DMCA.com Protection Status

QUAN ĐIỂM CỦA ĐẢNG, NHÀ NƯỚC VỀ PHÁT TRIỂN VĂN HOÁ, XÂY DỰNG CON NGƯỜI TRONG GIAI ĐOẠN MỚI  quan tâm

Được đăng bởi: Trần Việt Thao

Cập nhật lúc 14:52 ngày 12/01/2018

QUAN ĐIỂM CỦA ĐẢNG, NHÀ NƯỚC VỀ PHÁT TRIỂN VĂN HOÁ, XÂY DỰNG CON NGƯỜI TRONG GIAI ĐOẠN MỚI

 

PGS, TS. Phạm Duy Đức

 

I. Quan điểm cơ bản của Đảng về xây dựng, phát triển văn hoá và con người trong giai đoạn mới

Những vấn đề văn hoá và con người là vấn đề trọng tâm phản ánh sự ưu việt của chế độ chính trị xã hội, phản ánh chất lượng và mục đích cuối cùng của sự tăng trưởng kinh tế trong chế độ xã hội chủ nghĩa. Những vấn đề này gắn bó, thống nhất hữu cơ với nhau đảm bảo cho sự phát triển bền vững của đất nước. Trong thời kỳ hiện nay, sự phát triển bền vững của đất nước được thể hiện ở việc giải quyết thành công các mối quan hệ cơ bản:

- Giữa tăng trưởng kinh tế và phát triển văn hoá. xã hội

- Giữa lợi ích của cá nhân và lợi ích của cộng đồng.

- Giữa lợi ích của hiện tại và lợi ích của tương lai.

- Giữa lợi ích của con người và lợi ích của môi trường.

Mục tiêu phấn đấu của Đảng và nhân dân ta hiện nay là vì sự nghiệp “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” chính là đã chú trọng giải quyết các mối quan hệ cơ bản này trên cơ sở quan điểm cơ bản của chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Ở đây, chúng ta không nhắc lại toàn bộ Nghị quyết của Đảng ta về vấn đề văn hoá và con người mà chỉ đề cập đến một số vấn đề trọng tâm cần chú ý hiện nay.

1. Quan điểm của Đảng về xây dựng và phát triển nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc

Trong thời kỳ đổi mới hiện nay, Đảng ta đã khẳng định nền văn hóa mà chúng ta xây dựng là nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. Nghị quyết “Xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc” mà Hội nghị Trung ương 5 khóa VIII (1998) đưa ra đến nay vẫn là Nghị quyết có ý nghĩa chiến lược, chỉ đạo quá trình xây dựng và phát triển sự nghiệp văn hóa ở nước ta, cần được kế thừa, bổ sung và phát huy trong thời kỳ mới. Văn kiện Đại hội X (2006) đã nhấn mạnh: “Tiếp tục phát triển sâu rộng và nâng cao chất lượng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, gắn kết chặt chẽ và đồng bộ hơn với phát triển kinh tế - xã hội, làm cho văn hóa thấm sâu vào mọi lĩnh vực của đời sống xã hội1.

Cương lĩnh xây dựng đất nước thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Bổ sung, phát triển 2011) được Đại hội XI của Đảng thông qua đã xác định: “Xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, phát triển toàn diện, thống nhất trong đa dạng, thấm nhuần sâu sắc tinh thần nhân văn, dân chủ, tiến bộ; làm cho văn hóa gắn kết chặt chẽ và thấm sâu vào toàn bộ đời sống xã hội, trở thành nền tảng tinh thần vững chắc, sức mạnh nội sinh quan trọng của phát triển1.

Đảng ta đã xác định: “Phương hướng chung của sự nghiệp văn hoá nước ta là phát huy chủ nghĩa yêu nước và truyền thống đại đoàn kết dân tộc, ý thức độc lập tự chủ, tự cường, xây dựng và bảo vệ tổ quốc xã hội chủ nghĩa, xây dựng và phát triển nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đạm đà bản sắc dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hoá nhân loại, làm cho văn hoá thấm sâu vào toàn bộ đời sống và hoạt động xã hội, vào từng người, từng gia đình, từng tập thể và cộng đồng, từng địa bàn dân cư, tạo ra trên đất nước ta đời sống tinh thần cao đẹp, trình độ dân trí cao, khoa học phát triển, phục vụ đắc lực sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh. xã hội công bằng, văn minh, tiến bước vững chắc lên chủ nghĩa xã hội”2.

- Về phương hướng xây dựng và phát triển văn hóa hiện nay, chúng ta cần nhấn mạnh hai điểm sau:

Thứ nhất, trong thời kỳ đổi mới hiện nay, chúng ta phải phát huy chủ nghĩa yêu nước và truyền thống đại đoàn kết dân tộc, ý thức độc lập tự chủ tự cường để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Mặc dù đây là thời kỳ hoà bình và xây dựng đất nước nhưng không phải là thời kỳ nghỉ ngơi, hưởng lạc mà là thời kỳ mở ra một cuộc chiến đấu mới chống lại nghèo nàn, lạc hậu, đưa đất nước phát triển giàu mạnh.

Trong cuộc chiến đấu quyết liệt này, chủ nghĩa yêu nước, sự thông minh và giàu năng lực sáng tạo của nhân dân, truyền thống đại đoàn kết dân tộc, ý thức độc lập, tự chủ, tự cường là cơ sở tạo nên sự thống nhất về ý chí, bản lĩnh của dân tộc trong quá trình đấu tranh gian khổ, vất vả, đầy thách thức để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Vì vậy, giáo dục truyền thống yêu nước, bổ sung những nội dung mới vào khái niệm yêu nước, kết hợp chủ nghĩa yêu nước với tư tưởng cách mạng và tiến bộ của thời đại; giáo dục tinh thần tự hào, tự tin dân tộc, tin vào con đường xã hội chủ nghĩa mà Bác Hồ, Đảng ta và nhân dân ta đã lựa chọn; bồi dưỡng quyết tâm chính trị, xây dựng ý chí và bản lĩnh của cả dân tộc trong cuộc chiến đấu mới này là nhiệm vụ chung của toàn Đảng, toàn dân ta.

Thứ hai, về hành động, chúng ta phải chủ động, tích cực, sáng tạo hơn nữa trong việc nâng cao chất lượng xây dựng nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, tạo điều kiện và cơ hội nhiều hơn nữa để nâng cao dân trí, phát triển nguồn nhân lực và khoa học công nghệ, xây dựng môi trường văn hoá lành mạnh, thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Ở đây, cần phát huy tính tích cực chính trị của công dân, chú trọng tới các phong trào quần chúng trong tổ chức và xây dựng sự nghiệp phát triển văn hoá, làm cho văn hóa gắn kết chặt và đồng bộ hơn với phát triển kinh tế, xây dựng Đảng, củng cố hệ thống chính trị và thấm sâu vào toàn bộ đời sống xã hội.

Năm quan điểm chỉ đạo cơ bản trong quá trình xây dựng và phát triển sự nghiệp phát triển văn hoá nước ta là:

- Văn hoá là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu, vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế- xã hội.

- Nền văn hoá mà chúng ta đang xây dựng là nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc.

- Nền văn hoá Việt Nam là nền văn hoá thống nhất mà đa dạng trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam.

- Xây dựng và phát triển văn hoá là sự nghiệp của toàn dân do Đảng lãnh đạo, trong đó đội ngũ trí thức giữ vai trò quan trọng.

- Văn hoá là một mặt trận; xây dựng và phát triển văn hoá là một sự nghiệp cách mạng lâu dài, đòi hỏi phải có ý chí cách mạng và sự kiên trì thận trọng.

Năm quan điểm này đều mang tầm chiến lược lâu dài cần quán triệt nhất quán và xuyên suốt quá trình xây dựng và phát triển sự nghiệp văn hoá ở nước ta trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa và hội nhập kinh tế quốc tế.

- Về quan điểm thứ nhất, cần nhấn mạnh một số nội dung sau:

Càng bước vào quá trình phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá, mở cửa và hội nhập kinh tế quốc tế, chúng ta cần phải tập trung nâng cao nguồn lực bên trong của dân tộc. Trong truyền thống lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc, nguồn lực này thể hiện tập trung ở tiềm lực vật chất và tiềm lực tinh thần của dân tộc, trong đó ở nhiều thời điểm lịch sử đặc biệt, tiềm lực tinh thần đã chuyển hoá thành tiềm lực vật chất, đóng vai trò quyết định thắng lợi của dân tộc. Mối quan hệ giữa tiềm lực vật chất và tiềm lực tinh thần là mối quan hệ biện chứng, thống nhất, không thể tách rời nhau, gắn bó với nhau. Chính Mác và Ăngghen đã phê phán gay gắt thuyết duy kinh tế của nhóm mác xít trẻ khi họ tuyệt đối hoá nhân tố kinh tế. Hiện nay, lý thuyết cũ về phát triển hướng vào tăng trưởng kinh tế bằng mọi giá, hướng theo mô hình phương Tây (phát triển ngoại sinh) đã bị phá sản. Tuy vậy, ảnh hưởng của lý thuyết này còn tác động rất mạnh ở nhiều nước, nhất là đối với các nước đang phát triển vẫn nuôi ảo tưởng cho rằng có kinh tế là có thể có được tất cả. Chúng ta cần khắc phục những tư tưởng sai lầm này và khẳng định kiên quyết hơn, triệt để và rộng khắp hơn quan điểm: “Văn hoá là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu, vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế- xã hội”. Chăm lo bảo vệ xây dựng và phát triển sự nghiệp văn hoá là chăm lo bảo vệ, xây dựng và phát triển nền tảng tinh thần của dân tộc, thống nhất ý chí và bản lĩnh của dân tộc, quyết tâm của dân tộc trong sự nghiệp đổi mới hiện nay.

Con người, trước hết là nhân dân lao động phải được đặt vào trung tâm của quá trình phát triển kinh tế - xã hội. Mọi chương trình, dự án, kế hoạch phát triển kinh tế- xã hội đều phải xuất phát từ con người và vì con người. không chạy theo tìm kiếm lợi nhuận bằng mọi giá, bất chấp pháp luật và đạo lý xã hội. Đồng thời, cần phải khai thác các nguồn lực văn hoá của dân tộc để làm động lực cho sự phát triển kinh tế- xã hội. Nguồn lực văn hoá này thể hiện trình độ lý luận, trình độ tư duy khoa học và quyết tâm chính trị cao của cả hệ thống chính trị, thể hiện ở nhiệt tình cách mạng, ý chí phục hưng đất nước cùng với trình độ và kỹ năng của người lao động, ở khả năng sáng tạo và chiếm lĩnh, sử dụng thành tựu khoa học công nghệ hiện đại của họ; thể hiện ở việc khai thác và sử dụng hợp lý các di sản văn hoá, các danh lam thắng cảnh để phát triển du lịch, dịch vụ văn hóa, thể hiện ở việc phát triển các ngành công nghiệp văn hoá có sức cạnh tranh khu vực và quốc tế; thể hiện ở việc hỗ trợ cho các ngành kinh tế nâng cao văn hoá doanh nghiệp và thương mại, nâng cao tri thức, tầm nhìn và kỹ năng trong hoạt động kinh tế- xã hội .v.v...

Quan điểm coi văn hoá là nguồn lực để phát triển kinh tế- xã hội là quan điểm khoa học, hiện đại và mang tính thực tiễn cao, nhất là trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa gắn với kinh tế tri thức và hội nhập quốc tế hiện nay. Chúng ta phải đặc biệt chú trọng nâng cao tầm nhìn, tầm văn hoá trong các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước ở tất cả các lĩnh vực khác nhau. Hiểu biết sâu sắc thời đại và dân tộc là điểm xuất phát quan trọng để chúng ta đề ra được chủ trương và hành động đúng.

- Đối với quan điểm thứ hai: Nền văn hóa mà chúng ta xây dựng là nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc, chúng ta cần lưu ý một số điểm sau:

Hiện nay xu thế toàn cầu hoá, khu vực hoá và hội nhập kinh tế quốc tế đã và đang tác động mạnh mẽ đối với đời sống văn hoá của đất nước ta. Toàn cầu hoá, khu vực hoá là một xu thế khách quan, vừa có mặt tích cực, vừa có mặt tiêu cực tác động đến nền văn hoá dân tộc. Chúng ta kiên quyết chống sự áp đặt các giá trị văn hoá, đạo đức, lối sống theo lối “Âu hóa, Mỹ hoá”. Mặt khác, chúng ta cần chủ động học tập, tiếp thu những giá trị tích cực, những tinh hoa của văn hoá nhân loại để làm giàu cho mình, tránh tư tưởng khép kín, bài ngoại.

Đảng ta đã khẳng định nền văn hoá mà chúng ta xây dựng là nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. Nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc là nền văn hoá yêu nước và tiến bộ mà nội dung cốt lõi là độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội trên cơ sở chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Đây là nền văn hoá mang tính dân chủ và nhân văn sâu sắc, tham gia tích cực vào sự nghiệp đổi mới vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Đồng thời, đây cũng là nền văn hoá hiện đại, hiện đại về nội dung, hình thức thể hiện cũng như hiện đại về cơ sở vật chất kỹ thuật để chuyển tải nội dung. Tính chất tiên tiến phải thống nhất hữu cơ với tính chất dân tộc. Bản sắc văn hoá dân tộc là sự thống nhất giữa nội dung và hình thức của nền văn hoá, thống nhất giữa trình độ tư duy, cách cảm nhận, cách suy nghĩ, triết lý sống, ý chí và bản lĩnh, cốt cách, nhân cách, phẩm chất của nền văn hoá với hình thức biểu hiện bên ngoài của nó.

Đảng ta đã chỉ rõ: “Bản sắc dân tộc bao gồm những giá trị bền vững, những tinh hoa của cộng đồng các dân tộc Việt Nam được vun đắp nên qua lịch sử hàng ngàn năm đấu tranh dựng nước và giữ nước. Đó là lòng yêu nước nồng nàn, ý chí tự cường dân tộc, tinh thần đoàn kết, ý thức cộng đồng gắn kết cá nhân - gia đình làng xã - Tổ quốc; lòng nhân ái, khoan dung, trọng nghĩa tình, đạo lý, đức tính cần cù, sáng tạo trong lao động; sự tinh tế trong ứng xử, tính giản dị trong lối sống. Bản sắc văn hóa dân tộc còn đậm nét cả trong các hình thức biểu hiện mang tính dân tộc độc đáo ”1.

Bản sắc văn hóa dân tộc không phải nhất thành bất biến mà nó mang tính lịch sử - cụ thể, luôn luôn tự đổi mới trên cơ sở loại bỏ những yếu tố tiêu cực và lạc hậu, sáng tạo và xây dựng các giá trị văn hóa mới thích ứng với yêu cầu biến đổi của thời đại. Vì vậy, bảo vệ bản sắc văn hóa dân tộc phải gắn liền với mở rộng giao lưu quốc tế, tiếp thu có chọn lọc những cái hay, cái tiến bộ trong văn hóa các dân tộc khác. Giữ gìn bản sắc phải đi liền với việc chống lạc hậu, lỗi thời trong phong tục tập quán, lề thói cũ.

Quan điểm thứ ba: Nền văn hóa Việt Nam là nền văn hóa thống nhất mà đa dạng trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam.

Quan điểm chỉ đạo này xác định tính thống nhất và đa dạng của nền văn hóa. Hiện nay, hơn 50 dân tộc sống trên đất nước ta đều có những giá trị văn hóa mang các sắc thái khác nhau. Các giá trị và các sắc thái văn hóa đó bổ sung cho nhau, làm phong phú cho nền văn hóa Việt Nam. Mặt khác, các thành tựu văn hóa của các dân tộc anh em góp phần củng cố sự thống nhất dân tộc- cơ sở để giữ vững sự bình đẳng và phát huy tính đa dạng văn hóa của các dân tộc anh em. Sự thống nhất của nền văn hóa phải được thể hiện ở sự thống nhất về hệ tư tưởng chính trị, thống nhất về thể chế và thiết chế văn hóa. Đồng thời, phải phát huy tính đa dạng, cùng hợp tác và hỗ trợ nhau phát triển, chống các âm mưu lợi dụng sự khác biệt văn hóa để gây chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc.

Quan điểm thứ tư: Xây dựng và phát triển văn hóa là sự nghiệp của toàn dân do Đảng lãnh đạo, trong đó đội ngũ tri thức giữ vai trò quan trọng.

Quan điểm này khẳng định động lực và nguồn lực để xây dựng và phát triển văn hóa. Mọi người Việt Nam phấn đấu vì dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh đều tham gia xây dựng và phát triển văn hóa nước nhà. Công nhân, nông dân, trí thức là nền tảng của khối đại đoàn kết toàn dân, cũng là nền tảng của sự nghiệp xây dựng và phát triển văn hóa dưới sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của nhà nước. Đội ngũ trí thức gắn bó với nhân dân giữ vai trò quan trọng trong sự nghiệp xây dựng và phát triển văn hóa. Đội ngũ trí thức là trụ cột để xây dựng và phát triển văn hóa, là lực lượng then chốt trong cách mạng khoa học kỹ thuật và văn hóa. Xây dựng và phát huy vai trò của đội ngũ trí thức để phát triển nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc là yêu cầu cấp thiết hiện nay. Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương lần thứ bảy khóa X đã ban hành Nghị quyết số 27 (6/8/2009) về Xây dựng đội ngũ trí thức trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước đã xác định rõ những mục tiêu, quan điểm chỉ đạo, nhiệm vụ và giải pháp xây dựng đội ngũ trí thức hiện nay. Trong đó đã nhấn mạnh: “Trí thức Việt Nam là lực lượng sáng tạo đặc biệt quan trọng trong tiến trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế, xây dựng kinh tế tri thức phát triển nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc xây dựng đội ngũ trí thức vững mạnh là trực tiếp nâng tầm trí tuệ của dân tộc, sức mạnh của đất nước, nâng cao năng lực lãnh đạo của Đảng và chất lượng hoạt động của hệ thống chính trị. Đầu tư xây dựng đội ngũ trí thức là đầu tư cho phát triển bền vững” (Văn kiện Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương lần thứ 7 khóa X, tr.91).

- Quan điểm thứ năm: Văn hóa là một mặt trận; xây dựng và phát triển văn hóa là một sự nghiệp cách mạng lâu dài, đòi hỏi phải có ý chí cách mạng và sự kiên trì, thận trọng.

Trong quan điểm này, Đảng ta tiếp tục khẳng định tư tưởng nổi bật của Hồ Chí Minh: văn hóa là một mặt trận, đồng thời, nhấn mạnh tới đặc thù của quá trình xây dựng và phát triển văn hóa so với các lĩnh vực khác. Mặt trận văn hóa là nơi sự đoàn kết, thống nhất các lực lượng làm văn hóa và đoàn kết toàn dân hướng vào thực hiện những mục tiêu và nhiệm vụ nhất định. Đồng thời mặt trận cũng là nơi chiến đấu chống cái ác, cái xấu, cái giả để khẳng định và xây dựng cái đúng, cái tốt, cái đẹp, bảo vệ đời sống tinh thần lành mạnh của nhân dân. Đảng ta yêu cầu phải bảo tồn và phát huy những di sản văn hóa tốt đẹp của dân tộc, sáng tạo nên những giá trị văn hóa mới, làm cho những giá trị đó thấm sâu vào cuộc sống của toàn xã hội và mỗi người, trở thành tâm lý, tập quán tiến bộ, văn minh. Đây là một quá trình cách mạng đầy khó khăn, phức tạp, đòi hỏi nhiều thời gian, tránh chủ quan, nóng vội. Đồng thời cần phải kiên trì đấu tranh bài trừ các hủ tục, các thói hư tật xấu, nâng cao tính chiến đấu, chống mọi mưu toan lợi dụng văn hóa để thực hiện “diễn biến hòa bình”.

Năm quan điểm chỉ đạo xây dựng và phát triển văn hóa này đã thể hiện sự phát triển tư duy lý luận của Đảng về văn hóa ở bình diện khái quát cao, bao quát được toàn bộ những vấn đề cốt lõi của việc xây dựng và phát triển văn hóa trong thời kỳ mới. Sự sáng tạo của Đảng không chỉ dừng lại ở việc nhận thức sâu sắc và toàn diện hơn vai trò của văn hóa trong sự nghiệp đổi mới mà còn thể hiện ở việc xác định rõ phương hướng, đặc trưng, tính chất, động lực và đặc thù của hoạt động xây dựng và phát triển văn hóa. Đây cũng là sự đúc kết lý luận, tổng kết thực tiễn, vận dụng sáng tạo quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh vào xác định quan điểm chỉ đạo xây dựng và phát triển văn hóa trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập kinh tế quốc tế.

Để thực hiện phương hướng về quan điểm chỉ đạo xây dựng và phát triển văn hóa, Đảng ta đã đề ra 10 nhiệm vụ và 4 giải pháp lớn. Những nhiệm vụ đó là:

1. Xây dựng con người Việt Nam trong giai đoạn cách mạng mới.

2. Xây dựng môi trường văn hóa.

3. Phát triển sự nghiệp văn học, nghệ thuật.

4. Bảo tồn và phát huy các di sản văn hóa.

5. Phát triển sự nghiệp giáo dục- đào tạo và khoa học công nghệ.

6. Phát triển đi đôi với quản lý tốt hệ thống thông tin đại chúng.

7. Bảo tồn, phát huy và phát triển văn hóa các dân tộc thiểu số.

8. Chính sách văn hóa đối với tôn giáo.

9. Mở rộng hợp tác quốc tế về văn hóa.

10. Củng cố, xây dựng và hoàn thiện thiết chế văn hóa.

Những giải pháp lớn xây dựng và phát triển văn hóa là

1. Mở cuộc vận động giáo dục chủ nghĩa yêu nước gắn với thi đua yêu nước và phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa”.

2. Xây dựng, ban hành luật pháp và các chính sách văn hóa.

3. Tăng cường nguồn lực và phương tiện cho hoạt động văn hóa.

4. Nâng cao hiệu quả lãnh đạo của Đảng trên lĩnh vực văn hóa.

Nghị quyết Trung ương năm khóa VIII đã xác định: để đảm bảo sự lãnh đạo của Đảng về văn hóa, phải xây dựng văn hóa từ trong Đảng, trong bộ máy nhà nước như Bác Hồ đã dạy: “Đảng ta là đạo đức, là văn minh”. Phải đẩy mạnh việc giáo dục tư tưởng, đạo đức Hồ Chí Minh trong toàn Đảng, toàn dân, toàn quân. Gương mẫu là một nội dung, một phương thức trọng yếu trong công việc lãnh đạo của Đảng.

Như vậy, Nghị quyết Hội nghị Trung ương năm khóa VIII đã bao quát được tổng thể những nội dung cơ bản và trọng yếu để xây dựng và phát triển văn hóa trong thời kỳ đổi mới. Vì vậy, khi tổng kết 5 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 5 khóa VIII, Hội nghị Ban chấp hành Trung ương lần thứ mười khóa IX đã khẳng định Nghị quyết này ra đời đã “đáp ứng đúng yêu cầu phát triển của đất nước và nguyện vọng của nhân dân, đã nhanh chóng đi vào cuộc sống, được xã hội nhiệt tình hưởng ứng thực hiện, gắn kết chặt chẽ hơn văn hóa với các lĩnh vực của đời sống xã hội, góp phần quan trọng vào việc giữ vững ổn định chính trị và tạo nên những thành tự về kinh tế, xã hội, an ninh, quốc phòng, đối ngoại… của đất nước”1. Và đây là “Nghị quyết có ý nghĩa chiến lược về văn hóa của cách mạng nước ta trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Việc tiếp tục thực hiện Nghị quyết là một nhân tố quyết định để nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân ta, làm cho nền tảng tinh thần của chế độ ta, của xã hội nước ta ngày càng vững chắc, tiến bộ, phong phú, góp phần giữ vững độc lập, thống nhất, định hướng xã hội chủ nghĩa và thúc đẩy nhanh quá trình phát triển đất nước”2.

Trên cơ sở khẳng định những thành tựu và chỉ ra những yếu kém, khuyết điểm trong quá trình thực hiện Nghị quyết Trung ương 5 khóa VIII và các Nghị quyết của Đảng về văn hóa, Kết luận của Hội nghị Ban chấp hành Trung ương lần thứ mười khóa IX đã nhấn mạnh mục tiêu sau:

Thông qua việc triển khai các nhiệm vụ văn hóa cụ thể, mục tiêu cần phải đạt tới là tạo ra được sự phát triển đồng bộ về chất lượng văn hóa trên các mặt:

a. Bảo đảm sự gắn kết giữa nhiệm vụ phát triển kinh tế là trọng tâm, xây dựng, chỉnh đốn Đảng là then chốt với không ngừng nâng cao văn hóa- nền tảng tinh thần xã hội; tạo nên sự phát triển đồng bộ của ba lĩnh vực trên chính là điều kiện quyết định bảo đảm cho sự phát triển toàn diện và bền vững của đất nước.

b. Trong quá trình mở rộng hội nhập kinh tế quốc tế và giao lưu văn hóa, cùng với việc tập trung xây dựng những giá trị mới của văn hóa Việt Nam đương đại, cần tiếp tục đẩy mạnh công tác bảo tồn, kế thừa, phát huy các giá trị tốt đẹp của truyền thống văn hóa dân tộc và tiếp nhận có chọn lọc tinh hoa văn hóa thế giới, bắt kịp sự phát triển của thời đại.

c. Vừa phát huy mạnh mẽ tính đa dạng, bản sắc độc đáo của văn hóa các dân tộc anh em, làm phong phú nền văn hóa chung của cả nước, vừa kiên trì củng cố và nâng cao tính thống nhất trong đa dạng của văn hóa Việt Nam, đấu tranh chống các khuynh hướng lợi dụng văn hóa để chia rẽ, phá hoại khối đoàn kết dân tộc.

d. Nghiên cứu, nắm bắt kịp thời những thành tựu của văn hóa- thông tin hiện đại, huy động mọi tiềm lực xã hội cho sự nghiệp phát triển văn hóa, chăm lo các tài năng, chủ động có kế hoạch, chính sách, cơ chế phù hợp để tạo điều kiện cho văn hóa nước nhà phát triển vững chắc và đúng hướng trong thời kỳ mới.

Kết luận của Hội nghị Trung ương 10 khóa IX đã xác định nhiệm vụ trọng tâm là tiếp tục đặt lên hàng đầu nhiệm vụ xây dựng tư tưởng đạo đức, lối sống và đời sống văn hóa lành mạnh trong xã hội; nâng cao chất lượng và hiệu quả nhiệm vụ xây dựng con người Việt Nam theo 5 đức tính được xác định trong Nghị quyết Trung ương 5 (khóa VIII); chú trọng xây dựng đời sống văn hóa cơ sở, nhất là cộng đồng dân cư, xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh, tốt đẹp, phong phú.

Đại hội X của Đảng (2006) đã tiếp tục khẳng định những quan điểm cơ bản của Đảng về xây dựng và phát triển văn hóa được nêu lên trong các văn kiện trước đây và nhấn mạnh tư tưởng phát triển văn hóa, nền tảng tinh thần của xã hội. Đảng ta khẳng định: “Tiếp tục phát triển sâu rộng và nâng cao chất lượng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, gắn kết chặt chẽ và đồng bộ hơn với phát triển kinh tế- xã hội, làm cho văn hóa thấm sâu vào mọi lĩnh vực của đời sống xã hội”1. Đồng thời, Đảng ta cũng chỉ rõ: “Xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, đáp ứng yêu cầu phát triển của xã hội và con người trong điều kiện đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập kinh tế quốc tế. Bảo đảm sự gắn kết giữa nhiệm vụ phát triển kinh tế là trung tâm, xây dựng Đảng là then chốt với phát triển văn hóa- nền tảng tinh thần của xã hội”2.

Như vậy, vấn đề xây dựng và phát triển văn hóa được đặt trong mối quan hệ biện chứng giữa ba lĩnh vực cơ bản là kinh tế, chính trị và văn hóa. Sự phát triển toàn diện và bền vững của đất nước trong thời kỳ đổi mới đòi hỏi phải phát triển đồng bộ cả ba lĩnh vực này và mỗi lĩnh vực đều có quan hệ hữu cơ với các lĩnh vực khác, tạo nên sự hợp lực bền vững của phát triển, trong đó văn hóa là nền tảng tinh thần cho sự phát triển kinh tế và là cơ sở của công tác xây dựng Đảng, củng cố hệ thống chính trị. Khẳng định tư tưởng quan trọng này trong đường lối văn hóa của Đảng, chúng ta cần phải phê phán quan điểm “duy kinh tế” hoặc “duy chính trị” hoặc “duy văn hóa” trong phát triển. Mối quan hệ biện chứng giữa kinh tế, chính trị và văn hóa ngày càng chiếm vị trí đặc biệt trong đường lối xây dựng và phát triển đất nước, thể hiện tầm nhìn sáng suốt của Đảng về quá trình phát triển bền vững của đất nước. Đây cũng là tư tưởng mới thể hiện sự sáng tạo của Đảng ta trong quá trình vận dụng chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng văn hóa trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội.

Trên cơ sở kế thừa các quan điểm của Đảng ta về phát triển văn hóa trong thời kỳ đổi mới vừa qua, Đại hội XI của Đảng đã nhấn mạnh một số chủ trương cần thực hiện là:

- Phát triển toàn diện, đồng bộ các lĩnh vực văn hóa, vừa phát huy những giá trị tốt đẹp của dân tộc, vừa tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại, xử lý tốt mối quan hệ giữa kinh tế và văn hóa để văn hóa thực sự là nền tảng tinh thần của xã hội, là một động lực phát triển kinh tế - xã hội và hội nhập quốc tế.

- Tập trung xây dựng đời sống, lối sống và môi trường văn hóa lành mạnh, coi trọng văn hóa trong lãnh đạo, quản lý, văn hóa trong kinh doanh và văn hóa trong ứng xử. Chú trọng xây dựng nhân cách con người Việt Nam về lý tưởng, trí tuệ - đạo đức, lối sống, thể chất, lòng tự tin dân tộc, trách nhiệm xã hội, ý thức chấp hành pháp luật, nhất là trong thế hệ trẻ.

- Xây dựng gia đình ấm no, tiến bộ, hạnh phúc. Thực hiện tốt bình đẳng giới, sự tiến bộ của phụ nữ; chăm sóc, giáo dục, bảo vệ quyền trẻ em.

- Đảm bảo quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của công dân theo quy định của pháp luật.

- Khuyến khích tự do sáng tạo văn học, nghệ thuật.

- Xây dựng và nâng cấp đồng bộ hệ thống thiết chế văn hóa, thể thao.

- Coi trọng bảo tồn và phát huy di sản văn hóa dân tộc.

- Nâng cao chất lượng hệ thống thông tin, báo chí, internet, xuất bản. Đảm bảo quyền được thông tin và cơ hội tiếp cận thông tin của nhân dân, đặc biệt là ở vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số…

- Đấu tranh phòng, chống các biểu hiện phản văn hóa, các tiêu cực và tệ nạn xã hội.

- Nâng cao chất lượng phong trào toàn dân đoàn kết xây đựng dời sống văn hóa.

Nhìn lại các quan điểm của Đảng về xây dựng và phát triển văn hóa trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, chúng ta thấy Đảng ta luôn luôn xuất phát từ thực tế khách quan, nắm vững những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đề xuất một cách chủ động sáng tạo các quan điểm, tư tưởng chỉ đạo, xây dựng những nhiệm vụ, nội dung và giải pháp cụ thể cho từng giai đoạn cách mạng, vừa đảm bảo tính kế thừa, vừa đảm bảo sự phát triển để từng bước nâng cao chất lượng và hiệu quả của việc xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. Chính nhờ sự sáng tạo và năng động đó, đường lối văn hóa của Đảng đã đáp ứng đúng nhu cầu và đòi hỏi của nhân dân, được nhân dân hưởng ứng và nhiệt tình thực hiện, tạo thành một sức mạnh mới để làm động lực thúc đẩy kinh tế - xã hội phát triển, góp phần giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa, củng cố hệ thống chính trị, giữ vững an ninh quốc phòng, góp phần to lớn vào sự phát triển bền vững của đất nước.

1.2. Quan điểm của Đảng ta về xây dựng con người trong thời kỳ đổi mới

Chủ nghĩa Mác - Lênin đã khẳng định con người là một thực thể tự nhiên, đồng thời là một thực thể xã hội mang bản chất xã hội. Với tư cách con người là một thực thể tự nhiên, con người chịu sự chi phối mạnh mẽ của quy luật tự nhiên. Đồng thời, với tư cách là một thực thể xã hội, con người chịu sự tác động của quy luật xã hội, của môi trường xã hội. Sự tác động biện chứng giữa mặt tự nhiên và mặt xã hội đối với quá trình phát triển của con người đã giúp con người tách ra khỏi thế giới động vật và trở thành một con người sinh học - xã hội. Theo Mác, xã hội tạo ra con người ở mức độ nào thì con người cũng tạo ra xã hội ở mức độ đó. C.Mác và Ph.Ăngghen đã phát hiện ra tình trạng con người bị tha hóa trong chủ nghĩa tư bản và đề ra con đường giải phóng con người, giải phóng công nhân và nhân dân lao động khỏi sự tha hóa đó thông qua cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa do Đảng Cộng sản của giai cấp công nhân lãnh đạo. Trong Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản, C.Mác và Ph.Ăngghen đã dự báo rằng trong xã hội tương lai sẽ là một liên hiệp trong đó sự tự do của mỗi người là điều kiện cho sự tự do của cả mọi người. Theo V.I.Lênin, chính từ trong cuộc đấu tranh để lật đổ chế độ tư bản chủ nghĩa và xây dựng chế độ xã hội xã hội chủ nghĩa, những con người mới được hình thành. Họ là sản phẩm của lịch sử đồng thời cũng là chủ thể góp phần sáng tạo lịch sử: Chúng ta phải xây dựng con người mới từ những vật liệu mà xã hội cũ đã để lại. Và chính trong quá trình xây dựng đất nước, những con người mới sẽ xuất hiện và trưởng thành.

Kế thừa những thành tựu lý luận của chủ nghĩa Mác-Lênin về con người và xây dựng con người, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định "Muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội, trước hết cần có những con người xã hội chủ nghĩa"1. Người khẳng định: "Vì lợi ích mười năm thì phải trồng cây, vì lợi ích trăm năm thì phải trồng người"2. Hồ Chí Minh đã căn dặn Đảng ta "Bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau là một việc rất quan trọng, rất cần thiết".

Những quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về con người và xây dựng con người luôn luôn được Đảng ta vận dụng sáng tạo vào trong quá trình xây dựng và phát triển con người trong thời kỳ đổi mới vừa qua.

Từ khi bước vào thời kỳ đổi mới, Đảng ta tập trung vào đổi mới kinh tế, đồng thời đã nhấn mạnh tới việc phát triển kinh tế phải chú ý đến hiệu quả văn hóa và xã hội, quan tâm tới việc xây dựng con người. Văn kiện Đại hội VI đã khẳng định: "Sự quan tâm đến con người và thái độ tôn trọng lẫn nhau phải trở thành một tiêu chuẩn đạo đức trong mọi hoạt động kinh tế, văn hóa, xã hội, nhất là trong các dịch vụ phục vụ nhân dân"3.

Việc xây dựng con người được Đảng ta xem xét từ nhiều khía cạnh khác nhau, trước hết là tiền đề kinh tế để xây dựng con người. Vì vậy, Đại hội VI đã xác định "Tư tưởng chỉ đạo của kế hoạch và các chính sách kinh tế là giải phóng mọi năng lực sản xuất hiện có, khai thác mọi khả năng, tiềm năng của đất nước và sử dụng có hiệu quả sự giúp đỡ quốc tế để phát triển mạnh mẽ lực lượng sản xuất đi đôi với xây dựng và củng cố quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa"4. Ba chương trình mục tiêu về lương thực - thực phẩm, hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu là những chương trình có ý nghĩa đột phá để tháo gỡ khó khăn về kinh tế, góp phần cải thiện đời sống cho nhân dân.

Đại hội VII của Đảng đã khẳng định: "Mục tiêu của chính sách xã hội thống nhất với mục tiêu phát triển kinh tế, đều nhằm phát huy sức mạnh của nhân tố con người và vì con người. Kết hợp hài hòa giữa phát triển kinh tế với phát triển văn hóa, xã hội; giữa tăng trưởng kinh tế với tiến bộ xã hội; giữa đời sống vật chất và đời sống tinh thần của nhân dân. Coi phát triển kinh tế là cơ sở và tiền đề để thực hiện các chính sách xã hội, thực hiện tốt các chính sách xã hội là động lực để thúc đẩy phát triển kinh tế"5.

Khi xác định mục tiêu của sự nghiệp giáo dục - đào tạo, trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, Đảng ta đã nêu rõ: "Mục tiêu giáo dục và đào tạo nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, hình thành đội ngũ lao động có tri thức và có tay nghề, có năng lực thực hành, tự chủ, năng động và sáng tạo, có đạo đức cách mạng, tinh thần yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội. Nhà trường đào tạo thế hệ trẻ theo hướng toàn diện và có năng lực chuyên môn sâu, có ý thức và khả năng tự tạo việc làm trong nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần"1.

Vấn đề xây dựng con người phục vụ yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước được Đảng ta đặt trên bình diện rộng lớn gắn liền với trách nhiệm của từng lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội, từ lĩnh vực phát triển kinh tế, tạo nền tảng vật chất để xây dựng con người tới phát triển về thể lực, trí lực, kỹ năng lao động, bồi dưỡng tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, chăm sóc sức khỏe cho con người gắn liền với trách nhiệm xã hội của các ngành y tế, giáo dục, văn hóa, thông tin đại chúng, dân số và kế hoạch hóa gia đình.

Càng bước vào quá trình đổi mới, phát triển kinh tế thị trường, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, vấn đề xây dựng và phát triển con người càng được Đảng và Nhà nước ta quan tâm hơn bao giờ hết. Điều này xuất phát từ hai nguyên nhân chủ yếu sau đây:

Thứ nhất, là quá trình phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước trong xu thế toàn cầu hóa đặt ra những yêu cầu mới về con người và xây dựng con người. Sự nghiệp đổi mới đất nước không thể thành công nếu không xây dựng được những lớp người mới đáp ứng những yêu cầu cao của dân tộc và thời đại.

Thứ hai, là những mặt trái của kinh tế thị trường và quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đã và đang tác động tiêu cực, làm sói mòn tư tưởng, lối sống và đạo đức xã hội.

Vì vậy, để tranh thủ thời cơ, vượt qua những thách thức, Đảng và Nhà nước ta đã tập trung xây dựng chiến lược về con người cho thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương lần thứ tư khóa VII (tháng 1/1993) đã tập trung vào chủ đề xây dựng con người trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Tại Hội nghị này, Ban Chấp hành Trung ương khóa VII đã ban hành hàng loạt nghị quyết quan trọng nhằm xây dựng con người phục vụ sự nghiệp đổi mới. Đó là Nghị quyết "Về một số nhiệm vụ văn hóa văn nghệ những năm trước mắt"; Nghị quyết "Về những vấn đề cấp bách của sự nghiệp chăm sóc và bảo vệ sức khỏe nhân dân"; Nghị quyết "Về chính sách dân số và kế hoạch hóa gia đình"; Nghị quyết "Về sự nghiệp giáo dục và đào tạo"; Nghị quyết "Về công tác thanh niên trong thời kỳ mới". Vấn đề con người ở đây được đặt trong bối cảnh mới, với những yêu cầu và nhiệm vụ mới mà các ngành, các cấp, các đoàn thể chính trị xã hội phải quan tâm đúng mức.

Mục tiêu của sự nghiệp giáo dục trong thời kỳ này mà Đảng ta nhấn mạnh là nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, đào tạo những con người có kiến thức văn hóa, khoa học, có kỹ năng nghề nghiệp, lao động tự chủ, sáng tạo và có kỷ luật, giàu lòng nhân ái, yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội, sống lành mạnh, đáp ứng nhu cầu phát triển đất nước và chuẩn bị cho tương lai. Quá trình đổi mới giáo dục theo hướng vừa gắn chặt với yêu cầu phát triển đất nước, vừa phù hợp với xu thế tiến bộ của thời đại, thực hiện một nền giáo dục thường xuyên cho mọi người, xác định học tập suốt đời là quyền lợi và trách nhiệm của mỗi người dân đã tạo ra những chuyển biến mới để xây dựng con người, đào tạo nguồn nhân lực cho quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

Để nâng cao thể lực và chăm sóc sức khỏe nhân dân trong tình hình mới, Đảng ta đã nhấn mạnh "sức khỏe là vốn quý nhất của mỗi con người và toàn xã hội, là nhân tố quan trọng trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Vì vậy, chúng ta phấn đấu để mọi người được quan tâm chăm sóc sức khỏe".

Vấn đề xây dựng con người phải gắn liền với việc nâng cao chất lượng cuộc sống của con người và đảm bảo sự phát triển dân số hợp lý, phù hợp với quá trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Sự gia tăng dân số quá nhanh là một trong những nguyên nhân quan trọng cản trở tốc độ phát triển kinh tế - xã hội, gây khó khăn lớn cho việc cải thiện đời sống, hạn chế điều kiện phát triển về trí tuệ, văn hóa và thể lực của giống nòi. Vì vậy, Đảng ta đã ban hành Nghị quyết "Về chính sách dân số và kế hoạch hóa gia đình" nhằm làm tốt công tác kế hoạch hóa gia đình, thực hiện gia đình ít con, giảm nhanh tỷ lệ phát triển dân số, tiến tới ổn định quy mô dân số, góp phần nâng cao chất lượng dân số, chất lượng xây dựng con người. Hàng loạt các chính sách của Đảng và Nhà nước đã được ban hành góp phần kiểm soát tốc độ gia tăng dân số và ổn định quy mô dân số, góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống của con người và tạo điều kiện cho kinh tế - xã hội phát triển bền vững.

Trong đường lối chính sách xây dựng và phát triển con người ở thời kỳ đổi mới, kế thừa quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, Đảng ta đặc biệt chú trọng quan tâm tới công tác thanh thiếu niên, tương lai của đất nước. Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương lần thứ tư khóa VII (1/1993) đã ban hành Nghị quyết: "Về công tác thanh niên trong thời kỳ mới". Gần đây, Hội nghị Trung ương lần thứ bẩy khóa X (7/2008) đã ra Nghị quyết “Về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác thanh niên thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa”. Đánh giá về vai trò thanh niên, Đảng ta đã xác định thanh niên một trong những nhân tố quan trọng quyết định tương lai, vận mệnh dân tộc, là lực lượng chủ yếu trên nhiều lĩnh vực, đảm nhiệm những công việc đòi hỏi hy sinh, gian khổ, sức khỏe và sáng tạo, là lực lượng xã hội to lớn. Kế thừa tinh hoa truyền thống của dân tộc và những thành quả của cách mạng, qua mở rộng giao lưu quốc tế, thanh niên ta ngày nay có mặt mạnh cơ bản là trình độ học vấn cao hơn trước, tầm nhìn rộng, nhạy cảm với thời cuộc, giàu lòng yêu nước, có khát vọng mau chóng đưa đất nước vượt qua nghèo nàn lạc hậu, thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội văn minh. Thanh niên đồng tình, ủng hộ và hăng hái tham gia sự nghiệp đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Đã và đang xuất hiện nhiều tài năng trẻ, nhiều tấm gương trong sản xuất, kinh doanh, bảo vệ chủ quyền và an ninh đất nước, trong học tập, hoạt động khoa học kỹ thuật, văn hóa nghệ thuật và thể thao, trong công tác xã hội. Tuy nhiên, đứng trước tình hình khó khăn về kinh tế - xã hội của đất nước và sự sụp đổ của chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và Đông Âu, một bộ phận thanh niên đang gặp nhiều khó khăn về định hướng chính trị. Hàng triệu thanh niên chưa có hoặc thiếu việc làm, thu nhập thấp. Tình trạng thất học, mù chữ tăng lên, nhất là ở nông thôn, miền núi. Sức khỏe của thanh niên và trẻ em có chiều hướng giảm sút, số trẻ lang thang còn nhiều.

Một bộ phận thanh niên ít quan tâm sinh hoạt chính trị, coi thường truyền thống cách mạng, trốn tránh nghĩa vụ quân sự. Một số dao động, thiếu niềm tin ở chủ nghĩa xã hội.

Một bộ phận thanh niên có xu hướng chạy theo lối sống không lành mạnh, coi thường giá trị nhân văn, kỷ cương, đạo lý. Tình trạng tội phạm và tệ nạn xã hội trong thành niên gia tăng và ngày càng diễn biến phức tạp. Tỷ lệ thanh niên nhiễm HIV/AIDS còn cao.

Không ít thanh niên vẫn mang tâm lý thụ động, ỷ lại từ thời kỳ bao cấp; tâm lý lao động và khả năng nghề nghiệp chưa chuyển kịp với kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế.

Đứng trước tình hình đó, Đảng ta đã xác định phương hướng, quan điểm, nhiệm vụ và giải pháp để nâng cao chất lượng và hiệu quả của công tác thanh niên trong thời kỳ mới, xây dựng Đoàn Thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh vững mạnh và mở rộng mặt trận đoàn kết thanh niên, giải phóng tiềm năng trong thanh niên, đẩy mạnh công tác giáo dục, tư tưởng, chính trị xây dựng môi trường xã hội lành lạnh, nêu cao vai trò của tổ chức Đảng, các đoàn thể chính trị - xã hội và nhân dân đối với công tác thanh niên.

Như vậy sự sáng tạo của Đảng ta thể hiện rõ rệt ở việc tiếp cận vấn đề xây dựng con người từ nhiều bình diện khác nhau, tạo thành sức mạnh tổng hợp để phát triển con người một cách toàn diện, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp đổi mới.

Những quan điểm trên tiếp tục được Đảng ta triển khai và nhấn mạnh trong các văn kiện của Đảng ở các giai đoạn sau này, tạo nên một sự chuyển biến mạnh mẽ trong vấn đề xây dựng con người.

Những phẩm chất cơ bản của con người mới cần được xây dựng

Xây dựng và phát triển toàn diện con người là một nội dung quan trọng trong tư tưởng giải phóng giai cấp, giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội và giải phóng con người của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và của Đảng, Nhà nước ta. Xây dựng một chế độ xã hội tốt đẹp "dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ và văn minh" là điều kiện cơ bản để thực hiện mục tiêu phát triển toàn diện con người.

Cương lĩnh (Bổ sung và phát triển 2011): “Con người là trung tâm của chiến lược phát triển, đồng thời là chủ thể phát triển. Tôn trọng và bảo vệ quyền con người, gắn quyền con người với quyền và lợi ích của dân tộc, đất nước và quyền làm chủ của nhân dân. Chăm lo xây dựng con người Việt Nam giàu lòng yêu nước, có ý thức làm chủ, trách nhiệm công dân; có tri thức, sức khỏe, lao động giỏi; sống có văn hóa, tình nghĩa; có tinh thần quốc tế chân chính1.

Luật Giáo dục được Quốc hội thông qua ngày 11-12-1998 đã ghi rõ: Mục tiêu của giáo dục là đào tạo con người phát triển toàn diện, có đạo đức, trí tuệ, sức khỏe, thẩm mỹ và nghề nghiệp, trung thành với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; hình thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất, năng lực của công dân, đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Nghị quyết Ban Chấp hành Trung ương lần thứ năm khóa VIII đã khẳng định nhiệm vụ đầu tiên để xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc là: “Xây dựng con người Việt Nam trong giai đoạn mới với những đức tính sau:

- Có tinh thần yêu nước, tự cường dân tộc, phấn đấu vì độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, có ý chí vươn lên đưa đất nước thoát khỏi nghèo nàn lạc hậu, đoàn kết với nhân dân thế giới trong sự nghiệp đấu tranh vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội.

- Có ý thức tập thể, đoàn kết, phấn đấu vì lợi ích chung.

- Có lối sống lành mạnh, nếp sống văn minh, cần kiệm, trung thực, nhân nghĩa, tôn trọng kỷ cương phép nước, quy ước của cộng đồng; có ý thức bảo vệ và cải thiện môi trường sinh thái.

- Lao động chăm chỉ với lương tâm nghề nghiệp, có kỹ thuật, sáng tạo, năng suất cao vì lợi ích của bản thân, gia đình, tập thể và xã hội.

- Thường xuyên học tập, nâng cao hiểu biết, trình độ chuyên môn, trình độ thẩm mỹ và thế lực"1.

Như vậy, đứng trước yêu cầu của việc xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, đẩy mạnh công nghiệp hóa và hội nhập kinh tế quốc tế, vấn đề quan trọng là phải đặt con người và vấn đề xây dựng con người trong môi trường kinh tế - xã hội mới, thấy rõ được các nhân tố bên ngoài và bên trong tác động vào đời sống của con người để xác định những yêu cầu cụ thể đối với việc xây dựng con người. Vấn đề bao trùm của việc xây dựng con người là hình thành lý tưởng chính trị xã hội của mỗi công dân. Đứng trước diễn biến phức tạp của tình hình quốc tế hiện nay, vấn đề giáo dục lòng yêu nước, tinh thần tự cường dân tộc, phấn đấu vì mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, có ý chí và nghị lực đưa đất nước thoát khỏi nghèo nàn lạc hậu, phấn đấu đưa nước ta đến năm 2020 cơ bản thành một nước công nghiệp là vấn đề có ý nghĩa đặc biệt quan trọng.

Chúng ta phải đào tạo những con người phát triển toàn diện cả về đức và tài, phát triển về thể lực, trí tuệ, đạo đức, thẩm mỹ, nhân cách, có kỹ năng lao động giỏi, có ý chí và bản lĩnh trong lao động và bảo vệ Tổ quốc. Điều đặc biệt quan tâm ở đây là vấn đề giáo dục lý tưởng chính trị, đạo đức phẩm chất và ý thức công dân của đội ngũ lao động mới, tạo điều kiện thuận lợi để họ thực hiện đầy đủ quyền lợi, trách nhiệm, nghĩa vụ của mình đối với Tổ quốc, nhân dân, dân tộc và thời đại. Đảng ta cũng nhấn mạnh đến việc kế thừa và phát huy những giá trị tích cực và tiến bộ của con người Việt Nam trong truyền thống lịch sử của dân tộc, phê phán những yếu tố lạc hậu, tiêu cực, tạo môi trường thuận lợi để xây dựng và phát triển con người.

Muốn phát triển nhanh và bền vững, bài học kinh nghiệm rút ra từ thực tiễn 5 năm thực hiện Nghị quyết của Đại hội IX đã cho thấy "phải gắn tăng trưởng kinh tế với phát triển văn hóa, phát triển toàn diện con người, thực hiện dân chủ, tiến bộ và công bằng xã hội, tạo nhiều việc làm, cải thiện đời sống, khuyến khích làm giàu hợp pháp đi đôi với xóa đói, giảm nghèo. Phát triển kinh tế phải đi đôi với việc đảm bảo ổn định chính trị - xã hội, coi đây là tiền đề, điều kiện đã phát triển nhanh và bền vững.

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng đã đặc biệt nhấn mạnh tới việc "xây dựng và hoàn thiện giá trị, nhân cách con người Việt Nam, bảo vệ và phát huy bản sắc dân tộc trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa, hội nhập kinh tế quốc tế. Bồi dưỡng các giá trị văn hóa trong thanh niên, học sinh, sinh viên, đặc biệt là lý tưởng sống, lối sống, năng lực trí tuệ, đạo đức, bản lĩnh văn hóa con người Việt Nam"2. Vấn đề xây dựng con người đã được Đảng ta quan tâm trên bình diện mới là xây dựng và hoàn thiện về nhân cách, chú trọng bồi dưỡng tư tưởng sống, lối sống, năng lực trí tuệ, đạo đức và bản lĩnh, bản sắc của con người Việt Nam trong giao lưu và hợp tác quốc tế. Đây là những nội dung cốt lõi phản ánh chất lượng cao của việc xây dựng con người, gắn liền với yêu cầu của quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập kinh tế quốc tế. Trong quá trình đẩy mạnh phát triển kinh tế thị trường và hội nhập kinh tế quốc tế, những tác động tiêu cực từ mặt trái của quá trình này vào đời sống xã hội, làm suy thoái tư tưởng, đạo đức, lối sống của con người và xã hội có chiều hướng gia tăng. Vì vậy, bên cạnh việc ngăn chặn sự suy thoái này, Đảng ta đề cao nhiệm vụ xây dựng tư tưởng đạo đức, lối sống trong xã hội, trước hết là trong đội ngũ cán bộ, đảng viên; trong các cơ quan Đảng, Nhà nước, các đoàn thể chính trị xã hội, trong từng gia đình, tạo lập môi trường văn hóa lành mạnh để nuôi dưỡng đời sống tinh thần của con người. Sự đan xen giữa yếu tố tích cực và tiêu cực trong quá trình vận động và phát triển của nền kinh tế ở thời kỳ chuyển đổi đã tạo nên sự phức tạp trong vấn đề xây dựng và hoàn thiện nhân cách con người. Vì vậy quán triệt quan điểm duy vật lịch sử về xây dựng con người, Đảng ta luôn luôn chú trọng khẳng định những mặt tích cực, chỉ rõ những mặt tiêu cực cần khắc phục để hướng tới xây dựng và hoàn thiện con người, đáp ứng yêu cầu của nhiệm vụ cách mạng đề ra. Kết luận của Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương lần thứ mười khóa IX đã thẳng thắn nêu rõ: "Sự suy thoái về phẩm chất, đạo đức, lối sống tiếp tục diễn biến phức tạp, có một số mặt nghiêm trọng hơn, tổn hại không nhỏ đến uy tín của Đảng và Nhà nước, niềm tin của nhân dân". Vì vậy, trong vấn đề xây dựng con người, Đảng ta đã xác định nhiệm vụ đặt lên hàng đầu là nhiệm vụ xây dựng tư tưởng, đạo đức, lối sống và đời sống lành mạnh trong xã hội, trước hết là trong các tổ chức Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể nhân dân và trong từng cá nhân, gia đình, thôn xóm, đơn vị, tổ chức cơ sở... Để khắc phục khuynh hướng giản đơn, chủ quan nóng vội, duy ý chí trong vấn đề này, Đảng ta nhấn mạnh rằng: "Cần xác định đây là nhiệm vụ quan trọng thường xuyên, vừa cấp bách, vừa cơ bản, lâu dài". Đại hội XI của Đảng đã yêu cầu: “Sớm có chiến lực quốc gia về xây dựng gia đình Việt Nam, góp phần giữ gìn và phát triển những giá trị truyền thống của văn hóa, con người Việt Nam, nuôi dưỡng, giáo dục thế hệ trẻ. Đoàn kết và xây dựng hệ giá trị chung của con người Việt Nam trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế1.

Như vậy, vấn đề xây dựng con người và phát triển con người đã được Đảng ta đặt vào vị trí trung tâm của quá trình phát triển kinh tế - xã hội. Sự sáng tạo của Đảng trong quá trình vận dụng những quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong quá trình xây dựng con người trong thời kỳ đổi mới hiện nay không phải với ý nghĩa là làm khác những quan điểm và tư tưởng này mà là triển khai vấn đề xây dựng con người trên nhiều bình diện khác nhau, gắn liền với nhiều nội dung khác nhau để phát triển con người thích ứng với đòi hỏi của cách mạng trong một bối cảnh mới, bối cảnh của quá trình phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, hội nhập kinh tế quốc tế. Con người mà Đảng ta chú ý xây dựng ở đây là con người chất lượng, vừa phải mang tính dân tộc, hiện đại, nhân văn, vừa có khả năng đảm nhiệm những trọng trách mới trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, hội nhập kinh tế quốc tế và giữ vững an ninh quốc phòng trong tình hình mới. Lý tưởng chính trị xã hội; đạo đức, lối sống; kỹ năng lao động sáng tạo, ý thức công dân trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc... là những nội dung cơ bản cần được coi trọng đúng mức trong quá trình xây dựng và phát triển con người. Chính từ trong quá trình xây dựng và phát triển đất nước, những con người này được hình thành và phát triển. Những thành tựu về kinh tế - xã hội trong những năm đổi mới vừa qua là tiền đề, là cơ sở vật chất để xây dựng con người. Đồng thời con người - nguồn nhân lực cũng là nhân tố có ý nghĩa quyết định tới việc phát triển kinh tế - xã hội. Vì vậy, Đảng ta đã xác định đầu tư cho con người là đầu tư cho phát triển, đầu tư cho giáo dục - đào tạo để xây dựng và phát triển con người là đầu tư ngắn nhất và tiết kiệm nhất để hiện đại hóa đất nước. Đồng thời xây dựng và phát triển con người cũng là con đường cơ bản để đảm bảo sự phát triển bền vững hay nói cách khác chính là đảm bảo chất lượng của quá trình phát triển đất nước... Nền kinh tế mà chúng ta hướng tới xây dựng là nền kinh tế nhân văn, nền kinh tế đề cao giá trị con người, phục vụ con người. Vì vậy, con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực của quá trình phát triển bền vững. Sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước phải hướng tới phục vụ con người, giải phóng các tiềm năng sáng tạo của con người, phấn đấu nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, tạo cơ hội và điều kiện để nhân dân tham gia vào làm chủ quá trình sáng tạo, sản xuất, truyền bá và thụ hưởng các thành quả chung của xã hội. Vì vậy, hướng tới các giá trị nhân văn, vì con người, cho con người, chăm lo vun đắp cho sự nghiệp "trồng người" là nhiệm vụ trọng tâm hàng đầu của sự nghiệp xây dựng và phát triển nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc ở nước ta hiện nay.

II. Những vấn đề đặt ra trong việc thực hiện đường lối, quan điểm của Đảng về phát triển văn hóa và con người

1. Những thành tựu và hạn chế trong quá trình thực hiện đường lối, quan điểm về phát triển văn hóa và con người trong 25 năm đổi mới vừa qua

- Thực tiễn 25 năm đổi mới vừa qua đã khẳng định đường lối, quan điểm của Đảng ta về phát triển văn hóa và con người là hoàn toàn đúng đắn, đáp ứng nhu cầu đòi hỏi cấp thiết của xã hội. Chính nhờ có đường lối và quan điểm chỉ đạo đúng đắn đó nền văn hóa Việt Nam trong thời gian qua đã đạt được những tiến bộ đáng kể, góp phần cùng các lĩnh vực khác làm nên những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử của dân tộc.

Kiểm điểm 5 năm thực hiện Nghị quyết Đại hội X của Đảng và nhìn lại 25 năm xây dựng và phát triển trên lĩnh vực văn hóa và con người, Đại hội XI đã khẳng định “Hoạt động văn hóa, văn nghệ, thông tin, thể dục, thể thao ngày càng mở rộng, từng bước đáp ứng nhu cầu hưởng thụ văn hóa của nhân dân. Phong trào “toàn dân đoàn kết xây đựng dời sống văn hóa” từng bước đi vào chiều sâu”1. “Chỉ số phát triển con người không ngừng được tăng lên: Việt Nam đã hoàn thành phần lớn Mục tiêu Thiên niên kỷ”2.

Trong lĩnh vực xây dựng con người, Đảng và Nhà nước đã đầu tư nhiều hơn cho giáo dục- đào tạo để nâng cao dân trí, đào tạo nguồn nhân lực và bồi dưỡng nhân tài, thực hiện nhiều chủ trương, chính sách mới để tạo động lực cho giáo dục- đào tạo phát triển xứng đáng với vai trò là “quốc sách hàng đầu”. Cơ sở vật chất cho giáo dục được tăng cường. Quy mô đào tạo được mở rộng, nhất là ở bậc trung học chuyên nghiệp và dạy nghề. Trình độ dân trí nói chung và đội ngũ lao động đã qua đào tạo tay nghề được nâng lên. Chất lượng về thể lực, sức khỏe, học vấn, tay nghề, kỹ năng lao động và phẩm chất đạo đức nghề nghiệp có bước phát triển rõ rệt.

Công tác xóa đói giảm nghèo ở nước ta đã đạt được những thành tựu to lớn, được cộng đồng quốc tế đánh giá cao. Đến cuối năm 2010, tỷ lệ hộ nghèo còn 9,5%. Cơ sở hạ tầng kinh tế, văn hóa, xã hội cho vùng nông thôn, miền núi, vùng đồng bào các dân tộc thiểu số đã được quan tâm đầu tư (điện, đường, trường, trạm), tạo nên sự chuyển biến tích cực trong việc đảm bảo công bằng xã hội và hỗ trợ những vùng gặp khó khăn.

Công tác bảo vệ chăm sóc sức khỏe nhân dân đạt được nhiều kết quả to lớn. Hệ thống y tế, đặc biệt là y tế ở cơ sở được chăm lo và mở rộng. Hầu hết các xã, phường trong cả nước đều có trạm y tế, trên 65% trạm có bác sĩ. Ngành y tế cùng với toàn dân đã chăm lo và đẩy lùi một số dịch bệnh nguy hiểm. Tuổi thọ bình quân của dân số nước ta tăng từ 63 tuổi (1990) lên 71,5 tuổi (năm 2005). Chỉ số phát triển con người (HDI) đã được nâng lên từ mức dưới trung bình (0,498 năm 1991) tăng lên mức trung bình (0,688 năm 2002) và năm 2005 nâng lên là 0,704 , năm 2008 là 0,733 xếp thứ 100/177, thuộc nhóm trung bình cao. Đã hoàn thành 6/8 nhóm Mục tiêu Thiên niên kỷ (theo Báo cáo chỉ số phát triển con người của Liên hợp quốc, chỉ số phát triển con người của Việt Nam năm 2005 là 0,704, xếp thứ 108/177 nước, trong khi tại các nước kém phát triển, chỉ số này là 0,518; tại các nước có thu nhập trung bình, chỉ số này là 0,774).

Những tiến bộ về việc xây dựng con người của Việt Nam trong 25 năm đổi mới vừa qua đã góp phần khẳng định đường lối đổi mới của Đảng ta trong vấn đề xây dựng con người là đúng đắn. Sự phát triển kinh tế đã hướng tới phục vụ con người, đảm bảo tiến bộ và công bằng xã hội, góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống con người.

Trên lĩnh vực văn hóa, quá trình triển khai thực hiện đường lối, chính sách văn hóa của Đảng và nhà nước đã được thực hiện nghiêm túc ở các cấp, các ngành. Đặc biệt là sau khi có Nghị quyết Trung ương năm khóa VIII, cấp ủy Đảng các cấp đã có chương trình thực hiện Nghị quyết này nghiêm túc và được nhân dân đồng tình hưởng ứng và thực hiện. Việc thực hiện năm quan điểm chỉ đạo, 10 nhiệm vụ và 4 giải pháp lớn mà Nghị quyết Trung ương năm khóa VIII đã tạo nên một phong trào sâu rộng trong Đảng, trong các cơ quan nhà nước và các đoàn thể chính trị - xã hội, góp phần to lớn vào củng cố khối đại đoàn kết toàn dân, phát huy chủ nghĩa yêu nước Việt Nam để xây dựng và phát triển đất nước. Tổng mức đầu tư của Nhà nước cho Chương trình mục tiêu giai đoạn sau cao hơn giai đoạn trước. Tính tích cực, chủ động sáng tạo trong nhân dân được phát huy, dân chủ xã hội được mở rộng. Hệ thống các di sản văn hóa của dân tộc được đầu tư, tôn tạo và phát huy vai trò của nó đối với phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao đời sống tinh thần của nhân dân. Nhiều di tích văn hóa được cộng đồng quốc tế công nhận là Di sản văn hóa thế giới như: Cố đô Huế, Di tích Mỹ Sơn, Khu phố cổ Hội An, Vườn Quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng, Vịnh Hạ Long, Di tích Hoàng thành Thăng Long - Hà Nội, Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên, Nhã nhạc Cung đình Huế, Quan họ Bắc Ninh, Ca trù, Hát Xoan (Phú Thọ) được UNESCO đưa vào danh sách di sản văn hóa phi vật thể tiêu biểu của nhân loại được bảo vệ khẩn cấp. Những giá trị văn hóa đặc sắc của các dân tộc anh em trên đất nước Việt Nam được giữ gìn, kế thừa và phát huy làm phong phú cho nền văn hóa dân tộc. Năm 2008, cả nước có 7.966 lễ hội, trong đó có 7.039 lễ hội dân gian, 544 lễ hội tôn giáo, 332 lễ hội lịch sử cách mạng. Các phương tiện thông tin đại chúng đã phát triển nhanh chóng và đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của xã hội. Hiện nay cả nước đã có 707 cơ quan báo chí (báo in: 166, báo điện tử: 09, tạp chí: 440, phát thanh truyền hình: 68, nhà cung cấp thông tin trên Internet: 24, có 13.348 nhà báo). Cả nước có 53 nhà xuất bản (xuất bản khoảng 20.504 cuốn sách với 211.615.158 triệu bản). Có 125 đơn vị phát hành, có 7.045 thư viện.

Các tài năng trong lĩnh vực sáng tạo văn học nghệ thuật bước đầu được phát huy và tham gia tích cực vào phát triển nền văn học nghệ thuật dân tộc. Hiện nay cả nước có 48 hãng phim, 131 đoàn nghệ thuật. Tổng số tác phẩm đã đăng ký bản quyền tác giả từ 1986 đến nay là 21.143.

Hoạt động giao lưu và hợp tác quốc tế được mở rộng. Công tác văn hóa đối ngoại đã có nhiều chuyển biến tích cực để giới thiệu các thành tựu văn hóa của Việt Nam ra nước ngoài và tiếp thu những giá trị tích cực của văn hóa thế giới vào Việt Nam, nâng cao vị thế văn hóa Việt Nam trong cộng cồng quốc tế.

Những thành tựu trên lĩnh vực văn hóa đã góp phần nâng cao mức hưởng thụ văn hóa của nhân dân, góp phần vào xây dựng con người và xây dựng môi trường văn hóa tinh thần lành mạnh, làm động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội. Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện đường lối, quan điểm của Đảng về văn hóa, chúng ta thấy nổi lên một số yếu kém sau:

Thứ nhất, việc thực hiện đường lối, quan điểm của Đảng về văn hóa, xã hội và xây dựng con người còn mang nặng tính hình thức, chưa chú ý tới chất lượng và hiệu quả thiết thực. Những quan điểm chỉ đạo việc xây dựng và phát triển nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc là những quan điểm rất đúng đắn và xuất hiện sớm từ Hội nghị Ban chấp hành Trung ương lần thứ tư, khóa VII (1993), được khẳng định lại nhiều lần trong các Nghị quyết sau này của Đảng nhưng khi triển khai thì còn nhiều bất cập. Việc xây dựng và phát triển văn hóa mới tiến hành chủ yếu trong lĩnh vực hoạt động văn hóa, chưa tác động sâu rộng và gắn bó chặt chẽ với kinh tế và chính trị. Các hoạt động kinh tế, nhất là của khu vực ngoài nhà nước và các lĩnh vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài thường ít hoặc chưa quan tâm đúng mức tới vai trò của văn hóa trong phát triển. Nhiều chương trình, dự án phát triển kinh tế còn nặng về tìm lợi ích kinh tế, coi nhẹ nhân tố văn hóa và môi trường. Trong quy hoạch các khu công nghiệp, các khu chế xuất, những công trình về nhà ở cho người lao động và các thiết chế văn hóa - xã hội phục vụ nhu cầu của công nhân khu công nghiệp chưa được đầu tư thỏa đáng. Sự phối hợp giữa các lĩnh vực kinh tế và văn hóa còn diễn ra chậm và mang tính hình thức. Nhiều vấn đề xã hội nổi lên như giải quyết việc làm, xóa đói giảm nghèo, an sinh xã hội, tai nạn giao thông, tệ nạn xã hội còn chậm chưa được giải quyết.

Thứ hai, là những thành tựu và tiến bộ đạt được trong lĩnh vực phát triển văn hóa, xã hội và xây dựng con người chưa tương xứng với tốc độ phát triển kinh tế và chưa vững chắc, chưa tác động có hiệu quả đối với các lĩnh vực của đời sống xã hội, đặc biệt là lĩnh vực tư tưởng, đạo đức, lối sống. Sự suy thoái về phẩm chất, đạo đức, lối sống tiếp tục diễn biến phức tạp, có một số mặt nghiêm trọng hơn, gây tổn hại không nhỏ đến uy tín của Đảng và Nhà nước, niềm tin của nhân dân. Công tác xây dựng môi trường văn hóa trong Đảng, trong các cơ quan Nhà nước, các đoàn thể chính trị - xã hội còn hạn chế. Tình trạng quan liêu, tham nhũng và suy thoái lối sống, đạo đức trong một bộ phận cán bộ, đảng viên kể cả những người có chức, có quyền chưa được ngăn chặn. Nhiệm vụ xây dựng con người trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa chưa có sự chuyển biến rõ rệt. Môi trường văn hóa còn bị ô nhiễm bởi các tệ nạn xã hội và sự lan tràn các dịch vụ và sản phẩm văn hóa mê tín, dị đoan, thấp kém, lai căng, độc hại. Còn thiếu những tác phẩm văn hóa, văn học nghệ thuật có giá trị cao về tư tưởng và nghệ thuật, có tác động tích cực và sâu sắc đối với việc giáo dục con người. Trong lĩnh vực lý luận - phê bình và sáng tác, còn có những biểu hiện lúng túng, hữu khuynh trong đấu tranh giữa các khuynh hướng tư tưởng trước những tác động phức tạp của quá trình hội nhập kinh tế quốc tế và mở rộng giao lưu văn hóa. Xu hướng “thương mại hóa” chạy theo thị hiếu thấp kém trong một bộ phận báo chí, xuất bản, trong hoạt động văn hóa nghệ thuật chưa được ngăn chặn có hiệu quả.

Thứ ba là tình trạng phân hóa trong hưởng thụ văn hóa giữa các vùng, các miền, các tầng lớp xã hội gia tăng. Tình trạng nghèo nàn, lạc hậu về đời sống văn hóa tinh thần ở nhiều vùng nông thôn, miền núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và vùng căn cứ cách mạng trước đây vẫn chưa được khắc phục.

Thứ tư là việc xây dựng và hoàn thiện thể chế văn hóa, hệ thống văn bản quy phạm pháp luật và các chính sách trên lĩnh vực văn hóa, đặc biệt là mối quan hệ giữa kinh tế và văn hóa, giữa văn hóa và công tác xây dựng Đảng, củng cố hệ thống chính trị còn chậm và thiếu đồng bộ, làm hạn chế tác động của văn hóa đối với sự phát triển đất nước.

Đại hội XI của Đảng (2011) đã nhấn mạnh một số yếu kém trong lĩnh vực phát triển văn hóa và xây dựng con người là:

1. Chất lượng giáo dục và đào tạo chưa đáp ứng yêu cầu phát triển, nhất là đào tạo nguồn nhân lực trình độ cao còn hạn chế. Chưa chuyển mạnh sang đào tạo theo nhu cầu xã hội.

- Chưa giải quyết tốt mối quan hệ giữa tăng số lượng, quy mô với nâng cao chất lượng giữa dạy chữ và dạy người.

- Chương trình, nội dung dạy, phương pháp lạc hậu.

- Quản lý giáo dục còn bất cập.

- Xu hướng thương mại hóa và sa sút đạo đức trong giáo dục khắc phục còn chậm.

2. Kết quả xóa đói giảm nghèo chưa thật vững chắc, nguy cơ tái nghèo còn lớn. Khoảng cách chênh lệch về thu nhập, mức sống giữa các tầng lớp nhân dân, giữa các vùng có xu hướng gia tăng. Nhu cầu về việc làm ở thành thị và nông thôn chưa được đáp ứng.

3. Công tác bảo vệ, chăm sóc sức khỏe nhân dân còn nhiều bất cập. Hệ thống y tế chậm đổi mới. Chất lượng dịch vụ y tế thấp. Điều kiện chăm sóc y tế cho những người nghèo, vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc thiểu số còn nhiều hạn chế.

4. Lĩnh vực văn hóa còn nhiều vấn đề bức xúc, chậm được giải quyết. Đặc biệt là việc xây dựng nếp sống văn hóa chưa được coi trọng đúng mức. Tình trạng suy thoái, xuống cấp về đạo đức, lối sống, sự gia tăng tệ nạn xã hội và tội phạm đáng lo ngại, nhất là trong lớp trẻ. Quản lý nhà nước về văn hóa còn nhiều sơ hở, yếu kém. Đấu tranh ngăn ngừa văn hóa phẩm độc hại chưa được chú ý đầy đủ, còn nhiều khuyết điểm, bất cập.

5. Tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí vẫn nghiêm trọng. Tội phạm và một số tệ nạn xã hội có chiều hướng gia tăng. Tai nạn giao thông gây nhiều thiệt hại về người và của cho nhân dân chưa được khắc phục…

Những khuyết điểm, yếu kém nói trên có nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan, nhưng cần chú ý nhấn mạnh một số nguyên nhân chủ quan là:

1. Nhận thức trong Đảng từ Trung ương đến cấp ủy các cấp về vai trò đặc biệt của việc xây dựng con người và phát triển văn hóa chưa thật đầy đủ, nhất là trong thời kỳ phát triển kinh tế thị trường, hội nhập kinh tế quốc tế. Nhiệm vụ trung tâm mà Đảng và Nhà nước đặt ra hiện nay là xây dựng và phát triển kinh tế nhằm mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ và văn minh. Các vấn đề văn hóa, xã hội và xây dựng con người văn hóa không phải là yếu tố đứng ngoài kinh tế, là kết quả thụ động của kinh tế, mà nó vừa là mục tiêu, là động lực để phát triển kinh tế - xã hội. Như vậy, bên cạnh việc phát huy vai trò của văn hóa trong việc thực hiện các nhiệm vụ chính trị - xã hội, đáp ứng nhu cầu tinh thần ngày càng cao của nhân dân, chúng ta cần phát huy vai trò của văn hóa xã hội như động lực và nguồn lực để phát triển kinh tế - xã hội. Muốn làm giàu bằng văn hóa và vì văn hóa, cần phải thay đổi tư duy đầu tư cho văn hóa, xã hội và phát triển con người như đầu tư cho các công trình kinh tế - kỹ thuật trọng điểm, khắc phục quan điểm đầu tư chỉ nhằm “chống xuống cấp”, để “bảo vệ” chứ chưa chú trọng đầu tư để khai thác các nguồn lực văn hóa, xã hội và con người cho phát triển. Đặc biệt là sự gắn kết giữa văn hóa và du lịch, phát triển các ngành công nghiệp văn hóa còn yếu. Đây là những lĩnh vực đòi hỏi phải có sự tập trung cao độ nguồn lực để có thể phát triển và cạnh tranh khu vực và quốc tế trong hội nhập quốc tế, góp phần quan trọng vào phát triển kinh tế và giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc. Mặt khác, sự vận dụng các quan hệ thị trường vào trong công tác lãnh đạo và quản lý văn hóa, xã hội còn yếu, tư tưởng bao cấp chậm được khắc phục. Việc thực hiện chủ trương xã hội hóa chưa đồng bộ và chưa thống nhất dẫn đến tình trạng hoặc là ỷ lại cho dân tự lo, coi nhẹ vai trò của Nhà nước, hoặc là biến chủ trương “xã hội hóa” thành “tư nhân hóa”, coi nhẹ các phúc lợi xã hội và công bằng xã hội. Việc chuyển các hoạt động văn hóa, giáo dục, y tế, thể thao sang dịch vụ công còn lúng túng. Nhận thức về xây dựng và phát triển con người còn mang tính chủ quan. Những tiêu chuẩn về xây dựng con người còn xa thực tế, khó thực hiện trong thực tiễn.

Việc xây dựng các thiết chế văn hóa, xã hội còn mang tính áp đặt, chưa chú ý đến vai trò chủ thể của cộng đồng trong việc tiếp nhận và sử dụng các thiết chế này. Mặc dù chỉ tiêu hưởng thụ văn hóa của người dân trong những năm đổi mới vừa qua tăng lên gấp nhiều lần so với trước đây nhưng tính sáng tạo văn hóa của nhân dân bị hạn chế do sự áp đặt của “văn hóa đại chúng”. Trong lĩnh vực sáng tác văn học nghệ thuật và lý luận phê bình còn ít những tác phẩm đỉnh cao. Việc gắn kết giữa lĩnh vực văn hóa và xây dựng con người với kinh tế và chính trị còn lỏng, thậm chí còn có xu hướng tách biệt. Các quan điểm chỉ đạo, phương hướng, nhiệm vụ của việc xây dựng con người và phát triển văn hóa được xác định trong các Nghị quyết của Đảng chưa được quán triệt và thực hiện nghiêm túc. Việc tổ chức thực hiện còn thiếu tập trung, chưa đồng bộ, chưa kiên quyết.

2. Nhiệm vụ xây dựng văn hóa trong Đảng, bộ máy nhà nước chưa được triển khai tích cực, có nơi còn bị xem nhẹ, không ít cán bộ, đảng viên chưa nêu được tấm gương văn hóa cho quần chúng.

3. Trong tổ chức thực hiện, năng lực và tầm lãnh đạo xây dựng con người và phát triển văn hóa của các cấp ủy, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc, đoàn thể còn nhiều hạn chế. Sự phối hợp giữa cán bộ, ban, ngành và đoàn thể trong việc xây dựng con người và phát triển văn hóa, xã hội còn yếu, trách nhiệm chưa rõ ràng. Chậm thể chế hóa những quan điểm, chủ trương lớn của Đảng thành luật pháp, còn bị động trước những khuynh hướng mới xuất hiện và một số biến đổi trên lĩnh vực văn hóa. Chưa có kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng tài năng, nâng cao năng lực của những người hoạt động, sáng tạo văn hóa; coi nhẹ cuộc đấu tranh trên lĩnh vực lý luận, phê bình văn học - nghệ thuật. Chưa xây dựng được cơ chế chính sách và giải pháp phù hợp để phát triển văn hóa trong cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.

4. Trong một bộ phận đội ngũ trí thức, văn nghệ sĩ, những người hoạt động trên lĩnh vực văn hóa, giáo dục, y tế, thể thao, thông tin, báo chí và xuất bản có những biểu hiện xa rời đời sống, lúng túng trong định hướng sáng tạo và hoạt động nghiệp vụ, chạy theo chủ nghĩa thực dụng, chiều theo thị hiếu thấp kém đã tạo ra một số sản phẩm văn hóa chất lượng thấp, thậm chí sai trái.

2. Một số giải pháp chủ yếu để góp phần nâng cao chất lượng và hiệu quả của phát triển văn hóa, xã hội và con người trong thời gian tới

2.1. Giải pháp quan trọng hàng đầu là nâng cao năng lực, hiệu quả lãnh đạo, chỉ đạo của tổ chức Đảng và cấp ủy các cấp đối với lĩnh vực xây dựng con người và phát triển văn hóa, xã hội. Cần phải đổi mới tư duy và phương thức lãnh đạo của Đảng đối với việc xây dựng con người và phát triển văn hóa, xã hội trên cơ sở phát huy tính chủ động sáng tạo của Nhà nước trong việc thể chế hóa đường lối, quan điểm của Đảng, đổi mới công tác quản lý của các cơ quan giáo dục đào tạo, văn hóa, xã hội, y tế, thể thao nhằm tạo ra hợp lực chung của tất cả các ngành, các cấp, của cả xã hội trong việc thực hiện chiến lược xây dựng con người và phát triển văn hóa. Xây dựng cơ chế phối hợp và chia sẻ trách nhiệm giữa các lĩnh vực chính trị, kinh tế và văn hóa để nâng cao chất lượng và hiệu của việc xây dựng con người, phát triển văn hóa trong mọi lĩnh vực cải cách hành chính, đẩy mạnh sản xuất, kinh doanh và dịch vụ xã hội. Để đảm bảo sự gắn kết chặt chẽ giữa ba lĩnh vực: phát triển kinh tế là trọng tâm, xây dựng Đảng là then chốt, văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, cần có cơ chế phối hợp chung giữa các lĩnh vực này. Ở đây, cần có sự chỉ đạo kiên quyết của Đảng và Nhà nước mới có thể tạo ra sự phối hợp và đồng thuận này.

2.2. Đội ngũ tri thức (văn nghệ sĩ, nhà báo, nhà giáo, đội ngũ y bác sĩ…) là trụ cột trong chiến lược xây dựng con người và phát triển văn hóa của đất nước. Vì vậy Đảng và Nhà nước sớm xây dựng chính sách đối với trí thức trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập kinh tế quốc tế. Đồng thời cần chăm lo xây dựng đội ngũ trí thức, có quy hoạch và kế hoạch chăm sóc, bồi dưỡng tài năng trong các lĩnh vực văn hóa, giáo dục, y tế, thể dục, thể thao, giữ vững định hướng chính trị và phát huy dân chủ, đề cao ý thức trách nhiệm của họ trước nhân dân, trước dân tộc và chủ nghĩa xã hội.

2.3. Phát huy tính năng động, sáng tạo của các cơ quan Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân, các hội sáng tạo văn học - nghệ thuật, khoa học kỹ thuật, thông tin báo chí, các tổ chức kinh tế- xã hội, tạo nên sức mạnh tổng hợp của toàn thể xã hội nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả của vấn đề xây dựng con người và phát triển văn hóa, xã hội. Xây dựng cơ chế, chính sách, chế tài ổn định đáp ứng yêu cầu xã hội hóa các hoạt động văn hóa, giáo dục, y tế, thể dục thể thao nhằm huy động mọi nguồn lực trong nước và quốc tế tham gia vào sự nghiệp xây dựng con người và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc.

2.4. Tập trung xây dựng môi trường văn hóa, lối sống và đời sống văn hóa của mọi người dân ở cơ sở, phát huy tính tự nguyện, tính tự quản và năng lực làm chủ của nhân dân. Khuyến khích sự sáng tạo văn hóa, văn học nghệ thuật, tạo ra những công trình khoa học và nghệ thuật có giá trị cao. Xây dựng và nâng cấp đồng bộ hệ thống thiết chế văn hóa, giáo dục, y tế, thể thao ở cơ sở. Chú trọng các công trình văn hóa, giáo dục, y tế, thể thao mang tầm vóc quốc gia cập nhật với trình độ của khu vực và thế giới.

2.5. Đẩy mạnh công tác xóa đói, giảm nghèo cả về kinh tế, văn hóa, giáo dục, y tế, nhất là các vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc thiểu số. Chú trọng xây dựng hoàn thiện các thiết chế văn hóa - xã hội ở những khu vực này. Tăng cường đầu tư các thiết chế văn hóa- xã hội ở những khu công nghiệp, khu chế xuất tập trung đông công nhân lao động. Thực hiện các chính sách xã hội đối với người lao động và các đối tượng chính sách. Chú ý giảm sự phân hóa giàu nghèo, nâng cao chất lượng dân số, khai thác và bảo vệ tốt nguồn tài nguyên thiên nhiên, chăm lo bảo vệ môi trường sinh thái.

2.6. Kiên quyết đấu tranh loại trừ các tiêu cực xã hội và các tệ nạn xã hội trong các lĩnh vực giáo dục, y tế, văn hóa, thể thao. Bài trừ tệ nạn, mê tín, dị đoan, ma túy, mại dâm và các loại tội phạm khác. Khắc phục tình trạng tai nạn giao thông trầm trọng hiện nay. Giữ vững an ninh, trật tự an toàn xã hội, đập tan âm mưu “diễn biến hòa bình” của các thế lực phản động trong nước và quốc tế.

 

KẾT LUẬN

Trong quá trình lãnh đạo nhân dân tiến hành sự nghiệp đổi mới đất nước, Đảng ta đã “nhận thức ngày càng sâu sắc rằng xã hội, văn hóa là những lĩnh vực thể hiện rõ nhất bản chất của chế độ xã hội chủ nghĩa. Trong những năm tới, cần đưa việc giải quyết các vấn đề xã hội và phát triển văn hóa lên nhanh hơn nữa, tương xứng với nhịp độ phát triển kinh tế”1. Chiến lược xây dựng con người và phát triển văn hóa, xã hội chính là một mục tiêu, một động lực quan trọng của sự nghiệp đổi mới, đồng thời thể hiện bản chất ưu việt của chế độ xã hội chủ nghĩa khi Việt Nam bước vào phát triển kinh tế thị trường và hội nhập kinh tế quốc tế. Đường lối xây dựng con người và phát triển văn hóa, xã hội hoàn toàn đúng đắn của Đảng ta trong thời kỳ đổi mới vừa qua đã góp phần quan trọng vào việc củng cố hệ thống chính trị, phát triển kinh tế, đáp ứng nhu cầu văn hóa tinh thần ngày càng cao của nhân dân, góp phần vào sự phát triển bền vững của đất nước. Đường lối này chính là kết quả của sự vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh vào hoàn cảnh lịch sử cụ thể của đất nước ta. Những đóng góp sáng tạo của Đảng về lý luận xây dựng con người, phát triển văn hóa là một bộ phận quan trọng hợp thành lý luận đổi mới của Đảng.

Việc tổ chức và triển khai những quan điểm những nhiệm vụ về xây dựng con người và phát triển văn hóa trong 25 năm đổi mới vừa qua đã tạo nên sự chuyển biến tích cực trong đời sống văn hóa của đất nước. Những thành tựu và đóng góp về lý luận và chỉ đạo thực tiễn của Đảng trên lĩnh vực này đã góp phần phát huy mạnh mẽ vai trò to lớn của văn hóa và con người trong sự nghiệp đổi mới.

Sự nghiệp đổi mới trong thời kỳ toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế dưới sự tác động mạnh mẽ của cuộc cách mạng khoa học công nghệ hiện đại cũng đem đến cả thời cơ và thách thức mới cho việc xây dựng con người đảm bảo tiến bộ xã hội và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. Trong quá trình này, việc tiếp tục bổ sung, hoàn thiện đường lối, chính sách xây dựng con người và phát triển văn hóa, xã hội là một yêu cầu khách quan. Mặt khác, việc tổ chức và triển khai nghiêm túc những quan điểm chỉ đạo, những nhiệm vụ quan trọng trong chiến lược xây dựng con người và phát triển văn hóa và thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội là nhân tố có ý nghĩa quyết định để biến tư tưởng của Đảng thành hiện thực.

Trong quá trình này, chúng ta cần phát huy những thành tựu đã đạt được, khắc phục những khuyết điểm và yếu kém của thời kỳ vừa qua, tranh thủ thời cơ, quyết tâm thực hiện đồng bộ và toàn diện các giải pháp cấp bách nêu trên để giành những thành tựu mới, tạo nên sự phát triển về chất để khẳng định sức mạnh mới của con người và văn hóa Việt Nam trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa hội nhập kinh tế quốc tế.

Tài liệu tham khảo:

1. Đảng Cộng sản Việt Nam. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb CTQG, HN. 2006, tr.101-108, tr.172-174, tr. 212-223.

2. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb CTQG, HN, 2011

3. Đảng Cộng sản Việt Nam. Văn kiện Hội nghị lần thứ năm, BCH Trung ương khóa VIII, Nxb CTQG, HN.1998.

4. Đảng Cộng sản Việt Nam. Kết luận Hội nghị lần thứ mười, Ban Chấp hành Trung ương Đảng (Khóa IX) Về Tiếp tục thực hiện Nghị quyết Trung ương 5 (Khóa VIII) về “Xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc trong những năm sắp tới”.

5. Phạm Minh Hạc - Nguyễn Khoa Điềm (Chủ biên). Về phát triển văn hóa và xây dựng con người trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa, Nxb CTQG, HN.2003.

6. Phạm Duy Đức (Chủ biên): Phát triển văn hóa Việt Nam giai đoạn 2011-2020. Xu hướng và giải pháp. Nxb CTQG, HN, 2011.

 

Câu hỏi thi vấn đáp

 

Vì sao Đảng ta đã khẳng định: Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu, vừa là động lực thúc đẩy kinh tế xã hội phát triển .

Đồng chí hãy phân tích những nhiệm vụ cơ bản để xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc.

Đồng chí hãy phân tích vai trò của việc xây dựng con người và môi trường văn hóa hiện nay.

Đồng chí hãy phân tích vai trò của văn hóa đối với quá trình phát triển kinh tế - xã hội hiện nay ở nước ta.

  1.  
  2.  
  3.  
  4.  

1 Đảng Cộng sản Việt Nam. Văn kiện Hội nghị lần thứ năm khóa VIII, Nxb CTQG, H.1998, tr.54-55.

1 Đảng Cộng sản Việt Nam. Văn kiện Đại hội XI, Sđ d, tr.76.

2 Đảng Cộng sản Việt Nam. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb CTQG, H.2006, tr.106.

1 Văn kiện Hội nghị Trung ương 5 khóa VIII, Sđd, tr.56.

1 Đảng Cộng sản Việt Nam, Kết luận Hội nghị lần thứ mười Ban chấp hành Trung ương Đảng (khóa IX). Về tiếp tục thực hiện Nghị quyết Trung ương 5 (khóa VIII) về “xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc” trong những năm sắp tới.

2 Đảng Cộng sản Việt Nam, Kết luận Hội nghị lần thứ mười Ban chấp hành Trung ương Đảng (khóa IX). Về tiếp tục thực hiện Nghị quyết Trung ương 5 (khóa VIII) về “xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc” trong những năm sắp tới.

1 Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb CTQG, Hà Nội, 2006, tr.107.

2 Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb CTQG, Hà Nội, 2006, tr.213.

1 Hồ Chí Minh, Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1996, tập 12, tr.310.

2 Hồ Chí Minh, Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1996, tập 9, tr.222.

3 Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1987, tr.89.

4 Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1987, tr.47.

5 Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1991, tr.73.

1 Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1991, tr.81.

1 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội XI, Sđ d, tr.76.

1 Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Nxb Sự thật, Hà Nội, tr.59.

2 Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2006, tr.106.

1 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội XI, Sđd, tr.223.

1 Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Sđd , tr.155.

2 Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Sđd , tr.154.

1 Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Sđd, tr.32.

 

24