DMCA.com Protection Status

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU KHOA HỌC GIÁO DỤC NGHỀ NGHIỆP  quan tâm

Được đăng bởi: Trần Việt Thao

Cập nhật lúc 09:58 ngày 12/01/2018

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU KHOA HỌC GIÁO DỤC NGHỀ NGHIỆP

( sưu tầm)


PHẦN I: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ

NGHIÊN CỨU KHOA HỌC GIÁO DỤC NGHỀ NGHIỆP

CHƯƠNG I: KHÁI QUÁT VỀ NGHIÊN CỨU KHOA HỌC GIÁO DỤC VÀ NGHIÊN CỨU KHOA HỌC GIÁO DỤC NGHỀ NGHIỆP.

I. KHÁI NIỆM VỀ NGHIÊN CỨU KHOA HỌC GIÁO DỤC (NCKHGD) VÀ NGHIÊN CỨU KHOA HỌC GIÁO DỤC NGHỀ NGHIỆP(NCKHGDNN).

1. Khái niệm về NCKHGD

1.1. Khái niệm về NCKH

      1. Khoa học

a/ Khái niệm về khoa học

Thuật ngữ "khoa học" là một khái niệm rất phức tạp ở nhiều mức độ khác nhau của quá trình tích cực nhận thức hiện thực khách quan và tư duy trừu tượng.

Trong lịch sử phát triển của khoa học đã có nhiều định nghĩa khác nhau về khoa học. Tổng hợp và khái quát lại có thể đưa ra định nghĩa về khoa học như sau:

Khoa học là hệ thống những tri thức được hệ thống hoá, khái quát hoá từ thực tiễn và được thực tiễn kiểm nghiệm; nó phản ánh dưới dạng logic, trừu tượng và khái quát những thuộc tính , những cấu trúc, những mối liên hệ bản chất, những quy luật của tự nhiên, xã hội và tư duy; đồng thời khoa học còn bao gồm hệ thống tri thức về những biện pháp tác động có kế hoạch đến thế giới xung quanh, đến nhận thức và làm biến đổi thế giới đó phục vụ cho lợi ích của con người.

Khoa học là hệ thống những tri thức về các quy luật tự nhiên, xã hội và tư duy được tích luỹ trong lịch sử.

Khoa học có nguồn gốc sâu xa từ trong thực tiễn lao động sản xuất, những hiểu biết (tri thức) ban đầu thường được tồn tại dưới dạng kinh nghiệm.

Tri thức kinh nghiệm là những hiểu biết được tích luỹ một cách ngẫu nhiên trong đời sống hàng ngày, nhờ đó con người hình dung được sự vật, biết cách phản ứng trước tự nhiên, biết ứng xử trong quan hệ xã hội. Tuy chưa đi sâu vào bản chất sự vật, song những tri thức kinh nghiệm làm cơ sở cho sự hình thành các tri thức khoa học.

Tri thức khoa học là những hiểu biết được tích luỹ một cách hệ thống và được khái quát hoá nhờ hoạt động nghiên cứu khoa học. Nó không phải là sự kế tục giản đơn các tri thức kinh nghiệm mà là sự khái quát hoá thực tiễn sự kiện ngẫu nhiên, rời rạc thành hệ thống các tri thức bản chất về sự vật hiện tượng. Các tri thức khoa học được tổ chức trong khuôn khổ các bộ môn khoa học.

Như vậy, khoa học ra đời từ thực tiễn và vận động, phát triển cùng sự vận động, phát triển của thực tiễn. Ngày nay, khoa học trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp, thậm chí nó vượt lên trước hiện thực hiện có. Vai trò của khoa học ngày càng gia tăng và đang trở thành động lực trực tiếp của sự phát triển kinh tế- xã hội.

Khoa học là một quá trình nhận thức: tìm tòi, phát hiện các quy luật của sự vật hiện tượng và vận dụng các quy luật đó để sáng tạo ra nguyên lý các giải pháp tác động và các sự vật hoặc hiện tượng nhằm biến đổi trạng thái của chúng. Khoa học chỉ tìm thấy chân lý khi áp dụng được các lý thuyết của mình vào thực tiễn một cách hiệu quả.

Khoa học là một hình thái ý thức xã hội - một bộ phận hợp thành của ý thức xã hội. Nó tồn tại mang tính độc lập và phân biệt với các hình thái ý thức xã hội khác ở đối tượng, hình thức phản ánh và mang một chức năng xã hội riêng biệt. Nhưng nó có mối quan hệ đa dạng và phức tạp với các hình thái ý thức xã hội khác, tác động mạnh mẽ đến chúng. Ngược lại, các hình thái ý thức xã hội khác cũng có ảnh hưởng đến sự phát triển của khoa học, đặc biệt đối với sự truyền bá, ứng dụng các tiến bộ khoa học vào sản xuất và đời sống.

Khoa học là một hoạt động mang tính chất nghề nghiệp xã hội đặc thù:Là hoạt động sản xuất tinh thần mà sản phẩm của nó ngày càng tham gia mạnh mẽ và đầy đủ vào mọi mặt của đời sống xã hội, đặc biệt là sản xuất vật chất thông qua sự đổi mới hình thức, nội dung, trình độ kỹ thuật, công nghệ và làm thay đổi chính cả bản thân con người trong sản xuất. Xuất phát từ đó, xã hội yêu cầu phảia tạo ra cho khoa học một đội ngũ những người hoạt động chuyên nghiệp có trình độ chuyên môn nhất định, có phương pháp làm việc theo yêu cầu của từng lĩnh vực khoa học.

b/ Sự phát triển của khoa học

Quá trình phát triển của khoa học có hai xu hướng ngược chiều nhau nhưng không loại trừ nhau mà thống nhất với nhau:

  • Xu hướng thứ nhất là sự tích hợp những tri thức khoa học thành hệ thống chung.

  • Xu hướng thứ hai là sự phân lập các tri thức khoa học thành những ngành khoa học khác nhau.

Trong từng giai đoạn phát triển của lịch sử, tùy theo những yêu cầu phát triển của xã hội mà xu hướng này hay xu hướng khác nổi lên chiếm ưu thế.

+ Thời cổ đại: Xã hội loài người còn sơ khai, lao động sản xuất còn đơn giản, những tri thức mà con người tích lũy được chủ yếu là tri thức kinh nghiệm . Thời kỳ này, triết học là khoa học duy nhất chứa đựng tích hợp những tri thức của các khoa học khác nhau như: Hình học, cơ học, tĩnh học, thiên văn học .v.v …

+ Thời Trung cổ: kéo dài hàng nghìn năm, là thời kỳ thống trị của quan hệ sản xuất phong kiến và cùng với nó là sự thống trị của giáo hội và nhà thờ… (chủ nghĩa duy tâm thống trị xã hội). Khoa học thời kỳ này bị giáo hội bóp nghẹt mọi tư tưởng khoa học nên chậm phát triển, vai trò của khoa học đối với xã hội rất hạn chế, khoa học trở thành tôi tớ của thần học.

+ Thời kỳ tiền Tư bản chủ nghĩa (Thế kỷ XV - XVIII – Thời kỳ Phục hưng) là thời kỳ tan rã của quan hệ sản xuất phong kiến và cũng là thời kỳ mà giai cấp Tư sản từng bước xác lập vị trí cuả mình trên vũ đài lịch sử. Sự phát triển của sản xuất tư bản chủ nghĩa đã thúc đẩy sự phát triển của khoa học: khoa học từng bước thoát ly khỏi thần học, sự phân lập các tri thức khoa học càng rõ ràng, nhiều ngành khoa học xuất hiện. Phương pháp nghiên cứu khoa học chủ yếu được sử dụng trong thời kỳ này là phương pháp tư duy siêu hình – cơ sở triết học để giải thích các hiện tượng xã hội.

+ Thời kỳ Cách mạng khoa học – kỹ thuật lần thứ nhất (Từ giữa thế kỷ XVIII đến thế kỷ XIX – còn gọi là thời kỳ phát triển tư bản công nghiệp). Đây là thời kỳ có nhiều phát minh khoa học lớn: định luật bảo toàn và chuyển hóa năng lượng, thuyết tiến hóa,… và sự xuất hiện nhiều phương tiện nghiên cứu khoa học. Sự phát triển của khoa học đã phá vỡ tư duy siêu hình và thay vào đó là tư duy biện chứng; khoa học có sự thâm nhập lẫn nhau để hình thành những môn khoa học mới: toán – lý, hóa – sinh, sinh - địa, hóa – lý, toán kinh tế, xã hội học chính trị…

+ Thời kỳ Cách mạng khoa học kỹ thuật hiện đại (từ đầu thế kỷ XX đến nay). Thời kỳ này cách mạng khoa học và kỹ thuật phát triển theo hai hướng:

Hướng thứ nhất: Tiếp tục hoàn thiện và nâng cao nhận thức của con người trong nghiên cứu các kết cấu khác nhau của vật chất, khoa học đi sâu vào tìm hiểu thế giới vi mô, hoàn thiện các lý thuyết về nguyên tử, về điện, sóng, trường, … và nghiên cứu sự tiến hóa của vũ trụ.

Hướng thứ hai: Chuyển kết quả nghiên cứu khoa học vào sản xuất một cách nhanh chóng đồng thời ứng dụng chúng một cách có hiệu quả trong đời sống xã hội.

Đặc điểm nổi bật của thời kỳ này là khoa học đã trở thành lưc lượng sản xuất trực tiếp, trở thành tiền đề, điểm xuất phát cho nhiều ngành sản xuất vật chất mới. Song cũng chính sự phát triển nhanh chóng của khoa học lại làm nảy sinh những vấn đề mới như: môi sinh, môi trường, bảo vệ và khai thác tài nguyên … vì vậy, lại cần có sự quan tâm đầy đủ đến mối quan hệ giữa khai thác và tái tạo tự nhiên làm cho sự phát triển của khoa học gắn bó hài hòa với môi trường sinh sống của con người.

c/ Phân biệt khoa học, kỹ thuật, công nghệ

Khoa học

Khoa học là hệ thống những tri thức về mọi loại quy luật của tự nhiên, xã hội và tư duy, về những biện pháp tác động đến thế giới xung quanh, đến sự nhận thức và làm biến đổi thế giới đó phục vụ cho lợi ích của con người.

Các tiêu chí nhận biết một khoa học (Bộ môn khoa học):

- Có một đối tượng nghiên cứu: đối tượng nghiên cứu là bản thân sự vật hoặc hiện tượng được đặt trong phạm vi quan tâm của bộ môn khoa học.

- Có một hệ thống lý thuyết: lý thuyết là hệ thống tri thức khoa học bao gồm những khái niệm, phạm trù, quy luật, định luật, định lý, quy tắc, … Hệ thống lý thưyết của một bộ môn khoa học thường gồm hai bộ phận: bộ phận riêng có đặc trưng cho bộ môn khoa học đó và bộ phận kế thừa từ các khoa học khác.

- Có một hệ thống phương pháp luận: Phương pháp luận của một bộ môn khoa học bao gồm hai bộ phận: phương pháp luận riêng và phương pháp luận thâm nhập từ các bộ môn khoa học khác nhau.

- Có mục đích ứng dụng: do khoảng cách giữa khoa học và đời sống ngày càng rút ngắn mà người ta dành nhiều mối quan tâm tới mục đích ứng dụng. Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp, người nghiên cứu chưa biết trước được mục đích ứng dụng (chẳng hạn nghiên cứu cơ bản thuần túy). Vì vậy, không nên vận dụng một cách máy móc tiêu chí này.

Kỹ thuật

Ngày nay, thuật ngữ “kỹ thuật” hầu như chỉ còn giữ lại một ý nghĩa hẹp như định nghĩa sau: “kỹ thuật là bất kỳ kiến thức kinh nghiệm hoặc kỹ năng có tính chất hệ thống hoặc thực tiễn được sử dụng cho việc chế tạo sản phẩm hoặc để áp dụng vào các quá trình sản xuất, quản lý hoặc thương mại, công nghiệp hoặc trong các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội”.

Thuật ngữ kỹ thuật mang một ý nghĩa hẹp hơn: nó chỉ những yếu tố vật chất và vật thể, chẳng hạn như máy móc, thiết bị và sự tác nghiệp, vận hành của con người.

Công nghệ

Công nghệ có một ý nghĩa tổng hợp và bao hàm một trong những hiện tượng mang đặc trưng xã hội như: tri thức, tổ chức, phân công lao động, quản lý,… Vì vậy, khi nói đến công nghệ là nói đến phạm trù xã hội, một phạm trù phi vật chất.

Theo quan điểm của ESCAP trong dự án mang tên Technology Atlas. Project cho rằng công nghệ gồm bốn phần:

+ Phần kỹ thuật

+ Phần thông tin

+ Phần con người

+ Phần tổ chức.

Các nhà xã hội học xem xét công nghệ như một thiết chế xã hội quy định sự phân công lao động xã hội, cơ cấu công nghệ và công nghiệp.

Có thể so sánh về mặt ý nghĩa giữa khoa học và công nghệ (công nghệ đã được xác nhận qua thử nghiệm đã được kiểm chứng là không còn rủi ro về mặt kỹ thuật thực hiện- nghĩa là đã qua giai đoạn nghiên cứu để bước vào giai đoạn vận hành ổn định, đủ điều kiện khả thi về mặt kỹ thuật để chuyển giao cho người sử dụng. So sánh các đặc điểm khoa học và công nghệ được trình bày trong cuốn “Phương pháp luận nghiên cứu khoa học” của Vũ Cao Đàm:

Bảng 1: So sánh các đặc điểm của khoa học và công nghệ

TT

Khoa học

Công nghệ

1

Lao động linh hoạt và tính sáng tạo cao

Lao động bị định khuôn theo quy định

2

Hoạt động khoa học luôn đổi mới, không lặp lại

Hoạt động công nghệ được lặp lại theo chu kỳ

3

Nghiên cứu khoa học mang tính xác xuất

Điều hành công nghệ mang tính xác định

4

Có thể mang mục đích tự thân .

Có thể không mang mục đích tự thân

5

Phát minh khoa học tồn tại mãi mãi với thời gian

Sáng chế công nghệ tồn tại nhất thời và bị tiêu vong theo lịch sử tiến bộ kỹ thuật

6

Sản phẩm khó được định hình trước

Sản phẩm được định hình theo thiết kế

7

Sản phẩm mang đặc trưng thông tin

Đặc trưng của sản phẩm tùy thuộc đầu vào

Cũng cần nhấn mạnh thêm rằng:

  • Khoa học luôn hướng tới tìm tòi tri thức mới.

  • Công nghệ hướng tới tìm tòi quy trình tối ưu.

d/ Phân loại khoa học

  • Phân loại khoa học là chỉ ra những mối liên hệ tương hỗ giữa các ngành khoa học trên cơ sở những nguyên tắc xác định; là sự phân chia các bộ môn khoa học thành những nhóm bộ môn khoa học theo cùng một tiêu thức nào đó để nhận dạng cấu trúc của hệ thống tri thức, xác định vị trí mỗi bộ môn khoa học trong hệ thống tri thức, đồng thời lấy đó làm cơ sở để xác định con đường đi đến khoa học; là ngôn ngữ quan trọng cho các cuộc đối thoại về nghiên cứu khoa học, thông tin, tư liệu, phân ngành đào tạo, tổ chức và quản lý khoa học, hoạch định chính sách khoa học…

  • Phân loại khoa học cần tuân theo một số nguyên tắc:

+ Nguyên tắc khách quan quy định việc phân loại khoa học phải dựa vào đặc điểm của đối tượng nghiên cứu của từng bộ môn khoa học và quá trình vận động, phát triển của từng bộ môn khoa học đó gắn với những yêu cầu của thực tiễn, không được tách rời khoa học với đời sống.

+ Nguyên tắc phối thuộc đòi hỏi phân loại khoa học phải theo tiến trình phát triển của đối tượng nhận thức của khoa học và mối liên hệ biện chứng, chuyển tiếp lẫn nhau giữa chúng.

  • Tùy theo mục đích nhận thức hoặc mục đích sử dụng mà có nhiều cách phân loại khoa học. Mỗi cách phân loại dựa trên một tiêu thức có ý nghĩa ứng dụng nhất định.

Trong lịch sử phát triển của khoa học có nhiều cách phân loại khác nhau:

1) Cách phân loại của Aristốt (384 – 322 TCN – Thời Hy Lạp cổ đại) theo mục đích ứng dụng của khoa học, có 3 loại:

  • Khoa học lý thuyết gồm: siêu hình học, vật lý học, toán học, … với mục đích tìm hiểu thực tại.

  • Khoa học sáng tạo gồm tu từ học, thư pháp, biện chứng pháp,… với mục đích sáng tạo tác phẩm.

  • Khoa học thực hành gồm: đạo đức học, kinh tế học, chính trị học, sử học,… với mục đích hướng dẫn đời sống.

2) Cách phân loại của Các Mác: có hai loại

  • Khoa học tự nhiên: có đối tượng là các dạng vật chất và các hình thức vận động của các dạng vật chất đó được thể hiện trong giới tự nhiên cùng những mối liên hệ và quy luật giữa chúng như: cơ học, toán học, sinh vật học, …

  • Khoa học xã hội hay khoa học về con người: có đối tượng là những sinh hoạt của con người, những quan hệ xã hội của con người cùng những quy luật, những động lực phát triển của xã hội như: sử học, kinh tế học, triết học, đạo đức học…

3) Cách phân loại của B.M.Kêdrôv trong “Triết học bách khoa toàn thư” NXB “ Bách khoa toàn thư Liên Xô”, Matxcơva, 1964. Có các loại:

  • Khoa học triết học: biện chứng pháp, logic học…

  • Khoa học toán học: logic toán học và toán học thực hành

  • Khoa học tự nhiên và khoa học kỹ thuật:

Cơ học và cơ thực nghiệm

Thiên văn học và du hành vũ trụ

Vật lý thiên văn

Vật lý học

Hóa lý

Lý hóa và lý kỹ thuật

Hóa học và khoa học quy trình hóa kỹ thuật với luyện kim

Hóa địa chất

Địa chất học và công nghiệp mỏ

Địa lý học

Hóa sinh học

Sinh học và khoa học nông nghiệp

Sinh lý học người và y học

Nhân loại học

  • Khoa học xã hội: lịch sử, khảo cổ học, nhân chứng học, địa lý kinh tế, thống kê kinh tế xã hội…

  • Khoa học về hạ tầng cơ sở và thượng tầng kiến trúc:

Kinh tế chính trị học

Khoa học về nhà nước pháp quyền

Lịch sử nghệ thuật và giảng dạy nghệ thuật.

Ngôn ngữ học.

Tâm lý học và khoa học sư phạm

Các khoa học khác…



4) UNESCO phân loại theo đối tượng nghiên cứu của khoa học, có 5 nhóm:

- Nhóm các khoa học tự nhiên và khoa học chính xác.

- Nhóm các khoa học và kỹ thuật công nghệ.

- Nhóm các khoa học về sức khoẻ (y học)

- Nhóm các khoa học nông nghiệp.

- Nhóm các khoa học xã hội và nhân văn

5) Phân loại theo cơ cấu của hệ thống tri thức hoặc chương trình đào tạo có:

- Khoa học cơ bản.

- Khoa học cơ sở của chuyên ngành

- Khoa học chuyên ngành (chuyên môn)

Ngoài các cách phân loại kể trên, còn có những cách tiếp cận phân loại khoa học khác như: Phân loại theo nguồn gốc hình thành khoa học; phân loại theo mức độ khái quát của khoa học; phân loại theo tính tương liên giữa các khoa học…

Mỗi cách phân loại khoa học dựa trên một tiêu thức riêng có ý nghĩa ứng dụng nhất định nhưng đều chỉ ra được mối liên hệ giữa các khoa học, là cơ sở để nhận dạng cấu trúc của hệ thống tri thức khoa học. Sự phát triển của khoa học luôn dẫn đến sự phá vỡ ranh giới cứng nhắc trong phân loại khoa học, do đó mọi cách phân loại (bảng phân loại) cần được xem như hệ thống mở, phải luôn luôn được bổ xung và phát triển.

      1. Khái niệm về NCKH.

a) Khái niệm

Nghiên cứu khoa học là quá trình khám phá, phát hiện những thuộc tính bản chất của sự vật hiện tượng và những quy luật của chúng để sáng tạo ra những giải pháp tác động vào sự vật hiện tượng nhằm biến đổi trạng thái của chúng thành mục đích của con người.

Đây là một họat động đặc biệt, hoạt động có mục đích, có kế hoạch tổ chức chặt chẽ của một đội ngũ các nhà khoa học với các phẩm chất đặc biệt được đào tạo ở một trình độ cao.

Như vậy nghiên cứu khoa học nói cho cùng cũng là nhằm thỏa mãn nhu cầu nhận thức và cải tạo thế giới.

  • Khám phá các thuộc tính bản chất của sự vật hiện tượng của thế giới hiện thực.

  • Phát hiện các quy luật của sự vật trong hiện thực.

  • Vận dụng những quy luật để vận dụng sáng tạo giải pháp tác động vào sự vật.

Nghiên cứu khoa học là một dạng lao động phức tạp nhất trong các dạng hoạt động của xã hội loài người ngày nay. Nghiên cứu khoa học là một trong những hoạt động có tốc độ nhanh nhất thời đại.

b) Chức năng của NCKH

- Mô tả: Trình bày sự vật bằng ngôn ngữ hình ảnh chung nhất của sự vật, cấu trúc trạng thái, sự vận động của sự vật… để phản ánh nó đang tồn tại như thế nào. Tác dụng của mô tả là để xây dựng được chân dung của đối tượng nghiên cứu làm công cụ nhận thức của người khác về thế giới.

Mô tả có thể về mặt định tính, có thể về mặt định lượng hoặc cả hai.

- Giải thích: Là chức năng nhằm vào việc làm rõ nguyên nhân dẫn đến sự hình thành, phát triển của sự vật với quy luật của nó. Mục đích của giải thích là đưa ra những thông tin về thuộc tính bản chất của sự vật để có thể nhận thức được đầy đủ về lĩnh vực và nội dung của sự vật, đồng thời có thể lý giải được sự hình thành và phát triển và quy luật vận động của sự vật.

Tác dụng của giải thích là giúp quá trình nhận thức của người khác có được đầy đủ các thông tin về bản chất của sự vật để họ có thể lý giải được tại sao có sự tồn tại và vận động như vậy ở sự vật.

- Tiên đoán: Phán đoán trạng thái mới của sự vật, hiện tượng trong tương lai là sự nhìn trước quá trình hình thành sự tiêu vong, sự vận động và những biểu hiện của sự vật. Để tiên đoán, các nhà khoa học (người nghiên cứu) phải dựa vào quá trình thay đổi trạng thái (từ quá khứ đến hiện tại) để phán đoán ra trạng thái mới trong tương lai, hoặc dựa vào dấu hiệu (vết) của hiện tại để phán đoán sự tồn tại và vận động của sự vật trong quá khứ hoặc trong tương lai. Nhờ chức năng mô tả và giải thích kể trên mà con người có khả năng loại suy, nhìn trước xu thế vận động và quá trình hình thành phát triển của sự vật (tiên đoán về sự vật)

Tác dụng của chức năng này giúp con người nhận thức được quá trình hình thành phát triển của sự vật để từ đó tìm ra giải pháp thích hợp tác động vào hiện tại của sự vật nhằm thúc đẩy những mặt tích cực và hạn chế những mặt tiêu cực.

Lưu ý: Công cụ của tiên đoán là phép loại suy hoặc suy luận trong tư duy khoa học của con người, nó có thể sai lệch, vì vậy trong quá trình tiên đoán con người phải thường xuyên điều chỉnh.

- Sáng tạo: Tạo ra cái mới là làm ra sự vật chưa từng tồn tại.

Đây là chức năng quan trọng bậc nhất của nghiên cứu khoa học, nó nhằm làm ra sự vật mới, sản phẩm mới, giải pháp mới (chưa từng tồn tại). Nhờ chức năng này mà thế giới khách quan ngày càng phát triển phong phú, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao càng nhiều của con người.

c) Đặc điểm của NCKH

-Tính mới: Quá trình nghiên cứu hướng vào phát hiện, sáng tạo ra những điều mà người khác chưa biết hoặc những sản phẩm cùng loại nhưng có tác dụng mới (đa chức năng). Đây là thuộc tính quan trọng số một của lao động khoa học vì nghiên cứu khoa học là quá trình thâm nhập vào thế giới của các sự vật mà con người chưa biết.

-Tính tin cậy: Đặc điểm phản ánh kết quả nghiên cứu.

Kết quả nghiên cứu chỉ được thừa nhận nhờ các phương pháp nghiên cứu nào đó mà người ta có thể kiểm chứng được nhiều lần do nhiều người thực hiện trong nhiều hoàn cảnh khác nhau nhưng kết quả thu được phải giống nhau về mặt định tính.

-Tính thông tin: Nghiên cứu khoa học là quá trình vận dụng và xử lý thông tin, sản phẩm khoa học luôn mang đặc trưng thông tin. Các thông tin trong nghiên cứu khoa học được chứa đựng dưới dạng ngôn ngữ hoặc ký tự đã được mã hóa để con người có thể trao đổi với nhau.

-Tính khách quan: Nghiên cứu khoa học phản ánh đúng đắn các thuộc tính của sự vật, các sự vật này phải được lật đi lật lại các khía cạnh, các vấn đề liên quan mới đi đến kết luận. Phải đi từ bản chất của chúng để kiểm chứng kết quả. Người nghiên cứu phải xác định được: kết luận đó có đúng không? Còn cách nào khác không để cho ta kết quả khác? đã tìm được lời giải đáp trọn vẹn cho giả thiết chưa?...

- Tính kế thừa: Các phát hiện khoa học thường được bắt đầu từ các kết quả nghiên cứu trước đó, mỗi nghiên cứu phải kế thừa các kết quả nghiên cứu trong các lĩnh vực khoa học rất khác nhau; không có một công trình khoa học nào bắt đầu từ chỗ hoàn toàn trống không về kiến thức.

-Tính cá nhân: Được thể hiện trong tư duy cá nhân và chủ kiến riêng của cá nhân. Vai trò cá nhân trong sáng tạo mang tính chất quyết định kể cả quá trình nghiên cứu khoa học xác định do một tập thể thực hiện. Tính cá nhân được thể hiện ở tính nghiên cứu vấn đề, ở cách thức (phương pháp) hình thức nghiên cứu, vận dụng và loại phương tiện nghiên cứu vận dụng trong quá trình nghiên cứu…

-Tính rủi ro: Trong quá trình nghiên cứu khoa học có thể không tìm ra kết quả, hay lời giải, song nó cũng được thừa nhận đóng góp cho một công cuộc nghiên cứu để mách bảo những nghiên cứu sau này tránh được sai lầm mà nghiên cứu trước đó đã trải qua hay mắc phải.

d) Các yêu cầu trong nghiên cứu khoa học.

Hiệu quả của nghiên cứu khoa học phụ thuộc vào các yếu tố cơ bản, chúng được coi là các yêu cầu cần phải đảm bảo trong quá trình nghiên cứu thì mới hy vọng có kết quả trong quá trình nghiên cứu.

+ Phương hướng và phương trâm nghiên cứu:

- Phương hướng là mục tiêu phấn đấu của nhà nghiên cứu hướng vào đối tượng nghiên cứu. Sự lựa chọn phương hướng mà sai dẫn đến đề xuất không đúng nhiệm vụ nghiên cứu làm cho nghiên cứu không có hiệu quả, lãng phí, thiệt hại vật chất và thời gian. Hiện nay nội dung nghiên cứu khoa học trong các nhà trường hay cơ sở đào tạo nghề nhằm vào: Phục vụ yêu cầu thiệt hại của thực tiễn đời sống hoặc sản xuất; nâng cao chất lượng đào tạo và phục vụ xây dựng nền khoa học kỹ thuật tiên tiến hiện đại và phát triển vững mạnh.

- Phương châm nghiên cứu: Là tư tưởng chỉ đạo hành động (quá trình) nghiên cứu. Thiếu sự định hướng, dẫn lối chỉ đường của phương châm nghiên cứu thì quá trình nghiên cứu cũng khó đạt được kết quả như mong ước. Phương châm nghiên cứu khoa học trong các nhà trường và các cơ sở hiện đào tạo hiện nay là:

+ Lý luận phải kết hợp với thực tiễn

+ Độc lập tự chủ thực hiện tiếp thu có phê phán, kế thừa có chọn lọc.

+ Nghiên cứu có kế hoạch, có trọng điểm có trọng tâm.

+ Kết quả các vấn đề trước mắt, lâu dài.

+ Dựa trên quan điểm triết học duy vật biện chứng (quan điểm của chủ nghĩa Mác Lênin) để vạch ra phương pháp luận duy nhất

Khoa học để nhận thức và cải tạo thế giới quan và cải tạo thế giới quan. Người nghiên cứu phải:

- Nhìn sự vật vận động và phát triển trong không gian, thời gian như là những hình thức tồn tại của vật chất là đặc tính khách quan do vật chất vận động quy định.

- Đi sâu vào bản chất của sự vật.

- Xem xét sự vật toàn diện thông qua mối quan hệ.

- Coi thực tiễn là cơ sở là động lực nhận thức.

+ Người nghiên cứu phải có phẩm chất và năng lực, nói cô đọng nhất là phải:

    • Nắm được lý thuyết cơ bản của khoa học cụ thể và phương pháp nghiên cứu

    • Có được những kinh nghiệm thực tiễn nhất định về lĩnh vực khoa học sẽ nghiên cứu

    • Có thái độ và tác phong nghiên cứu khoa học

e) Các loại hình trong nghiên cứu khoa học.

  • Nghiên cứu cơ bản: Là nghiên cứu nhằm để phát hiện bản chất và quy luật của sự vật trong hiện thực: có thể dựa trên các tiên đề, dựa trên quan sát hoặc thực nghiệm. Sản phẩm của nghiên cứu cơ bản là các phát hiện, sáng kiến, công thức, phát minh. Có rất nhiều hướng nghiên cứu cụ thể.

  • Nghiên cứu ứng dụng: Là vận dụng kết quả nghiên cứu cơ bản vào môi trường mới của sự vật để xây dựng các giải pháp, nguyên lí cụ thể trong tổ chức, quản lý hoạt động thực tiễn của con người.

  • Nghiên cứu triển khai: Là vận dụng các quy luật (từ nghiên cứu cơ bản), các nguyên lí (thu được từ nghiên cứu ứng dụng) để đưa ra hình mẫu cụ thể với các tham số đủ mang tính khả thi về kỹ thuật.

Sản phẩm của nghiên cứu này là các hình mẫu, mẫu vật… cụ thể đáp ứng vào yêu cầu của đời sống hiện thực.

  • Nghiên cứu thăm dò: là loại hình nghiên cứu cơ sở cho các loại nghiên cứu khác, có tính định hướng cho các quá trình nghiên cứu khoa học cụ thể của các lĩnh vực khác

  • Nghiên cứu dự báo: cũng là loại hình cơ sở cho các nghiên cứu khác, nhưng là phạm vi nghiên cứu ứng dụng, nghiên cứu triển khai.

1.2. Khái niệm về nghiên cứu khoa học giáo dục.

a) Khái niệm:

Nghiên cứu khoa học giáo dục là quá trình phát hiện ra những quy luật và những giải pháp của thực tiễn giáo dục nhằm thúc đẩy sự hình thành và phát triển nhân cách cho đối tượng giáo dục để đạt được mục tiêu phát triển của xã hội.

Nghiên cứu khoa học giáo dục là hoạt động tìm tòi, phát hiện và vận dụng những quy luật trong giáo dục và đào tạo con người theo yêu cầu của thực tiễn.

Nội dung của nghiên cứu khoa học giáo dục gồm:

  • Những tài liệu về quá trình sư phạm (dạy học, giáo dục) do quan sát, điều tra mà có được.

  • Những nội dung, nguyên tắc, phương pháp, hình thức tổ chức và phương tiện giáo dục đào tạo được tìm tòi khám phá.

  • Những quy trình vận dụng lý thuyết giáo dục vào thực tiễn dạy học và giáo dục, những triển khai công nghệ giáo dục.

b) Đặc điểm của nghiên cứu khoa học giáo dục:

- Đối tượng nghiên cứu là con người, là sản phẩm của tự nhiên và xã hội, có tính biến động cao.

- Sản phẩm nghiên cứu của khoa học giáo dục là nhân cách con người, nhân cách này vừa có phẩm chất cá nhân vừa mang đặc tính của lịch sử xá hội. Sản phẩm này vừa là sản phẩm tinh thần vừa có tính chất biến động cao (các chuẩn mực xã hội chỉ mang tính chất tương đối)

- Phương pháp nghiên cứu chủ yếu là phương pháp tiếp cận gián tiếp với những phương tiện do chính người nghiên cứu tạo ra nên tính tin cậy của kết quả phụ thuộc rất lớn vào năng lực của nhà nghiên cứu.

- Kết quả nghiên cứu có thể đúng trong điều kiện này, trong thời điểm lịch sử này song có thể lại không đúng trong điều kiện khác, thời điểm lịch sử khác.

2. Khái niệm về nghiên cứu khoa học giáo dục nghề nghiệp.

a) Khái niệm.

Nghiên cứu khoa học giáo dục nghề nghiệp là quá trình phát hiện những quy luật và tìm kiếm giải pháp của thực tiễn giáo dục và đào tạo kỹ thuật nghề nghiệp nhằm tạo ra những cơ hội và điều kiện để thúc đẩy sự hình thành và phát triển những phẩm chất và năng lực kỹ thuật nghề nghiệp cho người lao động nghề nghiệp tương lai để đạt được những mục tiêu phát triển của xã hội.

Giáo dục nghề nghiệp bao gồm rất nhiều lĩnh vực tương ứng với các lĩnh vực lao động nghề nghiệp khác nhau. Nhưng về tổng quát bao giờ cũng là sự gắn kết khoa học sư phạm và khoa học kỹ thuật nghề nghiệp cụ thể. Trong giáo dục đào tạo nghề nghiệp sự song hành này luôn phải đảm bảo mới có thể khẳng định được kết quả giáo dục nghề nghiệp như mục đích mong muốn ban đầu. Vì vậy trong nghiên cứu khoa học giáo dục nghề nghiệp nhà nghiên cứu rất cần có sự hiểu biết sâu rộng không chỉ về khoa học sư phạm trong tác động giáo dục về mặt phẩm chất nhân cách con người nói chung mà cần có sự hiểu biết sâu rộng về lĩnh vực kỹ thuật nghề nghiệp cụ thể để hình thành được những năng lực nghề nghiệp tương ứng chỉ sự tinh thông về chuyên môn và sư phạm trong quá trình nghiên cứu khoa học giáo dục nghề nghiệp mới có thể đi đến kết quả thực sự. Những giải pháp vận dụng kết quả vào quá trình đào tạo kỹ thuạt nghề nghiệp để đạt được những mục tiêu giáo dục nghề nghiệp của xã hội đặt ra.

b) Các cơ sở của việc nghiên cứu khoa học giáo dục nghề nghiệp

- Quan điểm lý luận nền tảng phản ánh quan điểm tiến bộ của thời đại (quan điểm tư tưởng của chủ nghĩa Mác - Lênin). Nghiên cứu khoa học giáo dục nghề nghiệp nói riêng, nghiên cứu khoa học giáo dục nói chung phải dựa trên quan điểm duy nhất khoa học - quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng quan điểm duy nhất đúng đắn

- Quan điểm phát triển nguồn nhân lực và quy luật phát triển của khoa học công nghệ.

- Các quy luật chung nhất của tự nhiên, xã hội và tư duy.

- Các thành tựu khoa học, kỹ thuật công nghệ.

II. PHÂN LOẠI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC

    1. Phân loại theo lĩnh vực nghiên cứu

Có sự tồn tại rất nhiều lĩnh vực nghiên cứu khoa học khác nhau nhưng có thể quy về các lĩnh vực nghiên cứu cơ bản sau đây:

    1. Nghiên cứu khoa học trong lĩnh vực khoa học tự nhiên.

Trong lĩnh vực khoa học tự nhiên có rất nhiều hướng với các mảng cụ thể khác nhau như toán học, vật lí học, sinh học…

Trong toán học gồm hình học, lượng giác, số học…

Sự đa dạng cụ thể trong khoa học tự nhiên tạo nên sự đa dạng của hướng nghiên cứu khoa học.

    1. Nghiên cứu khoa học trong lĩnh vực khoa học xã hội.

Gồm rất nhiều hướng với các mảng khác nhau như lịch sử, văn học, nghệ thuật, triết học…

Trong lịch sử có lịch sử cổ đại, lịch sử cận đại, lịch sử hiện đại.

Trong lịch sử cổ đại có lịch sử cổ đại La mã, lịch sử cổ đại ấn độ, lịch sử cổ đại Trung Quốc…

    1. Nghiên cứu khoa học trong lĩnh vực tư duy.

Gồm nhiều mảng cụ thể đa dạng khác nhau.

    1. Nghiên cứu khoa học trong lĩnh vực khoa học kỹ thuật công nghệ:

Đây cũng là lĩnh vực rộng gồm nhiều hướng nghiên cứu với các mảng rất phong phú, đa dạng và tương ứng với các lĩnh vực lao động nghề nghiệp cụ thể.

  1. Phân loại theo chức năng nghiên cứu:

Căn cứ vào chức năng của quá trình nghiên cứu người ta có thể chia nghiên cứu khoa học ra thành những loại cơ bản khác nhau như:

    1. Nghiên cứu khoa học cơ bản

    2. Nghiên cứu khoa học ứng dụng

    3. Nghiên cứu khoa học triển khai

    4. Nghiên cứu khoa học thăm dò

    5. Nghiên cứu khoa học dự báo

III. CƠ SỞ PHƯƠNG PHÁP LUẬN NGHIÊN CỨU KHOA HỌC GIÁO DỤC NGHỀ NGHIỆP

1. Quan điểm hệ thống:

Đây là quan điểm quan trọng nhất trong logic học biện chứng.

1.1 Khái niệm hệ thống

Hệ thống là tập hợp các yếu tố nhất định có mối quan hệ biện chứng với nhau tạo thành một chỉnh thể trọn vẹn, ổn định và có quy luật vận động tổng hợp.

  • Mỗi hệ thống cụ thể không bao giờ tồn tại độc lập và bao giờ cũng có mối liên hệ mật thiết với hệ thống và đối tượng khác cùng nằm trong một môi trường nhất định.

  • Giữa môi trường và hệ thống có mối quan hệ hai chiều: môi trường tác động và quy định hệ thống, hệ thống tác động cải tạo môi trường. (môi trường là một hệ thống lớn, chứa đựng các hệ thống nhỏ ta đang nghiên cứu và các đối tượng khác bên cạnh nó).

  • Tính hệ thống là một thuộc tính quan trọng của thế giới, đây là hình thức diễn đạt tính chất phức tạp của đối tượng và nó chính là một thông số quan trọng để đánh giá đối tượng.

  • Tính hệ thống là một công cụ quan trọng vì việc nghiên cứu các thuộc tính và quy luật của các hệ thống hoàn chỉnh là cơ sở để xây dựng quá trình nhận thức và phân tích mọi hoạt động phức tạp, chính nó tạo nên mọi giá trị thực tiễn đem lại kết quả thực sự có ích trong quá trình nghiên cứu khoa học và công nghệ.

Phương pháp hệ thống là con đường nghiên cứu một đối tượng phức tạp. Trên cơ sở phân tích đối tượng thành các bộ phận, thành phần để nghiên cứu chúng một cách sâu sắc…là tìm ra hệ thống của đối tượng.

Phương pháp hệ thống là một công cụ của phương pháp luận giúp ta nghiên cứu thành công một số đối tượng phức tạp và cho ta một số sản phẩm khoa học mang tính logic chặt chẽ.

1.2 Quan điểm hệ thống

Là một luận điểm quan trọng chỉ dẫn quá trình nghiên cứu đối tượng phức tạp, là cách tiếp cận đối tượng bằng phương pháp hệ thống để tìm ra cấu trúc của đối tượng và phát hiện ra tính hệ thống một thuộc tính quan trọng của đối tượng.

Quan điểm hệ thống yêu cầu nghiên cứu đối tượng theo quy luật của cái toàn thể có tính hệ thống với các thành phần có mối quan hệ tương tác biện chứng hữu cơ. Nhờ quan điểm hệ thống các đối tượng nghiên cứu của ta mới có thể được xem xét từ quan điểm “vật tâm” sang quan điểm “hệ tâm” rồi “nhiều trung tâm” và “siêu hệ thống”. Các tri thức được đánh giá theo nhiều bậc thang từ đối tượng ở dạng cô lập ta có tri thức đặc thù, cá thể; ở bậc thang thứ hai, đối tượng được nhận thức như một hệ thống, một phần của sự phát triển lịch sử; ở bậc thang thứ ba cho ta tri thức tổng hợp, khái quát bao trùm nhiều đối tượng.

Quan điểm hệ thống cho phép nhìn nhận đối tượng một cách sâu sắc toàn diện, khách quan vê hiện tượng giáo dục, thấy được mối quan hệ của hệ thống đối với các đối tượng khác trong hệ thống lớn, từ đó xác định được con đường tổng hợp tối ưu để nâng cao chất lượng giáo dục.

Lưu ý: Nhà nghiên cứu các hiện tượng giáo dục theo quan điểm hệ thống.

  • Nghiên cứu các hiện tượng đó một cách toàn diện, trên nhiều mặt, dựa vào việc phân tích đối tượng thành các bộ phận.

  • Xác định mối quan hệ hữu cơ giữa các yếu tố của hệ thống để tìm ra quy luật phát triển của hiện tượng giáo dục.

  • Nghiên cứu hiện tượng giáo dục trong mối quan hệ tương tác với các hiện tượng xã hội khác, với toàn bộ nền văn hóa, xã hội, tìm môi trường thuận lợi cho sự phát triển giáo dục.

  • Khi trình bày kết quả nghiên cứu khoa học giáo dục phải rõ ràng, khúc triết theo một hệ thống chặt chẽ có tính logic cao.

2. Quan điểm lịch sử - lôgic

2.1. Khái niệm:

- Lịch sử là sự phát triển, diễn biến có thật của các sự vật hiện tượng khách quan. Diễn biến lịch sử phức tạp, quanh co, đầy mâu thuẫn trong những hoàn cảnh cụ thể nhất định có quan hệ nhân quả là đặc trưng diễn biến của lịch sử.

Lịch sử là sự thật khách quan ngoài ý muốn chủ quan của con người.

- Logic là sự phản ánh trong tư duy của con người quá trình diễn biến lịch sử của hiện thực khách quan. (Lôgic là cái tất yếu có quy luật của sự phát triển lịch sử, là trật tự của quá trình phát triển, là con đường, là kết quả nhận thức của con người)

NCKH chính là quá trình phát hiện ra lôgic tất yếu của sự kiện.

    1. Quan điểm - lịch sử logic trong nghiên cứu khoa học giáo dục nghề nghiệp.

Là việc thực hiện quá trình nghiên cứu đối tượng bằng phương pháp lịch sử (tìm hiểu, phát hiện sự nảy sinh, phát triển của giáo dục trong những điều kiện thời gian và không gian cụ thể với những hoàn cảnh cụ thể để phát hiện cho được quy luật tất yếu của quá trình sư phạm, quá trình giáo dục hay quá trình dạy học.

Lôgic hay lịch sử tuy là hai nhưng thống nhất, biện chứng với nhau.

Đảm bảo thống nhất giữa tính lịch sử và tính lôgic trong nghiên cứu khoa học giáo dục là tôn trọng lịch sử khách quan là thấu hiểu được điều kiện có thật của mọi sự phát sinh, phát triển, diễn biến của các hiện tượng giáo dục, để tìm ra được các quy luật phát triển chung nhất của sự thật lịch sử ấy, giúp nhà nghiên cứu tránh được các vấp váp không đáng có.

Lưu ý: Khi nghiên cứu khoa học giáo dục người nghiên cứu phải:

  • Dùng các sự kiện lịch sử để minh họa, để chứng minh làm sáng tỏ các luận điểm khoa học các nguyên lý sư phạm.

  • Dùng các tài liệu lịch sử theo một chuẩn mực để đánh giá các kết luận sư phạm hoặc các chân lý khoa học.

  • Dựa vào các kết luận lịch sử với các quy luật tất yếu, các lôgic khách quan mà xây dựng giả thuyết khoa và chứng minh cho giả thuyết đó.

  • Dựa vào xu thế phát triển của lịch sử giáo dục để nghiên cứu thực tiễn giáo dục, tìm ra các khả năng mới dự đoán các khuynh hướng phát triển của các hiện tượng giáo dục.

  • Dựa vào lịch sử để thiết kế mô hình các biện pháp, các hình thức giáo dục mới, thiết kế các triển vọng phát triển của quá trình giáo dục.

  • Sưu tập, xử lý thông tin, kinh nghiệm giáo dục để giải quyết các nhiệm vụ giáo dục nhằm ngăn ngừa và tránh khỏi các sai lầm, khuyết điểm có thể lặp lại trong tương lai.

3. Quan điểm thực tiễn trong nghiên cứu khoa học giáo dục nghề nghiệp.

3.1. Khái niệm:

Thực tiễn là hiện thực khách quan với những sự kiện phức tạp, những diễn biến đa dạng, nhiều khuynh hướng khác nhau. Nghiên cứu khoa học giáo dục là khám phá thực tiễn giáo dục để tìm ra bản chất và quy luật phát triển của chúng để cải tạo chúng phục vụ mục đích giáo dục của con người. Thực tiễn giáo dục là tiêu chuẩn đánh giá kết quả nghiên cứu giáo dục. Kết quả nghiên cứu được ứng dụng nhằm cải tạo thực tiễn giáo dục. Thực tiễn giáo dục là nguồn gốc, là động lực là tiêu chuẩn và mục đích của toàn bộ quá trình nghiên cứu khoa học giáo dục.

Thực tiễn giáo dục nghề nghiệp rất đa dạng gắn liền với sự tồn tại và phát triển của nghề nghiệp trong xã hội. Nếu đặt ra cho nghiên cứu khoa học giáo dục nghề nghiệp rất nhiều nhiệm vụ mới. Nhất là các nhiệm vụ tìm kiếm các điều kiện phát triển nghề nghiệp và khuynh hướng liên kết tích hợp các nghề nghề liên quan đó tạo ra các sản phẩm đa dạng hoặc giải quyết được các vấn đề có tính chất trừu tượng mà trong chừng mực các chuyên môn hẹp của nghề nghiệp không tự tháo gỡ được.

3.2. Quan điểm thực tiễn trong nghiên cứu khoa học giáo dục:

Đòi hỏi quá trình nghiên cứu khoa học giáo dục luôn phải bám sát thực tiễn phục vụ cho sự nghiệp phát triển giáo dục của đất nước.

Nghiên cứu và ứng dụng là hai mắt xích của chu trình nghiên cứu khoa học - nghiên cứu thực tiễn và ứng dụng kết quả nghiên cứu vào thực tiễn, cải tạo thực tiễn. Vì vậy, quá trình thực tiễn trong nghiên cứu khoa học giáo dục nghề nghiệp có ý nghĩa phương pháp luận to lớn.

Lưu ý: Trong quá trình nghiên cứu khoa học để thực hiện tốt quan điểm thực tiễn, nhà nghiên cứu cần quan tâm tới những điểm sau:

- Phát hiện các mâu thuẫn, các khó khăn, những cản trở trong thực tiễn giáo dục và lựa chọn trong số đó những vấn đề nổi cộm, cấp thiết làm đề tài nghiên cứu.

- Phân tích sâu sắc các vấn đề của thực tiễn giáo dục tìm được bản chất của chúng các thông tin từ thực tiễn giúp ta minh hoạ, chứng minh cho những nguyên lý, lý thuyết giáo dục và giúp ta khái quát tạo thành các quy luật hoặc các nguyên lý giáo dục mới.

- Luôn bám sát thực tiễn giáo dục trong quá trình nghiên cứu khoa học giáo dục nghề nghiệp sao cho lý luận và thực tiễn phải luôn gắn bó với nhau. Tổ chức nghiên cứu thực nghiệm các lý thuyết khoa học giáo dục để kiểm nghiệm lý thuyết, từ đó mà ứng dụng vào thực tiễn một cách có kết quả.

- Lý luận giáo dục và thực tiễn giáo dục phải song hành. Lý luận không được xa rời thực tiễn, thực tiễn không được đối lập hay phủ định lý luận. Lý luận giáo dục chỉ có giá trị khi nó soi sáng thực tiễn, cải tạo thực tiễn. Lý luận phải là những luận điểm có thể ứng dụng được và đem lại những hiệu quả thiết thực. “Thực tiễn giáo dục mảnh đất phì nhiêu đem lại sức sống cho lý luận giáo dục”.



4. Quan điểm phát triển trong nghiên cứu khoa học giáo dục nghề nghiệp:

4.1. Khái niệm

Các sự vật hiện tượng của thế giới khách quan luôn vận động và phát triển theo các quy luật chung và quy luật đặc thù. Các sự vật hiện tượng trong đời sống nói chung và trong hoạt động đào tạo nghề nói riêng đều có sự vận động biến đổi liên tục. Sự biến đổi này được diễn ra theo các quy luật rất rõ rệt; vấn đề đặt ra cho nghiên cứu khoa học giáo dục nghề nghiệp là phải tìm ra cho được các quy luật vận động và biến đổi này để xác định các giải pháp tác động sao cho quá trình vận động biến đổi của quá trình giáo dục của hoạt động giáo dục phù hợp với mục đích giáo dục nghề nghiệp đặt ra, sao cho đạt được mục đích xã hội về giáo dục nghề nghiệp. Mục đích giáo dục nghề nghiệp luôn vận động biến đổi ở những giai đoạn lịch sử khác nhau, vì thế việc tìm kiếm các giải pháp và điều kiện tác động để giáo dục nghề nghiệp đạt được mục đích định trước là một yêu cầu xuyên suốt trong quá trình nghiên cứu khoa học giáo dục nghề nghiệp.

4.2. Quan điểm phát triển trong nghiên cứu khoa học giáo dục nghề nghiệp

Tiếp cận nghiên cứu khoa học giáo dục nghề nghiệp theo quan điểm phát triển cho phép nhìn nhận và nghiên cứu vấn đề trong quá trình diễn tiến không chỉ trong quá khứ, hiện tại mà còn cần định hướng đến tương lai. Quan điểm phát triển có ý nghĩa quan trọng và to lớn trong điều kiện phát triển nhanh chóng về kinh tế - xã hội, tiến bộ khoa học công nghệ của thời đại ngày nay.

Hệ thống các nghề nghiệp ngày nay phát triển mạnh mẽ theo hướng phân hoá của nghề nghiệp và sự tích hợp của các nghề nghiệp, yêu cầu phát triển đặt ra trong nghiên cứu khoa học giáo dục nghề nghiệp đòi hỏi tăng cường hơn nữa gia tốc của sự phát triển nghề nghiệp tương ứng với sự nghiệp giáo dục nghề nghiệp và phải đảm bảo ứng dụng nhanh chóng các thành tựu khó học kỹ thuật- công nghệ hiện đại vào lĩnh vực phát triển nghề, nâng cao hơn nữa hiệu quả giáo dục nghề nghiệp, đáp ứng xu thế phát triển chung của xã hội về nghề nghiệp.

5. Quan điểm khách quan trong nghiên cứu khoa học giáo dục nghề nghiệp

5.1. Khái niệm

Khách quan là sự tồn tại của các sự vật hiện tượng trong thế giới hiện thực không phụ thuộc vào ý thức chủ quan của con người. Nó là cái không thuộc về chủ quan của cá nhân. Nó là cái xuất phát từ thực tế, biểu hiện thực tế một cách trung thực không thiên lệch.

Nghiên cứu khoa học là tìm kiếm, phát hiện các quy luật khách quan, điều kiện khách quan chi phối sự vận động biến đổi của sự vật, tìm kiếm các điều kiện chủ quan có thể chi phối tác động làm thay đổi cái khách quan. Nghiên cứu khoa học là để khám phá những đặc trưng bản chất, các quy luật vận động và phát triển của đối tượng, của các vấn đề nghiên cứu.

5.2. Quan điểm khách quan trong nghiên cứu khoa học giáo dục nghề nghiệp

Quá trình nghiên cứu phải đảm bảo tính khách quan, hạn chế mức thấp nhất những nhân tố chủ quan suy diễn, áp đặt khi tìm hiểu, phân tích, đánh giá các vấn đề nghiên cứu. Quan điểm khách quan đảm bảo các kết quả trung thực của quá trình nghiên cứu và nâng cao giá trị khoa học, giá trị thực tiễn của các kết quả nghiên cứu.

IV. NHỮNG KHÍA CẠNH PHƯƠNG PHÁP LUẬN CHỦ YẾU TRONG NGHIÊN CỨU KHOA HỌC GIÁO DỤC NGHỀ NGHIỆP

1. Nghiên cứu quá trình đào tạo của một nghề cụ thể

Xét góc độ tổng quát thì nghiên cứu khoa học giáo dục nghề nghiệp có đối tượng là quá trình đào tạo nghề nghiệp, quá trình này có thể diễn ra ở trong hoặc ngoài nhà trường, phạm vi quá trình giáo dục đào tạo nghề nghiệp trong nhà trường hoặc cơ sở đào tạo là đối tượng trọng tâm của nghiên cứu khoa học giáo dục nghề nghiệp. Quá trình đào tạo nghề nghiệp có cấu trúc phức tạp gồm nhiều nhân tố tham gia khác nhau như mục tiêu, nội dung, phương pháp, phương tiện, hình thức tổ chức, phương pháp đánh giá, môi trường hoạt động dạy học và các chủ thể tham gia trong quá trình này (giáo viên và học sinh). Có thể nói quá trình đào tạo là quá trình thực hiện đồng thời và tương hỗ các hoạt động (hoạt động dạy của giáo viên và hoạt động học tập của học sinh) để thực hiện các nhiệm vụ và nội dung đào tạo nghề nghiệp hướng tới đạt mục tiêu đào tạo nghề nghiệp trong các môi trường và điều kiện giáo dục nghề nghiệp cụ thể.

Việc nghiên cứu quá trình đào tạo của nghề nghiệp cụ thể phải đề cập tới nhiều phạm vi phải đúng trên quan điểm tổng hợp để nghiên cứu.

+ Xét tới phạm vi nghiên cứu: quá trình đào tạo một nghề cụ thể cần đề cập tới nhiều khía cạnh khác nhau:

- Quá trình hình thành và phát triển của của nghề đào tạo trong lịch sử

- Vị trí vai trò, tầm quan trọng của nghề trong hệ thống các nghề của xã hội hiện đại.

- Tương lai triển vọng phát triển của nghề trong hệ thống các nghề nghiệp. Các thuận lợi và khó khăn trong hiện tại và tương lai của nghề nghiệp.

- Các cơ chế chính sách xã hội của nhà nước, các điều kiện thuận lợi về mặt xã hội đối với sự phát triển của nghề.

+ Quan điểm nghiên cứu quá trình đào tạo nghề: để nghiên cứu quá trình đào tạo nghề cụ thể cần dựa trên các quan điểm khoa học kể trên, phải dựa trên các cơ sở phương pháp luận của việc nghiên cứu khoa học giáo dục, đó là cơ sở triết học và các quan điểm tiếp cận: quan điểm hệ thống, quan điểm lịch sử - logic, quan điểm thực tiễn, quan điểm khách quan và quan điểm phát triển; trên cơ sở các tri thức về khoa học sư phạm và tri thức về khoa học chuyên môn kỹ thuật nghề nghiệp để nghiên cứu.

- Các tri thức về khoa học sư phạm làm cơ sở cho nghiên cứu quá trình đào tạo nghề nghiệp cần được đề cập tới tri thức cơ sở của khoa học sư phạm, đó là tâm lý học, điều khiển học, lý luận giáo dục nhân cách, lý luận dạy học, phương pháp nghiên cứu khoa học giáo dục…Việc tiếp cận những tri thức nền tảng sẽ giúp cho quá trình tiến hành hoạt động giáo dục đào tạo nghề nghiệp cụ thể diễn ra đúng kế koạch, đạt mục đích và đạt được hiệu quả tối ưu như mục đích được xây dựng trước.

- Ngoài các tri thức về khoa học sư phạm, để nghiên cứu quá trình đào tạo nghề nghiệp cụ thể có kết quả thực sự, người nghiên cứu cần có sự am hiểu sâu sắc về khoa học chuyên môn thuộc lĩnh vực nghề nghiệp cụ thể, sự tinh thông chuyên môn và nghiệp vụ như vậy mới cho phép ta định hướng và thực hiện những nhiệm vụ nghiên cứu quá trình đào tạo nghề nghiệp , đạt được mục đích định trước.

2. Nghiên cứu chuyên biệt từng bộ phận cấu thành quá trình giáo dục đào tạo

Quá trình hình thành nhân cách nghề nghiệp là một quá trình có sự tham gia của nhiều yếu tố khác nhau. Điều đó đặt ra cho quá trình nghiên cứu khoa học giáo dục nghề nghiệp phải có sự định hướng nghiên cứu chuyên biệt từng bộ phận cấu thành của quá trình đào tạo nghề nghiệp. Cụ thể ta nên đề cập tới các khía cạnh sau:

- Từ nghiên cứu nhu cầu nhân lực xã hội, trên cơ sở mô hình chung về con người Việt Nam ta đi đến xây dựng cơ sở lý luận chung về giáo dục nghề nghiệp.

- Với nhu cầu nhân lực xã hội ta xác định mô hình hoạt động nghề nghiệp, mô hình này xuất phát từ nhu cầu trên nhưng cũng đồng thời tác động trở lại đáp ứng các yêu cầu của nhu cầu nhân lực lao động xã hội.

- Mô hình hoạt động nghề nghiệp là cơ sở chủ yếu để xây dựng mô hình nhân cách trên cơ sở mẫu mô hình chung về con người Việt Nam. Cấu trúc mô hình hoạt động nghề nghiệp không chỉ phản ánh chủ yếu các hoạt động nghề nghiệp theo chức năng, nhiệm vụ lao động cụ thể hoặc theo quy trình lao động tương ứng với từng loại hình lao động mà còn hướng tới loại hình lao động sáng tạo trong lao động nghề nghiệp - các loại hình này là thước đo trình độ phát triển về chất trong quá trình phát triển và hoàn thiện trình độ nghề nghiệp của mỗi cá nhân, đồng thời là mục tiêu vươn tới hoạt động giáo dục đào tạo nghề nghiệp.

- Từ mô hình nhân cách nghề nghiệp và nhu cầu nhân lực lao động xã hội ta xây dựng mô hình đào tạo nghề nghiệp thích ứng. Mô hình đào tạo nghề nghiệp là quá trình hình thành một phương thức, nội dung quy trình đào tạo hợp lý và liên tục trong một thời gian nhất định để đạt được mục tiêu đào tạo, hình thành và phát triển nhân cách nghề nghiệp. Vấn đề nhân cách nghề nghiệp là một vấn đề phức tạp, giải quyết tốt các khía cạnh khác nhau của nó sẽ tạo điều kiện thuận lợi không chỉ cho các yêu cầu về nghiên cứu chiên slược đào tạo nhân lực trong thời kỳ công nghiệp hóa - hiện đại hóa mà còn đóng góp tích cực vào quá trình nghiên cứu tìm kiếm các phương thức đào tạo mới thích hợp với điều kiện thực tiễn, nâng cao chất lượng giáo dục đào tạo nghề nghiệp.

Ta có thể tóm tắt các khía cạnh trên theo sơ đồ sau:















V. PHÂN LOẠI VÀ ĐẶC TRƯNG CÁC LĨNH VỰC NGHIÊN CỨU KHOA HỌC GIÁO DỤC NGHỀ NGHIỆP:

1. Phân loại theo chuyên ngành khoa học

Từ đặc trưng các lĩnh vực khoa học nghề nghiệp tương ứng với các chuyên ngành khoa học ta có thể phân chia nghiên cứu khoa học giáo dục nghề nghiệp tương ứng như sau:

1.1. Nghiên cứu khoa học giáo dục nghề nghiệp trong lĩnh vực kỹ thuật thông tin

Đây là lĩnh vực rộng bao gồm nhiều mảng độc lập nhưng có quan hệ thống nhất trong một hệ thống lớn như: Kỹ thuật thu thập, kỹ thuật lưu giữ, kỹ thuật xử lý, kỹ thuật chế biến, kỹ thuật truyền nhận thông tin. Các lĩnh vực này luôn có sự thay đổi về công nghệ tạo nên sự phát triển mạnh mẽ và chi phối các lĩnh vực khoa học khác (công nghệ thông tin).

1.2. Nghiên cứu khoa học trong lĩnh vực kỹ thuật cơ khí

Kỹ thuật cơ khí là lĩnh vực rộng nó bao gồm nhiều lĩnh vực kỹ thuật trong đó cơ khí cụ thể: Cơ khí Chế tạo máy, Cơ khí Động lực, Cơ khí Hàn... trong mỗi lĩnh vực cụ thể trên lại bao gồm nhiều phạm vi cụ thể khác nhau như: Cơ khí chế tạo có các chuyên ngành như Phay, Tiện, Bào, Nguội, Rèn, Đúc, Mộc.... Sự phong phú của mỗi lĩnh vực sáng tạo nên sự đa dạng về những nghiên cứu và đề tài nghiên cứu trong nghiên cứu khoa học giáo dục nghề nghiệp cụ thể.

1.3. Nghiên cứu khoa học giáo dục nghề nghiệp trong lĩnh vực kỹ thuật Điện - Điện tử:

Kỹ thuật Điện - Điện tử gồm nhiều chuyên ngành với các chuyên môn cụ thể khác nhau như: Điện tử có các mảng thiết bị điện tử và kỹ thuật mạnh với chuyên ngành cụ thể khác nhau: như Vi xử lý, Truyền số liệu,...

1.4. Nghiên cứu khoa học giáo dục nghề nghiệp trong lĩnh vực nông nghiệp.

Đây cũng là một lĩnh vực rộng gồm nhiều lĩnh vực cụ thể khác nhau và cũng đặt ra cho nghiên cứu khoa học giáo dục nghề nghiệp nhiều khía cạnh xem xét.

1.5 . Nghiên cứu khoa học trong lĩnh vực kỹ thuật tổ chức quản lý

Các yếu tố cấu thành của bất kỳ một hoạt động kinh doanh, sản xuất, hay lao động khoa học nào cũng cần tới: Nguồn lực con người, cơ sở vật chất kỹ thuật, sự đầu tư… Trong đó sự thành công của hoạt động có sự tuỳ thuộc rất lớn vào yếu tố tổ chức quản lý. Sự tinh thông trong hoạt động này không thể bỏ qua các kỹ thuật tổ chức – quản lý. Ngay trong thời đại ngày nay tổ chức quản lý là một lĩnh vực khoa học có tính khoa học và sự tinh tế của nghệ thuật điển hình vận dụng điều khiển, tới các yếu tố đặc biệt là con người. Nghiên cứu khoa học giáo dục nghề nghiệp trong lĩnh vực tổ chức quản lý đề cập tới nhiều khía cạnh của kỹ thuật điều khiển, thuật tâm lý, khoa học tổ chức lao động.

2. Phân loại theo tính chất nghiên cưú

2.1. Nghiên cứu khoa học giáo dục nghề nghiệp có tính chất vĩ mô

Nhằm xây dựng đường lối, chiến lược, xác định các xu hướng phát triển của giáo dục kỹ thuật nghề nghiệp. Những nghiên cứu ở phạm vi tổng quát này chính là:

- Những nghiên cứu dự báo: Loại hình nghiên cứu nhằm xác định phương hướng phát triển, khả năng đạt được của những thành tựu mới trong tương lai của giáo dục nghề nghiệp, trên cơ sở phân tích các thông tin khách quan, các quy luật phát triển khoa học và công nghệ từ đó mà xây dựng các chương trình, tổ chức và nghiên cứu khoa học giáo dục nghề nghiệp nhằm phát triển các nguồn lực lao động nghề nghiệp tương lai cho đất nước.

Nghiên cứu thường hướng đến các cấp độ: (tồn tại 3 cấp độ trong nghiên cứu khoa học nói chung).

+ Cấp I: Dự báo cho 15  20 năm

+ Cấp II: Dự báo cho 40  50 năm

+ Cấp III: Dự báo cho 100 năm.

Trong nghiên cứu khoa học giáo dục nghề nghiệp thường tập trung ở cấp độ I (1520 năm) vì các lĩnh vực kỹ thuật nghề nghiệp có sự biến thiên rất lớn về xu hướng, triển vọng của các loại hình nghề nghiệp.

- Nghiên cứu thăm dò: là loại hình nghiên cứu những phương hướng tiếp theo cho hoạt động khoa học. Tìm thị trường lao động nghề nghiệp, tìm khả năng ứng dụng và điều kiện thuận lợi nhất cho lĩnh vực khoa học chuyên môn đó phát triển.

2.2. Nghiên cứu khoa học giáo dục nghề nghiệp có tính chất vi mô

Nhằm xây dựng những giải pháp trực tiếp cho sự phát triển giáo dục nghề nghiệp trong từng vùng từng giai đoạn phù hợp với sự phát triển của kinh tế xã hội ở mỗi thời kỳ. Theo tính chất trên, các nghiên cứu khoa học giáo dục nghề nghiệp nhìn vào đặc điểm lao động nghề nghiệp của địa phương để tìm ra cách vận dụng tối ưu cho việc phát huy hiệu quả lao động nghề nghiệp mỗi vùng. Xu hướng này đang có rất nhiều quốc gia, việc xây dựng chương trình đào tạo nghề theo năng lực thực tiễn, phát triển chương trình đào tạo nghề nghiệp theo hướng modul hoá, kết hợp giữa đào tạo nghề truyền thống với đào tạo theo modul... là những hướng tích cực và hữu hiệu của giáo dục nghề nghiệp đang đặt ra những vấn đề nghiên cứu rất rộng cho nghiên cứu khoa học giáo dục nghề nghiệp tầm vi mô.

3. Phân loại theo phạm vi nghiên cứu

Dựa vào các nghề nghiệp ta có thể triển khai nghiên cứu khoa học giáo dục nghề nghiệp theo các phạm vi:

3.1. Nghiên cứu khoa học giáo dục nghề nghiệp ở diện nghề

Đây cũng có thể coi là những nghiên cứu có tính chất tổng quát ở tầm vĩ mô để xây dựng cơ cấu nghề, đường lối chiến lược phát triển của nghề nghiệp ở phạm vi riêng của nhiều nghề:

Diện nghề: Là phạm vi rộng hàm chứa nhiều lĩnh vực nghề với các nghề cụ thể. Như diện nghề Cơ khí hàm chứa trong đó rất nhiều lĩnh vực Cơ khí cụ thể như: Cơ khí Chế tạo máy, Cơ khí Động lực

3.2. Nghiên cứu khoa học giáo dục nghề nghiệp ở lĩnh vực nghề:

Là lĩnh vực nghiên cứu hàm chứa nhiều nghiên cứu nghề cụ thể. Bởi lĩnh vực nghề bao gồm sự cấu thành của nhiều nghề có chuyên môn liên quan gần gũi. Như lĩnh vực nghề cơ khí chế tạo máy có nghề Tiện, Nguội, Phay, Bào, Mài, Đục, Mộc... Những nghiên cứu khoa học giáo dục nghề nghiệp trong các lĩnh vực nghề trên cũng rất phong phú.

3.3. Nghiên cứu khoa học giáo dục nghề nghiệp ở nghề cụ thể

Đây là những nghiên cứu nhằm vào các nhân tố quá trình lao động, tổ chức lao động khoa học an toàn - vệ sinh lao động... tối ưu hoá hiệu quả lao động.

3.4. Nghiên cứu khoa học giáo dục nghề nghiệp ở công việc cụ thể trong mỗi nghề

Đây là phạm vi rất cụ thể sự thích ứng nghề nghiệp, các phẩm chất tối ưu của người lao động với lĩnh vực cụ thể: mối quan hệ nhóm trong lao động nghề nghiệp thuộc công việc....



4. Phân loại theo đối tượng nghiên cứu

4.1. Các nghiên cứu khoa học giáo dục nghề nghiệp ở đối tượng học nghề

Có nhiều phạm vi nghiên cứu cụ thể ở đối tượng học nghề: các đặc điểm tâm lý xã hội, các đặc điểm tâm lý của cá nhân (các đặc điểm cá tính và lao động nghề nghiệp kỹ thuật) các đặc trưng tâm sinh lý của học sinh học nghề cụ thể...

4.2. Các nghiên cứu khoa học giáo dục nghề nghiệp ở đối tượng tái hoà nhập nghề.

Đối tượng thất nghiệp, khuyết tật đối tượng tái hoà nhập nghề có rất nhiều vấn đề có thể nghiên cứu trong nghiên cứu khoa học giáo dục nghề nghiệp. Như đặc điểm tâm lý của đối tượng, những vấn đề tâm lý xã hội có đối tượng trong tái hoà nhập, cơ sở xã hội của sự bền vững trong tái hoà nhập nghề nghiệp. Sự tương thích giữa con người và nghề nghiệp trong quá trình tái hoà nhập nghề...

4.3. Nghiên cứu khoa học giáo dục nghề nghiệp hoàn thiện nghề

Ở nhiều nghề với sự thay đổi về chuyên môn sự yêu cầu nâng cao trình độ tay nghề thường xuyên... là những yêu cầu cần thiết của quá trình hoàn thiện nghề. Các nghiên cứu khoa học giáo dục nghề nghiệp trong phạm vi này sẽ xoay quanh nhiều nội dung cụ thể như: xu hướng hoàn thiện của nghề nghiệp. Các yêu cầu tâm lý học đối với người lao động trong nâng cao sự hoàn thiện trình độ lao động...

VI. MỘT SỐ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU TRONG LĨNH VỰC GIÁO DỤC NGHỀ NGHIỆP

1. Nghiên cứu hệ thống giáo dục - đào tạo dạy nghề trong hệ thống giáo dục quốc dân Việt Nam.

Những vấn đề nghiên cứu trong hệ thống giáo dục đào tạo dạy nghề trong hệ thống giáo dục quốc dân Việt Nam rất rộng như.

  • Xu hướng hoàn thiện hệ thống giáo dục đào tạo dạy nghề trong hệ thống giáo dục quốc dân Việt Nam

  • Vấn đề nâng cao năng lực thực tiễn của hệ thống giáo dục đào tạo dạy nghề trong hệ thống giáo dục quốc dân Việt Nam

  • Đánh giá chất lượng của hệ thống giáo dục đào tạo dạy nghề của Việt Nam với các nước trong khu vực.

  • Xây dựng tiêu chuẩn chất lượng của hệ thống giáo dục đào tạo dạy nghề Việt Nam.

2. Nghiên cứu môi trường giáo dục đào tạo nghề nghiệp có nhiều vấn đề nghiên cứu xoay quanh chủ đề về môi trường giáo dục đào tạo nghề nghiệp như

  • Mối quan hệ đầu vào và đầu ra của giáo dục đào tạo nghề nghiệp.

  • Các chính sách và sự đầu tư của Nhà nước về phát triển các chương trình giáo dục đào tạo nghề nghiệp.

  • Những thuận lợi và khó khăn trong sự phát triển giáo dục đào tạo nghề nghiệp ở các giai đoạn lịch sử.

  • Tính cạnh tranh trong phát triển chương trình giáo dục đào tạo nghề nghiệp.

  • Những cơ sở hoàn thiện hệ thống giáo dục đào tạo nghề nghiệp và điều kiện nâng cao chất lượng giáo dục đào tạo nghề nghiệp.

3. Nghiên cứu nội dung, kế hoạch và chương trình đào tạo nghề nghiệp

Đây cũng là một phạm vi rộng bao gồm nhiều lĩnh vực cần đề cập như:

  • Vấn đề cải cách nội dung giáo dục đào tạo nghề nghiệp. Trong xu thế của cải cách giáo dục.

  • Xu hướng phát triển nội dung kế hoạch và chương trình đào tạo trong thời kỳ đổi mới.

  • Những cơ sở lý luận và thực tiễn của công việc xây dựng nội dung, kế hoạch và chương trình đào tạo nghề nghiệp.

  • Nội dung

4. Nghiên cứu một số nội dung khác

Ngoài các nội dung cơ bản kể trên có thể đề cập tới các vấn đề cụ thể khác trong nghiên cứu giáo dục nghề nghiệp như:

  • Vấn đề giáo dục an toàn lao động trong giáo dục đào tạo nghề nghiệp.

  • Vấn đề giáo dục ý thức trách nhiệm và kỷ luật lao động trong giáo dục đào tạo nghề nghiệp.



Câu hỏi ôn tập

  1. Trình bày bản chất của khoa học và vai trò của nó trong cuộc sống.

  2. Trình bày bản chất của công nghệ: Nêu mối quan hệ biện chứng giữa khoa học và công nghệ. Ý nghĩa của công nghệ đối với nền sản xuất hiện đại.

  3. Trình bày các nguyên tắc phân loại khoa học. Hãy tìm vị trí của khoa học giáo dục trong bảng phân loại đó.

  4. Hãy trình bày ý nghĩa của việc quán triệt các quan điểm phương pháp luận trong NCKH nối chung và KHGDNN nói riêng.

  5. Phân tích làm nổi bật: bản chất, ý nghĩa, nội dung và cách thực hiện quan điểm hệ thống - cấu trúc, lịch sử – lô gic và thực tiễn trong nghiên cứu khoa học giáo dục nghề nghiệp. Liên hệ với thực tế giáo dục.

































Chương 2: Các phương pháp Nghiên cứu khoa học

giáo dục nghề nghiệp

Phương pháp nghiên cứu khoa học là cách thức, con đường, là phương tiện để giải quyết các nhiệm vụ nghiên cứu nhằm đạt được mục đích nghiên cứu.

Phương pháp nghiên cứu khoa học là phạm trù trung tâm của phương pháp luận nghiên cứu khoa học; là điều kiện đầu tiên cơ bản nhất của nghiên cứu khoa học. Tất cả tính nghiêm túc của nghiên cứu khoa học phụ thuộc vào phương pháp. Phương pháp nằm trong tay vận mệnh của cả công trình nghiên cứu. Phương pháp đúng, phù hợp là nhân tố dẩm bảo cho sự thành công của người nghiên cứu và là điều kiện cơ bản quyết định để hoàn thành thắng lợi công trình nghiên cứu.

Kết quả giải quyết các nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài phụ thuộc vào phương pháp luận, phương pháp hệ mà trực tiếp vào các phương pháp nghiên cứu cụ thể được tổ chức và thực hiện một cách nghiêm túc và khoa học. Do đó, đòi hỏi người nghiên cứu cần tiếp cận đúng đắn với đối tượng, biết tìm, chọn, sử dụng các phương pháp nghiên cứu thích hợp hiệu nghiệm.

I. KHÁI NIỆM VỀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU KHOA HỌC GIÁO DỤC NGHỀ NGHIỆP

1. Khái niệm về phương pháp nghiên cứu khoa học giáo dục nghề nghiệp

1.1. Khái niệm về phương pháp nghiên cứu khoa học

Phương pháp nghiên cứu khoa học là gì?

- Dưới góc độ thông tin: Phương pháp nghiên cứu khoa học là cách thức, con đường, phương tiện thu thập, xử lý thông tin khoa học (số liệu, sự kiện) nhằm làm sáng tỏ vấn đề nghiên cứu để giải quyết nhiệm vụ nghiên cứu và cuối cùng đạt được mục đích nghiên cứu.

Nói cách khác: Phương pháp nghiên cứu khoa học là những phương thức thu thập và xử lý thông tin khoa học nhằm mục đích thiết lập những mối liên hệ và quan hệ phụ thuộc có tính quy luật và xây dựng lý luận khoa học mới.

- Dưới góc độ hoạt động: Phương pháp nghiên cứu khoa học là hoạt dộng có đối tượng, chủ thể (người nghiên cứu) sử dụng những thủ thuật, biện pháp, thao tác tác động, khám phá đối tượng nghiên cứu nhằm biến đổi đối tượng theo mục tiêu và chủ thể tự giác đặt ra để thoả mãn nhu cầu nghiên cứu của bản thân.

Phương pháp nghiên cứu khoa học là tích hợp của các phương pháp: phương pháp luận, phương pháp hệ, phương pháp nghiên cứu cụ thể và tuân theo quy luật đặc thù của việc nghiên cứu đề tài khoa học.

a. Phương pháp luận (Methodology)

Phương pháp luận là lý thuyết về phương pháp nhận thức khoa học thế giới tổng thể, các thủ thuật nghiên cứu hiện thực (nghĩa rộng); là lý luận tổng quát, là những quan điểm chung, là cách tiếp cận đối tượng nghiên cứu (nghĩa hẹp).

Những quan điểm phương pháp luận đúng đắn là kim chỉ nam hướng dẫn người nghiên cứu trên con đường tìm tòi, nghiên cứu; phương pháp luận đóng vai trò chủ đạo, dẫn đường, và có ý nghĩa thành bại trong nghiên cứu khoa học.

b. Phương pháp hệ (Methodica)

Phương pháp hệ là nhóm các phương pháp được sử dụng trong một lĩnh vực khoa học hay một đề tài cụ thể; là hệ thống các thủ thuật hoặc biện pháp để thực hiện có trình tự, có hiệu quả một công trình nghiên cứu khoa học.

Sử dụng phối hợp các phương pháp là cách tốt nhất để phát huy điểm mạnh và khắc phục chốt yếu của từng phương pháp. Đồng thời chúng hỗ trợ, bổ xung, kiểm tra lẫn nhau trong quá trình nghiên cứu và để khẳng định tính xác thực của các luận điểm khoa học.

c. Phương pháp nghiên cứu (Research Method)

Phương pháp nghiên cứu cụ thể là tổ hợp các cách thức, các thao tác mà người nghiên cứu sử dụng để tác động, khám phá đối tượng, để thu thập và xử lý thông tin nhằm xem xét và lý giải đúng đắn vấn đề nghiên cứu.

Phương pháp nghiên cứu gắn chặt với nội dung của các vấn đề nghiên cứu. Vì vậy, người nghiên cứu cần tìm, chọn và sử dụng các phương pháp nghiên cứu phù hợp với đặc điểm đối tượng, mục đích, nhiệm vụ, nội dung nghiên cứu.

2. Khái niệm về phương pháp nghiên cứu khoa học giáo dục nghề nghiệp

2.1. Khái niệm

Phương pháp nghiên cứu khoa học giáo dục nghề nghiệp là tổ hợp các thao tác biện pháp thực tiễn hoặc lý thuyết mà nhà khoa học sử dụng để phát hiện những quy luật và tìm kiếm giải pháp của thực tiễn giáo dục và đào tạo kỹ thuật nghề nhằm tạo ra những cơ hội và điều kiện để thúc đẩy sự hình thành và phát triển những phẩm chất và năng lực kỹ thuật nghề nghiệp cho người lao động nghề nghiệp tương lai để đạt được mục tiêu phát triển xã hội.

2.2. Đặc điểm

a. Tính mục đích

Phương pháp nghiên cứu khoa học giáo dục nghề nghiệp gắn liền với mục đích sáng tạo khoa học. Mọi hoạt động đều có mục đích. Mục đích công việc quy định lựa chọn phương pháp. Phương pháp càng chính xác thì công việc đạt kết quả nhanh. Ví dụ mục đích công việc nghiên cứu lựa chọn nghề của học sinh trung học phổ thông, nếu lựa chọn phương pháp nghiên cứu điều tra viết sẽ thu được số lượng nhiều.

- Tính mục đích của phương pháp là nét đặc trưng cơ bản nổi bật nhất của nó. Mục đích nào, phương pháp ấy, mục đích chỉ đạo việc tìm tòi và lựa chọn phương pháp nghiên cứu. Muốn cho phương pháp nghiên cứu được hiệu nghiệm, hoạt động thành công cần đảm bảo dược hai điều kiện:

Xác định mục đích; tìm được phương pháp thích hợp với mục đích.

b. Phương pháp nghiên cứu khoa học giáo dục nghề nghiệp liên quan chặt chẽ với nội dung vấn đề nghiên cứu

Phương pháp là hình thức vận động của nội dung. Nội dung nghiên cứu qui định sự lựa chọn phương pháp cụ thể. Trong nghiên cứu khoa học có hệ phương pháp đặc trưng. Trong mỗi đề tài nghiên cứu có một phương pháp cụ thể.

Nội dung nào, phương pháp ấy. Sự thống nhất của nội dung và phương pháp thể hiện ở logic phát triển của bản thân đối tượng nghiên cứu. Đúng như Heghen đã khẳng định: phương pháp là ý thức về hình thức của sự vận động bên trong của nội dung.

- Mối quan hệ của mục đích, nội dung, phương pháp nghiên cứu được diễn ra theo quy luật: mục đích (M) và nội dung (N) quy định phương pháp (P); còn phương pháp là phương tiện để thực hiện mục đích và nội dung.









Mối quan hệ giữa mục đích, nội dung, phương pháp trong nghiên cứu khoa học

Trong nghiên cứu khoa học, người nghiên cứu cần tìm, chọn được phương pháp phù hợp và thống nhất với mục đích và nội dung, tức là bảo đảm nhất quán sự thống nhất biện chứng của mục đích, nội dung và phương pháp nghiên cứu khoa học .

c. Phương pháp nghiên cứu khoa học giáo dục nghề nghiệp liên quan chặt chẽ với phương tiện nghiên cứu

Phương pháp và phương tiện là hai phạm trù khác nhau song gắn bó chặt chẽ với nhau. Dựa vào phương tiện mà ta lựa chọn phương pháp phù hợp và ngược lại. Phương pháp nghiên cứu luôn luôn cần có các phương tiện kỹ thuật đặc biệt hỗ trợ.

d. Phương pháp nghiên cứu khoa học giáo dục nghề nghiệp là hệ thống các thao tác được sắp xếp một cách hợp lý

Việc thực hiện chính xác các thao tác thì phương pháp đạt kết quả cao, chất lượng nghiên cứu tốt nhất, nhanh nhất.

e. Tính chủ quan của phương pháp nghiên cứu khoa học giáo dục nghề nghiệp

Phương pháp là cách thức làm việc của chủ thể nhà khoa học do chủ thể lựa chọn. Việc vận dụng phương pháp phụ thuộc vào năng lực, trình độ kinh nghiệm của chủ thể. Vì vậy trong nghiên cứu khoa học đòi hỏi các nhà khoa học phải có trình độ trí tuệ cao, khả năng lớn, kinh nghiệm dày dạn.

g. Tính khách quan của phương pháp nghiên cứu khoa học giáo dục nghề nghiệp Phương pháp nghiên cứu phụ thuộc vào đối tượng nghiên cứu, đối tượng nghiên cứu càng phức tạp đòi hỏi càng phải có phương pháp tinh vi. Phương pháp nghiên cứu có hiệu quả khi nó phù hợp với đặc điểm đối tượng, với quy luật vận động của đối tượng.

II. CÁC PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU KHOA HỌC GIÁO DỤC NGHỀ NGHIỆP

Các phương pháp nghiên cứu trong lĩnh vực giáo dục kỹ thuật nghề nghiệp nằm trong hệ thống các phương pháp nghiên cứu khoa học nói chung trong đó bao gồm cả trong lĩnh vực khoa học tự nhiên, khoa học xã hội và tư duy. Hệ thống các phương pháp nghiên cứu khoa học rất phong phú và đa dạng và ngày càng phát triển cùng với sự mở rộng các phương tiện nghiên cứu hiện đại như các thiết bị nghe nhìn, máy tính điện tử…

1. Phương pháp quan sát

1.1. Định nghĩa

Quan sát khoa học là phương pháp tri giác có mục đích, có kế hoạch một sự vật hiện tượng quá trình (hay hành vi cử chỉ của con người) trong nhiều hoàn cảnh tự nhiên khác nhau nhằm thu thập những số liệu, sự kiện cụ thể đặc trưng cho quá trình diễn biến của sự vật hiện tượng đó.

Quan sát sư phạm là phương pháp thu thập thông tin về quá trình giáo dục trên cơ sở tri giác trực tiếp các hoạt động sư phạm cho ta những tài liệu sống và thực tiễn giáo dục để có thể khái quát rút ra những quy luật nhằm chỉ đạo quá trình tổ chức giáo dục thế hệ trẻ tốt hơn.

Quan sát sư phạm là phương pháp sử dụng có mục đích, có kế hoạch các giác quan (có khi dùng cả những phương tiện kỹ thuật như máy quay phim) để ghi nhận thu thập những biểu hiện của các hiện tượng, quá trình giáo dục, nhằm khai thác những thông tin cần thiết phục vụ cho việc đánh giá thực trạng và đề xuất những giải pháp tương ứng hoặc kiểm chứng cho giả thuyết khoa học.

1.2 Các loại quan sát

a. Theo dấu hiệu về mối quan hệ giữa người nghiên cứu và đối tượng nghiên cứu thì có:

  • Quan sát trực tiếp

  • Quan sát gián tiếp

  • Quan sát công khai, kín đáo

  • Quan sát có tham sự, không tham dự

b. Theo dấu hiệu không gian, thời gian

  • Quan sát liên tục, gián đoạn

  • Quan sát theo đề tài tổng hợp, theo chuyên đề

c. Theo mục đích:

  • Quan sát khía cạnh, toàn diện

  • Quan sát có bố trí

  • Quan sát phát hiện, kiểm nghiệm

1.3. Chức năng của quan sát

Thu thập thông tin thực tiễn (quan trọng nhất)

Kiểm chứng giả thiết

Đối chiếu kết quả nghiên cứu lý thuyết với thực tiễn nhằm xác định nó phù hợp hay không phù hợp.

1.4. Đặc điểm của quan sát sư phạm

Đối tượng quan sát là hoạt động sư phạm phức tạp luôn vận động và biến đổi vì vậy người quan sát hết sức tinh vi linh hoạt.

Quá trình quan sát dễ mang dấu ấn chủ quan

Chủ thể quan sát là nhà khoa học hay các cộng tác viên

Chú ý tới các quy luật tri giác

1.5. Ưu, nhược điểm

Ưu điểm: giữ được tính tự nhiên (khách quan) của các sự kiện, hiện tượng và biểu hiện tâm lý con người, cung cấp số liệu sống động, cụ thể, phong phú, quan sát được thực hiện đơn giản, không tốn kém.

Nhược điểm : Người quan sát đóng vai trò thụ động, phải chờ đợi các hiện tượng diễn ra, không chủ động làm chúng diễn ra theo ý muốn được.

1.6. Yêu cầu của phương pháp quan sát

Xác định rõ đối tượng quan sát. Quan sát phải được tiến hành trong điều kiện tự nhiên của hoạt động, người được quan sát không biết mình đang bị quan sát. Người quan sát không nên can thiệp vào hoạt động tự nhiên và thay đổi hành vi của đối tượng (nếu là con người).

Muốn vậy người quan sát phải tự mình tham gia vào hoạt động (lao động, học tập, vui chơi) cùng với người được quan sát để đảm bảo tính tự nhiên của hiện tượng, quá trình nghiên cứu.

Xác định rõ mục đích, nhiệm vụ quan sát, từ đó phải xây dựng kế hoạch quan sát trong suốt quá trình nghiên cứu và chương trình của từng buổi quan sát. Điều quan trọng là xác định quan sát toàn bộ hay chọn lọc từ đó mới ghi lại tất cả cái gì mắt thấy tai nghe hay một mặt nào đó. Không có chương trình, kế hoạch thì tài liệu thu thập được khó tin cậy, không loại trừ được các nhân tố ngẫu nhiên.

Phải ghi lại kết quả quan sát, ghi lại sự kiện, hiện tượng, điều kiện, hoàn cảnh diễn ra sự kiện. Chỉ có ghi lại mới đảm bảo được tính lâu dài và có hệ thống, nhờ đó mới thiết lập được mối quan hệ, liên hệ bản chất, điển hình của những biểu hiện của hiện tượng sự kiện hay tâm lý khác nhau.

Kiểm tra lại kết quả quan sát bằng nhiều cách: trò chuyện với người tham gia tình huống.

Sử dụng các tài liệu khác liên quan đến diễn biến để đối chiếu

Quan sát lặp lại (lần thứ hai hay nhiều lần nếu thấy cần thiết)

Sử dụng người có trình độ cao hơn quan sát để kiểm nghiệm lại kết quả

Tóm lại, phương pháp quan sát là phương pháp nghiên cứu khoa học quan trọng giúp ta thu thập được những thông tin thực tiễn có giá trị. Cần phối hợp với các phương pháp khác để đạt tới trình độ nhận thức bên trong của đối tượng.

2. Phương pháp nghiên cứu lịch sử

2.1 Định nghĩa:

Phương pháp nghiên cứu lịch sử là phương pháp nghiên cứu bằng cách tìm nguồn gốc phát sinh (nguồn gốc xuất xứ, hoàn cảnh nảy sinh) quá trình phát triển và biến hoá (điều kiện hoàn cảnh không gian, thời gian…có ảnh hưởng) để phát hiện bản chất và quy luật vận động của đối tượng.

2.2. Yêu cầu:

Người nghiên cứu làm rõ quá trình phát sinh, phát triển cụ thể của đối tượng, phải nắm được sự vận động cụ thể trong toàn bộ tính phong phú của nó, phải bám sát đối tượng theo dõi những bước quanh co, những cái ngẫu nhiên tất yếu của lịch sử, những tính phức tạp muôn màu muôn vẻ trong các hoàn cảnh khác nhau và theo một trật tự thời gian nhất định… từ đó phát hiện sợi dây lịch sử của toàn bộ sự phát triển của đối tượng, phát hiện quy luật phát triển của nó, tức là tìm ra cái lôgic của lịch sử. Đó chính là mục đích của mọi hoạt động nghiên cứu khoa học.

Phương pháp nghiên cứu lịch sử trong nghiên cứu lý thuyết còn được dùng để phân tích các tài liệu lý thuyết đã có nhằm phát hiện các xu hướng, các trường phái nghiên cứu, từ đó xây dựng tổng quan về vấn đề nghiên cứu còn gọi là lịch sử nghiên cứu vấn đề.

Nghiên cứu lịch sử vấn đề là cơ sở để phát hiện những thành tựu lý thuyết đã có nhằm kế thừa bổ sung và phát triển các lý thuyết đó, hoặc phát hiện những thiếu sót không hoàn chỉnh trong các tài liệu đã có. Từ đó tìm thấy chỗ đứng của đề tài nghiên cứu của từng cá nhân.

3. Phương pháp thực nghiệm

3.1. Định nghĩa

Là phương pháp mà nhà nghiên cứu trong điều kiện được khống chế nhất định để có thể đo đạc tỷ mỉ, đánh giá chính xác sự biến đổi bản chất của các sự vật hay hiện tượng dưới tác động của người nghiên cứu.

3.2. Phân loại:

a. Thực nghiệm tự nhiên:

Là phương pháp tiến hành trong điều kiện bình thường, giữ được trạng thái và nội dung hoạt động tự nhiên của đối tượng mà người nghiên cứu vẫn chủ động gây ra được những hiện tượng cần nghiên cứu.

Thực chất của phương pháp này là đem vấn đề nghiên cứu ra tổ chức thực hiện ở một địa bàn nhất định với những yêu cầu nhất định đối với những đối tượng thực hiện. Người nghiên cứu đưa ra kế hoạch thật tỉ mỉ hợp lý tạo điều kiện thực hiện có theo dõi đối tượng để cuối cùng có được những kết luận về tác dụng của những vần đề mới đưa ra và phổ biến rộng rãi việc áp dụng.

b. Thực nghiệm trong phòng thí nghiệm

Là phương pháp thực nghiệm được tiến hành để kiểm tra một vấn đề riêng biệt nào đó, hoặc để thu thập những cứ liệu cần thiết về đối tượng nghiên cứu.

Phương pháp này thường dùng trong việc: nghiên cứu hoạt động của con người, vận động, trí nhớ, chú ý trí tuệ, tình cảm ý chí… nghiên cứu cơ chế sinh lý của các hiện tượng tâm lý ở con người.

3.3. Ý nghĩa của phương pháp thực nghiệm

So với phương pháp quan sát, phỏng vấn... việc sử dụng phương pháp thực nghiệm trong nghiên cứu có một ý nghĩa rất quan trọng. Nếu phương pháp quan sát chỉ tìm hiểu phát hiện những cái đã có thì phương pháp thực nghiệm lại chủ động tạo ra những hiện tượng quá trình cấu trúc và cơ chế mới để nghiên cứu chúng.

Như vậy, phương pháp thực nghiệm mang tính chủ động và sáng tạo rất cao trong việc cải tạo thực tiễn.

Phương pháp thực nghiệm cho phép lặp lại hiện tượng nghiên cứu để có thể quán sát, so sánh phân tích các hiện tượng đã xảy ra, theo nhịp độ vừa phải và thời gian thích hợp.

Cho phép thay đổi bản chất của đối tượng và điều kiện tồn tại của đối tượng để nghiên cứu dưới nhiều dạng khác nhau.

Tóm lại, phương pháp thực nghiệm cho phép thay đổi cấu trúc và cơ chế của đối tượng, thay đổi ảnh hưởng của những tác động bên ngoài bằng cách thay đổi những yếu tố nào đó của môi trường. Phương pháp thực nghiệm mang tính chủ động và sáng tạo rất cao trong việc cải tạo thực tiễn và có ý nghĩa rất quan trọng trong lịch sử phát triển khoa học.

3.4. Quy trình thực nghiệm

a. Giai đoạn chuẩn bị:

* Xác định mục đích

* Xác định đối tượng, địa điểm, quy mô thực nghiệm

* Giả thuyết thực nghiệm

* Nhiệm vụ thực nghiệm

* Phương pháp và kỹ thuật thực nghiệm

* Xác định được hệ chuẩn đánh giá và phương pháp đánh giá kết quả

* Kế hoạch triển khai thực nghiệm

b. Giai đoạn triển khai

* Khảo sát thực trạng

* Triển khai thực nghiệm theo kế hoạch chú ý đến các vấn đề sau

- Giữ các nhân tố khác ở trạng thái ổn định, trong khi các nhân tố thực nghiệm biến thiên.

- Cố gắng khống chế tối đa ảnh hưởng của ngoại cảnh.

- Phải lựa chọn sao cho các vấn đề thực nghiệm có tính chất điển hình, có khả năng phổ biến.

- Cần ghi chép tỉ mỉ, cẩn thận những diễn biến của quá trình thực nghiệm.

c. Giai đoạn đánh giá, xử lý các kết quả thực nghiệm.

d. Viết báo cáo kết quả thực nghiệm.

4. Phỏng vấn , điều tra bằng Anket

4.1. Phỏng vấn.

a. Định nghĩa:

Là phương pháp thu thập thông tin theo một chương trình đã định qua việc trò chuyện, trao đổi trực tiếp với người được khảo sát.

Đây là phương pháp nghiên cứu mang tính chất độc lập hay bổ trợ nhằm làm sáng tỏ những điều chưa rõ khi quan sát, do đó cần được thực hiện theo kế hoạch định trước với những câu hỏi chuẩn bị trước để làm sáng tỏ vấn đề.

b. Ưu điểm, nhược điểm

- Ưu điểm:

Bằng phương pháp đàm thoại có thể khai thác những suy nghĩ nội tâm của người được nghiên cứu mà các phương pháp khác không làm được.

- Nhược điểm:

+ Không thể đảm bảo câu trả lời hoàn toàn trung thực (nhất là khi tâm lý trò chuyện không thuận lợi, quan hệ không cởi mở, không lịch thiệp, tế nhị và niềm nở khi trò chuyện).

Vì vậy, đây chỉ là phương pháp bổ trợ để thu thập tài liệu bổ sung hoặc tìm hiểu sơ bộ về đối tượng nghiên cứu trong giai đoạn đầu và chỉ nên sử dụng phương pháp này trong việc nghiên cứu nhân cách nói chung và một số đặc điểm tâm lý nói riêng của con người.

+ Mất nhiều thời gian.

+ Những ý kiến thu được có tính chất cá nhân, nên chưa chắc đã mang tình phổ biến

- Yêu cầu:

+ Câu hỏi cần uyển chuyển sinh động và thay đổi theo không khí của buổi toạ đàm.

+ Thái độ trao đổi cần tự nhiên cởi mở.

+ Câu hỏi phải rõ ràng, lý thú phù hợp với vấn đề mà người ta am hiểu và quan tâm, sao cho người được hỏi có thể trả lời một cách thoải mái, tự nhiên có chất lượng.

4.2. Điều tra bằng Anket.

a. Định nghĩa

Điều tra bằng Ankét là phương pháp điều tra trong đó nhà nghiên cứu dùng một hệ thống câu hỏi nhằm đồng thời thu thập ý kiền chủ quan của các thành viên cộng đồng về một vấn đề nào đó.

Nói cách khác Ankét là phương pháp phỏng vấn gián tiếp thông qua việc hỏi và trả lời trên giấy.

Các loại câu hỏi:

+ Câu hỏi mở: Người được nghiên cứu phải tự mình biểu đạt trả lời cho những câu hỏi đặt ra.

Đây là loại câu hỏi phạm vi rộng để thăm dò phát hiện vấn đề. Loại này giúp ta thu được tài liệu đầy đủ phong phú hơn về đối tượng nhưng rất khó xử lý kết quả thu được vì các câu trả lời rất đa dạng.

+ Câu hỏi kín: Là loại câu hỏi mà người được hỏi chọn một trong những câu trả lời cho sẵn.

Câu hỏi điều tra sâu nhằm khai thác một số vấn đề chi tiết, những số liệu cụ thể. Loại câu hỏi này dễ xử lý nhưng tài liệu thu được chỉ đóng khung trong giới hạn của các câu trả lời đã cho trước.

b. Ưu điểm, nhược điểm

- Ưu điểm:

Có thể thu thập được một khối lượng thông tin lớn trong thời gian ngắn và phương tiện đơn giản, không tốn kém lắm.

- Nhược điểm:

+ Trong nhiều trường hợp, người được hỏi không nói thật những ý nghĩ của mình.

+ Khối lượng rất lớn khó xử lý để trả lời mục đích đặt ra

+ Nhìn chung những kết quả điều tra bằng Ankét chỉ cho ta những ý kiến chung và có tính định lượng của các thành viên cộng đồng. Nhưng những ý kiến này vốn hết sức đa dạng nên độ tin cậy của những kết luận rút ra mang tính tương đối. Do đó, Ankét chỉ được dùng với mục đích thăm dò, định hướng cho quá trình nghiên cứu.

c. Yêu cầu của Ankét

+ Phải xác định rõ mục đích và những đối tượng điều tra.

+ Phải xây dựng nội dung Ankét với hệ thống câu hỏi và những phương án trả lời sao cho rõ ràng chính xác, đảm bảo cho tất cả mọi người hiểu dễ dàng và hiểu như nhau.

+ Phải hướng dẫn trả lời rõ ràng

+ Phải xử lý những thông tin cho chính xác khách quan

5. Nghiên cứu sản phẩm hoạt động sư phạm.

Con người hoạt động để tạo ra sản phẩm. Sản phẩm hoạt động để lại dấu vết về năng lực và phẩm chất của họ. Vì vậy, sản phẩm là tài liệu khách quan để nghiên cứu chủ thể và quá trình hoạt động của chủ thể.

5.1. Khái niệm

Phương pháp nghiên cứu sản phẩm hoạt động sư phạm là phương pháp khai thác thu lượm thông tin về các đối tượng nghiên cứu (học sinh, sinh viên, giáo viên, cán bộ quản lý giáo dục) thông qua việc phân tích đánh giá những sản phẩm hoạt động do họ tạo ra (bài làm, vở ghi chép, sổ điểm, giáo án…)

+ Nghiên cứu phân tích các hoạt động của HS, GV của một trường một tập thể cho ta biết những thông tin về cá nhân và tập thể ấy về hoạt động dạy, học, về phong trào, về nề nếp tổ chức, bầu không khí , môi trường giáo dục trong nhà trường.

+ Nghiên cứu sản phẩm hoạt động sư phạm của học sinh cho phép ta xác định được ý thức, trình độ phát triển trí tuệ, thái độ hứng thú, xu hướng của họ trong học tập, trong sinh hoạt tu dưỡng bản thân.

Nghiên cứu sản phẩm hoạt động bài làm của học sinh để đánh giá mức độ tiếp thu, trí nhớ, ý thức của học sinh

+ Nghiên cứu sư phạm của GV (giáo án, công trình nghiên cứu…) để biết được trình độ nghiệp vụ, kiến thức, đặc điểm, tính cách, khả năng vươn tới của thầy giáo.

5.2. Yêu cầu.

+ Đòi hỏi thu lượm những sản phẩm thuộc nhiều loại hình khác nhau để có thể khai thác được những thông tin đa dạng.

+ Nên tập trung vào những sản phẩm chủ yếu tiêu biểu .

+ Phân tích các sản phẩm dưới nhiều khía cạnh và góc độ khác nhau.

+ Rút ra những kết luận khái quát phục vụ cho mục tiêu nghiên cứu đã xác định .

6. Phương pháp phân tích nội dung các tài liệu giáo dục nghề nghiệp

6.1. Định nghĩa

Là phương pháp phân tích lý thuyết thành những mặt, những bộ phận, những mối quan hệ theo lịch sử thời gian để nhận thức, phát hiện và khai thác những khía cạnh khác nhau của lý thuyết từ đó chọn lọc những thông tin cần thiết phục vụ cho đề tài nghiên cứu.

6.2. Các nội dung phân tích

Phân tích lý thuyết gồm những nội dung sau:

a. Phân tích nguồn tài liệu

- Tạp chí và báo cáo khoa hoa học trong ngành.

- Tác phẩm khoa học .

- Tạp chí và báo cáo khoa học ngoài ngành.

- Tài liệu lưu trữ.

- Thông tin đại chúng.

b. Phân tích tác giả

- Tác giả trong hay ngoài ngành.

- Tác giả trong hay ngoài cuộc.

- Tác giả trong hay ngoài nước.

- Tác giả đương thời hay hậu thế.

c. Phân tích nội dung

Phân tích nội dung được thực hiện theo cấu trúc lô gic.

+ Phát hiện mặt mạnh mặt yếu trong nghiên cứu của đồng nghiệp :

Kết quả phân tích được sử dụng như sau: mặt mạnh trong luận đề, luận cứ, luận chứng của đồng nghiệp sẽ được sử dụng làm luận cứ hoặc luận chứng để chứng minh luận đề. Còn mặt yếu được sử dụng để phát hiện vấn đề (tức đặt câu hỏi nghiên cứu), từ đó xây dựng luận đề cho nghiên cứu của mình.

Phân tích mặt mạnh, mặt yếu trong NC của đồng nghiệp

+ Nhận dạng những bất đồng trong tranh luận khoa học.

Khi hai đồng nghiệp bất đồng ý kiến, có thể là họ nhận ra những mặt yếu của nhau. Đây là cơ hội thuận lợi để người nghiên cứu nhận dạng những vấn đề mà các đồng nghiệp đã phát hiện.

+ Nghĩ ngược lại quan niệm thông thường.

Về mặt lô gíc học, đây chính là sự tìm kiếm một khái niệm đối lập với khái niệm đang tồn tại.

+ Nhận dạng những vướng mắc trong hoạt động thực tế.

Nhiều khó khăn nảy sinh trong hoạt động sản xuất, hoạt động xã hội, không thể sử dụng những biện pháp thông thường để xử lý. Thực tế này đặt trước người nghiên cứu những câu hỏi phải trả lời, tức là xuất hiện vấn đề, đòi hỏi người nghiên cứu phải đề xuất những giải pháp mới.

+ Lắng nghe lời phàn nàn của những người không am hiểu .

Đôi khi nhiều câu hỏi nghiên cứu xuất hiện nhờ lời phàn nàn của người hoàn toàn không am hiểu lĩnh vực mà người nghiên cứu quan tâm. Chẳng hạn, sáng chế xe điện của Edison chính là kết quả bất ngờ sau khi nghe được lời phàn nàn của một bà già trong đêm khánh thành mạng đèn điện chiếu sáng đầu tiên ở một thị trấn ngoại ô của thành phố New York: “Cái ông Edison làm ra được cái đèn điện mà không làm được cái xe điện cho người già đi đây đi đó”.

+ Những câu hỏi bất chợt xuất hiện không phụ thuộc lý do nào.

Đây là những câu hỏi xuất hiện trong đầu người nghiên cứu do bất chợt quan sát được một sự kiện nào đó, cũng có thể xuất hiện một cách ngẫu nhiên, không phụ thuộc bất cứ lý do, thời gan hoặc không gian nào.

7. Phương pháp trắc nghiệm(Test)

7.1. Định nghĩa

Phương pháp trắc nghiệm (Test) là phương pháp đo lường khách quan những phản ứng của sự vật được trắc nghiệm, biểu hiện tâm lý và mức độ nhận thức của người hoặc nhóm người trắc nghiệm.

7.2. Đặc điểm

+ Tính tiêu chuẩn hoá của việc trình bày và xử lý kết quả .

+ Tính không phụ thuộc của kết quả vào nhân cách nhờ nghiên cứu và tình huống trắc nghiệm.

+ Tính đối chiếu của tài liệu cá nhân với tài liệu chuẩn.

7.3. Các loại test.

+ Test đo lường tâm lý.

+ Test khả lực và test tốc định.

+ Test cá nhân và Test tập thể.

+ Test trí tuệ, hứng thú, tri thức và kỹ năng.

+ Test năng lực chuyên môn, tính cách.

+ Test nghiên cứu những chức năng tâm lý riêng: Chú ý, trí nhớ, tư duy…

7.4. Yêu cầu

Test khi sử dụng cần đảm bảo các yêu cầu:

-Tính tin cậy: Khi dùng các hình thức khác nhau của cung một Test hoặc tiến hành cùng một Test nhiều lần trên cung một đối tượng (cá nhân hay nhóm) đều thu được kết quả giống nhau.

- Tính ứng nghiệm (hiệu lực): Test phải đo dược chính xác cái định đo.

- Tính quy chuẩn: Test phải được thực hiện theo thủ tục tiêu chuẩn và phải có những qui chuẩn, được căn cứ theo một nhóm chuẩn và nhóm này phải đông đảo và mang tính chất giống với những người sau này đưa ra trắc nghiệm – nghĩa là phải đại diện cho một quần thể (dân số). Các qui chuẩn của nhóm là một hệ thống các chuẩn cứ để kiến giải kết quả trắc nghiệm của bất cứ một cá nhân nào.

7.5. Ưu và nhược điểm của Test:

- Ưu điểm của Test

Tính ngắn gọn, tính tiêu chuẩn, tính đơn giản về kĩ thuật và thiết bị, sự biểu đạt kết quả dưới hình thức số lượng (lượng hoá cao).

Test có tác dụng tích cực là tiến hành nhanh chóng, tốn ít thời gian, đảm bảo tính khách quan trong đánh giá; khảo sát được một giới hạn rộng về nội dung của các môn học hoặc bài học; gây hứng thú và kích thích tính tích cực học tập của học sinh, sinh viên.

- Nhược điểm của Test:

+ Tính không rõ ràng về bản chất tâm lý của cái được xác định bằng Test.

+ Chỉ quan tâm tới kết quả thống kê mà ít chú ý đến quá trình diễn biến của kết quả.

+ Dễ bị đánh tráo đối tượng nghiên cứu.

+ Không tính đến sự phát triển của năng lực nói riêng của tâm lý nói chung.

+ Không tính đến các nhân tố đa dạng có ảnh hưởng đến kết quả.

Vì vậy, Test được coi là phương pháp nghiên cứu khoa học nhưng chỉ đóng vai trò bổ trợ, cho phép thu được tài liệu định hướng có giá trị.

Có thể sử dụng nhiều loại Test tuỳ theo cách đặt câu hỏi trắc nghiệm khác nhau. Thông thường sử dụng 5 loại Test sau:

Trắc nghiệm đúng, sai (có, không)

Trắc nghiệm nhiều lựa chọn (đa phương án)

Trắc nghiệm đối chiếu cặp đôi (ghép đôi)

Trắc nghiệm điền thế (điền khuyết)

Trắc nghiệm hỏi đáp ngắn gọn (diễn giải)

Mỗi loại Test đều có ưu, nhược điểm riêng. Dùng Test phải đúng mục đích, đúng lúc, đúng chỗ; cần có những chuẩn hoá hình thức đơn giản, tuỳ theo điều kiện, hoàn cảnh và tình huống cụ thể mà lựa chọn sử dụng và phối hợp tối ưu các Test để đạt được hiệu quả của hoạt động

8. Phương pháp mô hình hoá

8.1. Định nghĩa phương pháp mô hình hóa

Phương pháp mô hình hoá là một phương pháp khoa học để nghiên cứu các đối tượng , các quá trình… bằng việc xây dựng các mô hình của chúng (các mô hình này bảo toàn các tính chất cơ bản được tách ra của đối tượng đang nghiên cứu) và dựa trên mô hình đó để nghiên cứu trở lại đối tượng thực.

8.2. Mô hình

a. Định nghĩa mô hình

Mô hình là một hệ thống các yếu tố vật chất hoặc ý niệm (tư duy) để biểu diễn, phản ánh hoặc tái tạo đối tượng cần nghiên cứu; nó đóng vai trò đại diện, thay thế đối tượng thực sao cho vệc nghiên cứu mô hình cho ta những thông tin mới tương tự đối tượng thực.

b. Tính chất mô hình

+ Tính tương tự: có sự tương tự giữa mô hình và vật gốc, chúng có những đặc điểm cơ bản có thể so sánh với nhau được như: cấu trúc (đẳng cấu), chức năng, thuộc tính, cơ chế vận hành…Song, sự tương tự giữa mô hình và đối tượng thực (vật gốc) chỉ là tương đối.

+ Tính đơn giản: mô hình chỉ phản ánh một hoặc một số mặt nào đó của đối tượng gốc.

+ Tính trực quan: mô hình là sự tái hiện đối tượng nghiên cứu dưới dạng trực quan.

+ Tính lý tưởng: khi mô hình hoá đối tượng gốc, ta đã khái quát hoá, trừu tượng hoá, phản ánh đặc tính của đối tượng gốc ở mức độ hoàn thiện hơn (lý tưởng).

+ Tính qui luật riêng: mô hình có những tính chất riêng được qui định bởi các phần tử tạo nên nó.

c. Phân loại mô hình

Có nhiều cách phân loại dựa trên những dấu hiệu khác nhau:

- Theo dấu hiệu vật chất và tinh thần, có 2 loại:

  • Mô hình vật chất: gồm mô hình hình học, mô hình vật lý, mô hình vật chất toán học.

  • Mô hình tinh thần (tư duy) gồm: mô hình biểu tượng (mô hình trí tuệ) mô hình lô gíc- toán (mô hình công thức kí hiệu)

- Theo loại hình mô hình có các loại: Mô hình lý thuyết mô hình thực nghiệm…

- Theo nội dung phản ánh, có 2 loại: Mô hình cấu trúc và mô hình chức năng.

- Theo tính chất của mô hình, có rất nhiều loại:

Thực tế nghiên cứu trong các lĩnh vực khoa học khác nhau, tuỳ theo đối tượng nghiên cứu, người nghiên cứu có thể lựa chọn các mô hình sau:

* Mô hình toán: Là mô hình được sử dụng phổ biến trong nhiều lĩnh vực khoa học hiện đại. Người nghiên cứu dùng các loại ngôn ngữ toán học như: số liệu, biểu thức, biểu đồ, đồ thị… để biểu thị các đại lượng và quan hệ giữa các đại lượng của sự vật hoặc hiện tượng.

* Mô hình vật lý: Là mô hình được sử dụng phổ biến trong các nghiên cứu kỹ thuật và công nghệ, là mô hình mô tả đối tượng thực bằng vật liệu nhân tạo có qui mô lớn hơn, bằng hoặc nhỏ hơn đối tượng thực, nhưng có hình dạng, cấu trúc không gian, tỉ lệ kích thước và quá trình vận động tương tự đối tượng thực.

Ví dụ: Mô hình động cơ đốt trong.

Làm mô hình con tàu thu nhỏ để nghiên cứu về khả năng chịu đựng của con tàu trước sóng biển và bão tố.

Khi nghiên cứu mô hình vật lí, người nghiên cứu cần quan tâm tới hệ số tương tự của vật liệu hoặc của quá trình để có được những suy luận chuẩn xác từ các quan hệ giữa các mô hình với các quá trình thự của đối tượng nghiên cứu.

* Mô hình sinh học: Là mô hình thường được sử dụng trong nghiên cứu y học: dùng chuột bạch, thỏ để tiến hành những thực nghiệm thay thế việc thực nghiệm trên cơ thể người. Nó giúp người nghiên cứu quan sát được (một cách gần tương tự) những quá trình xảy ra trên cơ thể người.

* Mô hình sinh thái: Là mô hình quần thể sinh học được tạo ra trong nghiên cứu nông nghiệp, lâm nghiệp, sinh thái học.

Mô hình sinh thái giúp xác định qui hoạch cơ cấu cây trồng, vật nuôi phù hợp qui luật sinh thái, phục vụ cho các qui hoạch tổng thể những vùng nông nghiệp, lâm nghiệp hoặc nông - lâm nghiệp kết hợp.

* Mô hình xã hội học: Là mô hình được sử dụng trong nghiên cứu khoa học xã hội và nhân văn.

Đây là mô hình xã hội với những điều kiện do người nghiên cứu khống chế để qua đó rút ra những kết luận về tính khả thi trong những giải pháp được đề xuất.

Ví dụ: trong nghiên cứu cải tiến phương pháp giảng dạy, người nghiên cứu chọn những lớp điểm (tức mô hình xã hội) để dạy thử với những cách thức tổ chức và tiến hành khác nhau nhằm rút ra kết luận về mô hình phương pháp cải tiến.

8.3. Ý nghĩa phương pháp mô hình hóa

Dùng phương pháp mô hình hoá giúp người nghiên cứu dự báo, dự đoán, đánh giá các tác động của các biện pháp điều khiển, quản lý hệ thống,

Ví dụ: Sử dụng phương pháp phân tích cấu trúc (đặc biệt là cấu trúc không gian, các bộ phận hợp thành có bản chất giống hệt đối tượng gốc) để phản ánh suy ra cấu trúc của đối tượng gốc như: mô hình động cơ đốt trong, mô hình tế bào, sa bàn…

Phương pháp “chiếc hộp đen” được coi là phưong pháp mô hình hoá chức năng. Trong phương pháp này, người ta đã trìu xuất chức năng của hệ, còn chức năng của hệ mô hình hoá bằng “chiếc hộp đen” cho biết mối quan hệ giữa “đầu vào” và “đầu ra” của hệ.

Hệ chiếc hộp đen

Tác động Phản ứng

Vào X Ra Y

Phương pháp mô hình hoá chức năng (chiếc hộp đen).

Một cách gần đúng ta có một hàm phân tích chức năng: Y= f (X)

Chẳng hạn: Người xem ti vi không cần biết cấu trúc của ti vi mà chỉ chú ý đến động tác: bật công tắc, điều chỉnh các núm… (đầu vào) rồi xem hình, nghe tiếng (đầu ra).

Để đánh giá sơ bộ chất lượng học tập của một lớp học, chỉ cần kiểm tra trình độ học sinh bằng câu hỏi, bài tập (bài kiểm tra) rồi chấm bài và ghi kết quả. Lúc này ta xem lớp như một “ chiếc hộp đen” – mô hình chức năng

Trên đây là một số phương pháp thường được sử dụng trong nghiên cứu khoa học giáo dục nghề nghiệp. Tuy nhiên, khi lựa chọn và sử dụng các phương pháp nghiên cứu trên cần lưu ý:

- Phải căn cứ vào mục tiêu và loại hình nghiên cứu của đề tài mà lựa chọn phương pháp nghiên cứu cho phù hợp.

- Không thể và không bao giờ có một hay một số phương pháp nghiên cứu thích hợp cho mọi đề tài. Cũng như không thể có một đề tài nào đó chỉ sử dụng một phương pháp nghiên cứu duy nhất.

Bản thân mỗi đề tài bao giờ cũng đòi hỏi một hệ phương pháp nghiên cứu để bổ sung cho nhau, giúp cho người nghiên cứu trong việc thu thập, phân tích, xử lí, kiểm tra thông tin, thể hiện kết quả nghiên cứu…





Câu hỏi ôn tập

  1. Phân tích bản chất của phương pháp nghiên cứu khoa học giáo dục nghề nghiệp.

  2. Trình bày hệ thống các phương pháp nghiên cứu khoa học giáo dục nghề nghiệp (cách phân loại).

Trình bày bản chất, nội dung và cách thức thực hiện từng phương pháp nghiên cứu trong nghiên cứu khoa học giáo dục nghề nghiệp.

Bài tập thực hành

        1. Hãy sử dụng một phương pháp giáo dục cụ thể để nghiên cứu tập thể lớp mà ta đang học.

        2. Làm một điều tra cá biệt của một học sinh học nghề.

        3. Làm ba mẫu an két để điều tra về hứng thú học tập nghề nghiệp của học sinh học nghề.

























PHẦN 2

QUI TRÌNH THỰC HIỆN MỘT ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC GIÁO DỤC NGHỀ NGHIỆP

CHƯƠNG 1: CÁC GIAI ĐOẠN TIẾN HÀNH NGHIÊN CỨU MỘT ĐỀ TÀI KHOA HỌC GIÁO DỤC NGHỀ NGHIỆP

Hoạt động nghiên cứu khoa học được coi là một qui trình công nghệ. Nó đòi hỏi phải tiến hành theo các khâu kế tiếp nhau, từ chọn khâu, soạn đề cương, thu thập dữ kiện, xử lý dữ kiện, cho đến viết công trình nghiên cứu, người ta gọi đây là lôgic của một công trình nghiên cứu, hay nói cách khác là thể thức tiến hành một đề tài nghiên cứu khoa học hoạt động nghiên cứu khoa học bao gồm các giai đoạn: giai đoạn chuẩn bị, giai đoạn triển khai nghiên cứu, giai đoạn kiểm tra kết quả nghiên cứu, giai đoạn viết kết quả nghiên cứu, giai đoạn báo cáo tổng kết kết quả nghiên cứu.

I- GIAI ĐOẠN CHUẨN BỊ NGHIÊN CỨU MỘT ĐỀ TÀI KHOA HỌC GIÁO DỤC NGHỀ NGHIỆP

Để tiến hành nghiên cứu khoa học phải chuẩn bị đầy đủ các mặt cho nghiên cứu. Bước chuẩn bị có một vị trí đặc biệt, nó góp phần quyết định chất lượng của công trình nghiên cứu. Chuẩn bị nghiên cứu bắt đầu từ xác định đề tài và kết thúc ở việc chuẩn bị lập kế hoạch tiến hành nghiên cứu.

1- Xác định đề tài nghiên cứu

1.1. Tầm quan trọng của việc xác định đề tài nghiên cứu

Đề tài nghiên cứu khoa học là một hoặc nhiều vấn đề khoa học có chứa nhiều điều chưa biết (hoặc biết chưa đầy đủ) nhưng đã xuất hiện tiền đề và khả năng có thể biết được nhằm giải đáp các vấn đề đặt ra trong khoa học hoặc trong thực tiễn.

Xác định đề tài là tìm vấn đề làm đối tượng nghiên cứu. Vấn đề của khoa học và thực tiễn là vô cùng phong phú, xác định cho mình một vấn đề nghiên cứu không phải là việc làm đơn giản. Xác định đề tài là một khâu then chốt, có ý nghĩa quan trọng đối với người nghiên cứu, vì phát hiện được vấn đề để nghiên cứu nhiều khi còn khó hơn cả giải quyết vấn đề đó và lựa chọn đề tài đôi khi quyết định cả phương hướng chuyên môn trong sự nghiệp của người nghiên cứu. Vì vậy, khi xác định đề tài nghiên cứu, người nghiên cứu cần chú ý tới các yêu cầu đối với đề tài nghiên cứu.

1.2. Các yêu cầu đối với đề tài nghiên cứu

- Đề tài nghiên cứu phải có ý nghĩa khoa học: bổ sung nội dung lý thuyết của khoa học; làm rõ một số vấn đề lý thuyết vốn tồn tại; xây dựng cơ sở lý thuyết mới hoặc xây dựng nguyên lý các giải pháp khác nhau trong kỹ thuật, công nghệ, tổ chức, quản lý...

- Đề tài phải có tính thực tiễn, thể hiện: xây dựng luận cứ cho các chương trình phát triển kinh tế xã hội; nhu cầu kỹ thuật của sản xuất; nhu cầu về tổ chức, quản lý, thị trường...

- Đề tài phải có tính cấp thiết đối với thời điểm tiến hành nghiên cứu. Vấn đề đang là điểm nóng bỏng về giáo dục nghề nghiệp cần phải giải quyết và giải quyết được nó sẽ đem lại giá trị thiết thực cho lý luận và thực tiễn, đóng góp cho sự phát triển của khoa học và đời sống.

1.3- Các điều kiện lựa chọn đề tài nghiên cứu

Thực tiễn giáo dục nghề nghiệp rất phong phú, đa dạng, có thể tìm được rất nhiều đề tài để nghiên cứu. Thực ra số đề tài mà thực tiễn giáo dục nghề nghiệp đòi hỏi nghiên cứu thì rất nhiều mà số vấn đề có thể chọn làm đề tài nghiên cứu có kết quả thì không nhiều. Có những vấn đề thoạt tiên tưởng nghiên cứu sâu, nhưng khi bắt tay vào mới thấy là khó có khả năng phát triển về lý thuyết hoặc có tác dụng về thực tiễn. Nhiều vấn đề thấy rõ là cần nghiên cứu, nhưng khi đề cập thì chỉ có thể phát biểu tham luận ngắn mà không thành công nghiên cứu sâu được. Việc lựa chọn đề tài nghiên cứu khoa học giáo dục nghề nghiệp đòi hỏi một số điều kiện chủ quan ở người nghiên cứu cũng như điều kiện khách quan ở công tác nghiên cứu.

a. Điều kiện chủ quan

Đề tài phải phù hợp với xu hướng, khả năng, kinh nghiệm của người nghiên cứu. Đương nhiên, bao giờ người nghiên cứu cũng phải đứng trước lựa chọn giữa nguyện vọng khoa học của cá nhân với việc giải quyết nhu cầu bức bách của xã hội.

b. Điều kiện khách quan của việc nghiên cứu

Phải có đủ điều kiện khách quan đảm bảo cho việc hoàn thành đề tài như: cơ sở thông tin, tư liệu, phương tiện, thiết bị thí nghiệm ( nếu cần phải tiến hành thí nghiệm), kinh phí cần thiết, quỹ thời gian và thiên hướng khoa học của người hướng dẫn hoặc của người lãnh đạo khoa học, các cộng tác viên có kinh nghiệm...

Các yếu tố trên được coi là những điều kiện cơ bản trong xuất phát điểm của công cuộc nghiên cứu, thiếu một trong những điều kiện trên thì việc nghiên cứu sẽ không đem lại kết quả mong muốn.

Các đề tài có thể được xây dựng từ việc phát hiện của các nhà sư phạm, hay các nhà nghiên cứu cơ sở, cũng có thể do cấp trên đưa tới, cũng có thể do đấu thầu mà dành được.

Có những đề tài độc lập, có đề tài tạo thành nhóm hay một chương trình nghiên cứu, cấp quốc gia, cấp bộ, nghành. Đăng ký đề tài là việc tự ý thức về khả năng và những điều kiện của cơ sở có thể thành công.

1.4. Một số vấn đề cụ thể trong việc xác định đề tài nghiên cứu

a. Kết hợp chặt chẽ giữa việc nghiên cứu lý luận và việc nghiên cứu giáo dục nghề nghiệp nói riêng

b. Xác định tính chất của đề tài nghiên cứu

Tuỳ theo tính chất của đề tài, ta có thể có đề tài mang tính chất điều tra, tổng kết kinh nghiệm, nghiên cứu cơ bản, thực nghiệm, tính hỗn hợp. Mỗi loại đề tài trên đều gồm những bước tiến hành nhất định, theo những trình tự và tính kế tục xác định.

c. Xác định lịch sử vấn đề nghiên cứu

Khi lựa chọn đề tài, người nghiên cứu cần xác định lịch sử vấn đề nghiên cứu để phát hiện vấn đề nghiên cứu, nhằm xác định rõ mức độ nghiên cứu của các công trình đi trước,chỉ ra những mặt còn hạn chế, xác định những điều đề tài có thể kế thừa bổ xung phát triển... để chứng minh và đề xuất nghiên cứu đề tài nghiên cứu mới không lặp lại kết quả đã nghiên cứu trước đã công bố.

d. Xác định phạm vi nghiên cứu của đề tài

Phạm vi nghiên cứu của đề tài là một phần giới hạn của nghiên cứu liên quan đến đối tượng khảo sát và nội dung nghiên cứu. Xác định phạm vi nghiên cứu là xác định giới hạn về không gian của đối tượng khảo sát, giới hạn quỹ thời gian để tiến hành nghiên cứu và giới hạn quy mô nghiên cứu được xử lý. Xác định được phạm vi nghiên cứu của đề tài giúp cho việc nghiên cứu đi đúng hướng, không lệch trọng tâm.

e. Phát biểu đề tài nghiên cứu

Vấn đề khoa học một khi đã được chủ thể chọn làm đối tượng nghiên cứu sẽ trở thành đề tài nghiên cứu và sau khi đã làm rõ mọi vấn đề liên quan đến mục tiêu nghiên cứu thì đề tài được đặt tên, tức là phát biểu thành tên gọi.

Tên đề tài nghiên cứu là lời văn diễn đạt mô hình tư duy của kết quả dự kiến của quá trình nghiên cứu dưới dạng súc tích. Tên đề tài cũng diễn đạt lòng mong muốn của người nghiên cứu tác động vào đối tượng, cải tiến nó để cuối cùng đi đến những mục tiêu dự kiến.

Tên đề tài phải gọn, rõ, có nội dung xác định. Tên đề tài phải súc tích, ít chữ nhất nhưng nhiều thông tin nhất, chứa đựng vấn đề nghiên cứu, nó phản ánh cô đọng nhất nội dung nghiên cứu, chỉ được mang một ý nghĩa hết sức khúc chiết, đơn trị, không được phép hiểu nhiều nghĩa.

Tên đề tài được diễn đạt bằng một câu ngữ pháp bao quát được đối tượng và hàm chứa nội dung và phạm vi nghiên cứu. Tránh đặt tên đề tài bằng những cụm từ mang nhiều tính bất định như “một số vấn đề...”, “ vài suy nghĩ về...”, “góp phần vào...”....

2- Xây dựng đề cương nghiên cứu

2.1- Tầm quan trọng của việc xây dựng đề cương nghiên cứu khoa học

Khi tiến hành nghiên cứu một đề tài khoa học thì một thao tác rất quan trọng là phải xây dựng một đề cương nghiên cứu. Đề cương nghiên cứu là văn bản dự kiến các bước đi và nội dung của công trình và các bước tiến hành để trình cơ quan và tổ chức tài trợ phê duyệt, nó là cơ sở để làm việc với các đồng nghiệp. Xây dựng đề cương nghiên cứu là một bước rất quan trọng, nó giúp cho người nghiên cứu giành được thế chủ động trong quá trình nghiên cứu. Có đề cương mới sắp xếp được kế hoạch chi tiết cho hoạt động nghiên cứu. Đề cương và kế hoạch tuy hai văn bản này có nhiều điểm tương tự nhưng thật ra về tính chất là khác nhau, kế hoạch chỉ vạch ra diễn biến, trình tự các hoạt động, còn đề cương đi vào các nội dung của việc nghiên cứu. Các nội dung nghiên cứu phải được trình bày rõ ràng, đầy đủ trong một đề cương.

2.2- Nội dung của đề cương nghiên cứu khoa học

Nội dung của đề cương nghiên cứu thường bao gồm các nội dung sau đây:

a. Lý do chọn đề tài, mục đích nghiên cứu và lịch sử vấn đề nghiên cứu

- Lý do chọn đề tài nghiên cứu (hay còn gọi là tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu).

Phần này yêu cầu người nghiên cứu phải trình bày rõ ràng, tường minh những lý do nào khiến tác giả chọn đề tài để nghiên cứu về mặt lý thuyết, về mặt thực tiễn, về tính cấp thiết, về năng lực nghiên cứu và sở thích cá nhân. Lý do chọn đề tài thường xuất phát từ những yêu cầu của thực tế công tác mà người nghiên cứu đảm nhiệm , hay từ việc phát hiện những thiếu sót, những hạn chế trong nghiên cứu lý thuyết chuyên ngành cần phải bổ sung, mà việc nghiên cứu này sẽ đem lại lợi ích hiện tại cho tương lai của khoa học và thực tiễn.

- Mục đích nghiên cứu:

Mỗi đề tài nghiên cứu tuỳ theo phạm vi nghiên cứu của mình phải xác định rõ mục đích nghiên cứu. Mục đích nghiên cứu là mục tiêu đề tài hướng tới, là định hướng chiến lược của toàn bộ những vấn đề cần giải quyết trong đề tài. Mục đích của các đề tài nghiên cứu khoa học giáo dục nghề nghiệp là nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả của quá trình giáo dục đào tạo, nâng cao chất lượng tổ chức quản lý giáo dục nghề nghiệp.

- Lịch sử vấn đề nghiên cứu :

Phân tích sơ lược lịch sử vấn đề nghiên cứu, từ trước đến nay đã có ai nghiên cứu, vào năm nào, ở trong nước hay nước ngoài, đã nghiên cứu đến đâu... Hay nói cách khác là làm rõ mức độ nghiên cứu của các công trình đi trước, chỉ ra mặt còn hạn chế và tìm thấy những điều mà đề tài có thể kế thừa bổ sung và phát triển... để chứng minh và đề xuất nghiên cứu đề tài này không lặp lại kết quả nghiên cứu trước đã công bố.

b. Khách thể và đối tượng nghiên cứu

Thế giới khách quan là đối tượng duy nhất của nghiên cứu khoa học. Tuy nhiên thế giới vô cùng rộng lớn, mỗi lĩnh vực khoa học phải chọn cho mình một bộ phận, một phần nào đó để tập trung khám phá tìm tòi, đó chính là thao tác xác định khách thể nghiên cứu.

Trong cái khách thể rộng lớn đó, mỗi đề tài cụ thể lại phải chọn cho mình một mặt, một thuộc tính, một mối quan hệ của khách thể để nghiên cứu. Bộ phận đó chính là đối tượng nghiên cứu của đề tài.

Mỗi đề tài nghiên cứu một vấn đề, cũng có nghĩa là mỗi đề tài có một đối tượng nghiên cứu. Như vậy, xác định đối tượng nghiên cứu là xác định cái trung tâm cần khám phá của đề tài khoa học. Ví dụ đề tài nghiên cứu là “Những giải pháp phát triển đào tạo nghề góp phần đáp ứng nhu cầu nhân lực cho sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở Việt Nam", khách thể nghiên cứu sẽ là: đào tạo nghề ở Việt Nam, đối tượng nghiên cứu sẽ là: các giải pháp nhằm phát triển đào tạo nghề.

Khách thể và đối tượng nghiên cứu là hai khái niệm có mối quan hệ như loài và giống, chúng có thể chuyển hoá cho nhau. Khách thể của đề tài nhỏ có thể là đối tượng của đề tài lớn hơn và ngược lại đối tượng của đề tài lớn có thể là khách thể của đề tài nhỏ hơn.

Khách thể đồng nghĩa với môi trường của đối tượng mà ta đang xem xét. Xác định đối tượng là xác định cái trung tâm, còn xác định khách thể nghĩa là xác định cái giới hạn chứa đựng cái trung tâm, cái vòng mà đề tài không được phép vượt qua. Do đó xác định khách thể và đối tượng nghiên cứu là thao tác bản chất của quá trình nghiên cứu khoa học.

c. Giả thuyết khoa học

Để tiến hành khám phá đối tượng, cái mà người ta chưa biết, một thao tác rất quan trọng trong nghiên cứu khoa học là tiên đoán bản chất đối tượng, từ sự tiên đoán này mà người ta tìm ra các phương pháp, các con đường để khám phá chính bản thân đối tượng. Giả thuyết khoa học là mô hình giả định, một dự đoán về bản chất của đối tượng nghiên cứu. Một công trình khoa học về thực chất là chứng minh một giả thuyết khoa học. Do đó xây dựng giả thuyết là thao tác quan trọng của mỗi công trình khoa học. Giả thuyết có chức năng tiên đoán bản chất sự kiện, đồng thời là chức năng chỉ đường để khám phá đối tượng.

Giả thuyết được xây dựng trên cơ sở phân tích đối tượng và so sánh với những đối tượng khác gần giống nó mà ta đã biết, bằng phép tương tự kết hợp với trí tưởng tượng sáng tạo để nhà khoa học tiên đoán về bản chất đối tượng.

Giả thuyết được xây dựng phải tuân thủ các yêu cầu sau đây:

1. Giả thuyết phải có tính thông tin về sự kiện, nghĩa là có khả năng giải thích được sự kiện cần nghiên cứu.

2. Giả thuyết có thể kiểm chứng bằng thực nghiệm.

Mọi giả thuyết khoa học đều phải chứng minh. Nếu giả thuyết được chứng minh, thì nó trở thành một bộ phận của lý thuyết khoa học, giả thuyết được chứng minh tức là đề tài được thực hiện. Vì vậy, thực chất một công trình khoa học là chứng minh một giả thuyết khoa học.

d. Các nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu

- Các nhiệm vụ nghiên cứu:

Xuất phát từ mục đích và giả thuyết khoa học, mỗi đề tài phải xác định các nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể. Nhiệm vụ nghiên cứu là mục tiêu cụ thể mà đề tài phải thực hiện. Xác định nhiệm vụ nghiên cứu là xác định công việc phải làm, là mô hình dự kiến nội dung đề tài. Các nhiệm vụ được thực hiện là đề tài hoàn thành. Trong nghiên cứu khoa học giáo dục nghề nghiệp, nhiệm vụ nghiên cứu thường được xây dựng như sau:

  • Xây dựng cơ sở lý luận của đề tài.

  • Phân tích làm rõ bản chất và quy luật của đối tượng nghiên cứu (thông qua phân tích lý thuyết và những số liệu thu thập được trong khảo sát thực trạng).

  • Đề xuất những giải pháp ứng dụng cải tạo hiện thực.

- Phạm vi nghiên cứu:

Giới hạn của đề tài là phạm vi mà đề tài phải thực hiện. Còn phạm vi nghiên cứu là một phần giới hạn của nghiên cứu liên quan đến đối tượng khảo sát và nội dung nghiên cứu. Phạm vi nghiên cứu bao gồm những giới hạn về không gian của đối tượng khảo sát, giới hạn quỹ thời gian để tiến hành nghiên cứu và giới hạn quy mô nghiên cứu được sử lý.

e. Các nguồn tài liệu và các phương pháp nghiên cứu

- Các nguồn tài liệu:

Tác giả phải trình bày rõ các tài liệu tham khảo đã đọc để xây dựng đề cương. Các tài liệu được liệt kê có chọn lọc phù hợp với phạm vi của đề tài nghiên cứu. Thông thường đối với một đề tài nghiên cứu khoa học giáo dục nghề nghiệp cần đọc những loại tài liệu sau đây:

1. Những tác phẩm kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lê nin có liên quan đến đề tài nghiên cứu.

2. Những văn kiện có liên quan của Đảng, Chính phủ và của các cấp trong nghành giáo dục.

3. Những tài liệu lý luận cơ bản về vấn đề trong đó có liên quan đến đề tài của chúng ta (ví dụ những lý luận về giáo dục học, sinh lý học của vấn đề giáo dục mà ta nghiên cứu).

4. Những công trình nghiên cứu các vấn đề trực tiếp liên quan đến đề tài (những chuyên khảo, những luận văn, đặc biệt là các bài mới nhất trong các loại tạp chí...vv)

Cũng có nhiều trường hợp cần đọc tài liệu về thống kê xác suất để học cách tính toán xử lý các số liệu thu được. Tuỳ theo từng nghành cụ thể của đề tài nghiên cứu mà cần đọc thêm những loại tài liệu khác nhau.

- Các phương pháp nghiên cứu:

Để tiến hành nghiên cứu đề tài khoa học, người nghiên cứu thường phải sử dụng phối hợp các phương pháp nghiên cứu cụ thể (phương pháp nghiên cứu lý thuyết, phương pháp nghiên cứu thực tiễn, phương pháp toán học...), phải lựa chọn xem phương pháp nào phù hợp với đặc điểm của đề tài và yêu cầu nghiên cứu của mình.

Các phương pháp là con đường thực hiện một công trình nghiên cứu để khám phá đối tượng. Vì vậy, xác định chính xác các phương pháp nghiên cứu giúp quá trình nghiên cứu thu được kết quả tốt nhất và khách quan.

f. Dự kiến dàn ý công trình nghiên cứu

Dàn ý nội dung công trình nghiên cứu thực chất là dự thảo nội dung, là mô hình đề tài mà người nghiên cứu định tiến hành, đòi hỏi người nghiên cứu phải thực hiện nghiêm túc. Hay nói theo cách khác, đây là cái sườn của nội dung nghiên cứu nhằm thu thập và khai thác tài liệu. Dàn ý nội dung gồm các chương, mục phù hợp với nhiệm vụ nghiên cứu. Dựa theo dàn ý, người nghiên cứu thu thập tư liệu (lý luận) và xử lý các cứ liệu thu được (qua điều tra, quan sát, thực nghiệm) để hình thành nội dung của báo cáo.

Dàn ý nội dung dự kiến của công trình nghiên cứu thông thường gồm ba phần chính: mở đầu, nội dung, kết luận và khuyến nghị. Trong đó, phần nội dung là phần cơ bản, chủ yếu nhất có thể được chia thành các chương, mục, tiểu mục (số lượng chương, mục, tiểu mục tuỳ thuộc đặc điểm của đề tài, khối lượng nội dung, cách trình bày của tác giả...)

Thông thường nội dung dàn ý công trình nghiên cứu có ba chương:

Chương I: Cơ sở lý luận của vấn đề nghiên cứu.

Chương II: Thực trạng của vấn đề nghiên cứu.

Chương III: Với tên gọi có thể khác nhau, nhưng chủ yếu trình bày: những kết quả thực nghiệm, khẳng định giả thuyết, những bài học rút ra từ kết quả nghiên cứu, những giải pháp đề xuất để giải quyết các tồn tại của đề tài hoặc hướng dẫn thực tiễn.

Dàn ý có tính chất tạm thời, được sửa đổi và từng bước hoàn chỉnh trong quá trình nghiên cứu. Dàn ý cần được trình bày cụ thể tới mục, các tiểu mục... Dàn ý thực hiện càng chi tiết và hợp lý thì việc thu thập tài liệu và sắp xếp dữ kiện càng dễ dàng.

g. Kế hoạch nghiên cứu

Kế hoạch nghiên cứu một đề tài khoa học là sự thể hiện những ý đồ, cách thức và những bước thực hiện cụ thể của người nghiên cứu, đó là sự định hướng cho toàn bộ việc nghiên cứu: từ việc thu thập thông tin tư liệu đến viết và bảo vệ công trình. Lập kế hoạch đảm bảo cho hoạt động nghiên cứu phát triển đúng hướng, tự chủ động làm việc, đạt được mục đích cuối cùng đề ra.

Kế hoạch nghiên cứu là văn bản trình bày kế hoạch dự kiến triển khai đề tài về tất cả phương diện như: nội dung công việc, ấn định thời gian thực hiện từng công việc, sản phẩm phải có và phân công trách nhiệm cho từng thành viên, cộng tác viên.

Xây dựng và tổ chức thực hiện kế hoạch nghiên cứu thường được dự kiến triển khai theo 5 giai đoạn làm việc diễn ra nối tiếp và đan xen nhau

(1) Giai đoạn chuẩn bị

a. Chọn đề tài, xác định đối tượng, nhiệm vụ và mục đích nghiên cứu:

- Theo dõi các công trình và thành tựu khoa học có liên quan đến đề tài.

- Tham khảo các kết quả mới nhất của công trình.

- Đánh giá các kết quả nghiên cứu của các công trình.

- Trao đổi ý kiến với các nhà khoa học.

b. Lập các bản tóm tắt các công trình nghiên cứu trong phạm vi của đề tài nghiên cứu.

c. Lập kế hoạch sơ bộ cho công tác nghiên cứu

d. Tiến hành thử một số công việc (ví dụ: thí nghiệm, điều tra thăm dò...).

(2) Giai đoạn nghiên cứu thực sự

a. Nghiên cứu thực tại và nêu rõ thực trạng của vấn đề tài nghiên cứu.

b. Thực hiện các nhiệm vụ nghiên cứu đã được đặt ra trong kế hoạch:

- Sưu tầm tài liệu liên quan đến đề tài.

- Tổ chức thu thập tư liệu (qua điều tra, hội thảo, đi thực tế...).

- Tiến hành thực nghiệm (nếu có).

c. Sơ kết và đánh giá sơ bộ các công việc đã thực hiện.

d. Hoàn thiện công việc và hoàn thành kế hoạch nghiên cứu.

(3) Giai đoạn định ra kết cấu công trình nghiên cứu

a. Tiến hành tập hợp, xử lý các kết quả nghiên cứu.

b. Lập dàn bài - cấu trúc của báo cáo kết quả nghiên cứu.

(4) Giai đoạn viết công trình

a. Viết công trình: viết sơ bộ và viết chính thức bản công trình.

b. Viết báo cáo tóm tắt của công trình (đối với các loại luận văn, luận án, các đề tài nghiệm thu...)

(5) Giai đoạn bảo vệ (công bố) công trình

- Người nghiên cứu cần phải xây dựng và tổ chức thực hiện các loại kế hoạch cụ thể như: Kế hoạch tiến độ, kế hoạch nhân lực, lập dự toán kinh phí nghiên cứu.

- Văn bản kế hoạch nghiên cứu thường được soạn thảo thành hai loại:

+ Văn bản để nộp cho cơ quan quản lý đề tài nghiên cứu hoặc cơ quan tài trợ. Loại văn bản này mang ý nghĩa pháp lý nhiều hơn ý nghĩa học thuật, phải làm theo mẫu do các cơ quan này quy định, phải thể hiện đúng kế hoạch tiến độ, nội dung và sử dụng kinh phí phù hợp.

+ Văn bản để thảo luận và sử dụng nội bộ trong nhóm nghiên cứu: về nội dung, văn bản này phải nhất quán với văn bản trên, nhưng quy định cụ thể hơn, đầy đủ hơn mối quan hệ nội bộ giữa các thành viên của nhóm nghiên cứu.

II- GIAI ĐOẠN TRIỂN KHAI NGHIÊN CỨU

1- Thu thập tài liệu thực tế

1.1- Tầm quan trọng

Thu thập các tài liệu lý thuyết và thực tế có tầm quan trọng to lớn, nó giúp cho người nghiên cứu chứng minh cho giả thuyết khoa học đã đưa ra.

1.2- Các nguồn tài liệu thực tế

Người nghiên cứu cần thu thập các thông tin qua nguồn tài liệu thực tế sau:

- Chủ trương và chính sách có liên quan đến nội dung nghiên cứu.

- Cơ sở lý thuyết có liên quan đến nội dung và đối tượng nghiên cứu.

- Thành tựu lý thuyết đã đạt được và kết quả nghiên cứu trước đã được công bố có liên quan đến chủ đề nghiên cứu.

- Các số liệu thống kê.

- Kết quả quan sát hoặc thực nghiệm do bản thân người nghiên cứu thu thập.

1.3- Các hình thức thu thập tài liệu

Để thu thập thông tin, người nghiên cứu thường sử dụng các hình thức: thu thập tài liệu từ các nguồn (tạp chí, báo cáo khoa học, tác phẩm khoa học, tài liệu lưu trữ, số liệu thống kê, thông tin đại chúng), phỏng vấn, tiến hành quan sát, tiến hành thực nghiệm...

- Nghiên cứu các nguồn tài liệu:

+ Lập danh mục tư liệu cần theo hệ thống phân loại phù hợp để tương hợp với hệ thống thông tin tư liệu chung.

+ Lập phiếu thư mục: người nghiên cứu phải tự lập các phiếu thư mục để tiện tra cứu, trong đó ghi rõ: nguồn tư liệu, mã số của thư viện.

+ Đọc tài liệu: đọc kỹ, đọc lướt nhanh, tóm tắt, trích ghi, phân tích, đánh giá, phê phán, ghi nhận xét ý kiến cá nhân. Người nghiên cứu cần đọc đầy đủ các nguồn tài liệu có liên quan đến đề tài để làm tổng quan về những thành tựu liên quan đến đề tài.

- Tìm hiểu thực tại:

Phát hiện thực trạng phát triển của đối tượng bằng các phương pháp nghiên cứu thực tiễn. Các tài liệu thu thập được từ các phương pháp quan sát, điều tra, thí nghiệm, thực nghiệm qua xử lý bằng toán học thống kê cho ta những tài liệu khách quan về đối tượng.

1.4. Những yêu cầu đối với tài liệu

Tài liệu thu thập phải phù hợp với yêu cầu của đề tài, làm cơ sở lý thyết cho đề tài. Tài liệu phải xác định tính chân thực, phục vụ cho chứng minh vấn đề nghiên cứu.

2. Xử lý tài liệu thực tế

Trong nghiên cứu khoa học, người nghiên cứu sử dụng nhiều phương pháp khác nhau để thu thập dữ kiện liên quan đến đề tài nghiên cứu. Các dữ kiện thu thập chưa thể sử dụng ngay được mà phải qua quá trình sàng lọc, phân tích, xử lý. Các dữ kiện này gọi chung là tài liệu thu thập.

2.1 Sàng lọc tài liệu

Chỉ nên bắt tay vào sàng lọc tài liệu khi có khối lượng tài liệu nhất định. Sàng lọc tài liệu gồm các công việc như sau:

- Phân loại tài liệu: Công việc này nhằm phân loại các tài liệu thu được

- Chọn lọc tài liệu, tư liệu, số liệu: nghiên cứu mối liên hệ giữa các tài liệu, tư liệu, số liệu. So sánh, đối chiếu, chọn lọc những tài liệu, tư liệu, số liệu quan trọng, thiết thực, có độ tin cậy cao.

- Sắp xếp tài liệu, tư liệu, số liệu: Sau khi quy thành các nhóm tài liệu, số liệu, tiến hành lập dàn ý, sắp xếp cụ thể từng nội dung của từng vấn đề đi theo một lôgic nhất định, chọn các vấn đề cần đi sâu phân tích.

2.2- Xử lý tài liệu

Đây là giai đoạn cơ bản, quyết định chất lượng của đề tài, vì các tư liệu, số liệu được sử lý đúng đắn, chính xác có ý nghĩa trong việc xác nhận (chứng minh) hay bác bỏ giả thuyết đã nêu ra.

Mục đích của việc phân tích và xử lý thông tin, tư liệu là tập hợp, chọn lọc và hệ thống hoá các phần khác nhau của thông tin, của tư liệu đã có để từ đó tìm ra những khía cạnh mới, kết luận mới về đối tượng. Quá trình phân tích, xử lý thông tin, tư liệu là quá trình sử dụng kiến thức tổng hợp của người nghiên cứu, là quá trình sử dụng tư duy biện chứng và lôgic cùng với các phương pháp nghiên cứu khoa học để xem xét đối tượng. Quá trình này do trình độ của người nghiên cứu quy định. Nội dung và phương pháp xử lý thông tin bao gồm: xử lý thông tin định lượng và xử lý các thông tin định tính

a. Xử lý các thông tin định lượng

Các dữ kiện thu thập được qua các phương pháp thực nghiệm, phương pháp điều tra phỏng vấn, phương pháp quan sát, sau khi đã sàng lọc thường được xử lý ở dạng định lượng theo phương pháp thống kê… các phương pháp phân tích loại trừ, phân tích tương quan và phân tích biến thiên là những phương pháp phân tích định lượng được sử dụng rộng rãi nhất. Xử lý các con số rời rạc, bảng số liệu, biểu đồ, đồ thị. Xử lý thông tin định lượng để phát hiện động thái và quy luật biến động của tham số.

b. Xử lý các thông tin định tính

Mục đích của xử lý các thông tin định tính là nhằm xác lập các phẩm chất, thuộc tính khác nhau của những hiện tượng được nghiên cứu. Khi phân tích định tính có thể sử dụng các chỉ số đã biết và xác định xem chúng có hay không cơ sở các nghiệm thể, hoặc là bằng cách phân tích các tài liệu thực tế mà rút ra các chỉ số đó, rồi sau đấy dựa vào chúng mà tiến hành xử lý toàn bộ tài liệu thực tế nói chung. Ví dụ khi nghiên cứu đặc điểm lĩnh hội khái niệm của học sinh học nghề, có thể sử dụng các chỉ số định tính đã được thừa nhận chung như: tính đầy đủ trong việc tách ra các dấu hiệu, tính chính xác của các dấu hiệu đó, mức độ bản chất của các dấu hiệu v.v... Sự phân tích các phẩm chất của học sinh học nghề , như tính tổ chức chẳng hạn, có thể được tiến hành theo các chỉ số sau: Thời gian thực hiện công việc, mức độ hình thành các kỹ năng cần thiết cho sự thực hiện một công việc nào đó, thái độ đối với công việc.

Khi phân tích định tính cần đặc biệt chú ý không chỉ xác định cái đặc trưng cho con người trong hiện tại, mà mà còn cần dự báo cả triển vọng phát triển của nó nữa.

Nhận dạng chuẩn xác mối liên hệ bản chất giữa các sự kiện sẽ giúp người nghiên cứu mô tả được dưới dạng sơ đồ.

Trong quá trình phân tích và xử lý thông tin cần chú ý:

- Tôn trọng tính khách quan của sự kiện, con số, người nghiên cứu không được chủ quan áp đặt theo ý đồ của mình.

- Cần phát huy tinh thần dũng cảm, mạnh dạn trong nghiên cứu khoa học, bởi vì trong quá trình phân tích, xử lý các thông tin có thể dẫn đến kết luận, những nhận xét dễ bị phê phán bác bỏ. Trong trường hợp này, người nghiên cứu cần phải thận trọng kiểm tra lại các kết luận của mình, đồng thời phải mạnh dạn phê phán các tư tưởng lạc hậu, lỗi thời và ủng hộ tích cực tư tưởng mới, các ý tưởng mới mà các công trình nghiên cứu đã chỉ ra.

III- GIAI ĐOẠN KIỂM TRA KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Kiểm tra kết quả nghiên cứu bằng cách tổ chức lặp lại thực nghiệm giáo dục hay dùng các phương pháp khác với phương pháp đã sử dụng ban đầu. Các phương pháp kiểm tra lẫn nhau giúp ta khẳng định tính chân thực của các kết luận. Thực nghiệm là chứng minh một giả thuyết, chứng minh một luận điểm khoa học cho nên tổ chức thực nghiệm phải tiến hành một cách thận trọng, nghiêm túc và nhiều khi thực nghiệm được tiến hành nhiều lần, ở nhiều địa bàn khác nhau để kết quả nghiên cứu đạt đến mức khách quan nhất.

1- Kiểm tra sơ bộ

2- Kiểm tra chính thức

IV- GIAI ĐOẠN VIẾT KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

1- Hoàn thiện dàn ý công trình nghiên cứu

Viết báo cáo tổng kết đề tài nghiên cứu là trình bày các kết quả nghiên cứu bằng một văn bản hay một luận án, luận văn để công bố kết quả nghiên cứu và báo cáo với cơ quan quản lý đề tài nghiên cứu hoặc cơ quan tài trợ, đây là cơ sở để hội đồng nghiệm thu đánh giá sự cố gắng của các tác giả, đồng thời cũng là bút tích của tác giả để lại cho các đồng nghiệp đi sau.

Viết báo cáo tổng kết đề tài phải tiến hành nhiều lần:

- Viết bản nháp theo đề cương chi tiết trên cơ sở tổng hợp các tài liệu, tư liệu, số liệu thu được và đã được sử lý.

- Sửa chữa bản thảo theo sự góp ý của người hướng dẫn và các chuyên gia.

- Viết sạch bản báo cáo tổng kết đề tài rồi đưa ra thảo luận ở bộ môn.

- Sửa chữa theo sự góp ý của bộ môn.

- Viết sạch để bảo vệ ở hội đồng bảo vệ cấp cơ sở.

- Sửa chữa lần cuối cùng sau khi tiếp thu ý kiến của hội đồng bảo vệ cấp cơ sở. Viết hoàn chỉnh văn bản báo cáo tổng kết đề tài, luận án, luận văn, đồng thời viết tóm tắt các văn bản đó.

2- Một số điều cần chú ý khi viết công trình nghiên cứu

- Trình bày theo mọi yêu cầu kỹ thuật, nội dung khoa học với độ chính xác cao, vừa có tư tưởng học thuật, đem lại những điều mới mẻ cho khoa học, có tính thực tiễn, có khả năng ứng dụng vào cuộc sống. Đề tài khoa học phải thực hiện tốt các nhiệm vụ nghiên cứu, đưa ra được các luận chứng, các kiến giải khoa học, chứng minh được giả thuyết đã nêu ban đầu. Đề tài phải được thực hiện bằng các phương pháp phong phú khác nhau, chính xác đem lại những tài liệu đáng tin cậy.



V- GIAI ĐOẠN BÁO CÁO TỔNG KẾT KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

1- Việc chuẩn bị bảo vệ công trình nghiên cứu (luận văn, luận án) bao gồm

+ Phải hoàn thiện toàn bộ công trình nghiên cứu thể hiện bằng văn bản đúng với các yêu cầu về nội dung và hình thức trình bày báo cáo tổng kết đề tài, luận văn, luận án của Bộ Giáo dục và Đào tạo.

+ Viết bản đề cương báo cáo tổng kết đề tài, luận văn, luận án theo tinh thần và dạng của bảng tóm tắt kết quả nghiên cứu đề tài, luận văn, luận án nhưng cô đọng và rút ngắn hơn.

+ Chuẩn bị các tài liệu minh hoạ cho báo cáo.

+ Chuẩn bị các câu trả lời căn cứ theo tinh thần các nhận xét của phản biện và của những người trong và ngoài hội đồng (hội đồng nghiệm thu hay hội đồng chấm luận văn, luận án) .

2.1. Báo cáo kết quả nghiên cứu

Kết thúc, công trình khoa học được đem ra hội đồng khoa học nghiệm thu hoặc đem ra bảo vệ tại hội đồng chấm luận án nhà nước. Đề tài được nghiệm thu, hay bảo vệ thành công, cần được đưa vào ứng dụng trong thực tiễn giáo dục.

Trình bày báo cáo trước hội đồng phải ngắn gọn, đơn giản rõ ràng, dễ hiểu và đầy đủ lượng thông tin cần thiết, quan trọng, chủ yếu về: tính cấp thiết của đề tài, mục đích, nhiệm vụ, đối tượng phạm vi, phương pháp nghiên cứu, những kết quả đạt được, những đóng góp mới, những kết luận, khuyến nghị và tiếp tục nghiên cứu đề tài...

Khi báo cáo kết quả nghiên cứu cần lưu ý:

+ Giành thời gian cho việc làm sáng tỏ các kết quả khoa học mới vừa thu thập được bằng ngôn ngữ có tính thuyết phục để chứng minh (dẫn chứng) với sự hỗ trợ của các tài liệu minh hoạ (do người bảo vệ chọn lựa và sử dụng hợp lý).

+ Các sơ đồ, biểu bảng, tranh ảnh, mẫu vật và các phương tiện cần thiết khác phải được sắp xếp theo thứ tự tương ứng với việc trình bày vấn đề và tiện cho việc sử dụng. Đôi khi để minh hoạ, có thể sử dụng máy tính, máy chiếu hình, máy ghi âm hoặc máy chiếu phim... Song, bố trí sao cho để mọi người tham dự trong phòng hội nghị của hội đồng có thể nhìn rõ.

+ Khi trả lời những câu hỏi và ý kiến nhận xét của các phản biện, các thành viên của hội đồng, người bảo vệ chỉ cần đề cập thẳng vào bản chất của vấn đề, của sự việc, phải thận trọng và tỏ ra lịch thiệp trong quan hệ với những người phát biểu nhận xét về báo cáo của mình, ngay cả khi có những nhận xét mang tính chất phê phán mạnh mẽ. Bản thân phải thể hiện tính khiêm tốn và tự tin trong việc tự đánh giá kết quả khoa học của mình.

2.1. Vấn đề đánh giá một công trình nghiên cứu khoa học giáo dục

2.2.1. Hiệu quả các quá trình nghiên cứu khoa học.

Sản phẩm khoa học giáo dục là những văn bản trình bày một cách tường minh kết quả nghiên cứu bao gồm những thông tin khoa học mới, những luận chứng, những tư liệu, những kết luận, những đề xuất mới và những tờ trình có thuyết minh, những bảng số, biểu đồ, những phiếu điều tra, những phép thử và có thể cả những sản phẩm bằng vật chất ...

Sản phẩm khoa học là kết quả hoạt động sáng tạo của một cá nhân hay một tập thể các nhà khoa học, cần phải được đánh giá một cách khách quan. Đánh giá là xem xét chất lượng của sản phẩm, đồng thời cũng xem xét cả hiệu quả của một quá trình tổ chức và tiến hành nghiên cứu, để đề xuất ứng dụng kết quả nghiên cứu và những giải pháp tổ chức quản lý nghiên cứu tốt hơn.

Đánh giá hiệu quả quá trình nghiên cứu khoa học là tính toán những chi phí cần thiết cho một đơn vị sản phẩm, nhưng quan trọng hơn là đánh giá chất lượng của một công trình. Đánh giá là tìm ra cái có ích nhất, có giá trị đối với cuộc sống, với sự chi phí tối thiểu cả về tài lực và vật lực ... Đánh giá hiệu quả nghiên cứu khoa học là công cụ của quá trình quản lý nghiên cứu khoa học. Đánh giá là biện pháp đẩy nhanh quá trình nghiên cứu nhằm phục vụ cho cuộc sống nhiều hơn.

Đánh giá hiệu quả nghiên cứu khoa học giáo dục là một công việc phức tạp, rất khác với việc đánh giá một công trình khoa học tự nhiên hay khoa học kỹ thuật. Vì vậy, đòi hỏi sự đánh giá toàn diện cả về thông tin khoa học, lẫn ý nghĩa xã hội và chi phí và hiệu quả kinh tế.

a. Hiệu quả khoa học

Nghiên cứu khoa học nhằm mục đích khám phá ra những chân lý mới, những hiểu biết mới về thế giới khách quan. Nghiên cứu khoa học giáo dục cũng nhằm tới hiểu biết đầy đủ hơn, chính xác hơn về những quy luật giáo dục, về bản chất các hiện tượng giáo dục, về các con đường tổ chức hệ thống giáo dục quốc dân, về nội dung, phương pháp giáo dục và các con đường để nâng cao hiệu quả của quá trình giáo dục. Một câu hỏi đặt ra cho mọi công trình khoa học là: cái mới. Cái mới là cái phát hiện mới, chưa từng có ai phát hiện, cái mới phải là cái có giá trị cho khoa học và cho sự nghiệp giáo dục. Cái mới phải là ưu việt tiên tiến hơn cái cũ, có tính thiết thực, cập nhật và phù hợp với thời đại. Như vậy, nghiên cứu khoa học phải tạo ra thông tin mới. Đây là thông số, tiêu chí quan trọng nhất để đánh giá một công trình khoa học.

Thông tin khoa học mới được xem xét ở hai mặt: Số lượng và chất lượng. Số lượng là tổng thể những thông tin tạo nên hệ thống những hiểu biết, bao gồm những thông tin có giá trị, những khái niệm, những phạm trù, định luật khoa học ... số lượng thông tin được tính bằng những con số: Số tài liệu, bài viết đã được đăng tải, công bố, phổ biến, số lượng công trình khoa học đã hoàn thành. Chất lượng thông tin là giá trị đích thực của thông tin. Giá trị của thông tin được xem bằng :

  • Tính mới mẻ, đó là thông tin lần đầu tiên được khám phá và công bố, mới mẻ đối với chuyên ngành, đối với quốc gia và đối với nhân loại.

  • Là một phát hiện mói về phương pháp giải quyết những vấn đề cụ thể của sự nghiệp giáo dục.

  • Tính chính xác khách quan, tính đúng đắn của những luận điểm khoa học mới phát hiện. Đó là thông tin mới đã thử nghiệm, có giá trị cải tạo thực hiện giáo dục, có hiệu quả đối với cuộc sống. Tính chính xác, khách quan của thông tin khoa học phản ánh đúng những quy luật vận động và phát triển của các hiện tượng giáo dục.

  • Tính triển vọng của thông tin: Là khả năng khai thông sự bế tắc về nhận thức, gợi lên những ý tưởng mới cho khoa học, tạo khả năng phản ứng dây truyền cho các hiệu quả khác của khoa học. Thông tin có triển vọng tức là thông tin có khả năng đưa khoa học tiến xa hơn, tạo nên những xu hướng nghiên cứu mới, những phương pháp tiếp cận mới, những khả năng ứng dụng mới.

Thông tin khoa học chính là bản thân khoa học, thông tin càng đầy đủ, chính xác, có chất lượng cao, có hệ thống chặt chẽ tức là khoa học đạt tới tầm cao. Thông tin khoa học là bậc thang của sự tiến bộ không ngừng của khoa học. Nghiên cứu khoa học luôn là sự kế thừa nối tiếp thông tin. Mỗi công trình, mỗi giai đoạn, nghiên cứu đạt tới một trình độ cao tạo đà cho một bước tiếp theo của khoa học.

Đánh giá hiệu quả thông tin khoa học hiện tại chưa có một phương pháp chuẩn xác, đặc biệt là khoa học xã hội trong đó có khoa học giáo dục. Điều quan trọng nhất để đánh giá hiệu quả khoa học giáo dục là khả năng ứng dụng của nó và thực tiễn để đem lại chất lượng giáo dục và đào tạo thực sự.

b. Hiệu quả xã hội.

Nghiên cứu khoa học giáo dục có mục đích là tìm các giải pháp cho các mâu thuẫn của thực tiễn giáo dục ở nước ta. Như vậy, nghiên cứu khoa học phải hướng vào phục vụ cho sự phát triển của xã hội. Khoa học và cuộc sống là hai phạm trù khác nhau nhưng chúng gắn bó mật thiết và tác động biện chứng với nhau. Khoa học vì cuộc sống, khoa học phục vụ cho cuộc sống, làm cho cuộc sống tốt hơn. Khoa học cũng bắt nguồn từ cuộc sống, nó khai thác những mâu thuẫn, những khó khăn của cuộc sống, lấy nó làm đề tài nghiên cứu và cũng nhằm tới giải quyết những mâu thuẫn, khó khăn của cuộc sống.

Nghiên cứu khoa học giáo dục tạo ra những thành quả để phục vụ cho xã hội. Kết quả nghiên cứu khoa học làm thay đổi về cách nhìn, cách đánh giá một sự kiện giáo dục, làm thay đổi một quan niệm giáo dục cũ, một thói quen lạc hậu cổ xưa. Kết quả nghiên cứu khoa học giáo dục tạo nên các phương pháp giáo dục mới trong gia đình, trong nhà trường và trong xã hội.

Thành quả nghiên cứu khoa học giáo dục được xã hội thừa nhận đó là hiệu quả xã hội có ý nghĩa cao nhất. Tính khoa học, tính chính xác của kết quả nghiên cứu tạo nên một sức thuyết phục xã hội, đó là hiệu quả đích thực của khoa học giáo dục.

c. Hiệu quả kinh tế

Bất kỳ một công trình khoa học nào khi đánh giá cũng phải xem xét tới hiệu quả kinh tế. Một câu hỏi đặt ra: Công trình khoa học có giá trị thì đem lại lợi ích gì? Đây là bài toán phức tạp cần được quán triệt và phải giải quyết ngay trong quá trình nghiên cứu đề tài giáo dục.

Khoa học và ứng dụng là hai khâu của quá trình nghiên cứu khoa học. Mục đích nghiên cứu để áp dụng, vì vậy ngay trong quá trình nghiên cứu cơ bản đã diễn ra ý tưởng nghiên cứu ứng dụng các quy luật giáo dục, làm tăng cường chất lượng giáo dục, làm cho quá trình tổ chức giáo dục xã hội đạt tới mục đích đã đề ra. Những thế hệ học sinh được đào tạo sẽ là những người trực tiếp tham gia vào quá trình sản xuất đem lại hiệu quả kinh tế cao. Vì vậy, ngày nay người ta đã nói rằng chi phí cho nghiên cứu và đào tạo là chi phí thông minh nhất vì nó đem lại lợi ích cho xã hội một cách lâu dài.

Đối với một đề tài cụ thể, hiệu quả kinh tế là hiệu quả trực tiếp mà đề tài sẽ đóng góp làm năng suất lao động cao hơn, tạo ra bước nhảy vọt trong sản xuất vật chất hay quản lý xã hội.

1.2- Phương pháp đánh giá một công trình khoa học giáo dục.

NCKH tạo ra sản phẩm khoa học. Đây là sản phẩm đặc biệt không giống như sản phẩm vật chất, vì vậy, đánh giá nó thật khách quan là điều khó khăn. Để đánh giá khách quan một công trình khoa học đòi hỏi phân tích đầy đủ các thông số, các dữ kiện khác nhau của quá trình nghiên cứu và kết quả của công trình khoa học.

  • Đánh giá quá trình nghiên cứu qua các mặt:

+ Phân tích các chi phí cho quá trình nghiên cứu: mua sắm thiết bị vật tư.

+ Phân tích việc sử dụng thời gian, nhân lực cho quá trình nghiên cứu.

  • Đánh giá quá trình nghiên cứu theo các mặt:

+ Hiệu quả khoa học, hiệu quả xã hội, hiệu quả kinh tế mà công trình đem lại.

+ Khả năng triển khai ứng dụng của công trình khoa học, sự tiếp nhận của xã hội.

Đánh giá theo cách này gọi là đánh giá theo đầu ra. Tuy nhiên để đánh giá thật khách quan người ta kết hợp cả hai hình thức đó một cách chặt chẽ. Hiện nay, ở nước ta cũng như trên thế giới việc đánh giá kết quả nghiên cứu một công trình, một chương trình khoa học nào đó, thường được thực hiện bằng hai phương pháp như sau:

1.2.1- Phương pháp đánh giá bằng hội đồng nghiệm thu

Phương pháp đánh giá một công trình khoa học bằng hội đồng nghiệm thu (phương pháp hội đồng) là phương pháp rất phổ biến hiện nay. Dùng phương pháp này để nghiệm thu một đề tài khoa học, đánh giá một luận văn thạc sỹ, một luận án tiến sỹ... Phương pháp này có ưu điểm là tiến hành nhanh gọn, dứt điểm. Nó được tiến hành như sau:

a. Thành lập hội đồng nghiệm thu hoặc hội đồng đánh giá

Hội đồng nghiệm thu, đánh giá được cấp có thẩm quyền thành lập gồm từ 7 đến 11 người tuỳ theo cấp đề tài, tuỳ theo chuyên ngành và điều kiện cụ thể.

Thành viên hội đồng được chọn từ những chuyên gia theo chuyên ngành, đây là những người có học vị từ phó giáo sư trở lên am hiểu chuyên môn, có năng lực và có phẩm chất, trung thực và khách quan.

Hội đồng gồm có: Chủ tịch hội đồng là người có học hàm, học vị cao nhất trong các thành viên, thư ký hội đồng, phản biện và các uỷ viên hội đồng.

b. Hoạt động của hội đồng

Sau khi có quyết định thành lập hội đồng, các thành viên của hội đồng được tiếp xúc với công tình khoa học. Hội đồng nhóm họp để nghe chủ nhiệm đề tài, tác giả luận văn, luận án trình bày tóm tắt kết quả nghiên cứu, nghe các phản biện nhận xét sau đó là chất vấn tác giả, tranh luận công khai về đề tài được thực hiện. Hội đồng bỏ phiếu kín đánh giá, sau đó công bố kết quả kiểm phiếu. Kết qủa bỏ phiếu chính là sự phán quyết cuả tập thể hội đồng đối với kết quả của công trình đã được tiến hành.

c. Nguyên tắc đánh giá bằng hội đồng

- Các thành viên của hội đồng được chọn phải là những chuyên gia có năng lực chuyên môn cao, có phẩm chất tốt, trung thực, khách quan.

- Hội đồng làm việc công khai và không công khai trong bỏ phiếu đó là biện pháp để đảm bảo tính khách quan khi đánh giá.

- Hội đồng cần có các thành viên ở những trường phái khoa học khác nhau, các cơ sở khoa học khác nhau để nới lên tiếng nói khách quan.

- Hội đồng nghiệm thu đề tài có thể được thành lập nhất thời, hội đồng chấm luận án tiến tới thành lập cố định theo chuyên ngành với một nhiệm kỳ hợp lý.

- Ý kiến thống nhất cuả đa số thành viên trong hội đồng là ý kiến cuối cùng của toàn thể hội đồng.

d. Kết quả nghiệm thu

- Nếu 2/3 thành viên hội đồng tán thành coi như công trình được nghiệm thu. Các bản nhận xét đánh giá về bản thân công trình và tóm tắt công trình được gửi lên cấp trên theo cấp quản lý, còn luận án do Bộ Giáo dục và Đào tạo theo qui chế của hội đồng phong chức danh khoa học Nhà nước.

- Hội đồng có thể đề nghị cấp trên khen thưởng, kiến nghị xuất bản, phổ biến hay chuyển cấp nghiên cứu ở mức cao hơn.

1.2.2 - Phương pháp thử nghiệm kết quả nghiên cứu trong thực tiễn.

Phương pháp thứ hai đánh giá công trình nghiên cứu khoa học bằng cách đưa kết quả nghiên cứu vào thử nghiệm trong thực tiễn. Đây là phương pháp ít được sử dụng, nhưng là phương pháp tốt nhất để khẳng định kết quả nghiên cứu một cách khách quan. Nó làm gắn liền hai khâu: Nghiên cứu và ứng dụng, kích thích cả nghiên cứu và ứng dụng nhằm đạt tới yêu cầu thực sự của nghiên cứu khoa học.

Đưa kết quả vào thử nghiệm trong thực tế là phương pháp công bằng, khá quan nhất nhưng là phương pháp phức tạp đòi hỏi phải có một số điều kiện: Trước hết, đây không phải là đề tài lý thuyết thuần tuý mà là đề tài có thể ứng dụng được hoặc là đề tài thuộc lĩnh vực ứng dụng có khả năng xây dựng được chương trình khảo nghiệm. Thứ hai, là cần có thời gian, tốn thêm tài chính, nhân lực và vật lực, nghĩa là cần có đầu tư cho một giai đoạn tiếp sau nghiên cứu. Thứ ba, cần có địa điểm thích hợp với những điều kiện cơ sở vật chất kỹ thuật nhất định.

Trong nghiên cứu khoa học giáo dục việc đánh giá kết quả nghiên cứu bằng thử nghiệm cũng có thể được thực hiện nếu các đề tài này là những vấn đề thuộc phạm trù phương pháp hay nội dung giáo dục dạy học nhằm nâng cao chất lượng dạy học và giáo dục. Để tiến hành thử nghiệm người ta cho chọn một địa điểm thích hợp và tiến hành các bước tiếp theo mô hình của thực nghiệm sư phạm. Nếu ở một địa điểm được thử nghịêm có kết quả tốt, có thể mở rộng địa bàn sang cơ sở mới, ở địa phương có những điều kiện khác hơn. Kết quả thử nghiệm mở rộng này là những chứng cứ hùng hồn về kết quả một đề tài đã được nghiên cứu.



















Câu hỏi ôn tập

  1. Hãy trình bày các giai đoạn của công trình nghiên cứu khoa học giáo dục .

  2. Thế nào là đề tài : Cách xác định đề tài nghiên cứu và ý nghĩa của nó đối với một công trình khoa học.

  3. Thế nào là giải thuyết khoa học: nếu chức năng và ý nghĩa của nó trong nghiên cứu khoa học.

  4. Thế nào là công trình nghiên cứu khoa học được hoàn thành có chất lượng.

  5. Phân tích những chỉ tiêu đánh giá một công trình nghiên cứu khoa học giáo dục.

  6. Hãy trình bầy phương pháp đánh giá một công trình khoa học giáo dục.

































CHƯƠNG 2: CẤU TRÚC VÀ HÌNH THỨC NỘI DUNG BÁO CÁO TỔNG KẾT KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

I- CẤU TRÚC NỘI DUNG

Báo cáo kết quả nghiên cứu (gọi tắt là báo cáo) là văn bản trình bày một cách có hệ thống kết quả nghiên cứu, cần nêu bật được những vấn đề cơ bản sau:

Tổng quan vấn đề nghiên cứu.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu.

Nội dung và kết quả nghiên cứu có những đề xuất mới, những ứng dụng sáng tạo.

Kết luận và khuyến nghị.

Báo cáo phải được trình bày theo một cấu trúc lôgic chặt chẽ với trình tự các phần: mở đầu, nội dung, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục.

1. Phần mở đầu

Phần mở đầu nói về lý do ra đời của công trình, những ý định cùng ước vọng của tác giả, bao gồm các nội dung sau:

1.1- Tên đề tài

1.2- Lý do chọn đề tài (tính cấp thiết của vấn đề)

1.3- Mục đích nghiên cứu

1.4- Khách thể và đối tượng nghiên cứu

1.5- Giả thuyết khoa học

1.6- Nhiệm vụ nghiên cứu

1.7- Phạm vi nghiên cứu

1.8- Những luận điểm báo cáo kết quả

1.9- Đóng góp mới của đề tài

1.10- Cơ sở phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

2. Nội dung

Đây là phần cơ bản, chủ yếu nhất của công trình nghiên cứu gồm tổng quan vấn đề nghiên cứu, nội dung và phương pháp nghiên cứu, kết quả nghiên cứu. Có thể chia thành các chương mục (số lượng chương, mục phụ thuộc vào đặc điểm của đề tài, khối lượng nội dung, cách trình bày của tác giả...). Song nhìn chung, nội dung có thể chia thành 3 chương:

- Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của vấn đề

- Chương 2: Nội dung và kết quả nghiên cứu

- Chương 3: Những giải pháp và khuyến nghị

Nêu những giải pháp, khuyến nghị rút ra từ kết quả nghiên cứu phù hợp có tính khả thi, đề xuất các vấn đề mang tính bức xúc và triển vọng.

3. Kết luận

Kết luận về toàn bộ công trình nghiên cứu: tổng hợp các kết quả nghiên cứu, nêu rõ vấn đề nào đã được giả quyết và vấn đề chưa được giả quyết và vấn đề mới nảy sinh cần tiếp tục nghiên cứu. Kết luận cần được trình bày súc tích, cô đọng, sâu sắc, ngắn gọn không có lời bàn và bình luận gì thêm.

4. Tài liệu tham khảo

Thông thường có các cách ghi tài liệu tham khảo: ở cuối trang, cuối chương hoặc cuối sách. Khi ghi tài liệu tham khảo ở cuối sách thì cần theo một mẫu thống nhất và cách sắp xếp tài liệu theo quy định của nhà xuất bản.

- Các tài liệu tham khảo ghi trong danh mục phải đầy đủ các thông số cần thiết theo thứ tự sau: Số thứ tự, họ tên tác giả, tên tài liệu (sách hoặc tạp chí...), nguồn: tên tạp chí, tập số, năm, nhà xuất bản, nơi xuất bản, năm xuất bản, trang...

- Trình tự sắp xếp danh mục các tài liệu tham khảo.

+ Xếp theo thứ tự sách kinh điển trước, các văn kiện chính thức rồi đến các tác phẩm của cá nhân.

+ Các tài liệu tham khảo được xếp riêng theo từng khối tiếng (Nga, Anh, Pháp, Đức...) trình tự sắp xếp danh mục tài liệu tham khảo trong từng khối tiếng theo nguyên tắc thứ tự ABC của họ tên tác giả:

. Tác giả Việt Nam xếp theo thứ tự ABC theo tên tác giả, không đảo lộn trật tự họ tên tác giả.

. Tác giả nước ngoài: xếp theo họ tác giả (kể cả các tài liệu đã dịch ra tiếng Việt xếp trong khối tiếng Việt).

+ Tài liệu không có tên tác giả thì xếp theo thứ tự ABC theo từ đầu tiên của tên tài liệu.

- Số thứ tự đã được đánh từ đầu đến hết, không đánh riêng từng khối tiếng.

- Trích dẫn: Tài liệu nào được trích dẫn vào công trình nghiên cứu, luận án hoặc sách thì đánh số theo thứ tự của danh mục tài liệu tham khảo và được đặt trong dấu ngoặc vuông. Ví dụ [30; 35] trong đó 30 là số thứ tự tài liệu, 35 là số trang của tài liệu đó.

5. Phụ lục

Trong phần này có thể có các phụ lục, các câu hỏi điều tra, các bài tập trắc nghiệm, bảng hướng dẫn, chỉ dẫn hoặc ước chú, các biểu bảng, số liệu, hình vẽ, biểu đồ, đồ thị, phần giải thích thuật ngữ, phần tra cứu theo đề mục hay tác giả, các công trình (bài viết) đi sâu từng khía cạnh của đề tài (nếu có).

Nếu nhiều phụ lục thì phụ lục được đánh số thứ tự bằng số La mã hoặc số Ả Rập. Ví dụ: Phụ lục I, phụ lục II hoặc phụ lục 1, phụ lục 2. Trường hợp phụ lục gồm nhiều chương, mục thì phần phụ lục cần có mục lục riêng, mục lục này không ghép với mục lục của báo cáo hoặc cuốn sách.

6. Mục lục

Mục lục là bản ghi các đề mục với số trang, theo trình tự trình bày trong báo cáo tổng kết công trình nghiên cứu. Mục lục thường được đặt ở phía đầu, ghi tiếp sau bìa phụ, không cần trình bày quá tỉ mỉ.

II- HÌNH THỨC CỦA ĐỀ TÀI

Báo cáo tổng kết nghiên cứu khoa học được trình bày trên mặt giấy khổ A4 (210 x 279mm ), chỉ một mặt. Nếu đánh máy trên máy vi tính thì dùng cỡ chữ VnTime (Roman) 13 hoặc 14, dãn dòng ở chế độ 1,5 line của hệ soạn thảo Winword. Lề trên 3,5cm; lề dưới 3cm hoặc ngược lại; lề trái 3,5cm; lề phải 2cm. Các biểu bảng trình bày theo chiều ngang khổ giấy thì đầu bảng là lề trái của trang. Hình thức của báo cáo tổng kết khoa học thể hiện như sau:

1. Trình bày bìa

Bìa gồm có bìa chính và bìa phụ hoàn toàn giống nhau và được trình bày theo thứ tự từ trên xuống những nội dung sau:

- Tên cơ quan chủ trì đề tài, chương trình dự án.

- Tên đề tài, in bằng chữ lớn. Tuỳ theo độ dài của tên đề tài mà chọn cỡ chữ cho cân đối.

- Dưới tên đề tài có dòng: Báo cáo kết quả nghiên cứu đề tài KH-CN cấp..., (font VnTimeH12 Bold và Regular).

- Mã số... (font VnTimeH14 Bold và Regular).

- Chức năng khoa học và tên chủ nhiệm đề tài ở bìa chính ( font VnTime14- Bold và Regular). Chức danh khoa học, tên chủ nhiệm đề tài và các thành viên của đề tài ở bìa phụ (font VnTimeH14- Bold và Regular).

- Địa danh và tháng năm bảo vệ công trình (font VnTimeH14- Bold và Regular).

Bìa chính (bằng giấy bìa khổ 210 x297mm) và bìa phụ (bằng giấy in khổ A4) của bản chính đều có khung bao quanh (lề trên 2,5cm, lề dưới 2,5cm, lề phải 2,5cm và lề trái 3,5cm).

Bìa chính và bìa phụ của bản tóm tắt có kích thước 130 x190 (hoặc 140 x200mm) thì khổ chữ thu nhỏ theo tỷ lệ thích hợp và bìa có khung bao quanh (lề trên 1,5 cm, lề dưới 1,5cm, lề phải 1,5 cm và lề trái 2cm).

2. Văn phong khoa học

Văn phong trong các công trình khoa học thể hiện tính khoa học và thái độ văn hoá của người nghiên cứu. Vấn đề cần được trình bày một cách khách quan, tránh thể hiện tình cảm yêu ghét đối với đối tượng nghiên cứu. Văn phong khoa học cần chú ý đến tính chính xác, ngắn gọn, sâu sắc, đồng thời cố giữ cho lời văn dễ hiểu. Phải nắm chắc nội dung của các thuật ngữ khoa học, nhiều khi phải có luôn trong tay bản đối chiếu những định nghĩa của các thuật ngữ dễ lẫn lộn nhau. Đối với những từ thường dùng, chẳng những cần nắm chắc nghĩa cơ bản mà còn phải nhớ kĩ các nghĩa bóng, các sắc thái để có thể dùng một cách thật đúng và tế nhị. Chỗ nào không cần thiết thì nên dùng các từ thông thường thay cho những từ có vẻ “sách vở ”. Tránh dùng những nhóm từ rập khuân để khỏi rơi vào công thức, sáo rỗng, không đích xác.

3. Tỷ lệ giữa các phần của đề tài

Để có một bố cục cân đối tỷ lệ giữa các phần của đề tài đại thể như sau: Văn bản báo cáo kết quả nghiên cứu gồm có 3 phần:

a. Phần khai tập gồm

- Bìa: gồm có bìa chính và bìa phụ

- Mục lục

- Trang ghi ơn: có nội dung ghi ơn (lời cảm ơn) các cá nhân và cơ quan đã trực tiếp hoặc gián tiếp giúp đỡ tác giả hoàn thành công trình nghiên cứu.

- Ký hiệu và viết tắt: liệt kê theo thứ tự vần chữ cái những ký hiệu và viết tắt trong báo cáo để người đọc tiện tra cứu.

- Ở một số sách hay công trình ngiên cứu được xuất bản còn có:

+ Lời nhà xuất bản: nhà xuất bản có thể viết lời giới thiệu cuốn sách hoặc tác phẩm, lý do ra đời của cuốn sách, thân thế sự nghiệp của tác giả.

+ Lời giới thiệu (lời tựa) thường do người ngoài tác giả viết để giới thiệu tác phẩm với công chúng. Người viết lời giới thiệu thường là nhà khoa học có uy tín, hoặc là một nhân vật có địa vị xã hội có quan tâm đến lĩnh vực được đề cập trong tác phẩm.

- Lời nói đầu: do tác giả viết để trình bày một cách vắn tắt lý do và bối cảnh, ý nghĩa lý thuyết và thực tiễn của đề tài, kết quả đạt được và vấn đề còn tồn tại, những dự kiến sau công trình nghiên cứu. Nếu không có trang dành riêng cho lời ghi ơn thì ở phần cuối lời nói đầu, tác giả có thể viết lời cảm ơn.

b. Phần bài chính

Bao gồm các phần cơ bản sau:

- Phần mở đầu: Phần này ghi tiếp sau lời nói đầu, chiếm khoảng 5% đến 10% số trang của đề tài. Nếu phần này nêu cả lịch sử vấn đề thì có thể dài hơn một ít, nhưng đối với một công trình bước đầu, toàn bộ cả hai phần này không quá 20%. Nên làm cho nổi bật câu hỏi đặt ra, vấn đề mà công trình sẽ giải quyết.

- Phần nội dung: Phần này là phần cơ bản chủ yếu nhất của công trình nghiên cứu. Phần này chiếm khoảng 50% đến 75% khối lượng công trình. Riêng phần giới thiệu phương pháp nghiên cứu cần viết tỉ mỉ, rõ ràng, nổi bật cái mới và ưu điểm của nó, nhưng cố gắng cô đúc trong vòng 15% đến 20%. Trường hợp nội dung công trình chỉ là những thực nghiệm, chúng ta có thể dành một phần lớn hơn, khoảng 30% để mô tả phương pháp nghiên cứu và tiến hành thực nghiệm. Có thể chia thành các chương mục (số lượng chương, mục phụ thuộc vào đặc điểm của đề tài, khối lượng nội dung, cách trình bày của tác giả...), thường chia thành 3 chương. Số thứ tự của các chương đánh bằng hệ thống số Ả rập. Các mục và tiểu mục đánh số bằng nhóm hai, ba chữ số, cách nhau một dấu chấm. Để dễ nhận dạng, khi số chương, mục đã lên đến hai ba cấp, ta thường sử dụng tiếp cách đánh số thông dụng: dùng chữ cái thường a,b,c... để chỉ ý lớn, dưới ý lớn là các ý nhỏ- gạch đầu dòng...vv.

- Kết luận: Phần này thường không đánh số chương, nhưng là một phần tách riêng. Phần kết luận cần trình bày ngắn gọn, không có lời bàn và bình luận gì thêm. Theo thông lệ phần này nằm ở cuối báo cáo. Phần này chiếm không quá 5%.

- Tài liệu tham khảo

c. Phần phụ lục

4. Cách trích dẫn tài liệu tham khảo

Trích dẫn là sử dụng câu văn của người khác đưa vào nội dung của công trình nghiên cứu. Có hai cách trích dẫn: trích dẫn trực tiếp và trích dẫn gián tiếp.

Trích dẫn trực tiếp ghi lại nguyên văn và nguyên văn phải đặt trong ngoặc kép. Trích dẫn gián tiếp chỉ lấy ý mà thôi. Trích dẫn gián tiếp còn có trong trường hợp sử dụng tài liệu trung gian. Mọi trích dẫn đều phải ghi xuất sứ tài liệu.

Trích dẫn có một số yêu cầu sau:

- Trích dẫn phải trung thực, không được cắt xén, gò ép câu văn, thêm thắt để lái qua nghĩa khác.

- Đối với câu nói danh nhân, lời phát biểu của các nhà bác học, các văn kiện, điều luật, quy chế... cần trích dẫn trực tiếp.

- Trường hợp không trích dẫn trọn vẹn một đoạn văn, có thể bỏ qua những từ, dấu ghi hay câu đệm nếu không phương hại đến nội dung đoạn trích. Sử dụng ba chấm (...) để thay vào chỗ bỏ qua, không trích. Nếu không trích dẫn ngay từ đầu câu thì phải đặt ba chấm trước đoạn trích, ngược lại, nếu chỉ trích dẫn đoạn đầu, bỏ đoạn sau thì phải dùng ba chấm thay cho đoạn cuối ấy.

- Nếu muốn nhấn mạnh một từ nào trong đoạn trích dẫn mà nguyên bản không gạch chân (hay in nghiêng, in đậm) thì phải ghi thêm “tôi nhấn mạnh” và ghi tắt họ tên kèm theo.

- Nếu tài liệu nước ngoài, cần dịch ra tiếng Việt.

- Trích dẫn gián tiếp cần lưu ý, không dùng ngoặc kép, nhưng phải ghi xuất xứ.

- Các dạng trích dẫn: Câu văn, đoạn văn, số thống kê, đồ thị, sơ đồ, tranh ảnh... đều ghi xuất xứ.

- Không ghi xuất xứ đối với ca dao, tục ngữ, còn các danh ngôn, mà ai cũng rõ tác giả, chẳng hạn như “Học, học nữa, học mãi” hoặc “Không có gì quý hơn độc lập, tự do” chỉ ghi tác giả mà không cần ghi xuất xứ.

Khi sử dụng trích dẫn qua tài liệu trung gian cần thận trọng. Nếu có thể được, nên kiểm tra tài liệu, đối chiếu với tài liệu gốc.

Ngoài những trích dẫn, nhiều khi chúng ta cần có những chú thích khác. Thông thường là để sáng tỏ thêm, giải thích sâu hơn một số thuật ngữ, khái niệm, ý tưởng, học thuyết, tác phẩm, tác giả, ...vv được nói đến trong công trình nhưng nếu để xen vào phần trên thì ảnh hưởng đến mạch văn. Cách chú thích cũng có thể làm giống như cách trích dẫn: hoặc để ngay ở cuối trang hoặc tập trung vào cuối công trình. Những chú thích này có thể để chung hoặc chia thành hai phần: “ Chú thích” và “ Mục lục tên riêng”, trong mục lục này chỉ chú thích về tác giả và tác phẩm.

Những trích dẫn và chú thích trong một công trình nếu làm công phu, chính xác, đúng quy cách sẽ giúp rất nhiều cho bạn đọc. Ngoài ra, nó còn chứng tỏ yêu cầu cao trong nghiên cứu khoa học đối với bản thảo và những phẩm chất khác của tác giả. Tuy nhiên, nếu quá lạm dụng và nhất là nếu có chỗ không rành mạch, sòng phẳng, nó sẽ có tác dụng ngược lại, gây ấn tượng là tác giả phô trương, thiếu khiêm tốn, sẽ làm giảm thiện cảm của người đọc. Do đó, trong vấn đề này, cũng như trong mọi việc khác, cần có mức độ. Mức độ này phụ thuộc vào đề tài, vào tính chất của công trình nghiên cứu, vào đối tượng mà nó nhằm phục vụ v.v… và nhiều khi phụ thuộc cả vào uy tín của tác giả.

Bài tập hướng dẫn thực hành: Xây dựng đề cương nghiên cứu một đề tài khoa học giáo dục nghề nghiệp.

Đề cương dưới đây được lựa chọn với mục đích minh họa cho việc thực hiện các thao tác nghiên cứu, giúp học viên tập dượt, hình thành các kỹ năng nghiên cứu cụ thể mang ý nghĩa thực tế, hoàn toàn không có ý định giới thiệu các kết quả nghiên cứu mẫu.

Vì vậy, khi nghiên cứu, chúng ta sẽ thấy mức độ vận dụng lý luận vào thực tiễn nghiên cứu, học tập một cách gần gũi, sát với hoạt động nghiên cứu, tổng kết bình thường ở cơ sở.

Từ việc nghiên cứu các tài liệu này, các vấn đề lý luận đã học sẽ được phân tích, ứng dụng có căn cứ thực tế được chứng minh, chứng tỏ ở mức độ nhất định với các ví dụ cụ thể.

Chúng ta sẽ hiểu cụ thể hơn về đề tài nghiên cứu về đối tượng, về phương pháp nghiên cứu, về cách thức lập luận về một vấn đề nghiên cứu nhất định.

Tên đề tài: “ Những giải pháp phát triển đào tạo nghề góp phần đáp ứng nhu cầu nhân lực cho sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá”

  1. Lý do chọn đề tài

Phát triển nguồn nhân lực là mục tiêu hàng đầu của chiến lược phát triển kinh tế- xã hội, theo kinh nghiệm của các nước phát triển thì nguồn nhân lực được đào tạo chính là năng lực cạnh tranh trong tiến trình hội nhập quốc tế và là đảm bảo chắc chắn cho sự phát triển bền vững của các quốc gia.

Trong cơ cấu nhân lực, đội ngũ công nhân kỹ thuật và nhân viên kỹ thuật nghiệp vụ là lực lượng lao động đông đảo nhất trực tiếp sản xuất ra của cải vật chất cho xã hội, vì vậy đào tạo nghề (ĐTN) trong hệ thống giáo dục quốc dân có vị trí quan trọng góp phần thực hiện mục tiêu trên.

Hiện nay, nước ta có nguồn nhân lực dồi dào (khoảng 38,6 triệu người), nhưng lao động qua đào tạo lại chiếm tỷ lệ rất thấp (khoảng 19,6 %, trong đó lao động qua ĐTN chiếm khoảng 12 %), cơ cấu ngành nghề, cơ cấu trình độ đào tạo còn mất cân đối, chưa đáp ứng nhu cầu sản xuất và những biến động của khoa học công nghệ. Hệ thống ĐTN của nước ta được thiết kế khi bắt đầu quá trình chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung sang cơ chế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa (XHCN) đang bộc lộ những bất hợp lý, cản trở sự phát triển của ngành dạy nghề.

Để đạt được những mục tiêu của quá trình công nghiệp hoá (CNH) hiện đại hoá (HĐH) cần nâng cao chất lượng của nguồn nhân lực, nhưng chất lượng chỉ có thể có được khi nó là sản phẩm của hệ thống đào tạo tiên tiến, hiện đại. Trong khi đó hệ thống ĐTN ở Việt Nam hiện nay được coi là “giáo dục hạng hai”, bởi vì chỉ những người thất bại khi không được nhận vào trung học phổ thông (THPT) sau khi tốt nghiệp trung học cơ sở (THCS) hoặc vào được đại học, cao đẳng sau khi tốt nghiệp THPT mới bất đắc dĩ vào học tại các cơ sở dạy nghề. Một hệ thống ĐTN như vậy có khả năng đáp ứng được nhu cầu nhân lực cho sự nghiệp CNH, HĐH hiện nay, cũng như trong tương lai.

Hệ thống ĐTN đang đứng trước mâu thuẫn chủ yếu giữa một bên là yêu cầu cao về số lượng, chất lượng, về cơ cấu trình độ, cơ cấu ngành nghề của sự nghiệp CNH, HĐH với một bên là những hạn chế về chất lượng đào tạo, về cơ cấu hệ thống, chính sách phát triển, các điều kiện đảm bảo chất lượng (đội ngũ giáo viên, chương trình đào tạo và trang thiết bị)… Cho đến nay cũng chưa có đề tài khoa học nào đi sâu nghiên cứu, đề suất những giải pháp phát triển ĐTN nhằm góp phần đáp ứng nhu cầu nhân lực của sự nghiệp CNN, HĐH đất nước.

Xuất phát từ lí luận thực tiễn trên, chúng tôi đã lựa chon đề tài:

“ Những giải pháp phát triển đào tạo nghề góp phần đáp ứng nhu cầu nhân lực cho sự công nghiệp hoá, hiện đại hoá”

2. Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở nghiên cứu lí luận và thực tiễn đề xuất một số giải pháp chủ yếu góp phần phát triển ĐTN đáp ứng nhu cầu nhân lực cho sự nghiệp CNH, HĐH đất nước.

3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu

3.1 Khách thể nghiên cứu

Đào tạo nghề ở Việt Nam

3.2 Đối tượng nghiên cứu

Các giải pháp nhằm phát triển đào tạo nghề.

4. Giả thuyết khoa học

Đào tạo nghề ở nước ta hiện nay đang có nhiều yếu kém, bất cập trước yêu cầu phát triển nguồn nhân lực của sự nghiệp CNH, HĐH đất nước. Vì vậy, nghiên cứu tìm ra được những giải pháp về chính sách, đổi mới cơ cấu hệ thống, xây dựng chương trình đào tạo, phát triển đội ngũ giáo viên, xã hội hoá và quản lí chất lượng đào tạo… thì hệ thống ĐTN nhất định sẽ góp phần đáp ứng nguồn nhân lực cho sự nghiệp CNH, HĐH đất nước.

5. Nhiệm vụ nghiên cứu

5.1 Nghiên cứu cơ sở lí luận để phát triển đào tạo nghề (một số khái niệm đào tạo nghề, liên quan đến ĐTN; mối quan hệ giữa ĐTN với sự nghiệp CNH, HĐH và thị trường lao động);

5.2 Đánh giá thực trạng lao động qua đào tạo, lao động qua đào tạo nghề và thực trạng đào tạo nghề

5.3 Nghiên cứu đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm phát triển đào tạo nghề đáp ứng nhu cầu nhân lực cho sự nghiệp công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước

6. Phạm vi nghiên cứu

6.1. Phạm vi thời gian: Thực trạng đào tạo nghề ở Việt Nam giai đoạn năm 1969 – 2000 và đề xuất giải pháp đến năm 2010

6.2 Phạm vi nội dung: Một số giải pháp chủ yếu để nâng cao năng lực của hệ thống đào tạo nghề đáp ứng nhu cầu của sự nghiệp CNH- HĐH

6.3. Phạm vi không gian: Khảo sát thực tiễn tại một số bộ, ngành, một số địa phương, một số cơ sở dạy nghề và doanh nghiệp.

7. Phương pháp nghiên cứu

7.1. Phương pháp luận

Phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử là cơ sở lý luận chung của mọi nhận thức khoa học. Tác giả luôn bám sát, vận dụng các nguyên lý, quy luật, phạm trù của phép duy vật biện chứng và duy vật lịch sử để nghiên cứu xem xét hiện tượng giáo dục nói chung, đào tạo nghề nói riêng trong quá trình phát triển của nó gắn với các điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội của đất nước. Đào tạo nghề cũng như giáo dục và đào tạo là một hình thái ý thức xã hội luôn luôn chịu sự chi phối của điều kiện kinh tế, vật chất xã hội, cơ sở hạ tầng, song nó cũng có tính độc lập tương đối, trong những điều kiện nhất định ĐTN có vai trò tích cực, thúc đẩy kinh tế phát triển đồng thời ĐTN còn có mối quan hệ chặt chẽ với các hình thái ý thức xã hội khác và cũng như với các bậc khoa học khác trong hệ thống giáo dục quốc dân.

Quan điểm tiếp cận hệ thống “ Mọi sự vật, hiện tượng có mối quan hệ tương tác với nhau” và quan hệ cybemeticque (điều khiển) cũng được vận dụng khi triển khai nghiên cứu đề tài từ góc độ hoạt động quản lý.

7.2. Phương pháp nghiên cứu lý luận

Nghiên cứu các tài liệu kinh điển, đặc biệt là các tài liệu của Đảng. Nhà nước đề cập đến giáo dục, đào tạo nghề từ giai đoạn từ sau cách mạng tháng 8-1945 đến nay, nhưng tập trung nhất là giai đoạn từ năm 1969 đến năm 2000.

Nghiên cứu một số tài liệu giáo dục, đào tạo nghề của các nước phát triển và đang phát triển nhằm kế thừa, vận dụng, lý luận, kinh nghiệm trong hoạt động đào tạo nghề và tìm ra những giải pháp phù hợp.

7.3. Phương pháp nghiên cứu thực tiễn

Xây dựng bộ câu hỏi điều tra, khảo sát nhằm điều tra thực trạng hoạt động đào tạo nghề trên diện rộng ở một số địa phương trên toàn quốc, với các đối tượng: nhà quản lý, cán bộ giảng dạy, học sinh, phụ huynh học sinh... và đối với các lĩnh vực: chương trình đào tạo, đội ngũ giáo viên, cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học...

Quan sát có chủ định hoạt động dạy, học và những vấn đề có liên quan ở một số cơ sở điển hình đã phân loại chất lượng, ngành nghề.

Trực tiếp phỏng vấn, điều tra sâu một số đối tượng như: cán bộ, giáo viên, học sinh, công nhân kỹ thuật... nhằm thu nhập thông tin để bổ sung, củng cố những kết luận khoa học.

Nghiên cứu sản phẩm, chất lượng sản phẩm, kết quả học tập của học sinh nhằm làm sáng tỏ thêm quá trình dạy, học qua nội dung, phương pháp, chương trình, chính sách... những mặt tích cực và hạn chế của nó.

Phương pháp tổng kết kinh nghiệm được thực hiện thông qua các buổi trao đổi, toạ đàm ở các cơ sở dạy nghề tiên tiến, thông qua các cuộc hội thảo chuyên ngành, các buổi báo cáo sáng kiến, kinh nghiệm dạy tốt, học tốt, quản lý giỏi, sản xuất giỏi, hội thi giáo viên giỏi, thi tay nghề giỏi...

Phương pháp khảo nghiệm nhằm đánh giá tính khoa học, khả năng thực thi của các giải pháp ở bình diện vĩ mô và thử nghiệm ở bình diện vi mô.

8. Dự kiến dàn ý của đề tài

Đề tài gồm 3 phần: Mở đầu; nội dung; kết luận và kiến nghị.

Phần 1: Mở đầu

Phần 2: Nội dung có 3 chương:







CHƯƠNG I:

CƠ SỞ LÝ LUẬN PHÁT TRIỂN ĐÀO TẠO NGHỀ;

    1. Tổng quan vấn đề nghiên cứu

    2. Một số khái niệm về đào tạo nghề và liên quan đến đào tạo nghề

    3. Cơ cấu hệ thống đào tạo nghề

    4. Mối quan hệ giữa phát triển nguồn nhân lực và đào tạo nghề đối với sự nghiệp công nghiệp hoá và hiện đại hoá đất nước

    5. Mối quan hệ giữa đào tạo nghề và thị trường lao động

    6. Dự báo nhu cầu lao động qua đào tạo nghề

CHƯƠNG II:

THỰC TRẠNG ĐÀO TẠO NGHỀ CỦA VIỆT NAM TRONG NHỮNG THẬP NIÊN QUA

2.1. Quá trình phát triển đào tạo nghề từ 1969 đến nay

2.2. Thực trạng lao động kỹ thuật và lao động qua đào tạo nghề

2.3. Thực trạng đào tạo nghề

2.4. Đánh giá chung

CHƯƠNG III:

MỘT SỐ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU PHÁT TRIỂN ĐÀO TẠO NGHỀ

3.1. Bối cảnh, chủ trương và định hướng phát triển đào tạo nghề

3.2. Một số giải pháp chủ yếu phát triển đào tạo nghề

3.3. Tổ chức khảo nghịêm

Phần 3: Kết luận và kiến nghị

9. Danh mục tài liệu tham khảo để xây dựng đề cương

. Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX, NXB CTQG, 6- 2002;

. Nghị quyết Hội nghị 7 Ban chấp hành Trung ương khoá VII, NXB CTQG, Hà Nội tháng 7-1995;

. Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX, NXB Chính trị quốc gia, công nhân kỹ thuật, 1974;

. Đặng Danh Ánh (1998), Bảy kiến nghị khắc phục tình trạng mất cân đối trầm trọng trong đào tạo nghề, Tạp chí khoa học - Tổ quốc số 100

. Ban khoa giáo Trung ương (2002), Giáo dục và đào tạo trong thời kỳ đổi mới, NXB Chính trị quốc gia, 2002;

. Bộ công nghiệp (1992), Báo cáo khoa học sự hình thành và phát triển của giáo dục chuyên nghiệp trong các nghành kỹ thuật công nghiệp, Hà Nội;

. Bộ Giáo dục và đào tạo (1973), Nghiên cứu về hiện trạng của Giáo dục phổ thông và giáo dục trung học chuyên nghiệp và dạy nghề (Dự án hợp tác giữa Bộ Giáo dục đào tạo Việt Nam và Eduplus Canada)

. Bộ Lao động Thương binh và Xã hội, Một số luận cứ khoa học để xây dựng chiến lược đào tạo nghề giai đoạn 2001- 2010 (Đề tài cấp Bộ CB-19-2000);

. C.Ia. Batusép - X.A. Sapôrinxki, Cơ sở giáo dục học nghề nghiệp - Nhà xuất bản Công nhân kỹ thuật Hà Nội, năm 1982;

. Chiến lược phát triển giáo dục 2001-2010, NXBGD - Hà Nội2002;

. Phan Văn Kha, Xây dựng chiến lược phát triển giáo dục kỹ thuật nghề nghiệp ở Việt Nam, Một số quan điểm tiếp cận, NXBGD, Hà Nội, 1998;

. Phan Văn Kha, Tăng cường quản lý Nhà nước về đào tạo nghề đáp ứng nhu cầu nhân lực cho phát triển kinh tế xã hội, Tài liệu hội thảo - Tổng cục dạy nghề;

. Luật Giáo dục (1998), NXB CTQG, Hà Nội;…vv

10. Kế hoạch nghiên cứu

(1) Giai đoạn chuẩn bị

- Từ 15/11/2002 - 15/12/2002 chọn đề tài, xây dựng đề cương sơ lược;

-Từ 15/12/2002 - 15/1/2003 xây dựng đề cương chi tiết; bảo vệ đề cương, xây dựng phiếu điều tra…

(2) Giai đoạn nghiên cứu thực sự: Từ 10/1/2003- 15/3/2003 điều tra, thu thập tư liệu.

(3) Giai đoạn định ra kết cấu công trình nghiên cứu: Từ 15/3/2003- 15/6/2003 xử lý số liệu, lập dàn bài – cấu trúc của báo cáo kết quả nghiên cứu.

(4) Giai đoạn viết công trình:

- Từ15/6/2003 – 30/6/2003 sửa báo cáo, hoàn thành đề tài nộp cho cơ sở đào tạo

- Từ 30/6/2003 – 30/8/2003 hoàn thành thủ tục bảo vệ đề tài tại hội đồng khoa học của cơ sở đào tạo.

(5) Giai đoạn bảo vệ (công bố) công trình: 30/8/2003













































Câu hỏi ôn tập

  1. Hãy trình bày cấu trúc nội dung của một công trình nghiên cứu khoa học giáo dục nghề nghiệp.

Trình bày cách trích dẫn tài liệu tham khảo để đưa vào công trình nghiên cứu khoa học giáo dục nghề nghiệp.

Bài tập thực hành

Hãy xây dựng một đề cương nghiên cứu một đề tài nghiên cứu khoa học giáo dục nghề nghiệp mà anh (chị) dự định tiến hành.











































BỘ GIÁO DỤC VÀ DÀO TẠO



.....................TRƯỜNG, (VIỆN).............................









CHỦ NHIỆM ĐỀ TÀI





TÊN ĐỀ TÀI



...................................................................................





BÁO CÁO KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI KH - CN CẤP........



MÃ SỐ........................







HÀ NỘI, 200....





BỘ GIÁO DỤC VÀ DÀO TẠO



.....................TRƯỜNG,(VIỆN)................................

CHỦ NHIỆM ĐỀ TÀI

TÊN ĐỀ TÀI

...................................................................................



BÁO CÁO KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI KH-CN CẤP........



MÃ SỐ........................

NHƯNG NGƯỜI THAM GIA NGHIÊN CỨU

1......................................................................: THƯ KÝ

2......................................................................

3.......................................................................

4.......................................................................

.......................................................................





HÀ NỘI,200....



















TÀI LIỆU THAM KHẢO



1. Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ IX - NXB Chính trị Quốc gia Hà Nội -2001

2. Vũ Cao Đàm- Phương pháp luận NCKH; NXB Khoa học Kỹ thuật; Hà Nội -1996

3. Trần Khánh Đức - Sư phạm Kỹ thuật; NXB GD - 2002

4. Trần Khánh Đức - Một số vấn đề NCKH GD- ĐT; Viện NCPTGD; Hà Nội – 1994;

5. Nguyễn Sinh Huy – Trần Trọng Thủy; Phương pháp nghiên cứu khoa học giáo dục; Hà Nội 1999; Tài liệu hướng dẫn sinh viên Cao đẳng sư phạm làm bài tập nghiên cứu khoa học)

6. Lưu Xuân Mới – Phương pháp luận NCKH; NXB Đại học Sư phạm;

7. Phạm Viết Vượng – Phương pháp nghiên cứu khoa học giáo dục; NXBGD-1999; Giáo trình đào tạo giáo viên trung học cơ sở hệ Cao đẳng Sư phạm; 10. Phan Chính Thức – Những giải pháp phát triển đào tạo nghề góp phần đáp ứng nhu cầu nhân lực cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Hà Nội- 2003; Luận án tiến sĩ Giáo dục học;

8. Phan Chính Thức – Những giải pháp phát triển đào tạo nghề góp phần đáp ứng nhu cầu nhân lực cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Hà Nội- 2003; Luận án tiến sĩ Giáo dục học;

9. Giáo trình GDH Nghề nghiệp; Trường SPKT Hưng Yên và Viện NC Đại học và GDCN ; Hà Nội - 1991

10. Phương pháp NCKH GD - Giáo trình Đại học SPKT TP HCM;


97