ sơ tài liệu chạy tháo thân.

Sau 30 giờ chiến đấu quyết liệt, kể từ lúc mở cuộc tiến công vào thành phố, các lực lượng vũ trang giải phóng đã cùng thanh niên và nhân dân Đà Nẵng tiêu diệt và làm tan rã 100.000 quân ngụy, giải phóng hoàn toàn Đà Nẵng - một căn cứ liên hợp mạnh của địch.

Ngày 25/3/1975, sau những chiến thắng dồn dập của quân và dân ta, tại Thủ đô Hà Nội, Bộ Chính trị Trung ương Đảng đã họp phiên họp lịch sử, khẳng định "Thời cơ chiến lược mới đã đến, ta có điều kiện hoàn thành sớm quyết tâm giải phóng miền Nam". Bộ Chính trị chủ trương tập trung nhanh nhất lực lượng binh khí kỹ thuật và vật chất, giải phóng Sài Gòn trước mùa mưa.

Toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ở cả 2 miền Nam - Bắc biến quyết tâm của Bộ Chính trị Trung ương Đảng thành hiện thực, giành thắng lợi cuối cùng. Hàng chục vạn đoàn viên và thanh niên, kể cả những thanh niên ở vùng mới giải phóng, xung phong gia nhập quân đội, góp phần xây dựng những đơn vị mới, kịp thời bổ sung cho chiến trường.

Các tỉnh ở hậu phương lớn miền Bắc phần lớn đều được giao chỉ tiêu tuyển quân gấp 2 lần những năm trước. Nhưng ngay trong đợt giao quân đầu năm tất cả các tỉnh đều hoàn thành chỉ tiêu giao quân cả năm. Nhiều thanh niên học sinh ở Hà Nội và ở nhiều địa phương khác đã tạm ngừng việc học tập để kịp thời lên đường chiến đấu.

ở Tây Ninh, tất cả thanh niên khối cơ quan, đoàn thể tỉnh, huyện đều tình nguyện gia nhập lực lượng vũ trang. Chỉ trong 20 ngày, từ 4/4 đến 24/4/1975 đã có trên 3000 thanh niên nhập ngũ, biên chế thành 9 tiểu đoàn mới (trong đó có 2 đại đội thanh niên tín đồ Cao Đài). Lực lượng tỉnh lúc này có 12 tiểu đoàn và nhiều đại đội độc lập ở các huyện. ở các xã lực lượng du kích đều có từ trung đội đến các đại đội, đã tự lực giải phóng quê hương.

Tại miền Tây Nam Bộ, khu Đoàn đã huy động 30 cán bộ chủ chốt xuống tăng cường cho thành phố Cần Thơ và các tỉnh Rạch Giá, Cà Mau, Bạc Liêu, Sóc Trăng, Trà Vinh, Long Châu Hà. Các tỉnh đã huy động hàng trăm cán bộ Đoàn, Hội tăng cường xuống các huyện. Hàng trăm cán bộ huyện được tăng cường xuống các xã, phát động thanh niên tòng quân và nổi dậy. Chỉ hơn 10 ngày, toàn khu đã có 8.311 thanh niên tòng quân, 286 thanh niên được bổ sung cho chủ lực khu, 3.570 đoàn viên, thanh niên tham gia bộ đội tỉnh, số còn lại tham gia chủ lực huyện và lực lượng an ninh vũ trang.

ở Mỹ Tho - Gò Công, tổ chức Đoàn, Hội đã khẩn trương phân công hầu hết cán bộ đi về cơ sở chỉ đạo phong trào. Các tổ chức ở cơ sở được kiện toàn và bám trụ tạo điều kiện để các lực lượng cách mạng đứng chân, hỗ trợ quần chúng nổi dậy giải phóng thị xã, thị trấn.

Trên các nẻo đường ra trận, tuổi trẻ đã sống những ngày sôi động. "Thần tốc, táo bạo, bất ngờ, chắc thắng". Quân đi như nước chảy, xe chạy gần như chỉ có một chiều tiến về phía Nam.

Ngày 14/4/1975, tuyến phòng thủ tiền tiêu của địch ở Phan Rang bị tiến công. Suốt hai ngày đêm ròng rã, ta và địch giành nhau từng vị trí, các chiến sĩ trẻ có người chỉ mới vừa tròn một tháng tuổi quân, đã nêu cao tinh thần chiến đấu dũng cảm, ngoan cường, một mình xông lên tiêu diệt hoả điểm địch, tạo điều kiện cho đồng đội đánh bật địch ra khỏi từng ổ đề kháng.

Cùng ngày 14/4, Bộ Chính trị Trung ương Đảng đồng ý chiến dịch giải phóng Sài Gòn lấy tên là chiến dịch Hồ Chí Minh. Đây là chiến dịch lịch sử sau 20 năm chống Mỹ, cứu nước đầy gian khổ, hy sinh.

Sài Gòn - Gia Định là nơi tập trung cơ quan đầu não của ngụy quân, ngụy quyền, các kho tàng và căn cứ hậu cần quan trọng, trung tâm chính trị kinh tế, là sào huyệt cuối cùng của địch.
Sài Gòn - Gia Định cũng là một thành phố lớn với 3,5 triệu dân, có tuyền thống đấu tranh cách mạng hết sức kiên cường, nơi đã chứng kiến sự tích oanh liệt của những anh hùng trẻ tuổi có sức cổ vũ hàng triệu người đứng lên, như Lý Tự Trọng, Trần Văn Ơn, Nguyễn Văn Trỗi, Quách Thị Trang, Nguyễn Thái Bình...

Trong những ngày tháng 4/1975, dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Đảng bộ, tuổi trẻ thành phố Sài Gòn - Gia Định tranh thủ từng giờ từng phút tổ chức lực lượng và triển khai kế hoạch chiến đấu, phối hợp chặt chẽ trong và ngoài. Các đơn vị đặc công của mặt trận Sài Gòn, các chiến sĩ biệt động của Thành Đoàn, được bố trí theo thế trận. Ngoài 4 tiểu đoàn được tăng cường ở các quận ngoại thành, ở nội thành có 60 tổ biệt động mới với hơn 300 thanh niên vũ trang ém sẵn ở những vị trí xung yếu.

Thành Đoàn thanh niên thành phố gấp rút tổ chức lực lượng cán bộ, đoàn viên và quần chúng cách mạng ở từng vùng, phụ trách những công việc cần kíp như hướng dẫn quần chúng nổi dậy làm chủ đường phố, chiếm lĩnh các cơ quan quan trọng của địch khi bộ đội chủ lực chưa kịp đến. Tổ chức Đoàn, Hội chia làm 2 bộ phận: Bộ phận phụ trách phong trào công khai và chỉ đạo 5 điểm khởi nghĩa ở nội thành là Bàn Cờ - Vườn Chuối, Gia Định, Phú Nhuận, Tân Phú - Bảy Hiền, Khánh Hội - Vĩnh Hội. Một bộ phận tăng cường cho các quận, huyện, vận động quần chúng tổng công kích, tổng khởi nghĩa. Thành Đoàn còn tổ chức những trung đội tự vệ có vũ trang, triển khai ở nhiều vị trí then chốt, phân công đoàn viên, thanh niên sẵn sàng hướng dẫn các mũi tiến công của quân giải phóng trên nhiều hướng.

Sau khi chọc thủng tuyến phòng thủ của quân địch ở Xuân Lộc - Long Khánh và những tuyến phòng thủ khác quanh Sài Gòn, từ 5 hướng, 5 quân đoàn chủ lực tinh nhuệ, cùng các lực lượng vũ trang khác mở cuộc tổng công kích vào thành phố. Đến bước đường cùng, kẻ địch càng liều chết chống cự ở nhiều vị trí then chốt trước cửa ngõ Sài Gòn. Nhiều cuộc đấu tăng, đấu pháo đã diễn ra kịch liệt ở Cầu Bông, cầu Bình Triệu, ngã tư Bảy Hiền... khi đoàn BK 17 vượt qua căn cứ địch ở tiểu khu Gia Định, Gò Vấp, cầu Bình Lợi, tiến sát tới cầu Bình Triệu thì gặp ngay đoàn xe tăng gần 100 chiếc của địch tiến về phía cầu. Chúng dàn thành một tuyến dày đặc, hòng phá cầu, cản bước tiến của quân ta. Rất bình tĩnh, các chiến sỹ trẻ đoàn BK 17 theo lệnh chỉ huy chọn phương án táo bạo, áp đảo kẻ thù, xông thẳng vào đội hình xe tăng địch dùng đạn xuyên và B41 bắn gục ngay 3 chiếc xe tăng của chúng.

ở Cầu Bông, địch sử dụng xe tăng M48, M41, M113, tháo chạy từ Đồng Dù, Hóc Môn, Củ Chi về co cụm lại thành từng cụm chiến đấu. Phía trước, chúng cho xe GMC nằm ngang ra giữa đường tạo thành vật cản. Đang đà tiến, Trung đoàn phó Tô Quốc Trịnh, một cán bộ chỉ huy trẻ, mới 28 tuổi đời, không do dự, cùng tiểu đoàn trưởng xe tăng quyết định diệt địch. Các chiến sĩ bộ binh cũng được điều tới, dùng B 40, B 41 diệt từng xe tăng địch. Kẻ địch không chịu nổi đòn tiến công, bỏ cả xe tháo chạy.

Từ ngày 29/4, các mũi tiến công của quân giải phóng đồng loạt tiến vào nội thành, 10 giờ sáng ngày 30/4, đoàn xe 7 chiếc của tiểu đoàn 7, trung đoàn 66, đoàn 304 tiến qua cầu Sài Gòn thẳng hướng về phía Dinh Độc Lập (nay là Dinh Thống Nhất), khi tân nội các của Nguỵ quyền Sài Gòn đang chuẩn bị làm lễ ra mắt. Sau khi xe tăng 390 do chính trị viên Vũ Đăng Toàn chỉ huy và trung sĩ Nguyễn Văn Tập lái húc đổ cánh cổng chính rồi tiến thẳng vào trong sân, Đại đội trưởng Bùi Quang Thận từ xe sau (843) vọt lên nhanh chóng cắm lá cờ cách mạng lên nóc Dinh Độc Lập, báo hiệu giờ cáo chung của chế độ ngụy quyền tay sai Mỹ.

ở những mũi tiến công khác, xe tăng và bộ binh được sự hướng dẫn của các chiến sĩ biệt động và quần chúng nổi dậy, nhanh chóng tiến vào thành phố, đánh chiếm các mục tiêu quan trọng như Bộ Tổng tham mưu ngụy, Tổng Nha cảnh sát... Các mũi tiến công của thanh niên đón đúng thời cơ nhanh chóng tiếp quản một số cơ quan trong thành phố, và trụ sở Tổng hội Sinh viên ở số 4 Duy Tân.

Trong khi đó cuộc chiến đấu ở sân bay Tân Sơn Nhất vẫn diễn ra quyết liệt ngay cả khi Dương Văn Minh, Tổng thống ngụy quyền Sài Gòn đã tuyên bố đầu hàng không điều kiện. Với quyết tâm: "Ghìm chúng lại đánh cho đứa ở mặt đất không dám cất cánh, đứa đang bay trên trời phải tan xác", các chiến sĩ trẻ đoàn Trung Dũng từng quét địch ở Cầu Bông, ở ngã tư Bà Quẹo suốt 48 tiếng đồng hồ không kịp ăn cơm, không kịp uống nước, nhiều chiến sĩ bị mất tiếng, nhưng khi được điều đến đánh chiếm sân bay không một ai chịu rời trận địa. Nhiều chiến sĩ đã ngã xuống ngay trong giờ phút thắng lợi hoàn toàn. Đại đội trưởng Nguyễn Văn, rồi đại đội phó Thọ dẫn tổ mũi nhọn xông lên áp sát hàng rào. Địch ngoan cố chống cự, đạn bắn ra như xối. Lá cờ cách mạng trên tay Quý bị đạn xuyên thủng thêm mấy chỗ. Nhưng 2 tay súng Lang và Hậu đã lọt được vào hàng rào đang xả AK về phía dịch. Lợi dụng lúc bọn chúng đang hoang mang khi nghe tướng Minh tuyên bố đầu hàng, và trong những loạt đạn bắn phá dữ dội của pháo binh, tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn 5 Nguyễn Khiết Kế dẫn đầu đơn vị xông vào phối hợp với 2 tay súng Lang và Hậu, quét địch ra khỏi những hang ổ cuối cùng.

11 giờ 30 phút, Dinh "Độc Lập" của ngụy quyền Sài Gòn trở thành hợp điểm của các cánh quân ta tiến vào giải phóng Sài Gòn, lá cờ cách mạng lộng gió tung bay trên nóc "phủ Tổng thống" ngụy.

Theo dõi từng giây, từng phút cuộc tiến quân lịch sử của quân ta vào giải phóng Sài Gòn, cả Hà Nội, cả đất nước đổ ra đường, đốt pháo, tung hoa vẫy cờ trong khí thế tưng bừng của ngày hội lớn, miệng hát vang bài "Như có Bác Hồ trong ngày vui đại thắng".

Các thế hệ trẻ nước ta đã đi qua những năm tháng quyết liệt lập nên biết bao kỳ tích anh hùng, thể hiện nổi bật phẩm chất của lớp người có giác ngộ lý tưởng cách mạng sâu sắc, dám chấp nhận gian khổ, ác liệt, sẵn sàng xả thân vì nghĩa lớn.

Được Đảng quang vinh và Bác Hồ vĩ đại dày công giáo dục và rèn luyện, thế hệ thanh niên chống Mỹ đã không ngừng nâng mình lên ngang tầm nhiệm vụ lịch sử để dù phải đương đầu với một tên đế quốc đầu sỏ, có tiềm lực kinh tế, quốc phòng mạnh, có nền khoa học kỹ thuật chiến tranh hiện đại vẫn chiến đấu và chiến thắng hết sức oanh liệt, không chỉ bằng lòng dũng cảm hi sinh mà còn bằng cả tài trí thông minh sáng tạo, lao động quên mình vì lý tưởng xã hội chủ nghĩa, xây dựng miền Bắc thành hậu phương lớn vững chắc cho sự nghiệp đấu tranh thống nhất nước nhà.

Tạo dựng được cả một thế hệ đầy hào khí, làm nên sự nghiệp vẻ vang là thành quả đáng tự hào và cũng là bài học vô cùng sinh động về công tác giáo dục rèn luyện cũng như tổ chức, động viên, khơi dậy những tiềm năng to lớn của tuổi trẻ đưa vào thực tiễn hành động cách mạng trong những tháng năm đầy thử thách và sống còn của Tổ quốc. Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã vận dụng một cách sáng tạo học thuyết cách mạng của Mác và Lênin để ngay trong hoàn cảnh chiến tranh ác liệt vẫn tiếp tục đào luyện nên thế hệ thanh niên đủ năng lực và phẩm chất kế tục một cách trung thành và xuất sắc sự nghiệp của Đảng và của dân tộc.

Dưới ngọn cờ của tư tưởng Hồ Chí Minh vĩ đại, Đảng ta đã lãnh đạo Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Hội Liên hiệp Thanh niên Việt Nam phát động liên tục các phong trào quần chúng sâu rộng, có sức sống trong nhiều năm, tiêu biểu là các phong trào "Ba sẵn sàng" và "Năm xung phong", đáp ứng nhiệt huyết của đông đảo thanh niên đang khát khao được cống hiến sức lực và trí tuệ cho nhân dân và cho đất nước.


CHƯƠNG XI: THANH NIÊN CẢ NƯỚC ĐẨY MẠNH

Ngày cập nhật: 18/10/2007

Sau ngày miền Nam giải phóng, cả nước đứng trước muôn vàn khó khăn chồng chất. Hậu quả của cuộc chiến tranh do đế quốc gây ra cho nhân dân ta vô cùng nặng nề. Có hơn 1.500 thành phố, thị xã, thị trấn, vùng dân cư bị huỷ diệt, hàng triệu người mất nhà cửa, tài sản. Đế quốc Mỹ cũng đã rải hơn 100.000 tấn chất độc hoá học xuống 13.000 km2 rừng, 70% diện tích trồng dừa, 60% diện tích trồng cao su, 110.000 hécta phi lao và 150.000 hécta rừng đước bảo hộ ven biển. Nền kinh tế do Mỹ để lại ở miền Nam Việt Nam là nền kinh tế què quặt, hoàn toàn phụ thuộc vào viện trợ của Mỹ. ở miền Bắc, chiến tranh phá hoại của Mỹ cũng tàn phá nặng nề không kém gì ở miền Nam; đặc biệt hệ thống giao thông vận tải và các cơ sở kinh tế và nhiều thị xã, thành phố bị san bằng.

Về mặt xã hội, chế độ Mỹ-nguỵ đã gây ra những tệ nạn xã hội vô cùng bi đát, trên 500.000 gái mại dâm, 300.000 lưu manh, trộm cắp, nghiện hút, ma tuý… Ngoài ra chiến tranh còn để lại hàng triệu nạn nhân chiến tranh do bị tàn phế, và các loại di chứng chiến tranh suốt đời, hàng chục nghìn người mất tích, đặc biệt là nạn nhân chất độc da cam (điôxin).

Vượt qua những khó khăn chồng chất do hậu quả chiến tranh xâm lược gây ra, cùng với nhân dân cả nước, thế hệ trẻ Việt Nam đã phấn đấu hết sức kiên cường, thực hiện tốt kế hoạch 5 năm lần thứ hai. Trong tình hình đó, tổ chức Đoàn, Hội đã tổ chức các hoạt động giữ gìn trật tự an ninh, tham gia lao động sản xuất, khai hoang, phục hoá… để sản xuất thật nhiều lương thực cho đất nước. Thanh niên và hội viên thành phố Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh cũng như các thành phố thị trấn trên toàn quốc đã tổ chức tham gia thu thập hàng tấn băng nhạc vàng, tranh ảnh, sách báo đồi truỵ, đốt hoặc giao nộp cho các cơ quan chính quyền sở tại.

Điều đáng mừng là song song với việc tham gia các hoạt động nhằm phá bỏ các tệ nạn xã hội do chế độ Mỹ – nguỵ để lại, tổ chức Đoàn, Hội đã phát động và tổ chức cho đoàn viên, thanh niên, hội viên tuyên truyền và thực hiện phong trào đọc sách, báo cách mạng; thi tìm hiểu về sách báo cách mạng, phong trào tìm hiểu về Đoàn, về Đảng và Bác Hồ kính yêu. Những phong trào trên đã thu hút hàng chục vạn thanh niên, hội viên và các em thiếu nhi tham gia một cách tích cực và nhiệt tình.

Trong không khí hết sức phấn khởi và đầy lòng tự hào, tuổi trẻ cả nước vinh dự tiếp tục đón nhận những nhiệm vụ nặng nề trong thời kỳ cách mạng mới.

Nhằm phát huy khí thế hào hùng của Đại thắng Mùa Xuân năm 1975, sau ngày miền Nam giải phóng, Ban Bí thư Trung ương Đoàn TNCS Hồ Chí Minh đã mở đợt tuyên truyền và giáo dục sâu rộng trong thanh niên cả nước, với khẩu hiệu: “Tất cả cho sản xuất, tất cả để xây dựng chủ nghĩa xã hội, tất cả vì Tổ quốc giàu mạnh, vì hạnh phúc của nhân dân”. Đông đảo thanh niên cả nước đã hăng hái tham gia phát triển kinh tế – xã hội, xây dựng đất nước sau hơn 20 năm bị chiến tranh tàn phá. Tuổi trẻ Việt Nam đã hưởng ứng một cách mạnh mẽ 5 mũi tiến công của Trung ương Đoàn và Trung ương Hội đề ra, đó là:

- Tổ chức một đợt tuyên truyền rầm rộ mừng Việt Nam toàn thắng, nhớ ơn Bác Hồ.
- Phát động phong trào thanh thiếu niên múa hát mừng Việt Nam toàn thắng.
- Xây dựng nếp sống mới
- Vận động phong trào quyên góp “Hai triệu cuốn sách tặng thanh niên thiếu niên Việt Nam anh hùng”.
- Đẩy mạnh phong trào thi đua trên tất cả các lĩnh vực hoạt động của Đoàn.

Hưởng ứng chương trình đó, tuổi trẻ cả nước đã hăng hái, tích cực tham gia truy quét tàn quân địch, bảo vệ trật tự trị an và tham gia xây dựng chính quyền cách mạng. Ngoài ra, thanh niên còn tích cực tham gia đi khai hoang, phục hoá, xây dựng các công trình thuỷ lợi, góp phần khôi phục sản xuất. ở Sài Gòn và các đô thị, hưởng ứng chủ trương của Đảng, của Đoàn, Hội đã dấy lên phong trào thanh niên tình nguyện cùng gia đình trở về quê hương sản xuất, tham gia lực lượng thanh niên xung phong, tham gia các đội thanh niên làm đường, làm nhà, vỡ hoang. Chỉ sau ngày giải phóng hai tuần, Đoàn Thanh niên Nhân dân Cách mạng và Hội Liên hiệp Thanh niên giải phóng đã tổ chức cuộc thi “Tìm hiểu về Bác Hồ”, thu hút hàng vạn thanh niên, học sinh, sinh viên tham gia. Tiêu biểu như ở Sài Gòn, Huế, Đà Nẵng, Cần Thơ, Nha Trang và nhiều thành phố khác đã tổ chức hàng trăm cuộc nói chuyện, hội thảo, đọc sách báo cách mạng, qua đó thu hút đông đảo thanh niên, học sinh, sinh viên vào các hoạt động do Đoàn và Hội tổ chức.

Ngày 26-3-1976, lễ kỷ niệm lần thứ 45 ngày thành lập Đoàn đã được tổ chức trọng thể tại Hà Nội. Cũng tại buổi lễ này, tổ chức Đoàn trong cả nước được mang tên là Đoàn Thanh niên Lao động Hồ Chí Minh. Tháng 6-1976, Hội nghị lần thứ 22 Ban Chấp hành Trung ương Đoàn (Khoá III) đã quyết định thống nhất sự chỉ đạo của Đoàn, Hội và phong trào thanh niên trong toàn quốc. Trong hai ngày 20 và 21 tháng 9 năm 1976, đoàn đại biểu Hội Liên hiệp Thanh niên Việt Nam và đoàn đại biểu Hội Liên hiệp Thanh niên giải phóng miền Nam Việt Nam đã tổ chức Hội nghị thống nhất mặt trận đoàn kết, tập hợp thanh niên trong cả nước, lấy tên Hội Liên hiệp Thanh niên Việt Nam.

Hội nghị đã thông qua Điều lệ mới của Hội Liên hiệp Thanh niên Việt Nam và cử Uỷ ban Trung ương Hội Liên hiệp Thanh niên Việt Nam gồm 96 đồng chí do Giáo sư Lê Quang Vịnh làm Chủ tịch và anh Huỳnh Tấn Mẫm làm Tổng thư ký.

Với sự thống nhất tổ chức Hội trong cả nước, Hội Liên hiệp Thanh niên Việt Nam bước vào trang sử mới. Số hội viên nhanh chóng phát triển rất mạnh ở cả miền Nam và miền Bắc. Những nội dung hoạt động của Hội đã gắn với phong trào thi đua của Đoàn, tạo thành một lực lượng đáng kể góp phần vào công cuộc hàn gắn vết thương chiến tranh và xây dựng cuộc sống mới.

Trong niềm vui chung của thế hệ trẻ Việt Nam, Hội nghị toàn quốc của Hội Liên hiệp Thanh niên Việt Nam đã họp trong hai ngày 24 và 25 tháng 9 năm 1976 tại thành phố Hồ Chí Minh. Hội nghị đã khẳng định những cống hiến to lớn của tuổi trẻ Việt Nam trong sự nghiệp chống Mỹ cứu nước và xây dựng chủ nghĩa xã hội; đồng thời cũng vạch ra chương trình hành động cách mạng của thanh niên cả nước trong thời kỳ cách mạng mới. Hội nghị cũng đã nhận được thư chúc mừng của Chủ tịch nước Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam Tôn Đức Thắng, điện chúc mừng của Chủ tịch Liên đoàn Thanh niên Dân chủ thế giới. Hội nghị đã thảo luận sôi nổi về công tác tổ chức Hội và quyết định những nhiệm vụ mới trong thời gian tới, đó là:

Đẩy mạnh phong trào lao động và bảo vệ Tổ quốc thành một cao trào thi đua sôi nổi, liên tục trong mọi tầng lớp thanh niên. Quán triệt nhiệm vụ “Miền Bắc phải tiếp tục đẩy mạnh sự nghiệp xây dựng CNXH và hoàn thiện quan hệ sản xuất XHCN và xây dựng CNXH”. Mỗi thanh niên cần nêu cao lòng yêu nước XHCN, ý thức làm chủ tập thể, hăng hái tham gia phong trào “lao động tình nguyện xây dựng Tổ quốc”, thanh niên trong các lực lượng vũ trang nêu cao tinh thần cảnh giác cách mạng đi đầu trong “phong trào quyết thắng”, làm tốt nghĩa vụ quân sự, củng cố nền quốc phòng toàn dân, giữ vững an ninh chính trị và trật tự xã hội, kịp thời đập tan mọi âm mưu phá hoại và gây rối của bọn phản động tay sai đế quốc, bảo vệ thành quả cách mạng, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam Xã hội chủ nghĩa.

Để đáp ứng yêu cầu của cách mạng trong giai đoạn mới, thanh niên phải ra sức rèn luyện nâng cao trình độ giác ngộ chính trị, đạo đức, tác phong cách mạng, nỗ lực học tập văn hoá, khoa học kỹ thuật. Xây dựng “Tập thể học sinh XHCN” trong trường học.

Để tăng cường khối đoàn kết thống nhất thanh niên trong Hội Liên hiệp Thanh niên Việt Nam, các tổ chức và các tầng lớp thanh niên hãy siết chặt hàng ngũ, thống nhất hành động làm cho Hội Liên hiệp Thanh niên Việt Nam thực sự tiêu biểu cho mặt trận đoàn kết rộng rãi thanh niên trong cả nước.

Tăng cường tình đoàn kết quốc tế với thanh niên Lào, Campuchia, với thanh niên XHCN anh em, đoàn kết và ủng hộ cuộc đấu tranh của các dân tộc và thanh niên các nước chống chủ nghĩa đế quốc, chủ nghĩa thực dân cũ và mới.

Nghị quyết của Hội nghị toàn quốc Hội Liên hiệp Thanh niên Việt Nam kêu gọi toàn thể thanh niên cả nước hãy nêu cao khí phách anh hùng của tuổi trẻ, vượt qua mọi trở ngại khó khăn cống hiến sức mình cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN yêu dấu của chúng ta.

Dưới ánh sáng của Nghị quyết Đại hội lần thứ IV của Đảng Cộng sản Việt Nam và Hội nghị Hội Liên hiệp Thanh niên Việt Nam, trong hai năm 1976-1977, nhân dân cả nước đặc biệt là lực lượng thanh niên đã dấy lên phong trào thi đua xây dựng Tổ quốc. ở các vùng mới giải phóng, phong trào của thanh niên đi xây dựng các vùng kinh tế mới, tham gia tháo gỡ bom mìn, phong trào đi khai hoang phục hoá, thâm canh, tăng vụ, tham gia cải tạo công thương nghiệp tư bản, tư doanh, cải tạo nông nghiệp. Điều đáng chú ý là phong trào thanh niên xung phong xây dựng vùng kinh tế mới phát triển rất mạnh ở các tỉnh phía Nam như thành phố Hồ Chí Minh, Phú Yên, Khánh Hoà, Bến Tre… Các đội thanh niên xung phong đã đảm nhận các công trình khai hoang được tổ chức tại Thừa Thiên Huế, Thanh Hoá, Hoà Bình, Bắc Giang, Bắc Ninh… Tiêu biểu là thành phố Hồ Chí Minh, các tổ chức Đoàn, Hội đã đi đầu trong phong trào này. Chỉ riêng trong năm 1976 đã có 53.700 đoàn viên, thanh niên xung phong đi xây dựng các vùng kinh tế mới. Cũng trong thời gian này, Ban Chấp hành Tỉnh Đoàn Đắc Lắc ra Nghị quyết phát động phong trào “Thanh niên xung kích”; đó là, xung kích truy quét bọn phản động, bảo vệ an ninh Tổ quốc; xung kích lao động sản xuất xây dựng quê hương; xung kích học tập chính trị, khoa học kỹ thuật; xung kích xây dựng nếp sống mới, con người mới. Phong trào này đã thu hút hàng vạn thanh niên, đặc biệt là thanh niên các dân tộc tham gia xây dựng vùng kinh tế mới, hàng chục công trình thuỷ lợi trọng điểm của tỉnh như Buôn Trống, Krông Gbuk, Quảng Nhiêu… Thông qua các phong trào này đã góp phần rất quan trọng bồi dưỡng nhân tố mới trong thanh niên và tập hợp rộng rãi thanh niên các dân tộc đứng vào tổ chức Đoàn, Hội. Tháng 5-1979, Uỷ ban Nhân dân tỉnh đã ra quyết định thành lập Tiểu đoàn thanh niên xung phong Nguyễn Văn Trỗi gồm 504 thanh niên, trong đó có 291 người là thanh niên dân tộc. Ngay sau khi được thành lập, Tiểu đoàn Thanh niên xung phong Nguyễn Văn Trỗi đã nhanh chóng trở thành đơn vị chủ công trên các công trường sản xuất. Tại đây, cuộc sống lao động tuy còn gặp nhiều khó khăn, vất vả, thiếu thốn mọi bề nhưng tuổi trẻ đã viết nên những bài ca hào hùng về tinh thần lao động quên mình, lập nhiều kỳ tích vẻ vang góp phần vào công cuộc khôi phục và phát triển kinh tế, xây dựng cuộc sống mới.

Trước những yêu cầu của tình hình mới, tháng 1-1976, Hội nghị lần thứ 25 Ban Chấp hành Trung ương Đoàn (Khoá III) đã quyết định phát động phong trào “Ba xung kích làm chủ tập thể” trong thanh niên cả nước. Phong trào này nhằm động viên đoàn viên và thanh niên xung kích thực hiện ba nhiệm vụ chính của tuổi trẻ là lao động sản xuất, sẵn sàng bảo vệ Tổ quốc, học tập, rèn luyện và xây dựng cuộc sống mới lập thành tích chào mừng Đại hội Đoàn lần thứ IV và Đại hội liên hoan lần thứ 11 của thanh niên và sinh viên thế giới.

Hội nghị Đoàn Chủ tịch và Ban thư kí (mở rộng) Uỷ ban Trung ương Hội Liên hiệp Thanh niên Việt Nam họp từ ngày 12-2 đến ngày 15-2-1978 tại thành phố Hồ Chí Minh đã đánh giá những hoạt động của Hội sau một năm phấn đấu thực hiện Nghị quyết Đại hội lần thứ IV của Đảng, Nghị quyết Hội nghị toàn quốc Hội Liên hiệp Thanh niên Việt Nam (tháng 9-1976) và đề ra phương hướng nhiệm vụ cho năm 1978.

Hội nghị được đồng chí Nguyễn Văn Linh, Uỷ viên Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng đến thăm và nói chuyện.

Thay mặt Trung ương Đảng, đồng chí Nguyễn Văn Linh khen ngợi và biểu dương những tiến bộ của phong trào thanh niên cả nước trong những năm qua, nhắc nhở những thiếu sót và yếu kém mà tổ chức Đoàn và Hội cần cố gắng khắc phục trong thời gian tới, nhất là về công tác tổ chức, tập hợp thanh niên nhiều nơi còn làm yếu, tỉ lệ đoàn viên, hội viên ở các tỉnh phía Nam còn rất thấp. Đồng chí Nguyễn Văn Linh đã nêu lên những nhiệm vụ trước mắt và vai trò quyết định của thanh niên cả nước trong việc thực hiện những chỉ tiêu kinh tế mà Đại hội lần thứ IV của Đảng đã đề ra. Về công tác đoàn kết, tập hợp thanh niên, đồng chí đặt ra yêu cầu các cơ sở của Đoàn TNCS Hồ Chí Minh phải được xây dựng và củng cố vững mạnh để đủ sức làm nòng cốt trong việc tập hợp, tổ chức thanh niên. Các chi hội Liên hiệp Thanh niên phải được xây dựng nhanh chóng và rộng khắp ở tất cả các cơ sở ở đường phố, trường học, xí nghiệp, nông thôn. Hình thức và phương pháp đoàn kết, tập hợp thanh niên phải sáng tạo, đa dạng và phong phú... Cuối cùng đồng chí Nguyễn Văn Linh nhắc nhở các cán bộ Đoàn, Hội về công tác giáo dục thanh niên. Đồng chí nhấn mạnh phải chú ý kết hợp giáo dục tình hình nhiệm vụ, chủ trương chính sách của Đảng, Nhà nước với nhiệm vụ lâu dài và rất quan trọng là phải xây dựng cả một thế hệ thanh niên mới, sống có lí tưởng, sống vì lí tưởng, dám hi sinh phấn đấu cho lí tưởng, những thanh niên có văn hoá, có khoa học kĩ thuật, có nhân phẩm đạo đức tốt...

Hội nghị nhiệt liệt hoan nghênh những thành tích của phong trào thanh niên trong năm 1977 và sự cố gắng phấn đấu của các cơ sở Đoàn, Hội để thực hiện các phong trào hành động cách mạng của tuổi trẻ do Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đoàn lần thứ 23 phát động.

Trong cả nước, thanh niên hăng hái tham gia phong trào lao động tình nguyện xây dựng Tổ quốc. Trên mặt trận sản xuất nông nghiệp, gần 45 vạn hecta ruộng đất bỏ hoang trong chiến tranh đã được đưa vào sản xuất. Diện tích khai hoang đạt 30 vạn hécta. So với năm 1976, diện tích lúa Đông Xuân tăng 9%, diện tích màu tăng 12,5%. Thanh niên ở các địa phương tích cực khắc phục mọi khó khăn, chiến thắng thiên tai, làm thêm giờ, thêm buổi để gieo mạ, cuốc đất, chống hạn, cứu lúa... Phong trào làm thuỷ lợi và khai hoang phục hoá được thanh niên hưởng ứng sôi nổi, không chỉ thu hút thanh niên nông thôn mà còn động viên được đông đảo thanh niên ở thành phố, thị xã tham gia. Gần 3,7 triệu thanh niên đã làm được 27 triệu ngày công thuỷ lợi và đắp được 44 triệu mét khối đất đá.

Trong dịp đến thăm các đơn vị thanh niên xung phong thành phố Hồ Chí Minh đang lao động ở khu kinh tế mới Lê Minh Xuân, đồng chí Lê Duẩn, Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam đã khích lệ lớp trẻ: "Ngày nay, thanh niên ta với đôi bàn tay lao động của mình sẽ làm những chuyện to lớn, miễn là tâm hồn chúng ta luôn luôn được nuôi dưỡng bằng lòng yêu nước XHCN".

Các công trình khai hoang do thanh niên đứng ra đảm nhiệm như Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên-Huế, Thanh Hoá, Hà Tây, Hoà Bình, Hà Giang, Tuyên Quang, Bắc Giang, Lạng Sơn... đã động viên gần 4 triệu lượt thanh niên tham gia khai phá trên 13 vạn hécta. Tại Quảng Trị, trong khi phải tháo gỡ 7 triệu quả bom mìn để mở rộng 25 nghìn hécta ruộng đất hai bên hàng rào điện tử Mácnamara, hơn 1000 thanh niên bị thương tật trong đó 200 đoàn viên, hội viên đã hi sinh khi làm nhiệm vụ.

Trên mặt trận sản xuất công nghiệp, thanh niên công nhân đẩy mạnh phong trào "Xung phong tình nguyện vượt mức kế hoạch" và phong trào "Lao động sáng tạo" khắc phục khó khăn. ở 27 đơn vị tỉnh, thành có 19.900 sáng kiến của thanh niên. Trong đó có 6.900 sáng kiến có giá trị kinh tế và kỹ thuật được đưa vào sản xuất. Các phong trào "Luyện tay nghề thi thợ giỏi", nhận công trình thanh niên, phong trào tiết kiệm của thanh niên diễn ra sôi nổi ở khắp các tỉnh, thành. Nét mới của phong trào là thanh niên công nhân trực tiếp phục vụ nông nghiệp như tham gia lao động sản xuất khi thời vụ khẩn trương, lập các tổ thanh niên xung kích về nông thôn để sửa chữa máy móc và công cụ sản xuất, nghiên cứu, và sản xuất các loại nông cụ. Tổ chức Đoàn và Hội Liên hiệp Thanh niên tỉnh Cao Bằng đã có sáng kiến, vận dụng nhiều hình thức, phương thức hoạt động có hiệu quả, thu hút thanh niên tham gia như "Cánh đồng tăng sản"; "Nương ngô 3-4 tấn". Trong suốt 3 tháng hè năm 1977, các "Đội viên tình nguyện ánh sáng văn hoá" đã không quản ngại khó khăn đến với thanh niên, thiếu niên và bà con các dân tộc vùng sâu, vùng xa, góp phần xóa mù chữ cho trên 10.000 người.

Thông qua cuộc vận động tổ chức lại sản xuất nông nghiệp và cải tạo XHCN đối với nông nghiệp, cải tạo công thương nghiệp tư doanh, thanh niên từng bước được nâng cao nhận thức về CNXH, về giác ngộ giai cấp và tích cực phấn đấu trong lao động sản xuất để rèn luyện bản thân và cống hiến cho đất nước.

Năm 1977, phong trào thanh niên quyết thắng bảo vệ Tổ quốc được đẩy mạnh ở khắp các quân đoàn, quân khu, quân chủng, binh chủng. Trong Công an Nhân dân Vũ trang, phong trào bảo vệ an ninh Tổ quốc vẫn tiếp tục phát triển. Đoàn Thanh niên trong các lực lượng vũ trang đã động viên được đông đảo đoàn viên, thanh niên thực hiện tốt chương trình huấn luyện sẵn sàng chiến đấu, nhận các công trình thanh niên... Trong nhiệm vụ xây dựng kinh tế, lực lượng quân đội đã triển khai hoạt động trên nhiều địa bàn và nhiều lĩnh vực, nhất là nông nghiệp, lâm nghiệp, xây dựng cơ bản. 70% số chi đoàn đăng kí phấn đấu vượt mức và gần 20 vạn đoàn viên, thanh niên hoàn thành kế hoạch năm 1977 trước 4 tháng. ở các tỉnh biên giới phía Tây-Nam, đoàn viên, hội viên và thanh niên hăng hái gia nhập các đội dân quân tự vệ dũng cảm cùng bộ đội bám trụ chiến đấu, phục vụ chiến đấu, bảo vệ chủ quyền lãnh thổ của Tổ quốc.

Phong trào học tập và xây dựng tập thể học sinh XHCN đã góp phần nâng cao chất lượng học tập và rèn luyện toàn diện cho thanh niên, học sinh, gắn việc học tập với việc tham gia sản xuất và hoạt động xã hội. Hưởng ứng chiến dịch ánh sáng văn hoá 1977 do Trung ương Đoàn và Bộ Giáo dục phát động tại 36 tỉnh, Thành Đoàn đã có 120.000 đoàn viên, thanh niên và 50.000 học sinh các trường sư phạm tham gia các "Đội tình nguyện ánh sáng văn hoá". Hàng triệu người đã được xoá mù chữ trong đó 530.000 thanh niên ở 17 tỉnh và thành phố được xoá mù chữ. Hình thức trường vừa làm vừa học rất phát triển. Trong 15 tỉnh, thành có gần 1.000 trường với 35.000 thanh niên vừa lao động sản xuất, vừa học văn hoá, chính trị, kĩ thuật và quản lí kinh tế. Phong trào xây dựng tập thể học sinh XHCN được mở rộng ở các tỉnh miền Bắc. Năm học 1976-1977 đã có gần 1.200 lớp được công nhận đạt danh hiệu Tập thể học sinh XHCN. Đặc biệt có khoa Hoá, trường Đại học Tổng hợp Hà Nội được công nhận danh hiệu Tập thể học sinh XHCN toàn khoa.

Phong trào rèn luyện thân thể và thực hiện nếp sống mới trong thanh niên, đoàn viên, hội viên có những bước phát triển mới. Phong trào có tác dụng rèn luyện, tăng cường sức khoẻ cho thanh niên và tạo không khí vui tươi, phấn khởi trong nhân dân. 3 triệu thanh niên tham gia thi chạy "Mừng Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam quang vinh" và Đại hội Việt dã lần thứ 20 Báo Tiền phong". Trên 1 triệu thanh niên đạt tiêu chuẩn bơi phổ thông và 868 cơ sở được công nhận toàn đơn vị biết bơi. 4.500 trường tham gia rèn luyện và thi đấu các môn điền kinh của thiếu niên và học sinh. Về thực hiện nếp sống mới, các tổ chức cơ sở của Hội hướng theo nội dung xây dựng con người mới, cuộc sống văn minh, gia đình hạnh phúc, động viên đông đảo thanh niên gia nhập các đội thanh niên cờ đỏ, thiếu niên sao đỏ để tuyên truyền giải thích nhân dân thực hiện nếp sống mới và làm nòng cốt giữ gìn trật tự trị an xã hội. Tại thành phố Hồ Chí Minh, hàng chục ngàn đoàn viên, hội viên và thanh niên đã hăng hái gia nhập lực lượng thanh niên bảo vệ trật tự, trị an thành phố...

Vấn đề đoàn kết tập hợp thanh niên các dân tộc, thanh niên tôn giáo và thanh niên Việt kiều luôn được Đoàn và Hội quan tâm. Phong trào thanh niên các dân tộc có những bước tiến bộ và trưởng thành. Thanh niên luôn là lực lượng nòng cốt trong việc tham gia giữ gìn an ninh chính trị, trật tự xã hội, bảo vệ buôn, làng, nương rẫy... Thanh niên tôn giáo đã hoà nhập cùng thanh niên cả nước tham gia lao động sản xuất, xây dựng các công trình thuỷ lợi, đi thanh niên xung phong, vào các tổ hợp tác... 80% thanh niên Thiên chúa giáo đã gia nhập Hội Liên hiệp Thanh niên Việt Nam, đã đăng kí nghĩa vụ quân sự và hàng ngàn thanh niên các tôn giáo gia nhập lực lượng vũ trang bảo vệ đất nước.

Hội nghị Đoàn Chủ tịch và Ban Thư kí Uỷ ban Trung ương Hội Liên hiệp Thanh niên Việt Nam, tháng 2-1978 hoàn toàn nhất trí và hưởng ứng chủ trương của Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đoàn lần thứ 25, đề ra phương hướng, nhiệm vụ của Hội trong thời gian tới là: “Tăng cường mở rộng khối đoàn kết rộng rãi thanh niên, tập hợp và tổ chức toàn bộ thế hệ trẻ phát huy lòng yêu nước và tinh thần làm chủ tập thể XHCN, bồi dưỡng lí tưởng cách mạng cho thanh niên, động viên và tổ chức thanh niên làm lực lượng xung kích trên mọi lĩnh vực hoạt động mà trọng tâm là mặt trận lao động sản xuất, thực hiện vượt mức kế hoạch Nhà nước năm 1978, đi đầu chống lại các hiện tượng tiêu cực trong kinh tế và đời sống xã hội, chăm lo những lợi ích thiết thân của tuổi trẻ”.

Để đoàn kết tập hợp rộng rãi các tầng lớp thanh niên vào tổ chức của Hội ở cơ sở, cần phải đẩy mạnh công tác phát triển và kết nạp hội viên, xây dựng và củng cố chi hội ở cơ sở và tiến hành thành lập Uỷ ban Hội ở các địa phương, thành thị, quận, phường.

Ngày 1-1-1978, Ban Bí thư Trung ương Đoàn ra Chỉ thị 01/CT-TWĐTN về vấn đề đoàn kết, tập hợp thanh niên và công tác mặt trận thanh niên. Chỉ thị yêu cầu các cấp bộ Đoàn làm nòng cốt cho hoạt động của Hội và tăng cường sự chỉ đạo của Đoàn đối với công tác đoàn kết, tập hợp thanh niên và công tác mặt trận thanh niên. Đó là một nhiệm vụ to lớn của Đoàn. Chỉ thị 01/TWĐTN là cơ sở để củng cố, xây dựng Hội Liên hiệp Thanh niên Việt Nam đáp ứng những yêu cầu, nhiệm vụ của cách mạng.

Tiếp theo đó tháng 9-1978, Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh quyết định nâng lên tầm cao của phong trào "Ba xung kích" bằng việc tổ chức "Lực lượng thanh niên xung kích xây dựng và bảo vệ Tổ quốc XHCN".

Mục đích của việc tổ chức lực lượng thanh niên xung kích xây dựng và bảo vệ Tổ quốc XHCN là nhằm động viên mọi tầng lớp thanh niên, tổ chức toàn thể thanh niên thành đội ngũ để phục vụ cho những yêu cầu cấp bách của đất nước, qua đó rèn luyện thế hệ trẻ thành lớp người mới, xây dựng, củng cố tổ chức Đoàn, Hội vững mạnh.

Cho đến cuối năm 1978, gần 8 triệu đoàn viên, hội viên và thanh niên đã tham gia lực lượng thanh niên xung kích xây dựng và bảo vệ Tổ quốc XHCN.

Đáp lời kêu gọi của Tổ quốc, thanh niên cả nước đã nêu cao lời thề:

1 - Siết chặt đội ngũ xung quanh Đảng quang vinh, hiến dâng toàn bộ tuổi thanh xuân cho sự nghiệp bảo vệ độc lập, tự do của Tổ quốc, xây dựng CNXH và bảo vệ hoà bình các dân tộc.
2 – Kiên quyết chiến đấu và sẵn sàng chiến đấu, sẵn sàng gia nhập các lực lượng vũ trang, hăng hái luyện tập quân sự, biến mỗi bản làng, đường phố, mỗi xí nghiệp, hợp tác xã, mỗi cơ quan, trường học thành một pháo đài kiên cường…
3 – Xung kích trong lao động sản xuất và công tác, lao động dũng cảm và sáng tạo, hoàn thành vượt mức kế hoạch Nhà nước trong bất cứ tình huống nào.
4 – Ra sức học tập, rèn luyện để trở thành những chiến sĩ cách mạng kiên cường, thông minh, có cuộc sống trong sáng, giản dị và lành mạnh.
5 – Nhanh chóng phát triển lực lượng, tạo nên sức mạnh vô địch của tuổi trẻ, quyết mang lá cờ trăm trận trăm thắng của Đảng và Bác Hồ vĩ đại tới đích cuối cùng.

Nhân dịp kỉ niệm 48 năm thành lập Đoàn, ngày 25-3-1979, Ban Chấp hành Trung ương Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh đã tổ chức trọng thể cuộc gặp mặt “Tuổi trẻ anh hùng bảo vệ Tổ quốc” nhằm biểu dương và động viên tuổi trẻ cả nước đang ra sức bảo vệ biên giới, hải đảo của Tổ quốc. Ban Bí thư Trung ương Đoàn đã trao tặng 350 huy chương “Tuổi trẻ anh hùng bảo vệ Tổ quốc” cho các đại biểu về dự cuộc họp mặt này.

Về mặt đối ngoại, ngay trong những năm 1970, thanh niên Việt Nam đã có đại diện trong hai tổ chức quốc tế lớn là Liên đoàn Thanh niên Dân chủ thế giới và Hội Sinh viên Quốc tế. Được sự lãnh đạo của Đảng, của Ban Bí thư Trung ương Đoàn, tuổi trẻ nước ta luôn phát huy tính năng động, sáng tạo nhưng vẫn đảm bảo được tính nguyên tắc và giữ vững quan điểm của Đảng về các vấn đề hoạt động quốc tế, tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN.

Mùa hè năm 1978, tại Đại hội Liên hoan thanh niên và sinh viên thế giới lần thứ XI tổ chức tại La Habana (Cuba), đoàn đại biểu thanh niên Việt Nam có 300 người do đồng chí Đặng Quốc Bảo, Uỷ viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bí thư thứ nhất Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh dẫn đầu. Khẩu hiệu hành động của Đại hội là “Vì tình đoàn kết chống đế quốc, vì hoà bình và hữu nghị”. Trong bầu không khí tình đoàn kết, chiến đấu và hữu nghị, đoàn đại biểu Việt Nam đã gây được sự cảm tình và thu hút sự chú ý của bạn bè khắp các châu lục.



CHƯƠNG XII: TUỔI TRẺ ĐI ĐẦU THỰC HIỆN CÁC CHƯƠNG TRÌNH HÀNH ĐỘNG CÁCH MẠNG

Ngày cập nhật: 18/10/2007

Từ ngày 20 đến ngày 22 tháng 11 năm 1980, Đại hội đại biểu Đoàn toàn quốc lần thứ IV diễn ra tại Hội trường Ba Đình, Hà Nội. Đại hội đã đánh giá cao những cống hiến xuất sắc và trưởng thành vượt bậc của thế hệ trẻ Việt Nam trong gần 20 năm qua. Nổi bật là hàng triệu đoàn viên, hội viên thanh niên đã hăng hái đi đầu tham gia các phong trào cách mạng của tuổi trẻ như “Ba sẵn sàng”, “Năm xung phong”, phong trào “Quyết thắng” làm nên bản anh hùng ca bất diệt, góp phần đánh thắng giặc Mỹ xâm lược, thống nhất Tổ quốc.

Đại hội đã đề ra mục tiêu phấn đấu cách mạng của Đoàn và phong trào thanh niên Việt Nam trong thời kì đổi mới là: “Phát huy mạnh mẽ vai trò chính trị của Đoàn, quyền làm chủ tập thể, vai trò xung kích và sáng tạo của tuổi trẻ, thực hiện thắng lợi ba cuộc cách mạng xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa; quyết tâm học tập và rèn luyện để trưởng thành mau chóng trở thành lớp người mới, kế tục trung thành và xuất sắc sự nghiệp cách mạng vẻ vang của Đảng và của dân tộc”.

Nhằm thực hiện mục tiêu trên, Đại hội đề ra ba mặt công tác chủ yếu sau:

1 – Nâng cao giác ngộ lý tưởng cộng sản chủ nghĩa, quyết tâm học tập và rèn luyện trở thành lớp người mới, làm chủ tập thể XHCN phát triển toàn diện.
2 - Đẩy mạnh phong trào “Ba xung kích” thành cao trào thi đua, hành động cách mạng của tuổi trẻ, thực hiện thắng lợi sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
3 – Xây dựng Đoàn vững mạnh, nhanh chóng tổ chức, đoàn kết, tập hợp thế hệ trẻ thành lực lượng làm chủ tập thể.

Để triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ V và Nghị quyết Đại hội Đoàn toàn quốc lần thứ IV, Ban Chấp hành Trung ương Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh đã họp Hội nghị lần thứ 4 (tháng 5-1982), Hội nghị lần thứ 5 và đến tháng 1-1984, Hội nghị lần thứ 7 Ban Chấp hành Trung ương Đoàn (Khoá IV) đã bổ sung nội dung và đề ra 5 chương trình hành động cách mạng của tuổi trẻ cả nước trong thời gian tới là:

1 – Chương trình học tập, rèn luyện xây dựng con người mới XHCN.
2 – Chương trình tuổi trẻ xung kích đẩy mạnh sản xuất, lương thực và phát triển nông nghiệp toàn diện.
3 – Chương trình tuổi trẻ lao động, sáng tạo, tiết kiệm và giải quyết việc làm cho thanh niên.
4 – Chương trình tuổi trẻ xung kích trên mặt trận an ninh, quốc phòng bảo vệ Tổ quốc.
5 – Chương trình tuổi trẻ xung kích trên mặt trận cải tạo XHCN và phân phối lưu thông.

Có thể nói các chương trình hành động cách mạng đã được các cấp Đoàn, Hội nhiệt liệt hưởng ứng do đó đã thu hút hàng triệu triệu đoàn viên, thanh niên, hội viên tham gia, tạo nên phong trào hành động cách mạng sôi nổi trong toàn Đoàn, toàn Hội góp phần phấn đấu hoàn thành các nhiệm vụ kinh tế – xã hội do Đảng và Nhà nước đề ra.

Với chương trình “Tuổi trẻ xung kích đẩy mạnh sản xuất lương thực và phát triển nông nghiệp” thanh niên nông thôn đã thể hiện vai trò nòng cốt trong việc ứng dụng những tiến bộ khoa học kĩ thuật trong sản xuất nông nghiệp như thâm canh, tăng năng suất lao động. Đã có hàng triệu hội viên thanh niên nông thôn tham gia phong trào học và làm kĩ thuật, đã tổ chức được 2.700 tổ, ban khoa học trẻ với hai triệu kĩ thuật viên. Riêng thành phố Hồ Chí Minh đã có 5/6 huyện ngoại thành với 67/85 xã có ban khoa học trẻ. Thực hiện chủ trương của Đảng về cải tiến quản lí kinh tế, đoàn viên, hội viên và thanh niên đã hăng hái phấn khởi thực hiện khoán mới và thực hiện Chỉ thị 100 của Ban Bí thư Trung ương Đảng trong nông nghiệp, góp phần tăng diện tích sản xuất nông nghiệp, tăng sản lượng lương thực. Trong những năm 1981-1985, sản lượng lương thực hàng năm đều tăng 4,5%, bình quân đạt 17 triệu tấn/năm.

Vụ mùa năm 1983 có 5.537 đội bảo vệ thực vật thanh niên với 107.108 đoàn viên, hội viên và thanh niên tham gia, có 2.872 đội thuỷ lợi với 730.148 đoàn viên, hội viên và thanh niên bán thêm cho Nhà nước 16.584 tấn thóc. Như chi hội thanh niên ở xã Đại Phước (Quảng Nam - Đà Nẵng), các chi hội thanh niên ở đồng bằng sông Cửu Long đã đi đầu trong chương trình sản xuất lương thực do Đoàn phát động. Đáng chú ý là Hợp tác xã Đại Phước, điển hình cho việc tập hợp đoàn kết thanh niên, động viên họ tiến quân vào đồng ruộng, tăng năng suất cây trồng, do đó đã đạt chỉ tiêu 21 tấn thóc/ha/năm. Riêng đội sản xuất Nguyễn Văn Bá, nông trường Mỹ Lãm thuộc vùng nông nghiệp Hà Tiên – công trình thanh niên cộng sản, một vùng đất mới khai phá có rất nhiều khó khăn chỉ với 30 đoàn viên, thanh niên, năm 1983 đã nhập kho cho Nhà nước 335 tấn thóc. Còn ở Thái Nguyên, tổ chức Đoàn và Hội LHTN tỉnh đã chủ động tổ chức ra các hình thức như “Đội chuyên giống”, “Đội khoa học kỹ thuật”… Thông qua các hình thức đó, đoàn viên thanh niên đã thể hiện vai trò tiên phong của mình trong việc làm tăng năng suất cây trồng. Thanh niên tỉnh Gia Lai đã có sáng kiến Công trình lỗ khoan của thanh niên Liên đoàn địa chất thuỷ văn mang tên “30 năm chiến thắng Điện Biên Phủ”. Đặc biệt được sự chỉ đạo của Đoàn, Hội, thanh niên trong tỉnh đã lập 7 công trình “Phủ xanh đất trống, đồi trọc” và đã góp 40.000 ngày công cùng nhân dân trong tỉnh trồng 3.073 hécta rừng.

Trên lĩnh vực công nghiệp, thanh niên công nhân đã hăng hái thi đua lao động đạt năng suất cao, chất lượng tốt, tiết kiệm nhiều. Phong trào học tập, rèn luyện nâng cao tay nghề, thi thợ giỏi và mở hội tuổi trẻ sáng tạo đã được mở rộng ra nhiều ngành nghề, nhiều địa phương. Tiêu biểu như ở Hà Nội, Quảng Ninh, thành phố Hồ Chí Minh trong các ngành như dệt, cơ khí, xây dựng…

Nét nổi bật là hình thức đảm nhận “công trình mang tên thanh niên” mở ra nhiều hoạt động hết sức sôi nổi. Tính đến năm 1985, đã có 10 công trình mang tên thanh niên có qui mô toàn quốc, trong đó có “Công trình thanh niên xây dựng nhà máy thuỷ điện Hoà Bình”; “công trình thanh niên xây dựng nhà máy nhiệt điện Phả Lại”; “công trình xây dựng thuỷ điện Trị An”. Ngày 10-12-1982, công trình thanh niên  xây dựng nhà máy thuỷ điện Hoà Bình đã được Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng nay là chính phủ quyết định đặt tên công trình xây dựng nhà máy thuỷ điện Hoà Bình là "công trình thanh niên cộng sản" và chính thức trao cho Đoàn và thế hệ trẻ nước ta nhiệm vụ đi đầu xây dựng một công trình vĩ đại nhất của đất nước. Đó là niềm vinh dự lớn lao của tuổi trẻ Việt Nam nói chung và tuổi trẻ tỉnh Hoà Bình nói riêng. Ngày 12-1-1983, đúng ngày ngăn sông Đà đợt 1, tuổi trẻ công trình thuỷ điện cùng đại diện Trung ương Đoàn, Trung ương Hội và 20 tỉnh, thành, thay mặt cho tuổi trẻ cả nước hân hoan đón nhận quyết định của Hội đồng Bộ trưởng. Từ đây dòng chữ “Bạn hãy tới công trình thanh niên cộng sản” bên bờ sông Đà trở thành biểu tượng nhắc nhở tuổi trẻ hãy xứng đáng với trách nhiệm và vinh dự lớn lao được Đảng và Nhà nước tin cậy trao cho.

Với tinh thần đó, tổ chức Đoàn và Hội đã động viên tất cả đoàn viên, thanh niên trong toàn tỉnh Hoà Bình và một số tỉnh trên toàn quốc tham gia. Riêng tỉnh Hoà Bình, tổ chức Đoàn và Hội đã phát động phong trào “Tất cả vì dòng điện ngày mai của Tổ quốc”. Hưởng ứng lời kêu gọi của Tỉnh Đoàn, đoàn viên, hội viên, thanh niên và các em thiếu niên các trường học đã mở trại hè trên công trường, tổ chức làm đường, dọn vệ sinh, phụ giúp công nhân thu dọn mặt bằng thuận lợi cho tổ chức thi công. Tổ chức Đoàn và Hội còn mở hội thi thợ giỏi toàn tỉnh ngay trên công trường. Qua cuộc thi, đã thu hút được tất cả các cơ sở Đoàn, Hội tích cực tham gia. Cũng chính nhờ vậy, tổ chức Đoàn và Hội Liên hiệp thanh niên phát hiện được nhiều tài năng trẻ, đúc rút được nhiều bài học kinh nghiệm cho công tác tổ chức, động viên phong trào trên toàn công trường, góp phần đào tạo bồi dưỡng, nâng cao tay nghề, giúp cho thanh niên đảm nhận nhiệm vụ mới trên công trường xây dựng. Trong quá trình xây dựng đã xuất hiện nhiều tấm gương tiêu biểu, nhiều sáng kiến đáng tự hào. Như sáng kiến của các em phường Phương Lâm (thị xã Hoà Bình) đã đề xuất phong trào “Em trồng một cây, nuôi một con gà vì dòng điện ngày mai” đã thành phong trào chung toàn tỉnh và cả nước. Các em đã tổ chức đi thăm và biếu tặng các anh chị công nhân hàng nghìn con gà, hàng chục tấn rau quả ngay từ những ngày đầu còn khó khăn, thiếu thốn. Cùng với phong trào của các em, tổ chức Đoàn, Hội đã vận động đoàn viên, thanh niên tự nguyện đóng góp hàng chục tấn thịt lợn, gà, hàng vạn tấn rau đậu, nhằm cải thiện bữa ăn cho anh chị em công nhân. Ngoài ra, các tổ chức Đoàn, Hội ở cơ sở đã cung cấp nhiều nhạc cụ, dụng cụ thể thao, nhiều phương tiện vui chơi giải trí… Các đội văn nghệ đã đến biểu diễn phục vụ cho công trình, góp phần động viên tinh thần làm việc của anh chị em công nhân.

ở tỉnh Quảng Ninh, phong trào chi viện cho Hoà Bình cũng đã phát triển rộng khắp, hỗ trợ công trình thế kỉ này. Tổ chức Đoàn và Hội Quảng Ninh đã gấp rút cử 24 tay lái xe Benla giỏi của vùng mỏ đến hỗ trợ, họ đã lập kỉ lục vượt chuyến an toàn, đạt 120% kế hoạch. Đã xuất hiện nhiều đoàn viên, hội viên, thanh niên có thành tích nổi bật như Lý Văn Hồng, lái xe của Xí nghiệp vận tải ô tô Cẩm Phả là người phá kỉ lục tăng chuyến của toàn công trường đạt 150% mức được giao trong ca. Anh cũng là người đạt số chuyến cao nhất trong số những lái xe tham gia chiến dịch lấp sông Đà đợt 1.

Cùng thời gian đó, do thiếu điện nghiêm trọng trong toàn quốc đặc biệt ngành công nghiệp nước nhà, nhà nước đã quyết định xây dựng nhà máy nhiệt điệt Phả Lại. Việc huy động một lực lượng lớn tham gia xây dựng công trình là vấn đề quan trọng nhất và cấp thiết nhất. Khẩu hiệu “Tất cả vì dòng điện thân yêu cho Tổ quốc” trở thành mệnh lệnh và lương tâm của mọi người. Trong bối cảnh đó, Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đoàn TNCS Hồ Chí Minh lần thứ 2 (Khoá IV) và Nghị quyết liên tịch với Bộ Xây dựng đã chỉ rõ “Về việc động viên các lực lượng thanh niên cả nước tham gia xây dựng công trường”. Đó là sự thể hiện quyết tâm cao của Đoàn, Hội và toàn thể đoàn viên, thanh niên trong cả nước; đồng thời nhanh chóng động viên tất cả đoàn viên và thanh niên tham gia tích cực để công trình đạt được chất lượng và bảo đảm tiến độ thời gian.

Cũng xuất phát từ nhiệm vụ xây dựng kinh tế và nhu cầu của phong trào quần chúng thanh niên, ngày 28-2-1983, Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) đã quyết định đặt tên công trường xây dựng nhà máy nhiệt điện Phả Lại là "Công trình Thanh niên Cộng sản". Công trình được nằm trên địa bàn của tỉnh Quảng Ninh, nên Tổ chức Đoàn và Hội Quảng Ninh là một trong những tỉnh hỗ trợ tích cực nhất cho công trình to lớn này. Đoàn và Hội đã phát động một cách rộng rãi trong thanh niên toàn tỉnh phong trào “Chi viện cho công trình TNCS xây dựng nhà máy nhiệt điện Phả Lại”. Riêng Công ty xây dựng 18 đã có gần 1.000 thanh niên tham gia một cách tích cực, từ việc vận chuyển hàng hoá, phương tiện cho đến việc cử nhiều đội văn nghệ đến công trình để động viên anh chị em nhanh chóng hoàn thành nhiều hạng mục công trình. Với tinh thần đó, Quảng Ninh được ghi nhận là tỉnh có phong trào chi viện cho công trình TNCS xây dựng nhà máy nhiệt điện Phả Lại sớm nhất toàn quốc.

Sau 41 tháng kể từ ngày khởi công xây dựng, bằng sự lao động dũng cảm và sáng tạo của anh chị em công nhân, thanh niên Tổ máy số 1 đã được hoàn thành và đi vào hoạt động với chất lượng tốt. Sáu năm sau, 4 tổ máy tiếp theo đã hoạt động với công suất 440W, cung cấp trên 5 tỉ KWh điện cho Tổ quốc, đem lại hiệu quả to lớn đối với nền kinh tế và đời sống của nhân dân. Trải qua thực tiễn của cuộc sống trên công trường thanh niên cộng sản Phả Lại, các đoàn viên, hội viên, thanh niên đã được rèn luyện và trưởng thành. Đã có 878 đoàn viên được kết nạp vào Đảng, 574 đồng chí được công nhận là Chiến sĩ thi đua, 1 đồng chí được tuyên dương anh hùng lao động, 12 tập thể được nhận Huân chương lao động… và nhiều phần thưởng khác của Đảng và Nhà nước, của các ngành, các tổ chức quần chúng đã tặng để ghi nhận thành quả chung của công trường. Đó cũng là kết quả của quá trình liên tục khắc phục khó khăn, lao động sáng tạo của tuổi trẻ, tập thể cán bộ, của kỹ sư, cán bộ khoa học kỹ thuật. Đó cũng là sự kết hợp chỉ đạo chặt chẽ giữa tổ chức Đoàn, Hội và các cấp, các ngành trong quá trình xây dựng công trình và cũng là xây dựng con người mới XHCN.

Bên cạnh các công trình thanh niên cộng sản có qui mô toàn quốc thì ở các cơ sở, các địa phương trên toàn quốc cũng đã phát triển nhiều hình thức này. Đến cuối năm 1983, trong 16 tỉnh, thành phố đã có hơn 11.000 công trình mang tên thanh niên cấp xí nghiệp. Nét mới của các công trình thanh niên giai đoạn này là đã hình thành được cơ chế quản lí thích hợp, đem lại hiệu quả cao. Tiêu biểu như ở tỉnh Quảng Ninh, đoàn viên thanh niên cũng đã đảm nhận hàng ngàn công trình có quy mô khác nhau, nhưng phần lớn đều đạt “5 được”: "được người" – thông qua công trình thanh niên đã góp phần giáo dục thanh niên trên nhiều mặt; "được việc" – tức là hoàn thành xuất sắc những công việc được đảm nhận; được tổ chức – thông qua hoạt động tại các công trình thanh niên tổ chức Đoàn, Hội được củng cố một bước; "được cán bộ" – góp phần tạo ra đội ngũ cán bộ Đoàn, Hội biết đi sâu vào chuyên môn, trước hết là có thêm kiến thức quản lý và "được cơ sở vật chất" bổ sung cho hoạt động của Đoàn, Hội.

Tóm lại, công trình thanh niên là một hình thức sinh động, hấp dẫn của tuổi trẻ trong lao động xây dựng quê hương, đất nước, là môi trường để thanh niên rèn luyện, cống hiến và trưởng thành. Hình thức này được mở rộng phát triển đến các cơ sở, có tác dụng giáo dục, rèn luyện, đoàn kết, tập hợp thanh niên để góp phần hoàn thành các nhiệm vụ kinh tế – xã hội mà Đảng và Nhà nước đề ra.

Thực hiện chương trình tuổi trẻ xung kích trên mặt trận an ninh chính trị, trật tự và an toàn xã hội, phong trào thanh niên có bước phát triển mới về nội dung và hình thức phong phú. Hình thức hoạt động phối hợp 3 lực lượng: Thanh niên địa phương, thanh niên công an, thanh niên quân đội được mở rộng; hình thức kết nghĩa giữa tổ chức Đoàn, Hội, và thanh niên các lực lượng vũ trang được phát triển. Cả nước có 23.000 đội thanh niên xung kích an ninh. Riêng thành phố Hồ Chí Minh đã có trên 100.000 thanh niên tham gia các đội xung kích an ninh. ở Đồng Nai, lực lượng xung kích an ninh của thanh niên đã tham gia giải quyết 50 vụ việc tiêu cực. Các hoạt động sôi nổi trong các phong trào “Đền ơn đáp nghĩa”; “Vì điểm tựa tiền tiêu của Tổ quốc” đã thu hút đông đảo đoàn viên, hội viên, thanh niên tham gia.

Phong trào hành động cách mạng của thanh niên quân đội được đẩy mạnh, góp phần nâng cao chất lượng huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu, bảo vệ biên giới, hải đảo của Tổ quốc. Đông đảo thanh niên đã hoan nghênh và hưởng ứng luật nghĩa vụ quân sự. Hội Liên hiệp Thanh niên ở các địa phương và Trung ương đã phối hợp với các cơ quan quân sự tổ chức cho thanh niên học tập, huấn luyện, sẵn sàng lên đường nhập ngũ khi Tổ quốc cần. Trên 95% cơ sở ở các tỉnh thành đã hoàn thành và hoàn thành vượt mức chỉ tiêu toàn quân. Điển hình như Hà Nội, Trung ương Đoàn đã tặng cờ thi đua khá nhất cho Thành Đoàn Hà Nội trên mặt trận này.

Trên mặt trận cải tạo xã hội chủ nghĩa và phân phối lưu thông, đoàn viên thanh niên và hội viên đã góp phần củng cố quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa, lập lại trật tự trong lĩnh vực lưu thông phân phối. Tổ chức Đoàn và Hội đã tích cực tham gia củng cố thương nghiệp xã hội chủ nghĩa, động viên đoàn viên, hội viên thực hiện nếp sống văn minh thương nghiệp, đăng kí xây dựng các quầy hàng, cửa hàng thanh niên, hợp tác xã mua bán, tổ phục vụ thanh niên.

Tháng 8-1983, Hội nghị lần thứ 6 Ban Chấp hành Trung ương Đoàn (Khoá IV) đã ra Nghị quyết về công tác tư tưởng của Đoàn nhằm đẩy mạnh việc giáo dục rèn luyện, xây dựng con người mới trong thanh niên. Được sự chỉ đạo của các cấp bộ Đoàn, Hội, chương trình học tập, rèn luyện xây dựng con người mới xã hội chủ nghĩa được triển khai mạnh mẽ; nhiều cơ sở Đoàn, Hội đã tổ chức chương trình giáo dục lý luận cơ bản và tổ chức giáo dục truyền thống cách mạng cho đoàn viên, hội viên và thanh niên. Thực hiện Chỉ thị 14 của Ban Bí thư Trung ương Đảng về tăng cường giáo dục truyền thống cách mạng cho thế hệ trẻ và Nghị quyết Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đoàn lần thứ 6 (Khoá IV) về nhiệm vụ công tác tư tưởng của Đoàn, Ban Bí thư Trung ương Đoàn đã quyết định tổ chức và triển khai trong toàn quốc “Cuộc hành quân theo bước chân những người anh hùng”. Đây là một phương thức giáo dục truyền thống cách mạng thông qua các hoạt động cụ thể, phong phú, thiết thực nhằm làm cho các tầng lớp thanh niên, thiếu niên nhận thức một cách sâu sắc về lịch sử đấu tranh hết sức oanh liệt của cha anh dước sự lãnh đạo tài tình của Đảng Cộng sản Việt Nam quang vinh. Trên cơ sở đó bồi dưỡng niềm tự hào, lòng biết ơn của tuổi trẻ đối với các thế hệ cách mạng đi trước đã chiến đấu, hi sinh quên mình vì độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội.

Trước sự phát triển của phong trào thanh niên trong tình hình mới, cũng như để thực hiện Nghị quyết Đại hội Đoàn toàn quốc lần thứ IV, Nghị quyết Hội nghị lần thứ 3, 4 của Ban Chấp hành Trung ương Đoàn (Khoá IV) giữa tháng 8-1982, Ban Bí thư Trung ương Đoàn đã họp bàn chuyên đề về công tác đoàn kết, tập hợp thanh niên.

Hội nghị đã ra Chỉ thị số 11/TWĐTN “Về việc tăng cường chỉ đạo mặt trận đoàn kết, tập hợp thanh niên trong thời gian trước mắt”, bản Chỉ thị đã xác định mục tiêu, yêu cầu của công tác đoàn kết, tập hợp thanh niên trong những năm tiếp theo, đề ra nhiệm vụ tăng cường củng cố, mở rộng Hội Liên hiệp Thanh niên Việt Nam và nêu rõ vai trò hạt nhân nòng cốt của Đoàn trong việc tổ chức và hoạt động Hội. Sau khi đã đánh giá và biểu dương những việc làm của các cấp bộ Đoàn để thực hiện Chỉ thị 01 của Ban Bí thư Trung ương Đoàn (1978) về công tác đoàn kết, tập hợp thanh niên, cũng như công tác mặt trận thanh niên, Ban Bí thư đã chỉ ra những thiếu sót và hạn chế trong những năm qua của công tác đoàn kết tập hợp thanh niên và xây dựng tổ chức Hội Liên hiệp thanh niên ở các cấp. Những khiếm khuyết đó là:

+ Nhiều nơi, mới tập hợp được số thanh niên tích cực, chưa đi sâu vào các đối tượng, bộ phận thanh niên chưa tập hợp được chiếm tỷ lệ còn cao.
+ Chi hội Liên hiệp Thanh niên ở cơ sở phát triển chậm, hoạt động mới trong phạm vi hẹp, nội dung và hình thức hoạt động còn lúng túng.
Chỉ rõ nguyên nhân của tình trạng trên, Ban Bí thư Trung ương Đoàn đã chỉ thị cho các cấp bộ Đoàn cần tăng cường chỉ đạo công tác mặt trận đoàn kết tập hợp thanh niên trong tình hình mới. Bản Chỉ thị nêu rõ:

1 – Các cán bộ Đoàn cần nhận thức đầy đủ về ý nghĩa và vị trí của công tác đoàn kết, tập hợp thanh niên và vai trò của tổ chức Hội Liên hiệp Thanh niên theo tinh thần chỉ thị số 01/CT-TWĐTN của Ban Bí thư Trung ương Đoàn trên cơ sở đó kiểm điểm sự chỉ đạo đối với công tác này và trách nhiệm của Đoàn đối với Hội và quyết định những biện pháp bổ khuyết. Phải đặt rõ mục tiêu của công tác đoàn kết, tập hợp thanh niên trong thời gian tới, phát triển các hình thức hoạt động phù hợp với các tầng lớp thanh niên để lôi kéo anh chị em tham gia. Thông qua các hình thức tổ chức và hoạt động rộng rãi, Đoàn phát huy vai trò tích cực của thanh niên trong các hoạt động xã hội, bồi dưỡng cho anh chị em tinh thần yêu nước XHCN và lựa chọn những thanh niên tiên tiến để kết nạp vào Đoàn.

2 – Phải tập trung sức củng cố và phát triển các chi hội Liên hiệp Thanh niên.

3 – Phải chỉ đạo các Chi hội Liên hiệp Thanh niên thực sự hoạt động hấp dẫn, đáp ứng các yêu cầu, nhiệm vụ cách mạng và nhiều lợi ích chính đáng của thanh niên… Chi hội Liên hiệp Thanh niên ở cơ sở phải làm được những chức năng sau:

- Chi hội là người thực sự đại diện cho quyền làm chủ tập thể của thanh niên, chăm lo chu đáo đời sống tinh thần và vật chất của tuổi trẻ, là nơi tổ ấm của thanh niên, quan tâm giải quyết các khó khăn của thanh niên.

- Chi hội là trường học rèn luyện của thanh niên, nơi hướng dẫn thanh niên học tập để tiến bộ và trưởng thành về chính trị, văn hoá, khoa học, kỹ thuật nghề nghiệp…

Các tổ chức Đoàn có trách nhiệm giúp đỡ xây dựng, củng cố tổ chức và hướng dẫn nội dung hoạt động thiết thực của Hội… Thông qua Hội Liên hiệp Thanh niên, Đoàn đến với mọi tầng lớp thanh niên theo phương châm “Toàn Đoàn làm công tác tập hợp, đoàn kết thanh niên”. Mỗi đoàn viên là một cán bộ Hội, “Hãy nghe thanh niên nói và hãy nói cho thanh niên hiểu”.

 

Bản Chỉ thị nhấn mạnh: Các cấp bộ Đoàn cần quán triệt vai trò quan trọng của tổ chức Hội Liên hiệp Thanh niên, quan tâm củng cố các cấp Hội ở những nơi đã có và xây dựng mới ở những nơi chưa có. Từ nay các cấp Hội thống nhất tên gọi là Uỷ ban Hội Liên hiệp Thanh niên.

Cùng trong thời gian này, Ban Bí thư Trung ương Đảng ra Chỉ thị 17/CT-TW “Về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong giai đoạn mới, càng khẳng định Chỉ thị 11 của Ban Bí thư Trung ương Đoàn là một chủ trương đúng đắn, kịp thời, đáp ứng yêu cầu khách quan của công tác đoàn kết, tập hợp thanh niên trong tình hình hiện nay. Là thành viên của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Hội Liên hiệp thanh niên là mặt trận rộng rãi của thanh niên Việt Nam, có nhiệm vụ tập hợp, đoàn kết mọi tầng lớp thanh niên không phân biệt tôn giáo, dân tộc để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN.

Chỉ thị 11 của Ban Bí thư Trung ương Đoàn được các cấp Đoàn và Hội triển khai xuống tận cơ sở, đến đoàn viên, hội viên. Bản Chỉ thị 11 của Ban Bí thư ra đời lập tức được cấp uỷ Đảng, các ngành, đoàn thể trong cả nước hoan nghênh và đồng tình ủng hộ, tạo điều kiện cho các cấp của Hội tổ chức thực hiện. Chỉ trong một thời gian ngắn, phong trào xây dựng Hội LHTN đã có sự chuyển biến rõ rệt, đặc biệt ở các tỉnh phía Nam. Nổi bật như các tỉnh Long An, Kiên Giang, Đồng Tháp, Quảng Nam, Đà Nẵng.. đã triển khai một cách tích cực và khẩn trương. Các hình thức tập hợp cũng vô cùng phong phú, đa dạng, như mô hình công tác “4 mặt” của Hội (xuất hiện ở trong các trường học); các loại hình tập hợp theo đội, nhóm nhỏ, các chi hội theo sở thích, nghề nghiệp… đó là những tìm tòi, sáng tạo để đổi mới phương thức hoạt động, tập hợp thanh niên ở cơ sở. Chính nhờ hình thức phong phú, đa dạng như vậy mà đã có tác dụng thu hút đông đảo thanh niên tham gia vào tổ chức Hội và sinh hoạt Hội.

Một trong những nhiệm vụ quan trọng của Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh và Hội Liên hiệp thanh niên Việt Nam là thiết lập mối quan hệ khăng khít với phong trào thanh niên thế giới. Đây cũng là một trong những mục tiêu quan trọng trong chính sách đối ngoại của Đảng và Nhà nước ta.

Từ ngày 15 đến 17 tháng 7 năm 1982, Đoàn đại biểu Đoàn TNCS Hồ Chí Minh do đồng chí Vũ Mão, Bí thư thứ nhất Trung ương Đoàn dẫn đầu đã thăm hữu nghị chính thức Campuchia. Hai tổ chức thanh niên nguyện ra sức giáo dục tuổi trẻ hai nước về tình hữu nghị trong sáng và truyền thống đoàn kết giữa 3 dân tộc Việt Nam – Lào – Campuchia.

Cũng trong năm 1982 đã có cuộc gặp gỡ hữu nghị thanh niên Thủ đô ba nước: Hà Nội – Viêng Chăn – Phnôm Pênh. Với tình cảm chân tình, đoàn kết hữu nghị anh em, các đại diện tham dự cuộc gặp đã dành nhiều thời gian để nghe và thảo luận về các vấn đề bảo vệ Tổ quốc, chăm sóc giáo dục thiếu niên, nhi đồng, giữ gìn trật tự an toàn xã hội, sáng tạo khoa học kỹ thuật và thực hành tiết kiệm… trên tinh thần học hỏi kinh nghiệm và hoạt động thanh niên của Thủ đô mỗi nước.

Bên cạnh các hoạt động hữu nghị, hợp tác Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh và Hội Liên hiệp Thanh niên Việt Nam, Hội Sinh viên Việt Nam còn tham gia nhiều lĩnh vực cụ thể liên quan đến công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, công tác giáo dục lối sống, hoạt động lao động sáng tạo. Ngoài ra, các đại biểu dự Hội nghị đều nhấn mạnh phải tăng cường công tác tuyên truyền, vạch trần bản chất phản động, hiếu chiến của kẻ thù, ủng hộ phong trào giải phóng dân tộc…
Năm 1982, đồng chí Lê Quang Vịnh, Bí thư Trung ương Đoàn, chủ tịch Uỷ ban Trung ương Hội Liên hiệp Thanh niên Việt Nam đã dẫn đầu đoàn đại biểu Thanh niên Việt Nam đi thăm Nicaragoa, một đất nước rất kiên cường chiến đấu chống lại những đội quân đánh thuê của Mỹ. Tháng 5-1984, Đoàn Thanh niên Xanđinô 19-7 đã cử một đoàn đại biểu do anh Maria Phônxêca, Bí thư Trung ương Đoàn làm trưởng đoàn sang thăm và trao đổi kinh nghiệm công tác với thanh niên nước ta.

Ngày 14-12-1983, Uỷ ban Trung ương Hội Liên hiệp Thanh niên Việt Nam đã họp hội nghị lần thứ 4 tại Hà Nội để đánh giá phong trào thanh niên và công tác Hội trong những năm 1982-1983 và đề ra nhiệm vụ công tác năm 1984. Hội nghị đánh giá cao vai trò của Chỉ thị 11 đã có tác động to lớn đến việc xây dựng cơ sở Hội và công tác tập hợp, đoàn kết thanh niên. Trong thời gian qua, nhiều địa phương có Hội nhưng không hoạt động hoặc hoạt động rời rạc nay đã “hồi sinh” và phát triển được nhiều hội viên mới. Nhiều vị linh mục, tu sĩ, đại đức tham gia Uỷ ban Hội như ở các tỉnh Đồng Nai, Sông Bé (cũ), Kiên Giang (cũ)…

Sau một năm, Ban Thư ký Hội và Ban Mặt trận Trung ương Đoàn đã mở hội nghị kiểm điểm việc thực hiện Chỉ thị 11 ở 3 cụm Nam Bộ, các tỉnh miền Trung và ở miền Bắc.

Nhờ sự quan tâm lãnh đạo của các cấp uỷ Đảng, vai trò nòng cốt của các cấp bộ Đoàn, công tác xây dựng tổ chức Hội đã có sự chuyển biến rõ rệt, ở các tỉnh miền Nam, nơi thấp nhất cũng có thêm hàng trăm chi hội mới, số lượng hội viên sinh hoạt Hội ngày càng đông, như ở Cửu Long có 76.000 hội viên, Đồng Tháp 33.000 hội viên, Phú Khánh 70.000 hội viên, Gia Lai - Kon Tum 49.000 hội viên, Quảng Nam - Đà Nẵng 170.000 hội viên, Tiền Giang 215.000 hội viên. Đặc biệt ở Kiên Giang có tới 26.000 hội viên, là một địa phương có phong trào hội mạnh, điển hình của hoạt động hội của các tỉnh miền Nam. Thành công của công tác đoàn kết, tập hợp thanh niên, công tác xây dựng Hội ở Kiên Giang trước hết nhờ sự quan tâm lãnh đạo của tỉnh Đảng bộ và việc quán triệt tinh thần Chỉ thị 11 của các cấp bộ Đoàn, Hội. ở Kiên Giang, Chủ tịch Uỷ ban Hội Liên hiệp Thanh niên tỉnh là đồng chí Bí thư Tỉnh uỷ và tỉnh đã xây dựng được quy chế toàn Đoàn làm công tác Hội.

Để kiện toàn Uỷ ban Trung ương Hội và tăng cường sự chỉ đạo của Đoàn với công tác đoàn kết tập hợp thanh niên, Hội nghị nhất trí bổ sung đồng chí Trần Phong – Bí thư Trung ương Đoàn giữ chức Phó Chủ tịch kiêm Tổng thư ký Uỷ ban Trung ương Hội Liên hiệp Thanh niên Việt Nam. Nay đồng chí Trần Phong tức Nguyễn Minh Triết là ủy viên Bộ Chính trị Trung ương Đảng, Bí thư Thành ủy thành phố Hồ Chí Minh. Đồng chí Vũ Quốc Hùng, Bí thư Trung ương Đoàn giữ chức Phó Chủ tịch Uỷ ban Trung ương Hội Liên hiệp Thanh niên Việt Nam.

Hội nghị đã đề ra chương trình hoạt động 10 điểm của Hội Liên hiệp Thanh niên Việt Nam trong năm 1984 là:

1 – Hội viên, chi hội và các Uỷ ban Hội Liên hiệp Thanh niên có trách nhiệm thực hiện 5 chương trình hành động cách mạng do Ban Chấp hành Trung ương Đoàn TNCS Hồ Chí Minh phát động.
2 – Phát động phong trào “Nghe thanh niên nói, nói cho thanh niên hiểu”.
3 – Tiếp tục thi hành Chỉ thị 11 về việc tăng cường công tác mặt trận đoàn kết, tập hợp thanh niên; tất cả các cấp uỷ, ban tiến hành kiểm điểm sau một năm thi hành chỉ thị số 11 vào cuối năm 1984. Các Ban Thư ký phối hợp với Ban Mặt trận của Đoàn tổng kết, rút kinh nghiệm sau 2 năm thi hành chỉ thị.
4 – Uỷ ban Hội ở cơ sở và cấp quận, huyện phối hợp ký kết liên tịch với các cơ quan có liên quan, đưa hội viên thanh niên vào các hoạt động kinh tế – xã hội, phát huy vai trò của tổ chức Hội.
5 – Kiến nghị với cấp uỷ Đảng và chính quyền giành cho Hội một nơi sinh hoạt câu lạc bộ.
6 – Tích cực chuẩn bị tiến tới mở hội nghị đại biểu toàn quốc lần thứ III của Hội Liên hiệp Thanh niên Việt Nam và liên hoan các chi hội hoạt động tốt vào quý III năm 1984.
7 - Đẩy mạnh công tác phát triển hội viên ở các tỉnh miền Nam, đưa tỉ lệ lên 50%. Nơi có phong trào, có điều kiện phấn đấu cao hơn.
8 – Lập và ra mắt Uỷ ban ở tất cả các quận, huyện, các tỉnh miền Nam trong 6 tháng đầu năm 1984.
9 – Uỷ ban Trung ương Hội và Uỷ ban các tỉnh, thành đặc khu mở các lớp huấn luyện cán bộ Hội, mở lớp chuyên đề, lớp tập huấn. Khuyến khích các địa phương liên kết, phối hợp mở lớp. Uỷ ban Trung ương mở một lớp huấn luyện cán bộ Hội cấp huyện.
10 – Uỷ ban Trung ương biên soạn các tài liệu về công tác Hội vào đầu năm 1984 để cơ sở và địa phương có tài liệu huấn luyện, tham khảo.

Ra bản tin Mặt trận thanh niên để thông báo công tác Hội và công tác mặt trận thanh niên.

Tại Hà Nội, từ ngày 29 đến 31 tháng 3 năm 1984, Hội nghị đại biểu toàn quốc lần thứ III của Hội Liên hiệp Thanh niên Việt Nam đã họp để tổng kết tám năm hoạt động của Hội (1976-1984), bàn về nhiệm vụ của Hội trong thời gian tới, thông qua Điều lệ (sửa đổi) của Hội và cử Uỷ ban Trung ương Hội nhiệm kỳ mới.

Hội nghị được đồng chí Lê Quang Đạo, Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng, đồng chí Huỳnh Tấn Phát, Chủ tịch Đoàn Chủ tịch Uỷ ban Trung ương mặt trận Tổ quốc Việt Nam, đồng chí Vũ Mão, Uỷ viên Trung ương Đảng, Bí thư Thứ nhất Trung ương Đoàn và các đồng chí lãnh đạo các Bộ, ban ngành, đoàn thể ở Trung ương và Thủ đô đã đến dự và chỉ đạo hội nghị.

Hội nghị nhận được điện chúc mừng của Ban Thường vụ Liên đoàn Thanh niên dân chủ thế giới, Hội Thanh niên sinh viên và học sinh Việt Nam tại Pháp.

Hội nghị đánh giá những tiến bộ và thành công của công tác đoàn kết, tập hợp thanh niên và hoạt động của Hội trong những năm qua, đặc biệt trong hai năm lại đây sau khi có Chỉ thị 11 của Ban Bí thư Trung ương Đoàn, tổ chức Hội Liên hiệp Thanh niên Việt Nam đã được các cấp bộ Đoàn quan tâm củng cố. Một số nơi Hội phát triển mạnh, đi vào hoạt động có nề nếp như Kiên Giang, Tây Ninh, An Giang, Biên Hoà (Đồng Nai), Thốt Nốt (Hậu Giang). Kiên Giang là tỉnh được bầu là lá cờ đầu về công tác Hội trong cả nước. Đến lúc này, Uỷ ban Hội Liên hiệp Thanh niên Việt Nam đã được thành lập ở hầu khắp các tỉnh, thành, trên 1/2 cơ sở ở các tỉnh đều có tổ chức Hội. Nhiều tỉnh có 100% huyện lập Uỷ ban Hội Liên hiệp Thanh niên. Đại hội Hội Liên hiệp Thanh niên đã được tiến hành ở phần lớn các tỉnh. Là mặt trận đoàn kết tập hợp rộng rãi mọi tầng lớp thanh niên. Hội đến với tất cả thanh niên, thuộc các đối tượng, nhất là thanh niên các vùng dân tộc, tôn giáo, thanh niên người Hoa, thanh niên các gia đình lớp trên hoặc ở các xóm lao động với ý thức chủ động, thái độ chân tình: “Hãy đến với thanh niên”. Tổ chức diễn đàn trong các câu lạc bộ tuổi trẻ; “Hãy nghe thanh niên nói và nói cho thanh niên hiểu”; là hình thức đối thoại, dân chủ, cùng nhau bàn bạc để nhất trí về những vấn đề mà họ quan tâm. Đây là phương pháp giáo dục và vận động thanh niên khá hấp dẫn và có hiệu quả của Hội.

Với nội dung hoạt động của Hội ở cơ sở theo mô hình “Tổ ấm, câu lạc bộ, nơi cống hiến và trưởng thành” bước đầu đã có sức thu hút thanh niên và có tác dụng thiết thực. Các loại hình tập hợp theo đại đội, nhóm nhỏ, các chi hội theo sở thích, nghề nghiệp… là những tìm tòi về sự đổi mới phương thức tập hợp thanh niên ở cơ sở, đã có tác dụng thu hút đông đảo thanh niên tham gia sinh hoạt Hội. Đến đầu năm 1984, tỉnh Đồng Tháp đã có 33.000 hội viên, Kiên Giang có 26.000 hội viên, Quảng Nam - Đà Nẵng có 170.000 hội viên. Đặc biệt tỉnh Gia Lai, công tác đoàn kết tập hợp thanh niên phát triển rộng khắp, hầu hết tất cả các huyện và thị xã trong tỉnh đều có tổ chức Hội Liên hiệp Thanh niên, thu hút đến 94.494 thanh niên tham gia. Nhiều tổ chức Hội ở cấp phường, xã đã có những hình thức hoạt động phong phú, đa dạng, tiêu biểu như Xã Gào, Hoa Lư, Trà Đa, thị trấn An Khê…Riêng tỉnh Đắc Lắc lại có nét đặc biệt, Uỷ ban Hội Liên hiệp Thanh niên tỉnh rất chú trọng tập trung kiện toàn tổ chức Hội các cấp, nhất là ở cơ sở. Đáng chú ý là ở các thôn, buôn có từ 30 thanh niên trở lên đều vận động thành lập một chi hội. Còn tất cả các đơn vị nông, lâm trường, xí nghiệp, trường học… đều được kiện toàn một bước Uỷ ban Hội. Đặc biệt, Uỷ ban Hội Liên hiệp Thanh niên tỉnh bước đầu đã đề ra chủ trương nghiên cứu, tiến tới hình thành các chi Hội theo nghề nghiệp và từng bước đổi mới nội dung, phương thức hoạt động của các cấp Hội. Như vậy trong tỉnh đã có nhiều đơn vị có phong trào thanh niên rất tốt như Xí nghiệp liên hiệp 333, Công ty cầu đường giao thông, Bưu điện tỉnh, Công ty khai hoang cơ giới xã Hoà Tiến huyện Krong Pắc, Đắc Lắc. Nhiều thanh niên đã xoá đi mặc cảm về thành phần xuất thân, tôn giáo và quá khứ của bản thân để đến với cách mạng, với tổ chức mà bước ngoặt của cuộc đời mình được bắt đầu từ khi gia nhập Hội. Chị Ngô Thị Bích Đông – một thanh niên xuất thân từ gia đình sỹ quan nguỵ chế độ cũ, chị đi xây dựng vùng kinh tế mới, được chi hội thanh niên dìu dắt, đến nay đã trở thành Phó Chủ tịch UBND xã Trừ Văn Thố (Sông Bé), kiêm Bí thư Đoàn và Trưởng công an xã. Chị Bành Thị Sắc là người Hoa, sống trong vùng Thiên Chúa giáo, từ một hội viên nay là Đảng uỷ viên, Bí thư Đoàn xã Vĩnh Thanh (huyện Chợ Lách – Bến Tre). Anh Phạm Văn Phước là tu sĩ, được chi hội thanh niên giúp đỡ, học lớp sư phạm cấp tốc để mang ánh sáng văn hoá đến với các lớp học sinh. Bên cạnh đó, Hội Sinh viên Việt Nam (thành viên của Hội Liên hiệp Thanh niên Việt Nam) cũng đã có những hoạt động đoàn kết, tập hợp tất cả sinh viên Việt Nam thành một khối, thực hiện nhiệm vụ lịch sử đóng góp vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Trước yêu cầu mới của tình hình đất nước, Nghị quyết Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đoàn TNCS Hồ Chí Minh (Khoá IV) về phương hướng và nhiệm vụ công tác Đoàn năm 1984-1985. Theo tinh thần nghị quyết nêu trên, trong hai ngày (ngày 5 và 6-7-1985) đã tiến hành Hội nghị Đại biểu sinh viên toàn quốc; Hội nghị đã nêu lên những thành tích và cống hiến to lớn của tuổi trẻ trong các trường đại học, của tổ chức Hội từ Đại hội Hội Liên hiệp Sinh viên toàn quốc lần thứ IV đến thời điểm. Đồng thời hội nghị cũng chủ trương tích cực đẩy mạnh công tác củng cố tổ chức Hội, tập hợp đoàn kết động viên toàn thể sinh viên Việt Nam phát huy truyền thống cách mạng và quyền làm chủ tập thể xã hội chủ nghĩa của sinh viên trong học tập, rèn luyện, xây dựng và quản lý trường, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN.

Trong các hoạt động quốc tế thanh niên, Đoàn TNCS Hồ Chí Minh cũng như Hội Liên hiệp Thanh niên Việt Nam rất quan tâm đến phong trào thanh niên các nước đang đấu tranh vì hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội.

Tháng 8 năm 1985, tại Mátxcơva, Liên bang cộng hoà xã hội chủ nghĩa Xô viết, Đại hội Liên hoan thanh niên, sinh viên thế giới lần thứ XII được tổ chức một cách trọng thể, có 40 ngàn đại biểu và khách mời, khách du lịch đến từ khoảng 150 nước. Đoàn đại biểu Thanh niên Việt Nam dự Đại hội có 500 người tiêu biểu cho phong trào thanh niên cả nước. Đại hội diễn ra dưới khẩu hiệu hành động: "Vì tình đoàn kết chống đế quốc, vì hoà bình và hữu nghị". Trong 8 ngày hoạt động sôi nổi, Đại hội liên hoan XII luôn vang rền tiếng hô "Hòa bình! Đừng có chiến tranh! Đoàn kết, hữu nghị".

Trong Đại hội liên hoan đã diễn ra nhiều cuộc tiếp xúc, nhiều câu chuyện thực tế chiến đấu và hy sinh của đại biểu thanh niên ta đã làm bạn bè thanh niên thế giới hết sức xúc động. Hình ảnh các bạn Nicaragoa trong cuộc gặp gỡ cũng là hình ảnh của các đại biểu thanh niên Việt Nam trong các kỳ Đại hội liên hoan trước đó, ở Xôphia, ở Béclin…

Với chủ đề xuyên suốt, đoàn kết chống chiến tranh, bảo vệ hòa bình, Đại hội Liên hoan thanh niên, sinh viên thế giới đã kết thúc bằng lời kêu gọi thanh niên, sinh viên thế giới "Chúng ta phải cùng nhau phấn đấu để mọi người tin vào ngày mai, quyền có việc làm và cuộc sống xứng đáng với con người, quyền được học văn hóa và học nghề, tham gia quản lý Nhà nước và xã hội, khả năng thực hiện những quyền cơ bản xã hội, kinh tế, chính trị, công tâm và con người".

Được sự quan tâm của các cấp uỷ Đảng và sự tăng cường vai trò nòng cốt của Đoàn, công tác tổ chức đoàn kết, tập hợp của Hội đã có sự chuyển biến rõ rệt. Tổ chức Hội trong các trường đại học ngày càng nhiều, số hội viên ngày càng tăng trở thành một lực lượng tham gia tích cực vào các hoạt động chính trị, kinh tế và học tập có hiệu quả.

Điều đáng chú ý là Hội Sinh viên các trường đã biết phối hợp với tổ chức Đoàn với các phòng nghiên cứu, phòng đào tạo tổ chức các buổi báo cáo thực tế nhằm bồi dưỡng phương pháp học tập và nghiên cứu khoa học cho sinh viên. Nhiều trường còn tổ chức các hoạt động chuyên ngành như hình thành các câu lạc bộ tiếng Anh, tiếng Pháp (Đại học Sư phạm Ngoại ngữ Hà Nội), câu lạc bộ kiến trúc sư trẻ (Đại học Kiến trúc Hà Nội).

Nhiều bài học kinh nghiệm về nội dung, phương pháp vận động, đoàn kết tập hợp thanh niên được rút ra từ các địa phương làm tốt công tác Hội. Đó là Hội phải nắm bắt được nhu cầu, nguyện vọng chính đáng của thanh niên, chăm lo giải quyết những vấn đề quyền lợi, thiết thân của thanh niên là việc làm, học tập, vui chơi, giải trí… như ở Long Xuyên, Biên Hoà, tổ chức Hội đã biết dựa vào đặc điểm tâm lý thanh niên để tổ chức những hoạt động phù hợp góp phần giải quyết việc làm cho thanh niên, cũng như việc tạo kinh phí cho Hội để lấy phong trào nuôi phong trào, tổ chức liên hoan họp mặt các chi hội hoạt động tốt để nhân điển hình tiên tiến như ở Kiên Giang, Tây Ninh. Tổ chức các hoạt động tổng hợp nhiều loại hình như: Cắm trại, hội thảo chuyên đề, văn nghệ, sinh hoạt truyền thống, thể dục, thể thao, tham quan du lịch như Hà Nội, Quảng Ninh, Hải Phòng, Hà Nam … đáp ứng được nhu cầu nhiều mặt của thanh niên và được thanh niên ưa thích.

Bên cạnh những tiến bộ, công tác đoàn kết tập hợp thanh niên còn có những mặt yếu như Hội Liên hiệp Thanh niên phát triển chưa rộng, chưa đồng đều. ở các tỉnh phía Bắc, tổ chức Hội mới có một số chi hội ở Phúc Tân, Chương Dương (Hà Nội), Niệm Nghĩa, Cầu Đất (Hải Phòng), thị xã Hải Dương, Hà Nam, Nam Định, Ninh Bình, Bắc Giang, Bắc Ninh… Tỷ lệ thanh niên được tập hợp còn thấp, nội dung, hình thức hoạt động của Hội ở cơ sở còn lúng túng, nghèo nàn, thiếu hấp dẫn thanh niên. Các điển hình về cán bộ Hội tận tuỵ, các mô hình Hội tốt chưa được nêu gương kịp thời, công tác bồi dưỡng đào tạo cán bộ Hội chưa được quan tâm, Uỷ ban Hội các cấp một số nơi, nhất là ở cơ sở còn mang tính hình thức, ít trang bị nhận thức và động viên kịp thời…

Trước tình hình trên, nhiệm vụ quan trọng và cấp bách hiện nay và sắp tới là phải tạo ra được sự chuyển biến mạnh mẽ trong công tác tập hợp đoàn kết thanh niên thông qua tổ chức của Hội Liên hiệp Thanh niên ở các cấp. Trước hết toàn Đoàn phải có nhận thức đúng về vai trò quan trọng của công tác đoàn kết tập hợp thanh niên và Hội Liên hiệp Thanh niên Việt Nam, cải tiến nội dung, phương thức hoạt động của Hội ở các cấp, phù hợp với nguyện vọng và những vấn đề lớn mà thanh niên đang quan tâm, chú ý đến xây dựng bộ máy của Hội và công tác bồi dưỡng, đào tạo cán bộ cho phong trào.

“Tuần tin thanh niên” (tờ báo của Hội Liên hiệp Thanh niên Việt Nam), từ một tờ thông tin nội bộ ra năm 1985, đến ngày3-1-1986 chính thức ra mắt bạn đọc số báo đầu tiên. Tuy còn gặp nhiều khó khăn nhưng ngay từ khi mới ra đời, “Tuần tin thanh niên” đã được mọi tầng lớp thanh niên hoan nghênh, yêu mến và đông đảo nhân dân ủng hộ. “Tuần tin thanh niên” từng bước vươn lên làm tốt chức năng tuyên truyền, giáo dục, đoàn kết, tập hợp thanh niên, khẳng định được vị trí của mình và góp phần tạo nên công cụ tuyên truyền, giáo dục cho Hội. Tuần tin thanh niên nay đã thành báo Thanh niên, một tờ báo lớn của tuổi trẻ cả nước, phát hành liên tục trong tuần với nội dung ngày càng phong phú, hấp dẫn và phát hành với số lượng lớn.

Có thể nói thời gian từ 1975-1985 là những năm đất nước đã trải qua muôn vàn khó khăn về thiên tai, địch hoạ. Từng ngày, từng giờ chúng ta phải vật lộn với bao khó khăn trên nhiều mặt của đời sống xã hội, kinh tế, văn hoá… nhưng dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, sự quản lý của Nhà nước và vai trò nòng cốt chính trị của Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Hội Liên hiệp Thanh niên Việt Nam đã bám sát nhiệm vụ chính trị và thực hiện tốt những nhiệm vụ đã đề ra. Với bản chất năng động, sáng tạo, nhạy bén, và đặc biệt có truyền thống cách mạng kiên cường, đoàn viên, hội viên và thanh niên đã vượt qua muôn vàn khó khăn và thử thách, đưa tổ chức Hội và phong trào của tuổi trẻ ngày càng phát triển, xứng đáng là lực lượng xung kích trong các nhiệm vụ cách mạng của Đảng, và của dân tộc. Thế hệ trẻ nước ta đã góp phần xứng đáng của mình trong công cuộc xây dựng kinh tế, xã hội văn hoá… từng bước vượt qua mọi trở ngại để bước vào thời kỳ mới – thời kỳ đổi mới và phát triển đất nước.


Chương XIII: ĐAỊ HÔỊ ĐOÀN TOÀN QUỐC LẦN THỨ V VÀ HỘI NGHỊ CÁN BỘ HỘI LIÊN HIỆP THANH NIÊN VIỆT NAM TẠO SỰ CHUYỂN BIẾN TRONG CÔNG TÁC HỘI CÙNG SỰ PHÁT TRIỂN CỦA PHONG TRÀO THANH NIÊN

Ngày cập nhật: 18/10/2007

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI (1986) của Đảng Cộng sản Việt Nam đã đề ra đường lối đổi mới sáng tạo, đúng đắn nhằm đưa đất nước không ngừng phát triển, thực hiện mục tiêu: Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Đường lối đổi mới của Đảng đã được toàn Đảng, toàn dân tích cực phấn đấu thực hiện trong niềm tin tưởng mạnh mẽ vào tiền đồ tươi sáng của dân tộc.

Trong không khí phấn khởi đó, tháng 11-1987, tại Hà Nội, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ V của Đoàn TNCS Hồ Chí Minh đã được tiến hành. Với sự quan tâm, chăm sóc ân cần đối với Đoàn và phong trào thanh niên, đồng chí Tổng Bí thư Ban Chấp hành TW Đảng Nguyễn Văn Linh đã thay mặt Đảng, Nhà nước đến dự và phát biểu tại Đại hội. Sau khi khẳng định những đóng góp xuất sắc của thanh niên Việt Nam đối với sự nghiệp cách mạng của Đảng, của dân tộc, đồng chí Tổng Bí thư nêu rõ: “Từ Đại hội này sẽ dấy lên một phong trào thanh niên hăng say rèn luyện phẩm chất đạo đức và tác phong, trau dồi lý tưởng cộng sản chủ nghĩa cao đẹp, bằng hành động cách mạng cụ thể, góp phần vào việc thực hiện thắng lợi các mục tiêu, nhiệm vụ do Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI đã đề ra”. Đại hội phấn khởi lắng nghe bài phát biểu của đồng chí Tổng Bí thư và coi đó là Chỉ thị quan trọng của Đảng mà Đoàn và tuổi trẻ cả nước phải ra sức thực hiện trong thời gian tới.

Đại hội Đoàn toàn quốc lần thứ V đã nhất trí đánh giá: Trong những năm qua, mặc dù đất nước phải trải qua những thử thách gay go, tuổi trẻ Việt Nam luôn là lực lượng to lớn và năng động của xã hội, đã phát huy truyền thống anh hùng của dân tộc, nêu cao tinh thần chịu đựng gian khổ, khắc phục khó khăn, phát huy vai trò xung kích trong sự nghiệp cách mạng. Từ thực tiễn hoạt động trong những năm qua, Đại hội đã rút ra những bài học kinh nghiệm trong công tác Đoàn và phong trào thanh niên, trong đó bài học về phong trào thanh niên được nêu rõ là: Tạo ra những động lực của phong trào hành động cách mạng của thanh niên bằng việc kết hợp chặt chẽ, nhuần nhuyễn giữa nghĩa vụ và quyền lợi của tuổi trẻ, tạo điều kiện cho thanh niên thực hiện hoài bão và lý tưởng cách mạng.

Đại hội đã đề ra phương hướng, nhiệm vụ chung của công tác Đoàn và phong trào thanh niên từ 1987-1991, trong đó xác định việc mở rộng đoàn kết tập hợp thanh niên là nhiệm vụ có tầm quan trọng hàng đầu. Về phong trào hành động cách mạng của thanh niên, Đại hội nhấn mạnh phải tiếp tục phát triển phong trào “Tuổi trẻ xung kích sáng tạo xây dựng và bảo vệ Tổ quốc” với bốn chương trình:

1- Tuổi trẻ xung kích và sáng tạo trên mặt trận kinh tế, thực hiện thắng lợi 3 chương trình mục tiêu về lương thực, thực phẩm, hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu.
2- Tuổi trẻ đi đầu thực hiện các chính sách xã hội và đấu tranh cho công bằng xã hội.
3- Tuổi trẻ xung kích trên mặt trận quốc phòng – an ninh bảo vệ Tổ quốc.
4- Tuổi trẻ học tập và tiến quân vào khoa học – kỹ thuật.

Quan điểm, đường lối đổi mới của Đảng và những chủ trương, phương hướng công tác của Đoàn Thanh niên trong thời kỳ mới đã tạo điều kiện cho công tác tập hợp, đoàn kết thanh niên và tổ chức Hội Liên hiệp Thanh niên Việt Nam bước vào giai đoạn phát triển mới với nhiều hoạt động phong phú trên nhiều bình diện.

* Công tác xây dựng, củng cố tổ chức Hội.

Thực hiện Chỉ thị 11 của Ban Bí thư Trung ương Đoàn khoá IV, tổ chức Hội Liên hiệp Thanh niên Việt Nam ở các cấp đã được quan tâm củng cố.Vào thời điểm năm 1987, một số nơi Hội phát triển mạnh và đi vào hoạt động có nề nếp như: Kiên Giang, Tây Ninh, An Giang, Biên Hoà (Đồng Nai), Thốt Nốt (Hậu Giang). Các tỉnh, thành ở phía Nam đã tổ chức được 8274 chi hội cơ sở, 638 uỷ ban Hội cấp phường, xã; 95 uỷ ban Hội cấp quận, huyện; 14 uỷ ban Hội cấp tỉnh, thành với tổng số 1.583.736 hội viên. Tổ chức Hội ở Kiên Giang được củng cố, phát triển và không ngừng phát huy tác dụng, xứng đáng là lá cờ đầu toàn quốc về công tác Hội, được nhiều tỉnh đến học tập và trao đổi kinh nghiệm. Tây Ninh cũng là tỉnh mà các cấp bộ Đoàn trong tỉnh rất quan tâm đến công tác tập hợp, đoàn kết thanh niên thông qua tổ chức Hội Liên hiệp Thanh niên Việt Nam, do đó phong trào hoạt động của Hội phát triển làm xuất hiện nhiều điển hình tốt.

Nhiều tỉnh, thành khác đã tích cực xúc tiến việc thành lập Uỷ ban Hội cấp tỉnh như: Sơn La, Cao Bằng, Gia Lai-Kon Tum, Hà Tây, Hòa Bình Hải Phòng, Hà Nội...

Uỷ ban Trung ương Hội đã tiến hành thử nghiệm một số cơ sở trực thuộc như: Trung tâm âm nhạc, Trung tâm tài nguyên sinh học, Xưởng Video thanh niên, Câu lạc bộ tâm lý, Câu lạc bộ nhiếp ảnh, Câu lạc bộ hôn nhân và gia đình, Câu lạc bộ võ thuật, Câu lạc bộ quần vợt... ở Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh thu hút nhiều người tham gia.

Tuy vậy, trong thời gian triển khai hoạt động và phát triển tổ chức của Hội vẫn còn gặp nhiều khó khó khăn.

Trước thực tế trên, Đoàn TNCS Hồ Chí Minh với tư cách là tổ chức nòng cốt chính trị của Hội Liên hiệp Thanh niên Việt Nam đã có chủ trương và biện pháp chỉ đạo kịp thời trong việc củng cố tổ chức và hoạt động của Hội. Ngày 28 tháng 9 năm 1988, Ban Thường vụ Trung ương Đoàn (Khoá V) đã họp và ra Nghị quyết chuyên đề số 04/NQ-TWĐTN về công tác đoàn kết, tập hợp thanh niên và Hội Liên hiệp Thanh niên Việt Nam trong tình hình mới. Nghị quyết xác định: “Xây dựng Hội Liên hiệp Thanh niên Việt Nam, Hội Sinh viên Việt Nam thực sự trở thành tổ chức cách mạng rộng rãi của thanh niên, sinh viên cả nước là một nhiệm vụ quan trọng nhằm đổi mới công tác đoàn kết tập hợp thanh niên”.

Nghị quyết 04/NQ-TWĐTN của Ban Thường vụ TW Đoàn đã đề ra 8 vấn đề cơ bản để quán triệt trong các cấp bộ Đoàn cả nước nhằm xây dựng Hội Liên hiệp Thanh niên Việt Nam và các tổ chức thành viên của Hội vững mạnh. Đó là:

- Xác định Hội là tổ chức cách mạng tập hợp rộng rãi các tầng lớp thanh niên phấn đấu cho sự giàu mạnh của Tổ quốc Việt Nam XHCN, vì hạnh phúc và tiến bộ của tuổi trẻ.

- Hội qui tụ vào tổ chức mình mọi tổ chức thanh niên và nam nữ thanh niên, không phân biệt thành phần, nguồn gốc, quá khứ, tôn giáo, dân tộc... với điều kiện họ tán thành điều lệ Hội, tự nguyện vào Hội để được hoạt động nhằm thoả mãn những nhu cầu chính đáng của cá nhân và tập thể, để được cống hiến và trưởng thành.

- Xác định 3 tính chất cơ bản của Hội là:

Tính xã hội – chính trị; tính liên hiệp; tính quần chúng rộng rãi.

- Xác định Hội có 2 chức năng cơ bản là:

Chăm lo lợi ích chính đáng của hội viên.

Giác ngộ, hướng dẫn hội viên trở thành những người thanh niên mới, có đóng góp tích cực vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

- Xác định nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Hội là: Tự nguyện; tự quản; dân chủ bàn bạc; hợp tác và thống nhất hành động; Đoàn là hạt nhân chính trị, là người tổ chức và hướng dẫn Hội hoạt động.

- Về mối quan hệ giữa Đoàn và Hội: Nghị quyết lưu ý các cấp bộ Đoàn cần tránh khuynh hướng thả nổi, không chỉ đạo công tác Hội, đồng thời cũng cần tránh khuynh hướng chỉ đạo theo kiểu “cầm tay chỉ việc” làm mất tính chủ động, sáng tạo và nguyên tắc hoạt động tự quản của Hội.

Nghị quyết xác định mối quan hệ giữa Đoàn và Hội được thể hiện qua 4 con đường chủ yếu sau:

Đoàn định hướng về chính trị – tư tưởng cho hoạt động Hội, các cấp bộ Đoàn trực tiếp giúp thanh niên lập ra tổ chức Hội ở cấp mình; trong từng thời kì bàn chuyên đề về công tác Hội; thực hiện nề nếp làm việc thường kỳ giữa Ban Thường vụ Đoàn và Ban Thư ký Hội.

Đoàn thường xuyên kiểm tra các hoạt động của Hội, đồng thời Đoàn cũng định kỳ thông báo cho Hội về các hoạt động của mình.

Đoàn giới thiệu với Hội những cán bộ, đoàn viên tốt được thanh niên tín nhiệm tham gia lãnh đạo Hội và làm hạt nhân trong Hội.

Đoàn tạo điều kiện giúp đỡ Hội về mọi mặt, tôn trọng và phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của Hội để Hội thực hiện tốt chức năng nhiệm vụ của mình.

- Về hệ thống tổ chức Hội, Nghị quyết xác định: Từ những tính chất cơ bản của Hội, hệ thống tổ chức Hội phải rất đa dạng, năng động, không gò ép, xơ cứng, hình thức. Sức mạnh của Hội thể hiện ở sự hoạt động của các tổ chức thành viên và các chi hội, nhất là ở cơ sở. Do đó, uỷ ban Hội cấp huyện, tỉnh thành lập theo nhu cầu của thực tiễn và đòi hỏi của phong trào. Không tổ chức ra Uỷ ban Hội một cách hình thức khi chưa có nhu cầu đối với cấp dưới. Uỷ ban Trung ương Hội có tầm quan trọng cả đối nội lẫn đối ngoại, do đó cần được kiện toàn theo hướng gọn nhẹ để hoạt động có hiệu quả và thiết thực.

Về chỉ đạo: Đoàn cấp nào chịu trách nhiệm tổ chức và hướng dẫn Hội cấp đó, trong hệ thống tổ chức Hội; Uỷ ban Hội cấp trên hướng dẫn nghiệp vụ cho Uỷ ban Hội cấp dưới, đôn đốc các Uỷ ban Hội, các tổ chức thành viên thực hiện những chủ trương, chương trình hoạt động chung mà Hội đã dân chủ bàn bạc và thống nhất đề ra.

- Về các loại hình chi hội thanh niên và nội dung hoạt động chủ yếu của các chi hội cơ sở.

Nghị quyết 04 xác định có 4 loại hình chi hội thanh niên phổ biến: Chi hội theo nghề nghiệp; chi hội theo sở thích; chi hội theo đối tượng và chi hội theo địa bàn sinh hoạt.

Về nội dung và phương thức hoạt động Hội, Nghị quyết đề ra: Cần tiếp tục tổng kết, nâng cao và cụ thể hoá mô hình 4 mặt: Tổ ấm, câu lạc bộ, nơi cống hiến, trưởng thành. Nội dung hoạt động cơ bản của chi hội ở cơ sở xoay quanh vấn đề: Thực hiện nghĩa vụ và quyền lợi của thanh niên. Hướng hoạt động chung của Hội ở cơ sở là:

Hoạt động văn hoá xã hội: Câu lạc bộ khoa học kĩ thuật trẻ, câu lạc bộ hôn nhân gia đình, câu lạc bộ văn hoá, các lớp học bổ túc văn hoá, các lớp dạy nghề, tổ chức các hoạt động văn nghệ, thể thao, tham quan, du lịch, các hình thức tham gia hoạt động xã hội: Cứu trợ, y tế, chăm sóc người già, trẻ em.

Hoạt động kinh tế, các cấp bộ Hội vận động thanh niên thực hiện 3 chương trình kinh tế lớn của Đảng với nhiều hình thức khác nhau.

Hoạt động chính trị, hướng dẫn thanh niên tìm hiểu các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, tình hình thời sự chính trị... Thông qua đó giúp cho tuổi trẻ tự xác định trách nhiệm của mình đối với tương lai đất nước.

Nghị quyết 04 của Ban Thường vụ Trung ương Đoàn (khoá V) cũng đã đề ra một số nhiệm vụ quan trọng cần thực hiện đối với công tác tập hợp đoàn kết thanh niên, xây dựng Hội LHTN Việt Nam và các tổ chức thành viên của Hội, đó là:

1- Mỗi cấp bộ Đoàn, mỗi cán bộ đoàn viên đều phải làm nhiệm vụ tập hợp thanh niên và giúp đỡ Hội xây dựng và phát triển tổ chức.
2- Về tổ chức: Chuyển ban Mặt trận Thanh niên các cấp thành thường trực Hội Liên hiệp Thanh niên Việt Nam ở những nơi đã có Uỷ ban Hội. Những nơi chưa có Uỷ ban Hội, Tỉnh Đoàn cử ra một số cán bộ chuyên tránh do đồng chí Phó Bí thư hoặc Uỷ viên Thường trực phụ trách để giúp Ban Chấp hành vận động thành lập Hội. Các quận, huyện cử ít nhất 1 cán bộ chuyên trách công tác tập hợp, đoàn kết thanh niên và xây dựng Hội.

Các ban, đơn vị Trung ương Đoàn thực hiện công tác tập hợp đoàn kết thanh niên và xây đựng Hội theo chức năng, nhiệm vụ và đối tượng Ban, đơn vị phụ trách.

Quán triệt tinh thần Nghị quyết 04 của Ban Thường vụ Trung ương Đoàn tháng 9-1988, Hội nghị Uỷ Ban Trung ương Hội LHTN Việt Nam họp tại Hà Nội đã tiến hành kiện toàn. Uỷ ban Trung ương Hội: Đồng chí Hà Quang Dự Bí thư  Thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương Đoàn TNCS Hồ Chí Minh (khoá V) được cử làm Chủ tịch Uỷ ban TW Hội và đồng chí Phạm Phương Thảo Bí thư BCH TW Đoàn TNCS Hồ Chí Minh được cử làm Phó Chủ tịch, kiêm Tổng thư ký Uỷ ban Trung ương Hội.

* Sự phát triển của tổ chức Hội LHTN Việt Nam sau Nghị quyết 04 của Ban Thường vụ TW Đoàn:

Sau gần 2 năm thực hiện Nghị quyết Đại hội Đoàn toàn quốc lần thứ V và Nghị quyết 04 của Ban Thường vụ Trung ương Đoàn về công tác tập hợp đoàn kết thanh niên và xây dựng Hội LHTN Việt Nam trong tình hình mới đã tạo nên sự chuyển biến về nhận thức trong các cấp bộ Đoàn. Nhiều cấp bộ Đoàn thấy rõ Đoàn TNCS Hồ Chí Minh chỉ có thể phát huy tác dụng giúp Đảng và Nhà nước tập hợp đông đảo thanh niên thực hiện công cuộc đổi mới đất nước khi xây dựng được mặt trận thanh niên thống nhất do Đoàn làm hạt nhân nòng cốt. Yêu cầu đổi mới công tác đoàn kết, tập hợp thanh niên và Hội LHTN Việt Nam trở thành vấn đề cấp bách của phong trào thanh niên trong tình hình mới.

Quan điểm của Hội LHTN Việt Nam và nhiều cấp bộ Đoàn có bước phát triển mới trên các mặt sau:

Trong nhận thức, thấy rõ Hội LHTN Việt Nam là mặt trận đoàn kết, tập hợp rộng rãi mọi tầng lớp thanh niên do Đoàn TNCS Hồ Chí Minh làm hạt nhân chính trị.

Trong hoạt động thực tiễn, nhiều cấp bộ Đoàn đã chủ động xây dựng Hội, giúp Hội không chỉ qui tụ thanh niên chưa có điều kiện vào Đoàn mà còn qui tụ nhiều cán bộ, đoàn viên hết tuổi Đoàn, những cán bộ khoa học, những văn nghệ sỹ trẻ, những người tâm huyết với thanh niên tham gia hoạt động của các chi hội, làm cho hoạt động của Hội đa dạng hơn.

Trong chỉ đạo, nhiều cấp bộ Đoàn đã phát huy được vai trò của Hội trong tổ chức các hoạt động đáp ứng nhu cầu nhiều mặt của thanh niên, đồng thời góp phần tăng cường hoạt động đối ngoại của thanh niên ta với thanh niên các nước trong khu vực và trên thế giới.

Về mặt tổ chức của Hội LHTN Việt Nam có bước phát triển, Uỷ ban Hội từ Trung ương đến cơ sở được kiện toàn theo hướng gọn nhẹ, thiết thực. Tính đến hết năm 1989 toàn quốc có 27 Uỷ ban Hội cấp tỉnh, thành phố, 70 Uỷ ban Hội cấp quận, huyện và trên 10.000 chi hội cơ sở.

Nét đổi mới trong công tác xây dựng tổ chức Hội là hình thức tổ chức chi hội theo sở thích (gắn với các nhóm đã có của thanh niên), chi hội theo nghề nghiệp (gắn với quyền lợi cơ bản của thanh niên) đang phát triển ở nhiều địa phương phù hợp với yêu cầu đổi mới hoạt động của Hội.

Nhiều cấp bộ Hội đã tổ chức các chi hội trực thuộc, chi hội trực thuộc không những tư vấn cho cán bộ Hội mà còn là nơi tập hợp thanh niên, tạo điều kiện cho các cấp bộ Hội tiếp cận trực tiếp với thanh niên không qua cấp trung gian. Hầu hết cán bộ các chi hội trực thuộc các cấp là cán bộ Đoàn cũ, đảng viên hoặc nhà khoa học trẻ, những người hoạt động xã hội tích cực.

Việc bồi dưỡng những hiểu biết về công tác tập hợp đoàn kết thanh niên và Hội LHTN cho số cán bộ làm chuyên trách công tác Hội và đội ngũ cán bộ Hội nói chung đã được các cấp bộ Đoàn, Hội quan tâm đúng mức. Trong hai năm 1988-1989, Trung ương Đoàn và Uỷ ban Trung ương Hội đã mở được 5 lớp bồi dưỡng cho 360 cán bộ các tỉnh, thành Hội. Những tỉnh như: Sông Bé, Đồng Nai, Thừa Thiên-Huế, Kiên Giang, An Giang, Tây Ninh, Bến Tre, Khánh Hoà, Phú Yên, Hà Nội... đã có nhiều cố gắng trong công tác bồi dưỡng cán bộ Hội.

* Xây dựng và phát triển tổ chức Hội Sinh viên Việt Nam.

Trong những năm từ 1986 đến 1990, tổ chức Hội Sinh viên Việt Nam đã được Đảng, Nhà nước, Đoàn TNCS Hồ Chí Minh và Hội LHTN Việt Nam quan tâm xây dựng. Ngày 19-3-1987, Hội đồng Bộ trưởng đã phê chuẩn bàn Điều lệ Hội Sinh viên Việt Nam do Hội nghị đại biểu tháng 7-1985 của Hội thông qua. Điều lệ ghi rõ: “Hội Sinh viên Việt Nam là tổ chức xã hội của giới sinh viên Việt Nam. Hội viên của Hội là những sinh viên Việt Nam đang học tại trường đại học và cao đẳng trong và ngoài nước. Hội đoàn kết, tổ chức và động viên toàn thể sinh viên Việt Nam phát huy truyền thống cách mạng và quyền làm chủ tập thể Xã hội chủ nghĩa của sinh viên trong học tập, rèn luyện, xây dựng và quản lí trường, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam Xã hội Chủ nghĩa, góp phần tích cực vào sự nghiệp cách mạng của nhân dân thế giới.”(Điều II). Tiếp theo đó là Thông tư của Bộ Giáo dục và Đào tạo gửi các cấp nêu rõ những nội dung chủ yếu trong việc giúp đỡ tạo điều kiện cho Hội Sinh viên hoạt động và phát triển đã nói lên mối quan tâm sâu sắc của Nhà nước ta đối với phong trào sinh viên và công tác Hội Sinh viên.

Đoàn TNCS Hồ Chí Minh có sự quan tâm trực tiếp đến công tác xây dựng, kiện toàn tổ chức bộ máy của Hội Sinh viên, do vậy tổ chức Hội không ngừng phát triển. Đầu năm 1985, chỉ mới thí điểm tổ chức ở hai trường, nhưng đến tháng 9-1986 đã có 25 trường và đến đầu năm 1988 đã có 39/93 trường đại học và cao đẳng có tổ chức Hội với tổng số 45.000 hội viên. Các tỉnh, thành phố có nhiều trường đại học và cao đẳng bước đầu đã có Ban Chấp hành lâm thời Hội Sinh viên cấp tỉnh. Riêng thành phố Hà Nội, đầu năm 1988 đã có 14/32 trường đại học, cao đẳng tổ chức Đại hội và bầu cử BCH Hội Sinh viên.

Ngày 17-11-1988, Đại hội lần thứ I Hội Sinh viên thành phố Hà Nội họp bầu ra BCH, đây là BCH cấp tỉnh đầu tiên của Hội kể từ khi Hội Sinh viên được tổ chức lại.

Năm 1988, khi đồng chí Vũ Quốc Hùng, Chủ tịch BCH Hội Sinh viên chuyển công tác, đồng chí Hồ Đức Việt – Bí thư Thường trực TW Đoàn được cử làm Chủ tịch Hội Sinh viên Việt Nam.

Kết quả lớn nhất của công tác củng cố xây dựng tổ chức Hội LHTN Việt Nam trong thời gian nêu trên là đã từng bước phát triển tổ chức Hội về mặt số lượng, nâng cao chất lượng hoạt động đưa công tác Hội dần ổn định và trở nên thực chất hơn, khôi phục dần uy tín và ảnh hưởng của Hội trong thanh niên và trong xã hội.

* Nhiều loại hình chi hội được hình thành ở cơ sở:

Bước vào năm 1990, công tác xây dựng Hội có sự chuyển biến rõ rệt, ở các tỉnh phía Bắc, nhiều nơi đã bắt tay vào xây dựng tổ chức Hội; Hà Nội có 40 chi hội hoạt động tốt, Hải Phòng phát triển nhiều hội viên mới, Sơn La có 600 hội viên người dân tộc tham gia sinh hoạt Hội; Vĩnh Phú, Bắc Thái (Bắc Cạn, Thái Nguyên), Hà Sơn Bình (Hà Đông, Sơn Tây, Hòa Bình) thí điểm xây dựng Hội.

Các chi hội hình thành ở các địa phương chủ yếu theo nghề nghiệp gắn với lợi ích cơ bản của hội viên như chi hội y, bác sĩ trẻ ở thành phố Hồ Chí Minh, các chi hội khuyến nông ở An Giang, Kiên Giang, Tây Ninh, chi hội những người trồng cà phê, hồ tiêu, làm đồ sứ ở Đồng Nai, Sông Bé, Lâm Đồng; chi hội đan mây, tre, lá ở Tiền Giang, Cửu Long, Thuận Hải.

Loại hình chi hội theo sở thích tạo được sự hứng thú trong thanh niên như chi hội tâm lí trẻ với hơn 300 hội viên sinh hoạt theo các chuyên đề: Tình bạn, tình yêu, cách ứng xử đẹp... Chi hội điện ảnh tập hợp được các diễn viên, đạo diễn, hoạ sĩ trẻ, những người yêu thích dân tộc học cùng các câu lạc bộ kĩ năng, câu lạc bộ sáng tác trẻ, ca nhạc, nhiếp ảnh, chơi tem... tạo được chất keo để thanh niên đến với tổ chức Hội một cách tự nguyện.

Nguyên nhân chủ yếu góp phần củng cố và phát triển tổ chức Hội trong thời gian qua là các cấp bộ Đảng, chính quyền và Đoàn Thanh niên đã khẳng định tầm quan trọng trong công tác tập hợp thanh niên theo tinh thần Nghị quyết 8B của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá VI. Một số nơi Tỉnh uỷ ra Nghị quyết về giải quyết lương cho cán bộ thanh niên ở xã, phường và kinh phí dành cho công tác thanh niên như Đắc Lắc, Gia Lai, Kon Tum... Nhiều tỉnh, thành thực hiện Chỉ thị 10 của Ban Bí thư Trung ương Đảng khoá VI về việc tăng cường cán bộ Hội chuyên trách và cơ sở vật chất cho công tác Hội, đồng thời chỉ ra đặc điểm những mô hình tập hợp thanh niên.

Bên cạnh những kết quả đạt được, công tác xây dựng Hội cũng còn nhiều hạn chế:

Cán bộ Hội thiếu cả về số lượng và yếu về chất lượng, nhất là khả năng kiên kết các lực lượng cùng lo cho công tác thanh niên. Các thành viên Ban Thư ký TW Hội do phải kiêm nhiệm nhiều công tác nên ít sát phong trào, chưa có điều kiện chỉ đạo công tác của Hội. ở một số tỉnh, Uỷ ban Hội không sinh hoạt định kì nên khó phát huy năng lực của tập thể Uỷ ban Hội và của từng thành viên.

Thông tin giữa Trung ương Hội với Uỷ ban Hội ở các địa phương và cơ sở không thường xuyên, lại thiếu chỉ đạo tập trung và kịp thời, chưa làm tốt việc nhân điển hình tiên tiến và gương mặt cán bộ Hội ở cơ sở, chậm cung cấp tài liệu tập huấn cán bộ Hội theo yêu cầu của địa phương, cơ sở.

Nguyên nhân của những hạn chế nói trên là do:

Đội ngũ cán bộ chưa đủ sức đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ, khả năng tham mưu với Hội và liên kết các ngành, các lực lượng còn hạn chế.

Nhiều cán bộ Đoàn chưa quán triệt đầy đủ và thực hiện tốt Nghị quyết 04 của Ban Thường vụ Trung ương Đoàn (khoá V) về công tác tập hợp thanh niên. Nhiều nơi khoán trắng cho Hội hoặc chưa đồng cảm với Hội.

Còn có địa phương, đơn vị chưa quan tâm tạo điều kiện cho Đoàn, Hội làm tốt công tác tập hợp thanh niên trong tình hình mới.

*
*   *

Để kịp thời củng cố phát triển và nâng cao chất lượng hoạt động của Hội LHTN Việt Nam đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ tập hợp thanh niên trong tình hình mới. Hội nghị cán bộ Hội LHTN Việt Nam đã tổ chức từ ngày 28-30 tháng 12-1990 tại thành phố Hồ Chí Minh. Tham dự hội nghị có 235 đại biểu ở các tỉnh, thành, các trung tâm và chi hội trực thuộc, các đồng chí thành viên Ban Thư kí và Uỷ viên Uỷ ban Trung ương Hội.

Hội nghị được đón tiếp đồng chí Võ Trần Chí, Uỷ viên Bộ Chính trị, Bí thư Thành uỷ thành phố Hồ Chí Minh, các đồng chí đại diện các ban, ngành của Đảng và Nhà nước ở Trung ương. Dự Hội nghị còn có đồng chí Lê Quang Vịnh, nguyên Chủ tịch Hội LHTN Việt Nam; Đoàn đại biểu Đoàn TNCS Hồ Chí Minh do đồng chí Nguyễn Duy Hùng, Bí thư Trung ương Đoàn làm trưởng đoàn; Đoàn đại biểu Hội Sinh viên Việt Nam do đồng chí Trần Mai Hương, Tổng Thư kí Hội sinh viên làm trưởng đoàn; và nhiều Bí thư các Tỉnh, Thành Đoàn.

Sau hơn 2 ngày làm việc dưới sự chủ trì của đồng chí Hà Quang Dự, Chủ tịch Hội và đồng chí Phạm Phương Thảo, Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Uỷ ban Trung ương Hội, Hội nghị đã đạt được những kết quả tốt đẹp và thông qua các văn kiện:

Báo cáo tổng kết đánh giá công tác Hội năm 1990.
Chương trình hành động của Hội năm 1991.
Điều lệ (sửa đổi) Hội LHTN Việt Nam.
Quyết định nhân sự kiện toàn Uỷ ban Trung ương Hội Liên hiệp Thanh niên Việt Nam.

Với tinh thần trách nhiệm và dân chủ, Hội nghị đã thảo luận sâu việc sửa đổi Điều lệ Hội và nhân sự để kiện toàn một bước Uỷ ban Trung ương Hội. Trong việc sửa đổi Điều lệ, nhiều đại biểu đã đóng góp ý kiến rất cụ thể cho từng điều, từng chương và những điểm sẽ bổ sung trong việc hướng dẫn thực hiện điều lệ Hội như: Nghi thức Hội và lịch sử Hội. Trong kiện toàn tổ chức, Hội nghị đã thảo luận và thông qua danh sách chính thức của Uỷ ban Trung ương Hội LHTN Việt Nam gồm 37 đồng chí, trong đó có 12 đồng chí chuyên trách ở Trung ương, 6 đồng chí thuộc các đơn vị trực thuộc, 3 đồng chí ở các ngành, 16 đồng chí ở các tỉnh, thành. Ngày 30-12-1990, Uỷ ban Trung ương Hội đã họp và bầu ra Ban thư kí gồm 10 đồng chí. Các đồng chí Nguyễn Đắc Hương, Nguyễn Thị Kỳ được bầu làm Phó Tổng Thư kí Hội.Uỷ ban Trung ương Hội thảo luận và quyết định hình thành 4 tiểu ban và 5 vùng chỉ đạo. Các thành viên Uỷ ban TW Hội được phân công tham gia các tiểu ban và các vùng.

Với khẩu hiệu hành động của Hội năm 1991: “Vì sự giàu mạnh của đất nước, vì hạnh phúc của tuổi trẻ” Hội nghị đã thảo luận 4 chương trình hành động như:

1- Tham gia phát triển kinh tế thông qua nghiên cứu ứng dụng tiến bộ sinh học, khoa học kỹ thuật và tin học.
2- Đẩy mạnh hoạt động xã hội và bảo trợ tài năng trẻ;
3- Bảo vệ và phát triển văn hoá dân tộc.
4- Xây dựng Hội theo hướng thiết thực, hiệu quả đáp ứng yêu cầu chính đáng của thanh niên.

Theo phương hướng đó Uỷ ban TW Hội đã thông qua kế hoạch cụ thể về chương trình hoạt động của Hội năm 1991.

Sau Hội nghị cán bộ Hội LHTN Việt Nam tháng 12-1990, công tác xây dựng tổ chức Hội đã có bước tiến mới ở nhiều địa phương, tổ chức Hội phát triển được cả về số lượng và chất lượng như: TP. Hồ Chí Minh, Quảng Nam - Đà Nẵng, Thừa Thiên - Huế, Quảng Trị, Kiên Giang, An Giang, Hậu Giang, Minh Hải, Hà Nội, Đắc Lắc... các tổ chức cơ sở Hội được gia tăng. Tính đến cuối năm 1991 có gần 6.000 chi hội, câu lạc bộ, đội nhóm và trung tâm phát huy được tác dụng. Hình thức tập hợp thanh niên chủ yếu phát triển hướng về các loại hình chi hội theo nghề nghiệp, chi hội theo sở thích gắn với nhu cầu, lợi ích thiết thân của thanh niên. Công tác tập hợp thanh niên ở các vùng tôn giáo và dân tộc được chú ý hơn, một số vùng trọng điểm dân tộc, tôn giáo như Sơn La, Hà Nam Ninh (Hà Nam, Nam Định, Ninh Bình), An Giang, Kiên Giang... cán bộ Đoàn, Hội đã tăng cường quan hệ với thanh niên và xây dựng mối quan hệ với các già làng trưởng bản hoặc các chức sắc trong dân tộc và tôn giáo để tác động đến thanh niên.

Đội ngũ cán bộ Hội đã bắt đầu được củng cố và có tác động tốt đến các hoạt động Hội ở cơ sở. Uỷ ban Hội các cấp được củng cố, kiện toàn. Theo thống kê năm 1991, cả nước có 28 Uỷ ban Hội cấp tỉnh, thành phố, 129 Uỷ ban Hội cấp huyện, quận, 786 Uỷ ban Hội cấp phường, xã. Một số tỉnh, thành chưa thành lập Uỷ ban Hội cấp tỉnh, huyện nhưng ở cơ sở đã hình thành các chi hội, đội, nhóm do cán bộ Đoàn đứng ra tổ chức, tập hợp.

Do xác định được vấn đề tăng cường xây dựng Hội ở cơ sở là một nhiệm vụ vừa cấp bách, vừa lâu dài, thời gian qua nhiều tỉnh, thành phố như Kiên Giang, An Giang, Long An, Thừa Thiên – Huế, Quảng Nam - Đà Nẵng, Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh đã chú trọng cử cán bộ xuống các cơ sở, chọn điểm làm thử. Những cơ sở yếu kém được quan tâm nhiều hơn trong việc hướng dẫn tổ chức những hoạt động cụ thể nhằm tập hợp thanh niên. Các tỉnh Thuận Hải, Đắc Lắc, An Giang, Sơn La chú ý nhiều hơn đến công tác tập hợp và vận động thanh niên các dân tộc Gia Lai – Kon Tum chỉ đạo phát triển “Làng thanh niên”- một mô hình hoạt động toàn diện. “Làng thanh niên” được xây dựng trên cơ sở địa bàn dân cư nhằm thu hút, tập hợp thanh niên tham gia làm lực lượng nòng cốt trong việc xây dựng “Làng thanh niên” được chính quyền các cấp, các già làng và bà con các dân tộc tỉnh ủng hộ, được thanh, thiếu nhi hưởng ứng một cách tự nguyện. “Làng thanh niên” là một mô hình phù hợp với phong tục, tập quán, truyền thống của thanh thiếu niên miền núi nên ngày càng được nhân rộng ra các địa phương trong cả nước.

Các tỉnh Thừa Thiên – Huế, Lâm Đồng, Kiên Giang, mở hội thảo về tập hợp thanh niên trên địa bàn tôn giáo, thông qua đó thể nghiệm những kỹ năng, phương pháp công tác tập hợp thanh niên.
Công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ đã được các cấp bộ Hội chủ động quan tâm hơn, nhiều lớp tập huấn mở ở các tỉnh, thành và huyện thị, trong năm 1991 với hơn 5000 cán bộ Hội tham dự. Nội dung các lớp tập trung vào chuyên đề về công tác tổ chức, xây dựng Hội; Hội tham gia xây dựng Đoàn; các kỹ năng phương pháp tổ chức những hoạt động cụ thể để tập hợp thanh niên. Đội với các chi hội trưởng, đội, nhóm trưởng, nội dung tập huấn chủ yếu là công tác của người đội trưởng, nhóm trưởng: Kỹ năng tâm lí tiếp cận thanh niên, kỹ năng sinh hoạt tập thể cộng đồng. Các tỉnh: Hậu Giang, Quảng Nam - Đà Nẵng, Thừa Thiên – Huế, Quảng Trị, Đắc Lắc, Lâm Đồng, Thuận Hải, thành phố Hồ Chí Minh... là những địa phương làm tốt công tác tập huấn cán bộ Hội.

Nhiều tổ chức Hội LHTN Việt Nam ở các địa phương nhất là các tỉnh phía Nam được sự chỉ đạo trực tiếp của đồng chí Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký TW Hội Phạm Phương Thảo, sau Hội nghị cán bộ Hội toàn quốc tháng 12-1990, đã có những hoạt động lớn để củng cố kiện toàn tổ chức: An Giang tổ chức cuộc họp mặt thanh niên tiên tiến và Hội nghị cán bộ Hội toàn tỉnh với 250 đại biểu tham dự để kiện toàn tổ chức và phát triển hoạt động. Thành phố Hồ Chí Minh tiến hành Hội nghị đại biểu Hội LHTN thành phố lần thứ I. Kiên Giang tiến hành Đại hội đại biểu Hội LHTN tỉnh lần thứ V có 150 đại biểu tham dự, đồng thời chỉ đạo các huyện, thị tổ chức Hội nghị đại biểu nhằm kiện toàn và nâng cao chất lượng của tổ chức Hội. Đặc biệt Uỷ ban Hội LHTN thành phố Hà Nội sau một thời gian chuẩn bị và xây dựng phong trào ở cơ sở, đã chính thức ra mắt và đi vào hoạt động. Sự ra đời của Uỷ ban Hội LHTN thành phố Hà Nội có thể được coi là một sự kiện có nhiều ý nghĩa đối với công tác phát triển Hội của cả nước nói chung và ở các tỉnh phía Bắc nói riêng.

Những nguyên nhân tạo nên sự chuyển biến vững chắc của công tác xây dựng phát triển tổ chức Hội trong năm 1990 trước hết phải kể đến là sự quan tâm chỉ đạo và tạo điều kiện của các cấp bộ Đoàn dưới sự lãnh đạo của các cấp bộ Đảng.

Trên cơ sở quán triệt tinh thần Nghị quyết Hội nghị lần thứ 8 của BCH Trung ương Đảng (Khoá VI) về công tác quần chúng, Nghị quyết BCH TW Đoàn lần thứ 4 (khoá V) về công tác quần chúng và Nghị quyết 04 của Ban Thường vụ TW Đoàn, ngày 2-5-1990, Ban Bí thư TW Đoàn đã chỉ thị số 01 về tăng cường hướng dẫn, chỉ đạo xây dựng Hội LHTN Việt Nam, nội dung chỉ thị yêu cầu:

1- Ban Thường vụ các tỉnh, thành Đoàn cần lựa chọn những cán bộ có năng lực, nhiệt tình tăng cường cho công tác Hội ở các cấp: Cấp tỉnh, thành phố từ 4-5 cán bộ; cấp huyện, quận từ 2 đến 3 cán bộ. Ngoài số cán bộ ăn lương của Đoàn, nơi nào có điều kiện có thể hợp đồng thêm cán bộ do Hội trả lương. Việc tăng cường cán bộ cho Hội là cần thiết và cấp bách song phải thảo luận với thường trực Hội, tránh tình trạng áp đặt thiếu dân chủ.

2- Nơi nào Hội chưa tự túc được kinh phí Đoàn cần cấp cho Hội một khoản kinh phí tương ứng với nhiệm vụ của Hội. Tạo điều kiện cho Hội sự chủ động cần thiết phục vụ phong trào. Nơi nào Hội có hoạt động kinh tế, dịch vụ có nguồn thu thì để Hội quản lí và quyết định chi tiêu theo chế độ chung. Những nơi Hội chưa có hoạt động kinh tế, Đoàn có trách nhiệm giúp Hội tổ chức các loại hình hoạt động để vừa giải quyết việc làm cho thanh niên, vừa có thêm nguồn kinh phí cho hoạt động.

3- Cố gắng bố trí cho Hội có trụ sở riêng hoặc gắn với trung tâm hoạt động như Câu lạc bộ, Nhà văn hoá, Trung tâm khoa học kĩ thuật, Trung tâm du lịch... để Hội có điều kiện qui tụ các hoạt động xã hội, tiếp cận với các đối tượng thanh niên. Nơi nào Đoàn không bố trí được thì báo cáo với Đảng và chính quyền giúp đỡ Hội.

4- Công tác đoàn kết tập hợp thanh niên và xây dựng Hội LHTN phải được coi là một trong những nội dung công tác quan trọng của các cấp bộ Đoàn. Thường vụ các tỉnh, Thành Đoàn phải họp liên tịch với thường trực Hội để xây dựng các chỉ tiêu phát triển Hội (kiện toàn Uỷ ban Hội các cấp, phát triển hội viên và các chi hội ở cơ sở).

Toàn bộ các chủ trương về công tác Hội ở địa phương Ban Thường vụ Tỉnh Đoàn cần lãnh đạo chặt chẽ và báo cáo chi tiết các kế hoạch công tác Hội cho Thường trực cấp Uỷ biết để tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác tập hợp, đoàn kết thanh niên.

Từ năm 1989 Trung ương Đoàn đã tăng cường 6 cán bộ cho Ban Công tác Mặt trận Thanh niên. Các tỉnh An Giang, Kiên Giang, Quảng Nam - Đà Nẵng có từ 5 đến 7 cán bộ chuyên trách công tác đoàn kết tập hợp thanh niên, Hà Nội đã cử 2 cán bộ chuyên lo về công tác này. Hầu hết các tỉnh phía Nam có từ 2 đến 3 cán bộ chuyên trách công tác Hội. Một số tỉnh, Thành Đoàn còn tạo điều kiện cho Hội có trụ sở, có các hoạt động sản xuất, dịch vụ tạo nguồn thu tự túc kinh phí cho hoạt động như Quảng Nam - Đà Nẵng, Kiên Giang, An Giang, Thuận Hải, Khánh Hoà...

Bước vào năm 1991, trong tình hình đất nước tiến hành đổi mới toàn diện, nhân dân ta đang vượt qua những khó khăn to lớn nhằm xây dựng chế độ mới cuộc sống mới. Cục diện chính trị chuyển biến phức tạp tác động mạnh vào nước ta. Các thế lực thù địch đang âm mưu “diễn biến hoà bình”, lôi kéo, chia rẽ và làm hư hỏng thanh niên ta. Trước tình hình đó, Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khoá VI) đã ra Nghị quyết 25-NQ/TW ngày 9-2-1991 về đổi mới và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác thanh niên. Nghị quyết đã đề ra những quan điểm cơ bản về công tác thanh niên của Đảng trong thời kỳ mới. Đó là:

1- Đảng, Nhà nước và toàn xã hội ra sức bồi dưỡng, phát huy tiềm năng và vai trò chủ động của thanh niên trên mọi lĩnh vực của công cuộc đổi mới, coi đó là nhiệm vụ quan trọng trong chiến lược con người.

Xây dựng môi trường xã hội thuận lợi để thanh niên phát triển nhân cách và cống hiến nhiều nhất cho Tổ quốc.

2- Đoàn kết và tập hợp mọi tầng lớp thanh niên vì mục tiêu dân giàu nước mạnh, vì lợi ích thiết thực của mọi tầng lớp thanh niên theo con đường XHCN, dân chủ và công bằng xã hội, vì cuộc sống văn minh và hạnh phúc của tuổi trẻ. Các hình thức tổ chức tập họp thanh niên phải đa dạng theo nghề nghiệp, sở thích và theo các nhu cầu chính đáng khác của thanh niên.

Xây dựng Đoàn TNCS Hồ Chí Minh vững mạnh làm hạt nhân nòng cốt của mặt trận đoàn kết, tập họp thanh niên và phong trào thanh niên, xây dựng lực lượng kế tục sự nghiệp cách mạng của dân tộc và của Đảng.

3- Phối hợp đồng bộ giữa các tổ chức trong hệ thống chính trị của đất nước, phối hợp giữa gia đình, nhà trường và xã hội trong công tác thanh niên. Tổ chức phong trào hành động cách mạng của thanh niên đi đôi với việc Nhà nước xâydựng và thực hiện các chính sách bảo đảm các quyền lợi và nghĩa vụ của tuổi trẻ.

Chăm sóc, giáo dục, bồi dưỡng thanh niên, thiếu niên là trách nhiệm của các cấp uỷ Đảng, các cấp chính quyền và của toàn xã hội.

Nghị quyết 25 của Bộ Chính trị đã tạo ra những điều kiện thuận lợi cho công tác tập hợp, đoàn kết thanh niên và xây dựng Hội LHTN Việt Nam. Cùng với việc thực hiện xây dựng chương trình công tác và Điều lệ Hội LHTN Việt Nam mới được thông qua tháng 12-1990, công tác xây dựng và phát triển tổ chức Hội có sự chuyển biến rõ nét, Uỷ ban Hội các cấp tiếp tục được xây dựng, củng cố và kiện toàn. Nhiều địa phương như: Minh Hải, Đồng Nai, Đắc Lắc, Phú Yên, Quảng Nam - Đà Nẵng, Thừa Thiên – Huế, Quảng Trị, Hà Nội, Sơn La, Cao Bằng, Hoàng Liên Sơn, Yên Bái, Lào Cai... đã xây dựng, củng cố và cho ra mắt Uỷ ban Hội các cấp. Một số tỉnh như Đồng Nai, Sông Bé, An Giang, Hậu Giang, Tiền Giang, Lâm Đồng, Quảng Nam - Đà Nẵng, Phú Yên, Hải Phòng, Sơn La, Minh Hải... Đã chú ý phát triển các loại hình chi hội như: Chi hội những người sản xuất kinh doanh giỏi, Chi hội những nhà doanh nghiệp trẻ v.v... thu hút được đông đảo thanh niên tham gia.

Năm 1992 là năm diễn ra nhiều diễn biến đầy thử thách trên mọi lĩnh vực chính trị, kinh tế, xã hội. Nhưng toàn Đảng, toàn dân ta đã quyết tâm phấn đấu và đã giành được những thành tựu quan trọng mở ra triển vọng mới cho sự phát triển cả về kinh tế xã hội trong công cuộc đổi mới đất nước.

Tháng 10-1992, Đại hội Đoàn toàn quốc lần thứ VI tại Thủ đô Hà Nội đã tổng kết toàn bộ phong trào thanh niên và công tác Đoàn, đề ra chương trình, phương hướng công tác Đoàn và phong trào thanh niên cho nhiệm kì 5 năm tới.

Công tác tập hợp, đoàn kết thanh niên và xây dựng Hội LHTN Việt Nam tuy còn gặp nhiều khó khăn nhưng đã thu hút được những kết quả đáng kể trên cơ sở 3 chương trình hành động được các cấp bộ Hội đánh giá là đúng, trúng, ngắn gọn, thiết thực.

Tổ chức Hội tiếp tục phát triển, năm 1992 và đầu năm 1993, Uỷ ban Trung ương Hội đã ra quyết định công nhận Uỷ ban Hội của 3 tỉnh: Hải Hưng (nay là Hải Dương, Hưng Yên), Hà Tĩnh và Quảng Bình, đưa số lượng Uỷ ban Hội cấp tỉnh, thành lên 34/53. Một số tỉnh phía Bắc đã thành lập Ban Vận động thành lập Hội như: Thanh Hoá, Thái Bình, Tuyên Quang, Vĩnh Phú, Nghệ An.

Theo số liệu thống kê của 23 tỉnh, thành đến đầu tháng 2-1993 ở các địa phương đã có:

127 Uỷ ban Hội cấp huyện, quận.
850 Uỷ ban Hội cấp phường, xã.
159 Câu lạc bộ, đội, nhóm, chi hội trực thuộc tỉnh.
5944 chi hội, đội, nhóm cơ sở.
658.700 hội viên đã được tập hợp tăng gấp hai lần năm1991, bao gồm: Hội viên chính thức, hội viên thường xuyên, hội viên không thường xuyên.
49 cán bộ Hội chuyên trách cấp tỉnh, thành phố.
132 cán bộ Hội chuyên trách cấp huyện, quận.

So với năm 1991, số lượng Uỷ ban Hội cấp tỉnh, thành phố và huyện, quận, cơ sở, số lượng chi hội, đội, nhóm và số lượng hội viên đều tăng. Tổ chức Hội ở phía Nam được củng cố, ở phía Bắc được mở rộng, khẳng định sự phát triển đúng hướng của Hội LHTN Việt Nam trong tình hình mới.

Về mặt hoạt động, việc tìm tòi các hình thức thích hợp của tổ chức Hội ở các địa phương có tác dụng là “Uống nước nhớ nguồn”, “Bác Hồ với tuổi trẻ”, “Ngôi sao chiến sĩ”... thông qua các loại hình văn hoá có sức hấp dẫn, đặc biệt các hoạt động xã hội đã thu hút bạn trẻ nhiều nhất. Nội dung hoạt động xã hội hướng vào việc giúp đỡ gia đình thương binh liệt sĩ khó khăn, neo đơn, chăm sóc nghĩa trang, xây nhà tình nghĩa, giúp đỡ thiếu nhi, hình thành các quỹ bảo trợ “Vì ngày mai” v.v... Quỹ bảo trợ “Vì ngày mai” ở Hậu Giang có 20 triệu đồng, Bình Định có 10 triệu đồng, Phú Yên có chi hội của học sinh góp 2 triệu đồng, thành phố Hồ Chí Minh có phòng khám bệnh miễn phí, nhiều chi hội làm đường, làm cầu cống, giúp đỡ đồng bào bị bão lụt rất kịp thời, năng động. Đợt vận động của Trung ương Hội giúp đồng bào Nghệ Tĩnh trong vòng một tuần lễ đã thu và gửi số tiền tương đương 10 tấn gạo.

Những hoạt động sôi nổi của các chi Hội đã thôi thúc thanh niên dân tộc ở các tỉnh Đắc Lắc, Gia Lai – Kon Tum, Lâm Đồng sinh hoạt tích cực, kể cả các thanh niên đã có con, vào những đêm trăng vẫn tham gia sinh hoạt. Hoạt động của các tổ chức Hội trong các “Làng thanh niên” ở một số nơi đã giúp thanh niên thực hiện nếp sống mới như: Xây giếng nước, làm chuồng gia súc xa nhà, đau ốm phải đến trạm xá...

Trong các năm từ 1990 đến 1992, hoạt động Hội ở nhiều nơi đã đi vào giải quyết những vấn đề cơ bản như góp phần giải quyết việc làm, hướng dẫn nghề nghiệp, chăm lo đời sống cho thanh niên, điển hình là các tỉnh: An Giang, Hậu Giang, Lâm Đồng, Bình Định, Quảng Nam - Đà Nẵng... Những hoạt động kinh tế của Hội thời gian này có xu hướng phát triển góp phần thực hiện 3 chương trình kinh tế – xã hội của đất nước, đồng thời tạo quỹ để “Lấy phong trào nuôi phong trào”. ở nhiều nơi Hội cũng đã có câu lạc bộ, trung tâm dạy nghề, cơ sở dịch vụ văn hoá, kỹ thuật…

Tại Đại hội Thanh niên xuất sắc làm theo lời Bác nhân dịp kỷ niệm 100 năm ngày sinh của Người được tổ chức tại Hà Nội, Trung ương Đoàn đã biểu dương nhiều tổ chức và đoàn viên, hội viên thanh niên có những thành tích xuất sắc trong lao động sản xuất, học tập, công tác, Bảo vệ Tổ quốc, hoạt động xã hội. Chuyển biến rõ nhất trong hoạt động của Hội LHTN là kể từ sau Hội nghị đại biểu toàn quốc Hội LHTN Việt Nam tháng 12-1990 cùng với tổ chức Đoàn, Hội đã tổ chức nhiều hoạt động hướng tới những sự kiện lớn năm 1991 như kỷ niệm 60 năm ngày thành lập Đoàn, 50 năm ngày thành lập Đội, Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VII.

Bằng nhiều hoạt động thu hút sự tự nguyện của thanh niên, các bạn trẻ đã cùng nhau xây dựng kế hoạch hoạt động với nhiều loại hình văn hoá, thể thao, du lịch chào mừng kỷ niệm lần thứ 60 ngày thành lập Đoàn TNCS Hồ Chí Minh và các ngày lễ lớn trong năm 1991. Nhiều hoạt động rầm rộ diễn ra ở các địa phương: Trại họp mặt ở Vũng Tàu – Côn Đảo, hội trại ở các cơ sở tỉnh Quảng Trị, Gia Lai – Kon Tum, Lâm Đồng, Kiên Giang, Khánh Hoà... Các cuộc thi “Tiếng hát với cây đàn ghi ta” và “Thời trang trẻ” của Thừa Thiên – Huế, hoạt động “về nguồn” của các bạn trẻ thành phố Hồ Chí Minh, Bình Định, Phú Yên, các cuộc du khảo về lại căn cứ địa cách mạng để ôn lại truyền thống cách mạng của các thế hệ cha anh được tổ chức đều khắp ở các quận của TP. Hồ Chí Minh, Long An, Thuận Hải, Sông Bé, Huế. Những hoạt động giao lưu giữa các huyện trong tỉnh Đắc Lắc, Khánh Hoà, An Giang, Minh Hải, Huế... đã tạo được không khí sôi nổi của tuổi trẻ trong các ngày hội. Hàng trăm nghìn thanh niên đã được bộc lộ rõ nét, khẳng định sự có mặt và sức sống tiềm tàng của Hội LHTN Việt Nam.

Đồng thời với việc tổ chức những hoạt động nhằm giáo dục chính trị tư tưởng, từ năm 1991 Hội đã tổ chức những hoạt động theo các chương trình hướng vào giải quyết những nhu cầu cơ bản của thanh niên.

+ Chương trình giúp nhau làm ăn, phát triển tài năng trẻ.

Nổi bật là hình thức bảo trợ tài năng trẻ. Dựa trên những nhu cầu thực tế và chính đáng về phát triển văn hoá, nghề nghiệp và kinh tế, đồng thời tạo điều kiện cho thanh niên vượt khó khăn, tự khẳng định mình phấn đấu vì mục tiêu dân giàu nước mạnh, Trung ương Hội LHTN Việt Nam đã tổ chức cuộc gặp mặt các nhà doanh nghiệp trẻ. Hơn 60 bạn trẻ ở các tỉnh phía Nam đã tham dự, đại diện cho các t