DMCA.com Protection Status

Điệu Hò thuốc cá của người Nguồn ở Quảng Bình  quan tâm

Được viết bởi: Ẩn danh

Cập nhật lúc 12:10 ngày 26/12/2017

DƯƠNG BÍCH HÀ

Tác giả bài viết đã nêu những nét khái quát về điệu Hò thuốc cá, là một điệu 
Hò đặc sắc, thể hiện một cách chân thực, rõ nét cuộc sống lao động, 
sinh hoạt, tâm tư tình cảm của ng
ười Nguồn ở vùng đất Quảng Bình.

Từ khóa: Dương Bích Hà, Nhạc cổ, Hò thuốc cá, người Nguồn.

Miền núi phía Tây Bắc huyện Minh Hóa tỉnh Quảng Bình có nhiều tộc người cùng sinh sống như tộc người Mày, Rục, Sách, Mã Liềng, A Rem (gọi chung là tộc người Chứt), và tộc người Nguồn (trước kia gọi là người bản địa Kẻ Sạt, Kẻ Xét, Kẻ Trem, Kẻ Pôộc bộ Việt Thường, nước Văn Lang). So với nhóm các tộc người trên, thì người Nguồn là tộc người có số lượng dân cư lớn nhất của huyện Minh Hóa. Do có nhiều tộc người như vậy, đã tạo cho huyện Minh Hóa có nhiều thể loại, bài bản dân ca phong phú, có thể kể ra một số làn điệu như điệu Lầm Khùa (Hát ru), Plờ cù môn (giao duyên) của người Khùa ở bản Cà Roòng (nay gọi là bản Hà Vi, xã Dân Hóa); điệu Tồn tá lôn(Hát ru), điệu Cà tơm tà lêngcủa người Sách, người Mày ở bản Bãi Dinh (xã Dân Hóa); Tan tá rùm (Hát ru) của người Rục ở bản Mò O Ồ Ồ (xã Thượng Hóa)… Điều rất dễ nhận thấy là số lượng các thể loại, bài bản dân ca của các tộc người nói trên rất ít, trong lúc đó, số lượng thể loại, bài bản dân ca của người Nguồn lại nổi trội hơn hẳn, đó là Đúm - Pí, Hát ru, Đồng dao, Hát Nhà trò, Hát Sắc bùa, Hát Kiều… và điệu Hò thuốc cá là một điệu Hò đặc sắc, thể hiện rõ nét cuộc sống lao động, sinh hoạt, tâm tư tình cảm của người Nguồn ở vùng đất này.

Điệu Hò thuốc cá có liên quan mật thiết đến lao động sản xuất, mang đậm nét riêng của người Nguồn. Cuộc sống của người Nguồn chủ yếu dựa vào săn bắt, phát rừng làm nương rẫy, đánh ong lấy mật. Thịnh hành nhất là nghề thuốc cá, người dân đi thuốc cá tập thể chứ không đi riêng lẻ. Mùa đông và mùa xuân thì họ kéo nhau đi từng đoàn lên rừng bới rễ cây tèng (loại cây thuộc họ dây leo, rễ thuộc dạng củ, có chứa độc tố), về đập dập ra, trộn với đất ướt, lấy bùn trát kín, ủ lại, rồi chất củi đốt xung quanh. Sau đó, họ mang ra suối, khe, tìm chỗ nào có nhiều cá nhất, rồi chọn một chỗ cao ở đầu suối, khe, lấy đá xếp vòng tròn để tạo thành một cái cối. Không như ở miền xuôi, hay ở một số vùng, miền khác, khi giã gạo (hay giã bánh), người ta thường dùng cối đá nhỏ, và chỉ có hai hoặc ba người thay nhau giã chày, người này giơ chày lên, người khác thả chày xuống, mà ở đây, người dân (cả nam và nữ) cùng giã một lúc, cùng giơ lên, cùng hạ xuống, nên tùy theo số lượng người giã thuốc càng đông thì họ xếp cối càng rộng. Xếp cối xong, họ lấy rễ cây tèng đã được ủ chín bỏ vào cối, rồi chặt những cây rừng thẳng, dài khoảng 1,5m, to vừa tay cầm, vát nhọn một đầu để làm chày giã thuốc. Họ giã cho nước rễ cây tèng chảy ra, hòa vào dòng nước, làm cho cá bị mờ mắt mà chết, nổi lên mặt nước để họ có thể bắt cá dễ dàng. Ngoài loại rễ cây tèng, người ta cũng dùng rễ cây hôi hôi và lá cây cơn cơn (mọc bên suối) để làm thuốc đánh cá, hai loại cây này thường được sử dụng vào mùa hạ, mùa thu, được lấy về sử dụng ngay chứ không ủ chín như rễ cây tèng. Có một điều đặc biệt là các loại cây có độc tố này chỉ làm cho riêng một số loài cá bị say, bị chết, nhưng lại vô hại đối với các loài thủy sản khác (như cá lóc, cá chạch, lươn, ốc…), kể cả con người khi ăn cá cũng không hề bị ảnh hưởng gì. Khi cá bị bắt hết, thì độc tố của rễ cây cũng không còn ảnh hưởng gì dòng nước nữa!

Để cho động tác giã thuốc thật nhịp nhàng, đều đặn, và để tạo không khí vui tươi, quên đi mệt nhọc, người ta cất lên tiếng hò. Đối qua, đáp lại, trải qua thời gian, nội dung của điệu Hò thuốc cá ngày càng phong phú:

Giã (đâm) tèng thì giã cho sòng

Để cho cá chết đầy sông đầy bờ

Giã (đâm) tèng thì giã cho sòng

Đến khi chia cá nhớ công đâm tèng

(Tiếng Nguồn:)

Tầm tèng thì tầm chò sòng

Tở cho cá chết lâm sông lâm bờ

Tầm tèng thì tầm chò sòng

Tếng khi xia cá nhớ công tầm tèng

Do Hò thuốc cá có đặc tính dễ hát, dễ thuộc, mang tính tập thể cao, có không khí rộn ràng… nên ai cũng có thể hò được cả. Chỉ cần có người xướng lên, và có người cùng hòa nhịp để xô, là người ta lập tức bị cuốn vào một cách tự nhiên, không e dè, câu nệ, và cũng từ điệu hò ban đầu, với nội dung chính gắn với công việc giã thuốc cá, dần dần, người ta còn đưa vào nhiều nội dung khác, xuất hiện thêm những dị bản khác, đó là đối đáp giao duyên nam nữ rất tình tứ (đã có nhiều trai thanh nữ tú mê câu hát “hôi lên” mà kết thành đôi lứa, thành vợ thành chồng):

 Trời mưa nước chảy quanh hồi (đầu nhà)

Anh không lấy vợ ai đâm bồi anh ăn?

(Tiếng Nguồn:)

Tơi mừa dác chẳn quèng hôi

Èng khôồng lế cáy ài tầm pôi èng ằn?

Hay:

Chợ tình đôi lứa cùng nhau

Xe duyên chồng vợ tình sâu mặn nồng

(Tiếng Nguồn:)

Chợ tình tồi lưa cung nhàu

Xe duyên dôồng cấy tinh sầu mằn nông

và nghịch ngợm:

Lo chi cái việc đâm bồi

Nhún lên nhún xuống một hồi được ăn

(Tiếng Nguồn:)

Lò xì kẻ xuyện tầm pôi

Dún lền, dún xuống một hôi tược ằn

có lúc hờn dỗi:

Hát năm ba chuyện mà thôi

Chim trời, cá nước, ai kết đôi được giờ?

(Tiếng Nguồn:)

Hát dằm pà xuyện má thồi

Xìm trơi, cá dác, ài kết tồi tược chư?

cũng có lúc ví von, tự tin:

Trong đầm gì xấu bằng bèo

Mưa sa nước sỉa cũng trèo lên sen

(Tiếng Nguồn:)

Troòng tâm xì xấu păng peo

Mưa sa dác sẻ cũng treo lền sèn
 

Đó là tình yêu quê hương đằm thắm với lời mời gọi tha thiết:

Ai lên Minh Hóa quê mình

Chè xanh, mật ngọt, thắm tình quê hương

(Tiếng Nguồn:)

Ai tếng Mình Hóa quề mêng

Che xèng, mật ngót, thắm tinh quề hường

hay là sự yên bình, với những mơ ước đơn sơ:

Làng ta đi thuốc Vực Dài (địa danh)

Đến khi cá chết lấy gùi mà mang

(Tiếng Nguồn:)

Lang thà tì thuốc Vực Dai

Tếng khi cá chết lấy pài ma màng

Hoặc:

Chữ thập cải lại chữ thi

Làng ta đi thuốc năm ni được mùa

Chữ thập cải lại chữ thiên

Làng ta đi thuốc bình yên thọ trường

(Tiếng Nguồn:)

Chự thập cại lai chự thì

Lang thà tì thuốc nằm ni tược mùa

Chự thập cại lai chự thiền

Lang thà tì thuốc pinh yền thò trương

Trong Hò thuốc cá, người ta dùng cụm từ “hôi lên là hôi lên” để tất cả cùng xô, nên có khi, người ta cũng gọi Hò thuốc cá là “Hò hôi lên”; và do việc sử dụng các loại cây có độc tố để làm thuốc đánh cá, người ta muốn gọi ngắn gọn, nên Hò thuốc cá còn có tên gọi khác là “Hò thuốc” hoặc “Đi thuốc”.

Cũng như phần lớn các điệu Hò lao động ở các vùng, miền trong cả nước, Hò thuốc cá cũng có vế kể (một người) và vế (nhiều người). Lời ca của Hò thuốc cá sử dụng thể thơ lục bát (6/8), và khi hát, người ta có cách phổ thơ vào một điệu nhạc như sau: Cứ sau một câu lục - câu 6 (kể), người ta chen một câu  trước khi vào câu bát - câu 8:

Câu Kể:

 Câu Xô:

 

Trong quá trình hát câu 6, câu 8, người ta có thể thêm những tiếng đệm, hư từ, luyến láy, kết hợp với tuyến giai điệu mềm mại, lượn sóng, hình thành một bài hát trọn vẹn (xem bài Hò thuốc cá 1 và Hò thuốc cá 2 ở phần Phụ lục). Kiểu xử lý trên cũng được sử dụng trong bài Hò thuốc cá 3(xem ở phần Phụ lục).

Khác với cấu trúc của điệu Hò khoan Lệ Thủy (Quảng Bình) là câu kể thường dao động từ 6, 7 đến 8 từ, câu xô có lúc lên tới 9 từ, có lúc chỉ còn 3 từ. Ở bài Hò hụi(Cảnh Dương),câu kể dao động từ 5, 6 từ, câu xô lúc thì 4 từ, lúc thì 9 từ… (xem bài Hò hụi Cảnh Dương ở phần Phụ lục). Trong bài Hò thuốc cá, câu xô vẫn giữ số từ đều đặn (5 từ), nhưng câu kể thì số từ có thay đổi (câu kể đầu chỉ có 9 từ, câu kể sau lên tới 12 từ), tuy vậy, vẫn không làm thay đổi hay xáo trộn tốc độ hay nhịp giã của chày (xin xem bài Hò thuốc cá 123 ở phần Phụ lục).

Bài được hát ở điệu Sol Cung:

với trục chính là:

Tầm cữ của bài trong phạm vi quãng 6:

 

Với trục cố định như trên, trên cơ sở lòng bản, tùy theo lời ca, hoặc tâm trạng của người hát, có thể có thêm những luyến láy, tô điểm… phần nào làm cho cao độ của bài có sự thay đổi (tạo ra những dị bản), nhưng sự thay đổi đó không đáng kể, đây là điều đương nhiên, thường thấy trong các bài hát dân gian của người Việt.

Không giống với một số điệu Hò lao động (ở trên cạn) khác ở khu vực Bình Trị Thiên như Hò phơi xămHò lĩa trâuHò kéo gỗ(Quảng Bình); Hò dô hậyHò đập bắp (Quảng Trị); Hò nệnHò giã gạo (Huế);  Hò thuốc cá có tiết tấu vừa phải, thậm chí còn thong thả nữa. Giai điệu của bài theo hình lượn sóng, mềm mại (như đã đề cập), ít có quãng nhảy xa, tạo cho Hò thuốc cá có sắc thái nhẹ nhàng, dung dị, nhưng không kém phần khỏe khoắn, rộn ràng, sinh động (điều này có thể là do câu xô có nốt Fa, với chức năng là âm tô điểm, và nốt Sol móc đơn liền kề nhau, ẩn chứa sự dứt khoát, vừa như thúc giục, thôi thúc, lại vừa dịu dàng, duyên dáng), làm cho tất cả những ai tham gia vừa có thể giã chày, vừa có thể hò mà không bị ảnh hưởng gì lắm đến sức khỏe cũng như công việc. Người ta có thể hò liên tục, không ngưng nghỉ với nhiều khổ thơ lục bát có những nội dung khác nhau, đến khi nào cá nổi lên, họ mới ngừng công việc đâm giã và hát hò để bắt cá.

   Nhờ giai điệu đơn giản, lời ca mộc mạc, có không khí rộn ràng, dễ vận dụng với khổ thơ lục bát và với bất cứ nội dung nào, nên ngoài việc sử dụng điệu Hò thuốc cá trong việc đánh bắt cá, người Nguồn dần dần sử dụng làn điệu này trong các ngày lễ, ngày hội, Tết, cưới hỏi, đâm bồi, đập bắp, đắp đập thủy lợi [1], đặc biệt là trong lễ hội “Chợ Rằm tháng ba” (tổ chức vào ngày 14, 15 tháng Ba âm lịch hàng năm - lễ hội lớn nhất của huyện Minh Hóa). Lễ hội này có sức thu hút mọi người trong và ngoài huyện đến thưởng thức không khí lễ hội, với các trò chơi dân gian như đi cà khoeo, đánh đu, thể thao (bắn nỏ, ném xoay)…; văn hóa ẩm thực với đặc sản cơm pồi (bồi), ôốc (ốc) đực[2], chè xanh, mật ngọt… và điệu Hò thuốc cá luôn được cất lên trong suốt ngày lễ. Người ta thường có câu:

Chẳng thà đau ốm mà nằm

Không ai mà bỏ chợ Rằm tháng Ba!

(Tiếng Nguồn:)

Chẳng thà tâu ốm mà năm

Khôồng ai má lác chợ Răm thàng Pà!

Hay:

Trông cho đến Rằm tháng Ba

Mà đi cầu Bụt, hát ca thỏa lòng

(Tiếng Nguồn:)

Trôồng chò tếng Răm thàng Pà

Má ti cầu Pụt, hát cà thỏa long

 

Dần dần, điệu Hò thuốc cá không chỉ bó hẹp trong phạm vi của một vài xã lân cận huyện, mà còn lan rộng ra toàn huyện đến các xã như Dù Dèng, Kiên Trinh, Làng Mai (Hồng Hóa, Hóa Phúc, Hóa Thanh ngày nay), Cổ Liêm, Kim Bảng (Tân Hóa, Minh Hóa ngày nay), lên cả Thác Dài, Hát, Quyền (Trung Hóa, Thượng Hóa ngày nay)…

Hiện nay, Hò thuốc cá còn được đưa lên sân khấu ca nhạc hiện đại, đưa vào trong kịch sân khấu như vở kịch “Tiếng chày khuya” của Văn Tu, tham gia Hội diễn văn nghệ quần chúng của tỉnh Quảng Bình (1991); được sử dụng nhiều trong các cuộc thi Hát, Liên hoan dân ca của huyện cũng như của tỉnh. Câu lạc bộ dân ca của người Nguồn được thành lập, với mục đích vừa gìn giữ vốn cổ (trong đó có Hò thuốc cá), vừa truyền dạy các thể loại, bài bản dân ca cho thế hệ sau tiếp tục gìn giữ, dưỡng nuôi; vừa giới thiệu cho công chúng cả nước biết đến vùng đất hoang sơ nhưng lại có vốn dân ca cổ phong phú, đa dạng, và góp phần vào công việc giữ gìn bản sắc chung dân tộc của Việt Nam

Một số nhạc sĩ đã vận dụng nét đặc trưng của Hò thuốc cá để sử dụng trong các sáng tác của mình một cách sáng tạo, đó là các ca khúc Hội Rằm tháng Ba, Âm vang điệu hát quê tôicủa nhạc sĩ Minh Chiểu; Vấn vương Minh Hóa của nhạc sĩ Dương Viết Chiến; Đường về bản mới, Hò thuốc - biến tấu khúc của nhạc sĩ Lê Anh; Minh Hóa tình yêu bao la,Trở về cội nguồn(hòa tấu các nhạc cụ dân tộc) của nhạc sĩ Minh Đấu… Những ca khúc này cũng đã đạt được hiệu quả nhất định.

Ca khúc Em đi đâu? của nhạc sĩ Dương Bích Hà đề cập đến tình yêu đôi lứa ngọt ngào, đằm thắm. Tác giả sử dụng câu xô “Hôi lên là hôi lên” của điệu Hò thuốc cá, và thay đổi tiết tấu, làm cho ca khúc mang tính hiện đại, trẻ trung, nhưng vẫn giữ được nét mềm mại:

Ở câu kết, tác giả lặp lại câu xô ở tầm cữ cao, như là câu hỏi da diết, nồng nàn, ngân vang qua núi đồi trùng điệp:

Ca khúc Đừng về người ơi của Hà Lam là lời mời gọi nhẹ nhàng, tha thiết của cô gái Nguồn, mong mọi người hãy đến với quê hương mộc mạc, thủy chung của mình. Tác giả cũng sử dụng câu xô của Hò thuốc cá vào trong ca khúc:

và sử dụng motif trong vế đầu của câu sau (câu 8) trong bài Hò thuốc cá 3:

để đưa vào trong câu đầu của tác phẩm:

Làn điệu Hò thuốc cá là một nét văn hóa rất riêng của người Nguồn, phản ánh được tâm tư, khát vọng sống của đồng bào nơi đây một cách chân thực, sống động. Những giai điệu đơn sơ, mộc mạc cứ ngân nga, bay qua đồi núi trập trùng, vượt qua mưa nguồn thác lũ, thấm đẫm vào lòng người một sự tươi mới, dung dị, hồn nhiên; là một nét chấm phá trong bức tranh âm nhạc dân gian của vùng đất Quảng Bình đầy nắng gió… giai điệu ấy, câu ca ấy cứ vấn vương, vang vọng mãi với cuộc đời: “Đâm (ơ) Tèng (hơ) thì đâm (sòng) cho sòng. Hôi lên là hôi lên…”.

 

PHẦN PHỤ LỤC

 

HÒ THUỐC CÁ 1

Người hát:ĐINH THỊ PHƯƠNG ĐỐNG

Sưu tầm, ký âm:DƯƠNG BÍCH HÀ

HÒ THUỐC CÁ 2

Người hát:ĐINH THỊ PHƯƠNG ĐỐNG

Sưu tầm, ký âm:DƯƠNG BÍCH HÀ

 

HÒ THUỐC CÁ 3

Người hát:TRẦN KHÁNH NGUYÊN

Sưu tầm, ký âm:DƯƠNG BÍCH HÀ

 

 

 

HÒ KHOAN LỆ THỦY

(trích)

Người hát:Đội văn nghệ LỆ THỦY

Ký âm:DƯƠNG BÍCH HÀ

 

HÒ HỤI

(Cảnh Dương)

Người hát:PHẠM NGỌC THỨC

Sưu tầm, ký âm:DƯƠNG BÍCH HÀ

 

ĐỪNG VỀ NGƯỜI ƠI…

HÀ LAM

 

 

EM ĐI ĐÂU?

DƯƠNG BÍCH HÀ

 

 

TÀI LIỆU THAM KHẢO

  1. Quốc sử quán triều Nguyễn (1882), Đại Nam nhất thống chí, tập II, nguyên tác chữ Hán, bản dịch tiếng Việt của Phạm Trọng Điềm năm 1992, Nxb Thuận Hóa, Huế.
  2. Cuisinier, Jeanne (1946), “Les Mường - Géographie humaine et sociologie”, Paris: Người Mường -địa lý nhân văn và xã hội học, bản dịch của Sở Văn hóa - Thông tin tỉnh Hòa Bình năm 1995, Nxb Lao động, Hà Nội.
  3. Mạc Đường (1964), Các dân tộc miền núi ở Bắc Trung Bộ, Nxb Khoa  học  Khoa học xã hội, Hà Nội.
  4. Nhiều tác giả (1972), Về tính dân tộc trong âm nhạc Việt Nam, Nxb Văn hóa, Hà Nội.
  5. Nguyễn Dương Bình (1975), “Về thành phần dân tộc của người Nguồn”, trong sách Về vấn đề xác định thành phần các dân tộc thiểu số ở miền Bắc Việt Nam, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội.
  6. Phạm Đức Dương (1975), “Về mối quan hệ thân thuộc giữa các ngôn ngữ thuộc nhóm Việt Mường ở miền Tây Quảng Bình”, trong sách Về vấn đề xác định thành phần các dân tộc thiểu số ở miền Bắc Việt Nam, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội.
  7. Nguyễn Văn Tài (1975), Tiếng Nguồn, một phương ngôn của tiếng Việt hay phương ngôn của tiếng Mường. Tạp chí Ngôn ngữ, số 4.
  8. Nguyễn Khắc Tụng (1975), “Góp phần tìm hiểu thành phần tộc người của người Nguồn qua những nhận xét về nhà ở của họ”, trong sách Về vấn đề xác định thành phần các dân tộc thiểu số ở miền Bắc Việt Nam, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội.
  9. Ủy ban Khoa học xã hội Việt Nam (1975), Về vấn đề xác định thành phần các dân tộc thiểu số ở miền Bắc Việt Nam, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội.
  10. Nhiều tác giả (1976), Dân ca Việt Nam, Nxb Văn hóa, Hà Nội.
  11. Viện Dân tộc học (1978), Các dân tộc ít người ở Việt Nam (các tỉnh phía Bắc), Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội.
  12. Nguyễn Văn Tài (1982), Ngữ âm tiếng Mường qua các phương ngôn, Luận án Phó tiến sĩ, Viện Ngôn ngữ học.
  13. Lê Huy - Huy Trân (1984), Nhạc khí dân tộc Việt Nam, Nxb Văn hóa, Hà Nội.
  14. Nguyễn Quốc Lộc chủ biên (1984), Các dân tộc ít người ở Bình Trị Thiên, Nxb Thuận Hóa, Huế.
  15. Nguyễn Văn Tài (1986), “Lại bàn về thành phần các ngôn ngữ trong nhóm Việt - Mường”, trong sách Những vấn đề ngôn ngữ học về các ngôn ngữ phương Đông, Viện Ngôn ngữ học, Hà Nội.
  16. Dương Bích Hà (1990), Dân ca Việt Nam, Giáo trình giảng dạy bậc Đại học tại Trường Đại học Nghệ thuật Huế (nay là Học viện Âm nhạc Huế).   
  17. Dương Bích Hà (1990), Dân ca Việt Nam, Giáo trình giảng dạy bậc Trung cấp tại Trường Đại học Nghệ thuật Huế (nay là Học viện Âm nhạc Huế).
  18. Trần Hùng - Trần Hoàng (1990), Quảng Bình di tích và danh thắng, Sở Văn hóa - Thông tin Quảng Bình.
  19. Trần Chí Dõi (1991), Về các âm đầu tiền thanh hầu hóa (prélottalisée) trong Proto - Việt - Mường, bài viết trong Tạp chí Ngôn ngữ, số 2.
  20. Đinh Thanh Dự, Trần Chí Dõi (1993), Truyện cổ người Nguồn, Nxb Văn hóa dân tộc, Hà Nội.
  21. Nguyễn Thụy Loan (1993), Lược sử âm nhạc Việt Nam, Nxb Âm nhạc, Hà Nội.
  22. Nhiều tác giả (1993), Thang âm điệu thức trong âm nhạc truyền thống một số dân tộc miền Nam Việt Nam, Viện Văn hóa Nghệ thuật tại thành phố Hồ Chí Minh.
  23. Tôn Thất Bình (1994), Dân ca Bình Trị Thiên,Nxb Thuận Hóa, Huế.
  24. Đinh Thanh Dự (1994), Thơ ca dân gian Nguồn, Nxb Văn hóa Dân tộc, Hà Nội.
  25. Đinh Thanh Dự (1994), đồng tác giả,Văn học dân gian Quảng Bình, Nxb Thuận Hóa, Huế.
  26. Phạm Phúc Minh (1994), Tìm hiểu dân ca Việt Nam, Nxb Âm nhạc,  Hà Nội.
  27. Nguyễn Đăng Mạnh (1996), Người Chứt ở Việt Nam, Nxb Thuận Hóa, Huế.
  28. Trần Từ (1996), Người Mường ở Hòa Bình, Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam, Hà Nội.
  29. Nguyễn Viêm (1996), Lịch sử âm nhạc dân gian cổ truyền, Viện Nghiên cứu Âm nhạc, Hà Nội.
  30. Đinh Xuân Vịnh (1996), Sổ tay địa danh Việt Nam, Nxb Lao động, Hà Nội.
  31. Đinh Thanh Dự (1997), Phong tục và lễ hội dân gian Chứt - Nguồn ở Quảng Bình, Nxb Thuận Hóa, Huế.
  32. Đinh Thanh Dự (1997), Thơ ca dân gian Chứt - Nguồn (tập 2), Nxb Thuận Hóa, Huế.
  33. Võ Xuân Trang (1997), Phương ngữ Bình Trị Thiên, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội.
  34. Hoàng Phê chủ biên (1998), Từ điển tiếng Việt, Nxb Đà Nẵng & Trung tâm Từ điển học, Hà Nội và Đà Nẵng.
  35. Minh Phương (đồng tác giả) (1998), Vài nét về dân ca Quảng Bình, Nxb Thuận Hóa, Huế.
  36. Võ Xuân Trang (1998), Người Rục ở Việt Nam, Nxb Văn hóa dân tộc, Hà Nội.
  37. Trần Chí Dõi (1999), Nghiên cứu ngôn ngữ các dân tộc thiểu số Việt Nam, Nxb Đại học Quốc gia, Hà Nội.
  38. Đào Việt Hưng (1999), Tìm hiểu điệu thức dân ca người Việt Bắc Trung Bộ, Viện Âm nhạc - Nxb Âm nhạc, Hà Nội.
  39. Đinh Thanh Dự (2000), Văn học dân gian và văn hóa ẩm thực người Nguồn ở Việt Nam,  Nxb Thuận Hóa, Huế.
  40. Nguyễn Tài Cẩn (2001), Một số chứng tích về ngôn ngữ văn tự và văn hóa, Nxb Đại học Quốc gia, Hà Nội.
  41. Cao Hữu Cường (2001), Tìm hiểu âm nhạc dân gian Lễ hội chợ Rằm tháng 3 Minh Hóa, Quảng Bình. Tiểu luận tốt nghiệp trung cấp tại Trường Đại học Nghệ thuật Huế (nay là Học viện Âm nhạc Huế).
  42. Cao Sơn Hải (2002), Tục ngữ Mường Thanh Hóa, Nxb Văn hóa - Thông tin, Hà Nội.
  43. Nguyễn Văn Khang (2002), chủ biên, Từ điển Mường - Việt, Nxb Văn hóa Dân tộc, Hà Nội.
  44. Lê Thông chủ biên (2002), Địa lý các tỉnh và thành phố Việt Nam, tập III: “Các tỉnh vùng Tây Bắc và vùng Bắc Trung Bộ”, Nxb Giáo dục, Hà Nội.
  45. Nguyễn Quang Ân (2003), Việt Nam: Những thay đổi địa danh và địa giới hành chính 1945 - 2002, Nxb Thông tấn, Hà Nội.
  46. Đinh Thanh Dự (2003), Văn học dân gian Nguồn(tập 7), Nxb Thuận Hóa, Huế.
  47. Đinh Thanh Dự (2004), Bảo tồn và phát huy vốn văn hóa của người Nguồn huyện Minh Hóa, NxbThuận Hóa, Huế.
  48. Ngô Đức Thịnh (2004), “Văn hóa dân gian và du lịch dân tộc miền núi”. Tạp chí Nguồn sáng dân gian, Hội Văn nghệ dân gian Việt Nam, số 2.
  49. Lư Nhất Vũ, Lê Giang (2005), Hát ru Việt Nam, Nxb Trẻ, thành phố Hồ Chí Minh.
  50. Phạm Xuân Bường (2006), Bước đầu tìm hiểu dân ca miền núi huyện Minh Hóa, Quảng Bình. Khóa luận tốt nghiệp Đại học tại Trường Đại học Nghệ thuật Huế (nay là Học viện Âm nhạc Huế).
  51. Dương Bích Hà (2007), Vài nét về Hát Nhà trò Quảng Bình, công trình nghiên cứu cấp cơ sở, Trường Đại học Nghệ thuật Huế (nay là Học viện Âm nhạc Huế).
  52. Trần Quốc Vượng (2008), Cơ sở văn hóa Việt Nam (tái bản lần thứ 10), Nxb Giáo dục, Hà Nội.
  53. Đinh Thanh Dự (2010), Văn hóa dân gian Bru - Vân Kiều, Chứt ở Quảng Bình (tập I), Nxb Thuận Hóa, Huế.
  54. Phan Việt Hùng (2011), Âm nhạc dân gian Quảng Bình, Khóa luận tốt nghiệp Đại học tại Học viện Âm nhạc Huế.
  55. Võ Xuân Trang (đồng tác giả) (2011), Văn hóa dân gian của người Nguồn ở Việt Nam, Nxb Khoa học xã hội.
  56. Trung tâm từ điển học (2011), Từ điển tiếng Việt 2011, Nxb Đà Nẵng - Trung tâm từ điển học, Hà Nội.
  57. Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Quảng Bình (2013), Dân ca Quảng Bình (công trình nghiên cứu).
  58. Dương Bích Hà (2014), Âm nhạc dân gian của người Tà Ôi - Pa Kô ở Thừa Thiên Huế (sách nghiên cứu), Hội Văn nghệ dân gian Việt Nam - Nxb Âm nhạc, Hà Nội.
  59. Một số bài viết, công trình của các nhà nghiên cứu liên quan đến đề tài đăng trên các tạp chí, tập san… của địa phương và trung ương.
  60. Một số tư liệu do tác giả sưu tầm, điền dã tại thực địa.

[1]. Khi đắp đập thủy lợi ở Ba Nương, người ta hay sử dụng điệu Hò này nên có một số nhà nghiên cứu cho rằng điệu Hò thuốccòn được gọi là Hò Ba Nương, người Nguồn không đồng tình với tên gọi này)…

[2]. Trong Rằm tháng Ba, tất cả ốc ở trên khe, suối đều là ốc đực, người dân ở đây giải thích rằng ốc là loài lưỡng tính, vào tháng Ba âm lịch, ốc đực phát triển mạnh nên dịp này chỉ có ốc đực, và cũng chỉ ở huyện Minh Hóa mới có hiện tượng này, còn ở các huyện lân cận không có, đây là điều đặc biệt mà không ai lý giải được!