DMCA.com Protection Status

Phương thức ký âm cổ truyền cho tác phẩm thanh nhạc trong lịch sử âm nhạc Việt Nam  quan tâm

Được đăng bởi: Ẩn danh

Cập nhật lúc 10:11 ngày 26/12/2017

NGUYỄN BÌNH ĐỊNH

TÓM TT: TÁC GIẢ ĐỀ CẬP ĐẾN NHỮNG PHƯƠNG THỨC KÝ ÂM CỔ TRUYỀN CHO
TÁC PHẨM THANH NHẠC TRONG LỊCH SỬ ÂM NHẠC VIỆT NAM.

T KHÓA: NGUYỄN BÌNH ĐỊNH,CỔ TRUYỀN, PHƯƠNG THỨCKÝ ÂM

Trong các bản ký âm tác phẩm cho thanh nhạc, những người ký âm Việt Nam đã sử dụng một loại văn tự phổ (Letter Notation). Trong đó, phần lời ca được ghi bằng chữ Hán hoặc chữ Nôm, phần giai điệu nhạc được ký âm bằng hệ thống Hò Xự Xang cũng viết bằng chữ Hán hoặc chữ Nôm theo hàng dọc, đọc từ trên xuống dưới, từ phải sang trái. Vào đầu thế kỷ XX, có thêm lối viết theo hàng ngang, phách mạnh được đánh dấu bằng dấu phẩy hoặc chừa ra một khoảng trống ở chỗ có phách mạnh đầu nhịp.

Trong khi người Trung Hoa chủ yếu chỉ có cách ghi nhạc và lời đi kèm song song với nhau thì người Việt Nam có nhiều cách ghi khác nhau như sau:

+ Cách thứ nhất: Chỉ ghi phần lời ca (phần văn học) không ghi phần âm nhạc (phần nhạc được thuộc theo cách truyền khẩu).

Trong cuốn “Đại Nam quốc âm ca khúc” do Thượng thư Hoàng triều Nguyễn Công Trứ soạn1 ta có thể tìm thấy những bài như vậy. Chẳng hạn như các bài Hảo cầu thục nữ tiểu thuyết, Hậu xích bài phú, Tứ đại cảnh, Hựu thể v.v. trong cuốn Cầm ca Diệu phổ có các bài : Thập đại cảnh, Thiên chúa tứ quý đàn .v.v.

Ví dụ 1: Bản ký âm bài Hng Hng Tuyết Tuyết (Ca trù)2

+ Cách thứ hai : Chỉ ký âm phần âm nhạc (phần lời ca được thuộc theo cách truyền khẩu).

Giai điệu của bài hát được ký âm bằng hệ thống Hò Xự Xang, viết theo hàng dọc từ trên xuống dưới từ phải sang trái. Phách mạnh được đánh dấu bằng dấu phẩy.

 Ví dụ 2: Bản ký âm bài Tam thiên tng (Ca Huế)3

+ Cách thứ 3 : Ghi nhạc kèm theo lời, nhạc ghi bằng chữ Hán và chữ Nôm viết to; lời ca ghi bằng chữ Hán và chữ Nôm viết nhỏ hơn, ở phía dưới ký hiệu ghi nhạc. Cả nhạc và lời được viết theo hàng dọc.

Ví dụ 3: Bản ký âm bài Chinh ph ngâm (Ca Huế)4

+ Cách thứ 4: Ghi toàn bộ phần nhạc trước rồi ghi phần lời sau đó. Cả nhạc và lời đều ghi dọc. Phách mạnh được đánh dấu bằng dấu phẩy kết hợp với một khoảng trống được để chừa.

Ví dụ 4: Bản ký âm Bài Tư mã khúc (Ca trù)5

+ Cách thứ 5 : Ghi một đoạn lời rồi đến một đoạn nhạc, một trổ thơ rồi đến chữ nhạc.

Ví dụ 5: Bản ký âm bài Qu ph6

+ Cách thứ 6: Ghi một câu lời ca rồi đến một câu nhạc. Viết bằng chữ Hán và chữ Nôm theo hàng dọc, đọc từ trên xuống dưới từ phải sang trái.

Ví dụ 6 : Bản ký âm bài Tư mã phng cu7

Trong trường hợp lời ca là thơ thì cũng tiến hành ghi một câu thơ rồi đến một câu nhạc.

Ví dụ 7: Bản ký âm bài Tư mã tương như khúc (Ca Huế) (8)

Tương tự như vậy còn có các bài hát khác như : “Kim Vân Kiều toàn ước” (trong tập Di tỡnh nhã điệu)9 ; “Đào thiên vịnh”, “Tiên nữ tống Lưu Nguyễn; “Phú lục bản” (trong tập Đại Nam quốc âm ca khúc) .v.v.

Nhờ có cách ký âm cổ truyền đó mà ngày nay chúng ta vẫn có thể thấy được giai điệu lòng bản của các tác phẩm thanh nhạc kinh điển cú ở những thế kỷ trước (chủ yếu thuộc các thời đại nhà Lê, nhà Nguyễn). Những bản ký âm ấy chính là bằng chứng để khẳng định chúng ta đã từng có phương thức ký âm cho tác phẩm thanh nhạc trong lịch sử âm nhạc của dõn tộc. Thụng qua những bản ký âm ấy, chỳng ta cũn cú thể tìm hiểu, nghiên cứu về kỹ thuật thanh nhạc, phương pháp biểu hiện, nội dung đề tài, khuynh hướng thẩm mỹ... trong Ca trù, Ca Huế... nói riêng và thanh nhạc cổ điển của nước ta nói chung. Đây là những tư liệu rất có giá trị về lịch sử, văn hóa, khoa học âm nhạc của nước ta. Nếu biết chú trọng đến việc bảo vệ và khai thác một cách có hiệu quả thì chúng sẽ đem lại những lợi ích cho cả các lĩnh vực sáng tác, biểu diễn, nghiên cứu và đào tạo./.

Chú Thích:

1. Tư liệu hiện lưu trữ tại Viện Hán Nôm, mã số AB .457

2. Nguyễn Cụng Trứ, Đại Nam quốc âm ca khúc, đó dẫn, trang 178. 3. Yễn Cụng Trứ, Đại Nam quốc âm ca khúc, đó dẫn, trang 176.

4. Trích trong tập Cầm ca diệu phả, tư liệu Viện Hán Nôm, mó số AB. 223, trang 13. 5. Trích trong tập Đại Nam quốc âm ca khúc, đó dẫn, trang 174, 175

6. Khuyết danh, Cầm phả, Tư liệu Viện Hán Nôm, mã số A. 1508, trang 30,31. 7. Trích trong tập Cầm phả, đó dẫn, trang 35.

8. Trích trong tập Cầm phả, đó dẫn, trang 36.

9. Khuyết danh, Di tỡnh nhó điệu, tư liệu Viện Hán Nôm, mã số AB. 446.

Ẩn danh

Nghiên cứu văn hóa

01667679881

chủ đề tương tự
media của bài viết