DMCA.com Protection Status

Tài liệu bồi dưỡng, tập huấn cán bộ hội khuyến học cơ sở năm 2012   quan tâm

Được đăng bởi: Trần Việt Thao

Cập nhật lúc 15:41 ngày 10/01/2018


Tài liệu bồi dưỡng, tập huấn cán bộ hội khuyến học cơ sở năm 2012 

( Nguồn: http://tuyengiao.haiduong.org.vn/giaoduclyluanchinhtri/tailieubaigiang/Pages/Tailieuboiduong,taphuancanbohoikhuyenhoccosonam2012.aspx


 

Bài 1

NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN

CỦA HỘI KHUYẾN HỌC VIỆT NAM



I. QUAN ĐIỂM CỦA ĐẢNG VÀ NHÀ NƯỚC VỀ CÔNG TÁC KHUYẾN HỌC, KHUYẾN TÀI, XÂY DỰNG XÃ HỘI HỌC TẬP.

Trong suốt quá trình xây dựng và phát triển, Hội Khuyến học Việt Nam luôn nhận được sự quan tâm, lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng, Nhà nước bằng các Chỉ thị, Nghị quyết, Quyết định.

1. Các Chỉ thị, Quyết định của Trung ương

- Chỉ thị số 50/CT - TW ngày 24/8/1999 của Bộ Chính trị, Ban chấp hành Trung ương Đảng (khoá VIII) về "Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với Hội Khuyến học Việt Nam nhằm xã hội hoá giáo dục, phát huy truyền thống hiếu học của dân tộc, xây dựng các gia đình hiếu học, dòng họ hiếu học, các trung tâm học tập cộng đồng, phát huy các quỹ khuyến học để động viên tinh thần học tập, ý chí quyết tâm vượt khó vươn lên trong học tập ở từng gia đình, trong cộng đồng dân cư và tất cả tạo nên một xã hội học tập".

- Chỉ thị số 11 CT/TW của Bộ chính trị ngày 13/4/2007 về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác khuyến học, khuyến tài, xây dựng xã hội học tập.

- Chỉ thị số 02/2008 CT - TTg ngày 8/ 01/2008 của Thủ tướng Chính phủ về: "Đẩy mạnh phong trào khuyến học, khuyến tài xây dựng xã hội học tập".

- Quyết định số 112/2005 QĐ - TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 18/5/2005 về việc phê duyệt đề án "Xây dựng xã hội học tập giai đoạn 2005 - 2010”

- Quyết định 68/2010 QĐ - TTg ngày 01/11/2010 của Thủ tướng Chính phủ về việc quy định Hội có tính chất đặc thù trong phạm vi cả nước.

- Quyết định số 1271/2005 ngày 16 - 9 - 2005 của Thủ tướng Chính phủ về Quyết định ngày Khuyến học Việt Nam (2/10 hàng năm)

- Quyết định số 30/2011 QĐ - TTg ngày 01/6/2011 của Thủ tướng Chính phủ về chế độ thù lao đối với người đã nghỉ hưu giữ chức danh lãnh đạo chuyên trách tại các Hội.

- Quyết định số 71/2011 QĐ - TTg của Thủ tướng Chính phủ về bảo đảm, hỗ trợ kinh phí từ ngân sách nhà nước đối với Hội có tính chất đặc thù.

2. Các Chỉ thị, Quyết định của Tỉnh uỷ, Uỷ Ban nhân dân tỉnh

- Chỉ thị số 27- CT/TU của Ban Thường vụ Tỉnh uỷ ngày 24/5/2000 về việc thành lập Hội Khuyến học.

- Quyết định số 1126A/QĐ - UB của Uỷ ban nhân tỉnh ngày 01/6/2000 về việc cho phép thành lập Hội Khuyến học tỉnh, cấp huyện và cơ sở.

- Chỉ thị số 10/CT - TU của Ban Thường vụ Tỉnh uỷ ngày 22/10/2001 về "Phát huy sức mạnh toàn dân, xây dựng xã hội học tập từ cơ sở"

- Chỉ thị số 31/CT - TU của Ban Thường vụ Tỉnh uỷ ngày 2/5/2003 về việc: "Tiếp tục đẩy mạnh việc thực hiện Chỉ thị 50/CT - TW của Bộ chính trị (khoá VIII) về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác khuyến học, khuyến tài, xây dựng xã hội học tập".

- Quyết định số 195/QĐ - UB của Uỷ ban nhân dân tỉnh ngày 15/01/2006 về phê duyệt Đề án đẩy mạnh xã hội hoá giáo dục và xây dựng xã hội học tập tỉnh Hải Dương giai đoạn 2006 - 2010

- Quyết định số 506 QĐ - UB của UBND tỉnh ngày 24 /2/2011 về quy định Hội có tính chất đặc thù trên phạm vi toàn tỉnh.

Thông qua các văn bản trên, Đảng, Nhà nước đã xác định rõ quan điểm cơ bản đối với công tác khuyến học, khuyến tài, xây dựng xã hội học tập và vai trò nòng cốt của Hội Khuyến học Việt Nam và các cấp Hội là:

2.1 Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục trong Đảng và nhân dân với nhiều hình thức phong phú, để nhận thức rõ về sự cần thiết, tầm quan trọng của việc xây dựng xã hội học tập ở nước ta hiện nay; xác định xây dựng xã hội học tập là nhiệm vụ của toàn Đảng, toàn dân, là mục tiêu cơ bản trong chiến lược trấn hưng và phát triển giáo dục của nước ta.

2.2 Cụ thể hoá mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp, xây dựng xã hội học tập trong phạm vi từng địa phương, đơn vị. Trước mắt rà soát, bổ sung nội dung kế hoạch thực hiện mục tiêu, nhiệm vụ " Đề án xây dựng xã hội học tập giai đoạn 2005 - 2010 mà Chính phủ đã ban hành. Thường xuyên theo dõi, đôn đốc, kiểm tra, chỉ đạo, giải quyết kịp thời các khó khăn, vướng mắc trong quá trình thực hiện.

2.3 Mở rộng và nâng cao chất lượng phong trào khuyến học, khuyến tài góp phần hỗ trợ các sở Giáo dục & Đào tạo trong giảng dạy và học tập, xây dựng gia đình hiếu học, cộng đồng, dòng họ, cơ quan, doanh nghiệp, đơn vị khuyến học, tiếp tục đẩy mạnh xây dựng các trung tâm học tập cộng đồng ở xã, phường, thị trấn, phát triển nhiều loại hình học tập đa dạng, phong phú với điều kiện, nhu cầu học tập của cán bộ, nhân dân từng địa phương, đơn vị.

- Chú trọng và kịp thời phát hiện, có chính sách cụ thể để bồi dưỡng nhân tài, nhất là tài năng trẻ trên các lĩnh vực.

- Vận động nhân dân tích cực học tập nâng cao dân trí, nghề nghiệp chuyên môn gắn phát triển phong trào khuyến học, khuyến tài với xây dựng môi trường giáo dục lành mạnh, học đi đôi với hành, với phong trào làm kinh tế giỏi, xoá đói, giảm nghèo và xây dựng đời sống văn hoá ở cơ sở.

Chỉ đạo nghiên cứu, tổng kết, rút kinh nghiệm và có hình thức khen thưởng. Tuyên dương, nhân rộng các mô hình hay, hiệu quả trong việc triển khai, thực hiện phong trào khuyến học, khuyến tài, xây dựng xã hội học tập ở các địa phương, đơn vị.

2.4 Củng cố, xây dựng Hội Khuyến học các cấp vững mạnh, làm nòng cốt trong việc liên kết, phối hợp với các tổ chức, lực lượng xã hội, tham gia hoạt động khuyến học, khuyến tài, xây dựng xã hội học tập, các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội nghề nghiệp, các cơ quan đơn vị lực lượng vũ trang, doanh nghiệp tích cực chủ động tổ chức hoạt động khuyến học, khuyến tài, xây dựng xã hội học tập theo tinh thần xã hội hoá giáo dục.

II. QUÁ TRÌNH XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN CỦA HỘI KHUYẾN HỌC VIỆT NAM

Kể từ ngày thành lập đến nay, Hội Khuyến học Việt Nam đã phát triển không ngừng, trở thành một tổ chức xã hội có quy mô hoạt động rộng khắp cả nước. Sự phát triển và hoạt động trong 15 năm qua có thể chia thành 4 giai đoạn:

1. Giai đoạn thứ nhất (10/1996 - 6/1999)

Đây là giai đoạn thực hiện 3 mục tiêu cơ bản do Đại hội đại biểu Hội Khyuyến học toàn quốc lần thứ I đề ra:

- Khuyến khích và tạo điều kiện cho mọi người Việt nam, không phân biệt tuổi tác, giàu nghèo, dân tộc, tôn giáo, thành phần xã hội, đơn vị công tác… có quyền lợi bình đẳng và công bằng trong học tập để không ngừng nâng cao kiến thức, học vấn, tay nghề;

- Hỗ trợ cho nhà giáo và các cơ sở đào tạo sư phạm những điều kiện cần thiết để ổn định cuộc sống, yên tâm công tác, không ngừng trau dồi kiến thức chuyên môn và đạo đức nhà giáo.

- Tư vấn cho các cấp uỷ Đảng và chính quyền cùng các cơ quan chức năng của nhà nước về việc phát triển giáo dục.

Trong giai đoạn này có những sự kiện lớn:

- Ngày 14/11/1996, Điều lệ Hội Khuyến học Việt Nam được nhà nước công nhận (tại văn bản số 216/TCCP/TC) và ngày 03/02/1997, Hội trở thành thành viên chính thức của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam (tại văn bản số 03/TB/MTTQ).

- Ngay sau Đại hội lần thứ I, Trung ương Hội đã lập văn phòng Trung ương Hội và một số Ban chức năng để nhanh chóng tiến hành những hoạt động đối nội, đối ngoại, xây dựng mối quan hệ với các tổ chức Chính phủ và phi Chính phủ trong nước, tạo mối liên hệ với một số tổ chức quốc tế đang hoạt động ở Việt Nam;

- Tiếp nhận từ đồng chí Đỗ Mười, nguyên Tổng Bí thư Trung ương Đảng, thay mặt Ban Bí thư tặng số tiền 1 tỷ đồng làm nguồn vốn ban đầu cho Quỹ khuyến học sau này. (Ngày 27/7/1997, lần đầu tiên Hội đã tổ chức việc tặng thưởng cho 50 nhà giáo là thương binh và trợ giúp cho hàng trăm học sinh vùng bị thiên tai tại các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long).

- Tháng 10/1998, tại Nam Định, Trung ương Hội đã tổ chức Hội nghị biểu dương những điển hình tiên tiến trong phong trào khuyến học. Đây là mốc đầu tiên đánh dấu sự phát triển của phong trào khuyến học, khuyến tài trong cả nước.

Trong quá trình triển khai 3 mục tiêu của công tác vận động khuyến học, toàn Hội đã quán triệt tư tưởng giáo dục trong Nghị quyết 07 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khoá VII) về tiếp tục đổi mới sự nghiệp giáo dục, huy động toàn dân làm giáo dục, động viên các tầng lớp nhân dân xây dựng nền giáo dục quốc dân dưới sự quản lý của Nhà nước và Nghị quyết 02 Ban chấp hành Trung ương Đảng (khóa VIII) về phát triển giáo dục thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Hội đã tiến hành công tác vận động nhân dân tham gia học tập và phát triển giáo dục theo tinh thần xã hội hoá.

Khi thành lập Hội, tổ chức của Hội mới chỉ có mặt ở 21 tỉnh, thành. Số hội viên chưa quá 100.000. Đến cuối giai đoạn thứ nhất, tổ chức của Hội đã có mặt ở 28 tỉnh, thành với khoảng 500.000 hội viên.

2. Giai đoạn thứ hai (7/1999 - 12 /2005)

Ngày 16/6/1999, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ II Hội Khuyến học Việt Nam đã được tiến hành tại Hà Nội. Đại hội đã thông qua Nghị quyết, trong đó có ba vấn đề lớn mang tính chiến lược là:

- Mở rộng hệ thống tổ chức của Hội trên các địa bàn trong cả nước, chú trọng phát triển các tổ chức Hội ở cơ sở.

- Phát huy truyền thống hiếu học của dân tộc thông qua phong trào thi đua xây dựng gia đình hiếu học, dòng họ khuyến học, xây dựng trung tâm học tập cộng đồng và quỹ khuyến học ở các cấp Hội.

- Đẩy mạnh cuộc vận động toàn dân học tập, toàn dân tham gia phát triển giáo dục, bước đầu tham gia xây dựng xã hội học tập từ cơ sở.

Trong giai đoạn này có những sự kiện khuyến học lớn sau đây:

- Ngày 10/8/1999, Bộ Chính trị ban hành Chỉ thị số 50 - CT/TW về "Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với Hội Khuyến học Việt Nam" đặt vấn đề xây dựng tổ chức Hội ở những địa phương có điều kiện. Sau đó, ngày 15/10/1999,Thủ tướng Chính phủ ra Chỉ thị 29/1999/CT - TTg về "phát huy vai trò của Hội Khuyến học Việt Nam".

- Ngày 9/9/1999, Thủ tướng Chính phủ có Quyết định số 183/1999/QĐ - TTg cho phép thành lập Quỹ khuyến học Việt Nam. Quỹ hoạt động trên nguyên tắc đóng góp tự nguyện của các tổ chức, cá nhân trong nước và nước ngoài vì sự nghiệp giáo dục và đào tạo, vì mục tiêu nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài.

- Ngày 25/10/2000, Đại hội thi đua toàn quốc vì sự nghiệp khuyến học lần thứ nhất đã được tổ chức tại Hà Nội. Đại hội là một mốc son đánh dấu phong trào thi đua khuyến học phát triển rộng khắp trong cả nước.

- Ngày 19 - 20/01/2001 tại Hội nghị lần thứ III, Ban chấp hành trung ương Hội (khoá III) thông qua đề án Hội Khuyến học Việt Nam tham gia xây dựng xã hội học tập từ cơ sở.

Đây là một định hướng quan trọng trong việc triển khai công tác khuyến học trong những năm tiếp theo.

- Tháng 11/2003, Thủ tướng Chính phủ đã giao cho Bộ Giáo dục & Đào tạo phối hợp cùng với Hội Khuyến học Việt Nam chuẩn bị đề án "xây dựng cả nước trở thành một xã hội học tập giai đoạn 2005 - 2010". Sự kiện này đã khẳng định hướng đi của đề án Hội Khuyến học Việt Nam tham gia xây dựng xã hội học tập từ cơ sở là đúng đắn.

- Tháng 6/2004, Hội đã phối hợp với Bộ Giáo dục & Đào tạo tổ chức Hội nghị sơ kết 5 năm xây dựng và phát triển trung tâm học tập cộng đồng.

- Ngày 10 - 11/12/2004, Đại hội biểu dương gia đình hiếu học lần thứ nhất được tổ chức tại Hà Nội, đó là mô hình độc đáo trong cấu trúc xã hội học tập ở cơ sở. Tại Đại hội này hàng chục vạn gia đình trong cả nước đã được nhận danh hiệu "Gia đình hiếu học". Đại hội là một biểu tượng tốt đẹp về truyền thống hiếu học của dân tộc Việt Nam.

- Ngày 18/5/2005, Thủ tướng Chính phủ đã ra quyết định số 112/2005/QĐ - TTg về xây dựng xã hội học tập ở Việt Nam giai đoạn 2005 - 2010. Có thể nói, để đi đến Quyết định này có sự đóng góp rất lớn của Hội nhờ những kết quả rút ra từ đề án Hội Khuyến học Việt Nam góp phần xây dựng xã hội học tập từ cơ sở.

Trong giai đoạn này, Hội đã có sự phát triển vượt bậc. Nếu như kết thúc giai đoạn thứ nhất (1999), tổ chức Hội chỉ mới có mặt ở 28 tỉnh, thành với khoảng 500.000 hội viên, thì kết thúc giai đoạn thứ hai, tổ chức Hội đã có mặt ở 100% các tỉnh, thành; 99,22% các quận, huyện; 94% các xã, phường. Số hội viên đã lên đến gần 3.500 người. Ở giai đoạn đầu chúng ta mới thử nghiệm 15 trung tâm học tập cộng đồng thì ở cuối giai đoạn thứ hai, số trung tâm đã lên tới con số 6.130. Phong trào thi đua khuyến học, khuyến tài đã bắt rễ vào cơ sở, tạo nên một không khí thi đua sôi động, lôi cuốn số lượng lớn người tham gia.

3. Giai đoạn thứ ba (01/2006 - 9/2010)

Ngày 06/12/2006, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III Hội Khuyến học Việt Nam được tổ chức tại Hà Nội. Đại hội rất phấn khởi được đón nhận bức trướng của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam với dòng chữ

"HỘI KHUYẾN HỌC VIỆT NAM

KHUYẾN HỌC KHUYẾN TÀI,

XÂY DỰNG CẢ NƯỚC TRỞ THÀNH MỘT XÃ HỘI HỌC TẬP"

Đồng chí Nguyễn Khoa Điềm, Ủy viên Bộ Chính trị đến dự và phát biểu ý kiến đã khẳng định: "khuyến học khuyến tài là đạo lý của dân tộc ta, còn xây dựng xã hội học tập là nhiệm vụ của toàn Đảng, toàn dân, trong đó Hội Khuyến học Việt Nam đóng vai trò nòng cốt của phong trào khuyến học trong cả nước, có nhiệm vụ chính trị là xây dựng xã hội học tập từ cơ sở xã, phường, thôn bản, thực hiện tốt di huấn của Chủ tịch Hồ Chí Minh là làm cho ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành".

Đại hội đã đề ra sáu nhiệm vụ lớn trong toàn khóa:

- Mở rộng mặt trận khuyến học trên cơ sở phát triển sâu rộng các tổ chức Hội và các phong trào khuyến học đến tận cơ sở.

- Phát triển chiều sâu các phong trào khuyến học, khuyến tài, xây dựng xã hội học tập từ cơ sở.

- Tăng cường chức năng tham mưu, tư vấn, phản biện, giám sát của các cấp Hội đối với các chủ trương, chính sách, đề án phát triển giáo dục.

- Phát triển các hình thức quỹ khuyến học, khuyến tài để hỗ trợ cho việc mở rộng phong trào khuyến học.

- Xây dựng mạng lưới thông tin, tuyên truyền rộng khắp theo hướng hiện đại hóa và đại chúng hóa.

- Đào tạo bồi dưỡng cán bộ Hội các cấp để nâng cao trình độ nhận thức và năng lực hoạt động khuyến học khuyến tài, đáp ứng yêu cầu thực hiện vai trò nòng cốt của Hội trong cuộc vận động xây dựng xã hội học tập từ cơ sở.

Trong giai đoạn thứ 3 này có những sự kiện quan trọng nâng cao nhanh sức mạnh của Hội, đó là:

+ Tổ chức của Hội đã được xây dựng trên 100% tỉnh, thành phố; 100% quận, huyện, thị xã; gần 100% xã, phường, thị trấn.

+ Chỉ thị 11 - CT/TW của Bộ Chính trị là cơ sở chính trị vô cùng quan trọng của việc định hướng phong trào khuyến học, khuyến tài, xây dựng xã hội học tập.

+ Chỉ thị 02/2007/CT - TTg của Thủ tướng Chính phủ về phát triển phong trào khuyến học và xây dựng Hội Khuyến học Việt Nam theo tinh thần Chỉ thị 11/CT - TW của Bộ chính trị.

+ Nhà nước đã quyết định lấy ngày 02/10 hàng năm là Ngày khuyến học Việt Nam

+ Đại hội thi đua khuyến học toàn quốc lần thứ II đã động viên đông đảo các lực lượng xã hội tham gia phong trào khuyến học.

+ Đại hội gia đình hiếu học, dòng họ khuyến học lần thứ II đã phát huy mạnh mẽ truyền thống hiếu học của nhân dân.

+ Cuộc thi "Nhân tài đất Việt" đã đánh dấu 5 năm phát triển trong lĩnh vực nghiên cứu khoa học và công nghệ, suy tôn những tài năng Việt.

+ Đề án "Hội Khuyến học Việt Nam tham gia xây dựng xã hội học tập từ cơ sở" đã khẳng định vai trò của Hội trong cuộc vận động toàn dân xây dựng các mô hình học tập, học tập suốt đời từ cơ sở, xã, phường, thôn, bản (do Thủ tướng Chính phủ giao cho Hội chủ trì).

+ Đề tài cấp Nhà nước "xây dựng mô hình xã hội học tập ở Việt Nam" đã góp phần xây dựng cơ sở lý luận và phương hướng phát triển các mô hình học tập phù hợp với điều kiện Việt Nam.

+ Báo Dân trí điện tử đạt mức truy cập 10.000.000 lượt người/ngày

+ Quỹ khuyến học trong toàn quốc đã trao hơn 10.000.000 xuất học bổng và phần thưởng trị giá trên 10.000 tỷ đồng cho học sinh, sinh viên, giáo viên.

Trong giai đoạn thứ ba này, toàn Hội có trên 7.500.000 hội viên, sinh hoạt trong gần 2.000.000 các chi Hội Khuyến học. Hơn 10.000.000 lượt người tới học tập. Trên 3.500.000 gia đình và 40.000 dòng họ đạt danh hiệu gia đình hiếu học, dòng họ khuyến học. Quỹ khuyến học trong toàn quốc, mỗi năm huy động được trên 700 tỷ đồng. Hằng năm có tới trên 3.000.000 học sinh, sinh viên được nhận học bổng hoặc tiền thưởng từ các loại hình quỹ khuyến học.

4. Giai đoạn từ tháng 9 năm 2010 đến nay:

Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IV của Hội được tổ chức tại Hà Nội ngày 29/9/2010. Đại hội đã đánh giá kết quả hoạt động của nhiệm kỳ III và đề ra phương hướng nhiệm vụ nhiệm kỳ IV (2010 - 2015); bầu Ban chấp hành mới; nghiên cứu sửa đổi Điều lệ Hội.

III. HƯỚNG DẪN THỰC HIỆN ĐIỀU LỆ HỘI KHUYẾN HỌC VIỆT NAM (SỬA ĐỔI)

Điều lệ (sửa đổi) Hội Khuyến học Việt Nam được Đại hội đại biểu toàn quốc Hội Khuyến học Việt Nam lần thứ IV thông qua ngày 29 tháng 9 năm 2010. Bộ Nội vụ đã phê duyệt tại Quyết định số 133/QĐ - BNV ngày 11 tháng 02 năm 2011. Điều lệ gồm 6 chương, 24 điều (Xem văn bản ở cuối cuốn tài liệu này)

Chương 1. Tên gọi, tôn chỉ, mục đích, nhiệm vụ

Chương 2. Hội viên

Chương 3. Tổ chức, hoạt động của Hội

Chương 4. Tài chính, tài sản của Hội

Chương 5. Khen thưởng và kỷ luật

Chương 6. Điều khoản thi hành

Để giúp các cấp Hội, hội viên quán triệt nội dung cơ bản của Điều lệ Hội (sửa đổi) khóa IV và được áp dụng thống nhất từ Trung ương đến các cấp Hội cơ sở, Trung ương Hội hướng dẫn thực hiện một số điểm mới của Điều lệ dưới đây:

1. Những điểm mới của Điều lệ (sửa đổi) 2010 - 2015

1.1. Tính chất của Hội:

Hội được công nhận là một tổ chức xã hội có tính chất đặc thù (Điều 2)

Theo Quyết định 68/QĐ - TTg (01 - 11 - 2010), Hội Huyến học Việt Nam được hưởng các quyền lợi của Nhà nước áp dụng cho hội có tính chất đặc thù như: biên chế, chế độ, chính sách đối với cán bộ làm công tác hội. Do vậy, vào thời điểm lập kế hoạch ngân sách năm tài chính hàng năm các tỉnh, thành Hội phối hợp và tranh thủ sự tư vấn, giúp đỡ của Sở Nội vụ, Sở Tài chính, lập kế hoạch về biên chế, chế độ, chính sách, kinh phí, điều kiện hoạt động của Hội trình UBND tỉnh phê duyệt.

1.2. Phạm vi hoạt động của Hội:

- Theo Quyết định 68/QĐ - TTg của Thủ tướng Chính phủ, Hội Khuyến học Việt Nam là tổ chức xã hội có tính chất đặc thù hoạt động trong phạm vi cả nước.

- Căn cứ Quyết định 68/QĐ - TTg, tỉnh, thành Hội báo cáo UBND ra quyết định xác nhận Hội có tính chất đặc thù hoạt động trong phạm vi địa phương và theo đó, Hội lập kế hoạch đề nghị UBND giao biên chế, hỗ trợ về kinh phí, điều kiện hoạt động.

1.3. Sự quản lý Nhà nước đối với Hội:

- "Hội chịu sự quản lý Nhà nước của Bộ GD & ĐT và các Bộ, Ngành khác có liên quan đến lĩnh vực hoạt động của Hội".

Quy định này, mối quan hệ giữa Hội với các Bộ, Ngành là quan hệ ngang trong việc phối hợp thực hiện nhiệm vụ khuyến học, khuyến tài do Đảng, Nhà nước giao. Các Bộ, Ngành không phải là những cơ quan chỉ đạo, lãnh đạo hoạt động của Hội. Điều này chỉ có nghĩa những hoạt động nào của Hội có liên quan đến lĩnh vực chuyên môn thuộc quản lý của Bộ Giáo dục và Đào tạo hoặc các Bộ, ngành khác… thì phải có sự trao đổi thống nhất hai bên trước khi tổ chức thực hiện, ví dụ:

Theo Điều lệ (khoản 5, Điều 9) các tỉnh, thành Hội được phép thành lập các pháp nhân. Nếu các pháp nhân nội dung hoạt động có chức năng dạy nghề thì phải hiệp thương với Sở Lao động, Thương Binh & Xã hội trước khi ra quyết định thành lập.

Trong quá trình hoạt động của các pháp nhân, cơ quan chức năng của các Bộ, Ngành liên quan có quyền thanh tra việc thực hiện nhiệm vụ thuộc quyền quản lý Nhà nước của các Bộ, Ngành đó và kiến nghị cơ quan chủ quản, cơ quan chức năng xem xét khen thưởng hoặc xử lý những hành vi vi phạm pháp luật của đơn vị.

1.4 Nhiệm vụ của Hội (Điều 4)

So với Điều lệ Hội Khuyến học Việt Nam khóa III, nhiệm vụ của Hội khóa IV bổ sung thêm 4 nhiệm vụ mới (1,5,6,7) 4 nhiệm vụ mới đó là:

- "Làm nòng cốt trong việc liên kết, phối hợp với các tổ chức, các lực lượng xã hội tham gia hoạt động khuyến học, khuyến tài, xây dựng xã hội học tập".

Nhiệm vụ này khẳng định vai trò quan trọng và trách nhiệm lớn của Hội trong việc thực hiện Chỉ thị 11/CT - TW của Bộ Chính trị về khuyến học, khuyến tài, xây dựng xã hội học tập

- "Tổ chức các hoạt động tư vấn, dịch vụ theo quy định pháp luật". Căn cứ quy định này và theo quy định của pháp luật, các tỉnh, thành Hội được mở các Trung tâm tư vấn, dịch vụ, sản xuất… và chủ động đăng ký với chính quyền địa phương và các cơ quan chức năng tương ứng trong tỉnh, thành để được cấp phép hoạt động.

- Trước pháp luật, Hội là "Đại diện bảo vệ quyền lợi và hợp pháp của hội viên"

- "Thực hiện các quyền và nghĩa vụ khác theo quy định của pháp luật", theo Điều 34 của Nghị định 45/NĐ - CP. Hội có 03 quyền.

*Tham gia với Chính quyền, các cơ quan chuyên môn cùng cấp xây dựng các cơ chế, chính sách liên quan trực tiếp đến chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Hội.

* Tham gia thực hiện một số hoạt động quản lý nhà nước, dịch vụ công thuộc lĩnh vực hoạt động của Hội theo quy định của pháp luật;

*Tư vấn phản biện, giám định xã hội đối với chính sách, chương trình, đề tài, dự án các cấp ủy Đảng, chính quyền về các vấn đề thuộc lĩnh vực giáo dục, đào tạo, khuyến học, khuyến tài, xây dựng xã hội học tập.

Để thực hiện được 04 nhiệm vụ mới này các cấp Hội cần tập trung giải quyết những nội dung sau:

- Coi trọng việc củng cố và nâng cao chất lượng tổ chức và hoạt động của Hội, trước mắt làm tốt công tác bồi dưỡng nâng cao năng lực công tác khuyến học cho cán bộ hội các cấp và nâng cao hiệu quả hoạt động của Chi hội.

- Đề xuất những nội dung hoạt động quan trọng, sát thực góp phần tích cực hỗ trợ cấp ủy, chính quyền giải quyết những vấn đề phát triển sự nghiệp giáo dục, đào tạo, khuyến học, khuyến tài của địa phương.

- Lựa chọn được nội dung hoạt động cần thiết, phù hợp với chức năng của Hội và năng lực của hội viên để tư vấn, đề xuất với cấp ủy Đảng, Chính quyền về cơ chế, chính sách liên quan trực tiếp đến lĩnh vực hoạt động của Hội.

Cùng với các quyền, Hội có 03 nghĩa vụ sau:

*Tập hợp, nghiên cứu ý kiến, kiến nghị của các hội viên, các tổ chức Hội cơ sở đóng góp vào các chương trình phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội của địa phương và của đất nước.

*Tập hợp các chuyên gia đầu ngành, các nhà chuyên môn giỏi của các tổ chức có liên quan để thực hiện nhiệm vụ được giao.

* Tham gia xây dựng các văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến lĩnh vực hoạt động của Hội theo quy định của pháp luật;

1.5. Điều kiện gia nhập và thôi tham gia tổ chức Hội

"Xin ra khỏi Hội khi xét thấy không đủ điều kiện tiếp tục tham gia" (Điều 7)

Điều này liên quan đến khoản 2 của Điều 5 Quy định: "Ban Thường vụ Hội quy định cụ thể thủ tục vào ra Hội", theo các Quy định này, các cấp Hội cần quy định các điều kiện gia nhập hội, cho hội viên thôi không tham gia tổ chức Hội và thủ tục công nhận, thôi tham gia tổ chức Hội. Ví dụ:

Điều kiện ra khỏi tổ chức Hội:

- Sức khỏe yếu không thể tiếp tục tham gia các hoạt động của Hội

- Chuyển vùng cư trú

- Vi phạm quy định của pháp luật

- Không tán thành Điều lệ Hội

- Tình nguyện xin ra v.v…

Những hội viên có đơn tự nguyện xin ra khỏi Hội, Chi hội xem xét cho rút khỏi danh sách hội viên.

Những hội viên vi phạm pháp luật, hoặc mắc sai lầm nghiêm trọng ảnh hưởng xấu đến Hội thì Chi hội xét xóa tên trong danh sách hội viên.

Thủ tục kết nạp (công nhận) hội viên mới.

- Những ai tán thành Điều lệ Hội tự nguyện đăng ký với Chi hội cơ sở xin gia nhập Hội, chi Hội sẽ tổ chức công nhận tại các hội nghị của Chi hội.

1.6. Tổ chức Hội (Điều 9)

a. Khoản 4/Điều 9 liên quan đến Điều 16: Văn phòng và các ban chuyên môn. Ngoài ban Kiểm tra do Đại hội bầu, Hội có Văn phòng và các Ban chuyên môn. Theo Điều này, tổ chức bộ máy của Hội phải thể hiện được tính khoa học, nghiêm túc, chặt chẽ và hiệu quả. Việc quản lý, chỉ đạo phải thống nhất của một tổ chức xã hội có tính chất đặc thù.

Văn phòng tỉnh/thành Hội có cơ cấu như sau:

- Văn phòng

- Ban Tổ chức - kiểm tra

- Ban phong trào

- Ban Tuyên truyền

Văn phòng, các Ban chuyên môn/chuyên trách là các đơn vị tham mưu giúp việc Ban Thường vụ, Thường trực Hội và chịu sự lãnh đạo trực tiếp của Chủ tịch hội và hoạt động theo quy chế củ cấp Hội.

Trung ương Hội hiện có và đang thực hiện:

- Điều lệ (sửa đổi) Hội Khuyến học Việt Nam

- Quy chế làm việc của Cơ quan Trung ương Hội (đã ban hành)

- Các quy định về Quản lý, sử dụng nguồn tài chính và chế độ phụ cấp cho cán bộ Cơ quan Trung ương Hội.

Cấp tỉnh/thành Hội cũng phải có các văn bản pháp quy sau:

- Điều lệ (sửa đổi) Hội Khuyến học Việt Nam

- Quy chế Tổ chức và Hoạt động của tỉnh/thành Hội

- Quy chế làm việc của Văn phòng tỉnh/thành Hội

- Các quy định về Quản lý, sử dụng nguồn tài chính được cấp và Quy định nội bộ khác của đơn vị.

b. Khoản 5/Điều 9: Các tỉnh/thành Hội được thành lập các tổ chức có tư cách pháp nhân trực thuộc (với những nhiệm vụ khác nhau như: Tư vấn, giáo dục, đào tạo, dịch vụ, sản xuất kinh doanh… trên cơ sở tuân thủ Tôn chỉ mục đích của Hội và quy định của Luật pháp Nhà nước) để thực hiện các quyền và nghĩa vụ của Hội quy định tại Điều 34 Nghị định 45/NĐ - CP. Việc thành lập các pháp nhân này phải tuân thủ theo quy định của pháp luật.

c. Khoản 6/Điều 9: Hội có 4 cấp: Trung ương; tỉnh/thành; quận/huyện; xã/phường:

- Các tỉnh/thành Hội trực thuộc Trung ương

- Các huyện/quận Hội trực thuộc tỉnh/thành

- Các Hội Khuyến học xã/phường trực thuộc huyện/quận

Theo quy định này, Ban chấp hành Hội cấp trên trực tiếp công nhận Ban chấp hành Hội cấp dưới.

- Những tổ chức Hội ở các thôn, xóm, bản, khu dân cư, cơ quan, trường học, dòng họ, … được gọi chung là Chi hội.

- Ban Khuyến học là hình thức hoạt động khuyến học tự nguyện của các đơn vị lực lượng vũ trang, các Ban, Ngành, Hội đồng hương,v.v…

1.7. Về nhiệm vụ của Đại hội (khoản 5/Điều 11)

"Thông qua mức đóng Hội phí". Với tính chất đặc thù, nộp Hội phí vừa là trách nhiệm của mỗi hội viên với nhiệm vụ xây dựng phát triển tổ chức Hội, vừa là đóng góp cho nguồn thu của Hội để phát triển tổ chức Hội.

Về việc thu hội phí, hiện nay nhiều cấp hội thực hiện đạt kết quả tốt, song cũng còn một số đơn vị còn lúng túng. Những đơn vị đã thực hiện tốt việc thu hội phí sẽ tiếp tục thực hiện theo quy định. Đơn vị nào chưa thu hội phí cần có các biện pháp khuyến khích động viên hội viên thực hiện trách nhiệm của mình với sự nghiệp xây dựng phát triển tổ chức Hội.

Tại Đại hội nhiệm kỳ, Thường vụ xem xét đánh giá việc thu hội phí và thống nhất về mức thu, trình Đại hội biểu quyết.

1.8. Những quy định đối với Chủ tịch, Phó Chủ tịch, Phó Chủ tịch kiêm Tổng thư ký Hội:

Điều lệ mới quy định vai trò trách nhiệm của Chủ tịch, Phó Chủ tịch, Phó Chủ tịch kiêm Tổng thư ký và mối quan hệ trong công tác chỉ đạo và quản lý Hội có tính chất đặc thù.

1.9. Ban kiểm tra (Điều 15)

Quy định rõ về cơ cấu có Trưởng ban, Phó ban và ủy viên. Số lượng do Đại hội quy định và bầu trực tiếp.

Nhiệm vụ trọng tâm của Ban kiểm tra là kiểm tra, giám sát hội viên, Tổ chức Hội thực hiện Nghị quyết, Điều lệ Hội.

Khi khuyết một hoặc một số ủy viên của Ban thì được bầu bổ sung chọn trong số các hội viên chính thức của Hội, theo đề nghị của Ban Thường vụ.

1.10 Tài chính (Điều 18)

Nguồn thu

a. Ngân sách nhà nước cấp và hỗ trợ theo quy định của pháp luật

Theo Điều 35 Nghị định 45/NĐ, Hội có các nguồn kinh phí sau:

- Kinh phí hoạt động theo biên chế được giao

- Kinh phí thực hiện nhiệm vụ Nhà nước giao (UBND các cấp giao)

- Kinh phí hỗ trợ cơ sở vật chất và phương tiện hoạt động

- Kinh phí có được từ một số hoạt động dịch vụ công

- Kinh phí để thực hiện tư vấn, phản biện và giám sát xã hội

- Kinh phí để thực hiện các chương trình, dự án

b. Kinh phí thu từ hội phí do hội viên đóng

c. Kinh phí có từ các hoạt động hợp pháp của Hội làm ra

d. Kinh phí có được từ các nguồn tài trợ của các cá nhân tổ chức trong, ngoài nước theo quy định của pháp luật.

Các hạng mục chi cơ bản

- Chi hoạt động chuyên môn, nghiệp vụ, hành chính thường xuyên

- Chi trả lương, phụ cấp, phúc lợi cho cán bộ

- Chi mua sắm tài sản, thuê trụ sở của Hội..

- Chi tổ chức các hội nghị, đại hội, các cuộc họp Ban Thường vụ, Ban chấp hành…

- Chi phí cần thiết hợp pháp khác.

Tài sản của Hội: bao gồm toàn bộ cơ sở vật chất, thiết bị do Hội tạo ra từ nhiều nguồn để phục vụ sự nghiệp khuyến học.

Căn cứ nhiệm vụ được giao, và chức năng, nhiệm vụ của Hội, Hội xây dựng kế hoạch hoạt động ngắn hạn (một năm), hoặc dài hạn (3 - 5 năm…) xin bổ sung biên chế, chế độ, chính sách, kinh phí, điều kiện phương tiện hoạt động của Hội trình UBND phê duyệt.

2. Những điểm cần thống nhất

2.1. Tên của Hội:

Tên của Hội được thống nhất trong các văn bản giao dịch và trong con dấu của các địa phương "Hội Khuyến học Việt Nam"

Tên giao dịch bằng Tiếng Anh

Vietnam Association for Learning Promotion

Viết tắt: VALP

* Về biểu tượng: Theo quy định đã ban hành, cụ thể như sau:

- Hình tròn đồng tâm có hai đường kính, vòng tròn trong và vòng tròn ngoài với tỷ lệ 5/7, có đường viền kẻ chì màu da cam đậm.

Vòng cung giữa hai vòng tròn là dòng chữ Hội Khuyến học Việt Nam trên nên đỏ màu cờ (đỏ cờ).

- Chính giữa phía trên là ngôi sao vàng 5 cánh tỏa tia màu vàng, phía dưới đặt cân đối một quyển sách mở, nền trắng viền da cam đậm, trên mặt sách trang trí họa tiết hình chim lạc bay, màu da cam đậm.

Tùy theo nhu cầu mà dùng biểu tượng lớn nhỏ khác nhau, nhưng phải tuân thủ quy định trên.

* Về con dấu

- Dấu của Trung ương Hội như hiện hành

- Dấu của Tỉnh, Thành Hội

* Mặt dấu là hai hình tròn đồng tâm, kích thước do nhà nước quy định

* Trong hình vành khăn là dòng chữ Hội Khuyến học Việt Nam

* Trên mặt là hình tròn nhỏ tên Tỉnh, Thành hội địa phương

* Những con dấu cũ có chữ ở vành ngoài "Hội khuyến khích và hỗ trợ phát triển giáo dục Việt Nam" đều thay bằng dòng chữ Hội Khuyến học Việt Nam

2.2. Điều lệ của Hội:

Toàn quốc có 01 Điều lệ do Bộ Nội vụ phê duyệt, áp dụng cho tất cả các cấp Hội và Hội viên toàn quốc.

Để đảm bảo cho Điều lệ đi vào cuộc sống xã hội. Tỉnh/thành Hội trên cơ sở Điều lệ của Hội vận dụng và điều kiện, hoàn cảnh phát triển kinh tế - xã hội của địa phương xây dựng và ban hành Quy chế Tổ chức và Hoạt động của tỉnh/thành Hội.

2.3. Tổ chức Hội ở các trường học:

- Tổ chức Hội của các trường Tiểu học, Trung học cơ sở do xã/phường quản lý, gọi chung là Chi hội…

- Tổ chức Hội của các trường THPT, Trung tâm GDTX… các cơ quan doanh nghiệp do cấp huyện trực tiếp quản lý gọi chung là chi hội.

- Đối với một số trường dạy nghề THCN, CĐ, ĐH, Trường Chính trị tỉnh các cơ quan, doanh nghiệp do tỉnh, thành phố hoặc Trung ương quản lý thì thành lập Chi Hội Khuyến học trực thuộc tỉnh/thành Hội.

Nơi nào có số lượng hội viên lớn, thì ở đó có thể thành lập Hội Khuyến học cơ sở.

Trong quá trình vận dụng, thực hiện Điều lệ còn có điểm nào vướng mắc, cần sửa đổi, bổ sung xin đề nghị Hội Khuyến học tỉnh, thành phố phản ảnh về Trung ương Hội để Trung ương Hội tập hợp trình Ban chấp hành Trung ương xem xét quyết định.

IV. HỆ THỐNG TỔ CHỨC HỘI KHUYẾN HỌC TỪ TRUNG ƯƠNG ĐẾN CƠ SỞ

1 . Hệ thống tổ chức các cấp Hội: được phân theo 4 cấp hành chính (xem sơ đồ dưới đây):

































Sơ đồ: Hệ thống tổ chức Hội Khuyến học Việt Nam

- Trung ương Hội: Khuyến học Việt Nam (Trung ương Hội)

- Cấp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương: Hội Khuyến học tỉnh, thành phố (tỉnh Hội).

- Cấp quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh: Hội Khuyến học huyện, thị xã, thành phố (huyện Hội).

- Cấp xã, phường, thị trấn: Hội Khuyến học xã, phường, thị trấn (Hội cơ sở).

Hội Khuyến học cấp cơ sở được thành lập theo địa bàn dân cư (xã, phường, thị trấn) và trong các trường học, doanh nghiệp, cơ quan, đoàn thể… Hội cơ sở có đông hội viên thì thành lập các chi hội trực thuộc. Các dòng họ có thể thành lập Ban khuyến học dòng họ nếu số hội viên chi hội đông có thể chia thành tổ hội.

- Hội Khuyến học cấp tỉnh, cấp huyện, cấp xã do chủ tịch uỷ ban nhân dân tỉnh quyết định thành lập theo quy định của pháp luật.

2. Công tác hội viên

2.1. Hội viên

- Hội viên chính thức: Là những người có tâm huyết với sự nghiệp khuyến học, tán thành điều lệ Hội, tự nguyện hoạt động cho Hội, trực tiếp và thường xuyên tham gia các hoạt động và sinh hoạt ở một tổ chức cơ sở hội, được trao thẻ hội viên.

- Hội viên liên kết: Là những người trực tiếp ủng hộ và vận động tổ chức, cá nhân khác ủng hộ các nguồn lực phục vụ cho các hoạt động do Hội tổ chức.

- Hội viên danh dự: Là những người có uy tín cao trong nhân dân; có đóng góp xứng đáng cho hội được đại hội cấp đó suy tôn là Hội viên danh dự.

2.2. Nhiệm vụ hội viên

- Chấp hành điều lệ và các Nghị quyết của Hội; tuyên truyền về Hội trong nhân dân, tích cực tham gia Hội vững mạnh.

- Thường xuyên sinh hoạt Hội: Thực hiện các nhiệm vụ của Hội; đóng hội phí đầy đủ.

- Hội viên liên kết: Tuỳ điều kiện và khả năng tham gia hoặc vận động tổ chức, cá nhân khác ủng hộ các hoạt động của Hội.

- Hội viên danh dự bằng uy tín của mình tuyên truyền vận động các cấp uỷ - chính quyền, lãnh đạo các tổ chức chính trị, xã hội … tạo điều kiện và tích cực tham gia các hoạt động của Hội.

2.3. Quyền hạn hội viên:

- Được đề xuất, thảo luận, biểu quyết và giám sát công việc của Hội

- Được bầu cử, đề cử, ứng cử vào các cơ quan lãnh đạo Hội

- Tham gia sinh hoạt, dự các lớp tập huấn của Hội

- Được bảo vệ quyền lợi hợp pháp và giúp đỡ khi khó khăn.

2.4. Điều kiện, tiêu chuẩn, xét công nhận Hội viên

- Là công nhân Việt Nam đủ 18 tuổi trở lên

- Tự nguyện gia nhập Hội và tán thành điều lệ Hội

- Người muốn xin vào Hội, trình bày nguyện vọng của mình với cán bộ Hội được cán bộ Hội giới thiệu với Ban chấp hành chi Hội (không phải làm đơn xin gia nhập hội)

2.5. Công tác quản lý hội viên của Ban chấp hành chi Hội

- Thường xuyên nắm diễn biến tư tưởng, nguyện vọng của Hội viên, tìm hiểu năng lực, điều kiện hoàn cảnh bản thân và gia đình hội viên.

- Chăm lo quyền và lợi ích hợp pháp của Hội viên, động viên, giúp đỡ gia đình hội viên khi gặp khó khăn trong sinh hoạt Hội và đời sống gia đình.

- Hàng năm chi hội tiến hành đánh giá, phân loại hội viên.

3. Cơ quan lãnh đạo của các cấp Hội.

3.1. Cơ quan lãnh đạo cao nhất của mỗi cấp Hội: là Đại hội của cấp đó được tổ chức theo định kỳ 5 năm một lần.

3.2. Ban Thường vụ:

- Ban Thường vụ mỗi cấp Hội do Ban chấp hành cấp đó quyết định số lượng và bầu ra, là cơ quan lãnh đạo Hội giữa hai kỳ họp Ban chấp hành

- Ban Thường vụ Trung ương Hội: Gồm chủ tịch, các phó chủ tịch, tổng thư ký và một số uỷ viên.

- Ban Thường vụ, tỉnh, thành hội, Ban Thường vụ Hội cấp huyện, thị xã, thành phố và tương đương gồm: Chủ tịch, Phó chủ tịch, Chánh văn phòng, ủy viên thường trực và một số uỷ viên.

- Ban chấp hành, Ban Thường vụ các cấp Hội được mời đại diện các ngành, đoàn thể, các tổ chức kinh tế - xã hội, các cá nhân tiêu biểu tham gia trên cơ sở hợp thương với các tổ chức, cá nhân có đại diện tham gia.

3.3. Thường trực các cấp Hội

- Thường trực Trung ương Hội gồm: Chủ tịch, các phó chủ tịch, tổng thư ký, phó tổng thư ký.

- Thường trực tỉnh, thành phố gồm Chủ tịch, các phó chủ tịch, Chánh văn phòng, Trưởng các ban chuyên môn.

- Thường trực Hội cấp huyện gồm Chủ tịch, Phó chủ tịch, uỷ viên thường trực. Thường trực các cấp Hội có trách nhiệm và quyền hạn thay mặt Ban chấp hành, Ban Thường vụ chỉ đạo, điều hành, giải quyết công việc của Hội giữa hai kỳ họp Ban chấp hành, Ban Thường vụ Hội.

3.4. Ban chấp hành Hội cơ sở cấp xã:

- Ban chấp hành Hội cơ sở cấp xã gồm: Chủ tịch, Phó chủ tịch, uỷ viên thường trực và một số uỷ viên là đại biểu Ban, ngành, đoàn thể, tổ chức xã hội ở xã.

- Chủ tịch, phó chủ tịch, Thường trực Hội cơ sở điều hành mọi hoạt động của Hội cơ sở xã.

3.5. Ban chấp hành chi hội gồm: Chi hội trưởng, chi hội phó và một số uỷ viên, ban chấp hành chi hội có nhiệm vụ điều hành mọi hoạt động chi Hội.

3.6. Tổ Hội gồm: Tổ trưởng, tổ phó có nhiệm vụ điều hành mọi hoạt động của tổ Hội.

3.7. Nguyên tắc hoạt động: Các cơ quan lãnh đạo của các cấp Hội, thực hiện theo nguyên tắc tập trung dân chủ; tập thể lãnh đạo - cá nhân phụ trách. Theo Quyết định của các cấp Hội thực hiện theo đa số ủy viên tán thành.

V. NHIỆM VỤ CỦA HỘI KHUYẾN HỌC VIỆT NAM NHIỆM KỲ IV (2010 - 2015)

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV của Hội được tổ chức tại Hà Nội vào ngày 29/9/2010. Những thành tích lớn lao trong công tác khuyến học, khuyến tài và những sự kiện lớn trong phong trào khuyến học đã tạo một khí thế mới tại Đại hội lần này. Phương hướng nhiệm vụ nhiệm kỳ IV (2011 - 2016), Đại hội đã thảo luận và thông qua Nghị quyết với 10 nhiệm vụ cơ bản, sau đây:

1. Thấm nhuần tư tưởng giáo dục của Chủ tịch Hồ Chí Minh "học tập suốt đời", vì lợi ích trăm năm thì phải trồng người, làm cho đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành. Hướng trọng tâm công tác khuyến học, khuyến tài vào việc "xây dựng xã hội học tập" trên địa bàn dân cư trong cả nước.

2. Tiếp tục phát triển các tổ chức Hội ở cơ sở, hướng chủ yếu vào việc phát triển các chi hội ở các thôn, xóm, tổ dân cư, trường học, các doanh nghiệp, các đơn vị thuộc lực lượng vũ trang; phát triển hội viên đạt tỷ lệ 10% trở lên/dân số trong cả nước, phấn đấu mỗi hộ gia đình có ít nhất một hội viên khuyến học. Nâng cao chất lượng tổ chức Hội và hội viên, bồi dưỡng năng lực công tác cho đội ngũ cán bộ, để làm tốt vai trò nòng cốt trong cuộc vận động khuyến học, khuyến tài.

3. Tích cực hoạt động hỗ trợ trường học trong hệ thống giáo dục chính quy nhằm đẩy mạnh phong trào thi đua hai tốt: "Học thật tốt, dạy thật tốt"; thực hiện tốt kế hoạch phối hợp với các ngành giáo dục và đào tạo, đặc biệt là phong trào thi đua xây dựng "Trường học thân thiện, học sinh tích cực" mà Hội đã ký cam kết.

Trong lĩnh vực giáo dục không chính quy, đẩy mạnh hoạt động của các Trung tâm học tập cộng đồng đã có. Phấn đấu để xã, phường nào cũng có Trung tâm học tập cộng đồng, huy động được đông đảo nhân dân tham gia học tập tại trung tâm.

4. Đẩy mạnh công tác thi đua, nhân rộng các mô hình tiêu biểu đã được Đại hội thi đua khuyến học các tỉnh, thành và Đại hội thi đua khuyến học toàn quốc họp tháng 9/2009 biểu dương, nhằm mở rộng hơn nữa phong trào xây dựng gia đình hiếu học, dòng họ hiếu học, thôn, bản, phum, sóc, cơ quan, doanh nghiệp, tổ dân cư, nhà chùa, họ đạo khuyến học.

5. Mở rộng quan hệ đối ngoại và hợp tác quốc tế của Trung ương Hội và các tỉnh, thành hội; tranh thủ sự hỗ trợ và tài trợ của các doanh nghiệp, các tổ chức phi Chính phủ trong nước, các tổ chức quốc tế đang hoạt động ở Việt Nam, các cá nhân và các tổ chức quốc tế ở nước ngoài quan tâm đến hoạt động khuyến học, khuyến tài ở nước ta.

6. Chú trọng mở rộng việc phát hiện và tôn vinh nhân tài ở mọi lứa tuổi sang nhiều lĩnh vực qua giải thưởng "Nhân tài Đất Việt". Báo Khuyến học và Dân trí, Báo Điện tử Dân trí cùng Website của Trung ương Hội đẩy mạnh tuyên truyền vận động các nguồn tài trợ xã hội giải thưởng này.

7. Mở rộng các hình thức Quỹ khuyến học tại các địa phương và Trung ương Hội. Củng cố và xây dựng các cơ sở dịch vụ giáo dục để tạo điều kiện vật chất - kỹ thuật cho các hoạt động của bộ máy giúp việc trực thuộc Trung ương Hội và các tỉnh, thành hội. Tổng kết hoạt động của các hình thức hỗ trợ khuyến học như hình thức hỗ trợ 1-1, 1-2… hình thức nuôi heo đất khuyến học, ống tiết kiệm, trồng cây khuyến học… và nhân rộng các hình thức này trên các địa bàn dân cư.

8. Tiếp tục củng cố và phát triển các tổ chức trực thuộc Trung ương Hội nhằm bảo đảm hiệu quả và chất lượng hoạt động, mở ra các loại hình phục vụ giáo dục mang tính khuyến học, khuyến tài, đồng thời giúp cho các đối tượng đi học tăng lên theo hướng đào tạo thường xuyên, học tập suốt đời.

9. Xây dựng và phát huy hiệu quả hoạt động của hệ thống thông tin của Hội để tuyên truyền rộng rãi công tác khuyến học, khuyến tài trong nước và quốc tế; mở rộng mạng thông tin giữa Trung ương Hội và các tỉnh, thành hội. Phối hợp chặt chẽ và tranh thủ sự giúp đỡ của các cơ quan Thông tấn, Phát thanh, Truyền hình, Báo chí Trung ương và các địa phương để tuyên truyền nhằm nâng cao hơn nữa nhận thức của toàn xã hội về công tác khuyến học, khuyến tài, xây dựng xã hội học tập.

10. Tiếp tục triển khai thực hiện Đề án Đổi mới phương thức hoạt động và tổ chức Hội, trọng tâm là xây dựng Hội các cấp trở thành một lực lượng đông đảo, hoạt động có hiệu quả và chất lượng cao, để thực sự là lực lượng nòng cốt trong cuộc vận động toàn dân tham gia xây dựng xã hội học tập theo tinh thần Chỉ thị 11- CT - TW của Bộ chính trị.

Ngay sau Đại hội lần thứ IV của Hội, một sự kiện hết sức quan trọng khẳng định vị trí và tác dụng hoạt động của Hội, Thủ tướng Chính phủ đã có Qyết định số 68/2010/QĐ - TTg công nhận Hội Khuyến học Việt Nam là Hội có tính chất đặc thù, hoạt động trong phạm vi cả nước. Quyết định trên của Thủ tướng Chính phủ có ý nghĩ hết sức quan trọng, là nguồn động viên to lớn, đánh dấu bước trưởng thành của Hội.







Bài 2

HỘI KHUYẾN HỌC GÓP PHẦN XÂY DỰNG

XÃ HỘI HỌC TẬP TỪ CƠ SỞ

I. XÂY DỰNG XÃ HỘI HỌC TẬP LÀ XU THẾ TẤT YẾU CỦA THỜI ĐẠI PHÁT TRIỂN HIỆN NAY:

Sự phát triển vũ bão của khoa học, công nghệ hiện đại đang tác động mạnh mẽ đến mọi nền kinh tế, mọi chế độ xã hội trên phạm vi toàn thế giới, xuất hiện xu thế toàn cầu hoá, dẫn tới sự cạnh tranh gay gắt giữa các quốc gia về kinh tế - chủ yếu là kinh tế tri thức, về công nghệ - chủ yếu là công nghệ cao.

Trước đòi hỏi của cuộc cách mạng về khoa học và công nghệ vì sự phát triển bền vững của mỗi dân tộc, mỗi quốc gia, xây dựng xã hội học tập đang là một trong những xu thế tất yếu phát triển của loài người.

Trong bối cảnh đó, Đại hội lần thứ IX Đảng cộng sản Việt Nam chủ trương "Đổi mới giáo dục… thực hiện giáo dục cho mọi người. Cả nước trở thành một xã hội học tập"

Xây dựng xã hội học tập ở nước ta, ở tỉnh ta với quy mô, chất lượng mới để phục vụ quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, quê hương trở thành nhiệm vụ vừa cấp bách, vừa lâu dài, có tầm quan trọng chiến lược.

1. Sự ra đời của khái niệm xã hội học tập.

Trước tình hình diễn ra cuộc khủng hoảng giáo dục trên hàng loạt nước Châu Âu mà điển hình là cuộc biểu tình rầm rộ của sinh viên Pháp tại thủ đô Paris năm 1968, UNESCO (Tổ chức giáo dục, khoa học và văn hoá Liên hiệp quốc) thấy cần nghiên cứu hiện trạng giáo dục để đề ra các khuyến nghị về chính sách giáo dục mới. Năm 1970 UNESCO thành lập "Uỷ ban quốc tế về phát triển giáo dục" do Edgar Faure đứng đầu.

Năm 1972, Edgar Faure trong cuốn sách nổi tiếng "Học để tồn tại" đã nêu một khái niệm mới "xã hội học tập".

Tác giả cho rằng: Giáo dục là sự phản ánh của xã hội và là nhân tố cải biến xã hội, bởi thế cần coi giáo dục như là một phân hệ của hệ thống xã hội, không nên phân chia cuộc đời tách bạch thành "Thời kỳ học tập" "Thời kỳ kiếm sống" mà phải coi học tập là việc diễn ra trong suốt cả cuộc đời. Do đó cần tập trung vào hai khái niệm gắn bó với nhau: "Học tập suốt đời""Xã hội học tập". Sự học không chỉ hoạt động theo quan hệ người dạy - người học, mà đối với người lớn tuổi có thể tiếp nhận sự hiểu biết do xã hội cung cấp diễn ra trong các tổ chức xã hội thích hợp, kiểu tổ chức như thế có thể gọi là xã hội học tập.

Quan điểm "Học tập suốt đời""Xã hội học tập" mà Edgar Faure nêu ra được các nhà khoa học tranh luận trong nhiều năm qua. Song cho đến nay khái niệm "Học tập suốt đời""Xã hội học tập" vẫn giữ nguyên giá trị và có thể coi như một nguyên tác hành động trong giáo dục đào tạo.

Năm 1993, gần 25 năm sau khi báo cáo "Học để tồn tại" của Uỷ ban Edgar Faure ra đời, "Uỷ ban quốc tế về giáo dục thế kỷ XXI" của UNESCO được thành lập, đứng đầu là ông Jacques Delors (nguyên Bộ trưởng kinh tế và tài chính Pháp, nguyên Chủ tịch uỷ ban Châu Âu). Uỷ ban đã xem xét dưới ánh sáng của nguyên tắc cải biến và những xu thế mới về những ý tưởng đã nêu trong báo cáo "Học để tồn tại" của Edgar Faure đặc biệt là hai quan niện "Học tập suốt đời""Xã hội học tập".

Tháng 4 - 1996 Uỷ ban quốc tế về giáo dục thế kỷ XXI (uỷ ban Jacques Delors) của UNESCO báo cáo mang tên "Học tập một kho báu tiềm ẩn"; Uỷ ban cho rằng giáo dục thể kỷ XXI phải dựa vào 4 trụ cột "Học để biết, học để làm, học để làm người, học để chung sống" (Mới bổ sung trụ cột thứ 5: Học để sáng tạo). Năm trụ cột này phải đặt trên nền tảng "Học suốt đời" và xây dựng một "Xã hội học tập".

Xã hội học tập là một xã hội trong đó có rất nhiều cơ hội học tập, ở trường cũng như trong đời sống kinh tế, xã hội và văn hoá. Một xã hội tạo mọi cơ hội cho mỗi cá nhân được học và phát triển những khả năng của bản thân.

2. Xây dựng xã hội học tập là xu thế tất yếu của thời đại.

Từ giữa thế kỷ XX khoa học, công nghệ phát triển nhanh, tạo nên một khối lượng khổng lồ những tri thức mới, mở đầu cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ ba. Những thành tựu đáng chú ý là:

- Con người tìm ra nguồn năng lượng mới: năng lượng nguyên tử.

- Lần đầu tiên con người thắng được sức hút của trái đất, công nghệ vũ trụ phát triển nhanh.

- Những phát triển vĩ đại của công nghệ sinh học: Đã nhân bản vô tính (Cừu Doly) đã vẽ được bản đồ gen con người.

- Hệ thống máy vi tính ra đời với những thế hệ nối tiếp thay thế nhau cực kỳ nhanh chóng. Mạng Internet xuất hiện.

Nhờ đó nền kinh tế công nghiệp thay bằng nền kinh tế mới: Kinh tế tri thức nghĩa là chuyển từ nền kinh tế dựa vào lao động và tài nguyên là chính sang nền kinh tế dựa vào trí tuệ con người là chính.

Sang đầu thế kỷ XXI khoa học công nghệ tiếp tục phát triển như vũ bão làm cho lượng tri thức của nhân loại luôn thay đổi một cách nhanh chóng. Theo ước tính thì cứ 7 đến 10 năm lượng tri thức của nhân loại có thể tăng gấp 2 lần và cũng trong thời gian đó sự "lão hoá" về tri thức khoảng 40 - 50%.

Những biến đổi này ảnh hưởng sâu sắc đến Giáo dục & Đào tạo. Thực trạng này đòi hỏi nền giáo dục phải đào tạo được lực lượng lao động có học vấn cao, có trình độ nghiệp vụ, tay nghề tương xứng với thực tế luôn biến đổi. Mô hình giáo dục truyền thống coi việc học là nhiệm vụ của thế hệ trẻ, là hoạt động chỉ diễn ra ở một giai đoạn nhất định trong cuộc đời của mỗi người, học một lần để làm việc cả đời không còn thích hợp nữa.

Nhiều năm qua bàn về giáo dục khi xuất hiện nền kinh tế tri thức, các nhà khoa học trên thế giới đều thống nhất: quan điểm đào tạo một lần để làm việc cả đời đã lỗi thời.

Đứng ở góc độ nào nhìn vào kinh tế tri thức các tác giả thuộc các nước phát triển hay đang phát triển đề cập cần đổi mới hoặc cải cách nền giáo dục hiện tại của nước họ theo hướng xây dựng xã hội học tập. Nhiều nước đã thành công.

- Nhật Bản là nước bị tàn phá nặng nề trong chiến tranh thế giới lần thứ 2 (1939 - 1945) nhưng chỉ sau hơn hai chục năm nước Nhật đã hồi phục một cách nhanh chóng trở thành một cường quốc có nền kinh tế lớn thứ hai thế giới (sau Mỹ).

Nhiều người gọi đó là "Sự thần kỳ Nhật Bản" và đi tìm lời giải cho sự phát triển thần kỳ đó. Nhật bản thành công là do đã giải quyết tốt bài toán chất lượng nguồn nhân lực theo hướng xây dựng một xã hội học tập. Bên cạnh việc nâng cao chất lượng đào tạo trong hệ thống các trường chính quy, Nhật bản đã có sáng kiến tổ chức học tập cho người lớn tại cộng đồng rất có hiệu quả, qua các Kominkan (Trung tâm học tập cộng đồng); một thiết chế giáo dục được xây dựng tại khắp các địa bàn dân cư từ thành thị đến nông thôn, đáp ứng nhu cầu học tập của mọi người dân, ở mọi lứa tuổi, được học tập suốt đời.

Tổng giám đốc UNESCO khu vực Châu á Thái Bình Dương đã đánh giá "Trung tâm học tập cộng đồng có thể coi là phát minh quan trọng nhất về giáo dục mà bấy lâu nay thế giới đang tìm kiếm". Chính đây là một thiết chế giáo dục quan trọng để xây dựng xã hội học tập từ cơ sở.

Từ cuối những năm 1980 UNESCO khu vực Châu á - Thái Bình Dương đã cố gắng phổ biến kinh nghiệm của Nhật Bản.

Trung Quốc là nước đông dân nhất thế giới, từ một nước có nền kinh tế phát triển chậm hơn nhiều nước, nhưng 20 năm qua đã có sự phát triển vượt bậc. Từ thập kỷ 80 của thế kỷ XX Trung Quốc đã nhận thấy sự thua kém về trình độ phát triển giáo dục đào tạo và khoa học công nghệ là nguyên nhân chính của sự thua kém trong phát triển kinh tế nên đã đặt ra yêu cầu "Giáo dục phải có nhiệm vụ thúc đẩy phát triển kinh tế, phục vụ kinh tế" và đã thực hiện ba chuyển đổi lớn trong giáo dục:

- Chuyển đổi giáo dục nghĩa vụ sang giáo dục phổ cập cưỡng bức.

- Chuyển đổi giáo dục nghề nghiệp sơ cấp, trung cấp sang giáo dục nghề nghiệp cao cấp.

- Chuyển giáo dục đại học tinh hoa sang giáo dục đại học đại chúng.

Để thực hiện ba chuyển đổi đó, Trung Quốc chú trọng dạy văn hoá và dạy nghề cho nông dân, tổ chức trung học bổ túc cho nông dân, công nhân, người lao động và nhân viên trong các cơ quan, doanh nghiệp, tăng cường mở các lớp đại học tại chức, đại học buổi tối cho công nhân viên chức, mở rộng hệ thống đào tạo từ xa qua hệ thống phát thanh truyền hình đối với bậc trung học và cao đẳng cho đông đảo nhân dân.

Tại cộng đồng thôn, bản trưởng thôn hoặc đội trưởng sản xuất phải tổ chức cho dân học các kiến thức, kỹ năng liên quan đến cuộc sống và lao động của cộng đồng.

Chính từ những việc làm cụ thể và bền bỉ đó, đến nay Trung Quốc đã phát triển vượt bậc và mới đây đã trở thành quốc gia có nền kinh tế lớn thứ hai thế giới, thay thế vị trí của Nhật.

Ngoài các nước trên đây, các nước khác trong khu vực như Thái Lan, Hàn Quốc, Singgapore… cũng thành công về mặt này.

Sự phát triển mạnh mẽ về kinh tế của các quốc gia nêu trên cho thấy việc xây dựng xã hội học tập là rất quan trọng và là xu thế tất yếu của thời đại phát triển hiện nay.

3. Xây dựng xã hội học tập ở nước ta.

Ý tưởng xây dựng xã hội học tập ở nước ta hình thành từ rất sớm. Ngay sau Cách mạng tháng 8 - 1945 thành công, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ "Một dân tộc dốt là một dân tộc yếu". Vì vậy song song với nhiệm vụ chống giặc ngoại xâm và giặc đói Người đã phát động toàn dân tham gia "diệt giặc dốt". Cả cuộc đời hy sinh cho đất nước cho dân tộc Bác Hồ chỉ có một ham muốn "ham muốn tột bậc là nước nhà được hoàn toàn độc lập, nhân dân được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành". Bác chỉ rõ: "Học hỏi là một việc phải tiếp tục suốt đời. Suốt đời phải gắn lý luận với công tác thực tiễn". Người còn chủ trương "Công nông trí thức hoá, trí thức công nông hoá".

Luận điểm của Bác về giáo dục thực chất là quan điểm "Học tập suốt đời" và xây dựng một "Xã hội học tập". Như vậy, trước Edgar Faure 27 năm Hồ Chí Minh đã đưa ra ý tưởng về một xã hội học tập.

Do nhiều nguyên nhân, trong đó một phần do chiến tranh, ý tưởng xây dựng xã hội học tập ở Việt Nam của Bác chưa được thực hiện.

Những năm gần đây trong không khí đổi mới và hội nhập, ở nước ta khái niệm "xã hội học tập" được quan tâm và bàn luận khá nhiều. Các nhà khoa học, nhiều người nguyên là cán bộ quản lý giáo dục, một số nhà giáo lão thành có uy tín đã đi sâu nghiên cứu, phát biểu quan điểm trên sách báo, các phương tiện truyền thông, qua các hội thảo khoa học.

Theo GS - TS Phạm Minh Hạc (nguyên Bộ trưởng Bộ Giáo dục đào tạo) "Xã hội học tập là một xã hội mọi người đều lấy học tập là một công viêc thường xuyên, suốt đời học trong nhà trường và học ngoài nhà trường, chính quy và phi chính quy, như là một phần không thể thiếu được của đời mình, lấy học tập là phương pháp tiếp cận (cách nhìn, cách xử lý) của cuộc sống, nhằm phát triển con người bền vững, động lực cho toàn bộ sự tiến bộ xã hội".

Từ luận điểm của Bác về giáo dục, tác giả Nguyễn Kỹ (Nguyên Thứ trưởng Bộ Giáo dục& đào tạo) rút ra một định nghĩa về xã hội học tập Việt Nam hiện đại: "Xã hội học tập là một xã hội mà ai cũng được học hành, học hành sáng tạo suốt đời. Công nông trí thức hoá. Dân tộc thông thái".

Với GS - TS Phạm Tất Dong (Phó chủ tịch kiêm Tổng thư ký Hội Khuyến học Việt Nam) thì: "Trong xã hội học tập, mỗi con người phải được giáo dục thường xuyên, đào tạo liên tục, học tập suốt đời, lấy sự học làm lẽ sống của mình. Mỗi người đều có nhiều cơ hội để học, do đó hệ thống giáo dục không chỉ bó hẹp ở trong các loại hình nhà trường mà còn trong cả hình thức học ngoài nhà trường. Đó là hệ thống giáo dục mềm dẻo, tạo ra sự đa dạng của các ngành học, của các hình thức học và những kênh liên thông giữa các loại hình giáo dục khác nhau".

GS - TS Nguyễn Ngọc Phú (Phó chủ tịch Hội Khoa học Tâm lý - Giáo dục Việt Nam) quan niệm: "Xã hội học tập là xã hội hiếu học, có thị trường học tập với một hệ thống giáo dục linh hoạt, đa dạng trong đó mọi người được thoả mãn tối đa các nhu cầu về cơ hội học tập, lấy sự học làm gốc, coi việc học là suốt đời nhằm để biết, để làm, để cùng chung sống và tồn tại".

Qua những quan điểm nêu trên ta thấy xã hội học tập có hai đặc trưng cơ bản sau:

- Nhà nước và mọi tổ chức xã hội tạo mọi cơ hội , điều kiện cho mỗi người dân đều được học tập thường xuyên, học tập suốt đời.

- Mỗi công dân tự giác học tập, luôn tự học để phát triển cá nhân qua đó góp phân phát triển xã hội, học tập không chỉ là quyền lợi mà còn là nghĩa vụ của mỗi người.

Hai đặc trưng, hai khía cạnh của xã hội học tập có quan hệ chặt chẽ và tác động qua lại lẫn nhau.

Với Việt Nam nhiều nhà khoa học đã nêu những ý kiến:

- Xét cả trên lý thuyết lẫn thực tiễn giáo dục Việt Nam đã đến lúc phải đổi mới toàn diện và triệt để, không thể dùng phương pháp vá víu những lỗ hổng, khuyết tật luôn luôn phát sinh do không bám sát hướng chiến lược mà Đảng đã chỉ ra: Chuyển mô hình giáo dục hiện nay sang mô hình giáo dục mở theo hướng xây dựng xã hội học tập. Chúng ta xây dựng xã hội học tập ngay trong giai đoạn CNH - HĐH với phương châm đi tắt đón đầu để "đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại". Nước ta đang chuyển dịch cơ cấu kinh tế của xã hội nông nghiệp sang kinh tế của xã hội công nghiệp gắn với việc phát triển từng bước nền kinh tế tri thức. Trong bối cảnh đó, xây dựng XHHT càng trở nên cấp bách.

II. HỘI KHUYẾN HỌC VIỆT NAM GÓP PHẦN XÂY DỰNG XÃ HỘI HỌC TẬP:

1. Chủ trương của Đảng và Nhà nước về xây dựng xã hội học tập:

Như phần đầu đã nêu, khi mới bước vào thể kỳ XXI Đại hội lần thứ IX của Đảng ( 2001) đã chủ trương " Đổi mới giáo dục, thực hiện giáo dục cho mọi người. Cả nước trở thành một xã hội học tập". Đại hội X tiến thêm một bước, khẳng định "Chuyển dần mô hình giáo dục hiện nay sang mô hình giáo dục mở mô hình xã hội học tập" và tư tưởng Hồ Chí Minh về học tập suốt đời. Đại hội XI của Đảng đã xác định: " Đẩy mạnh xây dựng xã hội học tập, tạo cơ hội và điều kiện cho mọi công dân được học tập thường xuyên, học tập suốt đời".

Ngày 13/4/2007 Bộ Chính trị đã ra chỉ thị 11/CT -TW về " Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác khuyến học, khuyến tài xây dựng xã hội học tập", đã xác định “Xây dựng xã hội học tập là nhiệm vụ của toàn Đảng, toàn dân là một mục tiêu cơ bản trong chiến lược chấn hưng và phát triển giáo dục của nước ta"; đồng thời trao trách nhiệm cho Hội Khuyến học "làm nòng cốt trong việc liên kết, phối hợp với các tổ chức, các lực lượng xã hội tham gia hoạt động khuyến học, khuyến tài, xây dựng xã hội học tập".

Thực hiện chỉ thị 11/CT - TW, Ban Thường vụ tỉnh uỷ Hải Dương đã ra Chỉ thị 18/CT - TU về "Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng với công tác khuyến học, khuyến tài, xây dựng xã hội học tập".

Chỉ thị yêu cầu " các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị- xã hội, tổ chức xã hội nghề nghề nghiệp, các cơ quan, đơn vị, lực lượng vũ trang, doanh nghiệp trong tỉnh cần tích cực, chủ động tổ chức các hoạt động khuyến học, khuyến tài, xây dựng xã hội học tập theo tinh thần xã hội hoá giáo dục" và nhấn mạnh: " Tiến hành nghiên cứu, tổng kết rút kinh nghiệm nhân rộng mô hình xã hội học tập ở các địa phương, đơn vị trong tỉnh".

2. Đề án "Hội Khuyến học Việt Nam góp phần xây dựng xã hội học tập từ cơ sở".

Thực hiện nhiệm vụ Đảng và Nhà nước trao cho Hội Khuyến học, tháng 1/ 2002 sau khi có Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ IX " Xây dựng cả nước thành xã hội học tập", Hội Khuyến học Việt Nam đã xây dựng Đề án "Hội Khuyến học Việt Nam góp phần xây dựng xã hội học tập từ cơ sở".

Đề án đã giới thiệu sơ đồ xã hội học tập gồm 2 bộ phận:

- Giáo dục ban đầu ở trong nhà trường

- Giáo dục tiếp tục ở bên ngoài nhà trường

Giới thiệu các hình thức học: Tự học, học chính quy, không chính quy và phi chính quy; với phương châm học thường xuyên, học suốt đời.

Đề án đã đề xuất:

- 10 hoạt động hỗ trợ giáo dục trong nhà trường

- 12 hoạt động tác động vào giáo dục ngoài nhà trường

* 10 hoạt động hỗ trợ giáo dục trong nhà trường

1) Hỗ trợ phòng chống bỏ học, hạn chế lưu ban, ngồi nhầm lớp.

2) Hỗ trợ phòng chống ma tuý, tệ nạn xã hội

3) Hỗ trợ quản lý học sinh ở các cụm dân cư

4) Vận động ủng hộ đất mở rộng khuôn viên nhà trường đạt chẩn quốc gia; hỗ trợ xây dựng cơ sở vật chất cho nhà trường, tạo cảnh quan nhà trường xanh, sạch, đẹp.

5) Tham gia hướng nghiệp dạy nghề cho học sinh

6) Phối hợp với nhà trường, với cha mẹ học sinh và bản thân học sinh giữ gìn và sử dụng tốt sách giáo khoa.

7) Giúp đỡ học sinh nghèo, khuyết tật vượt khó, học giỏi

8) Phối hợp động viên giáo viên để bồi dưỡng học sinh giỏi, yếu, kém, hỗ trợ giáo viên về tinh thần, vật chất.

9) Vận động giáo viên, học sinh, sinh viên tham gia khuyến học ở địa phương.

10) Tư vấn với nhà trường động viên giáo viên, cựu giáo chức tham gia phát triển giáo dục đào tạo, đổi mới phương pháp dạy và học.

* 12 hoạt động tác động vào bộ phận giáo dục ngoài nhà trường.

1) Phát động, nêu gương sáng người người học và tự học.

2) Xây dựng phong trào gia đình hiếu học

3) Xây dựng phong trào dòng họ khuyến học (nay là dòng họ hiếu học)

4) Xây dựng phong trào thôn, bản, cụm dân cư khuyến học

5) Xây dựng phong trào khuyến học ở xã, phường, thị trấn

6) Phối hợp các lực lượng xây dựng Trung tâm học tập cộng đồng

7) Vận động mở các loại trung tâm học tập: nghề, ngoại ngữ, tin học, mở trường ngoài công lập từ Mầm non đến Đại học.

8) Vận động các cơ quan, đoàn thể làm khuyến học.

9) Vận động các doanh nhân, nhà máy, cơ sở sản xuất, nông trường làm khuyến học.

10) Vận động các lực lượng quân đội, công an, trại giam, trại cải tạo làm khuyến học.

11) Vận động người Việt Nam ở nước ngoài, các hội đồng hương, các chức sắc tôn giáo làm khuyến học.

12) Xây dựng và phát triển nhiều hình thức gây quỹ khuyến học

Căn cứ các nội dung trên, các cấp hội vận dụng cho phù hợp với khả năng điều kiện của địa phương để hoạt động theo phương châm: Từ không đến có, từ dễ đến khó, từ ít đến nhiều, từ thấp đến cao. Khai thác tối đa tiềm năng trí tuệ, cơ cở vật chất, lòng hảo tâm để phục vụ công tác khuyến học, khuyến tài, xây dựng xã hội học tập.

III. HỘI KHUYẾN HỌC HẢI DƯƠNG VỚI NHIỆM VỤ XÂY DỰNG XÃ HỘI HỌC TẬP:

Thực hiện chủ trương Đại hội Đảng lần thứ IX về “Xây dựng cả nước trở thành xã hội học tập”, ngày 22/10/2001 Ban thường vụ tỉnh uỷ Hải Dương ra Chỉ thị số 10/CT - TU về " Phát huy sức mạnh toàn dân, xây dựng xã hội học tập từ cơ sở" ; Hải Dương là tỉnh sớm có Chỉ thị của cấp uỷ địa phương về xây dựng xã hội học tập. Tỉnh đã thành lập " Ban chỉ đạo xây dựng xã hội học tập" do đồng chí Phó chủ tịch UBND tỉnh làm Trưởng ban. Ban đã phân công cụ thể nhiệm vụ của các Sở, Ban, ngành đoàn thể trong sự nghiệp xây dựng xã hội học tập.

Thực hiện các chỉ thị: Chỉ thị 11/CT - TW của Bộ Chính trị, Chỉ thị 02/2008/ /CT - TTg của Thủ tướng Chính phủ, Ban Thường vụ Tỉnh ủy Hải Dương đã ra Chỉ thị 18/ CT-TU ngày 15/1/2008 về "Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng với công tác khuyến học, khuyến tài, xây dựng xã hội học tập", Hội Khuyến học tỉnh đã chỉ đạo Hội Khuyến học các huyện, thành phố, thị xã, các xã, phường, thị trấn triển khai những công việc cụ thể của các đề án về xây dựng xã hội học tập:

- Đề án “Hội Khuyến học Việt Nam góp phần xây dựng xã hội học tập từ cơ sở”

(từ tháng 3/ 2002)

- Đề án “ Đẩy mạnh xã hội hoá giáo dục và xây dựng xã hội học tập tỉnh Hải Dương” giai đoạn 2006 - 2010, theo Quyết định 195/QĐ - UBND của UBND tỉnh Hải Dương ngày 15/01/2006 ( Cụ thể hoá Đề án " Xây dựng xã hội học tập ở Việt Nam" theo Quyết định 112/QĐ- TTg ngày 18/5/2005 của Thủ tướng Chính phủ, vận dụng vào Hải Dương).

Hội Khuyến học các cấp tỉnh Hải Dương đẩy mạnh 5 hoạt động khuyến học, khuyến tài góp phần có hiệu quả vào việc xây dựng xã hội học tập từ cơ sở là: Vận động xây dựng các gia đình hiếu học, dòng họ khuyến học (nay là dòng họ hiếu học), đơn vị khuyến học, xây dựng quỹ khuyến học, trao học bổng, khen thưởng động viên kịp thời, hỗ trợ hoạt động của Trung tâm học tập cộng đồng.

Riêng về Trung tâm học tập cộng đồng (TTHTCĐ) Hội Khuyến học đã chủ động phối hợp với ngành giáo dục vận động toàn thể 263 xã, phường, thị trấn ( nay là 265) trong tỉnh chỉ hơn một năm sau khi thành lập Hội Khuyến học cơ sở đã xây dựng được TTHTCĐ. Hải Dương là một trong số ít tỉnh, thành phố sớm có 100% xã, phường, thị trấn hình thành được TTHTCĐ. Kinh Môn là huyện đầu tiên trong tỉnh, đồng thời là huyện đầu tiên trong cả nước 100% xã, thị trấn có TTHTCĐ được Trung ương Hội Khuyến học Việt Nam in thành tài liệu phổ biến trong cả nước.

Từ năm 2005 Luật giáo dục sửa đổi quy định TTHTCĐ thuộc lĩnh vực giáo dục thường xuyên do Bộ Giáo dục & Đào tạo quản lý; Hội Khuyến học Hải Dương vẫn phối hợp bằng 4 hoạt động cụ thể: Tìm hiểu nguyện vọng học tập của nhân dân để phản ánh với Ban giám đốc Trung tâm HTCĐ, vận động học viên đến học, vận động những người có năng lực tham gia giảng dạy ở Trung tâm, vận động xây dựng cơ sở vất chất và kinh phí góp phần để Trung tâm hoạt động .

Mặc dầu còn gặp nhiều khó khăn, hoạt động chưa đồng đều trong toàn tỉnh nhưng Trung tâm HTCĐ đã góp phần đáng kể vào việc xây dựng xã hội học tập tại cơ sở, nhất là trong phong trào xây dựng nông thôn mới hiện nay.

Tiến hành đề tài khoa học " Nghiên cứu xây dựng mô hình xã hội học tập trên địa bàn tỉnh Hải Dương”.

Thực hiện chủ trương của Ban thường vụ Tỉnh uỷ " Tiến hành nghiên cứu tổng kết rút kinh nghiệm nhân rộng mô hình xây dựng xã hội học tập ở các địa phương, đơn vị trong tỉnh" (Chỉ thị 18/CT- TU ngày 15/01/2008), qua thực tế chỉ đạo phong trào xây dựng xã hội học tập Ban thường vụ Hội Khuyến học tỉnh đã xây dựng đề cương nghiên cứu khoa học về nội dung trên.

Được sự đồng ý và tạo điều kiện của Tỉnh uỷ, UBND tỉnh, sự hỗ trợ của Sở Khoa học & Công nghệ, sự cộng tác của Sở Giáo dục & Đào tạo và một số ngành có liên quan, trong hai năm 2008 - 2009, Hội Khuyến học tỉnh Hải Dương đã tiến hành đề tài cấp tỉnh "Nghiên cứu xây dựng mô hình xã hội học tập trên địa bàn tỉnh Hải Dương".

Sau quá trình nghiên cứu lý luận và điều tra thực tế ở một số địa bàn trong tỉnh, Ban chủ nhiệm đã xây dựng 5 mô hình học tập.

- Ở một xã vùng đồng bằng, một xã miền núi, một phường thuộc thành phố, một cơ quan, ở một doanh nghiệp sản xuất.

Các mô hình đã được chỉ đạo thực hiện ở:

- Xã Minh Đức huyện Tứ Kỳ: xã đồng bằng

- Xã Hiệp Hoà huyện Kinh Môn: xã miền núi

- Phường Quang Trung: thành phố Hải Dương

- Sở Kế hoạch & Đầu tư: cơ quan

- Công ty lắp máy Lilama 69-3: Doanh nghiệp sản xuất .

Sau nhiều lần hội thảo khoa học, kiểm tra đánh giá tháng 5/2010 đề tài đã được Hội đồng khoa học tỉnh nghiệm thu xếp loại khá. Đề tài đã đề xuất Hệ thống biện pháp tổ chức, chỉ đạo việc xây dựng XHHT trong toàn tỉnh:

- Nhóm biện pháp về giáo dục đào tạo

- Nhóm biện pháp khuyến học, khuyến tài

- Nhóm biện pháp Trung tâm HTCĐ

- Nhóm các biện pháp quản lý.

Những kết luận và đề xuất của đề tài đang được ứng dụng trong thực tế xây dựng XHHT của tỉnh ta song song với việc thực hiện Đề án "Đẩy mạnh xã hội giáo dục và xây dựng XHHT tỉnh Hải Dương" giai đoạn 2006 - 2010 theo Quyết định 195/QĐ - UBND ngày 15/1/2006 của UBND tỉnh (Cụ thể hóa đề án "Xây dựng xã hội học tập ở Việt Nam theo Quyết định 112/QĐ - TTg của Thủ tướng Chính phủ).

Chúng ta đang đón chờ Đề án xây dựng XHHT Việt Nam giai đoạn 2011 - 2020 của Chính phủ theo sự chỉ đạo của Ban chỉ đạo xây dựng xã hội học tập quốc gia và thực hiện sự hướng dẫn của Trung ương Hội KHVN về xây dựng những mô hình XHHT cấp huyện, quận, thị xã.

Mỗi ngành, mỗi người tích cực học tập và góp phần xây dựng xã hội học tập là thiết thực học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, để chủ trương của Đảng và nhà nước về "Xây dựng cả nước trở thành một xã hội học tập" sớm trở thành hiện thực.

























Bài 3

CÔNG TÁC THI ĐUA KHEN THƯỞNG

NHIỆM KỲ III (2011 – 2015)



I. NHỮNG QUY ĐỊNH VỀ THI ĐUA KHEN THƯỞNG CỦA HỘI KHUYẾN HỌC TỈNH HẢI DƯƠNG NHIỆM KỲ III (2011 - 2015)

Ngày 28/6/2011 Chủ tịch Hội Khuyến học tỉnh đã ký Quyết định số 18/QĐ – KH (xem Quyết ở phần cuối cuốn tài liệu này) và ban hành kèm theo Quyết định “Quy định về thi đua khen thưởng của Hội Khuyến học tỉnh Hải Dương nhiệm kỳ III (2011 - 2015)". Dưới đây là một số nội dung cơ bản của Quy định

CHƯƠNG I. CÁC DANH HIỆU THI ĐUA

Điều 1: Đối với cá nhân:

1. Hội viên.

a. Hội viên khuyến học tiên tiến - gọi tắt là Hội viên tiên tiến

b. Hội viên khuyến học xuất sắc - gọi tắt là Hội viên xuất sắc

2. Cán bộ khuyến học.

a. Cán bộ khuyến học tiên tiến - gọi tắt là Cán bộ tiên tiến

b. Cán bộ khuyến học xuất sắc - gọi tắt là Cán bộ xuất sắc

Điều 2: Gia đình và dòng họ

1. Gia đình

a. Gia đình hiếu học

b. Gia đình hiếu học xuất sắc

2. Dòng họ

a. Dòng họ hiếu học

b. Dòng họ hiếu học xuất sắc

Điều 3: Đối với tập thể

1. Khu dân cư hiếu học(Thôn, làng)

a. Khu dân cư hiếu học

b. Khu dân cư hiếu học xuất sắc

2. Đơn vị khuyến học (cơ quan, nhà trường, doanh nghiệp, đơn vị công an, quân đội)

a. Đơn vị khuyến học tiên tiến

b. Đơn vị khuyến học xuất sắc

3. Xã (phường, thị trấn) huyện, (thị xã, thành phố) tỉnh (gọi tắt (xã, huyện, tỉnh))

a. Xã, huyện, tỉnh Hội Khuyến học tiến tiến (đạt điểm khá)

b. Xã, huyện, tỉnh Hội Khuyến học xuất sắc (đạt điểm tốt)

CHƯƠNG II. CÁC TIÊU CHÍ CÔNG NHẬN DANH HIỆU THI ĐUA

Điều 4: Hội viên tiên tiến và xuất sắc.

1. Hội viên tiên tiến.

a. Có tinh thần học tập và động viên các thành viên khác trong gia đình cùng học tập.

b. Chăm lo cho con cháu được học tập tốt, học liên tục, không mắc các tệ nạn xã hội.

c. Tham gia tích cực hoạt động Hội, đóng quỹ khuyến học đầy đủ.

2. Hội viên xuất sắc

a. Đạt danh hiệu hội viên tiên tiến 3 năm liền trở lên.

b. Có thành tích các mặt cao hơn hội viên tiên tiến.

Điều 5. Cán bộ khuyến học tiên tiến và xuất sắc.

1.Cán bộ tiên tiến

a. Gương mẫu học tập thường xuyên và vận động mọi người học tập

b. Hoàn thành tốt công việc được phân công

c. Đóng góp vào công tác chỉ đạo chung của Hội Khuyến học tốt

2. Cán bộ xuất sắc

a. Đạt các tiêu chuẩn cán bộ khuyến học tiên tiến 3 năm liền

b. Có thành tích các mặt cao hơn các cán bộ khuyến học tiên tiến.

Điều 6: Gia đình hiếu học và gia đình hiếu học xuất sắc.

1. Gia đình hiếu học

a. Con em trong gia đình ở các trường học đều đạt từ trung bình trở lên, không lưu ban, không bỏ học và không mắc các tệ nạn xã hội.

b. Người lớn tuổi trong gia đình đều có ý thức học tập (trừ già yếu).

c. Trong gia đình có hội viên khuyến học tiên tiến, gia đình hạnh phúc.

2. Gia đình hiếu học xuất sắc

a. Đạt 3 năm liền gia đình hiếu học.

b. Có thành tích các mặt cao hơn gia đình hiếu học, con em trong gia đình phải học tập đạt loại khá trở lên.

Điều 7: Dòng họ hiếu học, dòng họ hiếu học xuất sắc.

1. Dòng họ hiếu học

a. Có 60% gia đình trong dòng họ có hội viên khuyến học và đăng ký phấn đấu đạt danh hiệu dòng họ hiếu học.

b. Có 30% trở lên số gia đình trong dòng họ đạt danh hiệu gia đình hiếu học.

c. Dòng họ giúp đỡ con em các gia đình nghèo trong họ đi học, không có học sinh bỏ học, lưu ban, mắc các tệ nạn xã hội.

2. Dòng họ hiếu học xuất sắc

a. Đạt dòng họ hiếu học 3 năm liền trở lên

b. Có thành tích các mặt cao hơn dòng họ hiếu học, có 50% trở lên số gia đình trong dòng họ đạt danh hiệu gia đình hiếu học.

c. 85% gia đình trong dòng họ có thành viên là hội viên khuyến học và hoạt động tích cực, có quỹ khuyến học của dòng họ.

Điều 8: Khu dân cư hiếu học, khu dân cư hiếu học xuất sắc (thôn)

1. Khu dân cư hiếu học (KDCHH)

a. Khu dân cư có chi Hội Khuyến học hoạt động thường xuyên có biện pháp và hình thức hoạt động cho học sinh ở ngoài nhà trường không có học sinh hư và mắc các tệ nạn xã hội.

b. Có 100% tổng số hộ đăng ký xây dựng GĐHH và trong đó có 25% hộ được công nhận GĐHH, có quỹ khuyến học sử dụng đúng mục đích.

2. Khu dân cư hiếu học xuất sắc.

a. Có 3 năm liền đạt khu dân cư hiếu học

b. Đạt các chỉ tiêu cao hơn so với khu dân cư hiếu học

c. Có 50% số gia đình trong khu dân cư đạt tiêu chuẩn GĐHH

Điều 9: Đơn vị khuyến học tiên tiến, đơn vị khuyến học xuất sắc (cơ quan, nhà trường…)

1. Đơn vị khuyến học tiên tiến

a. Các thành viên trong đơn vị được tham gia học tập thường xuyên 80% số hộ gia đình đăng ký phấn đấu gia đình hiếu học ở nơi cư trú. Có trên 50% số gia đình đạt GĐHH trong đó có 25% là gia đình hiếu học xuất sắc.

b. Có tổ chức chi hội, ban khuyến học trong đơn vị hoạt động tốt, có quỹ khuyến học.

c. Có thành tích cụ thể giúp đỡ, phối hợp với các tổ chức khuyến học tại địa phương.

2. Đơn vị khuyến học xuất sắc

a. Đạt danh hiệu đơn vị khuyến học tiên tiến 3 năm liền trở lên.

b. Chất lượng phong trào khuyến học phát triển tốt, liên tục bền vững.

c. Là tấm gương điển hình về khuyến học, khuyến tài, xây dựng xã hội học tập, trong các đơn vị ở cơ sở.

Điều 10: Xã, huyện, tỉnh, khuyến học tiên tiến và xuất sắc

Căn cứ vào 5 tiêu chuẩn sau đây.

Tiêu chuẩn 1: Phát triển các tổ chức hội và hội viên (10 điểm)

- Có ít nhất 80% các chi hội (Ban khuyến học) tại các cơ sở.

- Tỷ lệ hội viên năm sau cao hơn năm trước. Đến năm 2015 tỷ lệ hội viên đạt 15% dân số.

- Trên 70% hội viên đóng hội phí.

Tiêu chuẩn 2: Có nhiều hình thức khuyến học, khuyến tài, xây dựng xã hội học tập đối với giáo dục trong nhà trường (25 điểm)

2.1 - Tăng số lượng học bổng cho học sinh nghèo, học bổng cho học sinh giỏi.

- Hỗ trợ cho giáo viên có hoàn cảnh khó khăn

- Có các hình thức hỗ trợ cơ sở vật chất cho nhà trường…

2.2 - Áp dụng có hiệu quả những sáng kiến đã có và phong trào thi đua "Dạy tốt, học tốt"

- Phối hợp với ngành Giáo dục & Đào tạo thực hiện phong trào "Trường học thân thiện, học sinh tích cực" có hiệu quả rõ rệt.

2.3. Tổ chức tốt việc quản lý và giáo dục học sinh ở khu dân cư.

Tiêu chuẩn 3: Mở rộng và nâng cao các hoạt động khuyến học, khuyến tài, xây dựng XHHT với các đối tượng không học trong nhà trường chính quy (25 điểm).

3.1 Đẩy mạnh phong trào xây dựng gia đình, dòng họ, khu dân cư hiếu học và xuất sắc.

- Có trên 60% số hộ đăng ký trở thành gia đình hiếu học, có 30% số hộ đạt chuẩn, có 60% dòng họ đăng ký DHHH, có 30% dòng họ đạt chuẩn.

3.2 Góp phần củng cố xây dựng và phát triển hoạt động của Trung tâm HTCĐ

3.3. Làm tốt vai trò nòng cốt trong vận động, phối hợp, liên kết với lực lượng xã hội trên địa bàn xã, phường, thị trấn.

Tiêu chuẩn 4: Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, tập huấn cán bộ tham mưu tư vấn (30 điểm)

4.1 Xây dựng hệ thống thông tin khuyến học ở mọi địa phương với những yêu cầu sau:

- Tỉnh Hội có nội san khuyến học (Quý 1 số) và tổ chức 1 số lần phát thanh, truyền hình trên đài PTTH tỉnh.

- Máy tính hóa văn phòng cấp tỉnh và từng bước ở cấp huyện.

- Hội Khuyến học cơ sở (xã, phường, thị trấn) có báo Khuyến học và Dân trí và viết bài cho đài, báo địa phương, Trung ương.

4.2 Hội Khuyến học cấp tỉnh và huyện tổ chức các hình thức bồi dưỡng cho cán bộ lãnh đạo Hội đạt từ 70% cán bộ cơ sở trở lên/năm.

- Thực hiện tốt công tác tham mưu, tư vấn về khuyến học, khuyến tài, xây dựng xã hội học tập với cấp ủy và chính quyền địa phương.

4.3. Công tác Văn phòng với những yêu cầu sau:

- Báo cáo tháng, quý, 6 tháng, 1 năm và báo cáo đột xuất (nếu có) đúng kỳ hạn đúng ngày nội dung đầy đủ, rõ ràng.

- Tỉnh hội triệu tập họp: Đi họp đầy đủ, đúng thành phần, đúng giờ (trừ trường hợp đặc biệt phải báo cáo)

- Sổ sách lưu trữ đầy đủ, rõ ràng, sạch sẽ.

Tiêu chuẩn 5: Đẩy mạnh công tác xây dựng quỹ khuyến học (10 điểm)

Có nhiều hình thức xây dựng quỹ khuyến học, khuyến tài. Tổng quỹ năm sau cao hơn năm trước, sử dụng quỹ khuyến học công bằng, minh bạch, có hiệu quả.

CHƯƠNG III. CÁCH ĐÁNH GIÁ, XẾP LOẠI VÀ CÔNG NHẬN

Điều 11. Đối với hội viên, cán bộ Hội, gia đình và dòng họ, khu dân cư, đơn vị khuyến học

1. Các cá nhân và tập thể nếu đạt các tiêu chuẩn tiên tiến thì đề nghị Ban chấp hành Hội Khuyến học cơ sở xét công nhận. Nếu đạt được tiêu chuẩn xuất sắc, tiêu biểu thì đề nghị Ban chấp hành Hội Khuyến học cấp huyện, tỉnh và TW Hội xem xét cộng nhận.

2. Việc bình xét và công nhận các danh hiệu được tiến hành vào quý 4 hàng năm tại các cấp Hội và được biểu dương vào dịp tổng kết năm.

Điều 12. Đối với xã, huyện, tỉnh

1. Cho điểm, tự xếp loại và công nhận danh hiệu thi đua

a. Các xã trong huyện chia thành nhiều cụm (mỗi cụm từ 4-5 xã)

b. 12 huyện, thị xã, thành phố trong tỉnh: chia thành 3 cụm

Cụm 1: Hải Dương, Cẩm Giàng, Thanh Hà, Tứ Kỳ do Đ/c Phạm Văn Bảo, chủ tịch Hội phụ trách.

Cụm 2: Chí Linh, Kinh Môn, Kim Thành, Nam Sách do Đ/c Lê Quý Đôn phó Chủ tịch Hội thường trực phụ trách.

Cụm 3: Gia Lộc, Ninh Giang, Thanh Miện, Bình Giang do Đ/c Lương Văn Cầu, Phó giám đốc Sở GD - ĐT, Phó chủ tịch Hội phụ trách.

Cụm trưởng theo chế độ luân phiên

c. Đánh giá thi đua theo 5 tiêu chuẩn trong đó có 10 tiêu chí, mỗi tiêu chí trong tiêu chuẩn được tính điểm từ 1 đến 10, nếu đạt thật đầy đủ các thành tích đã nêu trên thì được điểm như sau:

Tiêu chuẩn 1: 10 điểm (1 tiêu chí)

Tiểu chuẩn 2: 25 điểm (3 tiêu chí)

Tiêu chuẩn 3: 25 điểm (3 tiêu chí)

Tiêu chuẩn 4: 30 điểm (2 tiêu chí)

Tiêu chuẩn 5: 10 điểm (1 tiêu chí)

Tổng số 5 tiêu chuẩn là: 100 điểm

d. Cách xếp loại:

Từ 86 - 100 điểm: (loại tốt) là xã, huyện, khuyến học xuất sắc

Từ 71 - 85 điểm: (loại khá) là xã, huyện, khuyến học tiên tiến

Từ 50 - 70 điểm: (loại trung bình) là xã, huyện, khuyến học trung bình

Dưới 50 điểm: Loại yếu.

2. Thể thức tiến hành

a. Hội Khuyến học cấp xã, huyện, thị xã, thành phố tổng kết kết quả đạt được của từng tiêu chuẩn và cho điểm để tự xếp loại. Mỗi cụm suy tôn 01 đơn vị dẫn đầu.

b. Hội Khuyến học cấp huyện, thị xã, thành phố xem xét đánh giá kết quả thi đua các danh hiệu xuất sắc do cấp dưới trình lên để xét khen thưởng.

CHƯƠNG IV. CÁC HÌNH THỨC VÀ ĐỐI TƯỢNG KHEN THƯỞNG

Điều 13. Các hình thức khen thưởng của Hội Khuyến học tỉnh

1. Giấy khen

a. Giấy khen của tỉnh Hội được xét tặng cho các cá nhân, tập thể có thành tích xuất sắc trong hoạt động khuyến học, khuyến tài, góp phần xây dựng XHHT.

b. Các cá nhân và tập thể được tỉnh Hội xét tặng giấy khen thì trước đó phải được Huyện hội hoặc các phòng ban của huyện, thị xã, thành phố khen.

2. Cờ thi đua.

a. Cờ thi đua xuất sắc của tỉnh Hội được xét tặng cho các tổ chức Hội đạt thành tích tiêu biểu xuất sắc toàn diện trong phong trào khuyến học, khuyến tài, xây dựng xã hội học tập ở địa phương.

b. Các tổ chức được đề nghị tỉnh Hội tặng cờ thi đua xuất sắc phải có ít nhất 2 lần được tỉnh hội, huyện hội, hoặc các phòng ban của huyện khen.

3. Bảng vàng khuyến học

a. Bảng vàng khuyến học nhằm mục đích tôn vinh công lao đóng góp của cá nhân hoặc tập thể cho sự nghiệp khuyến học, khuyến tài, xây dựng xã hội học tập ở địa phương

b. Điều kiện duy nhất được cấp Bảng vàng khuyến học là: Tập thể hoặc cá nhân ủng hộ tiền mặt hoặc hiện vật quy ra tiền mặt phải đạt mức từ 50 triệu đến dưới 100 triệu Việt Nam đồng (có thể ủng hộ một lần hoặc nhiều lần nhưng phải trong cùng một năm kế hoạch và phải có xác nhận của chính quyền địa phương).

Điều 14. Đề nghị ủy ban Mặt trận Tổ quốc tỉnh khen thưởng

Hàng năm Hội Khuyến học cấp huyện, thị xã, thành phố xét chọn một tập thể (hoặc cá nhân) có thành tích xuất sắc trong việc phối hợp chương trình thống nhất hành động với các thành viên Mặt trận tham gia công tác khuyến học đề nghị UBMT Tổ quốc tỉnh tặng Bằng khen.

Điều 15. Đề nghị UBND tỉnh xét khen thưởng.

1. Bằng khen

a. Bằng khen của UBND tỉnh được xét tặng cho các cá nhân, tập thể có thành tích tiêu biểu xuất sắc trong hoạt động khuyến học, khuyến tài, góp phần xây dựng XHHT.

b. Các cá nhân và tập thể đề nghị UBND tỉnh tặng bằng khen phải có: 3 lần cấp dưới trước đó tặng giấy khen (trừ trường hợp thành tích đột xuất thật tiêu biểu xuất sắc)

c. Hàng năm Tỉnh hội đề nghị UBND tỉnh tặng Bằng khen không quá 6 cá nhân và tập thể

2. Bảng vàng khuyến học.

a. Tập thể hoặc cá nhân ủng hộ tiền mặt hoặc hiện vật quy ra tiền mặt phải đạt mức: 100 triệu VN đồng trở lên trong một năm và có tờ trình của UBND huyện, thành phố, thị xã.

b. Các điều kiện khác như Bảng vàng của tỉnh Hội.

Điều 16. Đề nghị Trung ương Hội Khuyến học Việt Nam xét khen thưởng.

1. Kỷ niệm chương "Vì sự nghiệp khuyến học"

a. Là phần thưởng trao 1 lần cho hội viên, cán bộ Hội và những người có đóng góp lớn về trí lực, vật lực cho sự nghiệp khuyến học, khuyến tài và xây dựng XHHT.

b. Đối với hội viên và cán bộ khuyến học phải đạt danh hiệu xuất sắc và đã hoạt động trong hệ thống Hội ít nhất là 5 năm và đã được Huyện hội hoặc Tỉnh hội khen.

c. Đối với cán bộ các tổ chức Đảng, chính quyền, Đoàn thể, doanh nghiệp ở cơ sở phải là những người có những hoạt động tích cực nổi bật đối với sự nghiệp khuyến học từ 5 năm trở lên.

(Hàng năm mỗi huyện, thị xã, thành phố đề nghị không quá 3 kỷ niệm chương).

d. Danh sách trích ngang đối với cá nhân đề nghị tặng Kỷ niệm chương có 6 cột mục (số thứ tự, Họ và tên, địa chỉ, tóm tắt thành tích, ngày tham gia Hội Khuyến học hoặc làm cán bộ Hội, 2 năm trước đã được cấp nào khen).

2. Bằng khen

a. Bằng khen của Trung ương Hội được xét tặng cho các cá nhân hộ gia đình, dòng họ, tập thể có thành tích tiêu biểu xuất sắc trong hoạt động khuyến học, khuyến tài, góp phần xây dựng xã hội học tập.

b. Các cá nhân và tập thể đề nghị Trung ương Hội tặng bằng khen phải có ít nhất 3 lần được huyện hội và tỉnh hội khen thưởng

3. Cờ thi đua xuất sắc.

a. Cờ thi đua xuất sắc của Trung ương Hội được xét tặng cho các tổ chức Hội đạt thành tích tiêu biểu xuất sắc toàn diện trong phong trào khuyến học, khuyến tài xây dựng xã hội học tập của cả nước.

b. Các tổ chức đề nghị Trung ương Hội tặng cờ thi đua xuất sắc phải có ít nhất 3 năm được Trung ương Hội tặng bằng khen và đã được UBND tỉnh tặng bằng khen.

c. Đối với các Hội Khuyến học ở cấp huyện, thị xã, thành phố ngoài tiêu chuẩn trên còn phải là những huyện thật tiêu biểu xuất sắc.

d. Danh sách đề nghị Trung ương Hội tặng bằng khen, cờ thi đua xuất sắc phải có kèm theo bản tóm tắt thành tích của mỗi cá nhân, tập thể. Bản trích ngang ghi rõ theo các cột mục như sau: (số thứ tự, họ tên, (đơn vị), tuổi, chức vụ, quê quán, đơn vị, ngày tham gia Hội Khuyến học hoặc làm cán bộ Hội, thành tích nổi bật, 2 năm trước đó đã được cấp nào khen, hình thức khen).

4. Giải thưởng khuyến học Việt Nam (sẽ có hướng dẫn bổ sung)

CHƯƠNG V TỔ CHỨC THỰC HIỆN.

Điều 16. Phát động và sơ kết thi đua

Hàng năm Hội Khuyến học các cấp phát động thi đua và đăng ký danh hiệu thi đua đối với tập thể và cá nhân vào đầu năm và sơ kết thi đua vào cuối năm.

Hội Khuyến học các cấp chia các tổ chức khuyến học cấp dưới thành từng cụm thi đua phù hợp theo địa bàn để trao đổi kinh nghiệm và bình xét thi đua.

Điều 17: Tổ chức bình xét

1. Cuối năm các cá nhân và tổ chức khuyến học cơ sở tự tổ chức bình xét. Ban Thường vụ Hội Khuyến học cấp trên trực tiếp xem xét, quyết định công nhận khen thưởng và đề nghị cấp trên khen thưởng các danh hiệu thi đua xuất sắc hoặc tiêu biểu xuất sắc.

2. Các cấp Hội từ huyện trở lên thành lập Hội đồng thi đua khen thưởng của cấp mình, giúp ban Thường vụ về công tác thi đua khen thưởng.

3. Hồ sơ trình cấp trên khen thưởng.

- Phải có danh sách, bản thành tích tóm tắt, theo các cột mục đã được hướng dẫn.

- Các tờ trình đề nghị Trung ương Hội, UBND tỉnh, Chính phủ, Chủ tịch nước, phải có biên bản họp Hội đồng thi đua và tờ trình của UBND huyện, thị xã, thành phố.

4. Trước ngày 30 tháng 12 hàng năm Hội Khuyến học tỉnh gửi hồ sơ đề nghị khen thưởng thi đua về Hội đồng thi đua TW Hội (huyện, thị xã, thành phố, nếu gửi chậm, Tỉnh hội không chịu trách nhiệm)

5. Các cấp Hội cần chỉ đạo chặt chẽ, chính xác góp phần đẩy mạnh phong trào khuyến học, khuyến tài trong phạm vi toàn tỉnh.

Trong quá trình thực hiện nếu có điểm nào chưa phù hợp với thực tế sẽ được tiếp tục điều chỉnh bổ sung.

II. HỘI KHUYẾN HỌC HẢI DƯƠNG VỚI PHONG TRÀO THI ĐUA "VÌ SỰ NGHIỆP KHUYẾN HỌC” VÀ NHỮNG CHỈ TIÊU CHỦ YẾU NHIỆM KỲ 2011 – 2015

Thực hiện chỉ thị số 27/CT - TU ngày 24/5/2000 của Ban Thường vụ Tỉnh uỷ và Quyết định 1126A/QĐ - UB của UBND tỉnh, Hội Khuyến học tỉnh Hải Dương được thành lập từ ngày 01/6/2000. Ngày 02/10/2001 Lễ kỷ niệm 5 năm thành lập Hội Khuyến học Việt Nam tại hội trường UBND tỉnh, Hội Khuyến học tỉnh đã phát động phong trào thi đua "Vì sự nghiệp khuyến học" có sự chứng kiến của các đồng chí lãnh đạo tỉnh, lãnh đạo các huyện. Nội dung chủ yếu của phong trào thi đua là đẩy mạnh các hoạt động khuyến học.

1. Về công tác phát triển tổ chức Hội:

Chỉ trong 01 năm (2001) 263/263 xã, phường, thị trấn. 12/12 huyện, thành phố trong tỉnh đã thành lập xong Hội Khuyến học và tổ chức thành công Đại hội thứ nhất.

Năm 2000, khi mới thành lập, toàn tỉnh có 195.728 hội viên. Năm 2005 toàn tỉnh có 142.871 hội viên, năm 2010 toàn tỉnh có 195.728 hội viên. Đến tháng 6/2011 toàn tỉnh có 208.104 hội viên đạt tỷ lệ 13% dân số; 2888 chi Hội Khuyến học.

Hội đã chủ động phối hợp với Sở Giáo dục & Đào tạo, các sở, ban, ngành, đoàn thể và các tổ chức xã hội để phát triển nhanh và đẩy mạnh hoạt động khuyến học. Hội Khuyến học các cấp đã cùng nhà trường vận động không để học sinh bỏ học, hỗ trợ học sinh, gia đình quá khó khăn, khen thưởng kịp thời thày dạy giỏi, trò học giỏi. Vận động cha mẹ học sinh, các đoàn thể ở địa phương, các doanh nghiệp, các nhà hảo tâm… góp công sức, tiền của xây dựng nhà trường, sân chơi, bãi tập, bồn hoa, cây cảnh, mua sắm thêm trang thiết bị dạy và học cho nhà trường, trị giá hàng chục tỷ đồng. Hội đã cùng với ngành Giáo dục & Đào tạo xây dựng và đẩy mạnh hoạt động của các Trung tâm học tập cộng đồng.

Liên tục nhiều năm qua phong trào giáo dục ở Hải Dương luôn đứng trong tốp đầu ngành giáo dục cả nước về thành tích chất lượng giáo dục toàn diện, học sinh thi đỗ vào các trường Đại học, Cao đẳng, học sinh giỏi quốc gia, quốc tế, trong thành tích chung đó có sự đóng góp không nhỏ của Hội Khuyến học các cấp tỉnh nhà.

Xây dựng và quản lý quỹ khuyến học có hiệu quả, đáp ứng được yêu cầu ngày càng cao của công tác khuyến học, khuyến tài, xây dựng xã hội học tập.

Sau khi có quyết định của UBND tỉnh về việc thành lập Hội Khuyến học, Thường trực Hội Khuyến học tỉnh đã chủ động, phối hợp với sở Tài chính, sở Nội vụ soạn thảo "Quy chế xây dựng, quản lý quỹ khuyến học tỉnh Hải Dương" bản quy chế đã được UBND tỉnh phê duyệt tại Quyết định số 2885/2001/QĐ-UB ngày 02/10/2001. Quỹ được xây dựng từ nhiều nguồn trong đó có từ nguồn ngân sách nhà nước. Số tiền 500 triệu đồng do UBND tỉnh cấp để mua sắm trang thiết bị làm việc, nhưng Thường trực Hội đã dành cả 500 triệu làm vốn ban đầu của quỹ. Bằng nhiều hình thức vận động và kinh nghiệm quản lý, sử dụng quỹ đúng mục đích, có hiệu quả trong 10 năm (2001 - 2010) quỹ khuyến học các cấp tỉnh Hải Dương đã vận động được trên 48 tỷ đồng. Riêng 6 tháng đầu năm 2001 quỹ khuyến học các cấp trong tỉnh đã vận động được trên 18 tỷ đồng. Hàng nghìn học sinh nghèo đã được cấp học bổng, hàng chục ngàn học sinh được khen thưởng, góp phần quan trọng vào hiệu quả hoạt động của Hội.

Hội đã coi trọng công tác tuyên truyền và bồi dưỡng cán bộ khuyến học đến nay tỉnh ta đã có đội ngũ cán bộ khuyến học nhiệt tình, tâm huyết, sáng tạo, có tinh thần trách nhiệm cao, bước đầu đáp ứng được yêu cầu đặt ra với công tác khuyến học, khuyến tài, xây dựng xã hội học tập.

Bằng những nỗ lực trong việc thực hiện các Đề án "Đẩy mạnh xã hội hoá giáo dục, xây dựng xã hội học tập" của Tỉnh uỷ, "Hội Khuyến học Việt Nam góp phần xây dựng xã hội học tập từ cơ sở" của Trung ương Hội và đề tài khoa học cấp tỉnh "Nghiên cứu xây dựng mô hình xã hội học tập trên địa bàn tỉnh Hải Dương", Hội Khuyến học tỉnh đã đóng góp tích cực vào việc hình thành xã hội học tập ở Hải Dương.

Phong trào thi đua "Vì sự nghiệp khuyến học" sôi nổi, rộng khắp và đạt kết quả cao. Năm 2012, Ban chấp hành Hội Khuyến học tỉnh đã quy định và hướng dẫn tiêu chuẩn, bình chọn gia đình hiếu học, dòng họ đơn vị khuyến học. Hội nghị biểu dương gia đình hiếu học, dòng họ hiếu học, đơn vị khuyến học tiêu biểu lần thứ nhất được tổ chức từ cơ sở đến tỉnh. Tỉnh tổ chức hội nghị lần thứ 1 vào tháng 3/2003, lần thứ 2 vào tháng 9/2006, lần thứ 3 vào tháng 12/2008, lần thứ 4 vào tháng 12/2010.

Nhiệm kỳ I, toàn tỉnh công nhận 32.471 gia đình hiếu học, công nhận 2504 dòng họ hiếu học.

Nhiệm kỳ II, toàn tỉnh công nhận 51.473 gia đình hiếu học, công nhận 4.060 dòng họ hiếu học, 1.321 đơn vị khuyến học. Có 4 gia đình được dự Đại hội biểu dương gia đình hiếu học toàn quốc lần thứ nhất (10/11/2004) 3 gia đình và 2 dòng họ hiếu học tiêu biểu toàn quốc lần thứ hai( 10/10/2007).

Phong trào thi đua khuyến học của tỉnh đã góp phần khơi dạy truyền thống hiếu học của một tỉnh có truyền thống văn hiến của từng bước nâng lên tầm cao mới.

Trong 11 năm xây dựng và phát triển, Hội Khuyến học tỉnh Hải Dương đã đạt được nhiều thành tích xuất sắc, được trao nhiều phần thưởng cao quý:

- Chủ tịch nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam tặng huân chương lao động hạng ba, Thủ tướng Chính phủ tặng bằng khen, Trung ương Hội Khuyến học Việt Nam tặng 6 cờ thi đua xuất sắc, 25 bằng khen, 234 kỷ niệm chương "Vì sự nghiệp khuyến học"

- Tỉnh uỷ Hải Dương tặng bức trướng "Phát huy sức mạnh toàn dân, khuyến học, khuyến tài, xây dựng xã hội học tập từ cơ sở" nhân kỷ niệm 10 năm ngày thành lập Hội Khuyến học Việt Nam (02/10/1996 - 02/10/2006) và nhiều bằng khen của Tỉnh uỷ, UBND tỉnh, UBMT Tổ quốc tỉnh trao tặng cho các tập thể và cá nhân đã có thành tích xuất sắc trong công tác khuyến học, khuyến tài, xây dựng xã hội học tập.

6. Những chỉ tiêu chủ yếu nhiệm kỳ 2011 - 2015.

Thực hiện nghị quyết Đại hội Đảng các cấp, Đại Hội Khuyến học Việt Nam lần IV, phát huy thành tích đã đạt được trong 11 năm qua từ nay đến năm 2015 các cấp Hội Khuyến học tỉnh nhà quyết tâm phấn đấu đạt các mục tiêu chủ yếu sau đây:

- Phát triển hội viên khuyến học đạt 15% dân số của tỉnh.

- 90% dòng học có ban khuyến học và trên 50% có hoạt động tốt.

- 100% các trường học phổ thông, chuyên nghiệp, Đại học có tổ chức, khuyến học và có hoạt động hiệu quả.

- 100% các cơ quan, doanh nghiệp có tổ chức và hình thức hoạt động khuyến học thiết thực.

- 60% số hộ gia đình được công nhận là gia đình hiếu học.

- 50% dòng họ được công nhận là dòng họ hiếu học.

- Xây dựng quỹ khuyến toàn tỉnh đạt bình quân từ 10.000đ/người/năm trở lên.

- 100% cán bộ chủ chốt Hội Khuyến học các cấp được tập huấn hàng năm.

Với niềm tin vào sự lãnh đạo và tạo điều kiện của Đảng bộ và chính quyền các cấp. Với niềm tin phấn khởi, Hội Khuyến học vừa được Thủ tướng Chính phủ Quyết định và Hội có tính chất đặc thù, với tâm huyết và trí tuệ của đội ngũ cán bộ và Hội viên khuyến học ngày một tăng, với phong trào thi đua ngày một rộng khắp. Chúng ta tin tưởng sẽ đưa sự nghiệp khuyến học, khuyến tài, xây dựng xã hội học tập của tỉnh nhà nên tầm cao mới góp phần đưa Hải Dương thành một tỉnh văn minh giàu đẹp.





























Bài 4

XÂY DỰNG, QUẢN LÝ , SỬ DỤNG QUỸ KHUYẾN HỌC



I. TẦM QUAN TRỌNG, CƠ SỞ PHÁP LÝ CỦA VIỆC THÀNH LẬP QUỸ KHUYẾN HỌC

1. Tầm quan trọng của quỹ khuyến học

Quỹ khuyến học là cơ sở vật chất vô cùng quan trọng, rất cần thiết để duy trì, mở rộng và nâng cao chất lượng hoạt động khuyến học, khuyến tài, xây dựng xã hội học tập.

Nếu chúng ta có một đội ngũ cán bộ, hội viên khuyến học giàu tâm huyết, có năng lực nhưng không có kinh phí tối thiểu thì cũng không thể hoạt động được, càng không thể hỗ trợ được những đối tượng khó khăn cần đến Hội Khuyến học.

Vì vậy song song với phát triển tổ chức, Hội Khuyến học các cấp phải tranh thủ sự lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy, chính quyền, sự hỗ trợ của Mặt trận Tổ quốc, sự phối hợp của các ngành, đoàn thể địa phương để phát huy sức mạnh của toàn xã hội xây dựng quỹ khuyến học ngày càng có số dư cao để duy trì hoạt động của Hội.

2. Cơ sở pháp lý của việc xây dựng Quỹ khuyến học

Quỹ khuyến học Việt Nam được thành lập theo Quyết định số 183/1999/QĐ - TTg ngày 09/9/1999 của Thủ tướng Chính phủ và Quyết định số 123/1999/QĐ - TC ngày 11/10/1999 của Bộ trưởng Bộ tài chính phê duyệt bản Điều lệ Quỹ khuyến học Việt Nam.

Ở tỉnh ta, Quỹ khuyến học Hải Dương được thành lập theo Quyết định số 2885/2001/QĐ - UB ngày 02/10/2001 của UBND tỉnh Hải Dương về việc "Phê duyệt bản quy chế quản lý Quỹ khuyến học tỉnh Hải Dương"

II. NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA ĐIỀU LỆ QUỸ KHUYẾN HỌC

1. Điều lệ quỹ khuyến học Việt Nam

Điều 14 chương V Điều lệ Quỹ khuyến học Việt Nam đã quy định "Quỹ khuyến học của tổ chức Hội địa phương và tổ chức Hội cơ sở (gọi chung là quỹ khuyến học địa phương) là quỹ do Hội địa phương thành lập. Quỹ do cấp Hội nào thành lập thì cấp hội đó quản lý và chỉ đạo hoạt động theo các quy định về quản lý kinh tế, tài chính của Nhà nước".

2. Quy chế quản lý Quỹ khuyến học Hải Dương

Quy chế quản lý quỹ khuyến học tỉnh Hải Dương gồm 4 chương, 11 điều.

Chương I. Điều khoản chung. gồm 3 điều (điều 1,2,3)

Điều 3 quy định: Quỹ khuyến học Hải Dương có tư cách pháp nhân được mở tài khoản tại Ngân hàng và chịu trách nhiệm trước pháp luật về hoạt động của mình.

Chương II. Nguồn thu, sử dụng và quản lý quỹ gồm 4 điều (điều 4,5,6,7)

Điều 4: Quỹ có nguồn thu sau:

- Tiền và tài sản do các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước đóng góp tự nguyện và tài trợ cho quỹ phù hợp với các quy định của pháp luật.

- Tiền và tài sản do các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước ủy quyền cho quỹ tài trợ theo địa chỉ cụ thể

- Thu lãi từ khoản tiền gửi, các khoản thu hợp pháp khác.

- Từ khoản hỗ trợ của ngân sách nhà nước.

Quỹ được sử dụng vào các mục đích sau (tóm tắt):

- Tài trợ cho các chương trình, đề án hỗ trợ giáo dục hoặc theo địa chỉ chỉ định của các tổ chức, cá nhân tài trợ

- Trợ giúp các hoạt động giáo dục tại các địa bàn có khó khăn đặc biệt.

- Trợ giúp học sinh nghèo vượt khó đạt kết quả xuất sắc trong học tập.

- Thưởng cho học sinh, sinh viên có thành tích cao trong các kỳ thi

- Trợ giúp các đối tượng có năng khiếu đặc biệt trong học tập

- Trợ giúp giáo viên dạy giỏi, học sinh học giỏi của trường sư phạm gặp khó khăn đặc biệt.

- Chi hoạt động quản lý quỹ (do hội đồng quản lý quỹ xây dựng, không quá 5% tổng số thu của quỹ)

Chương III. Quan hệ giữa quỹ khuyến học các cấp: 2 điều (điều 8,9)

Chương IV. Điều khoản thi hành: 2 điều (điều 10,11)

Hội Khuyến học các cấp cần nghiên cứu nắm vững những quy định trong Quy chế quản lý Quỹ khuyến học, có đủ sổ sách, ghi chép kịp thời, báo cáo thu, chi quỹ đúng thời điểm quy định, đảm bảo tính công bằng, công khai, minh bạch, có hiệu quả trong sử dụng Quỹ khuyến học.

III. CÁC HÌNH THỨC VẬN ĐỘNG XÂY DỰNG QUỸ KHUYẾN HỌC

Để có được Quỹ khuyến học có số dư bền vững, ngày càng tăng cần có nhiều hình thức vận động xây dựng quỹ phù hợp với địa phương, nông thôn, thành phố, vùng khó khăn.

1. Những hình thức phổ biến

- Cần thường xuyên tuyên truyền về ý nghĩa, mục đích của Quỹ khuyến học. Trước hết từ trong cấp ủy, chính quyền, Mặt trận tổ quốc, các ngành đoàn thể của địa phương, tới các hội viên và toàn dân qua hệ thống truyền thanh của cụm dân cư, của xã, phường… qua các cuộc họp, các buổi họp mặt truyền thống, ngày lễ…

- Đề nghị chính quyền, các ban ngành, đoàn thể địa phương tài trợ ban đầu cho quỹ.

- Đề nghị cấp ủy, chính quyền địa phương thông qua Hội đồng nhân dân quy định mức đóng góp hàng năm của các tầng lớp nhân dân để đóng góp phần đẩy mạnh công tác khuyến học, khuyến tài xây dựng xã hội học tập theo tinh thần của Chỉ thị 11/CT - TW của Bộ chính trị "Xây dựng xã hội học tập là nhiệm vụ của toàn Đảng, toàn dân". Chỉ thị 02/2008/CT - TTg của Thủ tướng Chính phủ đã giao cho UBND các cấp chỉ đạo phối hợp với các cơ quan, các đoàn thể, thường xuyên đẩy mạnh các hoạt động khuyến học, khuyến tài, xây dựng xã hội học tập trên địa bàn, tạo điều kiện thuận lợi để các cấp Hội Khuyến học hoạt động có hiệu quả, đúng tôn chỉ, mục đích

- Vận động các tổ chức, cơ quan, công ty, doanh nhân, nhà máy, xí nghiệp những nhà hảo tâm, nhà chùa, nhà thờ ở địa phương… ủng hộ thường xuyên hoặc đột xuất cho Quỹ khuyến học.

- Viết thư kêu gọi hoặc cử cán bộ liên lạc với các hội đồng hương, đồng ngũ ở các huyện, thành phố, thị xã… ủng hộ quỹ khuyến học quê hương.

- Tranh thủ sự ủng hộ của các Việt kiều gốc ở địa phương, người nước ngoài có liên quan, người Việt làm ăn ở nước ngoài.

- Vận động các hình thức tiết kiệm ủng hộ quỹ khuyến học, ví dụ: khi đến đăng ký kết hôn, tự nguyện ủng hộ quỹ khuyến học; gia đình bớt 1 bánh chưng ngày Tết, bớt 1 mâm cỗ cưới…

- Ban khuyến học ở cơ quan đề nghị với chính quyền, công đoàn vận động cán bộ, nhân viên ủng hộ 1 ngày lương cho quỹ khuyến học hoặc trích quỹ công đoàn…

- Dòng họ khuyến học vận động con cháu ở xa về trong dịp Tết, dịp Thanh minh, giỗ Tổ… ủng hộ quỹ khuyến học dòng họ.

- Tranh thủ sự hỗ trợ của quỹ khuyến học cấp trên.

2. Những hình thức đặc biệt

2.1. Vận động trao học bổng: dạng 1 + 1 tiến tới 1 + n (một người, một gia đình, một xí nghiệp … giúp học bổng dài hạn cho một hoặc nhiều học sinh, sinh viên nghèo, học giỏi).

2.2. Các hình thức gây quỹ khuyến học khác

- Trồng hàng cây khuyến học

- Đàn gà khuyến học

- Nuôi "lợn đất" khuyến học (bỏ tiền tiết kiệm vào lợn đất cuối năm "mổ lợn" để tổng kết quỹ)

Các hình thức đặc biệt này đang phát triển ở nhiều tỉnh. Ở tỉnh ta Hội Khuyến học huyện Kinh Môn đang mở rộng phong trào "con gà khuyến học", "cây chuối khuyến học". Công ty TNHH Đông Á do ông Nguyễn Công Toản làm giám đốc đã trao học bổng dài hạn (học hết THPT) cho 5 em học sinh; mỗi năm 1,8 triệu đồng cho 1 học sinh. Loại học bổng này có tác dụng rất cụ thể, người trao học bổng nhìn thấy ngay kết quả qua mỗi lần gặp gỡ các em, người được nhận học bổng dài hạn yên tâm, nỗ lực phấn đấu.

IV. KẾT QUẢ XÂY DỰNG, QUẢN LÝ, SỬ DỤNG QUỸ KHUYẾN HỌC HẢI DƯƠNG GIAI ĐOẠN 2001 - 2011. PHƯƠNG HƯỚNG GIAI ĐOẠN 2011 - 2015.

1. Kết quả xây dựng, quản lý, sử dụng Quỹ khuyến học tỉnh Hải Dương giai đoạn 2001 - 2011

1.1. Vận động xây dựng Quỹ khuyến học toàn tỉnh.

Đầu năm 2001 ngay sau khi Hội Khuyến học tỉnh thành lập, UBND tỉnh đã tặng Hội Khuyến học 500 triệu đồng, tiếp đó cụ Lê Quốc Chinh một lão thành cách mạng quê ở Toàn Thắng, huyện Gia Lộc, hiện sống tại thành phố Hồ Chí Minh đã tặng Quỹ khuyến học 500 triệu đồng. Số tiền 1 tỷ đồng được Hội Khuyến học tỉnh gửi vào ngân hàng, lãi suất hàng năm dùng trao học bổng cho các em học sinh vượt khó học giỏi toàn tỉnh.

Những năm qua Quỹ khuyến học tỉnh đã được các đơn vị, cơ quan, doanh nghiệp, nhà chùa, nhà thờ, các nhà hảo tâm hỗ trợ hàng năm như: Công ty TNHH Bảo hiểm nhân thọ Prudential Việt Nam, Ngân hàng Sài gòn thương tín - chi nhánh Hải Dương (Sacombank Hải Dương), Ngân hàng đầu tư phát triển (BIDV), Ngân hàng Nông nghiệp phát triển nông thôn Hải Dương (Agribank Hải Dương), Công ty TNHH Đông á, chùa Phong Hanh, Công ty du lịch Hà Hải, học bổng Lá Xanh, năm nay thêm học bổng Mai Vàng của người Nhật qua trường Nhật ngữ Đông Du.

Có những năm được Trung ương Hội Khuyến học Việt Nam giới thiệu một số đơn vị tài trợ như quỹ học bổng Lawrence S.Ting - Phú Mỹ Hưng, Quỹ học bổng "Vòng tay đồng đội", Quỹ học bổng INC…

Hội Khuyến học các huyện, xã, phường, thị trấn, các cơ quan, nhà trường dòng họ dùng nhiều hình thức vận động, vào nhiều thời điểm thích hợp (như đã nêu ở phần trên) đã xây dựng được Quỹ khuyến học hoạt động thường xuyên, duy trì được số dư bền vững.

Ở nhiệm kỳ I (2001 - 2005) Quỹ khuyến học toàn tỉnh vận động được 15.585.262.000đ. Sau khi chi số dư là 3. 971.153.000đ.

Nhiệm kỳ II (2006 - 2010) vận động được 32.431.244.000đ. Sau khi chi số dư là 10.865.388.000đ. Hội đã động viên kịp thời các đơn vị, cá nhân ủng hộ lớn, thời gian dài.

1.2. Quản lý, sử dụng quỹ

Trong 10 năm qua Hội Khuyến học các cấp đã chi khen thưởng thầy dạy giỏi, trò học giỏi, hỗ trợ học sinh khó khăn, học sinh đạt giải cao, học sinh trúng tuyển đại học, cao đẳng điểm cao, tặng học bổng những học sinh vượt khó học giỏi… Số tiền tổng chi là 33.179.965.000đ. Trong quá trình hoạt động Hội Khuyến học các cấp đã thực hiện đúng Quy chế quản lý Quỹ khuyến học của tỉnh.

Với sự hỗ trợ của Quỹ khuyến học hàng trăm học sinh đã không phải bỏ học giữa chừng, hàng nghìn học sinh nghèo đã vươn lên học đại học. Điều đáng quý hơn là thông qua hoạt động khuyến học, hỗ trợ học bổng đã giúp gắn bó thêm tình cảm gia tộc, xóm làng, khối phố, góp phần thúc đẩy nếp sống "Mình vì mọi người, mọi người vì mình".

Bên cạnh đó qua trường Nhật ngữ Đông Du, 10 năm qua Hội Khuyến học tỉnh đã giúp đỡ 120 học sinh (trong đó phần lớn là các em gia đình khó khăn) du học Nhật Bản theo hình thức vừa học vừa làm gia đình không phải chi phí. Trong số đó có 2 em đã được Hội Khuyến học tỉnh cấp học bổng 7 năm liền (4 năm THCS, 3 năm THPT), 2 em được cấp học bổng 3 năm liền (3 năm THPT) khi còn học phổ thông.

Hiện đã có 7 em tốt nghiệp thạc sĩ, 2 em học hết năm thứ nhất thạc sĩ, 5 em đã thi xong đầu vào, tháng 4/2012 bắt đầu học thạc sĩ.

Việc này vừa mang tính chất khuyến tài vừa thiết thực góp phần đào tạo cho tỉnh ta một lớp lao động có chuyên môn cao.

2. Phương hướng xây dựng Quỹ khuyến học giai đoạn 2011 - 2015.

- Có kế hoạch tuyên truyền thường xuyên để mọi người hiểu ý nghĩa tác dụng quan trọng của Quỹ khuyến học.

- Phối hợp nhiều cách vận động, ở nhiều thời điểm khác nhau, phù hợp với từng đối tượng để đạt hiệu quả cao.

- Điều tra số học sinh nghèo cần hỗ trợ trên địa bàn, phân loại theo thứ tự ưu tiên để khi có đơn vị tài trợ thì có hồ sơ kịp thời.

- Có sổ sách ghi chép theo dõi học sinh đã được trao học bổng để nắm được kết quả, tác dụng của học bổng.

- Cần thực hiện đúng Quy chế quản lý quỹ khuyến học, đúng phương châm: công bằng, công khai, minh bạch, hiệu quả.

- Phấn đấu đạt chỉ tiêu Quỹ từ 10.000đ/người/năm đến 15.000đ/người/năm trở lên theo số dân của địa phương.

- Động viên kịp thời các đơn vị, cá nhân ủng hộ lớn, thời gian dài: đề nghị tặng Bảng vàng khuyến học, bằng khen của Hội cấp trên hoặc chính quyền các cấp.

Đề nghị Đảng, chính quyền các cấp trực tiếp vận động xây dựng quỹ khuyến học sẽ có hiệu quả rất lớn.

Bài 5

XÂY DỰNG HỘI KHUYẾN HỌC CƠ SỞ VỮNG MẠNH



I. VỊ TRÍ, VAI TRÒ, NHỊÊM VỤ CỦA HỘI KHUYẾN HỌC CƠ SỞ

1. Vị trí, vai trò:

Hội Khuyến học cơ sở xã, phường, thị trấn là nền tảng của Hội Khuyến học Việt Nam, là cấp triển khai tổ chức thực hiện mọi chủ trương, kế hoạch công tác của Trung ương, tỉnh, huyện hội đưa xuống, là cầu nối trực tiếp giữa Đảng, chính quyền, Hội Khuyến học với nhân dân. Mọi chủ trương, kế hoạch hoạt động của Đảng, Nhà nước và Hội Khuyến học Việt Nam đến với nhân dân ở mức độ nào, rộng hay hẹp, nông hay sâu là tuỳ thuộc vào trình độ của cán bộ và cách tổ chức thực hiện của Hội Khuyến học cơ sở.

Sức mạnh của Hội Khuyến học Việt Nam chính là sức mạnh của tổng thể Hội Khuyến học cơ sở. Vì vậy, việc lựa chọn cán bộ ở cơ sở, việc tập huấn để cán bộ cơ sở và hội viên khuyến học nắm vững cách xây dựng tổ chức Hội, cách thúc đẩy mạnh hoạt động khuyến học, khuyến tài, xây dựng xã hội học tập từ cơ sở là việc làm vừa cấp bách, vừa cơ bản, quan trọng nhất hiện nay.

2. Nhiệm vụ của Hội Khuyến học cơ sở.

- Tổ chức triển khai thực hiện Điều lệ Hội, Nghị quyết Đại hội của Hội Khuyến học cơ sở, Chỉ thị của Hội cấp trên và các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước về khuyến học, khuyến tài, làm tốt vai trò nòng cốt trong việc liên kết, phối hợp với các tổ chức, các lực lượng xã hội đẩy mạnh phong trào khuyến học, khuyến tài, xây dựng xã hội học tập ở địa phương.

- Phát triển hội viên, phát triển tổ chức Hội ngày càng sâu rộng, vững mạnh.

- Thực hiện tư vấn, phản biện về đẩy mạnh hoạt động khuyến học, khuyến tài, xây dựng xã hội học tập từ cơ sở với cấp uỷ Đảng, chính quyền, các ban, ngành đoàn thể ở địa phương; tham gia giám sát việc thực hiện các chủ tương, chính sách về phát triển giáo dục đào tạo, khuyến học, khuyến tài của Đảng và Nhà nước.

- Đẩy mạnh thông tin, tuyên truyền khuyến học, khuyến tài, xây dựng xã hội học tập.

2.5. Chỉ đạo hoạt động, quản lý quỹ khuyến học cơ sở.

3. Cơ cấu tổ chức Hội Khuyến học cơ sở.

- Đại hội đại biểu hoặc Đại hội hội viên tiến hành 5 năm một lần, là cơ quan, lãnh đạo của Hội Khuyến học cơ sở.

- Thảo luận và thông qua báo cáo nhiệm kỳ của Ban chấp hành,

- Thảo luận các vấn đề do cấp trên yêu cầu,

- Quyết định phương hướng, nhiệm vụ công tác nhiệm kỳ mới,

- Thông qua báo cáo tài chính,

- Hiệp thương cử đại biểu đi dự đại hội cấp trên (nếu có)

4. Ban chấp hành Hội Khuyến học cơ sở

Hội Khuyến học cơ sở có Ban chấp hành do Đại hội đại biểu hoặc Đại hội hội viên bầu, được UBND xã, phường, thị trấn công nhận.

Ban chấp hành là cơ quan lãnh đạo của Hội giữa 2 kỳ đại hội. Số lượng uỷ viên Ban chấp hành do Đại hội quyết định, thường có từ 15 - 21 thành viên, trong đó có đại diện một số chi hội và các tổ chức có quan hệ nhiều đến công tác khuyến học (lãnh đạo Đảng uỷ, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc, Hiệu trưởng một số trường học đóng trên địa bàn, Hội Cựu giáo chức, Hội Người cao tuổi, Hội phụ nữ, Đoàn Thanh niên, Hội Nông dân, 1-2 doanh nhân thành đạt…)

Ban chấp hành bầu Ban Thường vụ, bầu Chủ tịch, Phó Chủ tịch trong số uỷ viên Ban Thường vụ; bầu Ban kiểm tra (thường có 3 người). Số uỷ viên Ban Thường vụ không quá 1/3 số uỷ viên Ban chấp hành. Trong quá trình hoạt động, nếu có yêu cầu Ban chấp hành bầu bổ sung uỷ viên BCH, nhưng không quá 1/3 số uỷ viên BCH do đại hội bầu.

Ban Chấp hành Hội Khuyến học cơ sở có 5 nhiệm vụ:

- Hướng dẫn các chi hội, tổ hội thực hiện Điều lệ Hội, Nghị quyết, Chỉ thị của Hội và các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước có liên quan đến khuyến học, khuyến tài, xây dựng XHHT.

- Định kỳ chủ động báo cáo với Hội Khuyến học quận, huyện với cấp ủy Đảng, chính quyền, tranh thủ sự giúp đỡ của MTTQ và liên kết với các ban, ngành, đoàn thể ở cơ sở để xây dựng chương trình công tác và phối hợp lực lượng đẩy mạnh phong trào khuyến học, khuyến tài, xây dựng XHHT ở cơ sở.

- Tổ chức phong trào thi đua “Gương sáng khuyến học", khen thưởng hội viên, cán bộ khuyến học.

- Giám sát việc thực hiện các chính sách của Đảng và Nhà nước về khuyến học, khuyến tài, phát triển giáo dục đào tạo.

- Sơ kết, tổng kết công tác Hội, chuẩn bị và triệu tập đại hội khi kết thúc nhiệm kỳ.

5. Ban Thường vụ Hội Khuyến học cơ sở

Ban Thường vụ Hội Khuyến học cơ sở do BCH Hội Khuyến học cơ sở bầu ra, thường có từ 5 - 7 người, gồm: Chủ tịch, Phó Chủ tịch, ủy viên thường trực (hay ủy viên thư ký) và các ủy viên. Số ủy viên Ban thường vụ không quá 1/3 số ủy viên BCH.

Ban Thường vụ Hội KHCS là cơ quan thường trực của BCH Hội KHCS, có 4 nhiệm vụ:

- Tổ chức thực hiện Nghị quyết của Đại hội, của BCH và các Chỉ thị, Nghị quyết của cấp trên.

- Tổ chức chỉ đạo hoạt động của các chi hội, tổ hội và các ban chuyên môn.

- Làm báo cáo thường kỳ và báo cáo chuyên đề.

- Chuẩn bị và triệu tập hội nghị BCH Hội cơ sở.

6. Chức trách, nhiệm vụ của các thành viên Ban Thường vụ

6.1. Chủ tịch Hội KHCS: Thay mặt Ban Thường vụ điều hành hoạt động thường xuyên, có nhiệm vụ

- Là người đại diện cho Hội trước pháp luật; chịu trách nhiệm về mọi hoạt động của Hội KHCS.

- Chủ trì các cuộc họp BCH, Ban Thường vụ.

- Ký các công văn, giấy tờ quan trọng, các báo cáo tổng kết, các quyết toán thu chi của Hội KHCS.

- Trực tiếp phụ trách công tác tổ chức cán bộ của Hội.

6.2. Phó Chủ tịch Hội KHCS: có từ 1 - 2 người

- 01 Phó Chủ tịch thường trực - Phụ trách công tác văn phòng

- 01 Phó Chủ tịch phụ trách kinh tế tài chính, quỹ khuyến học.

Phó Chủ tịch thường trực có nhiệm vụ:

- Thường trực giải quyết công việc hằng ngày và làm một số việc khác do BCH, Ban Thường vụ phân công.

- Thay mặt Chủ tịch Hội cơ sở khi Chủ tịch vắng hoặc được Chủ tịch ủy nhiệm.

- Trực tiếp phụ trách Ban Phong trào và một số công tác khác do Ban Thường vụ phân công.

6.3. Ủy viên thường trực (hay ủy viên thư ký) Hội KHCS: là ủy viên Ban Thường vụ, được phân công trực tiếp phụ trách công tác văn phòng, hành chính, quản trị.

6.4. Các ủy viên Ban Thường vụ, BCH khác: được phân chia ra các nhóm, gắn với các Ban chuyên môn.

7. Các ban chuyên môn giúp việc BCH, Ban Thường vụ Hội KHCS

Kinh nghiệm của nhiều địa phương cho thấy: bộ máy giúp việc BCH phải hết sức gọn nhẹ. Tùy theo yêu cầu và điều kiện thực tế ở địa phương, BCH Hội KHCS có thể thành lập một số Ban chuyên môn giúp BCH, Ban Thường vụ đi sâu theo dõi, chỉ đạo một số mặt công tác. Mỗi ban có 1 Trưởng ban, 1 - 2 Phó trưởng ban và một số ủy viên (là ủy viên BCH, một số là cán bộ chi hội).

Nhiều Hội KHCS đã thành lập 3 Ban chuyên môn, do 3 ủy viên Ban Thường vụ trực tiếp làm Trưởng ban.

7.1. Ban Tổ chức - Kiểm tra: Giúp BCH, Ban Thường vụ chỉ đạo thực hiện các nhiệm vụ:

- Phổ biến, tuyên truyền, thực hiện Điều lệ Hội, kết nạp hội viên, trao thẻ hội viên,

- Xây dựng tổ chức Hội và quy chế làm việc,

- Xây dựng đội ngũ cán bộ Hội, nắm tình hình nhân sự cán bộ Hội, chuẩn bị nhân sự bổ sung hoặc thay thế khi thiếu hụt và nhân sự cho đại hội .

- Theo dõi kiểm tra việc thực hiện Điều lệ Hội, thực hiện quy chế làm việc, nền nếp sinh hoạt chi hội, tổ hội,

- Tiếp nhận, xem xét, kiến nghị với BCH giải quyết khiếu nại, tố cáo liên quan đến hội viên và tổ chức Hội.

7.2. Ban Phong trào:

- Ban Phong trào có các thành viên là ủy viên BCH Hội KHCS, hiệu trưởng trường mầm non, tiểu học, THCS, TTHTCĐ, một số giáo viên hưu trí, đại diện các đoàn thể.

- Ban Phong trào có nhiệm vụ:

+ Chỉ đạo hoạt động chuyên môn khuyến học, khuyến tài, xây dựng XHHT từ cơ sở.

+ Chỉ đạo phong trào thi đua gương sáng khuyến học ở cơ sở và tham gia các phong trào chung ở địa phương do cấp ủy Đảng, chính quyền phát động.

+ Nắm tình hình hoạt động của các chi hội, tổ hội, các ban khuyến học ở các cơ quan , ban, ngành, đoàn thể . . . để chuẩn bị báo cáo sơ tổng kết.

+ Tổ chức giao lưu, trao đổi kinh nghiệm, tham quan du lịch cho hội viên.

7.3. Ban Kinh tế - Tài chính: Gồm một số ủy viên BCH Hội KHCS, một số nhà doanh nghiệp, lãnh đạo cơ sở sản xuất, kinh doanh ở địa phương, làm nhiệm vụ:

- Đôn đốc, kiểm tra thu nộp hội phí,

- Vận động ủng hộ, xây dựng quỹ khuyến học; theo dõi chỉ đạo việc quản lý, sử dụng có hiệu quả quỹ khuyến học

- Tổ chức các hoạt động kinh tế của Hội.

- Định kỳ báo cáo, quyết toán tài chính công khai, minh bạch.

8. Tổ chức và nhiệm vụ của chi hội, tổ Hội Khuyến học và ban khuyến học các cơ quan, đơn vị đóng địa phương

Tùy theo quy mô dân số và đặc điểm địa lý, Hội Khuyến học cơ sở được thành lập các chi hội, tổ Hội Khuyến học theo địa bàn dân cư và các ban khuyến học theo dòng họ, hội đồng hương, cơ quan, đơn vị đóng ở địa phương.

8.1. Chi Hội Khuyến học:

- Chi Hội Khuyến học được tổ chức theo thôn, làng, khu dân cư (cụm dân cư)....

- Mỗi đơn vị là một chi hội (có ít nhất 3 hội viên trở lên). Những chi hội có đông hội viên có thể thành lập các tổ Hội Khuyến học.

- Chi Hội Khuyến học chịu sự lãnh đạo của BCH Hội KHCS. Chi hội là cầu nối giữa hội viên, tổ hội với Hội cơ sở.

- Hội nghị chi hội bầu lãnh đạo chi hội, gồm chi hội trưởng, chi hội phó, thư ký chi hội.

8.2. Chi hội trưởng: Chịu trách nhiệm chung, giữ mối liên hệ thường xuyên với BCH Hội cơ sở, là người đại diện cho chi Hội Khuyến học trong Ban công tác MTTQ của thôn, làng, điều hành các hoạt động trong chi hội. Chi hội trưởng có thể do Bí thư chi bộ kiêm nhiệm.

8.3. Chi hội phó: là người thay mặt chi hội trưởng khi cần thiết, chịu trách nhiệm chính về quỹ hội.

8.4. Thư ký chi hội:

Ghi chép biên bản các hội nghị, lưu giữ các văn bản của chi hội, nắm các số liệu về hội viên, chịu trách nhiệm kế toán thu chi của chi hội.

8.5. Tổ Hội Khuyến học

Tổ Hội Khuyến học là đơn vị dưới chi hội, được thành lập ở các tổ dân phố, xóm, ấp .... là đơn vị hoạt động cơ bản ở cơ sở xã, phường, thị trấn.

Hội nghị tổ hội bầu tổ trưởng và tổ phó (nếu cần). Tổ trưởng khuyến học có thể do tổ trưởng dân phố hay tổ trưởng tổ dân cư (ở nông thôn) kiêm nhiệm.

Nhiệm vụ của chi hội, tổ Hội Khuyến học:

- Phố biến và tổ chức thực hiện các Nghị quyết, Chỉ thị của Hội và Điều lệ Hội;

- Phân công cho hội viên những nhiệm vụ cụ thể để thực hiện chương trình hành động của tổ hội nhằm mở rộng và nâng cao chất lượng hoạt động khuyến học, khuyến tài đến tận gia đình và từng hội viên: thi đua khuyến học. khuyến tài, khuyến đức; xây dựng tổ hội thành tổ Hội Khuyến học tốt;

- Quản lý hội viên, tuyên truyền phát triển hội viên mới;

- Vận động các gia đình đăng ký gia đình hiếu học, tổ chức câu lạc bộ gia đình hiếu học;

- Thu hội phí của hội viên; quản lý và sử dụng có hiệu quả phần hội phí được để lại của chi hội, tổ hội theo sự thỏa thuận của BCH Hội cơ sở;

- Vận động hội viên, các nhà hảo tâm xây dựng quỹ khuyến học;

- Thu quản lý, sử dụng quỹ khuyến học trong phạm vi hoạt động của chi hội, tổ hội theo sự phân công của Hội KHCS;

- Thường xuyên báo cáo với Hội KHCS về tổ chức và hoạt động của đơn vị mình;

- Thường xuyên tranh thủ sự chỉ đạo và giúp đỡ của tổ trưởng Đảng, trưởng xóm, tổ dân phố, của lãnh đạo các đoàn thể.

9. Tổ chức và nhiệm vụ của ban khuyến học dòng họ, cơ quan, trường mầm non, tiểu học, THCS, các doanh nghiệp, hội đồng hương ....

Điều lệ mới của Hội KHVN, tại khoản 3, điều 4 chương II - Hội viên, có cụm từ "ban khuyến học không pháp nhân" là để chỉ những tổ chức khuyến học như ban khuyến học dòng họ, cơ quan, trường học, doanh nghiệp, đơn vị lực lượng vũ trang, hội đồng hương ....Cụm từ "không pháp nhân" ở đây được hiểu là đơn vị khuyến học không được cấp dấu tròn do cơ quan công an cấp phép.

Nhiệm vụ của Ban khuyến học.

- Động viên, tạo điều kiện cho các thành viên đang lao động, làm việc ở đơn vị có những hình thức học tập tại đơn vị hoặc nơi cư trú

- Thống kê trình độ và tìm hiểu nhu cầu học tập của những người đang làm việc tại đơn vị.

- Tham gia xây dựng quy hoạch đào tạo, bồi dưỡng cán bộ; đề xuất với cơ quan thực hiện chính sách với cán bộ được cử đi học; khen thưởng những người có thành tích học tập tốt.

- Tham mưu với lãnh đạo mở các lớp bồi dưỡng chính trị, thời sự, ngoại ngữ, tin học.

- Tham mưu với công đoàn, cơ quan phát động phong trào thi đua học tập, cải tiến kỹ thuật, nâng cao năng suất lao động.

- Động viên và tạo điều kiện cho các thành viên của đơn vị tham gia các hình thức học tập do địa phương tổ chức.

Thường xuyên động viên, giúp đỡ con cháu của những người đang làm việc tại đơn vị .

- Lập danh sách học sinh là con của cán bộ trong đơn vị.

- Giúp đỡ các cháu đang bỏ học hoặc gặp khó khăn có nguy cơ bỏ học được tiếp tục đi học.

- Động viên, khen thưởng học sinh giỏi, học sinh nghèo vượt khó học tập.

- Hằng năm vào dịp Tết nguyên đán hoặc ngày Tết thiếu nhi 1/6, chuẩn bị khai giảng năm học mới tổ chức họp biểu dương các cháu học sinh giỏi, học sinh vượt khó học tập.

- Tích cực tham gia các hoạt động khuyến học.ở địa phương; tư vấn phát triển giáo dục đào tạo, khuyến học, khuyến tài, hưởng ứng phong trào thi đua nêu gương sáng khuyến học.

- Xây dựng, quản lý và sử dụng tốt quỹ khuyến học của đơn vị.

10. Lịch sinh hoạt hội họp của các tổ chức Hội cơ sở

- BCH Hội KHCS họp 3 tháng 1 lần

- Họp Ban Thường vụ Hội cơ sở 1 tháng 1 lần

- Họp Thường trực Hội cơ sở (Chủ tịch, Phó Chủ tịch, Thư ký): 1 - 2 tháng 1 lần

- Lãnh đạo chi hội họp mỗi tháng 1 lần

- Tổ hội họp toàn thể hội viên thường kỳ 3 tháng 1 lần

- Ban Khuyến học các cơ quan họp 3 tháng 1 lần

- Ngoài các buổi họp, sinh hoạt thường kỳ. khi cần có thể họp đột xuất

- Hằng năm, mỗi xã. phường tổ chức 1 lần đại hội gia đình hiếu học và dòng họ khuyến học, nên kết hợp vào dịp lễ kỷ niệm ngày truyền thống khuyến học Việt Nam mùng 2 tháng 10 hằng năm.

Các tổ chức kinh tế, văn hoá, xã hội như cơ quan, trường học, doanh nghiệp có đủ điều kiện và tự nguyện tham gia hoạt động khuyến học, khuyến tài đều được thành lập ban khuyến học.

11. Phân cấp quản lý hội viên

- Tổ hội và chi Hội Khuyến học là đơn vị trực tiếp quản lý hội viên:

- Tổ chức cho hội viên sinh hoạt thường kỳ có nền nếp.

- Phân công cho mỗi hội viên tham gia 1 - 2 hoạt động thích hợp (tuyên truyền, xây dựng quỹ khuyến học, quản lý học sinh trong các ngày nghỉ ở cộng đồng).

- Những hội viên tích cực hoạt động khuyến học, hoàn thành tốt các nhiệm vụ được giao, được chi hội biểu dương, có thành tích xuất sắc được đề nghị cấp trên khen thưởng.

- Nếu hội viên có đơn xin ra khỏi Hội thì chi hội xem xét cho rút khỏi danh sách hội viên.

- Nếu hội viên vi phạm pháp luật hoặc mắc sai lầm nghiêm trọng, ảnh hưởng xấu đến Hội thì chi hội xét xóa tên trong danh sách hội viên.

12. Giao nhiệm vụ và quản lý hội viên

Hội Khuyến học cơ sở hướng dẫn các chi hội, tổ Hội Khuyến học trực tiếp quản lý, động viên hội viên khắc phục khó khăn để thực hiện tốt các nhiệm vụ cụ thể sau đây:

- Mỗi hội viên đều tự giác tham gia học và tự học thường xuyên, làm gương cho người khác noi theo (học ở TTHTCĐ, học từ xa, sinh hoạt CLB.....).

- Xây dựng gia đình mình đạt danh hiệu “gia đình hiếu học”, tích cực tham gia xây dựng "dòng họ khuyến học", "xóm, tổ dân phố khuyến học", “thôn, làng, khu phố khuyến học", "xã, phường. thị trấn khuyến học".

- Mỗi hội viên vận động ít nhất 1 - 2 gia đình lân cận đăng ký phấn đấu trở thành gia đình hiếu học.

- Nếu được mời, hội viên sẵn sàng tham gia ban quản lý hoặc viết tài liệu, giảng dạy ở TTHTCĐ, ở các lớp học XMC, BTVH, dạy nghề....

- Tham gia quản lý học sinh trong những ngày nghỉ, ngày hè, phòng chống tệ nạn xã hội ở nơi cư trú.

- Tham gia vận động xây dựng quỹ khuyến học.

- Thực hiện tốt sự phân công của tổ chức Hội, tham gia sinh hoạt Hội và đóng hội phí đầy đủ.

13. Lựa chọn, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ khuyến học cơ sở

13.1. Vị trí, vai trò đội ngũ cán bộ khuyến học cơ sở

Đội ngũ cán bộ khuyến học rất đông đảo, đa dạng, bao gồm cán bộ các tổ hội, chi hội, Hội Khuyến học cơ sở, các ban khuyến học ở các dòng họ, các ban, ngành, đoàn thể, TTHTCĐ và các trường học, các tổ chức kinh tê - xã hội, các đơn vị lực lượng vũ trang, các nhà doanh nghiệp...... đóng trên địa bàn xã, phường, thị trấn.

Cán bộ khuyến học là nhân tố quyết định trực tiếp đến việc xây dựng tổ chức Hội, mở rộng và nâng cao chất lượng hoạt động khuyến học, khuyến tài, xây dựng XHHT từ cơ sở. Do vậy, việc làm cấp bách và quan trọng hiện nay, đồng thời cũng là cơ bản, lâu dài cho mai sau là phải lựa chọn, xây dựng đội ngũ cán bộ khuyến học ở các cấp Hội, nhất là Hội Khuyến học cơ sở, đủ về số lượng, liên tục được bồi dưỡng để nâng cao trình độ, phối hợp tổ chức hoạt động khuyến học, khuyến tài trong nhân dân; làm cho đội ngũ cán bộ khuyến học giỏi về công tác dân vận, am tường sâu sắc về xã hội hóa giáo dục để phát huy nguồn nội lực của dân tộc.

13.2 Nhiệm vụ và quyền hạn của cán bộ khuyến học cơ sở

Nhiệm vụ:

- Tìm hiểu nhu cầu học của cụm dân cư hoặc địa bàn phụ trách để xây dựng kế hoạch hoạt động khuyến học.

- Đẩy mạnh tuyên truyền khuyến học với các hình thức: trực tiếp người - người, hoặc tại các cuộc họp, giao lưu tập thể.

- Tuyên truyền phát triển hội viên, xây dựng tổ hội, chi hội, ban khuyến học vững mạnh, đưa sinh hoạt vào nền nếp.

- Góp phần xây dựng kế hoạch và triển khai thực hiện chương trình công tác hằng tháng, hằng quý, hằng năm của tổ hội, chi hội, Hội Khuyến học cơ sở.

- Góp ý, tư vấn với địa phương về phát triển giáo dục, khuyến học, khuyến tài.

Gương mẫu thực hiện và động viên những người trong đơn vị thi đua nêu gương sáng khuyến học.

Quyền hạn

- Được tham gia ứng cử, bầu cử vào các cấp lãnh đạo của Hội.

- Được tham gia xây dựng và triển khai thực hiện chương trình, kế hoạch công tác của đơn vị, của Hội.

- Được tham gia tập huấn, bồi dưỡng kiến thức và kỹ năng hoạt động khuyến học.

- Được xem xét khen thưởng khi có thành tích.

13.3. Tiêu chuẩn cán bộ khuyến học cơ sở

Đội ngũ cán bộ khuyến học cơ sở phải là người có đủ phẩm chất, năng lực thể hiện 5 chữ T có liên quan chặt chẽ với nhau: "có TÂM. có TRÍ, có TÀI, có TÍN nhiệm, có THỜI gian”.

- Có Tâm là tận tuỵ, nhiệt tình với sự nghiệp giáo dục, với khuyến học khuyến tài; là cái gốc để trồng người.

- Có Trí là có hiểu biết về đạo lý, cách làm người, cách học và tự học trong thời đại ngày nay: học để biết, để làm việc, để làm người, để chung sống và cùng nhau phát triển.

- Có Tài là biết cách tổ chức hoạt động, biết vận động và thuyết phục để mọi người nghe theo, làm theo, tự giác hiến kế, hiến công nhằm chấn hưng nền giáo dục Việt Nam.

- Có Tín Nhiệm là người có uy tín, được nhân dân, bạn bè, đồng sự tin yêu, hợp tác ở ngay nơi cư trú.

- Có Thời gian, là yếu tố cần thiết để hoạt động. Có thời gian không chỉ đề cập đến thời gian rảnh rỗi. Người có Tâm, có Trí, có Tín Nhiệm thường không rảnh rỗi, mà là người biết sắp xếp, sử dụng thời gian đúng lúc cho các công việc hữu ích, mặc dù thời gian có ít mà hiệu quả vẫn cao. Rõ ràng người hưu trí có ưu thế về thời gian dành cho hoạt động khuyến học, khuyến tài. Nhưng không chỉ có cán bộ hưu trí mới giàu thời gian. Cả những người bận bịu suốt ngày cho công tác, cho lao động để mưu sinh và tiến bộ cũng có thời gian dành cho khuyến học nếu biết kết hợp ngay trong quá trình làm việc hoặc lúc thư giãn, nghỉ ngơi.

II. CÔNG TÁC TUYÊN TRUYỀN:

1. Khái niệm về công tác tuyên truyền:

- Tuyên truyền là quá trình truyền tải, chia sẻ thông tin và định hướng chuyển đổi hành vi nhằm thuyết phục một người, một nhóm người hay một cộng đồng nhất định tán thành, ủng hộ và làm theo.

- Công tác tuyên truyền được thực hiện qua nhiều kênh: Tuyên truyền miệng (trực tiếp) tuyên truyền bằng văn bản (gián tiếp) tuyên truyền bằng hình ảnh (truyền hình…) tuyên truyền bằng phương tiện thông tin đại chúng (Báo, bản tin, đài phát thanh)… thông qua lời nói, ngôn ngữ, hình ảnh, là quá trình liên tục, nhiều chiều, đối với nhiều đối tượng. Tuyên truyền nhằm cổ vũ điển hình tiên tiến, phê phán thái độ hành vi tiêu cực.

2. Nguyên tắc tuyên truyền:

Trong công tác tuyên truyền, các thông tin cần đảm bảo tính khách quan, chính xác khoa học và trung thực và tuân thủ các quan điểm, đường lối của Đảng Nhà nước.

Nội dung tuyên truyền phải dễ hiểu, dễ nhớ, ngắn gọn, sinh động và hấp dẫn lôi cuốn người nghe. Các thông tin phải kịp thời, thường xuyên, lượng thông tin phải sâu, rộng; rõ ràng, cụ thể và đúng đắn, phản ánh đầy đủ tránh phóng đại, định kiến, cảm tính.

- Các hình thức tuyên truyền phải đa dạng, phong phú cần phối hợp các phương tiện tuyên truyền như: Văn bản, báo viết, báo điện tử, tạp chí, bảng tin, băng zôn, khẩu hiệu, tờ rơi, đài phát thanh, đài truyền hình, Intơnét, trang Web, hình ảnh các ấn phẩm, tranh ảnh; phim, băng, đĩa hình, cổ động, triển lãm.

3. Một số kỹ năng của cán bộ khuyến học cơ sở.

Trong quá trình thực hiện công tác tuyên truyền ở các xã, phường, thị trấn cán bộ khuyến học cần có một số kỹ năng sau:

- Chọn chủ đề, đề tài, thông tin phù hợp với đối tượng ở cơ sở, mục đích rõ ràng, thiết thực và mang tính thời sự. Cần chuẩn bị đầy đủ kỹ lưỡng nội dung cần thông tin.

- Nắm những nội dung cần thông tin theo kế hoạch tuyên truyền của Hội cấp trên. Chọn lọc trọng tâm, trọng điểm và có liên hệ thực tế ở địa phương để buổi tuyên truyền sinh động và thiết thực.

Sau khi kết thúc buổi tuyên truyền, cần kiểm tra xem người nghe nắm được những nội dung trọng tâm chưa. Báo cáo viên tổng quát, tóm lại nội dung cơ bản của buổi nói chuyện.

4. Một số nội dung công tác tuyên truyền ở cơ sở.

- Mở rộng và nâng cao chất lượng công tác tuyên truyền về khuyến học: Là biện pháp quan trọng, mở đường cho phong trào khuyến học, khuyến tài, góp phần xây dựng xã hội học tập ở cơ sở.

- Đối tượng tuyên truyền: Trước hết là nâng cao nhận thức đối với cán bộ chủ chốt cấp uỷ Đảng, chính quyền, các ban, ngành đoàn thể ở xã, thôn, bản, tổ dân phố, cán bộ, hội viên khuyến học và các tầng lớp nhân dân ở khu dân cư đến tận gia đình, dòng họ…

- Mục đích: Làm cho cán bộ, nhân dân, hội viên thấm nhuần chủ trương và biết cách thực hiện, động viên các tổ chức, các lực lượng xã hội chung tay, góp sức đẩy mạnh phong trào khuyến học, khuyến tài xây dựng xã hội học tập từ cơ sở, làm cho quê hương đất nước ngày thêm phồn vinh, phát triển.

- Nội dung tuyên truyền: Mở rộng và nâng cao công tác tuyên truyền cho việc xây dựng tổ chức, mục tiêu hoạt động của Hội Khuyến học nhất là công tác trọng tâm của Hội trong từng thời kỳ; các Chỉ thị, Nghị quyết của Trung ương, của tỉnh, huyện, xã, phường, thị trấn về quốc sách hàng đầu, phát triển giáo dục đào tạo, đẩy mạnh phong trào khuyến học, khuyến tài, xây dựng xã hội học tập từ cơ sở, nêu gương người tốt, việc tốt những điển hình tiên tiến, tập thể và cá nhân; phát huy kết quả tập huấn cho 100% cán bộ chủ chốt của Hội, kể cả tổ hội, chi hội.

Trong thời gian tới, đẩy mạnh tuyên truyền về chỉ thị 11 - CT/TW của Bộ chính trị, Chỉ thị 02/2008/ CT - TTg của Thủ tướng Chính phủ về đẩy mạnh phong trào khuyến học, khuyến tài, xây dựng XHHT, về Chỉ thị 18 CT/TU, về vai trò và nhiệm vụ mới của Hội Khuyến học đã nêu trong Chỉ thị 11/CT/TW của Bộ chính trị và Nghị quyết Đại hội IV Hội Khuyến học Việt Nam; về quy chế tổ chức và hoạt động của Trung tâm học tập cộng đồng do Bộ Giáo dục & ĐT mới ban hành; về đề án đổi mới phương thức hoạt động của các cấp Hội khuyến hoc; về Đại hội thi đua nêu gương sáng khuyến học của các cấp Hội Khuyến học sẽ tổ chức trong năm 2012 - 2013. Mở rộng tuyên truyền về ngày khuyến học Việt Nam theo Quyết định của Chính phủ ban hành ngày 16/9/2008 ( mồng 2 tháng 10 hằng năm) với 3 hoạt động chính.

- Ngay từ đầu tháng 9 hằng năm phát động tháng cao trào toàn dân làm khuyến học.

- Phát học bổng, giúp đỡ học sinh nghèo vượt khó học tập

- Biểu dương, khen thưởng các đơn vị và cá nhân có thành tích công tác khuyến học.

Biện pháp tổ chức thực hiện:

Xác định rõ công tác tuyên truyền phải được tiến hành từ xã, phường, thôn, xóm, bản, ấp, tổ dân phố đến từng gia đình; trích tiền hội phí, quỹ khuyến học để mua Báo khuyến học và Dân trí cấp cho các chi hội ; vận động cán bộ, tổ chức, các nhà hảo tâm mua sách, Báo khuyến học tặng cho tổ chức, cán bộ khuyến học ở quê hương, thường xuyên tuyên truyền trực tiếp giữa cán bộ và hội viên hoặc qua các hội nghị của cán bộ và nhân dân ở các khu dân cư; cải tiến phương tiện thông tin truyền thông ở đài truyền thanh xã, phường, viết bản tin nội bộ làm cho cán bộ và nhân dân hiểu sâu về công tác khuyến học, khuyến tài, xây dựng xã hội học tập để tham gia và ủng hộ Hội. Động viên cán bộ, hội viên viết bài cho các báo, đài phản ánh hoạt động khuyến học ở địa phương.

Căn cứ điều kiện hoàn cảnh cụ thể của cơ sở, cần vận dụng linh hoạt các hoạt động tuyên truyền để đạt hiệu quả cao ở từng thời kỳ.

III. CÔNG TÁC KIỂM TRA:

Công tác kiểm tra của các cấp Hội Khuyến học là một trong những nhiệm vụ cơ bản của các cấp Hội và không thể thiếu được trong quá trình lãnh đạo các hoạt động khuyến học, khuyến tài xây dựng XHHT ở cơ sở.

- Ban kiểm tra do Ban chấp hành Hội bầu ra, Ban kiểm tra gồm trưởng ban, phó trưởng ban và một số thành viên, Ban kiểm tra có nhiệm vụ giúp BCH những nội dung sau:

- Định kỳ và đột xuất kiểm tra việc chấp hành Điều lệ và các Nghị quyết của Hội.

- Kiểm tra việc quản lý, sử dụng tài chính, giải quyết các đơn thư, khiếu nại, tố cáo (nếu có) nội bộ Hội và các chi hội, Hội viên của Hội theo quy định Điều lệ Hội và pháp luật. Các Quyết định, kết luận của Ban kiểm tra phải thông qua Ban thường vụ Hội, Ban chấp hành Hội.

- Có kế hoạch kiểm tra toàn khoá và mỗi năm tổ chức kiểm tra từ 1 đến 2 chi hội việc thực hiện công tác khuyến học và thực hiện các chủ trương, quyết định của Hội.

- Có thể điều chỉnh, bổ sung, thay đổi thành viên Ban kiểm tra (nếu có yêu cầu) để Ban chấp hành Hội xem xét, quyết định.

- Rút kinh nghiệm, đề ra nhiệm vụ tiếp theo.

IV. CÔNG TÁC VĂN PHÒNG

Công tác văn phòng của các cấp Hội có tầm quan trọng đặc biệt và không thể thiếu được ở các cấp Hội đối với Trung ương Hội, Hội Khuyến học tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (Tỉnh hội) có bộ phận văn phòng chuyên trách, có các chức danh: Chánh văn phòng, phó chánh văn phòng, văn thư, kế toán, thủ quỹ, giúp việc Ban chấp hành, ban thường vụ và thường trực hội.

- Cấp huyện, thị xã, thành phố: - Phân công một đồng chí thường trực huyện Hội phụ trách công tác văn phòng (là lãnh đạo chuyên trách).

- Cấp xã, phường, thị trấn: Công tác văn phòng do đồng chí Phó chủ tịch thường trực Hội phụ trách. (là cán bộ chuyên trách)

* Chức năng, nhiệm vụ của đồng chí Phó chủ tịch phụ trách Văn phòng.

+ Chức năng: Tham mưu, giúp việc Ban chấp hành, Ban thường vụ, Thường trực Hội Khuyến học triển khai thực hiện chức năng, nhiệm vụ công tác khuyến học.

+ Phó chủ tịch Hội có nhiệm vụ sau:

- Tổng hợp tình hình hoạt động của các chi hội trong việc triển khai thực hiện các Chỉ thị, Nghị quyết, Chủ trương đường lối của Đảng và Nhà nước về công tác khuyến học, chương trình, kế hoạch của Ban chấp hành, Ban thường vụ, Thường trực Hội Khuyến học cấp đó.

- Giúp thường trực Hội xây dựng kế hoạch, quý, năm và theo dõi tiến độ triển khai thực hiện. Tổ chức các hội nghị, cuộc họp của Ban chấp hành, Ban thường vụ, Thường trực.

- Dự thảo các báo cáo (định kỳ, đột xuất) quý, năm, các chuyên đề, trình Chủ tịch Hội thông qua.

- Phụ trách công tác văn thư lưu trữ - hành chính - quản trị quản lý sử dụng con dấu…Hội, giúp thường trực hội điều hành công việc hàng ngày, quản lý cơ sở vật chất trang thiết bị của hội

- Hàng năm xây dựng kế hoạch kinh phí hoạt động thường xuyên của Hội, kinh phí tổ chức đại hội (nếu có), các Hội nghị BCH, Ban thường vụ và các khoản chi đột xuất khác theo quyết định của Thường trực Hội.

- Phối hợp các ban bộ phận của hội chuẩn bị nội dung, tài liệu và các điều kiện cần thiết phục vụ thường trực Hội làm việc với các cơ quan, ban ngành cùng cấp; Hội Khuyến học, các tổ chức chính trị xã hội, đoàn thể ở địa phương.

- Phối hợp với Ban tổ chức, bộ phận liên quan giúp thường trực hội về công tác tổ chức, cán bộ.

* Một số chế độ hoạt động văn phòng:

- Chế độ báo cáo: Báo cáo tháng, quý, năm; báo cáo chuyên đề, báo cáo thường xuyên, báo cáo đột xuất, báo cáo vụ việc (nếu có).

- Chế độ hội họp, hội nghị, tập huấn:

- Chế độ văn thư - lưu trữ - hành chính: Các văn bản tài liệu

- Thực hiện công tác tài chính - kế toán.

- Trang thiết bị, cơ sở vật chất, tài sản… của Hội.

- Tổng hợp, hồ sơ, sổ sách, theo quy định cơ sở gồm các loại sau:

1. Sổ hội viên

2. Sổ cán bộ khuyến học (Danh sách Ban chấp hành, Ban Thường vụ, Chủ tịch, Phó Chủ tịch, các ban…)

3. Khen thưởng cán bộ, hội viên, học sinh...

4. Sổ vàng: ủng hộ khuyến học

5. Sổ tay học bổng hàng năm

6. Sổ thu, chi hội phí

7. Sổ chi cho hoạt động khuyến học

8. Mẫu biên bản các cuộc họp

9. Mẫu báo cáo công tác quý, 6 tháng, 1 năm

10. Mẫu đăng ký gia đình, dòng họ hiếu học, cơ quan, đơn vị khuyến học

11. Giấy công nhận gia đình hiếu học, dòng họ hiếu học, cộng đồng khuyến học.

12. Đơn xin cấp học bổng

Các loại biểu mẫu sổ sách và văn bản của Hội Khuyến học cơ sở trên có in trong "Cẩm nang công tác khuyến học cơ sở" do TW Hội phát hành năm 2009.

MỘT SỐ VĂN BẢN

LIÊN QUAN ĐẾN CÔNG TÁC CỦA HỘI KHUYẾN HỌC.



ĐIỀU LỆ (Sửa đổi, bổ sung)

HỘI KHUYẾN HỌC VIỆT NAM


ĐIỀU LỆ (Sửa đổi, bổ sung) HỘI KHUYẾN HỌC VIỆT NAM (Phê duyệt theo Quyết định số 133 /QĐ-BNV ngày 11 tháng 02 năm 2011 của Bộ trưởng Bộ Nội vụ). Dưới đây là toàn văn của Điều lệ:

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

=======================



ĐIỀU LỆ(sửa đổi, bổ sung)

HỘI KHUYẾN HỌC VIỆT NAM



Khuyến học, khuyến tài là truyền thống tốt đẹp, lâu đời của dân tộc, thể hiện đạo lý "học để làm người" của nhân dân Việt Nam.

Ngày nay trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, sự    nghiệp "trồng người" vì lợi ích trăm năm để nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài là nhiệm vụ của Đảng, Nhà nước và toàn dân. Giáo dục đã trở thành quốc sách hàng đầu.

Kế thừa và phát huy truyền thống hiếu học của dân tộc, Hội Khuyến học Việt Nam đã trở thành một tổ chức xã hội lớn mạnh, cùng với sự phát triển của ngành giáo dục và đào tạo, tích cực tham gia xã hội hoá giáo dục, góp phần xây dựng cả nước trở thành một xã hội học tập.

Chương I

TÊN GỌI, TÔN CHỈ, MỤC ĐÍCH, NHIỆM VỤ

Điều 1.  Tên gọi 

 1. Tên tiếng Việt: Hội Khuyến học Việt Nam.

 2. Tên tiếng Anh: Vietnam Association for Promoting Education (viết tắt là: VAPE).

Điều 2. Tôn chỉ, mục đích

Hội Khuyến học Việt Nam là tổ chức xã hội có tính chất đặc thù tập hợp tổ chức, công dân Việt Nam, tâm huyết với sự nghiệp "trồng người", góp sức phấn đấu cho phong trào "toàn dân học tập, toàn dân tham gia làm giáo dục", "cả nước trở thành một xã hội học tập” nhằm góp phần nâng cao dân trí, đào tạo nguồn nhân lực, bồi dưỡng nguồn nhân tài cho sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, hội nhập khu vực và quốc tế. 

Điều 3. Vị trí, tư cách pháp nhân, trụ sở của Hội

1. Hội Khuyến học Việt Nam là thành viên của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, hoạt động tuân thủ pháp luật của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Điều lệ Hội được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt. Hội chịu sự quản lý nhà nước của Bộ Giáo dục và Đào tạo và các bộ, ngành khác có liên quan đến lĩnh vực hoạt động của Hội.

2. Hội có tư cách pháp nhân, có biểu tượng, có con dấu, có tài sản và tài chính riêng, có tài khoản bằng tiền Việt Nam và ngoại tệ tại ngân hàng. Hội có cơ quan ngôn luận được thành lập và hoạt động theo quy định của pháp luật.

3. Hội có phạm vi hoạt động trong cả nước.

4. Hội đặt trụ sở tại Thủ đô Hà Nội và có thể đặt văn phòng đại diện tại các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương theo quy định pháp luật. 

Điều 4. Nhiệm vụ, quyền hạn

Hội Khuyến học Việt Nam có nhiệm vụ, quyền hạn sau:

1. Làm nòng cốt trong việc liên kết, phối hợp với các tổ chức, các lực lượng xã hội tham gia hoạt động khuyến học, khuyến tài, xây dựng xã hội học tập;

2. Khuyến khích và hỗ trợ việc dạy và học trong nhà trường. Vận động nhân dân tích cực học tập, học tập suốt đời, quan tâm đến những người nghèo, người khuyết tật không có điều kiện học tập và những người có năng khiếu nhằm nâng cao dân trí, nâng cao trình độ chuyên môn, nghề nghiệp để góp phần đào tạo nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội đất nước;

3. Liên kết, vận động mọi gia đình và tổ chức xã hội, cùng các cơ sở giáo dục và đào tạo góp phần động viên, chăm lo về vật chất và tinh thần đối với các thầy cô giáo, thực hiện sự kết hợp giữa nhà trường, gia đình và xã hội, học kết hợp với hành, xây dựng môi trường giáo dục lành mạnh;

         4. Tư vấn, phản biện, giám định xã hội theo quy định của pháp luật về giáo dục trên cơ sở tập hợp ý kiến của đông đảo các nhà giáo dục, các phụ huynh học sinh. Kiến nghị với Đảng, chính quyền, ngành giáo dục và đào tạo về các chủ trương, chính sách, biện pháp phát triển và nâng cao chất lượng giáo dục, hình thành xã hội học tập;

 5. Tổ chức các hoạt động tư vấn, dịch vụ theo quy định pháp luật;

 6. Đại diện, bảo vệ quyền lợi hợp pháp của hội viên;

7. Thực hiện các quyền và nghĩa vụ khác theo quy định pháp luật.

Chương II

HỘI VIÊN

Điều 5. Hội viên 

          1. Công dân, tổ chức Việt Nam có tâm huyết với sự nghiệp khuyến học, khuyến tài, xây dựng xã hội học tập, tán thành Điều lệ Hội, tự nguyện hoạt động cho Hội, được Hội xem xét công nhận là hội viên và được trao thẻ hội viên.

           2. Công dân, tổ chức có đóng góp xứng đáng cho Hội được Ban Thường vụ suy tôn là hội viên danh dự hoặc được công nhận là Hội viên liên kết. Hội viên danh dự, Hội viên liên kết không tham gia bầu cử, ứng cử và biểu quyết các vấn đề của Hội.

 Ban Thường vụ Hội quy định cụ thể thủ tục vào Hội, ra Hội.

Điều 6. Nghĩa vụ hội viên

Hội viên có nghĩa vụ:

1. Chấp hành Điều lệ, Nghị quyết, các quy định của Hội;

2. Tích cực học tập và vận động mọi người học tập nhằm không ngừng nâng cao trình độ về mọi mặt;

3. Sinh hoạt và hoạt động trong các tổ chức của Hội, tuyên truyền phát triển hội viên và đóng hội phí.

Điều 7. Quyền lợi hội viên

Hội viên có quyền:

1. Được bàn bạc, thảo luận công việc của Hội, đề xuất ý kiến nhằm phát triển phong trào khuyến học, khuyến tài và sự nghiệp giáo dục;

2. Bầu cử, đề cử, ứng cử vào các cơ quan lãnh đạo của Hội;

3. Được Hội tạo điều kiện thực hiện các hoạt động theo nhiệm vụ, quyền hạn của Hội;

4. Xin ra khỏi Hội khi xét thấy không đủ điều kiện tiếp tục tham gia. 

Chương III

TỔ CHỨC, HOẠT ĐỘNG CỦA HỘI

Điều 8. Nguyên tắc tổ chức, hoạt động

1. Tuân thủ sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước; tranh thủ sự hướng dẫn của Mặt trận tổ quốc; hợp tác, phối hợp với ngành giáo dục và đào tạo, cơ quan, tổ chức có liên quan trong quá thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của Hội.

2. Tổ chức, hoạt động theo nguyên tắc dân chủ, tập thể, quyết định theo đa số, tự nguyện, tự quản, không vì mục đích lợi nhuận; tuân thủ pháp luật, Điều lệ Hội và tự chịu trách nhiệm trước pháp luật;

3. Phát huy quyền chủ động sáng tạo của các tổ chức Hội; liên kết, phối hợp với các ban, ngành, đoàn thể, các tổ chức xã hội, nghề nghiệp, kinh tế, khoa học, văn hoá, giáo dục trong hoạt động khuyến học, khuyến tài, xây dựng xã hội học tập;

4. Tranh thủ sự ủng hộ và trợ giúp về tinh thần, vật chất của mọi tổ chức, cá nhân ở trong và ngoài nước theo quy định của pháp luật vì sự nghiệp khuyến học, khuyến tài;

5. Nguyên tắc biểu quyết:

a) Hình thức biểu quyết bằng giơ tay hoặc bỏ phiếu kín do Đại hội, hội nghị Ban Chấp hành, Ban Thường vụ quyết định;

b) Các vấn đề biểu quyết chỉ được thông qua khi có trên 50% (năm mươi) tổng số đại biểu được triệu tập tham dự Đại hội, hội nghị Ban Chấp hành, Ban Thường vụ tán thành.

Điều 9. Tổ chức Hội

          Tổ chức của Hội Khuyến học Việt Nam, gồm:

1. Đại hội;

2. Ban Chấp hành, Ban Thường vụ;

3. Ban Kiểm tra;

4. Văn phòng và các ban chuyên môn;

5. Tổ chức có tư cách pháp nhân trực thuộc;

6. Các Hội Khuyến học tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; các Hội Khuyến học quận, huyện, thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh; các Hội Khuyến học cơ sở xã, phường, thị trấn được thành lập, phê duyệt điều lệ theo quy định pháp luật, nếu tán thành Điều lệ Hội, tự nguyện gia nhập được xem xét, kết nạp vào Hội Khuyến học Việt Nam. 

Điều 10. Đại hội

Cơ quan lãnh đạo cao nhất của Hội Khuyến học Việt Nam là Đại hội toàn thể hoặc Đại hội đại biểu, nhiệm kỳ 5 (năm) năm một lần. Đại hội do Ban Chấp hành triệu tập; Đại hội được tiến hành khi có ít nhất 2/3 (hai phần ba) số đại biểu chính thức có mặt. Trong trường hợp cần thiết, khi có 2/3 (hai phần ba) uỷ viên Ban Chấp hành yêu cầu, Đại hội có thể được triệu tập bất thường theo quy định của pháp luật. 

Điều 11. Nhiệm vụ của Đại hội

1. Đánh giá hoạt động của Hội trong nhiệm kỳ qua, quyết định phương hướng hoạt động của Hội trong nhiệm kỳ tới.

2. Sửa đổi, bổ sung Điều lệ Hội; chia, tách; sáp nhập; hợp nhất và đổi tên Hội (nếu có).

3. Bầu Ban Chấp hành, Ban Kiểm tra; suy tôn Chủ tịch danh dự Hội (nếu có).

4. Thông qua báo cáo tài chính nhiệm kỳ, Nghị quyết Đại hội.

5. Thông qua mức đóng hội phí.

Điều 12. Ban Chấp hành

1. Ban Chấp hành là cơ quan lãnh đạo giữa hai kỳ Đại hội, họp thường kỳ mỗi năm một lần, họp bất thường khi cần. Ban Chấp hành có nhiệm vụ, quyền hạn:

a)  Lãnh đạo việc chấp hành Điều lệ và Nghị quyết của Đại hội. 

b) Bầu Ban Thường vụ Hội gồm: Chủ tịch, các Phó Chủ tịch, Tổng Thư ký và một số ủy viên;

c) Quy định cụ thể chế độ đóng hội phí;

d) Bầu bổ sung, thay đổi uỷ viên Ban Chấp hành, Ban Thường vụ, các chức danh lãnh đạo của Hội theo đề xuất của Ban Thường vụ;

đ) Chuẩn bị và triệu tập Đại hội nhiệm kỳ sau.

2. Hình thức bầu, số lượng ủy viên Ban Chấp hành do Đại hội quyết định, khi cần thiết, Ban Chấp hành được bầu bổ sung ủy viên Ban Chấp hành trong số các hội viên chính thức của Hội theo đề nghị của Ban Thường vụ, số lượng bầu bổ sung không qúa 15% (mười lăm) số lượng ủy viên Ban Chấp hành do Đại hội quyết định.

Điều 13. Ban Thường vụ

1. Ban Thường vụ thay mặt Ban Chấp hành giữa hai kỳ họp Ban Chấp hành, họp thường kỳ 6 (sáu) tháng một lần, họp bất thường khi cần. Ban Thường vụ có nhiệm vụ, quyền hạn:

a) Quyết định những chủ trương công tác và tổ chức nhân sự để thực hiện nghị quyết và chương trình hành động của Ban Chấp hành;

b) Triển khai thực hiện các hoạt động tư vấn, kiến nghị với Đảng và Nhà nước về đường lối, chủ trương, chính sách, biện pháp phát triển giáo dục, hình thành xã hội học tập;

c) Quy định chế độ khen thưởng, kỷ luật của Hội phù hợp với Điều lệ Hội và quy định pháp luật; phối hợp với Ban Kiểm tra Hội để giải quyết khiếu nại, tố cáo trong nội bộ Hội (nếu có);

d) Quyết định việc thành lập các pháp nhân trực thuộc Hội theo đề nghị của Thường trực Hội. Quản lý, định hướng hoạt động pháp nhân trực thuộc Hội.

2. Ban Thường vụ cử bộ phận Thường trực gồm có Chủ tịch, một số Phó Chủ tịch và một số ủy viên để thay mặt Ban Thường vụ chỉ đạo, điều hành mọi hoạt động của Hội theo các Nghị quyết của Ban Chấp hành, Ban Thường vụ Hội. Thành phần của bộ phận Thường trực do Ban Thường vụ Hội quyết định.

Điều 14. Chủ tịch Hội, các Phó Chủ tịch

1. Chủ tịch Hội là người đại diện trước pháp luật và chịu trách nhiệm về mọi hoạt động của Hội có nhiệm vụ, quyền hạn sau:

a) Chỉ đạo thực hiện các chủ trương, nghị quyết, quyết định của Ban Chấp hành và Ban Thường vụ Hội;

b) Tổ chức triển khai thực hiện hướng dẫn, kiểm tra hoạt động của các tổ chức Hội trong việc chấp hành Điều lệ và các quy định của pháp luật;

c) Chỉ đạo hoạt động của Văn phòng, các ban chuyên môn và tổ chức trực thuộc; trực tiếp phụ trách công tác tổ chức, nhân sự, hoạt động đối ngoại của Hội;

d) Chủ trì các cuộc họp của Ban Chấp hành, Ban Thường vụ;

đ) Tổ chức công tác chuẩn bị Đại hội, các kỳ họp Ban Chấp hành và Ban Thường vụ.

2. Các Phó Chủ tịch Hội là người giúp việc cho Chủ tịch, được Chủ tịch ủy nhiệm, phân công phụ trách quản lý, điều hành thực hiện một số hoạt động của Hội và chịu trách nhiệm trước Chủ tịch về công việc mà Chủ tịch phân công.

3. Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Hội là người thay mặt Chủ tịch Hội tổ chức, điều hành các hoạt động hàng ngày của Hội. Thay mặt Chủ tịch chủ trì các cuộc họp của Ban Chấp hành, Ban Thường vụ trong trường hợp được Chủ tịch phân công hoặc khi Chủ tịch vắng mặt.

Điều 15. Ban Kiểm tra

1. Ban Kiểm tra gồm Trưởng ban, Phó trưởng ban và các ủy viên do Đại hội bầu ra, có nhiệm kỳ trùng với nhiệm kỳ Ban Chấp hành. Ban Kiểm tra có nhiệm vụ:

a) Kiểm tra việc chấp hành Điều lệ và các Nghị quyết của Hội;

b) Kiểm tra việc quản lý, sử dụng tài chính; giải quyết đơn thư khiếu nại, tố cáo nội bộ Hội đối với hội viên và tổ chức của Hội theo quy định của Điều lệ Hội và quy định pháp luật.

2. Hình thức bầu, số lượng thành viên Ban Kiểm tra do Đại hội quyết định, trường hợp số lượng uỷ viên Ban Kiểm tra không còn đủ như quy định của Đại hội thì Ban Kiểm tra được bầu bổ sung ủy viên Ban Kiểm tra trong số các hội viên chính thức của Hội theo đề nghị của Ban Thường vụ.

Điều 16.  Văn phòng, các ban chuyên môn

Văn phòng Hội, các ban chuyên môn là bộ phận giúp việc cho Ban Thường vụ, Thường trực Hội và chịu sự chỉ đạo trực tiếp của Chủ tịch Hội, hoạt động theo quy chế do Hội ban hành phù hợp Điều lệ Hội và quy định pháp luật.

Điều 17. Đơn vị trực thuộc Hội

Hội Khuyến học Việt Nam được tổ chức Quỹ Khuyến học, thành lập các pháp nhân trực thuộc Hội, như: trung tâm đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ cho hội viên của Hội về chuyên môn, ngoại ngữ, tin học; các công ty, các cơ sở sản xuất, kinh doanh, đào tạo, dạy nghề. Việc thành lập và hoạt động của pháp nhân trực thuộc Hội theo quy định pháp luật.

Chương IV

TÀI CHÍNH, TÀI SẢN CỦA HỘI

Điều 18. Tài chính, tài sản

 1. Nguồn thu của Hội:

a) Ngân sách Nhà nước hỗ trợ, cấp theo qui định pháp luật; 

b) Hội phí của hội viên;

c) Thu từ các hoạt động tư vấn, dịch vụ của Hội và từ các pháp nhân trực thuộc Hội theo quy định của pháp luật;

d) Tài trợ của cá nhân, tổ chức ở trong và ngoài nước theo quy định của pháp luật; 

đ) Các nguồn thu hợp pháp khác.

2. Các khoản chi của Hội:

a) Chi phí cho hoạt động chuyên môn, nghiệp vụ, hành chính thường xuyên; 

b) Chi trả lương, phụ cấp, phúc lợi cho cán bộ Hội;

c) Chi mua sắm tài sản, thuê trụ sở của Hội;

d) Chi tổ chức hội nghị, cuộc họp, Ban Thường vụ, Ban Chấp hành, Đại hội;

đ) Chi phí cần thiết hợp pháp khác.

3. Tài sản của Hội bao gồm toàn bộ cơ sở vật chất và thiết bị do Hội tạo dựng từ nhiều nguồn để phục vụ sự nghiệp khuyến học.

Điều 19. Quản lý tài chính, tài sản và chia, tách; hợp nhất; sáp nhập; đổi tên; giải thể Hội

 1.Tài chính, tài sản của Hội được quản lý, sử dụng theo quy chế của Hội, các quy định của pháp luật về tài chính, kế toán và được sử dụng đúng mục đích, minh bạch, công khai, tiết kiệm. Ban Thường vụ Hội quy định quy chế quản lý, sử dụng tài chính, tài sản của Hội phù hợp với Điều lệ Hội và quy định pháp luật.

2. Hằng năm, Ban Chấp hành Hội thảo luận báo cáo và quyết định các vấn đề tài chính của Hội.

3.Chia, tách; hợp nhất; sáp nhập; đổi tên và giải thể Hội.

a) Việc chia, tách; hợp nhất; sáp nhập; đổi tên và giải thể Hội thực hiện theo quy định của Bộ Luật dân sự, Nghị định số 45/2010/NĐ-CP ngày 21 tháng 4 năm 2010 của Chính phủ quy định về tổ chức, hoạt động và quản lý hội và các văn bản hướng dẫn thi hành, nghị quyết Đại hội của Hội và các quy định của pháp luật có liên quan.

b) Khi chia, tách; hợp nhất; sáp nhập; giải thể Hội thì phải tiến hành kiểm kê tài chính, tài sản của Hội chính xác, đầy đủ, kịp thời và thực hiện các thủ tục theo quy định pháp luật.

Chương V

KHEN THƯỞNG VÀ KỶ LUẬT

 Điều 20. Khen thưởng

 Tổ chức thuộc Hội, cán bộ, hội viên có thành tích trong hoạt động khuyến học, khuyến tài; các thầy cô giáo dạy tốt; học sinh học tốt; các tập thể và cá nhân tích cực hoạt động, ủng hộ, tham gia phong trào khuyến học, khuyến tài, xây dựng xã hội học tập được Hội khen thưởng hoặc được đề nghị Nhà nước khen thưởng theo quy định của pháp luật. 

Điều 21. Kỷ luật

          Tổ chức trực thuộc Hội, cán bộ, hội viên vi phạm pháp luật hoặc hoạt động sai trái với Điều lệ và các Nghị quyết của Hội, tuỳ theo mức độ mà bị kỷ luật từ khiển trách, cảnh cáo, khai trừ hoặc giải thể. Trường hợp gây thiệt hại về vật chất, ngoài hình thức kỷ luật, còn phải bồi thường theo quy định của pháp luật.

 Điều 22. Hình thức, thẩm quyền, quy trình xét khen thưởng, kỷ luật

 Ban Thường vụ quy định cụ thể hình thức, thẩm quyền, quy trình xét khen thưởng, kỷ luật của Hội phù hợp quy định pháp luật và Điều lệ Hội.

Chương VI

ĐIỀU KHOẢN THI HÀNH

Điều 23. Sửa đổi, bổ sung Điều lệ 

Việc sửa đổi, bổ sung Điều lệ này phải được Đại hội đại biểu toàn quốc Hội Khuyến học Việt Nam thông qua.

Điều 24. Hiệu lực thi hành

1. Điều lệ này gồm 6 (sáu) Chương 24 (hai mươi bốn) Điều đã được Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV của Hội thông qua ngày 29 tháng 9 năm 2010 và có hiệu lực thi hành theo quyết định phê duyệt của Bộ trưởng Bộ Nội vụ.

2. Các tổ chức thuộc Hội và cán bộ, hội viên phải chấp hành nghiêm chỉnh Điều lệ Hội; Ban Chấp hành quy định hướng dẫn thi hành Điều lệ Hội./.









HỘI KHUYẾN HỌC

TỈNH HẢI DƯƠNG


Số: 18/QĐ- KH

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Đ ộc lập - Tự do - Hạnh phúc


Hải Dương, ngày 28 tháng 6 năm 2011



QUYẾT ĐỊNH

V/v Ban hành quy định về thi đua khen thưởng

của Hội Khuyến học tỉnh Hải Dương nhiệm kỳ III (2011 - 2015)



BAN CHẤP HÀNH HỘI KHUYẾN HỌC TỈNH HẢI DƯƠNG

- Căn cứ Điều lệ (sửa đổi, bổ sung) của Hội Khuyến học Việt Nam

- Căn cứ Quyết định số 110/QĐ - KHVN ngày 5/4/2011 của Ban Thường vụ Hội Khuyến học Việt Nam ban hành văn bản "Quy định về thi đua khen thưởng của Hội Khuyến học nhiệm kỳ IV (2010 - 2015)"

- Căn cứ Nghị quyết Đại Hội Khuyến học tỉnh lần thứ III nhiệm kỳ 2011 - 2015 và Nghị quyết Hội nghị BCH Hội Khuyến học tỉnh lần thứ 2 ngày 28/6/2011.

- Xét đề nghị của Văn phòng Tỉnh hội.

QUYẾT ĐỊNH

Điều 1: Ban hành kèm theo quyết định này: "Quy định về thi đua khen thưởng của Hội Khuyến học tỉnh Hải Dương nhiệm kỳ III (2011 - 2015)"

Điều 2: Các ông, bà ủy viên Ban chấp hành Tỉnh hội, Chánh văn phòng, trưởng các ban thuộc tỉnh hội, Hội Khuyến học các huyện, thị xã, thành phố và cơ sở trong tỉnh có trách nhiệm thực hiện quyết định này.

Điều 3: Quyết định có hiệu lực từ ngày ký. Các quy định về thi đua khen thưởng của Tỉnh hội đã ban hành trước đây trái với quy định này đều bãi bỏ.


T/M BCH HỘI KHUYẾN HỌC TỈNH

Chủ tịch

Phạm Văn Bảo

(Đã ký)





Mục lục

Tài liệu tập huấn công tác cán bộ Hội Khuyến học cơ sở tỉnh Hải Dương




Trang

Lời mở đầu

2

Bài 1: Những vấn đề cơ bản của Hội Khuyến học Việt Nam

4

Bài 2: Hội Khuyến học góp phần xây dựng xã hội học tập từ cơ sở

26

Bài 3: Công tác thi đua khen thưởng nhiệm kỳ 2010 - 2015

38

Bài 4: Xây dựng, quản lý, sử dụng quỹ khuyến học

52

Bài 5: Xây dựng Hội Khuyến học cơ sở vững mạnh

58

Một số văn bản liên quan đến công tác của Hội Khuyến học:

- Điều lệ (sửa đổi, bổ sung) Hội Khuyến học Việt Nam



74

- Quyết định V/v Ban hành “Quy định về thi đua khen thưởng của Hội Khuyến học tỉnh Hải Dương nhiệm kỳ III (2011 - 2015)”

83











82