DMCA.com Protection Status

LÝ LUẬN VĂN HÓA VÀ ĐƯỜNG LỐI VĂN HÓA CỦA ĐẢNG  quan tâm

Được viết bởi: Trần Việt Thao

Cập nhật lúc 15:45 ngày 12/01/2018

LÝ LUẬN VĂN HÓA VÀ ĐƯỜNG LỐI VĂN HÓA CỦA ĐẢNG

( Nguồn: http://www.amo.gov.vn/content/a114/listfileen.asp ).

 

Câu 1: Vai trò của văn hóa đối với sự phát triển kinh tế xã hội

Trả lời:

Quan niệm về văn hóa

Ông Ph.Mayo, nguyên tổng giám đốc UNESCO:

"Văn hóa là tổng thể sống động các hoạt động sáng tạo (của các cá nhân và các cộng đồng) trong quá khứ và trong hiện tại. Qua các thế kỷ, hoạt động sáng tạo ấy đã hình thành nên hệ thống các giá trị, các truyền thống và thị hiếu - những yếu tố xác định đặc tính riêng của mỗi dân tộc.

Hồ Chí Minh:

"Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hàng ngày về mặc, ăn, ở và các phương thức sử dụng. Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa. Văn hóa là tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn".

Văn hóa là toàn bộ những giá trị vật chất và tinh thần mà loài người sáng tạo ra nhằm đáp ứng lẽ sinh tồn, đồng thời cũng là mục đích sống của loài người. Văn hóa là đời sống tinh thần của xã hội, thuộc về kiến trúc thượng tầng của xã hội.

Văn hóa được đặt ngang hàng với chính trị, kinh tế, xã hội; trở thành những vấn đề chủ yếu của đời sống xã hội và có quan hệ mật thiết với nhau, thúc đẩy nhau cùng phát triển.

Văn hóa là hiện thân cho lĩnh vực kinh tế, chính trị; văn hóa là tấm gương phản ánh trung thực về chính trị và góp phần thúc đẩy kinh tế phát triển. văn hóa vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự nghiệp xây dựng đất nước.

Xét về bản chất, văn hóa là toàn bộ những sáng tạo, phát minh của con người, do con người sáng tạo ra. Văn hóa chính là nhu cầu hướng tới cái đẹp, cái đúng, luôn khát khao sự hiểu biết về thế giới xung quanh, về bản thân mình, về quá khứ và hiện tượng. Văn hóa là một tổng thể các hoạt động tinh thần hướng tới cái chân, thiện, mỹ. Tổng thể các hoạt động văn hóa tạo ra một thiên nhiên thứ hai, một môi trường thứ hai nuôi dưỡng con người.

Xét về chức năng, văn hóa là hoạt động tinh thần của con người, nó có những chức năng xã hội đặc biệt. Các chức năng xã hội đó giúp chúng ta hiểu rõ thêm bản chất của văn hóa và vị trí, vai trò của văn hóa trong đời sống xã hội. Đó là các chức năng nhận thức, chức năng giáo dục, chức năng thẩm mỹ, chức năng dự báo, chức năng giải trí, chức năng giao tiếp.

Từ nhận thức tiến bộ, con người đã phát minh ra toàn bộ những giá trị văn hóa vật chất và tinh thần. Các giá trị văn hóa, các sáng tạo văn hóa là cơ sở, nền tảng để con người làm chủ và cải tạo thế giới. Qua lĩnh vực văn hóa, con người lựa chọn, tiếp thu được những tinh hoa, nhân bản, những thành tựu khoa học công nghệ, những hợp lý và tiến bộ.

Văn hóa mà con người tạo ra trong quá khứ và hiện tại đều mang tính giáo dục sâu sắc hướng con người tới sự hoàn thiện, biết tôn trọng lẽ phải, biết quý trọng những truyền thống quý báu của dân tộc, để từ đó có ý thức cao trong học tập, rèn luyện.

Văn hóa giúp con người thoả mãn những nhu cầu về cái đẹp, hướng tới cái đẹp, nhận biết được những cái xấu xa.

Văn hóa giúp con người dự báo về sự vận động của tự nhiên, phát triển của xã hội, những trạng thái tâm hồn, tình cảm. Đồng thời, văn hóa sáng tạo và phát minh những giá trị mà con người tạo ra trong quá trình nhận thức thế giới, nó giúp con người tồn tại và phát triển bằng việc dự báo. Văn hóa làm cho tâm hồn chúng ta được thanh cao hơn, tạo ra sự hứng khởi, để có nhiều sáng tạo trong lao động sản xuất.

Quan niệm giản đơn hẹp hòi và thô thiển về văn hóa đã từng tồn tại:

+ Đồng nhất văn hóa với ngành văn hóa thông tin.

+ Đồng nhất với văn học nghệ thuật và giải trí.

+ Đồng nhất với tư tưởng (hệ tư tưởng là cốt lõi của văn hóa, không được coi nhẹ hệ tư tưởng trong đời sống tinh thần của xã hội. Nếu coi nhẹ hệ tư tưởng XHCN là nhường mảnh đất trống cho hệ tư tưởng phi đảng nảy nở (tư tưởng TS, PK, tôn giáo).

-> "Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu là động lực thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội" (Nghị quyết Hội nghị lần thứ 5 BCHTW Đảng khóa VIII (16/7/1998):

Văn hóa không chỉ là những giá trị thượng tầng kiến trúc xã hội, văn hóa không phải là cái đuôi của kinh tế. Trái lại, các giá trị văn hóa tạo nên một nền tảng vững chắc của xã hội, đó là nền tảng tinh thần -> điểm mới trong tư duy của Đảng ta.

Nền tảng này đã tạo nên giá trị làm người, tạo nên sức mạnh ghê gớm của dân tộc, giúp dân tộc vượt qua được bao thách thức tàn bạo của thiên nhiên và của giặc ngoại xâm.

Sự khẳng định đó được hình thành trên cơ sở coi văn hóa là tổng thể các giá trị mà dân tộc ta đã tạo nên trong suốt mấy ngàn năm. Trong quá trình xây dựng và phát triển đất nước, nhân dân ta đã sáng tạo nên những giá trị văn hóa tiêu biểu đó là: chủ nghĩa yêu nước, tinh thần đoàn kết dân tộc, tinh thần tương thân tương ái, giàu lòng khoan dung, độ lượng, tinh thần lạc quan yêu đời, cần cù trong lao động, dũng cảm, sáng tạo trong chiến đấu... Những giá trị đó là cơ sở để tạo nên khối đại đoàn kết thống nhất của dân tộc. Trải qua hàng ngàn năm bị phong kiến Trung Hoa đô hộ, hàng trăm năm bị thực dân Pháp xâm lược dân tộc ta vâ những không bị đồng hóa, vẫn tồn tại và phát triển với tư cách là một quốc gia độc lập. Trong mấy chục năm chống chiến tranh cướp nước của đế quốc Mỹ, dù về sức mạnh kinh tế và kỹ thuật ta thua xa Mỹ, nhưng cuối cùng Việt Nam đã thắng lợi hoàn toàn. Nguyên nhân chính là truyền thống văn hóa lâu đời của dân tộc Việt Nam. (Sau 20 năm bom đạn (1954-1975): Mỹ huy động ra chiến trường Việt Nam 1.500.000 quân Mỹ và chư hầu, huy động 50% không quân chiến lược, 32% không quân chiến thuật, Mỹ ném xuống Việt Nam 47 triệu tấn bom, gấp 3 lần số bom Mỹ đã ném trong cả thế chiến thứ hai, gấp 10 lần số bom Mỹ đã ném trong chiến tranh Triều Tiên, mà cứ phải chịu thất bại, chịu rút quân, chịu công nhận nước Việt Nam độc lập thống nhất). do đó, việc chăm lo xây dựng và phát triển văn hóa, giáo dục truyền thống văn hóa dân tộc chính là chăm lo, vun đắp cho nền tảng tinh thần của xã hội mà tất cả cộng đồng phải có trách nhiệm.

Phát triển là một thuật n gữ khoa học chỉ sự phát triển tiến bộ của xã hội đồng bộ và tương ứng của mọi lĩnh vực tạo ra phúc lợi xã hội cho các thế hệ hiện tại và tương lai, vì vậy bản chất này được coi là bền vững hay toàn diện.

Phát triển không chỉ có tăng trưởng kinh tế, tăng trưởng kinh tế không phải là toàn bộ sự phát triển mà chỉ là nhân tố cơ bản của sự phát triển. Nếu chỉ coi tăng trưởng kinh tế là phát triển thì thực chất đó lại là phản phát triển vì:

+ Tăng trưởng kinh tế nhưng bất bình đẳng, bất công xã hội, phân hóa xã hội gia tăng.

+ Tăng trưởng kinh tế nhưng môi trường ô nhiễm, tài nguyên thiên nhiên cạn kiệt (Trung Quốc).

+ Suy thoái về văn hóa, đạo đức: người với người, người với xã hội, người với tự nhiên (VD: Nha Trang).

+ Mất ổn định chính trị xã hội (VD: ác hen ti na tăng trưởng cao liên tục sau 10 năm sụp đổ).

=> Tăng trưởng kinh tế là điều kiện, cơ sở cần thiết của sự phát triển, "Phân tích đến cùng sự phát triển của văn hóa, sự thăng hoa của văn hóa là đỉnh cao nhất của phát triển" (UNESCO - 1997). Phát triển phải bao gồm các nhân tố kinh tế và xã hội cũng như các giá trị đạo đức và văn hóa quy định sự nảy nở và phẩm giá con người trong xã hội. "Con người vừa là tác nhân tạo ra sự phát triển vừa là người được hưởng những thành quả của sự phát triển, vì vậy con người phải được coi là mục đích của sự phát triển" (UNESCO - 1997).

"Tăng trưởng kinh tế gắn liền với đảm bảo tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong trong từng bước phát triển, tăng trưởng kinh tế đi đôi với phát triển văn hóa và giáo dục, xây dựng nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc làm cho chủ nghĩa Mác - Lênin tư tưởng Hồ Chí Minh giữ vai trò chủ đạo trong đời sống tinh thần của nhân dân" (ĐH IX).

"Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội.

Chăm lo văn hóa là chăm lo củng cố nền tảng tinh thần của xã hội. Thiếu nền tảng tinh thần tiến bộ và lành mạnh, không quan tâm giải quyết tốt mối quan hệ giữa phát triển kinh tế với tiến bộ và công bẵngh thì không thể có sự phát triển kinh tế - xã hội bền vững.

Xây dựng và phát triển kinh tế phải nhằm mục tiêu văn hóa, vì xã hội công bằng, văn minh, con người phát triển toàn diện Văn hóa là kết quả chặt chẽ với đời sống và hoạt động xã hội trên mọi phương diện chính trị, kinh tế, xã hội, luật pháp, kỷ cương,… biến thành nguồn lực nội sinh quan trọng nhất của phát triển". (Nghị quyết Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương đảng (khóa VIII).

Văn hóa là yếu tố nội sinh cấu thành sự phát triển bền vững và toàn diện. Văn hóa vừa là mục tiêu vừa động lực thúc đẩy sự phát triển bền vững và toàn diện của đất nước ta. Cụ thể văn hóa là mục tiêu, mục đích của phát triển kinh tế tăng trưởng kinh tế, là mục đích của chính trị, luật pháp, kỷ cương xã hội. Văn hóa là động lực thúc đẩy sự phát triển, là hệ điều tiết, hệ điều chỉnh sự phát triển, soi đường cho sự phát triển.

Văn hóa là động lực thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội:

Sự tồn tại và phát triển bền vững của xã hội phải dựa cả vào nền tảng vật chất và tinh thần (văn hóa) vững chắc. "Nếu những vấn đề về tinh thần và văn hóa được đặt lên hàng đầu thì sẽ tạo ra một động lực cho kinh tế, và những tài năng sáng tạo của con người sẽ có cơ hội để phát triển đầy đủ" (Daisaku Ikêda).

(Tham khảo:

Ngày nay, tuy còn có các ý kiến khác nhau trong việc định nghĩa văn hóa là gì, nhưng mọi người đều thống nhất trong sự thừa nhận về mối quan hệ qua lại của văn hóa với kinh tế, vai trò động lực của văn hóa đối với kinh tế. Những ý kiến coi văn hóa đứng ngoài kinh tế hay lệ thuộc một cách thụ động đối với kinh tế không còn được chấp nhận.

Những thành tựu và vấp váp trong quá trình cách mạng nước ta cũng như những thành công hay thất bại ở nhiều nước khác đều chứng minh tầm quan trọng của nhân tố văn hóa, trước hết là ở việc có bảo vệ, phát triển được hay không những tiềm năng phong phú và đặc sản của văn hóa dân tộc đối với sự phát triển của đất nước. Sự đúng đắn hay sai lạc trong định hướng phát triển văn hóa đều đưa đến thành tựu hay thất bại không riêng cho văn hóa, mà cho cả kinh tế và mọi mặt khác của đời sống xã hội. Những hậu quả do sai lầm của chính sách văn hóa thường là kéo dài và khó sửa hơn những hậu quả về kinh tế. Do đó không phải không có cơ sở khi người ta lo ngại một sự "phá sản", "xuống cấp" về văn hóa hơn cả sự phá sản, xuống cấp trong kinh tế, bởi văn hóa mà mất, là mất tất cả.

Với điều kiện cách mạng khoa học và công nghệ phát triển như hiện nay, trong vòng vài ba chục năm, một dân tộc có thể vượt lên rất nhanh, chiếm lĩnh được những đỉnh cao về kinh tế, kỹ thuật công nghệ. Nhưng để trở thành một quốc gia phát triển về văn hóa, thì vài ba chục năm hoàn toàn chưa thấm vào đâu. Một quốc gia giàu có, trong năm mười năm có thể đổi mới, nâng cấp toàn bộ hạ tần cơ sở vật chất kỹ thuật; nhưng để có được một cơ sở hạ tầng văn hóa tiến bộ và phát triển, thì còn khó gấp trăm lần và không thể chỉ bằng tiền mà giải quyết được.

Lịch sử nhân loại đã cho thấy sự ra đời và phát triển những nền văn minh, trong đó nhân tố văn hóa luôn luôn thể hiện vai trò nổi trội. Quá trình hình thành các nền văn minh thường trải qua hàng nghìn, nếu ít cũng hàng trăm năm. Chính vì thế, không ít nền văn minh mặc dù đã suy tàn, mất đi đỉnh cao về kinh tế, thương mại, nhưng những giá trị văn hóa, tinh thần đặc sắc mà nó đã đạt tới, vẫn là đỉnh cao và giữ nguyên giá trị Thậm chí, thời gian càng lùi xa, vẻ đẹp riêng của nó càng long lanh, vô giá. Nền văn minh Lưỡng Hà đã đi vào dĩ vãng, nhưng những đỉnh cao Kim Tự Tháp, những câu chuyện của "Nghìn lẻ một đêm" vẫn khiến loài người thán phục và mãi mãi nó vẫn làm đắm say lòng người.

Ngày nay, những nhà dự báo tương lai nhân loại đều đưa ra nhận định về sự phát triển và phục hưng của các nền văn hóa. Trong vài chục năm trở lại đây, thế giới đã chứng kiến sự trỗi dậy mạnh mẽ cả về kinh tế lẫn văn hóa của nhiều quốc gia châu Á, những nước chịu ảnh hưởng sâu đậm của văn hóa Nho giáo, của nền "văn minh cầm đũa". Châu Á không chỉ cho thấy một tấm gương phát triển kinh tế "thần kỳ? của Nhật Bản, mà tiếp sau Nhật Bản còn một loại nước khác, như Hàn Quốc, Singapo, Malaixia, gần đây là Trung Quốc. Nhiều người phương Tây vốn từng một thời kiêu ngạo về sự phát triển của mình, gần đây đã dần dần thay đổi cái nhìn, chuyển từ thái độ ngạc nhiên đến thán phục đối với những thành tựu của nhiều quốc gia châu Á.)

Vai trò động lực của văn hóa

Việc xác định văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội sẽ tạo ra cơ sở khoa học để chỉ ra mối liên hệ giữa văn hóa với kinh tế. Kinh tế là hoạt động nhằm tạo ra của cải vật chất cho xã hội. Văn hóa không chỉ là kết quả của kinh tế mà còn là động lực của sự phát triển kinh tế (VD: Nhật Bản sau 15 năm trở thành cường quốc kinh tế vì đã biết phát huy động lực của văn hóa).

Tham gia vào quá trình hoạt động kinh tế thường xuyên có các nhân tố: tài nguyên, vốn, kỹ thuật và con người (người quản lý và người lao động) trong bốn nhân tố này thì hai nhân tố sau thuộc về văn hóa.

Con người là nguồn lực, động lực cơ bản của sự phát triển. Nói đến con người là nói đến văn hóa, vì toàn bộ các giá trị văn hóa làm nên những phẩm chất, những năng lực tinh thần của con người. Những phẩm chất và năng lực đó được vật chất hóa trong quá trình sản xuất. Thực tế ch thấy chừng nào nhân tố con người bị bỏ qua thì sự trì trệ trong sản xuất là điều không thể tránh khỏi. Trong đổi mới tư duy về kinh tế hiện nay, việc phát huy nhân tố con người cần phải đặc biệt coi trọng.

Nói đến phát triển kinh tế, ai cũng thừa nhận vai trò của kỹ thuật. Kỹ thuật là kết tinh trí tuệ, kinh nghiệm và sức sáng tạo của con người. Đó cũng là sản phẩm của văn hóa. Khó khăn đang đặt ra đối với nước ta hiện nay là ở chỗ nhiều thiết bị hiện đại chưa được sử dụng hết công suất, vì tay nghề và sức khỏe của công nhân chưa được nâng cao.

Cùng với sự phát triển của trí tuệ và tay nghề, trình độ phát triển của lương tâm, tinh thần trách nhiệm và giác ngộ xã hội của người lao động quyết định chất lượng và hiệu quả lao động của họ.

Thực tế nước ta: Chi nhánh từ bỏ cơ chế tập trung quan liêu bao cấp để chuyển sang nền kinh tế thị trường nhiều thành phần, có sự quản lý của nhà nước theo định hướng XHCN. Đó là bước phát triển văn hóa chính trị của Đảng. Kết quả là nền kinh tế Việt Nam đạt được những thành tựu đáng kể trên mọi mặt. Rõ ràng văn hóa đã trở thành một động lực của sự phát triển.

Để văn hóa thực sự trở thành động lực phát triển đất nước

Mục tiêu của sự phát triển kinh tế xã hội mà chúng ta hướng tới là đưa đất nước thoát khỏi nghèo nàn lạc hậu, đến năm 2020 cơ bản trở thành một nước công nghiệp hiện đại. Vì vậy trong phát triển kinh tế phải đặt con người vào vị trí trung tâm, mọi hoạt động văn hóa đều phải hướng tới xây dựng và phát triển con người đảm bảo cả về thể lực, trí lực và tình cảm, có ý chí, kỹ năng và nghị lực.

+ Phát triển giáo dục khoa học kỹ thuật, văn hóa, phát triển nguồn lực con người.

+ Làm văn hóa thấm sâu vào toàn bộ đời sống, vào hoạt động xã hội biến thành nguồn lực nội sinh quan trọng nhất của phát triển. Thực hiện các chức năng xã hội của văn hóa.

Một là, bồi dưỡng tư tưởng đạo đức đúng đắn và tình cảm cao đẹp cho con người. Bồi dưỡng lý tưởng cho cán bộ, đảng viên và các ctầng lớp nhân dân. Đó là chức năng cao quý của văn hóa. Hồ Chí Minh nói phải làm cho văn hóa soi đường cho quốc dân đi, đi sâu vào tâm lý quốc dân, để xây dựng tình cảm lớn cho con người.

Hai là, nâng cao dân trí, "mọi người phải hiểu biết quyền lợi của mình… phải có kiến thức mới để có thể tham gia vào công cuộc xây dựng nước nhà, và trước hết phải biết đọc, biết viết chữ quốc ngữ", "chúng ta phải biến một nước dốt nát, cực khổ thành một nước văn hóa cao và đời sống vui tươi hạnh phúc".

Ba là, bồi dưỡng những phẩm chất tốt đẹp, những phong cách lành mạnh, luôn hướng con người vươn tới chân - thiện - mỹ để không ngừng hoàn thiện bản thân mình.

+ Coi đầu tư cho văn hóa là đầu tư cho phát triển

+ Thúc đẩy sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế xã hội, thắng nghèo nàn lạc hậu.

(Phát huy bản sắc văn hóa dân tộc ra sức tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại để làm giàu đẹp thêm nền văn hóa Việt Nam đồng thời, phải dtrchống lại sự xâm nhập của những khuynh hướng văn hóa độc hại, sùng ngoại, lai căng, mất gốc.

Trong điều kiện hiện nay, chúng ta đang thực hiện công cuộc đổi mới toàn diện và đồng bộ; thực hiện cơ chế thị trường và chính sách đối ngoại rộng mở, và làm bạn với tất cả các nước phấn đấu vì hòa bình, độc lập và phát triển. Đối với nhiệm vụ xây dựng nền văn hóa, đây vừa là cơ hội lớn, vừa là thách thức lớn.

Chuyển sang nền kinh tế thị trường, văn hóa vừa là nhân tố thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, góp phần thay đổi nếp nghĩ, cách làm, kích thích tính sáng tạo, năng động, nhưng trong môi trường đó văn hóa cũng có thể nhiễm phải các căn bệnh của kinh tế thị trường: sùng bái đồng tiền, lối sống tiêu thụ, thực dụng… Không ít hoạt động văn hóa bị lôi cuốn vào xu hướng thương mại hóa, đưa ra những sản phẩm kém chất lượng, chiều theo thị hiếu thấp kém của những người có tiền.

Sự kiện một diễn viên điện ảnh chết vì tự tử được không ít tờ báo "khai thác"triệt để, đưa lên mặt báo cả chuyện đời tư, trái với Luật báo chí và di chúc người đã chết; có người còn nhanh chóng "chớp lấy thời cơ", tự quay vi deo làm băng hình cung cấp cho những người hiếu kỳ. Tất cả việc làm trên đều vì đồng tiền xui khiến, không cần quan tâm đến yêu cầu giáo dục lối sống. Đồng tiền xuất hiện với tư cách là lực lượng có khả năng làm xuyên tạc mặt bản chất tốt đẹp của con người, của những quan hệ xã hội, làm cho chủ nghĩa cá nhân, lối sống ích kỷ và nhiều hủ tục mê tín, dị đoan… có điều kiện phát triển trở lại. Đó là những nguy cơ cần phải phòng ngừa).

Văn hóa là mục tiêu của sự phát triển:

- Mục tiêu của cách mạng và mục tiêu của văn hóa đồng nhất với nhau: nhằm giải phóng dân tộc, giải phóng cá nhân con người để hình thành nhân cách phát triển tự do, đó là sự nghiệp nhân văn cao cả. Xây dựng phát triển kinh tế, hoạt động chính trị phải nhằm mục tiêu văn hóa.

Văn hóa là bộ phận của kiến trúc thượng tầng, là đời sống tinh thần của xã hội. Chính trị, xã hội được giải phóng thì văn hóa mới được giải phóng. Chính trị giải phóng mở đường cho văn hóa phát triển. Hồ Chí Minh đã vạch ra đường lối: Phải tiến hành cách mạng chính trị trước, cụ thể là cách mạng giải phóng dân tộc để giành chính quyền, từ đó giải phóng văn hóa, mở đường cho văn hóa phát triển. "Xã hội thế nào thì văn hóa thế ấy. Văn nghệ của ta rất phong phú, nhưng dưới chế độ thực dân và phong kiến nhân dân ta bị nô lệ, thì văn nghệ cũng bị nô lệ, bị tồi tàn, không thể phát triển được".

(Mục tiêu của kinh tế là tăng trưởng vì con người dân giàu nước mạnh; mục tiêu của chính trị là: xã hội công bằng, dân chủ, văn minh; mục tiêu của pháp luật là quyền con người, quyền công dân…)

- Văn hóa là cơ sở tồn tại của đời sống con người, xã hội loài người nhằm thỏa mãn các nhu cầu phát triển của con người, của xã hội hướng tới các giá trị phổ biến là chân, thiện, mỹ.

- Văn hóa là một bộ phận không thể thiếu của đời sống xã hội có quan hệ chặt chẽ với bộ phận khác (kinh tế, chính trị)  Văn hóa là một kiến trúc thượng tầng nhưng không thể đứng ngoài, mà nó phải ở trong kinh tế và chính trị. Văn hóa phải phục vụ nhiệm vụ chính trị, thúc đẩy xây dựng và phát triển kinh tế. Tuy "kinh tế có kiến thiết rồi, văn hóa mới kiến thiết được", nhưng văn hóa phát triển không thụ động, văn hóa có tính tích cực chủ động, nó đóng vai trò to lớn thúc đẩy kinh tế và chính trị phát triển như một động lực. "Văn hóa ở trong chính trị" tức là văn hóa phải tham gia nhiệm vụ chính trị, tham gia cách mạng, kháng chiến và xây dựng CNXH. "Văn hóa ở trong kinh tế" tức là văn hóa phải phục vụ, thúc đẩy xây dựng và phát triển kinh tế. "Văn hóa ở trong kinh tế và chính trị" cũng có nghĩa là chính trị và kinh tế phải có tính văn hóa.

Văn hóa có quan hệ mật thiết với kinh tế, chính trị, xã hội tạo thành bốn vấn đề chủ yếu của đời sống xã hội và phải nhận thức như sau:

+ Văn hóa quan trọng ngang kinh tế, chính trị, xã hội.

+ Văn hóa tồn tại trong chính trị, một nền chính trị đích thực chính là vì con người, chính trị mở đường cho văn hóa phát triển. Chính trị, xã hội có được giải phóng thì văn hóa mới được giải phóng, con người được tự do sáng tác. Chính trị giải phóng mở đường cho văn hóa phát triển.

+ Văn hóa tồn tại trong kinh tế là kết quả của sự phát triển kinh tế, thúc đẩy kinh tế phát triển. Xây dựng kinh tế để tạo điều kiện cho việc xây dựng và phát triển văn hóa. Kinh tế chân chính nhằm cải thiện nâng cao đời sống của con người, thỏa mãn nhu cầu vật chất.

+ Văn hóa là kiến trúc thượng tầng, nó phải phục vụ nhiệm vụ chính trị, thúc đẩy xây dựng và phát triển kinh tế.

Sự điều tiết:

+ Tạo khả năng lựa chọn con đường phát triển đúng đắn cho dân tộc.

Vai trò của tư tưởng lý luận tiên tiến đối với sự phát triển của xã hội, văn hóa soi đường cho quốc dân đi "không có lý luận cách mạng thì không có phong trào cách mạng".

+ Sự tác động tích cực trở lại của kiến trúc thượng tầng với hạ tầng cơ sở.

+ Vai trò chủ thể của nhân tố con người trong việc sáng tạo các giá trị lịch sử là chủ thể của mọi sự biến đổi xã hội và của mọi cuộc cách mạng xã hội.

+ Khoa học kỹ thuật, giáo dục là những yếu tố gắn với lực lượng sản xuất và làm nâng cao chất lượng của lực lượng sản xuất xã hội.

+ Thúc đẩy sự hiểu biết lẫn nhau, tình hữu nghị, sự đoàn kết giữa người với người trong một quốc gia và giữa các dân tộc trên thế giới. Tạo ra một cơ hội giao lưu, tiếp nhận, học hỏi vô cùng thuận lợi. (Từ trong nền văn hóa nhân loại, chúng ta có thể tiếp nhận, học hỏi vô vàn cái hay, cái tốt, cái tương đồng; nhưng cũng phải tỉnh táo phòng ngừa những cái xấu, cái dở, cái không phù hợp. Sự học tập, lựa chọn tiếp nhận phải rất chủ động, tinh tường, nhất định không để mắc phải thói "ham thanh chuộng lạ", sùng bái một cách mù quáng mọi cái mới lạ bên ngoài. Đồng thời, chúng ta cũng phải kiên quyết khước từ, chống lại sự du nhập những thứ văn hóa phản động, kích động bạo lực, tình dục, hạ thấp các giá trị đạo đức, nhân văn. Trong quá trình giao lưu văn hóa, chúng ta mạnh dạn hòa nhập, tiếp thu, nhưng không đánh mất, không "hòa tan" bản sắc của mình. Trái lại, chúng ta vừa đóng góp cho nhân loại những gì đặc sắc nhất của Việt Nam, vừa tiếp nhận bổ sung để bản sắc văn hóa Việt Nam ngày càng giàu đẹp. Làm được như vậy, văn hóa luôn luôn là động lực bên trong của sự phát triển, là nhân tố quan trọng thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đưa đất nước ta tiến nhanh tới mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh.).

 Văn hóa có vai trò to lớn vừa là mục tiêu, vừa là động lực, vừa là sự điều tiết đối với phát triển bền vững, toàn diện phải đảm bảo gắn kết nhiệm vụ "phát triển kinh tế là trung tâm, xây dựng chỉnh đốn đảng là then chốt với không ngừng nâng cao văn hóa nền tảng tinh thần của xã hội" chính là điều kiện quyết định sự phát triển bền vững và toàn diện của đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa.

Đại hội lần thứ X của Đảng khẳng định: Tiếp tục đẩy mạnh việc xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, đáp ứng yêu cầu phát triển của xã hội và con người trong điều kiện đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập kinh tế quốc tế. Làm thế nào để phát huy vai trò nền tảng tinh thần của văn hóa, làm cho văn hóa trở thành động lực và mục tiêu của sự phát triển kinh tế xã hội, nâng cao năng lực xây dựng văn hóa và nghiên cứu làm rõ hơn những vấn đề về phát triển văn hóa trong thời gian tới là nhiệm vụ hết sức quan trọng của tất cả chúng ta.

Câu 2: Mối quan hệ giữa phát triển kinh tế là trung tâm, xây dựng chỉnh đốn Đảng là then chốt với phát triển văn hóa - nền tảng tinh thần của xã hội

Trả lời

Hồ Chí Minh: "Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hàng ngày về mặc, ăn, ở và các phương thức sử dụng. Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa. Văn hóa là tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn".

"Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu vừa là động lực thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội" (Nghị quyết hội nghị lần thứ thứ 5 BCHTW Đảng khóa VIII (16/7/1998) và sự nghiệp đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; "Bảo đảm sự gắn kết giữa nhiệm vụ phát triển kinh tế là trung tâm, xây dựng, chỉnh đốn Đảng là then chốt với không ngừng nâng cao văn hóa - nền tảng tinh thần của xã hội; tạo nên sự phát triển đồng bộ của ba lĩnh vực trên chính là điều kiện quyết định bảo đảm cho sự phát triển toàn diện và bền vững của đất nước" (Kết luận của Hội nghị Trung ương 10, khóa IX); coi phát triển giáo dục - đào tạo, khoa học - công nghệ là "quốc sách hàng đầu"; " đầu tư cho văn hóa, giáo dục - đào tạo và khoa học - công nghệ là đầu tư cho phát triển"; "xây dựng và phát triển kinh tế phải nhằm mục tiêu văn hóa, vì xã hội công bằng, văn minh, con người phát triển toàn diện"; "gắn chặt nhiệm vụ xây dựng văn hóa với nhiệm vụ xây dựng, chỉnh đốn đảng thông qua cuộc vận động lớn về xây dựng đạo đức lối sống theo tư tưởng Hồ Chí Minh"…

1- Cơ sở lý luận và thực tiễn quan điểm Bảo đảm sự gắn kết giữa nhiệm vụ phát triển kinh tế là trung tâm, xây dựng, chỉnh đốn Đảng là then chốt với không ngừng nâng cao văn hóa - nền tảng tinh thần của xã hội

Cơ sở lý luận

Ông Ph. Mayo, nguyên Tổng Giám đốc UNESCO: "Văn hóa là tổng thể sống động các hoạt động sáng tạo (của các cá nhân và các cộng đồng) trong quá khứ và trong hiện tại. Qua các thế kỷ, hoạt động sáng tạo ấy đã hình thành nên hệ thống các giá trị, các truyền thống và thị hiếu - những yếu tố xác định đặc tính riêng của mỗi dân tộc".

"Hễ nước nào tự đặt cho mình mục tiêu phát triển kinh tế mà tách rời môi trường văn hóa thì nhất định sẽ xảy ra những mất cân đối nghiêm trọng cả về mặt kinh tế lẫn văn hóa và tiềm năng sáng tạo của nước ấy sẽ bị suy yếu rất nhiều"

Cơ sở thực tiễn

- Thực tế thành công của một số nước trong khu vực do sử dụng văn hóa như một động lực cho sự phát triển kinh tế:

Nhật Bản: Sau chiến tranh thế giới lần thứ hai do bị bại trận lâm vào tình trạng cực kỳ khó khăn, Chính phủ Nhật vẫn kiên trì đầu tư chăm lo cho giáo dục. Kết quả là 1/4 mức tăng trưởng kinh tế Nhật sau chiến tranh là nhờ Giáo dục.

Hàn Quốc biết dùng văn hóa làm động lực cho sự phát triển kinh tế: 1983 dành cho giáo dục 20,9% tổng ngân sách, năm 1990 lên tới 22,3% tổng ngân sách quốc gia. Nhờ đó đến năm 1990 thu nhập bình quân theo đầu người của Hàn Quốc đã lên tới 5.340 đô la (đứng thứ 10 trên thế giới).

Thực tế trong lịch sử đất nước văn hóa là tổng thể các giá trị mà dân tộc ta đã tạo nên trong suốt mấy ngàn năm. Nền tảng này đã tạo nên giá trị làm người, tạo nên sức mạnh ghê gớm của dân tộc, giúp dân tộc vượt qua được bao thách thức tàn bạo của thiên nhiên và của giặc ngoại xâm.

Trong quá trình xây dựng và phát triển đất nước, nhân dân ta đã sáng tạo nên những giá trị văn hóa tiêu biểu đó là: chủ nghĩa yêu nước, tinh thần đoàn kết dân tộc, tinh thần tương thân tương ái, giàu lòng khoan dung, độ lượng, tinh thần lạc quan yêu đời, cần cù trong lao động, dũng cảm, sáng tạo trong chiến đấu… Những giá trị đó là cơ sở để tạo nên khối đại đoàn kết thống nhất của dân tộc. Trải qua hàng ngàn năm bị phong kiến Trung Hoa đô hộ, hàng trăm năm bị thực dân Pháp xâm lược dân tộc ta vẫn không bị đồng hóa, vẫn tồn tại và phát triển với tư cách là một quốc gia độc lập. Trong mấy chục năm chống chiến tranh cướp nước của đế quốc Mỹ, dù về sức mạnh kinh tế và kỹ thuật ta thua xa Mỹ, nhưng cuối cùng Việt Nam đã thắng lợi hoàn toàn. Nguyên nhân chính là truyền thống văn hóa lâu đời của dân tộc Việt Nam. (Sau 20 năm bom đạn (1954 - 1975): Mỹ huy động ra chiến trường Việt Nam 1.500.000 quân Mỹ và chư hầu, huy động 50% không quân chiến lược, 32% không quân chiến thuật, Mỹ ném xuống Việt Nam 47 triệu tấn bom, gấp 3 lần số bom Mỹ đã ném trong cả thế chiến thứ hai, gấp 10 lần số bom Mỹ đã ném trong chiến tranh Triều Tiên, mà cứ phải chịu thất bại, chịu rút quân, chịu công nhận nước Việt Nam độc lập thống nhất).

Thực tế hơn 20 năm đổi mới: thành tựu văn hóa chưa tương xứng. Một số lĩnh vực văn hóa (tư tưởng, đạo đức lối sống xuống cấp làm giảm động lực sáng tạo.

(Kết luận Hội nghị lần thứ mười Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa IX) (20/7/2004)

So với yêu cầu của thời kỳ đổi mới, trước những biến đổi ngày càng phong phú trong đời sống xã hội những năm gần đây, những thành tựu và tiến bộ đạt được trong lĩnh vực văn hóa còn chưa tương xứng và chưa vững chắc, chưa đủ để tác động có hiệu quả đối với các lĩnh vực của đời sống xã hội, đặc biệt là lĩnh vực tư tưởng, đạo đức, lối sống. Sự suy thoái về phẩm chất, đạo đức, lối sống tiếp tục diễn biến phức tạp, có một số mặt nghiêm trọng hơn, tồn tại không nhỏ đến uy tín của Đảng và Nhà nước, niềm tin của nhân dân.

Sự phát triển của văn hóa chưa đồng bộ và tương xứng với tăng trưởng kinh tế, thiếu gắn bó với nhiệm vụ xây dựng và chỉnh đốn Đảng là mộtt rong những nguyên nhân ảnh hưởng đến quá trình phát triển kinh tế và nhiệm vụ xây dựng Đảng. Nhiệm vụ xây dựng con người Việt Nam trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa chưa tạo được chuyển biến rõ rệt. Môi trường văn hóa còn bị ô nhiễm bởi các tệ nạn xã hội, sự lan tràn của các sản phẩm và dịch vụ văn hóa mê tín dị đoan, độc hại, thấp kém, lai căng… Sản phẩm văn hóa và các dịch vụ văn hóa ngày càng phong phú nhưng vẫn rất thiếu những tác phẩm văn hóa, nghệ thuật có giá trị cao về tư tưởng và nghệ thuật, có ảnh hưởng tích cực và sâu sắc trong đời sống. Có biểu hiện lúng túng, hữu khuynh trong cuộc đấu tranh giữa các khuynh hướng tư tưởng trong lý luận - phê bình và sáng tác, trước những tác động ngày càng phức tạp của quá trình hội nhập kinh tế và giao lưu văn hóa. Xu hướng "thương mại hóa", chạy theo thị hiếu thấp kém trong một bộ phận báo chí, xuất bản, hoạt động văn hóa nghệ thuật chưa được ngăn chặn có hiệu quả, đã làm giảm sút, hạ thấp các chức năng nhận thức, giáo dục, thẩm mỹ của văn hóa.

Việc xây dựng thể chế văn hóa, các văn bản quy phạm pháp luật, các chính sách trên lĩnh vực văn hóa, dbji là chính sách về quan hệ giữa kinh tế và văn hóa còn chậm, chưa đổi mới, thiếu đồng bộ, làm hạn chế tác dụng của văn hóa đối với các lĩnh vực quan trọng của đời sống đất nước.

Tình trạng nghèo nàn, thiếu thốn, lạc hậu về đời sống văn hóa - tinh thần ở nhiều vùng nông thôn, miền núi, vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào các dân tộc thiểu số và vùng căn cứ cách mạng trước đây vẫn chưa được khắc phục có hiệu quả. Khoảng cách chênh lệch về hưởng thụ văn hóa giữa các vùng miền, khu vực, tầng lớp xã hội tiếp tục mở rộng.

Những khuyết điểm, yếu kém nói trên do nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan, song cần nhấn mạnh các nguyên nhân chủ quan là:

Nhận thức trong Đảng từ Trung ương đến cấp ủy các cấp về vai trò đặc biệt quan trọng của văn hóa chưa thật đầy đủ, các quan điểm chỉ đạo, phương hướng phát triển và các nhiệm vụ của văn hóa được xác định trong Nghị quyết chưa được quán triệt và thực hiện nghiêm túc, việc tổ chức thực hiện còn thiếu tập trung, chưa đồng bộ và không kiên quyết.

Nhiệm vụ xây dựng văn hóa trong Đảng, trong bộ máy nhà nước chưa được triển khai tích cực, có nơi còn bị xem nhẹ; không ít cán bộ, đảng viên chưa nêu được tấm gương văn hóa cho quần chúng.

Trong tổ chức thực hiện, năng lực và tầm lãnh đạo văn hóa của các cấp ủy, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc, đoàn thể còn nhiều hạn chế. Chậm thể chế hóa các quan điểm, chủ trương lớn, bị động trước những khuynh hướng mới xuất hiện và một số biến đổi phức tạp trên lĩnh vực văn hóa. Chưa có kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng tài năng, nâng cao năng lực của những người hoạt động, sáng tạo văn hóa; coi nhẹ cuộc đấu tranh trên lĩnh vực lý luận, phê bình văn học - nghệ thuật; chưa xây dựng được cơ chế, chính sách và giải pháp phù hợp để phát triển văn hóa trong cơ chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.

Trong một bộ phận đội ngũ trí thức, văn nghệ sĩ, những người hoạt động trên lĩnh vực văn hóa, thông tin, báo chí và xuất bản có những biểu hiện xa rời đời sống, lúng túng trong định hướng sáng tạo và hoạt động nghiệp vụ, chạy theo chủ nghĩa thực dụng, chiều theo thị hiếu thấp kém đã tạo ra một số sản phẩm văn hóa chất lượng thấp, thậm chí sai trái).

2- Mối quan hệ

Phát triển kinh tế là trung tâm

Theo quan điểm duy vật, phải bắt đầu từ sự phát triển lực lượng sản xuất, phát triển kinh tế. Không có nền tảng vật chất, kinh tế, xã hội không thể tồn tại được. Kinh tế phát triển là điều kiện cho mọi sự phát triển khác của xã hội. Mục tiêu của sự nghiệp đổi mới đất nước là xây dựng một xã hội "dân giàu nước mạnh xã hội công bằng dân chủ văn minh". Đối với nước ta từ một nền sản xuất nhỏ đi lên CNXH, bỏ qua chế độ TBCN, việc phát triển kinh tế lại càng quan trọng, nhất thiết phải ưu tiên phát triển lực lượng sản xuất, đồng thời xây dựng quan hệ sản xuất phù hợp. Muốn phát triển lực lượng sản xuất không còn cách nào khác là phải tiến hành công nghiệp hóa và kết hợp ngay từ đầu công nghiệp hóa với hiện đại hóa, đồng thời gắn với phát triển kinh tế tri thức. Tranh thủ cơ hội thuận lợi do bối cảnh quốc tế tạo ra và lợi thế của nước ta để rút ngắn quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước theo định hướng XHCN, trong đó đặc biệt coi trọng công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp và nông thôn, giải quyết đồng bộ vấn đề nông nghiệp, nông thôn và nông dân…

C.Mác đã từng khẳng định một cách đúng đắn rằng, một xã hội chỉ có thể phát triển cao với một nền đại công nghiệp. Lý tưởng cao đẹp của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta là xây dựng Việt Nam thành một nưcớ xã hội chủ nghĩa giàu mạnh và văn minh. Để thực hiện lý tưởng đó, Nghị quyết Đại hội lần thứ VIII Đảng Cộng sản Việt Nam đã đề ra: từ nay đến năm 2020 chúng ta phải phấn đấu đưa nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp hiện đại.

"Mục tiêu công nghiệp hóa, hiện đại hóa là xây dựng nước ta thành một nước công nghiệp có cơ sở vật chất - kỹ thuật hiện đại, cơ cấu kinh tế hợp lý, quan hệ sản xuất tiến bộ, phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, đời sống vật chất và tinh thần cao, quốc phòng, an ninh vững chắc, dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng văn minh xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội".

Như vậy, công nghiệp hóa không phải chỉ là phát triển nền công nghiệp, mà là phát triển mọi lĩnh vực từ sản xuất vật chất và dịch vụ của nền kinh tế, cho đến các khâu trang thiết bị, phương pháp quản lý, tác phong lao động, kỹ năng sản xuất…

Văn hóa và kinh tế là hai lĩnh vực không tách rời nhau, không thể làm cho nền công nghiệp ống khói thành công nghiệp sạch, không thể biến những người công nhân áo xanh thành công nhân áo trắng… nếu không có một nền văn hóa phát triển.

Xây dựng chỉnh đốn Đảng là then chốt

Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin: Cách mạng là sự nghiệp của quần chúng; sự thành công của phong trào công nhân trong mỗi nước chỉ có thể được bảo đảm bằng sức mạnh của sự thống nhất và sự tổ chức. Cách mạng muốn thành công phải làm cho nhân dân giác ngộ có ý thức tự giác đứng lên đoàn kết, đưa cách mạng giải phóng dân tộc vào quỹ đạo của cách mạng vô sản, đòi hỏi sự nghiệp cách mạng ấy phải do Đảng cách mạng chân chính của giai cấp công nhân lãnh đạo, lấy hệ tư tưởng của chủ nghĩa Mác - Lênin làm nền tảng. "Cách mệnh là công việc của dân chúng", "Công nông là gốc cách mệnh". Song "cách mạng phải có tổ chức bền vững, sức cách mạng phải tập trung, muốn tập trung phải có Đảng lãnh đạo".

"Muốn khỏi đi lạc phương hướng, quần chúng phải có đảng lãnh đạo để nhận rõ tình hình, đường lối và định phương châm cho đúng".

Thực hiện vai trò của mình, Đảng phải đề ra mục tiêu, đường lối và phương pháp cách mạng đúng đắn. Đảng phải tập trung trí tuệ của toàn dân tộc để hoạch định cương lĩnh, đường lối dẫn dắt dân tộc đi lên, kết hợp độc lập dân tộc với chủ nghĩa xã hội.

Đảng tổ chức thực hiện, đưa cương lĩnh, đường lối chủ trương của Đảng vào cuộc sống, đoàn kết tập hợp lực lượng toàn dân tộc, kết hợp sức mạnh của dân tộc với sức mạnh thời đại để đạt được mục tiêu của cách mạng.

Như vậy sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng là nhân tố có tính chất quyết định thắng lợi cách mạng Việt Nam. Đảng có vai trò rất to lớn đối với vận mệnh dân tộc.

Trong điều kiện Đảng cầm quyền thì mọi đúng sai về đường lối của đảng, mọi tốt xấu của đội ngũ cán bộ đảng viên không chỉ là vấn đề trong nội bộ đảng nữa mà trở thành vấn đề của toàn xã hội.

Khi đảng ta trở thành đảng cầm quyền là một thuận lợi lớn cho việc tổ chức lãnh đạo của đảng nhưng nó cũng là điều kiện thuận lợi làm nảy sinh thói hư tật xấu, thoái hóa biến chất trong đội ngũ cán bộ đảng viên.

Đảng ta trở thành đảng cầm quyền thì nhiệm vụ to lớn, nặng nề hơn so với trước "giành chính quyền đã khó, giữ chính quyền càng khó hơn", "thắng đế quốc phong kiến còn tương đối dễ, thắng nghèo nàn còn khó hơn nhiều lần".

Trong thời kỳ Đảng cầm quyền phải xác định vai trò lãnh đạo của Đảng với nhà nước và phải kiên trì đẩy mạnh xây dựng Đảng, trong đó phải niên trì lấy chủ nghĩa Mác - Lênin làm then chốt và vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện Việt Nam thì Đảng mới vững mạnh.

Mọi sự phát triển đều vì phát triển con người, nhưng xã hội muốn phát triển được, phải do con người. Con người là chủ thể sáng tạo và vừa là sản phẩm của chính sự sáng tạo đó. Sự nghiệp đổi mới, xây dựng phát triển đất nước là của toàn Đảng và toàn thể dân tộc ta. Nâng cao bản lĩnh chính trị và trình độ trí tuệ của Đảng để có thể đề ra một cách chuẩn xác đường lối, chính sách đưa đất nước không ngừng phát triển theo con đường chúng ta đã chọn.

Trong giai đoạn hiện nay, bản lĩnh chính trị của Đảng một phần phải được thể hiện trong việc giữ vững độc lập, tự chủ và định hướng XHCN khi đất nước hội nhập hoàn toàn với nền kinh tế thế giới mà ở đó các nước tư bản phát triển còn nắm giữ vị trí chi phối. Trong hoàn cảnh mới, độc lập tự chủ không có nghĩa là biệt lập mà cần được thể hiện trong bản lĩnh tự mình đề ra đường lối, chính sách cả về đối nội lẫn đối ngoại phù hợp với yêu cầu phát triển và định hướng chính trị của đất nước, đồng thời thích nghi và tận dụng được chiều hướng phát triển của thời đại, nắm chắc các đòn bẩy chủ yếu, tạo dựng được vị tế quốc tế vững chắc trong sự tùy thuộc lẫn nhau.

Bên cạnh đó, tầm trí tụê của Đảng cần phải vươn ra phạm vi toàn cầu để nắm bắt kịp thời và chuẩn xác những chiều hướng mới trên thế giới cả về chính trị lẫn kinh tế, văn hóa, thậm chí cả môi trường để có thể chọn lựa giải pháp thích hợp cho sự phát triển của nước mình để lãnh đạo, điều hành đất nước. Ví như khi hoạch định đường lối, chính sách phát triển kinh tế phải tính đến những chuyển biến trong cơ cấu kinh tế thế giới, nhu cầu của thị trường toàn cầu, những quy định của quốc tế. Trong điều hành hằng ngày phải tính đến những biến động trên thị trường quốc tế, về giá, lãi suất, tỷ giá… Điều này không chỉ liên quan tới các cơ quan trung ương mà cả ở địa phương khi xác định cơ cấu kinh tế gắn kết với "đầu ra" nếu đó là thị trường thế giới.

Trí tuệ của Đảng cần được thể hiện trong hiểu biết thông lệ, quy định quốc tế để có thể chỉ đạo sát hợp quá trình cụ thể hóa đường lối của Đảng bằng pháp luật. Ngày nay trong nhiều đạo luật của nước ta, nhất là những đạo luật về kinh tế có nhiều nội dung liên quan tới những cam kết quốc tế.

Công tác lý luận và công tác tư tưởng cần có nhiều đổi mới vì nhiều luồng tư duy lý luận và dòng tư tưởng có điều kiện thâm nhập sâu rộng, nhanh chóng vào nước ta, thậm chí có khả năng đi tới ngay từng người thông qua mạng Internet. Điều đó đòi hỏi công tác này phải rất nhạy bén, sắc sảo, kịp thời nắm bắt, tận dụng những tinh hoa của thế giới, sàng lọc những dòng tư tưởng, lý luận không phù hợp, thậm chí đồ hại, đồng thời có hình thức uốn nắn, đấu tranh vừa kiên quyết, mang tính thuyết phục cao, vừa có độ mềm dẻo cần thiết để không gây đối đầu căng thẳng, ảnh hưởng tới sự hợp tác. Trong bối cảnh mới, không thể làm công tác tư tưởng chạy theo sự kiện, cầm tay chỉ việc mà điều cơ bản là bồi dưỡng cho đảng viên và từng người dân phương pháp tư duy để mỗi người có thể tự sàng lọc những điều đúng, sai. "Để đảm bảo sự lãnh đạo của Đảng về văn hóa phải xây dựng văn hóa từ trong Đảng, trong bộ máy Nhà nước".

Sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng là nhân tố hàng đầu quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam, là điều kiện chính trị tiên quyết bảo đảm có một nhà nước đủ mạnh, trong sạchd dể quản lý toàn bộ quá trình phát triển kinh tế thực hiện theo định hướng XHCN. Nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần tự nó chứa đựng những mâu thuẫn. Có những thành phần kinh tế vì lợi ích của mình có thể hoạt động theo hướng TBCN. Thành phần kinh tế nhà nước và kinh tế hợp tác xã là nền tảng của nền kinh tế nước ta song hiện nay còn chưa hoàn toàn thích nghi với cơ chế thị trường, làm ăn còn kém hiệu quả, nên đang diễn ra cuộc đấu tranh "định hướng" gay gắt. Vì vậy để thực hiện được sự định hướng XHCN trong điều kiện nền kinh tế thị trường, thì việc bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng và sự quản lý của nhà nước giữ vai trò quyết định.

Phát triển văn hóa - nền tảng tinh thần của xh

Văn hóa không chỉ là những giá trị thượng tầng kiến trúc xã hội, văn hóa không phải là cái đuôi của kinh tế. Trái lại, các giá trị văn hóa tạo nên một nền tảng vững chắc của xã hội, đó là nền tảng tinh thần  điểm mới trong tư duy của Đảng ta (văn hóa có tác động tích cực hay tiêu cực đến sự phát triển, chứ không phải là quyết định sự phát triển).

Nền tảng này dã tạo nên giá trị làm người, tạo nên sức mạnh ghê gớm của dân tộc, giúp dân tộc vượt qua được bao thách thức tàn bạo của thiên nhiên và của giặc ngoại xâm.

Sự khẳng định đó được hình thành trên cơ sở coi văn hóa là tổng thể các giá trị mà dân tộc ta đã tạo nên trong suốt mấy ngàn năm.

Trải qua hàng ngàn năm bị phong kiến Trung Hoa đô hộ, hàng trăm năm bị thực dân Pháp xâm lược dân tộc ta vẫn không bị đồng hóa, vẫn tồn tại và phát triển với tư cách là một quốc gia độc lập. Trong mấy chục năm chống chiến tranh cướp nước của đế quốc Mỹ, dù về sức mạnh kinh tế và kỹ thuật ta thua xa Mỹ, nhưng cuối cùng Việt Nam đã thắng lợi hoàn toàn. Nguyên nhân chính là truyền thống văn hóa lâu đời của dân tộc Việt Nam.

Do đó, việc chăm lo xây dựng và phát triển văn hóa, giáo dục truyền thống văn hóa dân tộc chính là chăm lo, vun đắp cho nền tảng tinh thần của xã hội mà tất cả cộng đồng phải có trách nhiệm.

Văn hóa là yếu tố nội sinh cấu thành sự phát triển bền vững và toàn diện. Văn hóa vừa là mục tiêu vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển bền vững và toàn diện củađất nước ta. Cụ thể văn hóa là mục tiêu, mục đích của phát triển kinh tế tăng trưởng kinh tế, là mục đích của chính trị, luật pháp, kỷ cương xã hội. Văn hóa là động lực thúc đẩy sự phát triển, là hệ điều tiết, hệ điều chỉnh sự phát triển, soi đường cho sự phát triển.

 Mối quan hệ

3- Liên hệ thực tế

Đánh giá

Thông qua việc quán triệt các quan điểm chỉ đạo cơ bản và triển khai thực hiện 10 nhiệm vụ về văn hóa đã được nêu lên trong Nghị quyết, sự thống nhất tư tưởng trong Đảng, sự đồng thuận trong xã hội đối với đường lối đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong thời kỳ mới được củng cố và nâng cao. Tính chủ động, sáng tạo, tính tích cực xã hội của nhân dân bước đầu được phát huy; dân chủ trên các lĩnh vực của đời sống xã hội được mở rộng. Sự tham gia tích cực, tự giác của nhân dân vào các hoạt động văn hóa, đặc biệt là cuộc vận động "Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa" đã tạo được chuyển biến bước đầu và tiền đề rất quan trọng để văn hóa nước nhà tiếp tục phát triển đúng hướng và vững chắc.

Văn hóa trở thành một nội dung quan trọng trong hoạt động của cấp ủy đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và đoàn thể các cấp, từng bước gắn bó chặt chẽ hơn với các nhiệm vụ kinh tế, xã hội. Các giá trị văn hóa ngày càng thể hiện rõ hơn vai trò tích cực và khả năng tác động mạnh vào các lĩnh vực của đời sống. Những nét mới trong chuẩn mực văn hóa và trong nhân cách con người Việt Nam thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa từng bước được hình thành. Đã xuất hiện một số tác phẩm văn học, nghệ thuật có giá trị về đề tài cách mạng, kháng chiến và công cuộc đổi mới. Hoạt động thông tin, báo chí ngày càng mở rộng.

Việc thể chế hóa Nghị quyết được coi trọng, đã tạo hành lang pháp lý phù hợp và thông thoáng cho nhân dân và đội ngũ trí thức, văn nghệ sĩ hoạt động và sáng tạo văn hóa.

Thực tế:

Các giải pháp chủ yếu

a) Giải pháp hàng đầu là nâng cao năng lực, hiệu quả lãnh đạo, chỉ đạo của tổ chức đảng và cấp ủy các cấp đối với lĩnh vực văn hóa; bảo đảm định hướng chính trị đi đôi với vận dụng đúng đắn những đặc trưng của công tác văn hóa; chủ động xây dựng quy hoạch, kế hoạch phát triển văn hóa từ địa phương đến trung ương; định kỳ làm việc với các cơ quan văn hóa; chỉ đạo các cơ quan nhà nước thể chế hóa các chủ trương, chính sách về văn hóa; có kế hoạch chăm sóc, bồi dưỡng tài năng trong tất cả các lĩnh vực văn hóa; tôn trọng tự do sáng tạo, xây dựng quan hệ chân thành, cởi mở đối với đôi ngũ những người hoạt động văn hóa, có chính sách trọng dụng người tài, đồng thời chăm lo định hướng chính trị và ý thức trách nhiệm công dân nhằm phát huy cao nhất đóng góp của đội ngũ trí thức, văn nghệ sĩ, những người làm báo cho sự nghiệp phát triển văn hóa. Các cấp ủy, tổ chức đảng, các cơ quan nhà nước có kế hoạch, biện pháp đẩy mạnh việc xây dựng văn hóa trong tổ chức đảng và trong các cơ quan nhà nước để làm gương cho xã hội, nhân dân trong thực hiện nhiệm vụ này.

b) Phát huy tính năng động sáng tạo của các cơ quan Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thẻ nhân dân, các hội sáng tạo văn học - nghệ thuật, khoa học - kỹ thuật và thông tin, báo chí trong sự nghiệp văn hóa, tạo nên sức mạnh tổng hợp, động viên nhân dân và đội ngũ trí thức thực hiện các nhiệm vụ văn hóa; nâng cao chất lượng sáng tạo, sản xuất, bảo quản, tôn tạo, truyền bá và tiếp nhận các sản phẩm, công trình văn hóa. Xây dựng cơ chế, chính sách, chế tài ổn định đáp ứng yêu cầu xã hội hóa hoạt động văn hóa nhằm động viên, huy động có hiệu quả sức người, sức của các tầng lớp nhân dân, các tổ chức kinh tế - xã hội tham gia xây dựng và phát triển văn hóa. Tăng cường công tác quản lý nhà nước về văn hóa, nhất là trong lĩnh vực báo chí, xuất bản, xử lý nghiêm những trường hợp vi phạm Luật báo chí, xuất bản nhằm khắc phục kịp thời những yếu kém, khuyết điểm trong lĩnh vực này.

Có kế hoạch triển khai chương trình giáo dục văn hóa, thẩm mỹ, nâng cao chất lượng giáo dục khoa học xã hội và nhân văn, giáo dục đạo đức, lối sống trong nhà trường từ phổ thông đến đại học. Phát huy vai trò của đội ngũ văn nghệ sĩ, những người hoạt động văn hóa tham gia hỗ trợ, giúp đỡ nhà trường thực hiện nhiệm vụ này.

c) Đẩy mạnh giáo dục về chủ nghĩa xã hội, bồi dưỡng lòng yêu nước, tinh thần tự hào dân tộc, tạo chuyển biến rõ rệt về bản lĩnh chính trị, đạo đức, lối sống, năng lực, trí tụê người Việt Nam theo 5 đức tính đã được Nghị quyết Trung ương 5 (khóa VIII) xác định.

Đẩy mạnh việc nghiên cứu, tuyên truyền, giáo dục tư tưởng Hồ Chí Minh, đẩy mạnh phong trào "Sống, chiến đấu, lao động, học tập theo gương Bác Hồ vĩ đại", đẩy lùi tiêu cực, lạc hậu, khẳng định giá trị tốt đẹp của văn hóa Việt Nam, con người Việt Nam thời kỳ mới.

d) Tăng đầu tư cho văn hóa, phấn đấu đến năm 2010 ít nhất đạt 1,8% tổng chi ngân sách của nhà nước; tiếp tục bảo đảm kinh phí cho các chương trình mục tiêu phát triển văn hóa. Phát triển các doanh nghiệp văn hóa đủ khả năng đứng vững trong cơ chế thị trường, đạt được hiệu quả văn hóa - xã hội, nâng cao chất lượng phục vụ. Động viên các tầng lớp nhân dân, nhất là người say mê hoạt động văn hóa, cả trong và ngoài nước, đầu tư và đóng góp cho sự nghiệp văn hóa, vì sự phồn vinh của văn hóa dân tộc.

Câu 3: MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN NỀN VĂN HÓA VIỆT NAM TIÊN TIẾN, ĐẬM ĐÀ BẢN SẮC DÂN TỘC

 

I. MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG

1. Từ khi ra đời đến nay, Đảng ta luôn luôn quan tâm đến văn hóa, tư duy và nhận thức về văn hóa ngày càng hoàn thiện

1.1. Trong giai đoạn cách mạng dân tộc dân chủ Đảng ta có Đề cương văn hóa (năm 1943).

1.2. Chuyển sang giai đoạn cách mạng xã hội chủ nghĩa, trong các kỳ Đại hội, Đảng ta đều đề cập đến đường lối văn hóa. Đảng ta luôn luôn khẳng định văn hóa là một mặt trận, cách mạng tư tưởng và văn hóa là một trong ba cuộc cách mạng tiến hành đồng thời trong cách mạng xã hội chủ nghĩa.

1.3. Từ năm 1986 đến nay, trong tiến trình lãnh đạo sự nghiệp đổi mới, Đảng ta đã có Nghị quyết số 05 của Bộ Chính trị (khóa VI), Nghị quyết Trung ương 4 (khóa VII) về văn hóa theo nghĩa hẹp chủ yếu là những vấn đề văn nghệ và quản lý văn hóa - văn nghệ.

1.4. Hiện nay, trong công cuộc đổi mới toàn diện, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước đòi hỏi Đảng ta phải có chiến lược văn hóa trong thời kỳ mới.

Nghị quyết Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa VIII) ngày 16 tháng 7 năm 1998 "về xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc" - chính là chiến lược văn hóa của Đảng ta trong thời kỳ đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

2. Có nhiều định nghĩa về văn hóa, tùy theo cách tiếp cận. Theo quan điểm của Đảng ta hiện nay, Văn hóa được hiểu theo nghĩa rộng nói chung, bao gồm toàn bộ thế giới tinh thần của xã hội

Đó là:

2.1. Tư tưởng, đạo đức, lối sống

2.2. Đời sống văn hóa

2.3. Giáo dục - khoa học

2.4. Văn học, nghệ thuật

2.5. Thông tin đại chúng

2.6. Tôn giáo

2.7. Giao lưu văn hóa với các nước

2.8. Các thể chế và thiết chế văn hóa

Trong đó tư tưởng, đạo đức, lối sống được coi là những lĩnh vực quan trọng nhất.

Từ quan niệm về văn hóa như đã trình bày trên đây, Đảng ta khẳng định rằng văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là động lực, vừa là mục tiêu thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội.

3. Nền văn hóa chúng ta xây dựng là nền văn hóa "tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc"

"Tiên tiến" và "đậm đà bản sắc dân tộc" có quan hệ mật thiết với nhau, bổ sung cho nhau, là hai mặt cơ bản về nền văn hóa chúng ta xây dựng không được coi nhẹ mặt nào.

- Tiên tiến phản ánh trình độ của nền văn hóa.

- Đậm đà bản sắc dân tộc thể hiện sự khác biệt, tính độc đáo của nền văn hóa.

Hai yếu tố đó đều có ý nghĩa cực kỳ quan trọng để nhận biết nền văn hóa đạt đến trình độ nào, tiên tiến hay không tiên tiến và có thể hiện bản sắc riêng biệt và độc đáo hay không.

3.1. Thế nào là nền văn hóa tiên tiến

Nền văn hóa tiên tiến có những đặc trưng sau:

a) Yêu nước;

b) Tiến bộ (những gì là tiến bộ của dân tộc, của thời đại, của loài người);

c) Có nội dung cốt lõi và lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội dưới ánh sáng chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh;

d) Mang đậm đà chủ nghĩa nhân văn: tất cả vì con người;

đ) Tiên tiến không chỉ trong nội dung tư tưởng, mà cả trong hình thức biểu hiện, trong các phương tiện hiện đại để chuyển tải nội dung.

3.2. Bản sắc dân tộc của văn hóa Việt Nam:

Bao gồm những giá trị bền vững, những tinh hoa được vun đắp nên qua hàng ngàn năm đấu tranh dựng nước và giữ nước, tạo thành những nét đặc sắc của cộng đồng các dân tộc Việt Nam, con người Việt Nam.

Bản sắc dân tộc của Văn hóa Việt Nam gồm những giá trị sau:

a) Lòng yêu nước nồng nàn;

b) Ý thức tự cường dân tộc;

c) Tinh thần đoàn kết;

d) Ý thức cộng đồng gắn kết cá nhân - gia đình - làng xã - tổ quốc;

đ) Lòng nhân ái bao dung, trọng nghĩa tình, đạo lý;

e) Sự tinh tế trong ứng xử, tính giản dị trong lối sống.

4. Những quan điểm chỉ đạo cơ bản trong xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc

4.1. Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu, vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển xã hội.

4.2. Nền văn hóa mà chúng ta xây dựng là nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc.

4.3. Nền văn hóa Việt Nam là nền văn hóa thống nhất mà đa dạng trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam.

4.4. Xây dựng và phát triển nền văn hóa là sự nghiệp của toàn dân do Đảng lãnh đạo, trong đó đội ngũ trí thức giữ vai trò quan trọng.

4.5. Văn hóa là một mặt trận; xây dựng và phát triển văn hóa là một sự nghiệp cách mạng lâu dài, đòi hỏi phải có ý chí cách mạng và sự kiên trì, thận trọng.

Quan điểm 2 đã phân tích ở trên, các quan điểm 3, 4, 5 nghiên cứu trong Nghị quyết Trung ương 5 (khóa VIII).

Xin phân tích thêm quan điểm 1: "Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là động lực, vừa là mục tiêu phát triển kinh tế xã hội".

a) Là nền tảng, vì:

- Văn hóa theo quan điểm của Đảng ta bao gồm toàn bộ đời sống tinh thần của xã hội;

- Chăm lo văn hóa là chăm lo củng cố nền tảng tinh thần của xã hội;

- Thiếu nền tảng tinh thần tiến bộ và lành mạnh, không quan tâm giải quyết tốt mọi quan hệ - giữa phát triển kinh tế với tiến bộ và công bằng xã hội thì không thể có sự phát triển kinh tế - xã hội bền vững.

b) Là động lực, vì:

- Trong giai đoạn hiện nay, văn hóa giữ vai trò cực kỳ quan trọng trong sự phát triển của xã hội. Hiện nay nhận thức về sự phát triển không chỉ gắn với thu nhập hàng năm tính theo đầu người, mà còn gắn phát triển với chất lượng sống - đó được coi là sự phát triển bền vững.

- Văn hóa và kinh tế là 2 lĩnh vực không thể tách rời nhau. Kinh tế không thể xa rời văn hóa, ngược lại văn hóa cũng không phải là phi kinh tế, không phải là một sản phẩm thụ động của kinh tế, không phải là cái đi sau, đi cùng mà là cái đi trước. Chính vì lẽ đó văn hóa khơi dậy và phát huy mọi tiềm năng sáng tạo của con người.

- Văn hóa không những là động lực, mà còn là hệ điều tiết cho sự phát triển.

+ Mục tiêu của chúng ta không chỉ là cho dân giầu, nước mạnh mà còn làm cho xã hội công bằng, dân chủ, văn minh;

+ Vì vậy, nhiệm vụ của chúng ta phải làm cho quá trình giầu lên đi đôi với quá trình công bằng, dân chủ và văn minh. Phải lấy thước đo công bằng dân chủ và văn minh làm hệ điều tiết kế hoạch làm giầu.

c) Là mục tiêu của sự phát triển kinh tế - xã hội, vì:

- Trong cuộc sống, ngoài mức sống còn có lối sống

+ Mức sống là do kinh tế đem lại

+ Lối sống là do văn hóa tạo nên

Hai mặt đó đều là cần thiết.

- Văn hóa thể hiện trình độ phát triển về ý thức, trí tuệ, năng lực sáng tạo của con người. Với sự phát triển của văn hóa, bản chất nhân văn, nân đạo của mỗi cá nhân và cộng đồng được bồi dưỡng phát huy và trở thành giá trị cao quý và chuẩn mực của toàn xã hội.

- Phát triển kinh tế - xã hội chính là đạt được mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng và văn minh.

II. THỰC TRẠNG VĂN HÓA Ở NƯỚC TA

1. Những thành tựu

1.1. Tư tưởng, đạo đức, lối sống có những chuyển biến quan trọng. Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh được quán triệt hình thành nền tảgn tư tưởng, chỉ đạo cuộc sống. Năng lực đổi mới của cán bộ, nhân dân được nâng lên.

1.2 Những nét mới trong giá trị văn hóa và chuẩn mực đạo đức, tính tích cực công dân, không khí dân chủ, trình độ dân trí được phát huy.

1.3. Sự nghiệp giáo dục, khoa học đạt những thành tựu mới.

1.4. Lĩnh vực văn hóa, nghệ thuật tiếp tục phát triển.

1.5. Thông tin đại chúng phát triển nhanh về quy mô, số lượng.

1.6. Giao lưu văn hóa với nước ngoài mở rộng.

1.7. Các thể chế văn hóa từng bước được hoàn chỉnh, nâng cao năng lực quản lý và trình độ phục vụ nhân dân.

Một vài phân tích thêm cho những thành tựu:

a) Văn hóa là tổng hợp những gì có thể giúp con người xử lý môi trường sống và các quan hệ con người để tồn tại, phát triển. Trong hơn 10 năm đổi mới, đất nước ta đã đạt tới một trình độ văn hóa vững vàng nhà đó xử lý được các quan hệ phức tạp của thế giới hiện đại, đứng vững trước mọi biến động và không ngừng phát triển của khu vực và thế giới, thậm chí trong bối cảnh khủng hoảng của xã hội chủ nghĩa.

Việc xóa thế bao vây cấm vận của Mỹ, bình thường hóa quan hệ với các nước lớn, chủ động gia nhập với các nước trong khu vực, thiết lập quan hệ với liên minh Châu âu, đa phương và đa dạng hóa quan hệ với thế giới đã tạo điều kiện quốc tế thuận lợi cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước.

Trong bối cảnh Đông Nam Á chao đảo trong khủng hoảng tài chính tiền tệ, nhân dân ta đã đề cao tư tưởng phát huy nội lực, kết hợp sức mạnh quốc tế, mở ra các giải pháp đúng đắn đưa nước ta vượt lên khó khăn, đạt tới sự phát triển mới.

Như vậy, những sức mạnh văn hóa có tính tổng hợp, nhất là trên lĩnh vực chính trị, không ngừng được tích lũy đã tạo cho nước ta những khả năng vượt lên khó khăn thử thách, thúc đẩy quá trình phát triển đất nước, bắt kịp những yêu cầu của thời đại. Đó là một thành tựu đáng kể.

b) Thăng lợi của công cuộc đổi mới đất nước hơn mười năm qua là minh chứng hùng hồn nhất cho sự phát triển văn hóa của nước ta trong tất cả các lĩnh vực chính trị, kinh tế, xã hội, an ninh quốc phòng… từ nông thôn, thành thị đến rừng núi, vùng xa xôi hẻo lánh… Có thể nêu một vài con số: cách đây 10 năm chúng ta không đủ lương thực, hiện nay chúng ta đã có thể xuất khẩu hàng năm trên 3 triệu tấn gạo; cách đây 10 năm chúng ta lạm phát 3 chữ số, nay ta giữ lạm phát dưới 10%; từ chỗ bị bao vây, cấm vận, hiện nay chúng ta đã có quan hệ với trên 160 nước trên thế giới. Chính đổi mới đã làm nên vẻ đẹp và sức mạnh của văn hóa và ngược lại bước phát triển của văn hóa đã đem lại tính vững vàng cho sự nghiệp đổi mới của nước ta.

c) Đổi mới là quá trình vận động của văn hóa nước ta vươn tới những chuẩn mực mới của tiến bộ và phát triển, như là những tiêu chuẩn chung của thế giới hiện đại; thì chính trong đổi mới đã xuất hiện một quá trình khác của văn hóa - mang tính biện chứng sâu sắc đó là quá trình trở về với những truyền thống văn hóa dân tộc, giữ gìn bản sắc dân tộc.

Đây là một thành tựu rất có ý nghĩa trong văn hóa. Sự trở về với các giá trị truyền thống, những phẩm chất tốt đẹp của dân tộc, diễn ra trên một "giải tần rộng" phong phú:

- Trở về đạo lý dân tộc: bầu ơi thương lấy bí cùng. "Uống nước nhớ nguồn", "Ăn quả nhớ người trồng cây"…'

- Tôn thờ những anh hùng, liệt sĩ trong lịch sử, trong các cuộc kháng chiến;

- Tu sửa, tôn tạo di tích văn hóa, lịch sử, đình, chùa…;

- Chăm lo các truyền thống họ mạc, thân tộc…;

- Khai thác phát huy các hội lễ, giữ gìn các tập tục tốt đẹp;

- Khai thác văn nghệ dân gian, hàng mỹ nghệ, kiến trúc dân tộc…;

- Các nghệ sĩ khai thác sâu các truyền thống nghệ thuật dân tộc trên các lĩnh vực: Ca nhạc, kiến trúc, mỹ thuật, múa, thơ ca…;

- Sâu xa hơn là việc đề cao chủ nghĩa yêu nước, lòng tự hào dân tộc, lòng tin về Đảng, về nhân dân của mình.

Trong thành tựu chung, văn hóa các dân tộc thiểu số cũng đã phát triển khá nhanh, góp phần tạo nên sự phong phú văn hóa Việt Nam.

- Tiếng vang của hoạt động mỹ thuật, múa rối nước, ca múa nhạc Việt Nam… ở nhiều nước trên thế giới nói lên trình độ và sức quyến rũ của những truyền thống nghệ thuật dân tộc.

d) Thể chế văn hóa được mở rộng, năng lực sáng tạo được tăng cường, quản lý nhà nước ngày càng được đề cao đã mở ra môi trường văn hóa ngày càng phong phú, đa dạng, được hướng dẫ và định hướng ngày càng rõ ràng hơn.

Đây là sự khẳng định phương thức mới trong hoạt động văn hóa xã hội, tạo tiền đề cho quá trình xã hội hóa đời sống văn hóa.

Từ thể chế dựa vào nguồn lực nhà nước là chủ yếu, thực hiện sự phổ cạp văn hóa bằng việc cung cấp phúc lợi văn hóa, phục vụ miễn phí trong khả năng cho phép của nhà nước chuyển sang thời kỳ vừa đảm bảo phúc lợi, tôn trọng yêu cầu tư tưởng, tinh thần của sản phẩm văn hóa với quá trình văn hóa gia nhập cơ chế thị trường, thực hiện hạch toán kinh doanh, mở rộng cho các tổ chức, cá nhân tham gia sản xuất và phân phối sản phẩm, tăng cường giao lưu văn hóa với nước ngoài, kết hợp quản lý nhà nước và tự quản văn hóa ở cơ sở với các hình thức gia đình văn hóa, làng văn hóa…, tăng cường luật pháp và các chính sách định hướng phát triển, khuyến khích tài năng sáng tạo của văn nghệ sĩ, tất cả đã góp phần thúc đẩy văn hóa phát triển thành nhiều tầng nhiều lớp, bổ sung cho nhau, không ngừng nâng cao quy mô hoạt động và mặt bằng văn hóa cho cả nước.

Sự hình thành những cơ chế mới, đội ngũ mới, những thiết chế và luật pháp là những cơ sở rất quan trọng cho bước phát triển lâu dài của văn hóa nước ta.

đ) Nhận thức về văn hóa đạt tới những tiến bộ mới: Văn hóa là động lực phát triển. Văn hóa thấm vào mọi lĩnh vực đời sống xã hội. Xã hội văn hóa. Phải coi trọng giữ gìn truyền thống, bản sắc dân tộc. Văn hóa bắt đầu từ mối quan tâm rèn luyện của mỗi người, mỗi gia đình, mỗi cộng đồng làng xóm… Phát triển văn hóa là sự lựa chọn tích cực, có định hướng của mỗi người, mỗi cộng đồng trong định hướng chung của các nước. Trong truyền thống văn hóa phải coi trọng văn hóa vật thể và cả văn hóa phi vật thể. Nhận thức cuộc đấu tranh trên lĩnh vực văn hóa ngày càng phức tạp. Đảng viên phải nêu cao vai trò tiên phong gương mẫu trong đời sống văn hóa, tự mình phải trở thành nhân tố văn hóa cao đẹp…

Trong những năm gần đây, mối quan tâm thực tế của các cấp ủy, chính quyền Trung ương và địa phương đối với văn hóa đã tăng lên. Nhu cầu phát triển văn hóa trở thành mối quan tâm thường xuyên trong mỗi gia đình và cộng đồng. Những húy kỹ thuật đã giảm bớt (về thị trường, tự do sáng tạo, giao lưu văn hóa…). Khối lượng sách, báo, phim ảnh nghiên cứu về văn hóa tăng nhanh, Việt Nam học, Văn hóa học từng bước hình thành. Chúng ta có thế và lực mới để phát triển văn hóa.

2. Những mặt yếu kém:

2.1. Sa sút về tư tưởng, đạo đức, lối sống; đáng chú ý là sự sa sút trong cán bộ, đảng viên;

2.2. Thiếu những công trình văn học, nghệ thuật có sức mạnh tư tưởng và thẩm mỹ cao;

2.3. Sản phẩm văn hóa độc hại lan tràn. Hủ tục mê tín, dị đoan phát triển;

2.4. Trình độ thông tin còn thấp;

2.5. Giao lưu văn hóa còn rất hạn hẹp;

2.6. Đổi mới về thể chế còn chậm. Việc tăng cường quản lý Nhà nước chưa theo kịp yêu cầu. Đầu tư ngân sách thấp. Xuất hiện sự thiếu hụt cán bộ văn hóa chủ chốt.

Nguyên nhân:

a) Chậm nghiên cứu lý luận văn hóa trong đổi mới, trong bối cảnh quốc tế mới;

b) Chấn chỉnh đời sống chính trị, tinh thần trong Đảng, Nhà nước không nghiêm;

c) Quản lý nhà nước yếu kém, hữu khuynh;

d) Thiếu sự chuẩn bị, vun trồng những tài năng, những người tâm huyết với sự nghiệp văn hóa.

Giải trình thêm một số vấn đề yếu kém:

1. Khuyết điểm quan trọng nhất là chậm hoàn chỉnh lý luận về văn hóa.

- Nội hàm khái niệm văn hóa mà chúng ta duy trì nhiều năm nay quá hẹp. Phạm trù tư tưởng, đạo đức, lối sống bị đặt ra ngoài văn hóa. Ví dụ tinh thần cộng đồng, ý thức tập thể, ý thức tôn trọng lợi ích chung là một phẩm chất quan trọng nhưng nhiều năm bị xem nhẹ trong tuyên truyền, giáo dục. Điều đáng nói là không biến những giá trị đạo đức đó thành những nguyên tắc, giá trị văn hóa của hàng triệu người, vì vậy sự xói mòn của các nguyên tắc tinh thần đó là điều khó tránh khỏi.

- Thiếu lý luận nên xử lý đời sống văn hóa, văn học nghệ thuật hết sức khó khăn phức tạp. Một sự kiện văn hóa có thể cắt nghĩa theo nhiều cách khác nhau, thậm chí trái ngược nhau, làm cho định hướng trong văn hóa rất khó khăn.

Khoa học về văn hóa mới dừng lại ở phạm vi các bộ phận: văn học, mỹ thuật, âm nhạc, điện ảnh… trong khi đó lại chậm hình thành văn hóa học, như một thứ triết học của các lĩnh vực nghệ thuật và văn hóa. Sự chậm trễ, không ổn định của khoa học và lý luận về văn hóa đã ảnh hưởng không ít đến triển khai thực tiễn nhiệm vụ văn hóa.

Chậm về lý luận, chậm về tháo gỡ chính sách, trong nhiều trường hợp ta chưa thực sự giải phóng năng lực sáng tạo văn hóa vốn là năng lực lớn của một dân tộc có truyền thống văn hóa.

2. Do những hoàn cảnh và điều kiện nhất định, mối quan hệ đến đời sống tinh thần bên trong con người đã bị giảm sút, chưa có phương thức hợp lý để điều chỉnh, từ đó tư tưởng, đạo đức, lối sống sa sút.

Cơ chế thị trường quy định người ta muốn tìm kiém lợi ích phải căn cứ vào sự hình thành giá trị, giá cả tự nhiên, khách quan ngoài xã hội, chứ không phải từ mong muốn chủ quan, vì vậy con người rất dễ chạy theo lợi ích từ bên ngoài, coi nhẹ sự kiểm soát bản thân. Các quá trình dân chủ cũng tăng thêm tính chủ động cá nhân, giảm đi sự ràng buộc của tập thể, của tổ chức, nhưng tính chủ động cá nhân nhiều khi lại là sự buông lỏng cá nhân, làm cá nhân đi vào suy thoái. Sự thay đổi lối sống đã ảnh hưởng sâu xa đến con người, vừa đem lại cho con người những sức mạnh nhất định, nhưng đồng thời rất dễ đưa tới những suy thoái đạo đức nếu chúng ta không tìm được những phương thức mới để hướng dẫn, bảo vệ con người. Khuyết điểm của chúng ta là chậm nhận ra và thấu hiểu sâu sắc biến động này để xử lý thật hiệu quả.

3. Một khuyết điểm trong khi chỉ đạo văn hóa vừa qua là chưa hình thành được cuộc vận động văn hóa, một mặt trận văn hóa rộng rãi. Văn hóa là toàn bộ đời sống tinh thần của con người rất toàn vẹn, nhưng khi xử lý văn hóa thì hết sức phân tán, mạnh ai nấy làm, thiếu một vai trò tổ chức, tập hợp thống nhất. Nghị quyết hay, người tổ chức giỏi, thậm chí có người không tiếc tiền đầu tư cho văn hóa, nhưng một khi văn hóa chưa thành phong trào quần chúng rộng rãi, không có tính xã hội cao, thì những giá trị văn hóa khó bén rễ trong cuộc sống. Các sinh hoạt văn hóa sớm nở tối tàn, nhiều lực rất tốn kém, làm nguội lạnh nhiệt tình không ít những người hoạt động văn hóa.

Con đường duy nhất là phải đẩy tới một cuộc vận động văn hóa rộng rãi, với một phương án hoạt động toàn diện, sự phối hợp đầy đủ, những biện pháp thực tế, có hiệu quả, một công tác tổ chức kiên trì, lấy nhân dân, cơ sở làm gốc thì mới hy vọng hình thành nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc.

III. NHỮNG NHIỆM VỤ CỤ THỂ TRONG XÂY DỰNG NỀN VĂN HÓA VIỆT NAM TIÊN TIẾN, ĐẬM ĐÀ BẢN SẮC DÂN TỘC

1. Xây dựng con người Việt Nam trong giai đoạn cách mạng mới (với 5 đức tính):

1.1. Có tinh thần yêu nước, tự cường dân tộc, phấn đấu vì độ lập dân tộc và CNXH, có ý chí vươn lên đưa đất nước thoát khỏi nghèo nàn lạc hậu, đoàn kết với nhân dân thế giới trong sự nghiệp đấu tranh vì hòa bình, độc lập dân tộc và tiến bộ xã hội.

1.2. Đề cao tinh thần tập thể, đoàn kết, phấn đấu vì lợi ích chung.

1.3. Có lối sống lành mạnh, nếp sống văn minh, cần kiệm, trung thực, nhân nghĩa, tôn trọng kỷ cương phép nước, quy ước của cộng đồng, có ý thức bảo vệ và cải thiện môi trường sinh thái.

1.4. Lao động chăm chỉ với lương tâm nghề nghiệp, có kỹ thuật, sáng tạo, năng suất cao vì lợi ích của bản thân, gia đình, tập thể và xã hội.

1.5. Có ý thức thường xuyên học tập, nâng cao hiểu biết, trình độ chuyên môn, năng lực thẩm mỹ và thể lực.

2. Xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh: con người văn hóa và các quan hệ xã hội lành mạnh, cụ thể:

2.1. Xây dựng văn hóa cơ sở: gia đình văn hóa;

2.2. Đơn vị cơ sở: Làng bản, xã phường, khu tập thể… xây dựng làng ấp văn hóa, khu phố văn minh;

2.3. Thiết chế văn hóa cơ sở; quy chế tự quản;

3. Phát triển sự nghiệp văn học và nghệ thuật:

Xác định các Hội văn nghệ là những tổ chức chính trị, xã hội nghề nghiệp do Đảng lãnh đạo, có bộ máy chuyên trách, cơ sự tài trợ của Nhà nước về kinh phí. Bảo đảm tự do, dân chủ cho mọi sự sáng tạo và hoạt động văn hóa, văn nghệ, vun đắp các tài năng, đồng thời đề cao trách nhiệm của văn nghệ sỹ trước công chúng, dân tộc và thời đại. Thấm nhuần và thực hiện quan điểm của Chủ tịch HCM “Văn hóa nghệ thuật cũng là một mặt trận. Anh chị em là chiến sỹ trên mặt trận ấy”, phát huy tác dụng của nghiên cứu, lý luận, phê bình văn học nghệ thuật vì nền văn học nghệ thuật tiến bộ và nhân văn, đấu tranh chống các khuynh hướng trái với đường lối văn hóa nghệ thuật của Đảng.

4. Bảo tồn và phát huy các di sản văn hóa bao gồm:

4.1. Văn hóa vật thể và phi vật thể (di sản tinh thần);

4.2. Văn hóa truyền thống và văn hóa dân gian;

4.3. Đạo lý dân tộc;

Bên cạnh với việc bảo tồn các di sản văn hóa còn cần phải sáng tạo ra các giá trị văn hóa mới, tạo ra di sản cho tương lai, giới thiệu di sản văn hóa dân tốc ra thế giới, nhằm tăng cường sự hiểu biết, phát triển tình hữu nghị, tinh thần hợp tác quốc tế, tạo điều kiện để phát triển kinh tế-xã hội avf phát triển văn hóa của đất nước.

5. Phát triển sự nghiệp giáo dục-đào tạo và khoa học công nghệ:

Đây là quốc sách hàng đầu để tiến lên công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước, phát huy nguồn lực con người phục vụ cho phát triển đất nước. Hoạt động khoa học xã hội, khoa học tự nhiên cũng góp phần tích cực cho giải quyết vấn đề văn hóa và con người, tạo điều kiện phát triển các hoạt động văn hóa, thông tin, sáng tạo, lưu giữ và truyền bá văn hóa.

6. Phát triển đi đôi với quản lý tốt các phương tiện thông tin đại chúng:

6.1. Xây dựng chiến lược truyền thông quốc gia;

6.2. Sản xuất, quy hoạch hệ thống thông tin.

7. Bảo tồn, phát huy và phát triển văn hóa các dân tộc thiểu số:

7.1. Giữ gìn phát triển các giá trị truyền thống, nhất là tiếng nói riêng và chữ viết;

7.2. Có chính sách đưa văn hóa thông tin đến đồng bào, nhất là 1.700 xã đặc biệt khó khăn;

7.3. Đầu tư công tác đào tạo cán bộ, bồi dưỡng tài năng;

7.4. Chăm lo cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của đồng bào dân tộc thiểu số, vận động đồng bào xây dựng nếp sống văn hóa.

8. Chính sách văn hóa đối với tôn giáo:

Khuyến khích ý tưởng công bằng, bác ái, hướng thiện… trong tôn giáo để phục vụ sự nghiệp xây dựng đất nước và cuộc sống tốt đẹp hơn cho nhân dân, chống việc lợi dụng tôn giáo, tín ngưỡng thực hiện ý đồ chính trị xấu.

Giúp đỡ đồng bào theo đạo xóa đói, giảm nghèo, nâng cao dân trí, xây dựng môi trường văn hóa, thực hiện đầy đủ nghĩa vụ, trách nhiệm công dân đối với Tổ quốc.

8. Mở rộng hợp tác quốc tế

9. Xây dựng và hoàn thiện thể chế văn hóa:

9.1. Đổi mới và hoàn thiện thể chế văn hóa: Quản lý Nhà nước, hoạt động sự nghiệp, sản xuất kinh doanh;

9.2. Củng cố các thiết chế văn hóa, nhất là thiết chế cơ sở;

9.3. Xã hóa hóa;

9.4. Hoàn thiện luật pháp - chính sách.

 

NHỮNG GIẢI PHÁP LỚN TRONG XÂY DỰNG NỀN VĂN HÓA VIỆT NAM TIÊN TIẾN, ĐẬM ĐÀ BẢN SẮC DÂN TỘC

 

1. Mở rộng cuộc vận động giáo dục Chủ nghĩa yêu nước và phong trào thi đua yêu nước gắn với phong trào "toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa".

2. Xây dựng, ban hành luật pháp và các chính sách văn hóa

2.1. Về luật pháp: Xây dựng mới và sửa đổi các đạo luật cơ bản như Luật Báo chí (sửa đổi), Luật Di sản văn hóa dân tộc, Luật Quảng cáo, Luật Điện ảnh, Luật Xuất bản (sửa đổi).

a) Hoàn chỉnh và tăng cường hướng dẫn các văn bản luật đã ban hành để phát huy hiệu lực trong cuộc sống.

b) Soạn thảo các pháp lệnh: Thư viện, Internet, Danh hiệu vinh dự Nhà nước (sửa đổi), Giải thưởng Hồ Chí Minh (sửa đổi), Quy chế giải thưởng đổi mới văn học nghệ thuật và báo chí, xuất bản.

c) Các quy chế văn hóa.

d) Các quy ước nếp sống nhân dân.

2.2. Về chính sách:

a) Chính sách kinh tế trong văn hóa

- Mở rộng hoạt động kinh doanh, tạo nguồn thu cho các đơn vị văn hóa nghệ thuật.

- Chế độ tài trợ, đặt hàng, trợ giá…

- Chế độ thiếu ưu đãi cho các doanh nghiệp đặc thù (hãng phim, rạp chiếu bóng, hiệu sách, khu vui chơi giải trí nhà xuất bản, trung tâm triển lãm, tu bổ di tích…).

- Chính sách liên doanh, liên kết với các thành phần kinh tế, với tư nhân trong nước, nước ngoài xây dựng cơ sở hạ tầng, đổi mới công nghệ, tham gia tổ chức một số hoạt động văn hóa.

b) Chính sách văn hóa trong kinh tế

- Chú trọng xây dựng giải pháp văn hóa các chương trình, các công trình kinh tế. Xây dựng đạo đức nghề nghiệp văn hóa kinh doanh.

- Coi trọng quy hoạch vị trí công trình văn hóa trong quy hoạch đô thị, nông thôn.

- Thực hiện miễn giảm phần chịu thuế cho các khoản đầu tư, đóng góp của doanh nghiệp cho sự nghiệp văn hóa.

c) Chính sách xã hội hóa hoạt động văn hóa.

d) Chính sách bảo tồn, phát huy di sản văn hóa dân tộc

đ) Chính sách khuyến khích sáng tạo:

- Đầu tư hỗ trợ công trình văn hóa, tác giả có uy tín.

- Sửa đổi chế độ nhuận bút; chế độ lương.

- Lập quỹ hỗ trợ văn hóa quốc gia, quỹ sáng tác.

e) Chính sách ưu đãi về hưởng thụ văn hóa cho một số đối tượng đặc biệt.

g) Chính sách mở rộng giao lưu hợp tác văn hóa.

3. Tăng cường nguồn lực và phương tiện cho hoạt động văn hóa:

3.1. Tăng cường mức đầu tư cho văn hóa từ nguồn chi thường xuyên và nguồn chi phát triển trong ngân sách Nhà nước. Tỷ trọng chi ngân sách cho văn hóa tăng cường đáp ứng nhịp độ tăng trưởng kinh tế.

3.2. Khuyến khích địa phương tăng thêm nguồn đầu tư cho văn hóa.

3.3. Tích cực huy động các nguồn lực ngân sách Nhà nước cho phát triển văn hóa.

3.4. Thực hiện chương trình có mục tiêu.

3.5. Củng cố bộ máy cán bộ

3.6. Tăng cường công tác đào tạo

3.7. Thực hiện tiêu chuẩn cán bộ văn hóa.

4. Nâng cao hiệu quả lãnh đạo của Đảng:

4.1. Nhấn mạnh đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng, vừa đảm bảo đúng định hướng tư tưởng, vừa tôn trọng tự do sáng tạo.

4.2. Xây dựng văn hóa từ trong Đảng. Bác Hồ nói "Đảng là đạo đức, là văn minh".

 

TÀI LIỆU THAM KHẢO

 

1. Văn kiện Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương khóa VIII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội , 1998.

2. Nguyễn Khoa Điềm (chủ biên): Xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội 2001)

3. Tập bài giảng Bồi dưỡng kiến thức quản lý ngành Văn hóa - Thông tin, Trường Cán bộ quản lý Văn hóa - thông tin, tập I, Hà Nội, 1999.

4. Dự thảo Chiến lược phát triển Văn hóa - Thông tin đến năm 2001, Bộ Văn hóa - thông tin, Hà Nội, 2000

 

Câu 4: Bản sắc văn hóa và các giá trị văn hóa tinh thần của dân tộc Việt Nam

Trả lời

Những giá trị cơ bản của văn hóa Việt Nam:

Ông Ph. Mayo, nguyên Tổng Giám đốc UNESCO: "Văn hóa là tổng thể sống động các hoạt động sáng tạo (của các cá nhân và các cộng đồng) trong quá khứ và trong hiện tại. Qua các thế kỷ, hoạt động sáng tạo ấy đã hình thành nên hệ thống các giá trị, các truyền thống và thị hiếu - những yếu tố xác định đặc tính riêng của mỗi dân tộc".

Hồ Chí Minh: "Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hàng ngày về mặc, ăn, ở và các phương thức sử dụng. Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa. Văn hóa là tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn".

Xét về bản chất, văn hóa là toàn bộ những sáng tạo, phát minh của con người, do con người sáng tạo ra. Văn hóa chính là nhu cầu hướng tới cái đẹp, cái đúng, luôn khát khao sự hiểu biết về thế giới xung quanh, về bản thân mình, về quá khứ và hiện tại. Văn hóa là một tổng thể các hoạt động tinh thần hướng tới cái chân, thiện, mỹ. Tổng thể các hoạt động văn hóa tạo ra một thiên nhiên thứ hai, một môi trường thứ hai nuôi dưỡng con người.

Xét về chức năng, văn hóa là hoạt động tinhthần của con người, nó có những chức năng xã hội đặc biệt. Các chức năng xã hội đó giúp chúng ta hiểu rõ thêm bản chất của văn hóa và vị trí, vai trò của văn hóa trong đời sống xã hội. Đó là các chức năng nhận thức, chức năng giáo dục, chức năng thẩm mỹ, chức năng dự bảo

 

 

 

23