DMCA.com Protection Status

Đo lường và so sánh cơ sở dữ liệu về chiếc khèn của tộc người Hmông  quan tâm

Được đăng bởi: Ẩn danh

Cập nhật lúc 12:55 ngày 26/12/2017

(Lấy khèn của người Hmông ở Wen Shan, Vân Nam, Trung Quốc 
và khèn của người Hmông ở Sa Pa, Lào Cai, Việt Nam làm ví dụ)

 

                                                                                                                                                               Cao Yến

Viện Nghiên cứu âm nhạc dân tộc học
(Viện Âm nhạc Quảng Tây, Trung Quốc

 Khái quát
 

Biên giới phía Bắc Việt Nam tiếp giáp với tỉnh Quảng Tây và tỉnh Vân Nam, Trung Quốc. Theo nghiên cứu lịch sử cho thấy, một số các dân tộc thiểu số của Trung Quốc di cư xuống các vùng phía Nam, vì thế người dân của cùng một tộc người phân bố sinh sống ở hai quốc gia, hình thành dân tộc cùng nguồn gốc nhưng khác đất nước. Ví dụ như dân tộc Zhuang vùng tự trị dân tộc Zhuang Quảng Tây, Trung Quốc và tộc người Tày, người Nùng ở Lạng Sơn, Việt Nam, tộc người Hmông vùng Vân Nam, Trung Quốc và tộc người Hmông tỉnh Lào Cai, Việt Nam... Trong đó, tộc người Hmông ở thành phố Wen Shan khu tự trị người Hmông Wen Shan, Vân Nam, Trung Quốc có lịch sử gần giống với tộc người Hmông ở huyện Sa Pa, tỉnh Lào Cai, Việt Nam. Cho đến ngày nay, những phong tục văn hóa của hai nước vẫn còn lưu giữ nhiều điểm tương đồng. Bài viết chủ yếu tiến hành đo lường và so sánh cơ sở dữ liệu cơ bản về chiếc khèn của tộc người Hmông ở huyện Sa Pa, tỉnh Lào Cai, Việt Nam và vùng Wen Shan, Vân Nam, Trung Quốc, đồng thời tìm ra những điểm giống và khác nhau trong tiến trình phát triển và sự diễn biến của chiếc khèn người Hmông ở Việt Nam và Trung Quốc.

Lý do chọn đề tài

1. Nguồn gốc lịch sử lâu đời của tộc người Hmông 
  ở Việt Nam và Trung Quốc

Năm 1996, nhà xuất bản Văn hóa dân tộc Hà Nội, Việt Nam xuất bản cuốn Văn hóa tộc người Hmông. Cuốn sách này giới thiệu quá trình tộc người Hmông di cư từ Trung Quốc đến Việt Nam. Cuốn sách đã nhắc đến tộc người Hmông di cư đến tỉnh Lào Cai, Việt Nam trải qua lịch sử hơn 200 năm. Chặng đường di cư của tộc người Hmông như sau: Quế Châu Trung Quốc---Vân Nam---Lào Cai, Việt Nam. Chặng thời gian tộc người Hmông đến Lào Cai, Việt Nam có thể phân chia làm hai giai đoạn:

- Giai đoạn một từ thế kỷ XVII đến đầu thế kỷ XIX, sau khi tộc người Hmông ở Quế Châu chống lại triều đình nhà Thanh bị thất bại, họ phải di cư xuống Vân Nam, sau đó đến Lào Cai, Việt Nam. Tộc người Hmông Trung Quốc lúc mới di cư xuống Lào Cai, Việt Nam chỉ có 80 hộ gia đình, chủ yếu sinh sống ở huyện Bắc Hà, Lào Cai. Ba đời sau, 30 hộ trong 80 hộ gia đình tiếp tục di cư xuống Sa Pa.

- Giai đoạn thứ hai khoảng giữa thế kỷ XIX, [1840-1869], sau khi tộc người Hmông Quế Châu tham gia Thái Bình Thiên Quốc chống lại triều đình nhà Thanh bị thất bại, họ đã chia làm 3 đội quân lần lượt di cư đến các huyện Mường Khương, Bản Lầu, Si Ma Cai và cuối cùng định cư ở Sa Pa, Việt Nam.

Trang 53 sách Liệt Quốc Chí - Việt Nam do Xu Zhao Li, Li Guo, Zhang Xun biên soạn, khi giới thiệu về tộc người Hmông Việt Nam có nhắc đến tộc người Mường Khương ở vùng biên giới Việt Nam. Tổ tiên của tộc người này trước kia sống tại vùng Dong Ting phía Nam Trung Quốc. Về mặt lịch sử họ cùng một tộc người với người Hmông Trung Quốc.

Như trình bày trên, kết hợp lộ trình di cư của tộc người Hmông trong lịch sử, chúng ta có thể phác họa chặng đường di chuyển của họ xuống phía Nam như sau: từ lưu vực sông Hoàng Hà xuống Hồ Nam, xuống Quế Châu, xuống Vân Nam (Trung Quốc) tới Lào Cai (Việt Nam) và cuối cùng định cư tại Sa Pa. Trong lịch sử, tộc người Hmông Việt Nam là tộc người Hmông Trung Quốc di cư tới, họ cùng nguồn gốc nhưng khác quốc gia. Hiện nay, ở Việt Nam, dân tộc Hmông còn có tên gọi khác như Mẹo, Mèo, Miếu Ha, Mán trắng. Nhiều người dân địa phương ở Lào Cai, Việt Nam vẫn sử dụng cách phát âm từ “Miao” (tiếng Trung Quốc) để giới thiệu bản thân là tộc người “Mèo”(dịch âm: Miào).

2. Mối quan hệ về địa lý điều kiện tự nhiên của Wen Shan và Sa Pa

Quan sát từ vị trí địa lý, khu tự trị tộc người Hmông, tộc người Tạng vùng Wen Shan, Vân Nam, Trung Quốc nằm ở phía Đông Nam tỉnh Vân Nam, tiếp giáp với Việt Nam. Khu tự trị này gồm có 8 huyện, châu phủ ở thành phố Wen Shan. Nơi đây có hơn 20 dân tộc thiểu số cùng sinh sống là: Hán, Tạng, Hmông, Dao, Hồi, Thái, Bu Yi, Mông Cổ, Bai… trong đó tộc người Tạng, người Hmông có số dân đứng vị trí thứ nhất và thứ hai.

Huyện Sa Pa thuộc tỉnh Lào Cai, Việt Nam nằm gần Trung Quốc. Từ cửa khẩu Hà Khẩu - Vân Nam đi qua cầu sẽ đến ngay với Lào Cai, Việt Nam, sau đó ngồi xe hơn nửa giờ đồng hồ sẽ đến được với thành phố cao 2000m so với mực nước biển này. Tộc người Hmông ở tỉnh Lào Cai có 4 nhánh, bao gồm: Hmông hua, Hmông đen, Hmông xanh, Hmông trắng. Trong đó, Hmông hua chiếm 70% tổng số dân của tỉnh Lào Cai, họ sống tập trung ở 8 huyện là: Bắc Hà, Mường Khương, Bát Xát, Sa Pa, Bảo Thắng, Bảo Yên, Văn Bàn, Si Ma Cai. Sa Pa với trung tâm là thị trấn nhỏ theo mô hình kiểu Tây hóa với những đặc sắc của các dân tộc thiểu số. Tộc người Hmông chiếm 53% tổng số dân của toàn huyện.

Khu tự trị tộc người Hmông, người Tạng vùng Wen Shan, Vân Nam, Trung Quốc và người Hmông huyện Sa Pa, tỉnh Lào Cai, Việt Nam có điều kiện tự nhiên thuận lợi, điều kiện địa lý có nhiều ưu thế, đồng thời có dân số đông.

3. Văn hóa đặc sắc của tộc người Hmông vùng Wen Shan (Trung Quốc) 
  và người Hmông Sa Pa (Việt Nam)

Thủ phủ Wen Shan thuộc khu tự trị tộc người Hmông, tộc người Tạng Wen Shan, Vân Nam. Văn hóa tộc người Tạng và người Hmông rất phong phú. Cùng với mức sống của người dân ngày càng nâng cao, Miao Tai- trung tâm thị trấn trước kia-nơi tập trung chính của người Hmông nay phát triển thành thị trấn của người Hmông. Trong thị trấn còn rất nhiều ngôi nhà có lịch sử lâu đời. Cuộc sống của người Hmông trong thị trấn vô cùng phong phú, nhất là các tiết mục biểu diễn khèn rất phổ biến trong phong tục của người dân nơi đây.

Người Hmông sống ở huyện Sa Pa, Lào Cai khá đông. Những căn nhà của người Hmông trước kia được gìn giữ lại, đến nay các thế hệ của người Hmông vẫn còn sinh sống. Hầu hết tất cả thanh thiếu niên trong làng đều lựa chọn khèn làm nhạc cụ chính, họ học sử dụng từ lúc nhỏ. Những người Hmông ở các độ tuổi có thể nhảy múa theo tiếng khèn vui nhộn. Đến nay, chiếc khèn không chỉ là nhạc cụ được yêu thích lưu truyền từ đời này sang đời sau, mà còn là đồ mỹ nghệ đặc sắc của nơi tham quan và cũng là một dấu hiệu nghệ thuật của tộc người Hmông ở Sa Pa.

Nhìn nhận về đặc điểm văn hóa của tộc người Hmông ở hai nước, cho dù là Wen Shan hay Sa Pa, nền văn hóa của họ đều rất phong phú. Họ say mê các tiết mục diễn tấu khèn, chiếc khèn trở thành một bộ phận không thể thiếu trong cuộc sống.

Như đã phân tích, một bộ phận người Hmông Trung Quốc mấy trăm năm trước đã bắt đầu di cư xuống phía Nam, cuối cùng định cư tại huyện Sa Pa. Wen Shan, Vân Nam, Trung Quốc và Sa Pa, Lào Cai, Việt Nam trở thành một nút trong chặng đường di cư của người Hmông. Vị trí ở hai nơi có ưu thế về điều kiện địa lý. Lòng say mê các buổi biểu diễn khèn giúp cho việc nghiên cứu so sánh nhạc cụ khèn của người Hmông ở Sa Pa, Việt Nam và Hmông ở Wen Shan, Trung Quốc có tính chất thực tế. Hơn nữa bằng việc khảo sát các cơ sở dữ liệu như hình dáng cấu tạo, âm vực, thang âm, chức năng, hình thức biểu diễn, kĩ thuật diễn tấu, bước nhảy của chiếc khèn người Hmông ở Wen Shan và người Hmông ở Sa Pa sử dụng, tôi phát hiện ra rất nhiều cơ sở dữ liệu của chiếc khèn của người Hmông ở hai nơi có thể so sánh được. Từ những cơ sở dữ liệu cơ bản có thể tiến hành so sánh chi tiết hơn, và tìm ra được những điểm giống và khác nhau của chiếc khèn trong quá trình tự diễn biến và thay đổi.

  Khái quát về khèn Hmông 
vùng WEN SHAN, Vân Nam, Trung Quốc

1. Cấu tạo (xem Hình 1)

 

Khèn Hmông của vùng Wen Shan, Vân Nam, Trung Quốc, tiếng Hmông gọi là “King”. King có 4 loại: nhỏ, vừa, trung bình, to. King được cấu tạo bởi các bộ phận như bầu khèn (dịch âm: dou, dịch nghĩa: hồ lô), ống khèn (dịch âm: di king), miệng khèn (dịch âm: yao king), bệ khèn (cách gọi không chuyên môn), lưỡi gà (dịch âm: pái kìng). Khèn là nhạc cụ phát ra âm thanh do lưỡi gà rung lên.

Bầu khèn có hình vuông, lúc chế tạo người ta đẽo khúc gỗ thành hình vuông. Sau đó khoét rỗng ở giữa và dùng keo dính khít. Phía ngoài dùng dây (dịch âm: tiking) buộc chặt. Bầu khèn của loại khèn nhỏ, vừa, trung bình, to phân biệt dài khoảng 51.5cm, 64cm, 69cm, 85.3cm.

Một đầu của bầu khèn là lỗ thổi được vót nhỏ dần. Lỗ thổi khèn bé nhất có đường kính khoảng 0.1-0.2cm. Đường kính trong lỗ thổi của khèn cỡ nhỏ, trung bình, vừa và to phân biệt là 1cm, 1cm, 0.9cm, 1.3cm. Miếng sắt bảo vệ lỗ thổi lần lượt rộng khoảng 2cm, 2.2cm, 2.8cm, 4.4cm. Đầu kia của bầu khèn là một bệ khèn hình vuông dài khoảng 5-8cm, có tác dụng đỡ khèn.

ống khèn được làm bằng ống nứa, thông thường có 1-2 đầu mấu. Hai hàng ống lắp xuyên qua bầu khèn (mỗi hàng ba ống) cùng với bầu khèn tạo thành một góc 90 độ. Đầu dưới 6 ống khèn có một ống nứa còn giữ nguyên đầu mấu nằm phía dưới bầu khèn. Đầu trên ống nứa được buộc bằng dây dài khoảng 2cm để cố định sáu ống khèn.

Để tạo tư thế thoải mái khi biểu diễn, ở tư thế người chơi ôm bầu khèn biểu diễn, chúng ta làm ký hiệu cho sáu ống khèn. ống khèn dùng ngón cái trái, ngón cái phải bấm lỗ gọi là trái 1, phải 1; dùng ngón trỏ trái phải bấm lỗ là trái 2, phải 2; dùng ngón giữa bấm lỗ là trái 3, phải 3. ở vị trí mỗi ống khèn lắp xuyên qua bầu khèn đều có một lưỡi gà hình tam giác. Độ dài, độ dày, đường kính trong của 4 loại khèn xem bảng 1, vị trí lỗ bấm, đường kính lỗ bấm xem bảng 2.

Bảng 1:

 

Chiều dài ống khèn (đơn vị: cm)

Độ dày

Đườngkính trong

Tên gọi

 ống khèn

Trái 3

Trái 2

Trái 1

 

 

 

 

 

 

Miệng

 khèn

Phải 1

Phải 2

Phải 3

Sáu ống khèn

Khèn nhỏ
(hình 1 phải 2)

46

51

32

26

36

40

0.3

0.9 ~ 1.3

Khèn trung bình
(hình 1 trái 1)

74

82

48.5

40.5

54

61

0.2

1 ~ 2

Khèn vừa
(hình 1 trái 2)

93.5

103

65

52.3

71

80

0.3

1.4 ~ 1.8

Khèn to
(hình 1 trái 1)

123.5

135

84

67.6

92.5

104

0.2 ~ 0.3

1.5

 

 

 

 

 

 

 

 

 
 

 


Bảng 2:

 

Mỗi ống khèn khoét một lỗ âm (tiếng Hmông dịch âm: kao king), 
vị trí so với bầu khèn (đơn vị: cm)

Đường kính
lỗ âm

Tên gọi ống khèn

Trái 3

Trái 2

Trái 1

 

Phải 1

Phải 2

Phải 3

 

Khèn nhỏ

4.2

5.5

4.3

 

 

Miệng  khèn

4

5.5

4.6

0.5 ~ 0.6

Khèn trung bình

6.1

6.2

5.5

5.4

6.4

5.4

0.6

Khèn vừa

6

6.9

5.6

6

7.3

6.6

0.6

Khèn to

6.9

7.5

6

6

7.5

6.4

0.4 ~ 0.6

 

 2. Âm vực, tầm âm, màu âm, âm lượng (xem bảng 3)

 Bảng 3:

Tên  gọi
Tính chất

Âm vực

Tầm âm
(sắp xếp từ thấp tới cao)

Màu âm

Âm lượng

Khèn  nhỏ

be1~ be2

      la(be1)         do(bg1)         re(ba1)

      mi(bb1)        sol( bd)        la(be2)

Thanh thoát dễ nghe

Vừa phải

Khèn trung bình

ba~ba1

      sol(ba)          la(bb)          do(bd1)

      re(be1)          mi(f 1)         sol(ba1)

Tràn đầy 
ấm áp

Vừa phải

Khèn vừa

be ~ be1

      sol(be)          la(f )           do(ba)

       re(bb)          mi(c1)         sol(be1)

Tràn đầy 
ấm áp

Vừa phải

Khèn  to

bb ~ bb1

      sol(bb)          la(c1)          do(be1)

       re(f1)           mi(g1)         sol(bb1)

Trầm âm

Hơi to

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Bảng âm vị và cách đặt lỗ bấm đối với 4 loại khèn kích cỡ khác nhau:

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 3. Địa điểm biểu diễn, cách diễn tấu đặc sắc  

 3.1. Địa điểm biểu diễn

 Khèn Hmông Wen Shan, Vân Nam, Trung Quốc được biểu diễn ở hai loại hình sân khấu:

- Độc tấu hoặc hòa tấu cùng với các nhạc cụ khèn khác vào ngày lễ tế, đặc biệt là vào ngày Tết và lễ hội Hoa Sơn. Người biểu diễn vừa nhảy vừa múa.

- Nhạc cụ này được dùng hòa tấu cùng với trống trong buổi tang lễ, về cơ bản khi biểu diễn không có động tác nhảy múa. 

3.2. Cách diễn tấu thường dùng, cách diễn tấu đặc sắc

Người Hmông Wen Shan Vân Nam Trung Quốc thường “một thổi một hít” khi biểu diễn các làn điệu khèn. Khi muốn nhấn mạnh một âm nào đó thường dùng cách diễn tấu “thổi âm đơn”, có lúc liên tục nhả âm đơn để làm đa dạng màu sắc của làn điệu. Mỗi lần thổi là 4 kiểu âm với âm vực quãng 16. Họ thường dùng phương pháp đánh âm biểu diễn, mỗi nhịp 4 kiểu âm với âm vực quãng 16 trong các điệu nhạc phụ khi biểu diễn nhạc cụ khèn. Trong thang âm 1, hiệu quả âm (ba) do liên tục phần âm thấp được tạo ra nhờ sử dụng hiệu quả “đánh âm” bởi cách dùng ngón giữa tay phải bấm vào lỗ âm. Có lúc người ta cũng dùng ngón giữa của tay trái biểu diễn động tác “đánh âm”. Khi muốn làm nên không khí sôi động cho bản nhạc, người biểu diễn luôn sử dụng hòa âm hai âm độ lớn không cùng nhau, tức tạo ra âm SOL thấp và âm LA thấp xuất hiện cùng lúc.

Thang âm 1:

3.3. Bước nhảy

Làn điệu múa khèn Hmông Wen Shan thường được sử dụng trong lễ hội hoặc lúc người chơi vui vẻ, nghệ nhân vừa thổi khèn vừa nhảy múa, cũng có thể chỉ thổi và không nhảy múa.

Khi độc tấu, hợp tấu khèn vừa thổi khèn vừa nhảy múa, bước nhảy có đặc điểm sau: chậm rãi xoay mình ngược chiều kim đồng hồ, rồi xoay chuyển cùng chiều kim đồng hồ, kết hợp hơi thổi và bước nhảy là chính, chú trọng đến các nốt nhấn trong làn điệu nhảy (nhấn vào trọng âm). Khi độc tấu, trước khi kết thúc một làn điệu, người chơi khèn một tay giữ và thổi khèn, còn tay kia thực hiện một số động tác và phối hợp liên tục các bước nhảy khác nhau. Sau khi làn điệu kết thúc, người chơi sẽ biểu diễn một đoạn động tác bày khèn xuống. Toàn bộ tiết mục biểu diễn phụ thuộc vào khả năng diễn tấu của người chơi khác nhau có thể thể hiện được nhiều điểm khó của các động tác như: đi, di chuyển, quỳ, bước, xoay người, đá, đứng (đứng bằng một chân), quay người. Cuối cùng đặt ngang chiếc khèn phía trước ngực và làm động tác giương cung. Động tác này để thể hiện tiết mục biểu diễn đã kết thúc. Nếu như trong buổi tang lễ, khèn là nhạc cụ chính, người ta chỉ biểu diễn làn điệu nhạc có tiết tấu đơn giản, và không thực hiện các động tác nhảy phức tạp.

Khái quát về khèn Hmông Sapa,
Lào Cai, Việt Nam

    1. Cấu tạo (xem hình 2)                                

 

Tại Sa Pa, Lào Cai, Việt Nam, người Hmông gọi là “khèn” (dịch âm: kìng). Khèn được cấu tạo bởi: bầu khèn (dịch âm: yi dù), ống khèn (dịch âm: xiong), lỗ thổi (dịch âm: zi), tốk khèn (dịch âm: dáo kìng), lưỡi gà (dịch âm: le eí gà)... Loại khèn này thuộc dòng nhạc cụ phát ra âm thanh nhờ rung bộ phận lưỡi gà. Khèn Hmông Sa Pa, Lào Cai có hai loại: khèn nhỏ và khèn vừa. Khèn nhỏ chuyên dùng cho trẻ từ 7-15 tuổi sử dụng, loại khèn vừa dùng cho các nghệ nhân thổi và hợp tấu. Nội dung phía dưới giới thiệu loại khèn thanh niên thường sử dụng.

Khèn Hmông ở Sa Pa, Việt Nam sử dụng có hình chóp nón, dài khoảng 74cm. Khi chế tạo, người ta đẽo gỗ ĐÔNG thành hình chóp nón, khoét rỗng phía trong, dùng keo bôi xung quanh. Phía ngoài dùng sợi dây được uốn cong buộc chặt. Một đầu bầu khèn là miệng khèn dài khoảng 51cm được vuốt nhỏ dần. Lỗ thổi của miệng khèn nhỏ nhất, đường kính vào khoảng 1cm, độ dài thành lỗ thổi 0,2cm. Lỗ thổi được bảo vệ bởi một miếng nhôm rộng 3,6cm. Hai dàn ống khèn xuyên qua bầu khèn (một dàn gồm ba ống nứa) cùng với bầu khèn tạo thành một góc 90 độ. ống khèn được làm bằng ống nứa, thường có 1-2 mấu. Đầu dưới 6 ống đàn đều có ống giữ lại một mấu đàn nằm ở phái dưới bầu đàn. Một đầu kia bầu đàn là bệ đàn hình chóp, dài khoảng 5cm, to chừng 1,5cm- 2cm. Bệ khèn có tác dụng làm giá đỡ khèn.

Tư thế chơi khèn: chiều dài ống khèn phía bên trái tính từ ngoài vào trong lần lượt dài 77cm (đầu trên ống khèn cong tự nhiên), 92cm (đầu trên ống khèn cong tự nhiên), 53cm. Đường kính phía trong lần lượt là 1cm, 1,2cm, 1cm. Độ dày thành ống 0,2-0,3cm. Độ dài ống khèn phía phải lần lượt là 66cm, 61cm, 44cm. Đường kính trong thành ống 1,2cm, 1,2cm, 2,1cm. ống khèn dài 44cm là ống to và ngắn nhất, độ dày thành ống vào khoảng 0,4cm, độ dày thành ống còn lại 0,2-0,3cm. Đầu trên ống khèn buộc chặt bởi một miếng tre rộng 2cm, có tác dụng cố định ống khèn.

Phần ống khèn to nhất lắp xuyên qua bầu khèn có lắp 3 lưỡi gà (hình 3). Các ống khèn còn lại đều lắp một lưỡi gà bằng đồng hình tam giác. Mỗi ống khèn có một lỗ âm (kó) (dịch nghĩa: gáo), đường kính lỗ âm đều là 0,6cm. Hai ống khèn nằm gần vị trí miệng khèn mặt chính đều khoét một lỗ, cách bầu khèn khoảng 6,5cm. 4 ống khèn còn lại đều khoét lỗ âm ở mặt ngoài. Lỗ âm của hai ống khèn ở giữa cách bầu khèn khoảng 8cm. Lỗ âm của hai ống khèn xa miệng khèn nhất cách bầu khèn khoảng 7cm.

  

3. Khung cảnh biểu diễn, kỹ thuật diễn tấu thường gặp, 
  kỹ thuật diễn tấu đặc sắc, các bước nhảy

3.1. Khung cảnh diễn tấu

Khèn ở Sa Pa, Lào Cai, Việt Nam được sử dụng trong ba khung cảnh sau:

- Vào ngày Tết (khoảng 15 ngày), người ta vừa thổi khèn vừa nhảy múa.

- Vào ngày thường, để chúc mừng người thân quen, tìm bạn đời, người dân thường vừa thổi khèn vừa nhảy múa.

- Khi tâm trạng không vui vẻ, người ta chỉ thổi khèn chứ không nhảy múa.

3.2. Kỹ thuật diễn tấu thông thường, kỹ thuật diễn tấu đặc sắc

Người Hmông ở Sa Pa, Lào Cai, Việt Nam “thổi khèn hít vào” khi thổi các làn điệu khèn. Họ không sử dụng bất kỳ âm mũi nào. Khi muốn nhấn mạnh một nốt nhạc nào đó thường sử dụng cách dứt âm đột ngột truyền thống. Điều đó có nghĩa là tạo ra hiệu quả ngắt âm bằng cách kiểm soát mức độ dài ngắn của luồng hơi thở, mà không dùng cách diễn tấu thổi âm đơn.

Khi muốn tạo điệp khúc, thường dùng ngón trỏ phải biểu diễn nốt nhạc trung bình sol (#e1), hoặc tạo ra âm thấp sol (e) bằng cách dùng ngón cái trái diễn tấu và đồng thời phát ra âm thanh. Âm trung bình sol được sử dụng nhiều, tạo tác dụng như chức năng của âm ống khèn phụ. Khi muốn làm náo nhiệt không khí của làn điệu, thường dùng quãng hai âm khác nhau hòa âm, tức kết hợp giữa âm SOL thấp và âm LA thấp và đồng thời phát ra âm thanh.  

3.3. Bước nhảy khi múa khèn.

Đặc điểm của làn điệu múa khèn là “xoay chuyển”, tốc độ xoay chuyển rất nhanh. Trẻ em người Hmông Sa Pa khi học các động tác múa khèn, ban đầu phải học cách vừa thổi khèn vừa xoay vòng tròn quanh vị trí đứng, khi xoay vòng tròn phải khom lưng, để hai ống khèn dài nhất ở vị trí trước bắp chân, xoay vòng ngược chiều kim đồng hồ trước, sau đó lại xoay người theo chiều kim đồng hồ. Mỗi lần nhảy múa gần như có một trình tự nhất định: (mở đầu) không nhảy, (chủ đề làn điệu) múa xoay vòng, đi múa cài hoa (kết thúc) không nhảy múa, giương cung kết thúc làn điệu khèn. Làn điệu cài hoa sẽ có hai phần: phía trước sau hai chân quỳ một nửa giao nhau dịch chuyển sang tư thế dịch chuyển giao nhau trước sau hai chân quỳ toàn bộ, đặt ống khèn xuống phía dưới, một đùi nhấc lên, xoay vòng nửa chân, sau đó lại đặt toàn bộ chiếc khèn ra phía sau hai đùi, hai chân hạ xuống xoay vòng. Cuối cùng đưa nghiêng khèn vào khe giữa hai đùi, hai chân hạ xuống đất xoay vòng.

 

Những điểm giống và khác nhau
giữa khèn Hmông
 vùng WEN SHAN Vân Nam, Trung Quốc và khèn Hmông Sa Pa, Lào Cai, Việt Nam

 

1. Những điểm giống khác nhau về cấu tạo

Tộc người Hmông

Vùng Wen Shan, Vân Nam, Trung Quốc

Vùng Sa Pa, Lào Cai, Việt Nam

Giống/ khác

Tên khèn

Dịch âm tiếng Hmông: Kìng

Dịch âm: Kìng

Giống nhau

Tên gọi 
các bộ phận của khèn

Bầu khèn (dịch âm: dàu, dịch nghĩa: hồ lô)
ống khèn (dịch âm: dí kìng)
miệng khèn (dịch âm: yào kìng)
bệ khèn (tên không chuyên ngành)
lưỡi gà (dịch âm: pái kìng)

Bầu khèn (dịch âm: yi dù)
ống khèn (dịch âm: xiong)
Miệng khèn (dịch âm: zi)
Tok khèn(dịch âm: dáo kìng)
Lưỡi gà (dịch âm: le éi gà)

Khác nhau

Kích cỡ khèn

Có 4 loại (người lớn và thanh 
thiếu niên sử dụng)

Có 2 loại (loại nhỏ chuyên dùng cho trẻ em học, loại cỡ 
vừa dùng cho thanh niên 
và người lớn)

Gần giống
nhau

Cấu tạo khèn

6 ống khèn, 6 lưỡi gà, đều sử dụng
ống nứa thẳng để làm ống khèn, 
bên trong có lắp lưỡi gà

6 ống khèn, 8 lưỡi gà
có hai ống khèn tương đối dài, dùng ống nứa cong tự nhiên làm, để đạt được mỹ quan

Số lượng lưỡi gà được lắp vào trong ống khèn to nhất khác các ống khèn khác. Các ống khèn còn lại đều gắn một lưỡi gà

Miệng khèn

Đường kính trong: 0.9cm -1.3cm.
Độ dày thành: 0.1cm-0.2cm tấm 
sắt bảo vệ miệng thổi.
Phía dưới miệng thổi treo các vật trang trí

Đường kính trong: 1cm.
Độ dày thành: 0.2cm,
miếng nhôm bảo vệ lỗ thổi
Phía dưới miệng khèn 
không treo vật trang trí

Kích cỡ và cách bảo vệ lỗ thổi gần giống nhau

Vị trí khoét lỗ tạo âm

Đường kính lỗ 0.6cm, ống khèn 1 trái, 
phải mặt chính khoét lỗ âm, cách bầu khèn khoảng 5.6cm - 6cm. 4 ống khèn còn lại đều khoét lỗ âm ở mặt ngoài. 
Lỗ âm của ống 2 trái, phải và lỗ 3 trái, 
phải cách bầu khèn một khoảng 
6.9cm - 7.3cm, 6cm - 6.6cm

Đường kính lỗ 0.6cm, mặt chính ống 1 trái, phải khoét lỗ âm, cách bầu khèn khoảng 6.5cm. 4 lỗ khèn còn lại khoét lỗ ở phía ngoài, lỗ âm của ống 2 trái, phải và ống 3 trái, phải cách bầu khèn 8cm, 7cm

Vị trí khoét lỗ âm trên khèn của người Hmông ở Sa Pa, Lào Cai, Việt Nam tương đối cao

2. Điểm giống khác nhau ở âm vực, tầm âm, âm sắc, âm lượng

Âm vực, tầm âm: tầm âm của loại khèn nhỏ vùng Wen Shan Vân Nam Trung Quốc đoạn đầu phát ra âm: la - do - re - mi - sol - la. Âm phát ra của các loại khèn kích cỡ khác là: sol - la - do - re - mi - sol. Âm phát ra trong làn điệu đầu tiên trong tầm âm của khèn người Hmông Sa Pa sử dụng giống như âm phát ra từ khèn lớn, khèn vừa, khèn trung bình của người Hmông ở vùng Wen Shan, Vân Nam, Trung Quốc. Âm vực của nó gần giống khèn cỡ vừa của vùng Wen Shan, Vân Nam.

Âm sắc: âm sắc của hai loại khèn của hai nước cơ bản giống nhau, đặc biệt là loại khèn trung bình và khèn vừa của vùng Wen Shan, Vân Nam, Trung Quốc và âm sắc của khèn ở vùng Sa Pa, Lào Cai, Việt Nam gần như giống nhau.

Âm lượng: khèn của người Hmông ở Sa Pa, Lào Cai, Việt Nam, trong ống khèn to ngắn nhất và phát ra âm cao nhất có gắn 3 lưỡi gà. Đồng thời, ống khèn của người Hmông Lào Cai, Việt Nam cũng to hơn ống khèn của người ở Wen Shan, Vân Nam, Trung Quốc. Loại khèn này có thể phát ra âm cao hơn và vang hơn khèn của người Hmông ở vùng Wen Shan.

3. Khung cảnh diễn tấu, kỹ thuật diễn tấu thông thường, 
  kỹ thuật diễn tấu đặc sắc, các bước nhảy

3.1. Khung cảnh diễn tấu

Khèn ở Sa Pa, Lào Cai, Việt Nam được sử dụng trong ba khung cảnh sau:

- Vào ngày Tết (khoảng 15 ngày), người ta vừa thổi khèn vừa nhảy múa.

- Vào ngày thường, để chúc mừng người thân quen, tìm bạn đời, người dân thường vừa thổi khèn vừa nhảy múa.

- Khi tâm trạng không vui vẻ, người ta chỉ thổi khèn chứ không nhảy múa.

3.2. Kỹ thuật diễn tấu thông thường, kỹ thuật diễn tấu đặc sắc

Người Hmông ở Sa Pa, Lào Cai, Việt Nam “thổi khèn hít vào” khi thổi các làn điệu khèn. Họ không sử dụng bất kỳ âm mũi nào. Khi muốn nhấn mạnh một nốt nhạc nào đó thường sử dụng cách dứt âm đột ngột truyền thống. Điều đó có nghĩa là tạo ra hiệu quả ngắt âm bằng cách kiểm soát mức độ dài ngắn của luồng hơi thở, mà không dùng cách diễn tấu thổi âm đơn.

Khi muốn tạo điệp khúc, thường dùng ngón trỏ phải biểu diễn nốt nhạc trung bình sol (#e1), hoặc tạo ra âm thấp sol (e) bằng cách dùng ngón cái trái diễn tấu và đồng thời phát ra âm thanh. Âm trung bình sol được sử dụng nhiều, tạo tác dụng như chức năng của âm ống khèn phụ. Khi muốn làm náo nhiệt không khí của làn điệu, thường dùng quãng hai âm khác nhau hòa âm, tức kết hợp giữa âm SOL thấp và âm LA thấp và đồng thời phát ra âm thanh.  

3.3. Bước nhảy khi múa khèn.

Đặc điểm của làn điệu múa khèn là “xoay chuyển”, tốc độ xoay chuyển rất nhanh. Trẻ em người Hmông Sa Pa khi học các động tác múa khèn, ban đầu phải học cách vừa thổi khèn vừa xoay vòng tròn quanh vị trí đứng, khi xoay vòng tròn phải khom lưng, để hai ống khèn dài nhất ở vị trí trước bắp chân, xoay vòng ngược chiều kim đồng hồ trước, sau đó lại xoay người theo chiều kim đồng hồ. Mỗi lần nhảy múa gần như có một trình tự nhất định: (mở đầu) không nhảy, (chủ đề làn điệu) múa xoay vòng, đi múa cài hoa (kết thúc) không nhảy múa, giương cung kết thúc làn điệu khèn. Làn điệu cài hoa sẽ có hai phần: phía trước sau hai chân quỳ một nửa giao nhau dịch chuyển sang tư thế dịch chuyển giao nhau trước sau hai chân quỳ toàn bộ, đặt ống khèn xuống phía dưới, một đùi nhấc lên, xoay vòng nửa chân, sau đó lại đặt toàn bộ chiếc khèn ra phía sau hai đùi, hai chân hạ xuống xoay vòng. Cuối cùng đưa nghiêng khèn vào khe giữa hai đùi, hai chân hạ xuống đất xoay vòng.

 Những điểm giống và khác nhau
giữa khèn Hmông
 vùng WEN SHAN Vân Nam, Trung Quốc và khèn Hmông Sa Pa, Lào Cai, Việt Nam

1. Những điểm giống khác nhau về cấu tạo

Tộc người Hmông

Vùng Wen Shan, Vân Nam, Trung Quốc

Vùng Sa Pa, Lào Cai, Việt Nam

Giống/ khác

Tên khèn

Dịch âm tiếng Hmông: Kìng

Dịch âm: Kìng

Giống nhau

Tên gọi 
các bộ phận của khèn

Bầu khèn (dịch âm: dàu, dịch nghĩa: hồ lô)
ống khèn (dịch âm: dí kìng)
miệng khèn (dịch âm: yào kìng)
bệ khèn (tên không chuyên ngành)
lưỡi gà (dịch âm: pái kìng)

Bầu khèn (dịch âm: yi dù)
ống khèn (dịch âm: xiong)
Miệng khèn (dịch âm: zi)
Tok khèn(dịch âm: dáo kìng)
Lưỡi gà (dịch âm: le éi gà)

Khác nhau

Kích cỡ khèn

Có 4 loại (người lớn và thanh 
thiếu niên sử dụng)

Có 2 loại (loại nhỏ chuyên dùng cho trẻ em học, loại cỡ 
vừa dùng cho thanh niên 
và người lớn)

Gần giống
nhau

Cấu tạo khèn

6 ống khèn, 6 lưỡi gà, đều sử dụng
ống nứa thẳng để làm ống khèn, 
bên trong có lắp lưỡi gà

6 ống khèn, 8 lưỡi gà
có hai ống khèn tương đối dài, dùng ống nứa cong tự nhiên làm, để đạt được mỹ quan

Số lượng lưỡi gà được lắp vào trong ống khèn to nhất khác các ống khèn khác. Các ống khèn còn lại đều gắn một lưỡi gà

Miệng khèn

Đường kính trong: 0.9cm -1.3cm.
Độ dày thành: 0.1cm-0.2cm tấm 
sắt bảo vệ miệng thổi.
Phía dưới miệng thổi treo các vật trang trí

Đường kính trong: 1cm.
Độ dày thành: 0.2cm,
miếng nhôm bảo vệ lỗ thổi
Phía dưới miệng khèn 
không treo vật trang trí

Kích cỡ và cách bảo vệ lỗ thổi gần giống nhau

Vị trí khoét lỗ tạo âm

Đường kính lỗ 0.6cm, ống khèn 1 trái, 
phải mặt chính khoét lỗ âm, cách bầu khèn khoảng 5.6cm - 6cm. 4 ống khèn còn lại đều khoét lỗ âm ở mặt ngoài. 
Lỗ âm của ống 2 trái, phải và lỗ 3 trái, 
phải cách bầu khèn một khoảng 
6.9cm - 7.3cm, 6cm - 6.6cm

Đường kính lỗ 0.6cm, mặt chính ống 1 trái, phải khoét lỗ âm, cách bầu khèn khoảng 6.5cm. 4 lỗ khèn còn lại khoét lỗ ở phía ngoài, lỗ âm của ống 2 trái, phải và ống 3 trái, phải cách bầu khèn 8cm, 7cm

Vị trí khoét lỗ âm trên khèn của người Hmông ở Sa Pa, Lào Cai, Việt Nam tương đối cao

2. Điểm giống khác nhau ở âm vực, tầm âm, âm sắc, âm lượng

Âm vực, tầm âm: tầm âm của loại khèn nhỏ vùng Wen Shan Vân Nam Trung Quốc đoạn đầu phát ra âm: la - do - re - mi - sol - la. Âm phát ra của các loại khèn kích cỡ khác là: sol - la - do - re - mi - sol. Âm phát ra trong làn điệu đầu tiên trong tầm âm của khèn người Hmông Sa Pa sử dụng giống như âm phát ra từ khèn lớn, khèn vừa, khèn trung bình của người Hmông ở vùng Wen Shan, Vân Nam, Trung Quốc. Âm vực của nó gần giống khèn cỡ vừa của vùng Wen Shan, Vân Nam.

Âm sắc: âm sắc của hai loại khèn của hai nước cơ bản giống nhau, đặc biệt là loại khèn trung bình và khèn vừa của vùng Wen Shan, Vân Nam, Trung Quốc và âm sắc của khèn ở vùng Sa Pa, Lào Cai, Việt Nam gần như giống nhau.

Âm lượng: khèn của người Hmông ở Sa Pa, Lào Cai, Việt Nam, trong ống khèn to ngắn nhất và phát ra âm cao nhất có gắn 3 lưỡi gà. Đồng thời, ống khèn của người Hmông Lào Cai, Việt Nam cũng to hơn ống khèn của người ở Wen Shan, Vân Nam, Trung Quốc. Loại khèn này có thể phát ra âm cao hơn và vang hơn khèn của người Hmông ở vùng Wen Shan.

3. Khung cảnh diễn tấu, kỹ thuật diễn tấu thông thường, 
  kỹ thuật diễn tấu đặc sắc, các bước nhảy
                                                                      

3.1. Khung cảnh diễn tấu

Khèn của người Hmông ở Sa Pa và người Hmông ở Wen Shan đều được biểu diễn trong các ngày lễ. Điều khác biệt đó là: ngày trước, thanh niên Hmông ở Wen Shan trong ngày lễ Tết thổi khèn để tìm ý trung nhân, hiện nay thổi khèn là hình thức diễn tấu giải trí đơn thuần. Tuy nhiên, người Hmông ở Sa Pa đến nay trong các ngày lễ tết hoặc cuộc sống hàng ngày khi đang theo đuổi bạn gái cũng đều thổi khèn để thể hiện tài năng thổi khèn của mình.

3.2. Kỹ thuật diễn tấu thông thường, kỹ thuật diễn tấu đặc sắc

Đặc điểm chung của nhạc cụ khèn của người Hmông Trung Quốc và người Hmông ở Việt Nam là đều sử dụng kỹ thuật thổi khèn truyền thống: “thổi một hơi, hít một hơi” để phát ra âm thanh. Chỉ có nghệ nhân ở Wen Shan, Vân Nam khi thổi khèn dùng cách nhả âm đơn, còn nghệ nhân Việt Nam thường sử dụng cách nhả âm ngắt hơi.

Cách thức tạo không khí cho làn điệu khèn của hai nơi khác nhau: trong các làn điệu khèn của người Hmông ở Wen Shan thường sử dụng cách diễn tấu đánh âm nhanh, cộng thêm việc hòa tấu làn điệu. Tuy nhiên, người Hmông ở Sa Pa khi thổi các làn điệu khèn dùng ngón tay cái phải biểu diễn các âm trung bình sol (#e1) hoặc âm thấp sol (e) bằng cách bấm bằng ngón cái tay trái, đồng thời phát ra âm thanh, để tạo nên âm hưởng hùng dũng cho làn điệu khèn.

Trong các làn điệu khèn của hai nước, khi diễn tấu làm nổi bật không khí làn điệu có chung một cách bấm lỗ: dùng quãng hai lớn không giống nhau để hòa thanh điệu.


        Thang âm 2: Wen Shan          

Thang âm 3: Sa Pa

 

3.3. Bước nhảy

Điểm giống nhau trong các điệu nhảy khèn của người Hmông Việt Nam và người Hmông Trung Quốc đó là người dân thường vừa thổi khèn vừa nhảy múa trong các buổi lễ Tết hoặc khi tâm trạng vui vẻ, cũng có thể chỉ thổi nhưng không nhảy múa. Ví dụ như, nghệ nhân ở Wen Shan chủ yếu thổi khèn trong lễ tang, đám ma, chỉ diễn tấu các bản nhạc đơn giản, không có các động tác nhảy múa phức tạp. Nghệ nhân Hmông ở Sa Pa lúc tâm trạng không vui, thường ngồi xuống thổi khèn giải sầu, không hề nhảy múa.

Các điệu múa khèn ở hai nơi có nhiều nét đặc sắc. Biểu diễn khèn ở vùng Wenshan, Vân Nam, Trung Quốc coi trọng việc kết hợp âm nhạc và các động tác cùng với âm vần của làn điệu, các bước nhảy chậm rãi kết hợp một số động tác linh hoạt hấp dẫn người xem. Các bước nhảy tạo độ mềm mại là chủ yếu, trong nhu có cương. Biểu diễn khèn của người Hmông Sa Pa, Việt Nam lại dùng bước nhảy nhanh kết hợp với các động tác linh hoạt, trong cương có nhu. Khi họ bắt đầu nhảy múa, họ đều xoay vòng ngược chiều kim đồng hồ, sau đó lại quay vòng đúng chiều kim đồng hồ, vừa xoay vòng vừa nhảy múa, lần lượt giao nhau các động tác.

Kết luận

Chiếc khèn người Hmông ở Trung Quốc và người Hmông Việt Nam sử dụng có cấu tạo đặc biệt và âm thanh độc đáo của khèn làm say mê lòng người. Mấy trăm năm trở lại đây, chiếc khèn đã gắn bó với người dân trong suốt cuộc sống của họ, chiếc khèn mang tinh thần văn hóa phong phú. Đồng thời chiếc khèn là bộ phận rất quan trọng trong âm nhạc dân gian của tộc người Hmông. Hiện nay, mặc dù sự phát triển và khả năng tồn tại của chiếc khèn Hmông Việt Nam và khèn Hmông Trung Quốc cùng chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của trào lưu văn hóa hiện đại. Tuy nhiên, chiếc khèn của người Hmông Việt Nam và Hmông Trung Quốc vẫn gặt hái được nhiều thành công và phát triển bởi những lý do sau:

- Thứ nhất, khu vực sống của đồng bào Hmông ở Việt Nam và Hmông Trung Quốc nhận được sự ủng hộ của chính quyền địa phương. Hàng năm các cuộc thi chơi khèn với các quy mô lớn nhỏ được tổ chức ít nhất một lần mỗi năm. Điều này thúc đẩy sự phát triển của âm nhạc khèn dân tộc thiểu số của hai nước, đồng thời cũng bảo vệ khả năng tồn tại lâu đời của chiếc khèn, giúp loại nhạc cụ này có thể được lưu truyền mãi mãi.

- Thứ hai, ngành du lịch ở Sa Pa, Lào Cai, Việt Nam phát triển mạnh cũng thúc đẩy khả năng truyền bá hình ảnh chiếc khèn của các địa phương. Những em nhỏ đến 7 tuổi đến hơn 20 tuổi đều biết thổi khèn. Các nghệ nhân thổi khèn lão luyện truyền thụ kỹ năng diễn cho thanh thiếu niên trong làng và sẽ không xuống núi biểu diễn nữa. Các thanh thiếu niên chơi khèn ngày ngày dạo chơi ở chợ Sa Pa và thổi khèn biểu diễn cho khách du lịch xem. Những nghệ sĩ chơi khèn giỏi sẽ nhận được tiền thưởng từ du khách. Như vậy, nhìn ở một góc cạnh nhất định, ngành du lịch ở Sa Pa góp phần thúc đẩy sự phát triển của âm nhạc nhạc cụ khèn, đồng thời cũng tạo ra một sức mạnh mới khai thác tiềm năng của dòng nhạc cụ này.

Những điểm giống và khác nhau tổng kết từ việc đo lường và so sánh dựa trên số liệu căn bản về hình dáng cấu tạo, âm vực, hàng âm, công dụng, hình thức biểu diễn, kỹ năng diễn tấu, làn điệu múa khèn… của chiếc khèn tộc người Hmông Việt Nam và Hmông Trung Quốc sử dụng trong bài viết đã phần nào chứng minh được một tộc người của hai nước trở thành một quần thể đặc biệt, nền văn hóa âm nhạc tộc người Hmông lưu truyền lại không chỉ mang tính chất liên tục của dòng lịch sử mà còn mang tính đổi thay theo thời gian. Tuy nhiên, văn hóa và môi trường sống của các khu vực khác nhau có ảnh hưởng gì đối với họ? Những phương diện như phong tục văn hóa, âm nhạc dân tộc vì sao lại có những điểm giống khác nhau. Nền âm nhạc dân tộc quần chúng của hai nước, tương lai, tiềm năng phát triển ra sao? Tất cả những vấn đề và hiện tượng như vậy sẽ tiếp tục được tìm tòi và nghiên cứu.

Ẩn danh

Nghiên cứu văn hóa

01667679881

chủ đề tương tự
media của bài viết