DMCA.com Protection Status

MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ CÔNG TÁC TUYÊN GIÁO TRONG ĐIỀU KIỆN HIỆN NAY Ở VIỆT NAM  quan tâm

Được đăng bởi: Trần Việt Thao

Cập nhật lúc 14:54 ngày 12/01/2018

 

CHUYÊN ĐỀ 6

MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ CÔNG TÁC TUYÊN GIÁO

TRONG ĐIỀU KIỆN HIỆN NAY Ở VIỆT NAM

(Tài liệu bồi dưỡng thi nâng ngạch chuyên viên cao cấp

khối Đảng, Đoàn thể năm 2016)

( nguồn: http://www.xaydungdang.org.vn/Home/vankientulieu/2016/9814/7-chuyen-de-thi-chuyen-vien-cao-cap-nam-2016.aspx )

I. CÔNG TÁC TUYÊN GIÁO TRONG THỜI GIAN QUA

1.1. Khái niệm

Công tác tuyên giáo là cụm từ chỉ các hoạt động tham mưu, chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra của tổ chức đảng về lĩnh vực tư tưởng, văn hóa và khoa giáo. Công tác tuyên giáo được tiến hành tại tất cả các cấp, các ngành, các địa phương, cơ quan, đơn vị, trường học, lực lượng vũ trang…

Công tác tuyên giáo gắn liền với công tác tư tưởng nhằm giáo dục mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, quan điểm của Đảng, làm cho cán bộ, đảng viên và nhân dân có nhận thức đúng đắn, kiên định, vững vàng trước mọi khó khăn, thách thức. Kiên quyết đấu tranh chống những quan điểm sai trái, thù địch; ngăn ngừa ảnh hưởng của chủ nghĩa cơ hội dưới mọi màu sắc; nâng cao bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức, kiến thức và năng lực thực tiễn của cán bộ, đảng viên, khắc phục những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, thực hiện tốt Chỉ thị 05-CT/TW ngày 15/5/2016 của Bộ Chính trị về “đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh”.

Trong hơn 80 năm qua, từ khi Đảng ta ra đời đến nay, công tác tuyên giáo của Đảng đã góp phần xứng đáng vào mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Trong gần 30 năm đổi mới đất nước, dưới ánh sáng của Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, công tác tuyên giáo của Đảng có nhiều đổi mới cả về nhận thức và hoạt động, cả về nội dung và phương thức, tiếp tục góp phần tích cực vào thành công của công cuộc đổi mới.

1.2. Kết quả công tác tuyên giáo trong thời gian qua

Trong những năm qua, nhất là từ khi có Nghị quyết Trung ương 5, khoá IX về “nhiệm vụ chủ yếu của công tác tư tưởng, lý luận trong tình hình mới” và gần đây là Nghị quyết Trung ương 5 khóa X về "Công tác tư tưởng, lý luận và báo chí trước yêu cầu mới", cùng với các văn kiện của Đại hội, các hội nghị TW 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10, 11 của Đảng khóa XI, đặc biệt là Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI, một số vấn đề cấp bách về xây dựng đảng hiện nay, Nghị quyết Đại hội XII và các nghị quyết, kết luận của Trung ương trong nhiệm kỳ, cùng với việc tiếp tục đẩy mạnh học tập, làm theo tư tưởng, tấm gương đạo đức và phong cách Hồ Chí Minh, công tác tuyên giáo đã được các cấp uỷ đảng, ban tuyên giáo các cấp quan tâm, chỉ đạo sâu sát hơn, đầu tư lực lượng cán bộ, cơ sở vật chất,… ngày càng tốt hơn.

Công tác tuyên giáo đã góp phần đưa đường lối, quan điểm của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước đến với cán bộ, đảng viên và nhân dân, tạo nên sự nhất trí trong Đảng, sự đồng thuận trong nhân dân. Nhiều chủ trương, chính sách lớn của Đảng và Nhà nước đã nhanh chóng đến với nhân dân, được nhân dân hào hứng, phấn khởi đón nhận và tự giác thực hiện, đạt kết quả tốt.

Công tác tuyên giáo đã động viên các tầng lớp nhân dân phát huy tài năng, sáng kiến, mạnh dạn đầu tư cho sản xuất, quyết tâm chiến thắng nghèo nàn và lạc hậu, vươn lên làm giàu, xây dựng quê hương giàu đẹp, văn minh. Những gương điển hình về phát triển sản xuất, khôi phục và phát triển làng nghề, giải quyết việc làm cho người lao động… ngày càng nhiều và được cổ vũ kịp thời, tạo nên sức sống mới ở nhiều địa phương, cơ sở.

Công tác tuyên giáo đã động viên cổ vũ tinh thần yêu nước, ý thức tự lực, tự cường, góp phần giải quyết tốt các yêu cầu, nhiệm vụ bức xúc của sản xuất, đời sống. Nhiều địa phương đã làm tốt công tác tư tưởng cho nhân dân trong giải toả đất đai, nhà cửa, giải phóng mặt bằng, để xây dựng các công trình kinh tế, văn hoá, động viên nhân dân góp công, góp của xây dựng các công trình làm đẹp cho quê hương.

Công tác tuyên giáo còn góp phần tích cực vào việc tham mưu, đề xuất và vận động nhân dân đóng góp tài năng, sáng kiến cho các cấp lãnh đạo, quản lý để giải quyết những vấn đề bức xúc trên địa bàn như phòng, chống tệ nạn xã hội, xã hội hoá văn hoá ở địa phương, v.v.

Công tác tuyên giáo đã góp phần quan trọng trong việc đấu tranh, phê phán các quan điểm cơ hội, thù địch, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, biển đảo của Tổ quốc.

1.3. Hạn chế, yếu kém của công tác tuyên giáo

Tham mưu trên một số lĩnh vực công tác tuyên giáo còn chưa kịp thời, nhạy bén, chưa chú trọng đúng mức nghiên cứu, đề xuất những vấn đề có tính chiến lược ở tầm quan điểm, chủ trương lớn, nhiều vấn đề đặt ra từ thực tiễn chưa được làm rõ, nên chưa đạt được sự thống nhất cao về nhận thức, như mối quan hệ giữa tốc độ tăng trưởng và chất lượng phát triển; giữa tăng trưởng kinh tế và thực hiện công bằng xã hội; giữa đổi mới kinh tế và đổi mới hệ thống chính trị; giữa đổi mới với ổn định và phát triển; giữa độc lập, tự chủ và chủ động, tích cực hội nhập quốc tế…

Công tác tuyên giáo còn thiếu sắc bén, sức thuyết phục chưa cao, tính chiến đấu của một số lĩnh vực hoạt động còn hạn chế, chưa sát với thực tiễn. Chưa triển khai tốt công tác giáo dục lý luận chính trị, tư tưởng và đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân, tư tưởng cơ hội, những quan điểm mơ hồ, sai trái. Chưa quan tâm đúng mức tới việc giáo dục lý tưởng, văn hóa sâu rộng. Công tác đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch có lúc còn bị động, hiệu quả thấp. Chưa huy động được đầy đủ sức mạnh tổng hợp của hệ thống chính trị làm công tác tư tưởng, văn hóa. Nội dung, phương pháp công tác tuyên giáo còn chậm được đổi mới, hoạt động còn chưa đồng đều, chưa có sự phối hợp chặt chẽ giữa các ngành, các cấp, các bộ phận.

Công tác nghiên cứu lý luận, dự báo còn còn bất cập trên một số mặt, chưa đáp ứng được những đòi hỏi của thực tiễn đang vận động nhanh chóng, phong phú và phức tạp. Nhiều vấn đề lớn, bức xúc đặt ra từ thực tiễn trong nước, quốc tế chưa tìm ra hướng giải quyết hoặc giải đáp chưa có sức thuyết phục. Kết quả không ít công trình nghiên cứu khoa học lý luận chính trị, khoa học xã hội và nhân văn có chất lượng chưa cao, kết quả được ứng dụng, vận dụng vào thực tiễn chưa nhiều. Hiệu quả nghiên cứu chưa tương xứng với sự đầu tư của Đảng và Nhà nước. Công tác giáo dục lý luận, đặc biệt là việc tổ chức nghiên cứu, học tập, quán triệt chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước; công tác giảng dạy lý luận chính trị trong hệ thống các trường đảng, đoàn thể, hệ thống giáo dục quốc dân tuy đã có những đổi mới nhưng chưa đáp ứng được yêu cầu của thực tiễn.

II. MỤC TIÊU VÀ ĐỊNH HƯỚNG TRONG CÔNG TÁC TUYÊN GIÁO CỦA ĐẢNG THỜI GIAN TỚI

2.1. Dự báo tình hình thế giới và trong nước những năm sắp tới

2.1.1. Tình hình thế giới

Những năm cuối thập niên thứ hai, chuyển sang thập niên thứ ba của thế kỷ XXI, xu hướng hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ, hợp tác và phát triển vẫn tiếp tục được đẩy mạnh. Tuy nhiên, tình hình thế giới, khu vực xuất hiện những diễn biến mới, nhanh hơn, phức tạp hơn. Quá trình hình thành trật tự thế giới mới sẽ nảy sinh những diễn biến phức tạp về chính trị, quân sự tại nhiều khu vực và nhiều nước. Các nước lớn điều chỉnh chiến lược, vừa thoả hiệp, vừa quyết liệt tranh giành vị thế và lợi ích trên phạm vi toàn cầu, tại các khu vực và đặc biệt là tại châu Á - Thái Bình Dương, khu vực Đông Nam Á.

Toàn cầu hoá tiếp tục phát triển mạnh mẽ làm biến đổi sâu sắc đến mọi lĩnh vực trong đời sống xã hội của thế giới đương đại. Kinh tế thế giới vừa có bước phát triển, vừa đứng trước nhiều khó khăn, thách thức; tương quan sức mạnh kinh tế giữa các khu vực và các quốc gia có nhiều thay đổi. Các nhân tố đe doạ tới an ninh truyền thống và phi truyền thống, đặc biệt là việc tranh chấp lãnh thổ, lãnh hải, tài nguyên, các loại tội phạm công nghệ cao tiếp tục gia tăng. Tình hình đó đều tác động trực tiếp hoặc gián tiếp đến nước ta.

Hòa bình, hợp tác và phát triển là xu thế lớn. Xu thế đa cực hoá và dân chủ hoá quan hệ quốc tế tiếp tục phát triển, tạo thuận lợi cho các quốc gia triển khai hiệu quả chính sách đối ngoại độc lập, tự chủ, tranh thủ các nguồn lực từ bên ngoài để phát triển nhanh hơn.

Kinh tế thế giới từng bước phục hồi và tăng trưởng trở lại, tuy không đồng đều giữa các nước. Cách thức giải quyết, ứng phó các vấn đề kinh tế - xã hội nảy sinh sau khủng hoảng đã để lại những kinh nghiệm quý. Hầu hết các quốc gia đều tiến hành cơ cấu lại nền kinh tế, điều chỉnh phương thức phát triển, tạo cơ hội để nước ta có thể tiếp cận, tiếp thu những thành quả và phát triển theo xu thế chung của nhân loại.

Châu Á - Thái Bình Dương, trong đó có Đông Nam Á tiếp tục phát triển năng động, ngày càng đóng vai trò quan trọng trong đời sống kinh tế, chính trị thế giới, trở thành tiêu điểm cạnh tranh, thu hút sự quan tâm của các nước lớn.

Từ năm 2015, ASEAN trở thành cộng đồng và tiếp tục phát huy vai trò trung tâm ở khu vực. Bước vào giai đoạn mới 2016-2021, nhiều hiệp định thương mại tự do thế hệ mới có hiệu lực. Đây là điều kiện thuận lợi để chúng ta tiếp tục mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế, phát huy vai trò, vị thế trong khu vực và trên trường quốc tế.

Bên cạnh những thuận lợi trên, tình hình thế giới được dự báo tiếp tục có những khó khăn, như khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế thế giới trong bối cảnh toàn cầu hoá, làm sâu sắc thêm những mâu thuẫn vốn có và xuất hiện những nhân tố mới, những khuynh hướng mới thay đổi cục diện thế giới. Cuộc chạy đua quyền lực và cạnh tranh về lợi ích giữa các quốc gia đang diễn ra gay gắt và có nhiều động thái mới, chưa lường hết. Cuộc cách mạng khoa học, công nghệ, trong đó có công nghệ thông tin - viễn thông, tiếp tục phát triển mạnh mẽ. Sự phát triển của chủ nghĩa xã hội và phong trào yêu chuộng hòa bình, đấu tranh cho dân chủ và tiến bộ trên thế giới còn gặp nhiều khó khăn. Sự chống phá của các thế lực thù địch tiếp tục gay gắt, quyết liệt và tinh vi hơn… Những vấn đề mang tính toàn cầu, an ninh phi truyền thống đang đặt ra thách thức đối với các nước và đòi hỏi phải chung sức giải quyết. Vấn đề tụt hậu, thoát khỏi bẫy thu nhập trung bình đang đặt ra đối với phần lớn các nước đang phát triển và kém phát triển. Xung đột sắc tộc, tôn giáo, xung đột vũ trang với mức độ và quy mô lớn trên thế giới đang diễn ra, nguy cơ chiến tranh lạnh đang tái xuất hiện, tình hình chính trị trong khu vực, tranh chấp ở Biển Đông sẽ có những diễn biến phức tạp mới, đặc biệt là sau phán quyết của Tòa trọng tài Thường trực trong vụ Philipin kiện Trung Quốc.

Sự xâm lăng về văn hóa và sức mạnh mềm, sự tranh giành ảnh hưởng của các cường quốc… đã ảnh hưởng lớn đối với lĩnh vực văn hóa, đạo đức, lối sống. Sự phát triển của mạng lưới Internet toàn cầu thế hệ mới đã dẫn đến nhiều thay đổi trên lĩnh vực báo chí, xuất bản, thực hiện vai trò cung cấp thông tin, định hướng dư luận, tạo nên lối sống mới. Từ đây dẫn đến hai xu hướng ngược nhau: một mặt, những tri thức mới nhất của nhân loại đến với mọi người, làm phong phú, giàu có trí tuệ, nhân cách của mỗi người; mặt khác, xã hội và các cá nhân phải đối đầu ở cường độ cao hơn, thường xuyên hơn, phạm vi sâu rộng hơn, nội dung phức tạp hơn những tác động tiêu cực, như sự lợi dụng, sự mê hoặc, sự lệch lạc bởi những “điều phi lý”, “sự xuyên tạc có chủ ý” trên mạng Internet, các blog cá nhân và xã hội. Xu hướng tăng lên của niềm tin tôn giáo là một dự báo rất đáng chú ý, không chỉ có tác động trực tiếp đến tư tưởng chính trị, mà cả lĩnh vực đạo đức, theo chiều thuận và chiều nghịch.

Các thế lực thù địch vẫn tiếp tục thực hiện âm mưu "diễn biến hòa bình" với nhiều phương thức mới, trực tiếp thông qua chống phá, xuyên tạc, bịa đặt, nhằm thúc đẩy quá trình "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong nội bộ, lợi dụng các xung đột, mâu thuẫn trong xã hội để kích động chống phá chế độ, Đảng và Nhà nước.

Vấn đề tranh chấp chủ quyền lãnh thổ, vấn đề quyền chủ quyền và quyền tài phán ở Biển Đông diễn ra rất phức tạp và ngày càng có xu nguy cơ xung đột cao. Sự trỗi dậy của Trung Quốc đã làm cho tình hình Biển Đông và Hoa Đông ngày càng bất ổn; việc Trung Quốc đặt giàn khoan thăm dò dầu khí Hải Dương- 981 một cách trái phép trong vùng biển nước ta, tiến hành tôn tạo các bãi, đá, tăng cường các hoạt động quân sự, không thừa nhận phán quyết của Tòa trọng tài, bất chấp luật pháp quốt tế, đã thách thức đến độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc và là sự vi phạm nghiêm trọng luật pháp quốc tế, trong đó có Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982, Tuyên bố về ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC) và những thoả thuận giữa lãnh đạo cấp cao Việt Nam - Trung Quốc.

2.1.2. Tình trong nước

30 năm đổi mới đã tạo ra cho đất nước ta thế và lực mới. Thế và lực mới là tổng hoà những thành tựu hết sức to lớn, rất quan trọng về phát triển kinh tế, ổn định chính trị - xã hội, mở rộng và hội nhập quốc tế. Thành quả và những kinh nghiệm, bài học thành công, chưa thành công chính là những tiền đề vật chất và tinh thần quan trọng để chúng ta tiếp tục đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới.

Sau 30 năm đổi mới, đất nước đã có nhiều đổi thay tích cực, song bên cạnh đời sống vật chất đã tăng lên đáng kể, thì sự phân hóa giầu nghèo giữa các bộ phận dân cư, khoảng cách chênh lệch về thu nhập giữa các tỉnh thành cũng bị nới rộng. Mặt trái của sự phát triển không đồng đều do tác động của kinh tế thị trường tại Việt Nam, chính là sự bất công cả về thu nhập lẫn tài sản do quản lý yếu kém và một bộ phận tham nhũng, lãng phí tạo ra, điều này đe dọa đến an ninh kinh tế, an ninh xã hội cũng như cản trở quá trình đổi mới.

Như vậy, những hệ quả tất yếu của bất bình đẳng về thu nhập và tài sản sẽ là bất bình đẳng về mặt xã hội. Sự chênh lệch về mức sống giữa nhóm người có chức, có quyền thoái hóa và gia đình họ với số đông quần chúng nhân dân đang dần trở thành mâu thuẫn gay gắt trong xã hội. Sự phân tầng xã hội sẽ ảnh hưởng không nhỏ đến ý thức, tâm trạng, đạo đức, lối sống của con người, nhất là đối với công tác xây dựng Đảng về tư tưởng, chính trị, đạo đức hiện nay.

Như vậy, nước ta bước vào thời kỳ mới trong bối cảnh thế giới đang thay đổi rất nhanh, phức tạp và khó lường. Bối cảnh quốc tế đặt ra cho nước ta những tiền đề và cơ hội to lớn, cùng những khó khăn và thách thức gay gắt, tác động đan xen rất phúc tạp. Giữ vững độc lập chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, bảo đảm môi trường hoà bình và ổn định, tận dụng cơ hội, đối mặt và vượt qua thách thức, đưa đất nước phát triển nhanh và bền vững, rút ngắn khoảng cách phát triển là nhiệm vụ nặng nề của nước ta trong những năm tới. Bên cạnh đó, diễn biến của những mặt trái cơ chế thị trường, nguy cơ tụt hậu xa hơn về kinh tế so với một số nước trong khu vực, sự chống phá của các thế lực thù địch, những khuynh hướng trái chiều trong tư tưởng chính trị, đạo đức, trong chống “diễn biến hòa bình” và trong phòng, chống tham nhũng, lãng phí.

Đây là những thách thức, nguy cơ đối với đất nước trong những năm tới đang đặt trước công tác tuyên giáo những nhiệm vụ rất lớn và đòi hỏi Đảng ta và ngành tuyên giáo phải có phương thức và biện pháp thích hợp để đưa hoạt động tuyên giáo đáp ứng được yêu cầu và nhiệm vụ mới.

Nhìn tổng thể, giai đoạn từ nay đến năm 2020, quá trình đổi mới của nước ta đang và sẽ chịu tác động nhiều chiều, nhiều hướng, với nhiều cấp độ từ những chuyển biến mới, phức tạp của tình hình thế giới, khu vực và trong nước. Cơ hội và thách thức đan xen; thời cơ có nhiều, song khó khăn, thách thức cũng rất lớn. Nhiều vấn đề mới, yêu cầu mới, cao hơn, phức tạp hơn đang và sẽ đặt ra đối với sự nghiệp đổi mới, phát triển và kiên quyết, kiên trì bảo vệ vững chắc Tổ quốc, đòi hỏi toàn Đảng, toàn dân ta phải có quyết tâm chính trị và sự phấn đấu mạnh mẽ hơn, tận dụng được thời cơ, vượt qua khó khăn, thách thức, chuyển thách thức thành thời cơ để tiếp tục phát triển.

2.2. Mục tiêu của công tác tuyên giáo thời gian tới

Trong những năm tới, công tác tuyên giáo hướng tới mục tiêu tiếp tục làm tốt công tác tham mưu cho Đảng về các vấn đề chính trị, tư tưởng văn hoá, khoa giáo nhằm góp phần tích cực vào việc tuyên truyền, bảo vệ, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; cổ vũ toàn Đảng, toàn dân thực hiện thắng lợi sự nghiệp đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá, hội nhập quốc tế; Tham gia tích cực, có hiệu quả vào việc xây dựng, chính đốn Đảng, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, xây dựng Đảng vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức và đạo đức; Giữ vững và mở rộng trận địa tư tưởng của Đảng, nâng cao chất lượng, hiệu quả của công tác tuyên giáo.

2.3. Định hướng công tác tuyên giáo thời gian tới

Đẩy mạnh nghiên cứu lý luận gắn với tổng kết thực tiễn trong nước và thế giới; khẳng định tính đúng đắn, vận dụng sáng tạo và phát triển chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh để phát triển đường lối đổi mới của Đảng; giải đáp có sức thuyết phục những vấn để lý luận và thực tiễn do công cuộc đổi mới đặt ra; từ đó từng bước tiếp tục làm sáng tỏ lý luận về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.

Tập trung chỉ đạo việc đổi mới nội dung và phương pháp giáo dục lý luận chính trị để truyền bá một cách rộng rãi, sâu sắc chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, các văn kiện Đại hội XII của Đảng, các Nghị quyết Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư nhiệm kỳ XII, nhằm xây dựng thế giới quan và phương pháp luận khoa học cho cán bộ, đảng viên và đông đảo quần chúng nhân dân, tạo sự nhất trí cao trong Đảng, sự đồng thuận trong xã hội về cương lĩnh, đường lối chính sách đổi mới của Đảng và Nhà nước.

Tăng cường tuyên truyền, động viên toàn Đảng, toàn quân, toàn dân quyết tâm tự giác, tích cực, sáng tạo thực hiện thắng lợi chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước để nhân dân có niềm tin tất thắng vào sự nghiệp đổi mới của Đảng và chủ nghĩa xã hội. Nâng cao hiệu quả và đưa việc "Học tập và làm theo tư tưởng, tấm gương đạo đức và phong cách Hồ Chí Minh" đi vào chiều sâu, chú trọng việc nêu gương và làm theo. Tuyên truyền kiến thức về quốc phòng, an ninh, kiên quyết, kiên trì bảo vệ vững chắc Tổ quốc. Nâng cao cảnh giác cách mạng, tiến hành kiên quyết và phối hợp đồng bộ để đánh bại mọi âm mưu, thủ đoạn của chiến lược "diễn biến hoà bình" trên các lĩnh vục chính trị, tư tưởng văn hoá, kinh tế, xã hội...; ngăn chặn, đẩy lùi những biểu hiện tự diễn biến, tự chuyển hoá. Phản bác kịp thời những luận điệu xuyên tạc, phủ định chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối đổi mới giữa Đảng của bọn phản động và các thế lực thù địch. Đổi mới công tác tuyên truyền nhằm tăng tính thuyết phục, hiệu quả, nâng cao tính chủ động và tính chiến đấu, tạo được sự gắn bó với nhân dân và thực tiễn đất nước. Đẩy mạnh phong trào thi đua yêu nước; phát hiện, nhân rộng điển hình, nhân tố mới; thục hiện phương châm "lấy cái đẹp dẹp cái xấu”; đẩy mạnh cuộc đấu tranh chống quan liêu, tham nhũng, lãng phí.

Xây dựng và phát triển nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. Bồi dưỡng các thế hệ con người Việt Nam phát triển toàn diện. Nghiên cứu và truyền bá rộng rãi những giá trị mới của con người Việt Nam trong thời kỷ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước gắn với việc bảo vệ, giữ gìn và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc; đồng thời tích cực triển khai cuộc đấu tranh chống sự lại căng, vọng ngoại, lệ thuộc nước ngoài; đặc biệt chú trọng công tác giáo dục, bồi dưỡng thế hệ trẻ về bản lĩnh chính trị, văn hoá của con người Việt Nam. Triển khai thực hiện tốt các nghị quyết, kết luận trong nhiệm kỳ XI, đặc biệt là Nghị quyết 33, về xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước, Nghị quyết 29 về đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục và đào tạo, Nghị quyết 20 về khoa học và công nghệ. Đồng thời, cụ thể hóa chương trình hành động để thực hiện tốt Nghị quyết Đại hội XII và các nghị quyết, kết luận trong nhiệm kỳ.

Để giáo dục thực sự là quốc sách hàng đầu, công tác tuyên giáo cần chỉ đạo đổi mới và phát triển toàn diện, mạnh mẽ giáo dục đào tạo, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, đổi mới cơ chế quản lý giáo dục, giao quyền tự chủ cao cho các cơ sở giáo dục. Động viên đội ngũ trí thức, văn nghệ sĩ, báo chí không ngừng phát triển, sáng tạo khoa học và công nghệ đưa công nghệ tiên tiến vào sản xuất hàng hóa để nâng cao tính cạnh tranh ở trong và ngoài nước thúc đẩy nền kinh tế nước ta phát triển nhanh, mạnh bền vững. Đào tạo, bồi dưỡng được một đội ngũ trí thức không chỉ đông đảo về số lượng, đồng bộ về cơ cấu mà còn phải bảo đảm về chất lượng - cả về trí tuệ và phẩm chất - đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Bảo đảm an sinh xã hội. Nâng cao chất lượng chăm sóc sức khoẻ cho nhân dân và công tác dân số kế hoạch hoá gia đình. Phát triển mạnh phong trào thể dục thể thao.

Xây dựng và phát triển đội ngũ cán bộ tuyên giáo trên tất cả các lĩnh vực, đáp ứng nhiệm vụ trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế. Đổi mới cơ chế chính sách đối với cán bộ chuyên trách công tác tuyên giáo, kiện toàn và tăng cường cơ quan tham mưu về công tác tuyên giáo các cấp, nhất là ở cấp Trung ương và các tỉnh, thành phố.

III. MỘT SỐ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU THÚC ĐẨY CÔNG TÁC TUYÊN GIÁO TRONG THỜI GIAN TỚI

3.1. Thực hiện tốt chức năng định hướng nghiên cứu lý luận chính trị và đẩy mạnh hoạt động nghiên cứu khoa học, tổng kết thực tiễn

Thực tiễn trong công tác tham mưu của các ban Đảng đã cho thấy công tác nghiên cứu khoa học, lý luận có ý nghĩa và vai trò rất quan trong. Trước hết, nhu cầu nghiên cứu khoa học xuất phát từ nhiệm vụ của các ban Đảng trong việc tham mưu cho Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bộ Chính trị, Ban Bí thư về các chủ trương chính sách của Đảng cả về phương diện vĩ mô lẫn vi mô. Để những vấn để tham mưu có sức thuyết phục và các chủ trương chính sách sau khi ban hành có thể đi ngay vào cuộc sống thì việc đầu tiên là các cán bộ tham mưu phải nắm được đúng tình hình thực tiễn. Trong đó có việc coi trọng nghiên cứu lý luận và tổng kết thực tiễn.

Thông qua nghiên cứu khoa học, lý luận, cán bộ tham mưu mới có cơ hội nắm bắt những kiến thức hiện đại, không bị lạc hậu trước sự tiến bộ kiến thức của nhân loại theo thời gian. Đối với những cán bộ làm công tác tham mưu trong các ban Đảng cần am hiểu ở một mức độ nhất định về kiến thức chuyên ngành. Vì vậy, nghiên cứu khoa học cũng sẽ giúp có được những kiến thức hoặc những hiểu biết quý báu đó. Ngoài ra, những kinh nghiệm trước của các quốc gia khác nhau về cách xử lý đối với các vấn đề kinh tế - xã hội cũng rất đa dạng và có nhiều kinh nghiệm có ý nghĩa cho việc tham mưu. Trong xu thế toàn cầu hoá và hội nhập quốc tế, việc nghiên cứu kinh nghiệm của các nước và việc rút ra những bài học từ sự thành công cũng như thất bại sẽ có thể giúp một quốc gia rút ngắn con đường xây dựng đất nước.

Vì vậy, cán bộ tuyên giáo cần đẩy mạnh nghiên cứu khoa học, lý luận và tổng kết thực tiễn để nhận thức toàn diện, sâu sắc về cách mang Việt Nam, về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta, nhất là tổng kết 30 năm đổi mới, cụ thể hóa các văn kiện của Đại hội XII của Đảng, từ đó giải đáp có sức thuyết phục, có tính khoa học những vấn đề do thực tiễn Việt Nam và thế giới đương đại đặt ra. Từ đó kiên trì xây dựng và từng bước triển khai các quan điểm phát triển đất nước trên cơ sở vận dụng sáng tạo và phát triển chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, góp phần bổ sung, phát triển cương lĩnh, đường lối đổi mới của Đảng.

Để vận dụng đúng đắn các quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin vào nước ta, trước hết cần trung thành với những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin, đồng thời phải xuất phát từ thực tiễn Việt Nam, tránh cả hai xu hướng cơ hội, xét lại hay giáo điều, bắt chước. Cần nhận thức rõ tác hại của sự lạc hậu về lý luận, lý luận không đủ sức giải đáp những yêu cầu của thực tiễn, đi sau thực tiễn để từ đó có sự quan tâm đúng mức đến công tác lý luận chính trị. Trong nghiên cứu lý luận, cần phát huy dân chủ, phát huy trí tuệ trong Đảng và xã hội coi trọng công tác tổng kết thực tiễn. Thực hiện tốt Nghị quyết 37 của Bộ Chính trị khóa XI, về công tác nghiên cứu lý luận và định hướng nghiên cứu đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030. Quy định về phát huy dân chủ trong nghiên cứu lý luận chính trị của Bộ Chính trị khóa XI và các văn bản quan trọng khác về lĩnh vực này của Đại hội XII.

Việc đào tạo, bồi dưỡng cán bộ lý luận chính trị trong giai đoạn 2010-2020 xuất phát từ nhiệm vụ chính trị và yêu cầu của cách mạng; kết hợp công tác giáo dục lý luận chính trị với công tác giáo dục văn hoá, khoa học, kỹ thuật, nghiệp vụ: kết hợp giáo dục có hệ thống những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin với quan điểm, đường lối của Đảng và những vấn để thực tiễn có tính thời sự chính trị đang diễn ra. Kết hợp việc cập nhật, nâng cao những kiến thức lý luận, chính trị, kinh tế với nâng cao phẩm chất đạo đức cách mạng; phát huy tác dụng của việc phê bình và tự phê bình. Quan tâm đến đội ngũ cán bộ làm công tác lý luận chính trị, trước hết là phát huy năng lực tư duy sáng tạo, ý thức cống hiện qua việc bảo đảm quyền tự do tư tưởng, tôn trọng lắng nghe, khuyến khích, tạo điều kiện cho việc nghiên cứu lý luận chính trị và giảng dạy lý luận chính trị.

Chỉ đạo việc tổ chức lại toàn bộ lực lượng nghiên cứu lý luận chính trị, khoa học xã hội và nhân văn theo hướng tinh gọn, chất lượng, có tính hệ thống và mối liên hệ chặt chẽ giữa các cơ quan, đơn vị nghiên cứu. Xây dựng và nâng cao chất lượng trong hoạt động nghiên cứu lý luận, tăng cường thảo luận, tranh luận khoa học, bảo đảm cho việc sáng tạo, phát huy trí tuệ của cá nhân và tập thể khoa học.

3.2. Tích cực góp phần trực tiếp cho công tác xây dựng Đảng

Công tác xây dựng Đảng được tiến hành trên tất cả các lĩnh vực về chính trị, tư tưởng, đạo đức và văn hoá, gắn chặt nhiệm vụ chỉnh đốn đảng với cuộc đấu tranh phòng chống tham nhũng, lãng phí, chống suy thoái về tư tướng, chính trị, đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên.

Công tác tuyên giáo tập trung cho nhiệm vụ nói trên cần chú trọng đồng thời cả bốn nội dung: chính trị, tư tưởng, đạo đức và văn hoá trong hoạt động xây dựng Đảng, trong đó đặc biệt tập trung cho việc tiếp tục "Học tập và làm theo tư tưởng, tấm gương đạo đức và phong cách Hồ Chí Minh” và thực hiện nghiêm túc, có hiệu quả Nghị quyết TW 4 khóa XI về “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay” trong nhiệm kỳ Đại hội XII.

Để thực hiện nhiệm vụ này cần triển khai các giải pháp lớn như: Trên cơ sở các kết quả mới trong nghiên cứu lý luận, cần tổ chức việc học tập, vận dụng những nhận thức mới vể chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh cho cán bộ, đáng viên và nhân dân; xây dựng và thực hiện cơ chế giám sát đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên; có chính sách bảo đảm việc sử dụng các sản phẩm, giá trị văn hoá, văn nghệ trong hoạt động tư tưởng nâng, cao hiệu quả giáo dục đảng viên; triển khai thường xuyên, bảo đảm thực chất, hiệu quá phương châm phê và tự phê bình, “xây và chống” trong sinh hoạt Đảng, chú trọng nêu gương tốt và các biểu hiện xấu để khẳng định và phê phán trong công tác xây dựng Đảng và trên các phương tiên thông tin đại chúng.

3.3. Nâng cao chất lượng công tác tuyên truyền về đường lối đổi mới của Đảng

Tích cực tuyên truyển, động viên toàn Đảng, toàn quân, toàn dân tự giác, sáng tạo thực hiện thắng lợi chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, để nhân dân có niềm tin tất thắng vào sự nghiệp đổi mới của Đảng và chủ nghĩa xã hội.

- Nâng cao hiệu quả việc "Học tập và làm theo tư tưởng, tấm gương đạo đức và phong cách Hồ Chí Minh", đưa việc học tập và làm theo Bác trong điều kiện mới ngày càng đi vào chiều sâu, xuất hiện ngày càng nhiều những tập thể, cá nhân điển hình tiên tiên học tập và làm theo tấm gương đạo đức của Bác. Cán bộ lãnh đạo các cấp phải là những tấm gương trong lời nói gắn liền với việc làm, "học tập" phải đi đôi với "làm theo" đi vào chiều sâu.

- Tuyên truyền kiến thức về quốc phòng an ninh, kiên quyết, kiên trì bảo vệ vững chắc Tổ quốc. Nâng cao cảnh giác cách mạng tiến hành kiên quyết, phối hợp đồng bộ nhằm đánh bại mọi âm mưu, thủ đoạn của chiến lược "diễn biến hòa bình" trên các lĩnh vực chính trị, tư tưởng văn hóa, kinh tế - xã hội...; ngăn chặn, đầy lùi những biểu hiện tự diễn biến, tự chuyển hóa.

- Công tác tuyên giáo cần phải nâng cao tính định hướng, tính chiến đấu, tính thuyết phục, tính hiệu quả. Phải thường xuyên bám sát thực tiễn, tăng cường tiếp xúc, đối thoại trực tiếp với nhân dân; chủ động nắm bắt, đánh giá, dự báo, kịp thời giải quyết những diễn biến tư tưởng tâm trạng của nhân dân. Tập trung xử lý các kiến nghị, khiếu nại, tố cáo của nhân dân, nhất là những vấn để liên quan đến nạn tham nhũng lãng phí, quan liêu, mất dân chủ, thiếu kỷ cương, ức hiếp nhân dân của cán bộ, đảng viên

- Đẩy mạnh phong trào thi đua yêu nước; cổ vũ mọi tầng lớp nhân dân phát huy tính tự lực, tự cường, nỗ lực vượt qua mọi thử thách, phấn đấu hoàn thành các chỉ tiêu kinh tế - xã hội. Tích cực thực hiện phong trào xóa đói, giảm nghèo và phấn đấu ngày càng có nhiều người giàu. Nâng cao đời sống văn hóa tinh thần, thực hiện phương châm "lấy cái đẹp dẹp cái xấu". Nhân rộng tạo sức lan tỏa lớn các gương điển hình, nhân tố mới; giữ gìn những giá trị nhân văn cao đẹp trong cuộc sống.

3.4. Chủ động góp phần trực tiếp và đạt hiệu quả thiết thực trong việc thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội

Công tác tuyên giáo phải trở thành một bộ phận, một thành tố hữu cơ, gắn chặt với toàn bộ quá trình triển khai các hoạt động kinh tế - xã hội, văn hoá và các lĩnh vực khác như giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ, quốc phòng, an ninh, đối ngoại, giải quyết những vấn đề bức xúc của nhân dân, nhất là những vấn để tồn tại từ lâu và những vấn để nảy sinh trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá, hội nhập quốc tế.

Để thực hiện nhiệm vụ trên, cần triển khai các giải pháp lớn như: Thường xuyên bám sát, nắm chắc 6 nhiệm vụ lớn của đất nước trong nhiệm kỳ Đại hội XII của Đảng, tạo sự gắn kết chặt chẽ với công tác tuyên giáo trong từng thời kỳ, từng nhiệm vụ; tập trung tuyên truyền, cổ vũ, khẳng định những nhân tố mới, các giá trị mới, điển hình tiên tiến, đồng thời kiên quyết, kịp thời phê phán, lên án cái xấu xa, tiêu cực...; huy động sức mạnh, ưu thế của tất cả các loại hình công tác tuyên giáo như thông tin đại chúng, xuất bản, văn hoá, văn nghệ tuyên truyền, cổ động... tham gia thực hiện nhiệm vụ trên; kịp thời phát hiện những vấn đề bức xúc trong đời sống nhân dân, phối hợp giải quyết đúng và có hiệu quả, đáp ứng được lòng tin, nguyện vọng chính đáng của nhân dân.

Cùng với toàn Đảng, toàn quân, toàn dân thực hiện tốt các nghị quyết, kết luận của Trung ương trong nhiệm kỳ Đại hội XI, XII về xây dựng và phát triển đất nước, đáng chú ý là:

- Tuyên truyền và chỉ đạo thực hiện tốt Nghị quyết Hội nghị TW 6, khóa XI “về phát triển khoa học và công nghệ phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế”; Nghị quyết của Hội nghị TW 8, khóa XI về “Đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục và đào tạo…”, Nghị quyết Hội nghị TW 9, khóa XI “về xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước”;... là cơ sở quan trọng để xây dựng và phát triển nguồn nhân lực và nguồn nhân lực chất lượng cao, có nền giáo dục – đào tạo, khoa học – công nghệ và nền văn hóa, con người Việt Nam tiên tiến, hiện đại có chất lượng nhằm phục vụ có hiệu quả quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá, đáp ứng ngày càng tốt hơn sự phát triển nhanh và bền vững đất nước, cùng với các nghị quyết, kết luận của Trung ương trong nhiệm kỳ Đại hội XII .

- Chủ trì, phối hợp với các cơ quan chức năng của Đảng và Nhà nước khẩn trường xây dựng và ban hành quy chế dân chủ trong hoạt động khoa học và công nghệ, nghiên cứu lý luận, giáo dục và đào tạo, văn hoá và văn nghệ; bổ sung hoàn thiện các cơ chế, chính sách, tạo điều kiện để trí thức tự khẳng định phát triển, cống hiến và được xã hội tôn vinh.

- Bồi dưỡng lòng yêu nước và lý tưởng cách mạng cho cán bộ, đảng viên nhận rõ trách nhiệm và bổn phận trước Tổ quốc và dân tộc, không ngừng phấn đấu nâng cao phẩm chất chính trị, đạo đức, năng lực chuyện môn, đóng góp nhiều nhất cho sự phát triển của đất nước và bảo vệ Tổ quốc.

- Tăng cường bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khoẻ nhân dân, đồng thời góp phần tích cực vào an sinh xã hội.

3.5. Nghiên cứu, tổng kết, xây dựng và truyền bá rộng rãi những giá trị mới của con người Việt Nam thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá

Nhiệm vụ này gắn với việc bảo vệ, giữ gìn và phát huy bản sắc, cốt cách dân tộc, đồng thời có kế hoạch cơ bản triển khai cuộc đấu tranh chống sự lai căng vọng ngoại, lệ thuộc nước ngoài, đặc biệt chú trọng công tác giáo dục, bồi dưỡng thế hệ trẻ, nhất là học sinh, sinh viên về bản lĩnh chính trị, văn hóa của con người Việt Nam.

Xây dựng và thực hiện hệ giá trị của nhân cách con người Việt Nam thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá, các chuẩn mực đạo đúc - văn hoá phù hợp với từng đối mong triển khai sâu rộng nhiệm vụ xây dựng chuẩn mực đạo đức đối với các tầng lớp xã hội; thực hiện tốt chiến luợc phát triển giáo dục và đào tạo, dạy nghề, khoa học công nghệ, y tế, thể dục thể thao, văn hoá, văn học, nghệ thuật; xây dựng cơ chế, chính sách huy động sức mạnh văn hoá, văn nghệ, tham gia củng cố phát triển đạo đức xã hội; chỉ đạo đưa Cuộc vận động "Toàn dân đoàn kết xây đựng đời sống văn hoá” đi vào chiều sâu, hiệu quả thiết thực. Kiên trì tổ chức cuộc đấu tranh đẩy 1ùi, khắc phục sự thoái hoá, biến chất, những biện tiêu cực trong lối sống đạo đức của cán bộ, đảng viên và quần chúng, đặc biệt quan tâm thế hệ trẻ.

3.6. Đổi mới mạnh mẽ, sâu sắc và vững chắc nội dung, phương thức công tác tuyên giáo của Đảng theo định hướng cơ bản là tăng cường tính thuyết phục, hiệu quả, nâng cao tính chủ động và tính chiến đấu

Đổi mới phương thức công tác tuyên giáo của Đảng theo định hướng cơ bản là tăng cường tính thuyết phục, hiệu quả, nâng cao tính chủ động và tính chiến đấu, tạo bằng được sự gắn bó với nhân dân và thực tiễn đất nước. Có kế hoạch rà soát lại theo yêu cầu đổi mới tất cả các lĩnh vực của công tác tuyên giáo, xây dựng lộ trình thực hiện đổi mới cho từng nội dung, từng lĩnh vực để đến năm 2020 tạo bằng được diện mạo mới, chất lượng và hiệu quả mới của công tác tuyên giáo; tổ chức lại lực lượng báo chí, truyền thông đại chúng phát huy mạnh mẽ tính tích cực, vai trò phản biện và giám sát của báo chí, các phương tiện truyền thông đại chúng. Tiếp tục phát triển sự nghiệp báo chí, xuất bản đi đôi với tăng cường công tác lãnh đạo và quản lý trong lĩnh vực này. Tổ chức nghiên cứu đổi mới sâu sắc công tác lãnh đạo, quản lý và bản thân hoạt động báo chí, xuất bản xác lập nhiệm vụ khảo sát, điều tra dư luân xã hội là một cơ sở khách quan có tính bắt buộc khi thực hiện các nhiệm vụ của công tác tư tưởng; chuyển hướng mạnh mẽ từ thông tin một chiều, định hướng từ trên xuống sang chú trọng phương châm thông tin hai chiều, tăng cường đối thoại, lắng nghe, đặc biệt thông tin từ cơ sở lên, nhằm định hướng đúng trên cơ sở nắm vững thực tiễn, thông tin chuẩn xác; xây dựng các chương trình học tập, tuyên truyền, giáo dục cho từng đối tượng cụ thể theo trình độ nghề nghiệp, giới, vùng, miền; nghiên cứu nội dung và phương pháp phối hợp để phát huy sức mạnh tổng hợp của công tác tuyên giáo, đặc biệt trong các hoạt động có quy mô lớn, trọng điểm, nhân các ngày kỷ niệm; Nghiên cứu và thực hiện đổi mới căn bản các hoạt động kỷ niệm các ngày lễ lớn theo hướng thiết thực gắn với nhu cầu văn hoá, nguyện vọng của nhân dân, từng bước xây dựng các lễ hội mới, lễ hội cách mạng do nhân dân làm chủ, tự quản. Nhằm bảo đảm cho quá trình đổi mới công tác tuyên giáo đạt hiệu quả vững chắc từ Trung ương đến cơ sở, cần chú trọng xây dựng và thực hiện các chính sách mới đáp ứng yêu cầu đổi mới công tác tư tưởng trong thời kỳ mới.

3.7. Triển khai đồng bộ, chủ động cuộc đấu tranh trên mặt trận tư tưởng, lý luận, phản bác các luận điệu của các thế lực thù địch, chống phá Đảng và Nhà nước

Để thực hiện nhiệm vụ nói trên cần phải làm thất bại âm mưu, thủ đoạn "diễn hiện hoà bình" của các thế lực thù địch nhằm thực hiện đa nguyên chính trị, bạo loạn, lật đổ, đồng thời tỉnh táo phòng chống nguy cơ "tự diễn biến” có khả năng tiến triển nhanh trước tình thế mới của cuộc đấu tranh trên lĩnh vực tư tưởng, lý luận.

Phản bác kịp thời những luận điệu xuyên tạc, phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối đổi mới của Đảng của bọn phản động thù địch; làm cho chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối đổi mới của Đảng giữ vị trí chủ đạo trong đời sống tinh thần của toàn xã hội.

Chú trọng nghiên cứu một cách khách quan các khuynh hướng tư tưởng lý luận của các thế lực thù địch làm cơ sở chủ động tiến công, phản bác; tổ chức lại lực lượng tham gia cuộc đấu tranh trên lĩnh vực tư tưởng, lý luận; tạo diễn đàn tranh luận những vấn đề lý luận đang có nhiều ý kiến khác nhau.

3.8. Xây dựng và phát triển đội ngũ cán bộ chuyên trách công tác tuyên giáo

Xây dựng đội ngũ cán bộ chuyên trách công tác tuyên giáo một cách đồng bộ trên tất cả các lĩnh vực: tư tưởng lý luận, tuyên truyền, giáo dục và đào tạo dạy nghề, thông tin đại chúng, văn hoá, văn nghệ, điểu tra dư luận xã hội và đối với hai loại hình cán bộ lãnh đạo quản lý, chuyên gia và chuyên viên.

Mục tiêu xây dựng đội ngũ cán bộ chuyên trách công tác tuyên giáo là: tập trung tạo nguồn đội ngũ kế cận, để trong khoảng 5,10 năm tới có đủ về số lượng và chất lượng cán bộ đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ chủ yếu của công tác tuyên giáo trong tình hình mới. Đó là thế hệ cán bộ trẻ hiện nay đang công tác và được đào tạo một cách hệ thống bài bản, chính quy trên các nhà trường và thực tiễn cuộc sống.

Một số nhiệm vụ cụ thể:

- Quy hoạch đội ngũ, bảo đảm có các loại hình, các thế hệ cán bộ tuyên giáo nối tiếp nhau vững chắc: cán bộ lãnh đạo, quản lý, chuyên gia đầu ngành, đội ngũ kế cận và đội ngũ trẻ để tạo nguồn.

Tổ chức đánh giá toàn diện thực trạng đội ngũ cán bộ tuyên giáo từ Trung ương đến cơ sở, dự kiến nhu cẩu, khả năng tạo nguồn và phát triển đội ngũ, chủ động xây dựng và thực hiện nghiêm túc mô hình tổ chức, bộ máy của các ban tuyên giáo từ Trung ương đến co sở và của các bộ, ngành, đoàn thể chính trị - xã hội. Nghiên cứu xác định rõ mô hình cán bộ tuyên giáo cấp xã, phường, thị trấn. Đặc biệt quan tâm tới phương thức riêng, phù hợp với đặc trưng nghề nghiệp cán bộ tuyên giáo để chủ động tạo được nguồn cán bộ tuyên giáo.

- Lập kế hoạch dài hạn và hàng năm, khẩn trương thực hiện nhiệm vụ đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ tuyên giáo. Thực hiện nhiệm vụ đào tạo nhằm bảo đảm cán bộ chuyên trách tuyên giáo phải được đào tạo bài bản, chính quy, có khả năng phát triển lâu dài bằng nghề nghiệp và tạo nguồn cho cán bộ của Đảng, Nhà nước và cả hệ thống chính trị.

Xác định nguồn đào tạo cán bộ tuyên giáo từ việc lựa chọn các sinh viên tốt nghiệp đại học ớ trình độ khá trở lên trong các trường đại học có ngành nghề gắn với các lĩnh vực nghiệp vụ tuyên giáo, có phẩm chất đạo đức tốt, đã qua một thời gian công tác, có năng khiếu phù hợp với đặc trưng nghề nghiệp tuyên giáo, đồng thời chú trọng lựa chọn số cán bộ trẻ đang công tác trong tổ chức đoàn thanh niên các cấp, trong lực lượng vũ trang và trong hệ thống chính trị.

Đổi mới căn bản, xây dựng mới chương trình, nội dung đào tạo cán bộ ngành Tuyên giáo theo hướng nâng cao trình độ và kiến thức tổng hợp gắn chặt với các yêu cầu nghề nghiệp, kết hợp giữa học lý luận và thực hành nghiệp vụ. Ban Tuyên giáo Trung ương phối hợp với Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Học viện Báo chí và Tuyên truyền khẩn trương xây dựng kế hoạch chương trình, nội dung đào tạo theo hướng chỉ đạo trên bảo đảm sau 5 năm có được mô hình ổn định về đào tạo cán bộ tuyên giáo các cấp.

- Cùng với công tác đào tạo chính quy, ngành Tuyên giáo ở Trung ương và cấp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương phải tăng cường và có kế hoạch định kỳ bồi dưỡng tập huấn đội ngũ cán bộ tuyên giáo về lý luận, chuyên môn, nghiệp vụ, đặc biệt rèn luyện cán bộ qua hoạt động thực tiễn, đồng thời bảo đảm nâng cao trình độ chính trị theo yêu cầu nghề nghiệp, trình độ sử dụng ngoại ngữ và tin học cho cán bộ đang công tác, đặc biệt đối với đội ngũ kế cận, đội ngũ trẻ.

- Xây dựng và thực hiện một số chính sách chế độ mới đối với cán bộ chuyên trách công tác tuyên giáo, trong đó chú ý những yêu cầu đặc thù về nghề nghiệp; xây dựng các tiêu chuẩn cụ thể đánh giá kết quả hoạt động của từng loại hình cán bộ tuyên giáo; nghiên cứu, đề xuất chế độ, chính sách đào tạo và bồi dưỡng đối với cán bộ tuyên giáo; cán bộ lãnh đạo, quản lý, chuyên gia về nghiệp vụ nhằm khuyến khích, tạo điều kiện cho cán bộ phát triển lâu dài về nghề nghiệp; nghiên cứu các hình thức phù hợp tôn vinh cán bộ tuyên giáo có thành tích xuất sắc, có cống hiến lớn đối với ngành Tuyên giáo.

IV. MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ NGHIỆP VỤ TUYÊN GIÁO

4.1. Công tác giáo dục lý luận chính trị

4.1.1. Khái niệm

Công tác giáo dục lý luận chính trị là một bộ phận cơ bản trong công tác tư tưởng của Đảng1, thực hiện việc truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, cương lĩnh, đường lối, quan điểm của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước trong cán bộ, đảng viên và nhân dân. Công tác giáo dục lý luận chính trị nhằm hình thành thế giới quan, phương pháp luận khoa học, nhận thức tư tưởng, bản lĩnh chính trị, niềm tin và năng lực hoạt động thực tiễn cho đội ngũ cán bộ, đảng viên và nhân dân, đáp ứng yêu cầu của từng thời kỳ phát triển của đất nước.

Công tác giáo dục lý luận chính trị là nội dung quan trọng hàng đầu, nhằm bồi dưỡng, nâng cao nhận thức lý luận chính trị, lòng yêu nước, yêu quê hương, tình cảm cách mạng cho cán bộ, đảng viên và nhân dân, thông qua việc tổ chức nghiên cứu, học tập, quán triệt nghị quyết, chỉ thị của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Công tác giáo dục lý luận chính trị tạo nên sự nhất trí, tin tưởng và quyết tâm thực hiện thắng lợi các chương trình, kế hoạch phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội của cán bộ, đảng viên và nhân dân.

4.1.2. Vai trò công tác giáo dục lý luận chính trị

Công tác giáo dục lý luận chính trị có vai trò rất quan trọng trong sự nghiệp cách mạng của Đảng, xuất phát từ những yếu tố sau:

Thứ nhất, vai trò của lý luận chính trị đối với sự nghiệp cách mạng của giai cấp công nhân và nhân dân lao động.

Chủ nghĩa Mác- Lênin chính là học thuyết mang bản chất khoa học và cách mạng, vừa phản ánh đúng đắn những quy luật khách quan của sự phát triển xã hội, vừa chỉ ra mục tiêu, con đường, lực lượng, chiến lược, sách lược, phương pháp đấu tranh cách mạng để giành và giữ chính quyền.

V.I. Lênin khẳng định: “Không có lý luận cách mạng thì không thể có phong trào cách mạng”2 và “chỉ có đảng nào có một lý luận tiên phong hướng dẫn thì mới có khả năng làm tròn vai trò chiến sĩ tiên phong”. Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Đảng muốn vững thì phải có chủ nghĩa làm cốt, trong Đảng ai cũng phải hiểu, phải theo chủ nghĩa ấy. Đảng mà không có chủ nghĩa cũng như người không có trí khôn, tàu không có bàn chỉ nam”; “Không hiểu lý luận thì như người mù đi trong đêm”.

Chính đảng của giai cấp công nhân không ra đời một cách tự phát. Đó là sản phẩm của sự kết hợp giữa Chủ nghĩa Mác- Lênin với phong trào công nhân. Chủ nghĩa Mác- Lênin giúp giai cấp công nhân hiểu được quy luật phát triển của xã hội, chuyển từ tự phát lên tự giác, đấu tranh vì lợi ích kinh tế lên mục tiêu chính trị. Chủ nghĩa Mác- Lênin là cơ sở lý luận khoa học để các đảng cộng sản đề ra đường lối, chính sách, những giải pháp nhằm giải quyết những vấn đề nảy sinh trong quá trình cách mạng.

Đối với Đảng ta, Chủ nghĩa Mác- Lênin được lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc vận dụng và phát triển sáng tạo trong quá trình truyền bá vào Việt Nam và trực tiếp lãnh đạo cách mạng nước ta, hình thành nên tư tưởng Hồ Chí Minh. Tư tưởng Hồ Chí Minh cùng với Chủ nghĩa Mác- Lênin là nền tảng tư tưởng của Đảng.

- Thứ hai, công tác lý luận chính trị là một biện pháp cơ bản để tạo nên phong trào cách mạng rộng lớn của hàng triệu quần chúng.

C.Mác đã chỉ rõ vai trò của công tác lý luận chính trị qua một luận điểm nổi tiếng. Người viết: Cố nhiên là vũ khí phê phán không thể thay thế sự phê phán của vũ khí; lực lượng vật chất chỉ có thể bị đánh bại bằng lực lượng vật chất. Nhưng lý luận sẽ trở thành lực lượng vật chất một khi thâm nhập vào quần chúng. Như vậy, truyền bá lý luận vào quần chúng chính là quá trình “vật chất hóa” lý luận.

Công tác giáo dục lý luận chính trị là biện pháp chủ yếu để giác ngộ quần chúng. Trang bị cho cán bộ, đảng viên và nhân dân những nguyên lý cơ bản của Chủ nghĩa Mác- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là tạo dựng cơ sở khoa học nhằm giúp cho mọi người có nhận thức đúng đắn và niềm tin vững chắc vào lý tưởng cộng sản, vào con đường và biện pháp do Đảng vạch ra để thực hiện lý tưởng đó. Chủ nghĩa xã hội là kết quả hoạt động cách mạng tự giác của hàng triệu người lao động. Chính công tác giáo dục lý luận chính trị góp phần quan trọng trong việc nâng cao trình độ giác ngộ của quần chúng, thúc đẩy hoàn thành tốt nhiệm vụ chính trị cụ thể mà các tổ chức, đoàn thể chính trị - xã hội giao phó.

Từ khi ra đời đến nay, công tác giáo dục lý luận chính trị của Đảng Cộng sản Việt Nam đã góp phần quan trọng trong việc làm cho lý luận cách mạng thâm nhập vào quần chúng, trở thành “lực lượng vật chất” đem lại thắng lợi cho cách mạng Việt Nam.

Thứ ba, công tác giáo dục lý luận chính trị có vai trò quan trọng trong công tác xây dựng Đảng vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức và đạo đức, xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo của Đảng, xây dựng con người mới.

Thông qua giáo dục lý luận chính trị để nâng cao trình độ lý luận chính trị trong toàn Đảng, là cơ sở quan trọng để Đảng ta hình thành nên đường lối chính trị đúng đắn. Thông qua công tác giáo dục lý luận chính trị đã góp phần làm cho toàn Đảng thống nhất mục tiêu lý tưởng, cương lĩnh, đường lối, khắc phục mọi biểu hiện suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong Đảng. Thông qua công tác giáo dục lý luận chính trị góp phần nâng cao ý thức tự giác tu dưỡng đạo đức cách mạng, khắc phục chủ nghĩa cá nhân trong đội ngũ cán bộ, đảng viên. Đồng thời, giáo dục lý luận chính trị cũng góp phần vào việc xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo gồm những người kiên định lập trường, có năng lực tổ chức, tập hợp, động viên, giáo dục, thuyết phục quần chúng; có năng lực tổ chức hoạt động thực tiễn.

Chính vì vậy, công tác giáo dục lý luận chính trị có vai trò quan trọng trong công tác xây dựng Đảng từ Trung ương đến cơ sở.

4.1.3. Yêu cầu, nhiệm vụ công tác giáo dục lý luận chính trị trong thời kì mới

Hiện nay toàn Đảng, toàn dân, toàn quân đang tiếp tục sự nghiệp đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Nhiệm vụ chính trị trong thời kỳ mới hết sức nặng nề. Bên cạnh những thuận lợi chúng ta còn phải đương đầu với không ít khó khăn, thách thức. Tình hình thế giới và trong nước có nhiều biến động rất phức tạp. Trong khi đó, không ít những vấn đề lý luận và thực tiễn đặt ra trong quá trình đổi mới đất nước chưa được tổng kết kịp thời hoặc chưa đủ sáng tỏ, còn những ý kiến khác nhau cả trên vấn đề cụ thể cũng như trên một số vần đề cơ bản.

Mặt khác, các lực lượng thù địch đang tăng cường chống phá cách mạng nước ta trên cả lĩnh vực lý luận và thực tiễn. Chúng triệt để sử dụng kinh tế làm điều kiện ép ta thay đổi về chính trị; tìm cách móc nối với các đối tượng cơ hội chính trị, bất mãn trong nước; lợi dụng chiêu bài “dân chủ”, “nhân quyền”, “dân tộc”, “tôn giáo”, “chống tham nhũng, tiêu cực” để kích động chống đối, chia rẽ nội bộ, xuyên tạc, phủ định mục tiêu lý tưởng, con đường của cách mạng Việt Nam, phủ định sự lãnh đạo của Đảng.

Trong tình hình ấy, cán bộ, đảng viên phải luôn luôn vững vàng về tư tưởng chính trị, thống nhất nhận thức, ý chí và hành động trên nền tảng tư tưởng của Đảng là chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, cương lĩnh, đường lối chính trị của Đảng. Công tác giáo dục lý luận chính trị cho cán bộ, đảng viên và toàn dân phải không ngừng được nâng cao chất lượng và hiệu quả.

a. Yêu cầu của công tác giáo dục lý luận chính trị trong thời kỳ mới

Một là, tạo ra sự nhất trí cao đối với đường lối của Đảng, nắm bắt thời cơ, vượt qua thách thức, đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá, thực hiện mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”, vững bước tiến lên chủ nghĩa xã hội.

Hai là, xây dựng con người Việt Nam đủ khí phách bản lĩnh, phẩm chất, đạo đức và kiến thức trong thời kỳ mới.

Ba là, phát huy tinh thần cách mạng tiến công, giữ vững và tăng cường chủ động trên trận địa tư tưởng, làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn và hành động “diễn biến hoà bình” trên lĩnh vực tư tưởng - văn hoá của các thế lực thù địch.

b. Nhiệm vụ của công tác giáo dục lý luận chính trị trong thời kì mới

Một là, tiếp tục giáo dục trong Đảng và nhân dân kiên định mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, kiên định chủ nghiã Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối đổi mới của Đảng, làm cho ý chí kiên định đó trở thành lập trường chính trị không thể lay chuyển, kiên quyết đấu tranh chống những quan điểm sai trái, thù địch, ngăn ngừa ảnh hưởng của chủ nghĩa cơ hội dưới mọi màu sắc. Kiên định nhưng phải sáng tạo, phát triển không ngừng.

Hai là, tiếp tục giáo dục sâu rộng trong Đảng và nhân dân đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước.

Giai đoạn hiện nay cần tập trung quán triệt quan điểm cơ bản của Đảng như: Cương lĩnh (bổ sung, phát triển 2011), Chiến lược phát triển kinh tế- xã hội 2011-2020, nội dung các văn kiện Đại hội XII của Đảng, các quan điểm, đường lối phát triển đất nước trên những lĩnh vực khác…tập trung sức nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, phát huy sức mạnh toàn dân tộc, đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới, phấn đấu sớm đưa nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại.

Ba là, giáo dục nâng cao bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức, kiến thức và năng lực thực tiễn của cán bộ, đảng viên và nhân dân, thực hiện thắng lợi việc "Học tập và làm theo tư tưởng, tấm gương đạo đức và phong cách Hồ Chí Minh", tiếp tục thực hiện Nghị quyết TW 4 khóa XI “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay”, và các văn kiện của Đại hội XII, góp phần ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong một bộ phận cán bộ, đảng viên và nhân dân.

Bốn là, giáo dục, nâng cao cảnh giác, chống các âm mưu, thủ đoạn và hành động “diễn biến hoà bình” gây bạo loạn, lật đổ và răn đe quân sự của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch.

Giáo dục cho cán bộ, đảng viên và nhân dân hiểu rõ bản chất và mức độ nguy hiểm của chiến lược “diễn biến hoà bình”, động viên nhân dân tích cực tham gia chống lại âm mưu và thủ đoạn “diễn biến hoà bình” bảo vệ chế độ, bảo vệ chủ quyền quốc gia. Đồng thời, phải tăng cường phát huy truyền thống đại đoàn kết dân tộc, không ngừng củng cố mối quan hệ giữa Đảng, Nhà nước và nhân dân.

4.2. Công tác tuyên truyền, cổ động

4.2.1. Khái niệm

Tuyên truyền, cổ động theo nghĩa rộng là hoạt động có mục đích của một chủ thể nhằm truyền bá những tri thức, giá trị tinh thần, tư tưởng đến đối tượng, biến những tri thức, giá trị tinh thần, tư tưởng đó thành nhận thức, niềm tin, tình cảm, cổ vũ đối tượng hành động theo những định hướng do chủ thể tuyên truyền đặt ra. Cùng với công tác lý luận, công tác tuyên truyền và công tác cổ động là ba bộ phận hợp thành của công tác tư tưởng.

Tuyên truyền và cổ động là hai hình thái của công tác tư tưởng, có mối quan hệ, gắn bó mật thiết với nhau. Tuy phương thức tiến hành có sự khác nhau, nhưng tuyên truyền và cổ động đều nhằm mục đích phổ biến, truyền bá tri thức, giáo dục nhận thức, vận động, tổ chức, cổ vũ, động viên quần chúng tự giác tham gia phong trào hành động cách mạng.

Về tuyên truyền, theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, đó là "đem một việc gì nói cho dân hiểu, dân nhớ, dân theo, dân làm. Nếu không đạt được mục đích đó là tuyên truyền thất bại” 3.

Về cổ động, cần hiểu là thông qua những phương thức, công cụ riêng, chủ yếu là các biện pháp trực quan, tác động trực tiếp vào nhận thức, tư tưởng, tình cảm, của quần chúng nhân dân, lôi cuốn họ vào những hoạt động theo mục tiêu đã định.

4.2.2. Vai trò của công tác tuyên truyền, cổ động

Tuyên truyền, cổ động là những bộ phận quan trọng của công tác tư tưởng. Trong điều kiện bùng nổ thông tin, công tác tuyên truyền, cổ động càng trở nên quan trọng để định hướng thông tin, làm cho cho cán bộ, đảng viên, quần chúng nhân dân tiếp nhận các chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước một cách đầy đủ, đúng đắn.

Vai trò quan trọng của công tác tuyên truyền, cổ động thể hiện tập trung ở các khía cạnh sau:

- Là phương tiện quan trọng để phổ biến, truyền bá chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, các quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, những vấn đề thời sự lớn của đất nước và quốc tế, những vấn đề mới đặt ra trong sự nghiệp đổi mới, qua đó nâng cao nhận thức chính trị của cán bộ, đảng viên và nhân dân; động viên mọi người thực hiện tốt các nhiệm vụ chính trị trong mỗi thời kỳ. Là công cụ để định hướng tư tưởng, hướng dẫn suy nghĩ và hành động của toàn xã hội. Góp phần quan trọng để xây dựng nền văn hóa mới, con người mới xã hội chủ nghĩa.

Qua tuyên truyền, cổ động để phát huy vai trò làm chủ, tính tích cực, sáng tạo của quần chúng, trước hết là ở cơ sở trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh, quốc phòng, đối ngoại.

- Góp phần tăng cường mối quan hệ máu thịt giữa Đảng với nhân dân, xây dựng khối đoàn kết thống nhất trong Đảng, tăng cường sự đồng thuận trong xã hội.

- Là công cụ sắc bén trong đấu tranh bảo vệ chân lý, chống lại mọi âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch; phê phán các quan điểm sai trái, lệch lạc nảy sinh trong cán bộ, đảng viên và nhân dân trong quá trình thực hiện đường lối đổi mới của Đảng và Nhà nước.

4.2.3. Những hình thức chủ yếu của tuyên truyền, cổ động

Hình thức tuyên truyền, cổ động rất đa dạng, nhưng tập trung vào mấy loại hình sau đây:

a. Tuyên truyền

- Tuyên truyền miệng. Đây là hình thức tuyên truyền đặc biệt quan trọng, nhất là ở cơ sở, được thực hiện chủ yếu bởi đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên, thông qua các hình thức giao tiếp trực tiếp, như nói chuyện thời sự, tọa đàm, hội thảo, kể chuyện gương người tốt, việc tốt ...

- Tuyên truyền thông qua các ấn phẩm viết, như sách, báo (báo in, báo điện tử), bản tin, khẩu hiệu, biểu ngữ, truyền đơn, tờ gấp….

- Tuyên truyền qua nghe, nhìn, như phát thanh, truyền hình, phim ảnh, triển lãm, tham quan.., trong đó vai trò của truyền hình ngày càng trở nên quan trọng do tính phổ cập, nhanh chóng và rộng rãi trong toàn xã hội.

- Tuyên truyền bằng các hoạt động văn hóa, nghệ thuật, thông qua các hoạt động của ngành văn hóa, nghệ thuật...

- Tuyên truyền tổng hợp, kết hợp cổ động, tuyên truyền miệng, phim ảnh, thơ ca, hò, vè... (tuyên truyền lồng ghép).

b. Cổ động

- Cổ động miệng qua hệ thống loa, phát thanh, truyền thanh, v.v.

- Cổ động bằng panô, áp phích, các khẩu hiệu.

- Cổ động bằng và trên các phương tiện thông tin đại chúng.

- Cổ động bằng tuần hành, mít tinh...

Mỗi hình thức tuyên truyền, cổ động nêu trên đều quan trọng và có ưu thế riêng. Việc quyết định sử dụng hình thức nào phải xuất phát từ nội dung, tính chất và yêu cầu cụ thể của từng vấn đề, từng đợt tuyên truyền, đối tượng và khả năng kinh tế của địa phương, cơ sở.

4.2.4. Nguyên tắc cơ bản của công tác tuyên truyền, cổ động

Công tác tuyên truyền, cổ động có các nguyên tắc cơ bản sau:

a. Tính đảng

- Tính đảng là một trong những nguyên tắc cơ bản của công tác tuyên truyền, cổ động. Nguyên tắc tính đảng đòi hỏi việc xem xét, lý giải mọi hiện tượng, sự kiện của đời sống xã hội đều phải dựa trên lập trường, quan điểm, của giai cấp công nhân, vì lợi ích của giai cấp công nhân và nhân dân lao động.

- Nguyên tắc tính đảng trong công tác tuyên truyền, cổ động đòi hỏi người làm công tác tuyên truyền, cổ động phải có niềm tin vững chắc vào chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, sự lãnh đạo của Đảng và thắng lợi của sự nghiệp cách mạng. Nội dung tuyên truyền, cổ động phải định hướng xây dựng thế giới quan, phương pháp luận khoa học, nhân sinh quan cách mạng cho quần chúng.

- Phải nêu cao tính chiến đấu trong công tác tuyên truyền, tích cực tham gia vào cuộc đấu tranh chống các quan điểm sai trái, phản động, các biểu hiện tiêu cực, tham nhũng, xâm phạm quyền làm chủ của nhân dân.

b. Tính khoa học, thực tiễn

- Tính khoa học đòi hỏi công tác tuyên truyền, cổ động phải phân tích, đánh giá, tìm ra mối liên hệ giữa các hiện tượng và lý giải đúng đắn bản chất sự việc, và hiện tượng trên cơ sở khoa học.

- Công tác tuyên truyền phải xuất phát từ thực tiễn và phục vụ thực tiễn ở cơ sở, tham gia giải quyết các vấn đề thực tiễn đặt ra.

- Nội dung, hình thức tuyên truyền, cổ động phải phù hợp với từng đối tượng cụ thể.

c. Tính chân thực

- Tính chân thực là nguyên tắc quan trọng của công tác tuyên truyền. Tính chân thực đòi hỏi việc tuyên truyền, cổ động phải giải thích những thành tựu cũng như những sai lầm, thiếu sót trong mọi lĩnh vực đời sống xã hội một cách trung thực, khách quan.

- Tính chân thực không mâu thuẫn với việc cân nhắc cái gì nên nói, cái gì có thể đưa công khai, cái gì cần thông tin nội bộ. Vấn đề cơ bản là nội dung tuyên truyền, cổ động đưa ra phải chân thực, đúng đắn, có tác động tích cực đến tư tưởng của các tầng lớp nhân dân, không được nói dối, nói quá, thổi phồng, bao che, xuyên tạc sự thật...

d. Tính chiến đấu

- Tính chiến đấu chính là bản chất của công tác tuyên truyền, cổ động chính trị. Tính chiến đấu biểu hiện ở sự nhạy bén chính trị, tinh thần tiến công cách mạng trong thực hiện tuyên truyền, cổ động.

- Trong mỗi sự việc cần phân biệt rõ ràng sai - đúng, phải - trái, phù hợp - không phù hợp, biểu dương, phê phán kịp thời.

- Tính chiến đấu còn thể hiện ở việc kiên quyết phê phán các luận điệu tuyên truyền phản động, phản khoa học, trái với quan điểm, đường lối của Đảng.

e. Tính phổ thông, đại chúng

Tính phổ thông, đại chúng trong công tác tuyên truyền đòi hỏi:

- Tuyên truyền, cổ động phải đến với toàn dân, muốn vậy cách nói, cách làm trong tuyên truyền phải bám sát từng đối tượng để chọn ra phương pháp phù hợp.

- Phải động viên nhiều người, nhiều lực lượng cùng tham gia vào công tác tuyên truyền.

- Tuyên truyền phải gắn liền với phong trào. Tuyên truyền còn để tổ chức, hướng dẫn phong trào.

- Hình thức, nội dung tuyên truyền phải linh hoạt, sáng tạo, phù hợp phong tục tập quán, truyền thống của từng dân tộc, từng vùng, từng địa phương.

4.2.5. Phương châm công tác tuyên truyền, cổ động

a. Bám sát nhiệm vụ chính trị của Đảng, phát huy tinh thần cách mạng của các tầng lớp nhân dân

- Nội dung công tác tuyên truyền, cổ động ở mỗi thời kỳ, thời điểm đều phải dựa vào nhiệm vụ chính trị của Đảng, bám sát sự chỉ đạo của các cấp ủy cấp trên và phải gắn chặt với nhiệm vụ chính trị do cấp ủy cơ sở đề ra.

- Tuyên truyền, cổ động phải nhằm củng cố, giữ vững lòng tin của quần chúng với Đảng, đẩy lùi được tâm trạng hoài nghi, hoang mang, dao động.

b. Công tác tuyên truyền, cổ động phải kịp thời, nhạy bén, nội dung chính xác, có tính chiến đấu cao

- Phổ biến kịp thời các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, các vấn đề thời sự quốc tế, trong nước, địa phương cho các tầng lớp nhân dân biết để làm theo.

- Nội dung tuyên truyền, cổ động phải đúng sự thực, không tô hồng, bôi đen, nhưng cũng không rơi vào chủ nghĩa tự nhiên, thiếu định hướng. Phải tỏ rõ chính kiến trước những sự kiện, hiện tượng tiêu cực của xã hội cũng như phê phán những luận điệu của các thế lực thù địch, ảnh hưởng tới lợi ích của quốc gia, dân tộc.

c. Kết hợp tuyên truyền, cổ động nâng cao nhận thức tư tưởng với hướng dẫn hành động và cổ vũ phong trào

Mục tiêu của tuyên truyền, cổ động không chỉ dừng lại ở việc nâng cao nhận thức của các tầng lớp nhân dân. Trái lại, từ nhận thức phải hướng quần chúng tới hành động cách mạng và phải tiếp tục cổ vũ cho phong trào cách mạng để thúc đẩy phong trào phát triển, mở rộng, lôi cuốn ngày càng đông đảo mọi người tham gia.

d. Kết hợp giữa biểu dương và phê phán

Biểu dương và phê phán là hai mặt không thể thiếu được trong tuyên truyền, cổ động. Hai mặt này gắn bó mật thiết với nhau, hỗ trợ, tạo điều kiện cho nhau. Khắc phục khuynh hướng chỉ nhấn mạnh một mặt, xem nhẹ mặt kia vì cả hai khuynh hướng này đều hạn chế hiệu quả tuyên truyền, thậm chí có thể gây ra phản tác dụng tuyên truyền.

e. Tuyên truyền, cổ động phải cụ thể, thiết thực, sinh động

- Cụ thể thiết thực, trước hết cần nắm vững tâm tư, nguyện vọng của quần chúng nhân dân để tuyên truyền đúng đối tượng.

- Trong tuyên truyền phải sử dụng cách nói dễ hiểu, đơn giản, bằng ngôn ngữ của quần chúng để nói với quần chúng, tránh những từ hoa mỹ, trống rỗng. Sử dụng những hình thức phù hợp với đối tượng ở cơ sở.

- Những nhiệm vụ đặt ra phải cụ thể, thiết thực, quần chúng có thể làm được.

f. Phối hợp tốt các mặt hoạt động của công tác tuyên truyền, cổ động

Kết hợp các lực lượng và hình thức tuyên truyền. Kết hợp tuyên truyền thường xuyên với tuyên truyền theo chủ đề, từng thời gian. Kết hợp tuyên truyền với cổ động.

4.2.6. Một số thao tác nghiệp vụ của người cán bộ tuyên truyền miệng

Tuyên truyền miệng là hoạt động tuyên truyền chủ yếu và có hiệu quả nhất ở cơ sở. Hiệu quả tuyên truyền miệng phụ thuộc trực tiếp vào trình độ nghiệp vụ, nghệ thuật tuyên truyền miệng của báo cáo viên. Để nâng cao chất lượng và hiệu quả tuyên truyền miệng, cần chú ý một số vấn đề nghiệp vụ sau đây:

a. Tìm hiểu tâm lý và đặc điểm đối tượng

Đối tượng tuyên truyền miệng ở cơ sở rất đa dạng, có đặc điểm tâm lý, nghề nghiệp và điều kiện sống khác nhau và có nhu cầu, sự quan tâm đến các vấn đề khác nhau. Vì vậy, am hiểu đặc điểm và tâm lý đối tượng là yêu cầu đầu tiên để tiến hành có hiệu quả công tác tuyên truyền miệng.

Muốn nắm được tâm lý, đặc điểm đối tượng ở cơ sở cần nghiên cứu, tìm hiểu trước, thông qua thông báo, trao đổi của các cơ quan, tổ chức. Nắm tâm lý, đặc điểm đối tượng qua nắm bắt tư tưởng và dư luận xã hội, trao đổi với đội ngũ cán bộ chính quyền, đoàn thể ở cơ sở. Qua việc quan sát trực tiếp phong trào quần chúng ở cơ sở, điều tra bằng phiếu hỏi, quan sát trong các buổi báo cáo để thấy được thái độ, phản ứng của người nghe. Khi nắm được thái độ, đặc điểm của đối tượng phải lựa chọn nội dung, phương pháp tuyên truyền cho phù hợp để đạt hiệu quả cao.

b. Lựa chọn nội dung và chất lượng thông tin

Nhu cầu nhận thức của con người rất phong phú, đa dạng. Chỉ khi đáp ứng được nhu cầu, thoả mãn những mong đợi, khát khao của họ thì nội dung thông tin mới được họ tiếp thu tích cực, tự giác. Vì vậy, lựa chọn nội dung tuyên truyền cần chú ý đến những yêu cầu thông tin của đối tượng.

Khi trình bầy các vấn đề, sự kiện, báo cáo viên cần phân tích, khai thác các khía cạnh của bản chất sự kiện, tổng hợp, khái quát định hướng suy nghĩ và hành động, thoả mãn nhu cầu nhận thức, trí tuệ và tình cảm của người nghe, để từ đó mà đạt được mục đích của tuyên truyền.

Chất lượng thông tin phụ thuộc vào mức độ "sâu" và mức độ "mới" của nó. Những thông tin được phân tích trên cơ sở khoa học và thực tiễn sâu sắc, chỉ rõ bản chất, quy luật, dự báo xu hướng phát triển sẽ giải đáp trúng những vướng mắc của người nghe. Đó là những thông tin có giá trị soi sáng về tư tưởng, hướng dẫn dư luận và hướng dẫn hành động.

Giá trị thông tin mới rất quan trọng, nên cần chú ý cập nhật thông tin và khai thác để tuyên truyền. Tuy nhiên, với các thông tin cũ, sự phân tích sâu sắc, nhận xét, bình luận tinh tế, dự báo có cơ sở khoa học, liên hệ thực tiễn gần gũi, sống động, phương pháp trình bầy hấp dẫn, lôi cuốn... cũng có thể được coi là mới với người nghe. Vì vậy, đổi mới cách trình bầy phù hợp với đối tượng là yêu cầu quan trọng của tuyên truyền miệng.

c. Chuẩn bị đề cương bài nói

Hoạt động tuyên truyền miệng bao gồm xây dựng nội dung và trình bầy bài nói. Sự chuẩn bị chu đáo bài nói, đáp ứng được yêu cầu tuyên truyền và yêu cầu của người nghe sẽ góp phần lớn vào thành công của buổi nói chuyện. Đề cương tuyên truyền có thể là đề cương khái quát hoặc đề cương chi tiết, thậm chí là một bài viết hoàn chỉnh, thường có những phần sau:

- Phần mở đầu, có tính chất giới thiệu vấn đề và làm quen, có tác dụng tạo ra sự thân mật, gần gũi giữa người nói và người nghe. Mở đầu cần định hướng sự theo dõi, chú ý của người nghe vào nội dung tuyên truyền, giới thiệu những phần chính sẽ trình bầy, thời gian sẽ kết thúc và phương thức tiến hành để người nghe chủ động theo dõi.

Mở đầu cần ngắn gọn, súc tích, tránh dài dòng, có thể mở đầu trực tiếp, bắc cầu, tương phản, dẫn câu của lãnh tụ, danh nhân v.v...

- Phần nội dung, đây là phần quan trọng nhất của bài nói. Chuẩn bị từng vấn đề, từng sự kiện, theo lôgic, tầm quan trọng hoặc tiến trình lịch sử, có nguồn gốc, nguyên nhân trực tiếp, gián tiếp; những nét diễn biến chính, xu hướng vận động, ý kiến đánh giá bình luận; thái độ và biện pháp xử lý. Kết thúc mỗi vấn đề cần tóm tắt, chốt lại những ý chính. Cấu trúc của bài nói phải đảm bảo tính logíc chặt chẽ, hợp lý.

Với từng vấn đề, cần phải dùng các luận điểm, luận cứ, luận chứng, các ví dụ xác đáng, tiêu biểu, rõ ràng để giải thích và chứng minh. Giữa các phần có chuyển ý để cho người nghe thấy liền mạch trong suy nghĩ. Dẫn chứng các câu nói phải trung thực, có xuất xứ. Tuỳ theo từng loại bài nói mà ta chú ý đến các nội dung lý luận, tính thực tiễn, phù hợp với đối tượng.

- Phần kết luận có giá trị khái quát những điều đã trình bầy, nhấn mạnh điểm chính, khêu gợi suy nghĩ và cổ vũ hành động, định hướng tư tưởng để người nghe nâng cao niềm tin và xác định rõ trách nhiệm của mình trong thực hiện nhiệm vụ được giao.

d. Sử dụng ngôn ngữ và phong cách trong buổi nói chuyện

Ngôn ngữ là công cụ chủ yếu của người tuyên truyền miệng. Ngôn ngữ còn là biểu hiện của nhân cách, đạo đức, năng lực trí tuệ, khí chất và thể lực của người nói. Cùng với lời nói, các biểu hiện của nét mặt, nụ cười, ánh mắt, cử chỉ... cũng có tác dụng quan trọng, tạo nên thành công của buổi nói chuyện. Nói chuyện tin vui, nói chuyện buồn, thông báo việc quan trọng... phải có thái độ khác nhau. Thông qua những biểu hiện của người nói, người nghe hiểu được thái độ, tình cảm, niềm vui, nỗi buồn, sự xót xa, sự mỉa mai phê phán, thái độ kiên quyết ủng hộ, tình yêu thương, niềm tin vào lẽ phải của người nói. Những biểu hiện ngoài lời nói của tuyên truyền miệng được hình thành ổn định, trở thành phong cách riêng của mỗi người. Biểu cảm và phong cách cùng với lời nói làm cho nội dung tuyên truyền càng trở nên hấp dẫn hơn. Điều chủ yếu của việc thể hiện phong cách, biểu cảm là phải chân thực, không giả tạo, không mang tính biểu diễn, để khỏi gây ức chế cho người nghe.

e. Chủ động xử lý các tình huống trong lúc nói chuyện

Với tinh thần hướng về cơ sở, tăng cường đối thoại, người nói nên chuẩn bị tinh thần sẵn sàng trao đổi với người nghe. Dù câu hỏi ở dạng nào cũng cần chủ động, trao đổi chân tình, không lảng tránh hoặc tỏ ra lúng túng, gây phản ứng với người nghe.

Khi tiến hành buổi nói chuyện, người nói là "vai chính", vì vậy, cần phải chủ động xử lý các tình huống có thể xảy ra:

- Lựa chọn cách mở đầu và các bước tiếp theo một cách hợp lý, nhằm cuốn hút người nghe theo chủ đề, làm tăng sự hưng phấn, sự chú ý của người nghe.

- Lựa chọn phương thức tiến hành phù hợp với đối tượng và vấn đề cần trình bầy.

- Chú ý quan sát và phát hiện các quá trình tâm lý diễn ra ở người nghe khi trình bầy để điều chỉnh nội dung, cách nói, nhịp điệu và thời gian cho phù hợp. Thậm chí phải kích thích người nghe, tạo ra nhu cầu mới cho họ, dẫn dắt họ theo định hướng của mình, hứa hẹn đáp ứng nhu cầu mới trong dịp khác. Biết nghỉ giải lao, biết dừng câu chuyện, biết kết thúc bài nói đúng lúc. Không kết thúc sớm quá, và tốt nhất là không quá giờ, không kết thúc đột ngột mà có sự chuẩn bị trước về nội dung và ngữ điệu để kết thúc đúng lúc, kết thúc có hậu bằng sự hứa hẹn gặp lại, cảm ơn sự chú ý.

4.3. Nắm dư luận xã hội và xử lý tình huống, “điểm nóng” ở cơ sở

4.3.1. Khái quát chung về dư luận xã hội

a. Khái niệm dư luận xã hội

Trong đời sống xã hội hiện nay, không chỉ trên các phương tiện thông tin đại chúng, mà cả trong các văn bản chính thức của Đảng và Nhà nước, xuất hiện ngày càng nhiều khái niệm "dư luận xã hội", như là sự bày tỏ thái độ, tình cảm (nhận xét, đánh giá, ý nguyện, ý chí...) của các nhóm, các giai cấp, tầng lớp xã hội khác nhau đối với các sự kiện, hiện tượng xảy ra trong đời sống xã hội. Trên thế giới và trong nước ta hiện nay vẫn có rất nhiều cách hiểu khác nhau, có nhiều định nghĩa khác nhau về dư luận xã hội. Cách hiểu đơn giản nhất là coi dư luận xã hội, hay còn gọi là công luận, là ý kiến của quần chúng nhân dân. Một cách khái quát hơn, có thể định nghĩa như sau về dư luận xã hội: "Dư luận xã hội là tập hợp các luồng ý kiến cá nhân trước các vấn đề, sự kiện, hiện tượng hay các quá trình xã hội". Định nghĩa trên mang một số nội dung cần chú ý sau:

Một là, mỗi luồng ý kiến là một số ý kiến cá nhân giống nhau.

Hai là, dư luận xã hội có thể bao gồm nhiều luồng ý kiến khác nhau, thậm chí đối lập nhau.

Ba là, luồng ý kiến có thể rộng (tuyệt đại đa số, đa số, nhiều ý kiến) hoặc hẹp (một số ý kiến).

Chỉ có những sự kiện, hiện tượng, vấn đề xã hội có tính thời sự (động chạm đến lợi ích, các mối quan tâm hiện có của nhiều người) mới có khả năng tạo ra dư luận xã hội.

b. Dư luận xã hội và tin đồn

Tin đồn là những thông tin từ những nguồn thông tin không chính thức, thường là những thông tin thất thiệt, không đúng sự thật và rất khó kiểm chứng, được dựng lên, hoặc nguỵ tạo nên bởi những mục đích hay dụng ý nào đó.

Giữa tin đồn và dư luận xã hội có những điểm khác biệt cơ bản sau đây:

Một là, nguồn thông tin của tin đồn bao giờ cũng xuất phát từ người khác (tôi nghe người này nói, người kia nói); nguồn thông tin của dư luận xã hội lại xuất phát từ chính là bản thân người phát ngôn (theo ý kiến của tôi thì...).

Hai là, tin đồn loang càng xa thì càng có nhiều biến thái, do nó không ngừng được thêm thắt. Ngược lại, lúc ban đầu dư luận xã hội thường rất phân tán, nhưng sau đó, thông qua sự trao đổi, tranh luận, tính thống nhất của dư luận xã hội thường tăng lên.

Ba là, tin đồn thường có tính "thất thiệt" (mặc dù có những tin đồn về cơ bản là sự thật). Dư luận xã hội phản ánh trung thực về những suy nghĩ, tình cảm, thái độ của chủ thể.

Tuy nhiên, giữa dư luận xã hội và tin đồn không có sự ngăn cách tuyệt đối. Tin đồn thường có nguyên nhân là do công chúng, nhân dân thiếu thông tin cộng với tính tò mò, đưa chuyện của một bộ phận công chúng. Tin đồn thường xuất hiện khi người ta thiếu (hoặc thừa) thông tin, dựa vào kinh nghiệm của bản thân, dựa vào những yếu tố chủ quan mà phán đoán, nảy sinh những thông tin, những câu chuyện thường là hoang đường. Nhưng tin đồn cũng ẩn chứa những suy nghĩ và tình cảm của công chúng. Dưới tác động của internet và mạng xã hội, các vấn đề này thường diễn biến phức tạp hơn.

4.3.2. Chức năng của dư luận xã hội

Dư luận xã hội thực hiện những chức năng cơ bản sau đây:

a. Chức năng đánh giá

Dư luận xã hội thể hiện thái độ phán xét đánh giá của công chúng đối với các sự kiện, hiện tượng, sự vật, vấn đề cuộc sống. Dư luận xã hội có vai trò quyết định trong việc hình thành thang bậc giá trị xã hội.

b. Chức năng điều chỉnh các mối quan hệ xã hội

Dư luận xã hội chính là "luật bất thành văn", thực hiện chức năng điều chỉnh các quan hệ xã hội thông qua việc tác động đến hành vi và các mối quan hệ giữa các cá nhân với nhau; của cá nhân với nhóm xã hội; trong tập thể, hay giữa các nhóm, các tập thể với nhau.

c. Chức năng giáo dục của dư luận xã hội

Dư luận xã hội góp phần chuyển giao các giá trị tinh thần, nhất là các giá trị đạo đức, luân lý từ thế hệ này sang thế hệ khác, như ý thức về "phải - trái", "đúng - sai", "thiện - ác", "đẹp - xấu". Dư luận xã hội có tác dụng giáo dục và răn đe đối với mỗi cá nhân, góp phần vào việc giáo dục ý thức trách nhiệm của cá nhân đối với nhiệm vụ chung. Dư luận xã hội giáo dục luân thường, đạo lý trong xã hội thông qua việc đồng tình hay lên án một hành vi nào đó.

Tuy nhiên, cũng có nơi, có lúc dư luận xã hội có tác động tiêu cực, bảo thủ, kìm hãm hành vi tích cực và sự sáng tạo. Thông thường, con người rất sợ những dư luận nói chung, nhất là dư luận tiêu cực, giống như câu tục ngữ: "trăm năm bia đá thì mòn, ngàn năm bia miệng vẫn còn trơ trơ".

d. Chức năng giám sát

Dư luận xã hội luôn thể hiện lập trường rõ ràng đối với vấn đề mà nó quan tâm, với mục đích đòi hỏi được đáp ứng những yêu cầu của nó. Thông qua sự phán xét, đánh giá, dư luận xã hội giám sát các hoạt động của các tổ chức xã hội, các cơ quan nhà nước, đòi hỏi các cơ quan này phải làm việc phù hợp với lợi ích chung của xã hội. Dư luận xã hội về tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí hiện nay có tác dụng giám sát và gây sức ép lên hoạt động của Nhà nước và các tổ chức xã hội.

e. Chức năng tư vấn, phản biện

Trước những vấn đề nan giải trong xã hội, dư luận xã hội có thể đưa ra những khuyến nghị sáng suốt mà các cơ quan tham mưu cho chính quyền có thể chưa nghĩ ra được. Dư luận xã hội cũng là người phản biện có uy tín đối với các quyết định của các cơ quan đảng, chính quyền, tổ chức chính trị - xã hội.

f. Chức năng giải toả tâm lý - xã hội

Sự giãi bày, bày tỏ thành lời với cơ quan trách nhiệm, cơ quan thông tin hay trong sinh họat ở địa phương có thể giải toả nỗi bất bình, uất ức của con người, nhóm xã hội, làm cho tâm lý của con người, nhóm xã hội trở lại vị trí thăng bằng. Bị oan ức mà nói ra được người ta sẽ cảm thấy nhẹ nhõm.

4.3.4. Các yếu tố tác động đến chất lượng công tác nắm bắt dư luận xã hội

Nắm bắt dư luận xã hội là công việc rất khó khăn, phức tạp, rất dễ bị sai lệch do tác động của nhiều yếu tố.

a. Tính chất đa dạng, phức tạp của các loại quan điểm, thái độ trong xã hội

Lợi ích và nhận thức là một trong những cơ sở rất quan trọng quyết định tâm trạng, tư tưởng của các tầng lớp xã hội để hình thành nên dư luận xã hội. Trước một hiện tượng, sự kiện, vấn đề nào đó, những người có lợi ích và nhận thức khác nhau có thể có tâm trạng, tư tưởng, cách phán xét, đánh giá khác nhau. Một quyết định rất đúng đắn của chính quyền cũng có thể gây ra những phản ứng dư luận xã hội rất khác nhau. Người có hiểu biết về cơ sở của quyết định này (những người có đầy đủ thông tin) thì đánh giá đó là một quyết định rất cần thiết và hợp lý. Nhưng những người thiếu thông tin hoặc nhận được những thông tin sai lệch có thể phê phán gay gắt, coi đó là một quyết định sai trái, bất hợp lý.

Cùng với sự phát triển của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, trong xã hội ta hiện nay, sự phân hoá lợi ích, phân hoá giàu nghèo, về trình độ học vấn, trình độ nhận thức cũng đang tăng lên. Do vậy, sự khác biệt, mâu thuẫn, xung đột ý kiến trước các sự kiện, hiện tượng, vấn đề xã hội cũng có chiều hướng tăng lên.

b. Mức độ dân chủ, cởi mở trong xã hội

Nơi nào tinh thần dân chủ được coi trọng, thì ở nơi đó cán bộ, đảng viên và nhân dân có thể bày tỏ thẳng thắn thái độ, suy nghĩ đích thực của mình, ít có những dư luận âm ỉ.

Ngược lại, ở đâu quy chế dân chủ ở cơ sở bị vi phạm thì ở đó cán bộ, đảng viên và nhân dân thường không nói ra những suy nghĩ thật của mình và sẽ tạo nhiều luồng dư luận khó kiểm soát. Không ít trường hợp, cán bộ làm công tác tư tưởng đi cơ sở “cùng ăn, cùng ở, cùng làm” với dân, nhưng cũng không nắm được thực chất tình hình tâm trạng, tư tưởng của dân. Ở những nơi này, nếu không có kinh nghiệm, không có biện pháp thích hợp thì rất khó có được các thông tin chân thực.

c. Bệnh thành tích, sợ khuyết điểm

Xuất phát từ các lợi ích cục bộ, bản vị, cán bộ lãnh đạo các cơ quan, ban ngành, địa phương có thể báo cáo sai tình hình tâm trạng, tư tưởng của cán bộ, đảng viên và nhân dân nơi mình quản lý; những bức xúc của cán bộ, đảng viên và nhân dân thường bị che dấu, bệnh thành tích đã phát triển khá phổ biến. Ở một số cơ quan, ban, ngành, địa phương, những nơi bệnh thành tích phát triển, nếu chỉ nghe các cấp uỷ đảng và chính quyền báo cáo, chúng ta khó có thể thu được một bức tranh trung thực về tâm trạng, tư tưởng của dân.

d. Chủ nghĩa cơ hội, thói "xu thời"

Biểu hiện của chủ nghĩa cơ hội, thói “xu thời” là thấy nhiều người nói như thế thì bản thân mình cũng nói như thế, mặc dù trong thâm tâm không nghĩ như vậy. Đây là một trong những hiện tượng tâm lý dễ xuất hiện ở những bộ phận xã hội không hoặc ít có nhu cầu tự khẳng định mình. Đây cũng là một trong những nguyên nhân không nhỏ ảnh hưởng đến chất lượng của công tác nắm bắt tâm trạng, tư tưởng, nếu các cán bộ làm công tác tư tưởng không tính toán đến.

e. Sự hạn chế về trình độ chuyên môn, nghiệp vụ của cán bộ làm công tác nắm bắt dư luận xã hội

Có thể coi đây là một trong những yếu tố cơ bản hạn chế chất lượng công tác nắm bắt tâm trạng, dư luận xã hội. Do không có khả năng phân tích các vấn đề tâm trạng, dư luận xã hội và thiếu hiểu biết về các phương pháp nắm bắt tâm trạng dư luận xã hội nên nhiều cán bộ làm công tác tư tưởng, dư luận xã hội không có khả năng phân tích sâu sắc và phản ánh khách quan, toàn diện thực trạng tình hình tâm trạng, tư tưởng, dư luận xã hội của các tầng lớp cán bộ, đảng viên và nhân dân.

4.3.5. Các hình thức nắm bắt tâm trạng, tư tưởng trong Đảng, trong dân

Có thể chia các phương pháp nắm bắt tâm trạng, tư tưởng trong Đảng, trong dân thành 2 loại: các phương pháp truyền thống và các phương pháp điều tra dư luận xã hội.

a. Nắm bắt theo các phương pháp truyền thống

Cách nắm bắt tâm trạng, tư tưởng trong Đảng, trong dân là một qui trình gồm 3 bước: 1) Thu thập cứ liệu; 2) Tổng hợp, phân tích, viết dự thảo báo cáo; 3) Xin ý kiến góp ý vào dự thảo báo cáo và hoàn thiện báo cáo.

- Thu thập cứ liệu: Các phương pháp thường sử dụng để thu thập cứ liệu là: nghe, quan sát, toạ đàm, phỏng vấn, thảo luận, phân tích tài liệu (đơn thư khiếu nại, tố cáo, ý kiến cử tri, biên bản các cuộc họp tổ dân phố, thôn, xóm...).

- Tổng hợp, phân tích, viết dự thảo báo cáo: Sau khi đã thu thập được các cứ liệu cần thiết, người viết báo cáo phải tổng hợp, phân tích các cứ liệu và đưa ra các nhận định, đánh giá về tình hình, tâm trạng, tư tưởng trong Đảng, trong dân. Các phân tích, tổng hợp có thể được viết thành báo cáo, lúc đầu là báo cáo dưới hình thức dự thảo.

- Xin ý kiến góp ý tổ chức thảo luận (hoặc xin ý kiến lãnh đạo, những người am hiểu) đối với dự thảo báo cáo; tiếp thu và sửa chữa, hoàn thiện dự thảo báo cáo, chuyển dự thảo báo cáo đã được hoàn thiện thành báo cáo chính thức.

Nếu quy trình này không được tuân thủ nghiêm ngặt thì chất lượng báo cáo có thể không đáng tin cậy.

Phương pháp nắm bắt tâm trạng, tư tưởng truyền thống dễ làm, cán bộ không cần phải đào tạo nhiều, ít tốn kém về thời gian và chi phí. Tuy nhiên, các thông tin thu được dễ mang tính chủ quan, phiến diện, thiếu rõ ràng về mặt định lượng (ví dụ, không thể xác định được có bao nhiêu % trong xã hội tán thành hoặc không tán thành một quan điểm nhất định nào đó).

b. Nắm bắt bằng phương pháp điều tra dư luận xã hội

Điều tra dư luận xã hội là hình thức phỏng vấn một lượng người nhất định, được lựa chọn theo những cách thức khoa học, do vậy chỉ cần điều tra (phỏng vấn) một lượng người không lớn (ví dụ một vài nghìn người), nhưng kết quả thu được cũng gần giống như kết quả điều tra toàn bộ cộng đồng. Các phương pháp điều tra dư luận xã hội cho phép khắc phục những điểm hạn chế của các phương pháp truyền thống nêu trên. Tuy nhiên, các phương pháp điều tra dư luận xã hội cũng có những điểm yếu như chi phí lớn, cán bộ phải được đào tạo cơ bản về chuyên môn, nghiệp vụ, phải có những kiến thức nhất định về xã hội học, tâm lý học.

Phương pháp này sẽ được trình bày kỹ trong phần “Cách nắm bắt dư luận xã hội”.

4.3.6. Cách nắm bắt dư luận xã hội

a. Các phương pháp nghiên cứu nội dung dư luận xã hội (cách gọi khoa học là các phương pháp nghiên cứu định tính)

Bản chất của nghiên cứu nội dung dư luận xã hội là tìm hiểu xem trong cộng đồng xã hội mà chúng ta nghiên cứu, trước mỗi sự kiện, hiện tượng, vấn đề cuộc sống, dư luận xã hội bao gồm mấy loại ý kiến, nội dung mỗi loại ý kiến là gì.

Phương pháp nghiên cứu nội dung dư luận xã hội có thể phân thành hai loại: Các phương pháp nghiên cứu trực tiếp và các phương pháp nghiên cứu gián tiếp.

Nghiên cứu trực tiếp

Nghiên cứu trực tiếp bao gồm hai phương pháp chủ yếu là phỏng vấn nhóm và phỏng vấn cá nhân.

- Phỏng vấn nhóm là loại phỏng vấn nhằm vào các đối tượng là những nhóm nhỏ (thông thường từ 8 đến 12 người, lớn hơn hoặc nhỏ hơn sẽ thiếu tập trung, hoặc tẻ nhạt). Mục đích chính của phỏng vấn nhóm là phát huy thế mạnh của sự trao đổi, thảo luận, tranh luận tập thể để làm rõ các “góc cạnh” của vấn đề nghiên cứu (có bao nhiêu loại tâm trạng, thái độ, quan điểm trước một vấn đề, sự kiện mà người nắm dư luận xã hội quan tâm). Trong phỏng vấn nhóm, người phỏng vấn có thể tuỳ cơ ứng biến để đặt ra các câu hỏi cho mọi người. Các cuộc giao ban dư luận xã hội với số lượng người tham gia ít (từ 8 đến 12 người), trong đó, người chủ trì giao ban đặt ra các câu hỏi để người tham dự giao ban trả lời có thể được coi là hình thức phỏng vấn nhóm.

- Phỏng vấn cá nhân (gọi chính xác hơn là phỏng vấn sâu) là hình thức trao đổi “tay đôi” giữa người phỏng vấn và cá nhân được phỏng vấn. Trong phỏng vấn cá nhân, người nêu câu hỏi được phép tuỳ cơ ứng biến khi nêu câu hỏi. Thế mạnh của phỏng vấn sâu là bằng các câu hỏi có tính gợi mở, người phỏng vấn có thể làm rõ mọi ngóc ngách suy nghĩ, thái độ, tâm trạng, tình cảm của người được phỏng vấn đối với vấn đề mà mình quan tâm.

Nghiên cứu gián tiếp

Nghiên cứu trực tiếp bao gồm chủ yếu là các phương pháp sau đây:

- Phương pháp liên tưởng: Đây là hình thức nắm bắt ý kiến của đối tượng thông qua phản ứng tức thì của người được phỏng vấn trước câu hỏi của người phỏng vấn. Hình thức liên tưởng phổ biến nhất là liên tưởng ngôn ngữ. Trong liên tưởng ngôn ngữ, cán bộ làm công tác nghiên cứu dư luận xã hội đề nghị đối tượng cho biết ý nghĩ xuất hiện tức thì trong đầu họ mỗi khi cán bộ làm công tác nắm bắt dư luận xã hội đề cập đến một khái niệm, một chủ đề nhất định nào đó. Phương pháp này cho phép nắm bắt trung thực suy nghĩ của đối tượng đối với những vấn đề tế nhị, nhạy cảm. Bởi vì, đối với những vấn đề tế nhị, nhạy cảm, người được hỏi ý kiến thường có phản ứng phòng vệ, xuất hiện “hàng rào tâm lý” khiến họ không nói thật suy nghĩ của mình. Phương pháp liên tưởng đòi hỏi người trả lời phải nói nhanh, “hàng rào tâm lý” chưa kịp xuất hiện.

- Phương pháp bổ khuyết: người nghiên cứu có thể tổng hợp sơ bộ tình hình dư luận xã hội về một vấn đề, sự kiện, hiện tượng nào đó và đề nghị đối tượng nghiên cứu bổ sung, hoàn thiện. So với phương pháp liên tưởng ngôn từ, phương pháp bổ khuyết có khả năng cung cấp một lượng thông tin nhiều hơn về suy nghĩ và thái độ của người trả lời.

- Phương pháp người thứ ba (người khác): Đối tượng được hỏi cần cho biết người khác có phản ứng (suy nghĩ, thái độ) như thế nào đối với một vấn đề sự kiện, hiện tượng nhất định nào đó. Người thứ ba đó có thể là bạn bè, là hàng xóm, là đồng nghiệp ... của đối tượng. Trong các suy đoán về thái độ và cảm tưởng của người thứ ba này phản ánh chính các cảm tưởng, thái độ của đối tượng. Phương pháp này cũng nhằm ngăn chặn sự xuất hiện “hàng rào tâm lý”, “phản ứng đề phòng” của người trả lời. Nó thích hợp trong việc nắm bắt dư luận xã hội đối với những vấn đề tế nhị, nhạy cảm.

b. Các phương pháp nghiên cứu định lượng (số lượng những người có cùng loại ý kiến)

Dư luận xã hội cần phải được làm rõ không chỉ về nội dung mà còn về số lượng người có loại ý kiến tương ứng (đa số? số đông? một số? bao nhiêu %?). Các phương pháp nghiên cứu định lượng phổ biến trong nghiên cứu dư luận xã hội là:

Phương pháp phân tích tài liệu

Phân tích tài liệu (báo chí, biên bản các cuộc họp, đơn thư khiếu nại, tố cáo, góp ý của nhân dân...) đòi hỏi các kỹ thuật nhất định, như phân loại các nội dung mà các tài liệu này đề cập, tính số lần được đề cập của mỗi nội dung.

Ví dụ, chúng ta có thể dùng phương pháp này để làm rõ ở một xã (phường) nhất định nào đó, hàng tháng có bao nhiêu đơn thư tố cáo, nội dung chủ yếu của đơn thư tố cáo là gì và mỗi nội dung được bao nhiêu đơn thư đề cập...

Phương pháp điều tra xã hội học

Dư luận xã hội có thể được nắm bắt chính xác (cả về mặt định tính và mặt định lượng) thông qua điều tra xã hội học. Hình thức điều tra xã hội học phổ biến là phỏng vấn một tập hợp người (gọi là mẫu điều tra) theo các bảng (phiếu câu hỏi) đã được chuẩn bị trước. Mỗi cuộc điều tra xã hội học đều phải trải qua các bước sau đây: 1) Xác định chủ đề, mục đích điều tra; 2) Xây dựng phiếu câu hỏi; 3) Chọn mẫu điều tra; 4) Xử lý phiếu điều tra; 5) Viết báo cáo.

- Xác định chủ đề, mục đích điều tra.

Để tiến hành một cuộc điều tra xã hội học, trước hết phải làm rõ chúng ta điều tra vấn đề gì, các nội dung thông tin cần có để làm rõ vấn đề nghiên cứu là những nội dung gì.

- Xây dựng phiếu câu hỏi.

Có thể chia cấu trúc của một phiếu câu hỏi thành 3 phần: Phần mở đầu, phần nội dung và phần các đặc điểm xã hội của đối tượng.

+ Phần mở đầu: giới thiệu mục đích nghiên cứu và hướng dẫn cách trả lời, khẳng định nguyên tắc khuyết danh (người trả lời không phải ghi tên mình vào phiếu câu hỏi mà mình trả lời) để người trả lời có thể trả lời thành thực, không e ngại.

+ Phần nội dung: Câu hỏi có thể phân chia thành hai loại: câu hỏi kín, câu hỏi mở.

Câu hỏi kín: là câu hỏi có kèm sẵn các phương án trả lời khác nhau dựa trên một cơ sở phân chia nhất định. Người trả lời chỉ cần đánh dấu vào phương án nào phù hợp với suy nghĩ của mình. Có loại câu hỏi kín đơn giản và câu hỏi kín phức tạp. Câu hỏi kín đơn giản là loại câu hỏi chỉ có hai phương án trả lời kiểu "có - không" hoặc “tán thành - không tán thành).

Câu hỏi mở: là loại câu hỏi không có sẵn các phương án trả lời, người trả lời phải tự viết ý kiến của mình ra.

Còn có loại câu hỏi vừa kín vừa mở: Đó là loại câu hỏi có một số phương án trả lời cho sẵn và một phương án trả lời là câu hỏi mở. Câu hỏi này được sử dụng khi vấn đề được hỏi có thể chứa đựng rất nhiều phương án trả lời mà chúng ta khó có thể lường hết được. Phương án mở nhằm mục đích bao quát hết các loại ý kiến trả lời mà chúng ta chưa liệt kê.

+ Phần đặc điểm của đối tượng điều tra: Ở cuối mỗi bảng câu hỏi, chúng ta thường có những câu hỏi về lứa tuổi, trình độ văn hoá, nghề nghiệp, giới tính… Phần này có tác dụng lớn trong việc phân tích và so sánh kết quả thu được.

- Chọn mẫu điều tra. Để nắm ý kiến của một cộng đồng xã hội nào đó, tốt nhất chúng ta phỏng vấn tất cả các thành viên trong cộng đồng. Đó là kiểu điều tra tổng thể. Nhưng trên thực tế, điều tra tổng thể chỉ thực hiện được đối với các nhóm người có số lượng ít, vài ba trăm người trở xuống, còn với số lượng của nhóm người điều tra lớn (hàng chục vạn, hàng triệu người) thì có rất nhiều khó khăn, tốn phí rất nhiều công sức, tiền của và thời gian. Để giải quyết các khó khăn này, người ta đã dùng phương pháp chọn mẫu, chỉ cần chọn lấy một số người đại diện trong tổng thể (số người này được gọi là mẫu điều tra) để điều tra mà kết quả vẫn không bị sai lệch nhiều.

4.3.7. Nắm dư luận xã hội giúp xử lý tình huống có vấn đề

a. Khái niệm "tình huống có vấn đề"

- Tình huống là hệ thống các sự kiện bên ngoài có quan hệ đối với chủ thể, có tác dụng thúc đẩy tính tích cực của người đó. Tình huống xảy ra ngoài ý muốn của chủ thể, xảy ra trước hành động của chủ thể, độc lập với chủ thể. Tình huống có vấn đề là tình huống đòi hỏi cá nhân hay nhóm người phải tìm kiếm, sử dụng các phương tiện và phương pháp mới cho hoạt động của mình. Tình huống có vấn đề thể hiện tác động tương hỗ giữa chủ thể và môi trường xung quanh, đồng thời phá vỡ trạng thái cân bằng, trạng thái tâm lý "tĩnh" của chủ thể. Điều chưa biết trong tình huống có vấn đề thường tồn tại dưới dạng câu hỏi đặt ra cho chủ thể, thúc đẩy chủ thể phải tư duy, tìm kiếm phương tiện để trả lời, lựa chọn phương pháp cần thiết để giải quyết nó.

- Bất cứ một tình huống có vấn đề nào cũng bao gồm các yếu tố sau:

Một là, có chứa đựng mâu thuẫn.

Hai là, có tính chủ quan. Cùng ở trong tình huống nhưng có thể xuất hiện mâu thuẫn ở người này, mà không làm xuất hiện mâu thuẫn ở người khác.

Ba là, phá vỡ cân bằng trong nhận thức của chủ thể.

Mỗi khi nhận thấy có bất cứ mâu thuẫn nào trong hoạt động của mình, chủ thể sẽ có nhu cầu tìm kiếm những kiến thức mới, những phương tiện, phương pháp mới để làm sao giải quyết được mâu thuẫn nảy sinh. Do vậy, tình huống có vấn đề mang tính tất yếu trong quá trình phát triển của mỗi cá nhân cũng như của xã hội. Trong quá trình dạy học, tình huống có vấn đề được sử dụng như một phương pháp hữu hiệu nhằm thúc đẩy tư duy tích cực của người học.

Bên cạnh tác động tích cực, tình huống có vấn đề sẽ trở nên tiêu cực khi không tìm được lời giải cho những câu hỏi của nó. Khi mà mâu thuẫn sẽ trở thành xung đột và tình huống có vấn đề có nguy cơ trở thành những khủng hoảng tâm lý đối với cá nhân và thành khủng hoảng chính trị - xã hội đối với một nhóm người hay toàn xã hội.

- Việc quan tâm, phát hiện và giải quyết kịp thời tình huống có vấn đề sẽ giữ gìn sự ổn định, đồng thời thúc đẩy sự phát triển của xã hội. Những thái độ thiếu quan tâm, bỏ qua, bưng bít... sẽ mang lại những hậu quả khôn lường. Đó là tính chất hai mặt, rất tích cực, đồng thời rất nguy hiểm của tình huống có vấn đề.

- Trên địa bàn cơ sở, có thể coi “tình huống có vấn đề” là tình huống trong đó mối quan hệ giữa dân với dân hoặc giữa dân với chính quyền mâu thuẫn, căng thẳng đến mức có thể chuyển hoá thành các hành vi vượt ra khỏi tầm kiểm soát của một hoặc cả hai bên. Những mâu thuẫn này có thể phát triển thành “điểm nóng”, các “phản ứng tập thể” và các hệ quả nguy hiểm khác không thể lường hết được.

b. Khái niệm "điểm nóng"

- Điểm nóng là nơi mâu thuẫn giữa dân với dân hoặc giữa dân với chính quyền đã vượt ra khỏi tầm kiểm soát của một hoặc cả hai bên. Đây chính là nguyên nhân lý giải vì sao tại các điểm nóng, các hành vi cực đoan, quá khích thường rất dễ xảy ra. Một trong những hiện tượng thường bắt gặp tại các điểm nóng là sự tụ tập đông người một cách không có tổ chức hoặc có nhưng mờ nhạt, lỏng lẻo.

- Theo các chuyên gia tâm lý học xã hội, đám đông không có tổ chức hoặc có tổ chức lỏng lẻo rất dễ rơi vào trạng thái bị kích động, sẵn sàng thực hiện các hành vi thiếu lý trí.

c. Tâm lý đám đông

- Trong xử lý tình huống có vấn đề, thì xử lý các tình huống có liên quan tới đám đông là một trong những công việc khó khăn nhất. Đám đông là một tập hợp người vì lý do nào đó mà hội tụ lại tại một địa điểm nhất định, vào một thời điểm nhất định. Đám đông thường được xem là một loại nhóm hồn hợp, lỏng lẻo, giữa các thành viên không có một mối liên hệ chặt chẽ. Các thành viên của đám đông có thể rất khác nhau về thành phần xã hội, trình độ nghề nghiệp, tôn giáo, thậm chí mục đích khiến họ tụ tập lại cũng có thể không giống nhau. Trong một đoàn biểu tình, có người thực sự muốn đấu tranh, phản đối, có người do a dua, tò mò, có người đơn thuần ham vui, thích không khí ồn ào, náo nhiệt.

Không phải bất cứ sự hội tụ nào cũng được xem là đám đông. Chỉ khi sự hội tụ đông người đó đem lại những thay đổi về phương diện tâm lý, tạo ra những trạng thái tâm lý mới, hay xuất hiện "một tâm hồn cộng đồng" thì mới được quan tâm nghiên cứu.

Sự hội tụ, tập trung của nhiều cá nhân tạo ra một môi trường tâm lý đặc biệt, kích thích thúc đẩy hoặc đè nén, ức chế các hành vi của họ. Đám đông làm từng cá nhân mất đi năng lực điều khiển hành vi một cách có ý thức và có lý trí, hành động diễn ra trong trạng thái "bị kích động".

Về trí tuệ của đám đông quần chúng. Nếu đặt sang một bên vấn đề trình độ của các thành viên, thường thấy có hiện tượng sau: nếu tập hợp người càng lớn thì khả năng đưa ra những quyết định chính xác càng giảm. Các lập luận có xu hướng thái quá, tư duy chịu sự chi phối nặng nề của những tâm trạng hay xúc cảm nhất thời.

Thuyết phục đám đông quần chúng là công việc khó khăn, có thể bằng những lập luận lô gích chặt chẽ hay bằng các thủ thuật đánh vào tình cảm? Nhiều ý kiến cho rằng, để đạt được một hiệu quả nhất thời, nhanh chóng, tốt nhất nên áp dụng các biện pháp có khả năng gây ra những xáo trộn tình cảm, hơn là lập luận, lý trí.

d. Nắm bắt dư luận xã hội trong xử lý "tình huống có vấn đề" và "điểm nóng"

Giải quyết tình huống có vấn đề, điểm nóng, đặc biệt khi đã xuất hiện các đám đông là công việc khó khăn, phức tạp, cần có sự phối hợp của nhiều ngành. Nắm bắt dư luận xã hội lúc đó là rất cần thiết để giúp cấp ủy và chính quyền giải quyết tình huống đó. Nội dung cụ thể là:

- Lắng nghe một cách tích cực, chủ động nắm bắt nhanh, chính xác dư luận xã hội, thái độ, ý kiến, nguyện vọng của nhân dân

- Trong tình huống có vấn đề nghiên cứu dư luận xã hội cần giúp cho cấp uỷ và các cơ quan cấp trên nắm bắt ý nguyện của nhân dân, để có những đối sách, hoàn thiện các chủ trương, đường lối, chính sách một cách thích hợp. Một số nội dung cần thiết phải nắm bắt là:

+ Thái độ (đồng tình hay không đồng tình; ủng hộ hay không ủng hộ...), tâm trạng (phấn khởi, chán nản hay thờ ơ...) đối với những chủ trương, chính sách mới ra của Đảng, Nhà nước và cấp uỷ, chính quyền các cấp ở địa phương. Chú trọng nắm bắt những dư luận tiềm ẩn, chưa được quần chúng phát biểu ra, nhưng "âm ỉ" và tạo ra những bất ổn về tâm lý và tâm trạng xã hội. Để nắm bắt những dư luận này, cách "tiếp xúc thân tình", không chính thức là cách tiếp xúc tốt nhất để tìm hiểu thông tin.

+ Dư luận nhân dân về việc tín nhiệm, hay không tín nhiệm đối với các cán bộ, đảng viên ở địa phương, đặc biệt là khi có những vụ việc bất thường (ví dụ như những mâu thuẫn, xô xát trong nhân dân, những vụ vi phạm pháp luật có liên quan tới cán bộ, đảng viên...)

+Tâm trạng và mức độ ổn định của tâm trạng người dân đối với đời sống của chính cá nhân và gia đình họ, cũng như đối với đời sống chính trị, kinh tế, xã hội của đất nước.

- Khi xảy ra những vụ việc lớn ở cơ sở, khiếu kiện vượt cấp, gây rối trật tự công cộng có sự lôi kéo hay tổ chức của những thế lực thù địch, hoặc phản động…, phải chú ý tới tất cả những dư luận trong quần chúng nhân dân mang sắc thái tình cảm tiêu cực, như bất bình, hoang mang, lo lắng... để đề xuất cách xử lý phù hợp.

e. Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, định hướng dư luận xã hội

Để thực hiện tốt công tác dư luận xã hội không chỉ cần có nắm bắt nhanh, chính xác các ý kiến, đánh giá, phán xét, tâm trạng, thái độ của quần chúng nhân dân, mà còn phải có những tác động nhất định, xoá bỏ những dư luận xã hội tiêu cực, đặc biệt là những tin đồn thất thiệt, góp phần định hướng, tạo những dư luận xã hội theo chiều thuận, đấu tranh chống các âm mưu gây dư luận không thuận, làm thất bại âm mưu "diễn biến hoà bình" của các thế lực thù địch. Cụ thể, có một số việc cần làm tốt:

Một là, đối thoại trực tiếp với quần chúng, nhân dân ở cơ sở. Làm tốt việc định hướng dư luận xã hội thông qua việc cung cấp thông tin đầy đủ, chính xác, giúp xoá bỏ những tin đồn, thay đổi những dư luận tiêu cực trong nhân dân, nhất là đối với những chủ trương, quyết sách mới mà người dân chưa hiểu hoặc chưa nắm được đủ các thông tin nên lo lắng, hoang mang.

Việc đối thoại với người dân có thể thực hiện bằng cách chính thức, hoặc không chính thức. Tức là, đối với các cán bộ cấp huyện, những người gần gũi với cơ sở, có thể gặp gỡ quần chúng, nhân dân tại các cuộc họp một cách chính thức, toạ đàm, trao đổi, trả lời theo cách hỏi - đáp với người dân. Mặt khác, đối với những vụ việc phức tạp, mang tính chất cá biệt (ví dụ có liên quan tới việc giải toả, đền bù, hay những vụ việc kiện cáo...) cán bộ cấp huyện cần gặp gỡ trực tiếp bên ngoài các cuộc họp, với tư cách một người "hoà giải mâu thuẫn" hơn là một cán bộ cấp trên, để lắng nghe người dân và cùng họ tìm cách khắc phục những mâu thuẫn, khó khăn.

Hai là, quan tâm tác động tới các yếu tố có ảnh hưởng tới việc hình thành và thay đổi thái độ người dân.

- Quan tâm tới việc cung cấp thông tin chính xác, đầy đủ cho người dân và liều lượng của thông tin cung cấp ấy. Bởi lẽ, sự hiểu biết nhiều hay ít của công chúng, nhóm xã hội đối với vấn đề, hiện tượng, sự kiện sẽ quyết định sự đánh giá đúng hay sai của công chúng đối với vấn đề, sự kiện, hiện tượng đó. Đối với những vấn đề, sự kiện, hiện tượng xã hội đơn giản, dễ hiểu, ý kiến (dư luận) của đại đa số nhân dân thường là đúng. Đối với những vấn đề phức tạp, mới nảy sinh, ý kiến đúng thường là ý kiến của thiểu số những người có thông tin, có nhiều am hiểu chứ không phải là ý kiến của đa số thiếu thông tin, ít am hiểu. Như vậy, nội dung và sắc thái của dư luận xã hội được quyết định trực tiếp bởi trình độ hiểu biết và các đặc điểm tâm lý xã hội khác của công chúng, nhóm xã hội.

- Quan tâm tới việc rèn luyện, trau dồi các kỹ năng tuyên truyền. Một nhà nghiên cứu đã viết: "Kỹ năng trong tuyên truyền trở thành một trong những con đường hiệu quả nhất dẫn tới quyền lực trong các quốc gia phát triển"; và "việc kiểm soát các thái độ được tập hợp thông qua việc sử dụng những biểu tượng có ý nghĩa, như lời nói, hình ảnh, giọng điệu...".

Như vậy, trong bất cứ sự kiện nào, tuyên truyền là một vũ khí rất lợi hại. Nếu sự thật nhận được sự hậu thuẫn của tuyên truyền, chúng trở nên có sức thuyết phục mạnh mẽ gấp nhiều lần trong việc hình thành thái độ và hành vi của con người. Sự thật được biên tập tốt là việc tuyên truyền dễ nói nhất.

- Trong việc định hướng thái độ và dư luận xã hội, ta phải đứng trên lợi ích của quần chúng để tuyên truyền. Đặc biệt phải chú ý tới lợi ích của nhóm xã hội mà các cá nhân tham gia (hội, đoàn thể, tôn giáo, dân tộc, thôn, bản...). Phương pháp tổ chức hội họp có định hướng trong nhóm sẽ khiến cho giao tiếp trong nhóm được hình thành và có tác động củng cố các thái độ và đánh giá tích cực, thay đổi những dư luận tiêu cực.

- Sử dụng cách tiếp cận cá nhân, đối thoại trực tiếp "ngoài cuộc họp", một cách thân tình, không chính thức với quần chúng nhân dân trong việc giải quyết các "điểm nóng", các vụ việc liên quan tới nhân sự, xử lý kỷ luật cán bộ, giải quyết mâu thuẫn nội bộ...

Ba là, thường xuyên vạch rõ những thủ đoạn tuyên truyền xuyên tạc mà các thế lực thù địch thường sử dụng để tác động lên sự hình thành dư luận tiêu cực và thay đổi ý kiến, thái độ của người dân.

 

TÀI LIỆU THAM KHẢO

V.I.Lênin: Toàn tập, NXB Tiến bộ, 1975, T.6, tr.30, 32.

Hồ Chí Minh: Toàn tập, NXB Sự thật, Hà nội, 1985, tr.162.

Đảng Cộng sản Việt Nam. Văn kiện Đại hội X, XI, XII.

Đảng Cộng sản Việt Nam. Các Nghị quyết, Kết luận Hội nghị TW 4, 6, 7, 8, 9, 10, 11 khóa XI của Đảng, Văn kiện Đại hội XII của Đảng.

Ban Tuyên giáo Trung ương. Các văn bản hướng dẫn của Ban Tuyên giáo Trung ương về công tác tuyên giáo.

Tập hợp các bài giảng, tài liệu nghiệp vụ về các lĩnh vực tuyên truyền, nghiên cứu, giáo dục lý luận; khoa học và công nghệ; giáo dục và đào tạo; văn hóa, văn nghệ; điều tra dư luận xã hội.

Tài liệu khác của Ban Tuyên giáo TW từ khóa X, khóa XI, khóa XII.

http://www.tuyengiao.vn/

  1.  
  2.  
  3.  
  4.  
  5.  
  6.  
  7.  
  8.  

1 Công tác tư tưởng là hoạt động có mục đích của một giai cấp, một chính đảng, nhằm hình thành, phát triển, truyền bá hệ tư tưởng của giai cấp trong quần chúng, thúc đẩy quần chúng đi tới hành động.

 

2 V.I.Lênin: Toàn tập, NXB Tiến bộ, 1975, t6, tr.30, 32.

3 Hồ Chí Minh: Toàn tập, NXB Sự thật, Hà nội, 1985, tr.162.

 

48