DMCA.com Protection Status

MỘT SỐ VẤN ĐỀ TRỌNG TÂM VỀ CÔNG TÁC TƯ TƯỞNG VĂN HOÁ CỦA ĐOÀN  quan tâm

Được đăng bởi: Trần Việt Thao

Cập nhật lúc 16:21 ngày 03/01/2018

MỘT SỐ VẤN ĐỀ TRỌNG TÂM

VỀ CÔNG TÁC TƯ TƯỞNG VĂN HOÁ CỦA ĐOÀN

( Nguồn: http://violet.vn/hdhh/present/show/entry_id/2627517 ).


Chuyên đề 1:

CÔNG TÁC GIÁO DỤC CỦA ĐOÀN


Đoàn TNCS Hồ Chí Minh với chức năng cơ bản: Trường học xã hội chủ nghĩa của thanh niên, đội dự bị tin cậy của Đảng Cộng sản Việt Nam, người đại diện chính đáng lợi ích hợp pháp của thanh niên, đã và đang đóng vai trò là chỗ dựa về chính trị và tinh thần của lớp trẻ. Chính vì thế, giáo dục luôn luôn là nhiệm vụ cơ bản, trọng yếu của tổ chức Đoàn các cấp từ Trung ương đến cơ sở. Các câu hỏi được đặt ra là Đoàn Thanh niên Cộng sản cần giáo dục ai? Giáo dục cái gì? Giáo dục như thế nào? Câu trả lời đã được V.I Lênin chỉ rõ trong tác phẩm “Nhiệm vụ của Đoàn Thanh niên” (1920), cho đến nay vẫn giữ nguyên giá trị thời sự của nó: Đoàn Thanh niên có nhiệm vụ giúp Đảng Cộng sản tiến hành giáo dục cộng sản cho thế hệ bằng những phương pháp thích hợp.... Và “không bao giờ được học vẹt chủ nghĩa cộng sản”. Trong tư tưởng Hồ Chí Minh đã có những luận điểm hết sức quan trọng về giáo dục thanh thiếu nhi, nhi đồng:

- Giáo dục thế hệ trẻ là sự nghiệp “trồng người”.

- Bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau là một việc rất quan trọng và rất cần thiết.

- Lý tưởng của thanh niên Việt Nam là độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội.

- Phát triển toàn diện nhân cách thế hệ trẻ.

- Dân chủ hoá, xã hội hoá sự nghiệp giáo dục thế hệ trẻ.

- Kết hợp chặt chẽ giáo dục và tự giáo dục.

- Giáo dục thế hệ trẻ thông qua hành động cách mạng.

- Giáo dục thanh thiếu nhi vừa là một khoa học, vừa là một nghệ thuật.

Vì vậy, giáo dục thanh thiếu nhi theo lý tưởng của Đảng là chức năng cơ bản, là nhiệm vụ trọng tâm xuyên suốt và là mục tiêu của các hoạt động, các phong trào thanh thiếu nhi. Công tác giáo dục của Đoàn phải góp phần củng cố niềm tin, bồi đắp lý tưởng, đạo đức cách mạng, lối sống văn hoá và ý thức pháp luật cho thanh thiếu nhi, đồng thời huy động các lực lượng xã hội tham gia giáo dục thanh thiếu nhi.

I. GIÁO DỤC LÝ TƯỞNG CÁCH MẠNG.

1. Các khái niệm.

Lý tưởng cách mạng là mục tiêu cao đẹp, là lẽ sống, là mục đích sống của thanh niên, là ước vọng của tuổi trẻ muốn vươn tới cái hay, cái đẹp, cái tiên tiến nhất của cuộc sống. Lý tưởng vừa là mục tiêu cao cả mà con người hướng tới, vừa là động lực thúc đẩy con người hành động.

Lý tưởng cách mạng của thanh niên Việt Nam ngày nay không thể tách rời lý tưởng cách mạng của Đảng, của dân tộc. Đó là: Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Lý tưởng cách mạng bao gồm 4 nội dung chính đó là:

* Lý tưởng chính trị:

Lý tưởng chính trị của thanh niên Việt Nam hiện nay là độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, là niềm tự hào dân tộc quyết vươn lên chiến thắng đói nghèo, lạc hậu, góp sức mình vào sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, của dân tộc, vì dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh, vì tương lai tươi sáng của tuổi trẻ. Lý tưởng chính trị là hạt nhân cốt lõi của lý tưởng cách mạng.

* Lý tưởng đạo đức:

Lý tưởng đạo đức là niềm tin và ý thức chấp hành các chuẩn mực của cộng đồng và xã hội, vươn tới một nhân cách hoàn thiện, có đạo đức, trách nhiệm, sống chung thuỷ, trung thực, giản dị, lành mạnh và thân ái.

* Lý tưởng nghề nghiệp:

Lý tưởng nghề nghiệp là hướng tới một nghề nghiệp, một chuyên môn hợp năng lực sở trường, có lợi cho xã hội, gia đình, bản thân. Lý tưởng của thanh niên ngày nay là học tập, rèn luyện chuyên môn, nghề nghiệp để làm người có ích phụng sự Tổ quốc, phụng sự nhân dân như lời Bác Hồ dạy và lập nghiệp cho gia đình, cho bản thân.

* Lý tưởng thẩm mỹ:

Lý tưởng thẩm mỹ chính là cách nhìn nhận và xu thế hướng vươn tới cái đẹp, cái đúng đắn, chân, thiện, mỹ, cái đẹp bản chất trong cuộc sống và trong nghệ thuật.

2. Nội dung lý tưởng cách mạng trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá.

2.1. Độc lập dân tộc, bao gồm các nội dung sau:

- Hội nhập và hợp tác quốc tế các bên cùng có lợi đang là xu thế của thế giới hiện nay. Tuy nhiên, hoà bình và ổn định mới chỉ là nguyện vọng của loài người tiến bộ, vì vậy vấn đề bảo vệ chủ quyền, lãnh thổ vẫn được đặt ra như một nội dung chủ yếu, không thể xem nhẹ trong lý tưởng cánh mạng.

- Trước nguy cơ “diễn biến hoà bình” của chủ nghĩa đế quốc thì độc lập dân tộc hiện nay còn là vấn đề giữ vững sự ổn định chính trị, đảm bảo sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng, đoàn kết các thành phần dân tộc anh em trong cộng đồng dân tộc Việt Nam, bảo đảm quyền dân tộc tự quyết và tính độc lập tự chủ trong hợp tác toàn diện, đa phương với nước ngoài.

- Trong điều kiện hiện nay, tinh thần tự lực, tự cường, giữ gìn và phát huy bản lĩnh và bản sắc dân tộc đang trở thành một yêu cầu cấp bách, để hội nhập mà không bị hoà tan, để không tự đánh mất mình trong hợp tác, giao lưu quốc tế. Lòng tự hào dân tộc cần được phát huy mạnh mẽ hơn bao giờ hết.

- Độc lập dân tộc còn thể hiện rõ nét ở ý chí vươn lên không cam chịu đói nghèo, lạc hậu, vươn lên sánh vai cùng các cường quốc năm châu; đồng thời không bị “nô lệ về mặt tinh thần, tư tưởng” như Hồ Chủ tịch đã dạy. Phải giải thoát thế hệ trẻ khỏi tâm lý vọng ngoại, chuộng ngoại, sùng ngoại quá mức. Phải làm cho họ hiểu rằng, yêu nước ngày nay trước hết là yêu gia đình, làng xóm, quê hương của mình, sẵng sàng đem tài năng và sức lực để phục vụ quê hương.

- Đối với lớp trẻ ngày nay, giữ nước trước hết là giữ lấy bản thân mình khỏi sa vào cạm bẫy của âm mưu diễn biến hoà bình, vào các tệ nạn xã hội đang có chiều hướng gia tăng, vào các trạng thái cực đoan do cơ chế thị trườmg tác động...

2.2. Dân chủ được hiểu như sau:

- “Dân chủ là nhân dân làm chủ” (Mác). Chủ nghĩa xã hội mà Đảng và Nhà nước ta đang xây dựng là một xã hội trong đó: Bao nhiêu lợi ích đều là của dân; bao nhiêu quyền hạn đều là của dân; công việc đổi mới, xây dựng là trách nhiệm của dân; quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân (Hồ Chủ tịch).

- Dân chủ luôn luôn gắn liền với lợi ích. Người lao động muốn làm chủ tự nhiên, xã hội và bản thân, thì trước hết phải đánh giá đúng giá trị sức lao động của mình và làm chủ sức lao động của mình. Đây là điều khó khăn nhất, nhưng cũng là điểm then chốt nhất. Đây là tiền đề cho việc lựa chọn nghề nghiệp, việc làm (hướng nghiệp), đảm bảo vừa làm lợi cho mình, vừa giúp ích cho xã hội, làm giàu cho đất nước.

- Dân chủ luôn gắn liền với pháp luật và kỷ cương, với những quy ước của cộng đồng (hương ước, quy ước khu dân phố....). Trong tác động cơ chế thị trường đã hình thành những thứ “luật giang hồ”, “luật rừng”, “phép vua thua lệ làng” một cách tự phát. Do đó càng cần tăng cường kỷ cương phép nước.

- Quá trình dân chủ hoá theo phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra” dần dần đi vào cuộc sống. Chính phủ đã ban hành quy chế dân chủ ở cơ sở là một bước tiến mới trong quá trình dân chủ hoá.

- Quá trình dân chủ hoá đời sống xã hội diễn ra trong cuộc đấu tranh chống lại những trào lưu dân chủ tư sản, bằng các con đường khác nhau đang tràn vào nước ta (dân chủ hình thức, dân chủ cực đoan, tự do vô chính phủ, nhân quyền phi giai cấp...). Bên cạnh đó cũng phải đề phòng chủ nghĩa quan liêu, độc đoán chuyên quyền Nhà nước các cấp và bệnh quan liêu xa rời thực tế của các cơ quan đoàn thể quần chúng.

2.3. Vấn đề công bằng xã hội phải được thiết lập từng bước cùng với sự tăng trưởng kinh tế, theo những nội dung chủ yếu sau đây:

- Toàn dân đều được hưởng thành quả của công cuộc đổi mới. Một mặt, Đảng và Nhà nước khuyến khích việc làm giàu chính đáng và hợp pháp. Mặt khác, phải chăm lo xoá đói, giảm nghèo, tiến đến xoá nghèo.

- Ở nước ta, công bằng xã hội cần phải tập trung phát triển nông thôn, vì đại đa số dân cư sống ở nông thôn.

- Đặt trọng tâm của chính sách vào giải quyết việc làm, chăm lo, bồi dưỡng, phát huy nhân tố con người, coi con người là động lực to lớn nhất của sự nghiệp đổi mới, coi ấm no, tự do, hạnh phúc của con người là mục đích cao nhất.

- Đảm bảo nguyên tắc phân phối theo lao động, theo năng suất, chất lượng và hiệu quả sản xuất, công tác. Đảm bảo phân bố hợp lý tư liệu sản xuất, vì đó là điều kiện để tạo ra thu nhập. Chủ trương giao đất, giao rừng cho nông dân sử dụng lâu dài, xây dựng xí nghiệp cộng nghiệp ở các vùng nông thôn xa xôi, là những chủ trương tạo lập sự công bằng xã hội.

- Tạo sự công bằng về cơ hội giáo dục cơ bản, đào tạo nghề, chăm sóc sức khoẻ, hưởng thụ các thành tựu văn hoá, cơ hội để có việc làm, tự tạo việc làm phù hợp với năng lực, sở trường của từng người.

- Thực hiện công bằng xã hội không có nghĩa là cào bằng, là thực hiện chủ nghĩa bình quân, là chia đều của cải không căn cứ vào năng suất, chất lượng và hiệu quả sản xuất, công tác, kinh doanh, dịch vụ.

- Việc thực hiện các vấn đề xã hội phải theo phương châm xã hội hoá, phát huy sức mạnh của Nhà nước, của cộng đồng và của mỗi công dân.

2.4. Vấn đề bình đẳng xã hội:

- Cùng với sự phát triển kinh tế, thực hiện dần dần việc giải phóng phụ nữ, ngay ở những vùng nông thôn, trên cơ sở đẩy mạnh chính sách dân số-kế hoạch hoá gia đình, đưa tiến bộ khoa học công nghệ vào sản xuất, kinh doanh, đổi mới chính sách cán bộ nữ, thực hiện bình đẳng giới.

- Bình đẳng giữa các thành phần dân tộc trong cộng đồng dân tộc Việt Nam là cơ sở một hệ thống các chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước.

- Bình đẳng giữa các tôn giáo trên cơ sở hiến pháp và pháp luật của Nhà nước, đảm bảo vừa tốt đạo, vừa đẹp đời, tôn trọng sự tự do tín ngưỡng và không tín ngưỡng của nhân dân; đồng thời kiên quyết chống lại tệ nạn mê tín dị đoan, lợi dụng tôn giáo vào những mục đích chính trị, phản động.

- Bình đẳng giữa các công dân về nghĩa vụ và quyền lợi trước pháp luật. Về bản chất, chế độ xã hội mới không cho phép bất kỳ ai đứng ngoài hay đứng trên pháp luật.

- Bình đẳng giữa các thành phần kinh tế là một vấn đề cần được giáo dục trong quá trình lập nghiệp của lớp trẻ ở giai đoạn quá độ lên chủ nghĩa xã hội.

- Điều cần nhấn mạnh là chủ nghĩa Mác không bao giờ đặt vấn đề bình đẳng về mặt năng lực, sở trường (có tính tự nhiên, bẩm sinh), mà chỉ đặt vấn đề bình đẳng về mặt xã hội trong những quan hệ chủ yếu nhất.

2.5. Chủ nghĩa nhân đạo chân chính:

- Trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta, hoạt động nhân đạo được xem là phương tiện góp phần khắc phục mặt trái của cơ chế thị trường, làm lành mạnh hóa môi trường xã hội. Nhân đạo được coi là mục tiêu trong hoạt động của các tổ chức chính trị - xã hội, là nhiệm vụ chung của toàn xã hội.

- Giữa chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa nhân đạo có một điểm tương đồng: giải phóng con người khỏi cảnh đói nghèo, đau khổ, bất hạnh. Một xã hội công bằng, văn minh, trước hết phải là một xã hội nhân đạo.

- Hoạt động nhân đạo tích cực hướng tới khơi dậy tiềm năng tự giúp đỡ, tạo vị thế chủ động cho người được trợ giúp chứ không đặt họ ở vị thế bị động, trông chờ, ỷ lại.

- Không thể nhân đạo với những hành vi vô nhân đạo (tham nhũng, làm tha hoá nhân cách....).

3. Những biện pháp chủ yếu của Đoàn trong công tác giáo dục lý tưởng cách mạng cho thanh niên.

3.1. Tăng cường tuyên truyền, giáo dục chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh cho thanh niên.

Tích cực đổi mới và nâng cao hiệu quả công tác giáo dục chính trị, đảm bảo vai trò định hướng chính trị của Đoàn, làm cho chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh thấm đượm trong tư tưởng, lý tưởng của thanh niên, góp phần củng cố lòng tin của thanh niên vào đường lối độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội.

- Tập trung chỉ đạo các cơ sở Đoàn thực hiện tốt việc học tập 6 bài lý luận chính trị cơ bản phù hợp với trình độ của đoàn viên ở mỗi đối tượng, lĩnh vực, tăng cường phát hành tài liệu sinh hoạt (tờ tin) của các cấp tới cơ sở nhất là cấp chi đoàn.

- Tham mưu, phối hợp với cấp uỷ Đảng địa phương mở các lớp học chính trị ngắn hạn cho đoàn viên, trước hết là đoàn viên ưu tú, cán bộ Đoàn.

- Tổ chức học tập, quán triệt các chủ trương, Nghị quyết của Đảng, chính sách của Nhà nước, các Nghị quyết, chương trình kế hoạch công tác của Đoàn cho đoàn viên, thanh niên với nhiều hình thức đa dạng, thiết thực như tài liệu hỏi, đáp, thi thuyết trình, hùng biện, thi viết theo các chuyên đề.. ...

- Tăng cường các biện pháp kịp thời nắm bắt diễn biến tư tưởng của thanh niên qua phiếu thăm dò dư luận; qua sinh hoạt Đoàn, Hội. Cán bộ Đoàn, đoàn viên phải là người gần gũi thanh niên, thực hiện “nghe thanh niên nói và nói cho thanh niên nghe”.

- Phối hợp chặt chẽ với ngành tư pháp, các cơ quan thực thi pháp luật tổ chức các hoạt động giáo dục luật pháp cho thanh thiếu nhi như: Tổ chức các lớp tập huấn, thi tìm hiểu, tọa đàm trao đổi về nội dung một số luật quan trọng liên quan nhiều đến thanh niên; thành lập và duy trì hoạt động của các Câu lạc bộ pháp luật, Câu lạc bộ phòng chống tệ nạn trong thanh niên.... Những nơi có điều kiện thành lập các phòng tư vấn, trung tâm tư vấn về luật pháp cho tuổi trẻ, đưa nội dung học tập, tìm hiểu luật pháp vào sinh hoạt thường xuyên ở chi đoàn, chi hội.

3.2. Tăng cường giáo dục nâng cao hiểu biết cho thanh thiếu nhi về các giá trị văn hoá truyền thống; lòng tự hào dân tộc, góp phần giữ gìn và phát huy bản sắc văn hoá Việt Nam; tiếp thu tinh hoa văn hoá nhân loại.

- Với truyền thống hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước, với 54 dân tộc anh em, đó là những cơ sở cho ta thấy kho tàng văn hoá Việt Nam là vô giá, Đoàn Thanh niên có trách nhiệm tuyên truyền, giới thiệu để thanh niên hiểu rõ văn hoá của từng dân tộc nói riêng và văn hoá Việt Nam nói chung.

- Tổ chức các hoạt động cho thanh thiếu niên tham gia tôn tạo, giữ gìn các di tích lịch sử, văn hoá, di tích cách mạng. ... Thành lập các nhóm ca khúc chính trị, ca khúc cách mạng, đội tuyên truyền viên trẻ.... tới vùng cao, sâu, xa để phục vụ cho thanh thiếu nhi và nhân dân. Từng bước khôi phục các hình thức sinh hoạt văn hoá văn nghệ dân gian nói riêng ở cơ sở và phong trào văn hoá văn nghệ nói chung ở cơ sở.

- Giới thiệu, phân tích cho thanh thiếu niên thấy được những yếu tố tiêu cực, lạc hậu, mê tín dị đoan trong các hoạt động mê tín dị đoan cần sớm loại bỏ như: Lên đồng, bói toán, đốt vàng mã... Thanh niên phải đi đầu và vận động nhân dân chống các hủ tục lạc hậu, các thói quen sống thiếu văn hoá trong cộng đồng.

- Phổ biến, hướng dẫn và tạo điều kiện cho thanh niên biết hưởng thụ, tiếp thu tinh hoa văn hóa của nhân loại, xoá bỏ văn hoá độc hại. Đồng thời có biện pháp giáo dục cho thanh niên khắc phục khuynh hướng sùng ngoại trong cách sống và hưởng thu văn hoá. Những cuộc toạ đàm, trao đổi về đời sống âm nhạc (nhạc dân tộc, ca khúc cách mạng...). sân khấu, phim ảnh.... do Đoàn tổ chức sẽ giúp cho thanh niên có cách nhìn nhận, đánh giá đúng hơn về văn hoá dân tộc, biết tiếp thu có chọn lọc văn hoá nhân loại phù hợp với phong tục Việt Nam; tạo cho thanh niên có sức đề kháng trước các hiện tượng : “xâm lăng về văn hoá”. Đồng thời, Đoàn cần tích cực tham gia và đề xuất các giải pháp để quản lý văn hoá tại địa phương, đơn vị.

- Tăng cường giáo dục các giá trị văn hoá truyền thống của dân tộc và định hướng trong việc tiếp thu tinh hoa văn hoá nhân loại cho thanh thiếu nhi, góp phần giữ gìn, phát huy bản sắc và làm giàu văn hoá Việt Nam. Phát triển các đội, nhóm tuyên truyền ca khúc cách mạng, các đội tuyên truyền thanh niên, các cuộc thi sáng tác, biểu diễn ca khúc chính trị, thi trang phục truyền thống, thi hát dân ca, tham gia khôi phục các lễ hội văn hoá truyền thống đồng thời giáo dục cho thanh thiếu nhi biết tôn trọng các giá trị truyền thống, tham gia tôn tạo và gìn giữ các di tích lịch sử, các công trình văn hoá công cộng.

3.3. Đẩy mạnh các hoạt động giáo dục đạo đức cách mạng, nếp sống, lối sống cho thanh niên.

Tập trung giáo dục cho thanh niên lòng yêu lao động, tôn trọng người lao động, biết hưởng thụ chính đáng, chống lối sống thực dụng, hưởng thụ một chiều, kế thừa và phát huy các giá trị đạo đức truyền thống, có thái độ, hành vi ứng xử văn hoá; có lối sống, nếp sống công tác, lao động, sinh hoạt lành mạnh, văn minh, giản dị, tiết kiệm, xây dựng nếp sống văn hoá trong gia đình, giữ vững thuần phong mỹ tục, đấu tranh chống lối sống ích kỷ, coi thường luân thường đạo lý trong gia đình và xã hội.

Giáo dục đạo đức cách mạng, lối sống, nếp sống mới góp phần xây dựng một thế hệ trẻ nhân ái, sống có văn hoá, trung thực, hết lòng vì cộng đồng, vì Tổ quốc Xã hội chủ nghĩa. Nội dung đạo đức cách mạng của người thanh niên trong giai đoạn hiện nay theo lời Bác Hồ dạy là: “Cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư”; phương châm hành động của mỗi thanh niên là “mình vì mọi người, mọi người vì mình”. Mỗi cấp bộ Đoàn cần cụ thể hoá nội dung và phương châm xuyên suốt đó trong công tác giáo dục đạo đức cách mạng cho thanh niên.

- Đa dạng hoá các hình thức giáo dục lối sống thông qua sinh hoạt tập thể, các phương tiện thông tin đại chúng, các hoạt động biểu dương, tôn vinh người tốt việc tốt ở các cấp. Tổ chức các hình thức tiếp xúc giữa các điển hình với đông đảo đoàn viên, thanh niên.

- Tích cực tham gia thực hiện cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng cuộc sống mới ở khu dân cư” do Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam phát động.

- Xây dựng qui ước nếp sống văn minh nơi cộng cộng, trong giao tiếp, trong gia đình... giúp thanh thiếu niên có cơ sở để điều chỉnh thái độ, hành vi của mình. Hướng dẫn, giáo dục để thanh thiếu niên hiểu rõ sự tôn sư trọng đạo, kính già, yêu trẻ, biết yêu thương con người... là nét đẹp của dân tộc từ ngàn xưa. Một số loại hình đã được các cơ sở tổ chức thực hiện trong thời gian qua như: Gặp mặt con cháu thảo hiền; giúp đỡ bạn nghèo và hoạt động xã hội, từ thiện khác cần tiếp tục phát huy trong thời gian tới.

- Vận động thanh niên thực hành tiết kiệm. Tổ chức diễn đàn “ cần kiệm là nếp sống đẹp” trong thanh thiếu niên với nội dung tiết kiệm thời gian cho học tập, lao động, tiết kiệm đầu tư cho sản xuất, chống xa hoa, lãng phí, tệ nạn xã hội. Thanh niên đi đầu trong việc cưới mới vui tươi, tiết kiệm. Các cấp bộ Đoàn cần xây dựng mẫu “đám cưới mới” và các sinh hoạt tập thể trong thanh niên để rút kinh nghiệm và tuyên truyền rộng rãi.

- Tiếp tục đẩy mạnh các hoạt động xã hội của Đoàn, Hội, Đội, giúp các vùng nghèo, người nghèo, gia đình chính sách... qua đó giáo dục lòng nhân ái, yêu thương giúp đỡ lẫn nhau trong thanh thiếu niên.

3.4. Giáo dục pháp luật và ý thức công dân cho thanh thiếu nhi:

Giáo dục luật pháp và ý thức công dân cho thanh thiếu nhi góp phần hình thành lối sống Sống và làm việc theo hiến pháp và pháp luật, giúp đoàn viên, thanh niên thực hiện tốt hơn quyền và nghĩa vụ công dân, tích cực tham gia xây dựng Nhà nước pháp quyền. Các cấp bộ Đoàn cần phổ biến rộng rãi hiến pháp và pháp luật trong thanh thiếu nhi, tuyên truyền, hướng dẫn sâu các luật theo chuyên ngành hay đối tượng cho những đối tượng và lĩnh vực thích hợp, hợp đồng vận động thanh niên gương mẫu chấp hành luật pháp, tham gia xây dựng pháp luật, đẩy mạnh giáo dục ý thức chấp hành kỷ luật lao động, tuân thủ nội qui, qui định của tổ chức, đoàn thể và cộng đồng.

3.5. Giáo dục ý thức quốc phòng toàn dân, nâng cao cảnh giác cách mạng và trách nhiệm công dân bảo vệ Tổ quốc:

Giúp cho mỗi thanh niên nhận thức rõ bảo vệ Tổ quốc trong giai đoạn hiện nay là bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, bảo vệ an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội và nền văn hoá; bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa; bảo vệ sự nghiệp đổi mới và lợi ích quốc gia, dân tộc. Đoàn tập trung giáo dục nâng cao nhận thức cho đoàn viên thanh niên về đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước, về tình hình nhiệm vụ mới, về nghĩa vụ tham gia xây dựng nền quốc phòng toàn dân và xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân, lực lượng dân quân tự vệ, dự bị động viên, về diễn biến hoà bình của kẻ thù...

3.6. Tăng cường giáo dục tinh thần quốc tế chân chính cho thanh thiếu nhi:

Góp phần xây dựng cho tuổi trẻ Việt Nam bản lĩnh chính trị vững vàng, chủ động, sáng tạo trong hội nhập kinh tế quốc tế. Tăng cường thông tin về tình hình quốc tế trong các sinh hoạt Đoàn, giúp cho đoàn viên thanh niên hiểu rõ bản chất các sự kiện và các quá trình quốc tế; nhận thức đầy đủ về thời cơ và thách thức trong quá trình hội nhập kinh tế thế giới.

4. Nâng cao chất lượng công tác chủ đạo, công tác nắm tình hình tư tưởng và dư luận xã hội trong thanh niên.

- Tăng cường đầu tư cho công tác cán bộ theo hướng: Nâng cao năng lực thực tiễn (tuyên truyền, vận động, thuyết phục) cho đội ngũ cán bộ chuyên trách, đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên các cấp của Đoàn, đồng thời phát triển đội ngũ cộng tác viên (nhất là các cựu chiến binh, các lão thành cách mạng, các nhà hoạt động chính trị, xã hội tiêu biểu....); củng cố tổ chức, bộ máy làm công tác tư tưởng văn hoá của Đoàn; ưu tiên đầu tư nguồn lực và phối hợp

- Phối hợp chặt chẽ và phát huy cao độ lực lượng báo chí, xuất bản của Đoàn tham gia có hiệu quả trong công tác tư tưởng, văn hoá. Các cấp bộ Đoàn cần phát động việc mua, đọc báo Đoàn, Hội, Đội đến tận cơ sở.

- Xây dựng các mô hình, điển hình, chỉ đạo điểm; tập trung tuyên truyền giáo dục cho các đối tượng thanh niên, nhất là thanh thiếu nhi trường học; thanh niên lực lượng vũ trang, lấy đó làm hạt nhân để gây ảnh hưởng, lan toả tới các đối tượng thanh thiếu niên khác.

- Khai thác mọi nguồn lực để tổ chức các hoạt động giáo dục thanh niên, tận dụng và phát huy tối đa cơ sở vật chất hiện có của Đoàn, Hội, Đội để làm công tác giáo dục. Từng bước trang bị các cơ sở vật chất thiết yếu phục vụ cho công tác này như: Hệ thống âm thanh, tài liệu, đặc điểm.... Đặc biệt coi trọng phát huy hiệu quả hệ thống trung tâm văn hoá thể thao thanh niên, các nhà thiếu nhi, các trung tâm giáo dục thanh thiếu nhi.

-Thường xuyên đánh giá công tác nắm tình hình tư tưởng và dư luận xã hội trong thanh niên của các cấp bộ đoàn, trên cơ sở đó tổ chức hướng dẫn nghiệp vụ nắm và xử lý thông tin về tư tưởng và dư luận xã hội trong thanh niên cho cán bộ Đoàn các cấp.

- Kịp thời nắm, xử lý thông tin về tình hình tư tưởng và dư luận xã hội trong thanh niên, (nhất là những khu vực nhạy cảm) thông qua điều tra khảo sát, giao ban dư luận xã hội định kỳ các cấp. .... đảm bảo thông tin khách quan, khoa học, chính xác với diễn biến tình hình thực tế. Thực hiện nghiêm quy định thông tin, báo cáo về tình hình tư tưởng và dư luận xã hội của thanh niên trong hệ thống Đoàn.

- Tập trung xây dựng lực lượng nòng cốt để nắm tình hình tư tưởng và dư luận xã hội trong thanh niên ở cơ sở.

II. GIÁO DỤC TRUYỀN THỐNG DÂN TỘC VÀ TRUYỀN THỐNG CÁCH MẠNG CHO THANH THIẾU NHI.

1. Khái niệm, ý nghĩa, mục đích:

1.1 Khái niệm truyền thống.

Truyền thống là những tập tục, thói quen và nói chung là những kinh nghiệm xã hội được hình thành từ lâu đời trong lối sống và nếp nghĩ của con người, được truyền lại từ thế hệ này sang thế hệ khác.

Truyền thống có nhiều cấp độ khác nhau. Có truyền thống gia đình, truyền thống của từng địa phương, đơn vị, truyền thống cách mạng, truyền thống dân tộc. Nguên tắc chung của việc giữ gìn và phát huy truyền thống là phải kế thừa sự biện chứng với 4 nội dung: Một là, loại bỏ những yếu tố tiêu cực, phản tiến bộ của quá khứ (tập tục lạc hậu, tàn dư tư tưởng phong kiến, tâm lý sản xuất nhỏ). Hai là, giữ lại những yếu tố tích cực, tiến bộ (tinh thần yêu nước, lao động cần cù sáng tạo, nhân đạo cao cả). Ba là, ngay những yếu tố tích cực, tiến bộ đó cũng không giữ lại nguyên xi, mà phải cải biến đi cho phù hợp với điều kiện mới, hoàn cảnh mới. Bốn là, các thế hệ mới phải sáng tạo ra những yếu tố hoàn toàn mới mà các thế hệ cha anh hoặc không có khả năng, hoặc không có điều kiện để thực hiện.

1.2. Ý nghĩa giáo dục truyền thống.

Thanh niên là bộ phận quan trọng của dân tộc, là lực lượng xung kích và sáng tạo của cách mạng, là lực lượng dự bị chiến đấu của Đảng, nên cần chuẩn bị tốt về mọi mặt. Giáo dục truyền thống cho thế hệ mới luôn luôn là một nhiệm vụ quan trọng của các thế hệ cha anh, của Đảng Cộng sản. Bác Hồ thường xuyên chăm lo giáo dục truyền thống dân tộc và truyền thống cách mạng cho thế hệ trẻ. Trước khi đi xa người căn dặn Đảng ta không ngừng chăm lo đào tạo lớp người kế tục sự nghiệp cách mạng.

1.3. Mục đích giáo dục truyền thống.

Giáo dục truyền thống cho thanh niên nhằm mục đích giúp thanh niên hiểu biết sâu sắc quá khứ gian khổ, đau thương nhưng anh dũng và vinh quang của dân tộc, của Đảng, để thanh niên tự hào, tin tưởng, nhận rõ giá trị của cuộc sống hiện tại, nâng cao tinh thần yêu nước xã hội chủ nghĩa và tinh thần quốc tế chân chính, xây dựng thái độ lao động mới, ý thức tự lập tự cường, tinh thần trách niệm xã hội đối với tương lai của dân tộc, tiếp tục sự nghiệp của lớp người đi trước, xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội và bảo vệ vững chắc Tổ quốc xã hội chủ nghĩa.

Giáo dục truyền thống cho thế hệ trẻ còn nhằm đảm bảo sự kế tục và thống nhất giữa các thế hệ cách mạng Việt Nam.

2. Những nội dung cơ bản của truyền thống cần bồi dưỡng giáo dục cho thanh niên.

2.1. Truyền thống tốt đẹp của dân tộc.

Trong những năm chuẩn bị cho Cách mạng Tháng Tám, mở đầu bài học vỡ lòng về cách mạng cho cán bộ trẻ, Bác Hồ căn dặn: “Dân ta phải biết sử ta. Cho tường gốc tích nước nhà Việt Nam”.

“Gốc tích nước nhà Việt Nam”- Truyền thống dựng nước và giữ nước của dân tộc ta, phải là cơ sở đầu tiên cho việc hình thành tư tưởng tình cảm của tuổi trẻ. Truyền thống tốt dẹp của dân tộc ta được kết tinh thành những phẩm chất sau đây:

- Yêu nước nồng nàn, bất khuất, kiên cường và mưu trí trong đấu tranh cho độc lập và tự do.

- Tinh thần nhân đạo cao cả: Thương người như thể thương thân, lá lành đùm lá rách.

- Truyền thống hiếu học.

- Lao động cần cù, sáng tạo và tinh thần lạc quan yêu đời

2.2. Truyền thống cách mạng của Đảng ta.

Đảng ta ra đời đã đánh dấu một bước ngoặt vĩ đại của cách mạng Việt Nam, mở đầu thời đại mới của dân tộc- thời đại của cách mạng dân tộc dân chủ và tiến lên chủ nghĩa xã hội. Hơn 70 năm qua, được tôi luyện và thử thách trong những cuộc chiến đấu quyết liệt với kẻ thù, Đảng ta đã liên tục chiến thắng và trưởng thành vượt bậc, xây dựng nên những truyền thống vô cùng quý báu:

- Tuyệt đối trung thành với chủ nghĩa Mác - Lênin, với lợi ích của giai cấp công nhân và của dân tộc.

- Vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin và kinh nghiệm cách mạng thế giới vào tình hình cụ thể của nước ta, đề ra đường lối chính trị và phương pháp cách mạng đúng đắn, sáng tạo, độc lập, tự chủ và tổ chức thực hiện thắng lợi đường lối đó.

- Đoàn kết thống nhất trong Đảng, làm cơ sở để đoàn kết toàn dân, đoàn kết các lực lượng cách mạng trong từng thời kỳ lịch sử.

- Luôn luôn liên hệ mật thiết với quần chúng. Phát huy quyền làm chủ của nhân dân lao động và phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tôc.

- Kết hợp nhuần nhuyển chủ nghĩa yêu nước với chủ nghĩa quốc tế chân chính.

2.3. Đời hoạt động vĩ đại của Bác Hồ:

Hồ Chí Minh là người sáng lập, rèn luyện Đảng Cộng sản Việt Nam, lãnh tụ kính yêu của giai cấp công nhân và của dân tộc Việt Nam, nhà chiến sỹ xuất sắc, nhà hoạt động lỗi lạc của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế và phong trào giải phóng dân tộc. Chủ tịch Hồ Chí Minh là người Bác kính yêu của thanh niên, thiếu nhi Việt Nam và thế giới, Bác Hồ là biểu tượng của các giá trị cao đẹp nhất của dân tộc và của nhân loại.

Hồ Chủ tịch là tấm gương chói lọi về tinh thần cách mạng triệt để, chí khí đấu tranh kiên cường, bất khuất, toàn tâm, toàn ý phục vụ Đảng, phục vụ nhân dân, tận tuỵ hi sinh, suốt đời phấn đấu vì sự nghiệp giải phóng dân tộc, giải phóng nhân loại.

Đạo đức cao quý của Bác là trung với Đảng, hiếu với dân, cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, khiêm tốn giản dị. Người yêu tha thiết nhân dân lao động, gần gũi, tin tưởng vào khả năng cách mạng của quần chúng.

Bác Hồ đặc biệt quan tâm đến việc đào tạo, bồi dưỡng thế hệ trẻ thành người kế tục trung thành, xuất sắc sự nghiệp cách mạng vẻ vang của Đảng và của dân tộc.

Tư tưởng Hồ Chí Minh chính là sự vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin vào hoàn cảnh cụ thể của Việt Nam. Người đồng thời là nhà văn hoá lớn của thời đại.

Hình ảnh Bác Hồ, lý tưởng và sự nghiệp cao cả, đạo đức cách mạng sáng ngời của Người mãi mãi là tấm gương chói lọi và là nguồn cổ vũ lớn lao đối với thế hệ trẻ nước ta.

2.4. Truyền thống cách mạng của Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh và thế hệ trẻ nước ta:

Trong ngọn lửa đấu tranh cách mạng sôi nổi và liên tục của hơn 70 năm qua, dưới sự lãnh đạo, giáo dục trực tiếp của Đảng, của Bác Hồ, Đoàn Thanh niên và thế hệ trẻ nước ta từ lớp này đến lớp khác được tôi luyện, trưởng thành đã phát huy những truyền thống tốt đẹp của dân tộc và xây dựng nên những truyền thống vẻ vang. Những cống hiến của Đoàn và thế hệ trẻ Việt Nam xứng đáng với Huân chương Sao vàng, Huân chương Hồ Chí Minh, danh hiệu Anh hùng Lực lượng Vũ trang Nhân dân và nhiều phần thưởng cao quý khác mà Đảng và Nhà nước ta đã trao tặng.

Truyền thống cách mạng của Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh và thế hệ trẻ nước ta ngày nay là nguyện tiếp tục phát huy những truyền thống quý báu của thế hệ đi trước, đó là:

- Truyền thống yêu nước nồng nàn, trung thành tuyệt đối với sự nghiệp của Đảng, gắn bó sống còn với lợi ích dân tộc, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa.

- Truyền thống xung kích cách mạng, xung phong tình nguyện, không ngại hy sinh gian khổ, sẵn sàng đảm nhận và hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ mà Đảng và nhân dân giao phó.

- Truyền thống đoàn kết, tinh thần tương thân tương ái và nhân đạo cao cả.

- Truyền thống hiếu học, ham hiểu biết, có ý chí vượt khó, cần cù, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, có hoài bão lớn.

Cùng với việc giáo dục thanh niên những nội dung nêu trên cần làm cho tuổi trẻ hiểu biết sâu sắc về truyền thống anh hùng của những người trẻ tuổi ở nước ta. Pháy huy truyền thống tốt đẹp của tuổi trẻ Phù Đổng, Hai Bà Trưng, Bà Triệu, Trần Quốc Toản, Nguyễn Huệ..... ngày nay 5 thế hệ thanh niên Việt Nam đã kế tục nhau sáng lập Đảng, làm cuộc cách mạng kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ, xây dựng Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

2.5. Truyền thống của Quân đội nhân dân Việt Nam anh hùng:

Quân đội nhân dân Việt Nam là hình ảnh sáng ngời khí phách, trí tuệ, lòng dũng cảm là tâm hồn Việt Nam trong thời đại mới. Đó là đội quân được thừa kế và phát huy những truyền thống anh hùng của dân tộc; được xây dựng theo quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin; lớn lên trong sự yêu thương, chăm sóc của Đảng, của Bác Hồ, được trưởng thành trong cuộc chiến đấu lâu dài, gian khổ và đã chiến thắng vẻ vang, đánh bại các cuộc chiến tranh xâm lược của những tên đế quốc phản động đầu sỏ của thời đại. Tuổi trẻ cả nước thường xuyên học tập và phát huy truyền thống của Quân đội anh hùng: “Trung với Đảng, hiếu với dân, nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng”.

3. Hình thức, phương pháp giáo dục truyền thống.

Ở nước ta truyền thống của dân tộc và của cách mạng có giá trị to lớn và giữ vai trò trong sự nghiệp giáo dục thế hệ trẻ. Song muốn cho giáo dục truyền thống có hiệu quả phải có những hình thức, phương pháp phong phú, sinh động và thích hợp với từng lứa tuổi, từng đối tượng thanh niên cụ thể và với từng hoàn cảnh sinh hoạt và công tác của thanh niên.

3.1. Tổ chức thực hiện tốt chương trình giáo dục lịch sử:

Tổ chức thực hiện tốt chương trình giáo dục lịch sử ở trường phổ thông. Tiến tới thực hiện chương trình giáo dục những vấn đề cơ bản có hệ thống về lịch sử Đảng, lịch sử Đoàn cho đoàn viên, thanh niên và thiếu nhi.

3.2. Tổ chức tốt những ngày kỷ niệm lớn:

Nhân những ngày kỷ niệm lớn, tổ chức những đợt sinh hoạt truyền thống sinh động, phù hợp với nội dung ngày kỷ niệm và yêu cầu giáo dục truyền thống. Đợt sinh hoạt truyền thống có những nội dung sau đây:

- Mời các anh hùng, các chiến sỹ, các đồng chí cách mạng lão thành, cựu cán bộ Đoàn, các gia đình có công với cách mạng, những công nhân có thành tích, các tướng lĩnh, văn nghệ sỹ, vận động viên, những người nổi tiếng... kể chuyện hoặc đối thoại với thanh niên.

- Tổ chức đoàn viên, thanh niên sưu tầm, ghi chép lịch sử địa phương, đơn vị; lịch sử Đảng, Đoàn ở địa phương, đơn vị, lịch sử những người anh hùng; lịch sử các trận đánh; xây dựng nhà truyền thống, phòng lưu niệm, phòng Bác Hồ ở cơ sở.

- Tổ chức triển lãm, giới thiệu truyền thống địa phương, đơn vị tổ chức ngày hội truyền thống của địa phương hay của đơn vị mình.

- Tổ chức cho thanh niên đi du lịch tham quan tìm hiểu các di tích lịch sử và cách mạng, tổ chức “du khảo về nguồn”.

- Phân công các đơn vị, tổ chức thanh thiếu nhi nhận nhiệm vụ bảo quản, sửa sang các nghĩa trang liệt sĩ, các di tích cách mạng, chăm sóc thương binh và các gia đình có công với cách mạng, nuôi dưỡng, chăm sóc các Bà mẹ Việt Nam anh hùng.

- Tổ chức các đội viên, đoàn viên ưu tú được đứng gác danh dự các nghĩa trang liệt sỹ trong các ngày lễ lớn.

- Khuyến khích tổ chức các hình thức như viếng đặt hoa để tưởng nhớ và biết ơn các gia đình liệt sỹ nhân những dịp có ý nghĩa sâu sắc trong cuộc đời của tuổi trẻ như: Được kết nạp vào Đoàn, vào Đảng đi làm nghĩa vụ quân sự bảo vệ Tổ quốc, gia nhập đội ngũ giai cấp công nhân, lễ cưới v..v...

- Hoạt động giao lưu, kết nghĩa với các đơn vị lực lượng vũ trang.

- Tổ chức mitting, dạ hội kỷ niệm những ngày lễ lớn.

- Tổ chức hoạt động “Vì biên giới, hải đảo”, “Hiến máu nhân đạo”, trợ giúp đồng bào gặp thiên thai ....

- Từ những sinh hoạt truyền thống phong phú đó, từng bước hình thành đời sống tuổi trẻ với những ngày hội cách mạng, nghi lễ cách mạng, để thay thế những ngày hội, những nghi lễ, tập tục lạc hậu trước đây.

3.3. Thực hiện chế độ giáo dục truyền thống hằng năm:

- Sinh hoạt kỷ niệm ngày thành lập Đảng, ngày thành lập Đoàn và tháng thanh niên Việt Nam (tháng 3 hàng năm).

+ Tuyên truyền, cổ động: Thông tin thành tích chào mừng ngày kỷ niệm, những tư liệu lịch sử về Đảng, về Đoàn ở địa phương và cả nước. ... qua hệ thống khẩu hiệu, bản tin, phát thanh, báo tường, triển lãm những hình ảnh, hiện vật lịch sử Đảng, Đoàn.

+ Đẩy mạnh các phong trào thi đua, các hoạt động thanh niên tình nguyện thiết thực chào mừng ngày 3-2 và 26-3 và tháng thanh niên Việt Nam.

+ Tổ chức trọng thể lễ viếng và đặt hoa tại nghĩa trang liệt sỹ.

+ Tổ chức họp mặt thân mật với các đảng viên, cựu cán bộ Đoàn.

+ Thăm nhà truyền thống hoặc phòng truyền thống ở địa phương.

+ Mitting và dạ hội truyền thống.

- Đợt sinh hoạt truyền thống nhân ngày 30-4, 1-5, và 19-5.

+ Hoạt động tuyên truyền cổ động về chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ và ngày giải phóng hoàn toàn miền Nam.

+ Phong trào thi đua, tình nguyện của tuổi trẻ.

+ Tổ chức lễ viếng và đặt hoa tại nghĩa trang liệt sỹ.

+ Tham quan nơi đã diễn ra trận đánh của quân đội và dân quân tự vệ trong cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ.

+ Hoạt động giúp đỡ, chăm sóc thương binh liệt sỹ và gia đình bộ đội, thanh niên xung phong.

+ Tổ chức giao lưu với các anh hùng và cựu chiến binh ở địa phương.

+ Tuyên truyền cổ động giới thiệu về giai cấp công nhân Việt Nam và cuộc đời hoạt động của Bác Hồ.

+ Tham quan một cơ sở công nghiệp và những nơi có liên quan đến đời sống và hoạt động của Bác Hồ.

+ Hội thảo nghiên cứu di sản tư tưởng của Hồ Chí Minh.

+ Tìm hiểu về giai cấp công nhân Việt Nam và đời sống của Bác Hồ.

- Hoạt động truyền thống kỷ niệm Cách mạng tháng tám (19-8) và Quốc Khánh (2-9).

Đợt hoạt động này, Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh cùng các ngành, các đoàn thể ở cơ sở tổ chức những hoạt động chung.

- Ngày hội truyền thống tuổi trẻ anh hùng bảo vệ Tổ quốc: Từ ngày 15 tháng 11 đến ngày 25 tháng 12.

+ Hoạt động tuyên truyền cổ động giới thiệu lịch sử quân đội anh hùng.

+ Phong trào thi đua hành động cách mạng của tuổi trẻ.

+ Tổ chức trọng thể lễ viếng và đặt vòng hoa tại nghĩa trang liệt sỹ.

+ Tham quan nơi đã diễn ra trận đánh của quân đội và dân quân tự vệ trong cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ.

+ Hoạt động giúp đỡ, chăm sóc thương binh, liệt sỹ và gia đình bộ đội, thanh niên xung phong.

+ Họp mặt thân mật với các anh hùng, các tướng lĩnh, sỹ quan và cựu chiến binh ở địa phương.

+ Gặp gỡ đơn vị bộ đội, công an kết nghĩa.

+ Triển lãm hình ảnh “Bộ đội Cụ Hồ”.

+ Mitting, diễu hành và thi đấu các môn thể thao quốc phòng.

+ Đêm văn nghệ truyền thống.

+ Giao lưu với các đơn vị lực lượng vũ trang.

Giáo dục truyền thống dân tộc và truyền thống cách mạng cho thế hệ trẻ là một nhiệm vụ quan trọng của tất cả các ngành, của từng chi bộ, từng chi đoàn thanh niên cộng sản. Tổ chức Đoàn các cấp có trách nhiệm tổ chức phối hợp với các ngành, các đoàn thể theo một kế hoạch chung để tiến hành một cách thiết thực, cụ thể và đạt hiệu quả cao nhiệm vụ quan trọng này.




Chuyên đề 2:

PHƯƠNG PHÁP TUYÊN TRUYỀN MIỆNG

( Nguồn: http://violet.vn/hdhh/present/show/entry_id/2627517 ).


1. Một số vấn đề chung về tuyên truyền miệng

1.1 Khái niệm tuyên truyền miệng

Tuyên truyền miệng là một hình thức đặc biệt của tuyên truyền, được tiến hành thông qua sự giao tiếp trực tiếp giữa người tuyên truyền với đối tượng tuyên truyền, chủ yếu bằng lời nói trực tiếp.

1.2 Những ưu thế đặc trưng của tuyên truyền miệng

- Là sự giao tiếp trực tiếp để cung cấp và trao đổi thông tin nên sử dụng được mọi ưu thế của giao tiếp trực tiếp. Có thể giải thích được những vấn đề mà vì một lý do nào đó không thể đưa công khai trên các phương tiện thông tin đại chúng.

- Tuyên truyền miệng qua hình thức đối thoại giữa người nói với người nghe, là một hình thức tuyên truyền dân chủ nhất, thực hiện được chức năng thông tin cả 2 chiều, không mang tính áp đặt.

- Tuyên truyền miệng có thể sử dụng triệt để nhất ưu thế của ngôn ngữ nói và "kênh" phi ngôn ngữ.

- Tuyên truyền miệng có điều kiện và nhiều khả năng tiến hành một cách thường xuyên và rộng rãi ở nhiều nơi, trong các điều kiện khác nhau. Báo cáo viên có khả năng thích nghi với các điều kiện và hoàn cảnh cụ thể để tiến hành nhiệm vụ tuyên truyền được giao.

1.3 Những hạn chế của tuyên truyền miệng

- Lời nói có tính tuyến tính, chỉ đi một chiều, không quay trở lại. Vì vậy, người nói cần thận trọng, người nghe cần chú ý nếu không, không lấy lại được lời đã nói và không nghe được lời báo cáo viên đã nói.

- Phạm vi về không gian có giới hạn, do khả năng phát ra của lời nói trực tiếp (dù đã có phương tiện khuyếch đại) và khả năng tập hợp một số đông tại một địa điểm và thời điểm nhất định.

- Dễ chịu tác động của các yếu tố ngoại cảnh do tập trung đông người và ở các địa điểm khác nhau.

1.4 Những nguyên tắc cơ bản của tuyên truyền miệng

- Tính Đảng là nguyên tắc cơ bản hàng đầu của công tác tuyên truyền miệng. Khi tuyên truyền phải đúng với định hướng, chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước.

- Tính chiến đấu của công tác tuyên truyền nói chung và là ưu thế của tuyên truyền miệng nói riêng. Tuyên truyền miệng phải khẳng định và bảo vệ cái đúng, xây dựng những tư tưởng tình cảm lành mạnh, uốn nắn những quan điểm tư tưởng lệch lạc, đấu tranh chống các luận điểm phản tuyên truyền, các biểu hiện tiêu cực.

- Tính quần chúng: nội dung tuyên truyền, các biểu hiện tiêu cực, mối quan hệ giữa nhiệm vụ tuyên truyền đặt ra và yêu cầu, nguyện vọng, lợi ích của người nghe. Bác Hồ đã dạy "Người tuyên truyền bao giờ cũng phải tự hỏi viết cho ai xem, nói cho ai nghe".

- Tính khoa học, chân thực, khách quan: đòi hỏi tuyên truyền miệng phải nói đúng sự thật, không tránh né, không cực đoan, một chiều, làm cho mọi người hiểu rõ cơ sở khách quan, khoa học, có đủ căn cứ lý luận và thực tiễn để nâng cao sức thuyết phục, làm cho người nghe tin tưởng vào sự đúng đắn của vấn đề tuyên truyền đặt ra.

1.5 Phương châm tiến hành công tác tuyên truyền miệng

- Toàn Đoàn phải làm công tác tuyên truyền miệng. Trước hết, các cấp bộ Đoàn, cán bộ Đoàn phải tích cực làm công tác tuyên truyền miệng. Thông qua các chương trình công tác, đi thực tiễn cơ sở để chủ động tuyên truyền chủ trương, chính sách cho đoàn viên, thanh niên và nhân dân. Mọi cán bộ, đoàn viên phải chủ động nắm vững đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, Chủ trương, chương trình công tác của Đoàn để kịp thời thông tin, giải thích cho đoàn viên, thanh niên và nhân dân hiểu và thực hiện.

- Chủ động và tích cực phục vụ nhiệm vụ chính trị. Tuyên truyền phải đi trước một bước và phải dự báo được tình hình, tránh cho đoàn viên, thanh niên và nhân dân mắc vào những sai lầm tự phát. Phân tích và hướng dẫn dư luận xã hội là một trong những chức năng cơ bản của công tác tuyên truyền miệng.

- Nhạy bén, kịp thời. Bám sát tình hình thời cuộc, tình hình thực tiễn, những vấn đề mới nảy sinh để kịp thời tuyên truyền giải thích. Tình hình thế giới và trong nước có nhiều diễn biến phức tạp càng đòi hỏi phải chủ động, nhạy bén để nâng cao hiệu quả công tác tuyên truyền.

- Cụ thể, thiết thực. Tuyên truyền miệng phải cụ thể, thiết thực, có số liệu, tư liệu, sự kiện, căn cứ, lập luận rõ ràng, ngắn ngọn, súc tích, dễ hiểu, làm cho nội dung tuyên truyền trở nên phong phú, sinh động, hấp dẫn, gợi cảm, có sức thuyết phục cao, đáp ứng yêu cầu của đối tượng.

- Kết hợp xây và chống. Tuyên truyền miệng phải kết hợp hài hòa giữa xây và chống, giữa biểu dương cái tốt, cái mới phê phán cái sai, cái lạc hậu, khắc phục tính chất cực đoan một chiều, dẫn tới những hậu quả xấu của kết quả tuyên truyền.

- Thường xuyên, liên tục, có hệ thống. Tuyên truyền miệng phải tiến hành thường xuyên, liện tục, có hệ thống, vừa có những đợt tập trung cao điểm, vừa thường xuyên, liên tục, không để dứt quãng.

- Phối hợp nhiều hình thức, biện pháp và lực lượng. Tuyên truyền miệng phải kết hợp nhiều hình thức, phương pháp, sử dụng và phối hợp nhiều lực lượng, nhất là với các phương tiện thông tin đại chúng, hoạt động văn hóa văn nghệ và sinh hoạt, hội hợp...

2. Phương pháp và kinh nghiệm chuẩn bị đề cương một bài tuyên truyền miệng

Tuyên truyền miệng không chỉ là một khoa học mà còn là một nghệ thuật - nghệ thuật nói chuyện trước công chúng. Để có thể trở thành người nói giỏi, nói hay, người cán bộ Đoàn, người báo cáo viên, tuyên truyền viên không chỉ nắm vững cơ sở khoa học của hoạt động tuyên truyền miệng mà còn phải biết sử dụng những kỹ năng, kỹ xảo, nghiệp vụ chuẩn bị bài nói trước người nghe. Để chuẩn bị cho một bài nói, thường phải trả lời cho các câu hỏi: Nói để làm gì? Nói về vấn đề gì? Nói ở đâu, vào thời gian nào? Nói cho ai nghe? Lấy tài liệu nào, ở đâu để nói? Bố cục bài nói như thế nào?...

2.1. Xác định mục đích của bài nói

- Mục đích chung của công tác tuyên truyền là nâng cao nhận thức, hình thành niềm tin và cổ vũ hành động người nghe. Mục đích của bài nói bao giờ cũng cần đạt được 3 yêu cầu là:

- Nâng cao nhận thức,

- Xây dựng, củng cố niềm tin,

- Cổ vũ đi tới hành động.

Tuỳ theo mỗi nội dung và yêu cầu của đối tượng để xử lý mối quan hệ của 3 yêu cầu đó.

2.2. Xác định chủ đề bài nói

Chủ đề bài nói cần đáp ứng yêu cầu cơ bản: thoả mãn nhu cầu người nghe (tính thời sự, tính thiết thực, có thông tin mới), trong thời gian cho phép. Để xác định chủ đề bài nói, cần căn cứ vào 3 yếu tố sau:

- Yêu cầu tư tưởng của cấp uỷ theo chương trình kế hoạch.

- Yêu cầu của đối tượng tuyên truyền thông qua cơ quan, tổ chức "đặt hàng".

- Dựa vào kinh nghiệm và hiểu biết của báo cáo viên về đặc điểm đối tượng.

2.3. Tìm hiểu đặc điểm người nghe (đối tượng)

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói: "Công tác tuyên truyền phải cụ thể, thiết thực. Tuyên truyền cái gì? Tuyên truyền cho ai? Tuyên truyền để làm gì? Tuyên truyền cách thế nào?". Như vậy, muốn cho bài nói thành công, người cán bộ Đoàn, báo cáo viên, tuyên truyền viên phải đặt câu hỏi: nói cho ai nghe? "Ai" ở đây chính là đối tượng mà cán bộ tuyên truyền tác động đến. Phải nắm vững đối tượng mà cán bộ tuyên truyền tác động đến.

- Phải nghiên cứu đặc điểm về mặt xã hội: giai cấp, dân tộc, nghề nghiệp, học vấn, giới tính, tuổi tác... của người nghe.

- Nghiên cứu các đặc điểm về tư tưởng và tâm lý - xã hội: quan điểm, chính kiến, động cơ, khuôn mẫu tư duy, tâm trạng, trạng thái thể chất... của họ.

- Nghiên cứu về nhu cầu, thị hiếu thông tin: thái độ của người nghe đối với nguồn thông tin và nội dung thông tin; con đường, cách thỏa mãn thông tin của đối tượng.

Trên cơ sở đó mà lựa chọn nội dung, cách thức tuyên truyền cho phù hợp. Có như vậy mới đem lại hiệu quả cao cho bài nói chuyện.

- Tìm hiểu đối tượng có thể dựa trên 3 cách:

+ Tìm hiểu qua tổ chức, cá nhân người đến "đặt hàng", yêu cầu nói.

+ Tìm hiểu qua những báo cáo viên đã trình bày một lần với đối tượng đó.

+ Quan quan sát tại chỗ khi tiếp xúc với đối tượng, từ đó có sự điều chỉnh phù hợp.

2.4. Không gian, thời gian diễn ra buổi nói chuyện

a) Không gian diễn ra buổi nói chuyện

Đây là một vấn đề người tuyên truyền phải quan tâm bởi nó có ảnh hưởng đến hiệu quả tuyên truyền. Có thể có những trường hợp sau đây:

- Nói trong phòng họp với vài ba chục người nghe.

- Nói trong hội trường rộng.

- Nói ở ngoài trời.

Ngoài ra, cách bài trí trong phòng họp, trong hội trường, các yếu tố ngoại cảnh khác cũng tác động đến tâm lý người  nghe.

Báo cáo viên cần hỏi trước người "đặt hàng" để có thể chủ động nắm được những thông tin cơ bản về không gian buổi nói chuyện. Ví dụ, hỏi người mới nói về: nói ở đâu, khoảng bao nhiêu người nghe, có micrô không, có bảng không... Ngoài ra, khi bước vào hội trường, khi Ban Tổ chức còn chuẩn bị và giới thịêu, báo cáo viên cần tranh thủ quan sát để có sự điều chỉnh kịp thời.

b) Thời gian diễn ra buổi nói chuyện

Buổi nói chuyện diễn ra vào sáng, chiều hay tối cũng tạo nên những thuận lợi hoặc khó khăn cho việc nhận thông tin của người nghe. Thông thường vào buổi sáng người nghe tỉnh táo, tiếp thu thông tin tốt hơn; đầu giờ chiều người nghe thường mệt mỏi, buổi tối hay bị phân tán... Trong mỗi hoàn cảnh đòi hỏi người tuyên truyền phải quan tâm đến việc sắp xếp nội dung bài nói và phương pháp diễn đạt sinh động để phát huy hoặc khắc phục trạng thái tinh thần, tâm lý trên của đối tượng.

Ngoài ra, thời gian nói chuyện dễ bị điều chỉnh, thay đổi theo yêu cầu của người tổ chức. Ví dụ, khi đến nói hoặc đang nói người tổ chức mới đề nghị cho nghỉ sớm, không nghỉ giải lai, gắn thêm các công việc của cơ quan... Người báo cáo viên cũng cần nắm được các thông tin này sớm để chủ động điều chỉnh.

2.5. Thu thập, nghiên cứu và xử lý tài liệu

Trong điều kiện bùng nổ thông tin toàn càn hiện nay, bất cứ một lĩnh vực nào cũng có rất nhiều tài liệu. Vấn đề đặt ra với người tuyên truyền là thu thập, nghiên cứu, xử lý tài liệu thế nào cho hợp lý. Yêu cầu đặt ra là: tài liệu phải phục vụ chủ đề bài nói một cách sát hợp nhất. Quá trình nghiên cứu tài liệu là quá trình biến tri thức trong tài liệu thành nhận thức của người tuyên truyền để truyền đạt lại cho người nghe.

a) Chọn tài liệu

Nguồn tài liệu của báo cáo viên, tuyên truyền viên rất phong phú. Trước hết là các sách kinh điển của Mác, Lênin, Hồ Chí Minh, các văn kiện của Đảng, Nhà nước, của Đoàn. Người làm công tác tuyên truyền miệng phải có kiến thức, lý luận vững chắc và hệ thống về chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chính sách của Đảng, để trên cơ sở đó đáng giá, phân tích các sự kiện, hiện tượng được đề cập trong bài nói.

- Các loại từ điển, số liệu thống kê chính thức để tra cứu các khái niệm, khai thác số liệu cho bài nói.

- Các tạp chí nghiên cứu, báo chí, sách chuyên khảo phù hợp với nội dung tuyên truyền là nguồn tài liệu rất quan trọng. Qua các tài liệu này có thể thu thập khối lượng lớn kiến thức có hệ thống cho nội dung bài nói.

- Sổ tay tuyên truyền, sổ tay báo cáo viên là những tài liệu cung cấp nội dung và nghiệp vụ tuyên truyền rất thiết thực, bổ ích.

- Các bản tin nội bộ, tài liệu tham khảo (dùng cho báo cáo viên). Đặc biệt thông tin được cung cấp qua hội nghị báo cáo viên định kỳ là nguồn thông tin chính thống quan trọng. Báo cáo viên dựa vào đó để xây dựng bài nói.

- Ngoài ra, có thể sử dụng các băng ghi âm, ghi hình do các cơ quan có trách nhiệm cung cấp, các thông tin thu được nhờ nghiên cứu, tham quan thực tế các điển hình tiên tiến và các di tích lịch sử - văn hóa.

Tóm lại, báo cáo viên có thể dùng nhiều loại tài liệu, nhưng cần được theo các văn bản, tài liệu chính thống. Người tuyên truyền còn phải biết khai thác một nguồn tài liệu sẵn có, đó là vốn sống thực tế của bản thân. Song, khi sử dụng những nguồn tài liệu nói trên phải theo đúng quan điểm, đường lối của Đảng. Người cán bộ tuyên truyền phải chịu trách nhiệm về việc phát ngôn của mình.

Cán bộ tuyên truyền giỏi là người có vốn tri thức phong phú, vừa rộng, vừa sâu. Muốn vậy phải có ý thức tự tích luỹ thường xuyên, liên tục, bằng nhiều cách khác nhau.

b) Đọc và nghiên cứu tài liệu

- Đọc tài liệu: đầu tiên đọc lướt qua mục lục, lời chú, trên cơ sở đó hình thành nội dung, kết cấu bài nói. Sau đó đọc kỹ, có phần tích, đánh giá, suy nghĩ. Có thể đọc cả tài liệu phản diện để hiểu, phê phán, nâng cao tính chiến đấu cho bài nói.

- Ghi chép: ghi tóm tắt những điều đã đọc được. Có thể ghi chú thêm lời bình luận ra lề, hoặc bổ sung những ý kiến của mình khi ngôn ngữ của tài liệu quá cô đọng hoặc quá trừu tượng. Khi cần giữ lại ý kiến của tác giả một cách hoàn chỉnh có thể trích nguyên văn (ghi rõ tên tác giả, tác phẩm, nơi xuất bản, lần xuất bản, số trang).

Đối với người báo cáo viên, nên có cái túi hồ sơ phân loại theo vấn đề (kinh tế, chính trị, đối ngoại...) theo dõi đối tượng nghiên cứu (như về Trung Quốc, Nga, Mỹ...). Mỗi khi có thông tin gì về các nội dung đó, cần cắt, dán để vào trong túi, để khi có yêu cầu thì lấy ra đọc lại và xử lý.

c) Một số lưu ý khi sử dụng tài liệu

Quá trình thu thập, nghiên cứu, xử lý tài liệu đối với người tuyên truyền là quá trình nạp thông tin. Chọn và sắp xếp tài liệu theo trình tự lô gic và thời gian để hình thành đề cương. Chú ý chỉ sử dụng những tài liệu rõ ràng, chính xác.

Đọc, ghi chép và xử lý thông tin, đa thông tin vào "bộ nhớ" trong não của người tuyên truyền là điều hết sức quan trọng, bởi vì chỉ có liên tục tích luỹ mới có kiến thức rộng và sâu. Còn sử dụng những thông tin, tư liệu đã có lại là tài năng và nghệ thuật. Nghệ thuật ấy có được là nhờ vào bản lĩnh, khả năng, vào quá trình tích lũy, rèn luyện của báo cáo viên. Nó góp phần quan trọng vào thành công của bài nói.

2.6.  Xây dựng đề cương bài nói

Đề cương bài nói chính là dàn bài chi tiết thể hiện mục đích, yêu cầu và những nội dung cơ bản của bài nói, là quá trình sắp xếp trên văn bản để người báo cáo viên căn cứ vào đó trình bày những vấn đề định nói một cách đầy đủ, theo một trình tự hợp lý, nhằm đạt hiệu quả cao nhất đồng thời là chương trình hoạt động của bào cáo viên trong một buổi thuyết trình. Đề cương không được quá sơ sài, không làm rõ những nội dung và lý lẽ cần trình bày. Nhưng cũng không biến đề cương thành một bài viết sẵn để đọc.

Mỗi đối tượng cụ thể nên có một đề cương bài nói phù hợp.

Cấu trúc đề cương bài nói:

Bài nói thường có 3 phần, mỗi phần có chức năng riêng.

a) Phần mở đầu

Yêu cầu chung của phần mở đầu gồm 3 mục tiêu cụ thể là:

- Giới thiệu và làm quen.

- Thông báo nội dung trình bày.

- Thông báo thời gian và phương thức tiến hành.

Đây là phần nhập đề, là bước tiếp xúc đầu tiên với người nghe, do đó báo cáo viên phải mở đầu sao cho hấp dẫn, kích thích hứng thú của người nghe và làm rõ chủ đề của bài nói. Lời mở đầu cần tự nhiên, ngắn gọn.

Để thực hiện yêu cầu trên, có hai cách vào đề là vào đề trực tiếp và vào đề gián tiếp.

Mở đầu trực tiếp là: giới thiệu trực tiếp chủ đề nội dung bài nói. Hình thức này thường được thực hiện với đối tượng quen, thời gian ngắn. Mở đầu gián tiếp là đưa ra một luận đề nào đó (gần với chủ đề bài nói) rồi dẫn dắt người nghe đến vấn đề báo cáo viên định nói. Cách vào đề gián tiếp có tác dụng kích thích và làm tăng dần sự chú ý của người nghe, nhưng khi thực hiện cần tránh sa đà, lạc nội dung.

Trong bài chuẩn bị, sau khi xác định rõ cách vào đề,  cần chuẩn bị nội dung của cách vào đề đó, chú ý phải ngắn, gọn.

b) Phần chính (nội dung bài nói)

Đây là phần quan trọng nhất của bài nói, giải quyết vấn đề mà báo cáo viên đặt ra theo một trình tự nhất định.

Về nguyên tắc bài nói có thể đề cập đến mọi vấn đề của đời sống xã hội. Từ những vấn đề kinh tế, chính trị, văn hóa đến vấn đề khoa học, kỹ thuật, an ninh, quốc phòng, đối ngoại...; từ những vấn đề lý luận, quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước, của Đoàn đến các sự kiện đã và đang diễn ra trong đời sống xã hội... Nhưng để tạo khả năng thu hút sự chú ý của người nghe, đạt mục đích tuyên truyền đặt ra, khi lựa chọn nội dung bài nói cần chọn những vấn đề mang các tác dụng sau:

Một là, phải cung cấp cho người nghe những thông tin mới, như một bình thông nhau chứa tin. Mỗi nhánh của bình chứa tin là một vai giao tiếp. Quá trình giao tiếp, trao đổi thông tin là mở van giữa hai bình để tin từ bình nay (người nói) chảy sang bình kia (người nghe). Nếu tin của hai bình ngang nhau tức là hết điều để nói, quá trình trao đổi thông tin trên thực tế không diễn ra nữa. để quá trình này diễn ra liên tục, giữa người nói và người nghe phải có độ chênh lệch về thông tin, về sự hiểu biết xung quan nội dung đang đề cập. Độ chênh lệch về thông tin, về sự hiểu biết đó chính là cái mới của nội dung bài nói.

Cái mới của nội dung tạo khả năng thu hút sự chú ý của người nghe, gây được lòng tin cho công chúng, thuyết phục những người có quan điểm khác hoặc trái với quan điểm cần thuyết phục.

Trong tuyên truyền miệng, cái mới không chỉ được hiểu là cái chưa hề được đối tượng biết đến mà còn là một phương pháp tiếp cận mới, cách trình bày mới, độc đáo, một nhận định, đánh giá mới về cái đã biết. Cái mới cũng có thể là một kinh nghiệm được tích luỹ, một sự kiện, một hiện tượng phát sinh xung quanh những vấn đề đã được thông tin trước đây cho người nghe.

Để tạo ra cái mới cho nội dung bài nói, người báo cáo viên cần thường xuyên tích luỹ tư liệu, tài liệu để làm giàu, phong phú sự hiểu biết; tìm tòi, sáng tạo cách trình bày, tiếp cận mới đối với vấn đề; rèn luyện năng lực bình luận, đánh giá thông tin; tích cực nghiên cứu thực tế, lăn lộn trong phong trào cách mạng của quần chúng để phát hiện, nắm bắt cái mới; tổng kết những kinh nghiệm hay từ thực tiễn đời sống của nhân dân.

Hai là, phải đáp ứng một cách cao nhất yêu cầu thông tin của một loại công chúng cụ thể.

Nội dung bài nói do mục đích của công tác giáo dục chính trị tư tưởng và nhu cầu thỏa mãn thông tin của đối tượng quy định. Nhu cầu của thông tin xuất hiện do nhu cầu của hoạt động nhận thức (nghe để biết hoặc nghe để biết và để làm). Hoạt động thực tiễn của công chúng rất đa dạng, nhu cầu thông tin cũng đa dạng. Không thể chọn một nội dung nói cho nhiều đối tượng khác nhau. Nội dung bao giờ cũng hướng tới một đối tượng, một nhóm người nghe cụ thể.

Trong trường hợp công chúng chưa xuất hiện nhu cầu thông tin về vấn đề quan trọng nào đó, mà vấn đề đó lại được đặt ra do yâu cầu giáo dục chính trị tư tưởng thì cần chủ động hướng dẫn, khơi gợi, kích thích sự quan tâm ở họ. Chỉ khi nào ở người nghe xuất hiện nhu cầu thông tin, đòi hỏi được đáp ứng thì khi đó ở họ mới có tâm thế, thái độ sẵn sàng tiếp nhận thông tin, có những hành động nhằm thỏa mãn nhu cầu đó (tìm tài liệu để đọc, đến hội trường để nghe nói chuyện và chú ý lắng nghe ...).

Việc phân loại đối tượng người nghe, nắm vững nhu cầu thông tin, biết kích thích và thường xuyên đáp ứng yêu cầu thông tin của đối tượng, vừa là yêu cầu, vừa là điều kiện đảm bảo sự thành công của bài nói.

Ba là, bài nói phải mang tính thời sự, tính cấp thiết, phản ánh những vấn đề nóng bỏng của cuộc sống.

Giá trị và sức lôi cuốn người nghe, ý nghĩa chỉ đạo tư tưởng và hành động của nội dung bài nói do thời điểm đưa tin, thời điểm tổ chức buổi nói chuyện quyết định. Nếu buổi nói chuyện được tổ chức đúng thời điểm, thì sức thu hút người nghe càng lớn. Ngược lại nếu triển khai chậm, thông tin thiếu tính thời sự thì sức hấp dẫn bị hạn chế, hiệu quả công tác tuyên truyền kém tác dụng.

Để đáp ứng yêu cầu này, một mặt người tuyên truyền phải nắm vững chương trình, kế hoạch của cơ sở Đoàn mình hoặc  của Đoàn cấp trên đề ra; mặt khác, bằng bản lĩnh chính trị, sự nhạy cảm và tính năng động, sáng tạo, cán bộ tuyên truyền có thể chọn trong số những vấn đề lý luận và thực tiễn cấp bách nhất, những sự kiện lớn, đang thu hút sự quan tâm của đông đảo quần chúng, tham mưu cho cấp uỷ làm chủ đề cho các buổi nói chuyện. Những vấn đề và sự kiện như vậy thường có sức mạnh thông tin, cổ vũ cao, tác động sâu sắc đến ý thức và hành vi của con người.

Bốn là, bài nói phải đảm bảo tính tư tưởng và tính chiến đấu.

Khác với bài diễn thuyết của các nhà hùng biện, bài nói của báo cáo viên có mục đích tư tưởng rất rõ rệt. Mục đích ấy do chức năng, nhiệm vụ và hoạt động đặc thù của công tác tuyên truyền miệng quy định. Bằng lời nói, nghệ thuật sử dụng ngôn từ, nội dung tuyên truyền miệng dù theo chủ đề nào, cũng đặt ra không chỉ mục đích thông tin mà quan trọng hơn là mục đích tác động về mặt tư tưởng (hình thành niềm tin, cổ vũ con người). Cho nên, nội dung bài nói không chỉ đạt yêu cầu cung cấp thông tin đa dạng, nhiều chiều, hấp dẫn mà quan trọng hơn là đạt tới yêu cầu định hướng thông tin, định hướng tư tưởng về các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, về các sự kiện chính trị trọng đại trong nước và trên thế giới, về chủ trương, chương trình công tác của Đoàn, từ đó chủ động giải thích cho công chúng nhận thức đúng hơn, sâu hơn, thuyết phục công chúng có niềm tin và hành động tích cực.

Tính tư tưởng, tính chiến đấu đòi hỏi cán bộ tuyên truyền, khi thông tin về những quan điểm khác nhau phải có định hướng, phân tích theo lập trường, quan điểm của Đảng, của Đoàn. Sẵn sàng dùng lập luận chặt chẽ, lý lẽ sắc bén, dẫn chứng sát thực, sinh động có tính thuyết phục cao, để khẳng định và bảo vệ quan điểm, chủ trương và đường lối đúng đán của Đảng. Nhà nước ta. Khi nêu các hiện tượng tiêu cực, lạc hậu... phải tỏ rõ thái độ phên phán kiên quyết, đúng mức, tránh gây hoài nghi, hoang mang, làm giảm lòng tin của công chúng bởi cái gọi là "thông tin nhiều chiều" thiếu cơ sở khoa học, có khi thông tin còn bị móp méo, làm sai lệch bản chất của sự việc.

Phương pháp sử dụng trong bài nói chủ yếu dùng phương pháp "quy nạp" và "diễn dịch", chú ý phối hợp hài hoà hai phương pháp này.

Cần phân tích bản chất sự kiện, vấn đề, lập luận và đưa ra cách lý giải các nội dung, dẫn chứng minh hoạ (tư liệu, tài liệu, số liệu, thực tế...) làm rõ bản chất vấn đề, quan điểm..., qua đó để định hướng tư tưởng.

Năm là, đề cương bài nói cần bố cục rõ ràng, kết cấu chặt chẽ, lô gíc, có trọng tâm, trọng điểm phù hợp với quá trình nhận thức, thể hiện cả phương pháp trình bày với từng vấn đề, quan điểm được nêu ra.

Sáu là, đề cương bài nói phải thể hiện được cả hai yêu cầu: nêu luận điểm và các thông tin, tư liệu làm ví dụ chứng minh luận điểm đó. Trong mỗi phần cần nêu lên các luận điểm (nhận định) chủ yếu. Sau mội luận điểm, nhận định phải đưa ra được một số ví dụ, số liệu chứng minh cho luận điểm đó. Tuỳ theo khả năng, trí nhớ của báo cáo viên, cần thể hiện rõ từng luận điểm và các ví dụ chứng minh trong đề cương (trong đề cương cũng cần dự kiến tình huống có các câu hỏi người nghe đặt ra. Người báo cáo viên phải chủ động trả lời, đối thoại, tạo nên không khí dân chủ trong tuyên truyền miệng).

c) Phần kết luận

Đây là phần tổng kết bài nói, cũng cố nhận thức người nghe và cổ vũ hành động. Yêu cầu chung của phần kết luận là: tóm tắt, nhấn mạnh nội dung, cổ vũ hành động, tạo mối giao lưu, tình cảm giữa người nói và người nghe. Phần này cũng cần ngắn gọn, tránh dài dòng.

Đề cương bài nói nên viết trên giất một mặt. Chữ viết rõ ràng để có thể đọc những đoạn khi cần thiết. Viết xong cần đọc, kiểm tra kỹ.

Quá trình chuẩn bị bài nói là quá trình xác định chủ đề, mục đích, yêu cầu bài nói, thu thập, tích luỹ tài liệu, hình thành đề cương, lựa chọn phương pháp, đồng thời là quá trình ghi nhớ để sẵn sàng cho bước tiếp theo: trình bày bài nói. Do đó, chuẩn bị tốt là đảm bảo 50% thành công của bài nói. Phần còn lại phụ thuộc vào phương pháp trình bày.

3. Phương pháp và nghiệp vụ trình bày bài tuyên truyền miệng

Phương pháp tuyên truyền miệng là khoa học về sự giao tiếp trực tiếp giữa người nói và người nghe. Do vậy, kỹ năng trình bày bài nói có ý nghĩa quyết định đến kết quả nội dung tuyên truyền miệng của người báo cáo viên, người cán bộ Đoàn.

3.1 Một số cơ sở khoa học của công tác tuyên truyền miệng

a) Cơ sở tâm lý của hoạt động tuyên truyền miệng

- Tuyên truyền miệng là một hình thức tuyên truyền thông qua giao tiếp trực tiếp giữa người tuyên truyền với đối tượng tuyên truyền. Vì vậy, sự vận dụng khoa học về tâm lý đóng vai trò hết sức quan trọng. Người báo cáo viên chẳng những phải chuẩn bị tốt tâm lý của mình để tác động vào nhận thức, tư tưởng, tình cảm của đối tượng tuyên truyền mà còn phải chuẩn bị tốt tâm thế cho người nghe, để họ sẵn sàng đón nhận, tiếp thu và hành động sau khi được tuyên truyền.

Trong hoạt động tuyên truyền, báo cáo viên là chủ thể của hoạt động tuyên truyền, người nghe là chủ thể của hoạt động lĩnh hội thông tin. Vì vậy, xét về khía cạnh tâm lý, hoạt động tuyên truyền là sự tác động của chủ thể tâm lý này đối với chủ thể tâm lý khác.

- Lê nin đòi hỏi người tuyên truyền phải nghiên cứu đặc điểm tâm lý của các tầng lớp nhân dân trong quá trình tuyên truyền. Người khuyên: "Cần phải thâm nhập vào quần chúng và học hỏi ở họ một cách kiên trì, bền bỉ thì mới hiểu được các thuộc tính, đặc trưng tâm lý đa dạng ở mỗi tầng lớp, mỗi nghề của họ" Lênin toàn tập, NXB Tiến bộ Mátxcơva, tiếng Việt, tập 41, tr 192.

* Tâm lý học tuyên truyền.

Tâm lý học tuyên truyền là một môn khoa học, nghiên cứu các hiện tượng, quy luật, các cơ chế tâm lý ảnh hưởng đến hiệu quả tiếp nhận thông tin của đối tượng tuyên truyền.

Như vậy, khoa tâm lý học trong hoạt động tuyên truyền đòi hỏi báo cáo viên vừa phải nắm chắc nội dung, vừa phải có khả năng dự đoán được những phản ứng của đối tượng, với mục đích để nội dung tuyên truyền được tiếp thu một cách nhanh nhất; thúc đẩy hành động của đối tượng một cách nhanh nhất; thúc đẩy hành động của đối tượng một cách tích cực nhất. Để đạt được yêu cầu đó, ngoài việc nắm bắt nhu cầu thông tin của đối tượng, báo cáo viên còn phải biết tác động đến đối tượng trong không gian, thời gian thích hợp, biết phân tích sự xuất hiện các yếu tố các quy luật tâm lý, khai thác và vận dụng để tạo sự hứng thú và quan tâm chú ý của đối tượng tiếp cận với chủ đề tuyên truyền.

* Tâm thế và tính tích cực trong hoạt động tuyên truyền.

Tâm thế trong tuyên truyền là một trạng thái tâm lý hoàn chỉnh. Chuẩn bị về tâm thế của báo cáo viên là sự chuẩn bị về thế lực và trí lực để tham gia vào hoạt động tuyên truyền, đồng thời tạo tâm thế chủ động, tích cực cho người nghe nhằm đem lại hiệu quả cao cho hoạt động đó.

- Yếu tố đầu tiên tạo ra tâm thế là nhu cầu thông tin của người nghe. Tuỳ từng thời điểm khác nhau, đối tượng khác nhau mà nhu cầu thông tin có cấp độ và ý nghĩa khác nhau. Vì vậy, báo cáo viên phải tìm hiểu, nắm bắt nhu cầu thông tin của người nghe để có phương thức và nội dung tuyên truyền phù hợp, làm cho nhu cầu thông tin phù hợp với định hướng thông tin của người tuyên truyền.

- Trình độ nhận thức của người nghe, sự hiểu biết khác nhau sẽ tạo ra tâm thế khác nhau khi tiếp thu cũng như khi thực hiện mục đích tuyên truyền.

- Môi trường khách quan (môi trường vật lý, một trường tâm lý) cũng là một yếu tố tạo ra tâm thế của đối tượng tuyên truyền.

- Tâm thế của người được tuyên truyền thường có các dạng tâm tếh chủ động và tâm thế bị động (muốn nghe và phải nghe); tâm thế phủ định và tâm thế khẳng định (không nhất trí và nhất trí). Các loại tâm tếh trên ảnh hưởng lớn đến kết quả tiếp nhận nội dung tuyên truyền. Người tuyên truyền khi nắm được các trạng thái tâm lý đó sẽ có biện pháp để tác động có hiệu quả vào người được tuyên truyền.

* Các quá trình tâm lý ảnh hưởng đến hiệu quả tuyên truyền.

- Trong tuyên truyền miệng, các quá trình tâm lý như: cả  giác, tri giác, hình thành biểu tượng, tư duy... có thể tác động hướng người nghe tới việc tiếp thu nội dung tuyên truyền một cách tích cực hoặc tiêu cực (hào hứng hoặc bàng quan). Các hiện tượng của trạng thái tinh thần, tình cảm của người nghe như: sảng khoái hay buồn rầu, hăng hái hay thờ ơ, mệt mỏi cũng tác động đến sự tiếp thu thông tin của họ.

- Các yếu tố khác, như dư luận xã hội, truyền thống địa phương, dân tộc... mối quan hệ vốn có giữa người tuyên truyền và đối tượng tuyên truyền... đều ảnh hưởng đến quá trình tâm lý của người nghe.

* Các nhiệm vụ tâm lý đặt ra đối với người tuyên truyền.

Để nội dung tuyên truyền có tác dụng sâu sắc đến đối tượng tuyên truyền, báo cáo viên cần giải quyết tốt những yêu cầu tâm lý sau:

- Thiết lập sự giao lưu, tạo ra mối quan hệ đồng cảm giữa báo cáo viên với người nghe: đó là sự tin cậy lẫn nhau, cùng quan tâm đến vấn đề sẽ đề cập.

-  Tổng hợp các đặc điểm của từng đối tượng thông qua trao đổi với cấp uỷ và đơn vị, cơ quan nơi báo cáo viên thuyết trình để  nắm bắt các mặt chủ yếu như: thành phần, trình độ học vấn, nghề nghiệp, tuổi tác, dân tộc, tôn giáo..., từ đó nắm được những đặc điểm tâm lý của họ.

Các Mác, Lênin nhắc nhở người tuyên truyền: khi phát biểu trước công chúng, phải luôn luôn hướng tới họ, cố gắng tìm hiểu xem họ đang lo lắng, băn khoăn điều gì?

Bác Hồ dạy: "Tuyên truyền là đem một việc gì nói cho dân hiểu, dân nhớ, dân theo, dân làm. Nếu không đạt được mục đích đó, là tuyên truyền thất bại". (Hồ Chí Minh về công tác tư tưởng, NXB Sự Thật, Hà Nội 1965, tr 167).

- Xác định đúng hình thức và phương pháp kích thích nhu cầu nhận thức của người nghe. Để làm được điều này, báo cáo viên phải nắm được nhu cầu người nghe và đem đến cho họ những nội dung thông tin mới, cách tiếp cận và phân tích những vấn đề mới.

- Nắm chắc nội dung, đối tượng cùng với tình cảm, sự hưng phấn, sự nhiệt tình của báo cáo viên có ảnh hưởng trực tiếp tới tình cảm và tư duy của đối tượng tuyên truyền. Khi thuyết trình, cần vận dụng linh hoạt các hình thức, phương pháp mang tính sáng tạo, phù hợp với thực tiễn đời sống xã hội. Báo cáo viên phải có những phẩm chất như: tính lý luận cao, tính nguyên tắc, tính thuyết phục, có kiến thức và vốn sống phong phú, gần gũi và tôn trọng người nghe... Khi tuyên truyền cần chủ động vận dụng các phương pháp như: sử dụng các phương tiện trực quan, nêu câu hỏi, dẫn các dữ liệu, mẫu chuyện sinh động, dùng những câu ngạn ngữ, thành ngữ. Cần sử dụng ngôn ngữ trong sáng, tế nhị, đa dạng về nhịp điệu, ngữ điệu... tránh đều đều, đơn điệu, cứng nhắc.

b) Giao tiếp và đối thoại trong tuyên truyền miệng

Con người là tổng hoà của các mối quan hệ xã hội. Con người không thể sống, hoạt động và thỏa mãn các nhu cầu vật chất, tinh thần nếu không giao tiếp. Đối với tuyên truyền miệng, giao tiếp là một thành phần cơ bản, là đòi hỏi không thể thiếu được trong thuyết trình, đối thoại của báo cáo viên.

- Giao tiếp có ba loại: giao tiếp thông qua hành động với tập thể, tức thông qua hoạt động có đối tượng; giao tiếp bằng ngôn ngữ, bao gồm tiếng nói và chữ viết; giao tiếp bằng cử chỉ, nét mặt, ánh mắt điệu bộ (phi ngôn ngữ).

- Trong hoạt động tuyên truyền miệng, ngôn ngữ nói là công cụ chủ yếu của người tuyên truyền, được sử dụng dưới hai hình thức: độc thoại và đối thoại.

+ Ngôn ngữ độc thoại là ngôn ngữ một người nói cho một hoặc nhiều người khác nghe. Báo cáo viên phải có ngôn ngữ trong sáng, chính xác, dễ hiểu và có khả năng tuyền cảm. Ngôn ngữ độc thoại được sử dụng chủ yếu trong thuyết trình.

+ Ngôn ngữ đối thoại là ngôn ngữ dùng để trao đổi thông tin giữa báo cáo viên với một hoặc nhiều người. Ngôn ngữ đối thoại có tính chất tình huống, liên quan chặt chẽ đến hoàn cảnh đối thoại, thường không chặt chẽ, câu thường rút gọn, có sự hỗ trợ của giao tiếp phi ngôn ngữ.

- Trong tuyên truyền miệng, rèn luyện kỹ năng sử dụng từ có vai trò quan trọng. Nguyên tắc cơ bản dùng từ đúng âm thanh, đúng ý nghĩa, nếu không sẽ làm người nghe hiểu sai nội dung. Nói là để người khác hiểu đúng ý định của mình. Cho nên, nói vội vàng, dùng từ sai hoặc dùng từ "có sẵn" sáo mòn... sẽ không có tác dụng, thậm chí có thể làm cho người nghe khó chịu, hoặc không hiểu.

- Đối thoại trong tuyên truyền miệng là quá trình trao đổi thông tin giữa báo cáo viên với người nghe, nhằm thực hiện dân chủ trong tuyên truyền, tăng cường thông tin hai chiều, hạn chế việc thông tin áp đặt, một chiều. Trong đối thoại, báo cáo viên vừa là người nói, vừa là người nghe, người cung cấp thông tin. Do vậy, báo cáo viên vừa biết nói tốt, vừa phải biết gợi mở, nêu vấn đề để người nghe nói đúng những vấn đề quan tâm. Để đạt được yêu cầu này, quá trình đối thoại nên mang tính chất trao đổi, tạo bầu không khí tin tưởng, gần gũi và chân thành. Trong quá trình đối thoại cần cố gắng tìm hiểu thông tin về một số đặc điểm của người đối thoại. Khi cần có thể tại không khí tranh luận để bổ sung, củng cố nội dung tuyên truyền.

- Trong tuyên truyền miệng, cần vận dụng một số phương pháp dạy học để thực hiện thuyết trình một cách có hệ thống đảm bảo tính khoa học, tính giáo dục, tính thực tiễn của nội dung tuyên truyền. Đó là các phương pháp nêu vấn đề, đặt câu hỏi và trả lời, giả định, phản đề, thuận đề, sử dụng bảng biểu... Trong điều kiện thuận lợi có thể sử dụng các giáo cụ trực quan, phim ảnh, đèn chiếu và vi tính hóa hoạt động tuyên truyền.

3.2 Những nội dung cơ bản của quá trình trình bày bài nói:

Sau khi chuẩn bị đề cương bài nói bằng ngôn ngữ viết làm cơ sở cho quá trình thực hiện tuyên truyền miệng, quá trình trình bày bài nói là quá trình thực hiện đề cương và có tính chất quyết định đến sự thành công của toàn bộ hoạt động tuyên truyền miệng.

a) Những vấn đề cần nắm vững khi trình bày bài tuyên truyền miệng

* Ngôn ngữ, văn phong bài nói:

- Ngôn ngữ vừa là tiền đề vừa là kết quả của quá trình phát triển xã hội. Nếu nói con người đã tạo ra ngôn ngữ thì chính ngôn ngữ đã gián tiếp tạo ra con người. Ngôn ngữ là hình thức thể hiện của tư duy, giữa vai trò quan trọng trong việc hình thành ý thức.

- Ngôn ngữ là phương tiện chủ yếu của báo cáo viên, là yếu tố cực kỳ quan trọng để thực hiện và nâng cao chất lượng bài nói. Người báo cáo viên phải có ngôn ngữ phong phú để trình bày chính xác những khái niệm, sự vật, hiện tượng và những quan điểm, quan niệm, sự kiện...

Trong tuyên truyền miệng, tiêu chuẩn cơ bản của lời nói tốt bao gồm: tính chính xác, tính đúng đắn và tính thẩm mỹ.

+ Tính chính xác: đó là sự thống nhất giữa nội dung thông tin, những tư liệu, sự kiện đã được khẳng định và sự diễn đạt bằng những phương tiện ngôn ngữ những nội dung đó.

Tính chính xác đòi hỏi báo cáo viên phải có từ ngữ chính xác về mức độ, khách quan nội dung của vấn đề, sự vật, hiện tượng, diễn ra trung thành, làm nổi bật vấn đề mà báo cáo viên trình bày.

+ Tính đúng đắn: ngôn ngữ của báo cáo viên sử dụng phải được mọi người thừa nhận và được coi là mẫu mực bởi phù hợp với chuẩn mực ngôn ngữ.

+ Tính thẩm mỹ: đó là vẻ đẹp và sự hấp dẫn của lời nói, làm tăng sự thích thú của người nghe trên cơ sở những ngôn từ có chọn lọc được sử dụng chính xác, đúng đắn, phù hợp, văn hóa..., mà không hoa mỹ một cách cầu kỳ, quá mức cần thiết, không phù hợp với đối tượng.

Có được tiêu chuẩn của lời nói đẹp, báo cáo viên mới diễn tả ý tưởng của mình một cách chân thành, sáng sủa, chính xác và có sức thuyết phục người nghe.

* Sử dụng tư liệu thực tế

Sử dụng tư liệu thực tế trong bài nói thể hiện tính thống nhất giữa lý luận và thực tiễn, làm tăng tính cụ thể trong nội dung tuyên truyền, làm cho bài nói thêm sinh động, hấp dẫn và thuyết phục người nghe. Tư liệu thực tế được dùng để chứng minh, làm rõ một luận điểm đó trong bài nói.

- Tư liệu thực tế phải đảm bảo tính chính xác, chân thực khách quan, phù hợp với đề tài, đặc điểm, trình độ người nghe và đặc biệt báo cáo viên phải sử dụng một cách nhuần nhuyễn, đúng lúc, đúng chỗ.

- Tài liệu thực tế chỉ có sức thuyết phục khi nó gần gũi, dễ hiểu, chính xác, rõ ràng, đã được kiểm nghiệm hoặc thực hiện trong thực tế cuộc sống, phù hợp với nhận thức, những chuẩn mực và thang bậc giá trị chung của toàn xã hội.

- Khi sử dụng tư liệu, dẫn chứng thực tế để minh họa trong bài nói, báo cáo viên cần bám sát đề cương, đồng thời linh hoạt, tránh vận dụng cứng nhắc, gượng ép. Điều cần chú ý là không sử dụng tư liệu lặp đi, lặp lại trong một bài nói, hoặc ở những đơn vị, đối tượng mà mình thường báo cáo.

* Sử dụng kênh phi ngôn ngữ

- Ưu thế đặc trưng của tuyên truyền miện là người tuyên truyền có thể sử dụng kênh phi ngôn ngữ trong hoạt động tuyên truyền. Nếu biết sử dụng tốt, kênh phi ngôn ngữ không chỉ là sự bổ sung mà còn làm nhân lên hiệu quả của sự tuyên truyền.

- Kênh phi ngôn ngữ là các hoạt động không dùng ngôn ngữ lời nói của người tuyên truyền trong buổi tuyên truyền. Đó là tư thế, cử chỉ, ánh mắt, nụ cười, thái độ, hành vi khi tiến hành tuyên truyền.

- Yêu cầu của kênh phi ngôn ngữ là phải tự nhiên, hợp lý, gắn với nội dung và hợp lý với từng loại đối tượng, bối cảnh tuyên truyền. Báo cáo viên cần tránh "biểu diễn", "diễn kịch" khi tuyên truyền, làm cho tác dụng tuyên truyền hạn chế, thậm chí phản cảm. Việc kể chuyện vui gây hưng phấn, làm cho buổi nói chuyện đỡ căng thẳng là cần thiết, nhưng tránh "cù" một cách gượng gạo, tếu táo, thô thiển...

b) Những bước đi cụ thể của quá trình trình bày tuyên truyền miệng

* Trước khi nói:

Báo cáo viên cần chuẩn bị thêm các nội dung sau:

- Xác định lại một lần nữa về nội dung. Cần hình dung lại toàn bộ cấu trúc bài nói, suy nghĩ về cách trình bày, có thể nói thầm, nói nhỏ những vấn đề quan trọng. Đây là việc cần thiết, nhất là với đối tượng mới hoặc thực tiễn của buổi nói chuyện khác với những gì người báo cáo viên đã chuẩn bị hoặc theo giới thiệu của người mời.

- Chuẩn bị kỹ về cá nhân như trang phục, đầu tóc... Điều này thể hiện sự tôn trọng, gần gũi đối tượng; phù hợp với bối cảnh buổi nói, hòa đồng với người nghe.

- Chủ động sắp xếp thời gian, nắm vững địa điểm diễn ra buổi nói chuyện, đến sớm 5 - 10 phút để tiếp xúc với cấp uỷ, lãnh đạo đơn vị hoặc người nghe và tiếp cận với hội trường. Có thể nêu ý kiến đề nghị điều chỉnh ánh sáng, âm thanh, nơi đặt micrô, loa, lọ hoa, bục... phù hợp với không gia của hội trường, tạo thuận lợi cho báo cáo viên khi thuyết trình.

* Bắt đầu nói:

- Bắt đầu buổi nói chuyện có tác dụng quan trọng trong gây sự chú ý và thiện cảm. Thông thường báo cáo viên không nên vội vàng bắt đầu nói ngay mà cần tạo sự chú ý ban đầu. Khi bước lên bục, cần làm nhiệm vụ "tổ chức người nghe", dùng ánh mắt, tư thế để tập trung sự chú ý của họ.

- Trong giai đoạn bắt đầu nói thường xảy ra tình huống:

+ Người nói bị hồi hộp:

Hồi hộp là một trạng thái tâm lý xúc cảm tiêu cực, dẫn đến hành động lúng túng, bị động, không tự chủ của báo cáo viên. Nguyên nhân của hồi hộp có nhiều, cả chủ quan và khách quan và bất kỳ báo cáo viên nào cũng có thể bị rơi vào trường hợp này. Để khắc phục hồi hộp có thể thực hiện theo 4 cách sau:

Một là, hít thật sâu và thở ra từ từ vài lần.

Hai là, thay đổi trạng thái bằng cách bình tĩnh thay đổi lọ hoa, sửa micrô, chai nước, giáo án, lau kính...

Ba là, nhìn xuống khán giả, tìm ánh mặt đồng cảm, những người có tâm thế chủ động và tâm thế khẳng định để tìm sự thông cảm.

Bốn là, nói thẳng với khán giả là tôi hồi hộp quá để tìm sự ủng hộ.

+ Người nghe ồn ào, không tập trung. Trường hợp này dễ xảy ra trong các buổi nói chuyện. Báo cáo viên cần bình tĩnh, tạo ra sự ổn định và sự tập trung chú ý bằng cách nói to, nói chậm, từng từ và rõ ràng, có thể nhắc lại một vài lần một câu nói.

+ Người nghe ồn ào, tỏ thái độ phản ứng không đồng tình với người nói. Trong trường hợp này cần bình tĩnh, tỏ thái độ nhân nhượng bước đầu, tìm sự thiện cảm của người nghe rồi tìm cách làm chủ diễn đàn, thể hiện nội dung bài nói. Tuyệt đối không tranh luận với số đông khi mới bắt đầu.

Để việc xử lý các tình huống trên tốt nhất, báo cáo viên phải chuẩn bị thật tốt bài nói, nắm chắc nội dung, có kiến thức sâu rộng, phong phú về lý luận và thực tiễn, có bản lĩnh chính trị vững vàng, chủ động và ứng xử linh hoạt.

- Khi bắt đầu, khẩu ngữ "kính thưa, hoặc thưa..." rất quan trọng, thể hiện thái độ trân trọng với người nghe. Chủ tịch Hồ Chí Minh nhắc nhở người tuyên truyền phải lễ độ, thái độ này phải thể hiện ở ngay câu nói đầu tiên.

- Giới thiệu tóm tắt đề cương cơ bản của bài nói để người nghe chủ động theo dõi. Phần giới thiệu ngắn gọn, cần nói rõ bài nói có mấy phần, thời gian bao lâu, có nghỉ giải lao không, có đối thoại không.

* Trong khi nói:

- Báo cáo viên thực hiện bài nói qua hai kênh: ngôn ngữ và phi ngôn ngữ.

Kênh ngôn ngữ thể hiện bằng các yếu tố ngữ âm, ngữ điệu, nhịp độ và ngừng giọng.

Ngữ âm là cường độ của âm thanh, nói to, nói nhỏ phù hợp với hội trường. Không nói to quá hoặc nhỏ quá.

Ngữ điệu thể hiện sự lên giọng cần thiết cho một câu. Cần tránh hiện tượng nói nhanh quá nuốt âm hoặc "nuốt âm cuối" khi xuống giọng ở cuối câu.

Nhịp độ thể hiện nói nhanh hay chậm. Nói chung không  nên nói nhanh quá dẫn đến nuốt từ, người nghe không kịp nhận  biết nội dung của câu nói.

Ngừng giọng hoặc lặp lại những cụm từ chủ yếu để tạo ấn tượng, tập trung sự chú ý.

Kênh phi ngôn ngữ thể hiện chủ yếu bằng những hành vi như tư thế, cử động, cử chỉ, ánh mắt, nụ cười... Những hoạt động  này cần hết sức linh hoạt, được diễn tả phù hợp và ăn khớp với  nội dung (tránh những cử chỉ động tác thừa, cứng nhắc gây phản cảm với người nghe). Có thể sử dụng các thủ thuật như đứng tại  bục, đi lại ( khi có micrô cầm tay) và tiếp cận với người nghe. Trong  khi nói có thể sử dụng điệu bộ bằng tay,... để mô tả lời nói, nhưng không nên vung tay quá mức. Sự hài hước gây cười một cách  tế nhị, tạo không khí biểu lộ tình cảm, thái độ là cần thiết, nhưng không được thái quá.

- Khi nói báo cáo viên có thể giải thích và chứng minh, tức diễn dịch và quy nạp hoặc kết hợp cả hai phương pháp này.

+ Phương pháp diễn dịch xuất phát từ một luận điểm, báo cáo viên dùng tài liệu, tư liệu thực tế để làm sáng tỏ từng phần của luận điểm đó. Đây là phương pháp diễn giải, dễ thực hiện, có thể áp dụng phổ biến đối với mọi đối tượng người nghe, nhưng cuối cùng cần chốt lại luận điểm chung.

+ Phương pháp quy nạp là từ nhiều hiện tượng, sự kiện có tính riêng lẻ sau khi đã phân tích dưới nhiều khía cạnh, góc độ khác nhau để nêu lên luận điểm, luận đề, nhận định có tính tổng hợp, khái quát cao. Phương pháp này đòi hỏi báo cáo viên phải biết lựa chọn sự kiện, tài liệu thật sinh động để dẫn dắt, thuyết phục người nghe thống nhất quan điểm với mình. Phương pháp này phù hợp với đối tượng là tri thức, những người có khả năng tổng hợp, khái quát cao.

+ Trong cùng một bài nói có thể vận dụng từng phương pháp để diễn đạt ở các phần khác nhau. Đó là sự kết hợp cả hai phương pháp giải thích và chứng minh, diễn dịch và quy nạp trong cùng một bài nói.

- Khi trình bày bài nói, báo cáo viên phải chú ý đến bố cục của bài nói cho cân xứng, tránh sa đà vào một nội dung để "đầu voi, đuôi chuột", cháy giáo án. Khi phân tích, chẻ nhỏ vấn đề cần chú ý đến "sự quay về" điểm xuất phát, tránh "quên đường về", không biết mình đang trình bày phần nào của bài.

Tuy nhiên, dù vận dụng phương pháp nào cũng cần ghi nhớ lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh: "Nói phải gọn gàng, có đầu, có đuôi, có nội dung... Nói ít, nhưng nói cho thấm thía, nói cho chắc chắn, thì quần chúng thích hơn. Muốn nói gì phải chuẩn bị trước" (Hồ Chí Minh về công tác tư tưởng, NXB Sự Thật, Hà Nội 1965, tr167).

- Khi trình bày bài nói, báo cáo viên phải tường xuyên bao quát hội trường, quản lý buổi nói chuyện, theo dõi người nghe đang tiếp thu bài nói của mình như thế nào để chủ động điều chỉnh nội dung và phương pháp trình bày, phải duy trì trật tự trong hội trường vì lợi ích của số đông. Việc quản lý sự chú ý của người nghe là trách nhiệm của báo cáo viên trong suốu quá trình trình bày bài nói của mình, do vậy báo cáo viên phải luôn luôn làm chủ mọi tình huống để đảm bảo buổi nói chuyện có kết quả.

- Trong quá trình nghe báo cáo, người nghe có thể mệt mỏi do tác động khách quan (thời tiết, tiếng ồn...) báo cáo viên phải sử dụng một số thủ thuật để thay đổi không khí trong hội trường, tạo sự chú ý của người nghe như: dùng âm điệu, ngôn ngữ biểu cảm, phương tiện trực quan (nếu có), các thủ pháp gây cười, tạo không khí sôi nổi, thậm chí có thể cho nghỉ giải lao đột xuất nếu có sự cố nào đó.

- Nếu có một bộ phận người nghe thiếu tập trung,  báo cáo viên cần nhanh chóng xác định nguyên nhân. Nếu do phương pháp trình bày, báo cáo viên phải kịp thời điều chỉnh cách nói. Nếu người nghe có biểu hiện không đồng tình, phản ứng với điều vừa nói, báo cáo viên cần tìm cách "hòa hoãn", cố gắng xác định nhanh nguyên nhân, để lái vấn đề, cùng ngường nghe đối thoại, tạo sự đồng thuận.

- Trong quá trình nói, báo cáo viên có thể thực hiện đối thoại với người nghe, khi đối thoại cần chú ý:

+ Cần khêu gợi và hướng người nghe nêu câu hỏi, tập trung vào nội dung và chủ đề tuyên truyền.

+ Luôn có thái độ cầu thị, tôn trọng, chú ý lắng nghe câu hỏi của người nghe để trả lời rõ ràng, đúng và trúng yêu cầu của câu hỏi. Những vấn đề chưa rõ hoặc chưa thể trả lời thì khéo léo đề nghị để trả lời riêng hoặc xin hẹn vào dịp khác. Không trả lời những vấn đề chưa nắm vững. Nếu có nhiều người nghe nêu câu hỏi, báo cáo viên có tểh trả lời từng cân hỏi hoặc có thể để người nghe nêu nhiều câu hỏi, rồi lần lượt trả lời từng vấn đề hoặc theo cụm vấn đề.

Trong tập thể đông, có câu hỏi không đại diện cho số đông, nên đề nghị được trả lời riêng.

Trả lời câu hỏi trong thực hiện đối thoại là một vấn đề khó, báo cáo viên phải bình tĩnh ứng xử nhanh. Do vậy để đối thoại tốt, báo cáo viên phải tích luỹ kinh nghiệm, rèn luyện kỹ năng, có sự hiểu biết rộng và sâu, cả về thực tiễn và sự đa dạng của kiến thức trên các lĩnh vực.

* Kết thúc bài nói.

Đây là phần tổng kết bài nói chuyện. Yêu cầu phải để lại "dư âm", "ấn tượng" của bài nói theo hướng thúc đẩy quan hệ và tạo thiện cảm, tránh nặng nề.

Báo cáo viên có thể kết thúc bài nói bằng nhiều cách: hệ thống toàn bộ bài nói một cách ngắn gọn; khái quát hoặc chốt lại những vấn đề cơ bản nhất của nội dung tuyên truyền..., trên cơ sở đó rút ra kết luận định hướng tư tưởng, kêu gọi hành động của mọi người.

Thời điểm này có thể người nghe đặt thêm câu hỏi, báo cáo viên căn cứ vào nội dung và thời gian để trả lời chung hoặc xin trả lời riêng.

Cân kết thúc bài nói chuyện sớm hơn thời gian ấn định khoảng 5 - 7  phút, tuyệt đối không nên kéo dài quá giờ, dù chỉ là 1 - 2 phút, gây ức chế về tâm lý người nghe.

Trước khi rời diễn đàn, báo cáo viên cần cảm ơn người nghe đã theo dõi, cổ vũ, xin lỗi những sơ suất (nếu có), chúc sức khỏe, tạm biệt và hẹn gặp lại người nghe trong các nội dung tuyên truyền mới.

Chuyên đề 3:

KỸ NĂNG NÓI TRƯỚC CÔNG CHÚNG


( Nguồn: http://violet.vn/hdhh/present/show/entry_id/2627517 ).


1. Đặt vấn đề:

- Trong thời đại bùng nổ thông tin hiện nay, cùng với các loại hình truyền thông khác, "Môn nói" ngày càng đóng vai trò tích cực. Muốn thuyết phục các bạn trẻ và công chúng nói chung, muốn truyền đạt các quan điểm đường lối của Đảng, chính sách của Nhà nước, chủ trương công tác của Đoàn, Hội, mỗi cán bộ Đoàn trường học bên cạnh việc biết viết và biết tổ chức các hoạt động, cần phải biết nói, hơn nữa cần biết nói hay, nói giỏi.

- Nói trước công chúng là một nghệ thuật có những quy tắc riêng. Biết tuân thủ những quy tắc ấy và kiên trì tập luyện thì ai cũng có thể thu được kết quả mong muốn.

- Nói trước công chúng có nhiều hình thức khác nhau:

+ Phát biểu ý kiến ngắn trước tập thể

+ Tranh luận, thảo luận

+ Trình bày nội dung của một văn kiện, một chủ trương công tác

+ Nói chuyện thời sự, nói chuyện chuyên đề

+ Giảng bài

Tuy nhiên, về mục đích thì lại thống nhất. Ai cũng muốn làm cho người khác hiểu ý mình, đồng ý tán thành ý kiến của mình, chăm chú lắng nghe và khen ngợi mình về sự sâu sắc của nội dung, về tài thuyết khách, tài hùng biện, khả năng dí dỏm, tích trí tuệ, tính lô gíc, hệ thống của bài nói, bài phát biểu...

Dưới đây là một hệ thống các quy tắc, đòi hỏi mỗi cán bộ Đoàn, Hội, muốn thành công, muốn nâng cao tay nghề trong việc thu phục các bạn trẻ thông qua ngôn ngữ nói, cần phải rèn luyện và tuân thủ.

2. Những Quy tắc mang tính kỹ năng

Quy tắc 1: Rèn luyện sự tự tin vào chính bản thân mình.

Tự mình phán xét hay nhờ bạn thân nhận xét về khả năng của bạn.

Tăng cường quan hệ với những người tin bạn, tin ở sự thành công, tránh xa những kẻ hoài nghi, rèm pha.

+ Tập nói thường xuyên, lúc đầu nói ít, nói ngắn, sau quen dần sẽ nói nhiều hơn trong khoảng thời gian dài hơn.

+ Nhớ kỹ câu này: "Tập đi rồi hãy tập chạy". Thành công được một vài lần, sau rất dễ thành công.

+ Tìm thêm động lực bằng sự khích lệ của bạn bè.

+ Luôn luôn yêu cái thật, cái tốt, cái đẹp.

+ Nhớ rằng người nghe vốn sẵn có thiện cảm với diễn giả.

+ Đừng để ý nhiều đến dư luận. Biết dư luận để sửa các khuyết tật của mình là cần thiết, song từ đó lại kém tự tin, rụt rè thì có hại. Nên hiểu rằng: Dư luận cũng có khi sai, chân lý không phải bao giờ cũng thuộc về số đông.

Quy tắc 2: Cần tuân thủ các bước khi chuẩn bị bài nói (Diễn văn, bài nói chuyện, chuyên đề...).

+ Chọn đề tài mà bạn thấy thích thú và muốn nói trước công chúng.

+ Luôn nhớ tính nhất quán của vấn đề định trình bày, tìm mọi cách để đạt tới mục tiêu chính của đề tài.

+ Lập đề cương sơ bộ, bao gồm những ý chính cần nói.

+ Tìm ý phụ và các tư liệu bằng cách trả lời 6 câu hỏi sau đây: Ai? Cái gì? Ở đâu? Bằng cách nào? Ra sao? Khi nào?.

+ Ghi chép ngay những ý mới xuất hiện trong đầu bạn.

+ Sắp xếp các ý một cách rõ ràng, rành mạch.

+ Lựa chọn nhiều chứng cớ, thí dụ để minh họa cho sinh động.

+ Phải biết tự hạn chế. Khi nào bỏ đi 5, 6 ý, chỉ giữ lại 3, 4 ý mà không thấy tiếc thì bài nói của bạn mới có hy vọng hấp dẫn người nghe.

- Sắp sếp các ý phụ theo bố cục của các ý chính và có mối liên hệ tự nhiên với nhau.

Quy tắc 3: Rèn luyện trí nhớ

- Soạn xong đề cương bài nói chuyện, bạn cần nhẩm lại, tốt nhất là trong khung cảnh thiên nhiên (vườn hoa, công viên, bờ hồ...).

- Lặp đi lặp lại bài diễn văn trong khi đợi xe, hay đi dạo chơi... có thể nói thành tiếng trong phòng riêng.

- Cố gắng không viết lại toàn bộ bài diễn văn, nếu phải viết thì không nên học thuộc lòng. Chỉ nên ghi lại những ý dễ quên qua các lần lặp lại.

- Muốn nhớ được lâu cần phải:

+ Tập chú ý nhận xét tinh tế, sâu sắc.

+ Tìm các ý độc đáo, khác thường.

+ Lật đi lật lại vấn đề.

+ Công thức hóa các ý.

Ví dụ Công thức đưa đất nước tiến lên ở các nước phát triển, dựa vào tiềm năng của lớp trẻ: 3 chữ I (Imitate, Initiative, Innovation) nghĩa là bắt chước, cải tiến, cải tổ.

Công thức 5 chữ M do các nhà giáo dục học thế giới tổng kết trong việc định hướng giáo dục thanh thiếu nhi (Man, Machine, Manager, Money, Marketing) nghĩa là trong thời đại ngày nay cần tạo điều kiện để lớp trẻ tự khẳng định mình, tiếp cận với khoa học kỹ thuật hiện đại, trở thành người tự tổ chức cuộc sống của chính mình, biết kiếm tiền một cách chính đáng và dùng tiền hợp lý, biết tiếp cận với thị trường, kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội.

Quy tắc 4: Vạn sự khởi đầu nan.

Khúc dạo đầu là hết sức quan trọng.

- Bạn phải làm cho người nghe chú ý tới bạn, có thiện cảm với bạn ngay từ đầu buổi nói chuyện qua phong thái tự tin, cởi mở và chân thành. Hết sức tránh thái độ trịnh trọng giả tạo vàc suồng sã quá mức.

- Những điều nên tránh:

+ Nếu bạn không có tài khôi hài thì đừng cố làm cho người nghe cười. Bạn sẽ thất bại.

+ Đừng dùng lời lẽ sáo rỗng để vào đề.

+ Không mở đầu bằng một lời xin lỗi giả dối...

- Những phương pháp vào đề cụ thể nên áp dụng

+ Mở đầu bằng một câu chuyện (chuyện cổ tích, chuyện đời thường...)

+ Dẫn lời một danh nhân nào đó, dẫn tục ngữ, ca dao...

+ Đặt một số câu hỏi xoay quanh đề tài.

+ Gợi tính tò mò của người nghe.

+ Làm một điệu bộ gì khác thường hoặc trình bày sự thực dưới một hình thức mới mẻ.

+ Tự giới thiệu mình đối với những người nghe chưa quen biết.

Quy tắc 5: "Diễn  giảng là làm sống lại một đề tài".

- Lời lẽ phải rõ ràng, sáng ý, có mối liên hệ tự nhiên giữa các ý. Đừng lý thuyết nhiều quá.

- Có nhiều phép lập luận (quy nạp, diễn tịch, phân tích - tổng hợp, so sánh...). Tuy nhiên bạn nên tránh.

+ Chưa định nghĩa rõ ràng đã lập luận.

+ Định nghĩa sai.

+ Lấy một trường hợp cá biệt để khái quát thành cái phổ biến.

+ Nhầm lẫn nguyên nhân với kết quả, nguyên nhân với điều kiện, nguyên nhân với nguyên cớ, khả năng và hiện thức, bản chất với hiện tượng, nội dung với hình thức, cái tất nhiên với cái ngẫu nhiên...

+ Vướng vào vòng luẩn quẩn, tự mâu thuẫn với chính mình.

- Có nhiều cách phản bác ý kiến của người khác để bênh vực cho quan niệm của bạn:

+ Tìm ra mâu thuẫn trong cách lập luận của họ.

+ Đưa ra những tài liệu thực tiễn để chứng minh tính sai lầm trong quan niệm của họ (vì thực tiễn là tiêu chuẩn của chân lý), hoặc chỉ ra tính không đáng tin của những tư liệu mà họ dùng.

+ Chỉ ra tính chủ quan, phiến diện trong quan niệm của họ. Nếu đó là những thành kiến, định kiến thì cách tốt nhất là sử dụng các "phản ví dụ" để bác bỏ.

+ Đối với những lời lẽ mỉa mai, châm chọc thì tốt nhất là nên làm ngơ và tiếp tục trình bày vấn đề của mình.

Quy tắc 6: Không nên coi thường đoạn kết

- Nên viết trước và học thuộc lòng 2, 3 lối kết kết để tuỳ cảm xúc tâm lý của người nghe mà dùng cho thích hợp.

- Những lối kết thông dụng:

+ Tóm tắt ý trong bài nói chuyện, gọn nhưng không thiếu

+ Kết thông qua những lời khuyên mang tính tâm lý, bằng triết lý của cuộc sống đời thường, dễ gây ứng tượng.

+ Khuyến khích người nghe hành động.

+ Đặt một vài câu hỏi, nêu một số vấn đề để người nghe tiếp tục suy nghĩ, tự tìm câu trả lời.

Quy tắc 7: Ý tứ sáng rõ, lời lẽ khúc chiết là tiền đề của thành công.

- Muốn cho ý tứ được rõ ràng, sáng rõ bạn phải:

+ Thấu hiểu vấn đề.

+ Không bao giờ xa đề.

+ Biết tự kiềm chế, chỉ nói những điều quan trọng nhất.

+ Không lý thuyết viển vông mà nên đưa ra nhiều ví dụ, nhiều chứng cớ để minh họa.

+ Tránh thói mơ hồ.

- Muốn cho lời lẽ được khúc chiết, bạn phải:

+ Không nên dùng những câu dài quá.

+ Không dùng những điển tích mà nhiều người chưa quen.

+ Tránh dùng danh từ chuyên môn quá hẹp và những từ mới chưa thông dụng. Nếu bắt buộc phải dùng các loại từ trên thì nên giảng cho người nghe hiểu nghĩa.

+ Giảm dị và tự nhiên trong lời nói (không cầu kỳ, hoa mỹ, song cũng không được thô lỗ).

+ Không dùng những câu tối nghĩ như: "Tôi cần nó hơn anh".

- Chỉ khi nào người nghe "trông thấy" được những ý của bạn thì mới hiểu rõ được ý ấy. Muốn vậy bạn phải:

+ Thường xuyên so sánh, đối chiếu, ví von.

+ Dùng nhiều hình ảnh.

+ Dùng sơ đồ, bảng thống kê, hình vẽ (nếu có thể được).

- Lựa chọn cách lập luận và diễn giải phù hợp với trình độ hiểu biết của số đông người nghe.

- Nếu có thể được thì tập trình bày trước cho các bạn thân, bạn đồng nghiệp để họ góp ý cho những câu, những đoạn cần sửa.

Quy tắc 8: Khắc sâu những ấn tượng khó quên vào đầu óc, tâm trí người nghe.

Trình bày rõ ràng, sáng rõ một chân lý chưa đủ, phải làm cho bài nói chuyện của mình thực sự thú vị, hấp dẫn, kích thích người nghe. Muốn vậy, bạn nên theo các cách dưới đây:

- Kể một chuyện lạ (hay chuyện vui) có liên hệ với đời sống hàng ngày của người nghe, gắn chặt với đề tài.

- Dùng càng nhiều hình ảnh càng tốt.

- Làm chio các con số trở nên "biết nói", đổi những con số trở thành những vật có thể thấy được.

- Nêu ra dồn dập các sự kiện hay dồn dập các câu hỏi.

Khéo dẫn lời các danh nhân (đưa vào những chỗ thích hợp để có thêm "sức mạnh" cho lập luận).

- Tuỳ từng trường hợp mà áp dụng: khên trước chê sau (nếu muốn chê) và chê trước khen sau (nếu muốn khen). Có khi chê để mà khen và khen để mà chê.

- Khi cần thiết có thể dùng cách nói cực đoan hóa, tuyệt đối hóa.

- Để tập trung sự chú ý, có thể dùng cách nói lửng (ở những chỗ mà dường như độc giả có thể đoán được ý tiếp theo).

Tóm lại, sự bất thường luôn luôn được người nghe chú ý tới. Tạo ra tình huống bình thường nhưng nêu ra cách giải quyết bất thường cũng là cách thu phục nhân tâm tốt nhất.

Quy tắc 9: Nắm vững tâm lý của người khác.

Bạn phải chú ý đến đặc điểm tâm lý của từng đối tượng. Thanh niên, học sinh, sinh viên đầy mơ mộng, sách vở nhưng cũng rất thực tế, năng động ham hiểu biết, muốn tự khẳng định mình, không thích trịnh trọng, dài dòng. Vì vậy, bài nói chuyện cần dí dỏm, súc tích, đi sâu được vào đời sống của học (ở ký túc xá, ở lớp học...).

Quy tắc 10: Hướng người nghe tới hành động thực tế.

- Mục đích cao nhất trong cuộc sống con người không phải là sự hiểu biết mà là sự hành động.

- Muốn vậy phải làm cho người nghe hiểu bạn và tin bạn.

+ Trước hết cần hướng người nghe tới cái Thật, cái Tốt, cái Đẹp; căm ghét cái Giả, cái Xấu, cái Ác.

+ Đừng để cho người nghe phải mất thì giờ vì những lý thuyết viễn vông, xa thực tế.

+ Bản thân mình phải thực sự tin bào những điều mình sắp nói cho người khác. Lòng thành thật là khởi điểm của niềm tin.

+ Tự đặt mình vào vị trí của người nghe, họ sẽ có thiện cảm hơn với bạn.

+ Khiêm tốn vẫn là đức tính quan trọng nhất, từ đó có thể thu phục người nghe.

- Là học sinh, sinh viên ai cũng ước mơ, khao khát phấn đấu để học tập và rèn luyện tốt, ham học hỏi những điều mới lạ và quan tâm tới tương lai sau này. Trong bài nói chuyện của mình, bạn nên chỉ cho người ta thấy nếu  hành động đúng thì sẽ có được các lợi ích đó.

Quy tắc 11: Phải làm cho vốn từ của bạn thật phong phú, cần thuộc nhiều danh ngôn và thành ngữ, tục ngữ, đến mức khi cần ta có thể huy động được ngay, lời lẽ trong sáng.

- Sưu tầm các từ đồng nghĩa, phản nghĩa.

- Sưu tầm các danh ngôn cho từng lĩnh vực.

- Chọn lọc các thành ngữ, tục ngữ ngắn gọc ("không thầy đố mày làm nên", "học thầy không tày học bạn", "đi một ngày đàng học một sàng khôn"...).

- Học ở các diễn giả có tài, các nhà hùng biện nổi tiếng.

- Hết sức tránh các lỗi thông thương: nói ngọng, nói lắp, nói những câu vô nghĩa, không hiểu rõ nghĩa của từ cũng dùng, thêm không đúng chỗ, hành văn theo tư duy ngôn ngữ nước ngoài, thêm những trợ từ vào đầu mỗi câu ("tức là", "nói chung"...).

Quy tắc 12: Những việc cần làm khi bước lên diễn đàn

- Mỉm cười, bước khoan thai, đầu hơi ngửng lên, ngực hướng về phía trước.

- Nếu có hồi hộp thì thở mạnh, đưa mắt tìm người quen trong phòng.

- Tránh nói đều đều, cần lúc mạnh, lúc nhẹ, lúc nhanh, lúc chậm. Nghỉ một chút, trước và sau các ý quan trọng.

- Phải nhìn thẳng vào người nghe để nói với học, tránh nhìn xuống nền, nhìn lên trần nhà hoặc nhìn ra ngoài cửa...

- Khi thấy có người buồn ngủ, bạn phải nói to hơn, hăng hái hơn và nên xen vào một vài chuyện vụi.

- Điệu bộ phải tự nhiên, không nên bắt chước ai. Vấn đề điệu bộ thế nào là tuỳ thuộc vào cảm xúc của bạn (vui, buồn, giận...).

- Bỏ những tật xấu: mâm mê cúc áo, đưa tay gãi đầu, xỏ tay vào túi quần, sửa kính.

- Đừng tỏ ra rụt rè, có thể vung tay hợp lý, có thể ngồi nếu thấy mỏi...

Tâm đắc với đề tài đã lựa chọn, tôn trọng người nghe và nêu đúng tâm lý trẻ trung ham hiểu biết, nhạy cảm... của các bạn học sinh, sinh viên, đó là tiền đề của thành công.

Tựu trung, người cán bộ Đoàn trường học cần luôn luôn ghi nhớ nguyên tắc:Nói (viết) để làm gì? Nói (viết) cho ai? Nói (viết) cái gì? Nói (viết) như thế nào? Ai nói (viết)?

Chuyên đề 4:


KỸ NĂNG GIAO TIẾP ỨNG XỬ

( Nguồn: http://violet.vn/hdhh/present/show/entry_id/2627517 ).

 

Trong cuộc sống, trong giao tiếp hàng ngày con người luôn phải ứng phó với biết bao tình huống, có lúc dễ dàng xử lý, có lúc thật phức tạp, khó xử. Xã hội càng văn minh thì nhu cầu trong giao tiếp của con người càng cao. Ứng xử một cách thông minh, khôn khéo, tế nhị, kịp thời, có hiệu quả, đạt tới mức độ nghệ thuật, ngày nay còn được coi như bí quyết thành công trong cuộc đời, trong công việc khi bạn là một cán bộ hoạt động Đoàn trong thanh thiếu niên.

  I. Nguyên tắc ứng xử:

     1.  Hãy tiếp cận với con người ở góc độ không tốt, không xấu:

 Không có ai là người hoàn toàn xấu cả. Khi đánh giá con người cụ thể chúng ta thường bị những cách nhìn tĩnh tại, xơ cứng, bị định kiến che lấp, ít khi tách ra được dù chỉ là tương đối đầy đủ những ưu điểm, nhược điểm của họ và lại càng không xác định được giới hạn, hoàn cảnh, diễn biến có thể có của những ưu điểm và nhược điểm đó. Con người cũng dễ bị chi phối bởi qui luật cảm xúc “yêu nên tốt, ghét nên xấu”. Kết quả là dễ mắc sai lầm trong giao tiếp. Do vậy nguyên tắc đầu tiên trong nghệ thuật ứng xử là hãy tiếp cận với con người ở góc độ không tốt, không xấu.

 Ở nguyên tắc này, mỗi người có thể tự tìm cho mình một cách ứng xử thành công, ta tạm chia thành các bước sau:

 Bước 1: Hãy thừa nhận (chấp nhận).

Bước 2: Biết lắng nghe ý kiến, tìm ra chỗ mạnh, chỗ yếu của người. Thấy cái mạnh, lợi thế của ta (cái ta có mà người không có).

 Bước 3: Tạo ra sự đồng cảm, gây niềm tin (hiểu biết lẫn nhau, gây sự tin tưởng).

 Bước 4: Tìm điểm chung, mỗi bên đều thấy được cái lợi, cái vui và cách cộng tác, tương lai của sự cộng tác đó.

 Bước 5: Tạo dư luận ủng hộ, xây dựng mối quan hệ thân tình.

   2.  Lường mọi điều, tính đến mọi khả năng với nhiều phương án:

 

Nếu trong mỗi con người đều có những giá trị dương (+) (những đức tín tốt, những mặt mạnh, những ưu điểm…) và có cả những giá trị âm (-) (những tính xấu, những mặt yếu, những khuyết điểm…) thì với người này có thể tới 90 (+), có 10 (-) hoặc ở người khác có thể đạt 99 (+) chỉ có 1 (-). Vấn đề là ở chỗ cần phải biết nhìn ra “dấu cộng” trong cả khối “dấu trừ” và phát hiện kịp thời “dấu trừ” trong “vô khối dấu cộng” để có thể dự đoán được tác động có hại của mặt trái “dấu trừ” mà khởi thủy của nó chỉ là một chấm nhỏ rất mờ nhạt trong cả khối “dấu cộng”.

 Điều quan trọng hơn trong phép ứng xử là tìm ra những chất xúc tác để kích thích phản ứng đổi dấu tích cực xảy ra theo hướng 1 (+) trở thành n (+) và n (-) giảm xuống còn 1 (-).

 3.  Nắm bắt nghệ thuật theo nhu cầu:

 Điều khó nhất trong giao tiếp ứng xử là đối tượng thờ ơ, không có nhu cầu. Bạn sẽ ứng xử như thế nào khi đối tượng không muốn nói chuyện, không muốn nghe bạn can ngăn, không muốn hợp tác với bạn v.v…?

 -  Hãy gợi trí tò mò hoặc cho họ thấy cái lợi, cái vui mà bạn đang có, còn người ấy đang thiếu, đang cần.

 -  Chỉ cho họ bằng cách nào đó, thấy tia hy vọng vào kết quả, gây thiện cảm, tạo sự tin tưởng.

 -  Giao trách nhiệm một cách công khai, tạo ra tình huống chỉ có tiến chứ không có lùi, ràng buộc bằng những sợi dây vô hình về quan hệ nào đó đã được hình thành.

 -  Gây niềm say mê, tìm được ý nghĩa trong cuộc sống, công việc đang tiến hành.

 -  Củng cố niềm tin, thuyết phục về một kết cục tốt đẹp.

 -  Phải tạo ra sự an toàn, biết cách chống đỡ dư luận, tạo dư luận mới ủng hộ.

 -  Tính đến nhiều phương án, chọn phương án hợp với mình nhất, có thể tạo ra những vấp ngã nhỏ để luyện tập bản lĩnh, chủ động đề phòng tính tự kiêu.

 Trong những trường hợp cụ thể đòi hỏi mọi người phải biết ứng biến và điều quan trọng hơn là hãy tìm cho được sơ đồ đi tới thành công riêng của mình.

   II. Một số cách ứng xử:

  1.  Thủ thuật “ném đá thăm đường”:

 Có bạn trai tâm sự: Đến dự đám cưới một người bạn, tôi đã gặp một người con gái mà tôi thầm mơ ước, tôi rất muốn làm quen với người con gái ấy nhưng không biết phải bắt đầu như thế nào?

 Có lẽ trước tiên nên bắt đầu vào đề từ cùng một hứng thú. Chẳng hạn có thể từ một bức tranh, một bản nhạc, một ca khúc mới được mọi người yêu thích, hay một bộ phim mới, một quyển sách mới, một mốt quần áo mới… những cái đối phương biết rõ và có phản ứng tích cực. Hoặc có thể từ một điểm chung nào đó về học tập, việc làm… Bắt đầu từ những câu chuyện không quan trọng lắm để làm mất đi sự căng thẳng và ngăn cách giữa hai người và qua đó bạn có thể hiểu thêm về người bạn mà ta muốn gần gũi (những sở thích, thói quen, cá tính…) có một sơ đồ giao tiếp sau đây:

 a.  Giai đoạn trước khi giao tiếp:

 -  Xác định mục đích, làm quen đối tượng và gây ấn tượng tốt

 -  Đánh giá đối tượng, hoàn cảnh:

 +   Sở thích,thói quen, cá tính.

 +   Thời gian, không gian cuộc gặp.

 +   Có hay không có người giới thiệu.

 -  Lựa chọn phương án ứng xử:

 +   Tìm cớ làm quen cho hợp lý, tế nhị.

 +   Ngôn ngữ, cử chỉ dễ cảm mến.

 +   Văn phong gần gũi, không quá trịnh trọng nhưng cũng không suồng sã.

 +   Tính trước những tình huống bất ngờ có thể xảy ra để ứng xử nhanh.

 b.  Giai đoạn giao tiếp:

 Nên:

 -  Phá bầu không khí xa lạ bằng việc hỏi han hoặc những câu nói đùa.

 - Tìm chủ đề chung, ít chạm đến quan điểm cá nhân.

 -  Nói ít về mình. Chú ý quan sát cử chỉ, điệu bộ, nét mặt của đối phương.

 -  Giới hạn cuộc giao tiếp trong phạm vi vừa đủ, dừng đúng lúc.

 -  Nêu ra những câu hỏi thăm dò, chủ động gợi chuyện.

 -  Tự tin.

 Không nên:

 -  Vội vã đi vào vấn đề chính.

 -  Đặt những câu hỏi liên quan nhiều đến cá nhân.

 -  Nói nhiều về mình, dốc bầu tâm sự, nói thẳng về mình khi đối phương đặt những câu hỏi thăm dò.

 - Chuyện lan man, kéo dài cuộc giao tiếp.

 -  Khích bác hoặc công kích nói xấu một ai đó.

 -  Rụt rè, lảng tránh, ấp úng.

   2.  Tình huống cần đối đáp mềm mỏng, ý nghĩa sâu xa:

 Dân gian có câu:

 “Lời nói chẳng mất tiền mua

Lựa lời mà nói cho vừa lòng nhau”.

 Đối với nhiều ý kiến phê bình, phản đối của đối phương, không nên đáp lại bằng những lời nói hằn học, nặng nề mà nhiều khi nên dùng lời nói nhẹ nhàng nhưng chứa đựng những ý nghĩa sâu xa.

   3.  Tình huống phải chuyển bại thành thắng:

 Trong cuộc sống đời thườnng nhiều khi ta bị đẩy vào tình huống bất lợi, có nguy cơ thất bại, lúc đó đòi hỏi phải bình tĩnh, suy nghĩ ngay đến những hậu quả xấu nhất có thể xảy ra (chuẩn bị tâm thế sẵn sàng chấp nhận). Tìm xem có cách gì để hạn chế mức thấp nhất những tác hại (ví dụ: điều gì đã đẩy ta vào tình thế bất lợi, có cách nào tạo được kế hoãn binh có vẻ ít liên quan, nhưng nếu được “địch thủ” sẵn sàng chấp nhận thì chính điều có vẻ không liên quan đó có thể thay đổi tình thế…).

 4.  Tình huống dùng hài hước:

 “Khi bạn nổi cáu ta hãy đùa lại một câu” (Laphôngten).

 Hài hước là một nhân tố cực kỳ quan trọng trong ngôn ngữ giao tiếp. Đó là “chiếc van an toàn” cho mọi cuộc xung đột, là chìa khóa để mở “cánh cửa lòng”. Lời đối đáp khôn ngoan, thông minh, dùng ngôn ngữ hài hước để phê phán thường mang lại hiệu quả lớn hơn nhiều. Bởi thế khi kể một câu chuyện cười hoặc một lời đối đáp có nội dung, cách nói hài hước thường làm cho không khí vui nhộn, điều tiết được tình cảm, nhắc khéo người khác mà không làm họ bực mình. Tất nhiên cũng không nên lạm dụng nó.

 Quy luật phổ biến của truyện hài hước là mở đầu dẫn dắt và hình thành làm cho người ta nghi vấn. Người kể nên có ngữ điệu bình thường, sau đó tăng thêm tình tiết nghi hoặc và giải quyết bất ngờ.

 5.  Tình huống phải đi thẳng vào vấn đề khi cần thiết:

 Trong cuộc sống có trường hợp không thể quanh co, bóng gió, tế nhị mà phải bày tỏ quan điểm, thái độ của mình một cách thẳng thắn, kiên quyết. Lúc đó phải diễn đạt vào thẳng nội dung chính của vấn đề để biểu hiện ý chí và lòng tin ở bản thân. Đối với những vấn đề then chốt không nên tỏ ra quá cân nhắc, đắn đo làm cho người nghe cảm thấy thiếu tin tưởng, do dự. Tất nhiên để nói bằng cách này cần phải suy nghĩ, cân nhắc thật kỹ càng.

  6.  Tình huống nói ẩn ý bằng ngụ ngôn:

 Trong giao tiếp khi cảm thấy khó thuyết phục người khác bằng lý lẽ trực tiếp hoặc cảm thấy dễ bị phản ứng, không tiện nói thẳng ra, thì người ta thường dùng phương pháp ẩn ý bằng ngụ ngôn. Tức là chọn những câu chuyện ngụ ngôn có nội dung ẩn ý bên trong phù hợp với mục đích khuyên răn, thuyết phục của mình để kể cho đối phương nghe.

 Cái lợi của phương pháp này là người nghe phải suy nghĩ mới hiểu hết cái ẩn ý bên trong đó. Bản thân câu chuyện sẽ đưa ra những lời khuyên sâu sắc chứ không phải người kể chuyện, do đó không có lý do để nổi khùng, tự ái hoặc mặc cảm.

 Tuy nhiên để dùng phương pháp này có hiệu quả, người dùng phương pháp này phải am hiểu câu chuyện phù hợp với trình độ người nghe, nếu người nghe không hiểu gì cả, sẽ không có tác dụng.

  7.  Tình huống phản bác khéo những yêu cầu vô lý ở người khác:

 Cũng có lúc bạn gặp những người khăng khăng đưa ra cho bạn những đòi hỏi vô lý không thể thực hiện được. Trước những tình huống đó nhiều khi ta không thể bác bỏ thẳng thừng vì chạm lòng tự ái hoặc người không thỏa mãn với ta rồi tiếp tục quấy rối nữa vá cách đó cũng chưa làm cho người tự nhận thấy được những đòi hỏi của họ là vô lý.

 Vậy ta sẽ xử lý thế nào trong trường hợp đó? Tốt nhất là hãy thừa nhận đã, sau đó khéo léo chỉ ra sự vô lý hoặc điều không thể thực hiện được. Cũng có thể cảnh tỉnh người đó bằng việc chỉ ra những điều bất lợi, sự nguy hiểm nếu người đó cứ giữ nguyên ý kiến, nhắm mắt hành động. Chú ý ngôn ngữ không nên gay gắt nhưng tỏ ra cương quyết.

   8.  Tình huống thừa nhận trước để chuyển hướng sau:

 Nếu khi bạn không đồng ý với ý kiến của đối phương mà người đó lại là cấp trên, người lớn tuổi, cha mẹ… thì bạn sẽ xử sự như thế nào? Việc thuyết phục để đối phương nghe theo mình, có nghĩa là chấp nhận ý kiến của mình cũng đòi hỏi phải có một nghệ thuật nhất định.

 Bạn chớ phản đối và phê phán các ý kiến của đối phương. Bạn hãy tiếp thu ý kiến của họ, biểu thị thái độ đồng cảm ở mức độ nào đó để có thể làm giảm được sự cứng nhắc của đối phương, khiến họ bằng lòng nghe ý kiến của bạn. Song phải nắm vững nguyên tắc không được tỏ thái độ của mình ngang bằng với đối phương để tiếp sau đó dùng lời mà chuyển hướng, thay đổi cách nhìn nhận của đối phương, làm họ bằng lòng tiếp thu ý kiến của bạn.

  9.  Tình huống cần bạn đồng minh:

 Khi tranh luận trước nhiều người cần thể hiện quan điểm, bạn nên chú ý đầy đủ đến thái độ của những người xung quanh, cần động viên được nhiều người nghe và ủng hộ quan điểm của mình. Nếu người nghe ủng hộ ta, đồng tình với quan điểm của ta đang trình bày, sẽ tạo thành một sức mạnh to lớn, một sức ép tinh thần làm đối phương không phản kích lại được.

 Chẳng hạn khi đang xếp hàng có người chen ngang, bạn lợi dụng thái độ của số đông mọi người xung quanh để gạt người đó ra khỏi hàng là hợp lý nhất.

   10. Tình huống không nhượng bộ khi mình có lý trong tranh luận:

 Trong quan hệ giữa người với người, tranh luận là một điều hết sức bình thường và không thể tránh được. Không có tranh luận, điều phải trái không được phân định. Không thể coi tranh luận là một thói xấu mà hạn chế nó.

 Song tranh luận có thể dẫn đến sự không thoải mái hoặc đôi khi xung đột. Tranh luận có phương pháp sẽ đem lại kết quả tốt là điều chúng ta cần chú ý học hỏi.

 Một là, khi tranh luận nên có thái độ thật công bằng, đừng làm tổn thương đến lòng tự ái của người kia. Sự phê phán, bình phẩm người khác không thể quá một giới hạn nhất định, nếu không có thể làm tăng thêm mâu thuẫn vốn có.

 Hai là, giọng nói phải mền mỏng, thật lòng. Trong tranh luận phải tỏ ra tôn trọng nhau, làm sao cho người cùng tranh luận tin rằng tranh luận thật là có ích. Trong tranh luận nhiều khi người thắng không hẳn đã là  nhiều lý lẽ biết hùng biện, mà có thể là người có thái độ đúng mực và chân thực nhất.

 Ba là, tranh luận phải có mục đích rõ ràng. Tranh luận nên xoay quanh những điều cần giải quyết.

 11. Tình huống cần thuyết phục bằng hành động:

 “Mọi lý thuyết đều màu xám

Còn cây đời mãi mãi xanh tươi”

Trong giao tiếp, khi cảm thấy khó thuyết phục người khác nghe ý kiến của mình bằng lời nói, bạn có thể dùng hành động để thuyết phục. Thuyết phục bằng hành động thường hiệu quả lớn nhất. Thông qua việc làm, hành động cụ thể, ta có thể làm cho đối phương thay đổi cách nghĩ, tình cảm, thái độ, chấp nhận ý kiến của ta.

 Bạn là một cán bộ phong trào thanh niên. Bạn muốn tổ chức các hoạt động văn hóa thể dục thể thao thanh niên nhưng các cấp lãnh đạo ở địa phương chưa tin tưởng vào khả năng của bạn, chưa tạo điều kiện mọi mặt để bạn làm việc. Bạn đừng nản chí và cũng đừng dùng lời nói để thuyết phục. Hãy cố gắng tạo ra một vài việc làm cụ thể có hiệu quả. Từ sự thành công đã đạt được, tận dụng thời điểm gây hưng phấn cao rồi đưa ra những kiến giải hợp lý với các cấp lãnh đạo.

 Như vậy, mục đích và kết quả hoạt động đạt được và mối quan hệ ảnh hưởng của bạn phát triển tốt hơn.

 Khi vận dụng phương pháp này bạn cần lưu ý:

 -  Mục đích hoạt động phải rõ ràng, không vụ lợi.

-  Có kế hoạch hành động chi tiết, tính đến các điều kiện cần và đủ đảm bảo cho sự thành công, bước đầu tiên tránh thất bại.

 -  Tạo dư luận ủng hộ để gây sức ép hoặc quy tụ sức mạnh.

 -  Làm thử để chứng minh, rút kinh nghiệm.

 -  Tạo quan hệ gần gũi tin cẩn.

 Nếu ở vào tình huống các bậc “hụ huynh” của người yêu bạn còn chưa tin tưởng và chấp nhận cho bạn yêu con của họ, thì bạn cũng có thể dùng phương pháp này để đạt mục đích.

   III. Những điều nên tránh trong giao tiếp ứng xử:

 1.   Nói nửa chừng rồi dừng lại hoặc cướp lời người đang nói, làm nhiễu thứ tự hoặc luồng suy nghĩ của người đó.

 2.   Không nói rõ và giải thích đầy đủ làm người nghe cảm thấy đột ngột, khó hiểu đề tài nói chuyện của bạn. Không nên đưa những trọng tâm, những khái quát làm người tiếp chuyện khó theo dõi mạch chuyện.

3.   Nói sai đề tài, không quan tâm đến điều mình nói.

 4.   Nói thao thao bất tuyệt, không ngừng nêu các câu hỏi làm người tiếp chuyện có cảm giác mình yêu cầu hơi nhiều quá.

 5.   Không trả lời thẳng vào câu hỏi mà người khác nêu ra, quanh co, dài dòng, gây nên cảm giác không trung thực cho người hỏi.

6.   Tự cho rằng mọi điều mình đều biết cả.

 7.   Làm ra vẻ hiểu biết sâu rộng.

 8.   Phát triển câu chuyện không tập trung vào chủ đề chính làm cho người tiếp chuyện cảm thấy nhàm chán.

9.   Ngắt bỏ hứng thú nói chuyện của người khác để ép người đó phải chuyển sang nói về đề tài mà bạn thích.

 10. Thì thầm với một vài người trong đám đông.

11. Dùng ngôn ngữ quá bóng bảy.

 

12. Chêm những câu tiếng nước ngoài trong câu nói của mình một cách tùy tiện.

13. Đột ngột cao giọng.

14. Dùng những lời quá suồng sã với mức độ quan hệ.

 15. Dùng những từ đệm không cần thiết.

 16. Nói với giọng khích bác, chạm vào lòng tự ái của người khác.

Chuyên đề 5:

Phương pháp sân khấu hóa


 Sân khấu hóa là gì?

 Là những hoạt động đại chúng (chính trị, văn hóa, giáo dục…) được tiến hành theo đặc trưng của nghệ thuật sân khấu. Các nội dung sinh hoạt (có chủ đề) được chuyển tải liên tục, chặt chẽ bằng nghệ dàn cảnh và biểu diễn.

 Sân khấu hóa có thể mang tính chuyên nghiệp hoặc không chuyên.

 I. Giới thiệu những loại hình sân khấu hóa thường gặp trong sinh hoạt của Đoàn:

 1.  Hoạt cảnh truyền thống:

 Là hình thức tái hiện một sự kiện lịch sử, hình tượng nhân vật lịch sử, quá trình hình thành một dân tộc, vùng đất hay một tổ chức xã hội… để giáo dục truyền thống và ca ngợi những phẩm chất tốt đẹp của con người, đất nước.

 Hình thức sân khấu hóa thường bao gồm 2 nội dung:

 - Cảnh diễn: là hình tượng của sự kiện, của nhân vật.

 - Lời thoại: để thuyết minh cho cảnh diễn.

 2.  Sân khấu hóa lễ hội:

 Một lễ hội thường bao gồm 2 nội dung: phần lễ và phần hội:

 Hình thức sân khấu:

 - Phần lễ: việc tái hiện sự kiện, hình tượng nhân vật được lấy làm tinh thần của ngày lễ (ở lễ hội truyền thống dân gian thì đây là phần nghi lễ mang yếu tố tâm linh, thiêng liêng đã được thiết lập, quy định từ lâu – còn ở lễ hội hiện đại thì phần sân khấu nghi lễ thường mang tính sáng tạo, tượng trưng và mới lạ…).

 - Phần hội: hướng dẫn người tham dự sinh hoạt và có hành động hưởng ứng như: múa hát, diễu hành, vẫy cờ, trò chơi.

 3.  Sân khấu hóa thông tin báo cáo:

 - Nội dung: nhằm thông tin, báo cáo, tổng lết một quá trình hoạt động tới đông đảo thành viên (trong tổ chức) hoặc rộng rãi quần chúng trong xã hội.

Hình thức: là một tiểu phẩm kịch trọn vẹn (có thể là tấu hài) có đầy đủ các nhân vật để xử lý nội dung báo cáo thông qua việc xây dựng, giải quyết các mâu thuẫn giữa các nhân vật.

 4.  Sân khấu hóa thông tin tuyên truyền:

 -  Là những tiểu phẩm kịch ngắn nhằm tuyên truyền, cổ động các vấn đề xã hội như: kế hoạch hóa gia đình, phòng chống ma túy – AIDS, phát động phong trào, bảo vệ môi trường, chăm sóc trẻ em…

 -  Thông qua câu chuyện sân khấu để phân tích, thuyết phục những mặt trái, mặt phải – cái lợi, cái hại… của những vấn đề được nêu lên.

 -  Chương trình thường được kết hợp với phần tuyên truyền miệng của tuyên truyền viên và các hình thức tuyên truyền khác như panô, áp phích, tờ bướm.

 -  Sân khấu thông tin tuyên truyền luôn mang tính nhanh nhạy kịp thời…, dễ hiểu, dễ cảm nhận và ngắn gọn.

 Ví dụ: Tuyên truyền chiến dịch “Ngày chủ nhật xanh”, sân khấu khai thác sự đối lập giữa tác hại và lợi ích xã hội của công tác vệ sinh môi trường, xây dựng những nhân vật đại diện cho hai phía (bên tả - bên hữu) để thuyết phục lẫn nhau…

 5.  Sân khấu hóa diễn đàn:

 -  Diễn đàn: là nơi mọi người công khai bày tỏ ý kiến, quan điểm của mình về những vấn đề đang được nêu ra.

 -  Tác phẩm: là dạng kịch minh họa vấn đề đang được nêu ra trong buổi diễn đàn (có thể chỉ là một tình huống của sự việc) giúp mọi người hiểu rõ vấn đề, cũng có thể lấy tiểu phẩm đó làm dẫn chứng cho những lý lẽ của mình.

 Ví dụ:

 +    Diễn đàn “Sống trung thực”.

 Có thể xây dựng tiểu phẩm câu chuyện về một chiến sĩ hải quan: Trước mắt là những đồng tiền mua chuộc, dụ dỗ… Sau lưng là cuộc sống khó khăn… Vậy nên hay không nên nhận (đồng tiền mua chuộc)? Sự “phân vân” của nhân vật là tình huống “có vấn đề” cho diễn đàn.

 II.  Những bước tiến hành xây dựng một tác phẩm sân khấu hóa:

 1.  Một vài yếu tố cần xác định trước khi soạn thảo chương trình, nội dung tác phẩm:

 *  Xác định:

 - Nội dung, đề tài: phải xác định được mục đích, ý nghĩa của buổi sinh hoạt, từ đó xác định luôn mục đích ý nghĩa của nội dung tác phẩm sân khấu.

Nghiên cứu đối tượng: (khán giả và những người tham gia chương trình) phải nắm được số lượng người tham dự, trình độ, năng khiếu…

Cơ sở vật chất cần thiết phải có: không gian, sân khấu; hệ thống âm thanh, ánh sáng; vật liệu trang trí, hóa trang, đạo cụ…; kinh phí thực hiện; thời gian dành cho việc sáng tác kịch bản và tập diễn…; nhân lực tham gia: số lượng, trình độ, năng khiếu; thời lượng chương trình.

Đó là những yếu tố cần xác định trước khi tiến hành viết kịch bản, hình thành tác phẩm sân khấu.

 2.  Viết kịch bản:

 *  Kịch bản: là nội dung câu chuyện sân khấu (chuyển tải nội dung buổi sinh hoạt) trong đó có: nhân vật, hoàn cảnh câu chuyện, “hành động” của nhân vật trong từng tình cảnh câu chuyện… được trình bày bằng ký tự văn học.

 Mỗi kịch bản sân khấu bao giờ cũng phải có:

 - Loại hình (kịch nói – cải lương – kịch hát…)

- Tựa đề: tên của vở kịch.

- Không gian, thời gian, hoàn cảnh câu chuyện bắt đầu xảy ra tới kết thúc.

 Ví dụ: Khi truyện kể “ngày xửa ngày xưa tại một làng nọ…” – thì trên sân khấu không gian, thời gian đó được thể hiện qua nghệ thuật hội họa, điêu khắc, trang trí…

 - Để công việc dễ dàng hơn khi sáng tạo kịch bản chúng ta nên đi theo thứ tự:

 -  Xác định nhân vật điển hình: hình tượng xuyên suốt kịch bản, làm nổi bật ý nghĩa tư tưởng mà ta xác định ban đầu.

- Hoàn cảnh điển hình.

-  Nhân vật phụ: có tác dụng bổ sung, làm nổi rõ tính cách số phận,… của nhân vật điển hình.

-  Minh họa âm thanh – ánh sáng – hóa trang – hành động… (trong kịch bản thì phần minh họa nằm trong dấu đóng mở đơn () để phân biệt).

-  Viết lời thoại (lời bạt trong hoạt động truyền thống).

3.  Sáng tạo hành động cho nhân vật:

- Công việc của người đạo diễn và người diễn viên khi chuyển thể kịch bản thành tác phẩm sân khấu.

- Hành động sân khấu được chia ra 3 loại cơ bản sau:

+ Hành động tâm lý: (là linh hồn).

+ Hành động ngôn ngữ: (là quan trọng).

+ Hành động hình thể: (dùng làm thủ thuật để hoàn thành hành động tâm lý).

 Ví dụ:

+    Hành động tâm lý: cầu khẩn, van lơn… 

+    Hành động ngôn ngữ: cho tôi xin… 

+    Hành động hình thể: qùy vái… 

- Hành động sân khấu là ngôn ngữ nghệ thuật của người diễn viên. 

Muốn điều hành phương thức khai thác hành động trên sân khấu, phải trả lời 5 câu hỏi sau: 

+    Tôi (nhân vật) là ai? (phải tìm hiểu lý lịch, số phận, tính cách của nhân vật…). 

+    Tôi (…) đang trong hoàn cảnh nào? (đi sâu tìm hiểu, phán đoán tình cảnh được viết ra trong kịch bản). 

+    Tôi phải làm gì? (xác định đặc trưng của hành động: tâm lý, ngôn ngữ,hình thể…). 

+    Vì sao? Vì mục đích gì? (xác định nguyên nhân của hành động). 

+    Phải làm như thế nào? (phương thức hành động). 

Người đạo diễn nhất thiết phải hiểu rõ và sẵn sàng trả lời tất cả câu hỏi trên một cách logic, sáng tạo (do đó, cần thiết phải có kịch bản phân cảnh của đạo diễn). 

Người diễn viên phải sử dụng phép nhập vai biến chúng thành chuỗi hành động tích cực cho mình thông qua sự “tưởng tượng” sau đó thể hiện bằng kỹ thuật nội tâm, hình thể một cách liên tục, nhịp nhàng, chính xác. 

Để có sự sáng tạo trong hành động, đòi hỏi người “nghệ sĩ” phải có một tình cảm đặc biệt dành cho nhân vật của mình, đó là tình cảm đã sống (đã tích lũy được), do trí tưởng tượng, do liên tưởng và sự kích thích của quy định tình cảnh (Ví dụ: trong hoàn cảnh éo le, tột cùng đau khổ thì bật khóc cho nhân vật…), đó là sự giả định – NẾU – của sân khấu tạo nên. 

4.  Tập diễn kịch: 

* Khi kịch bản đã phân chia cảnh diễn hợp lý (bao nhiêu lớp, màn bao nhiêu cảnh) và đạo diễn đã quy định những hành động cơ bản cho nhân vật, việc tập kịch phải theo từng bước sau: 

-  Chọn diễn viên, phân vai diễn. 

-  Phát kịch bản hoặc trình bày nội dung kịch bản cho tất cả diễn viên. 

-  Với sân khấu (kịch nói, hát…) diễn viên phải thuộc lời thoại, lời hát… 

-  Tập thứ tự từng cảnh một (từ đầu tới cuối). 

-  Tập theo từng nhóm: có thể có nhiều nhóm tham gia như trong hoạt cảnh truyền thống, lễ hội (hát, múa, diễn kịch, âm thanh, ánh sáng…) 

-  Luôn có sự kết hợp âm thanh ánh sáng trong khi tập để tạo ra sự sáng tạo hợp lý, tăng thêm hấp dẫn, đồng thời dễ nhớ cảnh diễn của người diễn viên. 

-  Tổng dợt chương trình: kết hợp từng cảnh, từng nhóm thành một tác phẩm hoàn chỉnh. 

-  Có thể thêm, bớt một vài chi tiết không phù hợp trong khi chạy chương trình hoàn chỉnh. 

* Phối hợp âm thanh – ánh sáng – hóa trang đạo cụ. 

* Chú ý: Đầu tư về thời gian cho công việc tập luyện, cố gắng không thay đổi nhiều về nội dung đã tập. Người đạo diễn phải tham gia toàn bộ khâu hóa trang, đạo cụ, âm thanh, ánh sáng… Tác phẩm nhuần nhuyễn, hoàn chỉnh mới đưa ra sân khấu.

















30 CÂU HỎI TRẮC NGHIỆM TÌM HIỂU VỀ HIV/AIDS


1. Bạn hãy cho biết, kết qủa xét nghiệm HIV(+) được thông báo cho đối tượng nào sau đây:

A.Trưởng khu hành chính của người được xét nghiệm.

B. Người được xét nghiệm.

C. Cán bộ Thông tin- văn hoá xã.

D. Cả 3 đáp án trrên đều đúng.

Đáp án: B.

Khoản 1 điều 30 Luật phòng, chống Hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải ở người quy định:

1. Kết quả xét nghiệm HIV dương tính chỉ được thông báo cho các đối tượng sau:

a. Người được xét nghiệm;

b. Vợ hoặc chồng của người được xét nghiệm, cha, mẹ, hoặc người giám hộ của người được xét nghiệm là người chưa thành niên hoặc mất năng lực hành vi dân sự.

c. Nhân viên được giao nhiệm vụ trực tiếp tư vấn, thông báo kết quả xét nghiệm HIV dương tính cho người được xét nghiệm.

d. Người có trách nhiệm chăm sóc, điều trị cho người nhiễm HIV tại các CSYT, bao gồm trưởng khoa, trưởng phòng nơi người nhiễm HIV điều trị, nhân viên y tế được giao trách nhiệm trực tiếp điều trị, chăm sóc cho người nhiễm HIV tại CSYT.

e. Người đứng đầu, CB phụ trách y tế, nhân viên y tế được giao nhiệm vụ trực tiếp CSSK cho người nhiễm HIV tại cơ sở chữa bệnh, cơ sở giáo dục, trường giáo dưỡng, cơ sở bảo trợ xã hội, trại giam, trại tạm giam.

f. Người đứng đầu và cán bộ, công chức được giao trách nhiệm của các cơ quanquy định tại khoản 1 Điều 28 của Luật này.

2. Bạn hãy cho biết, ưu tiên tiếp cận thông tin, giáo dục truyền thông về phòng, chống HIV/ AIDS cho đối tượng nào sau đây?

A. Người nhiễm HIV và gia đình họ.

B. Người mắc bệnh lây truyền qua đường tình dục.

C. Phụ nữ có thai.

D. Cả 3 đáp án trên.

Đáp án: D

3. Bạn hãy cho biết, HIV không lây qua con đường nào sau đây?

A. Đường tình dục.

B. Giao tiếp thông thường ( ôm hôn, bắt tay…).

C. Lây từ mẹ nhiễm HIV sang con.

D. Cả 3 đáp án trên.

Đáp án: B

4. Bạn hãy cho biết, ở nước ta hiện nay tỷ lệ nhiễm HIV cao nhất nằm trong độ tuổi nào?

A. Dưới 20 tuổi.

B. Từ 20- 29 tuổi.

C. Từ 30- 39 tuổi.

D. Trên 40 tuổi.

Đáp án: B.( Tỷ lệ nhiễm HIV ở độ tuổi dưới 20 là 10%; 20-29 là 55%; 30-39là 24% và trên 40 chiếm 10%).

5. Bạn hãy cho biết tình dục an toàn là gì?

A. Sống chung thuỷ một vợ một chồng.

B. Dùng bao cao su đúng cách.

C. Thủ dâm.

D.Cả 3 đáp án trên.

Đáp án: D.

6. Bạn hãy cho biết, các bước trong quy trình tư vấn và xét nghiệm tự nguyện HIV/AIDS?

A. Tư vấn trước xét nghiệm.

B. Tư vấn trong xét nghiệm HIV.

C.Tư vấn sau xét nghiệm.

D. Cả 3 đáp án trên.

Đáp án: D

7. Bạn hãy cho biết ở Việt Nam hiện nay, xét nghiệm kháng thể khẳng định nhiễm HIV trẻ em có thể tiến hành khi nào?

A. Trẻ em dưới 6 tháng tuổi.

B. Trẻ em từ 6 tháng tuổi trở lên.

C. Trẻ em từ 12 tháng tuổi trở lên.

D. Trẻ em từ 18 tháng tuổi trở lên.

Đáp án: D. ( Xét nghiệm phát hiện HIV ở trẻ em chỉ có giá trị trên 18 tháng tuổi. Vì khi trẻ dưới 18 tháng tuổi két qủa dương tính có thể là “dương tính giả”, do kháng thể HIV của mẹ truyền cho con qua nhau thai nên kết quả xét nghiệm không chính xác).

8. Theo bạn, thời gian dự phòng lây nhiễm HIV tốt nhất là trong thời gian nào?

A. Ngay sau 2-3 giờ đầu.

B. Sau 1 tuần.

C. Sau 10 ngày.

D. Khi xác định rõ nguồn lây nhiễm HIV của người lây nhiễm.

Đáp án: A ( Thời gian điều trị dự phòng tốt nhất là ngay từ những giờ đầu tiên, tức là khoảng 2-3 giờ sau khi xẩy ra tai nạn, muộn nhất không quá 7 ngày).

9. Bạn hãy cho biết, thời gian điều trị thuốc kháng vi rút HIV ( ARV) cho bệnh nhân AIDS là bao lâu?

A. 1 năm.

B. 3 năm.

C. 5 năm.

D. Suốt đời.

Đáp án: D ( Hiện nay trên thế giới chưa có thuốc điều trị khỏi bệnh AIDS, chỉ có thuốc kháng vi rút HIV, là thuốc ức chế sự phát triển của vi rút HIV do đó khi bệnh nhân AIDS đã dùng thuốc kháng vi rút HIV thì phải dùng suốt đời).

10. Bạn hãy cho biết dấu hiệu lâm sàng chính của AIDS?

A. Sút cân trên 10% trọng lượng cơ thể.

B. Sốt kéo dài trên 1 tháng.

C. Ỉa chảy kéo dài trên 1 tháng.

D. Cả 3 đáp án trên.

Đáp án: D.

11. Bạn hãy cho biết, các giai đoạn lây truyền HIV từ mẹ sang con?

A. Khi mang thai.

B. Khi sing con.

C. Khi cho con bú.

D Cả 3 đáp án trên.

Đáp án D.

12. Bạn hãy cho biết Luật phòng, chống vi rút gây ra hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải quy định người nhiễm HIV có những nghĩa vụ nào dưới đây:

A. Thực hiện các biện pháp phòng lây nhiễm HIV sang người khác.

B. Thông báo kết quả xét nghiệm HIV dương tính cho vợ, con, chồng hoặc người chuẩn bị kết hôn biết.

C. Thực hiện các quy định về điều trị bằng thuốc kháng Hiv.

D. Cả 3 đáp án trên.

Đáp án D ( Điểm 2, Điều 4 Luật phòng, chống HIV/AIDS quy định nghĩa vụ của người nhiễm HIV).

Người nhiễm HIV có các nghĩa vụ sau đây:

  1. Thực hiện các biện pháp phòng lây nhiễm HIV sang người khác.

  2. Thông báo kết quả xét nghiệm HIV dương tính của mình cho vợ, chồng hoặc cho người chuẩn bị kết hôn biết;

  3. Thực hiện các quy định về điều trị bằng thuốc kháng vi rút HIV;

  4. Các nghĩa vụ khác theo quy định của luật này và các quy định khác của pháp luật.

13. Bạn hãy cho biết, Nghị định 108/2007/NĐ- CP ngày 26 tháng 6 năm 2007 của chính phủ là văn bản có nội dung như thế nào?

A. Quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực y tế.

B. Quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật phòng, chống HIV/AIDS.

C. Quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực phòng, chống HIV/AIDS.

D. Quy định chi tiết thi hành Luật vệ sinh an toàn thực phẩm.

Đáp án: B

14. Bạn cho biết Luật phòng, chống vi rút gây ra hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải ở người quy định người nhiễm HIV có các quyền nào sau đây?

A. Học văn hoá, học nghề, làm việc.

B. Sống hoà nhập với cộng đồng, xã hội.

C. Từ chối khám chữa bệnh khi đang điều trị bệnh AIDS trong giai đoạn cuối.

D. Cả 3 đáp án trên.

Đáp án: D ( Điểm 1 Điều 4 Luật phòng, chống HIV/AIDS quy định quyền của người nhiễm HIV).

Người nhiễm HIV có các quyền sau đây:

  1. Sống hoà nhập vào cộng đồng và xã hội.

  2. Được điều trị và chăm sóc sức khoẻ.

  3. Học văn hoá, học nghề và làm việc

  4. Được giữ bí mật riêng tư liên quan đến HIV/AIDS.

  5. Từ chối khám bệnh, chữa bệnh khi đang điều trị bệnh AIDS trong giai đoạn cuối.

  6. Các quyền khác theo quy định của Luật này và các quy định khác của pháp luật có liên quan.

15. Khi bị bơm kim tiêm dính máu đâm vào tay, bạn cần làm gì ngay sau đó?

A. Băng kín vết thương bằng băng vô trùng;

B. Uống ngay kháng sinh và đến cơ sở y tế nơi gần nhất.

C. Nặn máu, rửa tay bằng xà phòng nhiều làn dưới vòi nước chảy rồi đến ngay Trung tâm phòng, chống HIV/ AIDS.

D. Không cần xử trí.

Đáp án: C

16. Bạn hãy cho biết nguyên nhân gây ra HIV/ AIDS là gì?

A. Vi khuẩn.

B. Nấm.

C. Vi rút.

D. Ký sinh trùng

Đáp án: C ( HIV là Vi rút thuộc họ Retroviridae. Chúng có dạng hình cầu, kích thước khoảng 80- 120 nanômet).

17. Theo bạn, loại dịch nào trong cơ thể sau đây có nhiều vi rút HIV?

A. Nước bọt.

B. Nước mắt.

C. Tinh dịch.

D. Mồ hôi.

Đáp án: C ( Trong nước bọt, nước mắt và mồ hôi, nước tiểu cũng có HIV, nhưng với số lượng rất ít, không đủ “ Ngưỡng” nên không đủ khả năng làm lây truyền HIV từ người này sang người kia khi tiếp xúc trực tiếp với các loại dịch thể này)

18. Bạn hãy cho biết, người nhiễm HIV đầu tiên được phát hiện trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc vào năm nào? ở đâu?

A. Năm 1995 tại Thành Phố Vĩnh Yên.

B. Năm 1998 tại Huyện Tam Dương.

C. Năm 1995 tại Thị xã Phúc Yên.

D. Năm 1990 tại Thị xã Phúc Yên.

Đáp án: C ( Hiện nay người này vẫn còn sống)

19. Theo bạn những nhóm người nào sau đây có nhiều nguy cơ lây nhiễm HIV/AIDS?

A. Người mua bán dâm.

B. Người tiêm chích ma tuý.

C. Trẻ mới đẻ có mẹ bị nhiễm HIV.

D. Cả 3 đáp án trên.

Đáp án: D ( Người mua bán dâm có nguy cơ lây nhiễm HIV qua đường tình dục, người tiêm chích ma tuý có nguy cơ lây nhiễm HIV qua đường máu và trẻ mới đẻ có mẹ bị nhiễm HIV có nguy cơ lây nhiễm HIV từ mẹ sang con).

20. Bạn hãy cho biết những dấu hiệu nào thường thấy ở bệnh nhân AIDS giai đoạn muộn?

A. Ỉa chảy kéo dài.

B. Ho kéo dài.

C. Lở loét toàn thân.

D. Cả 3 đáp án trên

Đáp án: D ( Ở giai đoạn này, lượng kháng thể trong cơ thể người nhiễm HIV suy giảm mạnh, ngược lại lượng HIV tăng lên nhanh chóng, hệ thống miễn dịch bị suy giảm hoàn toàn và người nhiễm HIV chuyển sang giai đoạn AIDS với các bệnh cảnh của nhiễm trùng cơ hội và ung thư dẫn đến tử vong).

21. Theo bạn người nhiễm HIV nên được chăm sóc tốt nhất ở đâu?

A. Tại nhà.

B. Tại bệnh viện.

C. Tại khu cách ly.

D. Tại các cơ sở y tế.

Đáp án: A.

22. Bạn hãy cho biết, khả năng điều trị HIV/ AIDS hiện nay cảu y học?

A. Chữa khỏi được bằng tây y.

B. Chữa khỏi được 1 thời gian sau đó lại tái phát.

C. Chữa khỏi được bằng đông y.

D. Chữa chữa khỏi được.

Đáp án: D

23. Khi bạn bị tai nạn rủi ro lây nhiễm HIV ( Kim tiêm người nhiễm HIV đâm vào tay, bị máu hoặc dịch của người nhiễm HIV bắn vào niêm mạc hoặc vết thương hở). Bạn có thể được điều trị dự phòng phơi nhiễm ở đâu?

A. Tại BVĐK tỉnh.

B. Tại BVĐK khu vực.

C. Tại trung tâm phòng, chống HIV/ AIDS của tỉnh.

D. Tại trung tâm y tế dự phòng của tỉnh.

Đáp án: C.

24. Bạn hãy cho biết, Điều mấy trong luật phòng, chống nhiễm vi rút gây ra hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải ở người quy định quyền và nghĩa vụ của người nhiễm HIV?

A. Điều 3.

B. Điều 4.

C. Điều 5.

D. Điều 7

Đáp án: B.

25. Bạn hãy cho biết luật phòng, chống nhiễm vi rút gây ra hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải ở người có hiệu lực kể từ ngày nào?

A. 01/01/2005.

B. 01/01/2006.

C. 01/01/2007.

D. 10/01/2007.

Đáp án: C.

26. Bạn hãy cho biết, Bộ Luật hình sự quy định người nào biết mình bị nhiễm HIV mà cố ý lây truyền bệnh cho người khác sẽ bị xử lý như thế nào?

A. Phạt tiền từ 5.000.000 đến 10.000.000 đồng.

B. Phạt tiền từ 10.000.000 đến 20.000.000 đồng.

C. Phạt tiền từ 30.000.000 đến 50.000.000 đồng

D. Phạt tù từ 1- 3 năm.

Đáp án: D ( Điều 117).

Điều 117. Tội lây truyền HIV cho người khác:

  1. Người nào biết mình bị nhiễm HIV mà cố ý lây truyền bệnh cho người khác, thì bị phạt tù từ một đến 3 năm.

  2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tù từ 3 năm đến 7 năm:

  1. Đối với nhiều người.

  2. Đối với người chưa thành niên;

  3. Đối với thầy thuốc hoặc nhân viên y tế trực tiếp chữ bệnh cho mình;

  4. Đối với người thi hành công vụ hoặc vì lý do công vụ của nạn nhân.

27. Bạn hãy cho biết ở nước ta hiện nay, tỷ lệ nhiễm HIV giữa nam và nữ như thế nào?

A. Tỷ lệ nữ cao hơn nam;

B. Tỷ lệ nam nữ ngang nhau;

C. Nam cao hơn nữ 2 lần;

D. Nam cao hơn nữ 4 đến 5 lần;

Đáp án: D ( Tỷ lệ nam nhiễm HIV là 84%, nữ là 14%, không rõ là 2%).

28. Bạn hãy cho biết, hiện nay tỉnh ta đã tổ chức điều trị thuốc kháng vi rút HIV (ARV) cho bệnh nhân AIDS tại cơ sở y tế nào?

A. Bệnh viện đa khoa tỉnh;

B. Trung tâm phòng, chống HIV/ AIDS tỉnh;

C. Bệnh viện đa khoa khu vực Mê Linh;

d. Trung tâm y tế dự phòng tỉnh.

Đáp án: B.

29. Bạn hãy cho biết, giai đoạn cửa sổ trong nhiễm HIV thường kéo dài bao lâu:

A. Dưới 1 tháng;

B. Từ 1 đến 3 tháng;

C. Từ 4- 6 tháng;

D. Từ 6 đến 12 tháng.

Đáp án: B.

30. Bạn hãy cho biết tỷ lệ lây truyền HIV từ mẹ sang con khi không được điều trị dự phòng là bao nhiêu?

A. 10- 24%;

B. 25- 40%;

C. 41- 70%;

D. 71- 90%;

Đáp án: B.










51