DMCA.com Protection Status

Những kiến thức cơ bản về giáo dục học- (P1 & P3)  quan tâm

Được đăng bởi: Trần Việt Thao

Cập nhật lúc 09:44 ngày 17/01/2018

Những kiến thức cơ bản về giáo dục học- (P1 & P3)

( Nguồn: http://giaoduchoconline.com/nhung-kien-thuc-co-ban-ve-giao-duc-hoc ).

Phần I: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG CỦA GIÁO DỤC HỌC

1. Giáo dục là hiện tượng đặc trưng của xã hội loài người

+ Hiện tượng xã hội: Là hiện tượng nảy sinh, tồn tại và phát triển trong xã hội loài người, nó phản ánh những mối quan hệ, những dạng hoạt động khác nhau của con người.

+ Cùng với sự xuất hiện xã hội loài người cũng đồng thời xuất hiện hiện tượng: Người lớn dạy cho trẻ em những gì họ đã tích lũy, ngược lại, trẻ em học ở người lớn những điều đó. Lúc đầu công việc này được thực hiện tự phát, sau đó được tổ chức một cách tự giác, ta gọi đó là hiện tượng GD.

+ Dấu hiện bản chất của hiện tượng này: Được thể hiện ở “Sự truyền đạt và lĩnh hội kinh nghiệm xã hội- lịch sử”. Chủ thể của sự truyền đạt là thế hệ đi trước; chủ thể của sự lĩnh hội là thế hệ đi sau; nội dung của truyền đạt là kinh nghiệm xã hội-  lịch sử.

+ Kinh nghiệm xã hội: Là một hệ thống những tri thức, hệ thống phương thức, cách thức tiến hành hành động, hệ thống thái độ trong việc đánh giá cảm xúc, giá trị đối với nền văn hóa do con người sáng tạo ra trong tiến trình lịch sử.

-         Đối với cá nhân: Nhờ sự truyền đạt và lĩnh hội kinh nghiệm xã hội- lịch sử mà mỗi cá nhân có thể tái tạo ra năng lực người cho bản thân, nhờ đó có sự phát triển tâm lý, ý thức và phát triển nhân cách.

-         Đối với XH: Nhờ sự truyền đạt và lĩnh hội này mà thế hệ đi sau có thể bảo tồn và phát triển nền văn hóa. Như vậy, một XH muốn tồn tại và phát triển thì XH ấy phải thực hiện chức năng GD. Đây chính là một tính quy luật của sự phát triển, tiến bộ XH.

Kết luận:Với dấu hiệu bản chất nêu trên, GD được coi là một hiện tượng XH vì nó nảy sinh, tồn tại và phát triển cúng với XH loài người. Nó là một hoạt động mang tính tất yếu và vĩnh hằng. Ở đâu có XH là ở đó có GD, GD tồn tại mãi mãi với XH loài người. Đây là hiện tượng chỉ có ở XH loài người, không tồn tại ở các loài động vật khác.

2. GDH là một khoa học

2.1. Sự ra đời và phát triển của GDH (xemina)

2.2. Đối tượng và nhiệm vụ của GDH

2.2.1. Đối tượng của GDH

Đối tượng của GDH là quá trình GD toàn vẹn, hiện thực, có mục đích, được tổ chức trong một xã hội nhất định. QTGD như vậy được hiểu theo nghĩa rộng là quá trình hình thành nhân cách, được tổ chức một cách có mục đích, có kế hoạch, căn cứ vào những mục đích, những điều kiện do XH quy định, được thực hiện thông qua sự phối hợp hành động giữa nhà G và người được GD nhằm giúp cho người được GD chiếm lĩnh kinh nghiệm xã hội của loài người.

2.2.2. Nhiệm vụ của GDH

- Giải thích nguồn gốc phát sinh, phát triển và bản chất của hiện tượng GD; phân biệt các mối quan hệ có tính quy luật và ngẫu nhiên; tìm ra các quy luật chi phối QTGD để tổ chức chúng đat hiệu quả tối ưu.

- Nghiên cứu dự báo tương lai gần và tương lai xa của GD, nghiên cứu xu thế phát triển và mục tiêu chiến lược của GD trong mỗi giai đoạn phát triển của XH để xây dựng chương trình GD- ĐT.

- Nghiên cứu XD các lý thuyết GD mới, hoàn thiện các mô hình GD, DH, phân tích kinh nghiệm GD, tìm ra con đường ngắn nhất và các phương pháp, phương tiện GD mới nhằm nâng cao hiệu quả GD.

2.3. Một số khái niệm của GDH

- Giáo dục (theo nghĩa rộng): Là quá trình tác động có mục đích, có tổ chức, có kế hoạch, có ND và bằng PPKH của nhà GD tới người được GD trong các cơ quan GD nhằm hình thành nhân cách cho họ.

- Giáo dục (theo nghĩa hẹp): Là quá trình hình thành cho người được GD lý tưởng, động cơ, tình cảm, niềm tin, những nét tính cách của nhân cách, những hành vi, thói quen cư xử đúng đắn trong XH thông qua việc tổ chức cho họ các hoạt động và giao lưu.

- Dạy học: Là quá trình tác động qua lại giữa người dạy và người học nhằm giúp người học lĩnh hội những tri thức khoa học, kỹ năng hoạt động nhận thức và thực tiễn, phát triển các năng lực hoạt động sáng tạo, trên cơ sở đó hình thành thế giới quan và các phẩm chất nhân cách của người học theo mục đích GD.

( Tham khảo thêm các khái niệm khác trong giáo  trình)

2.4. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu GDH

2.4.1. PP luận nghiên cứu GDH

- Quan điểm duy vật biện chứng

- Quan điểm lịch sử – logic

- Quan điểm thực tiễn

- Quan điểm hệ thống.

2.4.2. Các PP nghiên cứu GDH

a) Các PP nghiên cứu lý thuyết, gồm:

- PP phân tích và tổng hợp lý thuyết

- PP mô hình hóa

b) Các PP nghiên cứu thực tiễn, gồm:

- PP quan sát

- PP trưng cầu ý kiến bằng phiếu hỏi

- PP phỏng vấn

- PP tổng kết kinh nghiệm GD

- PP thực nghiệm sư phạm

- PP nghiên cứu sản phẩm hoạt động sư phạm

- PP chuyên gia.

c) PP sử dụng toán thống kê

2.5. Hệ thống các KHGD và mối quan hệ của chúng với các KH khác (Đọc tài liệu và xemina).

1. Tính quy định của kinh tế- xã hội đối với GD

Sự vận động và phát triển của GD bao giờ cũng chịu sự quy định của những điều kiện kinh tế- chính trị- văn hóa – xã hội của đất nước trong những điều kiện lịch sử cụ thể. Do vậy, GD luôn mang tính lịch sử cụ thể và mang tính giai cấp trong XH có giai cấp. Đây là hai tính chất quan trọng của GD, hai tính chất này là biểu hiện tính quy định của XH đối với GD.

1.1. Tính lịch sử của GD:
GD trong mỗi giai đoạn phát triển của lịch sử loài người là khác nhau. Mỗi quốc gia độc lập phải có một nền GD tương ứng. Một mặt, phát triển theo xu hướng phát triển chung của nền GD nhân loại. Mặt khác, nó phải giữ gìn và phát huy được bản  sắc văn hóa của dân tộc. Tính lịch sử cụ thể còn được phản ánh trong mỗi giai đoạn phát triển của quốc gia đòi hỏi phải có một nền GD tương ứng, phù hợp về mục đích GD, về cơ cấu để có thể đáp ứng tốt nhất yêu cầu phát triển XH đặt ra. Đây cũng chính là lý do để tiến hành các cuộc cải cách GD.
* Kết luận: Trong quá trình xây dựng và phát triển GD phải khắc phục 2 khuynh hướng:

- Khuynh hướng 1: Nóng vội, chủ quan, tức là phát triển GD không tính đến các ĐK đảm bảo.
- Khuynh hướng 2: Máy móc trong việc áp dụng những kinh nghiệm, mô hình GD ở các nước khác. Trong quá trình xây dựng và phát triển GD, cần phải có những điều chỉnh cho phù hợp với yêu cầu của XH.

1.2. Tính giai cấp của xã hội

GD bao giờ cũng được sử dụng như một công cụ, một phương tiện để đấu tranh giai cấp. Mục đích GD bao giờ cũng phản ánh tập trung lợi ích của giai cấp thống trị XH, sự vận động và phát triển của GD baoin giờ cũng chịu sự tác động trực tiếp của một định hướng chính trị XH.

GD Việt Nam cũng có tính giai cấp, điều đó được thể hiện MĐGD phục vụ lợi ích giai cấp lãnh đạo XH (giai cấp công nhân), mà lợi ích của giai cấp này phù hợp với đại đa số nhân dân lao động. Vì vậy GD được coi là phúc lợi của toàn dân.

* Kết luận: Trong xây dựng và phát triển GD phải đảm bảo tính giai câp của nó. Trong điều kiện của Viêt Nam thì việc đảm bảo tính giai cấp được thể hiện ở sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước, làm chủ của nhân dân trong lĩnh vực GD.

2. Các chức năng XH của GD

Với tư cách là hiện tượng XH nên GD có khả năng tác động đến những hiện tượng và quá trình XH khác. Sự tác động này dưới góc độ XH học là chức năng XH của GD. Như vậy GD tác động đến XH thông qua việc thực hiện các chức năng của mình, đó là:

2.1. Chức năng kinh tế- sản xuất

Nói GD có chức năng này có nghĩa là GD có khả năng tác động tới quá trình sản xuất XH và góp phần làm tăng trưởng kinh tế quốc gia. Điều này thể hiện ở chỗ GD thông qua đào tạo đã giúp cho mỗi cá nhân tái tạo ra năng lực người, phát huy sức mạnh thể chất và tinh thần bản thân. Qua đó, GD cung cấp cho XH một đội ngũ những người lao động có chất lượng.

Xu hướng phát triển của XH hiện đại là áp dụng những thành tựu KHKT vào thực tiễn sản xuất. Ngày nay, KHKT đã trở thành một lựa lượng sản xuất trực tiếp, và GD chính là con đường thuận lợi để phổ biến KH.

Để thực hiện tốt chức năng này, GD phải tập trung thực hiện những yêu cầu cơ bản sau:

-         GD phải gắn với thực tiễn XH, đáp ứng nguồn nhân lực theo yêu cầu phát triển KT- SX trong từng giai đoạn cụ thể.

-         XD nền GDQD cân đối, đa dạng nhằm thực hiện 3 mục tiêu: Nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài.

-         Hệ thống GDQD không ngừng đổi mới ND, PP, phương tiện…

2.2. Chức năng tư tưởng- chính trị

Nói GD có chức năng này có nghĩa là GD có khả năng tác động tới các giai cấp, các nhóm, các giai tầng trong XH, góp phần làm thay đổi tính chất, cơ cấu của chúng, làm cho quan hệ sản xuất ngày càng trở nên cần thiết, thể hiện như sau:

-         Thông qua việc nâng cao trình độ học vấn cho cá nhân, GD đã tạo điều kiện cho mỗi người có thể chuyển đổi giai cấp. Chính điều đó đã tác động đến cơ cấu giai cấp và nhóm xã hội sẽ thay đổi.

-         Bằng việc nâng cao dân trí, GD tác động đến từng thành viên của giai cấp, của các nhóm XH và thông qua những thành viên này làm cho giai cấp tiếp cận được với văn minh chung của nhân loại.

-         Cũng thông qua việc nâng cao dân trí, GD nâng cao nhận thức của công dân, tạo điều kiện để họ có hành vi đúng trong quan hệ ứng xử, nhờ đó mà quan hệ giữa con người với con người ngày càng trở nên thuần khiết hơn.

2.3. Chức năng văn hóa- xã hội

GD có tác dụng to lớn trong việc xây dựng một hệ tư tưởng chi phối toàn dân, xây dựng một lối sống phổ biến trong toàn XH. Trình độ văn hóa của XH thông qua phổ cập GD ngày càng được nâng cao dần, qua đó mà tạo ra nguồn nhân lực đông đảo với chất lượng cao, đồng thời có điều kiện phát hiện và bồi dưỡng nhân tài.

(“Một dân tộc không được GD- dân tộc đó sẽ bị loài người đào thải, một cá nhân không được GD- cá nhân đó sẽ bị xã hội loại bỏ- A.Toffer).

*** Kết luận chung:

-         GD thông qua các chức năng của mình đã tác động sâu sắc và toàn diện tới các lĩnh vực khác nhau của đời sống XH. Điều này khẳng định GD là nhân tố, là động lực quan trọng thúc đẩy sự phát triển XH.

-         Nhận thức rõ vai trò của GD với sự phát triển XH nên Đảng và Nhà nước ta đã có quan điểm PT GD rất đúng đắn là: “Coi GD-ĐT là quốc sách hàng đầu”; “Đầu tư cho GD là đầu tư cho PT”; “GD vừa là mục đích, vừa là động lực cho sự PT XH”.

3. XH hiện đại và những thách thức đặt ra cho GD

3.1. Đặc điểm của XH hiện đại

- Cuộc cách mạng khoa học, công nghệ đang diễn ra như vũ bão

- Xu thế toàn cầu hóa

- Phát triển nền kinh tế tri thức.

3.2. Những thách thức đặt ra cho GD

Theo UNESCO, những vấn đề mà GD phải đương đầu giải quyết hiện nay là:

-         Mối quan hệ giữa toàn cầu và cục bộ

-         Mối quan hệ giữa toàn cầu và  cá thể có văn hóa của nhân loại, văn hóa của từng dân tộc, từng khu vực, đồng thời phải tôn trọng và tạo điều kiện phát triển cá tính cho từng con người.

-         Mối quan hệ giữa truyền thống và hiện đại

-         Mối quan hệ giữa cách nhìn dài hạn và ngắn hạn

-         Mối quan hệ giữa sự cạnh tranh và bình đẳng

-         Mối quan hệ giữa sự tăng vô hạn của tri thức và khả năng tiếp thu tri thức của con người.

-         Mối quan hệ giữa vật chất và tinh thần.

4. Xu thế phát triển GD thế kỷ XXI và định hướng phát triển GD

4.1. Xu thế phát triển GD

- Nhận thức mới GD là sự nghiệp hàng đầu của quốc gia

- XH hóa GD

- GD suốt đời

- Áp dụng sáng tạo công nghệ thông tin vào GD

- Đổi mới mạnh mẽ quản lý GD

- Phát triển GD ĐH.

4.2. Định hướng PT GD thế kỷ XXI

- GD thường xuyên, liên tục, suốt đời, XD một XH học tập

- GD không chỉ dạy để cho có học vấn mà phải thực hành, thực nghiệm để có tay nghề, để có thể lao động được ngay khi bước vào cuộc sống.

- PT GD phải gắn với PT KT- XH, chú ý đặc biệt đến GD hướng nghiệp.

- GD trẻ em trước tuổi đến trường phải là mục tiêu lớn trong chiến lược PT GD

- GV cần được đào tạo để trở thành những nhà GD

- GD là quyền cơ bản của con người và cũng là giá trị chung nhất của nhân loại

- GD chính quy và không chính quy đều phải phục vụ XH

- Các chính sách GD phải phối hợp hài hòa: công bằng, thích hợp và chất lượng

- Cải cách GD phải xem xét và hiểu biết kỹ lưỡng thực tiễn, chính sách và các ĐK đảm bảo.

- Phải có cách tiếp cận GD thích hợp với từng vùng, từng quốc gia.

- GD là trách nhiệm của toàn XH, của tất cả mọi người.

5. Các quan điểm chỉ đạo PT GD ở Việt Nam

- GD là quốc sách hàng đầu, PT GD là nền tảng, tạo ra nguồn chất lượng cao, là một trong những động lực thúc đẩy sự nghiệp CNH-HĐH, là yếu tố cơ bản để PT XH, tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững

- XD nền GD có tính nhân dân, dân tộc, khoa học, hiện đại theo định hướng XHCN, lấy CH Mác-Leenin và tư tưởng Hồ CHí Minh làm nền tảng. Thực hiện công bằng XH trong GD, tạo cơ hội để ai cũng được học hành. Nha nước và XH có cơ chế, chính sách giúp đỡ người nghèo học tập, khuyến khích những người học giỏi phát triển tài năng

- PT GD phải gắn với nhu cầu PT KT-XH, tiến bộ KHCN, củng cố quốc phòng, an ninh, đảm bảo sự hợp lý về cơ cấu trình độ, cơ cấu nghành nghề, cơ cấu vùng miền, mở rộng quy mô trên cơ sở đảm bảo chất lượng và hiệu quả, kết hợp giữa đào tạo và sử dụng. Thực hiện nguyên lý học đi đôi với hành, GD kết hợp với lao động sản xuất, lý luận gắn liền với thực tiễn, GD nhà trường kết hợp với GD gia đình và XH

- GD là sự nghiệp của Đảng, Nhà nước và của toàn dân, XD XH học tập, tạo điều kiện cho mọi người, wor mọi lứa tuổi, mọi trình độ được học thường xuyên, học suốt đời. Nhà nước giữ vai trò chủ đạo trong PT GD

- Khắc phục tình trạng bất cập trên nhiều lĩnh vực.

1. Khái niệm con người, nhân cách và sự PT nhân cách
1.1. Khái niệm con người
* Là một thực thể thống nhất giữa yếu tố tự nhiên và XH.

- Mặt tự nhiên của con người thể hiện ở chỗ con người có nguồn gốc từ động vật, con người chịu sự tác động của quy luật tự nhiên.

- Mặt XH của con người: Con người tồn tại trong mối quan hệ, liên hệ với người khác tạo ra hình thức tồn tại đặ trưng của con người, đó là XH.

Mặt khác, con người còn có khả năng chế tạo và sử dụng công cụ lao động. Vì vậy, con người tạo ra được những phương thức, những điều kiện thỏa mãn nhu cầu của mình.

Vậy con người được hiểu là chủ thể sáng tạo XH, lịch sử, chính trong quá trình đó con người đã biến đổi bản thân mình. Ta khẳng định con người là có bản chất XH, như C.Mac đã nói: “Bản chất con người là tổng hòa của các mối quan hệ XH”.

- Sự thống nhất giữa mặt tự nhiên và XH của con người:

+ Nhờ có cái tự nhiên mới có cái XH

+ Cái XH trong con người khiến cho yếu tố tự nhiên có chất lượng mới.

* Con người có thể được xem xét ở những góc độ và bình diện khác nhau:

+ Cá thể: Để chỉ con người khi xem xét con người với loài khác

+ Cá nhân: Chỉ con người khi xem xét con người trong quan hệ với người khác, với nhóm cộng đồng

+ Nhân cách: Để chỉ con người với tư cách là chủ thể hoạt động.

1.2. Khái niệm nhân cách

Là tổ hợp những đặc điểm của cá nhân, nó quy định hành vi XH và giá trị XH của con người đó.

1.3. Khái niệm sự phát triển nhân cách

Là quá trình cải biến một cách sâu sắc và toàn diện những sức mạnh thể chất và tinh thần của con người diễn ra theo quy luật tích lũy về lượng, biến đổi về chất nhằm chuyển hóa cá thể người thành một chủ thể có ý thức trong XH.

- Sự phát triển nhân cách được thể hiện ở cả 3 phương diện:

+ Sự phát triển về thể chất: Được thể hiện ở sự tăng trưởng của cơ thể và sự hoàn thiện các chức năng, các cơ quan trong cơ thể.

+ Sự phát triển về tâm lý: Đó là sự hoàn thiện trong các quá trình tâm lý và sự hoàn thiện các thuộc tính tâm lý mới của cá nhân.

+ Sự phát triển về phương diện XH: Thể hiện ở chỗ cá nhân mở rộng các mqh XH và ở vai trò mới của cá nhân.

2. Các yếu tố ảnh hưởng tới sự hình thành và phát triển nhân cách

2.1. Vai trò của yếu tố di truyền và bẩm sinh

a) Khái niệm

- Di truyền là sự tái tạo ở trẻ em những thuộc tính sinh học có ở cha mẹ, alf sự truyền lại từ cha mẹ đến con cái những đặc điểm và những phẩm chất nhất định đã được ghi lại trong hệ thống gen.

- Bẩm sinh là những thuộc tính sinh học có ngay từ khi trẻ mới sinh ra.

b) Vai trò: Di truyền tạo tiền đề quan trọng cho sự hình thành và phát triển nhân cách con người, thể hiện như sau :

- Con người như là một bộ phận của tự nhiên, khi sinh ra đã tiếp nhận vốn sinh học nhất định được ghi lại đươi hình thức chương trình di truyền những sức mạnh bên trong cơ thể, tồn tại dưới dạng những tư chất và những năng lực. Chương trình mang tính di truyền này trước hết đảm bảo cho loài người tiếp tục tồn tại, đồng thời làm phát triển những hệ giúp cơ thể con người thích ứng với những biến đổi của các điều kiện tồn tại của mình, tạo khả năng cho con người hoạt động có hiệu quả trong một số lĩnh vực nhất định.

- Tuy nhiên, những nhân tố bẩm sinh di truyền mặc dù có vai trò quan trọng trong sự PT nhân cách, nhưng những tính chất được di truyền chỉ đặc trưng cho những lĩnh vực hoạt động hết sức rộng rãi, bao quát, chúng không định hướng vào một lĩnh vực hoạt động hay sáng tạo cụ thể nào. Việc định hướng này là do những điều kiện lịch sử- XH cụ thể và do trình độ phát triển của loại hình hoạt động lao động, nghệ thuật, khoa học nhất định quyết định, đặc biệt là do tính tích cực hoạt động của cá nhân.

* KLSP:

- Các nhà GD nên quan tâm đúng mức đến sức sống vốn có trong bản chất tự nhiên của con người, cần sớm xác định tính chất và phương hướng của những sức sống đó dưới dạng những tư chất để chăm sóc, khai thác, phát huy kịp thời nhằm phát triển tài năng của trẻ.

- Nhận thức đúng đắn vai trò của yếu tố di truyền bẩm sinh đối với sự hình thành và phát triển nhân cách để có thái độ đúng đắn trước những học thuyết sai lầm như thuyết định mệnh do di truyền, thuyết sinh học hóa GD hoặc những chính sách GD không đúng đắn.

2.2. Vai trò của yếu tố môi trường

a) Khái niệm:

Môi trường là hệ thống các hoàn cảnh bên ngoài, các điều kiện tự nhiên và XH xung quanh cần thiết cho hoạt động sống và phát triển của con người.

Có các loại môi trường:

- Môi trường tự nhiên: Bao gồm các ĐK tự nhiên- hệ sinh thái phục vụ cho hoạt động học tập, lao động sản xuất, rèn luyện thể chất và vui chơi giải trí của con người.

- Môi trường XH: Bao gồm môi trường chính trị, môi trường sản xuất- kinh tế, môi trường sinh hoạt XH và môi trường văn hóa.

b) Vai trò:

Trong sự hình thành và phát triển nhân cách, môi trường XH có tầm quan trọng đặc biệt vì nếu không có XH loài người thì những tư chất có tính người cũng không thể phát triển được, cụ thể môi trường có vai trò như sau:

- Sự hình thành và PT nhân cách chỉ có thể được thực hiện trong một môi trường nhất định. Môi trường góp phần tạo nên mục đích, động cơ, phương tiện và điều kiện cho hoạt động giao lưu của cá nhân, nhờ đó cá nhân chiếm lĩnh được các kinh nghiệm xã hội loài người để hình thành và phát triển nhân cách của mình.

- Tuy nhiên, tính chất và mức độ ảnh hưởng của môi trường đối với sự hình thành và phát triển nhân cách còn tùy thuộc vào lập trường,quan điểm, thái độ của cá nhân đối với các ảnh hưởng đó, cũng như tùy thuộc vào xu hướng và năng lực, vào mức độ cá nhân tham gia cải biến môi trường.

* KLSP:

- Trong quá trình GD con người, cần gắn chặt từng bước việc GD, học tập với thực tiễn cải tạo XH

- Trong quá trình hình thành và phát triển nhân cách, cần đánh giá đúng mức vai trò của môi trường, tránh quá đề cao hoặc quá xem nhẹ vai trò của nhân tố này trong sự hình thành và PT nhân cách.

2.3. Vai trò của yếu tố GD

a) Khái niệm (Đã tìm hiểu)

b) Vai trò: GD giữ vai trò chủ đạo đối với sự hình thành và phát triển nhân cách, điều đó được thể hiện ở những mặt sau đây:

- GD là sự tác động có mục đích, có tổ chức, có kế hoạch nhằm thực hiện có hiệu quả các mục đích đã đề ra.

- GD có thể mang lại những tiến bộ mà các nhân tố khác như bẩm sinh- di truyền hoặc môi trường, hoàn cảnh không thể có được.

- GD có tầm quan trọng đặc biệt đối với những người bị khuyết tật, nó có thể bù đắp những thiếu hụt do bệnh tật gây ra cho con người.

- GD còn có thể uốn nắn những phẩm chất tâm lý xấu và làm cho nó phát triển theo chiều hướng mong muốn của XH. Đó chính là hiệu quả của công tác GD lại đối với trẻ em hư và những người phạm pháp.

- Không giống với những nhân tố khác, GD không chỉ thích ứng mà còn có thể đi trước hiện thực và thúc đẩy nó phát triển. Điều đó có giá trị định hướng cho việc xây dựng mô hình nhân cách của con người Việt Nam với tư cách là mục tiêu và động lực của sự PT KT- XH.

Thực tế GD cũng chứng minh rằng: Sự phát triển tâm lý cảu trẻ em chỉ có thể diễn ra một cách tốt đẹp trong những ĐK của GD và DH. Điều đó càng chứng tỏ được tầm quan trọng của GD. GD, DH sẽ tạo nên sự phát triển nhân cách khi trong quá trình ấy, những sức mạnh của bản thân trẻ được thúc đẩy, khi nhu cầu, động cơ, hứng thú của trẻ được chú ý, khi GD và DH phù hợp với những quy luật bên trong của sự PT cá nhân.

* KLSP:

- Những yêu cấu của nhà trường, nàh GD, của môi trường GD xung quanh đề ra cho trẻ phải không ngừng tăng dần mức độ phức tạp và khó khăn. Như vậy mới kích thích được sự PT trí tuệ của trẻ.

- GD và DH một mặt phải dựa trên sự phát triển đã đạt được của học sinh, mặt khác phải đi trước sự phát triển trí tuệ, kéo sự phát triển ấy tiến lên.

- Chú ý kích thích hoạt động học tập của học sinh, thường xuyên tổ chức các hoạt động phong phú cho học sinh tham gia. Chính thông qua hoạt động và giao tiếp ấy mà trẻ ngày càng phát triển về tâm lý, càng nhận thức thế giới một cách sâu sắc hơn.

- Đánh giá đúng mức vai trò của GD trong mối quan hệ với các yếu tố khác.

2.4. Vai trò của hoạt động cá nhân

Con người với tư cách là một sinh thể ở bậc thang tiến hóa cao nhất của sự tiến hóa vật chất, lại là một thực thể XH, là chủ thể lao động, nhận thức và giao lưu. Hoạt động làm cho con người nhận thức được hiện thực, kích thích hứng thú, niềm say mê sáng tạo và làm nảy sinh những nhu cầu mới, những thuộc tính tâm lý mới… Nhờ đó nhân cách được hình thành và phát triển.

Hoạt động cá nhân đóng vai trò quyết định trực tiếp đối với sự hình thành và phát triển nhân cách.

* KLSP:

- Hướng dẫn học sinh sử dụng phối hợp có hiệu quả các loại hình hoạt động khác nhau.

- Giúp học sinh hiểu biết sâu sắc ý nghĩa XH của hoạt động, làm cho ý nghĩa khách quan của hoạt động trở thành cái cần thiết chủ quan của người tham gia hoạt động.

- Coi trọng việc XD nhu cầu, động cơ, mục đích hoạt động cho học sinh.

1. Mục đích và mục tiêu GD

1.1. Khái niệm
a) Mục đích GD: Là một phạm trù cơ bản của GDH, phản ánh trước kết quả mong muốn trong tương lai của quá trình GD, phản ánh trước sản phẩm dự kiến của hoạt động GD. Kết quả đó, sản phẩm đó chính là kiểu nhân cách cần được hình thành ở học sinh cùng với những nét cá tính phong phú của nó; ngoài ra, sản phẩm đó còn là kiểu tập thể được xây dựng cùng với những sắc thái đa dạng của nó.

b) Mục tiêu GD:
MTGD là những tiêu chí, chỉ tiêu, những yêu cầu cụ thể đối với từng khâu, từng nhiệm vụ, từng nội dung quá trình GD phải đạt được sau một hoạt động GD.

MTGD là những bậc thang nối tiếp nhau để dẫn tới MĐGD. Nó là sự cụ thể hóa MĐGD ở các cấp độ khác nhau.

* Ở cấp độ vĩ mô: Đó là mục tiêu chung có tính chất khái quát, phù hợp với yêu cầu của toàn XH và phù hợp với xu thế cảu thời đại.

* Ở cấp độ trung gian: Là MTGD được xác định cho một cấp học, một ngành học hay một trường học.

* Ở cấp độ cá nhân: Là mục tiêu àm cá nhân trong hoạt động GD luôn phấn đấu để đạt tới.

Tóm lại: MĐ, MTGD là hai khái niệm có quan hệ mật thiết với nhau nhưng không phải là một. MTGD là thành phần, là bộ phận cấu thành của MĐGD. Quan hệ giữa MĐ và MT là quan hệ giữa những mong đợi lý tưởng và khả năng hiện thực, giữa các yêu cầu tổng thể và yêu cầu bộ phận của QTGD. Khái niệm MĐ, MT cùng được dung trong một chu trình, đều nói đến kết quả mong muốn đạt được của hoạt động GD, giảng dạy, học tập.

1.2. Một số đặc điểm của MĐ, MTGD

- Là một phạm trù có tính lịch sử

- Phản ánh quan niệm của các thời đại về con người, phản ánh nhận thức của thời đại về các chức năng của GD đối với XH và với con người.

- Là sự hội tụ những yêu cầu về phẩm chất và năng lực đối với thế hệ mới; những yêu cầu về nguồn nhân lực phục vụ cho sự phát triển KT-VH-XH trong từng giai đoạn PT lịch sử nhất định.

- Mang tính giai cấp.

- Mang màu sắc dân tộc

1.3. MĐ, MTGD Việt Nam trong giai đoạn hiện nay

a) Cơ sở xác định

- Xuất phát từ xu hướng phát triển của thời đại

- Xuất phát từ thực tiễn xây dựng và phát triển đất nước hiện nay.

- Căn cứ vào đặc điểm tâm sinh lý lứa tuổi học sinh.

b) MĐ, MTGD Việt Nam hiện nay

b1) MT ở cấp độ tổng quát

* Nâng cao dân trí

+ Khái niệm:

- Dân trí là sự thể hiện trình độ phát triển về đời sống vật chất và tinh thần của người dân trong một quốc gia.

- Trong GD, khi nói đến dân trí người ta chú ý nhiều đến trình độ phát triển GD, trình độ học vấn của người dân.

+ Nâng cao dân trí: Thể hiện ở việc Nhà nước xây dựng và hoàn thiện hệ thống GDQD là để tạo điều kiện cho nhân dân được học tập nhằm xây dựng một XH học tập. GD có mục đích nâng cao dân trí đồng nghĩa với việc nâng cao trình độ học vấn cho nhân dân và hình thành nếp sống văn hóa cho cộng đồng XH.

+ Lý do phải nâng cao dân trí:

- Việc nâng cao dân trí giúp chúng ta tiếp cận được xu thế phát triển chung của thế giới, đủ sức tiếp thu các tri thức KH-CN cần thiết cho sự nghiệp CNH-HĐH đất nước.

- Trên thực tế, mặt bằng dân trí của Việt nam còn rất thấp.

- Trình độ dân trí được nâng cao là cơ sở để thực hiện các mục tiêu GD còn lại.

+ Một số biện pháp:

- GD luôn đổi mới theo hướng “nhân văn hóa, xã hội hóa, đa dạng hóa” với những phương thức thích hợp, từng bước hòa nhập và tiến kịp với trình độ trong khu vực và trên thế giới.

- Cần tiếp tục phổ cập GD ở các bậc học cao hơn.

* Đào tạo nhân lực

+ Khái niệm: Nhân lực là những người đang tham gia hoạt động trực tiếp trong các ngành, các lĩnh vực KT-XH của đất nước.

+ Lý do phải đào tạo nhân lực

- Chất lượng và hiệu quả lao động trong thời đại cách mạng KH-CN luôn phụ thuộc vào trình độ được đào tạo của nguồn nhân lực. Trong khi đó, nhân lực qua đào tạo của Việt nam còn rất ít.

- Đào tạo nhân lực là để đáp ứng nhu cầu, đòi hỏi của các ngành kinh tế.

- Đáp ứng nhu cầu và nguyện vọng của thanh niên là “có việc làm, được làm việc”.

+ Một số biện pháp

- GD phải có phương thức đào tạo nhạy bén, đa dạng, linh hoạt. Hệ thống GDQD cần được điều chỉnh và hoàn thiện để ngày càng phù hợp hơn với yêu cầu đào tạo nhân lực trong giai đoạn mới.

- Nâng cao chất lượng dạy nghề ở các trường, các trung tâm dạy nghề.

- Đào tạo nhân lực phải gắn với việc phân phối, sử dụng lao động nhằm đáp ứng hợp lý và hiệu quả yêu cầu của XH.

* Bồi dưỡng nhân tài

+ Khái niệm: Nhân tài là những người có năng lực trí tuệ đặc biệt, thể hiện ở khả năng trực giác, khả năng phát hiện và giải quyết một cách có hiệu quả các tình huống nảy sinh trong thực tiễn.

+ Lý do phải bồi dưỡng nhân tài

- Người tài là nguyên khí quốc gia

- Người tài tạo cầu nối giữa văn minh dân tộc với văn minh nhân loại.

- Người tài sẽ tạo ra những khâu đột phá trong lĩnh vực KT-KH-CN quốc gia.

+ Một số biện pháp

- Phải trang bị những điều kiện cơ sở vật chất đảm bảo để thực hiện bồi dưỡng nhân tài.

- Có biện pháp kịp thòi phát hiện và bồi dưỡng nhân tài từ những bậc học thấp nhất.

- Phổ cập kiến thức và các PP sáng tạo trong quá trình dạy học để giúp người học rèn luyện trí thông minh, phát triển trí tuệ

- Thành lập các trung tâm đào tạo, phát triển tài năng.

b2) Mục tiêu phát triển nhân cách

Mô hình nhân cách con người Việt Nam trong thời kỳ CNH-HĐH đã được xác định trong nghị quyết Hội nghị lần thé hai BCH TW Đảng khóa VIII như sau:

“ … Xây dựng những con người và thế hệ thiết tha gắn bó với lý tưởng độc lập dân tộc và CNXH, có đạo đức trong sáng, có ý chí kiên cường xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; giữ gìn và phát huy các giá trị văn hóa dân tộc, có năng lực tiếp thu văn hóa nhân loại; phát huy tiềm năng của dân tộc và con người Việt Nam, có ý thức cộng đồng và phát huy tính tích cực của cá nhân, làm chủ tri thức KH và CN hiện đại, có tư duy sáng tạo, có kỹ năng thực hành giỏi, có tác phong công nghiệp, có tính tổ chức kỷ luật, có sức khỏe, là những người xây dựng CNXH vừa “hồng”, vừa “chuyên” như lời căn dặn của Bác Hồ.

Vậy mục tiêu phát triển nhân cách của GDVN trong giai đoạn hiện nay là:

- MTGD VN là đào tạo thế hệ trẻ phát triển nhân cách toàn diện, có đức, có tài, có trí tuệ thông minh, có lý tưởng thẩm mỹ, có sức khỏe dồi dào, sẵn sang thực hiện nghĩa vụ lao động và bảo vệ Tổ quốc, tạ nên nhân cách người Việt Nam vừa truyền thống, vừa hiện đại, phù hợp với xu thế PT chung của thế giới.

- Luật GD (2005) của nước ta cũng quy định như sau: “ MTGD là đào tạo con người VN phát triển toàn diện, có đạo đức, tri thức, sức khỏe, thẩm mỹ và nghề nghiệp, trung thành với lý tưởng độc lập dân tộc và CNXH; hình thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất và năng lực của công dân, đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. 

b3) MT ở cấp độ hệ thống GD

b4) MT ở cấp độ chuyên biệt

( Hai mục tiêu này SV đọc tài liệu và giáo trình để Xemina)

2. Nguyên lý GD

2.1. Khái niệm: Là những luận điểm khái quát mang tầm tư tưởng và có tính quy luật của QTGD (theo nghĩa rộng), chỉ dẫn toàn bộ hệ thống GD và quá trình Sư phạm tổng thể, trong đó có QTDH và QTGD (những bộ phận cấu thành).

2.2. Đặc điểm của nguyên lý GD

- Là tư tưởng GD được khái quát từ bản chất GD

- Được khái quát từ bản chất QTDH

- Được rút ra từ bản chất QTGD

- Là một tư tưởng GD được rút ra từ MĐGD và trở thành phương thức để thực thi MĐGD

- Được rút ra từ kinh nghiệm GD tiên tiến của các nhà trường qua nhiều thời đại.

2.3. Nội dung nguyên lý GD

- Học đi đôi với hành

- GD kết hợp với lao động sản xuất

- Lý luận gắn liền với thực tiễn

- GD nhà trường kết hợp với GD gia đình và ngoài XH.

2.4. Phương hướng quán triệt nguyên lý GD

- XD chương trình GD-ĐT có sự cân đối và phù hợp giữa các môn học

- Quy trình ĐT và GD phải tuân thủ các nguyên tắc chuẩn mực, đảm bảo sự thống nhất giữa các môn.

- Nhà trường phải sử dụng PPDH tích cực, lấy hoạt động của người học làm trung tâm, phát huy vai trò độc lập, tích cực của người học.

- Nhà trường phải tổ chức các cơ sở thực hành, thực nghiệm phù hợp

- Nhà trường cần XD một môi trường GD lành mạnh, phối hợp hiệu quả với các lực lượng GD khác.

Nhà nước, nhà trường cần tạo mọi điều kiện, cơ sở vật chất và tinh thần thuận lợi cho GV và HS dạy và học theo nguyên lý GD.

 1. Khái niệm hệ thống GD
Là tập hợp các loại hình GD (hoặc loại hình nhà trường) được sắp xếp theo một trình tự nhất định theo các bậc học từ thấp (mầm non) đến cao (Đại học và sau Đại học).

2. Nguyên  tắc xây dựng hệ thống GD
2.1. Cơ sở PP luận về xây dựng và phát triển HTGDQD

- Cuộc cách mạng khoa học công nghệ diễn ra như vũ bão

- Xu thế toàn cầu hóa quốc tế

- Cải cách GD đang diễn ra trên quy mô toàn cầu…

2.2. Các nguyên tắc xây dựng HTGD
- Đảm bảo sự phù hợp với trình độ phát triển KT,VH,KH của đất nước và phải có khả năng đáp ứng tốt các mục tiêu của chiến lược phát triển theo giai đoạn của quốc gia.

- Đảm bảo tính định hướng chính trị và sự quản lý của Nhà nước về GD

- Đảm bảo tính mềm dẻo, tính liên tục, liên thông nhằm đáp ứng nhu cầu học tập suốt đời của công dân.

3. Hệ thống GDQD Việt Nam

Tại điều 4 Luật GD thông qua ngày 14/06/2005 như sau:

1. Hệ thống GDQD gồm GD chính quy và GD thường xuyên.

2. Các ạo cấp học và trình độ đào tạo của hệ thống GDQD bao gồm:

a. GD Mầm non có nhà trẻ và mẫu giáo

b. GDPT có Tiểu học, THCS, THPT

c. GD nghề nghiệp có trung cấp chuyên nghiệp và dạy nghề

d. GD ĐH và sau ĐH (Gọi chung là GD ĐH) đào tạo trình độ Cao đẳng, ĐH, trình độ Thạc sĩ, Tiến sĩ.

Phần 2: Lý Luận dạy học

Mục đích – Yêu cầu
* Tri thức: Sinh viên nắm vững những tri thức cơ bản, hiện đại, phù hợp với thực tiễn về lý luận dạy học, cụ thể là:
- Hệ thống các khái niệm cơ bản, nhiệm vụ, bản chất, đặc điểm, động lực, logic của quá trình dạy học.
- Các quy luật cơ bản của quá trình dạy học.
- Nội dung, phương pháp, hình thức tổ chức quá trình dạy học.
* Kỹ năng: Hình thành cho sinh viên những kỹ năng vận dụng  những tri thức lý thuyết đã học vào thực tế học tập, giảng dạy của bản than nhằm đem lại kết quả tốt nhất, đáp ứng yêu cầu của quá trình dạy học.
* Thái độ: Giúp sinh viên có thái độ học tập đúng đắn để hoàn thành tốt nhất các nhiệm vụ học tập, luôn tìm thấy niềm vui trong quá trình tìm tòi, học hỏi tri nhằm thúc đẩy quá trình học tập.

Phần 3: Lý luận giáo dục

Chương 1: Quá trình giáo dục

Chương 2: Nguyên tắc giáo dục

Chương 3: Nội dung giáo dục

Chương 4: Phương pháp giáo dục

Chương 5: Lao động sư phạm của người giáo viên và công tác của GVCN lớp ở trường PT

Chương 6: Tập thể học sinh

1. Khái niệm QTGD

Quá trình GD là quá trình tác động có mục đích, có tổ chức chặt chẽ của nhà GD với người được GD thông qua con đường dạy học và các biện pháp GD chuyên biệt khác nhằm hình thành và phát triển những quan điểm, thế giới quan khoa học, niềm tin, lý tưởng, thái độ, phẩm chất kỹ năng, kỹ xảo và hành vi, thói quen đạo đức.

- Khi đi vào phân tích khái niệm QTGD, chúng ta phải chú ý tới tính 2 mặt của nó:

+ Mặt chủ đạo của nhà GD: Nhà GD thực hiện vai trò chủ đạo của mình thông qua việc định hướng mục đích GD, lựa chọn ND, các PPGD, thống nhất các yếu tố của QTGD.

+ Mặt chủ động, tự giác của người được GD: Người GD không tiếp nhận QTGD một cách thụ động, máy móc, trái lại, họ đáp ứng các tác động GD thông qua hoạt động tích cực của bản thân, chủ động chuyển hóa những yêu cầu GD thành những năng lực và phẩm chất cá nhân.

Qua đó ta thấy rằng QTGD muốn đạt được hiệu quả thì phải có sự kết hợp, thống nhất giữa 2 mặt hoạt động trên.

- QTGD được thực hiện ở gia đình, nhà trường và XH.

2. Cấu trúc của QTGD

- Mục đích GD

- Nhà GD

- Học sinh

- Nội dung GD

- Phương pháp GD

- Kết quả GD.

3. Bản chất của QTGD

- Nét bản chất của QTGD là một quá trình tổ chức cuộc sống, các loại hoạt động và giao lưu phong phú, qua đó làm cho người được GD ý thức đúng đắn và sâu sắc về nội dung chuẩn mực và ý nghĩa XH của việc thực hiện những chuẩn mực đó, giúp họ tích lũy những kinh nghiệm thực tiễn tích cực, có nhu cầu và thói quen hành động đúng đắn trong các mối quan hệ XH, đồng thời giúp họ xây dựng ý thức và năng lực xóa bỏ những tàn dư của các quan hệ cũ và khẳng định những quan hệ mới trong mọi lĩnh vực của cuộc sống.

- QTGD nhất thiết phải chuyển hóa thành quá trình tự GD, có như vậy mới thể hiện được đầy đủ sự tích cực của người được GD đối với những tác động của nhà GD.

4. Đặc điểm của QTGD

4.1. QTGD bao gồm tác động của rất nhiều nhân tố

Bao gồm cả nhân tố khách quan và chủ quan, bên ngoài và bên trong… Đó là ảnh hưởng của các sự kiện kinh tế- chính trị, pháp chế- hành chính, tư tưởng- văn hóa, tâm lý- tập quán… của XH, đoàn thể đang từng ngày từng giờ tác động đến sự hình thành và phát triển nhân cách học sinh. Ngay trong nội bộ nhà trường cũng có rất nhiều tác động ảnh hưởng đến tâm lý học sinh: Giáo viên, nhân viên, bạn bè, tập thể, quy chế, cơ sở vật chất…

4.2. QTGD đòi hỏi thời gian lâu dài mới thu được kết quả

Sở dĩ như vậy vì đó là niềm tin, tình cảm, là thói quen, là động cơ, là hệ thống những hành động và hành vi. Những phẩm chất nhân cách mới chỉ được hình thành sau khi người học đã trải qua một thời kỳ nhận thức, thể nghiệm, tập luyện và cả đấu tranh trong cuộc sống nữa.

4.3. QTGD bao giờ cũng mang tính cụ thể, biến dạng theo từng cá nhân người được GD và theo từng tình huống GD riêng biệt

Mỗi học sinh đều có những kinh nghiệm và thói quen riêng đã được hình thành từ tuổi thiếu niên, và trong bản thân mỗi người cũng đã có những niềm tin riêng. Nếu nhà GD không tính đến “cái vốn” nhân cách cụ thể của từng người học thì không thể biến yêu cầu khách quan của XH thành yêu cầu của bản thân người học, thành “cái vốn” XH của cá nhân họ được.

4.4. QTGD mang tính biện chứng rất cao

Đó là một quá trình biến động và phát triển không ngừng về nội dung, PP và hình thức tổ chức QTGD sao cho phù hợp với đối tượng GD là những con người đang trưởng thành, đang phát triển trong những điều kiện và hoàn cảnh XH luôn luôn thay đổi. Đó là quá trình không ngừng giải quyết các mâu thuẫn đang nảy sinh trong nhân cách người học.

 

 

Tóm lại: Công tác GD so với công tác dạy học là một loại lao động phức tạp và khó khăn, đòi hỏi nhà GD phải có những phẩm chất cao về trí tuệ và ý chí, tình cảm nhân hậu vị tha, có tri thức KH hiện đại và những kinh nghiệm thực tiễn sinh động. Những thành công trong công tác GD sẽ để lại dấu ấn tốt đẹp, lâu bền trong quan hệ thầy trò, trong tâm hồn mỗi người học.

 

5. Động lực và các khâu của QTGD

5.1. Động lực của QTGD

Động lực của QTGD chính là kết quả giải quyết tốt giữa một bên là các yêu cầu, nhiệm vụ GD mới đang đặt ra cho người được GD với một bên là trình độ được GD và phát triển hiện có của người được GD.

5.2. Các khâu của QTGD

- Bồi dưỡng, nâng cao nhận thức làm cơ sở cho hành động.

- Bồi dưỡng những tình cảm đúng đắn, lành mạnh, phù hợp với các quan niệm, chuẩn mực đạo đức, quan hệ ứng xử- XH.

- Rèn luyện hình thành hành vi thói quen.

6. Vấn đề tự GD và GD lại

6.1. Tự GD: Là hoạt động có ý thức, có mục đích của cá nhân, hướng vào việc xây dựng, hoàn thiện những phẩm chất nhân cách bản thân cho phù hợp với những quan niệm giá trị và những định hướng XH được hình thành do tác động của ĐK sống và của GD.

6.2. GD lại: Là hoạt động GD nhằm thay đổi những quan điểm, những phán đoán, những đánh giá không đúng đắn của học sinh, cải biến các thói quen, hành động không tốt đã hình thành ở học sinh

- GD lại là một quá trình khó khăn, lâu dài và phức tạp hơn việc GD. Để các tật xấu nhiễm lâu và sâu trong nhân cách, nhất là để tính tình bị hư hỏng, nhân cách bị suy thoái thì đôi khi phải tiến hành GD lại trong những cơ quan đặc biệt.

- QTGD lại đòi hỏi phải xác đinh được các nguyên nhân cơ bản của những sai lệch trong sự phát triển nhân cách học sinh; xác định các con đường và các phương tiện để làm thay đổi nếp nghĩ, thói quen và hành vi xấu trước kia; phải tổ chức cho học sinh tham gia tích cực vào các hoạt động có ích, xây dựng được một hệ thống các yêu cầu và các biện pháp kiểm tra, các phương tiện khuyến khích, khen thưởng.

 

1. Khái niệm: Nguyên tắc GD là những luận điểm xuất phát, có tính quy luật, chỉ đạo phương hướng xây dựng nội dung, phương pháp, hình thức tổ chức quá trình GD nhằm hình thành con người theo mục đích GD đã đề ra.

2. Hệ thống các nguyên tắc GD
2.1. Nguyên tắc 1: Đảm bảo tính mục đích trong hoạt động GD
+ Nội dung nguyên tắc: Tất cả các biện pháp tác động (ảnh hưởng GD) phải hướng vào việc xây dựng mẫu người mà GD đã đặt ra, đó là những nhân cách PT toàn diện, cân đối cả phẩm chất và năng lực, cả đức và tài.

+ Biện pháp thực hiện:
- Quán triệt chủ nghĩa Mac-Lenin và tư tưởng Hồ Chí Minh về GD, thực hiện đường lối, nhiệm vụ cách mạng của Đảng và Nhà nước về tư tưởng, văn hóa, GD.
- Coi trọng GD thế giới quan chủ nghĩa Mac-Lenin và tư tưởng Hồ CHí Minh, đường lối, chính sách GD của Đảng và Nhà nước cho học sinh.
- Đảm bảo ý nghĩa chính trị XH, tác dụng GD tư tưởng và đạo đức của các loại hình hoạt động XH và các mối quan hệ mà học sinh tham gia.
- Tổ chức quản lý chặt chẽ công tác GD trong và ngoài nhà trường, đảm bảo sự lãnh đạo của các tổ chức và phát huy vai trò Đoàn, Đội và các tập thể học sinh trong công tác GD.

2.2. Nguyên tắc 2: Giáo dục gắn với đời sống XH

+ Nội dung nguyên tắc: Công tác GD thế hệ trẻ phải phù hợp với đường lối xây dựng đất nước trong từng giai đoạn; phải dựa vào những tác động và ảnh hưởng GD của các quan hệ kinh tế, XH, của các lý tưởng chính trị- đạo đức, thẩm mỹ, lối sống có văn hóa; phải từng bước gắn công tác giảng dạy- học tập, GD với cuộc đấu tranh XD và bảo vệ Tổ quốc, làm cho dân giàu, nước mạnh, XH công bằng, dân chủ, văn minh.

+ Biện pháp thực hiện

- Làm cho học sinh quan tâm đến những sự kiện lớn trong đời sống, chính trị,kinh tế, quốc phòng, văn hóa- XH của đất nước.

- Tổ chức cho HS tùy theo từng lứa tuổi, từng cấp học tham gia vào các phong trào kinh tế, văn hóa- xã hội góp phần thực hiện những nhiệm vụ cách mạng mà Đảng và Nhà nước đã đề ra.

- Khắc phục lối GD chỉ đóng khung trong trường học, lớp học, tách rời công tác GD của nhà trường với các phong trào chính trị-XH của nhân dân.

 

2.3. Nguyên tắc 3: Thống nhất giữa ý thức và hành vi cảu học sinh trong công tác GD

+ NDNT: Trong công tác GD nhất thiết phải coi trọng việc xây dựng ý thức cũng như  việc tổ chức tập luyện hành động cho HS, đảm bảo cho ý thức và hành động cũng như lời nói và việc làm của mỗi người đạt đến sự thống nhất, phù hợp với nguyên tắc, tư tưởng chính trị và đạo đức XHCN. Đề phòng và khắc phục tình trạng tách rời giữa ý thức và hành động, hoặc giữa tâm trạng bên trong và biểu hiện bên ngoài.

+ Biện pháp thực hiện:

- Chú ý giúp HS hiểu sâu sắc các khái niệm, chuẩn mực, định hướng giá trị về mặt đạo đức, pháp luật, lao động thẩm mỹ, thể chất phù hợp với từng lứa tuổi.

- Tổ chức có mục đích các hoạt động cho HS tham gia nhằm giúp các em tích lũy những kinh nghiệm thực tiễn tích cực, biến những kinh nghiệm XH ấy thành kinh nghiệm của bản thân mình.

2.4. Nguyên tắc 4: Giáo dục trong lao động và bằng lao động

+ NDNT: Công tác GD phải thông qua việc tổ chức cho HS tham gia các loại hình lao động vừa sức, nhờ đó mà hình thành cho các em thái độ kính trọng người lao động, thừa nhận giá trị lớn lao của lao động, có thái độ đúng đắn đối với tài sản XH, hình thành lối sống cần cù, giản dị, tiết kiệm, trong sạch. Đồng thời, qua đây mà xây dựng cho họ niềm tin sâu sắc rằng chỉ có tham gia vào sản xuất những giá trị cho XH họ mới có quyền thỏa mãn một số đòi hỏi của bản thân, và bằng lao động  của mình họ phải sáng tạo nhiều phúc lợi vật chất hơn so với những cái họ được hưởng.

+ BPTH:

- Kết hợp GD lao động với việc GD tư tưởng, chính trị, đạo đức, lối sống, văn hóa.

- Tổ chức cho HS tham gia các loại hình lao động vừa sức. Các hoạt động ấy vừa mang lại lợi ích cho cá nhân, tập thể và XH; vừa phải đảm bảo ý nghĩa tích cực.

- Khắc phục sự do dự, ngại khó, không mạnh dạn đưa lao động vào nhà trường. Đồng thời cũng phải khắc phục khuynh hướng đơn giản, hình thức chủ nghĩa trong việc tổ chức lao động cho HS.

 

2.5. Nguyên tắc 5: Giáo dục trong tập thể và bằng tập thể

+ NDNT: Nguyên tắc này đòi hỏi nhà GD phải coi trọng việc XD và GD tập thể HS, đặc biệt là các tổ chức chính trị của họ( Đoàn, Đội…), coi đó là môi trường quan trọng và là phương tiện GD mạnh mẽ để hình thành nhân cách cho HS cũng như phát huy sở trường, năng khiếu của mỗi cá nhân.

+ BPTH:

- Xây dựng các mối quan hệ, giao lưu đúng đắn trong tập thể.

- Tổ chức các hoạt động chung của tập thể, đặc biệt là các hoạt động vui chơi, hoạt động XH.

- Tổ chức cuộc sống tinh thần phong phú, lành mạnh, mổ ích của tập thể và mỗi thành viên, xây dựng dư luận lành mạnh và truyền thống tốt đẹp của tập thể.

- Coi tập thể là đối tượng GD và hướng các tác động vào đó, đồng thời cũng coi tập thể là phương tiện GD mạnh mẽ đến từng thành viên, nghĩa là phải thực hiện quá trình tác động song song.

- Khắc phục hiện tượng quá thiên về lối GD “tay đôi” hay hiện tượng “tập thể giả”.

 

2.6. Nguyên tắc 6: Tôn trọng nhân cách HS kết hợp đòi hỏi hợp lý đối với họ

+ NDNT:

+) Tôn trọng nhân cách: Có nghĩa là luôn luôn đề cao phẩm giá, lòng tự trọng của HS, tin tưởng vào ý muốn tốt đẹp, tinh thần cầu tiến, nghị lực và khả năng tiềm tàng của HS, luôn đề ra giả thuyết lạc quan về sự hoàn thiện nhân cách của các em. Tuy nhiên cần lưu ý, tôn trọng ở đây là tôn trọng phẩm giá, đạo đức, trí tuệ, tài năng … chứ không có nghĩa là tôn trọng cả cái hư, cái xấu của HS.

+) Đòi hỏi cao và hợp lý với HS: Có nghĩa là biết đòi hỏi họ có những cố gắng hơn, tích cực hơn; biết đề ra những tiêu chuẩn, những mục tiêu phấn đấu hợp lý, vừa sức, ngày càng được nâng cao để thúc đẩy họ không ngừng vươn lên. Mặt khác, cần có thái độ nghiêm khắc, đúng mức đối với những thiếu xót, sai lầm của họ, song không vì thế mà có thái độ gay gắt, mệnh lệnh hay mỉa mai, nhạo báng HS; nên có thái độ đúng mực, tế nhị, có lý, có tình, nghiêm mà không khắt khe, dân chủ mà không xuề xòa.

+ BPTH: Nhà GD cần phải:

- Luôn tìm tòi và phát hiện kịp thời những ý nghĩ và hành động tích cực mới xuất hiện, những mầm mống tốt đẹp vừa mới biểu hiện trong nhân cách HS để ra sức chăm sóc, vun xới.

- Biết dựa vào những mặt tốt, mặt tích cực trong nhân cách HS để khắc phục cái tiêu cực, yếu kém trong họ.

- Thiết lập mối quan hệ tốt đẹp giữa người GD và người được GD trên cơ sở tôn trọng, tin cậy lẫn nhau.

- Cần biết đánh giá đối tượng GD cao hơn một chút so với những cái họ đang có.

- Khắc phục tình trạng định kiến, bi quan, thiếu tin tưởng vào khả năng phát triển, hoàn thiện nhân cách HS, đồng thời khắc phục hiện tượng nuông chiều, buông thả, tự do chủ nghĩa,

 

2.7. Nguyên tắc 7: Kết hợp sự lãnh đạo sư phạm của giáo viên với việc phát huy tính chủ động, độc lập, sáng tạo của HS

+ NDNT: Nguyên tắc này đòi hỏi nhà GD trên cơ sở theo dõi khéo léo và chặt chẽ quá trình cũng như kết quả hoạt động của HS và tập thể HS, qua đó phát huy được tính tự giác, tự nguyện, năng động, sáng tạo của họ trong việc xác định nhiệm vụ và lựa chọn các biện pháp GD.

+ BPTH:

- Đề cao vai trò làm chủ của HS và các tổ chức của họ.

- Cần trao đổi, bàn bạc dân chủ với HS về ND, BP và hình thức GD

- Ủng hộ những giải pháp tích cực và những sáng kiến của HS, thuyết phục và biết chờ đợi việc từ bỏ cách làm sai của các em.

- Từng bước xây dựng chế độ tự quản trong lớp và trong trường. Tránh lối GD tự do chủ nghĩa, để mặc HS muốn làm gì thì làm theo hứng thú của họ.

 

2.8. Nguyên tắc 8: Đảm bảo tính hệ thống, tính kế tiếp và tính liên tục trong công tác GD

+ NDNT: Nguyên tắc này đỏi hỏi phải tiến hành một cách lâu dài, có hệt thống công tác GD nhân cách và việc hình thành từng phẩm chất nói riêng cho HS phải dựa vào những tri thức, kỹ năng, kỹ xảo, thói quen, kinh nghiệm sống của các em; phải thực hiện theo từng bước, từng cấp, phải tiến hành liên tục, thường xuyên.

+ BPTH:

- NDDH phải được xây dựng theo kiểu đồng tâm, mở rộng

- Trong suốt QTGD, mỗi phẩm chất được hình thành phải luôn được củng cố, tập luyện, nâng cao nhiều lần.

- Thực hiện GD liên tục, thường xuyên, ở mọi nơi, mọi lúc và do mọi người, qua mọi việc; kết hợp chặt chẽ GD trên lớp và ngoài lớp, trong trường và ngoài trường, gia đình và XH.

 

2.9. Nguyên tắc 9: Thống nhất các yêu cầu GD của nhà trường, gia đình và XH

+ NDNT: Nguyên tắc này đòi hỏi phải đảm bảo tính thống nhất avf tính toàn vẹn cảu QTGD bằng cách phối hợp chặt chẽ hoạt động của các chủ thể bên trong nhà trường cũng như bên ngoài nhà trường theo một kế hoạch, chương trình GD thống nhất về mục đích, nội dung, hình thức, PP tổ chức và phương tiện GD; biết phát huy những mặt mạnh của chủ thể GD.

+ Biện pháp thực hiện:

- Nhà trường tổ chức phối hợp hoạt động các lực lượng GD trong XH trong mối quan hệ hợp tác chặt chẽ với nhà trường.

- Phối hợp các kế hoạch chăm sóc, GD HS của các tập thể Sư phạm, của hội phụ huynh HS, các đoàn thể XH, các cơ quan văn hóa, các cơ sở kinh doanh sản xuất.

- Theo dõi chặt chẽ tiến trình GD và phải đánh giá nghiêm túc kết quả công tác GD.

- Tổ chức tiến hành phổ biến tri thức KHGD cho cha mẹ HS, cho cán bộ và nhân dân địa phương.

 

2.10. Tính đến đặc điểm lứa tuổi của đối tượng GD

+ NDNT: Nhà GD khi lựa chọn ND, PP, phương tiện, hình thức tổ chức QTGD phải tính đến những đặc điểm tâm-sinh lý từng lứa tuổi, từng cá nhân HS.

+ BPTH:

- Nhà GD phải am hiểu và nắm vững đặc điểm tâm – sinh lý lứa tuổi và cảu từng cá nhân HS trong lứa tuổi đó.

- Nghiên cứu đặc điểm của từng đối tượng GD thông qua các hoạt động thường ngày, qua tập thể HS, qua bạn bè và gia đình, trên cơ sở đó mà đề ra các biện pháp GD cho phù hợp.

 

*** Mối quan hệ giữa các NTGD: Quan hệ chặt chẽ, tương hỗ với nhau, kết hợp cùng nhau để hoàn thành nhiệm vụ GD đã đề ra.

 

1. Những nội dung giáo dục cơ bản trong nhà trường
1.1. GD đạo đức và ý thức công dân
a) GD đạo đức
* Ý nghĩa của GD đạo đức:
- GD đạo đức có vai trò thúc đẩy sự ổn định lâu dài của XH.
- GD đạo đức có vị trí hàng đầu và chủ đạo trong GD nhà trường, có vai trò định hướng cho các NDGD khác.
- GD đạo đức giúp thế hệ trẻ hình thành hệ thống lập  trường chính trị, quan điểm, thế giới quan Macxit và phẩm chất đạo đức phù hợp với chuẩn mực đạo đức của XH.

* Nhiệm vụ GD đạo đức:
- Hình thành cho HS thế giới quan KH, nắm được những quy luật của sự phát triển XH, có ý thức thực hiện nghĩa vụ công dân, từng bước trang bị cho HS định hướng chính trị kiên định, rõ ràng.
- Giúp HS hiểu và nắm vững những vấn đề cơ bản trong đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, có ý thức học tập, làm việc theo Hiến pháp và pháp luật.
- Bồi dưỡng cho HS năng lực phán đoán, đánh giá đạo đức, hình thành niềm tin đạo đức cho các em.
- Dẫn dắt các em rèn luyện hành vi, thói quen đạo đức…

* ND GD đạo đức:

- GD lý luận cơ bản của chủ nghĩa Mac- Lenin, tư tưởng Hồ Chí Minh

- GD chủ nghĩa yêu nước

- GD lý tưởng của chủ nghĩa cộng sản

- GD chủ nghĩa tập thể

- GD lòng nhiệt tình, hăng say lao động, có ý thức bảo vệ tài sản XHCN

- GD dân chủ và pháp chế XHCN

- GD hành vi văn minh trong XH, GD ý thức công dân…

* Các con đường GD đạo đức cho HSPT:

- Qua giảng dạy môn GDCD và các môn học khác.

- Qua hoạt động ngoại khóa, lao động sản xuất, hoạt động của Đoàn, Đội, công tác chủ nhiệm lớp…

b) GD ý thức công dân: Có nhiệm vụ chủ yếu sau:

- Giáo dục chính trị- tư tưởng cho HS

- GD cho HS ý thức và hành vi pháp luật.

 

1.2. GD thẩm mỹ

* Ý nghĩa của GD thẩm mỹ

- GD thẩm mỹ có thể mở rộng tầm nhìn cho HS, phát triển trí lực và tinh thần sáng tạo của các em.

- GD thẩm mỹ làm cho tâm hồn HS trở nên trong sáng hơn, rèn luyện cảm xúc, hoàn thiện phẩm chất đạo đức cho các em.

- GD thẩm mỹ giúp HS vươn tới cái đẹp, biết thể hiện cái đẹp trong mọi lĩnh vực của cuộc sống, tức là biết xây dựng cuộc sống theo quy luật của cái đẹp.

* Nhiệm vụ của GD thẩm mỹ trong nhà trường:

- Hình thành cho HS quan niệm thẩm mỹ đúng đắn, nâng cao năng lực thẩm mỹ

- Bồi dưỡng tình cảm thẩm mỹ lành mạnh, kích thích HS yêu thích cái đẹp và vươn tới cái đẹp chân chính.

- Giúp HS phát triển năng lực biểu hiện và sáng tạo cái đẹp.

* Các con đường GD thẩm mỹ:

- GD nghệ thuật

- Thông qua dạy và học các bộ môn KH, đặc biệt là KHXH và nhân văn

- Thông qua xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh trong gia đình, nhà trường và XH.

- GD cái đẹp trong tự nhiên.

 

1.3. GD lao động và hướng nghiệp

a) GD lao động

* Nhiệm vụ của GD lao động

- GD cho HS thái độ đúng đắn với lao động

- Cung cấp cho HS học vấn kỹ thuật tổng hợp, phát triển tư duy kỹ thuật hiện đại

- Chuẩn bị cho HS kỹ năng lao động kỹ thuật nghề nghiệp ở một số lĩnh vực nghề nghiệp nhất định

- Hình thành cho HS thói quen lao động có văn hóa

- Tổ chức các hoạt động nhằm giúp HS hiểu biết cơ bản về các ngành, nghề, thị trường lao động trước mắt và lâu dài

- Tổ chức cho HS trực tiếp tham gia lao động sản xuất và các loại hình lao động khác góp phần sáng tạo những giá trị vật chất, tinh thần cho bản thân và XH.

* Một số loại hình lao động

- Lao động học tập

- Lao động sản xuất của HS trong nhà trường

- Lao động công ích XH

- Lao động tự phục vụ.

* Một số yêu cầu để tổ chức lao động cho HS có hiệu quả

- Tổ chức cho HS tham quan các cơ sở sản xuất theo kế hoạch, phân bố ND của GD lao động theo trình tự GD.

- Lựa chọn đa dạng lao động để HS làm quen với các dạng lao động XH phong phú.

- Lựa chọn các hình thức LĐ theo hướng phức tạp dần và phù hợp với lứa tuổi, giới tính của HS.

- Tổ  chức LĐ phù hợp với đặc điểm kinh tế, văn hóa, xã hội của địa phương.

- Những người hướng dẫn LĐ cần phải có kiến thức và kỹ năng về lĩnh vực lao động để đảm bảo lao động mang lại hiệu quả.

b) Giáo dục hướng nghiệp: Có 3 nhiệm vụ chính sau:

- Định hướng nghề nghiệp

- Tư vấn nghề nghiệp

- Tuyển chọn nghề.

(Tham khảo trong tài liệu)

1.4. Giáo dục thể chất

* Ý nghĩa của GD thể chất

- Thúc đẩy HS phát triển thân thể khỏe mạnh, tăng cường thể chất cho HS

- Thúc đẩy sự phát triển toàn diện của HS, là bộ phận hợp thành của nền GD phát triển toàn diện.

- Làm cho tinh thần con người mạnh khỏe, cuộc sống vui vẻ, văn minh…

* Nhiệm vụ của GD thể chất trong nhà trường

- Tăng cường thể chất, sức khỏe cho HS

- Giúp HS nắm vững tri thức cơ bản và kỹ năng kỹ xảo  của vận động thể dục thể thao, tạo thói quen tự giác rèn luyện thân thể một cách KH.

- Truyền thụ tri thức vệ sinh cần thiết cho HS, bồi dưỡng thói quen vệ sinh tốt, hướng dẫn HS phòng ngừa bệnh tật, bảo vệ và tăng cường sức khỏe tâm sinh lý.

- Thông qua thể dục, tiến hành GD phẩm chất đạo đức cho HS, tạo nên phong cách đạo đức tốt đẹp, cao thượng.

* Nội dung GD thể chất trong nhà trường

- Vận động thể dục thể thao, và đây là ND chủ yếu nhất của thể dục nhà trường.

- Vệ sinh nhà trường.

2. Những nội dung GD mới (SV đọc tài liệu và thảo luận)

2.1. GD môi trường

2.2. GD dân số

2.3. GD giới tính

2.4. GD phòng chống ma túy

2.5. GD giá trị

2.6. Giáo dục quốc tế.

 

Posted by thienhaxanh2405 on 15th March and posted in Bài học, Lý luận giáo dục

1. Khái niệm
Là cách thức tác động qua lại giữa nhà GD và người được GD, trong đó nhà GD giữ vai trò chủ đạo nhằm thực hiện tốt các nhiệm vụ GD đã đề ra.

2. Đặc điểm của PPGD
- PPGD được tiến hành trên cơ sở hoạt động phối hợp giữa nhà GD và người được GD.
- PPGD có quan hệ chặt chẽ với các biện pháp GD.
- PPGD có quan hệ mật thiết với các phương tiện GD.

3. Hệ thống các PPGD
3.1. Nhóm các PP thuyết phục
Đây là nhóm PP tác động lên nhận thức và tình cảm của người được GD nhằm hình thành những khái niệm, biểu tượng và niềm tin đúng đắn về đạo đức, thẩm mỹ, tạo ĐK cho người được GD có tư tưởng đúng, tình cảm đẹp, làm cơ sở cho việc hình thành những hành vi, thói quen tốt.

Nhóm này bao gồm các PP:
a) PP đàm thoại:
- PP này thể hiện ở chỗ giáo viên và HS trò chuyện với nhau, trao đổi ý kiến với nhau về một câu chuyện, một vấn đề naò đó nhằm GD HS. Những câu chuyện đó thường có nôi dung tư tưởng- đạo đức đa dạng, phong phú.

- Nhiệm vụ cơ bản của đàm thoại là lôi cuốn HS vào phân tích và đánh giá các sự kiện, hành vi, các hiện tượng trong đời sống XH, trong trường, trong lớp. Trên cơ sở đó, hình thành cho họ thái độ đúng đắn với hiện thực xung quanh, với trách nhiệm công dân, trách nhiệm đạo đức của họ. Chủ đề các buổi đàm thoại càng gần với kinh nghiệm của HS thì càng có sức thuyết phục.

- Hình thức đàm thoại: Có 2 cách thức: Đàm thoại giữa GV với tập thể HS hoặc giữa GV với một vài HS. Trong khi đàm thoại, GV cần giữ đúng thái độ chân thành, thương yêu trong quan hệ thầy trò. Khi sử dụng phương pháp này cần chú ý tới đặc điểm lứa tuổi và cá nhân HS.

- Yêu cầu khi tổ chức đàm thoại cho HS:

+ Chuẩn bị chu đáo các chủ đề, câu chuyện đàm thoại

+ Chủ đề đàm thoại cần được thông báo trước cho HS chuẩn bị, cần làm cho HS thấy rõ được ý nghĩa của chủ đề ấy với đời sống của họ.

+ Cần thực hiện linh hoạt và hiệu quả các bước tiến hành đàm thoại.

 

b) Phương pháp giảng giải

- Là PPGD trong đó nhà GD dung lời nói để thông báo, phân tích, giải thích, chứng minh tính đúng đắn của các chuẩn mực đã được XH quy định. Trọng tâm của giảng giải là cung cấp thông tin về sự kiện và chuẩn mực hành vi giúp người được GD nắm vững ý nghĩa, nội dung và cách thực hiện những nguyên tắc và chuẩn mực về văn hóa, đạo đức và lối sống, hình thành niềm tin và mong muốn thực hiện chúng.

- Để nâng cao hiệu quả tác động về mặt nhận thức, xúc cảm của PP giảng giải cần đảm bảo tính thuyết phục của các luận chứng, tính hệ thống chặt chẽ của cấu trúc nội dung, tính chân thực của tình cảm, thái độ của người diễn giảng, tính sống động của ngôn từ được dung khi diễn giảng. Qua diễn giảng cần giúp họ đi sâu vào  việc nhận thức bản chất của các vấn đề đã được đề cập tới.

c) Phương pháp nêu gương

- Đó là PP nêu lên những gương điển hình, những mẫu mực cụ thể, sống động để HS bắt chước và làm theo những tấm gương đó.

- PP này phù hợp với tâm lý của trẻ là tính hay bắt chước. Tuy nhiên, bắt chước không phảo là sao chép mù quáng, máy móc; mà thông qua bắt chước vẫn phải có những hành động mới mẻ, đúng đắn, phù hợp với phương hướng chung của lý tưởng, lại vừa có hoạt động độc đáo, gần gũi với tư tưởng chủ đạo của tấm gương mà trẻ bắt chước.

- Lưu ý rằng những tấm gương mà trẻ hay bắt chước thường là những tấm gương ở xung quanh các em, ở gia đình, ở nhà trường. Cụ thể, đó là tấm gương của những người thân trong gia đình, bạn bè, đặc biệt là của giáo viên, những nhân vật tích cực trong lịch sử, trong văn học và trong cuộc sống…

3.2. Nhóm PP tổ chức hoạt động và hình thành kinh nghiệm ứng xử xã hội

Mục đích chủ yếu của PP này là hình thành ở người được GD những hành vi phù hợp với các chuẩn mực của đời sống XH, hình thành những phẩm chất nhân cách và hành vi thói quen.

Nhóm này bao gồm những PP sau:

a) Phương pháp đòi hỏi sư phạm

- Đó là phương pháp nhà GD đề ra những đòi hỏi, những yêu cầu về mặt sư phạm với học sinh và tập thể HS; tổ chức giám sát việc thực hiện các yêu cầu đó của HS nhằm đạt được các mục tiêu GD đã đề ra.

- Những đòi hỏi về mặt sư phạm thường được cụ thể hóa ở các dạng sau:

+ Các quy tắc về hoạt động của HS

+ Các quy tắc ứng xử của HS trong quan hệ với những người được tiếp xúc hàng ngày

+ Những quy định về hành vi đối với tập thể, với các tổ chức XH, cơ quan…

- Các bước tiến hành:

+ Xác định nội dung của những đòi hỏi sư phạm

+ Tổ chức thực hiện các biện pháp nhằm biến yêu cầu thành đòi hỏi sư phạm đối với HS; làm cho HS biến yêu cầu của nhà SP thành yêu cầu của chính mình và quyết tâm thực hiện yêu cầu đó.

-         Lưu ý không nên đưa ra quá nhiều yêu cầu hoặc yêu cầu quá cao so với khả năng thực hiện của HS.

 

b) PP tập thói quen

- Là PPGD trong đó nhà GD tổ chức cho HS lặp đi lặp lại có tổ chức, thường xuyên những hành động, cử chỉ dưới dạng khác nhau trong những tình huống tương tự, làm cho hành động đó trở thành nhu cầu và thói quen tốt của HS.

- Để thực hiện PP này, nhà GD phải thực hiện tốt các yêu cầu sau:

+ Xác định những thói quen cần được hình thành cho HS

+ Giúp cho HS nắm vững mẫu hành vi cần được hình thành

+ Khi đã nắm được mẫu của hành vi cần cho HS luyện tập đều đặn, thường xuyên.

 

c) PP rèn lyện

- Nếu PP tập thói quen chủ yếu giúp HS nắm bắt quá trình của hoạt động thì PP rèn luyện làm cho hoạt động trở nên có ý nghĩa với cá nhân HS. Nhiệm vụ cơ bản của rèn luyện là đảm bảo cho HS thu lượm được những kinh nghiệm thực tiễn và các quan hệ tập thể để hình thành các phẩm chất nhân cách.

- Một số yêu cầu khi sử dụng PP này:

+ Tổ chức các tình huống, các ĐK để HS tham gia giải quyết chúng bằng các hành động tích cực, phù hợp với các chuẩn mực và đạo đức XH

+ Nhà GD cần hướng dẫn HS và tập thể HS biết đề ra những kế hoạch phù hợp, động viên, khuyến khích các em thực hiện đến cùng kế hoạch đã đặt ra.

3.3. Nhóm các PP kích thích hoạt động và điều chỉnh hành vi ứng xử của người được GD

Chức năng của PP này là khuyến khích, củng cố, điều chỉnh hành vi của HS, tạo ra những tiền đề tâm lý thuận lợi cho việc thực hiện nhiệm vụ mới trên cơ sở những hoạt động trước đây ở các em.

 

Nhóm này bao gồm các PP sau:

a) PP khen thưởng

- Đó là PP biểu thị sự đánh giá tích cực của nhà GD đối với hành vi ứng xử và hoạt động của từng HS hoặc tập thể HS. HS qua đó cảm thấy hài lòng, phấn khởi, có thêm nghị lực, tự tin và mong muốn tiếp tục thực hiện hành vi đó.

- Một số lưu ý khi sử dụng PP khen thưởng:

+ Cần có sự đồng tình, tán thưởng của dư luận tập thể mới có tác dụng tích cực đối với tập thể và cá nhân người được khen

+ Khen thưởng đúng lúc, đúng chỗ, công bằng, khách quan.

+ Cần lưu ý rằng khen thưởng là để người được khen cố gắng hơn nữa.

b) PP trách phạt

- Đó là PP biểu thị sự không tán thành, lên án, phủ định của nhà GD, của tập thể, của XH đối với hành vi của cá nhân HS hay tập thể HS trái với những chuẩn mực ứng xử XH, qua đó, buộc cá nhân hay tập thể từ bỏ những hành vi có hại cho bản thân XH, điều chỉnh sự ứng xử theo chuẩn mực đã định.

- Một số lưu ý khi sử dụng PP trách phạt:

+ Trách phạt cần mang tính GD, đảm bảo sự công bằng, công khai và tôn trọng nhân cách của người được GD.

+ Khi trách phạt cần phải biết rõ tình huống phạm lỗi của HS, đặc biệt là động cơ phạm lỗi để lựa chọn ND và hình thức trách phạt cho phù hợp.

+ Sự trách phạt phải nghiêm khắc nhưng chân thành, xuất phát từ mong muốn giúp đỡ, GD choHS và tập thể HS tốt hơn lên.

4. Lựa chọn các PPGD

- Cần căn cứ vào mục tiêu, NDGD cụ thể

- Dựa vào khả năng và trình độ nghiệp vụ sư phạm của GV.

* Tóm lại: Không có PP nào được coi là tối ưu trong mọi trường hợp. Nhà GD cần tính đến những điều kiện thực tiễn để lựa chọn và sử dụng phối hợp tất cả các PPGD một cách hợp lý

 1. Lao động sư phạm của người giáo viên trong nhà trường
1.1. Nhiệm vụ của người GV trong nhà trường:
- Giáo dục và giảng dạy
- Học tập và bồi dưỡng
- Tham gia công tác XH
- Luyện tập quân sự

1.2. Đặc điểm lao động sư phạm (LĐSP) của GV
a) Mục đích của LĐSP:
Là mục đích của QTGD tổng thể: GD thế hệ trẻ một cách toàn diện và hài hòa, chuẩn bị cho họ những phẩm chất và năng lực cần thiết để bước vào đời theo yêu cầu của XH.

b) Đối tượng của LĐSP
Từ mục đích trên, LĐSP có đối tượng quan hệ là con người, là thế hệ trẻ đang trưởng thành.
Để đạt được hiệu quả GD cao, người GV phải nghiên cứu và nắm chắc đối tượng GD của mình, phải biết thiết kế và thực hiện những tác động sư phạm hợp quy luật và hợp lý, phải tôn trọng và phát huy vai trò chủ thể của GV và HS trên cơ sở nắm vững vai trò chủ đạo của mình.

c) Công cụ của LĐSP

Bao gồm tri thức, những dạng hoạt động mà GV thu hút HS tham gia một cách tích cực, đặc biệt công cụ đó còn là chính nhân cách người GV.

d) Sản phẩm của LĐSP

Chính là nhân cách của người HS đã được chuẩn bị một cách toàn diện để đi vào cuộc sống, đáp ứng yêu cầu và đòi hỏi của XH.

đ) Thời gian và không gian của LLĐSP

* Thời gian thực hiện của LĐSP được chia thành 2 bộ phận:

- Bộ phận theo quy chế

- Bộ phận theo quy chế

* Không gian: Được tiến hành trong 2 phạm vi không gian cơ bản:

- Ở trường học

- Ở nhà.

 

1.3. Những yêu cầu đối với người giáo viên

1.3.1. Thế giới quan của GV

GD có chức năng tư tưởng, chính trị, sản phẩm của GD và người tạo ra sản phẩm GD phải phục vụ đường lối, quan điểm của Nhà nước. Đối với
nước ta, thể chế chính trị rất rõ ràng: Xây dựng đất nước Việt Nam thành một nước XHCN theo học thuyết Mac-Lenin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Vì vậy, nền GD Việt Nam phải được định hướng phát triển treo chủ trương, chính sách cảu Đảng và pháp luật của Nhà nước. Vì vậy, người GV phải có phẩm chất chính trị và thế giới quan chủ nghĩa Mac-Lenin, tư tưởng Hồ Chí Minh, tạo niềm tin và định hướng GD của Đảng và Nhà nước.

1.3.2. Lòng yêu nghề, yêu trẻ

- Lòng yêu nghề: Người thầy phải thấy được tính có ích của nghề nghiệp, nhận thấy được nét hay nét đẹp của nó; đó chính là việc người thầy được tiếp xúc với HS- những con người trẻ trung, tràn đầy nhựa sống và ngày một trưởng thành, trở thành người công dân có ích cho XH.

 

- Lòng yêu trẻ: Thể hiện ở chỗ:

+ Sự vui sướng của người thầy khi được tiếp xúc với  trẻ, khi đi vào thế giới tâm hồn rất đặc biệt của các em; người thầy thấy hanhj phúc vì khám phá ra những điều bí mật tiền ẩn trong các em.

+ Luôn sẵn sang sống trong niềm vui, nỗi buồn của các em

+ Quan tâm đầy thiện chí tới HS, kể cả với em học kém và vô kỷ luật

+ Có tình thương với HS…

1.3.3. Có phẩm chất đạo đức tốt

- Tinh thần, nghĩa vụ, trách nhiệm: Người thầy đào tạo ra HS nhưng chính là đào tạo ra những con người có tinh thần, nghĩa vụ, trách nhiệm cao đối với XH, biết vượt qua mọi khó khăn để hoàn thành tốt nhiệm vụ của mình.

- Sự tôn trọng HS: Phải luôn coi HS là những chủ thể, những nhân cách đang phát triển với đặc điểm riêng của lứa tuổi và người thầy phải luôn luôn tôn trọng những đặc điểm ấy.

- Sự công bằng: Đây là phẩm chất rất cần thiết với người GV . Với HS, đặc biệt là HS nhỏ thì GV như là biểu hiện sinh động về sự công bằng và lẽ phải. Người thầy giáo phải xứng đáng với niềm tin này của trẻ. Sự công bằng thể hiện trong mọi hoạt động nhưng thể hiện rõ nhất là trong sự đánh giá của GV.

- Lòng trung thực: HS chỉ yêu quý và noi theo người mà các em tin tưởng, các em không chịu đựng được sự giả dối, “tính cách hai mặt của người thầy giáo làm các em sửng sốt, mất niềm tin và kông tiếp nhận sự GD nữa” (Gonobolin).

- Đức tính giản dị, khiêm tốn: Là những đức tính cần thiết của con người và của người GV. Khiêm tốn sẽ giúp cho người thầy giáo đánh giá đúng mình, giản dị sẽ giúp cho người thầy gần gũi với HS.

 

1.3.4. Có năng lực sư phạm vững vàng

* Năng lực chung

- Có tri thức và tầm hiểu biết rộng

- Năng lực hiểu HS trong lĩnh vực GD

* Năng lực dạy học

- Năng lực chế biến tài liệu học tập

- Năng lực ngôn ngữ

* Năng lực GD

- Năng lực vạch được dự án phát triển nhân cách

- Năng lực khéo léo ứng xử sư phạm.

 

1.3.5. Có hệ thống kỹ năng đảm bảo tiến hành hoạt động sư phạm có hiệu quả:

* Các kỹ năng nền tảng:

- Nhóm kỹ năng thiết kế

- Nhóm kỹ năng tổ chức

- Nhóm kỹ năng giao tiếp

- Nhóm kỹ năng nhận thức

* Các kỹ năng chuyên biệt:

- Nhóm kỹ năng giảng dạy

- Nhóm kỹ năng GD

- Nhóm kỹ năng nghiên cứu KH

- Nhóm kỹ năng hoạt động XH

- Nhóm kỹ năng tự học.

2. Công tác của GVCN lớp ở trường PT

2.1. Vai trò của GVCN lớp ở trường PT

- GVCN là cầu nối, người giữu mối liên lạc thường xuyên giữa các lực lượng GD trong nhà trường với gia đình và các tổ chức XH khác.

- GVCN là người góp phần quyết định sự thành công hay thất bại trong công tác GD nhà trường.

- GVCN là người thực hiện nhiệm vụ quản lý và giáo dục HS.

- GVCN là người thay mặy và đại diện cho quyền lợi chính đáng của tập thể HS, thay mặt tập thể HS giải quyết một số vấn đề có liên quan đến quyền lợi và nghĩa vụ hợp lý của các em.

- GVCN lớp là người tổ chức, phối hợp và thống nhất các lực lượng và tác động GD tới tập thể HS.

 

2.2. Chức năng của GVCN lớp

a) Quản lý GD toàn diện hoạt động của HS trong một lớp học

- Ở chức năng này, mặt quản lý và mặt GD HS là hai mặt của một thể thống nhất và liên quan mật thiết với nhau. Để GD tốtphải quản lý tốt và quản lý tốt sẽ giúp cho GD được tốt.

- Quản lý GD bao gồm việc nắm các chỉ số quản lý hành chính như tên, tuổi, số lượng, gia cảnh, trình độ học lực, đạo đức… và cả việc dự báo xu thế phát triển nhân cách thông qua quá trình GD đạo đức.

b) Tổ chức cho tập thể HS hoạt động tự quản

- Đây là chức năng đặc trưng của GVCN lớp nhằm phát huy tính tích cực của mọi HS, GVCN chính là “người cố vấn” cho tập thể lớp, GVCN không trực tiếp điều khiển các hoạt động của lớp mà phải biết bồi dưỡng năng lực tự quản cho đội ngũ cán bộ lớp để các em này trưcj tiếp điều hành những hoạt động chung của lớp.

- Để thực hiện chức năng này, GVCN phải tổ chức hợp lý bộ máy của lớp- đó là một đội ngũ tự quản, đồng thời phải bồi dưỡng ND và PP hoạt động cho từng cán bộ tự quản.

c) Tổ chức phối hợp các lực lượng GD

Chức năng này thể hiện ở chỗ:

- GVCN lĩnh hội và truyền đạt đầy đủ những nghị quyết và tư tưởng chỉ đạo của nhà trường tới HS lớp mình chủ nhiệm.

- GVCN là người đại diện cho quyền lợi chính đáng của HS trong lớp và bảo vệ HS về mọi mặt một cách hợp lý.

- GVCN là người phối hợp các lực lượng GD trong trường, ở gia đình và ngoài XH để thống nhất quá trình tác động GD theo một chương trình hoạt động chung.

d) Đánh giá kết quả rèn luyện của từng học sinh và tập thể lớp

- GVCN đánh giá phong trào hoạt động của lớp căn cứ vào yêu cầu, kế hoạch hoạt động toàn diện đã đặt ra và so sánh với phong trào chung của nhà trường.

- Khi đánh giá từng HS, GVCN cần căn cứ vào năng lực, điều kiện cụ thể của từng em.

- Sau khi đánh giá, nhận định về cá nhân HS hay tập thể lớp, GVCN cần vạch ra phương hướng và nêu rõ yêu cầu với thái độ nghiêm túc, tôn trọng nhân cách HS với tấm lòng yêu thương trẻ như con mình.

 

2.3. Nội dung và phương pháp công tác GVCN lớp

a) Tìm hiểu, phân loại HS lớp chủ nhiệm

- GVCn cần phải nắm được đặc điểm cơ bản về tâm lý, tư tưởng chính trị, đạo đức, năng lực nhận thức, thể lực, khả năng và ý thức lao động, về hàn cảnh sống, các mối quan hệ với tập thể và những người xung quanh…, qua đó mà thấy được những mặt mạnh, mặt yếu cơ bản và nguyên nhân của nó, của từng HS cũng như của cả lớp.

- PP thực hiện:

+ Nghiên cứu qua hồ sơ HS

+ Nghiên cứu qua sản phẩm học tập, lao động

+ Nghiên cứu các sổ sách, giấy tờ của lớp

+ Qua quan sát, trò chuyện, trao đổi với HS

+ Qua việc thăm gia đình HS

+ Tiến hành thực nghiệm tự nhiên…

b) Xây dựng tập thể HS lớp chủ nhiệm

Trong quá trình xây dựng tập thể HS, GV cần chú ý:

- Đề ra những yêu cầu thống nhất, hợp lý, vừa sức cho HS, phù hợp với yêu cầu chung của nhà trường và chú ý tới đặc điểm, điều kiện cụ thể của lớp mình.

- Giải thích cho HS hiểu đúng và đủ những yêu cầu đã đặt ra

- Kịp thời phát hiện và bồi dưỡng những phần tử tích cực để trở thành hạt nhân Đoàn kiêm làm nòng cốt cho bộ máy tự quản.

- Dựa vào các phần tử tích cực, GVCN tổ chức các hoạt động, các phong trào thi đua, các cuộc giao lưu trong tập thể cũng như với các tập thể khác nhằm giúp các thành viên trong tập thể thêm đoàn kết, gắn bó với nhau hơn.

- Chú ý tới sự xuất hiện của các phần tử cá biệt, tiêu cực, những nhóm tự phát để có những tác động GD cho phù hợp.

 

c) Chỉ đạo tổ chức thực hiện các nội dung GD toàn diện

- Phối hợp chặt chẽ với GV giảng dạy bộ  môn ở lớp mình phụ trách, đảm bảo sự GD toàn diện ở tất cả các môn học.

- Phối hợp với các lực lượng GD khác, đặc biệt là Đoàn TNCS Hồ Chí Minh, Đội TNTP tổ chức các hoạt động với các hình thức khác nhau.

- Phối hợp chặt chẽ với gia đình HS để cùng thống nhất thực hiện các NDGD.

- Kết hợp sự đánh giá của GV với sự đánh giá của tập thể HS, đặc biệt là của HS về quá trình tự học tập, tự rèn luyện của họ.

d) Liên kết các lực lượng GD trong và ngoài nhà trường

- GVCN là người có nhiệm vụ tổ chức phối hợp các lực lượng GD trong nhà trường, ở gia đình và ngoài XH để thống nhất quá trình GD HS.

- Người GV phải có lòng yêu nghề, yêu HS, biết thiết kế và thi công các kế hoạch hoạt động chung để thực hiện các mục tiêu và NDGD đã đề ra.

- Xác định rõ GD nhà trường có vai trò định hướng, GD gia đình alf môi trường hạt nhân cơ bản của quá trình hình thành, phát triển nhân cách HS.

- Cần tận dụng hiệu quả năng lực của các lực lượng khác trong XH.

 

e) Đánh giá kết quả GD HS lớp chủ nhiệm

- GVCN đánh giá kết quả GD của cả tập thể lớp và của từng HS về mặt học tập, rèn luyện đạo đức và các hoạt động khác.

- Thông báo kết quả đánh giá cho nhà trường và gia đình HS.

- Khi đánh giá cần đảm bảo tính khách quan, chính xác, tôn trọng HS, phải đề ra được phương hướng hoạt động để nâng cao chất lượng GD HS.

 

f) Lập kế hoạch công tác GVCN

Để lập kế hoạch công tác hàng năm hay từng học kỳ, GVCN phải nắm chắc và xử lý tốt hàng loạt thông tin về:

- Các mục tiêu và nhiệm vụ, kế hoạch công tác năm học, học kỳ của toàn trường.

- Xác định được đặc điểm HS trong lớp, của gia đình, các bậc cha mẹ HS

- Tìm hiểu, nghiên cứu mục tiêu, nhiệm vụ, kế hoạch công tác của các tổ chức Đoàn TNCS và Đội TNTP trong trường.

- Các đặc điểm hiện nay của địa phương nơi trường đóng cũng như tình hình chung của đất nước.

Từ những thông tin thu thập được phải xử lý, trên cơ sở đó vạch ra kế hoạch công tác cả năm học hay từng học kỳ.

- Sau khi lập kế hoạch cần trao đổi, tổ chức góp ý với cán bộ lớp, với hội phụ huynh HS để có sự sửa đổi cho kịp thời.

- Phổ biến cho HS về những kế hoạch hoạt động đã lập.

 1. Khái niệm
1.1. Khái niệm tập thể
Tập thể là một nhóm người có tổ chức, là một phần của XH được thống nhất bằng mục đích chung của hoạt động và phù hợp với những mục đích của XH, được đặc trưng bởi tinh thần đoàn kết, bởi tính tổ chức và có ý nghĩa XH cao.

1.2. Khái niệm tập thể HS
Là hình thái tổ chức đời sống và hoạt động của thanh thiếu niên, có khả năng thoả mãn đầy đủ nhất nhu cầu giao lưu của họ, tức là nhu cầu chuyên biệt của con người về một môi trường với những người khác có chung lý tưởng sống, chung mục đích hoạt động…

2. Đặc trưng và chức năng của tập thể HS
2.1. Những đặc trưng của tập thể HS
Có thể phân biệt được tập thể với đám đông, tập thể chân chính với tập thể giả hiệu, tập thể HS với những tập thể khác qua các đặc trưng sau:
- Có mục đích chung
- Có hoạt động chung
- Có cơ quan tự quản
- Là một bộ phận của tập thể nhà trường
- Thành phần của tập thể HS là các em ở cùng độ tuổi, có cùng trình độ…

2.2. Chức năng của tập thể HS
- Chức năng tổ chức
- Chức năng GD
- Chức năng kích thích.

3. Quá trình phát triển của tập thể HS

Dưới góc độ GDH, sự hình thành và phát triển của tập thể HS là một quá trình lâu dài. Quá trình này diễn biến theo từng giai đoạn, mỗi giai đoạn được đặc trưng bằng nhiều dấu hiệu khác nhau, trong đó có 2 dấu hiệu nổi bật là:

- Ai đề ra yêu cầu với tập thể?

- Các thành viên của tập thể chấp nhận yêu cầu đó như thế nào? Họ thể hiện những đòi hỏi đó với động cơ đạo đức ra sao?

Hai đặc trưng này phản ánh mặt bên ngoài cũng như mặt bên trong của sự vận động tập thể.

Dựa vào đặc trưng trên khi xem xét quá trình phát triển của tập thể HS, ta thường chia làm 3 giai đoạn như sau:

* Giai đoạn 1: Tập thể mới hình thành: Ở giai đoạn này, các thành viên có thể tập trung từ nhiều nơi khác nhau với những nét cá tính khác nhau. Vì là mới hình thành nên giữa thầy và trò, giữa các cá nhân trong tập thể chưa có sự hiểu biết nhau nhiều.

Chức năng chủ yếu của người GV trong giai đoạn này là tổ chức: Tổ chức cơ cấu và quan hệ trong tập thể, tổ chức triển khai các hoạt động của tập thể theo những mục đích do GV đề ra, tổ chức và phát hiện các phàn tử tích cực trong tập thể.

* Giai đoạn 2: Phân hoá tập thể: Trong tập thể đã xuất hiện các thành viên tích cực, các nhóm tích cực ủng hộ các yêu cầu của GV. Nhóm thụ động lành mạnh cũng xuất hiện, cụ thể là họ sẵn sàng thực hiện các yêu cầu đã đặt ra nhưng thiếu tính chủ động và sáng tạo. Loại thứ 3 là những HS dửn dưng với công việc chung, với lợi ích chung của tập thể nhưng không chống đối, không “phá đám”. Đặc biệt ở giai đoạn này có loại HS “cá biệt”, mất trật tự, vô kỷ luật, hay quấy phá, gây trở ngại cho việc tổ chức và tiến hành công việc chung của tập thể.

Nhiệm vụ chính của người GV trong giai đoạn này là:

- Xây dựng uy tín của các phần tử tích cực trong tập thể, bồi dưỡng họ về nội dung và PP lãnh đạo, tăng cường ảnh hưởng của họ với tập thể HS và nhóm nhỏ.

- Hoàn thiện các mối quan hệ trong tập thể

- Sử dụng hết những khả năng GD của tập thể với từng nhóm nhỏ và với mỗi thành viên.

* Giai đoạn 3: Đây là giai đoạn mà những yêu cầu cảu nhà GD đã trở thành yêu cầu của toàn HS. Tập thể đã đề ra yêu cầu với mỗi thành viên, mỗi thành viên lại tự đề ra yêu cầu với bản thân. Giờ đây đa số các thành viên trong tập thể đều đã tham gia các loại hoạt động khác nhau do tập thể tổ chức và đều đã trở thành mạng lưới tích cực trong các hoạt động đó.

Vị trí của người GV trong giai đoạn này là người cố vấn, người bạn cao tuổi có nhiều kinh nghiệm của cơ quan tự quản và của tập thể.

 

4. Những con đường và những phương tiện xây dựng tập thể HS

4.1. Xây dựng những quan hệ đúng đắn trong tập thể

Có 3 loại quan hệ trong tập thể mà nhà GD cần chú ý để XD là:

- Các quan hệ phụ thuộc trách nhiệm

- Các quan hệ đoàn kết, thân ái, chan hoà với nhau, sẵn sàng giúp đỡ nhau, chia sẻ vui buồn cùng nhau.

- Các quan hệ riêng tư trong nhóm nhỏ, thực hiện các tác động sư phạm để các quan hệ riêng tư này hoà hợp với đời sống và hoạt động chung của tập thể.

 

4.2. Tổ chức các hoạt động và giao lưu trong tập thể

- Tổ chức các loại hình học tập phong phú, hiệu quả

- Tổ chức cho HS tham gia lao động tập thể

- Tổ chức các hoạt động vui chơi, nghỉ ngơi, giải trí.

4.3. Xác định viễn cảnh, xây dựng truyền thống và hình thành dư luận

- Tạo hệ thống các viễn cảnh là một con đường để xây dựng tập thể. Nhà GD cần chú ý xây dựng các viễn cảnh sao cho phù hợp với từng tập thể và đạt hiệu quả trong những điều kiện cụ thể.

- Trân trọng giữ gìn và phát huy các truyền thống tốt đẹp trong tập thể cũng là con đường xây dựng tập thể vũng mạnh. Nhà GD cần chú ý để hình thành tình cảm này trong tập thể HS với các truyền thống của dân tộc cũng như địa phương.

- Nhà GD cần hướng dẫn và xây dựng những dư luận XH lành mạnh trong tập thể, bởi đây là con đường quan trọng để XD tập thể GD, đồng thời cũng phải năg ngừa kịp thời những dư luận không lành mạnh, tạo ra bè phái, mất đoàn kết trong tập thể.


 


 

 

 

 

41