DMCA.com Protection Status

NGHIỆP VỤ CÔNG TÁC CỦA CÁN BỘ DÂN VẬN  quan tâm

Được đăng bởi: Trần Việt Thao

Cập nhật lúc 10:09 ngày 16/01/2018

NGHIỆP VỤ CÔNG TÁC CỦA CÁN BỘ DÂN VẬN



BAN DÂN VẬN TRUNG ƯƠNG

(Nguồn: http://123.30.190.43/tiengviet/tulieuvankien/tulieuvedang/details).

 

NGHIỆP VỤ CÔNG TÁC

CỦA CÁN BỘ DÂN VẬN

 

  

NHÀ XUẤT BẢN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA – SỰ THẬT

HÀ NỘI - 2014 

LỜI NHÀ XUẤT BẢN 

Ngay từ những năm đầu thực hiện đường lối đổi mới toàn diện đất nước, Đảng Cộng sản Việt Nam đã khẳng định: “Đổi mới và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác quần chúng, giữ vững mối liên hệ mật thiết giữa Đảng và nhân dân là nhân tố quyết định thắng lợi của công cuộc đổi mới và toàn bộ sự nghiệp cách mạng”. Xác định rõ nhiệm vụ chính trị đó, Đảng và Nhà nước ta luôn luôn coi công tác vận động, tổ chức nhân dân tham gia vào các công việc cách mạng là vấn đề chiến lược xuyên suốt mọi thời kỳ cách mạng, nhất là thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa hiện nay. Trong công tác dân vận, cán bộ dân vận là khâu có ý nghĩa quyết định. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã căn dặn: “Cán bộ chăm chỉ làm việc chưa đủ, cần phải biết làm việc cho có phương pháp. Phải cần mà phải cẩn nữa” và “Dân vận khéo thì việc gì cũng thành công”. Những lời căn dặn đó của Người cho thấy rõ trong quá trình đào tạo, bồi dưỡng cán bộ dân vận thì khâu bồi dưỡng phương pháp, nghiệp vụ là một khâu quan trọng và là một nhiệm vụ hàng đầu của công tác dân vận.

Với mục đích cung cấp tài liệu cho cán bộ Đảng, chính quyền, cán bộ đoàn thể và hội viên của các tổ chức nhân dân, giúp họ có thêm những tri thức nghiệp vụ để “dân vận khéo”, năm 2001, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia xuất bản cuốn sách Nghiệp vụ công tác của cán bộ dân vận do Ban Dân vận Trung ương biên soạn. Năm 2007, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia xuất bản cuốn sách lần thứ hai, các tác giả đã sửa chữa và bổ sung thêm mục X - Hướng dẫn tổ chức hội thi cán bộ “Dân vận khéo” ở phần thứ hai. Năm 2014, cuốn sách được chỉnh lý, bổ sung để xuất bản lần thứ ba. Trong lần xuất bản này, cuốn sách được bổ sung thêm mục I - Một số văn bản quan trọng của Đảng về công tác dân vận ở phần phụ lục.

Nội dung cuốn sách tập trung diễn giải, hệ thống hóa những thao tác cơ bản về nghiệp vụ công tác dân vận, như sau:

Một là, cán bộ dân vận phải luôn luôn óc nghĩ, mắt trông, tai nghe, chân đi, miệng nói, tay làm, thể hiện ở tác phong gần dân, trọng dân, lắng nghe và thấu hiểu tâm tư, nguyện vọng của dân, luôn gương mẫu dân chủ, chân tình, thận trọng và làm việc khoa học ở mọi lúc mọi nơi, không ngưng nghỉ, không mệt mỏi, không phô trương, hình thức.

Hai là, cán bộ dân vận không những phải không ngừng học tập và đúc kết nghiệp vụ công tác lên thành nghệ thuật tinh tế trong giao tiếp, ứng xử với nhân dân, mà còn phải ra sức rèn luyện, thường xuyên tích lũy những tri thức xã hội, nắm chắc phương pháp điều tra dư luận, điều tra xã hội học về những vấn đề liên quan tới nhân dân; biết diễn giải rõ ràng những thông tin trung thực trong báo cáo, truyền đạt, hướng dẫn triển khai, kiểm tra thực hiện công tác dân vận; thành thạo những thao tác tổ chức hội nghị; biết cách phối hợp, liên kết, tổ chức nghiên cứu có hiệu quả về công tác dân vận và hướng dẫn triển khai các dự án kinh tế xã hội đến các cơ sở dân vận.

Ba là, cán bộ dân vận phải thành thạo nghiệp vụ về tiếp dân đến khiếu nại, tố cáo; về tổ chức hoà giải những mâu thuẫn phát sinh trong nội bộ nhân dân; về tìm hiểu, nắm bắt thực tế, tiếp xúc, gặp gỡ, trao đổi với người có uy tín ở địa phương, ở cơ sở, v.v…

Bên cạnh việc diễn giải, hệ thống hóa các nghiệp vụ công tác, cuốn sách còn nêu một số tình huống cho người cán bộ dân vận dự lường cách xử lý nếu gặp phải trong quá trình công tác.

Ngoài ra, cuốn sách còn có phần phụ lục gồm một số văn bản quan trọng của Đảng về công tác dân vận; một số hướng dẫn về chức năng, nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, biên chế cán bộ của Ban Dân vận địa phương; định mức xây dựng và phân bổ dự toán kinh phí đối với các đề tài, dự án khoa học và công nghệ có sử dụng ngân sách nhà nước; mẫu văn bản dự án gửi các tổ chức tài trợ; và một số mẩu chuyện xưa và nay về công tác dân vận.

Cuốn sách là tài liệu nghiệp vụ hữu ích cho những người làm công tác dân vận trong quá trình vừa thực thi nhiệm vụ, vừa đúc rút kinh nghiệm, nâng cao nghiệp vụ để đáp ứng ngày càng tốt hơn yêu cầu nhiệm vụ trong thời kỳ thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Tuy nhiên, cuốn sách vẫn chỉ là kết quả bước đầu trong quá trình nghiên cứu về nghiệp vụ công tác dân vận, Nhà xuất bản và các tác giả mong các cơ quan chức năng, các nhà hoạch định chính sách, các nhà khoa học xã hội và nhân văn, các cán bộ dân vận tiếp tục góp ý để trong lần xuất bản sau nội dung cuốn sách được hoàn thiện hơn.

Xin trân trọng giới thiệu cuốn sách với bạn đọc.

 

Tháng 4 năm 2014

NHÀ XUẤT BẢN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA – SỰ THẬT



MỞ ĐẦU

Nghiệp vụ công tác dân vận là việc tác động tới con người, là một thực tế tồn tại khách quan; nó được hình thành từ nhiều nhân tố, tâm lý học, xã hội học, tổ chức hoạt động xã hội và cộng đồng..., trên cơ sở nắm vững quan điểm của chủ nghĩa Mác Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Người cán bộ dân vận cần nắm vững quan điểm của Đảng, khoa học, nghệ thuật của công tác quần chúng để trở thành người cán bộ“dân vận khéo".

Từ khi ra đời, Đảng ta đã có nhiều thành công trong tổ chức lực lượng cách mạng thông qua công tác dân vận. Cán bộ, đảng viên phải bám dân, vận động dân, giác ngộ dân, dựa vào dân mà sống và hoạt động. Đảng không có dân như cá không có nước; dân không có Đảng như không có người dẫn đường chỉ lối. Trong sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta, quan hệ Đảng dân tạo thành sức mạnh để chiến thắng kẻ thù và đói nghèo, lạc hậu. Quan hệ Đảng với dân trở thành máu thịt. Sự nghiệp đổi mới của đất nước đòi hỏi phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc - động lực chủ yếu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Công tác dân vận, Mặt trận và đoàn thể, công tác dân tộc, công tác tôn giáo góp phần rất quan trọng vào thắng lợi của sự nghiệp nặng nề, khó khăn và vinh quang ấy.

Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: "Lực lượng của dân rất to. Việc dân vận rất quan trọng. Dân vận kém thì việc gì cũng kém. Dân vận khéo thì việc gì cũng thành công"1; "Muôn việc thành công hoặc thất bại, đều do cán bộ tốt hoặc kém"2; “Những người phụ trách dân vận cần phải óc nghĩ, mắt trông, tai nghe, chân đi, miệng nói, tay làm"3; “Cán bộ ở môn nào phải học cho thạo công việc ở trong môn ấy”4.

Đội ngũ cán bộ dân vận là lực lượng trực tiếp góp phần xây dựng và củng cố mối quan hệ Đảng dân. Càng đẩy nhanh nhịp độ tăng trưởng và huy động sức dân cho phát triển của đất nước thì nhiều vấn đề bức xúc của dân cũng được đặt ra. Do đó, công tác dân vận luôn luôn là bộ phận gắn bó của đời sống xã hội và ngày càng đòi hỏi được thực hiện sâu sắc hơn, phong phú hơn, thiết thực hơn, khoa học hơn.

Cuốn sách Nghiệp vụ công tác của cán bộ dân vận là những tổng kết ban đầu, nhằm giúp cho cán bộ dân vận về khả năng tiếp cận và thực hành, đỡ bỡ ngỡ khi bắt đầu tiến hành công việc, đồng thời nhanh chóng đi sâu, tích luỹ và nâng cao năng lực công tác của mình, thiết thực góp phần đổi mới và tăng cường công tác dân vận của hệ thống chính trị nước ta trong thời kỳ mới.

__________________

1, 2, 3, 4. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb.Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2009, t.5, tr.700, 240, 699, 270.





PHẦN THỨ NHẤT

NGƯỜI CÁN BỘ DÂN VẬN

 I

TÂM LÝ NGƯỜI CÁN BỘ DÂN VẬN

Cán bộ dân vận là cán bộ của Đảng, hoạt động trong lĩnh vực chính trị xã hội nhằm vận động quần chúng trong mọi phong trào cách mạng. Cán bộ dân vận bao gồm các cán bộ tham mưu cho cấp ủy về công tác dân vận; cán bộ các cấp của Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể và hội quần chúng; cán bộ làm công tác dân tộc, công tác tôn giáo; cán bộ lực lượng vũ trang nhân dân làm công tác vận động quần chúng. Tùy môi trường làm việc (nông thôn, thành phố, cơ quan, doanh nghiệp, đường phố...); tùy đối tượng vận động (công nhân, nông dân, viên chức, lực lượng vũ trang nhân dân, dân tộc, tôn giáo) mà người cán bộ dân vận ở lĩnh vực cụ thể còn cần có nét riêng về tâm lý, năng lực, phẩm chất. Dưới đây là một số nét chung nói về đặc điểm tâm lý của người cán bộ dân vận:

1. Về nhận thức, ý chí

Người cán bộ dân vận gắn với môi trường công việc mà hình thành các yếu tố về nhận thức, ý chí. Cụ thể là:

- Đúng mực, vững vàng, nhìn kỹ, nghĩ sâu, dám nói thật, bảo vệ cái đúng;

- Vững tin và giữ niềm tin với sự nghiệp cách mạng, bằng việc làm truyền lại niềm tin ấy cho đoàn viên, hội viên và quần chúng;

- Độc lập suy nghĩ, mạnh dạn, sáng tạo trong công việc.

2. Về tình cảm, trách nhiệm

Người cán bộ dân vận gắn bó với công việc, say mê nghiên cứu, tìm tòi, đề xuất những vấn đề liên quan đến quần chúng, vì lợi ích quần chúng, cho nên:

- Dám hy sinh lợi ích cá nhân và tự xác định gắn bó với công tác dân vận;

- Băn khoăn, lo nghĩ, trăn trở trước những khó khăn, tồn tại, bức xúc trong xã hội như: đói nghèo, bất công, tiêu cực, tham nhũng, mất dân chủ, v.v..

- Sâu sát để lắng nghe được những điều bức xúc của dân, đề xuất cách tháo gỡ những bức xúc ấy, đưa lại lợi ích cho quần chúng nhân dân.

3. Về nhân cách và ứng xử của cán bộ dân vận

Người cán bộ dân vận được quần chúng nhìn nhận là tấm gương cụ thể; quần chúng giám sát và nhắc nhở để cán bộ không ngừng phấn đấu, hoàn thiện nhân cách, đồng thời hình thành thói quen và cách ứng xử phù hợp với công việc. Cụ thể là:

- Học để nâng cao kiến thức, cập nhật thông tin, tiếp thu cái mới;

- Nghe các ý kiến khác nhau, thông tin nhiều chiều; nhận xét từ nhiều cương vị khác nhau, lắng nghe người phản biện;

- Bàn nhằm gợi mở cho người khác đề xuất, ủng hộ sáng kiến và đề xuất hay;

- Động viên và cổ vũ người tích cực, mô hình tốt, phổ biến kinh nghiệm hay;

- Công tâm khi phải nhìn nhận, đánh giá về thành tích của người khác, thiếu sót của mình; công bằng khi xem xét đến quyền lợi trong tập thể;

- Sửa: dám nhìn thẳng vào sự thật để tìm những thiếu sót, hạn chế, quyết tâm sửa chữa để tiến lên và trưởng thành.

Trong đội ngũ cán bộ dân vận, người càng giữ cương vị chủ chốt thì càng có vai trò lớn. Những sai sót của người cán bộ dân vận dễ gây mất lòng tin của quần chúng, mất đoàn kết trong tập thể. Tài năng, đức độ, lương tâm, uy tín của cán bộ dân vận bắt nguồn từ tinh thần trách nhiệm và kết quả của công việc. Cơ quan, tổ chức, đoàn viên, hội viên luôn công bằng trong nhìn nhận, đánh giá, lựa chọn và đặt niềm tin vào người cán bộ dân vận nào gắn bó và chăm lo tới lợi ích của dân, của tập thể, cộng đồng.

II

TÁC PHONG CÔNG TÁC CỦA NGƯỜI CÁN BỘ DÂN VẬN

Tác phong công tác của người cán bộ dân vận của Đảng là cách làm việc, hoạt động, liên hệ với nhân dân để thực hiện "dân vận khéo" theo chức năng được phân công.

Trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước hiện nay, với nhiều thời cơ và thách thức, công tác dân vận đứng trước nhiều vấn đề phức tạp và khó khăn mới. Người cán bộ dân vận càng phải rèn luyện để có tác phong công tác phù hợp, dễ đi vào lòng người, tạo được ảnh hưởng tích cực. Dưới đây là một số nét về tác phong công tác của người cán bộ dân vận:

1. Gần dân, lắng nghe dân

- Gặp gỡ, tiếp xúc, lắng nghe người dân (đoàn viên, hội viên) nói, hiểu rõ những khúc mắc và nỗi băn khoăn, lo lắng cũng như nguyện vọng của họ;

- Trò chuyện, trả lời các câu hỏi về cuộc sống đời thường của dân, của đoàn viên, hội viên;

- Đến với những người đang gặp khó khăn, những người có vướng mắc... để cảm thông, chia sẻ, góp phần tháo gỡ là để hiểu rõ mong muốn của họ.

Trong công tác dân vận cần phải tránh tình trạng: "…chỉ mấy cán bộ đóng cửa lại mà làm, ngồi ỳ trong phòng giấy mà viết, cứ tưởng những cái mình làm là đúng, mình viết là hay. Nào có biết, cách làm chủ quan đó, kết quả là "đem râu ông nọ, chắp cằm bà kia", không ăn thua, không thấm thía, không ích lợi gì cả”1.

2. Gương mẫu, dân chủ, chân tình

- Tôn trọng và chấp hành nghiêm quyết định của Đảng, Nhà nước và của tập thể; đường lối chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và quyết định của tập thể;

- Nhận việc khó về mình, nhường nhịn quyền lợi với người dưới quyền mình và người có khó khăn hơn mình;

- Nói gọn, rõ, dễ hiểu; nói thẳng, nói thật về công việc;

- Hỏi ý kiến, nghe góp ý của cán bộ, đảng viên, hội viên và nhân dân về các chủ trương, công việc;

- Tiếp thu và ủng hộ điều hay, lẽ phải, cái mới, cái sáng tạo;

- Tình cảm, trách nhiệm, tin tưởng và quan hệ tốt với đồng chí, đồng nghiệp.

Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ:

Dân chủ, sáng kiến, hăng hái, ba điều đó rất quan hệ với nhau. Có dân chủ mới làm cho cán bộ và quần chúng đề ra sáng kiến. Những sáng kiến đó được khen ngợi, thì những người đó càng thêm hăng hái, và người khác cũng học theo”2.

3. Thận trọng, khoa học

- Công việc luôn đặt rõ yêu cầu, có kế hoạch, có biện pháp cụ thể để thực hiện đạt kết quả;

- Điều tra, nghiên cứu, nắm chắc tình hình, xác định cách làm phù hợp;

- Kiểm tra, đôn đốc, uốn nắn, phổ biến kinh nghiệm hay để nơi nơi thực hiện, người người quan tâm và tham gia;

- Phân tích, sơ kết, tổng kết công tác để thấy rõ cái hay, cái dở, có đúng, cái sai. Giúp nhau khắc phục thiếu sót, yếu kém, để nâng cao trình độ qua công việc của mình;

- Nhìn nhận, đánh giá cho đúng thực chất; không chạy theo thành tích, không bi quan trước thiếu sót, khuyết điểm.

Chủ tịch Hồ Chí Minh căn dặn:

"…gom góp mọi ý kiến rời rạc, lẻ tẻ của quần chúng, rồi phân tích nó, nghiên cứu nó, sắp đặt nó thành những ý kiến có hệ thống... Gom góp ý kiến và kinh nghiệm trong sự chỉ đạo từng bộ phận, đem làm ý kiến chung. Rồi lại đem ý kiến chung đó để thí nghiệm trong các bộ phận. Rồi lại đem kinh nghiệm chung và mới, đúc thành chỉ thị mới. Cứ như thế mãi.

Biết làm như vậy mới thật là biết lãnh đạo"3.

4. Việc dân vận cần phải tiến hành ở mọi lúc, mọi nơi

- Cán bộ dân vận phải tổ chức các hoạt động của quần chúng và phần lớn các hoạt động này đều tổ chức ở ngoài giờ hành chính;

- Đi tới đâu phải quan sát và suy nghĩ đến đó;

- Khi gặp khó khăn, cần tìm và nghe lời khuyên của người có kinh nghiệm;

- Khi soạn thảo chủ trương, khi giải trình hoặc thuyết phục một nội dung cần phải dựa vào nguồn tư liệu sách, báo;

- Khi chưa hiểu rõ vấn đề chuyên môn phải dựa vào tư vấn của chuyên gia có đủ độ tin cậy;

- Khi quyết định một chủ trương cần phải được chuẩn bị và đưa ra tập thể bàn bạc. Muốn làm tốt công tác dân vận, người cán bộ cần đặt ra những câu hỏi: "vì sao?", "làm thế nào?", "làm lúc nào?", "ai thực hiện?”, “bao giờ xong?" và “hiệu quả ra sao?", v.v..

Người cán bộ dân vận luôn suy nghĩ, trăn trở trước những vướng mắc, khó khăn và các câu hỏi của quần chúng. Theo kinh nghiệm của người xưa: không có nghệ thuật nào hơn lòng yêu quý con người. Nghị quyết Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương khóa IX đã nêu: "…xây dựng và thực hành phong cách "trọng dân, gần dân, hiểu dân, học dân, có trách nhiệm với dân", “nghe dân nói, nói dân hiểu, làm dân tin"”4Do vậy, công tác của người cán bộ dân vận vừa khó khăn, mới mẻ, vừa có ý nghĩa và hàm chứa tình cảm sâu sắc.

5. Những tố chất trong tác phong công tác và trường thành của cán bộ dân vận

Hoạt động và công tác trong môi trường tiếp xúc nhiều cán bộ và quần chúng tích cực, luôn được thử thách trước đòi hỏi ngày càng cao của tổ chức, đoàn viên, hội viên sẽ làm cho những cán bộ dân vận nhanh chóng trưởng thành. Điều đó được thể hiện ở những nét đặc trưng sau:

- Suy nghĩ lành mạnh;

- Thạo việc và nhạy cảm;

- Bản lĩnh và tự tin;

- Luôn tích lũy kinh nghiệm và có ý chí vươn lên;

- Tác phong giản dị, hoà mình với quần chúng.  

III

VAI TRÒ CỦA NGƯƠI CÁN BỘ DÂN VẬN

Đến với công tác dân vận, có người được đoàn viên, hội viên, đoàn thể bầu vào các Ban Chấp hành và rồi gắn bó cả cuộc đời, có người do cấp ủy, đoàn thể cử ra làm công việc liên quan tới quần chúng, có người có nghề chuyên môn tự nguyện hoạt động trong các cơ quan làm công tác dân vận. Dù bằng con đường nào, khi đã trở thành cán bộ dân vận, họ đều có chung niềm vui, nỗi buồn, sẽ dần hình thành và thể hiện vai trò, trách nhiệm và vinh dự của người cán bộ dân vận. Cụ thể là:

1. Người tiếp nhận

Cán bộ dân vận là người tiếp nhận nhiều nguồn thông tin, vì vậy họ cần phải:

- Biết lắng nghe những ý kiến, tâm tư, nguyện vọng của mọi người;

- Biết gợi mở những điều sâu kín, hiểu được những điều mà người dân chưa nói ra;

- Chia sẻ, giữ lòng tin với những người phản ánh, phê bình, đề xuất;

- Chọn lọc để vận dụng những kinh nghiệm hay từ thực tiễn vào từng hoàn cảnh cụ thể công việc của mình;

- Ghi nhận ở mọi lúc, mọi nơi những điều cần cho công tác dân vận.

2. Người hướng dẫn

Cán bộ dân vận luôn hoạt động để đem lại sự thay đổi và tiến bộ, họ cần phải:

- Cổ vũ cho việc áp dụng cái mới, mô hình hay;

- Biết cách làm cho mọi người tin rằng, dù công việc có khó khăn mấy cũng có thể làm được;

- Khi cần, dám nhận việc khó để mình làm trước;

- Luôn có sẵn các tư liệu, tài liệu, thông tin về sự vươn lên và thành công của những người tốt, việc tốt để mình làm theo và hướng dẫn người khác làm theo.

3. Người bạn tốt

Coi mình là thành viên của một tập thể, người cán bộ dân vận luôn sẵn sàng là người bạn tốt của mọi người:

- Sẵn sàng tiếp và giúp đỡ mọi người khi họ cần mình;

- Sống giản dị, không câu nệ vào nghi thức, không làm cho mọi người xa lánh;

- Việc giúp được mới hứa, hứa rồi phải thực hiện cho kỳ được;

- Cảm thông và chia sẻ niềm vui, nỗi buồn với bè bạn, anh em, đồng nghiệp.

4. Người đối thoại

Với trách nhiệm của mình, người cán bộ dân vận phải là người:

- Biết trình bày trước tập thể, bảo vệ ý kiến đúng của mình với cấp trên;

- Dám phản ánh, nêu vấn đề mà mọi người cần mình nói;

- Biết đối đáp và thuyết phục khi mình là đại diện của tập thể;

- Dám nhận khuyết điểm để sửa chữa, biết chờ đợi và suy ngẫm trước những ý kiến khác với mình.

5. Người biết yêu thương

Người cán bộ dân vận biết yêu thương con người, yêu công việc theo ý nghĩa của một con người chân chính:

- Là tin tưởng, độ lượng;

- Là cao thượng, hết mình;

- Là chân thành, chung thủy;

- Là giúp nhau, cùng chia sẻ;

- Là kiên định, chấp nhận khó khăn;

- Là trọn vẹn, trung thực.

Trong Bài ca mùa xuân 1961, nhà thơ Tố Hữu đã truyền cho ta sức mạnh và niềm tin:

Có gì đẹp trên đời hơn thế

Người yêu người, sống để yêu nhau

Đảng cho ta trái tim giàu

Thẳng lưng mà bước, ngẩng đầu mà bay!

Tùy theo cương vị và trách nhiệm của mình, người cán bộ dân vận phải luôn học hỏi, suy ngẫm, vượt lên trên cá nhân mình, dồn tâm lực cho công việc, đưa lại lợi ích cho cộng đồng, cho tập thể thì mới để lại được dấu ấn, ảnh hưởng tốt đẹp của mình và của tổ chức trong lòng mọi người. Cán bộ nào, phong trào ấy.

Cuộc sống luôn chứng minh rằng, con người sống có ý nghĩa khi biết giúp ích cho đồng loại; tôn trọng người khác sẽ được đáp lại bằng lòng trân trọng. Không có nghệ thuật nào hơn "cái tâm”, sống có tình người.

_________________

1, 2. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.5, tr.247, 244.

3. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.5, tr.290-291.

4. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hình Trung ương khóa IX, Nxb.Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2003, tr.22.

PHẦN THỨ HAI

MỘT SỐ NGHIỆP VỤ CÔNG TÁC CỦA CÁN BỘ DÂN VẬN

I

GẶP GỠ, TIẾP XÚC, LÀM QUEN

Công tác dân vận là công tác giao tiếp với con người. Gặp gỡ, tiếp xúc, chào hỏi, làm quen với quần chúng, với đồng nghiệp, với lãnh đạo và cấp trên là việc thường xuyên của cán bộ dân vận. Đây là việc mở đầu của công tác dân vận, phản ánh khả năng tiếp cận với quần chúng và công việc của người cán bộ.

1. Những cơ hội

Yêu cầu cán bộ dân vận phải gặp gỡ, tiếp xúc với mọi người. Ví dụ:

- Đi thăm hỏi, chúc mừng, tặng hoa, tặng quà…;

- Dự mít tinh, lễ hội;

- Đi cơ sở, tiếp dân;

- Họp hành, nói chuyện, trao đổi;

- Viết thư, gọi điện hỏi thăm về công việc;

v.v..

2. Đặc điểm của những cuộc gặp gỡ, tiếp xúc

- Cán bộ dân vận đến, được mọi người lắng nghe, quan sát mọi cử chỉ và nhận xét về cán bộ ấy.

- Tiếng nói, thái độ của cán bộ dân vận là biểu hiện quan điểm của một cơ quan hay tổ chức, định hướng cho mọi người suy nghĩ.

- Tác động và ảnh hưởng của cuộc giao tiếp dễ được bình luận, nhận xét và lan toả ra; dễ được nhắc đi, nhắc lại.

3. Một số động tác cụ thể trong gặp gỡ, tiếp xúc

a) Chào

Trong nhiều trường hợp phải có cách chào khác nhau cho phù hợp với đối tượng tiếp xúc. Ví dụ:

- Chắp tay chào;

- Đúng cúi đầu chào;

- Giơ tay chào;

- Dùng lời chào. Ví dụ:

Chào các cụ, các cô bác!

Chào các anh, các chị, các bạn!

Chào các em!

b) Bắt tay

Đây là cách tỏ thái độ thân thiết, bình đẳng trong khi giao tiếp. Do vậy, có thể có những trường hợp vui vẻ chủ động bắt tay, khi mình là dại diện của tổ chức đến với cán bộ cơ sở, đoàn viên, hội viên. Ví dụ:

- Bắt tay bạn bè, đồng nghiệp;

- Bắt tay cán bộ, đoàn viên, hội viên;

- Bắt tay đón và tiễn khách từ đơn vị khác tới;

v.v..

Có trường hợp không nhất thiết phải bắt tay mà chỉ cần dùng lời chào trân trọng. Ví dụ:

- Với người khác giới;

- Với nhà tu hành;

- Với người rất cao tuổi, bậc lão thành.

Với nhà lãnh đạo cấp cao, không (nhất thiết mình) chủ động bắt tay, chỉ bắt tay khi lãnh đạo chủ động, đồng thời (nhưng) phải bày tỏ thái độ nghiêm túc, kính trọng.

c) Động tác làm quen ban đầu

Lời chào, lời thăm hỏi ban đầu của các cuộc tiếp xúc dễ phá đi không khí e ngại, trầm lắng, lạnh nhạt. Thái độ cởi mở, niềm nở, chân tình thường để lại dấu ấn tốt đẹp và tạo được không khí thân thiện, gây được thiện cảm, thuận lợi cho công việc tiếp theo.

Rất cần dành sự suy nghĩ, chuẩn bị cho "phút làm quen ban đầu” khi mở đầu cuộc gặp gỡ, tiếp xúc. Dự tính cho việc gặp gỡ, chào hỏi nếu gặp các tình huống như:

- Gặp người lạ, lần đầu tiếp xúc;

- Thăm một người có uy tín lớn;

- Đến thăm từng gia đình;

- Vào phòng họp đã đông người chờ;

- Gặp đám đông người tới khiếu kiện;

- Gặp người dân tộc hoặc người nước ngoài mà mình không biết tiếng;

v.v..

Gặp gỡ, tiếp xúc, chào hỏi, làm quen là hành vi giao tiếp diễn ra thường xuyên với muôn hình, muôn vẻ ở người cán bộ dân vận. Nó phải được ứng xử phù hợp tùy lúc, tùy nơi, tùy đối tượng gặp gỡ. Điều quan trọng là bằng mắt, bằng tai, bằng cảm nhận, người cán bộ dân vận có tạo được sự cảm thông, đồng điệu và cùng có "tần số” hoà nhập hay không. Dân gian có câu: “Trăm quan mua lấy nụ cười", "Bạc vàng dễ kiếm, lời tốt khó tìm".

4. Một số điều cần lưu ý

Khi gặp gỡ, tiếp xúc, chào hỏi, làm quen, người cán bộ dân vận cần lưu ý:

- Chân tình, chủ động, tự tin khi chào hỏi;

- Lời chào đi trước; lời chào cao hơn mâm cỗ;

- Không suồng sã, chớ lạnh nhạt;

- Bình tĩnh, kiềm chế khi nghe những lời gay gắt;

- Trong lời nói gay gắt, khó nghe nhiều khi lại tìm thấy sự thẳng thắn, chân thành;

(-Trong lời ngọt ngào dễ ngấm cay đắng;)

- Mời nước, thăm hỏi, làm dịu nỗi bực dọc;

- Nghe cho thủng, hiểu cho tường;

- Một điều nhịn, chín điều lành;

- Bắt đầu công việc khi có sự cảm thông, vui vẻ.

II

ĐIỀU TRA DƯ LUẬN, ĐIỀU TRA XÃ HỘI HỌC NHỮNG VẤN ĐỀ LIÊN QUAN TỚI QUẦN CHÚNG

Dư luận quần chúng là những ý kiến, lời nhận xét bàn bạc của đông người trước một chủ trương, một sự kiện, hoặc một vấn đề nào đó nảy sinh trong thực tiễn.

Dư luận xã hội phản ánh tâm trạng, thái độ của các nhóm xã hội, các cộng đồng dân cư. Nó giúp cho một cơ quan, một cấp lãnh đạo nào đó nhìn nhận, đánh giá công việc và con người đầy đủ, toàn diện hơn. Nó cũng giúp cho người cán bộ dân vận dự báo về chủ trương hoặc công việc tiến hành diễn biến như thế nào, khó khăn hay thuận lợi, từ đó mà điều chỉnh chủ trương cho sát hợp. Dân gian thường nói: “tiếng lành đồn xa, tiếng dữ đồn xa”; “hữu xạ tự nhiên hương"; ý dân là ý trời”;…

Bác Hồ từng dạy: “Dân biết nhiều việc mà các cấp lãnh đạo không biết. Việc gì cũng bàn với dân; dân sẽ có ý kiến hay"1. Người còn dạy: “Việc gì lợi cho dân, ta phải hết sức làm. Việc gì hại đến dân, ta phải hết sức tránh"2.

1. Điều tra dư luận quần chúng

Điều tra dư luận quần chúng là một biện pháp khoa học, giúp người cán bộ dân vận có thêm căn cứ để quyết định chủ trương công tác.

a) Trường hợp cần điều từ dư luận quần chúng

Trong công tác dân vận có những trường hợp cần tiến hành điều tra dư luận quần chúng, nhất là ở cơ sở. Chẳng hạn:

- Một chủ trương mới ban hành. Ví dụ: giao đất rừng; chuyển đổi cây trồng; cho vay vốn làm kinh tế hộ; thu hồi đất làm công trình công cộng;…

- Có vấn đề phức tạp nảy sinh ở địa phương cơ sở. Ví dụ: nảy sinh tranh chấp đất đai giữa hai thôn; giải tỏa mặt bằng làm công trình công cộng mà người dân không đồng tình; chính quyền xử lý vụ việc nào đó gây phản ứng từ nhân dân;...

- Việc sắp xếp bố trí cán bộ cấp ủy, ủy ban nhân dân, Ban chấp hành đoàn thể vào dịp tiến hành đại hội các cấp. Có cán bộ mà dư luận nhân dân không đồng tình hoặc có người có đơn thư khiếu nại tố cáo, quần chúng bàn tán, nghi ngại hoặc không đồng tình...

b) Một số phương pháp tiến hành điều tra dư luận quần chúng

* Bàn chủ trương, phân công thực hiện

- Điều tra dư luận quần chúng là việc làm cần hết sức thận trọng, nếu làm không cẩn thận sẽ dễ gây ra hiểu lầm và dẫn đến những quyết định sai và gây tác hại. Do vậy, phải có chủ trương của lãnh đạo. Ban Dân vận hoặc đoàn thể muốn điều tra dư luận quần chúng phải báo cáo và được sự đồng ý của cấp ủy hoặc đồng chí có trách nhiệm của cấp ủy.

- Khi phân công các đồng chí tiến hành việc điều tra dư luận quần chúng, cần lưu ý là: Các đồng chí đó phải nắm vững cách tiến hành; thận trọng, chắc chắn; có ý thức kỷ luật, không phát ngôn tùy tiện.

- Chọn đúng thời điểm cần thiết, làm gọn, không kéo dài.

* Tiến hành điều tra dư luận quần chúng

Một đồng chí hoặc một vài đồng chí phân công nhau về địa bàn có đối tượng cần thăm dò, điều tra, gặp gỡ, trao đổi với một số người có vị trí khác nhau ở địa bàn. Ví dụ:

- Người cao tuổi, người có uy tín;

- Người trong cuộc, người thân cận;

- Người đại diện tổ chức, đoàn thể;

- Nhân dân sống ở địa bàn.

Hỏi và gợi ý khéo léo để có thể nghe được các ý kiến khác nhau từ nhiều người có cương vị khác nhau. Ví dụ nêu câu hỏi:

- Hình như bà con đang bàn tán về (việc nào đó)?

- Theo ông (bà) sự thực là thế nào?

- Những ai đã nêu ra những ý kiến gì?

- Việc này có liên quan tới ai, ai sẽ giải quyết?

- Nên góp ý thế nào để giải quyết tốt, để mọi người đồng tình?

- Phản ứng hoặc diễn biến gì xấu có thể xảy ra?

v.v..

Người điều tra chú ý lắng nghe, không nên giải thích, tranh luận với người được hỏi. Các ý kiến nghe được cần ghi nhớ để về chọn lọc, ghi chép lại.

* Tổng hợp, phản ánh dư luận quần chúng

Dù tổng hợp, phản ánh bằng văn bản hay bằng miệng về dư luận quần chúng, thì điều cốt lõi là để phản ánh rõ các điểm sau:

- Hỏi những ai, số lượng người được hỏi?

- Loại ý kiến đồng tình, ủng hộ, tạo thuận lợi?

- Loại ý kiến không đồng tình, đặt ra nhiều vướng mắc?

- Có đề xuất nào hay cần tham khảo, điều chỉnh chỉ đạo?

Qua đó nhận xét chung về cuộc điều tra dư luận quần chúng và báo cáo cấp ủy. Báo cáo về dư luận quần chúng cần trung thực. Sử dụng thông tin là do cấp ủy. Người điều tra dư luận quần chúng không tùy tiện nêu công khai ý kiến qua điều tra khi chưa được phép. Dùng dư luận quần chúng để làm mất uy tín cá nhân, gây mất đoàn kết và gây phức tạp trong quan hệ công tác của tổ chức là vi phạm kỷ luật của Đảng, của đoàn thể. Giữ nguyên tắc tổ chức, giữ bí mật thông tin cuộc điều tra dư luận quần chúng là yêu cầu bắt buộc đối với người cán bộ dân vận đi điều tra dư luận quần chúng.

2. Điều tra xã hội học những vấn đề liên quan tới quần chúng

Điều tra xã hội học là cách thu thập thông tin từ quần chúng thông qua các phiếu hỏi, bảng hỏi (ankét) giúp cho việc nhìn nhận, đánh giá về những vấn đề, sự kiện, diễn biến của đời sống kinh tế, văn hóa, xã hội; đồng thời là một phương pháp thường được dùng trong công tác nghiên cứu.

Trong dư luận và phản ánh của quần chúng có cái đúng, cái sai; do cách tiến hành điều tra xã hội học mà trong các thông tin thu thập được có cái thật, cái giả. Bởi vậy, cán bộ dân vận tiến hành điều tra phải nắm vững phương pháp của xã hội học để giảm độ sai lệch, tăng độ tin cậy cho các thông tin cần thu thập; giúp cho những đánh giá và kết luận phản ánh sát đúng với thực tế cuộc sống.

Một cuộc điều tra xã hội học trong nghiên cứu về công tác quần chúng được tiến hành theo ba bước sau:

Bước một, chuẩn bị điều tra

Căn cứ vào yêu cầu và nội dung khảo sát, nghiên cứu, khi chuẩn bị cuộc điều tra xã hội học phải chú ý các việc sau:

Đối tượng điều tra

Muốn thu thập thông tin từ nhóm xã hội nào? Ví dụ:

- Cán bộ, đoàn viên, hội viên;

-  Người cao tuổi, người có uy tín;

- Công nhân, nông dân, trí thức, học sinh;

- Người dân bất kỳ.

* Chọn mẫu điều tra

Do khả năng thời gian, lực lượng, kinh phí... có hạn, khi nghiên cứu phải chọn mẫu điều tra. Nếu mẫu chọn sát hợp thì cuộc điều tra sẽ cho thông tin tốt, có độ tin cậy cao và tiến hành nhanh, gọn, tiết kiệm. Người điều tra phải tìm hiểu rõ điểm điều tra mẫu:

- Thuộc vùng nào (thành phố, nông thôn, miền núi, vùng khó khăn…).

- Địa bàn động hay hẹp (một số thôn trong một xã hay điều tra một số thôn ở các huyện khác nhau).

* Số lượng phiếu hỏi, bằng hỏi

Tùy theo khả năng thời gian, kinh phí cho phép. Càng tăng số lượng phiếu hỏi, bảng hỏi thì thông tin càng có độ chính xác và có ý nghĩa hơn.

Thiết kế cụ thể bảng hỏi

Chất lượng và ý nghĩa của thông tin tùy thuộc phần lớn vào việc lựa chọn để thiết kế bảng hỏi, sao cho khi đọc không hiểu sai lệch, dễ trả lời, dễ tổng hợp. Người có ý thức thận trọng khi thiết kế bảng hỏi nên soạn thảo, tranh thủ ý kiến góp ý hoàn chỉnh, hỏi ý kiến tư vấn của chuyên gia xã hội học hoặc người có kinh nghiệm trong nghiên cứu để có một bảng hỏi tốt.

Có ba loại câu hỏi

- Câu hỏi đóng là câu hỏi được đề ra các phương án trả lời mà người trả lời đánh dấu theo phương án cho sẵn để thể hiện ý kiến của mình. Ví dụ: Theo ông (bà) chi hội hoạt động được xếp loại nào?

Khá                             □

Trung bình                  □

Kém                            □

Không xếp loại            □

- Câu hỏi mở là câu hỏi dành cho người trả lời ghi ý kiến của mình. Ví dụ: Ban chỉ đạo phòng chống tệ nạn xã hội ở xã:

Có mấy thành viên:

Tên của Trưởng ban:

Thời gian thành lập: ngày... tháng... năm...

Kỳ họp gần đây nhất: ngày... tháng... năm...

Nội dung bàn:. ..................

Câu hỏi vừa đóng vừa mở là câu hỏi có phần trả lời theo đáp án, có phần người trả lời tự ghi ý kiến của mình. Ví dụ; Theo ông (bà) vốn vay qua đoàn thể ở xã:

Thuận lợi dễ thực hiện:

Bình thường như vay ngân hàng:

Phiền hà thêm thủ tục:  

Nhận xét khác......................

Mỗi câu hỏi đều có ưu, nhược điểm riêng: Câu hỏi đóng dễ tổng hợp thông tin, nhưng thông tin thiếu phong phú, người trả lời bị gò bó. Câu hỏi mở giúp người trả lời dễ dàng, thỏa mái hơn, nhưng tổng hợp thông tin sẽ khó khăn, tốn nhiều thời gian hơn. Do đó, trong điều tra xã hội học cần kết hợp các loại câu hỏi đóng và câu hỏi mở để điều chỉnh, khắc phục hạn chế trên.

* Phiếu phỏng vấn sâu

Thường dành cho đối tượng hẹp (cán bộ chỉ đạo, chuyên gia, người có uy tín...), giúp cho người nghiên cứu có sự phân tích sâu sắc các khía cạnh khác nhau của vấn đề nghiên cứu.

Phiếu phỏng vấn sâu là một đề cương có các câu hỏi để người phỏng vấn dựa vào đó hỏi và ghi tóm tắt ý kiến người được phỏng vấn. Khi xử lý chủ yếu tổng hợp theo cách truyền thống, không đưa vào máy như với câu hỏi đóng.

Bước hai, tiến hành điều tra

Đó là việc cử người trực tiếp tới địa bàn đã chọn để thu thập thông tin theo bảng hỏi, phiếu phỏng vấn sâu. Một số điểm cần lưu ý:

- Tập huấn các điều tra viên, giúp họ hiểu sâu, hiểu đúng nội dung câu hỏi, biết cách gợi ý người được hỏi để giúp họ có thể trả lời theo bảng hỏi.

- Báo cáo kế hoạch với lãnh đạo địa phương, cơ sở, để tranh thủ được sự đồng tình khi triển khai ở điểm điều tra. Cơ cấu, số lượng bảng hỏi thích hợp và phản ánh được yêu cầu tổng thể của việc nghiên cứu; không gây hiểu lầm ở cơ sở.

- Tiến hành điều tra ở cơ sở, cần tính tới các yếu tố hợp lý sau:

Có thể gặp trao đổi từng nhóm hoặc từng người.

Phù hợp với thời gian, lao động và sinh hoạt ở địa phương.

Bám sát giúp đỡ, giải đáp cho người được hỏi hiểu đúng để có thể trả lời nhanh gọn, chính xác.

Nên tiến hành điều tra thử ở một điểm, rút kinh nghiệm cho các điều tra viên để khi điều tra diện rộng được thống nhất, thuận lợi, biết cách xử lý các vướng mắc khi điều tra.

Bước ba, xử lý và phân tích thông tin cuộc điều tra

Đây là việc tổng hợp các thông tin cụ thể ở các bảng hỏi, phiếu phỏng vấn sâu, mà kết quả của xử lý sẽ cho những thông tin có ý nghĩa phân tích, lý giải làm cơ sở cho nhận định, đánh giá và đề xuất các chủ trương, giải pháp về công tác quần chúng.

Có thể xử lý trên máy vi tính đối với bảng hỏi gồm những câu hỏi đóng, sẽ cho nhiều thông tin được phân tích tỉ mỉ, so sánh, đối chiếu ở nhiều góc độ khác nhau theo thiết kế của bảng hỏi.

Những câu hỏi mở và phiếu phỏng vấn sâu được tổng hợp lại, thu được những nhận định có ý nghĩa khái quát, giúp cho các báo cáo của cuộc khảo sát nghiên cứu có căn cứ đáng tin cậy.

Điều tra xã hội học là một công cụ được sử dụng thường xuyên đối với người cán bộ tham mưu, nghiên cứu về công tác dân vận.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu rõ, trong công tác dân vận “phải nghiêm ngặt kiểm tra, các địa phương phải kiên quyết thực hành những nghị quyết của Đảng. Kiên quyết chống lại cái thói nghị quyết một đường, thi hành một nẻo"3; "Chúng ta tuyệt đối không nên theo đuôi quần chúng. Nhưng phải khéo tập trung ý kiến của quần chúng, hóa nó thành cái đường lối để lãnh đạo quần chúng”4.

III

BÁO CÁO, TRUYỀN ĐẠT CHỦ TRƯƠNG

Báo cáo, trình bày, truyền đạt chủ trương hay một vấn đề, một chuyên đề nào đó cho một số người nghe là công việc thường xuyên của cán bộ dân vận; đặc biệt là những người có vai trò chủ chốt. Ngày nay, trình độ chung của cán bộ, đoàn viên, hội viên và nhân dân được nâng lên, đòi hỏi người trình bày phải chuẩn bị kỹ. “Nói lọt tai" đã khó, nói có sức thuyết phục, đi vào được lòng người là việc phải chuẩn bị công phu, nghiên túc. Để chuẩn bị cho việc báo cáo, trình bày, truyền đạt có kết quả cần phải làm tốt các bước sau:

1. Chuẩn bị

Căn cứ vào nội dung, yêu cầu, chủ đề, người trình bày phải chuẩn bị, với các việc cụ thể sau:

a) Nghiên cứu chủ trương chuẩn bị tài liệu, tư liệu

Các văn bản, tài liệu, tư liệu đều là các thông tin cho người trình bày. Thông tin được chọn lọc thành ba loại, được sử dụng theo yêu cầu khác nhau:

- Thông tin phải biết là những điều cần phải cung cấp để người nghe nắm được vấn đề đặt ra. Người nói phải nắm vững và hiểu chính xác các thông tin, tư liệu này.

- Thông tin cần biết là những điều chứng minh rõ thêm, số liệu làm phong phú thêm cho vấn đề phải trình bày.

- Thông tin nên biết là những tư liệu, thực tế và mô hình, số liệu làm phong phú thêm cho vấn đề phải trình bày.

Người trình bày chuẩn bị thêm các tranh vẽ, bảng số liệu, đồ thị, sơ đồ minh họa... sẽ giúp cho người nghe dễ hiểu hơn.

b) Tìm hiểu đời tượng nghe trình bày để chuẩn bị cho thích hợp

Trước hết, để thể hiện tôn trọng người nghe, người trình bày phải nghiêm túc chuẩn bị. Cần chuẩn bị để trình bày cho phù hợp với đối tượng nghe. Ví dụ:

- Với người lao động, cần nói cụ thể, gắn với cuộc sống thực tế hằng ngày.

- Với cán bộ đang công tác thì trình bày có căn cứ lý lẽ, có văn bản, số liệu và ví dụ cụ thể, phải nói cho chính xác, chọn lọc, có độ tin cậy.

- Với thanh niên, sinh viên, học sinh việc trình bày sẽ có kết quả nếu được thể hiện súc tích, dí dỏm, có ý tưởng đẹp, bay bổng; giữa người nói và người nghe cần có sự giao lưu, hòa nhập.

Với các nhà nghiên cứu, người có tri thức rộng nên lưu ý trình bày khiêm tốn, mạch lạc, chuẩn xác.

c) Nắm rõ điều kiện, hoàn cảnh trình bày                                 

Đó là các chi tiết: số người nghe; thời gian bắt đầu và thời gian được trình bày; hội trường, phòng họp, sân bãi; loa, đèn, bảng, bục, nơi đứng trình bày; môi trường khí hậu; v.v..

Người trình bày nên biết để chủ động chuẩn bị cho phù hợp, đề xuất khắc phục những gì bất lợi.

2. Chọn phương án, bố cục trình bày

a) Chọn phương án trình bày

Có hai phương án để trình bày một vấn đề:

- Một là, lựa chọn để trình bày một số nội dung quan trọng; đó là những điểm mới, những vấn đề nhiều người đang quan tâm, những căn cứ và sự điều chỉnh chủ trương mới, những giải pháp cần tập trung chỉ đạo…

- Hai là, trình bày theo trình tự văn bản, chủ trương ban hành. Phương án này thường dùng khi truyền đạt chỉ thị, nghị quyết. Các tài liệu, tư liệu soạn thảo theo trình tự văn bản để làm rõ nội dung của vấn đề trình bày.

b) Bố cục trình bày

Nói chung, nên trình bày thành ba phần:

- Phần giới thiệu: nói rõ ý định của người trình bày; cách giới thiệu (theo trình tự hoặc chọn vấn đề); đề cương chung; phần nào nói kỹ…

- Phần nội dung: theo đề cương chuẩn bị để trình bày. Cần lưu ý: thực hiện chặt chẽ thời gian từng phần để không bị "cháy bài"; gợi ý cho người nghe đặt câu hỏi với người trình bày để được giải đáp.

- Phần kết luận: tóm tắt những ý chính, vấn đề quan trọng; trả lời các câu hỏi mà người nghe nêu ra; chào và cảm ơn các đại biểu dự.

Người trình bày cần sắp xếp sao cho kết thúc nội dung đúng giờ hoặc sớm hơn ít phút so với thời gian quy định; khoảng thời gian còn lại dành để trao đổi, căn dặn lại những vấn đề cần làm tiếp theo ở đơn vị đã tổ chức buổi sinh hoạt.

3. Những điều cần lưu ý đối với người trình bày, báo cáo, truyền đạt

a) Khi dùng ngôn ngữ nói

- Nói chậm rãi, mạch lạc, rõ ràng, thay đổi ngữ điệu (nhanh, chậm, cao, thấp) tùy lúc để lôi cuốn người nghe.

- Dứt đoạn, đứt mạch theo các phần, kết hợp với thay biểu bảng, ghi đề mục, nhắc lại đề cương, v.v.. Nếu kéo quá dài sẽ gây mất tập trung, phân tán.

- Xử lý các tình huống buồn tẻ, ồn ào, phân tán bằng cách nêu câu hỏi gợi ý, ví dụ bằng câu chuyện cụ thể…

- Nói quá to dễ gây khó chịu, nói đều đều dễ gây buồn ngủ.

b) Khi dùng ngôn ngữ không lời

- Khi trình bày cần có tư thế tự nhiên, thoải mái và tự tin.

- Quan sát người nghe để họ thiện cảm, khích lệ họ.

- Bình tĩnh, vui tươi, chân thành, lịch sự.

- Trang phục phù hợp (đứng đắn, không sặc sỡ, không cẩu thả); trước khi xuất hiện nhớ kiểm tra lại áo quần, đầu tóc.

- Có thể dùng động tác tay để diễn tả, nhấn mạnh khi trình bày.

c) Một số điều cần lưu ý thêm

- Gây thiện cảm bằng sự cởi mở, chân thành để vượt qua "giây phút khó khăn ban đầu”.

- Kể câu chuyện hay đúng chủ đề dễ gây ấn tượng tốt.

- Danh ngôn tục ngữ, thành ngữ thay cho lời lý giải, nếu biết dùng đúng lúc, đúng chỗ.

- Những lỗi thông thường dễ gây nên bàn tán, bình luận như: nói lắp, nói ngọng, đệm tiếng nước ngoài, gãi đầu, gõ lên bàn, chỉ tay vào người nghe…

- Đoạn kết thúc là đỉnh cao, gây ấn tượng cho cả cuộc trình bày, nên chọn lọc lời kết thúc để bày tỏ tình cảm của diễn giả với người nghe.

4. Trao đổi, phản hồi, giải đáp

Trình bày, truyền đạt mới có ý nghĩa mở đầu một vấn đề, một chủ trương tại một địa điểm, một cơ sở. Do vậy nên làm một số công việc tiếp theo:

- Ngay lúc trình bày cần: giải đáp các câu hỏi của người nghe; hướng dẫn việc làm tiếp; gợi ý triển khai và nếu cần phải xử lý tình huống nảy sinh.

- Nếu có thể, người trình bày nên theo dõi các thông tin phản hồi, gồm: góp ý của người nghe; kết quả triển khai tiếp tục; hiệu quả thực hiện vấn đề đã trình bày.

Đó chính là cách làm thiết thực để tích lũy và nâng cao trình độ công tác dân vận của mỗi cán bộ.

IV

HƯỚNG DẪN TRIỂN KHAI, KIỂM TRA THỰC HIỆN

CHỦ TRƯƠNG CÔNG TÁC DÂN VẬN

Hướng dẫn, kiểm tra thực hiện các chủ trương công tác dân vận là việc làm thường xuyên, là một khâu quan trọng của công tác lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy đảng cấp trên đối với cấp dưới; của Ủy ban Mặt trận và Ban Chấp hành đoàn thể cấp trên với cấp dưới. Chủ trương công tác phải được hướng dẫn để việc thực hiện được đồng bộ, thống nhất, thông suốt tới cơ sở. Qua quá trình thực hiện, cấp trên lại phải kiểm tra, đôn đốc để xem xét chủ trương công tác được triển khai vào thực tế như thế nào; xác định nhân tố mới xuất hiện để nhân rộng; tháo gỡ khó khăn cho cấp dưới, điều chỉnh lại chủ trương, biện pháp sao cho sát hợp hơn; tiến hành việc sơ kết, tổng kết chủ trương đã đề ra.

Giúp cho cấp ủy, Ban Chấp hành đoàn thể tiến hành hướng dẫn, kiểm tra chủ trương công tác có các ban công tác chuyên môn, hoặc có cán bộ mà cấp ủy, Ban Chấp hành phân công theo dõi chuyên đề sâu.

1. Hướng dẫn triển khai chủ trương công tác dân vận

a) Thời điểm phải hướng dẫn chủ trương công tác

Tổ chức cấp trên (cấp ủy, Ban Chấp hành đoàn thể) tiến hành hướng dẫn cấp dưới khi:

- Có quyết định quan trọng (nghị quyết, chỉ thị...) của cấp ủy, Ban Chấp hành cấp trên cần triển khai rộng rãi ở địa phương, cơ sở.

- Chương trình công tác, chủ trương chỉ đạo hoặc triển khai phong trào thi đua của quần chúng liên quan đến nhiều cơ sở, nhiều địa bàn.

b) Tiến hành việc hướng dẫn

Trong các nghị quyết, chỉ thị của cấp ủy, Ban Chấp hành, Ban Thường vụ của một cấp bộ giao cho các cơ quan giúp việc phải hướng dẫn thực hiện. Do đó, trách nhiệm của cơ quan, tổ chức tiến hành hướng dẫn đã được xác định.

Căn cứ để hướng dẫn là các văn bản gốc (nghị quyết, chỉ thị) đã định ra chủ trương, nay cần được cụ thể hóa để có thể thực hiện đồng bộ, thống nhất.

Xây dựng văn bản hướng dẫn là sự cụ thể hóa các chủ trương tiến hành; đề ra yêu cầu, nội dung, biện pháp, thời gian thực hiện… cơ cấu của văn bản hướng dẫn có thể bao gồm:

- Đặt vấn đề, gồm: căn cứ yêu cầu, lý do, phạm vi thực hiện văn bản hướng dẫn.

- Nội dung cụ thể việc triển khai chủ trương: công việc và chỉ tiêu phải thực hiện (học tập, phổ biến, hoạt động, tổ chức thi đua, vay vốn, chuyển giao kỹ thuật, tương trợ nhau, chọn điểm, nhân rộng điển hình, v.v..).

- Tổ chức thực hiện: nêu được sự phân công triển khai, theo dõi; việc kiểm tra, thời điểm rút kinh nghiệm, biện pháp động viên đơn vị làm tốt khẩu hiệu và danh hiệu thi đua, v.v..

- Mở hội nghị triển khai hướng dẫn: với các chủ trương quan trọng của cấp ủy, Ban Chấp hành, Ban Thường vụ thường triển khai hướng dẫn thực hiện thông qua hội nghị do cấp ủy, Ban Thường vụ chủ trì. Một chủ trương đã được triển khai thì chỉ gửi văn bản hướng dẫn cho cấp dưới thực hiện.

2. Kiểm tra thực hiện chủ trương công tác dân vận

Kiểm tra thực hiện chủ trương là một khâu công tác giúp cho các cấp ủy, Ban Chấp hành, Ban Thường vụ của một cấp đi vào thực tế để xem tổ chức của mình đã hoạt động như thế nào. Qua đó hiểu rõ hơn khó khăn, thuận lợi, nhân tố mới và những tồn tại phải khắc phục để hoạt động đạt hiệu quả tốt hơn; nâng cao năng lực của đội ngũ cán bộ. Công tác kiểm tra bao gồm các việc sau:

a) Chủ trương tiến hành kiểm tra

Thuộc thẩm quyền và được bàn bạc quyết định của tập thể Ban Chấp hành, Ban Thường vụ của một cấp theo Điều lệ của Đảng, đoàn thể đã ghi.

Khi quyết định việc kiểm tra, cơ quan ra quyết định phải chỉ rõ: kiểm tra gì, thời gian, ai được phân công phụ trách việc kiểm tra.

b) Lập đoàn kiểm tra

Do tính chất cụ thể của từng vụ việc phải kiểm tra mà việc lập đoàn kiểm tra thể hiện rõ tư tưởng chỉ đạo, phạm vi, trách nhiệm của từng đoàn kiểm tra.

- Đoàn kiểm tra của cấp ủy, Ban Chấp hành (của một cấp bộ) do một đồng chí chủ chốt của Ban Thường vụ chịu trách nhiệm; đồng thời chỉ định thêm các thành viên thuộc các cơ quan chức năng có thể thực hiện tốt công việc kiểm tra.

- Đoàn kiểm tra của cơ quan chức năng (Ủy ban Kiểm tra, Ban Thanh tra) là tổ chức được đại hội hoặc các Ban Chấp hành bầu hoặc cử ra; tiến hành kiểm tra theo chương trình công tác hoặc kiểm tra khi có dấu hiệu vi phạm quy định của tổ chức.

Tất cả chủ trương, kế hoạch tổ chức kiểm tra được thông báo cho cơ quan, tổ chức được kiểm ra để có sự chuẩn bị, làm tốt công việc trên.

c) Tiến hành kiểm tra

Theo kế hoạch, việc kiểm tra được tiến hành tại địa điểm thực tế. Công việc gồm:

- Nghe báo cáo đã được chuẩn bị theo yêu cầu;

- Nghiên cứu tài liệu liên quan;

- Làm việc riêng với từng cá nhân, đơn vị có trách nhiệm;

- Họp đoàn kiểm tra nhận xét sơ bộ;

- Trao đổi lại với lãnh đạo đơn vị được kiểm tra;

- Ra văn bản kết luận cuộc kiểm tra, việc phải xử lý;

- Gửi báo cáo tới các cơ quan có liên quan, nêu rõ kiến nghị và việc phải giải quyết qua cuộc kiểm tra.

d) Xử lý kết quả kiểm tra

Cơ quan ra quyết định kiểm tra phải nghe báo cáo kết quả việc kiểm tra, rồi nhận định và kết luận cuộc kiểm tra; làm rõ những việc làm chưa đúng, mức độ sai sót, khuyết điểm của đơn vị, tổ chức được kiểm tra.

Qua kiểm tra một hoặc một số đơn vị, cấp ủy, Ban Chấp hành, Ban Thường vụ xem xét rút kinh nghiệm và có thể ra thông báo rộng hơn về những bài học qua đợt kiểm tra được tiến hành; nhằm giúp cho nhiều đơn vị điều chỉnh các chủ trương, biện pháp chỉ đạo ngày càng sát hợp hơn. Đúng như Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: "Đảng phải luôn luôn xét lại những nghị quyết và những chỉ thị của mình đã thi hành thế nào. Nếu không vậy thì những nghị quyết và chỉ thị đó sẽ hóa ra lời nói suông mà còn hại đến lòng tin cậy của nhân dân đối với Đảng”5.

V

MỘT SỐ HỘI NGHỊ VỀ CÔNG TÁC DÂN VẬN

1. Các loại hội nghị

Trong công tác dân vận, thường xuyên phải tiến hành các hội nghị để thảo luận, triển khai, đánh giá các hoạt động và công tác chỉ đạo của cơ quan, đơn vị, tổ chức. Tạm xếp thành bốn loại hội nghị sau:

a) Tọa đàm, trao đổi, tiếp xúc: là những cuộc gặp gỡ sinh hoạt, quy mô không rộng, không lệ thuộc nghi thức; để một số người trao đổi về công việc, chủ trương, hoạt động hoặc chuyên đề, nhằm chuẩn bị cho các báo cáo, nhận định hoặc trù bị cho hội nghị có phạm vi rộng

b) Hội thảo chuyên đề: thường là cuộc trao đổi, thảo luận sâu một vấn đề trong công tác nghiên cứu; phân tích, tranh luận những ý kiến khác nhau, dự báo xu hướng phát triển của vấn đề đặt ra trong công tác dân vận và đời sống xã hội.

c) Hội nghị giao ban: là các cuộc họp định kỳ (tuần, tháng, quý...) để kiểm điểm việc đã làm: phản ánh thông tin cập nhật; đôn đốc, nhắc nhở công việc trong thời gian sắp tới.

d) Hội nghị triển khai, sơ kết, tổng kết công tác: là hội nghị của một cấp bộ, một tổ chức để phổ biến chủ trương hoặc chương trình công tác; nhìn nhận, đánh giá hoạt động của tổ chức qua một thời gian nhất định; được đặt trong kế hoạch chỉ đạo của cơ quan, tổ chức. Hội nghị do tập thể chỉ đạo, được chuẩn bị chu đáo về nội dung, có nghi thức phù hợp. Các Ban Dân vận là cơ quan tham mưu, giúp cấp ủy đảng chuẩn bị các hội nghị quan trọng về công tác dân vận để hướng dẫn triển khai, sơ kết, tổng kết về công tác dân vận; dân tộc, tôn giáo, công tác đoàn thể...

2. Các hình thức tổ chức hội nghị

- Hội nghị trực tiếp: là hội nghị đại biểu ngồi dự trực tiếp tại hội trường.

- Hội nghị trực tuyến: là hội nghị thông qua các điểm cầu bằng việc kết nối thông tin mạng; đại biểu ngồi dự tại những điểm cầu tại các địa điểm khác nhau.

3. Chuẩn bị và tiến hành hội nghị

Mỗi hội nghị có đối tượng tham dự, phạm vi quy mô và yêu cầu riêng, được cụ thể hóa vào chương trình, nội dung của hội nghị. Nói chung, mỗi hội nghị đều qua những bước thực hiện sau:

a) Chuẩn bị

Đơn vị hoặc cá nhân được phân công phải lập kế hoạch tiến hành cuộc hội nghị (tọa đàm, hội thảo, sơ kết, tổng kết...). Nội dung kế hoạch thể hiện rõ:

- Chủ đề, yêu cầu của hội nghị;

- Dự kiến thời gian, địa điểm họp, có tính tới các yếu tố tạo thuận lợi nhất cho đa số đại biểu dự. Trong đó, thời gian cụ thể theo ngày, buổi họp (giờ bắt đầu, giờ giải lao, giờ kết thúc...) phù hợp với công việc của địa phương, cơ sở;

- Phân công chuẩn bị nội dung chính của hội nghị.

Ví dụ: Báo cáo sơ kết, phát biểu đề dẫn, gợi ý tọa đàm. Bộ phận chuẩn bị phải trao đổi kỹ các văn bản dự thảo và những vấn đề nêu ra thảo luận tại hội nghị.

- Chuẩn bị mời dự hội nghị:

Số lượng, đối tượng mời dự;

Tài liệu kèm theo để đại biểu nghiên cứu trước;

Gợi ý thảo luận;

Điều kiện phục vụ sinh hoạt của đại biểu dự (nếu cần).

Với một số đại biểu có cương vị quan trọng, có báo cáo tại hội nghị, nơi chỉ đạo điểm, v.v.., thì ngoài giấy mời, Ban tổ chức hội nghị nên trao đổi qua điện thoại để nắm chắc khả năng có mặt của các đại biểu.

- Chuẩn bị cơ sở vật chất của hội nghị: hội trường, ăn, nghỉ của đại biểu, in ấn tài liệu…

Nếu là hội nghị trực tuyến, phải có phân công liên hệ, phối hợp chặt chẽ với các điểm cầu về công tác chuẩn bị hội nghị.

b) Tiến hành hội nghị

Khi dự kiến chương trình và điều kiện hội nghị, dù là loại hình hội nghị nào, cũng phải làm rõ ba vấn đề:

- Thủ tục: là phần mở đầu để nói rõ lý do mời họp; đai biểu dự; nội dung chương trình; thời gian tiến hành; cách làm việc; người chủ trì; các loại tài liệu.

Ở hội nghị yêu cầu sự trang trọng (như sơ kết, tổng kết của Ban Chấp hành) thủ tục thường được tách ra thành các phần: giới thiệu đại biểu và khai mạc hội nghị, do hai đồng chí được phân công thực hiện.

Nội dung: là phần chính, rất quan trọng, được sắp xếp theo trình tự:

Báo cáo chính của hội nghị (triển khai, sơ kết, tổng kết, đề dẫn...);

Phát biểu, thảo luận, tranh luận: có thể chia tổ hoặc phát biểu chung tại hội trường; xếp đặt cho hợp lý các bài phát biểu (với người có chuẩn bị và người xin đăng ký phát biểu tại hội nghị); người chủ trì có thể nêu câu hỏi, gợi ý thêm qua các ý kiến thảo luận.

- Tóm tắt, kết luận: Tùy theo yêu cầu của hội nghị (tọa đàm, trao đổi, hội thảo, sơ kết, tổng kết...) phần cuối phải tóm tắt lại một số ý kiến để kết luận hội nghị. Nội dung phần kết luận gồm:

Những điều đã đi tới thống nhất (chủ trương, công việc, ý kiến khác nhau đã làm rõ, chỉ tiêu quan trọng được chấp nhận…).

Những ý kiến bổ sung có ý nghĩa mới, sáng tạo, phù hợp, được Ban Chấp hành, Ban Thường vụ tiếp thu.

Một số băn khoăn, vướng mắc cần trình bày, giải đáp thêm.

Lời chào, cảm ơn, tuyên bố kết thúc hội nghị của người chủ trì (bế mạc).

Trong một số hội nghị của cấp ủy, Ban Chấp hành, Ban Thường vụ, có một số nội dung được chuẩn bị để đưa vào nghị quyết thì bộ phận chuẩn bị phải dự thảo, xin ý kiến hội nghị. Người chủ trì hội nghị đưa ra thông qua nghị quyết (có trường hợp phải biểu quyết hoặc lấy phiếu hỏi để biểu quyết về các nội dung quyết định trong nghị quyết).

c) Hoàn chỉnh văn bản hội nghị

Sau hội nghị phải tiếp thu ý kiến của đại biểu phát biểu và tiến hành:

- Hoàn chỉnh báo cáo (nếu là văn bản dự thảo đưa ra hội nghị);

- Tóm tắt biên bản hoặc thông báo kết quả hội nghị;

- Hoàn chỉnh tập tài liệu hoặc kỷ yếu hội nghị;

- Đưa vào lưu trữ các tài liệu hội nghị.

Với hội nghị có quy mô lớn và có tầm quan trọng, sau khi kết thúc nên tổ chức họp để rút kinh nghiệm; cảm ơn các cơ quan và cá nhân đã tích cực góp phần để hội nghị đạt kết quả tốt.

4. Một số vấn đề cần lưu ý khi chuẩn bị và tiến hành hội nghị

- Chuẩn bị kỹ nội dung và gợi ý rõ thì hội nghị dễ thảo luận, ý kiến tập trung.

- Chỉ đọc các bài viết sẵn, không tranh luận và thảo luận thì đại biểu sẽ có cảm giác buồn tẻ.

- Nhanh nhạy gợi ý, hướng đại biểu suy nghĩ và thảo luận về những ý kiến còn khác nhau.

- Kết thúc ngắn gọn, rõ ràng để cho mọi người dễ nhớ, dễ làm.

- Tạo được không khí dân chủ, cởi mới sẽ được nghe những ý kiến trung thực, sâu sắc.

- Ở ngoài hành lang cũng có những thông tin bổ ích.

- Hội nghị nghèo thông tin, kém chất lượng là sự lãng phí công sức của nhiều người.

Trong xu thế đổi mới tổ chức và hoạt động của các ban dân vận các cấp, của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể theo hướng thiết thực, yêu cầu giảm họp, họp ngắn, thông tin nhiều thì việc chuẩn bị chu đáo cho hội nghị càng đặt ra bức bách hơn. Trước, trong và sau hội nghị có nhiều việc dành cho bộ phận tổ chức hội nghị phải đầu tư, suy nghĩ và đề xuất. Vai trò đặc biệt quan trọng là các đồng chí chủ trì phải khéo léo điều hành để hội nghị tiếp nhận được nhiều thông tin bổ ích, tạo không khí dân chủ, cởi mở, khi ra về, đại biểu nắm chắc thông tin để chỉ đạo thực hiện.

VI

THÔNG TIN, BÁO CÁO CÔNG TÁC DÂN VẬN

1. Thông tin, báo cáo trong quan hệ công tác

Thông tin, báo cáo vốn là nhu cầu tự thân của mỗi cơ quan, mỗi cấp lãnh đạo, chỉ đạo, mỗi tổ chức. Đó là các văn bản, tài liệu về:

- Sự nhìn nhận, đánh giá về hoạt động của tổ chức.

- Ghi nhận và phản ánh những vấn đề nảy sinh qua quá trình hoạt động của tổ chức và đời sống quần chúng; quá trình xử lý, giải quyết của lãnh đạo.

- Tư liệu lưu trữ để các giai đoạn lịch sử sau nghiên cứu, tổng kết bài học kinh nghiệm của các giai đoạn trước đó. Nó có ý nghĩa dự báo và giúp cho việc định ra các chủ trương công tác có căn cứ chắc chắn hơn.

- Thông tin, báo cáo là chế độ quy định trong quan hệ công tác:

Cấp dưới báo cáo với cấp trên;

Cơ quan tham mưu, Văn phòng báo cáo cấp ủy; các ban giúp việc báo cáo cho Ban Chấp hành, Ban Thường vụ;

Một cơ quan, đơn vị trao đổi thông tin về hoạt động với các cơ quan, đơn vị liên quan;

Cung cấp tài liệu cho các cơ quan nghiên cứu, đào tạo, gắn lý luận với thực tiễn cuộc sống xã hội.

- Theo mức độ quan trọng, có báo cáo của cấp ủy (Ban Chấp hành, Ban Thường vụ) về các mặt công tác đảng. Đồng thời có báo cáo của các cơ quan giúp việc của cấp ủy (Tuyên giáo, Tổ chức, Kiểm tra, Dân vận, Văn phòng…) về các vấn đề có tính nghiệp vụ. Báo cáo của cấp ủy do các cơ quan giúp việc chuẩn bị, đưa ra tập thể cấp ủy thảo luận, kết luận.

2. Các loại thông tin, báo cáo

Với công tác dân vận, có thể tạm phân thành các thông tin, báo cáo sau:

a) Báo cáo trực tiếp: Là việc mang thông tin nắm được, phản ánh trực tiếp hoặc trao đổi qua điện thoại cho người có trách nhiệm, không dùng văn bản, giấy tờ. Nếu được hỏi, người báo cáo có thể nêu ý kiến, nhận định và đánh giá của mình về vấn đề phản ánh.

b) Báo cáo nhanh: Là văn bản của người báo cáo, kịp thời phản ánh về một công việc, một sự việc; với cách viết ngắn gọn, rõ ba ý:

- Diễn biến của công việc, sự việc;

- Nhận xét sơ bộ;

- Kiến nghị, đề xuất ban đầu.

Không nên viết thành các đề mục lớn, dùng các tiểu mục cho các đoạn ngắn gọn của bản báo cáo nhanh (có một số mẫu cụ thể).

c) Báo cáo (định kỳ) tháng, quý: Là văn bản phản ánh các mặt hoạt động của tổ chức trong từng tháng, quý; được thực hiện vào cuối tháng, quý. Trước hết, báo cáo phản ánh việc thực hiện chương trình công tác; lưu ý nêu rõ vấn đề mới xuất hiện, kiến nghị công tác chỉ đạo tiếp theo.

d) Báo cáo sơ kết, báo cáo chuyên đề: Được tiến hành sau quãng thời gian triển khai một chủ trương, một công việc hoặc cần sơ kết sâu một chuyên đề của công tác dân vận, Mặt trận, đoàn thể. Đó là văn bản nhìn nhận về kết quả của việc chỉ đạo, tổ chức thực hiện hoặc hoạt động của cơ quan, tổ chức hoặc cấp bộ lãnh đạo, chỉ đạo. Báo cáo này dựa trên quá trình theo dõi, chỉ đạo hoặc được tiến hành sơ kết từ một số đơn vị cơ sở, cho nên, cần phản ánh được sự đánh giá thực tế của nhiều đơn vị, cơ sở; có đề mục rõ ràng; được thảo luận, góp ý của nhiều người kèm theo tư liệu, phụ lục.

Nội dung chính của báo cáo sơ kết:

- Hoàn cảnh và quá trình triển khai, chỉ đạo vấn đề.

- Nhận định, đánh giá: chuyển biến tốt, tác động tích cực, nhân tố mới...; tồn tại, tác động tiêu cực, mặt hạn chế…

- Hướng xử lý vấn đề, chỉ đạo tiếp.

- Kiến nghị, đề xuất với các cấp chỉ đạo, cơ quan liên quan.

e) Báo cáo tổng kết: Là văn bản của một cấp bộ, một tổ chức, một Ban Chấp hành để nhìn nhận, đánh giá, rút kinh nghiệm chỉ đạo về một chủ trương hoặc một hoạt động lớn đã diễn ra qua một giai đoạn. Thông qua việc tổng kết để tìm tòi kết luận và kinh nghiệm chỉ đạo; đề ra chủ trương mới trong thời gian tới được sát hợp hơn.

Báo cáo tổng kết nên có chương, mục rõ ràng, thể hiện chặt chẽ; được thảo luận tập thể để hoàn chỉnh bản báo cáo.

Nội dung chính của báo cáo tổng kết:

- Quá trình triển khai, diễn biến của sự việc, vấn đề.

- Đánh giá kết quả công việc: ưu điểm (mặt được, chuyển biến tốt, mô hình mới...); tồn tại, khuyết điểm; nguyên nhân; bài học kinh nghiệm.

- Phương hướng thời gian tới.

- Kiến nghị, đề xuất chủ trương chỉ đạo.

3. Trình tự chuẩn bị thông tin, báo cáo

Tùy vấn đề và yêu cầu của sự chỉ đạo mà việc chuẩn bị báo cáo được bố trí thời gian, phân công chuẩn bị, đầu tư công sức khác nhau. Mỗi báo cáo đều qua các bước thực hiện sau:

a) Hình thành ý tưởng đề cương của báo cáo

Sau khi có chủ trương của tập thể, phân công cá nhân chuẩn bị, thì người được phân công phải suy nghĩ để đề ra ý tưởng báo cáo: đó là chủ đề, yêu cầu, vấn đề phải đánh giá, khía cạnh phải làm rõ, v.v., tất cả được thể hiện thành một đề cương báo cáo. Trên cơ sở đó lấy ý kiến của lãnh đạo, các đơn vị liên quan để hoàn chỉnh đề cương, làm rõ yêu cầu phải báo cáo.

b) Dự thảo báo cáo

Một người hoặc một số người phân công nhau để theo đề cương mà viết báo cáo dự thảo. Sau khi chắp ghép lại, sửa chữa và thống nhất toàn bộ để có văn bản dự thảo đầu tiên, có kết cấu là nội dung tương đối hợp lý, gạt bỏ được sự trùng lặp.

Gửi báo cáo dự thảo cho các cơ quan, cá nhân có trách nhiệm để họ tham gia, góp ý. Tổ chức thảo luận chung hoặc thảo luận một số vấn đề nêu ra trong báo cáo.

c) Hoàn chỉnh báo cáo

Tiếp thu ý kiến đóng góp qua các cuộc trao đổi, thảo luận để hoàn chỉnh báo cáo. Phải tiến hành các việc: sửa bố cục cho hợp lý, thêm bớt các phần, các điểm thể hiện; chuẩn xác hoá các nhận định, sửa văn phong, câu chữ; bổ sung các phụ lục, tư liệu; in ấn; người có trách nhiệm ký tên và đóng dấu. Báo cáo được gửi đi và lưu trữ theo quy định. Nếu là vấn đề cần giữ bí mật phải bảo quản theo chế độ mật.

4. Đề cương cụ thể báo cáo tổng kết công tác dân vận hằng năm

Dưới đây là gợi ý đề cương báo cáo về công tác dân vận cấp tỉnh (thành phố), huyện (quận).

PHẦN THỨ NHẤT: ĐÁNH GIÁ CÔNG TÁC DÂN VẬN NĂM ĐÃ QUA

I. Khái quát tình hình (kinh tế xã hội, an ninh, quốc phòng)

Tình hình kinh tế xã hội, an ninh quốc phòng (rất khái quát).

Tình hình các tầng lớp nhân dân (tâm trạng các tầng lớp nhân dân, nguyện vọng và nhu cầu bức xúc của các (một số) đối tượng quần chúng).

II. Công tác dân vận của hệ thống chính trị

1. Công tác dân vận của các cấp ủy đảng

2. Công tác dân vận của các ngành, các cấp chính quyền

3. Hoạt động của Mặt trận, đoàn thể và các hội quần chúng.

4. Công tác dân tộc, tôn giáo và một số đối tượng khác (dân tộc).

III. Hoạt động của Ban Dân vận cấp ủy

IV. Những kiến nghị, đề xuất về công tác dân vận

Đánh giá chung về công tác dân vận qua một năm; tồn tại, hạn chế, kinh nghiệm, đề xuất.

PHẦN THỨ HAI: PHƯƠNG HƯỚNG, NHIỆM VỤ CÔNG TÁC NĂM TỚI

I. Định hướng chung, công tác trọng tâm của cấp ủy đảng

II. Nhiệm vụ (chương trình) công tác dân vận năm tới

Căn cứ vào sự chỉ đạo của cấp ủy địa phương và hướng dẫn của Ban Dân vận cấp trên, nhiệm vụ (chương trình) công tác dân vận cần thể hiện tập trung, rõ việc, có thời điểm triển khai, yêu cầu và các giải pháp thực hiện, để làm tốt việc tham mưu cho chỉ đạo của cấp ủy về công tác dân vận gắn chặt với các chủ trương được tiến hành ở địa phương, cơ sở. Kèm theo báo cáo có phụ lục số liệu thống kê phản ánh các mặt hoạt động được nêu trong báo cáo tổng kết.

5. Một số mẫu báo cáo nhanh, đột xuất

Khi địa phương, cơ sở có vụ việc phức tạp nảy sinh hay thiên tai, bão lũ, Ban Dân vận cần kịp thời bám sát nắm tình hình, tham mưu cho cấp ủy và báo cáo Ban Dân vận cấp trên, theo một số nội dung cụ thể sau:

a) Báo cáo nhanh về vụ việc nảy sinh tại địa phương (báo cáo ngay sau khi sự việc xảy ra)

- Tên vụ việc

- Địa điểm xảy ra

- Nội dung (nêu gọn, rõ, nhưng đầy đủ thông tin cần thiết)

- Quy mô, mức độ

- Số người tham gia

- Gây ra vấn đề gì hay thiệt hại gì? (mất trật tự xã hội, chết người hay bị thương, thiệt hại về tài sản…)

- Nguyên nhân xảy ra

- Cấp ủy, chính quyền đã có chủ trương gì và đã chỉ đạo xử lý ra sao?

- Dân vận, Mặt trận, đoàn thể đã tham gia thế nào?

- Kết quả đã giải quyết đến đâu?

- Dự báo chiều hướng tới

- Dư luận, tâm trạng, thái độ, nguyện vọng của nhân dân địa phương

- Những kiến nghị, đề xuất.

b) Báo cáo nhanh về tình hình thiên tai tại địa phương (báo cáo ngay sau khi sự việc xảy ra)

- Tên cụ thể của thiên tai (bão, lũ, sạt lở,…)

- Địa điểm xảy ra

- Quy mô, phạm vi

- Số người thiệt hại

- Tài sản thiệt hại

- Cấp ủy, chính quyền đã có chủ trương gì để chỉ đạo và giải quyết?

- Dân vận, Mặt trận, đoàn thể đã tham gia phòng chống và khắc phục hậu quả thế nào?

- Kết quả đã khắc phục đến đâu?

- Tâm tư, nguyện vọng của nhân dân địa phương

- Những kiến nghị đề xuất.

VII

PHỐI HỢP, LIÊN KẾT TRONG CÔNG TÁC DÂN VẬN

Sự nghiệp xây dựng đất nước càng phát triển theo chiều rộng và chiều sâu, thì các chương trình kinh tế - xã hội càng được triển khai mạnh mẽ. Các tổ chức đoàn thể và các hội ngày càng phát triển đa dạng, các phương tiện thông tin đại chúng càng phong phú thì các yếu tố tác động vào quần chúng càng nhiều luồng, nhiều chiều, vì vậy, mỗi tổ chức phải hoạt động thích nghi với hoàn cảnh quần chúng có nhiều thông tin, chịu nhiều tác động.

1. Tính tất yếu của sự phối hợp, liên kết trong công tác dân vận

Phối hợp, liên kết trong công tác dân vận được bắt nguồn từ yêu cầu khách quan và cũng từ nhu cầu tự thân của công tác dân vận:

- Công tác dân vận theo quan điểm của Đảng bao gồm: công tác dân vận của các cấp ủy và tổ chức đảng; công tác dân vận của Nhà nước và các cấp chính quyền; công tác dân vận của Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể, các hội. Mỗi tổ chức có chức năng riêng và phương thức hoạt động khác nhau, nhưng công tác dân vận phải tiến hành đồng bộ, phát huy được sức mạnh tổng hợp, không chồng chéo về chức năng, không lấn sân nhau. Cơ sở là nơi chứa đựng và thực hiện mọi chủ trương từ trên xuống. Thời gian và cuộc sống đời thường chỉ chọn lọc để ngưng đọng lại ở cơ sở một số những chủ trương, những hoạt động và phong trào của quần chúng bổ ích, thiết thực.

- Trong khi mỗi đoàn thể chỉ thu hút được một tỷ lệ nào đó quần chúng trở thành đoàn viên, hội viên, thì khoảng trống của các nhóm xã hội, các cộng đồng dân cư chưa tham gia tổ chức còn khá rộng. Do đó, để "...vận động tất cả lực lượng của mỗi một người dân không để sót một người dân nào..."6, thì cấp ủy đảng, chính quyền và Mặt trận, đoàn thể phải cùng bàn bạc và phối hợp với nhau trong công tác dân vận.

Sự liên kết, phối hợp trong công tác dân vận là phù hợp với quy luật phát triển của xã hội; sẽ được phản ánh ở quy mô và tính chất của các phong trào và hoạt động chung; nó trở thành nhu cầu tự thân của công tác dân vận của hệ thống chính trị.

2. Tiến hành các hoạt động phối hợp, liên kết trong công tác dân vận

Thực tiễn cuộc sống đang khảo nghiệm và từng bước tạo ra các mô hình hoạt động để thực hiện sự phối hợp, liên kết trong công tác dân vận. Những ý tưởng tốt phải được biến thành việc làm cụ thể, thu hút được hai tổ chức hoặc nhiều tổ chức phối hợp với nhau trong cácchương trình song phương hoặc đa phương.

Dưới đây là một số hoạt động phối hợp, liên kết cụ thể trong công tác dân vận.

a) Mặt trận, đoàn thể cùng tham gia chương trình kinh tế - xã hội

Các chương trình kinh tế xã hội đang có sức thu hút Mặt trận và các đoàn thể tham gia, bởi các chương trình ấy tác động tới quần chúng, chăm lo đời sống quần chúng. Ví dụ, các chương trình: xoá đói, giảm nghèo; trợ giúp các xã khó khăn (Chương trình 135); thực hiện kế hoạch hoá gia đình; phòng chống tệ nạn xã hội; vay vốn làm kinh tế gia đình, v.v..

Với các chương trình này, đáng lưu ý là:

Vai trò chủ trì: cơ quan chính quyền, do một đồng chí có trách nhiệm đứng ra làm Chủ nhiệm chương trình, Trưởng ban chỉ đạo.

- Ban chỉ đạo: thường mời đại diện của Mặt trận, đoàn thể tham gia.

- Điều kiện thực hiện: nói chung thuận lợi, có kinh phí, có cơ quan giúp việc theo dõi thực hiện, công tác điều hành, kiểm tra, sơ kết.

b) Nghị quyết liên tịch

Nghị quyết liên tịch giữa hai bên (song phương) hoặc nhiều bên (đa phương) là sự phối hợp, liên kết tương đối dài, nội dung tương đối toàn diện để cùng đẩy mạnh thực hiện các hoạt động có phạm vi và đối tượng gần giống nhau. Ở Trung ương là phối hợp giữa Ban Dân vận, Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và đoàn thể ở Trung ương với các bộ, ngành ở Trung ương. Dưới đây là một số ví dụ về các nghị quyết liên tịch:

- Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh với Hội Cựu chiến binh Việt Nam về giáo dục truyền thống cách mạng cho thanh niên;

- Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh với Bộ Lao động Thương binh và Xã hội về giải quyết các vấn đề về chính sách với thanh niên xung phong;

- Hội Nông dân Việt Nam với Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn về phong trào nông dân sản xuất giỏi;

- Hội Nông dân với Ban Tôn giáo Chính phủ về vận động nông dân thực hiện chính sách tôn giáo của Đảng, Nhà nước;

- Hội Nông dân Việt Nam với các bộ: Bộ Tư pháp, Bộ Văn hóa Thông tin, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Ủy ban Dân tộc và Miền núi về giáo dục pháp luật cho nông dân ở nông thôn và vùng cao, vùng sâu, vùng dân tộc thiểu số…

- Ban Dân vận Trung ương phối hợp với Cục Dân vận, Tổng cục Chính trị, với Bộ Công an về công tác dân vận; với các Ban Chỉ đạo Tây Bắc, Tây nguyên, Tây Nam Bộ và với Ủy ban Dân tộc về công tác đối với vùng đồng bào dân tộc thiểu số, với Ủy ban về người Việt Nam ở nước ngoài về công tác vận động người Việt Nam ở nước ngoài…

Với các loại nghị quyết liên tịch này, đáng lưu ý là:

Danh nghĩa phối hợp: hai Ban Thường vụ đoàn thể phối hợp với nhau; Ban Thường vụ đoàn thể với bộ trưởng hoặc một số Bộ trưởng của bộ, ngành (Nhà nước) phối hợp với nhau. Nghị quyết liên tịch tạo môi trường để các cấp đoàn thể phối hợp với các cấp của chính quyền thực hiện các nhiệm vụ kinh tế xã hội.

- Công tác chuẩn bị: do hai cơ quan hoặc nhiều cơ quan cử ra các bộ phận chuẩn bị cho nghị quyết liên tịch hai bên hoặc nhiều bên.

- Lễ ký kết: là một nghi thức, có lãnh đạo cấp cao của các cơ quan dự ký. Sau đó văn bản được gửi theo hệ thống các bên để thực hiện.

- Việc kiểm tra, theo dõi, sơ kết là của mỗi bên. Định kỳ có cuộc gặp các bên để nhìn nhận, đánh giá chung; đôn đốc, kiểm tra và điều chỉnh chỉ đạo (thường tiến hành hằng năm).

c) Phối hợp phong trào quần chúng và thi đua yêu nước

* Mặt trận và đoàn thể phối hợp

Một thí dụ rất điển hình là cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư” là sự phối hợp nhiều chương trình kinh tế xã hội, hoạt động của đoàn thể ở khu dân cư, đơn vị gắn được nhiều sinh hoạt của cộng đồng dân cư.

Để phối hợp được tốt cuộc vận động trên, mỗi đoàn thể phải khéo chọn những hoạt động thích hợp, để với cách làm riêng, tác động riêng, hình thức riêng mà tham gia cuộc vận động chung, đạt mục tiêu chung rộng lớn và sâu sắc hơn. Tại địa bàn địa phương (tỉnh, huyện) có thể có một số phối hợp như: giao ban đôn đốc, kiểm tra chéo, tổ chức giới thiệu mô hình tiên tiến, tập huấn cách làm cho cán bộ thuộc hệ thống chính trị…

* Mặt trận, đoàn thể động viên phong trào thi đua yêu nước

Phong trào thi đua yêu nước là của toàn dân, các danh hiệu thi đua do Nhà nước ban hành và công nhận hằng năm. Phong trào thi đua của mỗi đoàn thể có thể phối hợp được với phong trào thi đua chung. Sự tham gia của một trận và các đoàn thể qua các hoạt động cụ thể sau:

- Xây dựng mô hình tốt, phổ biến áp dụng kinh nghiệm tốt của phong trào thi đua.

- Phối hợp động viên các mô hình tiên tiến, cá nhân xuất sắc động viên phong trào thi đua chung.

d) Phối hợp chỉ đạo, xây dựng tổ chức

Mặt trận, các đoàn thể chủ động hoặc do cấp ủy chỉ đạo, Mặt trận và các đoàn thể cùng phối hợp trong một kế hoạch công tác. Ví dụ: rút kinh nghiệm xây dựng cơ sở trong sạch, vững mạnh; phối hợp hoạt động của các tổ chức của cơ sở; khảo sát công tác cán bộ tại một địa bàn; kiểm tra thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở, v.v..

Đây là dịp các tổ chức cấp trên cùng quan tâm tới địa bàn khó khăn, trọng yếu; cùng đầu tư tháo gỡ vướng mắc, xóa cơ sở “trắng”, giảm cơ sở yếu kém của các tổ chức, đoàn thể. Mặt khác, qua các đợt chỉ đạo ấy mà rút kinh nghiệm công tác chỉ đạo của các tổ chức, đoàn thể. Với việc phối hợp này cần lưu ý:

- Kế hoạch chung thường do một cơ quan đề xuất, báo cáo và mời đại diện các đoàn thể tham gia. Có trường hợp cấp ủy giữ vai trò chủ trì phối hợp sự chỉ đạo thực hiện.

- Lập Ban chỉ đạo hoặc Tổ công tác phù hợp với tính chất, quy mô của kế hoạch chung. Cấp ủy trưng tập cán bộ hoặc các cơ quan cử người tham gia Ban chỉ đạo, Tổ công tác trong suốt quá trình thực hiện kế hoạch chung.

- Cuối đợt công tác sơ kết, đánh giá kết quả công việc phối hợp thực hiện kế hoạch trên để kết thúc một công việc chung đã đề ra.

- Nếu là việc phối hợp để khảo sát tình hình thực tế, thì trong báo cáo kết quả khảo sát phải nêu được những kiến nghị về các giải pháp để giải quyết những vấn đề còn tồn đọng trên địa bàn; báo cáo gửi cho các cơ quan có trách nhiệm nắm được, đồng thời đề nghị cấp ủy chủ trì bàn việc xử lý các tồn đọng trên.

- Phối hợp bồi dưỡng đội ngũ cán bộ: ở các tỉnh đều có các trường bồi dưỡng cán bộ, ở huyện, quận có trung tâm bồi dưỡng cán bộ. Với điều kiện vật chất và kinh phí cụ thể, hằng năm các tổ chức Mặt trận và các đoàn thể bàn bạc phối hợp mở:

Lớp bồi dưỡng cán bộ cho từng đoàn thể;

Bồi dưỡng chuyên đề công tác dân vận, dân tộc, tôn giáo... chung cho cán bộ hệ thống chính trị.

Đây là dịp cung cấp những thông tin mới (nghị quyết, chỉ thị...) của Đảng và các chủ trương của Nhà nước để nâng cao năng lực công tác cho cán bộ dân vận, Mặt trận và các đoàn thể.

e) Xây dựng quy chế phối hợp, liên kết

Khi một số chương trình phối hợp, liên kết của công tác dân vận trở nên ổn định, có thể tiến hành lâu dài thì giữa hai bên hoặc nhiều bên cần đưa hoạt động hành nền nếp thông qua xây dựng quy chế phối hợp, liên kết. Ví dụ một số quy chế hoạt động của:

- Ủy ban vì sự tiến bộ của phụ nữ;

- Ban chỉ đạo công tác tôn giáo;

- Ban chỉ đạo phòng, chống tệ nạn xã hội;

- Đoàn thể tín chấp vay vốn ngân hàng cho đoàn viên, hội viên…

Đối với các chương trình ngắn hạn thì các quy định trách nhiệm của các bên dược ghi thành một điểm cụ thể ngay tại văn bản phối hợp, liên kết của các bên.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: "Gom góp ý kiến và kinh nghiệm trong sự chỉ đạo từng bộ phận, đem làm ý kiến chung. Rồi lại đem ý kiến chung đó để thí nghiệm trong các bộ phận… Biết làm như vậy mới thật là biết lãnh đạo"6; "Dân chúng đồng lòng, việc gì cũng làm được"7.

Đó là những lời chỉ dẫn hết sức quan trọng cho cán bộ trong quá trình phối hợp để làm tốt công tác dân vận.

VIII

TỔ CHỨC NGHIÊN CỨU VỀ CÔNG TÁC DÂN VẬN

Để Ban Dân vận làm tốt chức năng tham mưu cho cấp ủy (đối với các Ban Dân vận); để giúp cho các Ban Chấp hành đoàn thể quyết định các chủ trương cho sát hợp, người cán bộ làm công tác dân vận ngày càng phải hiểu sâu những vấn đề của các nhóm xã hội, các tầng lớp, các giai cấp, các cộng đồng dân cư, phải làm quen và dần thành thục trong các việc: điều tra dư luận, khảo sát thực tế, nghiên cứu sâu các vấn đề bức xúc của nhân dân.

Ở cấp Trung ương, cấp tỉnh (thành phố), nguồn kinh phí dành cho công tác nghiên cứu ngày càng được đầu tư lớn hơn. Các vấn đề xã hội, vấn đề của quần chúng đã được đặt trong danh mục các đề tài nghiên cứu khảo sát ở nhiều địa phương. Trên cơ sở thực tiễn hằng ngày biến đổi, các chương trình kinh tế xã hội triển khai rộng, những tác động tích cực và tiêu cực đang đan xen, làm cho suy nghĩ, nhận thức, tình cảm của người dân không ngừng diễn biến. Việc nhận thức cho được thực tế ấy, dự báo được các xu thế diễn biến của đời sống xã hội, đề xuất được các chủ trương phù hợp thực tiễn, hợp lòng dân, ngày càng đòi hỏi đội ngũ cán bộ dân vận khả năng nghiên cứu, dự báo, đề xuất có căn cứ tin cậy cho các chủ trương công tác của cấp ủy đảng, chính quyền, đoàn thể nhân dân.

Ở phần này, chúng tôi tập trung trình bày những gợi ý, hướng dẫn trình tự tiếp cận và thực hiện một đề tài khoa học về dân vận.

1. Lựa chọn đề tài khoa học

Đề tài khoa học về dân vận có thể do cấp trên xác định hoặc do từng cấp lựa chọn.

Đề tài do cấp trên nêu ra gọi là đề tài được chỉ định, cấp dưới thực hiện dưới hình thức một hợp đồng nghiên cứu, hoặc cấp trên chủ trì nghiên cứu, cấp dưới hưởng ứng, phối hợp cùng nghiên cứu.

Loại thứ hai phổ biến hơn đối với công tác dân vận hiện nay là: cấp dưới, xuất phát từ đặc điểm cụ thể của mình, bổ sung vào đề tài do cấp trên nêu ra một số vấn đề cho phù hợp.

Đề tài do từng cấp lựa chọn để tiến hành nghiên cứu gọi là đề tài tự chọn. Việc tự chọn đề tài nghiên cứu xuất phát từ tình hình thực tế và yêu cầu lãnh đạo, chỉ đạo ở từng nơi. Việc làm này khá công phu, không thể tùy tiện. Người ta thường căn cứ vào những điểm dưới đây để quyết định hướng nghiên cứu:

- Đề tài có ý nghĩa khoa học và thực tiễn không? (việc nghiên cứu để làm căn cứ định ra chủ trương nào, giải quyết cho vấn đề thực tiễn nào...).

- Đề tài có tính cấp bách không? (nhằm giải quyết vấn đề bức xúc hay hoạch định nhiệm vụ dài hạn…).

- Có đủ điều kiện bảo đảm cho việc hoàn thành đề tài không? Điều kiện nghiên cứu đại thể như: cơ sở thông tin dữ liệu, quỹ thời gian và kinh phí tối thiểu, lực lượng cộng tác viên...

- Đề tài có phù hợp với năng lực, sở trường của người chủ trì nghiên cứu không?

Sau khi đã lựa chọn đề tài, cần chú ý việc đặt tên đề tài. Tên đề tài phải súc tích, cô đọng, nhiều thông tin. Cần tránh đặt tên đề tài với những cụm từ khó định lượng như: "Một số vấn đề…"; “Vài suy nghĩ về..."; “Góp phần vào…". Trong tên đề tài cũng không nên sử dụng tùy tiện những cụm từ nêu mục đích, mở đầu bằng “Để…”; “Nhằm..."; “Phục vụ cho...".

Sau khi đã có đề tài, cần chú ý việc tổ chức nghiên cứu. Đề tài có thể do một người thực hiện nhưng cũng có thể do một nhóm người thực hiện. Thông thường, một đề tài do một nhóm người thực hiện, có chủ nhiệm đề tài và thư ký đề tài. Chủ nhiệm đề tài thường là người có kinh nghiệm nghiên cứu. Thư ký đề tài theo dõi việc thực hiện cụ thể của đề tài, làm báo cáo, phụ trách tài chính, tổ chức việc in ấn, nghiệm thu, quyết toán.

2. Xây dựng đề cương nghiên cứu

Đề cương nghiên cứu để trình các cơ quan có thẩm quyền duyệt và cấp kinh phí, và là cơ sở để xét duyệt, nghiệm thu. Nội dung đề cương nghiên cứu cần thuyết minh các vấn đề sau:

- Lý do chọn đề tài: phân tích sơ lược lịch sử vấn đề nghiên cứu để phát hiện khía cạnh cần nghiên cứu; giải thích lý do lựa chọn của tác giả về mặt lý thuyết và về mặt thực tiễn.

Xác định rõ đối tượng và phạm vi nghiên cứu: đối tượng là toàn bộ sự vật trong phạm vi quan tâm của đề tài nghiên cứu. Phạm vi nghiên cứu là giới hạn của đối tượng nghiên cứu về không gian, thời gian và quy mô vấn đề. Kinh nghiệm cho thấy phạm vi nghiên cứu không nên mở ra quá rộng mà càng hẹp càng có điều kiện đi sâu nhưng phải bảo đảm yêu cầu nghiên cứu.  

Xác định mục tiêu là nhiệm vụ nghiên cứu: mục tiêu nghiên cứu là cái đích mà người nghiên cứu vạch ra để thực hiện. Căn cứ nục tiêu nghiên cứu mà xác định nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể.

3. Xác định kế hoạch nghiên cứu

- Kế hoạch tiến độ;

- Kế hoạch nhân lực và phối hợp lực lượng;

- Lập dự toán tài chính.

Một số nơi thường ghép kế hoạch nghiên cứu vào đề cương nghiên cứu. Hai văn bản này có nội dung và mục đích khác nhau, nên tách riêng.

4. Tiến hành nghiên cứu

Thông thường, việc nghiên cứu khoa học về dân vận bao gồm những công việc sau:

- Điều tra, khảo sát tình hình thực tế;

- Hội thảo khoa học;

- Viết báo cáo khoa học của đề tài nghiên cứu.

a) Điều tra, khảo sát tình hình thực tế

Có nhiều phương pháp để điều tra, khảo sát tình hình thực tế. Ở đây chỉ đề cập đến phương pháp trưng cầu ý kiến là phương pháp phổ biến và có vị trí chủ đạo trong nghiên cứu xã hội. Đây là phương pháp thu thập thông tin sơ cấp trên cơ sở tác động qua lại về mặt tâm lý xã hội.

Người nghiên cứu lập ra một bảng hỏi với bố cục bao gồm Lời nói đầu (kêu gọi, đề nghị trả lời; bảo đảm bí mật cho người trả lời; các câu hỏi tiếp xúc như hỏi về lứa tuổi, giới tính, nghề nghiệp, trình độ học vấn, địa vị xã hội, nơi cư trú…) và phần nội dung chính với các câu hỏi đóng, câu hỏi mở và câu hỏi kết hợp. Cần sử dụng một số câu hỏi kiểm tra. Việc thiết kế câu hỏi phải bám sát đề cương nghiên cứu, đi vào những vấn đề trọng tâm tìm hiểu, từ ngữ phải rõ ràng, dễ hiểu, không dùng những khái niệm mơ hồ khi chỉ số lượng, định lượng về thời gian, không gian (ví dụ: ghi rõ ngày, tháng, năm, không nói đôi khi, thỉnh thoảng, không nói: có lẽ, hình như, đồn rằng…); không dùng những danh từ chuyên ngành hẹp, tiếng nước ngoài hoặc từ địa phương... mà ít người biết. Câu hỏi phải sát trình độ người được hỏi. Dung lượng hỏi không nên quá nhiều, người trả lời phải sử dụng khoảng 30 phút là vừa. Cuối bảng hỏi nên có lời cảm ơn, sự hứa hẹn của cơ quan lấy ý kiến.

Khi xây dựng xong bảng hỏi, cần tập huấn kỹ những người đi phỏng vấn. Chọn địa điểm, tình huống, thời điểm phỏng vấn cho thích hợp. Người đi phỏng vấn cần chú ý phong cách, trang phục, tránh gây ra sự khó chịu cho người được phỏng vấn. Cần chú ý tốc độ phỏng vấn phù hợp với từng đối tượng. Khi đi phỏng vấn, lúc đầu người phỏng vấn phải qua giai đoạn làm quen, sau đó mới vào nội dung phỏng vấn và khi kết thúc cần tạo bầu không khí tin cậy, thân mật để còn có dịp gặp phỏng vấn tiếp.

Sau khi thu được các bảng hỏi, cơ quan nghiên cứu tiến hành xử lý thông tin có thể bằng một trong hai phương pháp: phương pháp giản đơn và phương pháp xử lý thông tin trên máy vi tính.

Tùy theo tình hình, mức độ vấn đề cần nghiên cứu, người nghiên cứu có thể sử dụng cách nghiên cứu thực tiễn ở cơ sở với nhiều cách khác nhau: gặp gỡ, trao đổi với cán bộ, quần chúng ở cơ sở. Song, dù bằng cách nào, vấn đề quan trọng là phải bám sát đề cương để tìm hiểu, phân tích tình hình thực tế. Qua quá trình xử lý thông tin, người nghiên cứu thu thập được trước hết là thông tin sơ cấp cấp 1, rồi thông tin sơ cấp cấp 2 (thông tin đã xử lý thuần túy về mặt kỹ thuật), cuối cùng là thông tin cao cấp.

b) Hội thảo khoa học

Hội thảo khoa học là loại hội nghị khoa học không lớn với mục đích đưa ra một số vấn đề khoa học nhất định để thảo luận, tranh luận. Số người dự hội thảo khoa học nên hạn chế trong khoảng 20-30 người, không nên quá đông.

Để thội thảo có hiệu quả, cần thông báo trước cho những người dự hội thảo vấn đề cần thảo luận. Những người dự hội thảo gửi trước cho người chủ trì hội thảo ý kiến tham gia thảo luận của mình.

Khi vào hội thảo, người chủ trì hội thảo đọc báo cáo đề dẫn. Báo cáo này không dài nhưng cần nêu lên vấn đề, những nội dung cần thảo luận, nhất là những ý kiến khác nhau để thảo luận, tranh luận. Sau đó, các thành viên tham gia hội thảo phát biểu ý kiến. Để cuộc hội thảo đạt hiệu quả và đỡ tẻ nhạt, những người tham gia không nên chỉ đọc nguyên văn bản đã viết mà có thể trình bày thêm và tham gia tranh luận. Mỗi người chỉ nên trình bày trong khoảng thời gian từ 15-20 phút. Hết sức tránh việc lợi dụng diễn đàn để kể lể thành tích. Trong hội thảo khoa học, cần bảo đảm nguyên tắc:

- Tạo ra bầu không khí tự do tư tưởng, thoải mái về tinh thần, không có sự hạn chế nào về các ý tưởng được nêu ra.

- Không chỉ trích, châm biếm hoặc có hành động gây phương hại đến tự do tư tưởng.

- Khuyến khích và lắng nghe mọi ý kiến, kể cả những ý kiến có vẻ lạc đề, vô lý, vì sau đó lại có thể tiếp tục tranh luận.

- Kết thúc hội thảo, người chủ trì chỉ cần tóm tắt những ý kiến tham gia, không cần kết luận.

- Các bài viết tham gia hội thảo có thể được tập hợp trong một cuốn kỷ yếu.

c) Viết báo cáo khoa học

Báo cáo khoa học nhằm mục đích ghi nhận và công bố các kết quả nghiên cứu, đồng thời cũng là văn bản để báo cáo cơ quan quản lý nghiên cứu hoặc cơ quan tài trợ. Có nhiều hình thức báo cáo công trình nghiên cứu:

- Viết báo cáo từng phần đã hoàn tất của công trình nghiên cứu.

- Viết báo cáo trung hạn theo quy định của cơ quan quản lý nghiên cứu.

- Viết báo cáo hoàn tất công trình nghìn cứu để công bố kết quả nghiên cứu và báo cáo với cơ quan tài trợ hoặc cơ quan quan lý nghiên cứu.

Về nội dung của báo cáo:

- Giới thiệu chung vấn đề nghiên cứu;

- Trình bày vắn tắt hoạt động của nhóm nghiên cứu;

- Cơ sở lý thuyết được sử dụng;

- Mô tả các phương pháp nghiên cứu;

- Trình bày, mô tả những kết quả đạt được;

- Thảo luận về kết quả và những vấn đề chưa được giải quyết cần được tiếp tục nghìn cứu.

Về kết cấp chung của báo cáo:

Lời nói đầu:

Nêu vắn tắt lý do và bối cảnh của đề tài, ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài, kết quả đạt được và những tồn tại, những dự kiến sau công trình nghiên cứu. Trong phần cuối của Lời nói đầu cần có mấy dòng cảm ơn đối với những cơ quan và cá nhân có sự giúp đỡ đặc biệt với công trình nghiên cứu.

- Tổng quan:

Giới thiệu chung về vấn đề nghiên cứu.

Tổng quan lịch sử nghiên cứu, những vấn đề còn bỏ trống trong các nghiên cứu trước đây và quan điểm lựa chọn vấn đề nghiên cứu.

Trình bày vắn tắt hoạt động nghiên cứu.

Nội dung nghiên cứu và kết quả:

Trình bày những giả thuyết và phương pháp kiểm chứng;

Trình bày những kết quả đạt được về mặt lý thuyết và kết quả áp dụng;

Thảo luận, bình luận kết quả và nêu những vấn đề chưa được giải quyết.

- Kết luận và khuyến nghị8:

Kết luận về toàn bộ công cuộc nghiên cứu;

Các khuyến nghị.

Ngoài những phần chính trên đây, trong báo cáo khoa học còn có phần tài liệu tham khảo, trích dẫn, đề mục và chỉ dẫn tác giả, các phụ lục.

5. Nghiệm thu đề tài nghiên cứu

Nghiệm thu đề tài nghiên cứu là việc đánh giá công trình nghiên cứu đó. Người ta thường căn cứ vào ba vấn đề dưới đây để đánh giá:

- Mức độ đạt về nội dung;

- Mức độ đạt về thời gian;

- Triển vọng ứng dụng kết quả nghiên cứu.

Thông thường có bốn mức đánh giá: xuất sắc giỏi; khá; đạt yêu cầu và không đạt yêu cầu. Có nơi còn định ra hệ thống thang điểm (thường là 100 điểm) để lượng hoá các mức trên (ví dụ có 100 điểm là tối đa, chia ra 60 điểm để đánh giá nội dung 30 điểm về triển vọng ứng dụng, còn 10 điểm là mức độ đạt về thời gian nghiên cứu. Cộng cả ba loại trên nếu đạt dưới 50 điểm là "không đạt”, từ 50 điểm đến 70 điểm là "đạt yêu cầu”, từ 71 điểm đến 90 điểm là "khá", từ 91 điểm đến 100 điểm là "xuất sắc” hoặc "giỏi").

Có hai phương pháp đánh giá: phương pháp chuyên gia và phương pháp hội đồng. Phương pháp hội đồng được áp dụng phổ biến hơn. Một hội đồng nghiệm thu được thành lập (có quyết định thành lập) gồm những người am hiểu lĩnh vực nghiên cứu của đề tài. Số thành viên hội đồng là số lẻ, thông thường, hội đồng có 7 hoặc 9 thành viên, trong đó có một chủ tịch, một thư ký và ba thành viên là người viết nhận xét phản biện (hai người viết nhận xét với tư cách cá nhân, một người viết nhận xét với tư cách một cơ quan áp dụng kết quả nghiên cứu), ngoài ra có thể cơ cấu một số thành viên khác, là chuyên gia thuộc các cơ quan chuyên ngành có liên quan. Quyết định thành lập Hội đồng nghiệm thu do cơ quan chủ quản lý theo quy định của Nhà nước. Để có tư liệu làm việc cho hội đồng, nhóm nghiên cứu cần viết một bản tóm tắt báo cáo khoa học và gửi cho các thành viên hội đồng trước ngày triệu tập phiên họp của hội đồng.

Sau khi nghe Chủ nhiệm đề tài trình bày (trình bày theo bản tóm tắt, không quá 30 phút), nghe những bản nhận xét phản biện, hội đồng thảo luận và bỏ phiếu (lúc này những người dự hội nghị nghiệm thu nghỉ giải lao). Phần cuối cùng của hội nghị nghiệm thu, sau khi nghe Thư ký hội đồng công bố kết quả kiểm phiếu và đánh giá xếp loại, Chủ nhiệm đề tài phát biểu cảm tưởng và cảm ơn.

Những điều cần lưu ý khi viết bản nhận xét phản biện khoa học:

Đây là một văn bản nhằm mục đích bình luận, phân tích và đánh giá một công trình khoa học, được sử dụng làm căn cứ cho việc xem xét đề tài nghiên cứu khoa học, nên bao gồm:

- Phần mô tả thủ tục: tên công trình được nhận xét, bố cục, số trang chung và số trang qua từng phần và chương.

- Phần mô tả nội dung chung và nội dung qua các chương trình.

- Phần nhận xét tổng quan và cái mới trong thành tựu.

- Phần nhận xét những chỗ chưa được giải quyết (do trở ngại khách quan hay do sai phạm trong phương pháp tiếp cận hoặc sai phạm lôgích trong suy luận).

- Phần đánh giá các lập luận.

- Phần khuyến nghị (công trình có thể được chấp nhận; công trình cần được chỉnh lý thêm một phần hoặc cần phải làm lại; công trình đáng được xếp vào loại...).

IX

HƯỚNG DẪN TRIỂN KHAI DỰ ÁN THAM GIA NHIỆM VỤ

KINH TẾ XÃ HỘI

Tham gia ngày càng sâu rộng vào các chương trình kinh tế - xã hội thì cán bộ dân vận, Mặt trận, đoàn thể càng tiếp cận với hoạt động có ý nghĩa tổng hợp trong đời sống, dưới dạng các dự án. Các ngân hàng, các nhà tài trợ triển khai vốn theo dự án; đoàn thể tín chấp để có thêm sự bảo trợ tinh thần; hộ gia đình và người sản xuất thu hút được nguồn lực để sản xuất kinh doanh có hiệu quả, vượt qua đói nghèo, vươn lên trong đời sống và thu nhập.

Dự án là tập hợp hoàn chỉnh các hoạt động (về vốn, lao động, đất đai, kỹ thuật và tổ chức quản lý...) nhằm đạt được mục tiêu cụ thể trong một thời gian nhất định, để nâng cao nhận thức, tạo thu nhập, nâng cao chất lượng cuộc sống.

Ví dụ các dự án: xoá đói, giảm nghèo; giúp xã khó khăn; vay vốn làm kinh tế hộ gia đình; lập trang trại, v.v..

Dự án có các yếu tố cơ bản sau:

- Mục tiêu: gồm mục tiêu ngắn hạn và mục tiêu dài hạn; mục tiêu kinh tế - xã hội, môi trường, an ninh - quốc phòng... Đó là đích đạt được về lượng, về chất; phản ánh bằng các con số có thể kiểm tra được.

- Các yếu tố đầu vào: là các nguồn lực về kỹ thuật, tài chính, đất đai, công cụ, lao động… để thực hiện dự án.

- Sản phẩm và kết quả: là các hiện vật, công trình, các loại sản phẩm khác nhau phục vụ cho cuộc sống.

Kế hoạch, trình độ, triển khai thực hiện: các hoạt động cụ thể, có hệ thống, có tính toán hợp lý, có thời gian chặt chẽ, nhằm đạt dần từng bước để đi đến kết quả cuối cùng do dự án đề ra.

1. Lập dự án

Bước 1:

Lựa chọn các mục tiêu của dự án. Xác định được mục tiêu trước mắt và mục tiêu lâu dài.

Ở bước này đòi hỏi phải phân tích cẩn thận những vấn đề sẽ được giải quyết. Phải lường được những khó khăn sẵn có, những khó khăn sẽ phát sinh, nguyên nhân của những khó khăn đó, dự lượng được hậu quả do những khó khăn đó gây ra.

Bước 2:

Xác định được kết quả cụ thể nào mà dự án nhất thiết phải tạo ra nhằm đạt được mục tiêu đã lựa chọn.

Khi thiết kế dự án phải tính đến những chi phí đầu tư thực hiện để tạo ra kết quả. Cho nên, chỉ xác định những kết quả thật cần thiết, đủ và có thể đạt được mục tiêu đã đề ra.

Bước 3:

Làm thế nào để tạo ra các kết quả đó? Đây là câu hỏi phải trả lời ở bước này. Cụ thể là phải xác định được những công việc phải thực hiện để đạt được mục tiêu và kết quả đã định ra.

Bước 4:

Xác định được những nguồn lực cần thiết cho dự án hoạt động, bao gồm: sự đóng góp của địa phương, số vốn được tài trợ, sự tham gia của cộng đồng, sự điều hành thực hiện của Ban quản lý dự án, sự lãnh đạo của cấp ủy, chính quyền địa phương...

Trong quá trình xây dựng dự án phải tính hết các yếu tố thuận lợi, khó khăn, những cản trở từ các phía tác động đến việc thực hiện dự án và những khó khăn để tìm cách khắc phục. Đồng thời phải tính đến các phương án thực hiện tối ưu, hiệu quả, phù hợp với hoàn cảnh của địa phương nơi triển khai dự án. Phải định ra kế hoạch rõ ràng trong từng thời gian nhất định để thực hiện. Quá trình thực hiện luôn phải trả lời cho được những câu hỏi: Việc gì? Ở đâu? Bao nhiêu? Ai làm? Làm khi nào? Làm như thế nào?

2. Quản lý dự án

- Quản lý dự án là nghệ thuật điều hành và kết hợp các nguồn lực (nhân lực, vật lực) thông qua một chương trình dự án bằng việc sử dụng các kỹ năng quản lý nhằm đạt được mục tiêu đã xác định của dự án.  

Mục đích quản lý dự án nhằm: thực hiện mục tiêu đã đề ra; lường trước những rủi ro để hạn chế và giảm mức thiệt hại cho dự án; đảm bảo sự phối hợp và lợi ích giữa những người hưởng lợi, người bị ảnh hưởng và cán bộ dự án; đảm bảo sự bền vững của dự án khi kết thúc.

- Muốn quản lý dự án được tốt cần chú ý các khâu sau:

Thành lập Ban Điều hành dự án gồm những cán bộ có năng lực, có nhiệt tình, có uy tín, được các thành viên nhiệt tình cộng tác;

Dự án phải được kế hoạch hoá thành nội dung, nhiệm vụ, tiến độ cụ thể;

Điều hành việc thực hiện nhịp nhàng của các thành viên trong nhóm;

Thường xuyên kiểm tra, đánh giá tiến độ.

3. Giám sát, đánh giá dự án

a) Giám sát dự án

Trên cơ sở kế hoạch thực hiện dự án và quản lý dự án, việc giám sát dự án là công việc cần thiết của người quản lý.

Giám sát dự án là quá trình kiểm tra, đánh giá kết quả thực tế đạt được qua từng bước so với kế hoạch, để xác định tình trạng chi phí, tiến độ công việc và các mức độ đạt được so với mục tiêu dự án. Trên cơ sở đó đề ra kế hoạch điều chỉnh cho phù hợp với tình hình. Các bước của giám sát như sau:

- Mục tiêu của hoạt động;

- Phạm vi của hoạt động;

- Dự trù kinh phí, nhân lực, vật lực;

- Thời gian hoàn thành;

- Mức đáp ứng của người thực hiện, người hưởng lợi, người bị ảnh hưởng và người tham gia;

- Năng suất chất lượng và hiệu quả của hoạt động dự án.

* Giám sát tình hình thực hiện dự án bằng cách thông qua các văn bản báo cáo, kiểm tra định kỳ và đột xuất, nghe và khảo sát thực tế, phân tích chứng từ sổ sách và qua các cuộc họp, trao đổi bằng thư từ, điện thoại 
* So sánh thực tế với tiêu chuẩn.

* Thực hiện các biện pháp điều chỉnh cần thiết để thực hiện các mục tiêu của từng hoạt động và của cả dự án phù hợp với hoàn cảnh mới.

*Tổ chức giám sát dự án

- Phân công trách nhiệm cho từng thành viên trong Ban Điều hành dự án các cấp;

- Phân công theo dõi điều hành và kiểm tra từng hoạt động dự án;

- Tổ chức hệ thống thông tin và chế độ giám sát;

- Xác định thẩm quyền của các thành viên trong bộ máy giám sát;

- Thu thập thông tin và xử lý, phân tích thông tin;

- Đưa ra những quyết định kịp thời và phù hợp với tình hình cụ thể ở nơi thực hiện dự án.

b) Đánh giá dự án

Đánh giá dự án là quá trình khẳng định tính đúng đắn, hiệu quả và ảnh hưởng của các hoạt động dự án so với mục tiêu đề ra.

Bước 1: Đánh giá dự án

Có nhiều loại đánh giá dự án do bên liên quan thực hiện, trong đó có ba loại đánh giá quan trọng sau đây:

*Đánh giá khả thi: để thẩm định, xét duyệt do cơ quan có thẩm quyền xét duyệt tiến hành. Đánh giá khả thi dự án được tiến hành trước khi dự án được phê duyệt. Cơ sở để đánh giá dự án khả thi là: sự ủng hộ của cấp ủy, chính quyền địa phương, sự phù hợp với mục tiêu phát triển kinh tế xã hội ở địa phương. Cụ thể là:

- Khả thi về pháp lý: dự án tuân thủ theo đúng pháp luật của Nhà nước.

- Khả thi về văn hoá: dự án phù hợp với đời sống văn hóa của cộng đồng.

- Khả thi về kỹ thuật: dự án phù hợp với chỉ đạo phong trào quần chúng được cộng đồng công nhận.

- Khả thi về nguồn lực: dự án có khả năng về tài chính và nhân lực để thực hiện.

- Khả thi về môi trường: an ninh, quốc phòng...

*Đánh giá tiến độ (so với kế hoạch đề ra):

Do đơn vị thực hiện dự án tiến hành, thường là báo cáo thường kỳ. Báo cáo được trình bày tại buổi họp kiểm điểm giữa kỳ giữa các bên liên quan (phía tài trợ, phía kỹ thuật, phía đơn vị thực hiện dự án).

* Đánh giá tác động dự án:

Mức độ và kết quả thực hiện so với mục tiêu, mục đích đề ra: ảnh hưởng của dự án đến cuộc sống của người thụ hưởng so với trước khi vào dự án.

Bước 2: Tổ chức đánh giá kết quả dự án

- Xác định mục đích đánh giá;

- Nội dung và phương pháp đánh giá;

- Hình thành nhóm đánh giá;

- Lập kế hoạch đánh giá;

- Báo cáo đánh giá.

Việc đánh giá này là để nhìn nhận kết quả và kết thúc dự án, cho nên phải chuẩn bị đầy đủ các văn bản chính thức theo quy định. Phải có những người có trách nhiệm của các cơ quan quản lý dự án, kiểm tra, đi tới thống nhất việc đánh giá. Đó cũng là cơ sở pháp lý để kết thúc các hợp đồng, các quan hệ kinh tế dành cho một hoạt động cụ thể.

X

HƯỚNG DẪN TỔ CHỨC HỘI THI CÁN BỘ “DÂN VẬN KHÉO”

Hội thi cán bộ “Dân vận khéo" là một hình thức nghiệp vụ của công tác dân vận hiện nay. Ban Dân vận Trung ương hướng dẫn về tổ chức Hội thi cán bộ "Dân vận khéo" như sau:

1. Mục đích cuộc thi

- Góp phần tuyên truyền và phổ biến sâu rộng các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; nâng cao nhận thức cho cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân về công tác dân vận của Đảng trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, thúc đẩy thực hiện thắng lợi các chương trình kinh tế xã hội, giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội ở địa phương, cơ sở.

- Khuyến khích tinh thần nhiệt tình, sáng tạo, cổ vũ động viên và nhân rộng các điển hình, mô hình làm "Dân vận khéo", thu hút sự quan tâm, giúp đỡ và phối hợp của các cơ quan, ban, ngành đối với công tác dân vận của Đảng.

- Giao lưu học hỏi, nâng cao năng lực, khuyến khích tinh thần nhiệt tình và sáng tạo của đội ngũ cán bộ trong hệ thống chính trị, đặc biệt là trong lĩnh vực công tác vận động quần chúng về tư duy chính trị, khả năng công tác, trách nhiệm và kỹ năng, nghiệp vụ công tác dân vận cho đội ngũ cán bộ trong hệ thống chính trị nói chung và cán bộ trực tiếp tham gia công tác dân vận

2. Đối tượng dự thi

- Cán bộ cấp ủy đảng, cán bộ chính quyền, các đoàn thể nhân dân, các hội quần chúng, các lực lượng vũ trang (công an, quân đội, bộ đội biên phòng).

- Tùy theo tình hình cụ thể ở các địa phương, có thể mời những người có uy tín tham dự, như: các nhà sư, nữ tu, các chức sắc tôn giáo, các già làng, trưởng bản…

3. Nội dung cuộc thi

Mỗi lần tổ chức thi "Dân vận khéo” cần có chủ đề riêng. Thí sinh dự thi với ba nội dung, được gợi ý, hướng dẫn để mọi người quan tâm, đó là:

- Phần lý thuyết: Tìm hiểu các chủ trương, quan điểm, nghị quyết, chỉ thị của Đảng về công tác dân vận, dân tộc, tôn giáo; tư tưởng dân vận của Chủ tịch Hồ Chí Minh; nghị quyết đại hội đảng bộ các cấp, các chủ trương lớn triển khai tại địa phương...

- Phần thực hành: Thí sinh phải trả lời các câu hỏi về xử lý tình huống thuộc các lĩnh vực: đất đai, dân tộc, tôn giáo, khiếu kiện đông người, đền bù giải phóng mặt bằng, vệ sinh môi trường, phòng chống tệ nạn, giải quyết các mâu thuẫn phát sinh trong nội bộ nhân dân...

- Phần năng khiếu: Do cá nhân tự lựa chọn các hình thức mà cá nhân có thể tham gia sinh hoạt với tập thể, như: hát, múa, ngâm thơ, tiểu phẩm, kịch, tấu, kể chuyện, thuyết trình gọn theo chủ đề, tuyên truyền miệng... với nội dung gắn với công tác dân vận.

4. Hình thức thi

- Tổ chức theo hình thức thi vấn đáp, trả lời công khai, có Ban giám khảo chấm điểm và người dẫn chương trình có gợi ý, hướng dẫn, kèm theo lời bình luận, cổ vũ. Người dự thi tham gia bốc thăm trả lời câu hỏi lý thuyết, câu hỏi ứng xử tình huống và trình bày phần thi năng khiếu mà cá nhân tự chọn.

- Nếu thi cá nhân với ba phần: trả lời câu hỏi lý thuyết, xử lý tình huống dân vận và thi năng khiếu.

- Nếu thi tập thể cần lưu ý: thêm phần tự giới thiệu về địa phương, cơ sở mình và phần thi trả lời câu hỏi lý thuyết, xử lý tình huống và thi năng khiếu toàn đội. Khuyến khích hình thức "sân khấu hóa" gắn với chủ đề hội thi.

- Có thể thi hỗn hợp của cá nhân và các đội dự thi theo cách xen kẽ, hợp lý.

5. Giải thưởng

- Trao giải thưởng cho cá nhân, tập thể bằng tiền mặt hoặc hiện vật.

- Ngoài các giải thưởng trị giá bằng tiền mặt hoặc các hiện vật; các địa phương, đơn vị nên có các hình thức khác, như: trao cờ lưu niệm hội thi, bằng khen, giấy khen…

6. Chỉ đạo thực hiện

Để hội (cuộc) thi được tiến hành nghiêm túc, dân chủ, công khai, hiệu quả, Ban Dân vận các cấp cần làm tốt công tác tham mưu, phối hợp, hướng dẫn, kiểm tra, chỉ đạo và tổ chức thực hiện như sau:

- Ban Dân vận cấp ủy các cấp cần chủ động tham mưu cho cấp ủy cùng cấp ra thông tri hoặc thông báo về lãnh đạo hội (cuộc) thi.

- Xây dựng kế hoạch, trình thường trực cấp ủy thông qua, mở hội nghị quán triệt, triển khai đến các cấp, các ngành, Ban Dân vận và Khối Dân vận cơ sở. Tăng cường phối hợp với các cấp, các ngành, địa phương, cơ sở để tạo được sự đồng tình, nhất trí cao và sự phối hợp chặt chẽ, sự giúp đỡ tạo điều kiện về mọi mặt, như: kinh phí, cơ sở vật chất, phương tiện, con người, tài liệu...

- Ban Dân vận cấp ủy là cơ quan thường trực của Ban chỉ đạo, Ban tổ chức hội (cuộc) thi, có trách nhiệm giúp Ban chỉ đạo, Ban tổ chức trong việc chỉ đạo, hướng dẫn, triển khai, đôn đốc, kiểm tra và tổ chức hội (cuộc) thi, đồng thời báo cáo với Ban chỉ đạo cuộc thi và cấp ủy về tiến độ, kết quả triển khai thực hiện hội (cuộc) thi.

7. Các bước tiến hành

Ban Dân vận các cấp tham mưu cho cấp ủy về chủ trương tổ chức hội (cuộc) thi và có kế hoạch quán triệt, triển khai hướng dẫn nội dung và tổ chức hội (cuộc) thi từ cơ sở đến các cấp, các ngành.

- Thành lập Ban chỉ đạo hoặc Ban tổ chức hội (cuộc) thi; Ban giám khảo, tổ thư ký, tổ hướng dẫn chương trình, phối hợp với các ban, ngành, đoàn thể huy động đông đảo lực lượng tham gia hội (cuộc) thi. Nếu cần, có thể mời một số chuyên gia làm tư vấn cho các nội dung hội (cuộc) thi.

- Chuẩn bị nội dung câu hỏi thi (lý thuyết xử lý tình huống), đáp án, thang điểm, kinh phí, địa điểm, các giải thưởng cuộc thi và các điều kiện cần thiết khác cho hội (cuộc) thi…

- Tổ chức chỉ đạo điểm rút kinh nghiệm để hướng dẫn thêm việc tổ chức thi rộng rãi ở các loại hình cơ sở và tiến hành thi ở từng cấp.

- Tổ chức thi chung kết gắn với đánh giá quá trình chỉ đạo, tổ chức thi; khen thưởng, biểu dương, động viên phong trào; tổng kết rút kinh nghiệm hội (cuộc) thi cán bộ "Dân vận khéo” của địa phương.

8. Những điểm cần lưu ý

- Ở mỗi cấp thi đều tiến hành chỉ đạo điểm, rút kinh nghiệm, bổ sung, điều chỉnh nội dung thi, đáp án, phương pháp chỉ đạo... rồi mới triển khai ra diện rộng.

- Hệ thống câu hỏi (lý thuyết và xử lý tình huống) cần hết sức cụ thể, chi tiết, chính xác, dự kiến được các tình huống phát sinh. Có những câu hỏi mở để phát huy tính sáng tạo của đối tượng dự thi.

- Trong quá trình chỉ đạo, tổ chức thực hiện cần hết sức lưu ý khâu tuyên truyền, vận động, tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ của cấp ủy đảng, chính quyền, các ngành. Chuẩn bị chu đáo, khuyến khích sáng tạo, năng động của các cấp, các ngành và thí sinh tham dự hội thi. Tổ chức tốt người dự và cổ vũ các thí sinh.

- Đối với các cấp cơ sở có thể tổ chức thi buổi tối. Địa điểm thi nên tổ chức ở hội trường lớn hoặc có thể tổ chức ngoài trời, tạo điều kiện thuận lợi để đông đảo các tầng lớp nhân dân tham gia.

- Trong quá trình thi có thể xen kẽ văn nghệ. Nên có hình thức mở rộng để các khán giả có thể tham gia vào hội (cuộc) thi, giao lưu giữa khán giả và thí sinh dự thi với Ban tổ chức..., tạo cho hội thi có sự hấp dẫn và mang tính quần chúng rộng rãi.

- Thành viên Ban Chỉ đạo, Ban Tổ chức hội thi ở cấp tỉnh và huyện nên bố trí để có đại biểu của các ngành tham gia như: Ban Dân vận, Tuyên giáo, Tổ chức, Nội vụ, Văn hóa thông tin, giáo viên trường chính trị, cán bộ Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân (các hội quần chúng), các cơ quan thông tin đại chúng... Đối với cấp cơ sở nên mời (vận động) các đồng chí là thành viên khác của khối Dân vận tham gia.

- Lựa chọn thời gian tổ chức thi cho phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh, thời tiết, mùa vụ của từng địa phương, cơ sở. Nên chủ động bố trí thời gian tổ chức thi vào các dịp kỷ niệm ngày thành lập Đảng (ngày 3-2), sinh nhật Bác (ngày 19-5), Quốc khánh (ngày 2-9), ngày Dân vận cả nước (ngày 15-10)…

Mỗi nhiệm kỳ của cấp ủy, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và đoàn thể tổ chức được một hội (cuộc) thi cán bộ “dân vận khéo” là thiết thực góp phần vào quá trình đổi mới công tác dân vận của Đảng, tạo được một sinh hoạt có màu sắc sống động trong công tác dân vận ở địa phương, cơ sở.

_________________

1. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.12, tr.420

2. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.4, tr.56-57

3,4. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.5, tr.267, 298

5. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.5, tr.250

6, 7. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.5, tr.29, 293.

8. Dùng thuật ngữ "khuyến nghị"; không dùng “kiến nghị” khuyến nghị khoa học không mang bất kỳ ý nghĩa nào về sức ép, còn kiến nghị thường mang ý nghĩa một sức ép.



PHẦN THỨ BA

MỘT SỐ TÌNH HUỐNG TRONG CÔNG TÁC DÂN VẬN HÒA GIẢI

I

HÒA GIẢI

Cán bộ dân vận phải hoà giải cho những vụ việc vướng mắc, bất hoà, mâu thuẫn, thậm chí xung đột trong cuộc sống, nơi mình công tác. Hòa giải những mâu thuẫn, tranh chấp nảy sinh trong nhân dân phải tiến hành qua các bước:

Bước 1: Tìm hiểu rõ sự việc: gặp từng bên để lắng nghe, tìm hiểu nội dung và nguyên nhân gây ra mâu thuẫn và tranh chấp; trao đổi với người quen, người ở gần để có thêm thông tin khách quan.

Bước 2: Tìm hiểu luật, quy định, quy ước có quan hệ tới nội dung tranh chấp, mâu thuẫn; có thể trao đổi với những người có hiểu biết, có uy tín để có thêm lời khuyên và lời tư vấn về hướng giải quyết .

Bước 3: Gặp gỡ và trao đổi ba bên: người hòa giải là nhân vật trung gian giữ vai trò khách quan, giữ không khí tôn trọng, bình tĩnh để mọi người lắng nghe nhau, đặt vấn đề có tình, có lý, qua đó trao đổi, nêu ra giải pháp xây dựng thái độ cầu thị, tinh thần đoàn kết để cùng giải quyết vấn đề.

Nhắc nhở, phân tích cho cả hai bên với thái độ công bằng; khêu gợi cái tốt, cái hay của mỗi bên, làm rõ cái lợi chung mà hai bên cần hoà giải với nhau.

Bước 4: Thủ tục để chấm dứt vướng mắc, kết thúc hòa giải. Tùy sự việc mà tiến hành các hình thức:

- Giảng hoà với nhau bằng miệng trước sự chứng kiến của người hoà giải;

- Giao kèo trước một tập thể rộng hơn cùng chứng kiến;

- Ký kết văn bản giải quyết mâu thuẫn, tranh chấp có xác nhận của một cơ quan, tổ chức hoặc đại diện của một tập thể;

- Thông tin nội dung đã giải quyết với cộng đồng gần gũi của hai bên.

II

TIẾP DÂN ĐẾN KHIẾU NẠI, TỐ CÁO

Các cơ quan dân vận, Mặt trận, đoàn thể không phải là cơ quan có thẩm quyền giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân. Nhưng việc tiếp dân đến khiếu nại, tố cáo là việc thường gặp. Vì vậy, cán bộ dân vận phải nghe, hướng dẫn, giúp đỡ người dân cả khi đến khiếu nại, tố cáo.

1. Tiếp dân đến khiếu nại, tố cáo

a) Tiếp một người lần đầu tới

- Chào, hỏi bố trí chỗ tiếp, để hiểu rõ đối tượng tiếp;

- Lắng nghe họ trình bày, sau đó nhận đơn, biên nhận, vào sổ;

- Hướng dẫn người khiếu nại đi đúng tuyến, giải thích cho họ an tâm;

- Chuyển đơn đến các cơ quan có thẩm quyền giải quyết;

- Ghi sổ theo dõi việc giải quyết vụ việc khiếu kiện.

b) Tiếp đông người lần đầu tới

- Chào hỏi, bố trí chỗ tiếp người đại diện của tập thể;

- Nghe trình bày, nhận đơn, vào sổ và làm tiếp các việc như ở phần trên.

c) Tiếp cá nhân và tập thể đã tới nhiều lần

Với những người này nên lưu ý: hẹn giờ có sự chuẩn bị, hỏi cơ quan chức năng về quá trình giải quyết và vướng mắc nào không giải quyết được; nhận chuyển đơn và hướng dẫn họ tới cơ quan có thẩm quyền giải quyết.

2. Một số điểm cần lưu ý khi tiếp dân đến khiếu nại, tố cáo

- Kiên trì, bình tĩnh nghe và làm dịu bớt nỗi bực bội của người đến khiếu nại, tố cáo;

- Tránh tranh luận với người tới tố cáo, khiếu nại;

- Không hứa điều mình không làm được;

- Chuyển những khiếu nại, tố cáo tới đúng địa chỉ có trách nhiệm và có thẩm quyền giải quyết là góp sức để giải quyết nỗi bức xúc của dân;

- Tránh đẩy người khiếu nại, tố cáo vào tâm trạng bế tắc, vì như vậy là đổ thêm dầu vào lửa.

III

ĐI THỰC TẾ CƠ SỞ

Cán bộ dân vận dù ở cấp nào cũng phải bám sát và nắm vững tình hình thực tế của nhân dân, do đó, phải thường xuyên đi đến cơ sở. Khi được cơ quan cử đi cơ sở phải rõ: đi đâu, thời gian nào, nội dung đi cơ sở (kiểm tra thực hiện chủ trương, khảo sát đời sống nhân dân hoặc thực tế công tác dân vận, Mặt trận, đoàn thể, tham gia tổ công tác tăng cường cho cơ sở; triển khai chủ trương, tập huấn cán bộ…).

Việc đi cơ sở phải được chuẩn bị cụ thể:

1. Có kế hoạch: có thể chuẩn bị thành đề cương, sau đó trình cho người có thẩm quyền duyệt, đồng ý.

2. Tài liệu:

- Các văn bản chỉ đạo (nghị quyết, chỉ thị,...) nếu đi truyền đạt;

- Đề cương, mẫu biểu, nếu đi khảo sát, nghiên cứu;

- Sơ đồ, tranh, hướng dẫn kỹ thuật… nếu làm dự án kinh tế - xã hội, tập huấn cán bộ.

3. Các điều kiện về sinh hoạt, cuộc sống

Tùy theo thời gian của đợt đi công tác, mỗi người phải chủ động chuẩn bị cho việc đi cơ sở được thuận lợi, suôn sẻ. Càng chuẩn bị kỹ thì càng đỡ bị động, nhất là đi tới vùng sâu, vùng xa, miền núi, nơi khó liên lạc, Ví dụ:

- Giấy, bút, sổ sách để ghi chép;

- Tư trang (gọn nhẹ nhưng đủ), có nơi cán bộ phải tự lo chăn, màn, võng, áo mưa; nếu mùa rét chú ý áo đủ ấm, v.v.;

- Điều kiện đi lại (xe cơ quan, xe công cộng, tàu, máy bay…); phải tính tới việc đi lại ở cơ sở (xe đạp, xe máy…);

- Thuốc bệnh thông thường dùng cho cá nhân;

- Sách, báo, đài (nếu đi vùng cao);

- Quà giao dịch, làm quen, thăm hỏi: đây là việc của cá nhân và của cơ quan, tùy hoàn cảnh và điều kiện cụ thể, tạo điều kiện cho cán bộ đi công tác cơ sở có thuận lợi hơn khi tiếp xúc với các đối tượng cán bộ, nhân dân (sẽ trao đổi và xử lý tình huống riêng).

4. Họp hành, tiếp xúc, trao đổi

Tranh thủ kết hợp và tận dụng tối đa thời gian ở cơ sở; nhưng phải phù hợp công việc, mùa vụ của nhân dân (xã, phường, doanh nghiệp, cơ quan), ví dụ:

- Ở doanh nghiệp, gặp công nhân ngoài giờ, sau ca làm việc là chủ yếu;

- Ở nông thôn, gặp người làm nông vào trưa hoặc tối tại nhà;

- Ở cơ quan, trường học, đơn vị quân đội có thể thuận lợi hơn.

5. Thực hiện “ba cùng”

Với cán bộ các đội công tác, cán bộ biệt phái đi cơ sở sẽ thực hiện “ba cùng”.

Cùng ở tại cán bộ cơ sở hoặc nhà dân: lưu ý sao cho thuận lợi các sinh hoạt bình thường, không gây phiền hà cho gia đình.

Cùng làm: có thể tham gia một số hoạt động lao động, sản xuất ở cơ sở để hiểu hoàn cảnh của bà con; tham gia đi lao động cũng là dịp để tìm hiểu các mặt cuộc sống, hoạt động của địa phương.

Có điều kiện nên chủ động tham gia các sinh hoạt tập thể, văn hóa, thể thao, lễ hội để hòa nhập vào đời sống ở cơ sở.

Cùng ăn: tính toán cách nào để phù hợp với hoàn cảnh cụ thể, và có thể hòa nhập với bà con ở cơ sở.

IV

GẶP NGƯỜI CÓ UY TÍN

Trong cộng đồng dân cư có nhiều người có uy tín trong quần chúng nhân dân, cần coi trọng vai trò của họ khi tiến hành các mặt công tác tại địa bàn.

1. Người có uy tín gồm:

- Cán bộ cách mạng lão thành;

- Già làng, trưởng bản, trưởng họ, người cao tuổi;

- Chức sắc tôn giáo;

- Chuyên gia các lĩnh vực chuyên môn đang sống ở địa bàn.

2. Mục đích

Gặp người có uy tín là để phát huy vai trò của người được dân tín nhiệm, qua đó mà thăm hỏi, tạo quan hệ tốt; hỏi ý kiến của họ về công việc tiến hành ở địa bàn, đề nghị người có uy tín tham gia vận động nhân dân thực hiện tốt các chủ trương của Đảng và Nhà nước.

3. Cơ hội gặp gỡ: Tùy hoàn cảnh cụ thể từng trường hợp mà gặp người có uy tín:

- Thăm hỏi tại nhà (với người tuổi cao, sức yếu);

- Mời dự, trao đổi với một số người nhân có sự kiện phù hợp;

- Mời và đón tới cơ quan bàn công việc, v.v.;

Điều quan trọng là cách làm trân trọng, nội dung thiết thực, thái độ chân tình đối với những người có uy tín trong cộng đồng.

4. Một số điều cần lưu ý khi gặp người có uy tín

Để bày tỏ lòng tôn trọng người có uy tín, khi gặp gỡ nên lưu ý:

- Nên có một vài đồng chí cán bộ có cương vị của cấp ủy, chính quyền hoặc đoàn thể cùng dự và tiếp;

- Chủ động mời trước, tổ chức đưa đón chu đáo;

- Chú ý lắng nghe ý kiến của họ nêu ra, nếu cần phải trình bày, giải đáp những thắc mắc được nêu ra;

- Đề xuất kiến nghị với người có uy tín điều gì phải rõ ràng; không nên đòi hỏi quá cụ thể, quá nhiều điều;

- Nên có cuộc sinh hoạt thân tình theo tập quán địa phương, dân tộc (nếu có quà lưu niệm thì càng tốt);

- Nên ghi lại những ý kiến quan trọng qua buổi gặp gỡ sau đó gửi cho các cá nhân, các cơ quan có trách nhiệm nghiên cứu, theo dõi giải quyết.

V

MỘT SỐ TÌNH HUỐNG KHÁC

Một số tình huống cụ thể nêu sau đây được xem là những bài tập tình huống giúp cho người cán bộ dân vận dự lường cách xử lý cụ thể nếu gặp phải. Cách tiến hành có thể do giáo viên cùng học viên xử lý tình huống, hoặc một nhóm cùng nhau đưa ra cách xử lý tình huống. Phân công một người trình bày ý kiến của mình về một tình huống trong công tác dân vận, các thành viên trong nhóm nhận xét và bổ sung.

- Chuẩn bị một buổi tiếp xúc cử tri;

- Gặp một già làng người dân tộc thiểu số;

- Dự sinh hoạt của một câu lạc bộ người cao tuổi;

- Gặp giám đốc là người nước ngoài để trao đổi về xây dựng các tổ chức chính trị, xã hội (tổ chức công đoàn, đoàn thanh niên, cựu chiến binh);

- Thăm và tặng quà cho thiếu nhi nhân ngày Tết Trung thu;

- Chuẩn bị đi công tác cơ sở vùng cao, vùng sâu có nhiều khó khăn;

- Đi chúc mừng một cơ quan, tổ chức, đơn vị nhân ngày kỷ niệm trọng đại của tổ chức, cơ quan đó;

- Gặp và trao đổi với một nhà tu hành về cuộc vận động xóa đói, giảm nghèo hoặc thực hiện kế hoạch hóa gia đình;

- Thăm hỏi gia đình liệt sĩ, Bà mẹ Việt Nam anh hùng;

- Tổ chức giao lưu với đơn vị kết nghĩa (một cơ quan hoặc một đơn vị quân đội).

Qua trao đổi về xử lý tình huống cần tập hợp những ý kiến hay, những gợi ý về sự chủ động, xử lý nhanh vấn đề có thể nảy sinh trong thực tế nhằm làm tốt công tác dân vận. Điều có ý nghĩa đối với việc bồi dưỡng nghiệp vụ công tác dân vận là ở chỗ tạo được cơ hội quan sát, phân tích, ghi nhận cách làm hay để áp dụng vào thực tiễn cuộc sống.

 

PHỤ LỤC 

I

MỘT SỐ VĂN BẢN QUAN TRỌNG CỦA ĐẢNG VỀ CÔNG TÁC DÂN VẬN

_____________________ 

QUY CHẾ CÔNG TÁC DÂN VẬN CỦA HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ

(Ban hành kèm theo Quyết định số 290-QĐ/TW ngày 25-02-2010 của Bộ Chính trị)

 

Chương I

QUY ĐỊNH CHUNG 

Điều 1. Dân vận và công tác dân vận là nhiệm vụ có ý nghĩa chiến lược đối với toàn bộ sự nghiệp cách mạng nước ta; là điều kiện quan trọng bảo đảm cho sự lãnh đạo của Đảng và củng cố, tăng cường mối quan hệ máu thịt giữa Đảng, Nhà nước với nhân dân. Công tác dân vận là trách nhiệm của tất cả các tổ chức trong hệ thống chính trị, của mọi cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức, đoàn viên, hội viên các đoàn thể nhân dân, cán bộ, chiến sĩ lực lượng vũ trang.

Điều 2. Quy chế này xác định trách nhiệm của tập thể, cá nhân và cơ chế, phương thức thực hiện công tác dân vận của các tổ chức trong hệ thống chính trị nhằm nâng cao hiệu quả công tác dân vận, phát huy quyền làm chủ của nhân dân, tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

Điều 3. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, các tổ chức trong hệ thống chính trị phối hợp chặt chẽ thực hiện đồng bộ, thống nhất, hiệu quả công tác dân vận; thường xuyên quán triệt và thực hiện phong cách dân vận của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Trọng dân, gần dân, hiểu dân, học dân và có trách nhiệm với dân”. 

Chương II

TRÁCH NHIỆM LÃNH ĐẠO VÀ THỰC HIỆN CÔNG TÁC DÂN VẬN 

Mục I

TRÁCH NHIỆM LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG, CÁC CƠ QUAN, TỔ CHỨC ĐẢNG

 

Điều 4. Bộ Chính trị, Ban Bí thư

1. Bộ Chính trị chịu trách nhiệm trước Ban Chấp hành Trung ương lãnh đạo toàn diện công tác dân vận trong hệ thống chính trị thực hiện Nghị quyết Đại hội toàn quốc của Đảng và các nghị quyết của Ban Chấp hành Trung ương về lĩnh vực công tác dân vận.

2. Ban Bí thư trực tiếp chịu trách nhiệm trước Bộ Chính trị, Ban Chấp hành Trung ương lãnh đạo, chỉ đạo công tác dân vận.

2.1 Thực hiện nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc và các nghị quyết của Ban Chấp hành Trung ương, trong từng nhiệm kỳ, căn cứ yêu cầu cụ thể, Ban Bí thư ban hành hoặc chuẩn bị cho Bộ Chính trị ban hành chủ trương và lãnh đạo Nhà nước, các cấp ủy đảng, Đảng đoàn, Ban Cán sự Đảng triển khai thực hiện các nghị quyết, chỉ thị, quyết định, quy chế, quy định của Đảng về công tác dân vận.

2.2. Lãnh đạo, định hướng nội dung hoạt động của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân trong từng thời kỳ. Phát huy vai trò và tạo điều kiện thuận lợi để Mặt trận và các đoàn thể nhân dân tham gia xây dựng đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước, thực hiện nhiệm vụ giám sát và phản biện xã hội.

2.3. Lãnh đạo về tổ chức, nhân sự; bố trí, giới thiệu cán bộ, đảng viên có năng lực phụ trách công tác dân vận, làm lãnh đạo chủ chốt của Mặt trận và các đoàn thể nhân dân.

2.4. Định kỳ sáu tháng, một năm và trong trường hợp cần thiết nghe Ban Dân vận Trung ương, Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể nhân dân và các cơ quan, tổ chức liên quan báo cáo tình hình nhân dân; chỉ đạo việc thực hiện công tác dân vận của hệ thống chính trị trong phạm vi cả nước và đối với người Việt Nam ở nước ngoài.

2.5. Chỉ đạo kiểm tra, sơ kết, tổng kết việc thực hiện các nghị quyết, chỉ thị của Trung ương về công tác dân vận trong từng nhiệm kỳ.

Điều 5. Đảng đoàn Quốc hội

1. Quán triệt các chủ trương, đường lối, nghị quyết, chỉ thị của Đảng về công tác dân vận đối với đại biểu Quốc hội.

2. Lãnh đạo Quốc hội thể chế hóa đường lối, chủ trương, nghị quyết, chỉ thị của Đảng về công tác dân vận bằng pháp luật và xem xét cho ý kiến, quyết định những vấn đề quan trọng của đất nước, đảm bảo đúng đường lối dân vận của Đảng trong các hoạt động của Quốc hội.

3. Cụ thể hóa các nội dung công tác dân vận của Đảng đối với đại biểu Quốc hội trong quá trình tiếp xúc cử tri tại các cơ quan, đơn vị và địa phương.

Điều 6. Ban Cán sự Đảng Chính phủ

1. Lãnh đạo Chính phủ thể chế hóa đường lối, chủ trương, nghị quyết, chỉ thị của Đảng về công tác dân vận bằng các văn bản quy phạm pháp luật, các chương trình, kế hoạch, giải pháp cụ thể để tổ chức thực hiện.

Điều 7. Các tỉnh ủy, thành ủy, đảng ủy trực thuộc Trung ương

1. Quán triệt và tổ chức thực hiện đường lối, chủ trương, nghị quyết, chỉ thị của Trung ương về công tác dân vận. Trong nhiệm kỳ có nghị quyết chuyên đề, hằng năm có chương trình công tác dân vận; lãnh đạo, chỉ đạo các tổ chức trong hệ thống chính trị ở địa phương, đơn vị phối hợp thực hiện có hiệu quả nhiệm vụ công tác dân vận

2. Phối hợp với Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân ở Trung ương định hướng hoạt động đối với Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân ở địa phương, đơn vị. Tạo điều kiện thuận lợi để Mặt trận và các đoàn thể nhân dân phát huy vai trò đại diện quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân và thực hiện tốt vai trò phản biện xã hội theo quy định.

3. Thực hiện giao ban định kỳ giữa Ban Thường vụ, thường trực cấp ủy với chính quyền, thủ trưởng đơn vị (lực lượng vũ trang), Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân về công tác dân vận; thường xuyên lắng nghe ý kiến của Mặt trận và các đoàn thể phản ánh với Đảng và Nhà nước về những vấn đề mà cán bộ, đoàn viên, hội viên, chiến sĩ lực lượng vũ trang và nhân dân quan tâm; chỉ đạo giải quyết kịp thời những vấn đề bức xúc trong nhân dân.

4. Kiện toàn tổ chức bộ máy và xây dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt của Ban Dân vận, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân làm tốt việc tham mưu cho cấp ủy và làm nòng cốt trong công tác vận động quần chúng của Đảng. Chỉ đạo các cấp ủy đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân ở địa phương xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức vừa có trình độ chuyên môn nghiệp vụ, vừa có kiến thức, kỹ năng về công tác dân vận.

5. Chỉ đạo các cấp ủy đảng phân công cấp ủy viên và đảng viên trực tiếp làm công tác dân vận tại nơi cư trú và nơi công tác.

6. Kiểm tra, sơ kết, tổng kết các nghị quyết, chỉ thị về công tác dân vận của Đảng.

Điều 8. Đảng đoàn Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể chính trị - xã hội, Ban Bí thư Trung ương Đoàn, Ban Cán sự Đảng các bộ, ngành

1. Quán triệt sâu sắc, nắm vững và gương mẫu thực hiện các nghị quyết, chỉ thị của Đảng về công tác dân vận theo chức năng, nhiệm vụ của bộ, ngành, Mặt trận và đoàn thể mình bằng chương trình, kế hoạch, giải pháp cụ thể.

2. Chỉ đạo và kiểm tra, giám sát việc thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật của Nhà nước liên quan đến công tác dân vận và nhiệm vụ công tác dân vận của bộ, ngành, Mặt trận và đoàn thể mình.

3. Có biện pháp thực hiện tốt công tác dân vận, ổn định tư tưởng cán bộ, công chức, viên chức, quần chúng theo đặc thù, phạm vi của cơ quan, tổ chức mình.

Điều 9. Văn phòng Trung ương Đảng, các ban đảng Trung ương

1. Phối hợp với Ban Dân vận Trung ương tham mưu, đề xuất với Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư về chủ trương, chính sách về công tác dân vận; chuẩn bị dự thảo nghị quyết đại hội, các nghị quyết, chỉ thị, quyết định thuộc lĩnh vực công tác dân vận của Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư.

2. Phối hợp với Ban Dân vận Trung ương và các cơ quan liên quan tham mưu giúp Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư chỉ đạo kiểm tra, giám sát, sơ kết, tổng kết việc thực hiện nghị quyết, chỉ thị, quyết định, quy định, quy chế của Đảng về công tác dân vận theo chức năng, nhiệm vụ được Bộ Chính trị quy định.

2.1. Văn phòng Trung ương Đảng phối hợp với Ban Dân vận Trung ương theo dõi, tổng hợp tình hình nhân dân, công tác dân vận của các tỉnh ủy, thành ủy, đảng ủy trực thuộc Trung ương; phối hợp chuẩn bị dự thảo các nghị quyết, chỉ thị về công tác dân vận.

2.2. Ban Tổ chức Trung ương chủ trì phối hợp với Ban Dân vận Trung ương, các tỉnh ủy, thành ủy, đảng ủy trực thuộc Trung ương quy định về biên chế cán bộ trong khối dân vận và hệ thống dân vận các cấp; xây dựng cơ chế, chính sách và công tác quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, bố trí, bổ nhiệm cán bộ dân vận.

2.3. Ban Tuyên giáo Trung ương phối hợp với Ban Dân vận Trung ương hướng dẫn, kiểm tra việc tổ chức học tập, quán triệt các nghị quyết, chỉ thị, quyết định của Đảng về công tác dân vận; nắm tình hình nhân dân, dư luận xã hội; chỉ đạo, hướng dẫn các cơ quan thông tin đại chúng và đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên thường xuyên tuyên truyền về công tác dân vận; hướng dẫn, chỉ đạo, theo dõi thực hiện các phong trào thi đua yêu nước, tuyên truyền, cổ vũ các điển hình tiên tiến về công tác dân vận.

2.4. Ban Dân vận Trung ương chủ trì, phối hợp với Ủy ban Kiểm tra Trung ương kiểm tra, giám sát các tỉnh ủy, thành ủy, đảng ủy trực thuộc Trung ương, các đảng đoàn, Ban Cán sự Đảng trong việc thực hiện các nghị quyết, chỉ thị của Đảng về công tác dân vận và quy chế này.

2.5. Ban Đối ngoại Trung ương phối hợp với Ban Dân vận Trung ương tham mưu, đề xuất các chủ trương, chính sách đối với người Việt Nam ở nước ngoài; làm tốt công tác thông tin trong cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài về tình hình trong nước và các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước; bảo vệ quyền lợi chính đáng của đồng bào.

2.6. Học viện Chính trị Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh phối hợp với Ban Dân vận Trung ương giảng dạy bộ môn công tác dân vận cho các lớp đại học chính trị chuyên ngành, cao cấp lý luận chính trị hành chính, cao học và nghiên cứu sinh chuyên ngành xây dựng Đảng.

Điều 10. Ban Dân vận Trung ương

1. Tham mưu, giúp Ban Chấp hành Trung ương, trực tiếp và thường xuyên là Bộ Chính trị, Ban Bí thư về chủ trương, chính sách và giải pháp lớn về công tác dân vận.

2. Chủ trì hoặc tham gia nghiên cứu, đề xuất việc cụ thể hóa đường lối, chủ trương về công tác dân vận của Đảng; chuẩn bị hoặc tham gia chuẩn bị nghị quyết đại hội, các nghị quyết, chỉ thị, quyết định thuộc lĩnh vực công tác dân vận của Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư và tổ chức sơ kết, tổng kết các chỉ thị, nghị quyết về công tác dân vận.

3. Hướng dẫn, kiểm tra việc thực hiện và sơ kết, tổng kết các nghị quyết, chỉ thị, quyết định của Đảng về công tác dân vận đối với các tỉnh ủy, thành ủy, các ban đảng, Ban Cán sự Đảng, Đảng đoàn, Đảng ủy trực thuộc Trung ương.

4. Tham gia ý kiến với các cơ quan nhà nước trong việc thể chế hóa các nghị quyết, chỉ thị, quyết định của Đảng về công tác dân vận, phát huy quyền làm chủ của nhân dân. Thẩm định các đề án về công tác dân vận của các ban. ngành, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân Trung ương trước khi trình Bộ Chính trị, Ban Bí thư. Tham gia thẩm định những đề án thuộc các lĩnh vực kinh tế, chính trị, xã hội, quốc phòng, an ninh, đối ngoại có liên quan mật thiết đến công tác dân vận.

5. Tham gia công tác xây dựng đảng, xây dựng đội ngũ cán bộ trong khối cơ quan dân vận Trung ương và Ban Dân vận của các cấp ủy đảng trực thuộc cung ương.

6. Định kỳ 6 tháng tổ chức giao ban công tác dân vận trong khối Dân vận Trung ương và Ban Dân vận các tỉnh ủy, thành ủy, đảng ủy trực thuộc Trung ương.

Mục II

TRÁCH NHIỆM CỦA CÁC CƠ QUAN NHÀ NƯỚC

Điều 11. Trách nhiệm của Quốc hội

1. Thể chế hóa các chủ trương, nghị quyết, chỉ thị của Đảng về công tác dân vận thành văn bản pháp luật và chính sách của Nhà nước.

2. Tổ chức lấy ý kiến rộng rãi của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên, các tầng lớp nhân dân đối với các dự án luật, dự án pháp lệnh theo quy định của pháp luật, nhất là những vấn đề có liên quan đến lợi ích, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân. Ý kiến đóng góp của Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức thành viên và của công dân phải được tập hợp, nghiên cứu, tiếp thu; bảo đảm các chủ trương, quyết sách hợp lòng dân.

3. Quy định đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp có kế hoạch cụ thể, thiết thực tìm hiểu các hoạt động của đời sống xã hội ở địa phương, để nắm bắt tình hình thực tiễn và tâm tư, nguyện vọng của cử tri.

4. Tăng cường giám sát hoạt động của các cơ quan hành pháp, tư pháp, đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của công dân theo quy định của pháp luật; đôn đốc, theo dõi các cơ quan có trách nhiệm giải quyết những yêu cầu chính đáng của cử tri và nhân dân.

5. Phát huy vai trò tư vấn, giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân trong việc xây dựng và triển khai thực hiện các văn bản pháp luật, quyết định các chương trình kinh tế, xã hội và các vấn đề lớn của đất nước theo quy ảnh của pháp luật.

Điều 12. Trách nhiệm của Chính phủ

1. Cụ thể hóa chủ trương, chính sách, nghị quyết, chỉ thị của Đảng, pháp luật của Nhà nước về công tác dân vận thành chương trình, kế hoạch và chỉ đạo các bộ, ngành, chính quyền địa phương tổ chức thực hiện.

2. Tập trung cải cách thủ tục hành chính, thực hiện đầy đủ nguyên tắc công khai, minh bạch, dân chủ và phục vụ dân đối với các cơ quan và công chức nhà nước. Xử lý nghiêm những cán bộ, công chức, viên chức có hành vi tiêu cực, nhũng nhiễu, gây phiền hà cho dân, xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của công dân trong thi hành công vụ.

3. Chỉ đạo, kiểm tra các bộ, ngành, các cấp chính quyền ban hành và thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến công tác dân vận; chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra, sơ kết, tổng kết việc thực hiện công tác dân vận của chính quyền các cấp.

4. Ban hành cơ chế và tạo điều kiện thuận lợi để Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể và nhân dân tham gia quản lý nhà nước; giám sát cán bộ, công chức thực thi pháp luật và hoạt động của cơ quan chính quyền các cấp.

Định kỳ hằng năm, Chính phủ có chương trình làm việc với Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể chính trị xã hội. Phối hợp với Mặt trận và các đoàn thể chính trị xã hội chỉ đạo tổ chức các phong trào thi đua yêu nước trong quần chúng nhân dân.

5. Bảo đảm kinh phí hoạt động và tạo điều kiện về cơ sở vật chất cho Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị xã hội thực hiện và hoàn thành nhiệm vụ chính trị được giao.

6. Chỉ đạo cơ quan quản lý nhà nước về báo chí, phát thanh, truyền hình thường xuyên tuyên truyền chủ trương chính sách, nghị quyết, chỉ thị của Đảng về công tác dân vận; phản ánh, nêu gương điển hình tập thể và cá nhân thực hiện công tác dân vận của chính quyền các cấp.

Điều 13. Trách nhiệm của các bộ, ngành

1. Có kế hoạch cụ thể tổ chức thực hiện các chủ trương, nghị quyết, chỉ thị của Đảng, Nhà nước về công tác dân vận trong hệ thống bộ, ngành mình.

2. Thực hiện cải cách thủ tục hành chính; nâng cao năng lực quản lý nhà nước, sửa đổi lề lối làm việc theo hướng dân chủ hóa và công khai hóa, chống quan liêu, cửa quyền, tham nhũng, lãng phí.

3. Việc ban hành các văn bản quy phạm pháp luật của các bộ, ngành; việc tham mưu, đề xuất cho Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ban hành các cơ chế, chính sách, các quyết định hành chính phải nhằm mục đích phục vụ nhân dân, hợp lòng dân.

4. Thực hiện các quy định của pháp luật về dân chủ ở cơ sở trong các cơ quan, đơn vị thuộc bộ, ngành. Giáo dục cán bộ, công chức nghiêm chỉnh thực hiện đạo đức công vụ, nêu cao ý thức, trách nhiệm phục vụ nhân dân. Thường xuyên thanh tra, kiểm tra và xử lý nghiêm minh những hành vi sách nhiễu, xâm phạm lợi ích chính đáng và quyền làm chủ của nhân dân đối với cán bộ, công chức do mình trực tiếp quản lý.

5. Phối hợp với các cơ quan của Đảng, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân trong thực hiện công tác dân vận. Phối hợp với Ban Dân vận của đảng ủy cơ quan bộ, ngành thực hiện các nội dung quy định về công tác dân vận theo Quy chế này.

Điều 14. Trách nhiệm của các cơ quan tư pháp

1. Giáo dục cán bộ, công chức trong các cơ quan tư pháp gương mẫu chấp hành pháp luật. Thường xuyên tuyên truyền, giáo dục pháp luật và ý thức tuân thủ pháp luật trong nhân dân.

2. Tiếp tục thực hiện cải cách tư pháp, thực hiện tranh tụng tại phiên tòa theo luật định, bảo đảm công tác điều tra, truy tố, xét xử đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không để oan sai, để lọt tội phạm.

3. Bảo đảm quyền tự do, dân chủ của công dân trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án theo quy định của pháp luật.

4. Giải quyết đúng thời hạn, đúng pháp luật các khiếu nại, tố cáo trong hoạt động tố tụng. Bồi thường danh dự và quyền lợi vật chất cho công dân trong trường hợp bị oan sai theo quy định của pháp luật.

Điều 15. Trách nhiệm của lực lượng vũ trang  

1. Tuyên truyền, vận động cán bộ, chiến sĩ và nhân dân thực hiện chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước về nhiệm vụ quốc phòng, an ninh.

2. Tham gia xây dựng, củng cố và nâng cao chất lượng hoạt động của hệ thống chính trị ở cơ sở; góp phần đảm bảo giữ vững ổn định chính trị xã hội.

3. Thường xuyên tiến hành công tác dân vận, giúp đỡ nhân dân phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, xóa đói, giảm nghèo, phòng chống, khắc phục hậu quả thiên tai, thực hiện chính sách dân tộc, tôn giáo và các chính sách xã hội; củng cố, tăng cường tình đoàn kết quân dân, xây dựng mối quan hệ gắn bó máu thịt với nhân dân.

4. Đẩy mạnh phong trào toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc, xây dựng nền quốc phòng toàn dân, thế trận an ninh nhân dân, xây dựng quân đội nhân dân, công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại.

5. Phối hợp với Ban Dân vận của cấp ủy, Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể nhân dân cùng cấp và các cơ quan liên quan làm tốt công tác tham mưu với cấp ủy, chính quyền về công tác dân vận trên địa bàn đóng quân.

Điều 16. Trách nhiệm của chính quyền các cấp

1. Xây dựng chương trình, kế hoạch cụ thể để thực hiện chủ trương, nghị quyết, chỉ thị của Đảng, pháp luật của Nhà nước về công tác dân vận. Trển khai thực hiện nghiêm túc các quy định pháp luật về thực hiện dân chủ ở cơ sở.

2. Thực hiện cải cách thủ tục hành chính; công khai, minh bạch các chủ trương, chính sách; các chương trình, dự án phát triển kinh tế, xã hội ở địa phương; các khoản thu, chi từ ngân sách và các nguồn khác; thủ tục hành chính và quy trình giải quyết thủ tục hành chính theo quy định của pháp luật.

3. Thực hiện chế độ tiếp xúc, đối thoại trực tiếp với nhân dân và chế độ tiếp dân định kỳ; nghiêm túc tiếp thu ý kiến phê bình, góp ý của nhân dân về công tác quản lý, điều hành, về thái độ và phong cách làm việc của cán bộ, công chức; giải quyết kịp thời đơn, thư khiếu nại, tố cáo và những vấn đề bức xúc của nhân dân .

4. Thường xuyên kiểm tra việc thực hiện các nghị quyết chỉ thị của Đảng về công tác dân vận. Phối hợp với Ban Dân vận của cấp ủy cùng cấp chỉ đạo kiểm tra việc thực hiện các quy định của pháp luật về dân chủ ở cơ sở và công tác dân vận của chính quyền.

5. Phối hợp với Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể vận động nhân dân thực hiện các nhiệm vụ kinh tế, xã hội, an ninh, quốc phòng. Tổ chức lấy ý kiến của Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể và nhân dân tham gia xây dựng các chính sách, quy hoạch và những chương trình, dự án lớn của địa phương. Thường xuyên lắng nghe và giải quyết kịp thời ý kiến của Mặt trận và các đoàn thể phản ánh, kiến nghị với chính quyền những vấn đề mà nhân dân quan tâm.

Định kỳ sáu tháng, một năm, chính quyền có chương trình làm việc với Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân cùng cấp.

6. Ban hành các quy định đối với cán bộ, công chức, viên chức chính quyền trong thi hành công vụ, tiếp xúc, giải quyết công việc với dân có thái độ chân thành, tôn trọng dân, hướng dẫn và giúp đỡ nhân dân; gương mẫu chấp hành các chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước. Xử lý kịp thời, nghiêm minh những cán bộ, công chức, viên chức có hành vi tiêu cực, nhũng nhiễu, gây phiền hà cho dân, xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của công dân trong thi hành công vụ.

7. Bảo đảm kinh phí hoạt động và tạo điều kiện về cơ sở vật chất, quan tâm giải quyết chính sách cán bộ của khối Dân vận, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân.

Mục III

TRÁCH NHIỆM CỦA MẶT TRẬN TỔ QUỐC VIỆT NAM VÀ CÁC ĐOÀN THỂ NHÂN DÂN

Điều 17. Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

1. Tập hợp, xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân, tăng cường sự nhất trí về chính trị và tinh thần trong nhân dân, tạo ra sự đồng thuận xã hội

2. Tuyên truyền, động viên nhân dân phát huy quyền làm chủ, thực hiện đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, nghiêm chỉnh thi hành Hiến pháp và pháp luật; giám sát hoạt động của cơ quan nhà nước, đại biểu dân cử và cán bộ, công chức nhà nước.

3. Thực hiện tốt vai trò dân chủ đại diện và phản biện xã hội, vận động nhân dân tham gia xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền trong sạch, vững mạnh; tham gia giám sát việc thực hiện các quy định của pháp luật về thực hiện dân chủ ở cơ sở.

4. Chủ động phối hợp với chính quyền và các ngành để tổ chức các cuộc vận động, các phong trào thi đua yêu nước; chăm lo, bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của nhân dân; triển khai thực hiện Pháp lệnh thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn và ở các loại hình khác.

5. Thực hiện đầy đủ quyền và trách nhiệm tham gia 1 góp ý kiến xây dựng văn bản quy phạm pháp luật, các dự án luật, dự án pháp lệnh theo quy định của pháp luật. Tập hợp ý kiến, kiến nghị của nhân dân, của các tổ chức thành viên Mặt trận để phản ánh, kiến nghị với Đảng, Nhà nước về những vấn đề nhân dân quan tâm và có trách nhiệm thông tin cho nhân dân biết kết quả giải quyết của các cơ quan chức năng.

6. Phối hợp với Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp hiệp thương giới thiệu nhân sự và vận động nhân dân tham gia bầu cử đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp đảm bảo dân chủ, đúng luật định.

7. Phối hợp với các cơ quan, tổ chức hữu quan vận động các tổ chức và người Việt Nam ở nước ngoài phát huy tinh thần yêu nước, hướng về Tổ quốc, đóng góp tài năng, trí tuệ, vốn, kinh nghiệm quản lý vào công cuộc phát triển kinh tế, xây dựng đất nước, góp phần làm tốt công tác đối ngoại nhân dân.

Điều 18. Các đoàn thể nhân dân

1. Đoàn kết, tập hợp quần chúng trong tổ chức; làm tốt vai trò người đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của đoàn viên, hội viên và nhân dân; làm nòng cốt trong công tác tuyên truyền, vận động nhân dân thực hiện chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước.

2. Tham gia với Đảng, Nhà nước trong việc xây dựng chính sách, pháp luật liên quan đến quyền, lợi ích và nghĩa vụ của đoàn viên, hội viên và nhân dân; tham gia cùng với Mặt trận Tổ quốc kiểm tra, giám sát việc thực hiện các quy định của pháp luật về thực hiện dân chủ ở cơ sở và phản biện xã hội theo quy định.

3. Phát động và duy trì các phong trào thi đua yêu nước trong đoàn viên, hội viên và quần chúng nhân dân nhằm thực hiện thắng lợi các chương trình kinh tế xã hội, góp phần củng cố và giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội ở địa phương, đơn vị.

4. Chỉ đạo, hướng dẫn hệ thống tổ chức của mình phối hợp chặt chẽ với các ban xây dựng Đảng, cơ quan, chính quyền, lực lượng vũ trang thực hiện nhiệm vụ công tác dân vận.

5. Tập hợp ý kiến, kiến nghị của đoàn viên, hội viên và nhân dân để phản ánh, kiến nghị với Đảng, Nhà nước và có trách nhiệm thông tin cho đoàn viên, hội viên biết kết quả giải quyết của các cơ quan chức năng.

Chương III

PHƯƠNG THỨC THỰC HIỆN MỘT SỐ NỘI DUNG CÔNG TÁC DÂN VẬN VÀ CHẾ ĐỘ THÔNG TIN, BÁO CÁO

Điều 19. Việc ban hành các chủ trương, nghị quyết, quyết định về công tác dân vận và những vấn đề có liên quan đến nghĩa vụ và quyền lợi trực tiếp của nhân dân.

1. Những chủ trương, nghị quyết, chỉ thị của Đảng, các văn bản quy phạm pháp luật của Nhà nước về công tác dân vận và có liên quan đến quyền, lợi ích của các tầng lớp nhân dân phải được lấy ý kiến tham gia của Ban Dân vận, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân trước khi ban hành thực hiện.

2. Trường hợp cụ thể, các chủ trương, nghị quyết, quyết định có tính chất hệ trọng, liên quan trực tiếp đến quyền lợi và trách nhiệm của đông đảo công dân được công bố rộng rãi trên các phương tiện thông tin dại chúng để lấy ý kiến tham gia của cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân.

3. Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể nhân dân, đại diện các hội quần chúng có trách nhiệm tham gia đóng góp ý kiến; đồng thời, tuyên truyền, vận động để các tầng lớp nhân dân hiểu rõ, tích cực tham gia đóng góp ý kiến với Đảng, Nhà nước về những vấn đề được lấy ý kiến.

4. Ban Dân vận cấp ủy các cấp có trách nhiệm chủ trì, phối hợp với các cơ quan hữu quan tổng hợp ý kiến của Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể, của nhân dân, báo cáo cấp ủy cùng cấp.

Điều 20. Việc triển khai thực hiện chủ trương chính sách, các quyết định hành chính có liên quan đến quyền và lợi ích chính đáng, hợp pháp của nhân dân

1. Các cấp, ngành, cơ quan, đơn vi được giao trách nhiệm tổ chức thực hiện cần chủ động phối hợp với Ban Dân vận của cấp ủy để phổ biến, triển khai tới Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân; Mặt trận và các đoàn thể làm nòng cốt vận động nhân dân thực hiện.

2. Các cơ quan hữu quan có trách nhiệm cung cấp thông tin về việc tổ chức thực hiện các chủ trương, chính sách, quyết định hành chính liên quan đến quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân cho Ban Dân vận của cấp ủy, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân để có cơ sở tham mưu cho cấp ủy và phối hợp vận động quần chúng nhân dân thực hiện.

Điều 21. Việc giải quyết đơn, thư khiếu nại, tố cáo của nhân dân và ý kiến, kiến nghị của cử tri

1. Việc giải quyết đơn, thư khiếu nại, tố cáo của nhân dân và ý kiến, kiến nghị của cử tri phải thực hiện theo đúng quy định của pháp luật về khiếu nại, tố cáo và giải quyết ý kiến, kiến nghị của cử tri.

2. Chính quyền có trách nhiệm cung cấp thông tin liên quan đến khiếu nại, tố cáo của nhân dân và ý kiến, kiến nghị của cử tri cho Ban Dân vận, Ủy ban Kiểm tra của cấp ủy, Mặt trận và các đoàn thể nhân dân cùng cấp để phối hợp giải quyết, nhất là khi có khiếu nại, tố cáo đông người. Kết quả giải quyết các khiếu nại, tố cáo của công dân, ý kiến, kiến nghị của cử tri phải được trả lời cho công dân hoặc cử tri và thông tin công khai trên các phương tiện thông tin đại chúng để nhân dân, cử tri biết.

3. Trường hợp vụ việc phức tạp, khi quyết định giải quyết khiếu nại, tố cáo đã đúng các quy định của pháp luật thì Ban Dân vận của cấp ủy, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân phối hợp với chính quyền để vận động, thuyết phục quần chúng thực hiện quyết định đó; khi quyết định giải quyết khiếu nại, tố cáo chưa đúng với các quy định của pháp luật thì Ban Dân vận của cấp ủy đề nghị với cấp có thẩm quyền xem xét, giải quyết theo đúng quy định của pháp luật.

Điều 22. Việc phối hợp giải quyết tình huống phức tạp liên quan đến an ninh chính trị, trật tự an đàn xã hội

1. Khi xảy ra tình huống phức tạp liên quan đến an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội thì cơ quan chính quyền phải kịp thời báo cáo xin ý kiến chỉ đạo của cấp ủy đảng; đồng thời phối hợp, các ngành chức năng, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân giải quyết theo thẩm quyền để sớm ổn định tình hình.

2. Trong trường hợp quá phức tạp, nghiêm trọng hoặc vượt quá thẩm quyền, cần kịp thời báo cáo xin ý kiến chỉ đạo của cấp ủy và chính quyền cấp trên. Khi có đề nghị của cấp ủy, chính quyền cấp dưới trực tiếp hoặc xét thấy cần thiết, cấp ủy, chính quyền cấp trên thành lập đoàn công tác giúp địa phương giải quyết. 3. Việc cử cán bộ của các ban, ngành, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân tham gia giải quyết tình huống phức tạp liên quan đến an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội phải có sự lãnh đạo chặt chẽ, thống nhất của cấp ủy đảng và theo yêu cầu cụ thể của công việc mà phân công cán bộ hợp lý.

4. Đối với những trường hợp lợi dụng dân chủ, kích động quần chúng gây rối làm mất trật tự trị an thì cấp ủy, chính quyền chỉ đạo các cơ quan chức năng xử lý nghiêm minh, đúng pháp luật.

Điều 23. Việc thực hiện chế độ thông tin, báo cáo

1. Định kỳ hằng tháng, ba tháng, sáu tháng và một năm, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân, lực lượng vũ trang địa phương báo cáo kết quả công tác dân vận với cấp ủy cùng cấp, đồng gửi Ban Dân vận của cấp ủy để tổng hợp, theo dõi.

2. Định kỳ hằng tháng, ba tháng, sáu tháng và một năm, cấp ủy cấp dưới báo cáo tình hình nhân dân và công tác dân vận cho cấp ủy cấp trên, đồng gửi Ban Dân vận của cấp ủy cấp trên để tổng hợp, theo dõi.

3. Các cơ quan trong hệ thống dân vận các cấp thực hiện chế độ thông tin, báo cáo theo chỉ đạo, hướng dẫn của Ban Dân vận cấp ủy cấp trên trực tiếp.

4. Những trường hợp đột xuất, cần thiết liên quan đến tình hình nhân dân, các cấp, ngành hữu quan trực tiếp báo cáo với thường trực cấp ủy; Ban Dân vận cấp ủy được tham dự để tổng hợp, theo dõi, tham mưu cho cấp ủy.

Chương IV

VỀ PHÂN CÔNG CÁN BỘ TRỰC TIẾP PHỤ TRÁCH CÔNG TÁC DÂN VẬN

Điều 24. Bộ Chính trị, Ban Bí thư phân công một đồng chí phụ trách công tác dân vận của Đảng và Khối các cơ quan dân vận trong hệ thống chính trị.

Điều 25. Các ban đảng, đảng đoàn, Ban Cán sự Đảng, đảng ủy trực thuộc Trung ương phân công một đồng chí lãnh dạo phụ trách công tác dân vận.

Điều 26. Các tỉnh, thành ủy, huyện, thị ủy và tương đương phân công một đồng chí Ủy viên Ban Thường vụ phụ trách công tác dân vận và trực tiếp làm Trưởng Ban Dân vận. Cấp ủy cơ sở (xã, phường, thị trấn, cơ quan, doanh nghiệp) phân công một đồng chí Phó Bí thư phụ trách công tác dân vận.

Điều 27. Chính quyền các cấp phân công đồng chí Chủ tịch Ủy ban nhân dân phụ trách công tác dân vận của chính quyền và chỉ đạo thực hiện các quy định của pháp luật về quy chế dân chủ ở cơ sở. Các cơ quan, đơn vị thuộc chính quyền các cấp phân công một đồng chí lãnh dạo phụ trách công tác dân vận.

Điều 28. Trách nhiệm và quyền hạn của cấp ủy viên, thành viên các cơ quan, tổ chức được phân công phụ trách công tác dân vận:

1. Chịu trách nhiệm trước cấp ủy đảng, chính quyền, tổ chức, cơ quan, đơn vị về công tác dân vận.

2. Xây dựng chương trình công tác, có chế độ định kỳ sinh hoạt, tiếp xúc, đối thoại với cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân của ngành, cơ quan, tổ chức và địa phương được phân công phụ trách ít nhất mỗi quý một lần; thường xuyên lắng nghe ý kiến của cấp dưới. Mật trận và các đoàn thể của đảng vốn và nhân dân; thường xuyên nghiên cửu. cập nhật kiến thức về công tác dân vận.

3. Được mời tham dự các lớp tập huấn về công tác dân vận do Bên Dân vận cấp ủy tổ chức; được Ban Dân vận cấp ủy, Mặt trận và các đoàn thể nhân dân cung cấp các tài liệu thông tin, báo cáo về công tác dân vận.

Điều 29. Mỗi động viên phải thực hiện tốt nhiệm vụ công tác quần chúng theo điểm 3, Điều 2 Điều lệ Đảng; định kỳ hằng háng báo cáo với chi ủy, chi bộ về tâm tư, nguyện vọng, ý kiến của nhân dân nơi cư trú và nơi làm việc.

Điều 30. Kiện toàn cơ cấu tổ chức, cán bộ của hệ thống dân vận các cấp, bảo đảm thực hiện có hiệu quả chức năng, nhiệm vụ theo quy định

1. Ban tổ chức chủ trì, phối hợp thống nhất với Ban Dân vận của cấp ủy cùng cấp trong việc tham mưu với cấp ủy về công tác tổ chức, cán bộ của hệ thống dân vận phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ cụ thể của từng giai đoạn.

2. Cán bộ làm công tác dân vận chuyên trách, đặc biệt là cán bộ chủ chốt các cấp, ngoài tiêu chuẩn chung phải được đào tạo, am hiểu và có kỹ năng làm công tác vận động quần chúng, phẩm chất đạo đức tốt, có uy tín và tác phong quần chúng.

Chương V

TỔ CHỨC THỰC HIỆN

Điều 31. Các cơ quan, tổ chức trong hệ thống chính trị căn cứ chức năng, nhiệm vụ có trách nhiệm triển khai thực hiện Quy chế này.

Điều 32. Căn cứ Quy chế này, các tỉnh ủy, thành ủy, đảng ủy trực thuộc xây dựng hoặc bổ sung, hoàn thiện quy chế công tác dân vận của hệ thống chính trị của địa phương, đơn vị mình và chỉ đạo tổ chức thực hiện có hiệu quả.

Điều 33. Ban Dân vận Trung ương chủ trì phối hợp với Văn phòng Trung ương Đảng, các ban xây dựng đảng của Trung ương giúp Ban Bí thư theo dõi, đôn đốc, kiểm tra việc thực hiện Quy chế này, định kỳ báo cáo Ban Bí thư.

Điều 34. Hằng năm, các tổ chức trong hệ thống chính trị kiểm điểm, đánh giá kết quả thực hiện công tác dân vận; kịp thời biểu dương, khen thưởng những tập thể, cá nhân có thành tích xuất sắc; nghiêm khắc phê bình, kỷ luật những tổ chức, cá nhân thiếu trách nhiệm, có vi phạm trong công tác dân vận.

NGHỊ QUYẾT

SỐ 25-NQ/TW NGÀY 03-6-2013 CỦA BAN CHẤP HÀNH TRUNG ƯƠNG KHÓA XI VỀ TĂNG CƯỜNG VÀ ĐỔI MỚI SỰ LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG ĐỐI VỚI CÔNG TÁC DÂN VẬN TRONG TÌNH HÌNH MỚI

 

I- TÌNH HÌNH VÀ NGUYÊN NHÂN

1. Trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta luôn xác định công tác dân vận là nhiệm vụ có ý nghĩa chiến lược đối với sự nghiệp cách mạng của đất nước; là điều kiện quan trọng bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng, củng cố và tăng cường mối quan hệ máu thịt giữa Đảng, Nhà nước với nhân dân. Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư các khóa đã ban hành nhiều chủ trương về công tác dân vận. Trên cơ sở đó, công tác dân vận đã đạt được những kết quả quan trọng. Nội dung, phương thức lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước đối với công tác vận động nhân dân được đổi mới; đã có nhiều chủ trương, chính sách phát triển kinh tế, bảo đảm an sinh xã hội, xóa đói, giảm nghèo; nâng cao đời sống vật chất, tinh thần; phát huy quyền làm chủ của nhân dân. Hệ thống tổ chức Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể chính trị xã hội được kiện toàn, củng cố, đổi mới phương thức hoạt động; giữ vai trò nòng cốt trong xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc, thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở. Đã có nhiều hình thức hoạt động vận động nhân dân, tích cực tham gia xây dựng Đảng, xây dựng Nhà nước trong sạch, vững mạnh, đẩy mạnh các phong trào thi đua yêu nước, thúc đẩy các hoạt động đối ngoại nhân dân và công tác vận động người Việt Nam ở nước ngoài. Quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của đoàn viên, hội viên được chăm lo, bảo vệ; công tác tập hợp, phát triển đoàn viên hội viên được chú trọng; công tác giáo dục thế hệ trẻ được quan tâm.

Công tác dân vận thời gian qua đã góp phần tạo sự đồng thuận trong xã hội, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, thực hiện thắng lợi công cuộc đổi mới, bảo đảm quốc phòng, an ninh, ổn định chính trị, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân.

2. Tuy nhiên, công tác dân vận còn nhiều hạn chế, yếu kém. Việc xây dựng và triển khai thực hiện các nghị quyết, chỉ thị của Đảng về công tác dân vận còn chưa kịp thời, kém hiệu quả; chưa đánh giá và dự báo chính xác những diễn biến, thay đổi cơ cấu xã hội, thành phần dân cư, tâm tư, nguyện vọng của các tầng lớp nhân dân... để có chủ trương, chính sách phù hợp. Việc thể chế hoá chủ trương, quan điểm của Đảng về công tác dân vận chưa kịp thời, nhất là cơ chế “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ". Công tác kiểm tra, sơ kết, tổng kết việc thực hiện các nghị quyết, chỉ thị của Đảng về công tác dân vận chưa được quan tâm đúng mức. Một số chính sách chưa đáp ứng nguyện vọng, lợi ích của nhân dân, nhiều bức xúc chưa được giải quyết; quyền làm chủ của nhân dân ở nhiều nơi bị vi phạm, làm giảm lòng tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước.

3. Tình hình trên đây có nguyên nhân khách quan, nhưng chủ yếu do những nguyên nhân chủ quan. Một số cấp ủy đảng chưa nhận thức đầy đủ về vị trí, vai trò của công tác dân vận; chưa thấy hết trách nhiệm và chưa quan tâm đúng mức lãnh đạo, chỉ đạo công tác này. Một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, trong đó có cán bộ lãnh đạo, quản lý còn thiếu gương mẫu, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống. Phương thức lãnh đạo của Đảng về công tác dân vận chậm được đổi mới, chưa theo kịp sự phát triển nhanh chóng của thực tiễn. Tổ chức đảng, chính quyền, Mặt trận, đoàn thể chính trí xã hội ở một số cơ sở yếu kém, giảm sút vai trò lãnh đạo, phối hợp thiếu chặt chẽ, không sát dân, không làm tốt công tác tuyên truyền vận động nhân dân. Chưa xác định rõ trọng tâm, trọng điểm và bố trí đủ nguồn lực cho việc triển khai, thực hiện chủ trương, chính sách công tác dân vận. Phương pháp vận động, tập hợp quần chúng chưa phù hợp với từng đối tượng, đặc biệt là đối với đội ngũ trí thức, văn nghệ sĩ, thanh niên, người theo đạo. Việc chăm lo, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ làm công tác dân vận, đoàn thể chưa thực sự đáp ứng yêu cầu.

Trong điều kiện Đảng cầm quyền, xây dựng Nhà nước pháp quyền, phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, hội nhập quốc tế, có rất nhiều vấn đề mới đặt ra tác động đến tư tưởng, tình cảm, đời sống của cán bộ, đảng viên và nhân dân. Sự phân hóa giàu nghèo, phân tầng xã hội, cùng với tệ quan liêu, tham nhũng, xa dân, xâm phạm quyền làn chủ của nhân dân, làm giảm sút lòng tin của nhân dân đối với Đảng, là thách thức đối với mối quan hệ giữa nhân dân với Đảng. Thực tiễn đòi hỏi Đảng cần tăng cường và đổi mới sự lãnh đạo đối với công tác dân vận, củng cố vững chắc niềm tin của nhân dân đối với Đảng, tăng cường mối liên hệ giữa Đảng với dân cũng như khối đại đoàn kết toàn dân; phát huy sức mạnh to lớn của toàn dân phục vụ sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

II- MỤC TIÊU, QUAN ĐIỂM

1. Mục tiêu

Tăng cường và đổi mới sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác dân vận trong tình hình mới nhằm củng cố vững chắc lòng tin của nhân dân đối với Đảng; tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc và mối quan hệ máu thịt giữa Đảng với nhân dân; tập hợp, vận động nhân dân thực hiện tốt các chủ trương của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước; phát huy sức mạnh to lớn của nhân dân, tạo phong trào cách mạng rộng lớn xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, thực hiện thành công sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

2. Quan điểm

Tăng cường và đổi mới sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác dân vận trong tình hình mới, cần quán triệt các quan điểm sau:

- Cách mạng là sự nghiệp của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân; nhân dân là chủ, nhân dân làm chủ.

- Động lực thúc đẩy phong trào nhân dân là phát huy quyền làm chủ, đáp ứng lợi ích thiết thực của nhân dân; kết hợp hài hòa các lợi ích; quyền lợi phải đi đôi với nghĩa vụ công dân; chú trọng lợi ích trực tiếp của người dân; huy động sức dân phải đi đôi với bồi dưỡng sức dân; những gì có lợi cho dân thì hết sức làm, những gì có hại cho dân thì hết sức tránh.

- Phương thức lãnh đạo công tác dân vận của Đảng phái gắn liền với công tác xây dựng Đảng, Nhà nước trong sạch, vững mạnh. Mọi quan điểm, chủ trương của Đảng, pháp luật của Nhà nước phải phù hợp với lợi ích của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Mỗi cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức phải gương mẫu để nhân dân tin tưởng noi theo.

- Công tác dân vận là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị, của cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức, đoàn viên, hội viên các đoàn thể nhân dân, cán bộ, chiến sĩ lực lượng vũ trang. Trong đó, Đảng lãnh đạo, chính quyền tổ chức thực hiện, Mặt trận, đoàn thể làm tham mưu và nòng cốt.

- Nhà nước tiếp tục thể chế hóa cơ chế "Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ” thành quy chế, quy định để các tổ chức trong hệ thống chính trị; cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức và cán bộ, chiến sĩ lực lượng vũ trang thực hiện công tác dân vận; các hình thức tập hợp nhân dân phải phong phú, đa dạng, khoa học, hiệu quả.

III- NHIỆM VỤ VÀ GIẢI PHÁP

1. Tăng cường xây dựng Đảng về chính trị, từ tưởng và tổ chức, cán bộ; tập trung giải quyết kịp thời, có hiệu quả những bức xúc chính đáng của nhân dân; làm cho nhân dân tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, tăng cường mối quan hệ máu thịt của nhân dân với Đảng và Nhà nước.

Kiên quyết, kiên kì thực hiện tốt Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI về xây dựng Đảng, làm cho Đảng ta thực sự trong sạch, vững mạnh. Thực hiện nghiêm túc nguyên tắc tập trung dân chủ, tự phê bình và phê bình trong sinh hoạt đảng; ngăn chặn và đẩy lùi tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống. Sớm ban hành và thực hiện tốt quy chế giám sát và phản biện xã hội của Mật trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị xã hội, quy định để Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể chính trị - xã hội và nhân dân tham gia góp ý xây dựng Đảng, xây dựng Nhà nước trong sạch vững mạnh. Không ngừng nâng cao chất lượng các tổ chức cơ sở đảng, hiệu lực, hiệu quả của bộ máy nhà nước từ Trung ương đến cơ sở. Cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức phải hiểu dân, gương mẫu, tận tụy với công việc, nói đi đôi với làm để nhân dân tin tưởng, noi theo. Quan tâm quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, gắn với nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, đáp ứng yêu cầu trong tình hình mới.

Nghiên cứu sửa đổi, bổ sung quy định của Hiến pháp về quyền con người, quyền và nghĩa vụ của công dân trên cơ sở tôn trọng quyền làm chủ của nhân dân, tạo điều kiện để nhân dân phát huy đầy đủ quyền và thực hiện tốt nghĩa vụ của mình.

Các cấp, các ngành, địa phương, đơn vị tập trung giải quyết những bức xúc, nguyện vọng chính đáng của nhân dân, nhất là những vấn đề liên quan trực tiếp đến đời sống, việc làm, đền bù thu hồi đất đai, tai nạn giao thông, tệ nạn xã hội. Trong xây dựng thể chế, chính sách, cần quán triệt và thực hiện nghiêm nguyên tắc: mọi chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước phải thuận với lòng dân, xuất phát từ lợi ích và nguyện vọng chính đáng của nhân dân. Chú trọng cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, nhất là điều kiện sống, lao động, học tập, sáng tạo, nghỉ ngơi, chăm sóc sức khỏe.

Quan tâm điều chỉnh hài hòa lợi ích giữa các giai tầng xã hội, các vùng miền, các lĩnh vực; gắn nghĩa vụ với quyền lợi, cống hiến với hưởng thụ, lợi ích cá nhân với lợi ích tập thể và cộng đồng, xã hội.

Xử lý nghiêm minh những vụ việc tiêu cực, tham nhũng; giải quyết dứt điểm những vụ việc khiếu kiện đông người phức tạp, kéo dài.

2. Nâng cao nhận thức của đội ngũ cán bộ Đảng, Nhà nước, Mặt trận, đoàn thể chính trị xã hội và các tầng lớp nhân dân về vai trò, vị trí công tác dân vận trong tình hình mới.

Đổi mới và nâng cao chất lượng tuyên truyền, giáo dục, làm cho cán bộ, đảng viên và nhân dân nắm vững, nhất trí với mục tiêu, quan điểm, nhiệm vụ công tác dân vận; quán triệt sâu sắc tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh: "Lực lượng của dân rất to. Việc dân vận rất quan trọng. Dân vận kém thì việc gì cũng kém. Dân vân khéo thì việc gì cũng thành công”. Công tác dân vận trong tình hình mới phải phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc dưới sự lãnh đạo của Đảng, củng cố mối quan hệ mật thiết giữa Đảng, Nhà nước với nhân dân, tạo động lực để nhân dân đóng góp tích cực vào phát triển kinh tế xã hội. Làm tốt công tác dân tộc, tôn giáo, công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài.

Củng cố, tăng cường quốc phòng, an ninh, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc. Không ngừng nâng cao vị thế, vai trò của Việt Nam trong khu vực và trên thế giới; góp phần thực hiện thắng lợi mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh", vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội.

Tăng cường lãnh đạo công tác thông tin, tuyên truyền, phát huy sức mạnh tổng hợp của các cơ quan thông tin đại chúng; mở rộng các kênh thông tin truyền thông, đối thoại trực tiếp với nhân dân, góp phần giải tỏa bức xúc, hoài nghi trong xã hội. Chú trọng việc định hướng và quản lý các phương tiện thông tin đại chúng, nhất là các mạng xã hội; phát huy sức mạnh của dư luận xã hội lành mạnh hỗ trợ cho các biện pháp quản lý của Nhà nước và các biện pháp tuyên truyền, giáo dục, vận động của Mặt trận và các đoàn thể nhân dân. Chủ động đấu tranh với các luận điệu xuyên tạc, kích động của các thế lực thù địch chống phá khối đại đoàn kết dân tộc, chia rẽ giữa Đảng, Nhà nước với nhân dân.

Đẩy mạnh tuyên truyền, cổ vũ và nhân rộng các nhân tố mới, các điển hình tiên tiến, gương người tốt, việc tốt trên mọi lĩnh vực, phát huy tinh thần yêu nước, thực hành dân chủ, tạo ra phong trào hành động cách mạng của toàn dân thực hiện thắng lợi công cuộc đổi nới và phát triển đất nước. Thường xuyên tổ chức học tập, quán triệt sâu sắc các quan điểm, giải pháp về công tác dân vận của Đảng để mỗi cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức là cán bộ dân vận của Đảng. Phát hiện, bồi dưỡng kỹ năng vận động nhân dân cho những người có uy tín trong cộng đồng dân cư, tạo điều kiện để họ tham gia tuyên truyền đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, tạo sự lan tỏa, sức sống của công tác dân vận trong tình hình mới.

3. Tăng cường và đổi mới công tác dân vận của các cơ quan nhà nước.

Thể chế hóa các quan điểm, chủ trương mới của Đảng về dân vận thành các văn bản pháp luật để các cấp chính quyền, cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức và các tầng lớp nhân dân thực hiện. Nghiên cứu sửa đổi, bổ sung và hoàn thiện các chính sách cụ thể đối với giai cấp công nhân, giai cấp nông dân, đội ngũ trí thức, doanh nhân, thế hệ trẻ, phụ nữ, cựu chiến binh, người cao tuổi. Ban hành các cơ chế, chính sách hỗ trợ, giúp đỡ đồng bào định cư ở nước ngoài ổn định cuộc sống, giữ gìn và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc, hướng về Tổ quốc, đóng góp xây dựng đất nước; góp phần tăng cường hợp tác, hữu nghị giữa nhân dân ta với nhân dân các nước.

Cán bộ, công chức, viên chức phải có trách nhiệm vận động nhân dân. Xây dựng và thực hiện phong cách: “trọng dân, gần dân, hiểu dân, học dân và có trách nhiệm với dân", “nghe dân nói, nói dân hiểu, làm dân tin"; thường xuyên đi công tác cơ sở. Các cơ quan nhà nước, nhất là những ngành, cơ quan, đơn vị có quan hệ trực tiếp với nhân dân cần công khai các quy định cụ thể về trách nhiệm, thái độ phục vụ nhân dân của cán bộ, công chức, viên chức để nhân dân biết và giám sát, kiểm tra việc thực hiện. Đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, đổi mới lề lối làm việc, chấn chỉnh thái độ phục vụ nhân dân của đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức. Tăng cường đối thoại, tiếp xúc trực tiếp với nhân dân và giải quyết kịp thời đơn, thư khiếu tố của dân. Làm tốt công tác thanh tra nhân dân, công tác hòa giải ở cơ sở; thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở; chủ động nắm tình hình và giải quyết những công việc liên quan đến đời sống của nhân dân. Chú trọng bảo đảm an sinh xã hội, giải quyết tốt các chính sách đối với người nghèo, người khuyết tật và các chính sách phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội ở các vùng đồng bào dân tộc ít người, để các dân tộc trong cộng đồng dân tộc Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp nhau cùng phát triển.

4. Đẩy mạnh phong trào thi đua yêu nước, góp phần thúc đẩy quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá, hội nhập quốc tế, giữ vững độc lập chủ quyền, an ninh chính trị.

Trong tình hình mới, công tác dân vận phải tập hợp được quần chúng nhân dân thành lực lượng xã hội rộng rãi tham gia các phong trào thi đua yêu nước theo tinh thần “Thi đua là yêu nước, yêu nước phải thi đua". Toàn Đảng, toàn dân và toàn quân phải kết thành một khối vững chắc, làm nên sức sống các phong trào thi đua. Các cấp ủy đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân bám sát nhiệm vụ chính trị, nắm bắt lợi ích chính đáng của các tầng lớp nhân dân để xác định nội dung và lựa chọn cách thức phát động thi đua sát với thực tế của địa phương, đơn vị với nhiều hình thức đa dạng phong phú, phù hợp với từng đối tượng. Đẩy mạnh phong trào thi đua "Dân vận khéo" gắn với việc “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh" và các phong trào do Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể chính trị xã hội phát động.

Các phong trào thi đua cần thiết thực, tiết kiệm, tránh hình thức, sáo rỗng; lấy hiệu quả về chính trị, kinh tế xã hội làm thước đo đánh giá từng phong trào thi đua. Thường xuyên theo dõi, đôn đốc, kiểm tra, sơ kết tổng kết, khen thưởng kịp thời. Vận động và tạo điều kiện để các tầng lớp nhân dân phát huy cao độ tiềm năng, sức sáng tạo, tích cực lao động, học tập, sản xuất kinh doanh, làm giàu cho mình, cho cộng đồng và đất nước; tham gia đấu tranh, phòng, chống tội phạm, tiêu cực, tệ nạn xã hội.

5. Đổi mới nội dung, phương thức hoạt động của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị xã hội, các hội quần chúng để tập hợp nhân dân, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới.

Mặt trận Tổ quốc, đoàn thể nhân dân tiếp tục đổi mới nội dung, phương thức hoạt động, thực hiện tốt vai trò là người đại diện, bảo vệ quyền lợi chính đáng, hợp pháp của đoàn viên, hội viên; đa dạng hoá các hình thức tập hợp nhân dân, hướng về cơ sở, tập trung cho cơ sở, phù hợp với trình độ dân trí và đặc điểm, tình hình cụ thể của từng giai tầng xã hội, trong từng giai đoạn cách mạng.

Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể chính trị xã hội làm tham mưu và nòng cốt trong việc nắm bắt dư luận xã hội, phát huy dân chủ, năng lực trí tuệ, ý thức trách nhiệm của công dân trong thực hiện giám sát xây dựng chính quyền xây dựng Đảng.

Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước đối với Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị xã hội, tạo điều kiện để Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị xã hội tăng thêm tính tự chủ, chủ động hơn trong hoạt động, để gần dân, sát dân hơn.

Phát triển các tổ chức quần chúng theo nguyên tắc tự nguyện, tự quản và tự trang trải, tạo môi trường và điều kiện để nhân dân phát huy sức lực, trí tuệ sáng tạo theo nguyện vọng trên cơ sở pháp luật. Nâng cao chất lượng hoạt động các tổ chức đoàn thể, đoàn viên, hội viên; phát hiện, lựa chọn những đoàn viên, hội viên ưu tú đủ tiêu chuẩn để giới thiệu kết nạp vào Đảng, giới thiệu quy hoạch, đào tạo cán bộ. Phát huy vai trò xung kích, sáng tạo của tuổi trẻ; tạo môi trường, cơ chế, chính sách thuận lợi cho tuổi trẻ rèn đức, luyện tài, lao động, học tập, phấn đấu, cống hiến cho đất nước. Coi trọng giáo dục chính trị tư tưởng, bồi dưỡng cho thanh, thiếu niên trở thành những người kế tục xứng đáng sự nghiệp cách mạng của Đảng.

Xây dựng cơ chế phối hợp giữa Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể chính trị xã hội với các hội quần chúng, với chính quyền, lực lượng vũ trang trong công tác dân vận. Phát huy vai trò của người có uy tín trong cộng đồng. Phát huy vai trò công tác đối ngoại nhân dân và vận động người Việt Nam ở nước ngoài giữ gìn bản sắc dân tộc, hình ảnh con người, đất nước Việt Nam và hướng về xây dựng quê hương, đất nước; tranh thủ sự đồng tình và ủng hộ của bạn bè và các tổ chức quốc tế.

6. Quan tâm xây dựng, củng cố tổ chức, bộ máy, đội ngũ cán bộ Ban Dân vận, Mặt trận, đoàn thể nhân dân các cấp vững mạnh.

Củng cố ban dân vận các cấp; chăm lo xây dựng đội ngũ cán bộ dân vận của Đảng, đặc biệt là đội ngũ cán bộ tham mưu chiến lược; có cơ chế, chính sách thu hút người có năng lực, có uy tín, có kinh nghiệm làm công tác dân vận; chú trọng luân chuyển, đào tạo, bồi dưỡng bố trí, sử dụng đội ngũ cán bộ làm công tác dân vận, nhất là cán bộ trẻ tuổi, có năng lực; khắc phục tình trạng đưa cán bộ phẩm chất, năng lực yếu kém và không có uy tín về làm công tác dân vận.

Kiện toàn tổ chức, bộ máy và cán bộ của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị xã hội, đáp ứng yêu cầu về trình độ lý luận, năng lực thực tiễn và kỹ năng công tác vận động nhân dân.

Các cơ quan tham mưu của Đảng phải nâng cao nhận thức và trách nhiệm trong công tác tham mưu, tư vấn cho Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư và các cấp ủy đảng về công tác dân vận; có chế độ báo cáo, thông tin kịp thời, đầy đủ về tình hình nhân dân và những hạn chế trong hoạt động lãnh đạo của Đảng về công tác dân vận.

7. Tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo, kiểm tra và giám sát việc thực hiện công tác dân vận.

Các tổ chức đảng từ Trung ương đến cơ sở phải đổi mới công tác lãnh đạo, chỉ đạo tổ chức thực hiện để nghị quyết, chỉ thị của Đảng về công tác dân vận sớm đi vào cuộc sống, có hiệu quả thiết thực. Phải xác định công tác vận động và chăm lo lợi ích của nhân dân là một trong những nội dung chủ yếu trong hoạt động của mình; có kế hoạch thường xuyên tìm hiểu tình hình đời sống, tâm tư, nguyện vọng của nhân dân để có chủ trương, biện pháp xử lý đúng đắn, kịp thời. Các cấp ủy đảng lãnh đạo chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và đoàn thể nhân dân phối hợp chặt chẽ trong giải quyết các công việc liên quan đến nhân dân và vận động nhân dân thực hiện tốt quyền và nghĩa vụ công dân.

Các cơ quan đảng ở Trung ương thường xuyên phối hợp, kiểm tra, giám sát chặt chẽ quá trình triển khai thực hiện; đồng thời theo dõi, kiểm tra việc thể chế hóa các quan điểm, chủ trương của Đảng về công tác dân vận. Quan tâm nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn, giải đáp kịp thời những vấn đề thực tiễn đặt ra, nhất là về xây dựng và củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng, mối quan hệ giữa Đảng với nhân dân, từ đó tham mưu với cấp có thẩm quyền ban hành các chủ trương, chính sách phù hợp.

IV- TỔ CHỨC THỰC HIỆN

1. Các tỉnh ủy, thành ủy, các ban đảng, Đảng đoàn, Ban Cán sự Đảng, Đảng ủy trực thuộc Trung ương xây dựng chương trình hành động quán triệt và tổ chức thực hiện Nghị quyết.

2. Đảng đoàn Quốc hội lãnh đạo việc sửa đổi, bổ sung, ban hành mới các luật có liên quan, tạo cơ sở pháp lý cho việc thực hiện Nghị quyết và giám sát việc thực hiện.

3. Ban Cán sự đảng Chính phủ lãnh đạo việc sửa đổi bổ sung, ban hành mới các văn bản quy phạm pháp luật; tổ chức tốt việc thi hành pháp luật; thường xuyên theo dõi, kiểm tra, đánh giá tình hình thực hiện của các cấp chính quyền; kịp thời điều chỉnh các chương trình, giải pháp về tăng cường công tác dân vận phù hợp với thực tế.

4. Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể chính trị xã hội xây dựng chương trình hành động thực hiện Nghị quyết; tổ chức học tập, tuyên truyền phổ biến Nghị quyết cho đoàn viên, hội viên và các tầng lớp nhân dân.

5. Ban Dân vận Trung ương chủ trì phối hợp với các ban đảng, ban cán sự đảng, đảng đoàn, đảng ủy trực thuộc Trung ương thường xuyên theo dõi, kiểm tra, đôn đốc sơ kết, tổng kết và định kỳ báo cáo Bộ Chính trị, Ban Bí thư kết quả thực hiện Nghị quyết.

Nghị quyết này được quán triệt, phổ biến đến các chi bộ.

T/M BAN CHẤP HÀNH

TỔNG BÍ THƯ

Nguyễn Phú Trọng

 

QUY ĐỊNH SỐ 222-QĐ/TW NGÀY 8/5/2009 CỦA BAN BÍ THƯ VỀ CHỨC NĂNG, NHIỆM VỤ, TỔ CHỨC BỘ MÁY CƠ QUAN CHUYÊN TRÁCH THAM MƯU GIÚP VIỆC TỈNH ỦY, THÀNH ỦY

 

- Căn cứ Điều lệ Đảng;

- Căn cứ Quy chế làm việc của Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị và Ban Bí thư khoá X;

- Căn cứ Nghị quyết Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương khoá X;

Ban Bí thư quy định chức năng, nhiệm vụ, tổ chức bộ máy cơ quan chuyên trách tham mưu giúp việc tỉnh uỷ, thành uỷ như sau:

 

Chương I

QUY ĐỊNH CHUNG

Điều 1. Phạm vi và đối tượng điều chỉnh

1. Quy định này điều chỉnh về chức năng, nhiệm vụ, tổ chức bộ máy cơ quan chuyên trách tham mưu giúp việc của tỉnh uỷ, thành uỷ trực thuộc Trung ương (sau đây gọi chung là cơ quan tham mưu giúp việc tỉnh uỷ).

2. Cơ quan tham mưu giúp việc tỉnh uỷ gồm có: văn phòng, ban tổ chức, cơ quan uỷ ban kiểm tra, ban tuyên giáo, ban dân vận.

 

Điều 2. Nguyên tắc tổ chức

1. Bảo đảm phục vụ thực hiện tốt nhiệm vụ lãnh đạo toàn diện của tỉnh uỷ; không chồng chéo, trùng lắp chức năng, nhiệm vụ giữa các cơ quan tham mưu giúp việc.

2. Tổ chức bộ máy tinh gọn, hợp lý, hiệu quả; không nhất thiết ở cấp Trung ương có bộ phận nào thì cấp tỉnh có bộ phận tương ứng.

3. Phù hợp với điều kiện kinh tế-xã hội, điều kiện tự nhiên, tình hình tổ chức đảng và đảng viên.

 

Điều 3. Vị trí, chức năng của cơ quan tham mưu giúp việc tỉnh uỷ

1. Tham mưu giúp tỉnh uỷ, trực tiếp và thường xuyên là ban thường vụ, thường trực tỉnh uỷ thực hiện công tác lãnh đạo, chỉ đạo theo quy định của Điều lệ Đảng; thực hiện chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn theo Quy định này và theo sự uỷ quyền của tỉnh uỷ.

2. Chịu sự lãnh đạo, chỉ đạo, quản lý về mọi mặt của tỉnh uỷ, mà trực tiếp và thường xuyên là ban thường vụ tỉnh uỷ; đồng thời chịu sự hướng dẫn, kiểm tra về chuyên môn, nghiệp vụ của các cơ quan tham mưu giúp việc của Ban Chấp hành Trung ương.

 

Điều 4. Nhiệm vụ chung của cơ quan tham mưu giúp việc tỉnh uỷ

Các cơ quan tham mưu giúp việc tỉnh uỷ có 5 nhóm nhiệm vụ phù hợp với chức năng của từng cơ quan là:

1. Nghiên cứu, đề xuất.

2. Hướng dẫn, kiểm tra, giám sát.

3. Thẩm định, thẩm tra.

4. Phối hợp.

5. Thực hiện một số nhiệm vụ khác do ban thường vụ, thường trực tỉnh uỷ giao.

 

Chương II

CHỨC NĂNG, NHIỆM VỤ, TỔ CHỨC BỘ MÁY 

Điều 5. Văn phòng Tỉnh uỷ

1. Chức năng

1.1. Là cơ quan tham mưu, tổng hợp của tỉnh uỷ: giúp tỉnh uỷ mà trực tiếp và thường xuyên là ban thường vụ và thường trực tỉnh uỷ trong tổ chức, điều hành công việc lãnh đạo, chỉ đạo, phối hợp hoạt động của các cơ quan tham mưu; tham mưu, đề xuất chủ trương, chính sách thuộc lĩnh vực kinh tế-xã hội, nội chính, đối ngoại của cấp uỷ; nguyên tắc, chế độ quản lý tài chính, tài sản của đảng bộ.

1.2. Trực tiếp quản lý tài sản, tài chính của tỉnh uỷ và các cơ quan, tổ chức đảng thuộc tỉnh uỷ, bảo đảm hậu cần cho hoạt động của cấp uỷ; là trung tâm thông tin tổng hợp phục vụ lãnh đạo của cấp uỷ.

2. Nhiệm vụ

2.1. Nghiên cứu, đề xuất:

a) Chương trình công tác của ban chấp hành, ban thường vụ, thường trực tỉnh uỷ; giúp ban chấp hành, ban thường vụ, thường trực tỉnh uỷ xây dựng, tổ chức thực hiện quy chế làm việc.

b) Tham mưu, đề xuất, tổ chức thực hiện công tác đối ngoại của tỉnh uỷ.

c) Sơ kết, tổng kết thực tiễn về công tác văn phòng cấp uỷ.

2.2. Hướng dẫn thực hiện, kiểm tra, giám sát:

a) Công tác thông tin phục vụ sự lãnh đạo của tỉnh uỷ; chế độ cung cấp thông tin cho cấp uỷ viên và các tổ chức; theo dõi, đôn đốc các tổ chức đảng, đảng uỷ trực thuộc tỉnh uỷ thực hiện chế độ thông tin báo cáo theo quy định.

b) Tiếp nhận, phát hành và quản lý các tài liệu, văn bản đến và đi; quản lý, khai thác mạng cơ yếu, mã dịch của tỉnh uỷ. Thực hiện và kiểm tra, giám sát việc thực hiện chế độ bảo vệ bí mật của Đảng, Nhà nước ở văn phòng cấp uỷ cấp dưới.

c) Hướng dẫn, bồi dưỡng nghiệp vụ công tác văn phòng, công tác tài chính, tài sản của Đảng cho văn phòng cấp uỷ cấp dưới. Hướng dẫn, kiểm tra, giám sát việc thực hiện nghiệp vụ tài chính - kế toán cho các đơn vị thụ hưởng ngân sách của đảng bộ.

2.3. Thẩm định, thẩm tra:

a) Đề án của các cơ quan, tổ chức trước khi trình tỉnh uỷ, ban thường vụ, thường trực về: Yêu cầu, phạm vi, quy trình, thẩm quyền ban hành và thể thức văn bản của đề án.

b) Nội dung các đề án thuộc lĩnh vực kinh tế-xã hội, nội chính trước khi trình tỉnh uỷ, ban thường vụ (nếu được ban thường vụ, thường trực tỉnh uỷ giao).

 

2.4. Phối hợp:

a) Tham gia, phối hợp với các cơ quan có liên quan nghiên cứu, đề xuất, cụ thể hoá một số chủ trương của tỉnh uỷ về cơ chế, chính sách kinh tế-xã hội, nội chính; tham gia ý kiến với cơ quan nhà nước trong việc cụ thể hoá chủ trương, chính sách phát triển kinh tế-xã hội ở địa phương.

b) Phối hợp với các cơ quan liên quan xây dựng một số đề án, chương trình hành động, biên tập văn bản do ban thường vụ, thường trực tỉnh uỷ giao.

c) Tham gia, phối hợp với ban tổ chức tỉnh uỷ trong việc quản lý tổ chức bộ máy, cán bộ, biên chế văn phòng cấp uỷ trực thuộc tỉnh uỷ.

d) Phối hợp với các ban đảng, đảng đoàn, ban cán sự đảng, đảng uỷ trực thuộc tỉnh uỷ tham mưu giúp ban thường vụ, thường trực tỉnh uỷ chỉ đạo kiểm tra, giám sát, sơ kết, tổng kết việc thực hiện nghị quyết, chỉ thị, quyết định, quy định, quy chế của Trung ương và của tỉnh uỷ về kinh tế-xã hội, nội chính; việc thực hiện chủ trương, chế độ, nguyên tắc quản lý tài chính, tài sản của đảng bộ, thẩm tra quyết toán của các đơn vị thụ hưởng ngân sách của đảng bộ.

đ) Phối hợp với các cơ quan tư pháp giúp ban thường vụ, thường trực tỉnh uỷ chỉ đạo công tác nội chính, xử lý các vụ việc, vụ án nghiêm trọng, phức tạp (ngoài các vụ việc, vụ án tham nhũng) ở địa phương theo quy định.

e) Phối hợp với cơ quan chức năng nhà nước trong việc quản lý quy hoạch, kế hoạch đầu tư xây dựng cơ bản; đầu tư dự án cho các cơ quan đảng theo đúng quy định của pháp luật.

 

2.5. Thực hiện một số nhiệm vụ do ban thường vụ, thường trực tỉnh uỷ giao:

a) Tiếp nhận và xử lý đơn, thư gửi đến tỉnh uỷ; kiến nghị với thường trực tỉnh uỷ xử lý những đơn, thư có nội dung quan trọng; theo dõi, đôn đốc việc giải quyết một số đơn, thư được thường trực tỉnh uỷ giao. Phối hợp với các cơ quan chức năng tổ chức tiếp công dân.

b) Tổng hợp tình hình tổ chức thực hiện nghị quyết, quyết định, chỉ thị, quy định, quy chế của Trung ương, của tỉnh uỷ; hoạt động của các cấp uỷ, đảng đoàn, ban cán sự đảng, các cơ quan thuộc tỉnh uỷ. Giúp tỉnh uỷ thực hiện chế độ thông tin, báo cáo định kỳ và đột xuất.

c) Quản lý, tổ chức khai thác tài liệu, phông lưu trữ Đảng Cộng sản Việt Nam, Mặt trận và các đoàn thể chính trị-xã hội theo quy định; giúp thường trực tỉnh uỷ chỉ đạo và trực tiếp hướng dẫn, kiểm tra nghiệp vụ công tác văn thư, lưu trữ.

d) Là đại diện chủ sở hữu tài sản của đảng bộ; trực tiếp quản lý tài chính, tài sản, chi tiêu ngân sách đảng. Bảo đảm điều kiện vật chất và các trang thiết bị phục vụ hoạt động của cấp uỷ; bảo đảm tài chính và cơ sở vật chất khác cho các cơ quan trực thuộc tỉnh uỷ theo phân công, phân cấp.

đ) Tổ chức quản lý, khai thác, ứng dụng, bảo vệ mạng thông tin diện rộng của đảng bộ; hướng dẫn công nghệ thông tin cho văn phòng cấp uỷ cấp dưới và các cơ quan đảng thuộc tỉnh uỷ.

e) Là đầu mối giúp thường trực tỉnh uỷ xử lý công việc hằng ngày; phối hợp, điều hoà chương trình công tác của đồng chí bí thư, các phó bí thư và một số hoạt động của các đồng chí uỷ viên ban thường vụ để thực hiện quy chế làm việc, chương trình công tác; phối hợp, điều hoà hoạt động các cơ quan tham mưu phục vụ hoạt động của tỉnh uỷ.

g) Tham gia tổ chức phục vụ đại hội đảng bộ tỉnh; hội nghị ban chấp hành, ban thường vụ tỉnh uỷ; các hội nghị do ban thường vụ, thường trực tỉnh uỷ triệu tập; các cuộc làm việc của đồng chí bí thư, phó bí thư tỉnh uỷ.

h) Thực hiện một số nhiệm vụ khác khi được ban thường vụ, thường trực tỉnh uỷ giao.  

3. Tổ chức bộ máy

3.1. Lãnh đạo văn phòng tỉnh uỷ:

Gồm chánh văn phòng và không quá 3 phó chánh văn phòng. Riêng Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh không quá 4 phó chánh văn phòng.

3.2. Các đơn vị trực thuộc:  

- Phòng Tổng hợp.

- Phòng Hành chính – Cơ yếu.

- Phòng Lưu trữ.

- Phòng Quản trị.

- Phòng Tài chính đảng.

- Trung tâm Công nghệ thông tin.  

4. Biên chế

Biên chế chung của văn phòng tỉnh uỷ từ 45 - 55 cán bộ. Văn phòng Tỉnh uỷ Thanh Hoá, Văn phòng Tỉnh uỷ Nghệ An từ 50 - 60 cán bộ. Văn phòng Thành uỷ Hà Nội, Văn phòng Thành uỷ Thành phố Hồ Chí Minh từ 60 - 70 cán bộ.  

Điều 6. Ban Tổ chức

1. Chức năng

1.1. Là cơ quan tham mưu của tỉnh uỷ mà trực tiếp, thường xuyên là ban thường vụ, thường trực tỉnh uỷ về công tác xây dựng đảng thuộc lĩnh vực tổ chức, cán bộ, đảng viên, bảo vệ chính trị nội bộ của hệ thống chính trị trong tỉnh.

1.2. Là cơ quan chuyên môn - nghiệp vụ về công tác tổ chức, cán bộ, đảng viên, bảo vệ chính trị nội bộ của tỉnh uỷ.

2. Nhiệm vụ

2.1. Nghiên cứu, đề xuất:

a) Tham mưu xây dựng nghị quyết, quyết định, chỉ thị, quy định, quy chế của tỉnh uỷ, ban thường vụ; cụ thể hoá chủ trương, chính sách, giải pháp về công tác tổ chức, cán bộ, đảng viên, bảo vệ chính trị nội bộ.

b) Xây dựng đề án về tổ chức, cán bộ, đảng viên, bảo vệ chính trị nội bộ đảng thuộc thẩm quyền quyết định của ban chấp hành, ban thường vụ tỉnh uỷ.

c) Tham mưu về công tác cán bộ thuộc diện tỉnh uỷ quản lý.

d) Sơ kết, tổng kết về công tác tổ chức xây dựng đảng.  

2.2. Hướng dẫn, kiểm tra, giám sát.

a) Công tác tổ chức, cán bộ, đảng viên, bảo vệ chính trị nội bộ và việc thi hành Điều lệ Đảng đối với các huyện uỷ, quận uỷ, thị uỷ, thành uỷ; các ban đảng, ban cán sự đảng, đảng đoàn, đảng uỷ trực thuộc tỉnh uỷ.

b) Nghiệp vụ công tác tổ chức, cán bộ, đảng viên, bảo vệ chính trị nội bộ cho cấp uỷ cấp dưới và cán bộ tổ chức đảng trực thuộc tỉnh uỷ.

c) Việc thực hiện phân công, phân cấp quản lý cán bộ theo quy định của ban chấp hành, ban thường vụ tỉnh uỷ.

d) Công tác quản lý hồ sơ cán bộ, hồ sơ đảng viên, giới thiệu sinh hoạt đảng, giải quyết khiếu nại xoá tên đảng viên và vấn đề đảng tịch cho đảng viên của các cấp uỷ trực thuộc.  

2.3. Thẩm định, thẩm tra.

a) Các đề án về tổ chức bộ máy, cán bộ, đảng viên, bảo vệ chính trị nội bộ của cấp uỷ cấp dưới, cơ quan nhà nước, đoàn thể chính trị-xã hội, cơ quan trực thuộc tỉnh uỷ trước khi trình ban chấp hành, ban thường vụ tỉnh uỷ.

b) Tham gia thẩm định các đề án về tổ chức bộ máy, cán bộ, công chức của hội đồng nhân dân, uỷ ban nhân dân, các sở, ban, ngành trong tỉnh theo phân cấp.

c) Thẩm định và trình ban thường vụ tỉnh uỷ nhân sự dự kiến bố trí, sử dụng, bổ nhiệm, bổ nhiệm lại, luân chuyển, khen thưởng, thực hiện chính sách cán bộ theo phân cấp quản lý.  

d) Thẩm tra, xác minh đối với cán bộ, đảng viên có vấn đề về lịch sử chính trị hiện nay theo quy định.  

2.4. Phối hợp:

a) Phối hợp với các ban đảng, ban cán sự đảng, đảng đoàn, đảng uỷ trực thuộc tỉnh uỷ trong công tác xây dựng đảng về tổ chức cán bộ, đảng viên, bảo vệ chính trị nội bộ.

b) Phối hợp với sở nội vụ trong việc thể chế hoá các nghị quyết, quyết định của Đảng về lĩnh vực tổ chức, cán bộ, công chức, bảo vệ chính trị nội bộ theo phân công, phân cấp.

c) Chủ trì phối hợp với các ban đảng, Mặt trận Tổ quốc, đoàn thể chính trị-xã hội cấp tỉnh hướng dẫn xây dựng và kiểm tra thực hiện chức năng, nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, biên chế của cơ quan đảng, Mặt trận Tổ quốc, đoàn thể chính trị-xã hội cấp huyện.

d) Chủ trì tham mưu, đề xuất chế độ, chính sách đối với cán bộ công tác tại các cơ quan đảng. Là cơ quan thường trực về công tác thi đua, khen thưởng của tỉnh uỷ.  

2.5. Thực hiện một số nhiệm vụ do ban thường vụ, thường trực tỉnh uỷ giao:

a) Quản lý tổ chức, bộ máy, biên chế các cơ quan đảng, đoàn thể chính trị-xã hội ở địa phương.

b) Theo báo cáo, đề nghị của cấp uỷ, tổ chức đảng trực thuộc tỉnh uỷ, xác nhận quy hoạch chức danh cán bộ thuộc diện tỉnh uỷ, ban thường vụ quản lý.

c) Thực hiện chế độ, chính sách đối với cán bộ thuộc diện tỉnh uỷ, ban thường vụ quản lý; cán bộ, công chức khối đảng, đoàn thể ở địa phương. Phối hợp với ban bảo vệ chăm sóc sức khoẻ tỉnh thực hiện việc bảo vệ chăm sóc sức khoẻ đối với cán bộ diện tỉnh uỷ, ban thường vụ tỉnh uỷ quản lý.

d) Quản lý hồ sơ cán bộ diện tỉnh uỷ, ban thường vụ quản lý và cán bộ, đảng viên có vấn đề về chính trị theo quy định của Bộ Chính trị.

đ) Tham mưu, giải quyết các vấn đề về đảng tịch; giải quyết hoặc phối hợp giải quyết khiếu nại, tố cáo các vấn đề chính trị của cán bộ thuộc diện tỉnh uỷ, ban thường vụ tỉnh uỷ quản lý.

e) Được cử cán bộ dự các phiên họp bàn về công tác xây dựng đảng, về tổ chức, cán bộ, đảng viên, bảo vệ chính trị nội bộ của các ban đảng, ban cán sự đảng, đảng đoàn, cấp uỷ trực thuộc.

g) Tổ chức thi tuyển cán bộ, công chức cơ quan đảng, đoàn thể ở địa phương.

h) Thực hiện công tác thống kê cơ bản về công tác xây dựng tổ chức cơ sở đảng ở địa phương.

i) Thực hiện các công việc khác khi được ban thường vụ, thường trực tỉnh uỷ giao.  

3. Tổ chức bộ máy

3.1. Lãnh đạo ban:

Gồm trưởng ban và không quá 4 phó trưởng ban, trong đó có 1 phó trưởng ban kiêm nhiệm (là giám đốc sở nội vụ). Ban Tổ chức Thành uỷ Hà Nội, Ban Tổ chức Thành uỷ Thành phố Hồ Chí Minh có thể có 5 phó trưởng ban.  

3.2. Các đơn vị trực thuộc:

- Văn phòng ban.

- Phòng Tổ chức cán bộ.

- Phòng Cơ sở đảng - đảng viên.

- Phòng huyện, ban, ngành, sở.

- Phòng Bảo vệ chính trị nội bộ.

- Ban Tổ chức Thành uỷ Hà Nội, Ban Tổ chức Thành uỷ Thành phố Hồ Chí Minh có thể có phòng chính sách cán bộ; phòng ban, ngành, sở và các cơ quan Trung ương.  

4. Biên chế  

Biên chế chung của ban tổ chức tỉnh uỷ từ 25 - 35 cán bộ. Ban Tổ chức Tỉnh uỷ Thanh Hoá, Ban Tổ chức Tỉnh uỷ Nghệ An từ 30 - 45 cán bộ. Ban Tổ chức Thành uỷ Hà Nội, Ban Tổ chức Thành uỷ Thành phố Hồ Chí Minh từ 50 - 60 cán bộ.  

Điều 7. Cơ quan Uỷ ban kiểm tra  

1. Chức năng

1.1. Là cơ quan tham mưu giúp uỷ ban kiểm tra tỉnh uỷ thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn về công tác kiểm tra, giám sát và thi hành kỷ luật đảng trong đảng bộ; thực hiện các nhiệm vụ do tỉnh uỷ, ban thường vụ tỉnh uỷ giao.

1.2. Là cơ quan chuyên môn, nghiệp vụ về công tác kiểm tra, giám sát và thi hành kỷ luật đảng của tỉnh uỷ.

2. Nhiệm vụ

2.1. Nghiên cứu, đề xuất:

a) Xây dựng phương hướng, nhiệm vụ, chương trình, kế hoạch kiểm tra, giám sát tổ chức đảng cấp dưới; kiểm tra, giám sát đảng viên chấp hành Cương lĩnh chính trị, Điều lệ Đảng, nghị quyết, quyết định, chỉ thị, quy định, quy chế của Đảng; giúp tỉnh uỷ, ban thường vụ tổ chức thực hiện chương trình, kế hoạch kiểm tra, giám sát.

b) Đề xuất, đóng góp vào sự lãnh đạo, chỉ đạo của tỉnh uỷ, ban thường vụ tỉnh uỷ đối với công tác kiểm tra, giám sát, thi hành kỷ luật trong đảng bộ.

c) Sơ kết, tổng kết về công tác kiểm tra, giám sát và thi hành kỷ luật trong đảng bộ.

2.2. Hướng dẫn, kiểm tra, giám sát, tổ chức thực hiện :

a) Hướng dẫn, kiểm tra, giám sát các cấp uỷ, tổ chức đảng, đảng viên; thực hiện công tác kiểm tra, giám sát, thi hành kỷ luật đảng trong đảng bộ; chỉ đạo, hướng dẫn nghiệp vụ đối với uỷ ban kiểm tra và cơ quan uỷ ban kiểm tra cấp dưới.

b) Tổ chức thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của uỷ ban kiểm tra tỉnh uỷ; chương trình, kế hoạch công tác của uỷ ban kiểm tra tỉnh uỷ.  

2.3. Thẩm định, thẩm tra:

Đề án của các cơ quan đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc, đoàn thể về những nội dung liên quan đến công tác kiểm tra, giám sát và thi hành kỷ luật đảng trước khi trình ban chấp hành, ban thường vụ, thường trực tỉnh uỷ.  

2.4. Phối hợp:

a) Phối hợp với ban tổ chức trong công tác cán bộ theo phân cấp quản lý.

b) Phối hợp với các cơ quan có liên quan xây dựng, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ kiểm tra của cấp uỷ.

c) Phối hợp với các cơ quan tham mưu giúp việc tỉnh uỷ, giúp ban chấp hành, ban thường vụ theo dõi, giám sát việc thực hiện quy chế làm việc của ban chấp hành, ban thường vụ cấp uỷ.

2.5. Thực hiện một số nhiệm vụ khác được tỉnh uỷ, ban thường vụ, thường trực tỉnh uỷ giao.

3. Tổ chức bộ máy

3.1. Lãnh đạo cơ quan uỷ ban kiểm tra:

Gồm chủ nhiệm và không quá 3 phó chủ nhiệm uỷ ban. Cơ quan Uỷ ban Kiểm tra Thành uỷ Hà Nội, Cơ quan Uỷ ban Kiểm tra Thành uỷ Thành phố Hồ Chí Minh có thể có 4 phó chủ nhiệm uỷ ban.

Số lượng, cơ cấu uỷ viên uỷ ban kiểm tra thực hiện theo Quyết định số 25-QĐ/TW, ngày 24-11-2006 của Bộ Chính trị khoá X.  

Chủ nhiệm uỷ ban kiểm tra tỉnh uỷ là thủ trưởng cơ quan; các phó chủ nhiệm uỷ ban kiểm tra tỉnh uỷ là phó thủ trưởng cơ quan uỷ ban kiểm tra tỉnh uỷ. 

3.2. Các đơn vị trực thuộc:

- Văn phòng.

- Từ 3 đến 4 phòng nghiệp vụ.

Cơ quan Uỷ ban Kiểm tra Thành uỷ Hà Nội, Cơ quan Uỷ ban Kiểm tra Thành uỷ Thành phố Hồ Chí Minh không quá 5 phòng nghiệp vụ.  

4. Biên chế

Biên chế chung của cơ quan uỷ ban kiểm tra tỉnh uỷ từ 25 - 35 cán bộ.

Cơ quan Uỷ ban Kiểm tra Tỉnh uỷ Thanh Hoá, Cơ quan Uỷ ban Kiểm tra Tỉnh uỷ Nghệ An từ 30 - 40 cán bộ. Cơ quan Uỷ ban Kiểm tra Thành uỷ Hà Nội, Cơ quan Uỷ ban Kiểm tra Thành uỷ Thành phố Hồ Chí Minh từ 40 - 50 cán bộ.  

Điều 8. Ban Tuyên giáo

1. Chức năng

1.1. Là cơ quan tham mưu của tỉnh uỷ, trực tiếp và thường xuyên là ban thường vụ, thường trực tỉnh uỷ về công tác xây dựng đảng thuộc các lĩnh vực chính trị, tư tưởng - văn hoá, khoa giáo, biên soạn về lịch sử đảng bộ địa phương.

1.2. Là cơ quan chuyên môn - nghiệp vụ về công tác tuyên giáo của tỉnh uỷ.

2. Nhiệm vụ

2.1. Nghiên cứu, đề xuất:

a) Nghiên cứu, theo dõi, tổng hợp tình hình tư tưởng trong cán bộ, đảng viên và nhân dân, những âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch trên lĩnh vực tư tưởng - văn hoá ở địa bàn tỉnh; dự báo những diễn biến, xu hướng tư tưởng có thể xảy ra, kịp thời báo cáo, kiến nghị với tỉnh uỷ phương hướng, nhiệm vụ, nội dung, biện pháp giải quyết.

b) Các đề án, nghị quyết, quyết định, chỉ thị, quy định, quy chế của tỉnh uỷ, ban thường vụ tỉnh uỷ về công tác tuyên giáo, biên soạn lịch sử đảng bộ địa phương.

c) Đánh giá hoạt động, nghiên cứu, đề xuất phương hướng, chính sách, cơ chế, giải pháp trên lĩnh vực tuyên giáo.

d) Tham gia với chính quyền địa phương trong việc vận dụng, thể chế các quy định của cấp trên về các lĩnh vực có liên quan đến công tác tuyên giáo.

đ) Sơ kết, tổng kết về công tác tuyên giáo.  

2.2. Tuyên truyền, giáo dục và hướng dẫn, kiểm tra, giám sát:

a) Tổ chức nghiên cứu, tuyên truyền, quán triệt, hướng dẫn triển khai thực hiện nghị quyết, quyết định, chỉ thị, quy định, quy chế của Đảng; kiểm tra, giám sát các tổ chức đảng, các ban, ngành, đoàn thể trong việc thực hiện các nghị quyết, quyết định, chỉ thị, quy định, quy chế của Trung ương, của tỉnh trong lĩnh vực tuyên giáo.

b) Tổ chức bồi dưỡng lý luận chính trị, thông tin thời sự, tuyên truyền chính sách theo các chương trình của Trung ương và tỉnh uỷ. Bồi dưỡng và hướng dẫn nghiệp vụ công tác tuyên giáo cho ban tuyên giáo cấp uỷ cấp dưới, các đảng bộ cơ sở, trung tâm bồi dưỡng chính trị huyện.

c) Tổ chức mạng lưới báo cáo viên, tuyên truyền viên, cộng tác viên từ tỉnh đến cơ sở; hướng dẫn, kiểm tra nội dung thông tin của các phương tiện thông tin đại chúng, các nhà xuất bản do địa phương quản lý.

d) Sưu tầm, biên soạn lịch sử đảng bộ tỉnh; hướng dẫn sưu tầm biên soạn lịch sử đảng bộ quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh.

đ) Tổ chức tuyên truyền, giáo dục phát huy truyền thống cách mạng của địa phương.  

2.3. Thẩm định, thẩm tra:

Đề án của các cơ quan đảng, nhà nước, tổ chức đoàn thể của tỉnh có liên quan đến lĩnh vực tư tưởng - văn hoá, khoa giáo, lịch sử đảng bộ địa phương trước khi trình ban chấp hành, ban thường vụ, thường trực tỉnh uỷ.  

2.4. Phối hợp:

a) Phối hợp với các cơ quan hữu quan đề xuất về cơ chế, chính sách đào tạo, bồi dưỡng, bố trí, sử dụng, quản lý và đãi ngộ đối với đội ngũ trí thức khoa học và văn nghệ sĩ ở địa phương. Phối hợp với ban tổ chức tỉnh uỷ đề xuất chủ trương đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng, quản lý, đãi ngộ nhân tài.

b) Phối hợp với các cơ quan chức năng tham gia công tác xây dựng đảng đối với các đảng bộ thuộc khối tuyên giáo.

c) Phối hợp với ban tổ chức tỉnh uỷ trong việc quản lý tổ chức bộ máy, biên chế ban tuyên giáo của các cấp uỷ trực thuộc tỉnh uỷ. Tham gia ý kiến về công tác cán bộ đối với đội ngũ cán bộ trong khối theo phân cấp quản lý.  

2.5. Thực hiện một số nhiệm vụ do ban thưòng vụ, thường trực tỉnh uỷ giao:

a) Chỉ đạo định hướng chính trị, tư tưởng trong hoạt động của các cơ quan báo chí, xuất bản, văn hoá, văn nghệ, cơ quan thông tin tuyên truyền ở địa phương, các hội văn học - nghệ thuật, hội nhà báo, đảm bảo hoạt động theo đúng đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước.

b) Chỉ đạo nội dung giáo dục lý luận chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong hệ thống giáo dục, trường chính trị, tổ chức chính trị-xã hội ở địa phương.

c) Giúp tỉnh uỷ chỉ đạo công tác chính trị, tư tưởng trong đội ngũ trí thức, các nhà khoa học và trong sinh viên, học sinh ở địa phương.

d) Thực hiện các công việc khác do ban thường vụ, thường trực tỉnh uỷ giao.  

3. Tổ chức bộ máy

3.1. Lãnh đạo ban:

Gồm trưởng ban và không quá 3 phó trưởng ban. Ban Tuyên giáo Thành uỷ Hà Nội, Ban Tuyên giáo Thành uỷ Thành phố Hồ Chí Minh có thể có 4 phó trưởng ban.  

3.2. Các đơn vị trực thuộc:

- Văn phòng.

- Phòng Lý luận chính trị và Lịch sử Đảng.

- Phòng Tuyên truyền: Phụ trách lĩnh vực tuyên truyền, báo chí, xuất bản, dư luận xã hội.

- Phòng Văn hoá - Văn nghệ.

- Phòng Khoa giáo.

- Phòng (hoặc Trung tâm thông tin công tác tuyên giáo).

Thành phố Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh có Phòng Báo chí - Xuất bản.  

4. Biên chế

Biên chế chung của ban tuyên giáo tỉnh uỷ từ 22 - 28 cán bộ. Ban Tuyên giáo Tỉnh uỷ Thanh Hoá, Ban Tuyên giáo Tỉnh uỷ Nghệ An từ 28 - 35 cán bộ. Ban Tuyên giáo Thành uỷ Hà Nội, Ban Tuyên giáo Thành uỷ Thành phố Hồ Chí Minh từ 40 - 50 cán bộ.  

Điều 9. Ban Dân vận

1. Chức năng

1.1. Là cơ quan tham mưu của cấp uỷ, mà trực tiếp và thường xuyên là ban thường vụ, thường trực tỉnh uỷ về công tác dân vận của Đảng, trong đó có công tác dân tộc, tôn giáo.

1.2. Là cơ quan chuyên môn, nghiệp vụ về công tác dân vận của tỉnh uỷ.

2. Nhiệm vụ

2.1. Nghiên cứu, đề xuất:

a) Những chủ trương, giải pháp về công tác dân vận của cấp uỷ và ban thường vụ. Chuẩn bị, tham gia các dự thảo nghị quyết đại hội, các nghị quyết, quyết định, chỉ thị, quy định, quy chế, chương trình công tác dân vận của tỉnh uỷ, ban thường vụ tỉnh uỷ.

b) Tham mưu với cấp uỷ thể chế hoá các chủ trương, nghị quyết, quyết định, chỉ thị, quy định, quy chế của Đảng, pháp luật của Nhà nước về công tác dân vận, dân tộc, tôn giáo, phát huy quyền làm chủ của nhân dân.

c) Sơ kết, tổng kết về công tác dân vận.  

2.2. Theo dõi, hướng dẫn, kiểm tra, giám sát:

a) Việc thực hiện chủ trương, chính sách, nghị quyết, quyết định, chỉ thị, quy định, quy chế của Đảng về công tác dân vận.

b) Tình hình tư tưởng, tâm trạng, nguyện vọng trong nhân dân và phong trào quần chúng để kịp thời báo cáo cấp uỷ. Hướng dẫn, bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ về công tác dân vận cho cấp uỷ và cán bộ làm công tác dân vận của các cấp trong đảng bộ tỉnh.

c) Tham gia ý kiến với các cơ quan chính quyền trong việc thể chế hoá nghị quyết, quyết định, chỉ thị, quy định, quy chế của Đảng về công tác dân vận; phát huy quyền làm chủ của nhân dân.  

2.3. Phối hợp:

a) Phối hợp với ban tổ chức tỉnh uỷ trong việc quản lý tổ chức bộ máy, biên chế ban dân vận của cấp uỷ trực thuộc tỉnh uỷ. Tham gia ý kiến về công tác cán bộ đối với đội ngũ cán bộ trong khối theo phân cấp quản lý.

b) Chủ trì, phối hợp với ban, ngành liên quan trong các hoạt động chung về công tác dân vận; công tác nghiên cứu, kiểm tra, đào tạo, bồi dưỡng, thông tin… về công tác dân vận ở địa phương.

c) Phối hợp với Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể chính trị-xã hội và hội quần chúng tỉnh tham gia công tác xây dựng đảng; xây dựng chính quyền.

2.4. Thẩm định, thẩm tra:

a) Các đề án về công tác dân vận trước khi trình cấp uỷ.

b) Tham gia thẩm định các đề án, dự án thuộc lĩnh vực kinh tế, văn hoá, xã hội, an ninh, quốc phòng… có liên quan mật thiết đến công tác dân vận; các đề án, dự án có liên quan đến quyền làm chủ của nhân dân và công tác dân vận của hội đồng nhân dân, uỷ ban nhân dân.  

2.5. Thực hiện một số nhiệm vụ do ban thường vụ, thường trực tỉnh uỷ giao:

a) Giúp cấp uỷ nắm tình hình hoạt động của Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể chính trị-xã hội, hội quần chúng ở địa phương.

b) Thực hiện những công việc khác do tỉnh uỷ, ban thường vụ giao.  

3. Tổ chức bộ máy

3.1. Lãnh đạo ban:

Gồm trưởng ban và không quá 3 phó trưởng ban. Ban Dân vận Thành uỷ Thành phố Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh có thể có 4 phó trưởng ban.

 3.2. Các đơn vị trực thuộc:

- Văn phòng.

- Phòng Đoàn thể và các hội quần chúng.

- Phòng Công tác dân vận trong các cơ quan nhà nước.

- Phòng Dân tộc và Tôn giáo.  

4. Biên chế

Biên chế chung của ban dân vận tỉnh uỷ từ 18 - 21 cán bộ. Ban Dân vận Tỉnh uỷ Thanh Hoá, Ban Dân vận Tỉnh uỷ Nghệ An từ 20 - 25 cán bộ; Ban Dân vận Thành uỷ Hà Nội, Ban Dân vận Thành uỷ Thành phố Hồ Chí Minh từ 25 - 30 cán bộ.  

Điều 10. Về tiêu chuẩn, chức danh và cơ cấu lao động

1. Cơ cấu lao động

1.1. Đối với văn phòng tỉnh uỷ: Số lượng cán bộ làm công tác hành chính, phục vụ bảo đảm cơ cấu hợp lý giữa cán bộ trong biên chế và cán bộ hợp đồng theo quy định, phù hợp với chức năng, nhiệm vụ của Văn phòng. Chuyên viên, chuyên viên chính, chuyên viên cao cấp tối thiểu là 40%.

1.2. Đối với cơ quan uỷ ban kiểm tra và các ban đảng: Bảo đảm cơ cấu hợp lý giữa cán bộ trong biên chế và cán bộ hợp đồng theo quy định, số lượng chuyên viên nghiên cứu, tham mưu giúp việc nhiều hơn số lượng cán bộ phục vụ hành chính. Chuyên viên, chuyên viên chính, chuyên viên cao cấp tối thiểu là 70%.

2. Tiêu chuẩn, chức danh lao động

Tiêu chuẩn, chức danh lao động trong mỗi cơ quan đơn vị thực hiện theo Hướng dẫn của Ban Tổ chức Trung ương.  

Chương III

MỐI QUAN HỆ CÔNG TÁC 

Điều 11. Quan hệ với tỉnh uỷ, ban thường vụ, thường trực tỉnh uỷ, các cơ quan tham mưu giúp việc ở Trung ương

1. Các cơ quan tham mưu giúp việc tỉnh uỷ chịu sự lãnh đạo và chỉ đạo về mọi mặt của tỉnh uỷ, trực tiếp và thường xuyên là ban thường vụ và thường trực tỉnh uỷ; thực hiện chế độ báo cáo, xin chỉ thị và đề xuất các vấn đề thuộc trách nhiệm của lĩnh vực được phân công với ban thường vụ và thường trực tỉnh uỷ.

2. Các cơ quan tham mưu giúp việc tỉnh uỷ định kỳ báo cáo công tác với các cơ quan tham mưu giúp việc của Ban Chấp hành Trung ương, chịu sự hướng dẫn, kiểm tra về chuyên môn, nghiệp vụ của các cơ quan tham mưu giúp việc của Ban Chấp hành Trung ương theo quy định.  

Điều 12. Quan hệ với Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị-xã hội trong tỉnh

Quan hệ giữa các cơ quan tham mưu giúp việc tỉnh uỷ với Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị-xã hội trong tỉnh là quan hệ phối hợp:

- Trong phạm vi lĩnh vực công tác, các cơ quan tham mưu giúp việc tỉnh uỷ chủ trì, phối hợp với Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị-xã hội triển khai thực hiện các nghị quyết, quyết định, chỉ thị, quy định, quy chế của Trung ương, của tỉnh uỷ.

- Phối hợp nghiên cứu, hướng dẫn triển khai nghị quyết, quyết định, chỉ thị, quy định, quy chế và kiểm tra theo chức năng, nhiệm vụ được tỉnh uỷ giao.  

Điều 13. Quan hệ với thường trực hội đồng nhân dân và lãnh đạo uỷ ban nhân dân tỉnh  

Quan hệ giữa các cơ quan tham mưu giúp việc tỉnh uỷ với thường trực hội đồng nhân dân và lãnh đạo uỷ ban nhân dân tỉnh là quan hệ phối hợp:

- Khi triển khai thực hiện nhiệm vụ tham mưu có gắn với công tác quản lý nhà nước các cơ quan tham mưu giúp việc tỉnh uỷ phối hợp với thường trực hội đồng nhân dân, lãnh đạo uỷ ban nhân dân; các cơ quan đảng, nhà nước phối hợp, tạo điều kiện, hỗ trợ lẫn nhau để cùng hoàn thành nhiệm vụ được giao.

- Các kỳ họp hội đồng nhân dân và uỷ ban nhân dân tỉnh để bàn chủ trương, quyết định, chính sách, chế độ… có liên quan đến lĩnh vực chuyên môn của cơ quan nào, thì đại diện lãnh đạo cơ quan đó được mời tham dự, tham gia ý kiến. Những nội dung cần thiết, lãnh đạo cơ quan làm việc trực tiếp với thường trực hội đồng nhân dân và lãnh đạo uỷ ban nhân dân để phối hợp thực hiện nhiệm vụ của mỗi bên.  

Điều 14. Quan hệ với cấp uỷ và các ban tham mưu giúp việc của cấp uỷ cấp dưới

1. Quan hệ giữa các cơ quan tham mưu giúp việc tỉnh uỷ với cấp uỷ trực thuộc tỉnh uỷ là quan hệ phối hợp, trao đổi, hướng dẫn, góp ý trong thực hiện về công tác chuyên môn và công tác cán bộ theo phân cấp.

2. Quan hệ giữa các cơ quan tham mưu giúp việc tỉnh uỷ với các cơ quan tham mưu giúp việc cấp uỷ trực thuộc tỉnh uỷ là quan hệ hướng dẫn, kiểm tra trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn được phân công về chuyên môn, nghiệp vụ, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ.  

Chương IV

ĐIỀU KHOẢN THI HÀNH 

Điều 15. Điều khoản thi hành

Quy định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày ký, được thực hiện thống nhất trong toàn Đảng.

Ban Tổ chức Trung ương phối hợp với các cơ quan liên quan theo dõi, kiểm tra việc thực hiện Quy định; nếu có phát sinh, vướng mắc trong quá trình tổ chức thực hiện thì báo cáo Ban Bí thư bổ sung, sửa đổi kịp thời.

 

T/M BAN BÍ THƯ

(đã ký)‎

Trương Tấn Sang 

 

II

MỘT SỐ HƯỚNG DẪN VÀ MẪU DỰ ÁN

__________________________

 

HƯỚNG DẪN

SỐ 01/HDLB-TC-DVTW NGÀY 25-5-2000 CỦA BAN TỔ CHỨC TRUNG ƯƠNG VÀ BAN DÂN VẬN TRUNG ƯƠNG

Về chức năng, nhiệm vụ, tổ chức bộ máy và biên chế cán bộ của Ban Dân vận địa phương

 

Căn cứ vào Nghị quyết Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa VIII) về: Một số vấn đề tổ chức, bộ máy của hệ thống chính trị và tiền lương, trợ cấp xã hội thuộc ngân sách nhà nước.

- Căn cứ vào tình hình thực tiễn của hệ thống dân vận các cấp hiện nay.

Ban Tổ chức Trung ương, Ban Dân vận Trung ương hướng dẫn về chức năng, nhiệm vụ, tổ chức, bộ máy và biên chế cán bộ của Ban Dân vận tỉnh, thành ủy (gọi chung là Ban Dân vận tỉnh ủy), Ban Dân vận huyện ủy, thị ủy, quận ủy, thành phố thuộc tỉnh (gọi chung là Ban Dân vận huyện ủy) và khối Dân vận xã, phường, thị trấn như sau:

I. VỀ BAN DÂN VẬN TỈNH ỦY, HUYỆN ỦY

1. Về chức năng và nhiệm vụ của Ban Dân vận

1.1. Về chức năng:

Ban Dân vận là một Ban thuộc hệ thống các Ban xây dựng Đảng, là cơ quan tham mưu của cấp ủy, mà trực tiếp và thường xuyên là Ban Thường vụ về công tác dân vận của Đảng, trong đó có công tác tôn giáo, dân tộc và người Hoa.

1.2. Ban Dân vận có các nhiệm vụ sau:

+ Nghiên cứu, tham mưu với cấp ủy những chủ trương về công tác dân vận; chuẩn bị, tham gia chuẩn bị các quyết định của Đảng về công tác dân vận; thẩm định các đề án về công tác dân vận trước khi trình cấp ủy; tham mưu giúp cấp ủy chỉ đạo những vấn đề cụ thể về công tác dân vận trong hệ thống chính trị (trong đó có công tác tôn giáo, dân tộc và người Hoa).

+ Hướng dẫn các cấp ủy, các tổ chức Đảng thực hiện các nghị quyết chủ trương của cấp trên; hướng dẫn Ban Dân vận cấp ủy cấp dưới về chuyên môn nghiệp vụ.

+ Giúp cấp ủy kiểm tra việc thực hiện các chỉ thị, nghị quyết của Đảng về công tác dân vận. Theo dõi tình hình, phong trào và nguyện vọng của quần chúng, tổng kết kinh nghiệm, thực hiện chế độ báo cáo, kiến nghị và đề xuất chủ trương với Trung ương và cấp ủy địa phương về công tác dân vận và những vấn đề liên quan công tác xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền.

+ Phối hợp với Ban Tổ chức triển khai công tác tổ chức và cán bộ trong khối theo quy định của cấp ủy; đề xuất việc bố trí, sử dụng, đề bạt cán bộ trong khối thuộc diện cấp ủy quản lý, kiến nghị những biện pháp quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng cán bộ dân vận; tổ chức hướng dẫn bồi dưỡng nghiệp vụ dân vận cho cán bộ của hệ thống chính trị; tham gia công tác xây dựng Đảng ở các Đảng bộ cơ quan khối Dân vận.

+ Chủ trì phối hợp với các Ban, ngành liên quan, nhất là các cơ quan trong khối các hoạt động chung về công tác dân vận; công tác nghiên cứu, kiểm tra, đào tạo, bồi dưỡng, thông tin... về công tác dân vận ở địa phương.

2. Về bộ máy và biên chế cán bộ

2.1. Về bộ máy và cán bộ Ban Dân vận tỉnh, thành ủy

2.1.1. Về bộ máy:

- Ban Dân vận tỉnh, thành ủy có đồng chí ủy viên Ban Thường vụ trực tiếp làm Trưởng Ban. Trưởng Ban chịu trách nhiệm các mặt công tác của Ban và được thường vụ cấp ủy phân công phụ trách công tác dân vận của Đảng.

- Ban Dân vận tỉnh, thành ủy có 2 - 3 Phó trưởng Ban. Các Phó trưởng Ban chịu trách nhiệm giúp Trưởng Ban phụ trách từng lĩnh vực công tác như: Thường trực Ban, giữ mối liên hệ với Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể, hội quần chúng, các cơ quan nhà nước, công tác tôn giáo, dân tộc, người Hoa, người Việt Nam ở nước ngoài.

- Ban Dân vận tỉnh, thành ủy được tổ chức các phòng chuyên môn nghiệp vụ để phù hợp với khối lượng công việc: Văn phòng Ban, đoàn thể và hội quần chúng, công tác dân vận trong các cơ quan nhà nước, công tác dân tộc và tôn giáo, người Hoa, người Việt Nam ở nước ngoài.

2.1.2. Về biên chế cán bộ:

  - Biên chế của Ban Dân vận tỉnh, thành ủy có số lượng từ 11 đến 13 cán bộ, chuyên viên. Những địa phương không có Ban Tôn giáo, Ban Dân vận, Ban Công tác người Hoa của Ủy ban nhân dân tỉnh thì thêm 2 đến 3 biên chế để làm công tác tôn giáo, dân tộc và người Hoa (Về số lượng biên chế Ban Dân vận thành phố Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh được thống nhất giữa cấp ủy với Ban Tổ chức và Ban Dân vận Trung ương).

- Ban Dân vận được sử dụng hình thức cộng tác viên khi cần thiết để nghiên cứu, tổng kết các chuyên đề quan trọng.

Căn cứ vào khung biên chế trên đây và tổng biên chế được giao, các cấp ủy quyết định biên chế cụ thể cho Ban Dân vận cấp ủy để thực hiện được chức năng, nhiệm vụ, bảo đảm tinh gọn, chất lượng, hiệu quả.

2.2. Về bộ máy, cán bộ Ban Dân vận huyện, quận, thị ủy

2.2.1. Về bộ máy:

- Ban Dân vận huyện, quận, thị ủy, thành ủy (thuộc tỉnh) có đồng chí Trưởng Ban chuyên trách là ủy viên thường vụ cấp ủy. Trưởng Ban phụ trách chung công tác của Ban và phụ trách khối Dân vận.

- Có một đồng chí Phó trưởng Ban giúp Trưởng Ban làm nhiệm vụ thường trực, tổng hợp điều hành công việc của Ban; giữ mối liên hệ với Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể và các cơ quan liên quan.

- Đối với những địa phương Ban Dân vận do đồng chí Phó bí thư thường trực kiêm Trưởng Ban thì bố trí đồng chí Phó ban, chuyên trách là cấp ủy viên.

2.2.2. Về biên chế cán bộ:

Ban Dân vận huyện ủy, quận ủy, thị ủy, biên chế 3 cán bộ chuyên trách. Đối với thị xã, thành phố thuộc tỉnh và những nơi có nhiều tôn giáo, dân tộc, địa bàn khó khăn thì thêm 1 đến 2 biên chế.

3. Về tiêu chuẩn cán bộ làm công tác dân vận

Căn cứ tiêu chuẩn chung đã quy định trong Nghị quyết Trung ương 3 (khóa VIII), khi tuyển chọn cán bộ dân vận cần chú ý xem xét những đồng chí trưởng thành từ phong trào quần chúng, có hiểu biết về công tác vận động quần chúng, được quần chúng tín nhiệm; có nhiệt tình, được đào tạo bồi dưỡng về lý luận cơ bản về pháp luật và nghiệp vụ công tác dân vận; có khả năng nghiên cứu, đề xuất hướng dẫn, kiểm tra... Cần lựa chọn những cán bộ có kiến thức, kinh nghiệm về công tác dân tộc, tôn giáo để theo dõi về công tác này.

II. VỀ TỔ CHỨC KHỐI DÂN VẬN CẤP XÃ, PHƯỜNG, THỊ TRẤN

 

1. Các xã, phường, thị trấn tổ chức Khối Dân vận do đồng chí Phó bí thư thường trực Đảng (hoặc đồng chí Ủy viên thường vụ thường trực Đảng) làm trưởng khối. Thành viên bao gồm các đồng chí: Chủ tịch Mặt trận Tổ quốc, trưởng các đoàn thể và hội quần chúng, Thường trực Hội đồng nhân dân, Phó chủ tịch Ủy ban nhân dân. Ở các phường, thị trấn cử thêm đồng chí Trưởng công an tham gia.

2. Về chức năng và nhiệm vụ của khối dân vận xã, phường, thị trấn

- Phối hợp các thành viên trong khối để tham mưu với cấp ủy tổ chức thực hiện các chỉ thị, nghị quyết của Đảng về công tác dân vận. Theo dõi, kiểm tra tình hình; phản ánh diễn biến tư tưởng, nguyện vọng của nhân dân; sơ kết, tổng kết rút kinh nghiệm, đề xuất và kiến nghị các vấn đề về công tác dân vận với cấp ủy và cấp trên.

- Phối hợp các hoạt động của Mặt trận, các đoàn thể; tuyên truyền, phổ biến chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước tới các tầng lớp nhân dân; hướng dẫn tổ chức các phong trào quần chúng thực hiện các nhiệm vụ kinh tế - xã hội, an ninh quốc phòng; tham gia xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền, thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở; giúp cấp ủy xử lý những vấn đề cụ thể liên quan đến công tác dân vận.

- Thường xuyên giữ mối liên hệ các hoạt động trong khối, theo dõi tình hình và hoạt động của Mặt trận Tổ quốc và đoàn thể, qua đó đề xuất với cấp ủy tăng cường sự lãnh đạo của Đảng; biểu dương mặt tốt, khắc phục thiếu sót, có kế hoạch củng cố tổ chức, bồi dưỡng đào tạo, sử dụng và khen thưởng động viên cán bộ trong khối.

- Duy trì nền nếp chế độ giao ban khối hàng tháng, quý, năm để tổng hợp tình hình quần chúng; thống nhất kiến nghị với cấp ủy và chính quyền xử lý những vướng mắc trong công tác Mặt trận, đoàn thể.

- Thực hiện chế độ thông tin báo cáo với cấp ủy và Ban Dân vận cấp trên theo quy định.

Căn cứ vào những nội dung hướng dẫn trên đây, Ban Tổ chức và Ban Dân vận tỉnh, thành ủy phối hợp tham mưu với Ban Thường vụ tiến hành kiện toàn và củng cố tổ chức bộ máy, bố trí, tuyển chọn cán bộ dân vận tỉnh, thành ủy và huyện, quận, thị ủy vừa đảm bảo số lượng, chất lượng để làm tốt chức năng cơ quan tham mưu cho cấp ủy địa phương.

Ban Dân vận Trung ương hướng dẫn Ban Dân vận địa phương xây dựng quy chế hoạt động cho phù hợp với tình hình thực tế hiện nay.

Hướng dẫn này thay thế Hướng dẫn số 537/TC-TW ngày 04/11/1992 và Thông tri số 62/TC-TW ngày 18/4/1994 giữa Ban Tổ chức Trung ương và Ban Dân vận Trung ương.

 

TRƯỞNG BAN TỔ CHỨC TRUNG ƯƠNG

Nguyễn Văn An

TRƯỞNG BAN DÂN VẬN TW

Trương Quang Được

 

THÔNG TƯ LIÊN TỊCH

SỐ 44/2007/TTLT-BKHCN NGÀY 7/5/2007

GIỮA BỘ TÀI CHÍNH VÀ BỘ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ

Hướng dẫn định mức xây dựng và phân bổ dự toán kinh phí đối với các đề tài, dự án khoa học và công nghệ có sử dụng ngân sách nhà nước

 

Căn cứ Nghị định số 60/2003/NĐ-CP ngày 06/6/2003 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật Ngân sách nhà nước;

Căn cứ Quyết định số 171/2004/QĐ-TTg ngày 23/9/2004 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Đề án đổi mới cơ chế quản lý khoa học và công nghệ;

Để thống nhất việc xây dựng và phân bổ dự toán kinh phí của các đề tài, dự án khoa học và công nghệ (KH&CN) sử dụng ngân sách nhà nước, liên Bộ Tài chính - Bộ Khoa học và Công nghệ hướng dẫn như sau:       

Phần I

NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG 

1. Đối tượng và phạm vi điều chỉnh:

Thông tư này áp dụng đối với: Các đề tài nghiên cứu khoa học, dự án sản xuất thử nghiệm, dự án KH&CN có sử dụng ngân sách nhà nước (bao gồm đề tài nghiên cứu khoa học, dự án sản xuất thử nghiệm, dự án KH&CN cấp nhà nước, cấp Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Văn  phòng Chủ tịch nước, Văn phòng Quốc hội, các Ban của Đảng, cơ quan trung ương các Hội đoàn thể, cấp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương - dưới đây viết tắt là đề tài, dự án KH&CN); các hoạt động phục vụ công tác quản lý các đề tài, dự án KH&CN của cơ quan có thẩm quyền.

Các định mức chi, lập dự toán khác của đề tài, dự án KH&CN không quy định cụ thể tại Thông tư này được thực hiện theo các quy định hiện hành của Nhà nước. 

2. Giải thích từ ngữ: 

a. Đề tài nghiên cứu khoa học: Là một nhiệm vụ KH&CN nhằm phát hiện quy luật, mô tả, giải thích nguyên nhân vận động của sự vật, hiện tượng hoặc sáng tạo nguyên lý, những giải pháp, bí quyết, sáng chế,....  được thể hiện dưới các hình thức: đề tài nghiên cứu cơ bản, đề tài nghiên cứu ứng dụng, đề tài triển khai thực nghiệm hoặc kết hợp cả nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu ứng dụng và triển khai thực nghiệm.

b. Dự án sản xuất thử nghiệm (dự án sản xuất thử nghiệm): Là nhiệm vụ khoa học và công nghệ nhằm ứng dụng kết quả nghiên cứu khoa học và triển khai thực nghiệm để thử nghiệm các giải pháp, phương pháp, mô hình quản lý kinh tế - xã hội hoặc sản xuất thử ở quy mô nhỏ nhằm hoàn thiện công nghệ mới, sản phẩm mới trước khi đưa vào sản xuất và đời sống.

c. Dự án khoa học và công nghệ (dự án KH&CN): Là nhiệm vụ khoa học và công nghệ, bao gồm một số đề tài nghiên cứu khoa học và một số dự án sản xuất thử nghiệm gắn kết hữu cơ, đồng bộ được tiến hành trong một thời gian nhất định nhằm giải quyết các vấn đề khoa học và công nghệ chủ yếu phục vụ cho việc sản xuất một sản phẩm hoặc nhóm sản phẩm trọng điểm, chủ lực có tác động nâng cao trình độ công nghệ của một ngành, một lĩnh vực và có ảnh hưởng lớn đến sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.

d. Chuyên đề khoa học: Là một vấn đề khoa học cần giải quyết trong quá trình nghiên cứu của một đề tài, dự án KH&CN, nhằm xác định những luận điểm khoa học và chứng minh những luận điểm này bằng những luận cứ khoa học, bao gồm luận cứ lý thuyết (cơ sở lý luận) và luận cứ thực tế (là kết quả khảo sát, điều tra, thí nghiệm, thực nghiệm do chính tác giả thực hiện hoặc trích dẫn công trình của các đồng nghiệp khác).

Chuyên đề khoa học được phân thành 2 loại dưới đây:

- Loại 1: Chuyên đề nghiên cứu lý thuyết, bao gồm các hoạt động thu thập và xử lý các thông tin, tư liệu đã có, các luận điểm khoa học đã được chứng minh là đúng, được khai thác từ các tài liệu, sách báo, công trình khoa học của những người đi trước, hoạt động nghiên cứu, thí nghiệm trong phòng thí nghiệm, từ đó đưa ra những luận cứ cần thiết để chứng minh luận điểm khoa học.

- Loại 2: Chuyên đề nghiên cứu lý thuyết kết hợp triển khai thực nghiệm, ngoài các hoạt động như chuyên đề loại 1 nêu trên còn bao gồm các hoạt động điều tra, phỏng vấn, khảo cứu, khảo nghiệm, thực nghiệm trong thực tế nhằm đối chứng, so sánh, phân tích, đánh giá để chứng minh luận điểm khoa học.

e. Chuyên gia quy định tại Thông tư này: Là người có trình độ chuyên môn phù hợp và am hiểu sâu, tối thiểu có 05 năm kinh nghiệm về lĩnh vực khoa học và công nghệ của đề tài, dự án; nắm vững cơ chế quản lý khoa học và công nghệ; có kinh nghiệm trong tổ chức thực hiện các nhiệm vụ khoa học và công nghệ, chuyển giao và áp dụng các kết quả khoa học và công nghệ vào thực tế sản xuất; có uy tín chuyên môn và đạo đức nghề nghiệp.

g. Cơ quan có thẩm quyền quản lý đề tài, dự án khoa học và công nghệ: Là cơ quan nhà nước được giao nhiệm vụ: xác định nhiệm vụ; tuyển chọn các tổ chức, cá nhân chủ trì thực hiện; xét duyệt nội dung và kinh phí; kiểm tra và đánh giá nghiệm thu kết quả các đề tài, dự án.

h. Tổ chức chủ trì đề tài, dự án khoa học và công nghệ: Là tổ chức có tư cách pháp nhân được cơ quan quản lý có thẩm quyền giao nhiệm vụ và kinh phí để thực hiện đề tài, dự án.

 

Phần II

NHỮNG QUY ĐỊNH CỤ THỂ

 

1. Nội dung chi các hoạt động phục vụ công tác quản lý của cơ quan có thẩm quyền đối với đề tài, dự án khoa học và công nghệ:

a. Chi công tác tư vấn: Xác định đề tài, dự án khoa học và công nghệ; tuyển chọn, xét chọn các tổ chức và cá nhân chủ trì đề tài, dự án khoa học và công nghệ, bao gồm chi công lao động khoa học của các chuyên gia nhận xét, phản biện, đánh giá các hồ sơ  đề tài, dự án, thẩm định nội dung và tài chính của đề tài, dự án; chi họp các hội đồng tư vấn; chi phí đi lại, ăn ở của các chuyên gia ở xa được mời tham gia công tác tư vấn.

b. Chi công tác kiểm tra, đánh giá giữa kỳ (nếu có), đánh giá nghiệm thu kết quả của đề tài dự án ở cấp quản lý đề tài, dự án, bao gồm chi công khảo nghiệm kết quả của các đề tài, dự án, chi công lao động của các chuyên gia nhận xét, phản biện, đánh giá kết quả của các đề tài, dự án; chi các cuộc họp của đoàn kiểm tra, tổ chuyên gia thẩm định, hội đồng đánh giá giữa kỳ (nếu có), hội đồng tư vấn đánh giá nghiệm thu; chi phí đi lại, ăn ở của các chuyên gia ở xa được mời tham gia đánh giá giữa kỳ, đánh giá nghiệm thu.

c. Các khoản chi khác liên quan trực tiếp đến hoạt động phục vụ công tác quản lý nhà nước của cơ quan có thẩm quyền đối với đề tài, dự án khoa học và công nghệ. 

2. Nội dung chi của các đề tài, dự án khoa học và công nghệ:   

a. Chi công lao động tham gia trực tiếp thực hiện đề tài, dự án, bao gồm:

- Chi công lao động của cán bộ khoa học, nhân viên kỹ thuật trực tiếp tham gia thực hiện các đề tài, dự án khoa học và công nghệ, như: nghiên cứu lý thuyết, nghiên cứu các quy trình công nghệ, giải pháp khoa học và công nghệ, thiết kế, chế tạo thử nghiệm; nghiên cứu lý thuyết các luận cứ trong khoa học xã hội và nhân văn; thực hiện, theo dõi thí nghiệm, phân tích mẫu; điều tra khảo sát, thiết kế phiếu điều tra, điều tra xã hội học; xử lý, phân tích số liệu điều tra khảo sát, điều tra xã hội học; viết các phần mềm máy tính; báo cáo khoa học tổng kết đề tài, dự án, báo cáo kiến nghị; chi hỗ trợ đào tạo, chuyển giao công nghệ;

- Chi công lao động khác phục vụ triển khai đề tài, dự án;

b. Chi mua vật tư, nguyên, nhiên, vật liệu, tài liệu, tư liệu, số liệu, sách, tạp chí tham khảo, tài liệu kỹ thuật, bí quyết công nghệ, tài liệu chuyên môn, các loại xuất bản phẩm, dụng cụ, bảo hộ lao động phục vụ công tác nghiên cứu khoa học và triển khai công nghệ.

c. Chi sửa chữa, mua sắm tài sản cố định:

- Chi mua tài sản thiết yếu, phục vụ trực tiếp cho hoạt động nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ của đề tài, dự án;

- Chi thuê tài sản trực tiếp tham gia thực hiện nghiên cứu và phát triển công nghệ của đề tài, dự án.

- Chi khấu hao tài sản cố định (nếu có) trong thời gian trực tiếp tham gia thực hiện đề tài, dự án theo mức trích khấu hao quy định đối với tài sản của doanh nghiệp.

- Chi sửa chữa trang thiết bị, cơ sở vật chất phục vụ trực tiếp cho việc nghiên cứu của đề tài, dự án.

d. Các khoản chi về: Công tác phí trong nước; đoàn ra, đoàn vào; hội nghị, hội thảo chung của đề tài, dự án; văn phòng phẩm, in ấn; dịch tài liệu từ tiếng nước ngoài; quản lý chung của đơn vị chủ trì (bao gồm trả công lao động gián tiếp phục vụ triển khai đề tài, dự án, trả tiền điện nước, cước phí văn thư, điện thoại văn phòng; tiền sử dụng phương tiện làm việc của cơ quan chủ trì, ...); nghiệm thu cấp cơ sở (nghiệm thu nội bộ, bao gồm cả nội dung chi cho chuyên gia phân tích, đánh giá, khảo nghiệm kết quả, sản phẩm của nhiệm vụ trước khi đánh giá nghiệm thu); đăng ký bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ đối với kết quả nghiên cứu khoa học –phát triển công nghệ; chi quảng cáo, tiếp thị, xúc tiến thương mại (nếu có) đối với sản phẩm của đề tài, dự án; một số khoản chi khác liên quan trực tiếp đến đề tài, dự án.

3. Phân định nguồn đầu tư từ ngân sách nhà nước:

a. Ngân sách nhà nước đầu tư vào các đề tài, dự án khoa học và công nghệ thuộc  hướng nghiên cứu trọng điểm được xác định trong chiến lược phát triển khoa học và công nghệ; các đề tài, dự án khoa học và công nghệ thuộc lĩnh vực nghiên cứu cơ bản hoặc nghiên cứu cơ bản định hướng ứng dụng, nghiên cứu chiến lược, chính sách và lĩnh vực công ích phục vụ phát triển kinh tế xã hội của cả nước, địa phương, vùng lãnh thổ.

b. Đối với các đề tài, dự án khoa học và công nghệ thuộc hướng khoa học và công nghệ ưu tiên của Nhà nước, ngân sách nhà nước hỗ trợ một phần kinh phí thực hiện đề tài, dự án theo quy định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

c. Các đề tài, dự án khoa học và công nghệ thuộc hướng khoa học và công nghệ nghiên cứu triển khai ứng dụng, phát triển công nghệ và các đề tài, dự án khoa học và công nghệ thuộc các lĩnh vực khác, chủ yếu do tổ chức, cá nhân tự đầu tư kinh phí.

Bộ Khoa học và Công nghệ ban hành văn bản hướng dẫn chi tiết việc phân loại các đề tài, dự án khoa học và công nghệ thuộc các hướng nghiên cứu khoa học và công nghệ nêu tại mục này.

4. Các khung định mức phân bổ ngân sách:

a. Đối với các hoạt động phục vụ công tác quản lý của cơ quan có thẩm quyền đối với các đề tài, dự án khoa học và công nghệ:

Đơn vị: Nghìn đồng

Số TT

Nội dung công việc

Đơn vị tính

Khung định mức chi tối đa

1

Chi về tư vấn xác định nhiệm vụ khoa học và công nghệ

  

 

a

Xây dựng đề bài được duyệt của đề tài, dự án để công bố

 Đề tài, dự án

1.500

b

Họp Hội đồng xác định đề tài, dự án

Đề tài, dự án

 

 

 -Chủ tịch Hội đồng

  

300

 

 -Thành viên, thư ký khoa học

 

200

 

 -Thư ký hành chính

  

150

 

 -Đại biểu được mời tham dự

  

70

2

Chi về tư vấn tuyển chọn, xét chọn tổ chức, cá nhân chủ trì

  

 

a

Nhận xét đánh giá của uỷ viên phản biện

 

 

 

- Nhiệm vụ có đến 03 hồ sơ đăng ký

Hồ sơ

450

 

- Nhiệm vụ có từ 4 đến 6 hồ sơ đăng ký

Hồ sơ

400

 

- Nhiệm vụ có từ 7 hồ sơ đăng ký trở lên

Hồ sơ

360

b

Nhận xét đánh giá của uỷ viên Hội đồng 

 

 

 

- Nhiệm vụ có đến 3 hồ sơ đăng ký

Hồ sơ

300

 

- Nhiệm vụ có từ 4 đến 6 hồ sơ đăng ký

Hồ sơ

270

 

- Nhiệm vụ có trên 7 hồ sơ đăng ký

Hồ sơ

250

c

Chi họp Hội đồng tư vấn tuyển chọn, xét chọn đề tài, dự án

Đề tài, dự án

 

 

- Chủ tịch Hội đồng

  

300

 

- Thành viên, thư ký khoa học

 

200

 

- Thư ký hành chính

  

150

 

- Đại biểu được mời tham dự

  

70

3

Chi thẩm định nội dung, tài chính của đề tài, dự án

 

 

 

 - Tổ trưởng tổ thẩm định

Đề tài, dự án

250

 

 Thành viên tham gia thẩm định

Đề tài, dự án

200

4

Chi tư vấn đánh giá nghiệm thu chính thức ở cấp quản lý nhiệm vụ khoa học và công nghệ

  

 

a

Nhận xét đánh giá

  

 

 

- Nhận xét đánh giá của phản biện

Đề tài, dự án

1.000

 

- Nhận xét đánh giá của uỷ viên Hội đồng

Đề tài, dự án

600

b

Chuyên gia phân tích, đánh giá, khảo nghiệm kết quả, sản phẩm của nhiệm vụ trước khi đánh giá nghiệm thu ở cấp quản lý (số lượng chuyên gia cấp có thẩm quyền quyết định, nhưng không quá 5 chuyên gia cho 1 đề tài hoặc 1 dự án).

 Báo cáo

1.000

c

Họp Tổ chuyên gia (nếu có)

Đề tài, dự án

 

 

 - Tổ trưởng

 

250

 

 - Thành viên

  

200

 

 - Đại biểu được mời tham dự

  

70

d

Họp Hội đồng nghiệm thu chính thức

Đề tài, dự án

 

-

Chủ tịch Hội đồng

  

400

-

Thành viên, thư ký khoa học

 

300

-

Thư ký hành chính

  

150

-

Đại biểu được mời tham dự

  

70

 

b. Đối với các hoạt động thực hiện đề tài, dự án khoa học và công nghệ:                                                                                                                                                                                       

                                                                                     Đơn vị: 1000 đồng

 

Số TT

Nội dung công việc

Đơn vị tính

Định mức xây dựng và phân bổ dự toán tối đa

1

Xây dựng thuyết minh chi tiết được duyệt

Đề tài, dự án

2.000

2

Chuyên đề nghiên cứu xây dựng quy trình khoa học và công nghệ và khoa học tự nhiên (chuyên đề xây dựng theo sản phẩm của đề tài, dự án)

 Chuyên đề

 

 

- Chuyên đề loại 1

 

10.000

 

- Chuyên đề loại 2

 

30.000

3

Chuyên đề nghiên cứu trong lĩnh vực KHXH và nhân văn

 Chuyên đề

 

 

- Chuyên đề loại 1

 

8.000

 

- Chuyên đề loại 2

 

  12.000

4

Báo cáo tổng thuật tài liệu của đề tài, dự án

Báo cáo

 3.000

5

Lập mẫu phiếu điều tra;

-Trong nghiên cứu khoa học và công nghệ

-Trong nghiên cứu khoa học và công nghệ và nhân văn:

+ Đến 30 chỉ tiêu

+ Trên 30 chỉ tiêu

Phiếu mẫu được duyệt

 

500

   

500   

 

1.000

6

Cung cấp thông tin :

-Trong nghiên cứu khoa học và công nghệ

-Trong nghiên cứu khoa học xã hội và nhân văn:

+ Đến 30 chỉ tiêu

+ Trên 30 chỉ tiêu

Phiếu

 

50

        50   

 

70

7

Báo cáo xử lý, phân tích số liệu điều tra

Đề tài, dự án

4.000

8

Báo cáo khoa học tổng kết đề tài, dự án (bao gồm báo cáo chính và báo cáo tóm tắt)

Đề tài, dự án

 12.000

9

Tư vấn đánh giá nghiệm thu nhiệm vụ khoa học và công nghệ cấp cơ sở (nghiệm thu nội bộ)

  

 

a

Nhận xét đánh giá

  

 

 

- Nhận xét đánh giá của phản biện

Đề tài, dự án

800

 

- Nhận xét đánh giá của uỷ viên Hội đồng

Đề tài, dự án

500

b

Chuyên gia phân tích, đánh giá, khảo nghiệm kết quả, sản phẩm của nhiệm vụ trước khi đánh giá nghiệm thu cấp cơ sở (số lượng chuyên gia do cấp có thẩm quyền quyết định, nhưng không quá 5 chuyên gia cho 1 đề tài hoặc 1 dự án).

 Báo cáo

800

c

Họp tổ chuyên gia (nếu có)

 Đề tài, dự án

 

 

-Tổ trưởng

 

200

 

-Thành viên

  

150

 

-Đại biểu được mời tham dự

  

70

d

Họp Hội đồng nghiệm thu

 Đề tài, dự án

 

 

-Chủ tịch Hội đồng

  

200

 

-Thành viên, thư ký khoa học

 

150

 

-Thư ký hành chính

  

100

-

Đại biểu được mời tham dự

  

70

10

Hội thảo khoa học

Buổi hội thảo

 

 

- Người chủ trì

  

200

 

- Thư ký hội thảo

 

100

 

- Báo cáo tham luận theo đơn đặt hàng

  

500

 

- Đại biểu được mời tham dự

  

70

11

Thù lao trách nhiệm điều hành chung của chủ nhiệm đề tài, dự án

 Tháng

1.000

12

Quản lý chung nhiệm vụ khoa học và công nghệ (trong đó có chi thù lao trách nhiệm cho thư ký và kế toán của đề tài, dự án theo mức do chủ nhiệm đề tài quyết định).

 Năm

15.000

 

Đối với các đề tài, dự án khoa học và công nghệ: Các định mức quy định tại Thông tư này để thống nhất việc xây dựng và phân bổ dự toán chi ngân sách đối với các đề tài, dự án và định hướng chi; khi tiến hành chi và kiểm soát chi thực hiện theo quy định về chế độ khoán kinh phí thực hiện đề tài, dự án quy định tại Thông tư liên tịch số 93/2006/TTLT/BTC-BKH&CN ngày 04/10/2006 của liên Bộ Tài chính - Bộ khoa học và công nghệ.

Đối với các hoạt động phục vụ công tác quản lý của cơ quan có thẩm quyền: Các định mức quy định tại Thông tư này là định mức chi tối đa.

         

Phần III

LẬP, THẨM TRA, PHÊ DUYỆT KINH PHÍ

 

1. Xây dựng dự toán kinh phí đối với các hoạt động phục vụ công tác quản lý nhà nước của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đối với các đề tài, dự án khoa học và công nghệ:

Các Bộ, cơ quan trung ương, địa phương: Căn cứ vào kế hoạch xác định, tuyển chọn các đề tài, dự án khoa học và công nghệ trong năm; kế hoạch kiểm tra, đánh giá giữa kỳ (nếu có), đánh giá nghiệm thu đối với các đề tài, dự án khoa học và công nghệ trong năm và khung định mức chi quy định tại Thông tư này để xây dựng dự toán và tổng hợp vào dự toán chi sự nghiệp khoa học và công nghệ của Bộ, cơ quan trung ương, Sở Khoa học và Công nghệ hoặc đơn vị được giao nhiệm vụ quản lý nhà nước về khoa học và công nghệ ở địa phương cùng với thời điểm xây dựng dự toán chi ngân sách hàng năm để trình cấp có thẩm quyền phê duyệt. 

2. Xây dựng dự toán kinh phí của đề tài, dự án khoa học và công nghệ:

a. Căn cứ :

- Các nội dung nghiên cứu, khối lượng công việc cần triển khai để đạt được mục tiêu và sản phẩm của đề tài, dự án đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt;

- Các định mức kinh tế - kỹ thuật do các Bộ, ngành chức năng ban hành, các khung định mức phân bổ ngân sách quy định tại Thông tư này và các chế độ, chính sách hiện hành của nhà nước. Trường hợp không có định mức kinh tế - kỹ thuật thì cần thuyết minh cụ thể chi tiết căn cứ lập dự toán.

b. Yêu cầu:

- Dự toán kinh phí của đề tài, dự án được xây dựng và thuyết minh theo từng nội dung nghiên cứu và gắn với các sản phẩm cụ thể của đề tài, dự án.

- Cá nhân được giao chủ trì nhiệm vụ, đơn vị chủ trì có trách nhiệm xây dựng dự toán trình cơ quan có thẩm quyền phê duyệt đề tài, dự án khoa học và công nghệ xem xét phê duyệt.  

3. Thẩm tra và phê duyệt dự toán của đề tài, dự án khoa học và công nghệ:

a. Cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền phê duyệt đề tài, dự án khoa học và công nghệ chịu trách nhiệm tổ chức việc thẩm định dự toán kinh phí của đề tài, dự án khoa học và công nghệ theo đúng chế độ quy định. Trường hợp các nội dung chi không có định mức kinh tế - kỹ thuật của các Bộ, ngành chức năng ban hành thì cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền phê duyệt đề tài, dự án khoa học và công nghệ được quyết định các nội dung chi cần thiết và chịu trách nhiệm về quyết định của mình trước pháp luật.

b. Đối với các đề tài, dự án khoa học và công nghệ cấp bộ, tỉnh, thành phố có dự toán kinh phí được xây dựng từ 300 triệu đồng trở lên (đối với đề tài thuộc lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn) và 600 triệu đồng trở trở lên (đối với các đề tài, dự án thuộc lĩnh vực khoa học tự nhiên và khoa học công nghệ ); các đề tài, dự án khoa học và công nghệ cấp nhà nước có dự toán được xây dựng từ 500 triệu đồng trở lên (đối với đề tài thuộc lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn) và từ 1.000 triệu đồng trở lên (đối với các đề tài, dự án thuộc lĩnh vực khoa học tự nhiên và khoa học công nghệ) hoặc các đề tài, dự án phức tạp, căn cứ xây dựng dự toán chưa rõ và các đề tài, dự án khác mà cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền thấy cần thiết phải có tổ thẩm định dự toán kinh phí thì:

- Cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền phê duyệt đề tài, dự án khoa học và công nghệ thành lập Tổ thẩm định dự toán kinh phí của đề tài, dự án khoa học và công nghệ (bao gồm các chuyên gia am hiểu sâu về lĩnh vực khoa học và công nghệ của đề tài, dự án khoa học và công nghệ, các chuyên gia kinh tế/ chuyên gia tài chính và các nhà doanh nghiệp có kinh nghiệm và am hiểu về lĩnh vực liên quan đến đề tài, dự án khoa học và công nghệ cần thẩm định);

- Tổ thẩm định căn cứ vào kết quả làm việc của Hội đồng tư vấn tuyển chọn (hoặc Hội đồng xét duyệt thuyết minh đề tài, dự án khoa học và công nghệ) tư vấn cho thủ trưởng cơ quan quản lý đề tài, dự án khoa học và công nghệ về tổng kinh phí cần thiết để triển khai đề tài, dự án khoa học và công nghệ phù hợp với các nội dung được phê duyệt, số kinh phí cần thiết hỗ trợ từ ngân sách nhà nước, tính khả thi về thị trường, hiệu quả dự kiến đối với sản phẩm tạo ra của đề tài, dự án khoa học và công nghệ. 

4. Giao dự toán và quyết toán kinh phí:

- Giao dự toán: Căn cứ vào dự toán chi sự nghiệp khoa học và công nghệ được cơ quan có thẩm quyền giao, các Bộ, ngành, địa phương thực hiện giao dự toán cho các đơn vị trực thuộc như sau:

+ Dự toán chi cho các hoạt động phục vụ công tác quản lý của cơ quan có thẩm quyền đối với các đề tài, dự án khoa học và công nghệ: Giao dự toán về các đơn vị chủ trì thực hiện hoạt động này.

+ Dự toán chi thực hiện đề tài, dự án khoa học và công nghệ: Giao dự toán về các đơn vị chủ trì thực hiện đề tài, dự án.

- Về quyết toán kinh phí: Thực hiện theo các quy định của Luật ngân sách nhà nước và các văn bản hướng dẫn thực hiện.

5. Kinh phí của đề tài, dự án phải được sử dụng đúng mục đích, có hiệu quả, không chi cho các hoạt động phục vụ công tác quản lý của cơ quan có thẩm quyền đối với các đề tài, dự án. 

Phần IV

ĐIỀU KHOẢN THI HÀNH

 

Thông tư này có hiệu lực thi hành sau 15 ngày kể từ ngày đăng Công báo và thay thế Thông tư liên tịch số 45/2001/TTLT/BTC-BKHCNMT ngày 18/6/2001 “Hướng dẫn một số chế độ chi tiêu đối với các nhiệm vụ khoa học và công nghệ” của liên Bộ Tài chính - Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường. Đối với các đề tài, dự án có sử dụng ngân sách nhà nước đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt trước thời điểm Thông tư này có hiệu lực thi hành thì thực hiện theo quy định hiện hành tại thời điểm phê duyệt.

Khi tiền lương tối thiểu chung của Nhà nước được cấp có thẩm quyền điều chỉnh tăng thêm trên 50% so với mức lương tối thiểu chung quy định tại Nghị định số 94/2006/NĐ-CP ngày 07/9/2006 của Chính phủ điều chỉnh mức lương tối thiểu chung hoặc khi thay đổi phương pháp xác định dự toán kinh phí của đề tài, dự án, thì liên Bộ Tài chính - Bộ KH&CN sẽ xem xét điều chỉnh, sửa đổi bổ sung định mức phân bổ ngân sách đối với các đề tài, dự án sử dụng ngân sách nhà nước cho phù hợp.

Căn cứ vào tình hình thực tế và trong phạm vi định mức của Thông tư này, các Bộ, cơ quan trung ương, Uỷ ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương ban hành các định mức cụ thể để thực hiện thống nhất trong phạm vi Bộ, cơ quan trung ương, địa phương mình.

 

Trong quá trình thực hiện, nếu có vướng mắc, đề nghị các tổ chức, các Bộ, cơ quan Trung ương và các địa phương phản ánh về liên Bộ Tài chính, Bộ Khoa học và Công nghệ để xử lý ./.

 

KT.  BỘ TRƯỞNG

BỘ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ

THỨ TRƯỞNG

Trần Quốc Thắng

KT. BỘ TRƯỞNG

BỘ TÀI CHÍNH

THỨ TRƯỞNG

Đỗ Hoàng Anh Tuấn

 

 

MẪU VĂN BẢN DỰ ÁN GỬI CÁC TỔ CHỨC TÀI TRỢ

 

Tên dự án:

(Cần nêu ngắn gọn, cụ thể)

Ví dụ: Dự án cấp nước sạch cho nông thôn

xã…, huyện…, tỉnh... (01-1999 - 12-2000).

I. Bối cảnh

- Giới thiệu về bối cảnh của nơi thực hiện dự án và lý do xác đáng phải xây dựng và tiến hành dự án ở địa bàn đó.

- Nêu rõ:

+ Đối tượng thụ hưởng dự án (nông dân, miền núi…).

+ Các vấn đề cần giải quyết: (thiếu nước sạch vì không có hệ thống cấp nước, nhân dân phải dùng nước ao, hồ…).

+ Những nguyên nhân dẫn đến hậu quả: (tỷ lệ người đau mắt hột, mắc bệnh phụ khoa, bệnh da liễu, thiếu máu, trẻ em suy dinh dưỡng…).

II. Mục tiêu của dự án

-  Mục tiêu dài hạn (lâu dài).

-  Mục tiêu ngắn hạn (trước mắt).

III. Kết quả mong đợi của dự án

(Nêu các chỉ tiêu cụ thể mong muốn đạt được khi kết thúc một giai đoạn cụ thể của dự án hay kết thúc toàn bộ dự án).

Ví dụ:

- Số hộ có giếng, có bể.

- Số người được dùng nước sạch.

- Số tài liệu được xây dựng và phát hành.

- Số lớp đào tạo được tổ chức…

IV. Đối tượng thụ hưởng dự án

Là một số người trong một cộng đồng nhất định được hưởng, cùng tham gia và có trách nhiệm với dự án.

V. Các hoạt động được tiến hành

Mô tả quá trình thực hiện dự án gồm:

+ Xác định những hoạt động.

+ Kế hoạch, thời gian thực hiện cụ thể của từng hoạt động.

Ví dụ:

Các hoạt động của dự án

Chỉ tiêu

Thời gian

Người chịu trách nhiệm

Trợ lý dự án

Quý I

Quý II

Quý III

Quý IV

Khảo sát nhu cầu

Khảo sát 1.000 hộ

 

 

 

 

 

 

Tập huấn cán bộ

150 cán bộ từ xã đến thôn

 

 

 

 

 

 

Xây dựng hệ thống

- 1 trạm bơm

- 3km đường ống

- 50 bể chứa

 

 

 

 

 

 

 

VI. Kinh phí

- Nêu rõ tổng kinh phí đề nghị của dự án.

Trong đó: - Đóng góp của địa phương.

                 - Phía tài trợ cấp.

Dùng vào: Mua sắm thiết bị, chi phí hoạt động, chi phí quản lý, nhân sự (bao gồm giao dịch, thông tin, kiểm tra, đánh giá…).

 

Các hoạt động

Nhân lực

Nguồn

Thời gian

Nhận xét

Tiền địa phương đóng góp

Tiền của tổ chức tài trợ

Kế hoạch

Thực chi

Kế hoạch

Thực chi

 

 

 

 

 

 

 

 

 

VII. Kế hoạch đánh giá dự án

- Nêu rõ kế hoạch kiểm tra.

- Đánh giá tiến độ thực hiện dự án.

VIII. Quản lý dự án

Cán bộ thực hiện dự án phải có trình độ, năng lực, có bằng cấp nhất định theo yêu cầu.

Bao gồm: - Chủ dự án;

- Thư ký dự án;

-  Cán bộ kỹ thuật;

- Cán bộ tài chính;

- Cán bộ điều hành. 

 

III

MỘT SỐ MẨU CHUYỆN XƯA VÀ NAY VỀ CÔNG TÁC DÂN VẬN

____________________________

 

BAN LỆNH ĐÚNG LÚC, DÂN ĐƯỢC NHỜ 

 

Thái hậu Ỷ Lan, mẹ vua Lý Nhân Tông, rất năng đi lễ chùa. Do đi nhiều, tiếp xúc với dân, nên bà đã nghe được nhiều điều phiền lòng của dân. Mùa xuân nhiều lễ hội, nhiều làng mổ trâu, nông dân lo không làm được vụ lúa. Thái hậu Ỷ Lan liền cho người đi các xã lân cận Kinh đô để điều tra việc giết mổ trâu, bò. Hằng ngày trâu, bò bị giết nhiều đến mức đáng lo ngại. Bọn lái buôn lùng mua trâu, bọn trộm cắp ra sức lùng bắt trộm trâu của dân đem bán, có người biết cùng không dám báo với chức dịch trong làng.

Thái hậu cho gọi vua Lý Nhân Tông lên hỏi xem vua có biết việc đó không. Vua đã nhận lỗi là không nắm được việc để cho dân tình lo lắng vì nguy cơ thiếu trâu, bò cày để làm vụ lúa, trồng khoai, ngô… Nhà vua nói: “Con ơn Thái Hậu đã dạy cho con hiểu, đừng thấy dân vừa no ấm đã vội mừng, thả cho dân ăn chơi hoang phí, nảy sinh bọn xấu, phá kỷ cương phép nước. Con xin lĩnh ý và chấn chỉnh”.

Hôm sau trong Chiếu vua ban, có nêu: "… Gần đây Kinh thành đua nhau lễ hội, ăn uống phí tiền, hao của. Có nơi mấy nhà phải chung một con trâu cày; có nơi tình cảnh khốn khổ người phải kéo cày thay trâu, trăm họ đau lòng. Để ngăn việc này, Trẫm chiếu rằng: kẻ trộm trâu, bắt được đánh 180 gậy, đày vào làm phu dịch cho quân lính. Vợ không biết răn chồng làm điều xằng bậy, bị đánh 40 gậy, bắt đi nô dịch chăn trâu. Nhà láng giềng biết kẻ trộm trâu không tố cáo, bị đánh 80 gậy".

Nghe Chiếu vua ban, dân mừng vô kể và càng vui vẻ làm ăn.

TRẦN HƯNG ĐẠO CHỌN TƯỚNG SĨ

Có lần vua Trần Thánh Tông hỏi Hưng Đạo vương Trần Quốc Tuấn:

- Trong binh thư có nói đến tướng dũng, tướng trí và tướng nhân. Vậy Quốc công hãy nói cho tướng lĩnh nghe về tướng nhân để làm gương chung.

- Tâu Hoàng thượng, thần xin bộc bạch suy nghĩ còn thô thiển: Tướng tài mà không có nhân đức thì lợi bất cập hại. Tướng nhân phải thanh liêm về của cải, tiết kiệm về tiêu dùng, lơ là về rượu, giữ mình theo lễ; thờ bề trên lấy trung; vui lo cùng quân lính; lấy của địch mà không tích trữ; nghe mưu mà dùng người; gặp gỡ mà phán đoán; dũng mà không lấn người; nhân mà không bỏ phép; giấu tội nhỏ, văn lỗi lớn; phạm tội không kể là thân, thưởng công không nghĩ đến thù oán; người già thì nâng đỡ, người trẻ thì vỗ về; người sợ thì làm cho yên lòng; nguời lo thì làm cho vui; có kiện thì xử đoán, có lạm thì xét rõ, có giặc thì đánh dẹp; kẻ ngang ngược thì giết; kẻ phục tùng thì tha, người mất thì cho được lại; người quên thì nhắc bảo cho, người quy thuận thì cho tước, người hung bạo thì trấn trị; gần người mưu trí, xa người gièm pha, trong quân có người ốm, tướng phải khóc thương; quên đi thú xa thì sai vợ con tới nhà thăm hỏi; phàm có khao thưởng thì chia đều cho quan và quân; khi muốn hành động thì phải họp tướng tá lại để bàn, mưu đã định rồi mới đánh. Thế gọi là tướng nhân.

Trần Quốc Tuấn cũng là người đã viết nên bài Hịch tướng sĩ nổi tiếng, kêu gọi tướng sĩ đồng lòng đánh quân Nguyên xâm lược. Trong tâm trí ông luôn thiết tha lòng yêu nước, mưu lược của ông dựa trên sự quý trọng và gắn bó với trăm họ, trọng dụng hiền tài.

 

DÂN GHI ƠN

Ông Lý Quýnh (quê ở làng Cổ Pháp, Bức Ninh) là người trông coi kho lương thực và vũ khí cho nhà vua ở Kinh thành Thăng Long. Lý Thị Châu, con gái của ông, học giỏi, nhanh nhẹn, luôn giúp ông việc ghi chép sổ sách kho tàng. Khi giặc Nguyên - Mông xâm lược, chồng của Lý Thị Châu là một quan đốc hộ ở Châu Hoan (Nghệ An), người có công chống xâm lược, giữ vững thành Diễn Châu, được lệnh ra phòng tuyến sông Hồng chống lại đội quân hùng mạnh của Thoát Hoan. Bà Châu được phân việc coi kho và tiếp tế lương thực cho quân sĩ. Bà đã làm việc này rất chu đáo. Chồng bà anh dũng hy sinh để chặn đường tiến công của quân Nguyên Mông, bà vẫn tiếp tục chỉ đạo việc cất giấu lương thực, vũ khí, tiếp tế cho quân sĩ và cứu đói cho dân khi thành Thăng Long bị bao vây. Trong một tình thế khó thoát khỏi tay giặc, bà đã dùng chiếc khăn hồng tự vẫn để không quy hàng giặc, giữ khí tiết người dân một lòng hy sinh vì nước, người vợ một võ quan kiên cường.

Khi đánh tan giặc xâm lược, nhà vua đã truy tặng bà Lý Thị Châu chức Quản trưởng quốc khố công chúa, mà dân gian gọi là Bà Chúa giữ kho. Ngày nay, đền Bà Chúa kho ở Bắc Ninh là một địa danh thu hút bao người từ mọi miền đến đây tưởng nhớ một phụ nữ đã hy sinh cho sự nghiệp giữ nước vẻ vang, người đã yêu thương và hết lòng cứu giúp dân chúng.

 

VÌ DÂN TÌNH, MẠC ĐĨNH CHI TÂU VUA

Mạc Đĩnh Chi đỗ Trạng Nguyên dưới triều vua Trần Anh Tông (trị vì từ năm 1292 đến năm 1314). Vì nhà nghèo, cha mất sớm, hai mẹ con phải kiếm củi bán để có tiền cho Mạc Đĩnh Chi học. Do học giỏi, nên ngay từ khi còn là học trò, Mạc Đĩnh Chi đã đọc hết các tủ sách của thày và của các bạn. Không ai tin rằng con một nhà nghèo đến thế lại đỗ Trạng nguyên. Vua Anh Tông đã giao Mạc Đĩnh Chi chức quan Ngự sử.

Vào cuối đời, vua Anh Tông nghe theo bọn gian thần, dùng nhiều tiền của để đúc chuông, dựng tượng, xây chùa, miếu trong khi đất nước đang chịu nhiều thiên tai, dân đói kém, phiêu bạt. Vốn là con nhà nghèo, quan Ngự sử Mạc Đĩnh Chi đã tâu vua: “Nước thịnh là ở chỗ vua cùng quần thần biết chăm lo đến sức dân, thương dân như con. Nay gặp cảnh mưa lụt, mất mùa, nếu Vương thượng không sửa việc nhân đức, phó mặc việc triều chính cho các đại thần không biết thương dân thì tránh sao khỏi tiếng oán thán của dân chúng”.

Mặc dù vua không bằng lòng, nhưng Mạc Đĩnh Chi vẫn tâu tiếp: “Muôn tâu Vương thượng! Nước là của vua, dân chúng dù sang, hèn đều là thần dân của vua. Nước thịnh, dân giàu hay nước suy, dân khổ cũng là từ vua mà nên”.

Nhà vua đã giao thêm cho ông chức trông coi việc hộ đê. Ông đã huy động dân chúng hàn đê, cứu giúp người bị nạn, úy lạo kẻ nghèo và khôi phục mùa màng. Ông đi tới đâu dân được nhờ tới đó. Người nghèo đều biết ơn ông.

Vua Minh Tông lên ngôi thay cha, nghe bọn Trần Trung Hoài vu khống Mạc Đĩnh Chi rằng: quan Ngự sử vơ vét của dân, xây nhà to lớn, gây bất hoà trong các quần thần. Vua cho người đi dò xét, thấy lời tố cáo trên là xằng bậy, nên vua quyết định tự mình thử lòng Mạc Đĩnh Chi. Một đêm, vua cho người bỏ tiền của vào vườn nhà ông, nếu ông nhận coi như thưởng công cho ông. Sáng ra, Mạc Đĩnh Chi thu gom lại và mang vào nộp vua. Vua hỏi: "Ai đó thấy khanh khó nhọc, đem đến cho, sao khanh không nhận?". Mạc Đĩnh Chi tâu lại: "Phàm của cải không do tay mình làm ra thì không được tơ hào tới".

Vua khen lòng ngay thẳng của quan Ngự sử và càng không tin những lời vu cáo ông. Vua tin lời ca tụng của dân với ông là đúng.

 

KHÔNG ĐỪNG ĐƯỢC, PHẢI NÓI

Đời vua Trần Duệ Tông là triều đại suy vong, dân tình cơ cực, quan lại quấy nhiễu dân. Trong triều cũng có người cương trực cảm thấy bất bình, nhưng chưa ai dám đề xuất kế sách nào để an dân, giữ kỷ cương, phép nước.

Một ngày kia, trong kinh thành xôn xao vì một việc chưa từng xảy ra. Đó là người hầu gái trong cung dâng lên nhà vua bản điều trần: "Mười kế sách, tiếng gà báo sáng":

1. Giữ cội gốc nước nhà, trừ điều hung ác.

2. Giữ nề nếp, bỏ những điều phiền nhiễu.

3. Ngăn cấm bọn quyền thần để chính trị khỏi thối nát.

4. Thải bọn tham nhũng để trừ tệ đục khoét nhân dân.

5. Cổ động nho phong.

6. Cầu lời nói thẳng.

7. Tuyển lựa quân sĩ dũng mãnh. 

8. Chọn tướng thao lược, chứ không chú ý dòng dõi sang trọng.

9. Khí giới cần bền chắc chứ không chuộng tô vẽ.

10. Trận pháp chỉnh tề, chứ không biểu diễn cho đẹp mắt.

Tiếng lành đồn xa, cô hầu Nguyễn Thị Bích Châu được nhân dân truyền tụng lời yêu mến, còn các quan trong triều thì nể sợ.

 

VÌ ĐẠI SỰ, VÌ AN LÒNG QUÂN SĨ

Trong cuộc hành quân của Lê Lợi vào Nghệ An, có bà Phạm Thị Ngọc Trần - vợ của Lê Lợi và cũng là quân sĩ của ông cùng đi để chăm sóc sức khoẻ cho người chỉ huy nghĩa quân Lam Sơn. Đoàn thuyền do tướng Nguyễn Chích chỉ huy đi tới cửa Triều Khẩu thì gặp phong ba. Theo quan niệm xưa thì phong ba là do thủy quái quấy phá, phải có mạng sống để cúng thủy quái mới qua được. Tất cả tướng sĩ đều nao núng trước sóng to, gió lớn. Người chỉ huy chưa biết sẽ động viên quân sĩ thế nào để vượt qua phong ba. Bà Ngọc Trần là người sắc sảo, nhạy cảm liền tâu với Lê Lợi: “Thiếp xin nguyện hy sinh cứu muôn quân sĩ. Chỉ xin đức vua khi việc lớn đã thành, Người nhớ đến đứa con của thiếp".

Nói rồi, bà trao con cho người hầu nữ và lao mình xuống nước, trước sự sững sờ của Lê Lợi và các tướng sĩ Lam Sơn. Việc làm của bà khiến cho mọi người vô cùng khâm phục và thương xót, nó cũng thôi thúc họ dũng cảm chèo lái trong bão tố. Đoàn quân đã vào Nghệ An, sau đó đi đánh Thuận Hóa và liên tiếp thắng trận.

Điện Hiến Nhân thờ bà Ngọc Trần đã được xây ở Lam Kinh, hằng năm được nhân dân thờ cúng. Sau này con của bà được lên ngôi, đó là vua Lê Thái Tông.

NGUYỄN TRÃI THẤM TÌNH DÂN

Khi Nguyễn Trãi và Trần Nguyên Hãn chưa gặp Lê Lợi, hai người cùng bàn thế sự lúc quân nhà Minh đang xâm lăng và gây nhiều điều tàn bạo với dân ta. Nguyễn Trãi bày tỏ suy nghĩ:

- Chở thuyền là dân, làm lật thuyền cũng là dân. Nay giặc Minh tích điều ác, nghịch lòng dân thì chúng càng mau chết. Ta chẳng đang vì cuộc sống no lành của muôn họ đó sao?

Bàn về hai cuộc khởi nghĩa của Giản Định (tức Trần Ngỗi) và Trung Quang (tức Trần Quý Khoáng), Nguyễn Trãi nói với Trần Quang Khải:

- Khởi binh đánh giặc là việc lớn, phàm là việc lớn phải lấy nhân nghĩa làm gốc; nên công to phải lấy nhân nghĩa làm đầu… Thiếu chiến sách hay, nội bộ chia rẽ, lo khôi phục cơ nghiệp nhà Trần, lòng dân không mong, thì nghiệp lớn sao thành?

Khi Lê Lợi, vị thủ lĩnh nghĩa quân Lam Sơn, gặp Nghĩa Trãi, ông rất mừng và tự hỏi: “Phải chăng đây là ý trời?” Nguyễn Trãi nói:

- Nếu cho là ý trời cũng đúng… Giặc thì dùng hình phạt tàn khốc, làm việc bạo tàn, khiến thần người đều căm giận. Ta khởi binh chống giặc, giải thoát cho dân là làm theo lòng dân. Thuận lòng dân thì sống, nghịch lòng dân thì chết. Ý dân là ý trời. Cho nên cho là ý trời đã định thì cũng thế.

Lê Lợi đã coi đó là diệu kế của quân sư Nguyễn Trãi.

 

BÙI THỊ XUÂN RA TAY ĐỂ YÊN DÂN

Trấn Quảng Nam loạn lạc, dân không yên, nên vua Cảnh Thịnh đã mời nữ tướng Bùi Thị Xuân tới để hỏi ý kiến. Bùi Thị Xuân tâu rằng:

- Do mất mùa dân đói, quan lại không thương dân nên sinh loạn. Người xưa nói: ai được nhân tâm thì hưng thịnh, ai mất nhân tâm thì tan vỡ. Ai cậy đức thì hùng cường, ai cậy sức thì sẽ bại. Xem vậy, mang quân dẹp loạn không phải kế hay mà tuyển mộ người hiền tài lo cho dân yên là điều nên làm.

Thấy ý Bùi Thị Xuân hợp đạo lý, nhà vua đã cử nữ tướng đi trấn thủ Quảng Nam. Đảm nhận trọng trách trước triều đình, Bùi Thị Xuân phải ra tay trấn yên xã tắc, thu phục lòng dân, giữ kỷ cương, phép nước. Bà đã đi khắp vùng đề tìm hiểu dân tình, cứu đói cho dân. Nữ tướng ra lệnh: bãi bỏ việc truy lùng kẻ cướp bóc; ai vác cày bừa, nông cụ coi là dân lành, lính không được hỏi; mở kho phát chẩn cho dân đói; ai già, ai bệnh được gấp đôi. Bà cách chức những người có chức ăn hối lộ, chiếm công vi tư và cử người có tài đức lên thay. Bà khen thưởng người làm ăn giỏi; yêu cầu mọi nhà trồng màu, nuôi lợn gà, chăm sóc lúa…

Tiếng tăm nữ tướng Bùi Thị Xuân được ngợi ca vì đã làm cho dân yên ổn, nạn trộm cướp cũng hết.

 

DÂN THỬ THAY QUAN

Bà Nguyễn Thị Hinh vốn giỏi văn thơ, lấy ông Huyện Thanh Quan, nên người ta gọi là bà Huyện Thanh Quan. Bà là người sâu sắc và hóm hỉnh. Có giai thoại về bà như sau:

Một lần, ông Huyện đi vắng, có người tên là Nguyễn Thị Đào đưa đơn xin được ly dị chồng, đọc xong bà phê vào đơn:

Phó cho con Nguyễn Thị Đào,

Nước trong leo lẻo cắm sào đợi ai.

Chỉ rằng: Xuân bất tái lai,

Cho về kiếm chút kẻo mai nữa già”.

Với lời phê đó, Nguyễn Thị Đào đã được đi lấy chồng. Khi biết, ông Huyện không hài lòng, quở trách bà, nhưng vẫn phải công nhận cách xử ấy là có tình, hiểu và bảo vệ quyền lợi cho phụ nữ.

Một lần khác, ông Huyện lại đi vắng, có ông Cống mới đỗ đạt, viết đơn xin mổ trâu, khao trả nợ miệng. Nể ông Cử tân khoa, nhưng đang mùa cày cấy, theo luật lệ không được phép mổ trâu nên bà Huyện đã phê vào đơn với một chút chê trách, nhắc nhở:

"Người ta thì chẳng được đâu

Ừ thì ông Cống làm trâu thì làm".

Ông Cống được chấp thuận, vừa mừng, vừa chua chát, nhận lời phê ra về.

Khi ngoài 60 tuổi, bà Huyện trở về làng Nghi Tàm (Hà Nội) sống với dân làng để hòa mình vào cuộc sống giản dị, chất phác, ấm tình nghĩa. Lúc này là thời vua Tự Đức, dân làng Nghi Tàm đang phiền lòng vì lệ nộp sâm cầm cho các quan lại và cho nhà vua. Bà đã giúp dân thảo đơn gửi lên triều đình đòi bỏ lệ cống nộp phi lý và bất công này. Quan huyện Hoài Long (khi đó Nghi Tàm thuộc huyện Hoài Long) muốn tìm cho ra ai xúi dân gửi đơn để trị tận gốc. Lý trưởng mời bà ra gặp quan huyện Hoài Long, bà khảng khái nói với ông quan huyện:

- Ngài về trình lại các quan, ta là vợ ông Huyện Thanh Quan xưa, từng giữ chức trong triều Minh Mệnh, Thiệu Trị đã thảo cho dân lá đơn ấy. Khi ra xa khỏi triều đình, về nơi dân ta mới hiểu mọi lẽ, ta phải giúp dân đen làm việc ấy.

 

DÂN XỬ LÝ

Ở phố huyện có cô gái xinh đẹp như trong câu ca dao:

Những người đôi mắt lá răm,

Lông mày lá liễu đáng trăm quan tiền”.

Chồng cô là một người dân chăm chỉ, hiền lành. Quan huyện mới về nhậm chức thấy cô xinh đẹp nên “để ý”.  Quan huyện hẹn cô ngày nào chông cô đi vắng sẽ tới thăm nhà. Hai vợi chồng cô đoán được âm mưu của quan nên đã bàn tính quyết chữa “bệnh dê” cho quan.

Như hẹn, quan tới nhà. Cô vợ áo quần là lượt ra tiếp quan. Trò chuyện nồng nàn, lả lơi, “máu dê” nổi lên, quan không kiềm chế được, ôm chặt cô vào lòng, không chịu buông ra. Cửa sau bỗng bật mở, anh chồng lăm lăm dao bầu vào kéo tai quan nói: “Bẩm cụ lớn, cha mẹ của dân, cho xin cụ một cái tai”!.

Quan huyện run rẩy, van lạy anh chồng, cuối cùng đành chấp thuận viết giấy ký nợ 500 quan tiền. Trong huyện, mọi người biết chuyện, đã làm thơ về quan huyện:

Năm trăm quan nợ hòng che mắt

Một chuyến trăng hoa suýt mất tai

Thật khéo già quan mà dại mặt

Sao khôn trẻ gái mẹo có tài".

Trả xong nợ, quan xin chuyển đi trị nhậm nơi khác, lòng nghĩ rằng quan lắm mưu nhưng người dân ít học cũng lắm mẹo.

 

DÂN PHẢI PHÁ LUẬT VUA

Cảnh Yên là một nho sinh nghèo, học giỏi. Phương Hoa, người yêu của Cảnh Yên, phải chịu nhiều cơ cực do một viên quan trong vùng dựng chuyện vu oan, bắt giam Cảnh Yên hòng chiếm Phương Hoa.

Phương Hoa đã thầm lặng nuôi mẹ Cảnh Yên, lo tang ma cho bà và nuôi cháu của người yêu; cuối cùng tìm cách minh oan cho Cảnh Yên trước nhà vua. Nàng cải trang làm trai, mang tên Cảnh Yên đi thi và đã đỗ tiến sĩ. Trong lễ ra mắt nhà vua, các tiến sĩ đều phải ra chào. Khi Phương Hoa tiến sĩ xứ Thanh Hóa ra trước bệ rồng, bỗng vua nghi ngờ hỏi: "Tiến sĩ Thanh Hóa sao như con gái vậy?".

Phương Hoa lúng túng, lo lắng, cuối cùng xin cúi đầu thú nhận tội là gái đóng giả trai đi thi, mắc tội "khi quân", coi thường Đức vua. Nàng chỉ xin được trình bày về việc chồng chưa cưới bị bắt oan, nên nàng muốn dự thi để vào được cung đình mà kêu oan cho Cảnh Yên. Nhà vua cho xác minh, thấy đúng như lời kể của nàng, đã ra lệnh tha cho Cảnh Yên, tử tội kẻ làm bậy và cho phép Cảnh Yên được dự thi đặc biệt. Cảnh Yên đã đỗ tiến sĩ. Cả hai người tài năng đều được nhận danh hiệu tiến sĩ, để lại cho đời một chuyện tình chung thủy, cảm động, một tấm gương người con gái tài trí, thông minh đã dám phá luật vua, làm việc phi thường.

 

LUÔN NHỚ NÓI CHO AI NGHE

Có đồng chí A là cán bộ lão thành đã từng làm việc bên cạnh Bác Hồ ở chiến khu Việt Bắc kể rằng: Một lần, đồng chí được giao viết dự thảo một tài liệu tuyên truyền để vận động nhân dân ủng hộ kháng chiến, nuôi bộ đội. Khi viết xong, đồng chí đưa lên Bác để thông qua, Bác đã yêu cầu mang văn bản độc cho đồng chí B, nhân viên phục vụ trong cơ quan nghe (đồng chí này trình độ văn hóa còn thấp), nếu đồng chí B có chỗ nào không hiểu thì sửa lại sao cho đồng chí ấy hiểu. Khi đó hãy mang lên cho Bác xem.

Thực hiện việc trên, đồng chí A phải sửa đi, sửa lại nhiều lần để có một tài liệu tuyên truyền dễ hiểu nhất với đa số bà con nông dân còn chưa thoát nạn mù chữ. Câu chuyện trên đi theo đồng chí A suốt đời.

 

CÁN BỘ NÓI HAY LẮM, NHƯNG HIỂU ÍT THÔI

Hồi đầu cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, ở chiến khu Việt Bắc có câu chuyện sau:

Vào một tối, đội tuyên truyền của Việt Minh huyện về xã tuyên truyền cho phong trào may áo rét gửi chiến sĩ và biểu diễn văn nghệ. Ở xã đó có một số đồng chí lãnh đạo ở xen cùng với dân, trong đó có cả Bác Hồ. Tối đến, một số đồng chí phục vụ trong cơ quan đi dự nghe nói chuyện với bà con.

Sáng hôm sau, Bác hỏi một chị cấp dưỡng ở cơ quan là người Tày, cũng đi nghe cán bộ nói chuyện tối qua:

- Tối qua cháu nghe cán bộ nói chuyện gì đấy?

- Thưa Bác, cán bộ nói phải may áo cho bộ đội đấy, rét rồi.

- Cháu nghe cán bộ nói có hiểu không?

- Thưa Bác, cán bộ nói hay lắm, hoan hô nhiều lắm, cháu hiểu ít thôi.

Có dịp gặp lại các đồng chí ở Huyện ủy, Bác kể lại chuyện mà cô cấp dưỡng nói với Bác và dặn: Nói chuyện cho bà con dân tộc và bà con trình độ còn hạn chế phải chú ý nói cho dễ hiểu, nói tiếng dân tộc, thì việc tuyên truyền mới có kết quả.

Theo lời Bác dặn, đội tuyên truyền đã đổi mới cách làm cho sát hợp hơn và được bà con hoan nghênh.

 

NGHE NHỮNG LỜI BỐP CHÁT

Anh Thành được điều về cơ quan, cũng được giữ một cương vị lãnh đạo. Nhân một dịp anh Thành được phân công soạn thảo và trình bày về kế hoạch bồi dưỡng cán bộ, ở cơ quan đã diễn ra một buổi thảo luận sôi nổi. Số người ủng hộ cũng có mà người phê phán cũng có. Trong số những người phê phán có ba người nói khá gay gắt, lời lẽ nặng nề.

Sau buổi ấy, anh Thành dành thời gian lần lượt đi nghe từng người góp ý. Với người có ý kiến khác, anh Thành chăm chú nghe và luôn hỏi: "Theo anh (chị) nên làm thế nào để có kết quả tốt?". Sửa xong bản dự thảo, anh Thành gửi riêng tới mấy người có ý kiến khác, đề nghị góp ý sửa lần nữa. Qua đó anh nhận thấy: thực chất những ý kiến không có gì mâu thuẫn nhau, có lẽ đây là sự phản ứng qua cảm nhận, qua suy nghĩ ban đầu chưa hiểu nhau và có người muốn "thử nhau” cho biết. Điều cần vượt qua sự ngăn cách này là không mặc cảm, lắng nghe, nhẫn nhịn và mạnh dạn "gõ cửa" nhau.

 

CHUYỆN ẤY CÓ THẬT

Nghe tin đồn ông Nam là nhà quản lý giỏi, tôi đã đến doanh nghiệp của ông ba lần, để tìm hiểu về con người nổi tiếng ấy, nhưng không làm việc được. Lần đầu thư ký của ông xin lỗi, do tôi không hẹn trước nên ông Nam không xếp được lịch. Lần thứ hai, tôi có gọi điện báo trước, nhưng thư ký của ông tiếp tôi nồng nhiệt, sau đó gửi cho tôi cái danh thiếp của ông Nam, kèm theo một món quà nhỏ. Lần thứ ba, tôi gửi thư tới để đề nghị được gặp ông theo hẹn. Khi tôi tới, ông Nam đón tôi, bắt tay chào, cảm ơn về lòng nhiệt tình của tôi và chỉ xin tiếp 10 phút rồi phải đi ngay. Qua ba lần hẹn, tôi chỉ gặp được ông 10 phút.

Nhưng qua ba lần tới doanh nghiệp tôi đã la cà hỏi chuyện một số công nhân, lao động ở đây về ông Nam, và đã được nghe những nhận xét đặc biệt.

- Cô Hà, một công nhân trẻ nói: Mỗi tháng có một lần, mọi người đều chờ tới ngày lĩnh lương vì ngày ấy có tiền mà lại được trân trọng. Ông Nam tự tay đưa cho mỗi người một phong bì tiền lương, tiền nong tính rõ ràng lại thêm lời cảm ơn, chúc sức khoẻ.

- Anh Thái nói: Mẹ tôi ốm, nhà khó khăn, tôi không nói với ai, thế mà ông Nam đã tới nhà thăm mẹ tôi, bà cảm động lắm và nghĩ rằng tôi là người làm việc tốt đặc biệt, nên giám đốc mới biết và tới nhà.

- Cô Nhung là tổ trưởng sản xuất kể: Cả tổ không ai nhớ ngày sinh của tôi. Nhưng hôm ấy, giữa giờ sản xuất, ông Nam đã tới tặng hoa, quà và thiếp chúc mừng.

Tôi chỉ gom nhặt như thế và hình dung ra một con người không chỉ lao vào sản xuất, kinh doanh mà còn giỏi nghệ thuật đi vào lòng người.

 

ĂN CƠM MUỘN

Anh Huấn là cán bộ tỉnh được cử về cơ sở xã khó khăn để khảo sát tình hình. Theo giới thiệu của Ủy ban nhân dân xã, anh Huấn về ở tại nhà anh chị Thảo cho tiện đường đi lại và gần trụ sở ủy ban xã. Vì về công tác ở một xã khó khăn nên anh Huấn đã mang theo gạo và gửi tiền cho anh chị Thảo để được ăn cơm cùng với gia đình.

Hai ngày đầu, khi anh Huấn về tới nhà, thì anh chị Thảo và các cháu đã ăn cơm rồi, anh ăn mâm cơm được để phần, và không hề để ý thấy điều gì. Nhưng ngày thứ ba, khi anh Huấn và anh Thảo đi khảo sát ở thôn cùng về muộn với nhau, thì anh Huấn thấy anh Thảo có vẻ e ngại điều gì đó và không muốn ăn cùng với anh Huấn. Anh Thảo lấy lý do bận việc, sẽ ăn sau và anh Huấn lại ăn một mình. Khi đã muộn, anh Thảo đang ăn tại bếp, anh Huấn có việc, xuống trao đổi thì mới vỡ lẽ: nhà ăn cơm độn sắn, phần của anh Thảo chỉ có canh rau, một đĩa măng muối chua và ớt; so với phần cơm của anh Huấn thì cả nhà ăn quá đạm bạc.

Anh Huấn tự trách mình ở nhà dân mà không hiểu gì hoàn cảnh của gia đình, sau đó anh đề nghị được ăn cùng anh chị Thảo và các cháu cho vui. Chị Thảo vui vẻ nói: "Bác còn làm việc, đi cả ngày vất vả, ăn thế cho đảm bảo sức khỏe, chúng em sống thế này nó quen rồi". Không thuyết phục được, anh Huấn lại ăn riêng một mình trong suốt mọt tuần công tác ở xã. Trở về tỉnh, anh còn mang theo nỗi day dứt: Sống như thế có điều gì chưa ổn đối với người cán bộ dân vận như mình chăng? Có phải vì công việc mà không thể gần gũi hơn với một gia đình nghèo, tốt bụng như anh chị Thảo?

 

BỐN MẪU NGƯỜI QUẢN LÝ

Người ta đã phân loại có tính điển hình về bốn mẫu người quản lý:

1) Người quan liêu: đặc trưng trong cách điều hành của mẫu người này là làm theo đúng các quy định cấp trên đề ra; họ thiếu độc lập, sáng tạo, cứ làm theo cách có sẵn một cách máy móc, kể cả khi nhận ra là không hợp lý cũng vẫn "đành như vậy".

2) Người năng động: hướng tới mục tiêu và kết quả để làm việc, họ không theo đường mòn và luôn tự đặt câu hỏi: làm thế nào nhanh nhất, tốt nhất, hiệu quả nhất? Nói chung, họ không hài lòng với những kinh nghiệm sẵn có, không thỏa mãn với vinh quang quá khứ.

3) Người độc đoán: luôn quyết định theo ý muốn cá nhân, luôn dựa vào “quyền của mình phải quyết". Họ cho mình là người hiểu hơn cả, biết tất cả. Ai góp ý kiến hoặc phê phán công việc của họ thì bị ghét bỏ, cho là "muốn đi dạy khôn".

4) Người dân chủ: biết lắng nghe và dựa vào tập thể, họ luôn gợi mở và cộng tác với đồng nghiệp. Họ có khả năng cuốn hút nhiều người cùng làm việc, cùng phấn đấu và cùng hưởng lợi ích chính đáng của thành quả do tập thể mang lại.

Đó là bốn mẫu điển hình mà người cán bộ dân vận cần suy nghĩ để có cách cư xử hợp lý khi tiếp cận và cũng rút ra điều bổ ích về công tác dân vận của bản thân.

 

KHI KHÔNG CÒN LÒNG TIN

Ở xưởng dệt thảm có chị Thu bị phạt một ngày công do trong tháng có hai lần đi làm muộn (mỗi lần 15 phút). Chị em trong tổ rất hiểu, chị Thu là người làm việc nghiêm túc, hai lần đi muộn, là do tắc đường. Cả tổ làm đơn đề nghị giám đốc không phạt chị Thu vì lý do khách quan. Chị Hào, Tổ trưởng công đoàn đã lên gặp Chủ tịch công đoàn cơ sở đưa đơn và đề xuất công đoàn bảo vệ cho đoàn viên của mình, nhưng việc này không có kết quả.

Trong đợt trợ cấp khó khăn, Tổ công đoàn xưởng dệt thảm đề xuất hai trường hợp công nhân rất khó khăn, nhưng chỉ được xem xét một trường hợpTrong khi đó có cô thư ký giám đốc, nhà khá giả lại được hưởng trợ cấp. Chị Hào lên hỏi Chủ tịch công đoàn thì được giải thích rằng: do có thư của giám đốc nên phải chấp nhận trợ cấp cho thư ký của giám đốc.

Cuối tháng, công nhân chậm được nhận lương, chỉ có các phòng gián tiếp được nhận lương trước. Chị em công nhân hỏi thì Chủ tịch công đoàn nói rằng: Công nhân đông hơn thì chờ nhận sau, bộ phận gián tiếp ít thì lĩnh trước là hợp lý. Công nhân hiểu rằng mọi đề nghị của mình không còn có ai bảo vệ. Sáng hôm sau tất cả công nhân đến ngồi ở cửa xưởng, không làm việc. Giám đốc đề nghị Chủ tịch công đoàn giải thích, vận động công nhân đi làm việc nhưng tất cả công nhân đều yên lặng. Chị em nói với nhau rằng: khi nào có cấp trên về công nhân có thể nói rõ lý do cho cấp có thẩm quyền nghe thì sẽ đi làm. Chị em buộc phải tỏ thái độ, dù biết là có sai, nhưng vì cảm thấy mình không còn chỗ dựa để bảo vệ lợi ích của mình.

 

Ở TÌNH THẾ KHÓ XỬ

Doanh nghiệp N đang bên bờ vực phá sản, hết khả năng trả nợ, công nhân không được nhận lương. Trong doanh nghiệp xuất hiện hai luồng dư luận: một là doanh nghiệp sẽ tuyên bố phá sản, giải thể; hai là phải tìm một giám đốc mới để cứu doanh nghiệp, lo cho cuộc sống của công nhân và người lao động. Cán bộ, công nhân có nhiều ý kiến khác nhau về hai khả năng trên.

Anh Kiên, một cán bộ trẻ năng động, thường đề xuất những ý kiến hay nhưng thời gian gần đây anh Kiên có lúc đã xin đi làm ở nơi khác. Trong một cuộc họp, anh đã khẳng định rằng, với máy móc cũ, với cách làm ăn hiện tại thì chắc chắn là doanh nghiệp đổ vỡ. Hôm nay, lãnh đạo cấp trên về họp để lấy ý kiến cán bộ, công nhân về việc đề bạt anh Kiên làm giám đốc mới của doanh nghiệp, trước sự sửng sốt, ngỡ ngàng của nhiều người. Kết nhiều người đã bày tỏ ý kiến, có người ủng hộ có người lại phản đối.

Chị Phương nói rõ: không thể giao doanh nghiệp cho một người đang muốn bỏ tập thể mà đi, đây là người bỏ chạy trước khó khăn. Anh Hào, công nhân lâu năm nhắc lại rằng, chỉ mới gần đây thôi, anh Kiên vẫn tin là doanh nghiệp chắc chắn đổ vỡ.

Lãnh đạo cấp trên yêu cầu anh Kiên nêu ý kiến của mình trước sự thiếu tin tưởng của một số cán bộ, công nhân. Đây là tình thế khó xử, tiến thoái lưỡng nan đối với anh Kiên, anh vừa được cổ vũ, vừa bị phê phán. Anh Kiên đã nói: "Thưa các đồng chí, thưa tất cả anh chị em. Tất cả một ý kiến phê bình của anh chị em đều đúng cả. Có lúc tôi cũng đã có ý định xin đi; có lúc tôi cũng tin rằng doanh nghiệp sẽ đổ vỡ. Hôm nay ở đây tôi xin nghe tất cả. Tôi chỉ dám nhận sự tin tưởng của lãnh đạo cấp trên nếu đa số cán bộ công nhân chấp nhận một đề án tích cực khắc phục khó khăn để cùng nhau đi lên, phục hồi sản xuất, đổi mới công nghệ, nâng cao chất lượng sản phẩm, trả nợ dần. Tức là công nhân vẫn sẽ nhận lương, nhưng trong 3-6 tháng tới, quá nửa số lương của công nhân sẽ cho xí nghiệp vay để góp thêm vốn sản xuất. Cấp trên nên giúp doanh nghiệp tháo gỡ khó khăn: giãn nợ cho vay một khoản phục hồi sản xuất. Doanh nghiệp đang lựa chọn tôi lo cho việc này. Còn tôi phải được lựa chọn phương án cứu vãn sự đổ vỡ. Nếu được ủng hộ tôi mới xin nhận”.

Cuộc thảo luận sôi động, đối thoại thẳng thắn và cuối cùng đa số cán bộ, công nhân đã tín nhiệm và bầu anh làm giám đốc.



TÀI LIỆU THAM KHẢO 

1. Các Nghị quyết của Trung ương Đảng, 1996 – 1999, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000.

2. Một số văn kiện của Đảng về công tác dân vận (1976 – 2000), Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000.

3. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, tập 4, 5, 12.

4. Các quy tắc trong giao tiếp, Nxb. Thanh niên, Hà Nội, 1999.

5. Danh ngôn thế giới đông tây kim cổ, Nxb. Văn hóa – Thông tin, Hà Nội, 1999.

6. Danh ngôn đất Việt, Nxb. Thanh niên, Hà Nội, 1999, tập 1, 2, 3, 4.

7. Huấn luyện về kỹ năng lãnh đạo và quản lý, Nxb. Phụ nữ, Hà Nội, 2000.

8. Kỷ yếu đề tài nghiên cứu “Nghiệp vụ công tác dân vận”, Ban Dân vận Trung ương, 2001.

9. Những mẩu chuyện lịch sử nổi tiếng Trung Quốc – Mười đại mưu lược gia Trung Quốc, Nxb. Thanh niên, Hà Nội, 1998.

10. Nghệ thuật nói trước công chúng, Nxb. Tổng hợp Đồng Tháp, 1993.

11. Nghệ thuật giao tiếp, Nxb. Long An, 1989.

12. Phụ nữ với công tác Hội đồng nhân dân, Nxb. Phụ nữ, Hà Nội, 1998.

13. Sổ tay cán bộ Hội Nông dân cơ sở, Hội Nông dân Việt Nam, Hà Nội, 2000.

14. Sổ tay công tác dân vận, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001.

15. Thông tin phục vụ lãnh đạo, Viện nghiên cứu tài chính, Bộ Tài chính, 1999 – 2000 – 2001.

16. Thuật thuyết phục lòng người, Nxb. Thanh Hóa, 1998.

17. Thuật đối nhân xử thế. Cung cách xử sự với người đời trong thời đại mới, Nxb. Phụ nữ, Hà Nội, 1997.

18. Tục ngữ ca dao Việt Nam, Nxb. Văn hóa – Thông tin, Hà Nội, 1999.

19. Tục ngữ dân gian thế giới, Nxb. Văn hóa – Thông tin, Hà Nội, 1998.

20. Tục ngữ, ca dao, dân ca Việt Nam, Nxb. Văn học, Hà Nội, 2000.

21. Tập bài giảng bồi dưỡng cán bộ Mặt trận cơ sở, Hà Nội, 2000.

22. 365 sách lược xử thế, Nxb. Thanh niên, Hà Nội, 1999.

23. 100 truyện ngắn danh nhân dã sử, Nxb. Hội Nhà văn Việt Nam, Hà Nội, 1998.

24. 101 giai thoại về phụ nữ Việt Nam, Nxb. Phụ nữ, Hà Nội, 2000.

25. Tập đề cương bài giảng bồi dưỡng cán bộ chủ chốt Mặt trận cấp tỉnh, Hà Nội, 2000.



87