DMCA.com Protection Status

Những đặc trưng của văn học dân gian VN  quan tâm

Được đăng bởi: Trần Việt Thao

Cập nhật lúc 15:52 ngày 18/01/2018

Những đặc trưng của văn học dân gian VN

( Nguồn: http://www.cuongvan.com/showthread.php?t=17529 ).

Văn học dân gian là sáng tác nghệ thuật truyền miệng của các tầng lớp dân chúng, phát sinh từ thời công xã nguyên thủy, phát triển qua các thời kỳ lịch sử cho tới ngày nay. Ở Việt Nam, 3 thuật ngữ sau đây được xem là tương đương : Văn học dân gian, sáng tác nghệ thuật truyền miệng của nhân dân, folklore ngôn từ ( folkore văn học ).

Chương 1 : NHỮNG ÐẶC TRƯNG CỦA VĂN HỌC DÂN GIAN

KHÁI NIỆM VĂN HỌC DÂN GIAN

Văn học dân gian là gì ?

Về khái niệm folklore :

ÐẶC TRƯNG CƠ BẢN CỦA VĂN HỌC DÂN GIAN :

Tính nguyên hợp của văn học dân gian :

Tính tập thể của văn học dân gian :

Văn học dân gian - một loại nghệ thuật gắn liền với sinh hoạt của nhân dân :

VĂN HỌC DÂN GIAN VÀ VĂN HỌC THÀNH VĂN :

Văn học dân gian và văn học thành văn ( văn học viết )

Mối quan hệ giữa văn học dân gian và văn học viết :

PHÂN LOẠI VĂN HỌC DÂN GIAN :

Phân loại văn học dân gian :

Hệ thống thể loại :

KHOA HỌC VỀ VĂN HỌC DÂN GIAN VÀ DÂN TỘC HỌC

Khoa học về văn học dân gian :

Khoa học về văn học dân gian và dân tộc học :

Chương 1 : NHỮNG ÐẶC TRƯNG CỦA VĂN HỌC DÂN GIAN


I. KHÁI NIỆM VĂN HỌC DÂN GIAN :

1. Văn học dân gian là gì ?

Văn học dân gian là sáng tác nghệ thuật truyền miệng của các tầng lớp dân chúng, phát sinh từ thời công xã nguyên thủy, phát triển qua các thời kỳ lịch sử cho tới ngày nay.

Ở Việt Nam, 3 thuật ngữ sau đây được xem là tương đương : Văn học dân gian, sáng tác nghệ thuật truyền miệng của nhân dân, folklore ngôn từ ( folkore văn học ).

Một số khái niệm xuất hiện trước những năm năm mươi như văn học (văn chương) bình dân , văn học (văn chương) truyền khẩu (truyền miệng),văn học (văn chương) đại chúng. Những khái niệm nầy nay không dùng nữa.

2.Về khái niệm folklore :

Thuật ngữ folklore do nhà nhân chủng học người Anh, ông William Thoms dùng trong bài báo đăng trên tờ Athenaeum, ngày 22/8/1846, với ý nghĩa là những di tích của nền văn hóa vật chất và chủ yếu là di tích của nền văn hoá tinh thần như phong tục , đạo đức, tín ngưỡng , những baì dân ca, những câu chuyện kể của cộng đồng. Sau khi xuất hiện, thuật ngữ nầy được hiểu với ngiều nghĩa rộng hẹp khác nhau, liên quan tới đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học.

Ở Việt Nam, thuật ngữ này được dịch là văn hóa dân gian với những ý nghĩa sau :

a.Nghĩa rộng : bao gồm những giá trị vật chất và tinh thần do dân chúng sáng tạo (folk culture). Theo cách hiểu nầy, văn hoá dân gian là đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học, kể cả khoa học tự nhiên và khoa học xã hội, đồng thời nó cũng là đối tượng nghiên cứu của văn hoá học

b.Nghĩa hẹp : Những sáng tạo của dân chúng mang tính nghệ thuật Theo nghĩa hẹp, văn hóa dân gian gồm ba thành tố : Nghệ thuật ngữ văn dân gian (tức văn học dân gian), nghệ thuật tạo hình dân gian , nghệ thuật diễn xướng dân gian.

c.Nghĩa chuyên biệt : folklore là văn học dân gian, theo đó tác phẩm folklore là hình thức ngôn từ gắn với nhạc, vũ, kịch ...do tập thể dân chúng sáng tác.Cũng có thể dùng thuật ngữ folklore văn học để chỉ văn học dân gian đồng thời phân biệt nó với các đối tượng khác cũng thuộc phạm trù folklore - văn hoá văn dân gian .

II.ÐẶC TRƯNG CƠ BẢN CỦA VĂN HỌC DÂN GIAN :

1.Tính nguyên hợp của văn học dân gian :

- Tính nguyên hợp của văn học dân gian biểu hiện ở sựû hòa lẫn những hình thức khác nhau của ý thức xã hội trong các thể loại của nó. Có thể nói rằng, văn học dân gian là bộ bách khoa toàn thư của nhân dân. Tính nguyên hợp về nôi dung của văn học dân gian phản ánh tình trạng nguyên hợp về ý thức xã hôi thời nguyên thuỷ, khi mà các lãình vực sản xuất tinh thần chưa được chuyên môn hoá. Trong các xã hội thời kỳ sau, mặc dù các lãnh vực sản xuất tinh thần đã có sự chuyên môn hoá nhưng văn học dân gian vẫn còn mang tính nguyên hợp về nội dung . Bởi vì đại bộ phận nhân dân , tác giả văn học dân gian , không có điều kiện tham gia vào các lãnh vực sản xuất tinh thần khác nên họ thể hiện những kinh nghiệm , tri thức , tư tưởng tình cảm của mình trong văn học dân gian , một loại nghệ thuật không chuyên.

-Về loại hình nghệ thuật : Tính nguyên hợp của văn học dân gian biểu hiện ở chỗ : Văn học dân gian không chỉ là nghệ thuật ngôn từ thuần túy mà là sự kết hợp của nhiều phương tiện nghệ thuật khác nhau. Sự kết hợp này là tự nhiên, vốn có ngay từ khi tác phẩm mới hình thành. Một baì dân ca trong đời sống thực của nó , không chỉ có lời mà còn có nhạc, điệu bộ, lề lối hát...

- Biểu hiện cụ thể của tính nguyên hợp là tính biểu diễn. Văn học dân gian có ba dạng tồn taị: tồn tại ẩn (tồn tại trong trí nhớ của tác giả dân gian) , tồn taị cố định ( tồn taị bằng văn tự ), tồn taị hiện ( tồn taị thông qua diễn xướng). Tồn taị bằng diễn xướng là dạng tồn taị đích thực của văn học dân gian . Tuy nhiên ,không thể phủ nhận hai dạng tồn tại kia; bởi vì như vậy sẽ dẫn tới phủ nhận khoa học về văn học dân gian và công việc giảng dạy văn học dân gian trong nhà trường. Trở lại vấn đề,chính trong biểu diễn , các phương tiện nghệ thuật của tác phẩm văn học dân gian mới có điều kiện kết hợp với nhau tạo nên hiệu quả thẩm mỹ tổng hợp. Sự kết hợp nầy một mặt là biểu hiện của tính nguyên hợp, một mặt là lẽ tồn taị của tính nguyên hợp.

2.Tính tập thể của văn học dân gian :

Văn học dân gian là sáng tác của nhân dân, nhưng không phải tất cả nhân dân đều là tác giả của văn học dân gian. Cần chú ý vai trò của cá nhân và quan hệ giữa cá nhân với tập thể trong quá trình sáng tác, biểu diễn, thưởng thức tác phẩm văn học dân gian.

Tính tập thể thể hiện chủ yếu trong quá trình sử dụng tác phẩm. Vấn đề quan trọng ở chỗ nó được mọi người biểu diễn, thưởng thức hay không, nó đã đạt mức thành tựu hay không. Trong quá trình đó, tập thể nhân dân tham gia vào công việc đồng sáng tạo tác phẩm

Quan hệ giữa truyền thống và ứng tác là hệ quả của mối quan hệ giữa các nhân và tập thể. Truyền thống văn học dân gian một mặt là cái vốngiùp nghệ nhân dân gian ứng tác( sáng tác một cách chớp nhoáng mà không có sự chuẩn bị trước) dễ dàng, một mặt qui định khuôn khổ cho việc sáng tác. Ứng tác đến lượt nó sẽ cung cấp những đơn vị làm giàu cho truyền thống

- Hai đặc trưng cơ bản vừa nêu trên có liên quan chặt chẽ với các đặc trưng khác của văn học dân gian như : tính khả biến ( gắn với việc tồn tại các dị bản của tác phẩm ) , tính truyền miệng , tính vô danh .

3.Văn học dân gian - một loại nghệ thuật gắn liền với sinh hoạt của nhân dân :

Văn học dân gian nảy sinh và tồn tại như một bộ phận hợp thành của sinh hoạt nhân dân. Sinh hoạt nhân dân là môi trường sống của tác phẩm văn học dân gian. Tác phẩm văn học dân gian có tính ích dụng .Baì hát ru gắn với việc ru con ngủ- một hình thức sinh hoạt gia đình; Ngược lại, việc đưa con ngủ thường không thể thiếu lời ru. Tương tự, những bài dân ca nghi lễ, các truyền thuyết gắn với tín ngưỡng, lễ hội...Từ đặc trưng nầy mà văn học dân gian có tính đa chức năng , trong đó, đặc biệt là chức năng thực hành sinh hoạt

III.VĂN HỌC DÂN GIAN VÀ VĂN HỌC THÀNH VĂN :

1.Văn học dân gian và văn học thành văn ( văn học viết )

Ðiểm chung : Văn học dân gian và văn học viết cùng là loại hình nghệ thuật ngôn từ. Từ điểm chung nầy mà khoa học về văn học dân gian có thể sử dụng những nguyên tắc và phương pháp nghiên cứu văn học để nghiên cứu văn học dân gian ở một mức độ nào đó. Chẳng hạn, có thể miêu tả các thành phần của tác phẩm như cốt truyện, nhân vật, cấu trúc...

Những đặc trưng loại biệt của văn học dân gian so với văn học viết :

+ Văn học dân gian là sáng tác tập thể. (văn học viết là sáng tác của cá nhân)

+ Văn học dân gian chỉ tồn tại thực tế khi diễn xướng nên có khả năng biến đổi, do vậy, nó có các dị bản. (văn học viết cố định trong văn bản và chỉ có một bản duy nhất)

+ Văn học dân gian là thành phần hữu cơ của các hình thức sinh hoạt của nhân dân.

2.Mối quan hệ giữa văn học dân gian và văn học viết :

Văn học dân gian là nền tảng của văn học viết, là chặng đầu của nền văn học dân tộc.Khi chưa có chữ viết, nền văn học dân tộc chỉ có văn học dân gian; khi có chữ viết nền văn học nầy bao gồm hai bộ phận: văn học dân gian và văn học viết

Văn học viết chịu ảnh hưởng văn học dân gian về nhiều phương diện, từ nội dung tư tưởng đến hình thức nghệ thuật.Ví dụ: Truyền thuyết Thánh Gióngđã mở đầu cho dòng văn học yêu nước, chống xâm lược trong nền văn học dân tộc. Thể thơ lục bát, thể thơ được thi hào Nguyễn Du sử dụng một cách tài tình, bắt nguồn từ bộ phận văn vần dân gian...

Văn học viết cũng có ảnh hưởng trở lại đối với văn học dân gian trên một số phương diện . Chẳng hạn , tác giả dân gian đã đưa những chất liệu văn học viết vào ca dao ( những nhân vật trong Truyện Kiều , Lục Vân Tiên ...)

Mối quan hệ giữa văn học dân gian với văn học cũng như vai trò, ảnh hưởng của văn học dân gian đối với văn học thể hiện trọn vẹn hơn cả ở lĩnh vực sáng tác và ở bộ phận thơ văn quốc âm. Có thể nói , mảng truyện thơ Nôm khuyết danh là sự gặp gỡ của hai bộ phận văn học dân tộc.

IV. PHÂN LOẠI VĂN HỌC DÂN GIAN :

1.Phân loại văn học dân gian :

Khung phân loại văn học dân gian gồm 3 cấp cơ bản : Loại, thể loại, biến thể của thể loại. Ngoài ra, giữa loại và thể loại còn có cấp trung gian là nhóm thể loại.

a.Loại tự sự :

a.1 Văn xuôi tự sư û: Thần thọai, sử thi, truyền thuyết, truyện cổ tích, truyện cười và truyện ngụ ngôn.

a.2 Thơ ca tự sự : Sử thi, các loại vè, truyện thơ.

a.3 Câu nói vần ve ì: Tục ngữ, câu đố, câu phù chú.

b.Loại trữ tình :

b.1 Thơ ca trữ tình nghi lễ:- Bài ca nghi lễ lao động.- Bài ca nghi lễ sinh hoạt.- Bài ca nghi lễ tế thần

b.2 Thơ ca trữ tình phi nghi lễ:- Bài ca lao động.- Bài ca ù sinh hoạt.- Bài ca ù giao duyên.

c.Loại kịch :

Bao gồm ca kịch và trò diễn dân gian: chèo sân đình , tuồng đồ, những trò diễn có tích truyện.

2.Hệ thống thể loại :

Hệ thống thể loại văn học dân gian là một chỉnh thể. Ðây là một hệ thống chịu sự chi phối của mỹ học dân gian để cho các tác phẩm thuộc mọi thể loại của nó đều mang " tính dân gian ". Mặt khác , giữa các thể loại của hệ thống lại có quan hệ với nhau .

V .KHOA HỌC VỀ VĂN HỌC DÂN GIAN VÀ DÂN TỘC HỌC

1.Khoa học về văn học dân gian :

Khoa học về văn học dân gian nghiên cứu tác phẩm văn học dân gian, sinh hoạt văn học dân gian, tác giả và công chúng văn học dân gian. Trong đó, tác phẩm văn học dân gian là đối tượng chính. Tác phẩm văn học dân gian ở đây là một chỉnh thể gồm lời, nhạc, điệu bộ...Khoa nghiên cứu văn học dân gianï gồm các phân môn sau :Lý luận văn học dân gian, Lịch sử văn học dân gian, Phương pháp luận nghiên cứu văn học dân gian.Và bộ phận đặc thù là công tác sưu tầm văn học dân gian.

2.Khoa học về văn học dân gian và dân tộc học :

Văn học dân gian, một thành tố của văn hóa dân gian là đối tượng nghiên cứu của dân tộc học.

Nhiều thể loại văn học dân gian phát sinh từ xã hội công xã nguyên thủy và ngay cả văn học dân gian ở các giai đoạn phát triển sau này luôn bị quy định bởi các hình thức sinh hoạt văn hóa dân gian. Do vậy cần dựa vào dân tộc học để nghiên cứu. Chẳng hạn truyện Sao Hôm, sao Mai, Sự tích trầu cau là tiếng vọng xa xôi của chế độ quần hôn trong xã hội công xã thị tộc đồng thời chúng cũng cho thấy chế độ phụ quyền với vị trí của người con trưởng được khẳng định

Đặc tính mở của văn bản tác phẩm văn học Dân gian

  1.  

PGS - TS Trần Đức Ngôn


Văn học dân gian trong quá trình lưu hành, không tồn tại dưới hình thức văn bản. Tuy nhiên, các nhà sưu tầm đã làm cho văn học dân gian tồn tại từ trạng thái động sang trạng thái tĩnh. Dưới hình thức văn bản sưu tầm, văn học dân gian được cố định bởi chữ viết (có thể là chữ Hán, chữ Nôm hoặc chữ Quốc ngữ). Mặc dù được cố định hóa, văn học dân gian vẫn còn mang đặc tính riêng khác hẳn với các sáng tác văn học viết. Đó là tính mở của tác phẩm khi tồn tại dưới hình thức văn bản.


PGS - TS Trần Đức Ngôn - Nguyên Hiệu trưởng Trường ĐH Văn hóa Hà Nội


Điều mà các nhà nghiên cứu, sưu tầm đã thấy được từ lâu, nhưng chưa khẳng định đặc tính mở của tác phẩm văn học dân gian khi tồn tại dưới hình thức văn bản, đó là việc tìm ra các dị bản của cùng một tác phẩm. Mỗi tác phẩm văn học dân gian tồn tại thông qua các dị bản. Có thể nêu ra một định nghĩa về dị bản như sau: Các dị bản của cùng một tác phẩm văn học dân gian là những văn bản sưu tầm được từ trong đời sống, giống nhau về chủ đề và các nội dung chính. Như vậy các văn bản sưu tầm không có các nội dung chính và không có cùng chủ đề với nhóm văn bản trên, sẽ thuộc về một tác phẩm khác, mặc dù nó vẫn còn nhiều chỗ giống với nhóm văn bản trên. Ví dụ, ca dao người Việt có các bài giống nhau:

1- Cô kia cắt cỏ bên sông
Có muốn ăn nhãn thì ***g sang đây
Sang đây anh nắm cổ tay
Anh hỏi câu này: cô lấy anh chăng ?

2- Cô kia cắt cỏ bên sông
Muốn ăn sung chín thì ***g sang đây
Sang đây anh bấm cổ tay
Anh hỏi câu này: có lấy anh chăng ?

3- Cô kia cắt cỏ một mình
Cho anh cắt với chung tình làm đôi
Cô còn cắt nữa hay thôi ?
Cho anh cắt với làm đôi vợ chồng.

Trong ba bài ca dao trên, chúng ta thấy ngay bài thứ nhất và thứ hai có cùng chủ đề (chàng trai tỏ tình một cách vui nhộn) và các nội dung chính (mời gọi cô gái sang, hỏi một cách sấn sổ). Hai bài này chỉ khác nhau một vài từ (nhãn- sung chín, nắm- bấm, cô- có). Chắc chắn đây là các dị bản của cùng một bài ca dao, có thể lấy tiêu đề là bài “Cô kia cắt cỏ bên sông”.

Bài ca dao thứ ba giống hai bài trên ở hình ảnh cô gái cắt cỏ, chàng trai chủ động tỏ tình nhưng chủ đề đã khác, không còn là sự tỏ tình vui nhộn nữa mà là tỏ tình một cách nghiêm trang. Nội dung chính của bài thứ ba cũng khác với hai bài trên, không có sự mời gọi, không có hành vi sấn sổ. Bài ca này là một tác phẩm khác, không phải là dị bản của bài “Cô kia cắt cỏ bên sông”. Nó có thể được đặt tên là bài “Cô kia cắt cỏ một mình”.

Hiện tượng dị bản khá phổ biến trong văn học dân gian và hiển nhiên nó là biểu hiện của tính mở. Tuy vậy, dị bản không phải là sự biểu hiện đầy đủ tính mở của tác phẩm văn học dân gian sau khi được ghi lại dưới hình thức văn bản. Về phương diện lý luận, có thể khái quát các hình thức biểu hiện của tính mở như sau:

1. Thay đổi từ hoặc cụm từ giữa các dị bản

Trường hợp các bài ca dao thứ nhất và thứ hai là sự thay đổi từ hoặc cụm từ. Sự

thay đổi này không đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành chủ đề tác phẩm. Nó không mang tính quy luật mà chỉ là sự ngẫu hứng. Tuy nhiên, sự thay đổi đó cũng tạo nên những giá trị thẩm mỹ nhất định. Đọc bài ca số 1 trong ví dụ nêu trên, chúng ta thấy câu “Có muốn ăn nhãn thì ***g sang đây” rõ ràng có hiện tượng chơi chữ. Từ “nhãn ***g” (một loại nhãn ngon nổi tiếng ở Hưng Yên) được tách làm hai bởi chữ “thì”. Còn ở bài ca dao số 2, “sung chín” đã thay thế “nhãn ***g”. Tín hiệu thẩm mỹ này lại tạo ra một ý nghĩa khác: “sung” là trái sung nhưng cũng tượng trưng cho sự sung túc, sung sướng về vật chất. Cả hai trường hợp đều mang ý nghĩa mời gọi nhưng lại khác nhau về nội dung cụ thể.

Sự ngẫu hứng này đã được các nhà sưu tầm hết sức trân trọng bới vì những tín hiệu thẩm mỹ, sau khi được tập hợp lại, sẽ cho những kết luận khoa học có giá trị về sự biến đổi của một tác phẩm văn học dân gian trong quá trình lưu truyền.

2. Thêm từ hoặc cụm từ vào các dị bản

Hình thức này mang tính lôgic nội tại nhiều hơn là sự ngẫu hứng ở trên. Nó là

kết quả của yêu cầu từ phía nội dung thể hiện. Ở đây, chúng tôi chú ý đến hiện tượng lục bát biến thể trong ca dao:

1. Yêu nhau tam tứ núi cũng trèo
Ngũ lục sông cũng lội, thập cửu đèo cũng qua.

2. Yêu nhau tam tứ núi cũng trèo
Ngũ lục sông cũng lội, thất bát thập cửu đèo cũng qua.

3. Đèo nào cao cho bằng đèo Cây Cốc
Dốc nào cao cho bằng dốc Xuân Đài
Anh thương em thương huỷ thương hoài
Dù em có chốc, có sài, anh vẫn thương

4. Đèo nào cao……Thương huỷ thương hoài
Dù em có ghẻ, có lở, có chốc, có sài, anh vẫn thương.

Qua bốn ví dụ nêu trên, chúng ta thấy dường như hình thức của bài ca dao 1 và 3 không chứa được hết nội dung cần chuyển tải. Tình cảm trong lòng chàng trai, cô gái dâng trào đến mức không thể chịu nổi cái khung thông thường của một dòng thơ lục bát hay song thất lục bát. Nó cần phải được nhấn mạnh hơn nữa, và việc bổ sung từ hoặc cụm từ vào văn bản đã diễn ra như là một sự tất yếu. Đó chính là quy luật tương tác giữa nội dung và hình thức thể hiện trong tác phảm nghệ thuật ngôn từ.

Trong thơ ca dân gian, mặc dù tính cố định của ngôn ngữ tương đối rõ song hình thức biểu hiện 1 và 2 của tính mở đã xuất hiện không ít. Trên đây chỉ là một vài ví dụ. Còn trong các thể loại truyện kể dân gian, sự thay đổi từ ngữ, thêm bớt từ ngữ ở các dị bản của cùng một tác phẩm là hết sức phổ biến. Tuy vậy, đối với các dị bản của truyện kể dân gian, không phải bất cứ sự thay đổi hoặc bổ sung từ ngữ nào cũng trở thành những tín hiệu thẩm mỹ có giá trị. Chỉ có sự thay đổi, bổ sung từ ngữ liên quan đến hành động của nhân vật mới đáng được chú ý vì trong truyện kể dân gian, hệ thống hành động của nhân vật liên quan trực tiếp tới việc thể hiện chủ đề tác phẩm.

3. Mở rộng nội dung và hình thức tác phẩm

Kết quả sưu tầm, ghi chép các dị bản cho chúng ta thấy một hình thức tồn tại tự do hơn của tác phẩm văn học dân gian: nó được mở rộng về nội dung và hình thức.

Chúng ta hãy khảo sát bài ca dao sau:

Đồng Đăng có phố Kỳ Lừa
Có nàng Tô Thị, có chùa Tam Thanh
Ai lên xứ Lạng cùng anh
Bõ công (tiếc công?) bác mẹ sinh thành ra em
Tay cầm bầu rượu, nắm nem
Mảng vui quên hết lời em dặn dò

Bài ca dao này đã trọn vẹn về ý nghĩa, song vẫn có dị bản được ghi tiếp:

Gánh vàng đi đổ sông Ngô
Đêm nằm tơ tưởng đi mò sông Thương.

Một dị bản khác lại tiếp:

Vào chùa thắp một tuần hương
Miệng khấn tay vái bốn phương chùa này.

Và lại tiếp nữa:

Chùa này có một ông thầy
Có hòn đá tảng có cây ngô đồng
Cây ngô đồng không trồng mà mọc
Rễ ngô đồng rễ dọc rễ ngang.

Tiếp nữa:

Quả dưa gang trong vàng ngoài trắng
Quả mướp đắng trong trắng ngoài xanh.

Dường như bài ca dao “Đồng Đăng có phố Kỳ Lừa” vẫn còn bỏ lửng, không có điểm dừng, không có câu kết. Dường như nhân vật trữ tình đi lang thang trong một tâm trạng bất định. Một vài nhà nghiên cứu đã đi tìm tính thống nhất trong chủ đề của bài ca dao này nhưng không thành công. Chúng tôi cho rằng, đây là một bài hát ru. Mục đích của hát ru là để cho trẻ em ngủ, vì vậy, nó cần được kéo dài để thực hiện chức năng này khi đứa trẻ chưa ngủ yên. Bài ca dao đã được mở rộng không phải tại một thời điểm mà trong các thời điểm khác nhau, thậm chí có thể ở những địa phương khác nhau.

Trường hợp thứ hai là một truyền thuyết nổi tiếng có tiêu đề “Rùa vàng” hoặc “An Dương Vương”. Câu chuyện có hai phần khác nhau, gần như có thể tách rời nhau để tồn tại độc lập. Phần thứ nhất kể về việc An Dương Vương xây Loa Thành, phần thứ hai kể về mối tình Mỵ Châu, Trọng Thuỷ. Chúng tôi cho rằng, phần thứ hai là sự mở rộng sau này, không được sáng tác vào cùng một thời điểm với phần thứ nhất.

Trong truyện dân gian, việc mở rộng nội dung không chỉ là bổ sung những đoạn, những phần mới. Nó còn là sự mở rộng thêm những tầng (những lớp ý nghĩa). Vì vậy, khi phân tích, ta thấy trong cùng một truyện, có tầng nghĩa rất cổ và tầng nghĩa rất mới. Ví dụ, trong truyện “Sự tích đá Vọng Phu”, tầng nghĩa cổ nhất là sự chuyển biến từ tình trạng hôn nhân nội tộc sang hôn nhân ngoại tộc. Anh em lấy nhau là nội tộc hôn, điều đó không được xã hội hôn nhân ngoại tộc chấp nhận. Tấn bi kịch gia đình đã xảy ra. Sự tan vỡ của gia đình nội tộc hôn là một tất yếu lịch sử. Tuy vậy, “Sự tích đá Vọng Phu” lại là câu chuyện đề cao lòng chung thuỷ, nghĩa vợ chồng. Đây là tầng nghĩa thứ hai, mới hơn tầng nghĩa thứ nhất. “Sự tích đá Vọng Phu” còn là bài ca phản đối chiến tranh phi nghĩa thời phong kiến. Người chồng đã đầu quân, để lại người vợ ở nhà với nỗi buồn hóa đá. Tầng nghĩa này chắc chắn chỉ được bổ sung vào trong thời kỳ phong kiến, khi có những cuộc nội chiến xảy ra.

4. Các cách hiểu khác nhau về cùng một tác phẩm hay một chi tiết trong tác phẩm

Tính mở của tác phẩm văn học dân gian không chỉ được hiện hữu trong câu, từ, nội dung phản ánh mà còn từ phía người tiếp nhận. Tác phẩm văn học dân gian, hơn ở đâu hết, được người đọc, người nghe tiếp nhận đa chiều, có thể theo hướng đúng, sai, tốt, xấu, thậm chí có sự cố tình xuyên tạc. Ví dụ:

Lì xì như chì đổ lỗ

Câu tục ngữ trên có thể hiểu như sau:

Người ít nói, nhìn mặt thấy khó cảm tình.
Chì đang sôi, đổ vào khuôn thường có tiếng kêu lì xì.
Chỉ người đang bực dọc, nói lẩm bẩm một điều gì không ai nghe rõ.

Có lẽ tục ngữ là thể loại được tiếp nhận đa chiều nhiều nhất. Tuy nhiên, tác phẩm thuộc các thể loại khác cũng không phải không có những cách hiểu khác nhau.

Chi tiết Tấm dội nước sôi giết Cám, lấy xác làm mắm gửi cho gì ghẻ ăn là một ví dụ tiêu biểu. Những cách hiểu và sự phản ứng ngược chiều nhau của người đọc đã diễn ra từ lâu, nhưng thường xuyên hơn là trong thời đại của chúng ta, tuy vậy, truyện cổ tích Tấm Cám vẫn tồn tại sừng sững nhiều trăm năm nay. Dân gian không chịu lược bỏ chi tiết này, chỉ có các nhà khoa học là vi phạm nguyên tắc khi cắt bỏ nó trong một vài ấn phẩm như cắt rời một phần máu thịt từ một cơ thể sống.

Đa số tác phẩm văn học dân gian thuộc các thời đại đã qua, càng cổ xưa thì nhiều chi tiết, hình ảnh, hình tượng càng trở nên khó hiểu. Người đời phải dùng sự hiểu biết chủ quan để phân tích, lý giải các “trầm tích văn hóa”. Vì thế, sự khác nhau trong cách hiểu đối với những trường hợp này là không thể tránh khỏi.

Trên đây là bốn biểu hiện của tính mở của văn bản tác phẩm văn học dân gian. Như vậy, tính mở là một phạm trù mỹ học, phản ánh quá trình tồn tại của tác phẩm văn học dân gian trong đời sống thực tế. Nó là hệ quả từ sáng tác tập thể và phương thức truyền miệng của văn học dân gian.

Hà Nội, 24 - 02 - 2009

View more latest threads same category:

( Nguồn: http://www.cuongvan.com/showthread.php?t=1272 ).

 

Các hình thức tương tác cơ bản giữa văn học dân gian và văn học viết

  1.  


 

PGS.TS Trần Đức Ngôn



Cần xem văn học dân gian và văn học viết là hai loại khác nhau của nghệ thuật ngôn từ nhưng cùng có chung một đối tượng phản ánh là hiện thực xã hội và lịch sử. Vì vậy, mối quan hệ tương tác là một tất yếu khách quan trong đời sống và quá trình phát triển của hai loại hình nghệ thuật này.
Sự tương tác giữa văn học dân gian và văn học viết trước hết được nhìn nhận từ nhóm xã hội, nghĩa là từ phía người sáng tác. Nói văn học dân gian là sản phẩm của những người bình dân, văn học viết là sản phẩm của trí thức và những người thuộc tầng lớp trên của xã hội chỉ là một cách nói đại thể và đúng với các thời đại trước. Nhìn tổng quát thì sự tương tác giữa hai loại nghệ thuật ngôn từ này phản ánh sự tương tác giữa hai nhóm xã hội (trước đây thường gọi là tầng lớp hoặc giai cấp) trong quá trình sáng tác. Đó là mối quan hệ giao lưu tự nhiên. Các thành viên của nhóm này chen vào nhóm kia và ngược lại. Ca dao có câu:

Kinh đô cũng có kẻ rồ
Thôn quê cũng có sinh đồ trạng nguyên.



Những người bình dân có thể leo lên những nấc thang cao trong xã hội bằng con đường học hành, thi cử. Ngược lại cũng có nhiều nho sĩ thất thế, về sống trong lòng dân chúng nơi thôn dã. Những "phần tử lạc ngũ" (chữ dùng của V.I. Lênin) thường tạo một sự hòa đồng mới, đem vốn văn học của mình gieo vào mảnh đất chung của những người cùng sống. Do đó giữa văn học dân gian và văn học viết, ranh giới hoàn toàn không rõ ràng. Không ít nhà thơ nhà văn reo rắc văn chương bác học vào môi trường dân gian và cũng không ít các sinh đồ trạng nguyên từ nông thôn reo rắc văn học dân gian vào môi trường bác học.
Nhìn vào xã hội hiện đại, vấn đề ranh giới giữa văn học dân gian và văn học viết còn mờ nhạt hơn nữa. Một cá nhân trong xã hội đương đại có thể vừa sáng tác văn học viết, lại vừa sáng tác văn học dân gian. Tại những thời điểm khác nhau, anh ta có thể làm hai nhiệm vụ khác nhau về bản chất. Một nhiệm vụ sáng tác nghiêm túc (viết trường ca, truyện ngắn...) để đăng báo, in sách. Tại thời điểm khác, anh ta có thể bông đùa trước bạn bè, ngẫu hứng làm thơ hoặc nghĩ ra một câu chuyện hài hước. Hai loại nghệ thuật ngôn từ đều của cùng một tác giả. Sự tương tác này diễn ra trong cùng một cá nhân sáng tạo. Có điều, khi sáng tác văn học viết, anh ta rất có ý thức về quyền tác giả của mình, còn khi sáng tác văn học dân gian, anh ta không quan tâm, thậm chí cố tình từ chối quyền đó. Điển hình nhất hiện nay là những câu thơ, bài thơ trào phúng, rõ ràng có xuất phát điểm (tác giả) hẳn hoi nhưng khi truyền bá, không ai quan tâm đến tên người sáng tác nữa. Người ta có ý thức quên chứ không phải vô tình. Ngay chính tác giả nhiều khi, để tránh phiền toái, cũng không nhận là cha đẻ của đứa con tinh thần đó nữa.
Đó chính là cội nguồn của mối tương tác giữa văn học dân gian và văn học viết.
Về biểu hiện của mối quan hệ này, có các hình thức cơ bản sau đây:

1. Hình thức nhại
Nhại là một lối sáng tác rất phổ biến trong văn học dân gian. Hoàn toàn không có chuyện văn học dân gian nhại văn học dân gian. Những người làm văn học dân gian không bao giờ nhại nhau. Các trường hợp nhại đều là văn học dân gian nhại văn học viết. Bản thân từ "nhại" cũng mang ý nghĩa hài hước rồi. Văn học nhại là một loại văn học hài hước. Bắt đầu từ sự nghiêm trang trong văn học bác học, văn học dân gian bẻ cong thành một tác phẩm khác, mất đi ý nghĩa đích thực và hoàn toàn mang ý nghĩa trào lộng. Thơ Bút Tre dân gian là hiện tượng tiêu biểu cho văn học nhại. Những bài thơ của Trưởng ty Văn hóa Vĩnh Phú cách đây 40 năm vốn là những bài thơ nghiêm túc, chỉ có điều là hơi nôm na, không được chuyên nghiệp lắm. Những bài thơ nhại Bút Tre tự nhiên phát triển khá nhiều trong những năm 70 của thế kỷ trước. Đại loại có những bài thơ theo lối trần tục hóa như sau:

Con đò dịch đít sang ngang
Xa xa có một cái làng thò ra



Chắc chắn Bút Tre thật không bao giờ viết như vậy.
Hiện tượng nhại còn có đối với cả thơ Tố Hữu, thơ Minh Huệ và một số nhà thơ khác. Chúng tôi ngờ rằng, trong số các bài thơ trào phúng của Hồ Xuân Hương, có thể có những bài thơ nhại.
Trong văn học dân gian cổ truyền, hiện tượng nhại diễn ra chủ yếu ở mảng thơ ca trào phúng và trên sân khấu chèo.
Hình thức nhại đích thực là của văn học dân gian. Chỉ có một chiều nhại: văn học dân gian nhại văn học viết; không có chiều ngược lại: văn học viết nhại văn học dân gian.

2. Hình thức mô phỏng

Nếu hình thức nhại là của văn học dân gian thì hình thức mô phỏng lại thường là của văn học viết. Các nhà nghiên cứu từng cho rằng đây là những tác phẩm ngụy dân gian. Quả thật, những tác phẩm này, nhiều người rất dễ lầm tưởng là văn học dân gian. Ngay cả các nhà nghiên cứu cũng đã từng lầm tưởng như vậy. Bài thơ "Anh đi anh nhớ quê nhà, nhớ canh rau muống nhớ cà dầm tương..." mãi sau này mới bị phát hiện ra là của Á Nam Trần Tuấn Khải viết vào đầu thế kỷ XX; câu thơ của Bảo Định Giang "Tháp Mười đẹp nhất bông sen, nước Nam đẹp nhất có tên Bác Hồ", nhiều người trước đây đã lầm tưởng là ca dao Nam Bộ; bài thơ "Trên trời mây trắng như bông, ở dưới cánh đồng bông trắng như mây" được gọi là ca dao mới nhưng kỳ thực đó là bài mô phỏng ca dao.
Hiện tượng mô phỏng văn học dân gian tiêu biểu nhất xảy ra trên thế giới là các trường hợp nhà văn viết truyện cổ tích văn học và truyện ngụ ngôn (Gơrim, L.Tônxtôi, Laphôngten). Trong Kinh Thánh tân ước có rất nhiều truyện ngụ ngôn nhưng đó là văn học bác học mô phỏng truyện ngụ ngôn vốn là một thể loại văn học dân gian.
Việc đi tìm sự khác nhau giữa tác phẩm dân gian đích thực và tác phẩm mô phỏng dân gian là rất khó khăn, tuy rằng một vài trường hợp có thể phân biệt được (ví dụ: truyện cổ tích văn học thường hay có những đoạn tả cảnh hoặc diễn tả tâm lý nhân vật, còn truyện cổ tích dân gian thì chỉ kể về hành động của nhân vật mà thôi). Thành ra đây là nơi giao thoa, lẫn lộn giữa văn học dân gian và văn học viết.

3. Hình thức thâm nhập lẫn nhau về chất liệu văn học
Đây là hiện tượng phổ biến, diễn ra theo cả hai chiều, từ dân gian vào bác học và ngược lại. Rất nhiều ngôn từ, điển tích của văn chương bác học đã đi vào dân gian:

Anh xa em như bến xa thuyền
Như Thuý Kiều xa Kim Trọng biết mấy niên cho tái hồi
*
Đêm đêm tưởng giải Ngân Hà
Mối sầu tinh đẩu đã ba năm tròn
Đá mòn nhưng dạ chẳng mòn
Tào khê nước chảy vẫn còn trơ trơ.


Các từ Thuý Kiều, Kim Trọng, tinh đẩu, tào khê lấy từ nguồn văn học bác học.
Ngược lại, rất nhiều ngôn từ nghệ thuật của văn học dân gian đã có mặt trong những tác phẩm văn học viết. Sự tiếp nhận văn học dân gian của văn học viết được xem như là quy luật của lịch sử văn học. Đối với đa số các dân tộc trên thế giới, văn học dân gian bao giờ cũng có trước, văn học viết hình thành sau và được xây dựng trên nền tảng văn học dân gian. Vì vậy, tiếp thu chất liệu của văn học dân gian là hiện tượng phổ biến trong văn học viết. Những tác phẩm văn học viết nổi tiếng, giàu tính dân tộc nhất, thường tiếp thu có sáng tạo nhiều chất liệu từ văn học dân gian. Truyện Kiều của đại thi hào dân tộc Nguyễn Du là một ví dụ tiêu biểu:

Một nhà sum họp trúc mai
Càng sâu nghĩa bể, càng dài tình sông.
*
Nàng rằng: "Non nước xa khơi,
Sao cho trong ấm thì ngoài mới êm.
Dễ lòa yếm thắm, trôn kim,
Làm chi bưng mắt bắt chim khó lòng !
Đôi ta chút nghĩa đèo bòng,
Đến nhà trước liệu nói sòng cho minh".



Các từ và cụm từ trúc mai, trong ấm ngoài êm, bưng mắt bắt chim, đèo bòng được lấy từ kho tàng thơ ca dân gian người Việt.
Sự thâm nhập lẫn nhau về chất liệu văn học, dù diễn ra phổ biến, vẫn không làm xoá nhoà ranh giới giữa văn học dân gian và văn học viết. Mỗi tác gia văn học viết đều có ý thức rõ ràng rằng mình sử dụng chất liệu văn học dân gian để làm gì và sử dụng như thế nào. Sự có mặt của chất liệu văn học dân gian trong các tác phẩm văn học viết làm cho các tác phẩm này gần gũi với dân gian nhưng không làm biến chất bác học. Cũng như vậy, không vì mang trong mình chất liệu văn học viết mà văn học dân gian bị biến đổi bản chất của mình. Chúng ta có thể lấy Tam quốc chí và Tây du ký, hai tiểu thuyết chương hồi nổi tiếng của Trung Quốc làm ví dụ. Những mẩu chuyện trong hai tác phẩm nổi tiếng này vốn từ lâu được kể trong dân gian bởi các thuyết thoại nhân (những người chuyên đi kể chuyện ở ngoài chợ hoặc trên đường phố để kiếm ăn). Tập hợp những mẩu chuyện rời rạc để thành tiểu thuyết chương hồi là công lao to lớn của La Quán Trung và Ngô Thừa Ân. Toàn bộ chất liệu dân gian được hai nhà văn thời Minh Thanh nhào nặn, tạo nên những tác phẩm văn học viết đích thực, không phải là dân gian nữa.
4. Hình thức thâm nhập lẫn nhau về phong cách

Đây là hình thức tương tác cao nhất giữa văn học dân gian và văn học viết. Hình thức này tạo ra một chất lượng mới trong các tác phẩm nghệ thuật ngôn từ.
Phong cách là chất lượng. Các nhà văn, nhà thơ trẻ chưa thể tạo cho mình một phong cách. Chỉ những tác gia văn học có tài năng mới định hình được về phong cách. Vì vậy, phong cách cũng là bản lĩnh của tác giả thể hiện qua tác phẩm. Văn học dân gian không có phong cách tác giả nhưng có phong cách thể loại.
Sự thâm nhập lẫn nhau về phong cách cũng diễn ra theo hai chiều như sự thâm nhập lẫn nhau về chất liệu văn học. Tuy nhiên, ở đây, chiều dân gian vào bác học mạnh hơn là chiều từ bác học vào dân gian. Thật khó tìm những tác phẩm văn học dân gian mang phong cách bác học. Những trường hợp như bài ca dao sau đây không nhiều trong kho tàng văn học dân gian Việt Nam:

Đèn tà thấp thoáng bóng trăng,
Ai đem người ngọc thung thăng chốn này.



Thuở sinh thời, nhà thơ Xuân Diệu đã từng ca ngợi bài ca dao: lời thơ không kém gì thơ Kiều. Phong cách bác học của bài ca dao thể hiện khá rõ, có thể lẫn với văn học viết nếu người đọc không biết rõ xuất xứ của nó.
Hiện tượng văn học viết mang phong cách dân gian thì có nhiều. Tiêu biểu nhất trong nền thơ ca Việt nam, có lẽ là Nguyễn Bính. Thơ ông tràn đầy phong cách dân gian:

Giếng thơi mưa ngập nước tràn,
Ba gian đầy cả ba gian nắng chiều.
*
Nhà em cách bốn quả đồi,
Cách ba ngọn núi, cách đôi cánh rừng,
Nhà em xa cách quá chừng,
Em van anh đấy, anh đừng yêu em.



Có thể nói, sự thâm nhập của phong cách dân gian vào thơ Nguyễn Bính không diễn ra trên bình diện vay mượn chất liệu thơ ca mà là sự đồng điệu với tâm hồn dân tộc của nhà thơ. Chỉ có thực sự uống nước từ nguồn mạch dân gian và tắm mình trong nguồn mạch ấy, thơ Nguyễn Bính mới có được phong cách như vậy.
Những tác gia văn học khác cũng có nhiều câu mang phong cách dân gian, mặc dù không phải toàn bộ tác phẩm.
*
* *
Trên đây là bốn hình thức tương tác cơ bản giữa văn học dân gian và văn học viết. Sự tương tác này, một mặt, làm cho cả hai loại của nghệ thuật ngôn từ trở nên phong phú, làm nên những đỉnh cao về chất lượng; mặt khác, cũng làm cho ranh giới
của hai loại này trở nên mờ nhạt, nhiều khi lẫn lộn, khó phân biệt. Trong văn học dân gian hiện đại, ranh giới này càng khó phân biệt hơn khi mọi người đều có khả năng sáng tác văn học viết nhưng đồng thời cũng thích sáng tác văn học dân gian

---

Hà Nội, ngày 13 tháng 12 năm 2009
T.Đ.N


(Tham luận tại hội thảo khoa học "Quan hệ văn học dân gian-văn học viết" tại Khoa Ngữ Văn Trường Đại học Sư phạm Hà Nội ngày 18 tháng 12 năm 2009)

View more latest threads same category:

 

Khái quát văn học từ thế kỷ XVI đến nửa ðầu thế kỷ XVIII

  1.  

Trong hoàn cảnh chế độ phong kiến và Nho giáo ngày một suy vi, văn học bắt đầu đề cập đến những nhu cầu giải phóng tình cảm con người. Các tác giả đã tỏ ra rất táo bạo, nhiệt tình, mới mẻ khi phản ánh, ca ngợi tình yêu, khẳng định hạnh phúc nơi trần thế và đề cao vai trò chủ động của người phụ nữ trong tình yêu (Lâm tuyền kỳ ngộ, Song Tinh bất dạ,..). Những tác phẩm này thể hiện rõ sự phát triển của chủ nghĩa nhân đạo trong văn học

HOÀN CẢNH LỊCH SỬ

Sự phân hóa trầm trọng nội bộ giai cấp thống trị dẫn đến nội chiến phong kiến gần một thế kỷ:

Sự phát triển của nền kinh tế hàng hóa và sự bành trướng của thế lực đồng tiền.

Về tư tưởng

TÌNH HÌNH VĂN HỌC

Những đặc điểm chung

Nội dung chính:

NHẬN XÉT CHUNG

CHƯƠNG VIII

Khái quát văn học thế kỷ XV

  1.  

Văn học nửa sau thế kỷ XV chứng kiến một sự bột phát về cả số lượng lẫn chất lượng tác phẩm. Lực lượng sáng tác chủ yếu là các nho sĩ quan liêu, nhất là các triều thần được Lê Thánh Tông tuyển chọn vào Hội Tao Ðàn. Các nhà thơ sáng tác dưới sự chỉ đạo chặt chẽ của nhà vua về đề tài, cảm hứng nên đôi khi, khuynh hướng ca ngợi, thù tạc không kém phần khiên cưỡng, thụ động.
HOÀN CẢNH LỊCH SỬ

Tình hình lịch sử- xã hội Việt Nam cuối thế kỷ XIV

Tình hình lịch sử- xã hội Việt Nam thế kỷ XV

TÌNH HÌNH VĂN HỌC

Một số đặc điểm của văn học thế kỷ XV

Những nội dung chính:

CHƯƠNG 4:

KHÁI QUÁT VĂN HỌC THẾ KỶ XV


I. HOÀN CẢNH LỊCH SỬ

1. Tình hình lịch sử- xã hội Việt Nam cuối thế kỷ XIV

- Chế độ phong kiến Việt Nam trong những năm cuối thế kỷ XIV bước vào tình trạng suy sụp nghiêm trọng.

- Các vị vua cuối đời Trần ngày càng phản bội lại lợi ích của nhân dân, tự mãn, ăn chơi sa đọa. Chính sách thuế khóa thắt ngặt. Bọn quý tộc lợi dụng chế độ Ðại điền trang để cướp đoạt ruộng đất của nông dân biến họ thành nông nô và nô tỳ. Nền kinh tế bị kìm hãm cùng với nạn mất mùa, đói kém xảy ra liên miên khiến nhân dân phải rơi vào tình cảnh cùng khốn, bất mãn dẫn đến sự bùng nổ của rất nhiều cuộc khởi nghĩa nông dân và nông nô

- Sự rối ren từ nhiều phía tạo nên một hoàn cảnh xã hội đầy phức tạp và mâu thuẫn dẫn đến sự sụp đổ tất yếu của triều đại nhà Trần.

2. Tình hình lịch sử- xã hội Việt Nam thế kỷ XV

a. Chính sách cải cách của nhà Hồ:

Năm 1400, Hồ Quý Ly cướp ngôi nhà Trần lập nên nhà Hồ. Ông là người có tài, có đầu óc tiến bộ, cải cách, có cái nhìn thực tế trước tình thế nguy ngập của đất nước. Ông đưa ra một loạt cải cách quan trọng:

- Thiên đô về Thanh Hóa

- Tăng cường quân sự võ bị

- Ðề ra chính sách hạn điền hạn nô

- Phát hành tiền giấy

- Mở khoa thi chọn người tài với quan điểm trọng chữ Nôm hơn chữ Hán.

Tháng 11 năm 1406, quân Minh lấy chiêu bài Phù Trần diệt Hồ tràn sang xâm lấn nước ta. Hồ Quý Ly tiến hành chống giữ nhưng thế yếu lại không được nhân dân tin theo nên đành chịu thất bại. Tháng 4- 1407, trận phản công cuối cùng của Hồ Quý Ly cũng đại bại, cha con và toàn bộ triều thần bị bắt về Ttrung Quốc.

b. Ách đô hộ của nhà Minh

Sau khi bình định được nước ta, nhà Minh thiết lập một chhế độ cai trị hà khắc và dã man:

- Ðổi nước ta thành Giao Chỉ, đặt bộ máy cai trị với hệ thống đồn trại khắp nơi để tiến hành trấn áp ngay những cuộc khởi nghĩa của người Việt.

- Bóc lột nhân dân bằng hệ thống thuế khóa, khai thác, vơ vét tài nguyên, khoáng sản.

- Tiến hành chính sách đồng hóa, ngu dân, bắt người dân theo phong tục phương Bắc, thiêu hủy kkho tàng, sách vở, bia mộ, hạn chế trường học, tuyên truyền mê tín dị đoan.

(Sắc lệnh của Minh Thành Tổ, ngày 21/8/1406:

Bắt và giải về Trung Quốc những người giỏi kinh sử, làm thuốc, địa lý, coi số âm dương, bói toán, đờn ca,.. cũng như nghệ nhân, nhạc công, những thơ chuyên nghiệp gỏi về gạch ngói, chế thuốc súng, biết điều khiển thuyền đi sông, đi biển. Ðối với các hạng kể sau- nghệ nhân, công nhân chuyên nghiệp- thì sắc truyền phải bắt tất cả gia tiểu, đem toàn số về Yên Kinh

Sắc lệnh 1407:

Ta thường bảo các người nhất thiết An nam có thư bản văn tự gì cho đến các câu ca lý dân gian, các sách dạy trẻ và các bia mà xứ ấy lập ra, hễ thấy là phải phá huỷ ngay lập tức, một mảnh, một chữ cũng không để còn. Nay nghe nói những sách vở quân lính bắt được không ra lệnh đốt ngay, để xem xét rồi mới đốt. Từ nay phải làm đúng lời sắc truyền cho quân lính hễ bất cứ ở nơi nào nếu thấy sách vở, văn tự là phải đốt ngay lập tức, không được lưu lại.

- Trong tình hình đó liên tiếp những cuộc khởi nghĩa bùng nổ điển hình là hai cuộc khởi nghĩa của các vị tông thất nhà Trần là Giản Ðịnh đế và Trùng Quang Ðế nhưng do sứ mệnh lịch sử của nhà Trần đã chấm dứt nên cả hai cuộc khởi nghĩa lớn này đều thất bại.

c. Cuộc khởi nghĩa Lam Sơn (1417- 1427)

Ðược tiến hành trong 10 năm dưới sự chỉ huy của Lê Lợi, một người hào trưởng đất Lam Sơn. Ông biết dựa vào dân, tập hợp quần chúng, dấy động phong trào kháng chiến mạnh mẽ.

Cuộc khởi nghĩa trải qua những thất bại ban đầu nhưng sau đó, nhờ biết tập hợp sức mạnh của nhất dân, biết vận dụng những chiến lược, chiến thuật tài tình nên cuộc khởi nghĩa đã phát triển mạnh và tiiến đến thắng lợi hoàn toàn vào cuối năm 1427.

Thành công của cuộc khởi nghĩa Lam Sơn đánh dấu một bước ngoặc mới trên con đường trưởng thành của dân tộc, mở ra một kỷ nguyên mới, kỷ nguyên thịnh trị của triều đại Hậu Lê.

d. Giai đoạn xây dựng, củng cố địa vị thống trị của chế độ phong kiến Hậu Lê ở nửa sau thế kỷ XV.

Kháng chiến thành công, Lê Lợi lên ngôi vua lập nên nhà Hâụ Lê. Tuy nhiên, Lê Thái Tổ chỉ là người đặt nền móng. Phải đợi đến triều đại của Lê Thánh Tông, chính quyền phong kiến hậu Lê mới thực sự bước đến giai đoạn cực thịnh.

Ở thời Lê, các mặt kinh tế, văn hóa, chính trị,.. đều phát triển mạnh mẽ:

- Về chính trị, Lê Thánh Tông chủ trương xây dựng một chính quyền quân chủ chuyên chế cao độ, tất cả quyền hành đều tập trung trong tay nhà vua. Thế lực của tầng lớp đại quý tộc bị hạn chế tối đa, chính sách thân dân tiết kiệm được thực hiện nghiêm túc nhằm điều hòa mâu thuẫn giữa nhân dân với giai cấp thống trị.

- Về kinh tế, nhà Lê thủ tiêu chế độ đại điền trang, thi hành chính sách quân điền, thực hiện lĩnh canh nộp thuế (Phương thức sở hữu cá nhân về mặt ruộng đất).

- Dưới triều Lê Thánh Tông, một ông vua hay chữ, siêng năng đọc sách và làm chính trị, việc giáo dục, thi cử, Nho học được kích thích phát triển mạnh mẽ.

II. TÌNH HÌNH VĂN HỌC

1. Một số đặc điểm của văn học thế kỷ XV

- Hai nội dung chủ yếu của văn học thế kỷ XV:

+ Ca ngợi cuộc kháng chiến chống Minh và người anh hùng Lê Lợi- Tập trung thể hiện trong các tác phẩm ở giai đoạn nửa đầu thế kỷ XV

+ Ca ngợi sự thịnh trị của triều đại Hậu Lê và vua Lê Thánh Tông- tập trung thể hiện trongcác tác phẩm ở giai đoạn nửa sau thế kỷ XV

- Sự thể hiện rõ nét hình ảnh quần chúng, những người làm nên lịch sử và những quan niệm mới về đất nước, dân tộc của các nhà tư tưởng thời Hậu Lê.

- Văn học phản ánh phần nào ý thức cá nhân và khuynh hướng trữ tình.

2. Những nội dung chính:

a. Nội dung yêu nước, ca ngợi tinh thần quật khởi anh dũng và chiến thắng vẻ vang của dân tộc:

Thơ văn viết về đề tài này tập trung vào giai đoạn nửa đầu thế kỷ XV, phát triển mạnh mẽ, đa dạng với nhiều loại thể như: thực lục, chiếu, chế, biểu, cáo, văn bia, thơ, phú. Nổi bật nhất và thành công nhất chính là tác phẩm Bình Ngô đại cáo của Nguyễn Trãi.

Rất nhiều bài phú xoay quanh chủ đề chống Minh xâm lược và chiến thắng oanh liệt của dân tộc. Nhiều người cùng làm đề tài giống nhau, lựa chọn thể loại sáng tác giống nhau nhưng ý tứ, tình cảm, phong cách có những khác biệt tạo nên tính đa dạng, phong phú cho các tác phẩm phú thời kỳ này (Cùng đề tài Núi Chí Linh, rất nhiều tác giả đã viết phú núi Chí Linh như Nguyễn Trãi, Nguyễn Mộng Tuân, Lý Tử Tấn..

Thời kỳ này còn chứng kiến sự phát triển vượt bậc của loại văn chính luận mà Nguyễn Trãi kế thừa ở những thời kỳ trước, phát triển thành một thứ vũ khí sắc bén phục vụ cho chiến thuật Tâm công đặc sắc.

Nội dung chủ yếu của các tác phẩm xoay quanh quá trình chiến đấu từ lúc gian khổ, nếm mật nằm gai:

Trời đất mịt mờ đang lúc

Sấïm mây gian khổ những ngày


(Chí Linh sơn phú- Nguyễn Mộng Tuân


đến lúc trưởng thành, chiến thắng oanh liệt:

Bốn cõi mây mờ quét sạch

Giữa trời ánh sáng huy hoàng


(Xương giang phú- Lý Tử Tấn)


- Các tác giả thường ca ngợi chính nghĩa, xem đó là cơ sở, giá trị của chiến thắng:

Nếu không gặp thánh tổ sao được gọi là hiểm

Nếu không nhân chiến thắng sao truyền mãi danh


(Phú Xương Giang- Lý Tử Tấn)


- Hơn thế, các tác giả còn ca ngợi, so sánh công lao của Lê Lợi với công lao của Hán Cao Tổ, người sáng lập cơ nghiệp nhà Hán:

Cờ nghĩa vua ta cao phất

Che rợp cả bậc Hán Ðường


(Phú cờ nghĩa- Nguyễn Mộng Tuân)


- Ca ngợi công cuộc xây dựng đất nước trong thời kỳ mới:

Phòng ngừa bờ cõi cần ra sức

Giữ vững cơ đồ phải gắng công


(Chinh Ðèo Cát Hãn hoàn quá Long Thủy đê- Lê Lợi)


- Thể hiện niềm tự hào sâu sắc:

Thung mộc mai hà xuân thảo lục

Ðộc lâu khiếu nguyệt dạ triều hàn


(Hàm Tử quan- Nguyễn Mộng Tuân)


(Chông gỗ chốn lòng sông bờ cỏ mùa xuân xanh biếc- Ðầu lâu kêu bóng nguyệt ngọn triều đêm tối lạnh lùng)

b. Nội dung thù phụng, ca ngợi sự thịnh trị của chế độ phong kiến và tài đức của vua Lê Thánh Tông.

Văn học nửa sau thế kỷ XV chứng kiến một sự bột phát về cả số lượng lẫn chất lượng tác phẩm. Lực lượng sáng tác chủ yếu là các nho sĩ quan liêu, nhất là các triều thần được Lê Thánh Tông tuyển chọn vào Hội Tao Ðàn. Các nhà thơ sáng tác dưới sự chỉ đạo chặt chẽ của nhà vua về đề tài, cảm hứng nên đôi khi, khuynh hướng ca ngợi, thù tạc không kém phần khiên cưỡng, thụ động.

Một số tác giả không chịu sự gò bó theo những khuôn mẫu của văn học cung đình và đã có những nét tiến bộ rõ rệt trong nội dung sáng tác:

Nguyễn Trực có nhiều nét độc đáo trong cách miêu tả thiên nhiên đơn giản nhưng có ý nghĩa sâu sắc:

Xa đất nên bụi ít

Trên cao được trăng nhiều (Chùa Cực lạc)

Thái Thuận chú ý đến cái bình thường, dung dị của đời sống đồng quê:

Nhà cỏ in làn khói

Thuyền con ghé mái bồng

Trẻ con ba bốn tốp

Bắt cáy ở ven sông
(Hoàng giang tức sự).


c. Xu hướng bất mãn thời thế

Ngay trong thời kỳ cực thịnh của nhà Hậu Lê, tư tưởng bất mãn thời thế vẫn có ở một số sĩ phu tiết tháo, khao khát đem tài trí giúp đời nhưng bị vùi dập, phải trở về ở ẩn, trong đó có cả Nguyễn Trãi, Nguyễn Húc,.. Tâm sự u ẩn của các nhà thơ phản ánh rõ bản chất xấu xa của chế độ phong kiến.

VII. NHẬN XÉT CHUNG VỀ TIẾN TRÌNH VHTĐ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

I. CÁC GIÁO TRÌNH

1. Lịch sử văn học Việt Nam, tập II- NXB Giáo Dục- 1978

2. Lịch sử văn học Việt Nam tập I- Uỷ ban Khoa học xã hội Việt Nam- 1984

3. Văn học Việt Nam (Thế kỷ thứ X đến nửa đầu thế kỷ XVIII) tập I- Ðinh Gia Khánh, Bùi Duy Tân, Mai Cao Chuơng- NXB ÐH & THCN- 1992.

4. Văn học Việt Nam (Thế kỷ X đến nửa đầu thế kỷ XVIII) (Tái bản có bổ sung)- Ðinh Gia Khánh, Bùi Duy Tân, Mai Cao Chương- NXB Giáo Dục- 1997.

II. CÁC TÀI LIỆU THAM KHẢO BỔ SUNG.

1. Các nhà thơ cổ điển Việt Nam (Tập I và II)- Xuân Diệu- NXB Văn học 1986.

2. Những phạm trù văn hóa trung cổ- Gurêvich- NXb Giáo dục- 1996

3. Văn học Lý Trần, nhìn từ góc độ thể loại- NXB Giáo dục- 1996

4. Tư tưởng phương Ðông gợi những điểm nhìn tham chiếu- Cao Xuân Huy- NXb Văn học- 1995

5. Tư tưởng văn học Trung Quốc cổ xưa- Lixêvich- Trường ÐHSP TPHCM- 1993

6. Thơ Việt Nam- Thơ Nôm Ðường luật- Hà Xuân Liêm- NXB Văn học- 1997

7. Góp phần xác lập hệ thống quan niệm văn học trung đại- Phương Lựu- NXB Giáo dục- 1997.

8. Thơ ca cổ điển Việt Nam, một số vấn đề về hình thức và thể loại- Lê Hoài Nam- Bộ Giáo dục và đào tạo, Vụ giáo dục phổ thông, 1994

9. Những thế giới nghệ thuật thơ- Trần Ðình Sử- NXB Giáo dục- 1997

10. Lý luận văn học nghệ thuật cổ điển Trung Quốc- Khâu Chấn Thanh- NXB Giáo dục- 1994

11. Ðặc trưng văn học trung đại Việt Nam- Lê Trí Viễn- NXB Giáo dục- 1996

12. Các sách tham khảo có liên quan đến những tác gia văn học trung đại (Nguyễn Trãi, Lê Thánh Tông, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn Dữ,..), hoặc những giai đoạn của văn học trung đại (Giai đoạn văn học Lý- Trần, văn học thời khởi nghĩa Lam Sơn..), các hội sáng tác văn thơ (Hội Tao đàn, Nhóm Chiêu Anh các ở Hà Tiên,..).

View more latest threads same category:


 

KHÁI QUÁT VĂN HỌC TỪ THẾ KỶ XVI ÐẾN NỬA ÐẦU THẾ KỶ XVIII



Lê Thánh Tông mất ở thời điểm cuối thế kỷ XV. Triều đại Hậu Lê chấm dứt thời kỳ hưng thịnh và bắt đầu trượt dài trên con đường suy thoái kể từ đầu thế kỷ XVI. Trong hoàn cảnh mới, văn học vẫn phát triển mạnh mẽ nhờ đáp ứng kịp thời những nhu cầu của thời đại.

I. HOÀN CẢNH LỊCH SỬ

1. Sự phân hóa trầm trọng nội bộ giai cấp thống trị dẫn đến nội chiến phong kiến gần một thế kỷ:

- 1497- Lê Thánh Tông mất

- 1505- Lê Uy Mục lên ngôi, nổi tiếng là một vua dâm bạo, tàn ác. Kể từ đây, nội bộ giai cấp thống trị mâu thuẫn nghiêm trọng do xung đột giữa các phe phái quý tộc trong việc tranh quyền đoạt lợi. Từ năm 1505 đến 1527, đã có đến 6 triều vua thay nhau nối ngôi.

- 1527- Mạc Ðăng Dung cướp ngôi nhà Lê lập nên nhà Mạc

- Nguyễn Kim chạy vào Thanh Hóa cùng với một số tôn thất nhà Lê thành lập triều Lê Trung Hưng tiến hành chống nhà Mạc. Sử gọi là cuộc chiến tranh Nam- Bắc triều kéo dài gần 50 năm (1546- 1592)

- 1592- Nam thắng Bắc. Nhà Mạc thua trận phải chạy về Cao Bằng. Tại Thăng Long chế độ vua Lê- chúa Trịnh hình thành.

- Trịnh Kiểm giành quyền. Nguyễn Uông bị giết. Nguyễn Hoàng hoảng sợ xin vào khai phá vùng đất phía Nam rồi lập nên nhà Nguyễn tiến hành chống lại vua Lê- chúa Trịnh ở đàng ngoài. Sử gọi là Trịnh- Nguyễn phân tranh, kéo dài gần 50 năm (1627- 1672). Trong suốt thời gian nội chiến có 7 lần đánh nhau to nhưng không bên nào giành phần thắng nên đành lấy sông Gianh làm giới tuyến chia đôi sơn hà.

2. Sự phát triển của nền kinh tế hàng hóa và sự bành trướng của thế lực đồng tiền.

Trong hoàn cảnh chiến tranh, kinh tế vẫn có sự phát triển mạnh mẽ :

- Khẩn hoang lập đất ở đàng trong

- Sự phát triển tiểu thủ công nghiệp ở cả hai đàng

- Sự hình thành các đô thị lớn

- Ngoại thương phát triển nhanh do bắt đầu thiết lập quan hệ buôn bán, trao đổi hàng hóa với các thuyền buôn phương Tây.

Kinh tế hàng hóa phát triển dẫn đến sự bành trướng của thế lực đồng tiền dần dần phá hoại nền tảng truyền thống đạo đức của dân tộc.

3. Về tư tưởng

- Ðạo Nho ngày một suy vi

- Ðạo Phật chấn hưng- Ðạo Lão phát triển

- Sự ra đời của đạo Hoa Lang.

II. TÌNH HÌNH VĂN HỌC

1. Những đặc điểm chung

+ Lực lượng sáng tác nhosĩ bình dân và ẩn dật chiếm đa số.

+ Văn học chữ Nôm phát triển mạnh do:

- Kế thừa những thành tựu của giai đoạn trước

- Hán học suy vi

- Nho sĩ bình dân ẩn dật chiếm đa số

+ Sự xuất hiện của nhiều thể loại mới:

- Lục bát- Truyện thơ Nôm, diễn ca lịch sử

- Song thất lục bát- Khúc ngâm

2. Nội dung chính:

a. Nội dung thù phụng, ca ngợi chính quyền phong kiến

b. Nội dung ca ngợi cảnh đẹp thiên nhiên, đất nước

c. Nội dung tố cáo hiện thực xấu xa thối nát của chính quyền phong kiến đương thời:

Ðây là nội dung tiêu biểu và có giá trị của văn học thời kỳ này. Tập trung vào một số tác giả tiêu biểu như: Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn Dữ, NguyễN Cư Trinh, Ngô Thế Lân, Nguyễn Hàng. Thơ văn họ hoặc tố cáo trực tiếp bản chất xấu xa của chế độ phong kiến hoặc ca ngợi chữ Nhàn như một cách phản kháng gián tiếp. Vì vậy, nội dung này có giá trị hiện thực sâu sắc.

+ Tố cáo nội chiến phong kiến tàn khốc.

+ Tố cáo sự xấu xa, thối nát của bọn vua chúa, quan lại đương thời.

+ Phản ánh sự suy đồi của đạo đức phong kiến do ảnh hưởng của thế lực đồng tiền.

d. Phản ánh số phận bi thảm của con người, nhất là người phụ nữ

đ. Ca ngợi tình yêu tự do, phóng khoáng

Trong hoàn cảnh chế độ phong kiến và Nho giáo ngày một suy vi, văn học bắt đầu đề cập đến những nhu cầu giải phóng tình cảm con người. Các tác giả đã tỏ ra rất táo bạo, nhiệt tình, mới mẻ khi phản ánh, ca ngợi tình yêu, khẳng định hạnh phúc nơi trần thế và đề cao vai trò chủ động của người phụ nữ trong tình yêu (Lâm tuyền kỳ ngộ, Song Tinh bất dạ,..). Những tác phẩm này thể hiện rõ sự phát triển của chủ nghĩa nhân đạo trong văn học

III. NHẬN XÉT CHUNG

Văn học thời kỳ này có giá trị hiện thực và nhân đạo sâu sắc.

View more latest threads same category:

 

Một số vấn ðề chung về văn học trung ðại việt nam

  1.  

MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU VĂN HỌC TRUNG ĐẠI

NHỮNG YÊU CẦU CÓ TÍNH PHƯƠNG PHÁP LUẬN KHI NGHIÊN CỨU VHTĐ

NHỮNG KHÓ KHĂN KHI NGHIÊN CỨU VĂN HỌC TRUNG ĐẠI

CƠ SỞ HỆ Ý THỨC VÀ QUAN ĐIỂM SÁNG TÁC

Cơ sở hệ ý thức:

Về quan niệm sáng tác

PHÂN KỲ LỊCH SỬ VHTĐ

NHỮNG ĐẶC ĐIỂM

Chủ nghĩa yêu nước và chủ nghĩa nhân đạo- hai dòng chủ lưu của VHTÐVN.

Văn học viết phát triển dựa trên những thành tựu của văn học dân gian

Văn học viết phát triển dựa trên cơ sở tiếp thu, tinh lọc những yếu tố tích cực của hệ ý thức nước ngoài

Văn học chữ Hán phát triển song song với văn học chữ Nôm

Thơ phát triển sớm và mạnh hơn văn xuôi.

Việc sử dụng điển tích và các hình ảnh tượng trưng ước lệ- những thủ pháp nghệ thuật được sử dụng phổ biến trong văn chương trung đại

NHẬN XÉT CHUNG VỀ TIẾN TRÌNH VHTĐ

Chương I:

MỘT SỐ VẤN ÐỀ CHUNG VỀ VĂN HỌC TRUNG ÐẠI VIỆT NAM



I. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU VĂN HỌC TRUNG ĐẠI

Xét trong toàn bộ tiến trình văn học dân tộc, văn học trung đại Việt Nam có một vị trí đặc biệt quan trọng, bởi, suốt hàng nghìn năm phát triển, văn học trung đại đã phản ánh được đất nước Việt, con người Việt, đồng thời là ý thức của người Việt về tổ quốc, dân tộc. Nền văn học ấy đã nảy sinh từ chính quá trình đấu tranh dựng nước, giữ nước vĩ đại của dân tộc, đồng thời lại là sức mạnh tham gia vào quá trình đấu tranh này. Chính từ văn học trung đại, những truyền thống lớn trong văn học dân tộc đã hình thành, phát triển và ảnh hưởng rất rõ đến sự vận động của văn học hiện đại. Vì lẽ đó, nghiên cứu văn học trung đại nhằm mục đích:

- Tìm về với quá khứ hào hùng của dân tộc trong một nghìn năm dựng nước và giữ nước

- Nâng cao lòng tự hào về truyền thống văn hóa của dân tộc

- Tìm hiểu những nét đặc sắc trong đời sống vật chất và tinh thần của người Ðại Việt xa xưa

- Góp phần lý giải các quy luật phát triển của văn học dân tộc.

II. NHỮNG YÊU CÂUD CÓ TÍNH PHƯƠNG PHÁP LUẬN KHI NGHIÊN CỨU VHTĐ

- Phải đảm bảo yêu cầu trung thực, khách quan, không võ đoán, phiến diện.

- Phải có lượng kiến thức phong phú về ngôn ngữ, triết học, sử học.. đặc biệt là những hiểu biết về lịch sử và văn chương Trung Quốc.

- Phải đặt văn học trung đại trong mối quan hệ với văn học dân gian và văn học hiện đại để tìm ra sự kế thừa, phát triển.

III. NHỮNG KHÓ KHĂN KHI NGHIÊN CỨU VĂN HỌC TRUNG ĐẠI

- Kho tàng VHTÐ đã mất mát khá nhiều theo thời gian do nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan:

+ Do chiến tranh, loạn lạc, sách vở bị thiêu hủy.

+ Do các vụ án chính trị có dính dáng đến các nho sĩ quan liêu, lực lượng sáng tác chủ yếu của văn học trung đại.

+ Do công tác bảo tồn, sưu tầm tư liệu chưa được quan tâm đúng mức.

- Một số tác phẩm chưa xác định được thời điểm ra đời, tác giả, tính chính xác của văn bản..

- Việc tiếp cận, đánh giá tác phẩm khó tránh khỏi suy diễn, áp đặt do thiếu tư liệu để kiểm chứng.

IV. CƠ SỞ HỆ Ý THỨC VÀ QUAN ĐIỂM SÁNG TÁC

1.Cơ sở hệ ý thức:

VHTÐ được sáng tác dựa trên cơ sở hệ ý thức Nho- Phật- Lão, chủ yếu là đạo Nho. Ảnh hưởng của các học thuyết triết học này đã dẫn đến việc hình thành những nét đặc thù trong quan niệm của con người trung đại về:

+ Bản chất của vũ trụ

+ Không gian và thời gian

+ Thiên nhiên

+ Con người

Những quan niệm này có quan hệ đến việc hình thành những đặc trưng về nội dung và hình thức nghệ thuật của văn chương trung đại. Vì vậy, muốn lý giải những vấn đề thuộc về bản chất của văn chương trung đại, cái hay, cái đẹp của các tác phẩm thời trung đại, tất yếu, phải dựa trên cơ sở những quan niệm nghệ thuật đặc thù về thế giới và đời sống con người ở thời kỳ trung đại.

2. Về quan niệm sáng tác

Văn học viết là sản phẩm của trí thức dân tộc. Ngày xưa, các tầng lớp trí thức luôn chịu ảnh hưởng rõ rệt của Nho học. Từ lâu, Nho gia đã gắn văn với đạo: Văn sở dĩ tải đạo dã. Chu Ðôn Di đời Tống, qua nhận định của mình, thừa nhận một quan niệm rất quan trọng của rất nhiều thế hệ Nho gia trước đó về tính chất và ý nghĩa của văn học. Quan niệm này coi văn là cái hình thức, cái để chứa, để chuyên chở đạo lý. Vì vậy, đạo mới chính là nội dung. Mệnh đề văn dĩ tải đạo và thi ngôn chí có thể khái quát được một cách căn bản quan niệm sáng tác của các nhà văn thời trung đại.

Người xưa đời hỏi tác phẩm phải thực sự chân thành, văn học phải là tiếng nói phát ra từ đáy lòng nhưng nội dung đó phải được thống nhất trong một hình thức đẹp để phục vụ, làm cho nội dung thêm hay.

Do nhận thức rằng văn là dùng để biểu hiện các chân lý phổ biến, là hình thức đẹp để chuyển tải nội dung đi xa (Ngôn nhi vô văn, hành chi bất viễn- Khổng Tử) nên ở thời kỳ trung đại, phạm vi của văn học được quan niệm rất rộng. Từ công việc chép sử, luận triết học, viết chiếu, chế, biểu, cáo, hịch,.. đều trau chuốt hình thức câu văn sao cho ý đẹp lời hay.

Văn dùng để chuyên chở đạo lý nên người xưa rất xem trọng văn chương. Nó có chức năng giáo hóa (giáo dục, làm thay đổi nhân cách của con người theo hướng tốt đẹp hơn) và di dưỡng tính tình (giúp bản thân nhà văn thanh lọc tâm hồn, bày tỏ tâm sự trung quân ái quốc, nuôi dưỡng nhân cách người quân tử).

Nhìn chung, quan niệm Văn chở đạo ảnh hưởng rất rõ đến mục đích viết văn, phạm vi đề tài, hình thức thể hiện. Tuy nhiên, càng tách rời khỏi giáo điều Nho gia, càng gần với thực tế cuộc sống dân tộc, các tác giả trung đại càng phát huy được mặt tích cực của quan niệm đó. Xu hướng này thể hiện rất rõ trong suốt chiều dài phát triển của VHTÐ.

V. PHÂN KỲ LỊCH SỬ VHTĐ

Lịch sử văn học luôn quan hệ mật thiết với vận mệnh dân tộc, đến cuộc đấu tranh dựng nước và giữ nước của dân tộc. Mỗi khi dân tộc bước vào một thử thách mới, lập tức, nội dung văn học cũng phải có sự chuyển biến và dần dần diễn ra những thay đổi về nội dung, hình thức thể hiện.

Lịch sử văn học có những quy luật nội tại và tính độc lập tương đối của nó. Trong từng giai đoạn, có thể không có sự trùng hợp hoàn toàn giữa lịch sử văn học và lịch sử dân tộc nhưng vẫn có thể căn cứ vào lịch sử dân tộc để phân kỳ lịch sử văn học, bởi, xét đến cùng, văn học bao giờ cũng là tấm gương phản ánh trung thành thời đại. Căn cứ vào các yếu tố lịch sử, đặc trưng nội dung và hình thức nghệ thuật, có thể phân kỳ lịch sử VHTÐ VN như sau:

+ Giai đoạn văn học Lý- Trần (Từ TK XI đến TK XIV)

+ Giai đoạn văn học đời Lê (TK XV)

+ Giai đoạn văn học từ TK XVI đến nửa đầu TK XVIII

+ Giai đoạn văn học từ nửa sau TK XVIII đến nửa đầu TK XIX

+ Giai đoạn văn học nửa cuối TK XIX (Văn học yêu nước chống Pháp)

VI. NHỮNG ĐẶC ĐIỂM

1. Chủ nghĩa yêu nước và chủ nghĩa nhân đạo- hai dòng chủ lưu của VHTÐVN.

a. Chủ nghĩa yêu nước:

Văn hóa Ðại Việt, văn chương Ðại Việt khởi nguồn từ truyền thống sản xuất và chiến đấu của tổ tiên, từ những thành tựu văn hóa và từ chính thực tiễn hàng nghìn năm đấu tranh chống giặc ngoại xâm phương Bắc.

Hiếm thấy một dân tộc nào trên thế giới lại phải liên tục tiến hành những cuộc chiến tranh chống giặc ngoại xâm như dân tộc Việt Nam. Nhà Tiền Lê, nhà Lý chống Tống. Nhà Trần chống Nguyên Mông. Nhà Hậu Lê chống giặc Minh. Quang Trung chống giặc Thanh. Những cuộc kháng chiến vệ quốc vĩ đại được tiến hành trong trường kỳ lịch sử nhằm bảo vệ nền độc lập, thống nhất của Tổ quốc không những tôi luyện bản lĩnh dân tộc, nâng cao lòng tự hào, tự tin, khí thế hào hùng của dân tộc mà còn góp phần làm nên một truyền thống lớn trong văn học Việt Nam: Chủ nghĩa yêu nước.

Ðặc điểm lịch sử đó đã quy định cho hướng phát triển của văn học là phải luôn quan tâm đến việc ca ngợi ý chí quật cường, khát vọng chiến đấu, chiến thắng, lòng căm thù giặc sâu sắc, ý thức trách nhiệm của những tấm gương yêu nước, những người anh hùng dân tộc quên thân mình vì nghĩa lớn. Có thể nói, đặc điểm này phản ánh rõ nét nhất mối quan hệ biện chứng giữa lịch sử dân tộc và văn học dân tộc.

Quá trình đấu tranh giữ nước tác động sâu sắc đến sự phát triển của văn học, bồi đắp, phát triển ý thức tự hào dân tộc, tinh thần độc lập tự chủ. Cho nên, chế độ phong kiến có thể hưng thịnh hay suy vong nhưng ý thức dân tộc, nội dung yêu nước trong văn học vẫn phát triển không ngừng.

Các tác phẩm văn học yêu nước thời kỳ này thường tập trung thể hiện một số khía cạnh tiêu biểu như:

- Tình yêu quê hương

- Lòng căm thù giặc

- Yï thức trách nhiệm

- Tinh thần vượt khó, sẵn sàng hy sinh vì Tổ quốc

- Ý chí quyết chiến, quyết thắng

- Ðề cao chính nghĩa của người Việt Nam trong những cuộc kháng chiến.

b. Chủ nghĩa nhân đạo

Văn học do con người sáng tạo nên và tất yếu nó phải phục vụ trở lại cho con người. Vì vậy, tinh thần nhân đạo là một phẩm chất cần có để một tác phẩm trở thành bất tử đối với nhân loại. Ðiều này cũng có nghĩa là, trong xu hướng phát triển chung của văn học nhân loại, VHTÐVN vẫn hướng tới việc thể hiện những vấn đề của chủ nghĩa nhân đạo như:

- Khát vọng hòa bình

- Nhận thức ngày càng sâu sắc về nhân dân mà trước hết là đối với những tầng lớp thấp hèn trong xã hội phân chia giai cấp

- Ðấu tranh cho hạnh phúc, cho quyền sống của con người, chống lại ách thống trị của chế độ phong kiến.

- Ca ngợi vẻ đẹp của con người lao động

- Tố cáo mạnh mẽ và đấu tranh chống những thế lực phi nhân.

2. Văn học viết phát triển dựa trên những thành tựu của văn học dân gian

- Văn học viết Việt Nam hay bất kỳ một nền văn học dân tộc nào khác đều phải phát triển trên cơ sở kế thừa những tinh hoa của văn học dân gian. Trong tình hình cụ thể của VHTÐVN, mối quan hệ giữa văn học viết và văn học dân gian chủ yếu là do các nguyên nhân sau:

+ Sau khi nước nhà độc lập, nhu cầu thiết yếu mà nhà nước phong kiến Việt Nam cần phải chú ý là việc xây dựng một nền văn hóa mang đậm bản sắc dân tộc, chống lại âm mưu bành trướng, đồng hóa của kẻ thù phương Bắc và nâng cao lòng tự hào dân tộc.

+ Những tác phẩm bằng chữ Hán trong thời kỳ này thường dễ xa lại với quần chúng bình dân, tác phẩm ít được truyền tụng rộng rãi. Vì vậy, càng về sau, nhu cầu quần chúng hóa, dân tộc hóa tác phẩm ngày càng mạnh mẽ. Trong quá trình giải quyết vấn đề này, chỉ có văn học dân gian là nhân tố tích cực nhất.

Quá trình kế thừa, khai thác VHDG là một quá trình hoàn thiện dần các yếu tố tinh lọc từ VHDG bắt đầu từ thơ ca Nguyễn Trãi về sau (Thời Lý- Trần, việc tiếp thu nguồn VHDG chưa được đặt ra đúng mức).

+ Văn học viết tiếp thu từ văn học dân gian chủ yếu là về đề tài, thi liệu, ngôn ngữ, quan niệm thẩm mỹ, chủ yếu là khía cạnh ngôn ngữ và thể loại.

+ Trong quá trình phát triển, hai bộ phận luôn có mối quan hệ biện chứng, tác động, bổ sung lẫn nhau để cùng phát triển (Những tác động trở lại của văn học viết đối với văn học dân gian.

3. Văn học viết phát triển dựa trên cơ sở tiếp thu, tinh lọc những yếu tố tích cực của hệ ý thức nước ngoài

- Sự du nhập của các học thuyết vào Việt Nam chủ yếu do các nguyên nhân sau:

+ Vấn đề giao lưu văn hóa giữa các dân tộc là một vấn đề mang tính quy luật. Từ xưa, nước ta và các vùng phụ cận đã có sự giao lưu văn hóa nhưng chỉ trong phạm vi hẹp, chủ yếu là từ Trung Quốc sang.

+ Hơn 1000 năm bắc thuộc, dân tộc ta không tránh khỏi bị ảnh hưởng bởi sự bành trướng văn hóa và nhất là âm mưu đồng hóa của kẻ thù. Những tên quan lại phương Bắc sang đô hộ Việt Nam không chỉ bóc lột, vơ vét tài nguyên mà còn truyền bá rộng rãi các học thuyết triết học có nguồn gốc từ Trung Quốc vào Việt Nam một cách khéo léo và thâm hiểm.

+ Khi nhà nước phong kiến VN bắt đầu hình thành, giai cấp thống trị không có mẫu mực nào khác hơn là nhà nước PK TQ đã tồn tại trước đó hàng nghìn năm và có rất nhiều kinh nghiệm trong việc lợi dụng các học thuyết triết học như một công cụ đắc lực trong việc củng cố ngai vàng, thống trị nhân dân.

- Các học thuyết Nho- Phật- Lão đều có những điểm tích cực nhất định nên các nhà tư tưởng lớn của Việt Nam thời Trung đại đã chú ý khai thác, tinh lọc, vận dụng sao cho nét tích cực đó phát huy tác dụng trong hoàn cảnh cụ thể của từng giai đoạn lịch sử.

4. Văn học chữ Hán phát triển song song với văn học chữ Nôm

Ngay từ khi được các nhà văn mạnh dạn đưa vào sáng tác văn học, chữ Nôm ngày càng khẳng định vị trí của mình bên cạnh chữ Hán vốn đã có ảnh hưởng sâu sắc trong văn học thời Lý Trần.

Sự phát triển của Văn học chữ Nôm khẳng định ý thức dân tộc phát triển ngày càng cao, biểu hiện lòng tự hào, ý thức bảo vệ ngôn ngữ, văn hóa dân tộc chống lại âm mưu đồng hóa của kẻ thù.

Ở thời Lý, Trần, việc sử dụng chữ Nôm trong sáng tác văn học chưa được phổ biến.

Từ thế kỷ XV về sau, Nguyễn Trãi đã mạnh dạn đưa chữ Nôm vào sáng tác văn học. Thơ ông tuy chưa được trau chuốt nhưng đậm đà bản sắc dân tộc.Thành công của Nguyễn Trãi chính là tiền đề cho con đường phát triển của văn học chữ Nôm đến đỉnh cao Truyện Kiều.

5. Thơ phát triển sớm và mạnh hơn văn xuôi.
Ở thời trung đại, văn chính luận mang tính quan phương chủ yếu là công cụ của nhà nước phong kiến. Mặt khác, những đặc thù trong tư duy nghệ thuật, truyền thống sáng tác dẫn đến một thực tế là các tác phẩm văn xuôi hình tượng chỉ chiếm một số lượng khiêm tốn so với các tác phẩm thơ ca.

Thể thơ thường sử dụng nhất trong VHTÐ là thơ Ðường luật. Ðây là hệ quả của quá trình giao lưu văn hóa lâu dài và nằm trong quan niệm thẩm mỹ của các nhà thơ cổ điển. Trong thời kỳ này, thơ Ðường luật đã được chính quy hóa trong văn chương trường ốc và văn chương cử tử. Cho nên, sự thống trị văn đàn của thơ Ðuờng luật trong bất kỳ một tập thơ nào thời trung đại là một điều dễ hiểu.

Tuy nhiên, việc sử dụng thơ Ðường luật với tư cách là một thể thơ chính thống trong các kỳ thi và trong sáng tác đã gây không ít trở ngại trong nội dung thể hiện do bị chi phối bởi sự ngặt nghèo của luật thơ chặt chẽ.

Ở thời Nguyễn Trãi, thơ luật Ðường biến thể thành thơ thất ngôn xen lục ngôn đầy sáng tạo, độc đáo, phóng khoáng, rất phù hợp với cách nghĩ, cách nói, tâm lý của dân tộc nên được một số nhà thơ đời sau tiếp tục sử dụng (Lê Thánh Tông, Nguyễn Bỉnh Khiêm).

6. Việc sử dụng điển tích và các hình ảnh tượng trưng ước lệ- những thủ pháp nghệ thuật được sử dụng phổ biến trong văn chương trung đại

Ðể miêu tả, người ta cho rằng cần phải có những mẫu mực mà qua nhiều thời kỳ đã được mặc nhiên chấp nhận sử dụng. Quan điểm ước lệ không chú ý đến logic đòi sống, đến mối quan hệ thực tế của các hình ảnh mang tính chất mẫu mực, công thức. Vì thế, khi phân tích các hình ảnh ước lệ, chúng ta không cần đặt vần đề có lý hay không có lý, đúng hay không đúng thực tế mà chỉ xem xét sức mạnh khơi gợi của hình tượng có sâu sắc hay không, hình tượng có được dùng đúng tình đúng cảnh và thể hiện được tư tưởng tình cảm của nhà thơ hay không.

VII. NHẬN XÉT CHUNG VỀ TIẾN TRÌNH VHTĐ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

I. CÁC GIÁO TRÌNH

1. Lịch sử văn học Việt Nam, tập II- NXB Giáo Dục- 1978

2. Lịch sử văn học Việt Nam tập I- Uỷ ban Khoa học xã hội Việt Nam- 1984

3. Văn học Việt Nam (Thế kỷ thứ X đến nửa đầu thế kỷ XVIII) tập I- Ðinh Gia Khánh, Bùi Duy Tân, Mai Cao Chuơng- NXB ÐH & THCN- 1992.

4. Văn học Việt Nam (Thế kỷ X đến nửa đầu thế kỷ XVIII) (Tái bản có bổ sung)- Ðinh Gia Khánh, Bùi Duy Tân, Mai Cao Chương- NXB Giáo Dục- 1997.

II. CÁC TÀI LIỆU THAM KHẢO BỔ SUNG.

1. Các nhà thơ cổ điển Việt Nam (Tập I và II)- Xuân Diệu- NXB Văn học 1986.

2. Những phạm trù văn hóa trung cổ- Gurêvich- NXb Giáo dục- 1996

3. Văn học Lý Trần, nhìn từ góc độ thể loại- NXB Giáo dục- 1996

4. Tư tưởng phương Ðông gợi những điểm nhìn tham chiếu- Cao Xuân Huy- NXb Văn học- 1995

5. Tư tưởng văn học Trung Quốc cổ xưa- Lixêvich- Trường ÐHSP TPHCM- 1993

6. Thơ Việt Nam- Thơ Nôm Ðường luật- Hà Xuân Liêm- NXB Văn học- 1997

7. Góp phần xác lập hệ thống quan niệm văn học trung đại- Phương Lựu- NXB Giáo dục- 1997.

8. Thơ ca cổ điển Việt Nam, một số vấn đề về hình thức và thể loại- Lê Hoài Nam- Bộ Giáo dục và đào tạo, Vụ giáo dục phổ thông, 1994

9. Những thế giới nghệ thuật thơ- Trần Ðình Sử- NXB Giáo dục- 1997

10. Lý luận văn học nghệ thuật cổ điển Trung Quốc- Khâu Chấn Thanh- NXB Giáo dục- 1994

11. Ðặc trưng văn học trung đại Việt Nam- Lê Trí Viễn- NXB Giáo dục- 1996

12. Các sách tham khảo có liên quan đến những tác gia văn học trung đại (Nguyễn Trãi, Lê Thánh Tông, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn Dữ,..), hoặc những giai đoạn của văn học trung đại (Giai đoạn văn học Lý- Trần, văn học thời khởi nghĩa Lam Sơn..), các hội sáng tác văn thơ (Hội Tao đàn, Nhóm Chiêu Anh các ở Hà Tiên,..).

View more latest threads same category:

( Nguồn: http://www.cuongvan.com/showthread.php?t=17582 ).

 

33