DMCA.com Protection Status

Lực lượng vũ trang nhân dân tỉnh Thanh hóa với chặng đường 70 năm xây dựng, chiến đấu và trưởng thành.  quan tâm

Được viết bởi: Trần Việt Thao

Cập nhật lúc 14:51 ngày 05/01/2018

17

 

Lực lượng vũ trang nhân dân tỉnh Thanh hóa với chặng đường 70 năm xây dựng,

chiến đấu và trưởng thành.

 

Từ năm 1930, dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh TH, thanh niên tỉnh ta đã đi đầu trong đấu tranh chống bọn thực dân, phong kiến: chống bắt phu, bắt lính, sưu cao, thuế nặng,…xung kích trong các phong trào đánh giặc bảo vệ cán bộ CM. Những chiến khu CM Đa Ngọc(Yên Định), Cẩm bào(Vĩnh Lộc), Ngọc Trạo(Thạch Thành), Quang Trung,là những nơi tựu trung những TN ưu tú luyện tập, sẵn sàng chiến đấu bảo vệ quê hương, đất nước.

              Ngày 29/7/1930, Đảng bộ Đảng cộng sản Việt Nam tỉnh Thanh Hoá được thành lập. Trong những năm vận động cách mạng tiến tới tổng khởi nghĩa vũ trang giành chính quyền từ (1939 – 1945), Đảng bộ tỉnh Thanh Hoá đẩy mạnh việc tổ chức, xây dựng lực lượng vũ trang cách mạng, các đội tự vệ phản đế cứu quốc lần lượt ra đời chuẩn bị cho cuộc tổng khởi nghĩa giành chính quyền cách mạng.

Thanh niên TH, dưới sự lãnh đạo của Đảng, cỗ vũ động viên của Đoàn đã xung kích trong khởi nghĩa giành chính quyền(từ 17-23/8/1945); đi đầu là TN ở: Hoằng Hoá, TPTH, Thiệu Hoá, Yên Định, Hậu Lộc, Hà Trung, Thạch Thành, Thọ Xuân, Vĩnh Lộc, Đông Sơn,...

Để làm nên CM tháng 8 thành công ở tỉnh nhà , biết bao người con ưu tú của TH đã dũng cảm vượt qua mọi hy sinh gian khổ, chiến đấu quên mình vì quê hương, tổ quốc; tiêu biểu như; Phạm Văn Hinh, Nguyễn Đức Tẻo, Hoàng Văn Môn, Hoàng Văn Tước(ở chiến khu Ngọc Trạo), Ngô Ngọc Vũ(Thiệu hoá),…và nhiều chiến sĩ trên các mặt trận chiến đấu với giặc trên chiến tuyến thầm lặng như nữ anh hùng liệt sĩ Nguyễn Thị Lợi,...CM tháng tám thành công, TN còn là lực lượng quan trọng bảo vệ chính quyền và giữ gìn an ninh chính trị và trật tự XH, như: lực lượng TNXP của thị xã TH gồm 200 người; mỗi làng đều có 1 trung đội tự vệ. Chi đội chủ lực đầu tiên của tỉnh TH được thành lập gồm 1500 chiến sĩ mang tên chi đội Đinh Công Tráng- là lực lượng quan trọng bảo vệ chính quyền CM và giữ gìn an ninh chính trị và trật tự XH.

           Trước sự phát triển rộng khắp của lực lượng dân quân, du kích trong tỉnh; đứng trước yêu cầu nhiệm vụ cách mạng, thực hiện chỉ thị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (tháng 01/1947) về việc “Cấp tốc xúc tiến tổ chức lực lượng vũ trang và lãnh đạo dân quân”, Chỉ thị của Chủ tịch Hồ Chí Minh khi người về thăm Thanh Hoá (tháng 2/1947); Quyết định của Chính phủ (tháng 3/1947) đổi tên “Bộ tổng chỉ huy quân đội quốc gia” thành “Bộ tổng chỉ huy quân đội quốc gia và dân quân tự vệ”, thành lập các Ban chỉ huỷ Tỉnh đội, Huyện đội, Xã đội dân quân trực thuộc uỷ ban kháng chiến các cấp. Từ giữa năm 1947, các huyện Trung Châu và ven biển Thanh Hoá đã tiến hành tách các bộ phận tác chiến, quân sự thuộc uỷ ban kháng chiến các cấp thành hệ thống cơ quan chỉ huy các cấp: xã đội, huyện đội thuộc uỷ ban kháng chiến các cấp.

              Sau một thời gian chuẩn bị cán bộ, ngày 9/10/1947, Chủ tích uỷ ban kháng chiến tỉnh Thanh Hoá Đặng Việt Châu ký Quyết định số 3932 TH/KC thành lập Tỉnh đội bộ dân quân Thanh Hoá (nay là Bộ CHQS Thanh Hoá). Ngày 18/12/1947, Chủ tịch uỷ ban kháng chiến Liên khu 4 Trần Hữu Dực ký quyết định (số 11/QN – LK4) bổ nhiệm các chức vụ thuộc Ban chỉ huy Tỉnh đội Thanh Hoá gồm: Đồng chí Võ Nguyên Tuệ, Tỉnh đội trưởng; Đ/c Lê Hữu Khai, chính trị viên; Đ/c Lê Như Hoan, Tỉnh đội phó;  Đ/c Lê Minh Sơn, Tỉnh đội phó.Song song với việc thành lập cơ quan Tỉnh đội và Huyện đội, ở cơ sở thành lập Xã đội, Thôn đội

Hưởng ứng bức thư gửi đồng bào Nam bộ ngày 29/9/1945 của chủ tịch Hồ Chí Minh, nhiều nam, nữ TN đã ghi tên xung phong tình nguyện vào đội quân Nam tiến. Chính quyền CM thị xã TH đã lựa chọn được 40 TN nam, nữ có đủ sức khoẻ và tinh thần hăng hái gia nhập giải phóng quân trong phong trào Nam tiến thuộc ba đại đội của quân khu ba lên đường vào Nam chiến đấu(từ 23/9/1945- 8/1/1946). 40 người con em TH đã chiến đấu rất dũng cảm, ngoan cường tại các tỉnh Nam bộ.

Trong kháng chiến chống Pháp, toàn tỉnh đã có 56.792 TN tham gia bộ đội, 18.920 TN tham gia lực lượng TNXP, 291.508 TN tham gia lực lượng dân công tiếp vận phục vụ các chiến dịch lớn, là một trong những tỉnh đóng góp sức người, sức của nhiều nhất để cùng cả nước làm nên chiến thắng Điện biên lừng lẫy địa cầu”; xây dựng lực lượng dân quân với số 227.248 người, Du kích 32.126 người, trong đó (Lão dân quân: 15.000 cụ, Nữ dân quân: 14.227 chị, Thiếu niên quân 9.788 em). Xây dựng bộ đội địa phương trong tỉnh, gồm: 3 tiểu đoàn, 40 đại đội, 6 trung đội, tổ chức và duy trì 1 xưởng (Phạm Huy Thuần) sản xuất súng kíp; 01 xưởng (Thọ Long) sản xuất dao, kiếm, lựu đạn; (2 xưởng) đúc vỏ moóc -chi-ê, mìn, lựu đạn.

Chiến đấu bảo vệ địa phương, quân dân tỉnh ta đã đánh 156 trận lớn, nhỏ, tiêu diệt và sát thương 3.391 tên, bắt sống và gọi hàng 2.326 tên; thu 1.476 khẩu súng các loại và hàng chục tấn quân trang, quân dụng khác.

Toàn tỉnh tham gia phục vụ tiền tuyến bổ sung lực lượng xây dựng bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương với tổng số quân 56.792 người; thanh niên xung phong 6.321 người; bộ đội địa phương bổ sung chủ lực 2 tiểu đoàn, 34 đại đội, 6 trung đội; du kích bổ sung chủ lực: 500 người. Riêng năm 1953 và 6 tháng đầu năm 1954, tỉnh ta đã bổ sung 18.890 người, bằng quân số 7 năm (từ 1946 - 1952).

              Dân công tiếp vận, dân công cầu đường, huy động phục vụ các chiến dịch thời kỳ cuối của cuộc kháng chiến chống Pháp, toàn tỉnh đã đóng góp tổng số 34.177.233 ngày công phục vụ ; riêng dân công làm cầu đường đóng góp 11.000.000 ngày công; Chiến dịch Thượng Lào huy động cao nhất so với kháng chiến 300.000 người; Chiến dịch Điện Biên Phủ huy động nhiều phương tiện nhất (xe đạp thồ 11.000 chiếc, thuyền các loại 1.300 chiếc).

              Tỉnh Thanh Hóa đã cung cấp lương thực, thực phẩm và tiền của phục vụ kháng chiến: trong 2 năm (1946, 1947) gạo bằng 1.076 tấn; lúa hóa giá (năm 1948) bằng 4.061 tấn; ủng hộ dân quân sắm vũ khí 3.960.000 tấn; lúa khao quân (năm 1949) bằng 7.936 tấn; cấp dưỡng bộ đội địa phương (năm 1949) là 400 mẫu ruộng, 1.096 tấn thóc và 1.000.000 đồng. Toàn tỉnh mua Công phiếu kháng chiến (năm 1950) là 42.633.120 đồng; mua công trái Quốc gia (năm 1951) là 1.334.914.200 đồng.

              Ngày 13/6/1957, trong buổi nói chuyện với đại biểu nhân dân Thanh Hóa nhân dịch về thăm tình nhà, Hồ Chủ Tịch đã khen ngợi: "Bây giờ tiếng Việt Nam đến đâu, tiếng Điện Biên Phủ đến đó. Tiếng Điện Biên Phủ đến đâu, đồng bào Thanh Hóa cũng có mộ phần vinh dự đến đó".

Tuổi trẻ TH đã góp phần cùng nhân dân trong tỉnh nhận 2 cờ "Thi đua phục vụ khá nhất" của Hồ Chủ tịch, 8 đơn vị được phong tặng danh hiệu anh hùng LLVT nhân dân gồm: Cẩm Thủy; Thạch Thành; xã Nga An, xã Nga Thành, xã Nga Giáp - Nga Sơn; xã Ngọc Trạo, xã Thành Vân - Thạch Thành; xã Cổ Lũng - Bá Thước. 5 đồng chí đuợc tuyên dương anh hùng quân đội gồm: Liệt sỹ Tô Vĩnh Diện, Liệt sỹ Trương Công Man, Liệt sỹ Trần Đức, Liệt sỹ Lê Công Khai; Lò Văn Bường; 2 dồng chí đuợc tuyên dương anh hùng nông nghiệp; 3 chiến sỹ thi đua toàn quốc; được tặng 167 Huân chương các loại; 39 người đạt danh hiệu Chiến sỹ thi đua cấp Liên khu; 226 người đạt chiến sỹ thi đua cấp tỉnh; được tặng 300 bằng khen cấp Trung ương; 1.275 bằng khen cấp liên khu; 5 Huân chương Quân công, 4 Huy chương kháng chiến, 307 huy chương chiến công các loại.

Trong kháng chiến chống Mỹ xâm lược (1954 – 1975) quân và dân Thanh Hóa đã lập nên nhiều thành tích vẻ vang: Trong chiến đấu trên không, đánh 9.983 trận, tiêu thụ 988.970 viên đạn các loại, bắn rơi 376 máy bay (có 3 chiếc B52), trong đó dân quân tự vệ bắn rơi 40 chiếc, bộ đội địa phương bắn rơi 41chiếc, bắt sống 36 giặc lái; chiến đấu trên biển, đánh 175 trận, tiêu thụ 8.897 viên đạn; bắn chìm, bắn cháy 57 tầu biệt khích và khu trục hạm (5 tầu biệt kích Nguỵ, 52 tầu khu trục hạm); trong đó, Lực lượng vũ trang bắn chìm, bắn cháy 12 chiếc. Bắt sống 3 biệt kích người nhái tại khu vực Nghi Sơn và Hà Nẫm (Hải Thượng, Tĩnh Gia).

Trong công tác tuyển quân chi viện chiến trường từ năm 1955 đến năm 1975, toàn tỉnh đã tuyển được 227.082 thanh niên nhập ngũ vào quân đội; trong đó chi viện chiến trường: Trung đoàn 14 huấn luyện quân tăng cường (từ tháng 4/1970 – 1975), đã huấn luyện và giao cho các chiến trường 78 tiểu đoàn, (có 4 tiểu đoàn nữ); năm 1972 là năm giao cao nhất bằng 17 tiểu đoàn.

Chú trọng xây dựng lực lượng vũ trang địa phương tỉnh nhà: Năm thấp nhất (1964) có 2 đại đội bộ binh và 2 đại đội cao xạ hỗn hợp 37 ly và 14,5ly, năm cao nhất (1972) có 4 tiểu đoàn cao xạ, 2 tiểu đoàn bộ binh, 1 tiểu đoàn công binh dự nhiệm, 1 cụm (tương đương trung đoàn), 2 tiểu đoàn hỗn hợp phòng thủ khu vực và hải đảo (chủ yếu là pháo binh) tương đương 12 đại đội pháo binh; một trung đoàn huấn luyện quân tăng cường (quân số có từ 3- 11 tiểu đoàn).

           Xây dựng lực lượng dân quân tự vệ ở các cơ sở trong tỉnh: Năm cao nhất (1967) có 220.848 dân quân tự vệ (nữ có 64.400 người, chiếm 11,3%), năm thấp nhất (1974) có 166.744 dân quân tự vệ (nữ 67.415 người). Toàn tỉnh Thanh Hóa có 3.064 dân quân tự vệ tham gia chiến đấu sử dụng súng cao xạ 12,7 ly và 14,5 ly (nữ 588 chị, lão quân 39 cụ). Tay cày tay súng, toàn tỉnh có 3.355 người biết sử dụng súng trường, trung liên đến pháo cao xạ 37; 57 và 100 ly để chiến đấu với máy bay mỹ; có 4 đại đội súng 12,7 ly chi viện cho chiến trường Trị Thiên, có 467 tổ (2.345 người) làm nhiệm vụ công binh giao thông và khắc phục bom đạn địch; 1.311 tổ (3.806 người) quân báo nhân dân; 1.410 tổ (3601 người) thông tin liên lạc; 3.129 dân quân tự vệ được huấn luyện bổ sung pháo cao xạ và 543 dân quân tự vệ được huấn luyện bổ sung pháo mặt đất.

              Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước; LLVT nhân dân tỉnh Thanh Hoá đã có 165 đơn vị được Đảng và Nhà nước ta đã tuyên dương danh hiệu anh hùng LLVT nhân dân và 146 đơn vị được khen thưởng Huân chương Quân Công, chiến công các hạng. Ngày 29/8/1965 nhân dân và LLVT Thanh Hoá được Chủ tịch Hồ Chí Minh tặng thưởng Huân chương Độc lập hạng hai. Ngày 6/11/1978 LLVT nhân dân tỉnh Thanh Hoá được Chủ tịch nước Cộng hoà XHCN Việt Nam tặng danh hiệu anh hùng LLVT nhân dân vì có thành tích xuất sắc trong sự nghiệp chống Mỹ cứu nước. Đồng thời, có 77 cá nhân là con em quê hương Thanh Hoá đã anh dũng chiến đấu lập nhiều chiến công xuất sắc trên quê hương và trên chiến trường cả nước; cùng nhiều phần thưởng cao quý của Đảng, nhà nước, quân đội được tặng cho các tập thể và cá nhân.

 

 

Tuổi trẻ tỉnh Thanh đã phát huy truyền thống đấu tranh cách mạng vẻ vang của quê h­ương, noi g­ương các anh hùng LLVT thời chống Pháp: Tô Vĩnh Diện (Triệu Sơn), Tr­ương Công Man (Cẩm Thuỷ), Lò Văn B­ường (Thư­ờng Xuân), Lê Công Khai (Hoằng Hoá), Trần Đức (Tĩnh Gia); đặc biệt là anh hùng thời đại chống Mỹ Lê Mã L­ương với câu nói nổi tiếng đã trở thành lẽ sống của lớp TN ngày ấy “Cuộc đời đẹp nhất là cuộc đời trên trận tuyến đánh quân thù”. Từ năm 1969 đến 1972, ở nhiều cơ quan, tr­ường học, địa phư­ơng, TN đã đến trụ sở Uỷ ban, đến ban chỉ huy quân sự huyện tình nguyện xin đi bộ đội bằng đ­ược để vào Nam trực tiếp cầm súng chiến đấu với đế quốc Mỹ (có ng­ười đã viết đơn gia nhập quân đội bằng cả máu của mình). Với ý chí “ Xẻ dọc Tr­ường sơn đi cứu nư­ớc”, trong 4 năm đó đã có hơn 52.000 TN Thanh Hóa lên đ­ường chiến đấu bảo vệ tổ quốc. Đầu năm 1975, Thanh hoá đã tiếp tục huy động hơn 20 ngàn ĐVTN nhập ngũ và tổ chức huấn luyện cấp tốc bổ sung cho chiến trường miền Nam 21 tiểu đoàn. Qua chiến đấu họ đã trở thành những anh hùng, dũng sĩ, lập nên nhiều chiến công xuất sắc góp phần quan trọng làm nên Đại thắng mùa xuân 4/1975.

Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu n­ước (21 năm), cùng với tuổi trẻ cả nư­ớc 227.082 TN TH đã lên đ­ường nhập ngũ, 40.000 TN tham gia lực lư­ợng TNXP và 100.000 TNXP cơ sở phục vụ giao thông vận tải và chiến đấu tại chỗ. Những dũng sĩ đất Lam Sơn lại phát huy truyền thống cha anh xông pha trên khắp các chiến trư­ờng đánh Mỹ, là những ng­ười “Biết đi tới và làm nên thắng trận” đã lập nên những chiến công xuất sắc, nổi bật những tấm gư­ơng chói ngời về chủ nghĩa anh hùng cách mạng.

Tuổi trẻ Thanh Hóa đã cùng nhân dân toàn tỉnh vinh dự hai lần đ­ược BCH Trung ­ương Đảng tặng cờ luân lư­u “Quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lư­ợc”, có 84 ng­ười đ­ược tặng danh hiệu Anh hùng lực l­ượng vũ trang, trong đó hơn 70% là TN (59 đ/c); tiêu biểu là các anh hùng, dũng sĩ: Lê Mã Lư­ơng (Nông Cống), Lê Xuân Sinh (Triệu Sơn), Vũ Trung Th­ướng (TX Bỉm Sơn), Mai Ngọc Thoảng (Thạch Thành), Lư­ơng Văn Xuân (Bá Thư­ớc), Lê Trần Mẫn (Hoằng Hoá), Trần Đức Thái, Nguyễn Tố Hải (Thiệu Yên); anh hùng liệt sĩ Cao Xuân Thắng, Vũ Phi Trừ (Quảng Xương), trong đó có nhiều đồng chí trực tiếp tham gia “Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử”.

Năm 1979, cán bộ chiến sỹ Trung đoàn 14, Trung đoàn 74, cùng hàng ngàn con em quê hương Thanh Hoá lại tiếp tục hành quân lên biên giới phía Bắc tham gia chiến đấu, góp phần bảo vệ vững chắc từng tấc đất biên cương của Tổ quốc. Trong chiến đấu chống bọn phản động bành trướng Trung quốc xâm lược, tấm gương chiến đấu của anh hùng liệt sĩ Lê Đình Chinh- đã đi vào lịch sử như trang chói lọi mở đầu cho khí phách anh hùng của thế hệ TN mới: thế hệ thứ tư, xây dựng và bảo vệ tổ quốc VN XHCN.

Khi Trường Sa- hải đảo yêu dấu của tổ quốc bị lấn chiếm, noi gương anh hùng Lê Mã Lương, anh hùng liệt sĩ Vũ Phi Trừ (Quảng Xương),... tuổi trẻ TH đã xung kích tham gia chiến đấu giữ trọn hải phận thiêng liêng của tổ quốc. Phong trào “Vì Trường Sa” đã dấy lên trong toàn tỉnh khiến cho kẻ thù phải chùn bước trước ý chí “Không có gì quý hơn độc lập, tự do” của một dân tộc anh hùng.

Nổi bật của LLVT tỉnh trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc từ năm 1975 đến nay luôn tham mưu kịp thời cho Đảng, chính quyền địa phương xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân phát triển đạt chất lượng ngày càng cao, tham mưu xây dựng nền quốc phòng, xây dựng khu vực phòng thủ ngày càng vững chắc, hoàn thành xuất sắc mọi nhiệu vụ được giao, đi đầu trong phong trào chống bão lụt, cứu hộ, cứu nạn, khắc phục hậu quả thiên tai.

Trong 70 năm chiến đấu, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc (1944 - 2014), toàn tỉnh Thanh Hoá có gần ba trăm ngàn thanh niên tham gia bộ đội, gần 6 vạn thanh niên gia nhập TNXP, gần 300 ngàn TN tham gia dân công. Trong số 84 anh hùng lực lượng vũ trang Thanh Hoá có 59 đồng chí là ĐVTN, trong đó có những ĐVTN là điển hình tiêu biểu cho các thời kỳ cách mạng, như: Tô Vĩnh Diện, Lê Mã Lương, Lê Đình Chinh,...........

Từ năm 1975 – 2011, Lực lượng vũ trang Thanh Hoá đó lập nên nhiều thành tích và chiến công xuất sắc được nhà nước tặng thưởng nhiều danh hiệu cao quý, trong đó tiêu biểu là: Ngày 6/11/1978 LLVT Thanh Hoá được Đảng và Nhà nước tuyên dương anh hùng LLVT nhân dân và nhiều huân, huy chương, phần thưởng cao quý khác. Ngày 5/7/2007 Bộ CHQS Thanh Hoá được Nhà nước tặng thưởng Huân chương Quân công Hạng Nhì vì đã có thành tích đặc biệt xuất sắc trong công tác xây dựng Quân đội nhân dân, củng cố Quốc phòng, gúp phần vào sự nghiệp xây dựng CNXH và bảo vệ Tổ quốc. Bộ CHQS Thanh Hóa trong nhiều năm liền được Chính phủ, Bộ Quốc phòng, Bộ Tư lệnh Quân khu 4 tặng cờ thi đua là đơn vị có thành tích xuất sắc trong việc thực hiện nhiệm vụ Quân sự Quốc phòng hàng năm. Ngoài ra còn nhiều tập thể, cá nhân thuộc LLVT tỉnh Thanh Hóa được Đảng, nhà nước, quân đội tặng thưởng nhiều danh hiệu cao quý khác.

Giờ đây, nhân dịp kỷ niệm 70 năm ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam, 25 năm ngày hội quốc phòng toàn dân, tuổi trẻ toàn tỉnh TH đã và đang phát huy truyền thống cách mạng cùng những chiến công trong 7 thập niên qua, nỗ lực vượt lên nhiều khó khăn thử thách xung kích trong xõy dựng và bảo vệ tổ quốc, tình nguyện vì cuộc sống cộng đồng, lập nên nhiều thành tích xuất sắc hơn nữa xứng đáng với truyền thống quê hương Bà Triệu, Lê Lợi anh hùng./.

( Trần Việt Thao- PV.VP Tỉnh đoàn Thanh Hóa- sưu tầm, biên soạn).

 

 

 

 

Lực lượng vũ trang nhân dân tỉnh Thanh Hóa với chặng đường 71 năm xây dựng, chiến đấu và trưởng thành.

Từ năm 1930, dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh TH, thanh niên tỉnh ta đã đi đầu trong đấu tranh chống bọn thực dân, phong kiến: chống bắt phu, bắt lính, sưu cao, thuế nặng,…xung kích trong các phong trào đánh giặc bảo vệ cán bộ CM. Những chiến khu CM Đa Ngọc(Yên Định), Cẩm bào(Vĩnh Lộc), Ngọc Trạo(Thạch Thành), Quang Trung,là những nơi tựu trung những TN ưu tú luyện tập, sẵn sàng chiến đấu bảo vệ quê hương, đất nước.

Ngày 29/7/1930, Đảng bộ Đảng cộng sản Việt Nam tỉnh Thanh Hoá được thành lập. Trong những năm vận động cách mạng tiến tới tổng khởi nghĩa vũ trang giành chính quyền từ (1939 – 1945), Đảng bộ tỉnh Thanh Hoá đẩy mạnh việc tổ chức, xây dựng lực lượng vũ trang cách mạng, các đội tự vệ phản đế cứu quốc lần lượt ra đời chuẩn bị cho cuộc tổng khởi nghĩa giành chính quyền cách mạng.

Thanh niên TH, dưới sự lãnh đạo của Đảng, cỗ vũ động viên của Đoàn đã xung kích trong khởi nghĩa giành chính quyền(từ 17-23/8/1945); đi đầu là TN ở: Hoằng Hoá, TPTH, Thiệu Hoá, Yên Định, Hậu Lộc, Hà Trung, Thạch Thành, Thọ Xuân, Vĩnh Lộc, Đông Sơn,...

Để làm nên CM tháng 8 thành công ở tỉnh nhà , biết bao người con ưu tú của TH đã dũng cảm vượt qua mọi hy sinh gian khổ, chiến đấu quên mình vì quê hương, tổ quốc; tiêu biểu như; Phạm Văn Hinh, Nguyễn Đức Tẻo, Hoàng Văn Môn, Hoàng Văn Tước(ở chiến khu Ngọc Trạo), Ngô Ngọc Vũ(Thiệu hoá),…và nhiều chiến sĩ trên các mặt trận chiến đấu với giặc trên chiến tuyến thầm lặng như nữ anh hùng liệt sĩ Nguyễn Thị Lợi,...CM tháng tám thành công, TN còn là lực lượng quan trọng bảo vệ chính quyền và giữ gìn an ninh chính trị và trật tự XH, như: lực lượng TNXP của thị xã TH gồm 200 người; mỗi làng đều có 1 trung đội tự vệ. Chi đội chủ lực đầu tiên của tỉnh TH được thành lập gồm 1500 chiến sĩ mang tên chi đội Đinh Công Tráng- là lực lượng quan trọng bảo vệ chính quyền CM và giữ gìn an ninh chính trị và trật tự XH.

Trước sự phát triển rộng khắp của lực lượng dân quân, du kích trong tỉnh; đứng trước yêu cầu nhiệm vụ cách mạng, thực hiện chỉ thị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (tháng 01/1947) về việc “Cấp tốc xúc tiến tổ chức lực lượng vũ trang và lãnh đạo dân quân”, Chỉ thị của Chủ tịch Hồ Chí Minh khi người về thăm Thanh Hoá (tháng 2/1947); Quyết định của Chính phủ (tháng 3/1947) đổi tên “Bộ tổng chỉ huy quân đội quốc gia” thành “Bộ tổng chỉ huy quân đội quốc gia và dân quân tự vệ”, thành lập các Ban chỉ huỷ Tỉnh đội, Huyện đội, Xã đội dân quân trực thuộc uỷ ban kháng chiến các cấp. Từ giữa năm 1947, các huyện Trung Châu và ven biển Thanh Hoá đã tiến hành tách các bộ phận tác chiến, quân sự thuộc uỷ ban kháng chiến các cấp thành hệ thống cơ quan chỉ huy các cấp: xã đội, huyện đội thuộc uỷ ban kháng chiến các cấp.

Sau một thời gian chuẩn bị cán bộ, ngày 9/10/1947, Chủ tích uỷ ban kháng chiến tỉnh Thanh Hoá Đặng Việt Châu ký Quyết định số 3932 TH/KC thành lập Tỉnh đội bộ dân quân Thanh Hoá (nay là Bộ CHQS Thanh Hoá). Ngày 18/12/1947, Chủ tịch uỷ ban kháng chiến Liên khu 4 Trần Hữu Dực ký quyết định (số 11/QN – LK4) bổ nhiệm các chức vụ thuộc Ban chỉ huy Tỉnh đội Thanh Hoá gồm: Đồng chí Võ Nguyên Tuệ, Tỉnh đội trưởng; Đ/c Lê Hữu Khai, chính trị viên; Đ/c Lê Như Hoan, Tỉnh đội phó; Đ/c Lê Minh Sơn, Tỉnh đội phó.Song song với việc thành lập cơ quan Tỉnh đội và Huyện đội, ở cơ sở thành lập Xã đội, Thôn đội

Hưởng ứng bức thư gửi đồng bào Nam bộ ngày 29/9/1945 của chủ tịch Hồ Chí Minh, nhiều nam, nữ TN đã ghi tên xung phong tình nguyện vào đội quân Nam tiến. Chính quyền CM thị xã TH đã lựa chọn được 40 TN nam, nữ có đủ sức khoẻ và tinh thần hăng hái gia nhập giải phóng quân trong phong trào Nam tiến thuộc ba đại đội của quân khu ba lên đường vào Nam chiến đấu(từ 23/9/1945- 8/1/1946). 40 người con em TH đã chiến đấu rất dũng cảm, ngoan cường tại các tỉnh Nam bộ.

Trong kháng chiến chống Pháp, toàn tỉnh đã có 56.792 TN tham gia bộ đội, 18.920 TN tham gia lực lượng TNXP, 291.508 TN tham gia lực lượng dân công tiếp vận phục vụ các chiến dịch lớn, là một trong những tỉnh đóng góp sức người, sức của nhiều nhất để cùng cả nước làm nên chiến thắng Điện biên lừng lẫy địa cầu”; xây dựng lực lượng dân quân với số 227.248 người, Du kích 32.126 người, trong đó (Lão dân quân: 15.000 cụ, Nữ dân quân: 14.227 chị, Thiếu niên quân 9.788 em). Xây dựng bộ đội địa phương trong tỉnh, gồm: 3 tiểu đoàn, 40 đại đội, 6 trung đội, tổ chức và duy trì 1 xưởng (Phạm Huy Thuần) sản xuất súng kíp; 01 xưởng (Thọ Long) sản xuất dao, kiếm, lựu đạn; (2 xưởng) đúc vỏ moóc -chi-ê, mìn, lựu đạn.

Chiến đấu bảo vệ địa phương, quân dân tỉnh ta đã đánh 156 trận lớn, nhỏ, tiêu diệt và sát thương 3.391 tên, bắt sống và gọi hàng 2.326 tên; thu 1.476 khẩu súng các loại và hàng chục tấn quân trang, quân dụng khác.

Toàn tỉnh tham gia phục vụ tiền tuyến bổ sung lực lượng xây dựng bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương với tổng số quân 56.792 người; thanh niên xung phong 6.321 người; bộ đội địa phương bổ sung chủ lực 2 tiểu đoàn, 34 đại đội, 6 trung đội; du kích bổ sung chủ lực: 500 người. Riêng năm 1953 và 6 tháng đầu năm 1954, tỉnh ta đã bổ sung 18.890 người, bằng quân số 7 năm (từ 1946 - 1952).

Dân công tiếp vận, dân công cầu đường, huy động phục vụ các chiến dịch thời kỳ cuối của cuộc kháng chiến chống Pháp, toàn tỉnh đã đóng góp tổng số 34.177.233 ngày công phục vụ ; riêng dân công làm cầu đường đóng góp 11.000.000 ngày công; Chiến dịch Thượng Lào huy động cao nhất so với kháng chiến 300.000 người; Chiến dịch Điện Biên Phủ huy động nhiều phương tiện nhất (xe đạp thồ 11.000 chiếc, thuyền các loại 1.300 chiếc).

Tỉnh Thanh Hóa đã cung cấp lương thực, thực phẩm và tiền của phục vụ kháng chiến: trong 2 năm (1946, 1947) gạo bằng 1.076 tấn; lúa hóa giá (năm 1948) bằng 4.061 tấn; ủng hộ dân quân sắm vũ khí 3.960.000 tấn; lúa khao quân (năm 1949) bằng 7.936 tấn; cấp dưỡng bộ đội địa phương (năm 1949) là 400 mẫu ruộng, 1.096 tấn thóc và 1.000.000 đồng. Toàn tỉnh mua Công phiếu kháng chiến (năm 1950) là 42.633.120 đồng; mua công trái Quốc gia (năm 1951) là 1.334.914.200 đồng.

Ngày 13/6/1957, trong buổi nói chuyện với đại biểu nhân dân Thanh Hóa nhân dịch về thăm tình nhà, Hồ Chủ Tịch đã khen ngợi: "Bây giờ tiếng Việt Nam đến đâu, tiếng Điện Biên Phủ đến đó. Tiếng Điện Biên Phủ đến đâu, đồng bào Thanh Hóa cũng có mộ phần vinh dự đến đó".

Tuổi trẻ TH đã góp phần cùng nhân dân trong tỉnh nhận 2 cờ "Thi đua phục vụ khá nhất" của Hồ Chủ tịch, 8 đơn vị được phong tặng danh hiệu anh hùng LLVT nhân dân gồm: Cẩm Thủy; Thạch Thành; xã Nga An, xã Nga Thành, xã Nga Giáp - Nga Sơn; xã Ngọc Trạo, xã Thành Vân - Thạch Thành; xã Cổ Lũng - Bá Thước. 5 đồng chí đuợc tuyên dương anh hùng quân đội gồm: Liệt sỹ Tô Vĩnh Diện, Liệt sỹ Trương Công Man, Liệt sỹ Trần Đức, Liệt sỹ Lê Công Khai, Liệt sỹ Lò Văn Bường; 2 dồng chí đuợc tuyên dương anh hùng nông nghiệp; 3 chiến sỹ thi đua toàn quốc; được tặng 167 Huân chương các loại; 39 người đạt danh hiệu Chiến sỹ thi đua cấp Liên khu; 226 người đạt chiến sỹ thi đua cấp tỉnh; được tặng 300 bằng khen cấp Trung ương; 1.275 bằng khen cấp liên khu; 5 Huân chương Quân công, 4 Huy chương kháng chiến, 307 huy chương chiến công các loại.

Trong kháng chiến chống Mỹ xâm lược (1954 – 1975) quân và dân Thanh Hóa đã lập nên nhiều thành tích vẻ vang: Trong chiến đấu trên không, đánh 9.983 trận, tiêu thụ 988.970 viên đạn các loại, bắn rơi 376 máy bay (có 3 chiếc B52), trong đó dân quân tự vệ bắn rơi 40 chiếc, bộ đội địa phương bắn rơi 41chiếc, bắt sống 36 giặc lái; chiến đấu trên biển, đánh 175 trận, tiêu thụ 8.897 viên đạn; bắn chìm, bắn cháy 57 tầu biệt khích và khu trục hạm (5 tầu biệt kích Nguỵ, 52 tầu khu trục hạm); trong đó, Lực lượng vũ trang bắn chìm, bắn cháy 12 chiếc. Bắt sống 3 biệt kích người nhái tại khu vực Nghi Sơn và Hà Nẫm (Hải Thượng, Tĩnh Gia).

Trong công tác tuyển quân chi viện chiến trường từ năm 1955 đến năm 1975, toàn tỉnh đã tuyển được 227.082 thanh niên nhập ngũ vào quân đội; trong đó chi viện chiến trường: Trung đoàn 14 huấn luyện quân tăng cường (từ tháng 4/1970 – 1975), đã huấn luyện và giao cho các chiến trường 78 tiểu đoàn, (có 4 tiểu đoàn nữ); năm 1972 là năm giao cao nhất bằng 17 tiểu đoàn.

Chú trọng xây dựng lực lượng vũ trang địa phương tỉnh nhà: Năm thấp nhất (1964) có 2 đại đội bộ binh và 2 đại đội cao xạ hỗn hợp 37 ly và 14,5ly, năm cao nhất (1972) có 4 tiểu đoàn cao xạ, 2 tiểu đoàn bộ binh, 1 tiểu đoàn công binh dự nhiệm, 1 cụm (tương đương trung đoàn), 2 tiểu đoàn hỗn hợp phòng thủ khu vực và hải đảo (chủ yếu là pháo binh) tương đương 12 đại đội pháo binh; một trung đoàn huấn luyện quân tăng cường (quân số có từ 3- 11 tiểu đoàn).

Xây dựng lực lượng dân quân tự vệ ở các cơ sở trong tỉnh: Năm cao nhất (1967) có 220.848 dân quân tự vệ (nữ có 64.400 người, chiếm 11,3%), năm thấp nhất (1974) có 166.744 dân quân tự vệ (nữ 67.415 người). Toàn tỉnh Thanh Hóa có 3.064 dân quân tự vệ tham gia chiến đấu sử dụng súng cao xạ 12,7 ly và 14,5 ly (nữ 588 chị, lão quân 39 cụ). Tay cày tay súng, toàn tỉnh có 3.355 người biết sử dụng súng trường, trung liên đến pháo cao xạ 37; 57 và 100 ly để chiến đấu với máy bay mỹ; có 4 đại đội súng 12,7 ly chi viện cho chiến trường Trị Thiên, có 467 tổ (2.345 người) làm nhiệm vụ công binh giao thông và khắc phục bom đạn địch; 1.311 tổ (3.806 người) quân báo nhân dân; 1.410 tổ (3601 người) thông tin liên lạc; 3.129 dân quân tự vệ được huấn luyện bổ sung pháo cao xạ và 543 dân quân tự vệ được huấn luyện bổ sung pháo mặt đất.

Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước; LLVT nhân dân tỉnh Thanh Hoá đã có 165 đơn vị được Đảng và Nhà nước ta đã tuyên dương danh hiệu anh hùng LLVT nhân dân và 146 đơn vị được khen thưởng Huân chương Quân Công, chiến công các hạng. Ngày 29/8/1965 nhân dân và LLVT Thanh Hoá được Chủ tịch Hồ Chí Minh tặng thưởng Huân chương Độc lập hạng hai. Ngày 6/11/1978 LLVT nhân dân tỉnh Thanh Hoá được Chủ tịch nước Cộng hoà XHCN Việt Nam tặng danh hiệu anh hùng LLVT nhân dân vì có thành tích xuất sắc trong sự nghiệp chống Mỹ cứu nước. Đồng thời, có 77 cá nhân là con em quê hương Thanh Hoá đã anh dũng chiến đấu lập nhiều chiến công xuất sắc trên quê hương và trên chiến trường cả nước; cùng nhiều phần thưởng cao quý của Đảng, nhà nước, quân đội được tặng cho các tập thể và cá nhân.

Tuổi trẻ tỉnh Thanh đã phát huy truyền thống đấu tranh cách mạng vẻ vang của quê hương, noi gương các anh hùng LLVT thời chống Pháp: Tô Vĩnh Diện (Triệu Sơn), Trương Công Man (Cẩm Thuỷ), Lò Văn B¬ường (Thư¬ờng Xuân), Lê Công Khai (Hoằng Hoá), Trần Đức (Tĩnh Gia); đặc biệt là anh hùng thời đại chống Mỹ Lê Mã Lương với câu nói nổi tiếng đã trở thành lẽ sống của lớp TN ngày ấy “Cuộc đời đẹp nhất là cuộc đời trên trận tuyến đánh quân thù”. Từ năm 1969 đến 1972, ở nhiều cơ quan, trường học, địa phương, TN đã đến trụ sở Uỷ ban, đến ban chỉ huy quân sự huyện tình nguyện xin đi bộ đội bằng được để vào Nam trực tiếp cầm súng chiến đấu với đế quốc Mỹ (có người đã viết đơn gia nhập quân đội bằng cả máu của mình). Với ý chí “ Xẻ dọc Trường sơn đi cứu nước”, trong 4 năm đó đã có hơn 52.000 TN Thanh Hóa lên đường chiến đấu bảo vệ tổ quốc. Đầu năm 1975, Thanh hoá đã tiếp tục huy động hơn 20 ngàn ĐVTN nhập ngũ và tổ chức huấn luyện cấp tốc bổ sung cho chiến trường miền Nam 21 tiểu đoàn. Qua chiến đấu họ đã trở thành những anh hùng, dũng sĩ, lập nên nhiều chiến công xuất sắc góp phần quan trọng làm nên Đại thắng mùa xuân 4/1975.

Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước (21 năm), cùng với tuổi trẻ cả nước 227.082 TN TH đã lên đường nhập ngũ, 40.000 TN tham gia lực lư¬ợng TNXP và 100.000 TNXP cơ sở phục vụ giao thông vận tải và chiến đấu tại chỗ. Những dũng sĩ đất Lam Sơn lại phát huy truyền thống cha anh xông pha trên khắp các chiến trường đánh Mỹ, là những người “Biết đi tới và làm nên thắng trận” đã lập nên những chiến công xuất sắc, nổi bật những tấm gương chói ngời về chủ nghĩa anh hùng cách mạng.

Tuổi trẻ Thanh Hóa đã cùng nhân dân toàn tỉnh vinh dự hai lần được BCH Trung ương Đảng tặng cờ luân lưu “Quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược”, có 84 người được tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang, trong đó hơn 70% là TN (59 đ/c); tiêu biểu là các anh hùng, dũng sĩ: Lê Mã Lương (Nông Cống), Lê Xuân Sinh (Triệu Sơn), Vũ Trung Th-ướng (TX Bỉm Sơn), Mai Ngọc Thoảng (Thạch Thành), Lương Văn Xuân (Bá Thước), Lê Trần Mẫn (Hoằng Hoá), Trần Đức Thái, Nguyễn Tố Hải (Thiệu Yên); anh hùng liệt sĩ Cao Xuân Thắng, Vũ Phi Trừ (Quảng Xương), trong đó có nhiều đồng chí trực tiếp tham gia “Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử”.

Năm 1979, cán bộ chiến sỹ Trung đoàn 14, Trung đoàn 74, cùng hàng ngàn con em quê hương Thanh Hoá lại tiếp tục hành quân lên biên giới phía Bắc tham gia chiến đấu, góp phần bảo vệ vững chắc từng tấc đất biên cương của Tổ quốc. Trong chiến đấu chống bọn phản động bành trướng Trung quốc xâm lược, tấm gương chiến đấu của anh hùng liệt sĩ Lê Đình Chinh- đã đi vào lịch sử như trang chói lọi mở đầu cho khí phách anh hùng của thế hệ TN mới: thế hệ thứ tư, xây dựng và bảo vệ tổ quốc VN XHCN.

Khi Trường Sa- hải đảo yêu dấu của tổ quốc bị lấn chiếm, noi gương anh hùng Lê Mã Lương, anh hùng liệt sĩ Vũ Phi Trừ (Quảng Xương),... tuổi trẻ TH đã xung kích tham gia chiến đấu giữ trọn hải phận thiêng liêng của tổ quốc. Phong trào “Vì Trường Sa” đã dấy lên trong toàn tỉnh khiến cho kẻ thù phải chùn bước trước ý chí “Không có gì quý hơn độc lập, tự do” của một dân tộc anh hùng.

Nổi bật của LLVT tỉnh trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc từ năm 1975 đến nay luôn tham mưu kịp thời cho Đảng, chính quyền địa phương xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân phát triển đạt chất lượng ngày càng cao, tham mưu xây dựng nền quốc phòng, xây dựng khu vực phòng thủ ngày càng vững chắc, hoàn thành xuất sắc mọi nhiệu vụ được giao, đi đầu trong phong trào chống bão lụt, cứu hộ, cứu nạn, khắc phục hậu quả thiên tai.

Trong 70 năm chiến đấu, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc (1944 - 2014), toàn tỉnh Thanh Hoá có gần ba trăm ngàn thanh niên tham gia bộ đội, gần 6 vạn thanh niên gia nhập TNXP, gần 300 ngàn TN tham gia dân công. Trong số 84 anh hùng lực lượng vũ trang Thanh Hoá có 59 đồng chí là ĐVTN, trong đó có những ĐVTN là điển hình tiêu biểu cho các thời kỳ cách mạng, như: Tô Vĩnh Diện, Lê Mã Lương, Lê Đình Chinh,...........

Từ năm 1975 – 2011, Lực lượng vũ trang Thanh Hoá đó lập nên nhiều thành tích và chiến công xuất sắc được nhà nước tặng thưởng nhiều danh hiệu cao quý, trong đó tiêu biểu là: Ngày 6/11/1978 LLVT Thanh Hoá được Đảng và Nhà nước tuyên dương anh hùng LLVT nhân dân và nhiều huân, huy chương, phần thưởng cao quý khác. Ngày 5/7/2007 Bộ CHQS Thanh Hoá được Nhà nước tặng thưởng Huân chương Quân công Hạng Nhì vì đã có thành tích đặc biệt xuất sắc trong công tác xây dựng Quân đội nhân dân, củng cố Quốc phòng, gúp phần vào sự nghiệp xây dựng CNXH và bảo vệ Tổ quốc. Bộ CHQS Thanh Hóa trong nhiều năm liền được Chính phủ, Bộ Quốc phòng, Bộ Tư lệnh Quân khu 4 tặng cờ thi đua là đơn vị có thành tích xuất sắc trong việc thực hiện nhiệm vụ Quân sự Quốc phòng hàng năm. Ngoài ra còn nhiều tập thể, cá nhân thuộc LLVT tỉnh Thanh Hóa được Đảng, nhà nước, quân đội tặng thưởng nhiều danh hiệu cao quý khác.

Giờ đây, nhân dịp kỷ niệm 70 năm ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam, 25 năm ngày hội quốc phòng toàn dân, tuổi trẻ toàn tỉnh TH đã và đang phát huy truyền thống cách mạng cùng những chiến công trong 7 thập niên qua, nỗ lực vượt lên nhiều khó khăn thử thách xung kích trong xây dựng và bảo vệ tổ quốc, tình nguyện vì cuộc sống cộng đồng, lập nên nhiều thành tích xuất sắc hơn nữa xứng đáng với truyền thống quê hương Bà Triệu, Lê Lợi anh hùng./.

( Trần Việt Thao- PV.VP Tỉnh đoàn Thanh Hóa- sưu tầm, biên soạn).

 

ST TÓM TẮT LỊCH SỬ LỰC LƯỢNG VŨ TRANG VIỆT NAM VÀ

LỰC LƯỢNG VŨ TRANG THANH HÓA.

 

Ra đời do yêu cầu chống khủng bố, bảo vệ phong trào đấu tranh chính trị của quần chúng, các “Đội tự vệ công nông” đầu tiên ở nước ta do Xứ ủy Trung kỳ lãnh đạo thành lập đã xuất hiện chính trong cao trào cách mạng (1930-1931) và Xô viết Nghệ Tĩnh.

Tháng 2/1930- đội tự vệ công nhân đồn điền Phú Riềng gồm một số đảng viên và quần chúng trung kiên đã được thành lập để bảo vệ cuộc biểu tình, bãi công của 3000 công nhân. Trong phong trào Xô viết Nghệ tĩnh; các Nhà máy, thôn, xã thành lập công hội, nông hội, Đoàn TNCS,...để lập ra đội tự vệ công nhân và nông dân như : Đội tự vệ Ba xã, Hậu lộc, Can Lộc, Hà Tĩnh(8/1930 có tới 30 người); Thanh Chương( Nghệ an)(9/1930); ở Thạch Hà(Hà Tĩnh) có cả nữ tự vệ;....các đội tự vệ ấy gọi là Tự vệ Xích Đỏ(Xích Vệ).

Tháng 3/1935, ĐH lần thứ nhất của Đảng họp tại Ma cao, Trung quốc. ĐH đã có riêng một NQ về đội tự vệ nhằm tổng kết những kinh nghiệm về tổ chức, lãnh đạo và hoạt động của đội tự vệ (tổ chức 5-9 người/1tiểu đội; 3 tiểu đội thành một trung đội; 3 trung đội thành một đại đội,......“tam tam hợp chế”.nhằm ủng hộ quần chúng, cơ quan CM, chiến sĩ CM, huấn luyện quân sự cho lao động CM, chống kẻ thù, làm CM thắng lợi. ĐH có NQ về công tác binh vận. NQ chỉ rõ: phải tìm cách cướp lấy súng địch mà trang bị cho mình.

Hội nghị lần thứ 6 của BCH TW Đảng do các đ/c Nguyễn Văn Cừ, Lê Duẩn chủ trì(11/1939) đề ra chủ trương thành lập “ Mặt trận thống nhất dân tộc phản đế Đông dương”; chủ trương phát triển đội tự vệ thật “to rộng, đủ dũng cảm và điềm tĩnh, khôn khéo và hy sinh bảo vệ quần chúng” và tương lai sẽ xây dựng “quốc dân cách mệnh quân”.

Xứ uỷ kỳ Bắc kỳ phái đ/c Trần Đăng Ninh lên Bắc sơn cùng đảng bộ địa phương lãnh đạo phong trào CM, tổ chức ra Quân du kích làm lực lượng nòng cốt cho cuộc khởi nghĩa. Lực lượng du kích phát triển lên gần 200 người. Khởi nghĩa Bắc sơn tuy thất bại nhưng đã nổ tiếng súng đầu tiên báo hiệu thời kỳ đấu tranh vũ trang mới của dân tộc;.....

Tháng 9-10/1941, đội du kích Ngọc Trạo(Thạch Thành) gồm 21 đ/c đã được thành lập.

10-19/ 02/1941, Bác Hồ về nước trực tiếp lãnh đạo cách mạng Việt Nam. Người đã triệu tập và chủ tọa Hội nghị lần thứ 8 BCH TW Đảng họp tại Pắc Bó, Hội nghị quyết định thành lập Mặt trận dân tộc thống nhất lấy tên là “Việt Nam độc lập đồng minh hội” gọi tắt là Việt Minh, xây dựng và phát triển các lực lượng vũ trang để chuẩn bị thời cơ, đi từ “khởi nghĩa từng phần trong từng địa phương” để “Mở đường cho một cuộc khởi nghĩa to lớn giành chính quyền trong cả nước”. Hội nghị chủ trương: “ Tổ chức ra tự vệ cứu quốc hội và tiểu tổ du kích” “chiến thuật khởi nghĩa trong tình thế này phải là chiến thuật du kích”, định ra “Điều lệ của Việt nam tiểu tổ du kích cứu quốc” là một tổ chức quân sự rộng rãi của quần chúng có khả năng tiến hành chiến tranh du kích.

Hội nghị TW8 của Đảng hoàn chỉnh chuyển hướng chỉ đạo chiến lược CM của Đảng từ đấu tranh chính trị lên đấu tranh vũ trang, cách tiến hành chuẩn bị lực lượng khởi nghĩa vũ trang.

Ngày 19/5/1941, Mặt trận Việt minh thành lập, bắt đầu thời kỳ chuẩn bị khởi nghĩa vũ trang, xây dựng các căn cứ du kích Bắc Sơn, Vũ Nhai, Cao Bằng; cứu quốc quân và Việt nam tuyên truyền giải phóng quân.

Ngày 14/2/1941, bộ đội du kích Bắc sơn( tên gọi bộ đội có từ đây) được chính thức thành lập tại khu rừng Khuổi Nọi thuộc xã Vũ Lễ, châu Bắc Sơn(Lạng Sơn). Sau hội nghị lần thứ 8 của BCHTWƯ Đảng, đội du kích Bắc Sơn được đổi tên thành Cứu quốc quân.

Đ/c Hoàng Văn Thụ TM TW Đảng trao nhiệm vụ cứu nước và cờ đỏ sao vàng cho bộ đội du kích Bắc sơn. Lúc đầu, toàn đội có 32 người chia làm 3 tiểu đội do 2 đ/c Lương Văn Tri và Chu Văn Tấn chỉ huy, vũ khí: 5 súng trường và súng kíp, dao găm,...một bộ phận của đội được chia ra làm hai bộ phận làm nhiệm vụ bảo vệ và đưa đường cho các đ/c đi dự hội nghị TW Đảng. Các cơ ở huấn luyện: khe Khuổi Nọi, rừng Phú Thương, Lâu Thương, Bản Ít, rừng Tràng Xá,....Sau đó, bộ đội du kích Bắc sơn được mang tên mới: Cứu quốc quân; tháng 7/1941 bị địch bao vây khủng bố.

15/9/1941, trung đội cứu quốc quân thứ hai được thành lập tại khu rừng Khuổi Mánh, thôn Ngọc Mỹ, xã Tràng Xá(Vũ nhai). đ/c Hoàng Quốc Việt đã thay mặt TW Đảng công nhận cứu quốc quân 2. Toàn đội có 47 người( trong đó có 3 nữ) có chi bộ Đảng lãnh đạo, do đ/c Chu Văn Tấn, xứ uỷ viên làm bí thư chi bộ và trực tiếp chỉ huy; vũ khí gồm: 3 súng, dao găm, súng kíp,.....Lực lượng du kích phát triển mạnh,....

Thời kỳ này Bác Hồ, đ/c Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp,...biên soạn một số tài liệu chính trị quân sự làm tài liệu huấn luyện du kích, tự vệ.

Cuối 1941, Bác Hồ chỉ thị tổ chức Đội vũ trang ở Cao Bằng, gồm 12 đ/c do đ/c Lê Quảng Ba chỉ huy. Đội có nhiệm vụ bảo vệ cơ quan lãnh đạo của Đảng, giữ vững đường giao thông, tuyên truyền và giúp việc huấn luyện tự vệ và tự vệ chiến đấu.

Nhật hất cẳng Pháp, trước tình hình đó, từ 25- 27/2/1943, BTVTW Đảng họp quyết định củng cố và phát triển mặt trận Việt minh, đồng thời ra sức chỉ thị khởi nghĩa; ra chỉ thị trong đó có yêu cầu:....phải tổ chức và củng cố các đội tự vệ và tiểu đội du kích, đồng thời phải huấn luyện quân sự cho những tổ chức ấy.

Ngày 25/2/1944, trung đội cứu quốc quân thứ 3 được thành lập ở Khuổi kịch, châu Sơn Dương(Tuyên Quang). Đội gồm các chiến sĩ cứu quốc quân hoạt động ở Nam Đại Từ, Bắc Cạn, Tuyên Quang, Vĩnh Yên.

Giữa năm 1944, tình hình thế giới có nhiều chuyển biến mau lẹ: Hồng quân Liên Xô chuyển sang phản công thắng lợi trên nhiều mặt trận. Ngày 10/8/1944, Trung ương Đảng kêu gọi “Sắm vũ khí, đuổi thù chung”. Các tổ chức quần chúng trong Mặt trận Việt minh nhiệt hưởng ứng và góp tiền vào quĩ mua súng. Không khí chuẩn bị khởi nghĩa sôi sục khắp nơi. Cuối năm 1944, nhân dân vùng Cao-Bắc-Lạng sẵn sàng hưởng ứng khởi nghĩa.

Tháng 10/1944, sau một thời gian ở nước ngoài, Chủ tịch Hồ Chí Minh về nước chỉ thị hoãn cuộc khởi nghĩa Cao-Bắc-Lạng. Người nói: “Thời kỳ cách mạng hòa bình phát triển đã qua, nhưng thời kỳ toàn dân khởi nghĩa chưa tới…Cuộc đấu tranh bây giờ phải từ hình thức chính trị tiến lên hình thức quân sự. Song hiện nay, chính trị còn trọng hơn quân sự. Phải tìm ra một hình thức thích hợp thì mới có thể đẩy phong trào tiến lên”.

Để đáp ứng yêu cầu đó, mùa Đông năm 1944, Bác Hồ chỉ thị thành lập Đội Việt nam tuyên truyền giải phóng quân.Chỉ thị như sau:

“ Tên: Đội Việt nam tuyên truyền giải phóng quân, nghĩa là chính trị trọng hơn quân sự. Nó là đội tuyên truyền. Vì muốn hành động có kết quả về quân sự, nguyên tắc chính là nguyên tắc tập trung lực lượng, cho nên, theo chỉ thị mới của đoàn thể sẽ chọn lọc trong hàng ngũ những đội du kích Cao- Bắc- Lạng số cán bộ và đội viên kiên quyết, hăng hái nhất và sẽ tập trung một phần lớn vũ khí để lập ra đội quân chủ lực”.

Chấp hành chỉ thị của Chủ Tịch Hồ Chí Minh, sau một thời gian gấp rút chuẩn bị, ngày 22/12/1944, đội Việt nam tuyên truyền giải phóng quân(VNTTGPQ) được thành lập tại một khu rừng giữa hai tổng Hoàng Hoa Thám và Trần Hưng Đạo, thuộc châu Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng. Đ/c Võ nguyên Giáp được Đảng và lãnh tụ Hồ Chí Minh uỷ nhiệm tổ chức lãnh đạo và chỉ huy, đã tuyên bố thành lập Đội VN tuyên truyền giải phóng quân và vạch rõ nhiệm vụ của đội đối với tổ quốc. Dưới lá cờ đỏ sao vàng năm cánh, toàn đội đã long trọng tuyên đọc mười lời thề danh dự. Đội gồm 34 người( với 31 nam, 3 nữ) biên chế thành 3 tiểu đội do đ/c Võ Nguyên Giáp làm chỉ huy chung; đ/c Hoàng Sâm làm đội trưởng và đ/c Xích Thắng(tức Dương Mạc Thạch) làm chính trị viên. Đội có chi bộ Đảng lãnh đạo. Đội chỉ có 34 người với 34 khẩu súng các loại, nhưng đó là những chiến sĩ kiên quyết dũng cảm đã được chọn lựa kỹ càng trong đội du kích Cao- Bắc- Lạng và trong số người đi học quân sự ở nước ngoài về, hầu hết đã trãi qua chiến đấu và ít nhiều đều có hiểu biết về kỹ thuật và kinh nghiệm quân sự.......Sau lễ thành lập, toàn đội đã ăn một bữa cơm nhạt, không rau, không muối để tượng trưng cho tinh thần chịu đựng gian khổ của người chiến sĩ cách mạng.

Chấp hành chỉ thị của Đảng “Phải đánh thắng trận đầu”, ngay sau ngày thành lập, đội VNTTGPQ đã mưu trí, táo bạo giả làm quân địch bất ngờ đột nhập vào đồn Phai Khắt(17 giờ chiều ngày 24/12/1944) và liền ngay sáng hôm sau( 7giờ sáng ngày 25/12/1944) đột nhập đồn Nà Ngần cách đó 15 Km, tiêu diệt gọn hai đồn địch, giết chết 2 tên đồn trưởng, bắt sống toàn bộ binh lính địch trong hai đồn, thu toàn bộ vũ khí, quân trang, quân dụng. Sau đó đội dã đánh thắng nhiều trận khác ở Cao Bằng, Nà ngần,…tạo ra được một khu vực có cơ sở cách mạng rộng lớn từ vùng rừng núi Hòa An giáp tỉnh Cao Bằng cho đến các châu Nguyên Bình, Ngân Sơn và vùng phụ cận các triền núi, góp phần tích cực vào việc củng cố và mở rộng khu căn cứ Cao Bằng, Bắc Cạn, Lạng sơn và đã cổ vũ nhân dân ta càng thêm tin tưởng con đường khởi nghĩa vũ trang của Đảng là tất thắng. Với ý nghĩa và chiến công trên, ngày 22/12/1944 được chọn làm ngày thành lập quân đội nhân dân Việt Nam.

Năm 1990, theo Nghị quyết 02 của Bộ chính trị( khóa VI): Ngày 22/12 hàng năm trở thành ngày hội Quốc phòng toàn dân.

Ở Thanh hóa, từ tháng 7/1930 dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh TH, TN tỉnh ta đã đi đầu trong đấu tranh chống bọn thực dân, phong kiến: chống bắt phu, bắt lính, sưu cao, thuế nặng,…xung kích trong các phong trào đánh giặc bảo vệ cán bộ CM,…

Những chiến khu CM Đa ngọc(Yên định), Cẩm bào(Vĩnh lộc), Ngọc Trạo(Thạch Thành), Quang Trung,…là những nơi tựu trung những TN ưu tú sẵn sàng chiến đấu bảo vệ quê hương, đất nước.

Thanh niên TH, dưới sự lãnh đạo của Đảng, cỗ vũ động viên của Đoàn đã xung kích trong khởi nghĩa giành chính quyền(từ 17-23/8/1945); đi đầu là TN ở: Hoằng hoá, TPTH, Thiệu hoá, Yên định, Hậu lộc, Hà trung, Thạch thành, Thọ xuân, Vĩnh lộc, Đông sơn,…

Để làm nên CM tháng 8 thành công ở tỉnh nhà , biết bao người con ưu tú của TH đã dũng cảm vượt qua mọi hy sinh gian khổ, chiến đấu quên mình vì quê hương, tổ quốc; tiêu biểu như; Phạm Văn Hinh, Nguyễn Đức Tẻo, Hoàng Văn Môn, Hoàng Văn Tước(ở chiến khu Ngọc Trạo), Ngô Ngọc Vũ(Thiệu hoá),…và nhiều chiến sĩ trên các mặt trận chiến đấu với giặc trên chiến tuyến thầm lặng như nữ anh hùng liệt sĩ Nguyễn Thị Lợi,…

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Nguyễn Thị Lợi Phạm Văn Hinh

 

CM tháng tám thành công, TN còn là lực lượng quan trọng bảo vệ chính quyền và giữ gìn an ninh chính trị và trật tự XH, như: lực lượng TNXP của thị xã TH gồm 200 người; mỗi làng đều có 1 trung đội tự vệ. Chi đội chủ lực đầu tiên của tỉnh TH được thành lập gồm 1500 chiến sĩ mang tên chi đội Đinh Công Tráng- là lực lượng quan trọng bảo vệ chính quyền CM và giữ gìn an ninh chính trị và trật tự XH.

Hưởng ứng bức thư gửi đồng bào Nam bộ ngày 29/9/1945 của chủ tịch Hồ Chí Minh, nhiều nam, nữ TN đã ghi tên xung phong tình nguyện vào đội quân Nam tiến. Chính quyền CM thị xã TH đã lựa chọn được 40 TN nam, nữ có đủ sức khoẻ và tinh thần hăng hái gia nhập giải phóng quân trong phong trào Nam tiến thuộc ba đại đội của quân khu ba lên đường vào Nam chiến đấu(từ 23/9/1945-8/1/1946). 40 người con em TH đã chiến đấu rất dũng cảm, ngoan cường tại các tỉnh Nam bộ.

Trong kháng chiến chống Pháp, toàn tỉnh đã có 56.792 TN tham gia bộ đội, 18.920 TN tham gia lực lượng TNXP, 291.508 TN tham gia lực lượng dân công tiếp vận phục vụ các chiến dịch lớn,…là một trong những tỉnh đóng góp sức người, sức của nhiều nhất để cùng cả nước làm nên chiến thắng Điện biên lừng lẫy địa cầu”.

Tuổi trẻ TH đã góp phần cùng nhân dân trong tỉnh nhận hai lá cờ “Phục vụ tiền tuyến khá nhất” do TW Đảng và Chính phủ tặng hàng trăm huân, huy chương các loại; có 5 TN là anh hùng lực lượng vũ trang, đó là: Tô Vĩnh Diện( xã Nông Trường- Triệu sơn);Trương Công Man(người dân tộc Thái- Cẩm Phong, Cẩm Thuỷ); Lò Văn Bường( xã Thanh Cao- Thường Xuân);Lê Công Khai(Hoằng Phú-Hoằng Hoá); Trần Đức(Hải Lĩnh, Tỉnh Gia).

AH.Trương Công Man AH. Lò Văn Bường AH.Lê Công Khai AH. Trần Đức

 

Tuổi trẻ tỉnh Thanh đã phát huy truyền thống đấu tranh cách mạng vẻ vang của quê h­ương, noi g­ương các anh hùng LLVT thời chống Pháp: Tô Vĩnh Diện (Triệu Sơn), Tr­ương Công Man (Cẩm Thuỷ), Lò Văn B­ường (Thư­ờng Xuân), Lê Công Khai (Hoằng Hoá), Trần Đức (Tĩnh Gia),…Đặc biệt là anh hùng thời đại chống Mỹ Lê Mã L­ương với câu nói nổi tiếng đã trở thành lẽ sống của lớp TN ngày ấy “Cuộc đời đẹp nhất là cuộc đời trên trận tuyến đánh quân thù”. Từ năm 1969 đến 1972, ở nhiều cơ quan, tr­ường học, địa phư­ơng,….TN đã đến trụ sở Uỷ ban, đến ban chỉ huy quân sự huyện tình nguyện xin đi bộ đội bằng đ­ược để vào Nam trực tiếp cầm súng chiến đấu với đế quốc Mỹ (có ng­ười đã viết đơn gia nhập quân đội bằng cả máu của mình). Với ý chí “ Xẻ dọc Tr­ường sơn đi cứu nư­ớc”, trong 4 năm đó đã có hơn 52.000 TN Thanh Hóa lên đ­ường chiến đấu bảo vệ tổ quốc. Đầu năm 1975 Thanh hoá đã tiếp tục huy động hơn 20 ngàn ĐVTN nhập ngũ và tổ chức huấn luyện cấp tốc bổ sung cho chiến trường miền Nam 21 tiểu đoàn. Qua chiến đấu họ đã trở thành những anh hùng, dũng sĩ,….lập nên nhiều chiến công xuất sắc góp phần quan trọng làm nên Đại thắng mùa xuân 4/1975.

Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu n­ước (21 năm), cùng với tuổi trẻ cả nư­ớc 195.853 TN TH đã lên đ­ường nhập ngũ, 40.000 TN tham gia lực lư­ợng TNXP và 100.000 TNXP cơ sở phục vụ giao thông vận tải và chiến đấu tại chỗ. Những dũng sĩ đất Lam Sơn lại phát huy truyền thống cha anh xông pha trên khắp các chiến trư­ờng đánh Mỹ, là những ng­ười “Biết đi tới và làm nên thắng trận” đã lập nên những chiến công xuất sắc, nổi bật những tấm gư­ơng chói ngời về chủ nghĩa anh hùng cách mạng.

Tuổi trẻ Thanh Hóa đã cùng nhân dân toàn tỉnh vinh dự hai lần đ­ược BCH Trung ­ương Đảng tặng cờ luân lư­u “Quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lư­ợc”, có 84 ng­ười đ­ược tặng danh hiệu Anh hùng lực l­ượng vũ trang, trong đó hơn 70% là TN (59 đ/c); tiêu biểu là các anh hùng, dũng sĩ: Lê Mã Lư­ơng (Nông Cống), Lê Xuân Sinh (Triệu Sơn), Vũ Trung Th­ướng (TX Bỉm Sơn), Mai Ngọc Thoảng (Thạch Thành), Lư­ơng Văn Xuân (Bá Thư­ớc), Lê Trần Mẫn (Hoằng Hoá), Trần Đức Thái, Nguyễn Tố Hải (Thiệu Yên); anh hùng liệt sĩ Cao Xuân Thắng, Vũ Phi Trừ (Quảng xương),…Trong đó có nhiều đồng chí trực tiếp tham gia “Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử”.

Trong chiến đấu chống bọn phản động bành trướng Trung quốc xâm lược, tấm gương chiến đấu của anh hùng liệt sĩ Lê Đình Chinh- đã đi vào lịch sử như trang chói lọi mở đầu cho khí phách anh hùng của thế hệ TN mới: thế hệ thứ tư, xây dựng và bảo vệ tổ quốc VN XHCN.

Khi Trường Sa- hải đảo yêu dấu của tổ quốc bị lấn chiếm, noi gương anh hùng Lê Mã Lương, anh hùng Vũ Phi Trừ (Quảng xương),... tuổi trẻ TH đã xung kích tham gia chiến đấu giữ trọn hải phận thiêng liêng của tổ quốc. Phong trào “Vì Trường Sa” đã dấy lên trong toàn tỉnh khiến cho kẻ thù phải chùn bước trước ý chí “Không có gì quý hơn độc lập, tự do” của một dân tộc anh hùng.

Trong 68 năm chiến đấu, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc (1944 - 2013), toàn tỉnh Thanh Hoá có hơn 50 vạn thanh niên tham gia bộ đội, gần 6 vạn thanh niên gia nhập TNXP. Trong số 84 anh hùng lực lượng vũ trang Thanh Hoá có 59 đồng chí là ĐVTN, trong đó có những ĐVTN là điển hình tiêu biểu cho các thời kỳ cách mạng- các anh hùng thời đại, như: Tô Vĩnh Diện, Lê Mã Lương, Lê Đình Chinh,…...........

Anh hùng Tô Vĩnh Diện AH Lê Mã Lương AHLS Lê Đình Chinh

 

Giờ đây, với lực lượng chủ lực trẻ, những năm qua Đoàn BCH QS tỉnh TH đã đi đầu trong hơn một triệu TN Thanh Hoá tiếp tục phát huy truyền thống cách mạng nỗ lực vượt lên nhiều khó khăn thử thách xung kích bảo vệ tổ quốc, tình nguyện vì cuộc sống cộng đồng, lập nên nhiều thành tích xuất sắc chào mừng kỷ niệm 68 năm ngày thành lập quân đội nhân dân Việt Nam, 23 năm ngày quốc phòng toàn dân 22/12./.

(Trần Việt Thao- sưu tầm, biên soạn).