DMCA.com Protection Status

Sinh hoạt âm nhạc của tộc người Lào ở Tây Bắc Việt Nam  quan tâm

Được viết bởi: Ẩn danh

Cập nhật lúc 12:54 ngày 26/12/2017

 kiều trung sơn
Viện Nghiên cứu Văn hóa

1. Vài nét về tộc người Lào ở Tây Bắc Việt Nam

Theo Ghi chép về lịch sử và dân tộc học nước Lào và người Thay của Guignard, một cha cố người Pháp (1911)[1], người Lào nói chung, ở bên Lào cũng như ở Việt Nam, là một bộ phận trong các tộc nói tiếng Thái ở Đông Nam á màGuignard gọi là “đại chủng tộc Thay”. Cũng theo học giả này, “đại chủng tộc Thay” từng có một nền văn minh sớm, “là một trong những chủng tộc văn minh nhất thế giới. Dù sao, họ đã thiết lập và tổ chức những vương quốc, trong khi phần lớn những bộ tộc phương Tây còn đang trong tình trạng dã man” (nguyên văn của Guignard). Từ khoảng 2000 năm trước công nguyên, người Thái từng chiếm cứ vùng Vân Nam, Lưỡng Quảng. Trong quá trình thiên di xuống phía Nam, họ từng thành lập Vương quốc Nam Chiếu rồi Ba Thục (theo Guignard thì trung tâm của Vương quốc Ba Thục chính là Cao Bằng ở Việt Nam hiện nay).

“Đại chủng tộc Thay” này chia thành rất nhiều ngành, tiến hành nhiều cuộc di cư liên tiếp trong nhiều thế kỷ, xuống phía Nam và chia thành hai luồng rõ rệt. Một luồng về phía Tây dãy Trường Sơn theo các lưu vực sông Mê Kông, còn luồng kia về phía Đông dãy Trường Sơn theo các lưu vực sông Hồng. Luồng di cư về phía Tây dần hình thành các quốc gia Thái Lan, Lào và chiếm cứ một phần Miến Điện ngày nay. Luồng di cư về phía Đông dần định cư ở hầu hết vùng núi miền Bắc Việt Nam hiện nay. Các nhánh này gồm các tộc Thái đen, Thái trắng… ở phía Tây Bắc Việt Nam; Tày, Nùng… ở phía Đông Bắc Việt Nam. Sau quá trình hàng ngàn năm, các ngành Thái ở phía Tây dãy Trường Sơn và các ngành Thái ở phía Đông dãy Trường Sơn đã định hình những truyền thống văn hóa riêng, khác biệt. Tuy nhiên về mặt chủng tộc và ngôn ngữ vẫn còn nhiều chi tiết gần gũi.

Căn cứ theo tư liệu trên thì người Lào ở Việt Nam hiện nay là một trong những ngành Thay thuộc luồng di cư sang phía Tây. Do mới di cư tới Việt Nam hoặc mới tách khỏi Lào về Việt Nam khoảng một vài trăm năm trở lại đây nên văn hóa của họ mang nhiều nét đặc trưng của luồng “Thay” phía Tây. Họ đang dần hòa nhập với văn hóa của luồng Thay phía Đông, đặc biệt là với người Thái Đen, tộc người mà họ đang sống ngay cạnh hoặc sống đan xen.

Nhưng theo tư liệu điền dã mới đây của Đỗ Thị Thanh Nhàn (cán bộ Viện Âm nhạc) thì chúng tôi thấy người Lào ở Việt Nam hiện nay có một nhóm không hẳn từ luồng Thay[2] phía Tây mà từ một nguồn gốc khác khá thú vị. Đó là gốc Thái ở chính Việt Nam tức từ luồng Thay phía Đông. Nhóm này từng là người Thái Đen ở Việt Nam, di cư sang đất Lào, sống ở đó nhiều đời, thành người Lào rồi vì một lý do nào đó họ lại trở về Việt Nam từ đầu những năm 60 của thế kỷ trước. Khi về Việt Nam, những người này không còn mang tộc danh Thái Đen nữa, họ đã là người Lào và thuộc tộc người Lào ở Tây Bắc Việt Nam.

Căn cứ Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009, tộc người Lào ở Việt Nam có dân số 14.928 người, cư trú tại 42 trên tổng số 63 tỉnh, thành phố. Người Lào cư trú tập trung tại các tỉnh: Lai Châu (5.760 người, chiếm 38,6 % tổng số người Lào tại Việt Nam), Điện Biên (4.564 người, chiếm 30,6 % tổng số người Lào tại Việt Nam), Sơn La (3.380 người, chiếm 22,6 % tổng số người Lào tại Việt Nam), Hà Tĩnh (433 người), Đắk Lắk (275 người)[3].

Từ những con số thống kê nêu trên, có thể thấy địa bàn cư trú đáng lưu ý nhất, quan trọng nhất của tộc người Lào, về mặt hành chính, là ở các tỉnh Lai Châu, Điện Biên, Sơn La thuộc Tây Bắc Việt Nam. Tộc người Lào cư trú ở 3 tỉnh này là 13.704 người, chiếm tới 91,8% tổng số người Lào tại Việt Nam.

Dân gian vùng Tây Bắc đã đúc kết: người Hmông ăn theo mây núi; người Khơ mú ăn theo lửa (phát nương đốt rẫy, làm rẫy); còn người Thái, người Lào ăn theo suối theo sông, tức là ăn theo nguồn nước. Người Thái và người Lào sống hoàn toàn theo các triền sông, ven suối. ở đâu có nước để trồng cấy, ở đó người Thái hay người Lào lập bản. Đặc điểm này khiến người Lào, người Thái có ưu thế hơn các tộc khác ở vùng núi về phát triển kinh tế. ở nước Lào cũng vậy, theo như lời của những người Lào bên Việt Nam nói về người Lào bên Lào, người Lào Lum hoàn toàn sống ở đồng bằng theo lưu vực các con sông, đặc biệt là sông Mê Kông, nên nền kinh tế của người ta khá phát triển.

Về mặt tự nhiên, miền Tây Bắc Việt Nam là vùng núi cao trùng điệp với những thung lũng hẹp và dài theo dãy núi. Những nhánh sông, suối chảy trong lòng thung lũng là nguồn nước quan trọng đối với các cư dân trồng lúa nước định cư. Không chỉ có nhiều thung lũng hẹp, Tây Bắc cũng có những thung lũng lớn, nổi tiếng là vựa lúa của cả vùng như Mường Lò, Mường Than, Mường Thanh. Tại những nơi thuận lợi nhất, đất tốt nhất cho canh tác lúa nước ở Tây Bắc, người Thái đã tìm đến từ rất lâu đời. Người Lào đến sau, tất nhiên chỉ còn những nơi ít đất canh tác hơn, ít thuận lợi cho cuộc sống hơn. Chúng ta hãy xem người Lào ở Tây Bắc sống cụ thể ở những vùng nào?

ở Điện Biên, người Lào sống ở Pa Thưm, Mường Nhà, Mường Lói, Lúa Ngam, Mường Luân, nhìn chung là ở vùng ven lòng chảo Điện Biên. Các địa danh nêu trên thuộc các nhánh sông suối lưu vực đầu nguồn sông Mã. Trong đó có những nhánh đổ về Thanh Hóa và cũng có những nhánh đầu nguồn sông Nậm U chảy sang Lào. Đa số nhánh chảy vào sông Mê Kông nhưng có một số nhánh chảy trở lại Việt Nam, đổ vào sông Mã.

ở Sơn La cũng vậy, người Lào cũng sinh sống khá tập trung ở hai xã Mường Và và Mường Lạn, trước kia thuộc huyện Sông Mã nay thuộc huyện Sốp Cộp, huyện mới tách từ huyện Sông Mã. Ngay cái tên của huyện mới tách cũng cho thấy đặc điểm cư trú chọn nguồn nước của người Thái và người Lào. Tiếng Thái, “sốp” là miệng suối; “cộp” là gộp lại; “sốp cộp” nghĩa là miệng các con suối gộp lại. Trung tâm huyện Sốp Cộp hiện nay là nơi gặp nhau của 3 con suối: Nậm Lạnh, Nậm Ban và Nậm Ca. Nơi này người Thái đã cư trú từ lâu, người Lào ở xa hơn về phía đầu nguồn những con suối đó.

ở Lai Châu, người Lào sống khá tập trung ở xã Nà Tăm, huyện Tam Đường (khoảng 7 bản). Đồng ruộng của họ nhờ vào nguồn nước của con suối Nặm Mu. Tiếng Thái, “mu” là lợn. Tương truyền khi người Lào đến đây, con suối có nguồn từ hang núi ra, quá ít nước không đủ để trồng cấy, sinh sống. Họ phải mổ lợn cúng, nhờ thế nước mới trào ra nhiều như bây giờ. Từ đó con suối mang tên Nặm Mu, nghĩa là suối Lợn. Người Lào ở đây cũng làm ruộng nước là chính. Ngoài ra, họ làm nương, chăn nuôi gia súc gia cầm, đánh lưới bắt cá suối cải thiện thêm. Như vậy, dù ở đâu họ cũng chọn nơi có nguồn nước để có thể trồng cấy và định cư lâu dài.

Người Lào ở Tây Bắc Việt Nam sống quần tụ trong một dạng thiết chế xã hội gọi là “bản”. Cách nay khoảng vài chục năm, một cộng đồng bản người Lào chỉ gồm trên dưới chục nóc nhà (hộ gia đình). Mỗi bản có vùng đất bao gồm ruộng, nương, rừng, có một người đứng đầu gọi là chẩu bản, đại diện cho lợi ích cộng đồng. Bản Lào xưa theo thiết chế tự quản. Thiết chế này chi phối nhiều tới hoạt động kinh tế, đời sống tâm linh và đạo đức truyền thống.

Ngày nay, các bản Lào đã lớn hơn trước nhiều và nhiều bản không còn thuần Lào nữa. Trong bản Lào đã có những hộ gia đình thuộc tộc người khác cùng sinh sống đan xen. Chẳng hạn, bản Mường Và, huyện Sốp Cộp, thời những năm 50-60 của thế kỷ trước có khoảng trên dưới 30 hộ toàn người Lào, nhưng đến thời điểm tháng 10 năm 2011 đã có đến 295 hộ, trong đó 178 hộ người Lào, 112 hộ người Thái Đen, 3 hộ người Kinh và 2 hộ người Tày[4]. Bản Lào cũng như các bản làng của các tộc người khác trên đất nước Việt Nam, nằm trong hệ thống hành chính nhà nước. Đại diện cho bản trong hệ thống hành chính là trưởng bản, hàng tháng phải báo cáo tình hình an ninh trật tự, tình hình sản xuất chăn nuôi trồng cấy, tình hình biến động dân số v.v… trước ủy ban nhân dân xã.

Người Lào ở Việt Nam về cơ bản vẫn giữ hầu hết phong tục tập quán truyền thống của họ, từ các lễ cúng bản, lễ cưới, lễ tang đến nhà ở, ăn mặc. Tuy nhiên, trong một số phong tục tập quán cũng có những chi tiết biến đổi cho phù hợp với cuộc sống hiện đại. Chẳng hạn như trang phục truyền thống đang ngày càng ít được thanh niên sử dụng do nhu cầu sinh hoạt hàng ngày và công việc của họ đã khác trước nhiều. Trong số họ nhiều người là học sinh sinh viên, là cán bộ trong các cơ quan nhà nước. Hàng ngày họ đến nơi học tập, đến công sở bằng xe máy với mũ bảo hiểm trên đầu và điện thoại di động trong túi. Thật khó để duy trì cách ăn mặc cổ truyền Lào trong điều kiện như vậy. 

Gia đình của người Lào dù lớn hay nhỏ từ xưa đến nay mang tính phụ quyền rõ rệt, mặc dầu người phụ nữ vẫn được đề cao. Tục ở rể không còn duy trì như trước mà đã rất linh hoạt. Tùy hoàn cảnh thực tế của đôi vợ chồng trẻ mà có thực hiện việc ở rể hay không. Gia đình của người Lào khá bền vững, một vợ một chồng, nhiều con, ít có trường hợp đa thê, ngoại tình hay ly dị. Quan hệ trong mỗi nhà thường hòa hiếu, con cái được chăm sóc như nhau không phân biệt trai gái.

Trước kia người Lào ở Việt Nam theo đạo Phật, họ chăm chỉ lễ chùa và cũng theo lệ con trai đến tuổi thanh niên phải vào chùa học 3 năm trước khi trở về đời thường thành người đàn ông thực thụ giống như ở bên Lào hay bên Thái Lan. Hiện nay, các bản Lào ở Việ Nam không còn chùa, không có sư nên không còn lễ chùa nữa. Tuy nhiên nhiều nơi vẫn nhớ tới ngày lễ Phật hàng năm vào tháng 4 âm lịch (Bun Pi May).

Người Lào cũng thờ tổ tiên nhưng khác với nhiều tộc người, họ chỉ để một bát hương của bố mẹ (đời gần nhất) ở trong nhà. Khi bố mẹ mất, bát hương thờ đời trước lập tức bị bỏ đi, đó là ông bà đã được tiễn lên trời. Trong một nóc nhà chỉ thờ một “phi hươn”, tức ma nhà, là bố mẹ của chủ nhà mà thôi, không được thờ ông cụ ông kị nữa. Sau khi không được nuôi, được thờ trong nhà nữa, phải về trời, các ông cụ ông kị chỉ được mời về ăn Tết mỗi năm một lần.

Người Lào ở Tây Bắc có vốn văn nghệ dân gian phong phú: các trò chơi vui mang tính cộng đồng không thể thiếu trong các ngày lễ; văn học với nhiều huyền thoại, cổ tích, tục ngữ…; nghệ thuật với nhiều làn điệu dân ca, các điệu múa vui gắn kết cộng đồng mà đã là người Lào, ai cũng biết. Phụ nữ Lào không chỉ khéo tay dệt vải mà còn hát hay và rất giỏi các điệu dân vũ. Các chàng trai Lào vốn rất giỏi thổi khèn, thổi pí vì đó là cách để họ có thể tìm được bạn trăm năm.

Trong vốn văn nghệ dân gian phong phú đó, âm nhạc dân gian có vị trí đặc biệt bởi người Lào là tộc người rất ưa thích ca hát nhảy múa. Họ có thể hát trong rất nhiều trường hợp như ru con, hát trong lúc làm nương làm ruộng, hát tâm tình với người yêu, hát mừng lúa mới, hát giãi bày nỗi cô đơn đau khổ vì tình yêu tan vỡ v.v… Họ có thể ca hát nhảy múa bất cứ đâu nếu hoàn cảnh cho phép, chẳng hạn như trong hoặc sau bữa rượu đông bạn bè, trong buổi tiếp khách, trong ngày Tết hay trong đám cưới…

2.Sinh hoạt âm nhạc dân gian của người Lào Tây Bắc

Sinh hoạt âm nhạc dân gian của người Lào ở Tây Bắc Việt Nam biểu hiện rõ nét nhất qua hai khía cạnh: hình thức sinh hoạt và phương thức trình diễn. Chúng tôi sẽ lần lượt trình bày các khía cạnh này.

2.1. Các hình thức sinh hoạt âm nhạc

Hình thức sinh hoạt âm nhạc dân gian Lào là những biểu hiện ra bên ngoài của hoạt động âm nhạc, nói cách khác, đó là một phần quan trọng của văn hóa âm nhạc trong đời sống của người Lào. Những biểu hiện đó bộc lộ dưới ba hình thức chủ yếu: hình thức sinh hoạt đơn lẻ, hình thức sinh hoạt có đối tác và hình thức sinh hoạt cộng đồng.

a) Hình thức sinh hoạt đơn lẻ

Đây là hình thức sinh hoạt khá đặc trưng, phần lớn gắn với loại hình nghệ thuật âm nhạc. Rất hiếm, nếu như không muốn khẳng định là không có đơn lẻ đối với loại hình nghệ thuật múa dân gian. Đối với người Lào, chẳng ai múa một mình cả. Múa phải có nơi có chốn nhất định, phải có lý do vui vẻ đông người, còn hát thì khác. Hát có thể diễn ra ở bất cứ đâu, dù trong phạm vi không gian hẹp hay rộng; có thể hát một mình, một nhóm hay cả cộng đồng người. ở đây chúng tôi đề cập đến hình thức sinh hoạt âm nhạc đơn lẻ, chẳng hạn như hát một mình, chơi nhạc cụ một mình để tự phục vụ cho nhu cầu của chính mình. Đây có thể coi là một trong nhiều hình thức sinh hoạt nghệ thuật khá phổ biến của người Lào.

- Hát trong lúc lao động đơn lẻ

Người Lào là những nông dân vùng thung lũng núi, cũng giống như người Mường hay người Thái. Hoạt động sống chủ yếu của họ là trồng cấy, chăn thả gia súc. Phụ nữ có thêm nghề dệt. Ngoài những khi thời vụ cần lao động với số đông, nhiều lúc họ làm việc đơn lẻ như làm cỏ nương, chăn thả trâu bò, dệt vải, khâu vá. Công việc đơn điệu, kéo dài, không phải quá tập trung suy nghĩ, lại chỉ có một mình khiến người làm dễ cảm thấy nhàm chán, mệt mỏi. Họ phải tự tìm cách khắc phục trạng thái đó bằng cách hát lên một làn điệu, một bài hát bất kỳ mà họ nhớ được hoặc họ yêu thích. Nếu có thêm một vài người cùng làm, họ sẽ nói chuyện với nhau là chính, sẽ chẳng còn lí do để hát một mình. Mặt khác, có nhiều người cùng làm, nếu muốn hát phải có cớ, nghĩa là phải có đối tác; và nhiều người làm chưa chắc đã có người hát.

Tiếng hát đơn lẻ này khác hẳn với hát đơn ca theo nghĩa thông thường. Nếu như hát đơn ca là biểu diễn giọng hát của mình trước những người khác thì hát đơn lẻ là hát một mình, cho chính mình nghe, phục vụ cho chính nhu cầu của mình. Cũng vì thế, hát đơn lẻ không có nhiều tính “diễn” như hát đơn ca, muốn hát về cái gì cũng được, muốn hát thế nào cũng được. Tin chắc không có ai nghe mình hát hoặc nếu có ai đó nghe thì người đó cũng hiểu là người hát không biết có người nghe nên hát đơn lẻ có thể thoải mái bộc bạch hết nỗi lòng mình. Do đó tiếng hát đơn lẻ là tiếng hát giàu cảm xúc nhất, chân thật nhất.

Theo lời kể của bà Lường Seo May ở bản Na San, xã Núa Ngam, huyện Điện Biên thì đi lên nương người ta cũng hát, không phải như hát đối, người ta hát một mình, hát bộc bạch nỗi niềm, ấm ức của riêng mình. Hoặc ai có người yêu ở xa, hát để nỗi nhớ nhung trong lòng thoát ra cho nhẹ lòng. Hát trên nương thì không có đệm, còn hát bên mâm cơm thì có đệm khèn vào. Hồi bà còn trẻ, là cây văn nghệ, cứ ra khỏi nhà, khuất bản vào rừng lấy củi, lên nương là hát ngay. Hồi ấy không có đài không có tivi, chỉ có hát.

Hình thức hát này phần nhiều do phụ nữ thể hiện. Điều này có lẽ xuất phát từ đặc trưng giới tính và chức năng của người phụ nữ trong xã hội cổ truyền tộc người Lào. Tiếng hát đơn lẻ sẽ khiến cho công việc của chị em bớt nặng nhọc hơn, đỡ đơn điệu hơn và thời gian trôi nhanh hơn, hiệu quả công việc tốt hơn. 

-   Thổi khèn bè, thổi pí đơn lẻ

Tương tự việc phân biệt hát đơn lẻ với đơn ca, cũng nên phân biệt chơi nhạc khí đơn lẻ với độc tấu nhạc cụ ở chi tiết diễn tấu chỉ cho riêng mình, nghĩa là không có khán thính giả.

Nếu như hình thức hát đơn lẻ thường dành cho nữ giới thì hình thức thổi khèn, thổi pí đơn lẻ thường chỉ dành cho nam giới. Trong xã hội truyền thống Lào, nam giới lo toan việc lớn, họ ít khi có tâm trạng, có lý do để tự bộc bạch qua cây khèn hay chiếc pí dưới hình thức đơn lẻ. Tuy nhiên, hình thức đơn lẻ thổi khèn hay pí vẫn xảy ra khi có người tự tập những bài bản chuẩn bị trước cho cuộc chơi nào đó, như chuẩn bị cho một tối “chọc sàn” chẳng hạn (giống như người Thái, người Lào cũng có phong tục thanh niên dùng nhạc khí “chọc sàn” tìm bạn gái). Nhiều khi mục đích, kết quả của cuộc chơi có đúng theo ý chàng trai hay không phụ thuộc vào tiếng khèn, tiếng pí có hay, có cuốn hút hay không. Điều này cho thấy tầm quan trọng của sự tự tập luyện cẩn thận kỹ càng trước khi chính thức trình diễn có mục đích. Đó có lẽ là lý do chính của hình thức diễn tấu nhạc cụ đơn lẻ. Cũng có thể khi đi chăn thả gia súc, trong lúc rảnh rang, một cậu thiếu niên tự tạo cho mình một chiếc pí bằng ống nứa và thổi chơi một mình cho vui.

Tại bản Mường Và, ông Lường Văn Phanh sinh năm 1954, Trưởng ban văn hóa xã Mường Và cho chúng tôi biết, thời trẻ ông biết thổi pí pặp khá hay và lấy được vợ ông bây giờ một phần nhờ biết thổi pí pặp. Thanh niên ở bản Mường Và ngày nay không ai biết thổi pí pặp nữa. Họ thường nói đùa rằng thời buổi này không còn chuyện con trai đi “chọc sàn”, mà không chừng đến một lúc nào đó có khi con gái đi chọc sàn cũng nên!

b) Hình thức sinh hoạt có đối tác

Nếu hình thức sinh hoạt âm nhạc đơn lẻ là sự trình diễn một mình, cho riêng mình thì hình thức sinh hoạt âm nhạc có đối tác là sự trình diễn nghệ thuật của một hay một số người trước một hay nhiều người khác với mục đích rõ ràng.

-   Hát ru bé ngủ

Hình thức hát này khác với các loại sinh hoạt đơn lẻ ở chỗ nó có điều kiện. Đó là đối tượng phục vụ mà nó nhằm tới: em bé. Em bé, đối tượng cảm hứng của hát ru, phải ở trong phạm vi độ tuổi nhất định. Đó là độ tuổi còn nằm nôi đến hết tuổi nhi đồng. Từ khoảng 6-7 tuổi trở lên, hiếm khi cần có lời ru của người lớn. Là đối tượng của hát ru bởi độ tuổi từ nằm nôi đến hết tuổi nhi đồng luôn cần có người lớn bên cạnh chăm chút, trông nom. Trong suốt quãng thời gian đó, hát ru thể hiện nhiều nhất ở thời nằm nôi, bú mớm, dỗ ngủ của bé rồi giảm dần theo từng năm cho đến khi bé tự bón cơm, tự đi ngủ, tự tìm bạn chơi cho mình.

Người ru có thể là mẹ của em bé, có thể là ông, bà, cũng có thể là chị của em bé. Nhưng có một điểm chung là những người đó chỉ hát ru khi ở bên cạnh bé và để dỗ bé ngủ. Người luôn ở bên cạnh bé nhiều nhất đương nhiên là mẹ của bé. Một năm đầu đời gần như người mẹ không rời con, kể cả khi đi nương, làm ruộng người mẹ cũng địu con theo mình. Do vậy, lời ru của mẹ luôn là cái gì đó thiêng liêng, theo suốt cuộc đời của một con người. Cho dù khi lớn lên lập gia đình riêng, sau nhiều năm không nghe mẹ ru, người con gái trở thành mẹ, bồng nựng con trên tay bỗng dưng bật ra lời ru mà cô từng được nghe thời thơ ấu. Đó là vì lời ru đã ngấm vào tiềm thức của cô tự lúc nào không hay. Khi cô trở thành mẹ, bài ru tự trong lòng bật ra một cách tự nhiên, cứ như là cô đã từng được học hát ru vậy.

Hát ru không khi nào được thể hiện dưới hình thức hai người hát. Với đặc điểm làn điệu dàn trải ngâm ngợi, không theo một tiết tấu rõ ràng, thật khó để có thể song ca. Mặt khác vì mục đích ru trẻ ngủ, chỉ cần một giọng nhẹ nhàng êm ái, không cần thiết tăng thêm âm lượng bằng cách cộng thêm một giọng nữa. Do đó, hát ru được biểu hiện gần như dưới hình thức đơn lẻ (hầu như không thể có hát ru đôi hay nhiều người), chỉ khác ở chỗ nó có đối tượng phục vụ. Có thể coi đây là một trong những hình thức sinh hoạt âm nhạc có đối tác.

-   “Chọc sàn”

Chọc sàn cũng là một dạng của hình thức sinh hoạt âm nhạc có đối tác. Người chọc sàn là các chàng trai, đối tác của họ là các cô gái tuổi yêu đương, chưa chồng. Người Lào và người Thái đều có phong tục “chọc sàn” tìm bạn gái của thanh niên. Họ muốn thực hiện được thì phải biết chơi nhạc cụ như khèn bè, pí. Những nhạc cụ đó là công cụ không thể thiếu cho cuộc “chọc sàn” của các chàng trai. Vì thế, xưa kia hầu hết thanh niên Lào đều biết chơi nhạc cụ khèn hoặc pí. Họ không muốn kém anh kém em, và nhất là không muốn không có bạn gái.

Trong những cuộc “chọc sàn” nhiều khi kéo dài từ tối đến sáng hôm sau, theo như lời kể của ông Lò Văn Kẹo (sinh năm 1967) ở bản Na San 1, xã Núa Ngam, huyện Điện Biên thì thổi khèn chọc sàn có hệ thống bài bản hẳn hoi. Bài một có tên là “páu chẳng”, nghĩa là đi tìm người yêu (vì chưa có nên phải tìm); bài hai là bài đánh thức em yêu dậy để cùng ra ngoài đi chơi; bài ba là bài tâm tình với em yêu hoặc ru em yêu ngủ[5].

Hình thức sinh hoạt này diễn ra càng về đêm càng tỏ ra cuốn hút, không chỉ đối với những người trong cuộc: chàng trai thổi khèn và cô gái - đối tác của anh ta, mà còn cuốn hút cả những người ở trong tầm nghe được tiếng khèn của anh ta. Cho dù biết rằng tiếng khèn kia không phải dành cho mình nhưng nhiều cô nhiều bà khi nghe tiếng khèn cũng thao thức không ngủ được. Tiếng khèn gợi cho họ nhớ về thời xưa của họ, thời họ cũng được sống trong cảm giác dịu ngọt của những đêm đầy ắp tiếng khèn tỏ tình của chàng. Tiếng khèn khiến họ không thể ngủ, đành dậy ra chỗ dệt vải, dệt cho tới sáng.

-   Hát tiễn dặn con gái đi làm dâu

Trong hình thức hát này, người hát luôn là người mẹ, người nghe luôn là cô dâu, đối tượng chính của lời ca chuẩn bị lên đường về nhà chồng. ở nhiều tộc người khác, khi con gái chuẩn bị đi làm dâu, bà mẹ thương con cũng căn dặn con những điều nên làm và không nên làm. Nhưng đó là dời dặn bình thường, chỉ hai mẹ con với nhau. ở người Lào thì khác, lời dặn dò con gái đi làm dâu được truyền tải qua làn điệu thành lời hát khiến những lời đó của bà mẹ trở nên sâu sắc hơn nhiều. Lời hát dặn con gái bao chứa cả niềm vui lẫn nỗi buồn của mẹ. Mẹ vui vì con đã lớn khôn nên người, đã tự mình tạo lập cuộc sống và vì mẹ đã hoàn thành tốt “nhiệm vụ” nuôi dạy con từ lúc chào đời đến lúc trưởng thành. Mẹ buồn vì từ nay con gái mẹ về nhà người khác, không còn luôn gần gũi bên mẹ nữa; từ nay cuộc đời con, tình cảm của con dành phần nhiều cho gia đình mới, không còn dành cho bố mẹ nữa. Những lời hát dặn của mẹ trong thời điểm này mang ý nghĩa là những lời cuối cùng với con gái trước khi trở thành con dâu người ta. Không phải về sau hai mẹ con không gặp nhau, nhưng ý nghĩa vai trò và vị trí của lời mẹ đối với con đã không thể như trước.

Khi người mẹ hát dặn con gái đi làm dâu, không chỉ người con gái nghe mà những người đi đón dâu cũng nghe. Có thể lời hát của bà mẹ cũng tác động tới nhà trai - qua những người đón dâu, sẽ tôn trọng con gái bà và có trách nhiệm với con gái bà hơn.

c) Hình thức sinh hoạt cộng đồng

Các hình thức sinh hoạt âm nhạc có tính cộng đồng thể hiện ở những trường hợp: hát đối đáp, hát đồng dao và hát múa Lăm vông.

-   Hát đối đáp

Nếu như ở hình thức sinh hoạt âm nhạc có đối tác, chỉ một phía trình diễn hoặc đàn, hoặc hát thì ở hình thức sinh hoạt này có sự giao lưu giữa hai bên. Hình thức này gần giống với hình thức sinh hoạt âm nhạc có đối tác, nhưng chúng tôi thiết nghĩ cần có sự phân biệt. Bởi lẽ trên thực tế, hai hình thức sinh hoạt nêu trên thực sự khác nhau. Hát có đối tác là một hình thức sinh hoạt nghệ thuật âm nhạc diễn ra ở một phía. Còn hát đối đáp là hình thức sinh hoạt âm nhạc có yếu tố tập thể, bởi có sự trình diễn nghệ thuật ở cả hai phía, mỗi phía có thể có khá đông người, cho dù trong hoàn cảnh nào đó có thể chỉ diễn ra giữa hai người.

Một lý do nữa khiến chúng tôi xếp hát đối đáp vào hình thức sinh hoạt âm nhạc cộng đồng là vì hình thức này diễn ra dưới hai dạng: đối đáp giao duyên và đối đáp giao tiếp. Hai dạng hát này khác nhau ở đối tượng và mục đích diễn xướng. Đối tượng của đối đáp giao duyên là thanh niên nam nữ chưa vợ chưa chồng và mục đích của hình thức đối đáp này là tìm bạn tình, bạn đời, là nên duyên vợ chồng. Đối tượng tham gia hát đối đáp giao tiếp rộng hơn hát đối đáp giao duyên nhiều, mọi thành phần, giới tính và lứa tuổi đều có thể tham gia, miễn là biết hát đối đáp. Mục đích của hát đối đáp giao tiếp cũng đa dạng hơn đối đáp giao duyên. Hát đối đáp giao tiếp để chào hỏi làm quen; để chúc Tết; để thử tài nhau; để bàn luận một vấn đề nào đó của cuộc sống v.v… Hát đối đáp giao duyên có thể diễn ra độc lập nhưng cũng có thể là chặng sau của hát đối đáp giao tiếp.

Trường hợp hát đối đáp giao duyên độc lập, mục đích của cuộc hát đã được xác định. Vào một dịp nào đó, đám con trai bản này sang chơi bản khác để thực hiện lời hẹn từ trước. Họ thăm dò nhau, tìm hiểu nhau bằng cách hát đối giữa hai tốp nam nữ trước khi mỗi người trong số họ tìm được người hợp ý mình để rồi dần chia tách thành từng cặp. 

Trường hợp hát đối đáp giao duyên là hệ quả của đối đáp giao tiếp thường diễn ra trong những dịp giao lưu hát trong tiệc rượu (trong đám cưới chẳng hạn). Ban đầu, trai gái trong cuộc vui hát đối đáp chòng ghẹo, nói kháy nhau, thử tài nhau. Sau đó tình cảm giữa hai bên có thể nảy nở, họ chuyển dần nội dung cuộc hát đối đáp thành giao duyên lúc nào không biết. Chặng sau của dạng đối đáp giao tiếp đã biến thành giao duyên, đồng thời là khởi đầu, là duyên cớ cho cuộc hát đối đáp giao duyên rất có thể sẽ diễn ra trong tương lai gần.

-   Đồng dao

Đồng dao có thể coi là một loại hình thức sinh hoạt văn nghệ tập thể dành riêng cho trẻ em, trong đó yếu tố âm nhạc chiếm vai trò nổi bật. Như tất cả trẻ em ở các tộc người, trẻ em Lào cũng có những bài hát đồng dao trình diễn theo các trò chơi. Chẳng hạn, trẻ em Lào rất thích chơi trò “rắn ếch” hay trò “lấy quả”. Đó là các trò cần có sự tham gia của nhiều em và có sự phân vai. ở trò “rắn ếch” có các vai con rắn, con ếch và những vật cản con rắn không cho nó bắt được con ếch. Còn ở trò “lấy quả” cũng gần tương tự, đó là vai con quái vật, vai người giữ quả và vai quả chín. Chơi thì phân vai như vậy nhưng hát thì cùng hát. Tất cả các vai hát cùng một lời và giai điệu như nhau từ đầu đến hết trò rồi lại lặp lại nếu vẫn muốn chơi tiếp.

-   Lăm vông

Đây là hình thức sinh hoạt âm nhạc và múa tập thể mang tính cộng đồng đặc trưng của người Lào, trong đó hát phải được kết hợp với múa và múa không thể thiếu hát. Hình thức này thường diễn ra trong những cuộc vui cộng đồng như ngày hội lễ chùa, đón năm mới hay lễ “sên” bản. Đã là người Lào dường như ai cũng biết lăm vông. Cứ hễ nghe tiếng trống tiếng chiêng rộn rã là họ háo hức tìm đến để có thể cùng ca hát nhảy múa. Hình thức sinh hoạt hát múa này mang tính cộng đồng đặc trưng bởi:

Thứ nhất, nó chỉ có thể diễn ra khi có đông người. Sẽ chẳng thể nào có hứng múa hát được nếu số người tham gia ít ỏi. Mặt khác dù đông đến đâu cũng không cản trở cuộc múa hát, trái lại, càng vui, càng thích.

Thứ hai, tất cả những người tham gia cùng múa, cùng hát. Hát để múa và múa để hát, hai yếu tố múa và hát cân bằng nhau. Không chỉ cân bằng ở hai yếu tố múa, hát, hình thức sinh hoạt văn nghệ này còn cân bằng ở cả giới tính của các đối tượng tham gia. Nữ múa hát không thể thiếu bạn diễn là nam và ngược lại. Trong cả số đông cộng đồng cùng múa hát đó, mỗi nam có một nữ để cặp đôi múa.

Thứ ba, tính cộng đồng đặc trưng còn thể hiện ở chỗ, dù đông đảo, hình thức múa hát này vẫn có đội hình và tuyến đi trong trình diễn khá rõ ràng và qui củ, khác hẳn với các kiểu nhảy đôi tự do trong các vũ trường.

2.2. Các phương thức trình diễn âm nhạc

ở tộc người Lào, những hình thức sinh hoạt âm nhạc dân gian được trình diễn dưới ba phương thức chủ yếu: trình diễn không có nhạc cụ đệm, trình diễn có nhạc cụ đệm và trình diễn tổng hợp các yếu tố ca-múa-nhạc.

Phương thức trình diễn không có nhạc cụ đệm

Nói về phương thức trình diễn nghệ thuật không có nhạc cụ đệm, có lẽ chỉ có một loại, đó là hát. Hát là một dạng của nghệ thuật diễn xướng, có thể có nhạc cụ đệm theo cũng có thể không. Trong sinh hoạt âm nhạc dân gian, hát không nhạc cụ đệm diễn ra phổ biến. Với những người dân thường, dù ở bất cứ tộc người nào, hát và được nghe hát là một nhu cầu bình thường, hàng ngày. Và cũng dưới góc độ này, hát không chỉ là một chuyên ngành trong lĩnh vực nghệ thuật biểu diễn mà còn là một sinh hoạt văn hóa thông thường. Hát có thể diễn ra ở nhiều trạng thái, nhiều hoàn cảnh, nhiều hình thức biểu hiện khác nhau dưới những phương thức khác nhau. Trên thực tế phương thức này hiển hiện khá phổ biến: hát ở nhà, hát ở trên nương, ngoài ruộng; hát khi đi chăn thả trâu, hát giao duyên… không cần có bất cứ loại nhạc cụ nào đệm theo.

Ưu thế của hát với phương thức không nhạc đệm là ở chỗ hoàn toàn tự do, không bị lệ thuộc vào bất cứ yếu tố nào khác, không bị chi phối bởi một yêu cầu cụ thể nào. Bởi vậy, người diễn xướng có thể bộc lộ tâm tình cũng như chất giọng của mình một cách hoàn toàn thoải mái, có thể tự ý sáng tạo, thêm thắt những chi tiết mới vào một làn điệu, giai điệu bất kì mà người đó đã biết. Đây phải chăng là một trong những nguyên nhân của hiện tượng nhiều dị bản trong âm nhạc dân gian nói chung, dân ca nói riêng.

Đối với người biết hát, ban đầu người đó phải thích nghệ thuật hát, thích nghe hát đã. Sau đó, người đó sẽ tự mình bắt chước, hát lại giai điệu yêu thích, cố gắng cho thật giống. Khi đã bằng lòng với kết quả tập luyện, người hát sẽ hát thoải mái và bắt đầu đưa những sáng tạo mới của mình vào làn điệu cho hay hơn theo nhu cầu tự nhiên về thẩm mỹ nghệ thuật của chính người đó, hoặc nhu cầu muốn làm cho giọng hát của mình quyến rũ hơn, thuyết phục hơn trước một đối tượng khác. Đó là một quá trình, và quá trình này dễ thực hiện hơn khi không có sự tham gia của phần nhạc đệm. Có lẽ chính vì vậy mà cho đến nay, khi mà đàn organ điện tử đã phổ biến, phương thức hát không nhạc đệm trong dân gian nói chung và ở người Lào nói riêng vẫn còn phổ biến và giữ một vai trò quan trọng trong việc lưu giữ những đặc trưng văn hóa tộc người.

Phương thức diễn xướng có nhạc cụ đệm

Diễn xướng theo phương thức có nhạc cụ đệm của người Lào thường ở trong trường hợp có mục đích đã định, có sự chuẩn bị trước. Chẳng hạn như hát xin dâu, hát chúc Tết hoặc hát với mục đích biểu diễn trước đông người…

Nhạc cụ đệm cho hát được sử dụng phổ biến là khèn bè. Đây là nhạc khí rất thuận lợi để thực hiện chức năng đệm bởi tính năng đa âm của nó. Vừa đi theo giai điệu bài hát, khèn bè vừa có thể dễ dàng giữ một hoặc vài âm trì tục[6] làm điểm tựa hòa âm cho người hát. Có trường hợp trong quá trình hát người hát thay đổi tầm cữ giọng vì lúc đầu vào bài thấp quá hoặc cao quá, người thổi khèn bè có thể điều chỉnh, thay đổi các âm trì tục cho phù hợp với tầm cữ giọng mới đó một cách dễ dàng. Ngoài ra, người thổi khèn bè có thể đưa đón câu hát, cũng như điều chỉnh nhịp độ tùy ý người hát. Nhờ đó, người hát luôn có cảm giác thoải mái trong suốt quá trình hát nhờ sự “chiều chuộng” khá đặc biệt mà khèn bè dành cho.

Ưu thế của phương thức diễn xướng có phần đệm so với không có phần đệm là hấp dẫn người nghe, người xem hơn; người hát có cảm hứng hơn, tiếng hát có được sự tham gia của phần đệm sẽ hay hơn.Như vậy, tính nghệ thuật của phương thức diễn xướng này cao hơn và sẽ luôn có xu hướng nâng cao, hoàn thiện hơn so với diễn xướng không nhạc đệm.

Cũng chính vì tính nghệ thuật ngày càng cao của phương thức diễn xướng có phần đệm mà không phải ai cũng có thể thực hiện diễn xướng theo phương thức này được. Dần dần sẽ có sự phân hóa đối với những người diễn xướng. Một số thích ứng và gắn bó với nhạc đệm đến nỗi nếu không có nhạc cụ đệm họ không muốn diễn xướng hoặc không thể diễn xướng. Ngược lại, số khác quen diễn xướng tự do, không quen có phần nhạc đệm, có nhạc đệm vào là họ không diễn xướng được. Do đó, những người này không thích, không tham gia vào sinh hoạt nghệ thuật theo phương thức diễn xướng có nhạc đệm.

Như vậy, trong sinh hoạt âm nhạc dân gian của tộc người Lào, luôn tồn tại song song hai phương thức trình diễn: diễn xướng không có nhạc đệm và diễn xướng có nhạc đệm. 

Phương thức trình diễn tổng hợp (ca - múa - nhạc)

Đây là phương thức trình diễn của người Lào được nhiều người biết đến và được yêu thích nhất. Phương thức này thường gắn với hình thức sinh hoạt văn nghệ cộng đồng. Hình thức này, như đã được đề cập ở phần trên, luôn được sử dụng khi diễn ra những dịp vui, những hội lễ lớn trong năm của người Lào.

Đối với hình thức sinh hoạt văn nghệ cộng đồng, nếu chỉ sử dụng phương thức hát có nhạc đệm hoặc không nhạc đệm thì chưa thể thỏa mãn được không khí lễ hội đang bao trùm không gian sống tại thời điểm nó đang diễn ra. Để đáp ứng nhu cầu lễ hội, người Lào sáng tạo nên phương thức trình diễn tổng hợp ca-múa-nhạc. ở đây, cần phải phân biệt phương thức trình diễn tổng hợp ca-múa-nhạc dân gian với chương trình biểu diễn tổng hợp ca-múa-nhạc của các đoàn nghệ thuật. Chương trình này là sự tổng hợp, tiếp nối nhiều tiết mục khác nhau bao gồm tiết mục hát (đơn ca, song ca hay tốp ca đồng ca hoặc hát có múa nhảy phụ họa), tiết mục múa (múa đơn, múa đôi, múa tập thể…), tiết mục nhạc (độc tấu, song tấu, hòa tấu… nhạc cụ) theo một chủ đề kết nối nào đó hoặc để thực hiện một mục đích nào đó của một cá nhân hay một tổ chức.

Phương thức trình diễn tổng hợp ca-múa-nhạc trong dân gian là một loại cách thức trình diễn văn nghệ, trong đó, các yếu tố hát, múa, nhạc được thực hiện cùng lúc, yếu tố này để phục vụ, bổ trợ cho yếu tố kia, không thể thiếu một trong các yếu tố đó khi trình diễn. Phương thức trình diễn này thực hiện để thỏa mãn nhu cầu văn nghệ của chính những người tham gia trình diễn, không vì một mục đích riêng của cá nhân hay tổ chức nào.

Khi tham gia trình diễn theo phương thức tổng hợp ca-múa-nhạc, người tham gia, ai cũng như ai, vừa hát vừa múa theo nhịp đệm của nhóm nhạc cụ gồm trống, chũm chọe hay chùm nhạc xóc. Ngay cả những người chơi nhạc cụ đệm cho múa hát đó cũng vừa nhảy theo vừa đệm cho tất cả. ở người Lào, có một điển hình cho phương thức trình diễn tổng hợp này, đó là Lăm vông. Trong những cuộc vui, người ta có thể lăm vông kéo dài. Sau vài vòng lăm vông, lúc thấm mệt họ giải lao ăn, uống rượu, rồi lại tiếp tục lăm vông. Cứ như vậy, có khi kéo dài suốt đêm.

Ngày nay, lăm vông không chỉ phổ biến trong cộng đồng người Lào mà còn lan tỏa tới các tộc lân cận và nhất là được ngành văn hóa và các tổ chức đoàn thể học tập, sử dụng cho các sinh hoạt giao lưu văn hóa mang tính tập thể.

Kết luận

Bài viết này để giới thiệu về một khía cạnh văn hóa âm nhạc của tộc người Lào ở Tây Bắc Việt Nam mà chúng tôi khảo sát được trong thời gian vừa qua. Văn hóa âm nhạc không đồng nghĩa với nghệ thuật âm nhạc, do đó nghiên cứu nó không thể chỉ sử dụng phương pháp nghiên cứu của âm nhạc học. Chúng tôi đã dựa trên sự kết hợp giữa phương pháp nghiên cứu hệ thống của văn hóa học với những hiểu biết về âm nhạc và với những hiểu biết qua điền dã thực tế để hoàn thành bài viết này. Mong muốn của chúng tôi là làm rõ những biểu hiện quan trọng nhất ở hình thức cũng như phương thức sinh hoạt âm nhạc dân gian Lào. Làm rõ điều đó cũng chính là giới thiệu được phần cơ bản của của văn hóa âm nhạc dân gian Lào vùng Tây Bắc Việt Nam. Hiểu rõ được các yếu tố văn hóa âm nhạc đó mới tìm thấy cơ sở cho những nhận định sâu hơn về các giá trị văn hóa cũng như giá trị nghệ thuật của âm nhạc dân gian trong đời sống tinh thần của cộng đồng tộc người Lào vùng Tây Bắc Việt Nam. Mặt khác, làm rõ các yếu tố văn hóa âm nhạc đó cũng sẽ là cơ sở cần thiết cho việc so sánh đối chiếu, tìm ra những tương đồng hay khác biệt giữa âm nhạc dân gian Lào với âm nhạc dân gian Thái; giữa âm nhạc dân gian Thái - Lào ở Tây Bắc Việt Nam với âm nhạc dân gian Thái – Lào ở Đông Bắc Lào.

12/2012

Tài liệu tham khảo
 

1. Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch - Vụ Văn hóa dân tộc (2010), Văn hóa vùng dân tộc thiểu số Việt Nam, Nxb Văn hóa - Thông tin, Hà Nội.

2. Hứa Bướng (1999), ấn tượng Phiêng Hào, Văn hóa các dân tộc (UBDT), số 6, tr. 6.

3. Guignard (1911), Ghi chép về lịch sử và dân tộc học nước Lào và người Thay, Bản dịch in roneo Thư viện Viện Dân tộc học (không đề tên người dịch).

4. Lê Cự Nẫm (1990), Đôi nét về cư dân và sự phân bố các dân tộc hiện nay ở Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào, Tạp chí Dân tộc học, số 1, tr. 54-61.

5. Hoài Nguyên (1997), Lào: đất nước- con người (Laos, land and men), Nxb Thuận Hóa, Thuận Hóa.

6. Tô Ngọc Thanh (1998), Âm nhạc dân gian Thái Tây Bắc, Nxb Âm nhạc, Hà Nội.

7. Nguyễn Duy Thiện (1996), Cấu trúc tộc người ở Lào, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội.

8. Phạm Thị Phương Thúy (2000), Những tục lệ ở đất nước hoa Chăm Pa, Văn nghệ dân tộc và miền núi, số 12, tr. 26-27.

9. Đào Văn Tiến (1986), Về hội lễ ở Lào, Văn hóa dân gian, số 2, tr. 69-72.

[1]. Bản dịch in roneo lưu tại Thư viện Viện Dân tộc học (không đề tên người dịch).

[2]. Từ đây chúng tôi dùng Thay theo Guignard để chỉ chung các tộc người thuộc nhóm ngôn ngữ Tày - Thái.

[3]. Ban chỉ đạo Tổng điều tra dân số và nhà ở Trung ương. Tổng điều tra dân số và nhà ở Việt Nam năm 2009: kết quả toàn bộ, Hà Nội, 6-2010. Biểu 5, tr. 134-225. Truy cập ngày 10 tháng 2 năm 2011. Theo Wikipedia.

[4]. Số liệu do ông Vì Văn Bạt, trưởng bản Mường Và cung cấp ngày 25 tháng 10 năm 2011.

[5]. Theo tư liệu điền dã của Đỗ Thị Thanh Nhàn.

[6]. Âm trì tục luôn có trong hầu hết các bài khèn bè, dù diễn tấu một mình hay đệm cho hát. Về vấn đề “âm trì tục” trong diễn tấu khèn bè cũng như vai trò của khèn bè trong sự phối hợp với người hát, chúng tôi sẽ trình bày kỹ trong một bài viết khác riêng về nhạc khí này. ở đây, để rõ hơn về âm trì tục, người đọc có thể tham khảo các bản ký âm bài khèn bè của GS-TSKH Tô Ngọc Thanh trong cuốn Âm nhạc dân gian Thái Tây Bắc, tr. 108-110.