DMCA.com Protection Status

MỘT SỐ KIẾN THỨC CƠ BẢN VỀ HƯỚNG NGHIỆP  quan tâm

Được đăng bởi: Trần Việt Thao

Cập nhật lúc 16:17 ngày 12/01/2018

PHẦN 2

MỘT SỐ KIẾN THỨC CƠ BẢN VỀ HƯỚNG NGHIỆP

( Nguồn: http://thptnguyenthaibinh.edu.vn/imgUpload/file/CHUYENMON/Tai%20lieu%20huong%20nghiep.rar )

 

Qua các nội dung được trình bày ở phần 1, đặc biệt là các nội dung ở mục III cho thấy, để thực hiện được yêu cầu GDHN qua HĐGDNPT, giáo viên dạy NPT không những phải có kiến thức, kĩ năng nghề vững vàng mà còn phải có trình độ và năng lực thực hiện những nội dung hướng nghiệp liên quan chặt chẽ với HĐGDNPT. Do vậy, việc tìm hiểu để hiểu rõ và vận dụng được những kiến thức cơ bản về hướng nghiệp vào quá trình tổ chức HĐGDNPT là rất cần thiết đối với mỗi giáo viên dạy NPT. Sau đây là những kiến thức cơ bản về hướng nghiệp có liên quan chặt chẽ với HĐGDNPT. Xin lưu ý là giáo viên dạy NPT có thể giới thiệu những lí thuyết dưới đây cho học sinh theo một thứ tự khác với chúng tôi, tùy vào cảm nhận và hiểu biết của mỗi thầy cô. Điều quan trọng là cách các thầy cô liên kết các lí thuyết với nhau, và chỉ cho các HS thấy sự liên quan mật thiết giữa các lí thuyết, đều vì một mục tiêu chung là giúp các em lập ra được một kế họach nghề nghiệp hiệu quả cho bản thân.

Quy trình hướng nghiệp1

  1.  

Giáo dục hướng nghiệp là một quá trình lâu dài, được thực hiện bằng nhiều hình thức khác nhau theo một quy trình đã được xác định nhằm “giúp học sinh có kiến thức về nghề nghiệp và có khả năng lựa chọn nghề nghiệp trên cơ sở kết hợp nguyện vọng, sở trường của cá nhân với nhu cầu sử dụng lao động của xã hội2.

1. Nội dung chủ yếu

Hình 1. Sơ đồ Quy trình hướng nghiệp

Quy trình hướng nghiệp gồm 3 bước:

Bước 1: Là bước đầu tiên, quan trọng nhất cần làm trong hướng nghiệp là giúp cho học sinh trả lời được câu hỏi: Em là ai? trên cơ sở hướng dẫn học sinh khám phá bản thân qua những bài tập suy ngẫm, các bài trắc nghiệm và tư vấn cá nhân.

Bước 2: Giúp học sinh trả lời được câu hỏi: Em đang đi về đâu? trên cơ sở hướng dẫn học sinh tìm hiểu thông tin nghề nghiệp qua các bài tập tìm hiểu nghề qua trải nghiệm, qua các trang web và làm các bài tập phỏng vấn nghề nghiệp và được tư vấn cá nhân.

Bước 3 Giúp học sinh trả lời được câu hỏi: Làm sao để đi đến nơi em muốn tới? Trên cơ sở hướng dẫn, hỗ trợ học sinh lập kế hoạch nghề nghiệp để theo đó thực hiện nhằm đạt được mục tiêu nghề nghiệp.

Quy trình hướng nghiệp có thể được lặp đi lặp lại trong những giai đoạn khác nhau của cuộc đời mỗi người. Đặc điểm của quy trình hướng nghiệp là bước 1, bước 2 và bước 3 có ảnh hưởng, tác động qua lại chặt chẽ với nhau. Kết quả thực hiện bước trước là cơ sở để thực hiện bước sau. Ngược lại, kết quả thực hiện bước sau có thể giúp học sinh nhìn nhận, đánh giá lại kết quả thực hiện bước đã thực hiện trước đó để có sự bổ sung, điều chỉnh cho phù hợp. Ví dụ, sau khi lập kế hoạch nghề nghiệp (bước 3), học sinh có thể nhận ra mình chưa hiểu rõ về thị trường tuyển dụng lao động (bước 2) hoặc nhận ra mình chưa hiểu rõ về bản thân (bước 1). Trong trường hợp này, học sinh có thể quay trở lại thực hiện bước 2 hoặc bước 1 trước khi hoàn tất bước 3.

Ý nghĩa

  1.  

Quy trình hướng nghiệp là cơ sở quan trọng để xác định các công việc cần làm và các bước đi cụ thể trong CTHN nói chung, HĐGDNPT nói riêng. Đối với giáo viên NPT, quy trình hướng nghiệp giúp mỗi người nhìn thấy trước những nhiệm vụ GDHN cần thực hiện qua các chủ đề/ bài học trong chương trình NPT và bước đầu đưa ra được định hướng để tiến hành GDHN.

II. Lí thuyết cây nghề nghiệp

Nội dung chủ yếu

  1.  

Sở thích, khả năng, cá tính và giá trị nghề nghiệp của mỗi người đóng vai trò rất quan trọng trong việc chọn hướng học, chọn nghề phù hợp và nó được coi là phần “Rễ” của cây nghề nghiệp. Rễ có khỏe thì cây mới khỏe và ra hoa, kết trái như mong muốn của người trồng cây. Vì vậy, muốn lựa chọn nghề nghiệp phù hợp, trước hết phải hiểu rõ sở thích, khả năng, cá tính và giá trị nghề nghiệp của bản thân và phải dựa vào chính những hiểu biết này để lựa chọn nghề nghiệp. Nói cách khác là phải chọn nghề theo ”rễ” vì đây là yếu tố có ảnh hưởng mang tính quyết định tới sự kết trái của cây nghề nghiệp. Thực tế đã chứng minh, những người quyết tâm chọn nghề và theo đuổi nghề phù hợp với “rễ” sẽ có nhiều khả năng thu được những “quả ngọt” trong hoạt động nghề nghiệp như: Có cơ hội việc làm cao, được nhiều người tôn trọng, lương cao, công việc ổn định...

Hình 2. Mô hình lí thuyết cây nghề nghiệp

Ý nghĩa

  1.  

Lí thuyết Cây nghề nghiệp là lí thuyết quan trọng nhất trong hướng nghiệp vì lí thuyết này đã chỉ ra rằng, công việc đầu tiên cần làm trong CTHN là phải giúp cho học sinh nhận thức đầy đủ về bản thân để các em chọn được nghề phù hợp với “rễ”, tránh được tình trạng chọn nghề theo “quả”, chọn nghề theo cảm tính, theo ý kiến của người khác hoặc chọn nghề theo trào lưu chung.

Trong trường phổ thông, việc GDHN cho học sinh dựa vào lí thuyết cây nghề nghiệp rất quan trọng. Phần lớn các em khi được hỏi: “Vì sao em học ngành này hay thích nghề này?”, câu trả lời thường là: “Vì công việc này hiện đang được xem là nóng trong thị trường”, hay “ Vì cơ hội việc làm của công việc này cao”, hoặc “Công việc này trả lương tương đối cao so với các việc khác”… Những câu trả lời trên cho thấy những em học sinh đó đã chọn nghề theo “trái ”, không chọn nghề theo “rễ” của cây nghề nghiệp. Điều này là không nên bởi những “trái ngọt” của cây nghề nghiệp chỉ có được khi các em được làm công việc phù hợp với sở thích và khả năng của bản thân, hay còn gọi là “gốc rễ” của cây nghề nghiệp. Một công việc có thể được xem là rất thịnh hành không có nghĩa là ai học nó ra cũng có việc làm tốt. Doanh nghiệp chỉ tuyển dụng những người lao động có đam mê và khả năng phù hợp với vị trí công việc chứ không tuyển dụng người nào đó chỉ vì họ đã tốt nghiệp ở ngành nghề “hot”. Việc học và tốt nghiệp một ngành nào đó không đủ để chứng minh là người đó có khả năng làm việc tốt ở vị trí tuyển dụng. Trong thực tế đã có không ít trường hợp người lao động bị cho thôi việc sau thời gian thử việc do không chứng minh được sở thích nghề nghiệp, khả năng của bản thân ở vị trí công việc được giao.

Hiện nay, HĐGDNPT được chính thức đưa vào chương trình giáo dục phổ thông nhằm tạo cơ hội cho học sinh được thử sức mình trong một nghề cụ thể, qua đó giúp học sinh hiểu rõ hơn sở thích nghề nghiệp, khả năng của bản thân để có cơ sở chọn nghề tương lai phù hợp. Vì vậy, một trong những yêu cầu mà giáo viên dạy NPT cần quan tâm thực hiện ngay từ khi bắt đầu tổ chức HĐGDNPT cho đến khi kết thúc khóa học là giúp học sinh xác định được và hiểu rõ sở thích nghề nghiệp, khả năng của bản thân thông qua việc thực hiện những nội dung nghề cụ thể trong chương trình.

Ví dụ: Khi dạy các bài học trong phần 3 - Hệ soạn thảo văn bản Word - giáo viên cần làm cho học sinh thấy được bản thân có thực sự hứng thú đối với các công việc soạn thảo văn bản hay không? Khả năng lĩnh hội và hình thành các kĩ năng cơ bản khi làm việc với hệ soạn thảo văn bản Word đạt đến mức nào? Bản thân có khả năng rèn luyện để có năng lực sử dụng máy vi tính thành thạo, đảm bảo gõ bàn phím đạt tốc độ 60 - 70 từ/ phút đối với tiếng Việt, 50 từ/ phút đối với tiếng Anh hay không?...

Chú ý: Trong môi trường của giáo dục phổ thông, vì thời gian có hạn, do đó HĐGDNPT chỉ cần giúp các em tìm hiểu “sở thích nghề nghiệp” và “khả năng nghề nghiệp”, hay hai rễ của cây nghề nghiệp, là đủ để giúp các em những quyết định chọn ngành, ban học, nơi đào tạo, hay nghề nghiệp tương lai.

III. Lí thuyết mật mã Holland

1. Nội dung chủ yếu

Lí thuyết Mật mã Holland (Holland codes) được phát triển bởi nhà tâm lí học John Holland (1919-2008). Ông là người nổi tiếng và được biết đến rộng rãi nhất qua nghiên cứu lí thuyết lựa chọn nghề nghiệp. Ông đã đưa ra lí thuyết RIASEC dựa trên 8 giả thiết, trong đó có 5 giả thiết cơ bản và một số luận điểm rất có giá trị trong hướng nghiệp như sau:

1/ Bất kì ai cũng thuộc vào một trong 6 kiểu người đặc trưng sau đây: Realistic (R)- tạm dịch là người thực tế; Investigate (I)- tạm dịch là nhà nghiên cứu; Artistic (A)- Nghệ sĩ; Social (S)- tạm dịch là người công tác xã hội; Enterrising (E)- Tạm dịch là người dám làm; Conventional (C) – tạm dịch là người tuân thủ. 6 chữ cái của 6 kiểu người đặc trưng gộp là thành chữ RIASEC.

Những người thuộc cùng một kiểu người có sở thích tương đối giống nhau: Người mang code S rất thích tiếp xúc với người và thấy khó khăn khi tiếp xúc với vật thể; người code E thì thích tiếp xúc với dữ liệu và người, trong khi kiểu người có code I lại thích tiếp cận với ý tưởng và vật thể; người code C thích tiếp xúc với dữ liệu và vật thể; người code A thích tiếp xúc với ý tưởng và người.

2/ Có 6 loại môi trường tương ứng với 6 kiểu người nói trên. Môi trường tương ứng với kiểu người nào thì kiểu người ấy chiếm đa số trong số người thành viên của môi trường ấy. Ví dụ: môi trường có hơn 50% số người có code S trội nhất thì đó là môi trường loại S.

3/ Ai cũng tìm được môi trường phù hợp cho phép mình thể hiện được kĩ năng, thái độ và hệ thống giá trị của mình

4/ Thái độ ứng xử của con người được quy định bởi sự tương tác giữa kiểu người của mình với các đặc điểm của môi trường. Ví dụ, người mang code A được tuyển chọn vào môi trường A sẽ dễ dàng cảm thông với người xung quanh, mau chóng bắt nhịp với công việc, được đồng nghiệp tin yêu và có nhiều cơ hội thành công trong công việc.

5/ Mức độ phù hợp giữa một người với môi trường có thể được biểu diễn trong mô hình lục giác Holland 3.

Có 4 mức phù hợp giữa kiểu người và loại môi trường: kiểu người nào làm việc trong môi trường nấy là mức phù hợp cao nhất, ví dụ như kiểu người A làm việc trong môi trường A; người nào làm việc trong môi trường cận kề với kiểu người của mình (cùng một cạnh của lục giác), ví dụ như R-I (người kiểu R làm việc trong môi trường I) là mức độ phù hợp thứ nhì; người nào làm việc trong môi trường cách 1 đỉnh của lục giác, ví dụ I-C (kiểu người I làm việc trong loại môi trường C) sẽ có mức phù hợp thứ 3; còn kiểu ít phù hợp nhất là khi kiểu người và loại môi trường nằm ở 2 đỉnh đối xứng trong lục giác Holland, ví dụ R-S hay E-I hay A-C4.

 

Hình 3. Mô hình lục giác Holland

 

Từ những giả thiết của lí thuyết Holland trên, có thể rút ra 2 kết luận sau:

1/ Hầu như ai cũng có thể được xếp vào một trong sáu kiểu tính cách và có sáu môi trường hoạt động tương ứng với 6 kiểu tính cách, đó là: Nhóm kĩ thuật (KT); Nhóm nghiên cứu (NC); Nhóm nghệ thuật (NT); Nhóm xã hội (XH); Nhóm quản lí (QL); Nhóm nghiệp vụ (NV)5.

2/ Nếu một người chọn được công việc phù hợp với tính cách của họ, thì họ sẽ dễ dàng phát triển và thành công trong nghề nghiệp. Nói cách khác: Những người làm việc trong môi trường tương tự như tính cách của mình, hầu hết sẽ thành công và hài lòng với công việc.

Trong thực tế, tính cách của nhiều người không nằm gọn trong một nhóm tính cách mà thường là sự kết hợp của 2 nhóm tính cách, có khi còn nhiều hơn, ví dụ: NC – KT, NT – XH... Do đó, khi tìm hiểu bản thân có thể phải xem xét ở nhiều hơn một nhóm tính cách.

Giáo viên đọc nội dung của từng nhóm tính cách theo lí thuyết mật mã Holland ở phụ lục 2 để hiểu sâu hơn về lí thuyết này.

2. Ý nghĩa

Lí thuyết mật mã Holland có liên quan rất chặt chẽ với Lí thuyết cây nghề nghiệp vì sử dụng Lí thuyết mật mã Holland là một trong những cách giúp học sinh biết được sở thích, khả năng nghề nghiệp của bản thân và những nghề nghiệp phù hợp nhanh nhất, dễ làm nhất.

Vì lẽ đó, trước khi tổ chức cho học sinh học NPT, nhà trường và giáo viên NPT nên tổ chức cho học sinh làm trắc nghiệm tìm hiểu sở thích, khả năng của bản thân theo Lí thuyết mật mã Holland. Kết quả tìm hiểu bản thân là cơ sở quan trọng để các em dựa vào đó lựa chọn NPT theo học cho phù hợp.

Ví dụ: Những học sinh có kết quả làm trắc nghiệm thuộc nhóm Kĩ thuật, bản thân lại có mơ ước trở thành kĩ sư điện thì có thể đăng kí học nghề Điện dân dụng; Những học sinh có kết quả làm trắc nghiệm thuộc nhóm Nghiệp vụ và nhóm Xã hội, bản thân lại có mơ ước trở thành Thư kí văn phòng thì có thể đăng kí học nghề Tin học văn phòng…

Chú ý: Khi sử dụng trắc nghiệm theo lí thuyết mật mã Holland, các thầy cô nên chú ý về những trường hợp ngọai lệ, gồm có a. người thích hợp cả 6 nhóm, b. người không thuộc về nhóm nào, c. người thuộc về hai nhóm đối nghịch nhau. Để chuẩn bị cho việc tư vấn những trường hợp này, thầy cô nên đọc sâu và nghiên cứu kỹ hơn lí thuyết này trong phần phụ lục, và nên làm việc riêng với các em thuộc trường hợp ngọai lệ để tránh làm đa số học sinh bị lọan. Quan trọng nhất là thầy cô phải nhớ rằng trắc nghiệm là một công cụ để khơi gợi suy nghĩ và nhận thức của mỗi người, chứ không phải là câu trả lời chính xác cho các câu hỏi về hướng nghiệp.

IV. Lí thuyết hệ thống6

 

Hình 4. Mô hình lí thuyết hệ thống

Nội dung chủ yếu

  1.  

Mỗi người là một cá thể sống trong một hệ thống phức tạp, đa dạng và chịu nhiều ảnh hưởng từ các yếu tố khác nhau ở những thời điểm khác nhau. Ở mức độ cá nhân, những ảnh hưởng ấy đến từ bên trong, gồm khả năng, sở thích, cá tính, giá trị, tuổi tác, giới tính, sức khỏe… Ở mức độ xã hội, những ảnh hưởng ấy là cha mẹ, các thành viên khác trong gia đình, bạn bè, hệ thống truyền thông, mạng xã hội… Và, ở mức độ môi trường xã hội, những tác động, ảnh hưởng ấy là vị trí địa lý, hoàn cảnh kinh tế - xã hội, toàn cầu hóa… Những quyết định trong quá khứ của mỗi người sẽ ảnh hưởng đến hiện tại, và những quyết định trong thời điểm hiện tại sẽ ảnh hưởng đến tương lai. Sự ảnh hưởng hoặc tác động của từng yếu tố chủ quan và khách quan đối với quyết định chọn nghề của mỗi người không như nhau vì nó còn tùy thuộc vào từng thời điểm, vào nhận thức, điều kiện, khả năng và phản ứng của mỗi người trước từng yếu tố.

Ví dụ 1: Một học sinh có sở thích, khả năng thiết kế, cắt may quần áo thời trang nhưng nhà trường không có đủ điều kiện về thiết bị và giáo viên để tổ chức dạy nghề này nên em không thể học NPT cắt may được. Tuy nhiên, em vẫn vui vẻ đăng kí học NPT khác mà nhà trường tổ chức dạy và nuôi ước mơ sẽ thi vào ngành thiết kế thời trang sau khi tốt nghiệp THPT.

Ví dụ 2: Một học sinh có học lực trung bình, rất thích học nghề điện dân dụng để sau khi tốt nghiệp phổ thông có thể học tiếp để trở thành thợ điện, nhưng cha mẹ em không đồng ý, yêu cầu em phải tập trung vào học văn hóa để thi vào trường đại học quản trị - kinh doanh. Điều này không chỉ ảnh hưởng tới tâm thế học NPT của em học sinh này trong thời điểm hiện tại mà có thể còn ảnh hưởng lâu dài tới con đường nghề nghiệp của em trong tương lai.

Ý nghĩa

  1.  

Từ lí thuyết hệ thống cho thấy, việc học NPT cũng như việc chọn nghề của học sinh không chỉ phụ thuộc vào yếu tố chủ quan mà chịu sự ảnh hưởng/ tác động mạnh mẽ của các yếu tố khách quan như tác động từ gia đình, ý kiến của bạn bè, trào lưu của xã hội, giới tính, phong tục tập quán ở địa phương…

Vì vậy, khi tổ chức HĐGDNPT, giáo viên NPT nên quan tâm tìm hiểu những tác động/ ảnh hưởng đang xảy ra trong hệ thống, nhất là những tác động ảnh hưởng trực tiếp đến việc đăng kí và tâm thế học NPT của học sinh cũng như những hệ quả mà những tác động ấy mang lại. Từ đó đưa ra các biện pháp GDHN nhằm giúp học sinh nhận thức được ý nghĩa của việc học NPT và tích cực tham gia học tập, rèn luyện để làm cho quá trình tìm hiểu nghề đạt hiệu quả.

Chú ý: Giáo viên dạy NPT cần chú ý thêm hai điểm trong lí thuyết hệ thống. Một là các đặc tính của mỗi cá nhân, theo thời gian, sẽ ảnh hưởng đến các yếu tố của xã hội và cộng đồng bên ngòai. Nói một cách khác, những đặc điểm bên trong mỗi cá nhân tương tác và ảnh hưởng các đặc điểm bên ngòai của xã hội và ngược lại. Ví dụ, những người lao động sinh vào thập niên 1980 sẽ có những giá trị nghề nghiệp khác với thế hệ cha mẹ của họ, và do đó, khi họ đi làm một thời gian dài, vào những vị trí nằm quyền quyết định, họ sẽ từ từ thay đổi môi trường làm việc, phương pháp tuyển dụng, văn hóa làm việc, v.v. Hai là yếu tố may mắn đóng vai trò khá quan trọng trong lí thuyết hệ thống. Chúng ta sẽ nhắc đến yếu tố may mắn sâu hơn trong lí thuyết ngẫu nhiên có kế họach dưới đây.

V. Mô hình lập kế hoạch nghề

1. Nội dung chủ yếu

Mô hình lập kế hoạch nghề gồm 7 bước và được chia làm 2 phần: 3 bước tìm hiểu và 4 bước hành động theo sơ đồ trong hình 3 dưới đây:

Hình 5. Mô hình lập kế hoạch nghề

 

Ba bước tìm hiểu trong Mô hình lập kế hoạch nghề:

Bước đầu tiên và quan trọng nhất là học sinh tìm hiểu bản thân để hiểu rõ sở thích, khả năng, cá tính và giá trị nghề nghiệp.

Bước thứ hai là học sinh tìm hiểu thị trường tuyển dụng lao động để biết những công việc, những nghề đang có ở thị trường trong vùng, quốc gia, và quốc tế; Yêu cầu của những nghề đó đối với người lao động; những nghề đang được xem là có tiềm năng trong tương lai; Những kĩ năng thiết yếu mà người lao động cần phải có khi tham gia hoạt động nghề...

Bước thứ ba là tìm hiểu những tác động/ ảnh hưởng tới bản thân các em khi chọn hướng học, chọn nghề, từ gia đình đến hoàn cảnh kinh tế xã hội bởi việc chọn hướng học, chọn nghề không phụ thuộc hoàn toàn vào bản thân học sinh mà còn chịu tác động/ ảnh hưởng của nhiều yếu tố khách quan, nhất là hoàn cảnh gia đình và điều kiện kinh tế - xã hội của địa phương, đất nước.

  •  
  •  
  •  

Sau khi hoàn tất ba bước tìm hiểu, học sinh có đủ kiến thức để bắt đầu bốn bước hành động, gồm:

Xác định mục tiêu nghề nghiệp của bản thân;

Ra quyết định nghề nghiệp;

Thực hiện quyết định nghề nghiệp;

Đánh giá xem quyết định nghề nghiệp có thực sự phù hợp với bản thân các em hay không.

  •  
  •  
  •  
  •  

Tất cả bảy bước trên có thể được hiện theo bất cứ thứ tự nào, miễn sao phù hợp với nhu cầu, khả năng của mỗi học sinh.

Để hiểu rõ hơn mô hình lập kế hoạch nghề, giáo viên có thể xem sơ đồ vòng nghề nghiệp:

Hình 6. Sơ đồ vòng nghề nghiệp

2. Ý nghĩa

Mô hình lập kế hoạch nghề là một trong các lí thuyết cơ bản của CTHN cho học sinh phổ thông vì nó chỉ ra các bước đi và những công việc cụ thể mà những người làm CTHN và học sinh cần theo đó để thực hiện. Nếu ví CTHN như công trình xây dựng một ngôi nhà thì mô hình lập kế hoạch nghề sẽ là móng của ngôi nhà đó. Vì lẽ đó, hiểu rõ về các bước trong mô hình lập kế hoạch nghề và tổ chức thực hiện từng bước, nhất là 3 bước tìm hiểu có hiệu quả sẽ tạo cơ sở vững chắc cho việc chọn hướng học, chọn ngành, chọn nghề của học sinh.

HĐGDNPT là một hình thức GDHN có nhiều lợi thế trong việc giúp học sinh thực hiện bước tìm hiểu nghề và thị trường tuyển dụng lao động của nghề trong mô hình xây dựng kế hoạch nghề nghiệp. Vì vậy, nếu giáo viên chú ý thực hiện các yêu cầu, nội dung GDHN qua HĐGDNPT sẽ tác động rất tích cực vào kết quả thực hiện các bước, đặc biệt là bước 2 trong Mô hình lập kế hoạch nghề.

VI. Lí thuyết vị trí điều khiển

1. Nội dung chủ yếu

Lí thuyết vị trí điều khiển đưa ra 2 quan điểm sống:

1/ Quan điểm thứ nhất cho rằng cuộc đời của mỗi người là do chính bản thân người đó làm chủ và điều khiển. Do đó, họ có toàn quyền làm chủ cuộc sống, làm chủ suy nghĩ, nội tâm của mình

2/ Quan điểm thứ hai cho rằng cuộc đời của mỗi người là do vận mệnh đã sắp đặt sẵn và điều khiển. Do đó, họ luôn cho rằng mình có làm gì cũng không thay đổi được số mệnh và thường để người khác hoặc hoàn cảnh làm chủ vận mệnh của họ.

Có thể khái quát 2 quan điểm của Lí thuyết vị trí điều khiển trong sơ đồ sau:

Hình 7. Mô hình mô phỏng lí thuyết vị trí điều khiển

2. Ý nghĩa

Trong hướng nghiệp, vấn đề cơ bản được rút ra từ lí thuyết vị trí điều khiển là: có rất nhiều chuyện xảy đến trong cuộc đời mỗi người mà chúng ta không có khả năng tránh né hay điều khiển được. Ví dụ, ta sinh ra trong gia đình kinh tế khó khăn hay khá giả; Sinh sống ở một quốc gia giàu có hay chậm phát triển; Tai nạn đột nhiên xảy đến với ai đó khi họ đi ngoài đường... Nhưng, ta có toàn quyền quyết định cách ta phản ứng lại khi những chuyện ấy xảy ra. Nếu ta phản ứng một cách tích cực thì nó sẽ đem lại kết quả tích cực và ngược lại. Nói cách khác, chúng ta không điều khiển được ngoại cảnh hay những yếu tố khách quan, nhưng chúng ta có 100% khả năng điều khiển được nội tâm mình. Vì vậy, ta có khả năng tự làm chủ vận mệnh của mình.

Ví dụ: Trong chương trình giáo dục phổ thông hiện nay, tất cả học sinh lớp 11 đều tham gia HĐGDNPT theo hình thức tự chọn bắt buộc. Việc tham gia học NPT của học sinh có thực sự hữu ích đối với bản thân các em hay không tùy thuộc rất nhiều vào cách suy nghĩ, phản ứng của mỗi em. Rất nhiều học sinh tham gia học nghề chỉ với suy nghĩ đơn giản: chương trình quy định học thì phải học. Các em tham gia học một cách miễn cưỡng, thiếu động lực. Do vậy, hiệu quả học NPT thường thấp. Học nghề xong mà nhiều em không biết rõ mình thực sự có khả năng đối với nghề này hay không? Yêu cầu của nghề đối với người lao động là gì? Thậm chí không vận dụng được những kiến thức, kĩ năng nghề đã học vào thực tiễn cuộc sống. Ngược lại, có những em rất hứng thú tham gia học NPT. Các em nghĩ rằng học NPT là biết thêm một nghề, là, điều kiện, cơ hội để học và làm những công việc hữu ích cho bản thân, gia đình như lắp đặt, sửa chữa đồ điện trong nhà, nấu ăn, làm bánh, thêu, đan, móc, may, làm hoa …Thực tế cho thấy, những em có phản ứng tích cực đối với việc học NPT như trên thường tham gia học NPT với tâm thế rất thoải mái, các em luôn thực hiện đầy đủ, sáng tạo các nội dung lí thuyết, thực hành và có nhu cầu sử dụng được những kiến thức, kĩ năng đã học vào cuộc sống thực tiễn.

Vì vậy, nếu giáo viên NPT hiểu rõ và vận dụng lí thuyết này trong quá trình tổ chức HĐGDNPT sẽ không cảm thấy bức xúc khi học sinh chưa nhiệt tình tham gia học NPT. Ngược lại, mỗi người sẽ nhìn thấy rõ hơn trách nhiệm của mình trong việc làm thay đổi nhận thức của học sinh đối với HĐGDNPT theo hướng tích cực, nhất là đối với những học sinh ở vùng sâu, vùng xa, những em có hoàn cảnh kinh tế khó khăn hoặc có hoàn cảnh gia đình phức tạp về tâm lí. Lí thuyết này giúp học sinh tìm ra niềm hy vọng từ bên trong khi các em tin rằng bản thân mình và suy nghĩ của mình sẽ ảnh hưởng tích cực đến cuộc đời mình. Nhờ đó, các em sẽ bắt đầu những bước đi vững chắc về một tương lai tốt đẹp.

VII. Lí thuyết ngẫu nhiên có kế hoạch

Lí thuyết ngẫu nhiên có kế hoạch (tạm dịch từ thuật ngữ planned happenstance theory) xuất hiện vào đầu những năm 2000. Giáo sư John Krumboltz, một trong các cha đẻ của thuyết này tin rằng: sự may mắn, hay sự ngẫu nhiên (tùy theo cách gọi của mỗi người) đóng vai trò rất quan trọng trong quá trình xây dựng kế hoạch nghề nghiệp của mỗi người.

1. Nội dung chủ yếu

Lí thuyết ngẫu nhiên có kế hoạch cho rằng, trong quá trình phát triển nghề nghiệp, sự may mắn không đến một cách ngẫu nhiên mà đến một cách có kế hoạch. Nói cách khác, sự may mắn không đến một cách tình cờ cho bất cứ một ai đó, mà nó chỉ đến với người tạo ra sự tình cờ/ may mắn đó. Và, điều mà thuyết này muốn hướng đến là: sự may mắn của một người không đến một cách tình cờ, ngẫu nhiên mà là kết quả của một quá trình khám phá, tham gia hoạt động, chia sẻ, phục vụ, v.v… Mỗi người hãy tự tạo ra sự tình cờ/ may mắn ấy trong quá trình phát triển nghề nghiệp của mình.

Ví dụ: Loan là một học sinh có sở thích, khả năng trong lĩnh vực nữ công gia chánh nhưng sức học chỉ đạt ở mức trung bình khá, dù em rất chăm chỉ học hành. Từ nhỏ, em đã rất thích quan sát và tham gia làm những công việc nấu ăn, khâu, vá, thêu thùa trong gia đình. Ở trường, mỗi dịp lớp tổ chức liên hoan, Loan luôn là một thành viên tích cực trong nhóm xây dựng thực đơn và chế biến các món ăn theo thực đơn. Khi bắt đầu vào lớp 11, nhà trường yêu cầu học sinh đăng kí vào các lớp học NPT. Loan đã đăng kí học lớp dạy nghề Nấu ăn ở TTKTTHHN mà trường Loan gửi học sinh sang đó học. Trong suốt quá trình tham gia học NPT, Loan luôn chịu khó học hỏi và thường đoạt giải trong các cuộc thi nấu ăn do trung tâm tổ chức. Lớp học NPT đã giúp Loan hiểu rõ hơn sở thích nghề nghiệp, khả năng của bản thân. Vì vậy, khi học đến lớp 12, mặc dù các bạn trong lớp đều đăng kí thi vào đại học, nhưng Loan vẫn quyết tâm đăng kí thi tuyển vào Trường cao đẳng nghề du lịch, Khoa Quản trị nhà hàng và dịch vụ ăn uống. Khi tốt nghiệp trường Cao đẳng nghề, với kết quả học tập tốt, Loan được nhận ngay vào làm đầu bếp cho một Khách sạn lớn tại tỉnh nhà. Đến nay, Loan đã trở thành đầu bếp giỏi với mức lương, thưởng hàng tháng cao. Loan luôn cảm thấy hạnh phúc và thỏa mãn trong nghề nghiệp.

Qua ví dụ nêu trên cho thấy, Loan chính là người tạo ra sự may mắn cho bản thân bởi chính em chứ không phải ai khác là người biết rõ sở thích, niềm đam mê, khả năng của bản thân; đã tích cực tham gia vào các hoạt động, nhất là HĐGDNPT để hiểu rõ hơn và phát triển niềm đam mê, khả năng của bản thân. Từ đó, đưa ra được quyết định chọn ngành học, chọn nghề phù hợp với bản thân.

2. Ý nghĩa

Lí thuyết ngẫu nhiên có kế hoạch có quan hệ chặt chẽ với lí thuyết vị trí điều khiển vì hai thuyết này đều chung một quan điểm: Nếu một người có niềm tin là họ có thể làm chủ cuộc đời mình thì nhất định sẽ tạo ra những kết quả tốt đẹp trong cuộc sống nói chung, hoạt động nghề nghiệp nói riêng.

Đối với học sinh cấp trung học, nhà trường và giáo viên chủ nhiệm có thể hướng dẫn các em áp dụng lí thuyết này theo những cách sau:

Học thật tốt những môn học mà em yêu thích. Tìm tòi, nghiên cứu, chịu khó tham gia các cuộc thi liên quan đến môn học đó (ví dụ thi học sinh giỏi, thi Olympic …). Bộc lộ khả năng về môn học ấy để giáo viên chủ nhiệm và giáo viên bộ môn thấy rõ.

Tham gia vào HĐGDNPT và các hoạt động ngoại khóa trong và ngoài nhà trường có liên quan đến sở thích và khả năng của mình. Trong lúc tham gia, hãy suy ngẫm và tự quan sát xem bản thân có sở thích, khả năng nào nổi trội, đồng thời chú ý rèn luyện những kĩ năng thiết yếu cho hoạt động nghề nghiệp sau này.

Vận dụng những kiến thức, kĩ năng đã học được qua các môn học và HĐGDNPT vào những công việc phù hợp với sở thích và khả năng của mình. Hăng hái tham gia trải nghiệm nghề để có cơ hội sử dụng, rèn luyện, và bộc lộ những khả năng sẵn có.

Hãy luôn nhớ: sự may mắn của một người không đến một cách tình cờ, ngẫu nhiên mà là kết quả của một quá trình khám phá, tham gia hoạt động, chia sẻ, phục vụ, vv.

  •  
  •  
  •  
  •  

 

1 Để giúp học sinh trả lời các câu hỏi nhằm hoàn tất 3 bước trong quy trình hướng nghiệp, giáo viên NPT có thể tham khảo thêm từ tài liệu bổ sung sách giáo viên hoạt động giáo dục hướng nghiệp lớp 9 và lớp 10, 11 và 12

2 Nguồn: Điều 3- Nghị định 75/ 2006/NĐ-CP Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Giáo dục

3 Xem sách The Self- Directed Search and Related Holland-Career Materials của Robert C. Reardonvà Janet G.Lenz, PAR 1998, Lutz, trang 16

4 Đã có những cuộc thử nghiệm khoa học đo độ tương quan giữa kiểu người với loại môi trường; kết quả như sau: R-I= 0.26; R-A= 0.21; R-S=0.02; R-E= 0.20; R-C=0.22; A-C=0.02; v.v… Xem sách Self-Directed Search Technical Manual của J. Holland, Fritzsche, Powell, PAR 1994, Odessa, trang 4

5 Thuyết RIASEC được TS. Nguyễn Ngọc Tài- Viện nghiên cứu giáo dục Thành phố Hồ Chí Minh nghiên cứu và chuyển sang tiếng Việt thành 6 nhóm: Nhóm Kĩ thuật (KT)- tương ứng với kiểu R, Nhóm Nghiên cứu (NC) )- tương ứng với kiểu I, Nhóm Nghệ thuật (NT) )- tương ứng với kiểu A, Nhóm Xã hội (XH) )- tương ứng với kiểu S, Nhóm Quản lí (QL) )- tương ứng với kiểu E và Nhóm Nghiệp vụ (NV) )- tương ứng với kiểu C. Trong tài liệu này sẽ dùng 6 nhóm tính cách đã được Việt hóa theo kết quả nghiên cứu của TS. Nguyễn Ngọc Tài.

 

6 Nguồn: McMahon, M., & Patton, W. (2006) Career Development and Systems Theory. The Netherlands: Sense Publishers

 

 

17