DMCA.com Protection Status

Tài liệu bồi dưỡng, tập huấn nghiệp vụ cho cấp ủy viên cơ sở  quan tâm

Được đăng bởi: Trần Việt Thao

Cập nhật lúc 15:03 ngày 05/01/2018

Tài liệu bồi dưỡng, tập huấn nghiệp vụ cho cấp ủy viên cơ sở

( gồm 6 bài & 2 bài KT):

( Nguồn: http://dukccq.daknong.gov.vn/?q=van-ban/937 ).


BÀI 1

TỔ CHỨC, CHỨC NĂNG, NHIỆM VỤ CỦA TỔ CHỨC CƠ SỞ ĐẢNG


I. HỆ THỐNG TỔ CHỨC CỦA ĐẢNG

1. Hệ thống tổ chức cơ bản của Đảng

Đảng Cộng sản Việt Nam được tổ chức theo nguyên tắc tập trung dân chủ, chặt chẽ từ trên xuống dưới.

Hệ thống tổ chức cơ bản của đảng được tổ chức theo cơ cấu tổ chức hành chính của Nhà nước.

Tại mỗi cấp hành chính nhà nước có các tổ chức đảng tương ứng:

  • Ở cấp Trung ương có Trung ương Đảng.

  • Ở cấp tỉnh có đảng bộ tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương.

  • Ở cấp huyện có các đảng bộ huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh.

- Ở cấp cơ sở có các tổ chức cơ sở đảng của xã, phường, thị trấn.

2. Hệ thống các tổ chức đảng theo khối

Ngoài hệ thống tổ chức cơ bản, các tổ chức đảng còn được thành lập theo khối:

Trung ương lập một số đảng bộ khối trực thuộc Trung ương.

Đảng bộ khối trực thuộc Trung ương được tổ chức theo các đơn vị cùng ngành hoặc các ngành có quan hệ với nhau về nhiệm vụ chính trị được giao.

Các Đảng bộ khối trực thuộc Trung ương bao gồm các đảng bộ của các cơ quan có chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, cơ cấu tổ chức và mối quan hệ chặt chẽ với nhau.

Hiện nay, có hai đảng bộ khối trực thuộc Trung ương là Đảng bộ Khối các cơ quan Trung ương và Đảng bộ Khối doanh nghiệp Trung ương.

Các đảng bộ trực thuộc Đảng bộ Khối trực thuộc Trung ương là các đảng bộ cấp trên cơ sở.

Các đảng bộ cấp trên cơ sở bao gồm các loại hình :

  • Các đảng bộ trong các cơ quan trung ương của đảng, nhà nước và các tổ chức chính trị, xã hội.

  • Các đảng bộ được thành lập trong các doanh nghiệp lớn, đông đảng viên, các tổ chức kinh tế… Đây là các đảng bộ trực thuộc Đảng bộ Khối doanh nghiệp Trung ương.

  • Các đảng bộ khối trực thuộc đảng bộ tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương.

Ở các tỉnh thành phố trực thuộc Trung ương, có đảng bộ khối cơ quan tỉnh, thành phố; ở các tỉnh, thành phố có nhiều doanh nghiệp thì có đảng bộ khối doanh nghiệp.

Ngoài ra, còn có các đảng bộ tương đương cấp huyện được thành lập ở một số nơi khác có đặc điểm riêng…

Trực thuộc các đảng bộ cấp trên cơ sở là các tổ chức cơ sở đảng. Đây là các đảng bộ, chi bộ được thành lập tại các tổ chức kinh tế, xã hội, như cơ quan, doanh nghiệp, hợp tác xã, đơn vị sự nghiệp…

  1. Hệ thống tổ chức Đảng trong quân đội, công an

Hệ thống tổ chức Đảng trong Quân đội và Công an được tổ chức tương ứng với cơ cấu tổ chức của Quân đội và Công an, bảo đảm sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với Quân đội và Công an.

II. CƠ CẤU TỔ CHỨC CỦA TỔ CHỨC CƠ SỞ ĐẢNG.

  1. Tổ chức cơ sở Đảng trong hệ thống tổ chức cơ bản của Đảng

Trong hệ thống tổ chức cơ bản của Đảng tổ chức cơ sở đảng được thành lập tại xã, phường, thị trấn.

Tổ chức cơ sở đảng là tổ chức đảng trực thuộc đảng bộ huyện và tương đương.

Tổ chức cơ sở đảng có hai loại hình là đảng bộ cơ sở và chi bộ cơ sở.

Việc thành lập tổ chức cơ sở đảng căn cứ vào số lượng đảng viên chính thức và đặc điểm của cơ sở.

Ở xã, phường, thị trấn, tức là các cộng đồng dân cư cấp xã, nếu có từ ba đảng viên chính thức trở lên, thì thành lập tổ chức cơ sở đảng trực thuộc đảng bộ cấp huyện.

Tuỳ thuộc vào số lượng đảng viên chính thức để lập đảng bộ cơ sở hay chi bộ cơ sở.

  • Nếu tại xã, phường, thị trấn, số đảng viên từ 30 trở lên thì thành lập Đảng bộ cơ sở.

Đảng bộ cơ sở được phân chia thành các tổ chức đảng trực thuộc là các chi bộ trực thuộc đảng bộ cơ sở.

Chi bộ trực thuộc đảng bộ cơ sở được tổ chức theo nơi làm việc hoặc nơi ở của đảng viên; mỗi chi bộ ít nhất có ba đảng viên chính thức.

  • Nếu tại xã, phường, thị trấn, số đảng viên dưới 30 thì lập chi bộ cơ sở trực thuộc đảng bộ huyện và tương đương.

Trực thuộc chi bộ có thể thành lập các tổ đảng.

2. Các tổ chức cơ sở đảng khác

Tại các cơ sở là các tổ chức kinh tế, xã hội như cơ quan, doanh nghiệp, hợp tác xã, đơn vị sự nghiệp, đơn vị quân đội, công an và các đơn vị khác, có từ ba đảng viên chính thức trở lên thì thành lập tổ chức đảng nhưng không nhất thiết phải là tổ chức cơ sở đảng. Có ba khả năng xảy ra:

- Lập tổ chức cơ sở đảng (đảng bộ cơ sở, chi bộ cơ sở) như đối với xã, phường, thị trấn.

- Lập chi bộ hoặc tổ đảng trực thuộc tổ chức cơ sở đảng.

Tại các cơ sở không đủ 3 đảng viên chính thức thì giới thiệu đảng viên sinh hoạt ở tổ chức cơ sở đảng thích hợp.

Thông thường đảng bộ cơ sở phải có 30 đảng viên trở lên, tuy nhiên, vẫn có một số trường hợp đặc biệt như:

  • Lập đảng bộ cơ sở chưa đủ 30 đảng viên.

  • Lập chi bộ trực thuộc đảng bộ cơ sở có hơn 30 đảng viên.

  • Lập đảng bộ bộ phận trực thuộc đảng bộ cơ sở.

Những trường hợp này, cấp uỷ cấp dưới phải báo cáo và được cấp uỷ cấp trên trên trực tiếp đồng ý mới thực hiện.

III. CHỨC NĂNG, NHIỆM VỤ CỦA TỔ CHỨC CƠ SỞ ĐẢNG

1. Khái niệm về chức năng, nhiệm vụ của tổ chức đảng

Đảng là một tổ chức chính trị, bao gồm hệ thống hữu cơ các tổ chức đảng và mối quan quan hệ giữa các tổ chức đó. Mỗi tổ chức đảng có vị trí, vai trò, chức năng nhất định trong hệ thống.

Vị trí của tổ chức đảng thể hiện mối quan hệ của tổ chức đó với các tổ chức khác trong hệ thống, toàn Đảng cũng như tổ chức chính trị, xã hội có liên quan.

Vai trò của tổ chức đảng thể hiện sự tác động (tích cực) của tổ chức đó đối với các tổ chức khác trong toàn hệ thống, toàn đảng cũng như tổ chức chính trị, xã hội có liên quan.

Đảng là một hệ thống hữu cơ, một chủ thể thống nhất, được thành lập và hoạt động vì những mục tiêu xác định. Tất cả các cơ quan, tổ chức của Đảng đều đảm nhận những phần việc nhất định tham gia thực hiện mục tiêu đó. Phần việc xuất phát từ vị trí, vai trò của tổ chức đó trong Đảng gọi là chức năng của tổ chức đó.

Chức năng của tổ chức Đảng là tổng quát những công việc xuất phát từ vị trí, vai trò của mình mà tổ chức chịu trách nhiệm thực hiện nhằm tham gia thực hiện mục tiêu chung của Đảng; còn toàn bộ những công việc mà tổ chức đảm nhiệm, có trách nhiệm thực hiện gọi là nhiệm vụ của tổ chức đó.

Nhiệm vụ là sự cụ thể hoá của chức năng, còn chức năng là nhiệm vụ tổng quát.

2. Chức năng của tổ chức cơ sở Đảng

Tổ chức cơ sở Đảng có 2 chức năng cơ bản. Đó là chức năng nền tảng của đảng và chức năng là hạt nhân chính trị ở cơ sở.

Điểm 1 Điều 21 Điều lệ Đảng quy định: “Tổ chức cơ sở đảng (chi bộ cơ sở, đảng bộ cơ sở) là nền tảng của Đảng, là hạt nhân chính trị ở cơ sở”.

a) Chức năng nền tảng

Chức năng là “nền tảng” của Đảng của tổ chức cơ sở đảng xuất phát từ những vị trí, vai trò sau đây:

- Tổ chức cơ sở đảng lãnh đạo, quản lý đảng viên và các tổ chức của đảng viên (chi bộ, tổ đảng) một cách trực tiếp (không qua cấp trung gian), trực tiếp ban hành, ra các quyết định về đảng viên và các chi bộ, tổ đảng; quản lý những mặt hoạt động cơ bản của đảng viên.

Các chủ trương, đường lối của Đảng chủ yếu bắt nguồn, lấy căn cứ từ hoạt động của tổ chức cơ sơ Đảng và được thực hiện thông qua tổ chức cơ sở đảng.

+ Đảng được thành lập ra là để tiến hành các mục tiêu chính tri, thực hiện các công việc chung của giai cấp, của xã hội, do đó, chủ trương, đường lối của Đảng phần lớn xuất phát từ việc triực tiếp thực hiện những nhiệm vụ đó mà người trực tiếp thực hiện những nhiệm vụ đó là các tổ chức cơ sở đảng.


+ Tổ chức cơ sở đảng là nơi trực tiếp, thường xuyên tiếp xúc, tìm hiểu, nắm bắt tâm tư tình cảm và nguyện vọng của nhân dân; giáo dục hướng dẫn và tổ chức nhân dân thực hiện thắng lợi chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước.

+ Tổ chức cơ sở đảng vừa là nơi trực tiếp tổ chức thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, vừa là nơi góp phần quan trọng vào sự hình thành, phát triển chủ trương, đường lối, chính sách thông qua tổng kết hoạt động thực tiển năng động, sáng tạo của đảng viên và quần chúng. Thực tiển phong phú, sinh động ở cơ sở là một trong những điều kiện quan trọng góp phần tạo nên trí tuệ cách mạng của Đảng ta.

Các tổ chức cơ sở đảng cũng là nơi lựa chọn, bồi dưỡng những quần chúng ưu tú để kết nạp vào Đảng, bổ sung đội ngũ của Đảng.

b) Chức năng hạt nhân chính trị ở cơ sở

Hệ thống chính trị là tập hợp bao gồm toàn bộ các tổ chức chính trị, chính trị- xã hội, được lập ra để thực hiện quyền lực chung của xã hội – quyền lực chính trị.

Hệ thống chính trị ở Việt Nam hiện nay ngoài Nhà nước và Đảng Cộng sản còn có các tổ chức chính tri- xã hội.

Hệ thống chính trị ở nước ta hiện nay bao gồm: Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội như Mặt trận tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể chính trị- xã hội (Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam, Hội Nông dân Việt Nam, Hội Cựu chiến binh Việt Nam) và các tổ chức chính trị - xã hội khác.

Đảng là một thành viên của hệ thống chính trị, nhưng là thành viên giữ vị trí vai trò lãnh đạo hệ thống đó.

Ở mọi cấp, tổ chức đảng đều là hạt nhân chính trị của cấp đó. Chính vì vậy, ở cơ sở, tổ chức cơ sở đảng có chức năng là “hạt nhân chính trị ở cơ sở”.

Chức năng “hạt nhân chính trị ở cơ sở” của tổ chức cơ sở đảng xuất phát từ vị trí, vai trò “hạt nhân”của một thành viên trong hệ thống thể hiện ở hai điểm:

(1) Tính tích cực của thành viên đó.

(2) Tầm ảnh hưởng của thành viên đối với các thành viên còn lại.

Do đó, chức năng “hạt nhân chính trị ở cơ sở”của tổ chức cơ sở đảng thể hiện ở chổ:

- Tổ chức cơ sở đảng là thành viên hoạt động chính trị tích cực nhất trong hệ thống chính trị ở cơ sở.

Đảng được lập ra là để tiến hành các nhiệm vụ chính trị vì lợi ích của giai cấp, của toàn xã hội. Nhiệm vụ này do Đảng chủ động đề ra và tự giác thực hiện. Đảng phát huy tính độc lập, sáng tạo của các tổ chức chính trị - xã hội. Đảng không bao biện, làm thay nhưng cũng không chia sẻ quyền lực chính trị của mình. Vì vậy, tổ chức cơ sở đảng luôn phải là thành viên tích cực nhất.

- Tổ chức cơ sở đảng là thành viên chiếm vị trí trung tâm trong hệ thống chính trị ở cơ sở:

+ Lãnh đạo toàn diện các tổ chức chính trị - xã hội ở cơ sở.

+ Giáo dục, tổ chức, động viên quần chúng thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, phát luật của Nhà nước.

+ Đoàn kết và tập hợp mọi lực lượng ở cở thành một khối thống nhất ý chí và hành động, tạo ra sức mạnh tổng hợp thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ chính trị của cơ sở.

Để đảm đương được chức trách là nền tảng của Đảng, hạt nhân chính trị ở cơ sở, tổ chức cơ sở đảng phải không ngừng phấn đấu thực sự là một tổ chức đảng trong sạch, vững mạnh.

3. Nhiệm vụ của tổ chức cơ sở đảng

Căn cứ vào chức năng của tổ chức cơ sở đảng, Điều 23 Điều lệ Đảng Cộng sản Việt Nam quy định tổ chức cơ sở đảng (chi bộ cơ sở, đảng bộ cơ sở) có năm nhiệm vụ cụ thể1. Từ năm nhiệm vụ này, có thể khái quát thành các mặt công tác cơ bản của tổ chức cơ sở đảng như sau:

  1. Công tác xây dựng Đảng

  • Xây dựng Đảng về chính trị:

+ Nâng cao năng lực, vai trò lãnh đạo của Đảng ở cơ sở.

+ Tăng cường khả năng tổ chức thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước.

+ Nâng cao chất lượng xây dựng và ban hành, tổ chức thực hiện các quyết định của Đảng ở cơ sở.

  • Xây dựng đảng về tư tưởng, tổ chức:

+ Xây dựng đảng bộ, chi bộ trong sach, vững mạnh về tư tưởng chính trị và tổ chức; thường xuyên giáo dục, rèn luyện và quản lý cán bộ, đảng viên, nâng cao phẩm chất đạo đức cách mạng, tính chiến đấu trình độ kiến thức, năng lực công tác; làm công tác phát triển đảng viên.

+ Thực hiện đúng nguyên tắc tập trung dân chủ; nâng cao chất lượng sinh hoạt đảng, thực hiện tự phê bình và phê bình, giữ gìn kỷ luật và tăng cường đoàn kết thống nhất trong Đảng.

b) Công tác thực hiện nhiệm vụ chính trị1

  • Lãnh đạo xây dựng chính quyền, các tổ chức kinh tế, hành chính, sự nghiệp, quốc phòng, an ninh và các đoàn thể chính trị - xã hội.

  • Liên hệ mật thiết với nhân dân, chăm lo đời sống vật chất, tinh thần và bảo vệ lợi ích chính đáng của nhân dân; lãnh đạo nhân dân tham gia xây dựng và thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước.

c) Công tác kiểm tra, giám sát

Kiểm tra, giám sát việc thực hiện, bảo đảm các nghị quyết, chỉ thị của Đảng và pháp luật của Nhà nước được chấp hành nghiêm chỉnh; kiểm tra, giám sát tổ chức đảng và đảng viên chấp hành Điều lệ Đảng.

4. Nhiệm vụ của chi bộ trực thuộc đảng ủy cơ sở

Các đảng bộ cơ sở được cấu thành từ các chi bộ trực thuộc, gọi là “chi bộ trực thuộc đảng ủy cơ sở”, nhiệm vụ của chi bộ trực thuộc đảng ủy cơ sở gắn liền với nhiệm vụ của đảng bộ cơ sở, là việc triển khai thực hiện nhiệm vụ của đảng bộ cơ sở.

Nhiệm vụ của chi bộ trực thuộc đảng uỷ được quy đinh tại điểm 2 Điều 24 Điều lệ Đảng: “chi bộ lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ chính trị của đơn vị; giáo dục, quản lý và phân công công tác cho đảng viên; làm công tác vận động quần chúng và công tác phát triển đảng viên; kiểm tra, giám sát thi hành kỷ luật đảng viên; thu, nộp đảng phí”1

Thực hiện những nhiệm vụ trên, cần nắm vững những nội dung sau:

- Căn cứ vào đặc điểm, chức năng và nhiệm vụ chính trị cụ thể của từng loại hình đơn vị, chi bộ lãnh đạo thực hiện có hiệu quả và sáng tạo nghị quyết của đảng ủy cơ sở.

- Thường xuyên chăm lo xây dựng chi bộ trong sạch, vững mạnh; chủ động đề phòng và kịp thời khắc phục những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, tinh thần trách nhiệm và ý thức tổ chức kỹ luật.

- Trong công tác xây dựng chi bộ, cần tập trung vào các vấn đề sau đây:

+ Giáo dục, quản lý và phân công công tác cho đảng viên để đảng viên thực hiện tốt vai trò tiên phong gương mẫu trong sản xuất, công tác, chiến đấu, học tập và rèn luyện, tu dưỡng đạo đức, lối sống.

+ Làm tốt công tác quần chúng và công tác phát triển đảng viên; thông qua công tác vận động nhân dân để phát triển ảnh hưởng của Đảng trong quần chúng.

+ Làm tốt công tác kiểm tra, giám sát, khen thưởng kỷ luật; kịp thời phát hiện và có biện pháp giáo dục đối với đảng viên mắc sai lầm, khuyết điểm, không chấp hành đúng Điều lệ Đảng và các quy định của Đảng; kiên quyết đưa ra khỏi đảng những người thoái hóa, biến chất, không đủ tư cách đảng viên.

+ Giữ vững nền nếp không ngừng nâng cao chất lượng sinh hoạt chi ủy, chi bộ; góp phần nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của chi bộ, nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên; trong sinh hoạt chi ủy, chi bộ cần thật sự coi trọng tự phê bình và phê bình, nêu cao tình thương yêu đồng chí, giúp nhau không ngừng tiến bộ.

IV CÔNG TÁC THỰC HIỆN NHIỆM VỤ CHÍNH TRỊ CỦA CÁC LOẠI HÌNH TỔ CHỨC CƠ SỞ ĐẢNG

Tất cả các tổ chức cơ sở đảng đều có các nhiệm vụ như nêu trên (tiểu mục 3 mục III), nhưng mỗi loại hình cần chú ý đến đặc thù trong công tác thực hiện nhiệm vụ chính trị của mình. Sau đây là đặc điểm riêng của công tác thực hiện nhiệm vụ chính trị của các loại hình tổ chức cơ sở đảng cơ bản.

1. Công tác thực hiện nhiệm vụ chính trị của đảng bộ, chi bộ cơ sở xã.

- Lãnh đạo chính quyền thực hiện các chủ trương, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội theo nghị quyết của đảng bộ, chi bộ xã và của tổ chức đảng cấp trên, đặc biệt là nhiệm vụ công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn, chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp; quản lý và sử dụng đất đai, vốn và nguồn lực để phát triển kinh tế có hiệu quả, bền vững; phát triển sự nghiệp văn hóa, giáo dục, y tế, bảo vệ môi trường; thực hiện tốt các chính sách xã hội, xóa đói, giảm nghèo…

- Lãnh đạo thực hiện dân chủ cơ sở, thực hiện tốt phương châm: “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra”; giám sát mọi hoạt động ở cơ sở theo đúng chủ trương, đường lối của đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước mở rộng đan chủ đi đôi với tăng cường kỷ luật, kỹ cương; kịp thời giải quyết nhưng vướng mắc phát sinh trong cộng đồng dân cư theo đúng pháp luật, không để xảy ra tình trạng khiếu kiện tập thể, vượt cấp hoặc lợi dụng dân chủ để làm mất ổn định chính trị ở cơ sở.

- Lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ quốc phòng toàn dân và chính sách hậu phương quân đội, giữ vững an ninh chính trị và trật tự, an toàn xã hội.

2. Công tác thực hiện nhiệm vụ chính trị của đảng bộ, chi bộ cơ sở phường, thị trấn

- Lãnh đạo chính quyền thực hiện các chủ trương, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội; thực hiện đúng chức năng quản lý hành chính nhà nước và công tác quản lý đô thị; chăm lo phát triển sự nghiệp văn hóa, giáo dục, y tế, bảo vệ môi trường; thực hiện tốt các chính sách xã hội, xóa đói, giảm nghèo.

  • Lãnh đạo thực hiện dân chủ cơ sở.

  • Lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ quốc phòng toàn dân và chính sách hậu phương quân đội, giữ vững an ninh chính trị và tật tự an toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn xã hội.

3. Công tác thực hiện nhiệm vụ chính trị của đảng bộ, chi bộ cơ sở cơ quan

  • Lãnh đạo cán bộ, công chức và người lao động đề cao tinh thần trách nhiệm, tham gia xây dựng và thực hiện có hiệu quả nhiệm vụ chính trị của cơ quan theo đúng chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước.

- Lãnh đạo cán bộ, công chức, người lao động phát huy tính chủ động, sáng tạo, làm tốt chức năng tham mưu, nghiên cứu đề xuất và kiến nghị với lãnh đạo cơ quan về những vấn đề cần thiết; không ngừng cải tiến lề lối, phương pháp làm việc, nâng cao hiệu quả công tác…

- Lãnh đạo thực hiện dân chủ ở cơ quan, phát huy quyền làm chủ của cán bộ, công chức, người lao động, đấu tranh chống quan liêu, tham nhũng, lãng phí, tiêu cực; chăm lo đời sống vật chất, tình thần, cải thiện điều kiện làm việc cho cán bộ, công chức, người lao động.

- Lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, an ninh đoàn kết nội bộ, bảo vệ bí mật quốc gia bảo vệ chính trị nội bộ, bảo vệ tài sản của cơ quan, nhà nước, chống âm mưu “diễn biến hoà bình” của các thế lực thù địch…

4. Công tác thực hiện nhiệm vụ chính trị của đảng bộ, chi bộ cơ sở trong các doanh nghiệp nhà nước

- Tham gia và xây dựng thực hiện có hiệu quả nhiệm vụ sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp đúng chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; bảo đảm quyền lợi hợp pháp của người lao động, hoàn thành nghĩa vụ đối với Nhà nước, không ngừng nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của người lao động.

- Lãnh đạo thực hiện dân chủ ở cơ sở trong doanh nghiệp; thực hiện công khai về phân phối; đấu tranh chống quan liêu, tham nhũng, lãnh phí, tiêu cực…

- Lãnh đạo đảng viên và quần chúng giám sát mọi hoạt động của doanh nhiệp theo đúng chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước.

- Lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ quốc phòng toàn dân, xây dựng lực lượng tự vệ mạnh, giữ vững an ninh, chính trị, trật tự, an toàn xã hội, bảo vệ nội bộ, bảo vệ tài sản của nhà nước và của doanh nghiệp.

5. Công tác tổ chức thực hiện nhiệm vụ chính trị của đảng bộ, chi bộ cơ sở trong các đơn vị sự nghiệp

- Lãnh đạo và xây dựng thực hiện có hiệu quả các chủ trương, nhiệm vụ, công tác chuyên môn của đơn vị theo đúng chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước, hoàn thành nghĩa vụ của đơn vị đối với Nhà nước, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của cán bộ, đảng viên và quần chúng.

- Lãnh đạo cán bộ, đảng viên và quần chúng giám sát mọi hoạt động của đơn vị theo đúng chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước; đề cao tinh thần trách nhiệm, phát huy tính chủ động, sáng tạo, không ngừng cải tiến lề lối, phương pháp làm việc nâng cao hiệu quả công tác, hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao.

- Lãnh đạo thực hiện dân chủ ở cơ sở, phát huy quyền làm chủ của cán bộ, đảng viên và quần chúng, đấu tranh chống quan liêu, tham nhũng, lãng phí, trù dập, ức hiếp quần chúng và các biểu hiện tiêu cực khác (nhất là những tiêu cực trong tuyển sinh, cấp văn bằng, chứng chỉ, khám chữa bệnh, nghiên cứu khoa học và trong các hoạt động văn hoá, thể thao…).

- Lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ quốc phòng toàn dân, giữ vững an ninh chính trị và trật tự, an toàn xã hội trong đơn vị; đoàn kết nội bộ, đề cao tinh thần cảch giác cách mạng, đấu tranh chống âm mưu “diễn biến hoà bình”: của các thế lực thù địch; giữ gìn bí mật quốc gia, bảo vệ chính trị nội bộ, bảo vệ tài sản của Nhà nước và của đơn vị.

6. Công tác thực hiện nhiệm vụ chính trị của đảng bộ, chi bộ cơ sở trong các doanh nghiệp có vốn nhà nước liên doanh với nước ngoài

- Lãnh đạo cán bộ, đảng viên, người lao độngViệt Nam và tuyên truyền, vận động phía nước ngoài thực hiện pháp luật, chính sách của Nhà nước Việt Nam, các quy định trong giấy phép đầu tư, hợp đồng liên doanh, Điều lệ doanh nghiệp hợp đồng và thoả ước lao động đã ký kết; đoàn kết, động viên đảng viên và các thành viên trong doanh nghiệp phấn đấu vì mục tiêu chung là thực hiện có hiệu quả nhiệm vụ sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp; chủ động ngăn ngừa, khắc phục những biểu hiện vi phạm pháp luật, bảo đảm lợi ích của nhà nước Việt Nam, của các bên tham gia liên doanh, bảo đảm quyền lợi ích hợp pháp và danh dự, nhân phẩm của người lao động.

- Lãnh đạo cán bộ, đảng viên, người lao động Việt Nam tích cực học tập, nâng cao trình độ về chính trị, chuyên môn, nghiệp vụ, kiến thức khoa học, công nghệ, ngoại ngữ, ý thức tôn trọng pháp luật và kỷ luật lao động.

- Lãnh đạo cán bộ, đảng viên, người lao động Việt Nam giữ gìn an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội trong doanh nghiệp và tham gia các công tác xã hội ở địa phương.

- Đề xuất, kiến nghị lên cấp sở thẩm quyền những vấn đề cần thiết liên quan đến doanh nghiệp.

7. Công tác thực hiện nhiệm vụ chính trị của đảng bộ, chi bộ cở trong công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, công ty hợp danh và doanh nghiệp tư nhân (gọi chung là doanh nghiệp tư nhân)

- Lãnh đạo đảng viên, người lao động trong doanh nghiệp; tuyên truyền vận động chủ doanh nghiệp, các thành viên hội đồng quản trị và ban giám đốc thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, hợp đồng các thoả ước lao động đã ký kết; đoàn kết, động viên đảng viên và các thành viên trong doanh nghiệp phấn đấu vì mục tiêu chung là thực hiện có hiệu quả nhiệm vụ sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp; chủ động ngăn ngừa, khắc phục những biểu hiện vi phạm pháp luật trong sản xuất kinh doanh, làm thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, chủ doanh nghiệp, quyền lợi hợp pháp và nhân phẩm của người lao động.

- Lãnh đạo đảng viên người lao động tích cưc học tập, nâng cao trình độ về chính trị, chuyên môn, nghiệp vụ, kiến thức khoa học, công nghệ, ngoại ngữ, ý thức tôn trọng pháp luật và kỷ cương lao động.

- Lãnh đạo Đảng viên, người lao động và tuyên truyền, vận động chủ doanh nghiệp thực hiện tốt nhiệm vụ giữ gìn an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội, nhiệm vụ quốc phòng, an ninh, các mặt công tác xã hội trong doanh nghiệp và ở địa phương.

- Đề xuất kiến nghị lên cấp có thẩm quyền những vấn đề cần thiết lên quan đến doanh nghiệp.

V. MỘT SỐ VẤN ĐỀ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG LÃNH ĐẠO VÀ ĐỔI MỚI PHƯƠNG THỨC LÃNH ĐẠO CỦA TỔ CHỨC CƠ SỞ ĐẢNG

Trong thời gian tới, cần tiếp tục nghiên cứu nhằm nâng cao hơn nữa chất lượng lãnh đạo của các loại hình tổ chức cơ sở đảng. Đại hội lần thứ XI của Đảng chỉ rõ: “Tập trung củng cố, nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng, tạo chuyển biến rõ rệt về chất lượng hoạt động của các loại hình cơ sở đảng, nhất là tổ chức đảng trong các đơn vị sự nghiệp và doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế” 1

1. Về phương thức lãnh đạo của tổ chức cơ sở Đảng

a) Khái niệm lãnh đạo và phương thức lãnh đạo của Đảng

Lãnh đạo là khái niệm chỉ mối quan hệ giữa một chủ thể nhất định, gọi là chủ thể lãnh đạo, đối với chủ thể khác, gọi là chủ thể bị lãnh đạo hay đối tượng của lãnh đạo, trong đó chủ thể lãnh đạo có khả năng tác động vào đối tượng lãnh đạo, làm cho đối tượng thực hiện theo ý muốn của chủ thể lãnh đạo từ đó chủ thể lãnh đạo đạt được mục tiêu nhất định.

Lãm đạo bao gồm các thành tố:

  • Chủ thể lãnh đạo.

  • Đối tượng của lãnh đạo hay chủ thể bị lãnh đạo.

  • Mục tiêu và nội dung lãnh đạo.

  • Phương thức lãnh đạo.

Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992, ghi: “Đảng Cộng sản Việt Nam, đội tiên phong của giai cấp công nhân Việt Nam, đại biểu trung thành quyền lợi của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc, theo chủ nghĩa Mác – Lê nin và tư tưởng Hồ Chí Minh, là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội”1.

Ở đây, Đảng là chủ thể lãnh đạo; đối tượng lãnh đạo của Đảng là Nhà nước và xã hội; mục tiêu cao nhất của sự lãnh đạo của Đảng là chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản ở Việt Nam, đồng thời với nhiều mục tiêu trung gian trên con đường đi lên chủ nghĩa xã hội và các mục tiêu cụ thể trên các lĩnh vực kinh tế - xã hội…; nội dung lãnh đạo của Đảng là các nhiệm vụ, các vấn đề kinh tế- xã hội ; phương thức lãnh đạo của Đảng là cách thức, phương pháp… mà Đảng sử dụng để tác động vào nhà nước và xã hội.

Đảng lãnh đạo Nhà nước và xã hội bằng các phương thức sau:

- Đảng đề ra cương lĩnh, đường lối, quan điểm, chủ trương, nghị quyết, chỉ thị, chiến lược, kế hoạch về các vấn đề kinh tế, xã hội…

Căn cứ vào các văn kiện, chủ trương, quan điểm… của Đảng, các tổ chức Đảng, các tổ chức Nhà nước và xã hội có trách nhiệm thể chế hoá và tổ chức thực hiện theo quy định của Điều 4 Hiến pháp.

- Đảng lãnh đạo thông qua công tác tổ chức, cán bộ và đội ngũ cán bộ, đảng viên.

Đảng tổ chức ra các tổ chức chính trị, xã hội để tác động vào Nhà nuớc và xã hội; đề cử các cán bộ, đảng viên ưu tú vào bộ máy nhà nước, vào các tổ chức chính trị, xã hội; thông qua đội ngủ cán bộ, đảng viên dể thực hiện các mục tiêu của mình.

- Đảng lãnh đạo xã hội bằng công tác tuyên truyền , giáo dục, thuyết phục và vận động nhân dân.

- Đảng lãnh đạo bằng sự nêu gương, làm gương đi đầu trong việc thực hiện nhiệm vụ kinh tế - xã hội…

b) Phương thức lãnh đạo của tổ chức cơ sở đảng

Chi bộ, đảng bộ cơ sở áp dụng những phương thức lãnh đạo cơ bản là: lãnh đạo bằng nghị quyết; lãnh đạo bằng tổ chức, cán bộ; lãnh đạo bằng thuyết phục nêu gương. Những phương thức cơ bản trên được thể hiện và vận dụng cụ thể trong việc lãnh đạo các tổ chức trong hệ thống chính trị, lãnh đạo các lĩnh vực của đời sống xã hội ở cơ sở…

Phương thức lãnh đạo của tổ chức cơ sở đảng luôn được vận dụng, thay đổi phù hợp với tình hình và nhiệm vụ từng thời kỳ; phù hợp với đặc điểm của từng loại hình tổ chức, từng lĩnh vực hoạt động. mọi tổ chức cơ sở đảng đều thực hiện phương thức lãnh đạo chung và đề ra chủ trương, biện pháp lãnh đạo thực hiệnnhiệm vụ chính trị của đơn vị…, nhưng mỗi loại hình tổ chức cơ sở Đảng khi vận dụng cụ thể có sự khác nhau. Đảng bộ, chi bộ cơ quan có phương thức lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ chính trị khác với đảng bộ, chi bộ xã, phường, thị trấn; lãnh đạo kinh tế không hoàn toàn giống như lãnh đạo quốc phòng, an ninh. Ngay lãnh đạo kinh tế, phương thức lãnh đạo kinh tế công nghiệp, dịch vụ v.v..

2. Một số vấn đề nâng cao chất lượng lãnh đạo và đổi mới nội dung, phương thức lãnh đạo của tổ chức cơ sở đảng

a) Về nội dung lãnh đạo của tổ chức cơ sở đảng

Chi bộ, đảng bộ cơ sở cần nâng cao nhận thức và làm đúng chức năng là hạt nhân chính trị, lãnh đạo toàn diện các mặt công tác ở cơ sở, đặc biệt:

- Nắm vững nhiệm vụ phát triển kinh tế trung tâm, xây dựng Đảng then chốt, chăm lo xây dựng chính quyền cơ sở, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị – xã hội, các đoàn thể nhân dân, bảo đảm sự sự phối hợp chặt chẽ giữa các tổ chức trong hệ thống chính trị cơ sở hướng vào việc phát huy vai trò làm chủ của Nhân dân.

- Tổ chức quán triệt đầy đủ và thực Hiện nghiêm chỉnh chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước.

- Nắm chắc và phản ánh kịp thời mọi tâm tư, nguyện vọng, bảo đảm lợi ích chính đáng, hợp pháp của nhân dân; khơi dậy và phát huy mọi quyền lực của Nhân dân, không ngừng nâng cao trình độ về mọi mặt của nhân dân.

Chi bộ, đảng bộ cơ sở cần không ngừng nâng cao chất lượng đảng viên theo các yêu cầu sau:

  • Về tư tưởng chính trị: tuyệt đối trung thành với sự nghiệp cách mạng của Đảng, của dân tộc, tích cực thực hiện thắng lợi đường lối đổi mới của đảng, hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao; có bản lĩnh chính trị vững vàng, không giao động trước những khó khăn, thách thức; có ý nghĩa giữ vững và nêu cao vai trò lãnh dạo của Đảng.

- Về trình độ, năng lực: có hiểu biết cơ bản về chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; có trình độ chuyên môn, nghiệp vụ đủ sức hoàn thành tốt nhiệm vụ; có năng lực vận động và lãnh đạo quần chúng tổ chức thực hiện chủ trương, đường lối của đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước.

  • Về phẩm chất đạo đức, lối sống: có tinh thần trách nhiệm cao, gương mẫu, đi đầu trong công tác; giải quyết hài hoà các lợi ích, đặt lợi ích của Đảng, của Tổ quốc lê trên hết; liên hệ mật thiết với nhân dân, tôn trọng và bảo vệ quyền làm chủ của Nhân dân, không quan liêu, tham nhũng, lãng phí và kiên quyết đấu tranh phòng, chống quan liêu, tham nhũng, lãnh phí và các tiêu cực khác.

Chi bộ, đảng bộ cơ sở cần coi trọng công tác phát triển đảng viên, bảo đảm tiêu chuẩn và chất lượng; coi trọng giáo dục và rèn luyện đảng viên dự bị, đảng viên trẻ; thường xuyên làm tốt công tác quản lý Đảng viên, kịp thời phát hiện và kiên quyết đưa những người không đủ tư cách ra khỏi Đảng bằng các hình thức thích hợp; phấn đấu không có đảng viên yếu kém.

b) Về phương pháp lãnh đạo của tổ chức cơ sở đảng

Phương thức lãnh đạo của tổ chức cơ sở Đảng cần được nâng cao chất lượng và đổi mới theo hướng dân chủ, hiệu quả, thiết thực… Sau đây là một số định hướng:

Một là đổi mới việc nghị quyết của đảng bộ, chi bộ, của cấp uỷ đảng theo hướng dân chủ hoá, khoa học hoá quá trình hình thành nghị quyết, nhất là đối với những vấn đề lớn, liên quan tới cuộc sống và quyền lợi của đông đảo nhân dân. Khi xây dựng nghị quyết cần nắm vững quan điểm, chủ trương, đường lối, chính sách của Trung ương, tổng kết thực tiển về vấn đề ra nghị quyết, hình thành dự thảo nghịq uyết lấy ý kiến đóng góp của nhân dân, của các tổ chức chính trị- xã hội. Chi bộ, cấp uỷ đảng thảo luận, thông qua nghị quyết, trong đó xác định chủ trương, các giải pháp có tình định hướng và phân công giao trách nhiệm cho các tổ chức trong hệ thống chính trị xây dựng chương trình hành động, tổ chức thực hiện theo chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của từng tổ chức.

Những chủ trương công tác thuộc thẩm quyền quyết định của chính quyền và đoàn thể thì chính quyền và đàon thể chủ động đề xuất, cấp uỷ đảng bàn và có ý kiến vè những nội dung quan trọng.

Hai là, xây dựng và thực hiện quy chế làm việc giữa bí thư cấp uỷ với chủ tịch Hội đồng nhân dân, chủ tịch Uỷ ban nhân dân, chủ tịch Uỷ ban mặt trận tổ quốc và những người đứng đầu các ban đoàn thể để bàn và giải quyết kịp thời những công việc quan trọng và bức xúc trên địa bàn, bảo đảm cho cấp uỷ đảng quán xuyến được các mặt công tác ở cơ sở.

Ba là, đảng bộ, chi bộ và cấp uỷ đảng chăm lo xây dựng đội ngủ cán bộ gồm nhiều thế hệ bổ sung, kế tiếp nhau thông qua việc rèn luyện đọi ngủ đảng viên, đồng thời phát hiện và bồi dưỡng những người có đức, có tài để đảm đương các vị trí cong tác trong hệ thống chính trị. Dựa vào nhân dân và thông qua hoạt động thực tiển ở cơ sở để phát hiện, đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng và kiểm tra cán bộ.

Bốn là, Bảo đảm sự lãnh đạo của tổ chức đảng đối với các cuộc bầu cử ở cơ sở, trước hết là bảo đảm phát huy dân chủ, thực hiện đúng nguyên tắc, tiêu chuẩn. Trong vấn đề này, chú ý thực hiện tốt các công việc sau:

- Giới thiệu đảng viên và người ngoài Đảng để nhân dân, Hội đồng nhân dân, đại hội và ban chấp hành các đoàn thể bầu vào các chức danh lãnh dạo, dựa trên sự đề cử, ứng cử từ dưới lên.

- Thực hiện nghiêm túc việc thăm dò, lắng nghe ý kiến nhân dân trước khi bầu cử cấp uỷ

- Việc bố trí bí thư đảng uỷ đồng thời làm chủ tịch Hội đồng nhân dân hay chủ tịch Uỷ ban nhân dân tuỳ thuộc tình hình cụ thể từng nơi.

Năm là, tăng cường công tác kiểm tra giám sát việc chấp hành nghị quyết của Đảng; kiểm tra công tác đồng thời kiểm tra tư cách đảng viên. Chú trọng tìm hiểu lắng nghe ý kiến nhận xét, đáng giá của quần chúng đối với đảng viên và tổ chức đảng thông qua việc thực hiện dân chủ ở cơ sở. Hằng năm, bí thư cấp uỷ, chủ tịch Hội đồng nhân dân, chủ tịch Uỷ ban nhân dân tự phê bình trước đại diện của nhân dân.

3. Một số vấn đề nâng cao chất lượng và đổi mới phương thức lãnh đạo của tổ chức cơ sở đảng trên một số lĩnh vực

a) Về phương thức lãnh đạo đối với chính quyền cơ sở

Chú ý nâng cao chất lượng và đổi mới phương thức lãnh đạo đối với chính quyền cơ sở của tổ chức cơ sở đảng theo các hướng:

- Đảng bộ, chi bộ, trực tiếp là đảng uỷ, chi uỷ lãnh đạo chính quyền cơ sở bằng việc đề ra chủ trương, nhiệm vụ, định hướng cho các hoạt động, các lĩnh vực công tác ở cơ sở và kiểm tra việc tổ chức thực hiện; bảo đảm chấp hành đúng chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước.

- Tập thể cấp uỷ thảo luận dân chủ, biểu quyết và ra nghị quyết theo đa số về kiện toàn tổ chức và đội ngủ cán bộ công tác chính quyền cơ sở thuộc thẩm quyền.

- Phát huy vai trò, trách nhiệm của tổ chức đảng, đảng viên, cấp uỷ viên hoạt động trong cơ cấu chính quyền cơ sở, bảo đảm giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo của đảng bộ, chi bộ.

- Phát huy vai trò, trách nhiệm của Mặt trận tổ quốc, các đoàn thể chính trị- xã hội và của nhân dân trong xây dựng và quản lý nhà nước thực hiện tốt dân chủ ở cơ sở, chống quan liêu, tham nhũng, lãng phí…

b) Về phương thức lãnh đạo các đoàn thể nhân dân ở cơ sở

Thực hiện nâng cao chất lượng và đổi mới theo các hướng:

- Đảng uỷ, chi uỷ có chương trình công tác vận động nhân dân; thường xuyên trực tiếp lắng nghe và đối thoại với nhân dân.

- Lựa chọn, giới thiệu cán bộ, đảng viên có phẩm chất và năng lực công tác vận động nhân dân để được bầu vào ban chầp hành, làm cán bộ lãnh đạo chủ chốt của mặt trận tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội ở cơ sở.

- Phát huy vai trò trách nhiệm của cán bộ, đảng viên hoạt động trong công tác đòan, thể bảo đảm sự lãnh đạo của đảng bộ, chi bộ.

- Đảng uỷ, chi uỷ định kỳ làm việc với ban chấp hành từng đoàn thể và ban công tác mặt trận ở cơ sở tạo điều kiện để các đoàn thể thực hiện tốt vai trò của mình.

c) Về phương thức lãnh đạo trong nội bộ hệ thống tổ chức đảng

Cơ quan lãnh đạo của tổ chức cơ sở đảng tức đảng uỷ, chi uỷ, thực hiện nâng cao chất lượng và đổi mới phương thức lãnh đạo theo hướng:

- Đảng uỷ, chi uỷ tăng cường chế độ lãnh dạo tập thể di đôi với phát huy tinh thần chủ động, sáng tạo và trách nhiệm cá nhân.

- Đảng bộ, chi bộ, đảng uỷ, chi uỷ lãnh đạo bằng việc ra nghị quyết và tổ chức thực hiện nghị quyết, nói đi đôi với làm, thực hiện “đảng viên đi trước, làng nước theo sau”.

- Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát của cấp uỷ và uỷ ban kiểm tra về chấp hành Điều lệ Đảng, nghị quyết, chỉ thị của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; phát huy dân chủ đi đối vơi tăng cường kỷ luật , giữ gìn đoàn kết nội bộ, đặt biệt coi trọng việc rèn luyện, tu dưỡng đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên; tăng cường mối quan hệ gắn bó mật thiết với nhân dân.

Tổ chức cơ sở đảng phải luôn nắm vững và thực hiện đúng chức năng là hạt nhân lãnh đạo ở cơ sở, trước hết và chủ yếu là lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ chính trị, với nhiệm vụ trung tâm là phát triển kinh tế và nhiệm vụ then chốt là xây dựng Đảng và lãnh đạo xây dựng đời sống văn hoá tinh thần. Muốn nâng cao năng lực hiệu quả lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ chính trị, đảng bộ, chi bộ, phải xác định được chủ trương, biện pháp lãnh đạo đúng đắn, có tính khả thi; đồng thời không ngừng đổi mới phương thức lãnh đạo, vận dụng những phương pháp, hình thức, biện pháp phù hợp để tổ chức thực hiện có hiệu quả.

CÂU HỎI THẢO LUẬN

1) Phân tích chức năng, nhiệm vụ của tổ chức cơ sở đảng? liên hệ với đảng bộ, chi bộ nơi đồng chí đang sinh hoạt?

2) Phân tích phương thức lãnh đạo của tổ chức cơ sở đảng?

3) Theo đồng chí và từ thực tiễn ở cơ sở đồng chí, cần đổi mới phương thức lãnh đạo của đảng bộ, chi bộ ở cơ sở hiện nay như thế nào?

CHUYÊN ĐỀ 2



NHIỆM VỤ CỦA CHI ỦY VÀ CÔNG TÁC

CỦA BÍ THƯ CHI BỘ



PHẦN I. NHIỆM VỤ CỦA CHI ỦY

Là cơ quan lãnh đạo của chi bộ giữa hai kỳ đại hội, Chi ủy có nhiệm vụ tổ chức, thực hiện sự lãnh đạo của Chi bộ theo các nội dung, nhiệm vụ đã được quy định tại điểm 2, Điều 24, Điều lệ Đảng: “Chi bộ lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ chính trị của đơn vị; giáo dục, quản lý và phân công công tác cho đảng viên; làm công tác vận động quàn chúng và công tác phát triển đảng viên; kiêm tra, thi hành kỷ luật đảng viên; thu, nộp đảng phí”.

Bí thư chi bộ đại diện chi ủy, chi bộ thực hiện lãnh đạo, tổ chức các hoạt động của chi ủy, chi bộ thực hiện lãnh đạo, tổ chức các hoạt động của chi ủy, chi bộ theo các quy định của nguyên tắc tập trung dân chủ, tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách và các nguyên tắc được ghi trong Điều lệ Đảng.

1. Lãnh đạo việc chấp hành Nghị quyết, chỉ thị của cấp trên.

Chi ủy có nhiệm vụ lãnh đạo việc chấp hành và thực hiện nghiêm túc các Nghị quyết, chỉ thị của cấp trên. Cụ thể là:

- Tổ chức cho chi bộ nghiên cứu, quán triệt, nắm vững nội dung các Nghị quyết, chỉ thị của cấp trên, trực tiếp là của Đảng ủy cơ sở; đặc biệt là những nghị quyết, chỉ thị có liên quan trực tiếp đến nhiệm vụ lãnh đạo của chi bộ và nhiệm vụ chính trị của đơn vị.

- Căn cứ nội dung, yêu cầu của Nghị quyết, chỉ thị của cấp trên và điều kiện cụ thể của địa phương, đơn vị mình, bí thư chi bộ cùng tập thể chi ủy xây dựng dự thảo, chương trình hành động của đơn vị và tổ chức hội nghị chi bộ thảo luận, quyết định để thực hiện Nghị quyết, chỉ thị của cấp trên

- Trong quá trình triển khai thực hiện Nghị quyết, chỉ thị của cấp trên, chương trình hành động thực hiện Nghị quyết ở địa phương, đơn vị, gặp phải những vướng mắc, chi ủy có trách nhiệm tập hợp ý kiến của cán bộ, đảng viên và nhân dân, kịp thời phản ánh lên cấp trên và đề xuất phương hướng giải quyết.

- Chi ủy chịu sự kiểm tra, giám sát về mọi mặt của cấp ủy cấp trên, đặc biệt trong việc chấp hành chỉ thị, nghị quyết của Đảng, chính sách, pháp luật của nhà nước. Chi ủy phải thường xuyên giữ mối liên hệ chặt chẽ với cấp ủy cấp trên trực tiếp thông qua việc báo cáo tình hình hoạt động của chi bộ và xin ý kiến chỉ đạo, nhất là đối với các vấn đề vượt quá phạm vi, trách nhiệm, quyền hạn của chi bộ.

- Chi ủy có trách nhiệm phản ánh những ý kiến của đảng viên và quần chúng đối với các chủ trương, biện pháp lãnh đạo của cấp ủy cấp trên; kiến nghị sửa đổi, điều chỉnh chủ trương, chính sách cho phù hợp với cơ sở, kể cả phương thức và phong cách lãnh đạo của cấp trên đối với cơ sở… Trên nguyên tắc tập trung dân chủ.

2. Lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ chính trị

Lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ chính trị là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của chi bộ, chi ủy. Để thực hiện tốt nhiệm vụ này, chi ủy cần nắm vững và thực hiện tốt các vấn đề sau:

- Nắm vững nhiệm vụ chính trị của đơn vị mình, trên cơ sở xây dựng và thực hiện đúng quy chế và mối quan hệ giữa chi bộ, chi ủy với chính quyền, người đứng đầu cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp, để xây dựng dự thảo nghị quyết lãnh đạo của chi bộ sát, đúng.

- Tổ chức sinh hoạt chi bộ, hướng dẫn cho đảng viên nghiên cứu, quán triệt đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, các nghị quyết, chỉ thị, quy định, hướng dẫn của cấp trên. Từ đó vận dụng vào điều kiện thực tế của địa phương, cơ quan, đơn vị để thảo luận, đề ra nghị quyết lãnh đạo của chi bộ.

- Tổ chức triển khai thực hiện các nghị quyết bằng việc xây dựng chương trình công tác của chi ủy, chi bộ với nội dung công việc và kế hoạch cụ thể. Chương trình hành động càng chi tiết, cụ thể, rõ ràng bao nhiêu thì việc tổ chức thực hiện càng thuận lợi bấy nhiêu.

- Thường xuyên kiểm tra việc chấp hành nghị quyết chi bộ của đảng viên; kiểm tra hoạt động của chính quyền, các tổ chức, đoàn thể cùng cấp trong việc thực hiện nghị quyết của chi bộ. Kịp thời phát hiện và uốn nắn những lệch lạc, điều chỉnh, bổ sung biện pháp lãnh đạo để khắc phục những thiếu sót, hạn chế phát sinh khi thực hiện.

Chi ủy lãnh đạo bằng phương pháp vận động thuyết phục, bằng hành động gương mẫu của cán bộ, đảng viên. Trong công tác tổ chức, chi ủy yêu cầu mọi đảng viên phải phục tùng tổ chức, tôn trọng tập thể, thực hiện nghiêm túc các quy chế, quy định của tổ chức đảng, nghị quyết của chi bộ.

3. Lãnh đạo công tác xây dựng chi bộ

a. Nâng cao chất lượng sinh hoạt chi ủy, chi bộ

Sinh hoạt chi ủy, chi bộ là hoạt động qua đó chi ủy, chi bộ thực hiện chức năng lãnh đạo, giáo dục, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức Đảng, nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên. Chất lượng sinh hoạt chi bộ, chi ủy có tác động trực tiếp đến chất lượng của việc xây dựng nghị quyết lãnh đạo của chi bộ, quán triệt chỉ thị, nghị quyết của cấp trên và thực hiện các chỉ thị, nghị quyết đó.

Theo quy định của Điều lệ Đảng: Chi bộ, chi ủy họp thường lệ mỗi tháng một lần. Sinh hoạt chi bộ có các loại hình và nội dung: Sinh hoạt ra nghị quyết lãnh đạo, sinh hoạt học tập, sinh hoạt phê bình, tự phê bình.Mỗi loại hình sinh hoạt có một vị trí vai trò nhất định trong nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đầu của chi bộ, bồi dưỡng, nâng cao chất lượng đảng viên về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, tinh thần trách nhiệm và ý thức tổ chức, kỷ luật…

Sinh hoạt ra nghị quyết lãnh đạo còn gọi là sinh hoạt chính trị, sinh hoạt chuyên đề. Sinh hoạt chính trị mang tính chất lãnh đạo, chỉ đạo là chính. Sinh hoạt chính trị thường trong các dịp chuẩn bị và tiến hành đại hội chi bộ; hội nghị chi ủy, chi bộ bàn bạc, thảo luận, đề ra chủ trương lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ chính trị của đơn vị.

Sinh hoạt chuyên đề thường đi sâu vào một nội dung công tác nào đó của chi bộ để lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ chính trị của đơn vị có chất lượng, hiệu quả cao. Ví dụ: các chuyên đề về tự phê bình và phê bình; công tác vận động quần chúng, công tác xóa đói giảm nghèo; đưa khoa học công nghệ mới vào sản xuất; công tác phát triển đảng; chống tham nhũng lãng phí…Thông qua sinh hoạt chuyên đề giúp cho mỗi đảng viên nâng cao trình độ nhận thức chính trị, bổ sung kiến thức về đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, giải quyết kịp thời những vấn đề nảy sinh trong thực tiễn.

Sinh hoạt học tập của chi bộ là nghiên cứu, quán triệt chỉ thị, nghị quyết của cấp trên hoặc thông tin, thông báo tình hình thời sự, chính sách mới, những vấn đề mới về lý luận và thực tiễn…

Sinh hoạt phê bình, tự phê bình: Thực hiện theo định kỳ hoặc sau khi thực hiện một nhiệm vụ quan trọng. Trong sinh hoạt phê bình, tự phê bình, từng đảng viên tự phê bình và tiếp thu sự phê bình của các đồng chí và của quần chúng.

Tùy tình hình và yêu cầu cụ thể, chi bộ có thể vận dụng một trong những hình thức sinh hoạt nói trên, hoặc kết hợp các hình thức với nhau làm cho sinh hoạt chi bộ trở nên phong phú, sinh động, đảm bảo tính chính trị, tính giáo dục, tính chiến đấu.

Trước khi sinh hoạt chi bộ, chi ủy phải chuẩn bị tốt nội dung sinh hoạt (bằng văn bản); thông báo về nội dung sinh hoạt để đảng viên chuẩn bị ý kiến tham gia thảo luận tại cuộc họp, nhằm phát huy dân chủ, đảm bảo chất lượng sinh hoạt chi bộ.

Trong sinh hoạt chi bộ, trách nhiệm của chi ủy, trước hết là của bí thư chi bộ, phải hướng dẫn đảng viên tập trung thảo luận một cách dân chủ, thẳng thắn, phát huy cao nhất trí tuệ tập thể, nhằm xây dựng nghị quyết chi bộ sát với tình hình, nhiệm vụ thực tế ở đơn vị; thực hiện tốt nguyên tắc tự phê bình và phê bình; phát huy vai trò, trách nhiệm của đảng viên, nâng cao tính chiến đấu và không ngừng củng cố sự đoàn kết thống nhất trong chi bộ.

Sau khi có nghị quyết chi bộ, chi ủy có kế hoạch triển khai thực hiện cụ thể, phân công nhiệm vụ cho từng đảng viên và tạo điều kiện để mỗi đảng viên hoàn thành nhiệm vụ được giao.

b. Chi ủy lãnh đạo việc chăm lo xây dựng đội ngũ đảng viên.

- Nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên là một yêu cầu thường xuyên và cấp thiệt trong công tác xây dựng đảng trong giai đoạn hiện nay. Chi ủy phải coi trọng công tác giáo dục, giúp mỗi đảng viên không ngừng nâng cao trình độ chính trị, nắm vững đường lối, chủ trương của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước, có kiến thức chuyên môn, nghiệp vụ cần thiết để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ được giao. Thường xuyên coi trọng giáo dục nâng cao bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức cách mạng, hoàn thành tốt nhiệm vụ đảng viên.

- Trong công tác quản lý đảng viên, chi ủy phải gắn giáo dục với quản lý, phân công nhiệm vụ đảng viên, trong đó coi trọng việc quản lý về chính trị, tư tưởng, về trình độ và năng lực công tác, về sinh hoạt gia đình và quan hệ xã hội. Phải quản lý chặt chẽ về số lượng, chất lượng và cơ cấu đội ngũ đảng viên. Việc quản lý, giáo dục đảng viên phải được tiến hành thường xuyên theo quy định chung, đồng thời gắn với yêu cầu thực hiện nhiệm vụ chính trị ở địa phương, cơ sở.

- Chi ủy thường xuyên thực hiện công tác kiểm tra, tổ chức cho mỗi đảng viên tự phê bình và phê bình, tự đành giá, kết hợp với đánh giá, nhận xét của chi bộ, ý kiến phê bình, góp ý của quần chúng và kiểm tra của cấp trên; kịp thời phát hiện và kiên quyết đưa ra khỏi Đảng những phần tử thoái hóa, biến chất.

- Chi ủy phải quan tâm lãnh đạo các tổ chức quần chúng và giao nhiệm vụ cho đảng viên làm tốt công tác bồi dưỡng nguồn phát triển Đảng. Tiến hành công tác phát triển đảng viên theo kế hoạch và quy định của Điều lệ Đảng nhằm tăng thêm sinh lực cho Đảng, trẻ hóa đội ngũ, bảo đảm sự kế thừa và phát triển của Đảng.

4. Lãnh đạo các đoàn thể ở cơ sở.

- Chi ủy có trách nhiệm chăm lo xây dựng các đoàn thể, nhưng không làm thay công việc của các đoàn thể (tổ công đoàn, chi đoàn thanh niên, phụ nữ…); tôn trong và phát huy vai trò, chức năng của các tổ chức đó; động viên và ủng hộ sáng kiến của quần chúng. Chỉ đạo, hướng dẫn, tạo điều kiện để các đoàn thể hoạt động có nề nếp, chât lượng và hiệu quả; đồng thời phân công chi ủy viên phụ trách công tác đoàn thể ở đơn vị.

- Chi ủy lãnh đạo việc xây dựng và thực hiện quy hoạch cán bộ; giới thiệu đảng viên đủ tiêu chẩn để ứng cử vào các chức danh lãnh đạo đoàn thể chính trị - xã hội. Bí thư chi bộ cùng chi ủy lãnh đạo trực tiếp tổ chức Đoàn thanh niên cùng cấp về phương hướng, nhiệm vụ hoạt động, chỉ đạo đoàn thanh niên làm tốt công tác tư tưởng, tổ chức và cán bộ.

- Chi ủy khuyến khích, tạo điều kiện để các đoàn thể tích cực vận động đoàn viên, hội viên thi đua phát triển kinh tế, nâng cao hiệu quả công tác, chăm lo đời sống vật chất và tinh thần, thực hành dân chủ, công bằng xã hội, chống quan liêu, tham nhũng, lãng phí, chống buôn lậu và các biểu hiện tiêu cực khác. Duy trì và phát triển các phong trào thi đua chung của đơn vị và của từng đoàn thể.

- Theo định kỳ, hàng quý, hàng tháng, chi ủy làm việc với người phụ trách và các đoàn thể để góp ý kiến về việc tổ chức thực hiện đường lối, chính sách của Đảng, nghị quyết của chi bộ và chương trình hành động của các đoàn thể.Thường xuyên duy trì, củng cố mối quan hệ mật thiết giữa chi ủy với người phụ trách các đoàn thể và quan hệ mật thiết giữa đảng viên và quần chúng trong đơn vị.

- Chi ủy lãnh đạo chặt chẽ việc tổ chức các kỳ đại hội, hội nghị công nhân viên chức, đại hội, hội nghị xã viên, đại hội và hội nghị các đoàn thể chính trị - xã hội. Phát huy vai trò, trách nhiệm chính trị của từng đảng viên trong các tổ chức, đoàn thể, qua đó tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo của chi ủy, chi bộ đối với hoạt động của các tổ chức quần chúng ở đơn vị.



PHẦN II. CÔNG TÁC CỦA BÍ THƯ CHI BỘ

1. Vai trò và tiêu chuẩn của bí thư chi bộ

a. Vai trò của bí thư chi bộ

- Bí thư chi bộ là người đứng đầu, người đại diện chi chi ủy, chi bộ và là người có trách nhiệm tổ chức thực hiện sự lãnh đạo của chi bộ trên mọi mặt công tác theo quy định của Điều lệ Đảng.

- Bí thư chi bộ là người đại diện cho chi bộ, chi ủy trước chính quyền và các đoàn thể quần chúng ở đơn vị. Vì vậy, bằng phẩm chất, năng lực, phương pháp công tác và sự gương mẫu của bản thân, thông qua hệ thống tổ chức của Đảng, tổ chức quần chúng, tổ chức kinh tế - xã hội ở đơn vị mà bí thư chi bộ xây dựng mối quan hệ thường xuyên, chặt chẽ với người đứng đầu chính quyền, đoàn thể, tổ chức quần chúng trong cơ quan, đơn vị.

- Bí thư chi bộ có vai trò quan trọng trong việc tổ chức các hoạt động của đơn vị, là hạt nhân đoàn kết, thống nhất ý chí và hành động trong chi bộ và các tổ chức ở đơn vị.

- Bí thư chi bộ là người giữ trọng trách cao nhất trong chi bộ, chi ủy; đồng thời bí thư chi bộ cũng là một đảng viên trong chi bộ. Vì vậy bí thư chi bộ phải nêu cao vai trò, trách nhiệm cá nhân trong việc triển khai thực hiện Nghị quyết và các công việc của chi bộ; gương mẫu chấp hành các chỉ thị, nghị quyết của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; kiểm tra việc thực hiện Điều lệ Đảng, thực hiện các nghị quyết, chỉ thị của cấp trên và nghị quyết chi bộ của đảng viên.

b. Tiêu chuẩn của bí thư chi bộ

Bí thư chi bộ là người đứng đầu cấp ủy, vì vậy phải đáp ứng yêu cầu về tiêu chẩn của cấp ủy viên quy định trong điểm 1, Điều 12, Điều lệ Đảng cộng sản Việt Nam: “Cấp ủy viên phải có đủ tiêu chuẩn về phẩm chất chính trị, đạo đức cách mạng, lối sống lành mạnh; chấp hành nghiêm chỉnh nguyên tắc tổ chức và sinh hoạt Đảng, kỷ luật của Đảng và pháp luật của Nhà nước, có kiến thức và năng lực tham gia lãnh đạo tập thể, hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao; đoàn kết cán bộ, đảng viên, được quần chúng tín nhiệm.

Theo tiêu chuẩn cán bộ trong thời kỳ mới thì bì thư chi bộ phải là người:

- Có bản lĩnh chính trị vững vàng, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, trung thành với chủ nghĩa Mác – Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh; chấp hành nghiêm Cương lĩnh, Điều lệ Đảng và Nghị quyết của Đảng; kiên quyết đấu tranh bảo vệ quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước.

- Có đạo đức cách mạng và lối sống lành mạnh, trung thực, gương mẫu; có tinh thần tiết kiệm, chống lãng phí; không tham nhũng, quan liêu, không cơ hội, vụ lợi, tham vọng quyền lực; được đảng viên và nhân dân tín nhiệm.

- Có năng lực, kiến thức, sức khỏe, hoàn thành chức trách nhiệm vụ được giao. Có khả năng nắm bắt thực tiễn, đề xuất chủ trương, giải pháp đóng góp vào sự lãnh đạo của chi bộ và vận dụng sáng tạo, có kết quả đường lối, nghị quyết của Đảng vào thực tiễn cuộc sống. Chấp hành nghiêm túc nguyên tắc tập trung dân chủ trong tổ chức và sinh hoạt Đảng, có tinh thần phê bình và tự phê bình; giữ gìn sự đoàn kết thống nhất, phát huy dân chủ và tăng cường kỷ luật trong Đảng, có phong cách, phương pháp công tác dân chủ, khoa học.

2. Nhiệm vụ của bí thư chi bộ

a. Bí thư chi bộ chịu trách nhiệm chung về công tác lãnh đạo của chi ủy, chi bộ, đồng thời trực tiếp phụ trách công tác tư tưởng.

- Bí thư chi bộ đề xuất để chi ủy thống nhất phân công công tác cho từng chi ủy viên, cho đảng viên của chi bộ theo nguyên tắc tập trung dân chủ, tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách.

Trên cơ sở phân công mỗi chi ủy viên phụ trách từng công việc, bí thư chi bộ phải thường xuyên theo dõi, đôn đốc để các mặt hoạt động của chi bộ được triển khai đồng bộ, đồng thời tạo điều kiện cho từng cấp ủy viên phát huy vài trò của mình trong việc thực hiện nhiệm vụ được giao.

Trong quá trình lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ chính trị, bí thư chi bộ phát huy đầy đủ vai trò đầu tàu, gương mẫu, cùng tập thể chi ủy làm tốt vai trò hạt nhân đoàn kết, lãnh đạo các hoạt động của đơn vị, xây dựng chi bộ, chi ủy trong sạch, vững mạnh, cơ quan đơn vị vững mạnh toàn diện, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao.

- Trong công tác tư tưởng, bí thư chi bộ cần thường xuyên nắm bắt tình hình và dự báo chiều hướng phát triển về tư tưởng của chi bộ và trong cơ quan, đơn vị, nhất là những trường hợp cá biệt, đang có vướng mắc trong nhận thức tư tưởng. Bí thư chi bộ phải nhạy bén phát hiện vấn đề, nắm bắt dư luận xã hội, dư luận trong đơn vị, cùng chi ủy có những biện pháp thích hợp để làm tốt công tác tư tưởng.

b. Bí thư chi bộ thường xuyên giữ mối liên hệ chặt chẽ với người phụ trách cơ quan, đơn vị.

- Trong công tác lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ chính trị của đơn vị, mối quan hệ giữa Bí thư chi bộ và người phụ trách cơ quan, đơn vị là mối quan hệ về trách nhiệm, tôn trọng, đoàn kết, giúp đỡ nhau, phát huy vai trò cùng nhau lãnh đạo, điều hành, quản lý đơn vị hoàn thành tốt nhiệm vụ. Xây dựng và thực hiện tốt quy chế làm việc giữ chi ủy với lãnh đạo cơ quan, đơn vị, giữa bí thư chi bộ với người phụ trách cơ quan, đơn vị.

- Bí thư chi bộ cần có đủ trình độ, kiến thức, cả về chuyên môn nghiệp vụ và công tác Đảng; đồng thời, có khả năng tham gia vào việc kiểm tra công tác của người phụ trách đơn vị khi cần thiết.

- Bí thư chi bộ và người phụ trách đơn vị cần bảo đảm sự thống nhất về quan điểm và các quyết định thuộc về chủ trương công tác xây dựng cơ quan, đơn vị. Trong trường hợp khẩn cấp, đột xuất, không thể chờ đợi sự bàn bạc thống nhất về chủ trương công tác theo quy định thì người phụ trách cơ quan, đơn vị có quyền chủ động quyết định, sau đó hai bên đều có trách nhiệm thảo luận, thống nhất và báo cáo lên cấp trên và xin ý kiến chỉ đạo. Trong trường hợp hai bên thống nhất ý kiến, thì bí thư chi bộ có trách nhiệm báo cáo với chi ủy và báo cáo lên cấp ủy cấp trên xem xét, quyết định.

Các ý kiến và quyết định của bí thư chi bộ phải dựa trên nguyên tắc tập trung dân chủ, phải có sự thảo luận, thống nhất trong cấp ủy. Bí thư chi bộ phải chịu trách nhiệm trước những ý kiến và quyết định của mình trước cấp ủy và chi bộ.

3. Bí thư chi bộ cùng chi ủy chuẩn bị ra nghị quyết và triển khai thực hiện nghị quyết chi bộ.

a. Chuẩn bị ra nghị quyết của chi bộ

Ra nghị quyết là một nội dung quan trọng trong hoạt động lãnh đạo của chi bộ. Việc ra nghị quyết của chi bộ phải bảo đảm đúng quy trình; tùy tính chất của mỗi loại hình sinh hoạt mà có cách thức chẩn bị ra nghị quyết phù hợp. Thông thường, việc ra nghị quyết được thực hiện một cách phổ biến theo các bước sau:

Bước 1: Bí thư chi bộ chuẩn bị nội dung sinh hoạt chi ủy.

Bí thư chi bộ phải chuẩn bị nội dung sinh hoạt chi ủy, xác định những nội dung cốt lõi, trọng tâm và cần thiết của mỗi kỳ sinh hoạt để đưa ra chi ủy thảo luận, quyết định.

Những nội dung mà bí thư chi bộ cần chuẩn bị là:

- Kế hoạch học tập, nghiên cứu, triển khai thực hiện chỉ thị, nghị quyết của cấp trên, nghị quyết, chương trình hành động của đảng bộ

- Tình hình, kết quả thực hiện những chủ trương biện pháp lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ chính trị, công tác tư tưởng, công tác cán bộ, công tác quần chúng, công tác kiểm tra Đảng, kỷ luật đảng viên, v.v…

- Đặc điểm tình hình diễn biến ở địa phương, đơn vị, đặc biệt là những thông tin có liên quan đến công tác lãnh đạo và những vấn đề cần thiết phải tăng cường sự lãnh đạo của chi bộ.

- Dự kiến những vấn đề lớn về chủ trương, biện pháp lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ chính trị, công tác xây dựng chi bộ, xây dựng các tổ chức quần chúng; dự kiến những vấn đề, tình huống có thể phát sinh trong quá tình thực hiện để có chủ trương, biện pháp lãnh đạo sát, đúng.

Bước 2: Chủ trì sinh hoạt chi ủy chuẩn bị nội dung sinh hoạt chi bộ.

Sau khi đã chuẩn bị chu đáo nội dung sinh hoạt, bí thư chi bộ phải thông báo thời gian, triệu tập các chi ủy viên đến họp. Trong cuộc họp chi ủy, cần ghi biên bản cuộc họp. Khi tổ chức cuộc họp chi ủy, các bước tiến hành theo thứ tự sau:

- Bí thư chi bộ nêu dự kiến những nội dung sinh hoạt chi bộ mà mình đã chuẩn bị; nhấn mạnh nhưng trọng cần đi sâu thảo luận và yêu cầu cần đạt được khi thảo luận trong cấp ủy.

- Bí thư chi bộ yêu cầu và khuyến khích các chi ủy viên thảo luận kỹ để thống nhất quan điểm, mục tiêu, lựa chọn phương hướng và giải pháp tổ chức thực hiện. Trong quá trình thảo luận, cần phát huy dân chủ, nêu cao tinh thần chủ động, sáng tạo của từng chi ủy viên.

- Bí thư chi bộ lắng nghe, tiếp thu đầy đủ ý kiến của các chi ủy viên, tóm tắt, kết luận và ghi văn bản thành dự thảo nghị quyết chi bộ, với sự nhất chí của chi ủy.

Bước 3: Chủ trì sinh hoạt chi bộ.

- Bí thư chi bộ chủ trì các cuộc sinh hoạt chi bộ. Trong sinh hoạt chi bộ, bí thư phải nêu lý do, mục đích, nội dung, chương trình, dự kiến thời gian sinh hoạt; thay mặt chi ủy trình bày nội dung sinh hoạt, nhấn mạnh những vấn đề trọng tâm để chi bộ tập trung thảo luận.

- Phải có thư ký ghi biên bản, ý kiến phát biểu của đảng viên. Trên cơ sở ý kiến thảo luận của đảng viên, bí thư chi bộ tổng hợp, khái quát, kết hợp với chuẩn bị của chi ủy thành kết luận để chi bộ biểu quyết và thành nghị quyết của chi bộ. Nội dung nghị quyết của chi bộ phải thể hiện sự lãnh đạo toàn diên, nhưng có trọng tâm, trọng điểm, có nội dung và biện pháp tổ chức thực hiện cụ thể; đồng thời, phải phân công từng đảng viên, từng bộ phận chịu trách nhiệm thực hiện.

b. Tổ chức thực hiện nghị quyết

Đây là khâu có ý nghĩa quyết định trong quá trình hoạt động lãnh đạo của chi bộ. Vì vậy, bí thư chi bộ phải làm tốt những công việc sau:

Một là, lập chương trình, kế hoạch triển khai tổ chức thực hiện nghị quyết.

- Trong chương trình, kế hoạch thực hiện cần cụ thể hóa các vấn đề nêu trong nghị quyết, làm rõ những yêu cầu cần đạt được, những điểm cần chú ý, từng việc phải làm và phương pháp tổ chức thực hiện.

- Xác định thời gian hoàn thành từng việc cụ thể, có việc phải hoàn thành ngay, có việc phải hoàn thành trong từng tháng, từng quý, thường xuyên đôn đốc mọi người giữ nghiêm kỷ luật trong công tác, đảm bảo thời gian, tiến độ thực hiện nghị quyết.

- Có kế hoạch kiểm tra việc thực hiện nghị quyết, xác định mục tiêu, nội dung cần kiểm tra và cách tiến hành kiểm tra.

Hai là, phân công trách nhiệm, phối hợp hoạt động của các tổ chức, cá nhân để thực hiện nghị quyết của chi bộ.

- Bí thư chi bộ cần phân công trách nhiệm cụ thể và rõ ràng cho từng chi ủy viên, tổ trưởng đảng và đảng viên để thực hiện tốt các nội dung của nghị quyết.

- Thay mặt chi ủy, chi bộ phối hợp với người đứng đầu cơ quan, chính quyền, đoàn thể cùng cấp để triển khai hoạt động của các tổ chức trong đơn vị theo đúng chức năng, nhiệm vụ của mỗi tổ chức, bảo đảm nghị quyết được thực hiện một cách đồng bộ, có hiệu quả.

- Bí thư chi bộ cần nắm toàn diện, bao quát tình hình thực hiện nghị quyết chi bộ của các tổ chức trong đơn vị. Nắm vững những công tấc trọng tâm, trọng điểm, tập trung chỉ đạo trong từng thời gian.

Ba là, kiểm tra, sơ kết, tổng kết: Nội dung kiểm tra bao gồm:

+ Kiểm tra tinh thần và năng lực chấp hành nghị quyết của các tổ chức và cán bộ, đảng viên thuộc quyền.

+ Kiểm tra và phát hiện những chủ trương chỉ tiêu, giải pháp trong nghị quyết lãnh đạo chưa sát thực cần tiếp tục bổ sung, hoàn chỉnh; phát hiện vấn đề mới do thực tế đặt ra cần nghiên cứu.

+ Đánh giá kết quả hoạt động của từng bộ phận và cá nhân trong quá trình thực hiện nghị quyết của chi bộ biểu dương những cá nhân và bộ phận làm tốt, phê bình, nhắc nhở những việc làm chưa tốt.

- Để làm tốt việc sơ kết, tổng kết, bí thư chi bộ cần chú ý một số điểm sau:

+ Xác định rõ kết quả, chất lượng các mặt công tác đạt được. Đánh giá đúng mức những ưu điểm, khuyết điểm, những việc làm tốt, những việc chưa đạt yêu cầu trong quá trình tổ chức thực hiện nghị quyết, thực hiện chương trình hành động. Tìm ra những nguyên nhân chủ quan, khách quan làm cơ sở để rút kinh nghiệm trong công tác lãnh đạo; xác định rõ trách nhiệm của từng bộ phận và từng cá nhân.

+ Rút ra được những kinh nghiệm bổ ích, cụ thể, lấy đó làm bài học kinh nghiệm của chi bộ trong công tác lãnh đạo.

+ Kiến nghị, đề nghị với cấp trên trong việc lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ chính trị của chi bộ.

4. Công tác của bí thư chi bộ trong sinh hoạt chi bộ hằng tháng.

a. Bí thư chi bộ cùng chi ủy chuẩn bị nội dung sinh hoạt chi bộ hằng tháng.

- Căn cứ chức năng, nhiệm vụ và sự chỉ đạo của cấp trên, đồng chí bí thư chi bộ (hoặc đồng chí chi ủy viên được phân công) dự kiến nội dung, chương trình, thời gian sinh hoạt đưa ra họp chi ủy viên;

- Chi ủy thảo luận, thống nhất đánh giá tình hình thực hiện nhiệm vụ tháng trước, đề ra nhiệm vụ tháng tới; phân công chuẩn bị nội dung, quyết định thời gian họp chi bộ và lựa chọn hình thức sinh hoạt phù hợp (sinh hoạt nhiều nội dung, hay một số nội dung, sinh hoạt chuyên đề…).

- Chi ủy thông báo cho đảng viên biết nội dung, thời gian, địa điểm sinh hoạt chi bộ (nếu chưa quy định ngày họp định kỳ hàng tháng).

b. Công tác của bí thư chi bộ trong sinh hoạt chi bộ.

* Phần mở đầu:

- Đồng chí bí thư chi bộ (hoặc đồng chí chi ủy viên được phân công chủ trì) tiến hành các nội dung sau:

+ Thông qua tình hình đảng viên của chi bộ (chín thưc, dự bị); số đảng viên được miễn sinh hoạt, công tác; số đảng viên có mặt dự họp; số đảng viên vắng mặt và lý do vắng;

+ Thông qua chương trình, nội dung sinh hoạt chi bộ và những vấn đề trọng tâm cần tập trung thảo luận;

- Cử thư ký cuộc họp (chú ý chọn đồng chí có năng lực và kinh nghiệm tổng hợp để nghi chéo đầy đủ, trung thực, chính xác ý kiến phát biểu của đảng viên, kết luận của đồng chí chủ trì hoặc nghị quyết của chi bộ).

* Phần nội dung:

- Thông tin tình hình thời sự nổi bật của đất nước, địa phương, cơ quan, đơn vị; phổ biến, quán triệt những chủ trương, chính sách mới của Đảng, nhà nước và sự chỉ đạo của cấp ủy cấp trên (nội dung thông tin cần chọn lọc phù hợp, thiết thực). Nhận xét tình hình tư tưởng của đảng viên, quần chúng thuộc phạm vi lãnh đạo của chi bộ; những vấn đề tư tưởng chi bộ cần quan tâm.

- Đánh giá tình hình thực hiện nhiệm vụ của chi bộ tháng trước (nêu rõ những việc làm được, chưa được, nguyên nhân); tình hình đảng viên thực hiện chủ trương, đường lối, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước, nghị quyết, chỉ thị của cấp ủy cấp trên và nhiệm vụ được chi bộ phân công.

- Đánh giá việc học tập và làm theo tư tưởng, tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh của đảng viên, quần chúng thuộc phạm vi lãnh đạo của chi bộ; biểu dương những đảng viên tiền phong gương mẫu, có việc làm cụ thể thiết thực về học tập tư tưởng và làm theo tâm gương đạo đức Hồ Chí Minh; đồng thời giáo, giúp đỡ những đảng viên có sai phạm (nếu có).

- Thông báo ý kiến của đảng viên, quần chúng vè sự lãnh đạo của chi bộ và vai trò tiền phong gương mẫu của đảng viên (nếu có) để chi bộ có biện pháp phát huy ưu điểm, khắc phục khuyết điểm, kịp thời ngăn chặn, đấu tranh với những biểu hiện quan liêu, tham nhũng, lãng phí, tiêu cực;

- Đề ra một số nhiệm vụ cụ thể, thiết thực, bức xúc trước mắt để thực hiện trong tháng tới theo chức năng, nhiệm vụ của chi bộ và sự chỉ đạo của cấp ủy cấp trên; đồng thời, phân công nhiệm vụ cụ thể cho đảng viên thực hiện.

- Chi bộ thảo luận, tham gia đóng góp ý kiến về các nội dung trên. Trong quá trình thảo luận, đồng chí chủ trì cần phát huy dân chủ, lắng nghe ý kiến của đảng viên và gợi ý những nội dung quan trọng để đảng viên tham gia thảo luận, thực hiện chính kiến của mình. Khi có những vấn đề cần biểu quyết mà đang có ý kiến khắc nhau, chi bộ cần trao đổi kỹ trước trước khi biểu quyết.

* Phần kết thúc:

- Đồng chí chủ trì tóm tắt ý kiến phát biểu của đảng viên và kết luận những vấn đề lớn, quan trọng mà chi bộ đã thảo luận, thống nhất.

- Chi bộ biểu quyết thông qua kết luận (nghị quyết) của chi bộ. Đồng chí thư ký ghi rõ số đảng viên đồng ý, không đồng y và có ý kiến khác;(ghi rõ số lượng đồng ý, không đồng ý và ý kiến khác).

- Đồng chí chủ trì và thư ký ký vào biên bản cuộc họp. Sổ ghi biên bản họp chi bộ phải được quản lý và lưu trữ theo quy định.

5. Bí thư chi bộ chuẩn bị nội dung sinh hoạt chuyên đề.

Ngoài các buổi sinh hoạt với nội dung nêu trên, ít nhất mỗi quý một lần, chi bộ chọn một trong những vấn đề sau để sinh hoạt chuyên đề:

- Các chuyên đề về học tập tư tưởng và làm theo tư tưởng tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh theo hướng dẫn của Trung ương và cấp ủy cấp trên.

- Giải pháp xây dựng đảng bộ, chi bộ TSVM hoặc củng cố cơ sở yếu kém.

- Các giải pháp xây thôn (ấp, bản, làng...), khu phố (khu dân cư...) văn hóa; biện pháp giúp đỡ đảng viên nghèo, có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn;

- Việc đấu tranh phòng, chống quan liêu, tham nhũng, lãng phí, tiêu cực và các tệ nạn xã hội ở địa phương, cơ quan, đơn vị.

- Công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ và tạo nguồn phát triển đảng viên.

- Công tác quản lý và phân công công tác cho đảng viên.

- Biện pháp nâng cao chất lượng nghiên cứu, tham mưu và quy trình xây dựng một đề án, đề tài có chất lượng.

- Phương pháp tự nghiên cứu, học tập để không ngừng nâng cao trình độ kiến thức cho cán bộ, đảng viên...

Câu hỏi thảo luận.



1/ Chi ủy có những nhiệm vụ chủ yếu nào? Liên hệ thực tế.

2/ Nhiệm vụ chủ yếu của bí thư chi bộ? liên hệ thực tế.

3/ Làm thế nào để nâng cao chất lượng sinh hoạt chi bộ?



Bài 3

CÔNG TÁC TƯ TƯỞNG CỦA CHI BỘ, ĐẢNG BỘ CƠ SỞ



I. MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ CÔNG TÁC TƯ TƯỞNG CỦA CHI BỘ, ĐẢNG BỘ CƠ SỞ

1. Tư tưởng và công tác tư tưởng của Đảng

- Tư tưởng là hình thức tồn tại của ý thức con người, sự kết tinh của quá trình tư duy, bao gồm các quan niệm, quan điểm của con người về các sự vật, hiện tượng của thế giới xung quanh…

Tư tưởng của Đảng là hệ thống các quan điểm, chủ trương, đường lối… của Đảng.

- Công tác tư tưởng là hoạt động quan trọng của Đảng nhằm nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn, xây dựng và phát triển Cương lĩnh, đường lối, chính sách của Đảng trong từng thời kỳ; truyền bá Cương lĩnh, đường lối, quan điểm, chính sách,xây dựng thế giới quan khoa học,bồi dưỡng lý tưởng, lẽ sống, xây dựng niềm tin, định hướng giá trị đúng đắn, thúc đẩy con người hành động tích cực và sáng tạo để thực hiện thắng lợi mục tiêu, lý tưởng của Đảng; xây dựng đời sống văn hóa, xây dựng con người mới…

Như vậy công tác tư tưởng bao gồm, các bộ phận:

- Công tác nghiên cứu lý luận chính trị, bao gồm cả việc xây dựng, phát triển cơ sở lý luận và bản thân việc xây dựng, phát triển chủ trương, đường lối, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội.

- Công tác nắm bắt tâm tư, nguyện vọng, tình cảm của cán bộ, đảng viên và nhân dân.

- Công tác giáo dục, truyền bá quan niệm, quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng.

- Công tác cổ vũ, động viên, kiểm tra việc thực hiện chủ trương, đường lối, quan điểm của Đảng.

Vị trí quan trọng của công tác tư tưởng xuất phát từ nguyên lý khoa học của Chủ nghĩa Mác - Lênnin về mối quan hệ giữa tồn tại xã hội và ý thức xã hội, về tầm quan trọng của lý luận đối với sự nghiệp cách mạng. C.Mác nói: “Lý luận cũng sẽ trở thành lực lượng vật chất, một khi nó thâm nhập vào quần chúng”.V.I.Lênin cũng chỉ rõ: “Nâng cao sự giác ngộ của quần chúng, hiện nay cũng như bất cứ lúc nào, vẫn là nền tảng và nội dung chủ yếu của toàn bộ cong tác của chúng ta”.

Cách mạng xã hội chủ nghĩa (XHCN) là hành động tự giác của hạng triệu quần chúng. Đảng thông qua công tác tư tưởng đưa yếu tố tự giác đến quần chúng. Trong quá trình đấu tranh cách mạng, Đảng và Chủ Tịch Hồ Chí Minh đã thường xuyên quan tâm, chăm lo công tác tư tưởng. Công tác tư tưởng tạo nên sự thống nhất ý chí và hành động, tạo nên sức mạnh chính trị- tinh thần to lớn trong Đảng và ngoài xã hội, góp phần tạo nên thắng lợi của sự nghiệp cách mạng.

Nghị quyết Hội nghị trung ương 5 khóa X về công tác tư tưởng lý luận, báo chí trước yêu cầu mới đã nêu quan điểm chỉ đạo tình hình công tác tư tưởng lý luận hiện nay, trong dó khẳng định: “Công tác tư tưởng là nhiệm vụ của toàn Đảng, của tất cả đảng viên, trước hết là cấp ủy các cấp và đồng chí bí thư cấp ủy”.

2. Phương châm tiến hành công tác tư tưởng của chi bộ, đảng bộ cơ sở.

Một là, công tác tư tưởng phải gắn chặt với việc thực hiện nhiệm vụ của chi bộ, đảng bộ cơ sở trong từng giai đoạn.

Thực hiện thắng lợi nhiệm vụ chính trị là mục đích, yêu cầu trực tiếp của công tác tư tưởng. Do đó việc tổ chức tuyên truyền, giáo dục cán bộ, đảng viên quán triệt sâu sắc nhiệm vụ chính trị, có ý chí, quyết tâm cao để vượt qua mọi khó khăn, thách thức, thực hiện thắng lợi nhiệm vụ là công việc thường xuyên của công tác tư tưởng của các tổ chức cơ sở (TCCS) đảng. Chỉ có xuất phát từ yêu cầu nhiệm vụ chính trị và gắn bó chặt chẽ với việc thực hiện nhiệm vụ chính trị, công tác tư tưởng ở cơ sở mới có sức sống và phát huy hiệu quả.

Trong phương châm này, có thể nói, công tác tư tưởng phải đi trước, đi cùng với thực tiễn, với các hoạt động của chi bộ, đảng bộ.

Hai là, giáo dục toàn diện, kết hợp ba mặt giáo dục: Lý luận Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối, quan điểm của Đảng; kiến thức văn hóa, quản lý, kỹ thuật; phẩm chất đạo đức cách mạng.

Nhân dân là người làm chủ đất nước, làm chủ xã hội. Để phát huy vai trò làm chủ, mọi người dân cần có hiểu biết về chính trị, hiểu rõ chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luạt của Nhà nước, để có thái độ đúng đắn đối với các vấn đề của cuộc sóng; có những kiến thức nhất định về văn hóa, khoa học, kỹ thuật, nghiệp vụ cần thiết cho công việc của mình; có phẩm chất đạo đức công dân. Cán bộ, đảng viên là người lãnh đạo, cần có sự hiểu biết về lý luận chính trị sâu sắc hơn, để quán triệt chủ trương, đường lối của Đảng vào thực hện nhiệm vụ và giáo dục, thuyết phục, nâng cao giác ngộ chính trị của quần chúng; có kiến thức lý luận chính trị và chuyên môn nhất định đẻ tham gia đấu tranh, bảo về nền tảng tư tưởng, đường lối của Đảng, hoàn thành nhiệm vụ được giao; có phẩm chất đạo đức, lối sống của người cách mạng, là tấm gương để quần chúng noi theo.

Ba là, công tác tư tưởng phải gắn liền với công tác tổ chức, với phong trào cách mạng của quần chúng, nói đi đôi với làm.

Cách mạng XHCN là sự nghiệp tự giác của quần chúng. Đảng cộng sản thông qua công tác tư tưởng đưa nhân tố tự giác vào phong trào, vào từng tổ chức, từng con nười.

Công tác tư tưởng có vai trò nâng cao tính tự giác, chỉ đạo hành động. Nhưng nếu công tác tư tưởng tách rời công tác tổ chức và các công tác khác thì tư tưởng chưa thể biến thành hành động. Phải có công tác tổ chức thích hợp, với những hình thức thích hợp, biện pháp, kế hoạch cụ thể để tập hợp, lôi cuốn đông đảo cán bộ, đảng viên và nhân dân trong những tổ chức, lực lượng nhất định, hành động theo sự dẫn dắt của tư tưởng, lý luận khoa học.

Công tác tư tưởng phải gắn liền với công tác tổ chức, qua tổ chức để kịp thời nắm được diễn biến tư tưởng của quàn chúng, để có nội dung, biện pháp giáo dục phù hợp với từng đối tượng cụ thể, tạo sự ổn định về tư tưởng, chính trị, thúc đẩy các phong trào hoạt động có hiệu quả.

Sự gắn bó giữa công tác tư tưởng với công tác tổ chức đòi hỏi người làm công tác tư twowgr ở cơ sở phải thực hiện tốt các bước tiến hành việc giải quyết tư tưởng: tìm hiểu , nắm bắt tư tưởng, phân tích, đánh giá tình hình và tiến hành giải quyết tư tưởng trong từng tổ chức, với từng đối tượng cụ thể. Muốn làm tốt các công việc đó, cấp ủy, người làm công tác tư tưởng phải thông suốt chủ trương, đường lối của Đảng, có niềm tin mạnh mẽ, gương mẫu trong hành động, dẫn đầu phong trào quần chúng, sử dụng tốt các tổ chức, các lực lượng, các biện pháp về tổ chức để làm tốt công tác tư tưởng.

Bốn là, mở rộng và khuyến khích thực hành dân chủ trong công tác tư tưởng.

Với sự phát triển phong phú và đa dạng của thự tiễn đổi mới, Đảng ta luôn mở rộng dân chủ, khuyến khích và phát huy sự tìm tòi, sáng tạo trong hoạt động nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn. Đại hội XI khẳng định:“Tạo môi trường dân chủ thảo luận, tranh luận khoa học, khuyến khích tìm tòi, sáng tạo, phát huy trí tuệ của cá nhân và tập thể trong nghiên cứu lý luận”.

Mặt khác, với sự phát triển nhanh chóng, đa dạng và phong phú của thực tiễn đổi mới hiện nay, trong Đảng và xã hội xuất hiện những ý kiến khác nhau, nhiều khi trái ngược nhau trên cùng một vấn đề, đó là điều bình thường. Trong tình hình đó, để đi đến nhất trí thật không dẽ dàng. Cần mở rộng dân chủ, khuyến khích thảo luận, tranh luận thẳng thắn về những ý kiến, quan điểm khác nhau để đi tới sự nhất trí có căn cứ khoa học và có sức thuyết phục cao, cả trong sinh hoạt Đảng, trong đối thoại với nhân dân của cán bộ, đảng viên. Nơi nào gò ép để đạt được sự nhất trí hình thức, giản đơn, thì vấn đề tư tưởng, tâm trạng càng trở nên phúc tạp.

Năm là, bảo đảm thông tin kịp thời, đa dạng nhưng có định hướng.

Thông tin kịp thời, chính xác, có hướng tư tưởng, chính trị đúng đắn là một nguyên tác cơ bản của công tác tư tưởng. Kinh nghiệm thực tiễn cho thấy, nhiều khi nẩy sinh tư tưởng sai lầm, lệch lạc , có hại cho công tác lãnh đạo và thực hiện nhiệm vụ chính trị của Đảng bộ, chi bộ chỉ vì thiếu thông tin, hoặc thông tin sai lệch. Những chi bộ, đảng bộ nào biết sử dụng các nguồn thông tin nội bộ và các nguồn thông tin chính thức khác, cập nhật những thông tin về tình hình thời sự, chính trị trong nước và thế giới, bảo đảm thông tin chính xác, kịp thời, làm cho cán bộ, đảng viên và nhân dân luôn có nhận thức đúng đắn về chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, tình hình cơ quan, đơn vị, địa phương sẽ tạo được sự ổn định về tư tưởng, sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng, sự đồng thuận trong nhân dân, giải quyết tốt những vấn đề tư tưởng nảy sinh.

Tổ chức tốt thông tin về thành tựu xây dựng đất nước, thành tựu phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội của đơn vị và địa phương, thời sự quốc tế là một cách làm công tác tư tưởng có hiệu quả hiện nay. Nhất là trong điều kiện tình hình kinh tế, chính trị trên thế giới biến động nhanh chóng và phức tạp.

Sáu là, toàn chi bộ làm công tác tư tưởng, kết hợp công tác tư tưởng trong Đảng với công tác tư tưởng của các tổ chức và công tác tư tưởng của toàn dân.

Công tác tư tưởng là nhiệm vụ của toàn chi bộ, đảng bộ cơ sở và của mỗi cán bộ, đảng viên, trước hết là cấp ủy, chịu trách nhiệm chính là bí thư. Công tác tư tưởng của chi bộ, đảng bộ cơ sở phải kết hợp với công tác tư tưởng của các tổ chức, đàn thể cơ sở, như Mặt trận Tổ quốc, Hội Cựu chiến binh, Hội Phụ nữ, Đoàn Thanh niên, Hội Nông dân…Kết hợp công tác tư tưởng trong Đảng với công tác tư tưởng trong toàn xã hội.

Vì vậy, cấp ủy phải biết tập hợp lực lượng, phát huy mọi khả năng, bồi dưỡng kiến thức, phương pháp và kỹ năng làm công tác cho mọi người. Phát huy vai trò của đảng viên này đối với đảng viên khác, của đảng viên đối với nhân dân, khả năng tự làm công tác của mỗi người, khả năng làm công tác tư tưởng của các đoàn thể xã hội, lấy hội viên giáo dục hội viên, lấy quần chúng giáo dục quần chúng.

Nghị quyết Hội nghị Trung ương 5 khóa X nêu rõ: “Công tác tư tưởng của Đảng là công tác đối với con người, một nhiệm vụ khó khăn, phức tạp, đòi hỏi phải nắm vững những quy luật riêng của tư tưởng, có thái độ, phương pháp khoa học, kết hợp chặt chẽ giữa yêu cầu định hướng tư tưởng với sự tự nguyện, giữa lý trí và tình cảm, giữa lời nói và việc làm, giữa “xây” và “chống”, lấy “xây” làm chính”.

II. MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ NGHIỆP VỤ CÔNG TÁC TƯ TƯỞNG CỦA CHI BỘ, ĐẢNG BỘ CƠ SỞ.

1. Những thời cơ, thuận lợi và khó khăn, thách thức đối với công tác tư tưởng trong thời kỳ mới.

a. Về thời cơ và thuận lợi mới.

- Thuận lợi cơ bản đối với công tác tư tưởng hiện nay là đất nước đã trải qua hơn 25 năm đổi mới, đạt được những thành tựu to lớn và có ý nghĩa lịch sử. Những thành tựu đó đã động viên tinh thần, củng cố niềm tin của nhân dân ta. Tình hình tư tưởng trong xã hội ta đã có những chuyển biến theo chiều hướng tích cực. Mặt chủ đạo của tình hình tư tưởng hiện nay trong Đảng và trong nhân dân ta là đại bộ phận cán bộ, đảng viên kiên định mục tiêu, lý tưởng cách mạng, tin tưởng ở lãnh đạo của Đảng và con đường đi lên CNXH ở nước ta. Phần đông cán bộ, đảng viên và nhân dân luôn nỗ lực vượt qua khó khăn, thử thách, thích ứng với cơ chế mới, đoàn kết, năng động, quyết tâm hoàn thành thắng lợi mục tiêu, nhiệm vụ mà Đảng đã xác định.

- Cùng với những thành tựu về nhiều mặt, trình độ nhận thức của cán bộ, đảng viên và trình độ dân trí ở nước ta đã được naag lên. Tính tích cực và nhu cầu về chính trị, tinh thần trong đời sống xã hội, như nhu cầu về thông tin, học tập, hưởng thụ văn hóa, tham gia vào quá trình lãnh đạo, quản lý xã hội của tổ chức đảng và chính quyền các cấp ngày càng gia tăng, v.v…Cán bộ, đảng viên và nhân dân luôn hướng tới những nhu cầu lành mạnh, những giá trị cao đẹp. Lòng tự hào, tự tôn dân tộc, ý thức giữ gìn bản sắc dân tộc và truyền thống cách mạng ngày càng được nâng cao.

- Sự phát triển của khoa học, công nghệ hiện đại và quá trình toàn cầu hóa đã mở rộng đã mở rông không gian văn hóa toàn cầu, phương tiện thông tin, điều kiện và phương tiện làm công tác tư tưởng ngày càng hiện đại, tiện lợi, phong phú, cập nhật thường xuyên…

- Đảng ta đã chăm lo đến công tác tư tưởng. Các cấp ủy, chính quyền, đoàn thể ngày càng coi trọng công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, rèn luyện phẩm chất đạo đức, lối sống và năng lực hoạt động thực tiễn cho cán bộ, đảng viên và nhân dân.

b. Công tác tư tưởng đang đứng trước những khó khăn, thách thức mới

Hiện nay, cũng như trong những năm tới, tình hình chính trị, kinh tế thế giới có nhiều diễn biến phức tạp, công tác tư tưởng đang đứng trước những khó khăn, thách thức:

- Các thế lực phản động, cơ hội, cực đoan bằng nhiều thủ đoạn và phương tiện luôn tìm mọi cách thao túng hệ thống thông tin toàn cầu. Chúng đang trực tiếp tấn công vào hệ tư tưởng của giai cấp công nhân, mưu toan “giải hệ tư tưởng”, dùng chiêu bài “dân chủ”, “nhân quyền” mà thực chất là truyền bá hệ tư tưởng tư sản với chủ nghĩa cá nhân cực đoan, thực dụng, hưởng thụ..

- Ở trong nước, một số phần tử cơ hội chính trị lợi dụng tự do, dân chủ công kích Chủ nghĩa Mác- Leenin, Tư tưởng Hồ Chí Minh, sự lãnh đạo và đường lối, chính sách của Đảng; tán phát các tài liệu có nội dung tư tưởng sai trái, gieo rắc sự hoài nghi, mơ hồ về chính tri, về con đường đi lên CNXH ở nước ta trong cán bộ, đảng viên và nhân dân.

- Một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống làm mất niềm tin của nhân dân, gây ảnh hưởng tiêu cực tới đời sống tinh thần, tư tưởng trong xã hội, gây ra những khó khăn, trở lực cho công tác tư tưởng, nhất là ở cơ sở.

- Công tác tư tưởng, lý luận của Đảng mặc dù đã có những thành tựu đáng kể, sông công tác nghiên cứu lý luận còn yếu, chưa theo kịp yêu cầu của công cuộc đỏi mới; chậm giả đáp một cách khoa học và thấu đáo nhiều vấn đề của thực tiễn và vướng mắc về tư tưởng , nhận thức. Nội dung và phương thức tiến hành công tác tư tưởng chậm được đổi mới so với yueeu cầu của thực tiễn và đòi hỏi của các đối tượng.

- Đội ngũ làm công tác tư tưởng còn thiếu và yếu; phương tiện để làm công tác tư tưởng nói chung, ở cơ sở nói riêng chưa được quan tâm đầu tư đúng mức.

- Sự nghiệp đổi mới toàn diện của đất nước theo định hướng XHCN và quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đi vào chiều sâu sẽ nảy sinh nhiều vấn đề phức tạp, đòi hỏi công tác tư tưởng phải giải quyết. Tham gia ngày càng sâu vào quá trình hội nhập quốc tế, nước ta có cơ hội mở rộng thị trường, huy động nguồn vốn, tận dụng những thành tựu khoa học, công nghệ để phát triển; đồng thời phải đối mặt với những mặt trái của toàn cầu hóa và những tác động tiêu cực bởi sự xâm nhập của những trào lưu tư tưởng độc hại từ bên ngoài. Dân trí ngày càng cao, những đòi hỏi dân chủ ngày càng lớn, con người năng động hơn, nhưng nếu không có sự điều chỉnh kịp thời và có hiệu quả thì chủ nghĩa cá nhân, thực dụng và các tệ nạn xã hội cũng gia tăng.

Những thời cơ, thuận lợi và khó khăn, thách thức trên đặt ra yêu cầu ngày càng cao, nhiệm vụ ngày càng nặng nề đối với công tác tư tưởng ở cơ sở trong thời kỳ mới.

2. Công tác tư tư tưởng của chi bộ, đảng bộ cơ sở.

Trong những năm tới, công tác tư tưởng của chi bộ, đảng bộ cơ sở cần thực hiện những nhiệm vụ chủ yếu sau:

Một là, tăng cường giáo dục, nâng cao trình độ chính trị, tư tưởng, thống nhất nhận thức và hành động, thực hiện thắng lợi nhiệm vụ chính trị ở cơ sở.

Nâng cao trình độ nhận thức chính trị, tư tưởng cho cán bộ, đảng viên và nhân dân là nhiệm vụ quan trọng hành đầu của công tác tư tưởng nhằm tạo ra sự nhất trí cao về chính trị, tinh thần, làm cơ sở cho sự đoàn kết, thống nhất trong hành động, thực hiện thắng lợi nghị quyết của Đảng, nhiệm vụ chính trị ở địa phương, cơ sở. Tổ chức Đảng là nơi thường xuyên và trực tiếp giáo dục quan điểm chủ trương, đường lối của Đảng, giáo dục, quán triệt nhiệm vụ chính trị của địa phương, cơ sở, với những nội dung, hình thức và phương pháp thích hợp cho từng đối tượng.

Nội dung chính trong công tác giáo dục chính trị tư tưởng trong những năm tới là:

- Tăng cường và đổi mới theo hướng hiệu quả, thiết thực, công tác giáo dục lý luận chính trị, làm cho mỗi cán bộ, đảng viên và mỗi người dân hiểu, từ đó kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và CNXH, chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, thấm nhuần các quan điểm đổi mới của Đảng.

- Giáo dục quan điểm, đường lối Đại hội XI của Đảng và các nghị quyết, chỉ thị, kết luận của Ban chấp hành Trung ương (BCH TW), Bộ Chính trị, Ban Bí thư, nghị quyết của tổ chức đảng các cấp, ở địa phương, cơ sở; đổi mới phương pháp học tập, quán triệt theo hướng tích cực, tăng cường thảo luận, tự học là chính, tăng cường kiểm tra, giám sát, đặc biệt là việc thực hiện trong thực tiễn.

- Giáo dục, nâng cao nhận thức về thời cơ và thách thức của đất nước, của từng địa phương, ngành, cơ sở trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng.

- Giáp dục, nâng cao cảnh giác cách mạng, chống âm mưu và thủ đoạn “diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ, phá hoại về tư tưởng, chính trị của các thế lực thù đicạh, cơ hội.

- Giáo dục tinh thần đoàn kết đoàn kết dân tộc, tin h thần tương thân, tương ái, hướng về cội nguồn, làm việc thiện, giữ gìn truyền thống, đạo lý tốt đẹp của dân tộc,v.v…

Hai là, tuyên truyền, cổ vũ, động viên quần chúng góp phần đẩy mạnh phong trào thi đua yêu nước thực hiện nhiệm vụ chính trị của đơn vị.

Chi bộ, đảng bộ cơ sở phải đưa đường lối của Đảng vào cuộc sống, biến nghị quyết của Đảng thành hiện thực, thông qua việc giải quyết những vấn đề kinh tế - xã hội bức xúc ở địa phương, cơ sở; tổng kết thực tiễn, vận dụng đường lối, chính sách chung của Đảng cào việc thực hiện chủ trương, giải pháp kinh tế - xã hội ở cơ sở.

Chi bộ, đảng bộ cơ sở phải động viên mọi cán bộ, đảng viên và nhân dân đoàn kết thống nhất, phát huy truyền thống, khắc phục khó khăn, huy động mọi nguồn lực để phát triển sản xuất, giải quyết việc làm, nâng cao đời sống nhân dân, hoàn thành nghĩa vụ đối với Nhà nước.

Chi bộ, đảng bộ cơ sở phải giải đáp kịp thời, đúng đắn những vướng mắc về nhận thức, định hướng chính trị trong xây dựng đời sống văn hóa, thực hiện các chính sách xã hội, chính sách dân tộc, tôn giáo của Đảng và Nhà nước ở địa phương, cơ sở; chủ động giải quyết những mâu thuẫn nảy sinh từ cơ sở, không để phát triển, lan rộng thành vấn đề tư tưởng chính trị.

Ba là, tăng cường giáo dục đạo đức cách mạng cho cán bộ, đảng viên và nhân dân.

Chi bộ, đảng bộ cần tăng cường giáo dục đạo đức cách mạng cho cán bộ, đảng viên và nhân dân.

Thường xuyên và trực tiếp quản lý, giáo dục, theo dõi diễn biến, sự hình thành những phẩm cất đạo đức mới của cán bộ, đảng viên và nhân dân.

Điều 23 Điều lệ Đảng quy định tổ chức cơ sở đảng có nhiệm vụ: “…thường xuyên giáo dục, rèn luyện và quản lý cán bộ, đảng viên, nâng cao phẩm chất đạo đức cách mạng, tính chiến đấu, trình độ kiến thức, năng lực công tác”.

- Tiếp tục tổ chức triển khai thực hiện nghiêm túc và có hiệu quả việc học tập và làm theo tấm gương đạo dức Hồ Chí Minh theo tinh thần Chỉ thị số 03-CT/TW, ngày 14/5/2011 của Bộ chính trị.

- Chăm lo giáo dục đạo đức cách mạng cho đảng viên thông qua việc phân công, giao nhiệm vụ, rèn luyện qua thực tiễn, qua đấu tranh phê bình và tự phê bình, tiếp thu ý kiến đóng góp xây dựng của quần chúng, qua nêu gương điển hình tiên tiến.

- Trong công tác giáo dục, xây dựng đạo đức mới, cần coi trọng các nguyên tắc “xây” đi đôi với “chống”, lấy “xây” là chính; nói đi đôi với làm, nêu gương người tốt, việc tốt, người thực, của chi bộ, đảng bộ, của địa phương, cơ sở; phải tu dưỡng đạo đức suốt đời.

- Lãnh đạo thực hiện tốt dân chủ ở cơ sở, đấu tranh chống quan liêu, tham nhũng, lãng phí; định kỳ báo cáo trước nhân dân chương trình hoạt động của tổ chức đảng, chính quyền và tổ chức lấy ý kiến đóng góp xây dựng Đảng, phê bình cán bộ, đảng viên của quần chúng.

- Hướng dẫn nhân dân phát hiện, đấu tranh ngăn chặn các biểu hiện quan liêu, tham nhũng, lãng phí của cán bộ, đảng viên, công chức ở địa phương, cơ sở; tổ chức tốt việc tiếp dân và giải quyết các khiếu nại, tố cáo của dân.

- Thông qua sinh hoạt đảng, đoàn thể, các cuộc họp nhân dân để tuyên truyền, nêu gương “người tốt, việc tốt”, phê bình những việc sai trái, xử lý nghiêm các hành vi vi phạm pháp luật, trái với đạo đức xã hội, vi phạm các quy ước tập thể, cộng đồng.

- Phát huy sức mạnh tổng hợp cảu các lực lượng làm công tác tư tưởng, kết hợp các biện pháp tư tưởng, chính trị, tổ chức, kiểm tra, kinh tế, hành chính; kết hợp phong trào quần chúng với việc thi hành các chính sách, pháp luật, để góp phần ngăn chặn sự suy thoái về đạo đức, lối sống và bài trừ các tệ nạn xã hội.

Bốn là, công tác tư tưởng trực tiếp thực hiện nhiệm vụ xây dựng đời sống văn hóa, bồi dưỡng, xây dựng con người mới với những đức tính, phẩm chất tốt đẹp.

Xây dựng đời sống văn hóa, bồi dưỡng, xây dựng con người mới ở cơ sở là nhiệm vụ cơ bản, thường xuyên của công tác tư tưởng.

Đại hội XI của Đảng xác định: “làm cho các giá văn hóa thấm sâu vào mọi mặt đời sông, được cụ thể trong sinh hoạt, công tác, quan hệ hằng ngày của cộng đồng và từng con người, tạo sức đề kháng với các sản phẩm độc hại. Tiếp tục đẩy mạnh việc giáo dục, bồi dưỡng đạo đức, lối sống có văn hóa; xây dựng nếp sống văn minh trong việc cưới, tang, lễ hội; ngăn chặn và đẩy lùi các hủ tục, bạo lực, gây rối trật tự công cộng, mại dâm, ma túy, cờ bạc..”

- Quán triệt quan điểm, chủ trương trên, chi bộ, đảng bộ cơ sở phải thường xuyên quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện có hiệu quả phông trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” ở cơ sở, xây dựng làng, ấp, xã, phường…văn hóa, gia đình văn hóa; xây dựng con người mới với những đức tính tốt đẹp, đặc biệt là lý tưởng sống, lôi sông, năng lực trí tuệ, đạo đức và bản lĩnh văn hóa của con người Việt nam.

- Xây dựng đời sống văn hóa tinh thần lành mạnh, đi đôi với đấu tranh chống tệ nạn xã hội, chống mê tín, dị đan và các biểu hiện của chủ nghĩa cá nhân, cơ hội, lối sống thực dụng, xa hoa, trụy lạc…

Năm là, công tác tư tưởng trực tiếp tham gia cuộc vận động xây dựng, chỉnh đốn Đảng, xây dựng đảng bộ, chi bộ trong sachj vững mạnh.

Đảng đã xác định, phát triển kinh tế là nhiệm vụ trung tâm, xây dựng đảng là nhiệm vụ then chốt. Các chi bộ, đảng bộ cơ sở cần coi trọng, đẩy mạnh cuộc vận động xay dựng, chỉnh đốn Đảng trên lĩnh vực tư tưởng theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI về “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng trong tình hình hiện nay”, chú trọng làm tốt hơn việc nêu gương những người tốt, việc tốt; lấy nhân tố tiêu cực để đẩy lùi tiêu cực; đồng thời phê phán, đấu tranh với những biểu hiện sa sút về tư tưởng chính trị, vô trách nhiệm, vụ lợi cá nhân, vi phạm những chuẩn mực đạo, lối sống…

Chi bộ, đảng bộ cơ sở cần thực hiện nghiêm túc về chế độ học tập lý luận chính trị trong Đảng, thực hiện có hiệu quả kế hoạch học tập chính trị, sinh hoạt tư tưởng ở từng cơ sở. Đặc biệt, các chi bộ, đảng bộ cơ sở cần thực hiện tốt nguyên tắc tập trung dân chủ, nguyên tắc tự phê bình và phê bình; thường xuyên nâng cao chất lượng sinh hoạt chi bộ, xây dựng chi bộ, đảng bộ trong sạch, vững mạnh; nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của chi bộ, đảng bộ; xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên, công chức trong sạch, liêm chính; xây dựng và củng cố mối quan hệ máu thịt giữa Đảng với nhân dân.

Sáu là, chủ động tiến công, triển khai có hiệu quả cuộc đấu tranh trên mặt trận tư tưởng; thực hiện nghiêm túc những chỉ thị, quy định của Đảng về bảo vệ Đảng, xử lý kịp thời những thông tin bịa đặt, hoạt động tán phát tài liệu, thư nặc danh, mạo danh có nội dung xấu.

Trên cơ sở giáo dục tinh thần cảnh giác cách mạng cho cán bộ, đảng viên và nhân dân, các chi bộ, đảng bộ cơ sở cần:

- Không ngừng nâng cao bản lĩnh chính trị, vững vàng trước mọi thử thách, khó khăn cho cán bộ, đảng viên, lấy xây dựng nội bộ trong sạch, vững mạnh làm phương hướng cơ bản.

- Tuyên truyền, biểu dương cổ vũ những nhân tố mới, những điển hình tiên tiến, đi đôi với đấu tranh, phê phán những quan điểm và hành vi lệch lạc, sai trái, thù địch.

Bảo vệ Đảng là nhiệm vụ có tầm quan trọng đặc biệt hiện nay.

Vì vậy, các chi bộ, đảng bộ cơ sở cần quán triệt sâu sắc những chỉ thị, quy định vệ bảo vệ Đảng, trước hết là những quy định về những điều đảng viên không được làm, trong đó có quy định đảng viên không được nói, làm trái với Cương lĩnh, đường lối của Đảng, không truyền bá quan điểm cá nhân trái với quan điểm của Đảng, gây hoang mang, hoài nghi trong Đảng và nhân dân.

Đối với những hành vi vi phạm như: tung thông tin bịa đặt, tán phát tài liệu, thư nặc danh, mạo danh có nội dung xấu…, cần xác định rõ tính chất, mức độ phạm vi ảnh hưởng, ý đồ của người thực hiện, để có biện pháp đấu tranh thích hợp. Cần phân biệt ý đồ gây rối, phá hoại có ý thức chính trị rõ ràng, với sự ấu trĩ về chính trị do thiếu thông tin, hay do nhận thức kém mà vô tình tiếp tay cho kẻ xấu, để có cách xử lý thích hợp. Về nguyên tắc, phải nghiêm khắc và kiên quyết, không khoan nhượng về tư tưởng, chính trị, vạch trần nội dung tư tưởng sai trái trong tài liệu tán phát và hành động vi phạm kỷ luật, vi phạm pháp luật, làm cho mọi cán bộ, đảng viên và nhân dân nhận thức rõ những thông tin như vậy là sai trái, không nên tin, không phổ biến lại cho người khác. Đồng thời, các chi bộ, đảng bộ cơ sở cần có những biện pháp xử lý về mặt tổ chức, hành chính theo quy định kỷ luật của Đảng và pháp luật Nhà nước.

3. Một số vấn đề nghiệp vụ về công tác tư tưởng của chi bộ, đảng bộ cơ sở.

a. Xây dựng, tổ chức lực lượng làm công tác tư tưởng ở cơ sở.

Các chi bộ, đảng bộ cơ sở xây dựng, tổ chức lực lượng làm công tác tư tưởng ở cơ sở:

- Thực hiện phương châm toàn đảng bộ, chi bộ làm công tác tư tưởng, lấy quần chúng giáo dục quần chúng; cán bộ, đảng viên, trước hết là cấp ủy và bí thư phải chủ động tích cực làm công tác tư tưởng, huy động toàn dân làm công tác tư tưởng dưới sự lãnh đạo của cấp ủy đảng.

Để làm tốt công tác tư tưởng, cấp ủy phải xây dựng, tổ chức đội ngũ công tác tuyên giáo làm tốt công việc tham mưu và tổ chức thực hiện tốt công tác tư tưởng ở cơ sở.

- Bồi dưỡng những đảng viên có khả năng, trình độ và nhiệt tình tham gia đội ngũ báo cáo viên, tổ chức mạng lưới tuyên truyền viên của xã, phường phụ trách các buôn, thôn, xóm, ấp, bản.

Đội ngũ này vừa làm công tác thông tin, văn hóa, truyền đạt, phổ biến tình hình thời sự, chính sách, vừa giúp cấp ủy nắm tình hình tư tưởng, tâm trạng của nhân dân; cần quan tâm bồi dưỡng, nâng cao trình độ cho đội ngũ báo cáo viên, thông qua các lớp tập huấn, bồi dưỡng của huyện, quận hoặc tại cơ sở; cung cấp những tài liệu, sách báo, phương tiện làm việc cần thiết cho đội ngũ này.

- Cấp ủy chủ trì, chỉ đạo phối hợp hoạt động giữa các tổ chức, các lực lượng trên địa bàn để làm công tác tư tưởng.

Ở xã, phường, thị trấn các lực lượng này bao gồm: cán bộ tuyên giáo của đảng ủy, cán bộ văn hóa thông tin của chính quyền, của các đoàn thể, của các hội, của chi bộ nhà trường, của các đơn vị bộ đội, công an, biên phòng đóng trên địa bàn.

Cần dộng viên và sử dụng lực lượng cán bộ về hưu, cựu chiến binh, lực lượng có năng lực, uy tín và kinh nghiệm làm công tác tư tưởng. Đội ngũ giáo viên các trường học ở xã, phường có kiến thức văn hóa, phương pháp sư phạm, nếu được tổ chức, bồi dưỡng sẽ là lực lượng mạnh và hoạt động có hiệu quả trong công tác tư tưởng, trước hết là làm công tác tuyên truyền, giáo dục học sinh, từ đó họ sinh lại là những tuyên truyền viên đối với mọi người trong gia đình; tổ chức bồi dưỡng những cán bộ y tế cơ sở, để vừa chữa bệnh cho nhân dân, vừa tuyên truyền đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. nhất là ở các buôn, thôn, xóm, ấp, bản xa xôi, hẻo lánh.

b. Các phương pháp công tác tư tưởng.

Phương pháp công tác tư tưởng có nhiều loại, nhưng có thể khái quát thành ba nhóm chính là:

+ Nhóm phương pháp dùng lời nói như giảng bài, báo cáo, thuyết trình, kể chuyện, nói chuyện thời sự, tọa đàm.

+ Nhóm phương pháp trực quan bao gồm sử dụng các phương tiện phục vụ cho công tác tư tưởng, như chiếu phim, triển lãm, panô, áp phích.

+ Nhóm phương pháp thực tiễn như tổ chức tham quan di tích, tổ chức lễ hội…

Đối với cơ sở, công tác tư tưởng có thể vận dụng linh hoat, như tập trung vào các nội dung chính sau:

- Nêu gương là phương pháp dựa trên cơ sở vận dụng các quá trình và quy luật tâm lý xã hội. Phương pháp này được vận dụng phổ biến và rất có hiệu quả đối với các dân tộc phương Đông. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết: “Nói chung thì các dân tộc phương Đông đều giàu tình cảm, và đối với họ một tấm gương sống còn có giá trị hơn một trăm bài diễn văn tuyên truyền”. trong công tác tư tưởng, phương pháp nêu gương được thực hiện bằng các việc nêu điển hình tốt để học tập và điển hình xấu để phê phán. Ở cơ sở, tấm gương điển hình tiên tiến, sống động, nhất quán giữa nói và làm của cán bộ, đảng viên có tác động giáo dục, thuyết phục trực tiếp và mạnh mẽ.

- Thuyết phục bằng lý lẽ và bằng thực tế. Trong điều kiện hiện nay, người làm công tác tư tưởng phải hiểu được các trạng thái tư tưởng, trình độ chính trị, trình độ và đặc điểm nhận thức của quần chúng, từ đó lựa chọn nội dung lý luận và thực tế phù hợp để thuyết phục đối tượng; như vậy mới có thể đem lại tác dụng và hiệu quả. Hết sức tránh tuyên truyền, giáo dục áp dụng theo kiểu lý lẽ, xa thực tế, không sát tâm lý đối tượng.

- Tăng cường các hoạt động thực tiễn như chiếu phim, tổ chúc hội thi phát thanh viên, kẻ vẽ panô, áp phich, v.v…

- Tổ chức các hoạt động tập thể ở cơ sở như hội diễn, lễ hội, phát huy vai trò của các tổ chức chính trị - xã hội.

- Tác động vào việc hình thành các trạng thái tâm lý xã hội.

Khi tiến hành công tác tư tưởng ở cơ sở, phải nắm được cơ chế hình thành các trạng thái tâm lý xã hội, làm tốt công tác điều tra nắm bắt và định hướng dư luận xã hội, từ đó có thể chủ động tác động vào tư tưởng quần chúng.

Thực hiện tốt chế độ thông tin, bảo đảm các kênh thông tin đều có định hướng đúng đắn; đồng thời chủ động, nhạy bén đón nhận thông tin phản hồi, kịp thời phát hiện những âm mưu và thủ đoạn phản tuyên truyền, các thủ đoạn phá hoại tư tưởng của các thế lực thù địch, cơ hội để chủ động đấu tranh, làm chủ trận địa tư tưởng.

Tóm lại, việc thực hiện các phương pháp công tác tư tưởng luôn đặt ra yêu cầu phải nắm và vận dụng các quy luật tâm lý, chủ động nắm bắt, làm chủ tình hình, giữ vững sự ổn định theo chiều hướng tích cực, thực hiện tốt những mục tiêu, nhiệm vụ đề ra trong công tác tư tưởng.

c. Các hình thức của công tác tư tưởng ở cơ sở.

- Tiến hành công tác tưởng thông qua các cuộc sinh hoạt Đảng, sinh hoạt các tổ chức, đoàn thể.

Cần nâng cao chất lượng, nội dung của các cuộc sinh hoạt chi bộ để không ngừng nâng cao nhận thức cho đảng viên. Đảng viên phải thực hiện tốt vai trò người tuyên truyền, giáo dục và cổ động trong sinh hoạt các đoàn thể quần chúng.

- Tổ chức định kỳ các hoạt động thông tin thời sự về tình hình trong nước và quốc tế.

- Sử dụng hệ thống thông tin đại chúng, các thiết chế văn hóa để làm công tác tư tưởng, như thư viện, sách, báo, tranh, ảnh, v.v…Đây là công cụ rất quan trọng, không thể thiếu đối với việc giáo dục, tuyên truyền cổ động, có tác dụng giáo dục, định hướng tư tưởng thường xuyên, rất hiệu quả cho cán bộ, đảng viên và nhân dân.

- Thông qua các hoạt động tập thể, các sinh hoạt cộng đồng để tiến hành công tác tư tưởng. Qua đó, vừa tăng cường giáo dục, tuyên truyền cổ động cho các chủ trương, chính sách của Đảng, nếp sống văn hóa mới, vừa đấu tranh phê phán các tệ nạn, hủ tục, làm lành mạnh hóa các quan hệ xã hội.

- Tổ chức tốt các cuộc vận động, các sinh hoạt văn hóa, văn nghệ, thể dục thể thao, vui chơi giải trí để vận động nhân dân hăng hái tham gia xây dựng đời sống văn hóa; tạo không khí phấn khởi, vui tươi, lành mạnh, phấn đấu thực hiện có hiệu quả nhiệm vụ chính trị ở cơ sở.

- Tăng cường công tác tư tưởng thông qua các cuộc tiếp dân, đối thoại giữa can bộ lãnh đạo với nhân dân, các cuộc thảo luận, trao đổi chuyên đề.

- Sử dụng nhiều hình thức cổ động phong phú, sing động để nhân dân hiểu rõ quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, các quyết định của các cấp chính quyền địa phương; để dân biết những vấn đề liên quan đến lợi ích thiết thân và quyền hạn, nghĩa vụ, trách nhiệm của họ; bảo đảm quyền được thông tin của đảng viên và nhân dân. Từ đó giúp cho cán bộ, đảng viên, nhân dân tham gia có hiệu quả vào quản lý các công việc của địa phương, giám sát các công việc của các cơ quan đảng, chính quyền, đoàn thể, của cán bộ, đảng viên và của mỗi người dân ở đị phương, cơ sở. Khi được thông tin đầy đủ, chính xá tình hình,, chủ trương, đường lối của Đảng thì mỗi cán bộ, đảng viên và mỗi người dân tự làm công tác tư tưởng cho chính mình và cho mọi người.

4. Một số giải pháp nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác tư tưởng của chi bộ, đảng bộ cơ sở.

a. Tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy, vai trò của chính quyền cơ sở, đẩy mạnh công tác tư tưởng trong tình mới.

Lãnh đạo tiến hành công tác tư tưởng luôn là một trong tâm của công tác cấp ủy, của chính quyền, Mặt trận và các tổ chức, đoàn thể. Cấp ủy, trước hết là bí thư, người đứng đầu cơ quan, chính quyền, đoàn thể cần có chương trình, kế hoạch lãnh đạo, chỉ đạo, tiến hành công tác tư tưởng. Định kỳ, đại diện cấp ủy nghe ý kiến phản ánh về tình hình tư tưởng, chính trị trong cán bộ, đảng viên và nhân dân của cán bộ có trách nhiệm trong chính quyền, Mặt trận và các tổ chức, đoàn thể. Từ đó cấp ủy tổng hợp và thống nhất nhận định, đánh giá tình hình tư tưởng, có chủ trương, biện pháp lãnh đạo về tư tưởng và chỉ đạo thực hiện thống nhất trong cơ quan, đơn vi, địa phương.

b. Mở rộng dân chủ, phát huy tự do tư tưởng, đồng thời giữ nghiêm kỷ cương, kỷ luật phát ngôn theo quy định.

Chi bộ, đảng bộ cần lưu ý:

- Mở rộng dân chủ nói chung, dân chủ trong công tác tư tưởng nói riêng theo tư tưởng Hồ Chí Minh; tôn trọng và lắng nghe các ý kiến đề xuất, tâm tư nguyện vọng của quần chúng; phân tích tổng hợp, đánh giá đúng tình hình tư tưởng của từng đối tượng để xá định nội dung, hình thức, biện pháp giáo dục, giải quyết đúng đắn, phù hợp; động viên và tạo điều kiện để mọi người phát huy tự do tư tưởng, góp ý kiến vào sự lãnh đạo của chi bộ, đảng bộ, tham gia làm công tác tư tưởng theo khả năng, nhất là tham gia tuyên truyền, giáo dục, vận động quần chúng nhân dân quán triệt và thực hiện đúng chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của nhà nước, nhiệm vụ chính trị ở cơ sở.

- Thực hiện nghiêm về kỷ luật phat ngôn; kịp thời phát hiện và xử lý những biểu hiện tự do tùy tiện, lợi dụng dân chủ để truyền bá các quan điểm trái với quan điểm đường lối của Đảng, gây hoài nghi, dao động, mâu thuẫn, mất đoàn kết trong tổ chức đảng và trong nhân dân.

c. Nêu cao vai trò gương mẫu của cán bộ, đảng viên, thực hện nói đi đôi với làm, nói và làm đúng đường lối, chính sách, pháp luật.

Mỗi cán bộ, đảng viên phải thực hiện các yêu cầu sau:

- Có nhận thức tư tưởng, chính trị đúng đắn, tích cựu tham gia làm tốt công tác tư tưởng cho gia đình mình và quần chúng được phân công.

- Phải nói và làm theo đúng nghị quyết của Đảng; nói đi đôi với làm, thực sự là tấm gương về mọi mặt cho quần chúng noi theo; đồng thời làm tốt việc giải quyết tư tưởng cho bản thân, gia đình và những người xunh quanh.

Mỗi cán bộ, đảng viên phải thực sự là chiến sỹ trên mặt trận tư tưởng của Đảng ở cơ sở./.


Câu hỏi thảo luận


1. Nhiệm vụ công tác tư tưởng của chi bộ, đảng bộ cơ sở là gì?

2. Cần làm gì và làm thế nào để làm tốt công tác tư tưởng ở cơ sở? Liên hệ với chi bộ nơi đồng chí đang sinh hoạt?



Đề cương bài giảng số 4

CÔNG TÁC TỔ CHỨC CỦA CHI BỘ, ĐẢNG BỘ CƠ SỞ

Nội dung bài gồm 2 phần:

PHẦN I: VỊ TRÍ, VAI TRÒ CÔNG TÁC TỔ CHỨC

CỦA CHI BỘ, ĐẢNG BỘ CƠ SỞ.

- PHẦN II: MỘT SỐ NỘI DUNG VỀ CÔNG TÁC TỔ CHỨC Ở

CHI BỘ, ĐẢNG BỘ CƠ SỞ.


PHẦN I: VỊ TRÍ, VAI TRÒ CÔNG TÁC TỔ CHỨC

CỦA CHI BỘ, ĐẢNG BỘ CƠ SỞ.

Phần I gồm có 02 nội dung sau:

1. Tổ chức và công tác tổ chức:

  1. Vị trí, vai trò của công tác tổ chức.

Sau đây xin đi vào nội dung:

  1. Tổ chức và công tác tổ chức:

Tổ chức là sự liên kết con người với nhau theo những nguyên tắc, chế độ, điều lệ quy định nhất định để hành động nhằm đạt được mục đích đề ra.

Tổ chức do con người lập ra nhằm liên kết và phát huy khả năng, sức mạnh của từng cá nhân, bộ phận riêng lẻ thành sức mạnh tổng hợp. Tổ chức vừa là sản phẩm của con người, vừa là chủ thể quy định con người, điều khiển hành vi của con người và phát triển những phẩm chất, năng lực cần thiết cho chính con người. Tổ chức là một chỉnh thể trong đó các bộ phận, các hệ thống hoạt động trong quan hệ chặt chẽ với nhau tác động lẫn nhau cùng phát triển phù hợp với chức năng, nhiệm vụ và điều kiện, hoàn cảnh xã hội tương ứng trong từng giai đoạn cụ thể. Trong đời sống xã hội, có nhiều tổ chức khác nhau, như tổ chức Đảng, tổ chức Nhà nước, tổ chức kinh tế, văn hóa, xã hội, quân sự… .

Tổ chức có vai trò quan trọng như vậy nên trong suốt quá trình lãnh đạo Cách mạng, Đảng ta luôn luôn coi trọng công tác tổ chức và xây dựng các tổ chức Cách mạng ngày càng vững mạnh.

Công tác tổ chức của Đảng là sự xây dựmg, kiện toàn các mối quan hệ trong tổ chức Đảng (từ cơ sở đến toàn Đảng), hình thành hệ thống tổ chức, tạo nên một chỉnh thể thống nhất, có tính ổn định và bền vững. Công tác tổ chức của Đảng bao gồm những quy định, những nguyên tắc tổ chức và hoạt động buộc tất cả mọi tổ chức Đảng, đội ngũ Đảng viên của Đảng phải chấp hành để tạo nên sự thống nhất ý chí và hành động, bảo đảm giữ vững vai trò lãnh đạo, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng.

Tổ chức cơ sở đảng là gì, TCCS đảng có vị trí vai trò quan trọng như thế nào? các đồng chí đã được tiếp thu tại bài 1” tổ chức, chức năng nhiệm vụ của TCCSđảng

Tổ chức cơ sở đảng là tổ chức đảng ở đơn vị cơ có từ ba đảng viên chính thức trở lên. Tổ chức cơ sở đảng được gọi chung cho cả đảng bộ cơ sở và chi bộ cơ sở, tuỳ thuộc vào số lượng đảng viên và yêu cầu, nhiệm vụ cụ thể của từng đơn vị cơ sở (Theo Điều lệ Đảng khóa XI và Quy định số 45-QĐ/TW ngày 01/11/2011 của Ban Chấp hành Trung ương quy định về thi hành Điều lệ Đảng: Về việc thành lập tổ chức đảng ở một số đơn vị cơ sở được quy định như sau: Ở xã, phường, thị trấn có từ ba đảng viên chính thức trở lên thì lập tổ chức cơ sở đảng; cấp trên trực tiếp của tổ chức cơ sở đảng là cấp ủy huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh. Ở cơ quan, doanh nghiệp, hợp tác xã, đơn vị sản xuất, đơn vị sự nghiệp, đơn vị quân đội, công an và các đơn vị khác có từ ba đảng viên chính thức trở lên thì lập tổ chức đảng (tổ chức cơ sở đảng hoặc chi bộ trực thuộc đảng ủy cơ sở); cấp ủy cấp trên trực tiếp quyết định việc tổ chức đảng đó trực thuộc cấp ủy cấp trên nào cho phù hợp; nếu chưa đủ ba đảng viên chính thức thì cấp ủy cấp trên trực tiếp giới thiệu đảng viên sinh hoạt ở tổ chức cơ sở đảng thích hợp).

Một số điểm mới Điều lệ Đảng XI, Quy định 45, Hướng dẫn số 01 về thi hành Điều lệ Đảng kháo XI:

Chương II, Điều 13, điểm 5 Điều lệ Đảng “Từ TCCS đảng đến tổ chức đảng trực thuộc Trung ương nếu được thành lập mới, chia tách, hợp nhất, thì cấp ủy cấp trên chỉ định cấp ủy chính thức…nhiệm kỳ đầu tiên không nhất thiết là 5 năm để phù hượ nhiệm kỳ đại hội của tổ chức đảng cấp trên”

Thực hiện Quy định 45, Hướng dẫn số 01 về thi hành điều lệ Đảng tại Đảng ủy Khối việc chia tách thành lập mới (Hội chữ thập đỏ, Ban BVCSSK cán bộ tỉnh) chuyển chi bộ thành Đảng bộ cơ sở (Kho bạc Nhà nước, Tài nguyên Môi trường, Trường chính trị tỉnh) Đảng ủy Khối chỉ định cấp ủy chính thức, bí thư, phó bí thư (trước đây cấp ủy lâm thời); Đảng ủy bầu UBKT, chủ nhiệm (Trường CT tỉnh)..

Tổ chức cơ sở đảng trực thuộc Đảng bộ Khối các cơ quan tỉnh hiện nay có 53 TCCS đảng trong đó có 18 Đảng bộ cơ sở, 35 Chi bộ cơ sở. năm 2011 thành lập chi bộ Hội chữ thập đỏ tỉnh, chỉ định cấp ủy Khóa I nhiệm kỳ 2011-2015

Năm 2012 có 03 Đảng bộ cơ sở Đại Hội nhiệm kỳ 2012-2015

Với vị trí là nền tảng của Đảng, là hạt chân chính trị ở cơ sở, Tổ chức cơ sở đảng có vai trò rất quan trọng, là sợi dây nối liền Đảng với quần chúng; là nơi trực tiếp đưa đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước vào quần chúng; tổ chức cho quần chúng thực hiện những đường lối, chính sách đó nhằm không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của quần chúng ở cơ sở. Thông qua phong trào cách mạng của quần chúng mà đội ngũ cán bộ, đảng viên ở cơ sở nắm vững tâm tư, nguyện vọng, tổng kết sáng kiến của quần chúng để Đảng và Nhà nước tiếp tục cụ thể hóa, bổ sung, phát triển đường lối, chính sách. Tổ chức cơ sở đảng còn là nơi giáo dục, rèn luyện, kết nạp đảng viên; nơi đào tạo cán bộ cho Đảng, nơi xuất phát đề cử ra cơ quan lãnh đạo cấp trên của Đảng. Tổ chức cơ sở đảng có vai trò đặc biệt quan trọng đối với việc nâng cao vai trò lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI đã khẳng định: Với vị trí là nền tảng của Đảng, là hạt chân chính trị ở cơ sở, vai trò của tổ chức cơ sở đảng rất quan trọng. Phải dồn sức xây dựng, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng, làm cho tổ chức này thực sự trong sạch, vững mạnh; làm tốt công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, quản lý, giám sát đảng viên về năng lực hoàn thành nhiệm vụ và phẩm chất đạo đức, lối sống; đấu tranh chống những biểu hiện tiêu cực trong Đảng1”.

  1. Vị trí, vai trò của công tác tổ chức.

Công tác tổ chức là một trong những mặt cơ bản trong công tác xây dựng Đảng. Bằng công tác tổ chức, Đảng tiến hành quản lý, sắp xếp, phân công lực lượng một cách khoa học, phối hợp một cách đồng bộ, nhịp nhàng hoạt động của các Đảng viên, các tổ chức Đảng và toàn Đảng, thiết lập những mối quan hệ đúng đắn, phù hợp gắn bó giữa cấp trên và cấp dưới, giữa Đảng viên với tổ chức Đảng, giữa các tổ chức của Đảng và giữa tổ chức Đảng với các tổ chức khác trong xã hội.

Công tác tổ chức được tiến hành một cách khoa học là điều kiện quyết định việc thực hiện thắng lợi đường lối, chủ trương của Đảng, góp phần tăng cường kỷ luật trong Đảng, làm cho Đảng đoàn kết, thống nhất, giữ gìn Đảng luôn trong sạch, vững mạnh, chống lại mọi âm mưu phá hoại, chia rẽ của các thế lực thù địch, cơ hội.

Công tác tổ chức luôn là nhiệm vụ quan trọng và cấp thiết, Đảng ta luôn yêu cầu mọi cấp, mọi ngành, mọi cán bộ, Đảng viên mà trứơc hết là cơ quan lãnh đạo và người phụ trách phải chăm lo đến sự vững mạnh của tổ chức và làm tốt công tác tổ chức.

PHẦN II: MỘT SỐ NỘI DUNG VỀ CÔNG TÁC TỔ CHỨC Ở CHI BỘ, ĐẢNG BỘ CƠ SỞ Phần này gồm 4 nội dung sau:

( Thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ trong TC và SH đảng; Công tác đảng viên; Công tác cán bộ; Công tác Bảo về chính trị nội bộ).

Tôi đi vào từng nội dung cụ thể nội dung 1.

Về Thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ trong Tổ chức và SH đảng trong phạm vị bài giảng có có 03 quy định chính cơ bản đó là:

  1. Về quy chế làm việc của tổ chức đảng;

  2. Về chế độ tự phê bình và phê bình;

  3. Về thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ trong việc ra nghị quyết.

Ngoài 3 quy định cơ bản trên có một số quy định khác như: Thiểu số phục tùng đa số; về ý thức phát ngôn, về bảo lưu ý kiến…

1. Thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ trong TC và SH đảng.

Tập trung dân chủ là nguyên tắc bảo đảm cho sự thống nhất ý chí và hành động, tạo nên sức mạnh của Đảng, bảo đảm sự tồn tại và phát triển bền vững của Đảng. Sau đây là một số quy định thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ ở chi bộ, đảng bộ cơ sở.

  1. Về Quy chế làm việc của tổ chức đảng;

Việc chấp hành nguyên tắc tập trung dân chủ trong tổ chức và sinh hoạt đảng được thể hiện ở việc tổ chức đảng phải xây dựng và thực hiện nghiêm chỉnh quy chế làm việc. Căn cứ vào quy định của Điều lệ Đảng, Quy định của Ban Bí thư (Quy định số 97-QĐ/TW, ngày 22-3-2004 của Ban Bí thư quy định chức năng, nhiệm vụ của đảng bộ, chi bộ cơ sở trong các đơn vị sự nghiệp, Quy định số 98-QĐ/TW chức năng, nhiệm vụ của đảng bộ, chi bộ ở cơ quan); Quy chế làm việc của cấp ủy cấp trên và và hướng dẫn của Ban Tổ chức cấp ủy cấp trên, tổ chức đảng các cấp xây dựng quy chế làm việc đảm bảo nguyên tắc tập trung dân chủ và thực hiện đúng trách nhiệm, quyền hạn được giao. Quy chế làm việc của tổ chức đảng phải báo cáo với tổ chức đảng cấp trên và thông báo cho tổ chức đảng cấp dưới biết Quy chế làm việc của mình.

Xây dựng và thực hiện quy chế làm việc là một nguyên tắc cơ bản trong quá trình lãnh đạo của Đảng, Sau mỗi kỳ Đại hội cấp ủy mới tiến hành xây dựng và ban hành Quy chế làm việc của nhiệm kỳ, trong quá trình thực hiện nếu xét thấy cần thiết thì sửa đổi, bổ sung Quy chế làm việc cho sát thực tế.

Thực trạng việc xây dựng và ban hành quy chế làm việc của các TCCS đảng: đến nay có 53/53 chi bộ, đảng bộ cơ sở trực thuộc Đảng ủy Khối đã xây dựng và ban hành quy chế làm việc. Tuy nhiên, qua kiểm tra việc xây dựng và thực hiện quy chế làm việc Đảng ủy Khối phát hiện có một số tổ chức đảng (Bện viện Đa khoa tỉnh, Trường dân tộc Nội trú…) xây dựng quy chế làm việc chưa căn cứ vào Quy định (97; 98) của Ban Bí thư nên việc xây dựng quy chế làm việc chưa sát thực tế, tính khả thi chưa cao.

  1. Về chế độ tự phê bình và phê bình;

Tự phê bình và phê bình là nguyên tắc phải được thực hiện thường xuyên trong sinh hoạt đảng. Hàng năm, gắn với tổng kết công tác, các cấp ủy đảng, cấp ủy viên các cấp và đảng viên phải tự phê bình và phê bình, thông qua tư phê bình và phê bình, từng tập thể, từng cá nhân có kế hoạch và chương trình hành động để phát huy ưu điểm, khắc phục khuyết điểm.

Cuối nhiệm kỳ đại hội, cấp ủy, tổ chức đảng và cấp ủy viên các cấp phải tiến hành tự phê bình và phê bình gắn với kiểm điểm đánh giá kết quả thực hiện nghị quyết đại hội. Để thực hiện tổt tự phê bình và phê bình ở chi bộ, đảng bộ cơ sở, cần thực hiện nghiêm túc các quy định sau:

- Báo cáo kiểm điểm của cấp ủy phải lấy ý kiến đóng góp của cấp ủy cấp dưới trực tiếp, của lãnh đạo ban, ngành, đoàn thể cùng cấp, phải có ý kiến của cấp ủy cấp trên trực tiếp.

- Báo cáo kiểm điểm của lãnh đạo ban, ngành, đoàn thể phải lấy ý kiến đóng góp của cơ quan chuyên môn và của cấp ủy cùng cấp.

- Cấp ủy cấp trên gợi ý cho cá nhân và tập thể cấp ủy của cơ quan, tổ chức đảng cấp dưới trực tiếp những nội dung cần làm rõ khi kiểm điểm tự phê bình và phê bình như sau:

+ Đối với cá nhân cấp ủy viên, đi sâu kiểm điểm về trách nhiệm chính trị, mức độ phấn đấu hoàn thành công việc được giao và những vấn đề khác có liên quan đến trách nhiệm cá nhân: về giữ gìn phẩm chất cá nhân (tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, chấp hành nguyên tắc tập trung dân chủ, chóng tham nhũng, lãng phí, quan liêu).

+ Đối với tập thể cấp ủy, kiểm điểm việc chấp hành nghị quyết, chủ trương của cấp trên; việc đề ra và kết quả thực hiện các nghị quyết, chủ trương của cấp mình; về xây dựng và thực hiện quy chế làm việc; về xây dựng nội bộ đoàn kết, xây dựng tổ chức đảng trong sạch, vững mạnh; lãnh đạo cơ quan, đơn vị thực hiện nhiệm vụ chính trị về quản lý tài chính, ngân sách, quản lý đất đai….

Thường trực cấp ủy cấp trên có trách nhiệm tổng hợp, phân tích, chọn lọc các vấn đề nổi cộm, bức xúc để giới thiệu xuống các tổ chức đảng, cấp ủy cấp dưới, gợi ý cho tập thể và cá nhân có liên quan tự phê bình và phê bình.

- Tổ chức lấy ý kiến đóng góp của các tổ chức đoàn thể quần chúng; phát huy vai trò giám sát góp ý xây dựng đảng của các tổ chức đoàn thể, của cán bộ công chức trong cơ quan, đơn vị.

- Việc kiểm điểm tự phê bình hàng năm gắn với công tác phân loại tổ chức đảng, phân tích chất lượng đảng viên; Trước đây thực hiện theo Hướng dẫn số 20-HD/BTCTW, ngày 10/10/2008 của Ban Tổ chức Trung ương.

Năm 2011 thực hiện theo Hướng dẫn số 07-HD/BTCTW, ngày 11/10/2011 của Ban Tổ chức trương ương

Lưu ý: Cấp ủy phối hợp với cơ quan triển khai họp các tổ chức đoàn thể cơ quan, đơn vị tham gia đống góp ý kiến xây dựng Đảng (một số đơn vị không thực hiện….)

Biểu quyết phân loại đảng viên 03 mức trước (đảng viên đủ tư cách hoàn thành tốt nhiệm vụ; đảng viên đủ tư cách hoàn thành nhiệm vụ; đảng viên vi phạm tư cách hoặc không hoàn thành nhiệm vụ). Tiếp đến bình chọn đảng viên đủ tư cách hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ trong tổng số đảng viên đủ tư cách hoàn thành tốt nhiệm vụ, phải được 2/3 đồng ý biểu quyết và tỷ lệ không quá 15% (nên bỏ phiếu kín và có định hướng để tập trung)

Năm 2011, Một số cấp ủy chưa nắm chắc Hướng dẫn việc thực hiện có sai sót như: Tổ chức quần chúng không tham gia góp ý xây dựng đảng; biểu quyết đảng viên đủ tư cách hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ chưa được 2/3 qua báo cáo gửi lên sai không được công nhận phải làm lại (Hội phụ nữ); tỷ lệ vượt quá 15%...

Việc kiểm điểm tự phê bình hàng năm đối với tập thể và cá nhân cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp thực hiện theo Hướng dẫn số 21-HD/BTCTW, ngày 10/10/2008 của Ban Tổ chức Trung ương.

- Công tác khen thưởng tổ chức đảng trong sạch vững mạnh tiêu biểu, đảng viên đủ tư cách hoàn thành xuất săc nhiệm vụ các đồng chí được tếp thu tại bài 4. tuy nhiên cần lưu ý:

* Về đối tượng, hình thức, thẩm quyền khen thưởng:

Chi bộ trực thuộc các đảng bộ cơ sở: Biểu dương tổ đảng, biểu dương đảng viên của chi bộ hòan thành xuất sắc nhiệm vụ trong năm.

Chi bộ cơ sở Biểu dương tổ đảng, tặng giấy khen cho đảng viên của Chi bộ “đủ tư cách hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ”

Đảng ủy cơ sở: Quyết định công nhận chi bộ trong sạch vững mạnh. Tặng giấy khen cho chi bộ đạt tiêu chuẩn “trong sạch vững mạnh tiêu biểu” trong năm. Tặng giấy khen cho đảng viên “đủ tư cách hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ” trong năm.

Ban Thường vụ Đảng ủy Khối: Quyết định công nhận TCCS đảng trong sạch vững mạnh. Tặng giấy khen cho chi bộ trực thuộc đảng ủy cơ sở đạt tiêu chuẩn “trong sạch vững mạnh tiêu biểu” 03 năm liền. Tặng giấy khen cho TCCS đảng đạt tiêu chuẩn “trong sạch vững mạnh tiêu biểu” trong năm. Tặng giấy khen cho đảng viên “đủ tư cách hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ” 03 năm liền.

Ban Thường vụ Tỉnh ủy khen: Quyết định tặng “Bằng khen” cho chi bộ trực thuộc đảng ủy cơ sở đạt tiêu chuẩn “trong sạch vững mạnh tiêu biểu” 05 năm liền. Tặng “Bằng khen” cho TCCS đảng đạt tiêu chuẩn “trong sạch vững mạnh tiêu biểu” 03 năm liền. Tặng “Cờ” cho TCCS đảng đạt tiêu chuẩn “trong sạch vững mạnh tiêu biểu” 05 năm liền. Tặng “Bằng khen” cho đảng viên “đủ tư cách hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ” 03 năm liền.

* Về hồ sơ thủ tục phải đầy đủ đúng quy định:

(Tờ trình; danh sách; báo cáo thành tích; quyết định biểu dương khen thưởng của những năm trước liền kề)

* Về thời gian phải nộp đúng thời gian quy định.

Đề nghị Đảng ủy Khối khen gửi trước ngày 05/12/2011.

Đề nghị Tỉnh ủy khen Hồ sơ hoàn chỉnh gửi trước ngày 30/12/2011).

- Tiền thưởng thực hiện theo Hướng dẫn số 37-HD/VPTW, ngày 20/10/2010 của Văn phòng Trung ương Đảng.


  1. Về thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ trong việc ra Nghị quyết.

Trong việc ra nghị quyết lãnh đạo, nghị quyết thi hành kỷ luật đảng viên, và tổ chức đảng, Điều lệ Đảng quy định “Nghị quyết của cơ quan lãnh đạo của đảng chỉ có giá trị thi hành khi có hơn một nữa thành viên trong cơ quan đó tán thành”; quy định này được cụ thể hóa như sau:

- Đối với đại hội, hội nghị đảng viên: số thành viên của đại hội đại biểu là Đại biểu chính thức được triệu tập có đủ tư cách dự đại hội; số thành viên của đại hội đảng viên, hội nghị đảng viên là tổng số đảng viên chính thức trong đảng bộ, chi bộ trừ số đảng viên đã giới thiệu sinh hoạt tạm thời ở đảng bộ khác và đảng viên đã được miến sinh hoạt và công tác không có mặt ở đại hội (nếu đảng viên đó có mặt tham gia bầu cử, biểu quyết thì vẫn tính) trừ số đảng viên bị đình chí sinh hoạt đảng, bị khởi tố, truy tố, tạm giam. “Nghị quyết có giá trị thi hành khi có hơn một nữa thành viên trong cơ quan đó tán thành”.

Đối với BCH đảng bộ, Ban thường vụ cấp ủy, Ủy ban kiểm tra số thành viên được tỉnh là: Tổng số cấp ủy viên, Ban thường vụ cấp ủy, Ủy ban kiểm tra đương nhiệm (trừ số đảng viên bị đình chí sinh hoạt đảng, bị khởi tố, truy tố, tạm giam).

- Trường hợp kết nạp đảng viên, công nhận đảng viên chính thức, xóa tên trong danh sách đảng viên, khai trừ đảng viên thì phải được ít nhất hai phần ba số thành viên của tổ chức đảng nhất trí đề nghị và được cấp ủy cấp trên có thẩm quyền quyết định với sự nhất trí của trên một nữa số thành viên.

- Trường hợp giải tán tổ chức đảng thì phải được ít nhất hai phần ba số thành viên của cấp ủy cấp trên trực tiếp đề nghị, cấp ủy cấp trên cách một cấp quyết định với sự nhất trí của trên một nữa số thành viên.

Nghỉ giải lao”

  1. Công tác đảng viên:

Công tác đảng viên gồm có 6 điểm sau: Công tác giáo dục đảng viên; công tác quản lý đảng viên; về phân công công tác cho đảng viên; về tiến hành sàng lọc đảng viên; về công tác phát triển đảng; về quy trình tặng Huy hiệu đảng.

2.1. Về giáo dục đảng viên:

Giáo dục đảng viên là một nhiệm vụ quan trọng, thường xuyên của chi bộ, đảng bộ cơ sở nhằm xây dựng đội ngũ đảng viên có đủ phẩm chất, năng lực hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao.

Về tư tưởng chính trị, phải tuyệt đối trung thành với sự nghiệp cách mạng của đảng, của dân tộc, tích cực thực hiện đường lối đổi mới của đảng, hoàn thành tốt nhiệm vụ chính trị được giao. Có bản lĩnh chính trị vững vàng, không dao động trước những khó khăn, thách thức. Có ý thức giữ vững và nêu cao vai trò lãnh đạo của đảng.

Về trình độ năng lực: có hiểu biết cơ bản về chủ nghĩa Mãc – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, quan điểm của Đảng; chính sách, pháp luật của Nhà nước; có trình độ chuyên môn, nghiệp vụ để đủ sức hoàn thành nhiệm vụ. Có năng lực vận động và lãnh đạo quần chúng tổ chức thực hiện đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng.

Về phẩm chất đạo đức, lối sống, có tinh thần trách nhiệm cao, gương mẫu đi đấu trong mọi công tác; xử lý hài hòa các lợi ích, đặt lợi ích của Đảng, của Tổ quốc lên trên hết. Liên hệ mật thiết với nhân dân, tôn trọng và bảo về quyến làm chủ của nhân dân. Có lối sống trong sạch lành mạnh, có kỷ cương, kỷ luật. Không quan liêu, tham nhũng, lãng phí và kiên quyết đấu tranh chóng tham nhũng, lãng phí và các hiện tượng tiêu cự khác”

Việc tổ chức giáo dục, bồi dưỡng đảng viên ở chi bộ, đảng bộ cơ sở, cần vận dụng những hình thức và phương pháp phù hợp với đặc điểm của từng chi bộ, đảng bộ, sao cho có hiệu quả nhất, cụ thể:

- Theo dõi, quản lý chặt chẽ việc tham gia học tập các chương trình giáo dục lý luận chnhs trị của đảng viên.

- Tổ chức, phổ biến, quán triệt, triển khai thực hiện nghị quyết của Đảng; gắn việc phổ biến, quán triệt nghị quyết với việc kiểm điểm, đánh giá tình hình chi bộ, đảng bộ, chỉ ra những biểu hiện lệch lạc, sai trái về nhận thức và hành động, nhất là những hành vi tham nhũng, lãng phí trong cơ quan, đơn vị, địa phương; xây dựng chương trình, kế hoạch thực hiện nghị quyết một cách cụ thể, thiết thực trong đó xác định những công việc trọng tâm, những vấn đề bức xúc mà quần chúng ở địa phương, ở cơ quan, đơn vị đang quan tâm để tập trung giải quyết kịp thời, hiệu quả.

- Ngoài ra còn tổ chức cho đảng viên học tập về chuyên môn, nghiệp vụ, quản lý…, để nâng cao trình độ về mọi mặt, thực hiện tốt mọi nhiệm vụ được giao, đáp ứng với yêu cầu thời kỳ phát triển mới của đất nước.

2.2. Về công tác quản lý đảng viên;

Chi bộ, đảng bộ cơ sở có nhiệm vụ quản lý chặt chẽ đội ngũ đảng viên; đồng thời đòi hỏi mỗi đảng viên phải tự đặt mình trong sự quản lý của chi bộ, đảng bộ. Đây là một nguyên tắc tổ chức cần phải được thực hiện một cách hết sức nghiêm túc, không để một đảng viên nào đứng ngoài sự quản lý của tổ chức đảng.

Hiện nay hàng ngày, hàng giờ mỗi đảng viên luôn phải đối mặt với những tiêu cực, mặt trái của kinh tế thị trường và những âm mưu thủ đoạn “diến biến hòa bình” của các thế lực thù địch. Vì vậy, công tác quản lý đảng viên phải được tiến hành thường xuyên, chặt chẽ với những nội dung, hình thức đa dạng và phong phú, có tính khoa hoc; phải được tiến hành thận trộng, tỷ mỹ và chu đáo, toàn diện.


- Quản lý về chính trị tư tưởng:

Là sự quản lý về quan điểm, lập trường chính trị của tổ chức đối với cán bộ, đảng viên. Tổ chức đảng yêu cầu đảng viên phải nói và làm theo chỉ thị, nghị quyết của Đảng, nêu cao tính tiền phong gương mẫu trong lao động, học tập, công tác… đồng thời thông qua sự quản lý này mà phát hiện ra những tư tưởng lệch lạc, những mơ hồ về chính trị để kịp thời có biện pháp giáo dục, giúp đỡ, tạo điều kiện cho đảng viên khắc phục những tư tưởng lệch lạc, sai trái; không để những tư tưởng sai trái, mơ hồ phát triển làm ảnh hưởng đến nhận thức tư tưởng chung của chi bộ, đảng bộ.

Trong thời kỳ mới, sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, chủ động hội nhập kinh tế quốc tế, nhiều vấn đề mới về lý luận và thực tiễn luôn nảy sinh, đòi hỏi phải thống nhất cao về quan điểm, nhận thức trong đảng và xã hội. Bên cạnh đó, các thế lực cơ hội, thù địch luôn tăng cường phá hoại về chính trị tư tưởng, với những âm mưu, thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt. Yêu cầu chi bộ, đảng bộ cơ sở phải thường xuyên coi trọng việc quản lý về chính trị, tư tưởng đối với cán bộ, đảng viên; thực hiện nghiêm túc quy định: mọi đảng viên nói và làm theo nghị quyết, quy định của Đảng.

(Quy định số 47-QĐ/TW, ngày 01/11/2011 của Ban Chấp hành khóa XI quy định những điều đảng viên không được làm)

- Quản lý về trình độ, năng lực công tác:

Tổ chức đảng, trước hết là cấp ủy, phải nắm vững trình độ, năng lực công tác của đảng viên. Đánh giá trình độ, năng lực của đảng viên không chỉ nhìn vào bằng cấp mà cần nhìn nhận đúng năng lực thực tế và hiệu quả thực hiện nhiệm vụ. Tổ chức đảng phải quản lý chặt chẽ, nắm vững những mặt mạnh và những hạn chế của đảng viên để giao nhiệm vụ và có kế hoạch bồi dưỡng, tạo điều kiện cho đảng viên không ngừng nâng cao trình độ, năng lực hoạt động thực tiễn, hoàn thành nhiệm vụ được giao.

- Quản lý sinh hoạt và quan hệ xã hội.

Quản lý các quan hệ xã hội của đảng viên trước hết là quản lý về phẩm chất đạo đức, lối sống của đảng viên; giúp cho tổ chức đảng đánh giá đầy đủ, chính xác về tư cách đảng viên. Giáo dục, nhắc nhỡ đảng viên nêu cao tinh thần tự giác, ý thức trách nhiệm để tự quản lý mình ở mọi nơi, mọi lúc, chủ động phòng ngừa những tác động tiêu cực, giúp cho đảng viên luôn giữ được tư cách đảng viên.

- Quản lý đội ngũ đảng viên:

Quản lý đội ngũ đảng viên trên hai mặt: quản lý số lượng và quản lý chất lượng. Quản lý số lượng đảng viên cần chú trọng nắm chắc về cơ cấu giới, dân tộc, tôn giáo, thành phần xã hội, tuổi đời, tuổi đảng … Quản lý chất lượng đội ngũ đảng viên là sự quản lý về phẩm chất, trình độ, năng lực và mức độ hoàn thành nhiệm vụ của đảng viên. Phải thường xuyên theo dõi, nắm bắt về chất lượng, mức độ hoàn thành nhiệm vụ của đảng viên để giúp cho cấp ủy, chi bộ, đảng bộ có kế hoạch, biện pháp kịp thời giúp đảng viên khắc phục những điểm yếu, phấn đấu vượt qua hạn chế, yếu kém để vươn lên hoàn thành nhiệm vụ với chất lượng, hiệu quả cao. Định kỳ hàng năm, cấp ủy tiến hành đánh giá phân tích chất lượng đảng viên theo quy định.

Hàng tháng chi bộ cần giữ vững nền nếp sinh hoạt đảng theo quy định. Trong sinh hoạt kết hợp tự phê bình và phê bình, trên cơ sở chất lượng, hiệu quả hoàn thành hiệm vụ được giao và ý kiến đóng góp của quần chúng, các đoàn thể nơi đảng viên sinh hoạt hoặc có quan hệ công tác, để phân tích, đánh giá chất lượng đảng viên sát, đúng.

Thực hiện tốt công tác đảng viên, nhất là công tác quản lý đội ngũ đảng viên sẽ góp phần quan trọng để làm tốt công tác cán bộ, cũng như công tác bảo vệ chính trị nội bộ, bảo vệ đảng ngay từ cơ sở.

2.3. Về phân công công tác cho đảng viên;

Để tạo điều kiện cho đảng viên hoàn thành tốt nhiệm vụ, cần có sự phân công công tác cụ thể, phù hợp với yêu cầu, nhiệm vụ của từng tố chức cơ sở; phù hợp với năng lực, sức khỏe và điều kiện cụ thể của từng đảng viên. Nội dung phân công cho đảng viên gồm các mặt công tác sau:

- Công tác vận động quần chúng.

Tổ chức đảng giao nhiệm vụ cho mỗi đảng viên thường xuyên nắm và phản ảnh tình hình tư tưởng của quần chúng tại nơi công tác và nơi cư trú. Trực tiếp tiến hành giải thích cho quần chúng nhân dân hiểu rõ chủ trương, đường lối của đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; kịp thời phản ánh với tổ chức đảng hoặc cơ quan có trách nhiệm giải quyết và đáp ứng yêu cầu, nguyện vọng chính đáng của quần chúng.

Bản thân và gia đình đảng viên phải gương mẫu chấp hành và vận động quần chúng, nhân dân thực hiện nghiêm chỉnh mọi chủ trương, đường lối của đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước với tinh thần trách nhiệm công dân. Có đạo đức, lối sống trong sạch, lành mạnh để nêu gương và vận động mọi người tích cực tham gia phong trào xây dựng gia đình văn hóa, phong trào bảo vệ an ninh tổ quốc và các phong trào khác.

- Công tác chính quyền, công tác trong các tổ chức chính trị - xã hội.

Tùy theo khả năng, trình độ, tín nhiệm của đảng viên trước quần chúng, tổ chức đảng giới thiệu, phân công đảng viên tham gia công tác của chính quyền và các tổ chức chính trị - xã hội.

Đảng luôn yêu cầu đảng viên, dù ở cương vị công tác nào cũng phải phát huy vai trò lãnh đạo, phấn đấu hoàn thành tốt nhiệm vụ; đồng thời tổ chức đảng luôn theo dõi, động viên, tạo điều kiện để đảng viên hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao.

- Công tác đảng.

Tham gia công tác đảng là trách nhiệm của đảng viên; tùy theo điều kiện cụ thể mà chi bộ, chi ủy, đảng ủy có thể phân công cho đảng viên thực hiện những công việc sau:

+ Giúp đỡ đảng viên dự bị phấn đấu trở thành đảnh viên chính thức;

+ Theo dõi, bồi dưỡng, giúp đỡ quần chúng, đề xuất ý kiến nhận xét để chi bộ lựa chọn đưa vào nguồn và chuẩn bị những điều kiện cần thiết để phát triển đảng.

+ Tham gia chuẩn bị nội dung các cuộc họp có tính cất chuyên đề khi được phân công để cấp ủy, chi bộ thảo luận, ra nghị quyết.

+ Tích cực tham gia thực hiện nhiệm vụ chính trị của chi bộ, đảng bộ; đóng góp tích cực vào công tác xây dựng chi bộ, đảng bộ trong sạch vững mạnh.

2.4. Tiến hành sàng lọc đội ngũ đảng viên; đưa những người không đủ tư cách đảng viên ra khỏi đảng.

Công tác sàng lọc đảng viên cần được thực hiện với tinh thần kiên quyết nhưng thận trọng, khách quan, đúng thủ tục, có bước đi thích hợp, đảm bảo đạt mục đích, yêu cầu của nhiệm vụ xây dựng, chỉnh đốn đảng. Chi bộ, đảng bộ cơ sở phải kiểm tra, phân tích, đánh giá đúng chất lượng đảng viên của mình. Cần tổ chức cho mọi đảng viên tự phê bình, tự đánh giá kết hợp với sự nhận xét, đánh giá của chi bộ, phê bình, góp ý của quần chúng và kiểm tra của cấp trên, trên cơ sở đó có biện pháp xây dựng đội ngũ đảng viên cho phù hợp.

- Đối với những đảng viên giữ được tư cách đảng viên, có phẩm chất chính trị và đạo đức tốt, có trình độ, năng lực hoàn thành nhiệm vụ, được quần chúng tín nhiệm thì tiếp tục bồi dưỡng, phát huy để ngày càng tiến bộ.

- Đối với những đảng viên hạn chế về kiến thức, năng lực hoặc hoàn cảnh khó khăn, hoặc không có khả năng vươn lên hoàn thành nhiệm vụ thì bản thân tự xem xét hoặc chi bộ động viên các đồng chí đó tự nguyện xin ra khỏi đảng. Đối với những đảng viên phai nhạt lý tưởng, giảm sút ý chí phấn đấu, không làm tròn nhiệm vụ đảng viên, đã được tổ chức đảng giúp đỡ mà không tiến bộ hoặc lạc hậu về chính trị, không còn tha thiết với đảng, không còn tác dụng với quần chúng thì vận động xin ra khỏi đảng hoặc xóa tên khỏi danh sách đảng viên.

- Đối với những đảng viên vi phạm tư cách, vi phạm nguyên tắc tổ chức và sinh hoạt đảng, không hoàn thành nhiệm vụ được giao thì giáo dục, xử lý kỷ luật hoặc định thời gian phấn đấu, nếu có chuyển biến thì đưa ra khỏi đảng.

- Đối với những người cơ hội về chính trị, nói và làm trái với quan điểm, đường lối của Đảng, suy thoái về đạo đức, lối sống, tham nhũng, lãng phí quan liêu, có tình vi phạm kỷ luật đảng, pháp luật của nhà nước thì khai trừ ra khỏi đảng.

2.5. Về công tác phát triển đảng viên:

Phát triển đảng viên là việc làm thường xuyên của toàn đảng nhưng được thực hiện chủ yếu ở chi bộ, đảng bộ cơ sở. Vì vậy, chi bộ, đảng bộ cơ sở phải nâng cao nhận thức và thường xuyên chăm lo công tác phát triển đảng viên.

Về công tác phát triển đảng viên, văn kiện Đại hội XI của Đảng nhấn mạnh “Đổi mới, tăng cường công tác quản lý, phát triển đảng viên, bảo đảm về chất lượng đảng viên theo quy định của Điều lệ Đảng. Xây dựng các tiêu chí, yêu cầu cụ thể về tư tưởng chính trị, trình độ năng lực, phẩm chất đạo đức, lối sống của đảng viên đáp ứng yêu cầu của giai đoạn cách mạng mới; phát huy tính tiền phong gương mẫu, chủ động, sáng tạo của đội ngũ đảng viên trong thực hiện nhiệm vụ được giao. Kiên quyết đưa ra khỏi đảng những người không đủ tư cách đảng viên…”

Thực hiện nhiệm vụ trên, chi bộ, đảng bộ cơ sở cần phải xây dựng chương trình, kế hoạch cụ thể, có sự lãnh đạo, chỉ đạo chặt chẽ để đảm bảo chất lượng của công tác phát triển đảng. Phải coi trọng chất lượng, đảm bảo tiêu chuẩn, không chạy theo số lượng.

Năm 2011, Đảng ủy Khối các cơ quan tỉnh đã xây dựng và ban Quy trình, bộ thủ tục hành chính về công tác phát triển đảng, công nhận đảng viên chính thức đã phổ biến đến các TCCS đảng và niêm yết và công khai trên cổng thông tin điện tử của tỉnh. Đề nghị cấp ủy các tổ chức cơ sở đảng thực hiện đúng quy trình, thủ tục, hồ sơ đầy đủ theo quy định.

Để tải về thực hiện yêu cầu các đồng chí vào trang địa chỉ E-mail: dukdno@yahoo.com

Năm 2011, Ban Thường vụ ĐUK có 02 kỳ họp bàn thống nhất định lượng về tiêu chí quần chủng tiêu biểu để xét kết nạp. Tiêu biểu phải thể hiện đạt được một trong 2 điểm sau: - Năm gần nhất được cơ quan bình xét phân loại cuối năm đạt danh hiệu Lao động tiến tiến trở lên hoặc Được cơ quan, khen hoàn thành tốt nhiệm vụ trở lên và được ghi trong lý lịch xin vào đảng mục khen thưởng phải ghi rõ quyết định số ngày, nội dung, hình thức, cấp ký, ai ký và chịu trách nhiệm….;

Lưu ý: Một số quy định có thay đổi, điều chỉnh về độ tuổi; học vấn (trang 70); Kết nạp lại đảng viên (trang 75); Tính tuổi đảng viên (trang 77) của quy định 45.

Để làm tốt công tác phát triển đảng cần nắm vững và làm tốt một số khâu cơ bản sau:

- Thông qua phong trào của tổ chức đoàn thể chính trị - xã hội, kết hợp với sự giới thiệu của tổ chức quần chúng, tập thể cấp ủy lựa chọn những quần chúng tích cực để có kế hoạch bồi dưỡng.

- Cử quần chúng tích cực đi dự các lớp bồi dưỡng nhận thức về đảng cho các đối tượng kết nạp đảng để họ có những hiểu biết nhất định về đảng, về quyền và nghĩa vụ của đảng viên, xác định động cơ phấn đấu vào đảng đúng đắn.

- Phân công đảng viên bồi dưỡng, giúp đỡ, theo dõi quá trình rèn luyện, phấn đấu, trưởng thành của quần chúng tích cực. Hàng tháng, hàng quý, đảng viên được phân công phải báo cáo kết quả phấn đấu của quần chúng. Nếu đảm bảo đủ tiêu chuẩn, được tổ chức, đoàn thể quần chúng thừa nhận, sẽ gợi ý để quần chúng làm hồ sơ, viết đơn xin gia nhập vào đảng.

Lễ kết nạp đảng viên phải được tổ chức trang nghiêm theo quy định. Trong thời gian dự bị chi bộ tiếp tục giáo dục, thử thách, rèn luyện, phân công đảng viên chính thức trực tiếp giúp đỡ đảng viên dự bị để họ phấn đấu trở thành đảng viên chính thức đúng thời hạn quy định của Điều lệ Đảng.

Lưu ý một số điểm mới và quy định của Đảng ủy Khối:

- Thủ tục giới thiệu người vào đảng của “Ban Chấp hành công đoàn cơ sở như BCH đoàn thanh niên”.

- Khi nhận được Hồ sơ đề nghị kết nạp trong thời hạn 60 ngày cấp ủy có thẩm quyền kết nạp xem xét trả lời cho cơ sở (theo quy trình của ĐUK 25 ngày)

- Khi có quyết định kết nạp đảng viên của cấp uỷ có thẩm quyền, chi bộ tổ chức lễ kết nạp đảng viên kịp thời, không để chậm quá 30 ngày, kể từ ngày nhận được quyết định. Cá biệt vẫn có trường hợp chậm, vi phạm (Hội chữ thập đỏ..).

- Chương trình buổi lễ kết nạp: trước đây theo HD 03 có 10 nội dung, nay Lược bỏ 3 Nội dung đó là Người vào đảng đọc đơn, Đảng viên giúp đỡ đọc bản giới thiệu và BCH đoàn hoặc Công đòn đọc Nghị quyết giới thiệu)

- Chào cờ (hát Quốc ca, Quốc tế ca);

- Tuyên bố lý do; giới thiệu đại biểu;

- Bí thư chi bộ hoặc đại diện chi uỷ đọc quyết định kết nạp đảng viên của cấp uỷ có thẩm quyền (những người dự lễ kết nạp đứng nghiêm);

- Đảng viên mới đọc lời tuyên thệ;

- Đại diện chi uỷ nói rõ nhiệm vụ, quyền hạn của người đảng viên, nhiệm vụ của chi bộ và phân công đảng viên chính thức giúp đỡ đảng viên dự bị;

- Đại diện đảng uỷ cấp trên phát biểu ý kiến (nếu có);

- Bế mạc (hát Quốc ca, Quốc tế ca).

Điểm mới về tính tuổi Đảng theo Điều lệ Đảng khóa XI, quy định 45 của BCHTW, Khi đảng viên đã được công nhận chính thức thì tuổi Ðảng của đảng viên tính từ ngày ghi trong quyết định kết nạp.

Về tặng Huy hiệu Đảng nằm trong bài 5, tuy nhiên BTC đảng ủy Khối đã ban hành quy trình thủ tục tặng Huy hiệu đảng trên cổng thôn tin điện tử, các cấp ủy cơ sở truy cập và thực hiện.

3. Công tác cán bộ:

Công tác cán bộ có ví trí rất quan trọng trong hoạt động lãnh đạo của Đảng. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy: Cán bộ là gốc của mọi công việc, công việc thành công hay thất bại đều do cán bộ tốt hay kém. Vì vậy, chi bộ, đảng bộ cơ sở phải làm tốt công tác cán bộ và xây dựng đội ngũ cán bộ theo chức năng, niệm vụ được quy định (Hai chức năng: Chức năng nền tảng và chức năng hạt nhân chính trị ở cơ sở; 5 nhiệm vụ tại điều 23 Điều lệ Đảng…. Đã được tiếp thu tại bài 1)

Cần tập trung làm tốt những việc cơ bản sau:

- Một là, lựa chọn cán bộ;

Thông qua phòng trào quần chúng và việc thực hiện nhiệm vụ chính trị của đảng viên mà lựa chọn, phát hiện những đảng viên có đủ phẩm chất, năng lực, có khả năng phát triển, từ đó có kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng, phân công, giao nhiệm vụ, để cán bộ, đảng viên rèn luyện, phấn đấu, thử thách và tạo điều kiện để cán bộ, đảng viên tự học tập nâng cao trình độ, vươn lên đáp ứng yêu cầu đòi hỏi của công tác cán bộ và tiêu chuẩn của người cán bộ.

Việc xây dựng đội ngũ cán bộ trong thời kỳ mới, Đại hội XI xác định: “Thực hiện tốt chiến lược cán bộ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa; đổi mói tư duy, cách làm, khắc phục những yếu kém trong từng khâu của công tác cán bộ. Xây dựng và thực hiện nghiêm cơ chế, chính sách phát hiện, tuyển chọn, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ; khắc phục tình trạng chạy theo bằng cấp. Làm tốt công tác quy hoạch và tạo nguồn cán bộ, chú ý cán bộ trẻ, nữ, dân tộc thiểu số, chuyên gia trên các lĩnh vực; xây dựng quy hoạch cán bộ cấp chiến lược”.

Mục tiêu chung là xây dựng đội ngũ cán bộ có bản lĩnh chính trị vững vàng, có đạo đức, lối sống lành mạnh, không quan liêu, tham nhũng, lãng phí; có tư duy đổi mới, sáng tạo, có kiến thức chuyên môn, nghiệp vụ, có năng lực thực tiễn đáp ứng yêu cầu của thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; có tinh thần đoàn kết, hợp tác, ý thức tổ chức kỷ luật cao và phong cách làm việc khoa học, tôn trọng tập thể gắn bó với nhân dân, dám nghỉ, dám làm, dám chịu trách nhiệm. Đội ngũ cán bộ phải đồng bộ, có tính kế thừa và phát triển, có số lượng và cơ cấu hợp lý.

Hai là, đánh giá, nhận xét cán bộ

Việc đánh giá, nhận xét cán bộ giữ vai trò quan trọng, có tác dụng phát huy những ưu điểm khắc phục những điểm yếu, hạn chế, thiếu sót của cán bộ, để tiếp tục bồi dưỡng, bố trí sử dụng cán bộ hợp lý nhằm thực hiện thắng lợi nhiệm vụ chính trị của cơ quan, đơn vị, góp phần vào việc thực hiện thắng lợi nhiệm vụ của cách mạng. Vì vậy Nghị quyết Đại hội XI chỉ rõ: ‘Đánh giá và sử dụng cán bộ trên cơ sở những tiêu chuẩn, quy trình đã được bổ sung, hoàn thiện, lấy hiệu quả công tác thực tế và sự tín nhiệm của quần chúng nhân dân làm thước đo chủ yếu. Không bổ nhiệm cán bộ không đủ tài, đủ đức, cơ hội chũ nghĩa. Thực hiện nghiêm quy chế thôi chức, miễn nhiệm, từ chức đối với cán bộ lãnh đạo quản lý (đây là vấn đề trong thực tiễn ít gặp cán bộ xin từ chức, thôi chức, miễn nhiệm, ở Đảng bộ Khối thời gian đây có cho thôi chức Bí thư (Bệnh viên Đa khoa tỉnh); Ủy ban nhân dân tỉnh miễn nhiện Phó giám đốc (sở LĐ-TBXH…). Kịp thời thay thế cán bộ yếu kém về phẩm chất, năng lực, không hoàn thành nhiệm vụ, uy tín giảm sút. Có chế tài xử lý nghiêm những trường hợp chạy chức, chạy quyền, chạy chỗ, chạy tội, chạy tuổi, chạy bằng cấp, chạy Huân chương. Thực hiện luân chuyển cán bộ lãnh đạo và quản lý theo quy hoạch ở các ngành, các cấp; khắc phục tư tưởng cục bộ, khép kín”.

Công tác đánh giá cán bộ phải công khai, minh bạch, khách quan, toàn diện và công tâm, lấy hiệu quả hoàn thành nhiệm vụ chính trị làm thước đo phẩm chất và năng lực cán bộ.

Để đánh giá đúng cán bộ, chi bộ, đảng bộ cơ sở cần nắm vững và thực hiện các quy trình cơ bản sau:

+ Trên tiêu chuẩn cán bộ, cụ thể hóa cho phù hợp với yêu cầu và nhiệm vụ chính trị của cơ quan, đơn vị, lấy đó làm căn cứ để đánh giá cán bộ.

+ Lấy kết quả thực hiện nhiệm vụ chính trị, hiệu quả công tác của cán bộ và sự tín nhiệm của quần chúng, nhân dân làm thước đo chủ yếu.

+ Có phương pháp phân tích, đánh giá nhận xét cán bộ một cách khoa học, khách quan, công tâm theo một quy trình chặt chẽ, bảo đảm sự lãnh đạo của đảng, phát huy dân chủ, dựa vào tập thể và ý kiến đóng góp, nhận xét của quần chúng, nhân dân, thông qua nhiều hình thức và phương pháp phù hợp. Phải đặt người cán bộ trong phạm vi, môi trường đang công tác để đánh giá. Phải kết hợp theo dõi thường xuyên với việc đánh giá theo định kỳ. Phải kết hợp nhiều nguồn thông tin khác nhau để phân tích, chọn lộc một cách chính xác. Nhận xét, đánh giá cán bộ phải công khai và trực tiếp.

Đối với tỉnh Đắk Nông, Tỉnh ủy đã ban hành Quy định số 09-QĐ/TU, ngày 31/12/2004 Quy định tiêu chuẩn chức danh cán bộ tại quy định này quy định tiêu chuẩn cụ thể cho từng chức danh cán bộ. Cấp ủy cơ sở căn cứ vào quy định của Tỉnh ủy để bổ nhiệm cán bộ, đồng thời có kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng, chuẩn hóa các chức danh cán bộ.

Thực hiện Quyết định 116-QĐ/TU, ngày 14/3/2011 về ban hành quy định phân cấp quản lý cán bộ; Quyết định 217-QĐ/TU, ngày 25/7/2011 về ban hành Quy chế bổ nhiệm và giới thiệu cán bộ ứng cử của Ban Thường vụ Tỉnh ủy. Đảng ủy Khối các cơ quan tỉnh đã xây dựng, ban hành quy trình nhận xét đánh giá cán bộ .

Ba là: Quản lý, giáo dục rèn luyện cán bộ;

Thường xuyên chăm lo giáo dục đội ngũ cán bộ tự giác rèn luyện, tu dưỡng đạo đức cách mạng. Xây dựng và tổ chức thực hiện nghiêm túc tiêu chuẩn, đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức trong cơ quan, đơn vị; có biện pháp giáo dục, khắc phục kịp thời những khuyết điểm, thiếu sót về đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên.

Đại hội XI chỉ rõ: ‘Tăng cường công tác giáo dục, quản lý cán bộ. Chú trọng xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lỷ các cấp, đội ngũ chuyên gia đầu ngành. Đổi mới, trẻ hóa đội ngũ cán bộ lãnh đạo và quản lý, kết hợp các độ tuổi đảm bảo tính liên tục, kế thừa và phát triển”.

Định kỳ tổ chức tốt việc sơ kết rút kinh nghiệm về kết quả thực hiện nhiệm vụ chính trị, trên cơ sở đó có chủ trương, biện pháp bồi dưỡng nâng cao trình độ năng lực đội ngũ cán bộ, đáp ứng kịp thời yêu cầu nhiệm vụ.

Trên đây là một số nội dung cơ bản về công tác cán bộ ở cơ sở, khi áp dụng vào thực tiễn mỗi chi bộ, đảng bộ cơ sở cần nghiên cứu, vận dụng sáng tạo, phù hợp với từng điều kiện cụ thể của từng cơ quan, đơn vị.

4. Một số vấn đề về bảo về chính trị nội bộ.

Công tác bảo vệ chính trị nội bộ có quan hệ đến sự sống còn của Đảng và chế độ, là một bộ phận quan trọng trong toàn bộ công tác xây dựng đảng, bảo đảm sự trong sạch về đội ngũ cán bộ, đảng viên, ngăn chặn kịp thời những âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch đánh phá vào nội bộ ta.

Về công tác bảo vệ chính trị nội bộ văn kiện Đại hội XI của Đảng nhấn mạnh “Nhiên cứu, ban hành và thực hiện tốt chính sách sử dụng và quản lý cán bộ, đảng viên có vấn đề lịch sử chính trị. Chú trọng và giải quyết vấn đề chính trị hiện nay”.

Để thực hiện tốt công tác bảo vệ chính trị nội bộ, chi bộ, đảng bộ cơ sở cần nắm vững và thực hiện những mặt công tác chủ yếu sau:

- Làm cho mỗi cán bộ, đảng viên nhận thức sâu sắc về nhiệm vụ bảo vệ chính trị nội bộ trong tình hình hiện nay: Mỗi cán bộ, đảng viên phải trung thành, trung thực với đảng, không dấu diếm, khai man lịch sử chính trị bản thân và gia đình.

Các cấp ủy, tổ chức đảng nhất là cấp ủy cơ sở phải nắm chắc và quản lý chặt chẽ cán bộ, đảng viên cả về phẩm chất chính trị và đạo đức lối sống. Chi bộ, đảng bộ cơ sở phải có chủ trương, biện pháp, kế hoạch cụ thể trong việc triển khai thực hiện nhiệm vụ bảo vệ chính trị nội bộ. Không ngừng nâng cao cảnh giác, đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch, bảo vệ tổ chức đảng, bảo vệ cán bộ, đảng viên, bảo vệ đường lối, quan điểm của đảng, giữ gìn bí mật nội bộ và bí mật quốc gia.

- Căn cứ vào nội dung, yêu cầu của công tác bảo vệ chính trị nội bộ và sự hướng dẫn của tổ chức đảng cấp trên, chi bộ, đảng bộ cơ sở xây dựng và thực hiện quy định về bảo vệ chính trị nội bộ, nhằm đảm bảo cho tổ chức đảng trong sạch, vững mạnh, ngăn ngừa không để cán bộ, đảng viên thoái hóa, biến chất về tư tưởng, chính trị, đạo đức, lối sống; Không để lọt các phần tử cơ hội. thoái hóa, biến chất, nội gián vào cơ quan đảng, cơ quan Nhà nước và các đoàn thể quần chúng. Nội dung các quy định về bảo vệ chính trị nội bộ của chi bộ, đảng bộ cơ sở không được trái với quy định của Điều lệ Đảng, Pháp luật của Nhà nước.

Yêu cầu cấp ủy cơ sở thực hiện và phối hợp với Đảng ủy Khối và tổ chức đảng cấp trên thực hiện tốt Quy định 57-QĐ/TW ngày 03/5/2007 của bộ chính trị; Hướng dẫn số 11-HD/BTCTW của Ban Tổ chức Trung ương về công tác bảo vệ chính trị nội bộ.

- Thực hiện nghiêm ngặt các chế độ, thủ tục, quy chế quản lỷ cán bộ, đảng viên, bao gồm các mặt công tác như: tuyển dụng, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, kết nạp đảng viên, lựa chon đảng viên bầu vào cấp ủy, cử đi công tác nước ngoài, tiếp xúc với người nước ngoài, bố trí vào cơ quan trọng yếu, cơ mật của Đảng.

- Trong sinh hoạt đảng, cần nghiêm túc xem xét tình hình tư tưởng chính trị của cán bộ, đảng viên. Khi thấy có những biểu hiện chưa phù hợp với quan điểm của đảng, cần trao đổi thẳng thắn trong sinh hoạt, cần nâng cao nhận thức chung của cán bộ đảng viên; kịp thời báo cáo lên cấp trên xem xét, chỉ đạo giải quyết.

- Cần khắc phục nhận thức lệch lạc cho rằng: Bảo vệ chính trị nội bộ chỉ là nhiệm vụ của lãnh đạo, quản lý và các cơ quan chuyên trách; đồng thời tránh khuynh hướng sa vào những vấn đề cụ thể thuộc nhiệm vụ, chức năng của cơ quan chuyên môn nghiệp vụ.

  • Tất cả mọi đảng viên đều phải có trách nhiệm tham gia công tác bảo vệ chính trị nội bộ. Bí thư hoặc phó bí thư cấp ủy phụ trách công tác bảo vệ chính trị nội bộ.

- Công tác bảo vệ chính trị nội bộ phải được tiến hành thường xuyên, theo phương châm: Lấy việc xây dựng nội bộ trong sạch vững mạnh, chủ động phòng ngừa là chính; đồng thời coi việc rà soát, thẩm tra nội bộ một cách chặt chẽ, có trọng điểm; kết hợp lắng nghe ý kiến của quần chúng nhân dân với công tác nghiên cứu điều tra của cơ quan có trách nhiêm.

Một số nhiệm vụ tập trung làm tốt từ đây đến cuối năm: Củng cố, kiện toàn xây dựng TCCS đảng trong sạch vững mạnh. Thực hiện tốt công tác kiểm điểm theo NQ TW 4 gắn phân loại năm 2012, đúng quy định, kế hoạch. Triển khai thực hiện tố công tác quy hoạch cán bộ nhiệm kỳ 2015-2020.

Bổ sung Điều 31: Việc chỉ định cấp ủy đối với những đảng bộ, chi bộ thành lập mới, chia tách, sáp nhập, hợp nhất trong nhiệm kỳ thì cấp ủy cấp trên trực tiếp chỉ định cấp ủy chính thức, ban thường vụ, bí thư, phó bí thư.

- Cấp ủy bầu ủy ban kiểm tra, chủ nhiệm ủy ban kiểm tra; chỉ đạo xây dựng hoặc bổ sung nhiệm vụ cho phù hợp; nhiệm kỳ đầu tiên của cấp ủy không nhất thiết là năm năm.

Câu hỏi thảo luận:

1- Công tác tổ chức của chi bộ, đảng bộ cơ sở bao gồm những nội dung cơ bản nào? (gồm 4 nội dung sau cơ bản…); Liên hệ thực tế ?.

2- Cần làm gì để làm tốt công tác đảng viên ? Liên hệ thực tế.

Công tác đảng viên gồm có 5 điểm sau: Công tác giáo dục đảng viên; công tác quản lý đảng viên; về phân công công tác cho đảng viên; về tiến hành sàng lọc đảng viên; về công tác phát triển đảng.


CHUYÊN ĐỀ 5:


CÔNG TÁC KIỂM TRA, GIÁM SÁT,

KHEN THƯỞNG, KỶ LUẬT Ở CHI BỘ,

ĐẢNG BỘ CƠ SỞ


PHẦN THỨ NHẤT:

I- MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ CÔNG TÁC KIỂM TRA, GIÁM SÁT

1- Vị trí, tầm quan trọng và mục tiêu, yêu cầu của công tác kiểm tra, giám sát

a.Vị trí, tầm quan trọng của công tác kiểm tra, giám sát.

- Kiểm tra, giám sát là một trong những chức năng lãnh đạo của Đảng.

Công tác kiểm tra, giám sát của Đảng là hoạt động của các cấp ủy đảng, các ban chức năng của cấp ủy, các tổ chức đảng và đảng viên, hướng vào việc xây dựng, thực hiện các nghị quyết, quyết định và chỉ thị của Đảng; hoàn thiện quy trình lãnh đạo và giữ gìn kỷ luật đảng; giải quyết những vấn đề trong sinh hoạt nội bộ Đảng, tăng cường đoàn kết, thống nhất, góp phần tạo nên sức mạnh và bảo đảm vai trò lãnh đạo của Đảng, thực hiện thắng lợi nhiệm vụ chính trị.

Hoạt động lãnh đạo của Đảng gồm nhiều khâu: xây dựng và đề ra cương lĩnh, đường lối, nghị quyết và các quyết định của Đảng; tổ chức thực hiện nghị quyết, quyết định của Đảng; công tác tư tưởng, công tác tổ chức và công tác kiểm tra, giám sát… Trong các khâu đó công tác kiểm tra, giám sát là khâu có vị trí rất quan trọng. Tiến hành kiểm tra, giám sát sẽ phát hiện ra những ưu điểm, khuyết điểm, thiếu sót của các quyết định và việc thực hiện quyết định để bổ sung, hoàn thiện các quyết định và tổ chức thực hiện các quyết định với kết quả cao nhất. Kiểm tra, giám sát không phải là khâu cuối cùng của quy trình lãnh đạo, mà nó đan xen vào tất cả các khâu, góp phần hoàn thiện quy trình lãnh đạo của Đảng. Lãnh đạo mà không kiểm tra, giám sát thì coi như không có sự lãnh đạo.

- Kiểm tra, giám sát là bộ phận quan trọng trong công tác xây dựng Đảng.

Trong công tác xây dựng Đảng, tiến hành tốt công tác kiểm tra, giám sát sẽ giúp cơ quan lãnh đạo của Đảng đánh giá đúng ưu điểm, khuyết điểm của tổ chức đảng và đội ngũ cán bộ đảng viên; kịp thời đề ra các chủ trương, biện pháp xây dựng tổ chức, xây dựng đội ngũ đảng viên phù hợp, góp phần nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức đảng, nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên.

Kiểm tra, giám sát sẽ phát hiện ra những tổ chức đảng và đảng viên vi phạm kỷ luật đảng, kịp thời có biện pháp xử lý với các hình thức thích hợp, đưa ra khỏi Đảng những phần tử cơ hội, những kẻ tham nhũng, thoái hóa, biến chất, những người không đủ tư cách đảng viên, làm cho Đảng thực sự trong sạch vững mạnh.

Kiểm tra, giám sát có tác dụng giáo dục, thúc đẩy cán bộ, đảng viên làm tròn nhiệm vụ được giao, làm tấm gương tốt cho nhân dân học tập và noi theo, góp phần tăng cường sự lãnh đạo và nâng cao uy tín của Đảng trước quần chúng

b. Mục đích, yêu cầu của công tác kiểm tra, giám sát.

Kiểm tra, giám sát đều là hoạt động của nội bộ đảng, do cấp ủy, tổ chức đảng và ủy ban kiểm tra thực hiện. Mục đích của công tác kiểm tra, giám sát là phát hiện những ưu điểm và những khuyết điểm, nhược điểm của tổ chức đảng và đảng viên trong quá trình lãnh đạo, thực hiện chỉ thị, nghị quyết của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, thực hiện Điều lệ Đảng, nhiệm vụ của đảng viên; kịp thời biểu dương, khen thưởng những tổ chức, cá nhân hoàn thành tốt nhiệm vụ; có biện pháp giáo dục, nhắc nhở, xử lý kỷ luật, thích đáng đối với những trường hợp chấp hành không nghiêm chỉ thị, nghị quyết của Đảng, pháp luật của Nhà nước, nhiệm vụ được giao; góp phần nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên, xây dựng tổ chức đảng trong sạch vững mạnh; nâng cao năng lực sức chiến đấu của Đảng; thực hiện thắng lợi đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước.

Trong công tác kiểm tra, giám sát, phải coi trọng phát hiện nhân tố tích cực, tổng kết và phổ biến những tấm gương, những bài học kinh nghiệm tốt, góp phần phát huy ưu điểm, phòng ngừa khuyết điểm sai phạm của tổ chức đảng và đảng viên.

Giám sát là việc làm thường xuyên liên tục, để chủ động phòng ngừa ngăn chặn xảy ra vi phạm của tổ chức đảng và đảng viên ngay từ lúc mới manh nha. Giám sát để phòng ngừa, ngăn chặn khuyết điểm, vi phạm là chính; giúp cho tổ chức đảng và đảng thực hiện đúng quy định, quy chế; phát hiện, góp ý, phản ảnh đề xuất biện pháp lãnh đạo, xây dựng tổ chức, giáo dục quản lý cán bộ, đảng viên phù hợp.

Công tác kiểm tra, giám sát phải tiến hành theo quy trình nhất định; coi trọng thẩm tra, xác minh, làm rõ đúng, sai, ưu điểm, khuyết điểm, vi phạm; từ đó có kết luận, xử lý vi phạm.

Trong tình hình hiện nay, công tác kiểm tra, giám sát cần được đẩy mạnh, góp phần đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí, khắc phục suy thoái về tư tưởng, chính trị, đạo đức lối sống của cán bộ đảng viên, những vi phạm trong việc tổ chức thực hiện nghị quyết của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước, khắc phục tình trạng quan liêu, mất dân chủ. Nghị quyết Đại hội XI của Đảng khẳng định “Tập trung kiểm tra, giám sát, chấp hành Điều lệ, nghị quyết, chỉ thị, quy định của Đảng, luật pháp, chính sách của Nhà nước; việc chấp hành nguyên tắc tập trung dân chủ, quy chế làm việc, chế độ công tác, thực hiện dân chủ trong Đảng, giữ gìn đoàn kết nội bộ; việc thực hành tiết kiệm, phòng chống tham nhũng, lãng phí, rèn luyện phẩm chất, đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên; việc chỉ đạo và tổ chức thực hiện cải cách hành chính, cải cách tư pháp; việc điều tra, truy tố xét xử, thi hành án, nhất là những vụ án nghiêm trọng, gây bức xúc trong dư luận xã hội; kiểm tra, giám sát việc tuyển dụng, quy hoạch, luân chuyển, đào tạo, đề bạt, bố trí, sử dụng cán bộ. Chú trọng kiểm tra, giám sát người đứng đầu tổ chức đảng, nhà nước, mặt trận và các đoàn thể nhân dân các cấp trong việc thực hiện chức trách nhiệm vụ được giao”

2. Công tác kiểm tra, giám sát của chi bộ, đảng bộ cơ sở.

Kiểm tra, giám sát là công việc của toàn Đảng, nhưng do vị trí, nhiệm vụ, quyền hạn của các tổ chức đảng có khác nhau nên việc tổ chức thực hiện nhiệm vụ kiểm tra, giám sát cũng khác nhau. Vì vậy, các tổ chức Đảng cần căn cứ vào các quy định chung và tình hình đặc điểm cụ thể để xây dựng phương hướng, nhiệm vụ và nội dung, kế hoạch, kiểm tra, giám sát trong từng thời gian cho sát hợp với điều kiện, nhiệm vụ và phạm vi quyền hạn của mình

  1. Nội dung cơ bản công tác kiểm tra, giám sát của chi bộ. đảng bộ cơ sở.

Điểm 2 Điều 30 Điều lệ Đảng quy định “Các cấp uỷ đảng lãnh đạo công tác kiểm tra, giám sát và tổ chức thực hiện nhiệm vụ kiểm tra, giám sát, các tổ chức đảng và đảng viên chấp hành cương lĩnh chính trị, Điều lệ Đảng, nghị quyết, chỉ thị của Đảng”.

Trong tình hình hiện nay, công tác kiểm tra giám sát ở chi bộ, đảng bộ cơ sở cần tập trung kiểm tra, giám sát những tổ chức đảng và đảng viên được giao nhiệm vụ quan trọng liên quan trực tiếp đến phát huy dân chủ ở cơ sở, phát triển kinh tế, thực hiện chính sách xã hội, chăm lo đời sống, giải quyết việc làm cho nhân dân, thực hành tiết kiệm, chống lãnh phí, phòng, chống tham nhũng, quan liêu và các tiêu cực khác. Coi trọng kiểm tra, giám sát việc chấp hành nguyên tắc tập trung dân chủ, quy chế làm việc, tinh thần trách nhiệm, ý thức tổ chức kỷ luật, tự phê bình và phê bình, giữ gìn đoàn kết, thống nhất nội bộ, giáo dục, rèn luyện, nâng cao phẩm chất đạo đức cách mạng của đảng viên.

Trong công tác giám sát, cần thực hiện đúng quy định “Tổ chức đảng và đảng viên phải thường xuyên tự kiểm tra. Tổ chức đảng cấp trên kiểm tra tổ chức đảng cấp dưới và đảng viên…Tổ chức đảng cấp trên giám sát tổ chức đảng cấp dưới và đảng viên. Tổ chức đảng và đảng viên thực hiện nhiệm vụ giám sát theo sự phân công. Giám sát của Đảng có giám sát thường xuyên và giám sát theo chuyên đề, hay theo sự phân công của tổ chức đảng có thẩm quyền. Chi bộ giám sát mọi đảng viên sinh hoạt trong chi bộ, tập trung giám sát việc thực hiện nghị quyết của chi bộ, thực hiện nhiệm vụ do chi bộ phân công và theo nhiệm vụ, tiêu chuẩn đảng viên; việc giữ gìn phẩm chất đạo đức, lối sống và giữ mối liên hệ với tổ chức đảng nơi cư trú.

  1. Công tác kiểm tra, giám sát của đảng ủy cơ sở.

Đảng uỷ, ban thường vụ đảng uỷ cơ sở căn cứ vào nghị quyết, chỉ thị của cấp trên và nghị quyết của cấp mình, đề ra chương trình, kế hoạch công tác kiểm tra, giám sát trong từng thời gian, định kỳ nghe báo cáo về tình hình và kết quả thực hiện công tác kiểm tra, giám sát trong đảng bộ, xem xét và giải quyết những yêu cầu, kiến nghị, đề nghị của các chi bộ, của uỷ ban kiểm tra đảng uỷ.

Chỉ đạo chặc chẽ về tổ chức và hoạt động của của uỷ ban kiểm tra đảng uỷ, xây dựng, bồi dưỡng cán bộ làm công tác kiểm tra, theo dõi tiến độ và kết quả hoạt động của ủy ban kiểm tra

Tổ chức thực hiện đầy đủ nội dung, nhiệm vụ kiểm tra, giám sát thuộc phạm vi, thẩm quyền, trách nhiệm của mình.

Kết luận các vấn đề sau khi kiểm tra, rút ra bài học kinh nghiệm trong lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện nhiệm vụ chính trị và công tác xây dựng đảng bộ.

c. Cách tiến hành tổ chức kiểm tra, giám sát ở chi bộ, đảng bộ cơ sở.

Cấp uỷ chủ trì, chủ động thực hiện kiểm tra, giám sát theo chuơng trình kế hoạch (hành tháng, quý, năm) đã được xây dựng, kiểm tra, giám sát việc thực hiện Cương lĩnh, đường lối, nghị quyết, chỉ thị của Đảng, thực hiện Điều lệ Đảng và nhiệm vụ cơ sở.

- Cấp uỷ có thể trực tiếp kiểm tra, hoặc thông qua các thành viên của cấp uỷ và các ban của đảng ủy (ủy ban kiểm tra, ban tổ chức,...) để tiến hành kiểm tra theo kế hoạch. Khi cần có thể kiểm tra bất thường.

Để tổ chức tốt một cuộc kiểm tra cần làm tốt các bước công việc sau:

+ Căn cứ vào mục đích, yêu cầu và tình hình cụ thể mà lựa chọn nội dung, đối tượng cần kiểm tra. Lập kế hoạch kiểm tra chi tiết, chu đáo và thông báo tổ chức đảng và đảng viên biết.

+ Yêu cầu đảng viên, tổ chức đảng thuộc quyền báo cáo, giải trình về những nội dung cần kiểm tra. Cá nhân, tổ chức chịu sự kiểm tra phải làm rõ những ưu điểm, khuyết điểm, sai phạm; tự đánh giá mức độ và nguyên nhân, đề ra phương hướng, biện pháp phát huy ưu điểm, khắc phục, sửa chữa khuyết điểm.

+ Cấp ủy, tổ chức đảng và cơ quan có thẩm quyền kiểm tra nhận xét, đánh giá, đúng ưu điểm, khuyết điểm, nêu những biện pháp để tổ chức đảng và đảng viên phát huy ưu điểm, khắc phục sữa chữa khuyết điểm. Đồng thời, đảng uỷ, chi uỷ, chi bộ củng phải tự đánh giá ưu, khuyết điểm, và trách nhiệm của mình trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thựuc hiện nhiệm vụ chính trị, quản lý, giáo dục, rèn luyện đội ngũ cán bộ cán bộ, đảng viên, tổ chức thực hiện công tác kiểm tra, giám sát, rút ra những kinh nghiệm để nâng cao năng lực lãnh đạo, chất lượng và hiệu quả công tác kiểm tra, giám sát, xây dựng tổ chức đảng và đội ngũ đảng viên trong sạch, vững mạnh.

- Chi bộ kiểm tra, giám sát đảng viên thông qua sinh hoạt thường kỳ (kiểm điểm công tác lãnh đạo, tự phê và phê bình); phân tích chất lượng đảng viên; qua theo dõi, đôn đốc đảng viên thực hiện nhiệm vụ được giao; qua yêu cầu đảng viên báo cáo khi cần thiết; nhận xét, đánh giá, phản ánh của các đoàn thể và nhân dân đối với tổ chức đảng và đảng viên; nghiên cứu, khảo sát nắm tình hình theo yêu cầu của cấp uỷ; sơ kết, tổng kết công tác chuyên môn của đơn vị để đánh giá đúng mặt mạnh, mặt yếu của đảng viên, kịp thời phời phát huy ưu điểm, sửa chữa khuyết điểm, chủ động phòng ngừa vi phạm của đảng viên. Qua giám sát nếu phát hiện đảng viên có dấu hiệu vi phạm hoặc bị tố cáo, chi bộ kịp thời xem xét, hoặc báo cáo tổ chức đảng cấp trên có thẩm quyền xem xét, giải quyết.

3. Tổ chức, nhiệm vụ, quyền hạn của uỷ ban kiểm tra đảng uỷ cơ sở.

a. Tổ chức.

Điều 31 Điều lệ Đảng quy định việc lập uỷ ban kiểm tra các cấp từ đảng uỷ cơ sở trở lên như sau:

“1. Uỷ ban kiểm tra các cấp do cấp uỷ cùng cấp bầu, gồm một số đồng chí trong cấp uỷ và một số đồng chí ngoài cấp uỷ.

2. Các thành viên của uỷ ban kiểm tra, chủ nhiệm, phó chủ nhiệm uỷ ban kiểm tra cấp dưới phải được cấp uỷ cấp trên trực tiếp chuẩn y, nếu điều động chủ nhiệm uỷ ban kiểm tra sang công tác khác phải được cấp uỷ cấp trên trực tiếp đồng ý.

3. Uỷ ban kiểm tra làm việc theo chế độ tập thể, dưới sự lãnh đạo của cấp uỷ cùng cấp và sự chỉ đạo của uỷ ban kiểm tra cấp trên”.

Thực hiện quy định này, cần nắm vững và thực hiện tốt một số nội dung sau:

- Uỷ ban kiẻm tra của đảng uỷ cơ sở do hội nghị BCH đảng uỷ bầu, gồm một số đồng chí trong cấp uỷ và một số đồng chí ngoài cấp uỷ. Bầu uỷ viên uỷ ban kiểm tra trước, sau đó bầu chủ nhiệm, phó chủ nhiệm ủy ban kiểm tra trong số uỷ viên uỷ ban kiểm tra. Việc bầu cử tiến hành bằng phiếu kín.

- Nhiệm kỳ của uỷ ban kiểm tra theo nhiệm kỳ của đảng uỷ. Uỷ ban kiểm tra khoá mới điều hành công việc ngay sau khi được bầu và nhận bàn giao từ uỷ ban kiểm tra khoá trước.

- Số lượng uỷ ban kiểm tra đảng uỷ có từ 3 đến 5 đồng chí (do đảng ủy cơ sở quyết định) trong đó đồng chí Phó Bí thư hoặc uỷ viên ban thường vụ làm chủ nhiệm. Trường hợp không có ban ttrường vụ cấp uỷ thì đồng chí phó bí thư làm chủ nhiệm, phó chủ nhiệm là cấp uỷ viên hoặc đảng viên. Các uỷ viên khác có thể là cấp uỷ viên, hoặc đảng viên phụ trách công tác đoàn thể, bí thư chi bộ, thanh tra nhân dân.

Các thành viên uỷ ban kiểm tra, chủ nhiệm, phó chủ nhiệm uỷ ban kiểm tra cấp dưới phải được cấp uỷ cấp trên trực tiếp chuẩn y, nếu điều động chủ nhiệm uỷ ban kiểm tra sang công tác khác phải được cấp uỷ cấp trên trực tiếp đồng ý. Khi thay đổi Phó chủ nhiệm hoặc uỷ viên uỷ ban kiểm tra (kể cả việc chuẩn bị người thay thế) cấp uỷ hoặc ban thưuờng vụ cấp uỷ phải trao đổi với uỷ ban kiểm tra cấp trên trực tiếp trước khi thực hiện.

- Đảng uỷ bộ phận và chi uỷ không lập uỷ ban kiểm tra thì tập thể cấp uỷ thực hiện công tác kiểm tra và phân công một đồng chí cấp uỷ viên phụ trách làm công tác kiểm tra.

- Chế độ làm việc của uỷ ban kiểm tra:

Uỷ ban kiểm tra làm việc dưới sự lãnh đạo của cấp uỷ cùng cấp và dưới sự chỉ đạo, hướng dẫn kiểm tra, giám sát của uỷ ban kiểm tra cấp trên. Uỷ ban kiểm tra phải chấp hành nghiêm chỉnh các quy định của Điều lệ Đảng về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của uỷ ban kiểm tra; định kỳ báo cáo với cấp uỷ chương trình, kế hoạch, kết quả thực hiện nhiệm vụ công tác kiểm tra, giám sát của mình và thực hiện các nghị quyết, chỉ thị, quyết định của cấp uỷ về công tác kiểm tra, giám sát, về quy chế làm việc của uỷ ban kiểm tra và các nhiệm vụ do cấp uỷ giao; chịu sự kiểm tra, giám sát của cấp uỷ về tất cả các hoạt động của mình.

Uỷ ban kiểm tra thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ, làm việc theo chế độ tập thể, quyết định theo đa số. Uỷ ban kiểm tra có thể uỷ quyền cho tập thể thường trực uỷ ban (nơi có 02 phó chủ nhiệm trở lên) quyết định một số vấn đề cụ thể hoặc giao cho từng thành viên của uỷ ban kiểm tra giải quyết, quyết định một số việc cụ thể. Thường trực uỷ ban kiểm tra gồm chủ nhiệm và các phó chủ nhiệm.

b. Nhiệm vụ, quyền hạn của uỷ ban kiểm tra

Điều 32 Điều lệ Đảng UBKT các cấp có nhiệm vụ:

1. Kiểm tra đảng viên, kể cả cấp ủy viên cùng cấp khi có dấu hiệu vi phạm tiêu chuẩn đảng viên, tiêu chuẩn cấp ủy viên và trong việc thực hiện nhiệm vụ đảng viên.

2. Kiểm tra tổ chức đảng cấp dưới khi có dấu hiệu vi phạm trong việc chấp hành Cương lĩnh chính trị, Điều lệ Đảng, nghị quyết, chỉ thị của Đảng, các nguyên tắc của Đảng; kiểm tra việc thực hiện nhiệm vụ kiểm tra và thi hành kỷ luật trong đảng.

3. Giám sát cấp ủy viên cùng cấp, cán bộ diện cấp ủy cùng cấp quản lý và tổ chức đảng cấp dưới về việc thực hiện chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, nghị quyết của cấp ủy và đạo đức, lối sống theo quy định của Ban Chấp hành Trung ương.

4. Xem xét, kết luận những trường hợp vi phạm kỷ luật, quyết định hoặc đề nghị cấp ủy quyết định thi hành kỷ luật.

5. Giải quyết tố cáo đối với tổ chức đảng và đảng viên; giải quyết khiếu nại về kỷ luật Đảng.

6. Kiểm tra tài chính của cấp ủy cấp dưới và của cơ quan tài chính cấp ủy cùng cấp.

Thực hiện quy định này cần nắm vững những nội dung sau:

- Về kiểm tra, giám sát.

Uỷ ban kiểm tra cơ sở có trách nhiệm kiểm tra các tổ chức đảng và đảng viên thuộc quyền khi có dấu hiệu vi phạm cương lĩnh chính trị, Điều lệ Đảng, các nghị quyết, chỉ thị của Đảng, các nguyên tắc tổ chức của Đảng, vi phạm về tiêu chuẩn, thực hiện nhiệm vụ của đảng viên, cấp uỷ viên. Trường hợp đảng viên có dấu hiệu vi phạm là cán bộ thuộc diện cấp uỷ cấp trên quản lý thì uỷ ban kiểm tra cấp cơ sở báo cáo lên uỷ ban kiểm tra cấp quản lý để chỉ đạo, tiến hành (hoặc do uỷ ban kiểm tra cấp trên chủ trì có sự phối hợp với đảng uỷ, chi uỷ và UBKT đảng uỷ cơ sở). Khi phát hiện dấu hiệu vi phạm ở nội dung nào thì kiểm tra và kết luận ở nội dung đó.

Kiểm tra tổ chức đảng cấp dưới thực hiện nhiệm vụ kiểm tra và thi hành kỷ luật trong đảng. Đánh giá ưu, khuyết điểm về công tác kiểm tra, giúp cho tổ chức đảng cấp dưới thực hiện đúng nhiệm vụ, quyền hạn kiểm tra và thi hành kỷ luật của Đảng. Nội dung kiểm tra gồm: Kiểm tra việc thực hiện phương hướng, phương châm, nguyên tắc, thủ tục kiểm tra và thi hành kỷ luật trong phạm vi, quyền hạn quy định; kiểm tra việc khiếu nại kỷ luật đảng; kiểm tra việc chấp hành các quyết định, thông báo, chỉ thị của tổ chức đảng cấp trên về việc kiểm tra và thi hành kỷ luật; xem xét mức độ thi hành kỷ luật của tổ chức đảng đúng hay chưa đúng.

- Về giải quyết tố cáo đối với tổ chức đảng và đảng viên.

Tố cáo trong Đảng là việc làm của công dân, đảng viên báo cáo cho tổ chức đảng hoặc cán bộ, đảng viên có trách nhiệm biết về hành của tổ chức đảng hoặc đảng viên mà người tố cáo cho lá sai trái, vi phạm Điều lệ Đảng, nghị quyết, chỉ thị, quy định, quy chế của Đảng và chính sách pháp luật của Nhà nước, xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của công dân. Tổ chức Đảng có thẩm quyền giải quyết tố cáo bao gồm cấp uỷ hoặc ban thường vụ cấp uỷ và uỷ ban kỉêm tra các cấp, có nhiệm vụ giải quyết tố cáo đối với tổ chức đảng và đảng viên thuộc phạm vi quản lý của cấp uỷ cấp mình.

Uỷ ban kiểm tra đảng uỷ cơ sở có nhiệm vụ giải quyết những tố cáo đối với tổ chức đảng và đảng viên thuộc phạm vi quản lý của đảng uỷ cơ sở, có nội dung liên quan đến chấp hành Điều lệ Đảng, đường lối, nghị quyết, nguyên tắc tổ chức và sinh hoạt đảng; liên quan đến tiêu chuẩn đảng viên, cấp uỷ viên và việc thực hiện nhiệm vụ đảng viên. Những tố cáo có nội dung liên quan đến pháp luật, kinh tế…vẫn xem xét giải quyết. Những trường hợp tố cáo mà uỷ ban kiểm tra không đủ khả năng, điều kiện xem xét, kết luận thì báo cáo với cấp uỷ, để cấp uỷ chỉ đạo, phối hợp với các tổ chức, cơ quan quản lý nhà nước, cơ quan bảo vệ pháp luật xem xét kết luận và giải quyết.

Những tố cáo về nghi vấn hoạt động chính trị phản động, về lịch sử chính trị thì chuyển cho các cơ quan chức năng có thẩm quyền giải quyết.

Không xem xét, giải quyết những tố cáo giấu tên, mạo tên, không rõ địa chỉ và những tố cáo có tên đã được cấp có thẩm quyền do Điều lệ Đảng quy định xem xét, kết luận, nay tố cáo lại nhưng không có thêm tài liệu, chứng cứ mới; những tố cáo có tên nhưng nội dung không cụ thể, không có căn cứ để thẩm tra xác minh; những thư tố cáo sao chụp chữ ký mà không ký trực tiếp cũng không xem xét, giải quyết.

Tổ chức đảng và đảng viên bị tố cáo, khi được kiểm tra phải báo cáo trung thực, rõ ràng, đầy đủ, kịp thời với tổ chức đảng có thẩm quyền; được đưa ra những bằng chứng xác thực để chứng minh nội dung tố cáo không đúng.

Cần đảm bảo bí mật cho người tố cáo, không để cho tổ chức đảng và đảng viên bị tố cáo chủ trì, giải quyết việc tố cáo đối với mình. Uỷ ban kiểm tra (cấp giải quyết tố cáo) phải kiên quyết xử lý hoặc đề nghị với cấp có thẩm quyền của Đảng và Nhà nước cũng như các cơ quan chức năng bảo vệ pháp luật nghiêm trị mọi hành động trù dập, trả thù người tố cáo, gây cản trở, không giải quyết tố cáo, bao che cho người bị tố cáo, hoặc lợi dụng tố cáo để xuyên tạc sự thật, vu cáo, đả kích, gây dư luận xấu đối với người khác.

Giải quyết tố cáo là nhiệm vụ thường xuyên và trực tiếp của uỷ ban kiểm tra. Tiến hành tốt công tác này, vừa giúp cho tổ chức đảng và đảng viên bị tố cáo nhận thức rõ sai lầm, khuyết điểm để ngăn ngừa, sửa chữa hoặc thanh minh, bảo vệ cho tổ chức đảng và đảng viên bị tố cáo sai, bị vu cáo…, vừa bảo đảm quyền dân chủ của đảng viên và quần chúng trong công tác xây dựng đảng, vừa tăng cường sự đoàn kết nhất trí về chính trị và tư tưởng trong nhân dân.

- Giải quyết khiếu nại kỷ luật trong Đảng

Khiếu nại kỷ luật trong Đảng là quyền của tổ chức đảng và đảng viên bị thi hành kỷ luật. Cấp ủy hoặc ban thường vụ cấp ủy và ủy ban kiểm tra các cấp có nhiệm vụ giải quyết khiếu nại kỷ luật trong Đảng. Ban thường vụ, ủy ban kiểm tra của đảng ủy cơ sở và đảng ủy bộ phận có trách nhiệm xem xét khiếu nại về kỷ luật của đảng viên do chi bộ quyết định, nhưng không có quyền chuẩn y, thay đổi hoặc xóa bỏ hình thức kỷ luật mà phải đề nghị đảng ủy cơ sở xem xét, quyết định. Việc giải quyết khiếu nại của tổ chức đảng và đảng viên phải tiến hành tuần tự từ ủy ban kiểm tra hoặc cấp ủy cấp trên trực tiếp của tổ chức đảng đã quyết định thi hành kỷ luật. Sau khi được giải quyết, nếu đảng viên hoặc tổ chức đảng bị thi hành kỷ luật không đồng ý, có khiếu nại tiếp thì cấp trên nữa mới giải quyết, lần lượt cho đến Ban Chấp hành Trung ương.

Khi nhận được khiếu nại kỷ luật, cấp ủy hoặc ủy ban kiểm tra phải thông báo cho tổ chức đảng hoặc người khiếu nại biết. Phải lắng nghe ý kiến trình bày của người khiếu nại, nghiên cứu nghiêm túc hồ sơ và các tài liệu có liên quan, xác định vấn đề thẩm tra, xem xét, giải quyết. Kể từ ngày nhận được khiếu nại trong thời hạn 90 ngày đối với cấp tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và tương đương trở xuống, 180 ngày đối với cấp Trung ương, cấp ủy hoặc ủy ban kiểm tra phải xem xét giải quyết, trả lời cho tổ chức đảng hoặc người khiếu nại biết.

Không giải quyết những trường hợp khiếu nại sau đây: quá thời hạn 30 ngày kể từ ngày tổ chức đảng, đảng viên nhận được quyết định kỷ luật; đã được cấp có thẩm quyền cao nhất xem xét, kết luận mà không có chứng cứ mới; bị tòa án quyết định hình phạt từ cảnh cáo trở lên chưa được cơ quan pháp luật có thẩm quyền hủy bỏ bản án; cá nhân, tập thể và tổ chức đảng khiếu nại hộ cho tổ chức và người bị thi hành kỷ luật; khiếu nại khi chưa có quyết định kỷ luật của tổ chức đảng có thẩm quyền.

Trường hợp người bị thi hành kỷ luật có khiếu nại chưa được giải quyết mà đã qua đời thì tổ chức đảng vẫn xem xét, giải quyết.

c. Một số vấn đề cần nắm vững trong công tác kiểm tra

Một là, nắm vững tư tưởng chỉ đạo: chủ động, chiến đấu, giáo dục, hiệu quả.

Phải thường xuyên chủ động nắm vững tình hình thực hiện nhiệm vụ chính trị và công tác xây dựng Đảng cơ sở. Từ đó, có chương trình, kế hoạch kiểm tra và tiến hành thực hiện theo chương trình, kế hoạch đã đề ra.

Khi tổ chức đảng và đảng viên có dấu hiệu vi phạm hoặc đã vi phạm, đã mắc sai lầm, khuyết điểm, tổ chức đảng, các cơ quan có trách nhiệm trong công tác kiểm tra và mọi đảng viên phải nêu cao tính chiến đấu, đấu tranh tìm ra sự thật, làm rõ đúng sai, làm rõ tính chất, mức độ tác hại, nguyên nhân vi phạm…, để đi đến kết luận đúng đắn. Qua mỗi vụ việc kiểm tra, kỷ luật cần rút ra những bài học về giáo dục, quản lý và rèn luyện cán bộ, đảng viên, nâng cao chất lượng công tác kiểm tra, góp phần thực hiện tốt công tác xây dựng Đảng.

Hai là, nắm vững phương pháp cơ bản của công tác kiểm tra.

Kiểm tra là một nội dung của công tác đảng, là sinh hoạt nội bộ Đảng. Do đó, tiến hành công tác kiểm tra phải giữ vững nguyên tắc lãnh đạo và sinh hoạt đảng đúng tính chất công tác đảng. Vì vậy, phương pháp tiến hành công tác kiểm tra là:

- Phải dựa vào tổ chức và chính tổ chức đảng phải có trách nhiệm tiến hành công tác kiểm tra. Phát huy tinh thần tự giác của đảng viên và tổ chức đảng; động viên, giúp đỡ người vi phạm thành khẩn nhận thức đúng sai lầm, khuyết điểm, thiếu sót để khắc phục, sửa chữa.

- Phát huy tinh thần xây dựng Đảng của nhân dân, để nhân dân chủ động và tích cực đóng gáp ý kiến cho tổ chức đảng và đảng viên. Việc lấy ý kiến của nhân dân góp ý cần được lãnh đạo, tổ chức chặt chẽ, chu đáo bằng nhiều hình thức, phương pháp phù hợp để đem lại kết quả.

- Phải thận trọng, chu đáo trong việc xác minh, thẩm tra. Chưa thẩm tra, xác minh thì chưa kết luận.

Ba là, nắm vững và thực hiện tốt các hình thức kiểm tra.

- Kiểm tra thường xuyên.

Hoạt động của tổ chức đảng và đảng viên trên các lĩnh vực diễn ra thường xuyên, do đó công tác kiểm tra cũng phải được tiến hành thường xuyên, gắn chặt với các hoạt động ấy. Kiểm tra thường xuyên được thực hiện thông qua các hoạt động: thực hiện nhiệm vụ chính trị và công tác xây dựng đảng ở cơ sở; thực hiện nghị quyết, chỉ thị của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; sinh hoạt thường kỳ ở chi bộ mà kiểm điểm công tác lãnh đạo, tự phê bình và phê bình; phân tích chất lượng đảng viên; sơ kết, tổng kết; thông báo của tổ chức đảng cấp trên để đánh giá đúng ưu điểm, khuyết điểm, mặt mạnh, mặt yếu của tổ chức đảng và đảng viên. Muốn vậy, cấp ủy, ủy ban kiểm tra phải thường xuyên sinh hoạt, tham dự sinh hoạt đảng, tham dự các buổi sinh hoạt của đoàn thể nhân dân để nắm tình hình hoạt động của các đoàn thể và tình hình hoạt động của tổ chức đảng, đảng viên, qua đó mà phát hiện vấn đề cần xem xét, giải quyết.

- Kiểm tra định kỳ.

Kiểm tra định kỳ là hình thức kiểm tra mà các tổ chức đảng xác định rõ kế hoạch, thời gian, nội dung cụ thể và tạo điều kiện để tiến hành. Tùy theo đặc điểm, yêu cầu thực hiện nhiệm vụ chính trị và công tác xây dựng Đảng mà xác định nội dung, thời gian định kỳ kiểm tra cho phù hợp. Nội dung kiểm tra định kỳ có thể là kiểm tra toàn diện, nhưng cũng có thể chỉ đi sâu một số nội dung cần thiết, có tính chất chuyên đề như: kiểm tra việc chấp hành nguyên tắc tập trung dân chủ trong việc ra nghị quyết và thực hiện nghị quyết; kiểm tra việc tự phê bình, phê bình …

- Kiểm tra đột xuất, bất thường.

Hình thức này được áp dụng khi có sự việc đột xuất xảy ra; khi có đơn thư tố cáo, khiếu nại của đảng viên và quần chúng. Đối tượng kiểm tra thường ít, nội dung tập trung vào một số vấn đề nhất định, yêu cầu cần được xem xét và kết luận nhanh chóng. Vì vậy, khi tiến hành kiểm tra bất thường phải lên kế hoạch chu đáo, tỉ mỉ, xác định rõ mục đích, yêu cầu, đối tượng, nội dung và hình thức kiểm ta; bố trí lực lượng tham gia, định thời gian kiểm tra, kết luận cụ thể,chính xác.

II. MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ KHEN THƯỞNG VÀ KỶ LUẬT CỦA ĐẢNG

1. Về khen thưởng

Điều 34 Điều lệ Đảng Cộng sản Việt Nam quy định: “Tổ chức đảng và đảng viên có thành tích được khen thưởng theo quy định của Ban Chấp hành Trung ương”. Việc khen thưởng đối với tổ chức đảng và đảng viên được quy định như sau:

a. Hình thức khen thưởng trong Đảng

- Đối với tổ chức đảng: biểu dương, tặng giấy khen, bằng khen, tặng cờ, tặng thưởng huân chương, huy chương và các danh hiệu vinh dự khác của Đảng và Nhà nước.

- Đối với đảng viên: biểu dương, tặng giấy khen, bằng khen, Huy hiệu Đảng 30 năm, 40 năm, 50 năm, 60 năm, 70 năm, 80 năm tuổi đảng, tặng thưởng huân chương, huy chương và các danh hiệu vinh dự khác của Đảng và Nhà nước.

b. Thẩm quyền khen thưởng

- Chi bộ: biểu dương tổ đảng và đảng viên trong chi bộ.

- Đảng ủy bộ phận: biểu dương tổ chức đảng và đảng viên trong đảng bộ.

- Đảng ủy cơ sở: quyết định công nhận chi bộ trong sạch, vững mạnh, biểu dương, khen thưởng, tặng giấy khen cho tổ chức đảng và đảng viên trong đảng bộ.

- Huyện ủy (và tương đương): quyết định công nhận tổ chức cơ sở đảng trong sạch, vững mạnh, tặng giấy khen cho tổ chức đảng và đảng viên trong đảng bộ.

- Tỉnh ủy (và tương đương): quyết định tặng bằng khen, tặng cờ cho tổ chức đảng, tặng Huy hiệu Đảng 30 năm, 40 năm, 50 năm, 60 năm, 70 năm, 80 năm tuổi đảng, bằng khen cho đảng viên trong đảng bộ.

- Việc tặng thưởng huân chương, huy chương và các danh hiệu cao quý khác cho tổ chức đảng và đảng viên thực hiện theo quy định của Bộ Chính trị, Ban Bí thư và pháp luật về khen thưởng.

c. Tiêu chuẩn, đối tượng tặng Huy hiệu Đảng.

Những đảng viên hoạt động cách mạng lâu năm, giữ gìn được tư cách đảng viên, có đủ 30 năm, 40 năm, 50 năm, 60 năm, 70 năm, 80 năm tuổi đảng trở lên thì được tặng Huy hiệu Đảng. Đảng viên đã từ trần, nếu thời gian tham gia sinh hoạt đảng có đủ tuổi đảng như nêu trên thì được tuy tặng Huy hiệu Đảng. Tại thời điểm xét tặng Huy hiệu Đảng, đảng viên bị kỷ luật về Đảng từ hình thức cảnh cáo trở lên thì chưa được xét tặng; sau sáu tháng (đối với kỷ luật cảnh cáo), một năm (đối với kỷ luật cách chức), nếu sửa chữa tốt khuyết điểm sẽ được xét tặng Huy hiệu Đảng. Đảng viên bị bệnh nặng có thể được xét tặng Huy hiệu Đảng sớm, nhưng thời gian xét tặng không được quá một năm so với thời gian quy định.

- Việc tặng giấy khen, bằng khen, tặng cờ đối với tổ chức đảng, tặng giấy khen, bằng khen đối với đảng viên và thủ tục xét tặng Huy hiệu Đảng, các hình thức khen thưởng khác ở trong Đảng thực hiện theo hướng dẫn của Ban Tổ chức Trung ương.

- Chi bộ bình chọn và đề nghị đảng ủy cơ sở khen thưởng đối với đảng viên có thành tích hằng năm. Cấp ủy cấp trên cơ sở (huyện ủy, quận ủy, tỉnh ủy, thành ủy…) xem xét, quyết định khen thưởng những đảng viên có thành tích đặc biệt xuất sắc theo định kỳ hoặc bất thường theo đề nghị của cấp ủy cơ sở.

d. Giá trị tặng phẩm kèm theo các hình thức khen thưởng của Đảng.

- Tặng phẩm kèm theo các hình thức khen thưởng huân, huy chương và các danh hiệu cao quý khác, thực hiện theo quy định chung của Nhà nước.

- Tặng phẩm kèm theo đối với các đảng viên được tặng Huy hiệu Đảng và các hình thức khen thưởng khác trong Đảng được quy định thống nhất và nguồn kinh phí được trích từ quỹ khen thưởng chung của các địa phương và ngành hoặc một phần từ tài chính Đảng.

2. Về kỷ luật

a. Mục đích kỷ luật của Đảng

Thi hành kỷ luật đối với tổ chức đảng và đảng viên nhằm giữ vững sự đoàn kết trong Đảng, tăng cường sự thống nhất ý chí và hành động, tăng cường sức chiến đấu của Đảng, làm cho Đảng luôn trong sạch, vững mạnh. Nếu kỷ luật của Đảng không nghiêm thì chủ trương, đường lối của Đảng bị chấp hành sai lệch, tổ chức đảng lỏng lẻo, vai trò lãnh đạo bị giảm sút, tổ chức đảng sẽ suy yếu. Vì vậy, những biểu hiện coi thường, xem nhẹ kỷ luật của Đảng cũng như mọi hành vi vi phạm kỷ luật, dù nhỏ cũng làm suy giảm sức chiến đấu và vai trò lãnh đạo của Đảng.

b. Đối tượng xử lý kỷ luật

Cùng với việc khen thưởng tổ chức đảng và đảng viên có thành tích, Điều lệ Đảng cũng quy định các hình thức kỷ luật đối với tổ chức đảng và đảng viên vi phạm kỷ luật phải xử lý. Trong tình hình hiện nay, cần tập trung xử lý nghiêm những vi phạm sau:

- Lợi dụng dân chủ để tuyên truyền chống đảng; cố ý nói, viết và làm trái Cương lĩnh chính trị, Điều lệ Đảng; vô tổ chức, vô kỷ luật, không chấp hành nghị quyết, chỉ thị của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước.

- Vi phạm nguyên tắc tổ chức và sinh hoạt đảng, trước hết là nguyên tắc tập trung dân chủ; cơ hội, kèn cựa, địa vị, độc đoán, chuyên quyền, lợi dụng dân chủ để kéo bè, kéo cánh gây mất đoàn kết nội bộ.

- Những hành vi tham nhũng, buôn lậu của cán bộ, đảng viên ở bất kỳ cấp nào, lĩnh vực nào.

- Quan liêu, thiếu trách nhiệm, buông lỏng quản lý để địa phương, đơn vị mình trực tiếp phụ trách xảy ra tham nhũng, lãng phí, mất đoàn kết và các tiêu cực khác, gây hậu quả nghiêm trọng. Bản thân gây thiệt hại về kinh tế phải bồi hoàn nhưng cố ý không bồi hoàn.

- Suy thoái về phẩm chất đạo đức, lối sống: nghiện ma túy; nghiện rượu, bia đến mức bê tha; tổ chức, tham gia các hoạt động không lành mạnh, bất chính, hành nghề mê tín dị đoan, tham gia tà đạo ….

Đảng viên ở bất kỳ cương vị nào, nếu vi phạm một trong những nội dung trên đều phải xử lý kỷ luật nghiêm minh. Đối với những vi phạm khác nếu đến mức phải xử lý kỷ luật, cũng phải xem xét, thi hành kỷ luật kịp thời để hạn chế và phòng ngừa vi phạm.

c. Tính chất kỷ luật của Đảng – nghiêm túc và tự giác

- Nghiêm túc là mọi tổ chức đảng và đảng viên phải chấp hành vô điều kiện kỷ luật của Đảng, Cương lĩnh, Điều lệ Đảng, nghị quyết, chỉ thị và các nguyên tắc tổ chức và sinh hoạt của Đảng. Đảng không giảm bớt yêu cầu có tính nguyên tắc đó đối với bất cứ ai; không để cho ai có đặc quyền, đặc lợi và không cho phép ai coi là ngoại lệ.

- Tự giác là đặc trưng cơ bản của kỷ luật trong Đảng. Mọi tổ chức đảng và đảng viên trong bất cứ điều kiện, hoàn cảnh nào cũng đều phải tự giác chấp hành kỷ luật của Đảng.

Tính tự giác và nghiêm túc là sự thống nhất biện chứng giữa hai mặt tập trung dân chủ, bắt buộc và tự giác. Sự thống nhất và kết hợp giữa nghiêm túc và tự giác bảo đảm cho kỷ luật của Đảng thực sự là kỷ luật sắt.

d. Phương châm thi hành kỷ luật

Điểm 1 Điều 35 Điều lệ Đảng quy định: “Tổ chức đảng và đảng viên vi phạm kỷ luật phải xử lý công minh, chính xác, kịp thời”.

Công minh: bất cứ tổ chức đảng và đảng viên nào, không phân biệt tổ chức đảng cấp trên hay cấp dưới, đảng viên có chức vụ cao hay thấp, tuổi đảng nhiều hay ít…, nếu vi phạm đến mức phải thi hành kỷ luật đều phải bị xử lý kỷ luật, không ai được ngoại lệ, không có khu vực cấm.

Chính xác: việc thi hành kỷ luật phải đúng đối tượng vi phạm, đúng nội dung, tính chất, mức độ tác hại và nguyên nhân vi phạm. Phải căn cứ vào các bằng chứng xác thực, phân biệt bản chất và hiện tượng, vi phạm do nhận thức không đúng hay cố ý làm trái; vi phạm nhất thời hay có hệ thống hoặc do những yếu tố khác…, để xử lý được chính xác.

Kịp thời: việc thi hành kỷ luật phải được xem xét và xử lý một cách khẩn trương, không để chậm trễ, kéo dài làm giảm hay mất tác dụng giáo dục của việc thi hành kỷ luật, ảnh hưởng đến việc thực hiện nhiệm vụ chính trị và công tác xây dựng Đảng.

đ. Các hình thức kỷ luật

Đối với tổ chức đảng, có ba hình thức kỷ luật: khiển trách, cảnh cáo và giải tán.

Đối với đảng viên chính thức có bốn hình thức kỷ luật: khiển trách, cảnh cáo, cách chức và khai trừ khỏi Đảng.

Đối với đảng viên dự bị: khiển trách, cảnh cáo. Nếu vi phạm đến mức nghiêm trọng, không đủ tư cách đảng viên thì xóa tên trong danh sách đảng viên dự bị (không thi hành kỷ luật bằng hình thức khai trừ)

e. Thẩm quyền thi hành kỷ luật của chi bộ, đảng ủy cơ sở

Thẩm quyền thi hành kỷ luật của chi bộ, đảng ủy cơ sở được quy định tại Mục 1 Điều 36 Điều lệ Đảng như sau:

“Chi bộ quyết định khiển trách cảnh cáo đảng viên trong chi bộ (kể cả cấp ủy viên các cấp, đảng viên thuộc diện cấp ủy cấp trên quản lý) vi phạm phẩm chất chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống, sinh hoạt đảng, thực hiện nhiệm vụ đảng viên (trừ nhiệm vụ do cấp trên giao).

Đảng ủy cơ sở quyết định khiển trách, cảnh cáo đảng viên trong đảng bộ, cách chức cấp ủy viên cấp dưới.

Đảng ủy cơ sở được ủy quyền quyết định kết nạp đảng viên thì có quyền quyết định khai trừ đảng viên, nhưng không phải là cấp ủy viên cùng cấp và đảng viên là cán bộ thuộc diện cấp ủy cấp trên quản lý”

Một số vấn đề cần chú ý:

- Đối với cấp ủy viên các cấp sinh hoạt tại chi bộ, từ ủy viên đảng ủy cơ sở cho đến ủy viên Ban Chấp hành Trung ương và cán bộ thuộc diện cấp ủy cấp trên quản lý, nếu vi phạm nhiệm vụ do cấp trên giao, phải áp dụng hình thức kỷ luật từ khiển trách trở lên thì chi bộ đề nghị lên cấp có thẩm quyền xem xét, quyết định.

- Quyết định kỷ luật hoặc đề nghị thi hành kỷ luật bằng các hình thức: khiển trách, cảnh cáo, cách chức đối với đảng viên phải được biểu quyết với sự đồng ý của trên một nửa số thành viên của tổ chức đảng (ở chi bộ là đảng viên chính thức)

- Trường hợp xóa tên đảng viên, khai trừ đảng viên thì phải được ít nhất hai phần ba số thành viên của tổ chức đảng nhất trí đề nghị và được cấp ủy cấp trên có thẩm quyền quyết định với sự nhất trí của trên một nửa số thành viên.

- Việc biểu quyết kỷ luật phải được thực hiện bằng phiếu kín. Trường hợp biểu quyết mà không đủ số phiếu cần thiết như quy định thì phải báo cáo đầy đủ kết quả bỏ phiếu lên cấp có thẩm quyền xem xét, quyết định. Quyết định của cấp có thẩm quyền phải được chấp hành nghiêm chỉnh.

3. Một số vấn đề về nguyên tắc, thủ tục thi hành kỷ luật ở chi bộ, đảng bộ cơ sở

a. Nguyên tắc thi hành kỷ luật

- Về quyết định thi hành kỷ luật:

Chỉ có các tổ chức đảng do Điều lệ Đảng quy định và Ban chấp hành Trung ương ủy quyền mới có thẩm quyền quyết định thi hành kỷ luật. Quyết định kỷ luật tổ chức đảng và đảng viên có hiệu lực ngay sau khi công bố; thời gian công bố chậm nhất không qua 15 ngày, kể từ ngày ký quyết định kỷ luật. Tổ chức đảng và đảng viên phải chấp hành nghiêm chỉnh mọi quyết định kỷ luật; nếu không đồng ý thì có quyền khiếu nại, nhưng trong khi chưa được giải quyết phải chấp hành nghiêm chỉnh kỷ luật đã được công bố.

Trường hợp chi bộ, đảng ủy không xử lý, hoặc xử lý không đúng mức đối với đảng viên vi phạm thì tổ chức đảng cấp trên quyết định các hình thức kỷ luật theo thẩm quyền, đồng thời xem xét trách nhiệm của chi bộ và đảng ủy.

Trường hợp đảng viên bị kỷ luật bằng hình thức cách chức, trong vòng một năm kể từ ngày có quyết định, không được bầu vào cấp ủy, không được bổ nhiệm vào các chức vụ tương đương và cao hơn. Đề nghị của tổ chức đảng cấp dưới về các hình thức kỷ luật cách chức, khai trừ ra khỏi Đảng, giải tán tổ chức đảng khi chưa được tổ chức có thẩm quyền quyết định công cố thì đảng viên đó vẫn được sinh hoạt đảng, tổ chức đảng đó vẫn được hoạt động.

Tổ chức đảng, đảng viên không đồng ý với quyết định kỷ luật thì trong vòng một tháng (01 tháng) kể từ ngày nhận được quyết định, có quyền khiếu nại với cấp ủy hoặc ủy ban kiểm tra cấp trên cho đến Ban Chấp hành Trung ương.

- Về việc giải quyết khiếu nại kỷ luật:

Khi nhận được khiếu nại kỷ luật, cấp ủy hoặc ủy ban kiểm tra phải thông báo cho tổ chức đảng hoặc người khiếu nại biết. Kể từ ngày nhận được khiếu nại, trong thời hạn 90 ngày đối với cấp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và tương đương trở xuống, 180 ngày đối với cấp Trung ương, cấp ủy hoặc ủy ban kiểm tra phải xem xét, giải quyết, trả lời cho tổ chức đảng hoặc người khiếu nại biết.

Nghiêm cấm các hành vi cản trở, dìm bỏ, không xem xét giải quyết khiếu nại kỷ luật đảng. Trường hợp hết thời hạn mà chưa giải quyết xong, cấp có thẩm quyền giải quyết phải thông báo cho đối tượng khiếu nại biết.

b. Thủ tục thi hành kỷ luật

Việc thi hành kỷ luật trong Đảng phải tuân theo những thủ tục chủ yếu sau đây:

- Đảng viên vi phạm kỷ luật phải kiểm điểm trước chi bộ, tự nhận hình thức kỷ luật. Nếu từ chối kiểm điểm hoặc tạm giam, chi bộ vẫn tiến hành xem xét kỷ luật. Đảng viên vi phạm là cấp uỷ viên, từ đảng uỷ viên cơ sở trở lên và cán bộ thuộc diện cấp uỷ cấp trên quản lý thì việc tổ chức kiểm điểm ở tổ chức đảng nào sẽ do cấp uỷ hoặc uỷ ban kiểm tra của cấp quản lý cán bộ đó quyết định.

- Trước khi quyết định kỷ luật, đại diện tổ chức đảng có thẩm quyền nghe đảng viên vi phạm trình bày ý kiến (nghe trực tiếp hoặc bằng văn bản). Trường hợp đảng viên hoặc tổ chức đảng vi phạm vì một lý do nào đó mà không thể trực tiếp trình bày ý kiến với tổ chức đảng có thẩm quyền, thì báo cáo bằng văn bản và chấp hành mọi quyết định của tổ chức đảng có thẩm quyền.

- Việc công bố quyết định phải kịp thời, chậm nhất không quá 15 ngày kể từ ngày ký, nếu quá hạn không công bố thì phải báo cáo ngay với cấp uỷ có thẩm quyền xem xét quyết định. Khi công bố quyết định kỷ luật phải lập biên bản và có chữ ký của người có trách nhiệm, chữ ký của đảng viên hoặc đại diện tổ chức đảng bị vi phạm kỷ luật.

Phải làm cho mọi đảng viên thấy rõ mục đích của việc kỷ luât, thông qua đó để rút ra những bài học kinh nghiệm về việc rèn luyện, tu dưỡng, giáo dục và quản lý đảng viên.

- Đảng viên vi phạm nghiêm trọng đến mức phải kỷ luật khai trừ, nhưng lại xin ra khỏi Đảng, thì phải thi hành kỷ luật khai trừ, không chấp nhận việc xin ra khỏi Đảng. Cấp uỷ viên vi phạm đến mức phải cách chức nhưng lại xin rút khỏi cấp uỷ, thì không chấp nhận việc xin rút khỏi cấp uỷ mà phải thi hành kỷ luật cách chức.

- Mọi hồ sơ liên quan đến việc thi hành kỷ luật phải được ghi chép cẩn thận, tỉ mỉ và lưu trữ lại, cấp nào ra quyết định kỷ luật thì cấp đó lưu trữ hồ sơ./.

CÂU HỎI THẢO LUẬN

1. Công tác kiểm tra, giám sát của chi bộ, đảng bộ cơ sở bao gồm những nội dung gì?

2. Tổ chức, nhiệm vụ, quyền hạn của ủy ban kiểm tra đảng ủy cơ sở như thế nào? Những vấn đề cần nắm vững trong công tác kiểm tra?

3. Phân tích phương châm thi hành kỷ luật của Đảng và liên hệ thực tế tại đơn vị đồng chí?



TÀI LIỆU TẬP HUẤN


PHẦN I. SỬ DỤNG WEB; EMAIL, TIN NHẮN VÀ MẬT KHẨU – MỐI ĐE DỌA – CÁCH BẢO VỆ.

1. SỬ DỤNG WEB

1.1. Khái quát

Ngày nay, thông tin đều được đưa lên môi trường mạng Internet cùng với các tiện ích khác chẳng hạn như việc truy cập, tra cứu các thông tin dữ liệu trên trang Website, các lại liệu nghiên cứu hoặc mua bán trực tuyến… Đó hầu như là một nhu cầu không thể thiếu trong hoạt động hằng ngày.

Bên cạnh đó, ngoài những điểm tiện lợi và nhanh chóng tìm hiểu được thông tin, môi trường Website cũng có mặt tương phản đối lập đó là những Website đen, Website lừa đảo, giả mạo các Website chính thống khác hoặc là những Website cung cấp các phần mềm độc hại với mục đích:

- Đánh cắp các dữ liệu cá nhân hoặc các thông tin quan trọng khác.

- Các quảng cáo được tự động “bung ra” làm khó chịu cho người dung.

- Tự động cài đặt các chương trình độc hại hoặc tự động tải các chương trình không cần thiết.

- Giả mạo, tung tin về các phần thưởng hấp dẫn để người dùng click vào đó.



Trong phần này cung cấp cho người sử dụng hiểu được các mối nguy hiểm từ việc sử dụng Website đồng thời cung cấp cách thức tự bảo vệ trước những mối đe dọa đó.

1.2. Các mối đe dọa

Ví dụ thực tế: Khi truy cập hộp thư điện tử của Gmail, sau khi nhập tài khoản và mật khẩu để đăng nhập xong và ấn Enter để tiếp tục. Mặc dù nhập đúng tài khoản và mật khẩu tuy nhiên trang Web lại báo mật khẩu sai và yêu cầu người dùng nhập lại. Người dùng đăng nhập lại một lần nữa thì vào được hộp thư điện tử. Vào lúc này, đôi khi người dùng không cảm thấy có vấn đề gì tuy nhiên có rất nhiều khả năng trong lần đăng nhập đầu tiên là một trang Web giả mạo với giao diện giống như của trang Web đăng nhập vào hộp thư điện tử Gmail; và tài khoản cùng với mật khẩu ở lần đăng nhập đầu tiên đã được gửi về một địa chỉ email hoặc một máy chủ nào đó. Đó là một ví dụ của việc sử dụng Website giả mạo để đánh cắp các thông tin cá nhân.



Ví dụ khác, đó là khi truy cập một Website thì có một cửa sổ thông điệp hiện ra với hai nút bấm là YES hoặc NO; lúc này có thể vô tình đã bấm YES hoặc NO thì sẽ tự động chuyển đến một Website và tải về một ứng dụng và cài đặt vào máy tính. Thông thường cửa sổ hiện ra thường là một chương trình diệt Virus và cảnh báo là có nhiều tập tin nguy hiểm và phần mềm tải về thường là một chương trình Antivirus giả mạo; lúc này máy tính sẽ nhiễm Virus và tự động tắt các tính năng có thể bảo vệ người dùng như tính năng tự động cập nhật của Windows, hệ thống tường lửa, không cài được phần mềm diệt Virus, khóa các tính tăng Task Manager và tự động bổ sung vào danh sách khởi động cùng với Windows.



Ví dụ khác nữa đó là các trang Web sẽ yêu cầu người dùng cài đặt các thành phần mở rộng để đảm bảo các tính năng khác của Website hoạt động tốt thông thường là các Video hoặc cập nhật nhanh tin tức từ Website. Trong trường hợp này, khi cài đặt các thành phần mở rộng này thì rất nhiều khả năng trình duyệt Web như Internet Explorer hoặc Firefox sẽ bị các quảng cáo bật ra liên tục hoặc tự điều chỉnh trang Web mặc định về trang Web đó; hoặc là sẽ có những kết nối ngầm tới một số trang Web khác.

1.3. Cách tự bảo vệ

Một số cách thức được cung cấp dưới đây có thể giúp người sử dụng hạn chế các mối nguy hiểm đe dọa được liệt kê ở trên đó là:

- Cài đặt và sử dụng các chương trình đánh giá mức độ an toàn của trang Web như Site-adivisor,…

- Cập nhật phiên bản mới nhất của trình duyệt cùng các thành phần mở rộng, plug-in thông dụng như Adobe flash, Silverlight…

- Thay đổi mật khẩu theo định kỳ và sử dụng các mật khẩu mạnh.

- Luôn kiểm tra và đảm bảo có chữ “https” trên thanh địa chỉ khi sử dụng các giao dịch trực tuyến chẳng hạn như chuyển khoản ngân hàng, mua bán trên các trang thương mại điện tử.

- Cài đặt chương trình diệt Virus (Antivirus) và cập nhật thường xuyên; việc này sẽ hạn chế được các chương trình có mã độc hại cài đặt trên máy tính.

- Đảm bảo tính năng tường lửa được bật trên máy tính hoặc sử dụng phần mềm tường lửa của hang thứ ba hoặc tường lửa được tích hợp sẵn trong chương trình diệt Virus.

Ngoài ra, một số điểm cần lưu ý them khi sử dụng trình duyệt:

- Hạn chế tối đa hoặc không sử dụng tính năng nhớ mật khẩu “Remember password”.

- Luôn sử dụng tính năng “Riêng tư” (Private) của trình duyệt khi không sử dụng trên các thiết bị của mình.

- Luôn xóa các tập tin được tải về khi sử dụng máy của người khác.


2. SỬ DỤNG THƯ ĐIỆN TỬ EMAIL VÀ TIN NHẮN

2.1. Khái quát

Thư điện tử (email) và các hình thức tin nhắn tức thời (Instant Message) được sử dụng khá rộng rã trong hoạt động doanh nghiệp và cá nhân. Nó giảm thiểu thời gian chờ trong hoạt động công việc đồng thời tạo các kênh trao đổi thông tin để đảm bảo rằng thông tin được chính xác đầy đủ, cũng như trao đổi một cách thuận tiện hơn.

Các vấn đề phát sinh từ thư điện tử hoặc các tin nhắn tức thời cũng có một số các mối nguy hiểm, đe dọa đối với người dùng đó là:

- Phát tán các dạng Virus hoặc các liên kết dẫn đến các trang Web có mã độc.

- Các thông tin không mong muốn gửi ra ngoài.

- Các thông tin mạo danh, giả mạo người gửi có mục đích.

- Các vấn đề gửi “rác”(spam) hoặc các thư quảng cáo không mong muốn.

2.2. Các mối đe dọa


Khi người dùng kiểm tra thư điện tử trong đó có một email với nội dung “Cac hien tuong ky la trong thien nhien” và đính kèm trong đó là một đường liên kết hoặc một tập tin đính kèm nào đó (có thể ở dạng powerpoint). Khi người sử dụng ấn vào đường link hoặc mở tập tin đính kèm thì mã độc sẽ được thực thi trên máy người dùng. Lúc này có nội dung của thư điện tử này được tự động chuyển tiếp cho tất cả các đối tác (Contact List) trong danh sách của người dùng.

2.3. Cách tự bảo vệ

Một số phương pháp được khuyến nghị để bảo vệ người sử dụng trước các mối đe dọa nguy hiểm từ việc sử dụng thư điện tử và tin nhắn tức thời:

- Luôn quét các tập tin đính kèm với chương trình diệt Virus được cập nhật mới nhất.

- Không mở các tập tin đính kèm ở dạng hình ảnh nếu không chắc chắn nguồn gửi và đặc biệt chú ý trong khoảng thời gian những ngày lễ hoặc những dịp đặc biệt.

- Không ấn trực tiếp vào các liên kết trong thư điện tử hoặc trong các chương trình nhắn tin tức thời (Yahoo Messenger, Skype…)



- Cài đặt và sử dụng các chương trình đánh giá độ tin cậy của Website như Site-Advisor.

- Luôn kiểm tra lại nguồn gốc thông tin (xác minh người gửi) để xử lý thông tin một cách chính xác.

- Kiểm tra định kỳ phần tùy chọn của hộp thư đặc biệt là thông số chuyển tiếp thư (forward option).

- Luôn sử dụng mật khẩu mạnh và thường xuyên thay đổi mật khẩu; và không sử dụng một mật khẩu cho tất cả các dịch vụ (thư điện tử, mạng xã hội….)

Một số các điểm cần lưu ý thêm:

- Yêu cầu người quản trị hệ thống máy chủ thư điện tử không cho đính kèm các tập tin có phần mở rộng ở dạng thực thi, các thành phần mở rộng là các tập tin dạng Screen saver…

- Tuyệt đối không cung cấp tài khoản và mật khẩu cho bất kỳ ai kể cả người quản trị hoặc các dịch vụ sử dụng bên ngoài khác.

- Thông báo các trường hợp thư điện tử nghi ngờ là thư “rác” hoặc quảng cáo cho người quản trị.

- Luôn kiểm tra thông tin người gửi bằng cách xem thông tin chi tiết – tránh trường hợp giả mạo người gửi.

- Hạn chế kiểm tra thư điện tử ở nơi công cộng – nếu là trường hợp bất khả kháng phải sử dụng mạng riêng ảo trước khi kiểm tra thư điện tử.


3. MẬT KHẨU

3.1. Khái quát

Mật khẩu là một trong những phương thức xác thực được sử dụng phổ biến nhất trong hệ thống thông tin. Mật khẩu là một chuỗi bao gồm các ký tự, số và những ký tự đặc biệt (@, #, !, …) kết hợp lại với nhau và do người dùng tự đặt. Thông thường mật khẩu được sử dụng cho xác thực người dùng hoặc cũng có thể để bảo vệ một tập tin quan trọng nào đó.



Mật khẩu mạnh là mật khẩu bao gồm:

- Có ít nhất 8 ký tự trở lên.

- Bao gồm các ký tự, số và những ký tự đặc biệt.

- Không có quy tắc và không sử dụng lại trong vòng 3 – 5 lần thay đổi.

Mật khẩu yếu là mật khẩu gồm:

- Ít hơn 8 ký tự.

- Chỉ bao gồm các ký tự hoặc số.

- Được sử dụng nhiều hoặc có trong các từ điển.

Mật khẩu là một chốt chặn cho việc xác thực người dùng, nếu người dùng mất mật khẩu trong đại đa số các trường hợp là mất luôn định dạng. Việc này rất nguy hiểm trong một số các trường hợp cụ thể.


3.2. Các mối đe dọa

Các công cụ đoán mật khẩu hoặc bẻ các mật khẩu – đặc biệt là các công cụ được viết cho bộ Office của Microsoft – việc này có thể dễ dàng bẻ các mật khẩu hoặc vượt qua các mật khẩu được thiết lập để bảo vệ tập tin quan trọng và dẫn đến khả năng rò rỉ thông tin.



Một số các chương trình được cài đặt để thu thập các mật khẩu chẳng hạn như các chương trình ghi lại các ký tự bàn phím (key-logger) hoặc các chương trình bắt mật khẩu trên hệ thống mạng.

Một khi bị mất mật khẩu, có thể người dùng sẽ bị lợi dụng để gửi các thông điệp có nội dung không chính xác hoặc gây mâu thuẫn, kích động và những việc đó hoàn toàn khó có thể điều tra một cách rõ rang.

3.3. Các biện pháp tự bảo vệ

Do tính quan trọng của mật khẩu, một số các biện pháp sau đây được khuyến nghị để đảm bảo việc sử dụng mật khẩu là phù hợp và an toàn:

- Không chia sẽ mật khẩu với người khác trong bất kỳ trường hợp nào.

- Không ghi lại mật khẩu và để ở những nơi dễ thấy.

- Không sử dụng các mật khẩu yếu hoặc các mật khẩu dễ đoán như ngày tháng năm sinh, số điện thoại, tên vật nuôi….

- Đổi mật khẩu định kỳ khoảng 2 -3 tháng/lần và không sử dụng lại 3-5 mật khẩu gần nhất.

- Luôn sử dụng các chương trình/ứng dụng hỗ trợ các phương thức xác thực mạnh và tích hợp khả năng mã hóa mật khẩu.

- Luôn sử dụng các phương tiện kết nối an toàn khi làm việc ở bên ngoài chẳng hạn như VPN hoặc chương trình tương tự.

Một số các vấn đề lưu ý khác:

- Hạn chế sử dụng cùng một mật khẩu cho tất cả các tài khoản.

- Sử dụng các dịch vụ có hỗ trợ xác thực hai lần chẳng hạn như Gmail, Yahoo…

- Không sử dụng tính năng lưu mật khẩu mặc định của trình duyệt nếu không có mật khẩu bảo vệ.


PHẦN II. SỬ DỤNG MỤC “KẾT NỐI TCCS ĐẢNG” TRÊN WEBSITE ĐẢNG BỘ KHỐI CÁC CƠ QUAN TỈNH.

1. Vị trí

Mục “kết nối TCCS đảng” nằm ở khoảng giữa bên mép trái Website Đảng bộ Khối các cơ quan tỉnh.



2. Sử dụng

a. Nhận văn bản từ Đảng ủy Khối CCQ tỉnh thực hiện theo các bước sau:

Bước 1. Kích chuột trái vào biểu tượng “Kết nối TCCS đảng”;


Bước 2. Đăng nhập tên và mật khẩu đã được Đảng ủy Khối cung cấp;



Bước 3. Kích chuột trái vào mục “Văn bản đến”


Bước 4. Kích chuột trái vào tên văn bản muốn tải về



b. Gửi văn bản tới Đảng ủy Khối CCQ tỉnh thực hiện theo các bước sau:

Bước 1, Bước 2 giống phần “a”;

Bước 3. Kích chuột trái vào mục “Văn bản đi”



Bước 4. Kích chuột trái vào mục “chọn tệp” và chọn văn bản muốn gửi tới Đảng ủy Khối CCQ tỉnh (trong trường hợp muốn gửi cùng lúc nhiều văn bản các TCCS đảng sử dụng phần mềm Winrar có hình “ ” để nén và gồm văn bản)


Bước 5. Kích chuột trái vào mục “Upload”



Văn bản sẽ được chuyển tới Đảng ủy Khối CCQ ngay sau khi ấn Upload.


PHẦN III. ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TRONG THỰC HIỆN CCHC TẠI TCCS ĐẢNG

Qua chỉ đạo thực hiện thí điểm tại 2 TCCS đảng: Đảng bộ cơ sở Sở Nội vụ và Chi bộ cơ sở Văn phòng Đảng ủy Khối. Giới thiệu kết quả thực hiện như sau:

1. Chi bộ cơ sở Văn phòng Đảng ủy Khối

- Xây dựng phần mềm gửi, nhận văn bản nội bộ chi bộ. Cụ thể như sau:

Bước 1. Công văn đến Văn thư tiếp nhận, đính tệp vào phần mềm đồng thời trình Bí thư Chi bộ xử lý.

Bước 2. Bí thư Chi bộ phân công các Ban trên tệp công văn Văn gửi lên; xong chuyển lại bộ phận Văn thư.

Bước 3. Văn thư chuyển công văn xử lý cho cấp ủy Chi bộ tham mưu (những văn bản thường bộ phận tham mưu hoàn thành từ 5 đến 7 ngày còn những văn bản thực hiện dài ngày thì Bí thư Chi bộ sẽ định ngày hoàn thành vào tệp văn bản)

Bước 4. Bộ phận tham mưu xử lý xong chuyển Văn thư hoàn thành vào phần mềm. Nếu quá ngày chưa chuyển hoàn thành hệ thống trên phần mềm sẽ báo đỏ văn bản đó.

2. Đảng bộ cơ sở Sở Nội vụ

- Sử dụng phần mềm Eoffice quản lý Công văn đi, đến.

- Xây dựng hệ thống bộ thủ tục trên cơ sở cụ thể hóa các quy trình và biểu mẫu của Đảng ủy Khối các cơ quan tỉnh.

+ Công tác đánh giá, xếp loại tổ chức cơ sở Đảng và đảng viên;

+ Công tác kiểm tra, giám sát;

+ Công tác thông tin – báo cáo;

+ Công tác tuyên giáo;

+ Quy trình – thủ tục công nhận đảng viên chính thức;

+ Quy trình – thủ tục kết nạp Đảng.





CHUYÊN ĐỀ 1

CÔNG TÁC KIỂM TRA, GIÁM SÁT CỦA ĐẢNG

-----------

I- MỤC ĐÍCH:

- Nâng cao nhận thức của học viên về vai trò, vị trí, nhiệm vụ, trách nhiệm, quyền hạn về công tác kiểm tra, giám sát của Đảng.

- Giúp cho học viên hiểu rõ mục đích, ý nghĩa của việc kiểm tra, giám sát là một trong những nhiệm vụ do Điều lệ Đảng quy định cho cấp ủy và uỷ ban kiểm tra các cấp.

- Trang bị cho học viên những kiến thức cơ bản để dựa vào đó mà tiến hành thực hiện tốt nhiệm vụ kiểm tra, giám sát.

II- YÊU CẦU:

- Học viên nắm vững và vận dụng đúng tư tưởng chỉ đạo, phương pháp cơ bản tiến hành công tác kiểm tra, giám sát của Đảng trong việc thực hiện nhiệm vụ kiểm tra, giám sát tổ chức đảng cấp dưới thực hiện nhiệm vụ kiểm tra để vận dụng có hiệu quả ở địa phương, đơn vị mình.

III- PHẠM VI:

Bài giảng chỉ đề cập những căn cứ chính, dựa vào đó để tiến hành công tác kiểm tra, giám sát.

IV- PHƯƠNG PHÁP:

Hệ thống hóa lý luận, kết hợp với liên hệ thực tế để nâng cao nhận thức và vận dụng thực tế công tác.

Tổ chức đảng ở cơ sở (bao gồm đảng bộ cơ sở, chi bộ cơ sở, chi bộ trong đảng bộ cơ sở và đảng bộ bộ phận) là nền tảng của Đảng, là hạt nhân chính trị ở cơ sở, có vị trí đặc biệt quan trọng trong hệ thống tổ chức của Đảng, nơi tập trung, quản lý, giáo dục, rèn luyện, kiểm tra đảng viên, nơi trực tiếp thực hiện và lãnh đạo quần chúng thực hiện đường lối, chính sách của Đảng. Do vậy, công tác kiểm tra, giám sát của TCĐ và của UBKT đảng uỷ cơ sở có vị trí quan trọng trong việc góp phần bảo đảm hoàn thành nhiệm vụ chính trị, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của các TCĐ. Công tác kiểm tra, giám sát của TCĐ và của UBKT đảng uỷ cơ sở phải được tiến hành một cách chủ động, thường xuyên, có chương trình, kế hoạch, theo quy trình, quy định và có hiệu quả.

I- Ý NGHĨA, TÁC DỤNG:

1- Kiểm tra, giám sát là một yếu tố khách quan, là một biểu hiện nghiêm túc của hoạt động có ý thức của mọi tổ chức và con người trong xã hội.

Trước khi hành động, các tổ chức con người đều phải suy nghĩ, xác định rõ ý định, chủ trương, kế hoạch tiến hành và tổ chức thực hiện thắng lợi ý định, chủ trương, kế hoạch ấy trong thực tiễn. Song thực tiễn luôn luôn vận động, biến đổi phát triển không ngừng theo quy luật khách quan, nên ý định, chủ chương, kế hoạch đã xác định dù được nghiên cứu, tính toán cân nhắc kỹ vẫn có thể có những thiếu sót, sơ hở, thậm chí không có khả năng thực thi hoặc sai lầm nghiêm trọng.

Vì vậy, muốn đạt được kết quả trong thực tiễn phải xem xét tình hình thực tế để nhận xét, đánh giá, có nghĩa là phải kiểm tra, giám sát; phải kiểm tra, giám sát toàn bộ từ ý định, chủ trương, kế hoạch đến tổ chức thực hiện và kết quả đạt được, từ đó đánh giá đúng ưu điểm, khuyết điểm, rút kinh nghiệm để bổ sung, điều chỉnh kịp thời những thiếu sót chưa phù hợp hoặc sai lầm, lệch lạc nhằm bảo đảm ý định, chủ trương kế hoạch được đúng đắn, kết quả đạt được đúng như mục tiêu đề ra.

Do đó, hoạt động kiểm tra, giám sát là hoạt động có ý thức; ý thức càng cao, tổ chức càng quan trọng, nhiệm vụ càng khó khăn, phức tạp, thì đòi hỏi phải coi trọng và tiến hành tốt công tác kiểm tra, giám sát.

2- Kiểm tra, giám sát là những chức năng lãnh đạo của Đảng, bộ phận quan trọng trong toàn bộ công tác xây dựng Đảng.

a- Kiểm tra, giám sát là những chức năng lãnh đạo của Đảng:

Văn kiện Đại hội VIII khẳng định: “Công tác kiểm tra có vị trí cực kỳ quan trọng trong toàn bộ hoạt động lãnh đạo của Đảng: Vì lãnh đạo không chỉ là việc xây dựng đường lối, chính sách, nghị quyết, chỉ thị của Đảng, việc tổ chức thực hiện và bố trí cán bộ, mà lãnh đạo mà còn là kiểm tra, giám sát, không những kiểm tra, giám sát việc thực hiện đường lối, chủ trương chính sách mà kiểm tra ngay bản thân đường lối, chính sách đó và kiểm tra, giám sát cả các tổ chức tiến hành kiểm tra, giám sát nhằm đảm bảo đường lối, chính sách được xác định đúng, được quán triệt và thực hiện thắng lợi trong thực tiễn. Đó là vấn đề có tính nguyên tắc, vừa là chức năng lãnh đạo, vừa là trách nhiệm, nội dung, phương pháp, quy trình lãnh đạo của Đảng.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Chính sách đúng là nguồn gốc của thắng lợi”. “Khi đã có chính sách đúng, thì sự thành công hoặc thất bại của chính sách đó là do nơi cách tổ chức công việc, nơi lựa chọn cán bộ và do nơi kiểm tra. Nếu ba điều ấy sơ sài, thì chính sách đúng mấy cũng vô ích”. “Nếu tổ chức việc kiểm tra cho chu đáo thì cũng như có ngọn đèn “pha”. Bao nhiêu tình hình, bao nhiêu ưu điểm, khuyết điểm, bao nhiêu cán bộ chúng ta đều thấy rõ. Có thể nói rằng: chín phần mười khuyết điểm trong công việc của chúng ta là vì thiếu sự kiểm tra”.

Điều lệ Đảng khóa XI đã khẳng định vai trò, vị trí công tác kiểm tra, giám sát của Đảng và nhiệm vụ kiểm tra, giám sát của các TCĐ trước hết là cấp ủy các cấp được quy định tại Điều 30 Điều lệ Đảng. Quy định của Điều lệ Đảng về công tác kiểm tra, giám sát đòi hỏi các cấp ủy, TCĐ và đảng viên phải nghiêm chỉnh chấp hành. Quy định này xác định rõ công tác kiểm tra, giám sát là của toàn Đảng, của cấp ủy, TCĐ các cấp phải tiến hành kiểm tra, giám sát và chịu sự kiểm tra, giám sát của TCĐ có thẩm quyền cấp trên.

b- Kiểm tra, giám sát là một bộ phận quan trọng trong toàn bộ công tác xây dựng Đảng:

Đảng Cộng sản Việt Nam là đội tiên phong của giai cấp công nhân Việt Nam. Sức chiến đấu và năng lực lãnh đạo cách mạng của Đảng bắt nguồn từ sự đoàn kết, thống nhất về chính trị, tư tưởng và tổ chức. Để thực hiện được vai trò lãnh đạo của mình, Đảng ta phải “tiếp tục tự đổi mới, tự chỉnh đốn Đảng; xây dựng Đảng thật sự trong sạch, vững mạnh, có bản lĩnh chính trị vững vàng, có đạo đức cách mạng trong sáng, có tầm trí tuệ cao, có phương thức lãnh đạo khoa học, luôn gắn bó với nhân dân”. Để đạt được điều đó, Đảng phải coi trọng làm tốt công tác kiểm tra, giám sát mới góp phần thiết thực và có hiệu quả trong việc phòng ngừa, khắc phục những nguy cơ có thể nảy sinh của Đảng cầm quyền.

Qua thực tiễn Đảng đã kết luận: Công tác kiểm tra là “một bộ phận quan trọng trong toàn bộ công tác xây dựng Đảng”, là “một khâu quan trọng của tổ chức thực hiện”, là “biện pháp hiệu nghiệm để khắc phục bệnh quan liêu”.

3- Kiểm tra, giám sát là nhiệm vụ trực tiếp, thường xuyên của toàn Đảng.

Sự lãnh đạo của Đảng được tiến hành thông qua tổ chức đảng và đảng viên đang hoạt động trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Mỗi tổ chức đảng và đảng viên dù công tác ở lĩnh vực, cương vị nào điều phải tham gia xây dựng, tổ chức thực hiện và kiểm tra, giám sát việc thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng. Đó là nhiệm vụ trực tiếp, thường xuyên của mọi tổ chức đảng.

Khẳng định công tác kiểm tra, giám sát là nhiệm vụ trực tiếp, thường xuyên của mọi tổ chức đảng là tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, không chỉ để khắc phục những khuyết điểm, yếu kém về nhận thức và hành động trong thực hiện nhiệm vụ công tác kiểm tra, giám sát, mà còn làm cho Đảng thực hiện đầy đủ các chức năng, nhiệm vụ của mình, góp phần tự đổi mới, tự chỉnh đốn Đảng, đảm bảo lãnh đạo thắng lợi sự nghiệp cách mạng.

II- ĐẶC ĐIỂM VÀ YÊU CẦU CỦA CÔNG TÁC KIỂM TRA, GIÁM SÁT CỦA ĐẢNG:

1- Đặc điểm:

Công tác kiểm tra, giám sát là một bộ phận của công tác xây dựng Đảng, được tiến hành trong nội bộ Đảng.

Mọi tổ chức và đảng viên đều bình đẳng trước kỷ luật của Đảng và đều phải chịu sự kiểm tra, giám sát, thi hành kỷ luật của Đảng, không có ngoại lệ.

Các TCĐ vừa là chủ thể kiểm tra, giám sát vừa là đối tượng kiểm tra, giám sát.

TCĐ và đảng viên phải thực hiện nhiệm vụ kiểm tra, giám sát, kỷ luật Đảng trên ba phương diện.

- TCĐ và đảng viên phải tự mình kiểm tra đối với chính bản thân mình.

- TCĐ và đảng viên phải chịu sự kiểm tra, giám sát của TCĐ có thẩm quyền, cấp trên.

- TCĐ phải tiến hành kiểm tra, giám sát đảng viên và TCĐ cấp dưới thuộc phạm vi được phân công lãnh đạo, quản lý.

2- Yêu cầu:

Phải xuất phát từ yêu cầu nhiệm vụ chính trị và công tác xây dựng Đảng, không phụ thuộc vào ý chí chủ quan của tổ chức hoặc cá nhân.

Phải làm rõ đúng sai, ưu điểm, khuyết điểm, vi phạm đối với TCĐ và đảng viên về các nội dung được kiểm tra, giám sát.

Phải bảo đảm thực hiện đúng nguyên tắc, thủ tục, quy trình phương pháp trong công tác kiểm tra, giám sát, đây là một yêu cầu mang tính nguyên tắc.

III- PHẠM VI TRÁCH NHIỆM KIỂM TRA, GIÁM SÁT CỦA CÁC TỔ CHỨC ĐẢNG.

Công tác kiểm tra, giám sát của Đảng là công tác của toàn Đảng, của các tổ chức đảng. Nhưng do chức năng, nhiệm vụ của các tổ chức đảng khác nhau, nên phạm vi kiểm tra, giám sát của các tổ chức đảng cũng có những điểm khác nhau.

Các cấp uỷ đảng có nhiệm vụ lãnh đạo công tác kiểm tra, giám sát và tổ chức thực hiện nhiệm vụ kiểm tra, giám sát đối với mọi tổ chức đảng và đảng viên thuộc phạm vi lãnh đạo của mình.

Các cơ quan tham mưu, giúp việc của cấp ủy có nhiệm vụ kiểm tra, giám sát các cấp uỷ, ban thường vụ cấp ủy, thường trực cấp ủy cấp dưới và các cơ quan tham mưu của cấp uỷ cấp dưới về lĩnh vực công tác do từng cơ quan tham mưu, giúp việc phụ trách.

Các tổ chức đảng ở cơ sở có nhiệm vụ kiểm tra, giám sát việc chấp hành Điều lệ Đảng, nghị quyết, chỉ thị, quy định của Đảng đối với mọi tổ chức đảng, đảng viên sinh hoạt và hoạt động thuộc phạm vi lãnh đạo của mình.

Uỷ ban kiểm tra các cấp tiến hành công tác kiểm tra, giám sát theo quy định của Điều 32, Điều lệ Đảng và những nội dung do cấp uỷ giao.

IV- NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN TRONG CHỈ ĐẠO, TIẾN HÀNH CÔNG TÁC KIỂM TRA, GIÁM SÁT CỦA ĐẢNG.

1. Công tác kiểm tra, giám sát của Đảng phải xuất phát từ nhiệm vụ chính trị và công tác xây dựng Đảng, nhằm thực hiện thắng lợi những mục tiêu đã đề ra.

Công tác kiểm tra, giám sát của Đảng phải xuất phát từ nhiệm vụ chính trị và công tác xây dựng Đảng, phải lấy việc thực hiện thắng lợi nhiệm vụ chính trị và công tác xây dựng Đảng làm mục tiêu phương hướng, nội dung hoạt động. Nếu xa rời vấn đề cốt lõi, có tính nguyên tắc này công tác kiểm tra, giám sát của Đảng sẽ mất phương hướng; không rõ nội dung và không mang lại hiệu quả. Điều đó đòi hỏi các tổ chức đảng phải nắm vững những nội dung, yêu cầu chủ yếu của nhiệm vụ chính trị và công tác xây dựng Đảng của mình trong từng thời kỳ, nắm vững Cương lĩnh chính trị, Điều lệ Đảng, nghị quyết, chỉ thị, quyết định, quy định của Đảng, nghị quyết của đại hội đảng bộ và cấp uỷ cấp mình, tình hình thực hiện nhiệm vụ chính trị và công tác xây dựng Đảng của đảng bộ để lãnh đạo công tác kiểm tra, giám sát và tổ chức thực hiện nhiệm vụ kiểm tra, giám sát xác thực, có hiệu quả.

2- Thực hiện đúng tư tưởng chỉ đạo công tác kiểm tra, giám sát của Đảng.

Tư tưởng chỉ đạo công tác kiểm tra, giám sát của Đảng được đúc kết từ thực tiễn công tác kiểm tra và công tác xây dựng Đảng trong những năm qua là “Chủ động, chiến đấu, giáo dục, hiệu quả”.

a- Tính chủ động:

Sau khi có nghị quyết, chỉ thị và kế hoạch tổ chức thực hiện, cấp ủy, UBKT phải xây dựng chương trình kế hoạch kiểm tra, giám sát việc tổ chức thực hiện; công tác kiểm tra, giám sát phải được tiến hành một cách thường xuyên có nề nếp, không thụ động chờ vụ việc xảy ra rồi mới xem xét, giải quyết; phải thường xuyên nắm vững tình hình hoạt động của tổ chức đảng cấp dưới và đảng viên. Khi phát hiện TCĐ và đảng viên có dấu hiệu vi phạm, phải tiến hành kiểm tra để xem xét, xử lý công minh, chính xác, kịp thời, không để khuyết điểm phát triển thành vi phạm, từ không nghiêm trọng thành nghiêm trọng, từ một đảng viên, một tổ chức đảng vi phạm thành nhiều đảng viên, nhiều tổ chức vi phạm.

b- Tính chiến đấu:

Trong quá trình tiến hành kiểm tra, nếu có vi phạm thì đấu tranh làm rõ nội dung, tính chất, mức độ, tác hại, nguyên nhân của vi phạm và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ. Đây là cuộc đấu tranh thẳng thắn, nhiều khi rất quyết liệt giữa cái đúng, mặt tích cực với cái sai giữa chủ thể kiểm tra với đối tượng được kiểm tra.

Không có tính chiến đấu cao, bản lĩnh vững vàng, phương pháp thích hợp hoặc bị khuất phục bởi quyền uy, vật chất, bởi chủ nghĩa cá nhân thì không kết luận đúng, sai, ưu điểm, khuyết điểm, vi phạm (nếu có).

c- Tính giáo dục:

Thể hiện ở việc thúc đẩy và giáo dục đảng viên, cán bộ làm tròn nhiệm vụ đối với Đảng, đối với Nhà nước, làm gương tốt cho nhân dân, chứ không phải để “vạch lá tìm sâu”, để trừng trị; qua kiểm tra, giám sát phải khắc phục được khuyết điểm, hạn chế, rút ra những bài học về lãnh đạo, chỉ đạo, về tổ chức thực hiện nhiệm vụ chính trị và công tác xây dựng Đảng để bồi dưỡng nâng cao sức chiến đấu và năng lực lãnh đạo của tổ chức đảng và đảng viên.

d- Tính hiệu quả:

Sau khi kiểm tra, giám sát thì đối tượng được kiểm tra, giám sát thấy được ưu điểm để phát huy, khuyết điểm hoặc vi phạm (nếu có) để sửa chữa, phấn đấu tiến bộ; tổ chức đảng nơi có đối tượng được kiểm tra, giám sát và TCĐ tiến hành kiểm tra, giám sát thấy được ưu điểm, khuyết điểm và rút ra được kinh nghiệm về lãnh đạo, chỉ đạo, về giáo dục, quản lý tổ chức đảng và đảng viên, về lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ kiểm tra, giám sát để xây dựng đảng bộ trong sạch vững mạnh, thực hiện thắng lợi nhiệm vụ chính trị.

3. Phương pháp cơ bản của công tác kiểm tra, giám sát của Đảng.

Công tác kiểm tra, giám sát của Đảng là công tác lãnh đạo của Đảng, là công tác xây dựng Đảng, là sinh hoạt nội bộ Đảng. Do đó, tiến hành công tác kiểm tra, giám sát phải đúng nguyên tắc tổ chức và sinh hoạt Đảng, đúng tính chất công tác Đảng.

Công tác kiểm tra, giám sát được tiến hành theo các phương pháp cơ bản sau:

a- Dựa vào tổ chức đảng:

Tổ chức đảng là cơ quan lãnh đạo, quản lý, giáo dục, rèn luyện đảng viên và tổ chức đảng cấp dưới. Có dựa vào tổ chức đảng thì chủ thể kiểm tra (cấp uỷ hoặc UBKT …) mới hiểu rõ đặc điểm tình hình, điều kiện hoàn cảnh, khó khăn, thuận lợi, ưu điểm, khuyết điểm trong thực hiện chức năng, nhiệm vụ của đối tượng được kiểm tra để có cơ sở xem xét, kết luận một cách chính xác.

Dựa vào tổ chức đảng vừa là phương pháp cơ bản của công tác kiểm tra, vừa là vấn đề có tính nguyên tắc trong công tác xây dựng Đảng, nhưng tuy tình hình cụ thể của tổ chức đảng để có cách vận dụng cho phù hợp. Trường hợp cần thiết, có thể kiện toàn tổ chức đảng trước khi tiến hành kiểm tra.

b- Phát huy tinh thần tự giác của TCĐ và đảng viên:

Tổ chức đảng được thành lập theo quy định của Điều lệ Đảng, có chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể. Đảng viên là chiến sĩ cách mạng, tự nguyện gia nhập Đảng, phấn đấu cho mục đích, lý tưởng của Đảng, chấp hành Cương lĩnh chính trị, Điều lệ Đảng, nghị quyết, chỉ thị, quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước và nhiệm vụ được giao, tự giác chịu sự kiểm tra, giám sát của tổ chức đảng có thẩm quyền. Tự giác là bản chất của Đảng. Vì vậy, tự giác không chỉ là phương tiện mà chính là mục đích của công tác kiểm tra nói riêng và công tác xây dựng đảng nói chung. Vì vậy khi tiến hành công tác kiểm tra, giám sát các tổ chức đảng cần coi trọng và làm tốt công tác tư tưởng đối với đối tượng được kiểm tra, giám sát nhằm phát huy và nâng cao tinh thần tự giác tự phê bình để nhận rõ ưu điểm, khuyết điểm, vi phạm và nguyên nhân giúp chủ thể kiểm tra, giám sát có cơ sở kết luận chính xác. Đối với những trường hợp quanh co, giấu diếm sai lầm, khuyết điểm, cần kiên trì động viên, thuyết phục, kết hợp với đấu tranh và công tác thẩm tra, xác minh để làm rõ đúng sai.

c- Làm tốt công tác thẩm tra, xác minh:

Yêu cầu cơ bản của công tác kiểm tra là phải làm rõ đúng, sai, đánh giá, kết luận đúng ưu điểm, khuyết điểm, vi phạm (nếu có) của TCĐ và đảng viên được kiểm tra để có kết luận, quyết định chính xác. Thực tiễn cho thấy có nhiều TCĐ và đảng viên được kiểm tra đã tự giác nhận khuyết điểm, vi phạm của bản thân và tổ chức đảng của mình, nhưng cũng có không ít TCĐ và đảng viên thiếu tự giác, quanh co, giấu diếm, thậm chí tìm mọi cách đối phó, gây khó khăn trở ngại đối với công tác kiểm tra.

Vì vậy, ngoài việc phải dựa vào tổ chức đảng, phát huy tinh thần tự giác của TCĐ và đảng viên được kiểm tra, phát huy trách nhiệm xây dựng Đảng của quần chúng, phải hết sức coi trọng và làm tốt công tác thẩm tra, xác minh.

d- Phối hợp chặt chẽ công tác kiểm tra của Đảng với công tác thanh tra của Nhà nước, thanh tra nhân dân, công tác kiểm tra của đoàn thể chính trị - xã hội, nghề nghiệp và phối hợp với các ban nghành có liên quan.

Trong điều kiện Đảng cầm quyền, đảng viên hoạt động trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, đảng viên vừa là thành viên của TCĐ, vừa là công dân hoặc được phân công hoạt động trong tổ chức Nhà nước, đoàn thể chính trị - xã hội, nghề nghiệp. Đảng viên vi phạm pháp luật, chính sách…của Nhà nước và kỷ luật của các đoàn thể chính trị - xã hội mà mình tham gia cũng là vi phạm kỷ luật Đảng. Đảng lãnh đạo hệ thống chính trị, lãnh đạo Nhà nước nhưng không bao biện, làm thay công tác Nhà nước và đoàn thể chính trị - xã hội. Đặc điểm này nếu không có cơ chế chặt chẽ, phù hợp, nhất là trong công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật dễ dẫn đến tình trạng thiếu tập trung, thống nhất, chồng chéo, sơ hở, giải quyết vụ việc không kịp thời, chính xác. Vì vậy, phải kết hợp chặt chẽ giữa công tác kiểm tra, giám sát của Đảng với công tác thanh tra Nhà nước, thanh tra nhân dân, công tác kiểm tra, giám sát của đoàn thể chính trị - xã hội, phối hợp giữa uỷ ban kiểm tra với cơ quan tham mưu giúp việc của cấp uỷ, với các cơ quan bảo vệ pháp luật. Vì các cơ quan này mới có đủ điều kiện xem xét, kết luận những vi phạm về quản lý Nhà nước, quản lý kinh tế xã - hội… Đây là cơ sở để TCĐ nghiên cứu, kết luận, xem xét, xử lý vi phạm của TCĐ và đảng viên được kiểm tra.

4- Các hình thức kiểm tra, giám sát.

Tùy vào yêu cầu của nhiệm vụ chính trị và công tác xây dựng Đảng và nội dung kiểm tra, giám sát để lựa chọn hình thức kiểm tra, giám sát thích hợp.

a- Kiểm tra, giám sát thường xuyên:

Kiểm tra, giám sát là chức năng lãnh đạo, là xây dựng Đảng, mà chức năng lãnh đạo và xây dựng Đảng phải được tiến hành thường xuyên. Do đó, kiểm tra, giám sát phải được tiến hành một cách thường xuyên, gắn chặt với yêu cầu nhiệm vụ chính trị và công tác xây dựng Đảng.

Kiểm tra, giám sát thường xuyên sẽ thể hiện được tính chủ động, tính chỉ đạo, đôn đốc, thúc đẩy tổ chức thực hiện. Có như vậy mới kịp thời phát huy ưu điểm, phát hiện những biểu hiện lệch lạc, sai trái để có biện pháp điều chỉnh cho phù hợp.

Các TCĐ giám sát thông qua hoạt động thực tế hàng ngày của tổ chức đảng cấp dưới và đảng viên trong việc thực hiện nghị quyết, chỉ thị, quy định của Đảng và pháp luật của Nhà nước, trong sinh hoạt đảng, giữ gìn phẩm chất, đạo đức của đảng viên; qua tự phê bình và phê bình; qua kiểm tra, phân tích chất lượng đảng viên; qua phê bình, góp ý của quần chúng… để đánh giá ưu điểm, khuyết điểm của đảng viên và TCĐ cấp dưới, kịp thời xem xét, giải quyết những trường hợp có dấu hiệu vi phạm.

b- Kiểm tra định kỳ:

Kiểm tra định kỳ là một hình thức kiểm tra mà các tổ chức đảng từ cấp cơ sở đến cấp Trung ương đều cần và có điều kiện để tiến hành. Tuỳ vào yêu cầu thực hiện nhiệm vụ chính trị và công tác xây dựng Đảng, tình hình thực tế trong từng thời kỳ mà xác định nội dung, đối tượng và thời gian định kỳ kiểm tra cho phù hợp.

Về nội dung kiểm tra định kỳ, có thể kiểm tra toàn diện đối với TCĐ và đảng viên, có thể chỉ kiểm tra chuyên sâu một số nội dung cần thiết…

c. Kiểm tra đột xuất, giám sát chuyên đề:

Hình thức kiểm tra, giám sát này có tính ngăn chặn cao, được áp dụng khi có sự việc đột xuất xảy ra cần phải tiến hành kiểm tra, giám sát hoặc khi có yêu cầu của tổ chức đảng cấp trên.

Đối tượng kiểm tra đột xuất, giám sát chuyên đề có số lượng ít, nội dung kiểm tra, giám sát tập trung vào một số vấn đề nhất định; yêu cầu của kiểm tra đột xuất, giám sát chuyên đề là phải xem xét, kết luận hoặc đánh giá chính xác để ngăn chặn, điều chỉnh hoặc xử lý khuyết điểm, vi phạm. Do đó, tùy mục đích, đối tượng, nội dung, yêu cầu cần kiểm tra, giám sát mà có kế hoạch tiến hành cho phù hợp.

V- SỰ GIỐNG NHAU VÀ KHÁC NHAU GIỮA KIỂM TRA VÀ GIÁM SÁT:

1- Sự giống nhau giữa kiểm tra và giám sát:

Kiểm tra và giám sát đều là hoạt động của nội bộ Đảng, do cấp ủy, TCĐ và ủy ban kiểm tra thực hiện.

- Nội dung kiểm tra và giám sát: Đều là việc chấp hành Cương lĩnh chính trị, Điều lệ Đảng, nghị quyết, chỉ thị, quy định của Đảng; chính sách, pháp luật của Nhà nước.

- Đối tượng kiểm tra, giám sát: Đều là tổ chức đảng và đảng viên.

- Mục đích kiểm tra, giám sát: Đều nhằm phục vụ việc thực hiện nhiệm vụ chính trị và công tác xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh.

- Định kỳ đều có báo cáo với cấp ủy theo quy định về tình hình thực hiện nhiệm vụ kiểm tra, giám sát.

2- Sự khác nhau giữa kiểm tra và giám sát:

a- Về mục đích:

Giám sát là việc làm thường xuyên, liên tục để chủ động phòng ngừa, ngăn chặn xảy ra vi phạm từ lúc mới manh nha. Giám sát giúp đối tượng giám sát thực hiện đúng quy định, quy chế; phát hiện, góp ý, phản ánh, đề xuất; giám sát để phòng ngừa, ngăn chặn khuyết điểm, vi phạm là chính. Qua giám sát, nếu phát hiện có dấu hiệu vi phạm thì mới tiến hành kiểm tra.

Còn mục đích của kiểm tra là để làm rõ đúng, sai. Sau khi kiểm tra phải kết luận và xử lý (nếu có vi phạm đến mức phải xử lý). Có thể có vi phạm rồi mới kiểm tra, có vụ việc vi phạm đã qua nhiều năm mới kiểm tra để làm rõ nội dung, tính chất, mức độ, tác hại và nguyên nhân của vi phạm để xử lý (nếu có).

b- Về đối tượng:

Đối với kiểm tra: Đảng viên vừa là đối tượng kiểm tra vừa là chủ thể kiểm tra.

Đối với giám sát: Đảng viên chỉ là đối tượng giám sát và chỉ trở thành chủ thể giám sát khi được TCĐ có thẩm quyền phân công.

c- Về phương pháp và hình thức:

Giám sát không cần thẩm tra, xác minh, không xem xét thi hành kỷ luật như một cuộc kiểm tra. Thông qua giám sát, theo dõi để phát hiện vấn đề, phản ánh với TCĐ và cá nhân, nhằm kịp thời chấn chỉnh, sữa chữa khuyết điểm, tránh để xảy ra vi phạm.

Còn phương pháp kiểm tra là tiến hành theo quy trình; thành lập tổ (hoặc đoàn) kiểm tra; coi trọng thẩm tra, xác minh; sau khi có kết luận cuộc kiểm tra, có đánh giá, nhận xét ưu điểm, khuyết điểm, vi phạm (nếu có) và xử lý kỷ luật tổ chức đảng và đảng viên (nếu có vi phạm đến mức phải xử lý); công tác kiểm tra có chủ thể là đảng viên vừa có nhiệm vụ tiến hành kiểm tra và tự kiểm tra, vừa là đối tượng kiểm tra.

Như vậy, giám sát và kiểm tra có mối quan hệ tác động lẫn nhau: Muốn thực hiện tốt việc giám sát thì phải có quan sát theo dõi, xem xét tình hình thực tế của đối tượng được giám sát; muốn thực hiện tốt việc kiểm tra thì phải thường xuyên thực hiện việc giám sát.

























































CHUYÊN ĐỀ 2

GIẢI QUYẾT TỐ CÁO ĐỐI VỚI TỔ CHỨC ĐẢNG

VÀ ĐẢNG VIÊN; GIẢI QUYẾT KHIẾU NẠI KỶ LUẬT ĐẢNG

------------------

A. GIẢI QUYẾT TỐ CÁO ĐỐI VỚI TỔ CHỨC ĐẢNG VÀ ĐẢNG VIÊN.

I- KHÁI NIỆM, Ý NGHĨA, TÁC DỤNG:

1- Khái niệm:

- Hiến pháp năm 1992 xác định tố cáo là một trong những quyền cơ bản của công dân -> Công dân thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định và hướng dẫn của Luật khiếu nại, tố cáo và các văn bản pháp luật khác có liên quan.

- Theo Từ điển Tiếng Việt: Tố cáo là “1. Báo cho mọi người hoặc cơ quan có thẩm quyền biết người hoặc hành động phạm pháp nào đó; 2. vạch trần hành động xấu xa hoặc tội ác cho mọi người biết nhằm lên án, ngăn chặn”.

=> Tố cáo trong đảng là việc công dân, đảng viên báo cho TCĐ hoặc cán bộ, đảng viên có trách nhiệm biết về hành vi của TCĐ hoặc đảng viên mà người tố cáo cho là sai trái, vi phạm ĐLĐ, nghị quyết, chỉ thị quy định… của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước, xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của công dân.

Lưu ý:

- Trường hợp cơ quan, tổ chức cung cấp các thông tin, báo cáo cho TCĐ, đảng viên có trách nhiệm về hành vi vi phạm của TCĐ và đảng viên thì đó không phải là tố cáo.

- Theo quy định của Đảng: Đảng viên có quyền phê bình, chất vấn về hoạt động của TCĐ và đảng viên ở mọi cấp trong phạm vi tổ chức (Quy chế chất vấn trong Đảng, số 158 –QĐ/TW, ngày 12 / 5 /2008 của Bộ Chính trị); báo cáo, kiến nghị với các cơ quan có trách nhiệm và yêu cầu được trả lời.

2- Ý nghĩa, tác dụng: Giải quyết tố cáo trong Đảng là nhiệm vụ của cấp uỷ, BTV cấp uỷ, nhiệm vụ thường xuyên và trực tiếp của uỷ ban kiểm tra (quy định tại Điều 32, ĐLĐ); các TCĐ có thẩm quyền, thực hiện tốt công tác giải quyết tố cáo, là:

- Tạo mối gắn bó mật thiết giữa Đảng với nhân dân -> Tôn trọng, phát huy quyền làm chủ và chịu sự giám sát của nhân dân, dựa vào nhân dân để xây dựng Đảng.

- Đảm bảo quyền dân chủ của nhân dân, của đảng viên trong công tác xây dựng Đảng, củng cố và tăng cường năng lực lãnh đạo của Đảng, tạo sự nhất trí về chính trị và tinh thần trong nhâm dân.

- Xây dựng TCĐ và đội ngũ cán bộ đảng viên vững mạnh, vì:

+ Thực hiện tốt nguyên tắc phê bình của đảng viên và quần chúng nhân dân.

+ Đối tượng bị tố cáo thấy được những sai lầm, khuyết điểm (nếu có).

+ Cải chính, minh oan cho đối tượng bị tố cáo (oan sai, bị vu cáo).

+ Góp phần chống căn bệnh quan liêu, tham nhũng, lãng phí, cửa quyền, hách dịch…

+ Tạo sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng.

II- NỘI DUNG, ĐỐI TƯỢNG

- Đảng ta là đảng cầm quyền.

- Đảng lãnh đạo hệ thống chính trị, TCĐ và đảng viên hoạt động trên khắp các lĩnh vực của đời sống xã hội -> Phần lớn các chức vụ lãnh đạo, quản lý trong các tổ chức, cơ quan nhà nước và đoàn thể chính trị - xã hội đều do đảng viên đảm nhiệm.

=> Nội dung, đối tượng bị tố cáo khá rộng. Do đó, uỷ ban kiểm tra các cấp cần phân loại tố cáo để xem xét, giải quyết đúng thẩm quyền.

1- Nội dung: Uỷ ban kiểm tra có nhiệm vụ giải quyết những tố cáo có liên quan đến:

- Tiêu chuẩn đảng viên, tiêu chuẩn cấp uỷ viên và trong việc thực hiện nhiệm vụ đảng viên quy định ở Điều 1, Điều 2, Điều 12 của ĐLĐ, như:

+ Việc chấp hành Cương lĩnh chính trị, Điều lệ Đảng, nghị quyết, chỉ thị,…

+ Chấp hành các nguyên tắc tổ chức của Đảng (tập trung dân chủ, quy chế làm việc).

+ Đoàn kết nội bộ, ý thức tổ chức kỷ luật, chấp hành nội quy, quy định của cơ quan.

+ Việc giữ gìn phẩm chất, đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên.

+ Chấp hành chủ trương của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước.

+ Việc thực hiện nhiệm vụ, tiêu chuẩn của người đảng viên.

- Những tố cáo TCĐ và đảng viên có nội dung liên quan đến pháp luật, kinh tế,…-> Vẫn xem xét, giải quyết theo góc độ trách nhiệm của TCĐ, đảng viên đối với các nội dung tố cáo.

Lưu ý: Những nội dung tố cáo mà uỷ ban kiểm tra chưa đủ điều kiện xem xét, kết luận thì kiến nghị cấp uỷ cho phối hợp hay yêu cầu TCĐ của cơ quan nhà nước, cơ quan pháp luật có thẩm quyền giải quyết.

2- Đối tượng:

2.1- Với đảng viên: Tập trung giải quyết các tố cáo đảng viên đối với:

- Cấp uỷ viên cùng cấp, cán bộ thuộc diện cấp uỷ cùng cấp quản lý.

- Người bị tố cáo có liên quan đến công tác nhân sự của cấp uỷ cấp mình.

- Đối tượng bị tố cáo là cấp uỷ viên cấp dưới, đồng thời là cán bộ thuộc diện cấp uỷ cấp trên quản lý -> Uỷ ban kiểm tra cấp trên chủ trì giải quyết và có sự phối hợp của uỷ ban kiểm tra cấp dưới.

- Đối tượng bị tố cáo là cán bộ do cấp uỷ cấp dưới quản lý, nhưng khi được bổ nhiệm phải có ý kiến của các ban có liên quan của cấp uỷ cấp trên thì do uỷ ban kiểm tra cấp dưới chủ trì giải quyết nhưng phải báo cáo để có sự chỉ đạo hoặc phối hợp của uỷ ban kiểm tra cấp trên.

- Đối với tố cáo đảng viên khác -> Căn cú phân cấp quản lý cán bộ của cấp uỷ mà chuyển uỷ ban kiểm tra cấp có thẩm quyền xem xét, giải quyết.

2.2- Với tổ chức đảng:

- Tập trung giải quyết các tố cáo các TCĐ cấp dưới trực tiếp.

- Nếu tố cáo TCĐ cấp dưới cách nhiều cấp thì chuyển TCĐ cấp dưới có thẩm quyền xem xét, giải quyết.

- Đối với tố cáo cấp uỷ cùng cấp và cấp trên, uỷ ban kiểm tra không có thẩm quyền xem xét, giải quyết -> Uỷ ban kiểm tra phải kịp thời chuyển cấp uỷ, BTV cấp uỷ hoặc uỷ ban kiểm tra cấp trên có thẩm quyền xem xét, giải quyết.

*/ Những trường hợp không xem xét, giải quyết:

- Những trường hợp có liên quan đến lịch sử chính trị hoặc hoạt động chính trị hiện hành của đảng viên -> Chuyển cơ quan chức năng có thẩm quyền xem xét, giải quyết.

- Những tố cáo giấu tên, mạo tên, không rõ địa chỉ.

- Những tố cáo có tên đã được cấp có thẩm quyền do ĐLĐ quy định xem xét, kết luận, nay tố cáo lại, nhưng không có thêm tài kiệu, chứng cứ mới.

- Những tố cáo có tên nhưng nêu chung chung, không rõ, khi gặp, người tố cáo cũng không nêu được nội dung cụ thể, không có căn cứ để thẩm tra xác minh.

- Những tố cáo sao chụp chữ ký mà không ký trực tiếp.

- Trường hợp người bị tố cáo đang mắc bệnh hiểm nghèo không có khả năng phục hồi sức khoẻ cũng không xem xét, giải quyết.

III- CÁCH TIẾN HÀNH

1- Bước chuẩn bị:

- Nghiên cứu đơn (thư) tố cáo hoặc bản ghi lời tố cáo trực tiếp -> Nắm vững nội dung, đối tượng bị tố cáo.

+ Cán bộ kiểm tra báo cáo thường trực uỷ ban.

+ Khảo sát nắm tình hình: Gặp người tố cáo, gặp đại diện cấp uỷ quản lý trực tiếp TCĐ hoặc đảng viên bị tố cáo, gặp đại diện TCĐ hoặc đảng viên bị tố cáo -> Thu thập thông tin về nội dung, đối tượng bị tố cáo.

+ Tóm tắt nội dung tố cáo, dự kiến kế hoạch giải quyết và tổ giải quyết tố cáo hoặc cán bộ giải quyết tố cáo (gọi là tổ kiểm tra).

Trường hợp cả TCĐ hoặc người lãnh đạo chủ chốt của TCĐ bị tố cáo có dấu hiệu vi phạm: Báo cáo để cấp uỷ cấp mình xem xét, nếu thấy cần thiết có thể củng cố, kiện toàn tổ chức trước, sau đó mới giải quyết tố cáo.

- Báo cáo nội dung, đối tượng tố cáo, kế hoạch giải quyết tố cáo để thường trực uỷ ban, phòng, tổ…xem xét và thông qua.

- Đại diện uỷ ban hoặc cán bộ được uỷ quyền trao đổi với đại diện TCĐ quản lý trực tiếp TCĐ, đảng viên bị tố cáo hoặc đại diện TCĐ bị tố cáo.

- Báo cáo với chủ nhiệm hoặc phó chủ nhiệm thường trực uỷ ban về kết quả trao đổi với đại diện TCĐ quản lý trực tiếp TCĐ, đảng viên bị tố cáo hoặc đại diện TCĐ bị tố cáo để thường trực uỷ ban xem xét, ký quyết định kiểm tra (cả kế hoạch, nội dung kiểm tra và tổ kiểm tra).

- Tổ kiểm tra xây dựng lịch trình kiểm tra (giải quyết tố cáo), phân cong nhiệm vụ cho thành viên trong tổ.

2- Bước tiến hành:

- Đại diện uỷ ban kiểm tra và tổ kiểm tra làm việc với TCĐ và đảng viên bị tố cáo (trường hợp tố cáo cả TCĐ và đảng viên), đại diện TCĐ quản lý trực tiếp đảng viên bị tố cáo: Thông báo quyết định, nội dung tố cáo, kế hoạch giải quyết, tổ kiểm tra và thống nhất lịch trình tiến hành. Yêu cầu:

+ Đối tượng bị tố cáo giải trình về các nội dung tố cáo bằng văn bản và ấn định thời hạn gửi báo cáo cho tổ kiểm tra.

+ Đối tượng bị tố cáo và TCĐ quản lý trực tiếp đảng viên bị tố cáo cung cấp tài liệu và phối hợp giải quyết tố cáo.

+ Đề nghị đối tượng bị tố cáo: nghiêm túc tự kiểm tra mình, giải trình đầy đủ, trung thực, rõ ràng, tự giác nhận khuyết điểm (nếu có); đưa ra bằng chứng xác thực để bác bỏ nội dung tố cáo không đúng; không được truy tìm, trù dập, trả thù người phê bình, tố cáo mình.

- Tổ kiểm tra tiến hành kiểm tra:

+ Làm việc với người tố cáo để tìm hiểu, nắm vững nội dung tố cáo; động viên họ có trách nhiệm, động cơ đúng đắn, trình bày trung thực sự việc, cung cấp đầy đủ tài liệu, bằng chứng về nội dung tố cáo.

-> Có thể gặp người tố cáo nhiều lần nhưng phải giữ bí mật cho họ.

Lưu ý: Nhắc nhở người tố cáo: Yên tâm, tin tưởng vào TCĐ giải quyết; không để lộ nội dung tố cáo, tên người bị tố cáo,…

+ Thu thập tài liệu, chứng cứ.

+ Nhận bản giải trình của đối tượng bị tố cáo (gợi ý những vấn đề cần làm rõ, cần bổ sung thêm).

+ Làm việc với đối tượng bị tố cáo.

+ Tiến hành thẩm tra, xác minh.

=> Trong quá trình kiểm tra, nếu có nội dung tố cáo cần bổ sung hoặc có vấn đề chuyên môn, kỹ thuật cần giám định thì tổ kiểm tra báo cáo để thường trực uỷ ban xem xét, quyết định.

+ Nếu thấy đối tượng bị tố cáo có khuyết hoặc có dấu hiệu vi phạm thì đại diện uỷ ban, tổ kiểm tra yêu cầu tự kiểm điểm bằng văn bản, tự nhận hình thức kỷ luật.

- Tổ chức hội nghị:

+ Đại diện TCĐ bị tố cáo trình bày bản giải trình và tự kiểm điểm về nội dung bị tố cáo trước hội nghị của TCĐ cấp mình, có đại diện của cấp uỷ và uỷ ban kiểm tra (cấp giải quyết) tham dự.

+ Đảng viên bị tố cáo trình bày bản giải trình về nội dung tố cáo trước chi bộ, trừ trường hợp nội dung tố cáo liên quan đến bí mật của Đảng và Nhà nước mà chi bộ không biết.

-> Đảng viên bị tố cáo là cấp uỷ viên cùng cấp hoặc tham gia nhiều cấp uỷ và đảng viên là cán bộ thuộc diện cấp uỷ cấp trên quản lý, thì tuỳ nội dung tố cáo cụ thể mà đại diện uỷ ban kiểm tra (cấp giải quyết) có thể quyết định cho trình bày ở các TCĐ cần thiết hoặc chỉ trình bày bản giải trình ở một TCĐ nhất định.

+ Sau khi nghe đại diện TCĐ hoặc đảng viên bị tố cáo trình bày, tổ kiểm tra thông báo kết quả thẩm tra, xác minh bằng văn bản, gợi ý những vấn đề cần làm rõ. Hội nghị thảo luận, đóng góp ý kiến, nhận xét và đề nghị về những nội dung đã làm rõ.

-> Nếu có vi phạm đến mức phải thi hành kỷ luật thì biểu quyết (bằng phiếu kín) đề nghị hoặc tự nhận hình thức kỷ luật.

- Tổ kiểm tra tiếp tục TTXM những nội dung chưa rõ (nếu có).

+ Chuẩn bị báo cáo kết quả giải quyết tố cáo.

+ Tổ kiểm tra trao đổi với đại diện TCĐ trực tiếp quản lý đảng viên bị tố cáo và đảng viên bị tố cáo (trường hợp đảng viên bị tố cáo) hoặc đại diện TCĐ bị tố cáo và đảng viên bị tố cáo (trường hợp TCĐ và đảng viên bị tố cáo) về kết quả giải quyết để làm rõ thêm, nhằm có đủ căn cứ để kết luận.

- Hoàn chỉnh báo cáo kết quả kiểm tra và gửi thường trực uỷ ban.

Báo cáo cần thể hiện được:

+ Làm rõ nội dung tố cáo đúng hay sai.

+ Đối tượng bị tố cáo có hay không có vi phạm, nếu vi phạm thì cần làm rõ nội dung, tính chất, mức độ, tác hại, nguyên nhân vi phạm, mức độ thành khẩn qua tự phê bình, phê bình.

+ Ghi rõ ý kiến khác nhau (nếu có) giữa tổ kiểm tra với TCĐ, đảng viên bị tố cáo, với cấp uỷ quản lý trực tiếp TCĐ hoặc đảng viên bị tố cáo về kết quả giải quyết tố cáo.

+ Kiến nghị hình thức xử lý.

=> Trường hợp có vi phạm đến mức phải xử lý kỷ luật thì đại diện uỷ ban kiểm tra gặp để nghe đối tượng bị tố cáo trình bày ý kiến trước khi trình uỷ ban kiểm tra xem xét, quyết định.

3- Bước kết thúc:

- Tổ kiểm tra báo cáo kết quả giải quyết tố cáo để tập thể uỷ ban kiểm tra xem xét, kết luận.

+ Tổ kiểm tra: Trình bày đầy đủ ý kiến mà đối tượng bị tố cáo, TCĐ quản lý trực tiếp đối tượng bị tố cáo không đồng ý hoặc khác với tổ kiểm tra; đề xuất những vấn đề thuộc cơ chế, chính sách,…(nếu có).

+ Uỷ ban kiểm tra: Kết luận nội dung tố cáo (có hay không có vi phạm), quyết định hoăch chỉ đạo cấp dưới quyết định hoặc đề nghị cấp trên quyết định thi hành kỷ luật đối với đối tượng bị tố cáo có vi phạm đến mức phải thi hành kỷ luật.

Trường hợp đảng viên bị tố cáo vi phạm đến mức phải xứ lý bằng pháp luật thì chuyển cơ quan pháp luật xem xét, xử lý: Uỷ ban kiểm tra cần chủ động xem xét, kết luận về kỷ luật đảng đối với những vi phạm đã rõ; khi có kết quả xử lý của cơ quan pháp luật có thẩm quyền thì xem xét lại kỷ luật đảng cho đúng mức.

- Đại diện uỷ ban kiểm tra và tổ kiểm tra trao đổi kết luận, quyết định của uỷ ban kiểm tra với đối tượng bị tố cáo, báo cáo để uỷ ban kiểm tra xem xét, kết luận.

-> Nếu đối tượng bị tố cáo, đại diện TCĐ quản lý trực tiếp đối tượng bị tố cáo kiểm tra không đồng tình thì phải có ý kiến bằng văn bản.

- Hoàn chỉnh thông báo kết luận giải quyết tố cáo, quyết định kỷ luật hoặc báo cáo đề nghị cấp trên thi hành kỷ luật và những yêu cầu khác (nếu có); báo cáo chủ nhiệm hoặc phó chủ nhiệm thường trực ký, ban hành.

- Thông báo bằng văn bản kết quả giải quyết tố cáo đến TCĐ hoặc đảng viên bị tố cáo, cấp uỷ quản lý TCĐ hoặc đảng viên bị tố cáo, những yêu cầu, kiến nghị (nếu có), công bố quyết định kỷ luật (nếu có) cho TCĐ hoặc đảng viên có liên quan để chấp hành.

- Thông báo cho người tố cáo biết những nội dung cần thiết về giải quyết tố cáo bằng biện pháp thích hợp (thường là bằng lời nói).

+ Uỷ ban kiểm tra, tổ kiểm tra cần rút kinh nghiệm cuộc kiểm tra giải quyết tố cáo.

+ Theo dõi, đôn đốc và kiểm tra việc chấp hành thông báo kết luận, quyết định của cấp kiểm tra đối với TCĐ và đảng viên bị tố cáo.

+ Lập và lưu trữ hồ sơ. -> Nếu TCĐ hoặc đảng viên vi phạm bị thi hành kỷ luật (qua giải quyết tố cáo) thì lưu vào hồ sơ kỷ luật.

IV- NHỮNG VẤN ĐỀ CẦN NẮM VỮNG

1- Khi nhận được tố cáo, phải chỉ đạo nghiên cứu, phân loại, nắm tình hình để có kế hoạch xem xét, giải quyết những trường hợp thuộc trách nhiệm giải quyết của mình; chậm nhất 90 ngày đối với cấp tỉnh, thành, quận, huyện và tương đương trở xuống; 180 ngày đối với Trung ương (gửi phản ảnh trực tiếp hoặc theo dấu bưu điện chuyển đến) phải xem xét giải quyết. Trường hợp hết thời hạn mà chưa giải quyết xong thì thông báo cho người tố cáo biết.

2- Đảng viên phải thực hiện nghiêm chỉnh việc tự phê bình và phê bình với ý thức xây xựng Đảng; khi tố cáo với Đảng, Nhà nước những việc làm sai trái của tập thể, cá nhân, phải nói đúng sự thật, dám ký tên chiụ trách nhiệm về thư tố cáo của mình; không được tố cáo mang tính bịa đặt, viết đơn thư tố cáo dấu tên, mạo tên, không được lợi dụng phê bình, tố cáo để vu khống, đả kích cá nhân, chia rẽ bè phái, gây rối nội bộ.

3- Để đảm bảo quyền dân chủ của đảng viên và của quần chúng trong việc phê bình, báo cáo, đề đạt ý kiến, tránh sự thành kiến, trả thù người tố cáo, yêu cầu tổ chức đảng và cán bộ, đảng viên có liên quan đến việc giải quyết tố cáo phải giữ bí mật cho người tố cáo. Không được bằng bất cứ hành động, lời nói nào để lộ nội dung tố cáo, tên người tố cáo cho đối tượng bị tố cáo hoặc người không có trách nhiệm biết.

4- Không để đối tượng bị tố cáo chủ trì việc giải quyết tố cáo đối với mình, cũng không để người tố cáo hoặc người có liên quan đến tố cáo để chủ trì giải quyết tố cáo để đảm bảo khách quan, chính xác, hiệu quả, tránh phức tạp không đáng có.

5- Ủy ban kiểm tra hoặc cấp giải quyết tố cáo phải xử lý hoặc đề nghị cấp ủy xử lý hay chỉ đạo xử lý nghiêm minh bằng kỷ luật đảng, kỷ luật hành chính hoặc pháp luật những trường hợp trù dập, trả thù người tố cáo; cản trở, dìm bỏ, không xem xét giải quyết tố cáo; bao che cho những việc làm sai trái của đối tượng bị tố cáo; để lộ nội dung tố cáo, tên người tố cáo cho đối tượng bị tố cáo, người không có trách nhiệm biết; lợi dụng tố cáo để xuyên tạc, vu cáo, đả kích, gây dư luận xấu đối với người khác.

Những nơi để xảy ra tình trạng trù dập, trả thù người tố cáo hoặc lợi dụng quyền tố cáo làm mất ổn định chính trị, gây thiệt hại cho tổ chức và cá nhân thì cấp ủy và đảng viên là thủ trưởng cơ quan đó phải chịu trách nhiệm.

6- Tổ chức đảng phải đảm bảo quyền dân chủ của đảng viên, quần chúng trong việc giám sát, tố cáo, phản ảnh về những tổ chức đảng và đảng viên vi phạm. Phải phối hợp, thực hiện đầy đủ các yêu cầu của tổ chức đảng có thẩm quyền giải quyết tố cáo.

Trong thời gian tổ chức đảng có thẩm quyền đang giải quyết, chưa kết luận thì phải bảo đảm các quyền của đảng viên, của tổ chức đảng bị tố cáo; giáo dục đảng viên, tổ chức đảng thực hiện nghiêm chỉnh các yêu cầu của tổ chức đảng giải quyết tố cáo.

7- Việc giải quyết tố cáo đối với tổ chức đảng và đảng viên thuộc trách nhiệm của cấp ủy, ban thường vụ cấp ủy, ủy ban kiểm tra cấp quản lý tổ chức đảng, đảng viên đó. Cấp ủy, ủy ban kiểm tra có trách nhiệm xem xét, giải quyết, kết luận đúng đắn và chiụ trách nhiệm về kết luận của mình. Chỉ có cấp ủy, ban thường vụ cấp ủy cùng cấp và cấp trên, ủy ban kiểm tra cấp trên mới có quyền kiểm tra lại kết luận, thông báo, quyết định của ủy ban kiểm tra về giải quyết tố cáo.

B. GIẢI QUYẾT KHIẾU NẠI VỀ KỶ LUẬT ĐẢNG.

I- MỞ ĐẦU:

- Công tác kiểm tra, giám sát => Đánh giá, nhận xét những ưu, khuyết điểm, nguyên nhân và rút ra những bài học kinh nghiệm trong quá trình lãnh đạo, chỉ đạo tổ chức thực hiện nhiệm vụ theo chức năng, nhiệm vụ được quy định của cơ quan, đơn vị, gắn với trách nhiệm của cấp uỷ, cá nhân, người đứng đầu cơ quan, đơn vị.

Tuy nhiên, vi phạm đến mức phải xử lý thì tiến hành xem xét, xử lý kỷ luật.

- Việc TCĐ và đảng viên yêu cầu TCĐ có thẩm quyền xem xét giải quyết lại quyết định kỷ luật hoặc quyết định giải quyết khiếu nại kỷ luật của TCĐ cấp dưới, nhằm góp phần ổn định tình hình đoàn kết, thống nhất, đảm bảo nguyên tắc trong sinh hoạt nội bộ đảng và bảo vệ quyền lợi của TCĐ và đảng viên bị thi hành kỷ luật.

=> Chính vì lẽ đó, công tác giải quyết khiếu nại về kỷ luật đảng có vị trí, vai trò quan trọng, nói cách khác, giải quyết khiếu nại là hình thức “phúc thẩm”, “giám đốc thẩm” của các quyết định thi hành kỷ luật Đảng.

II- Ý NGHĨA, TÁC DỤNG:

- Khiếu nại về kỷ luật Đảng là việc TCĐ, đảng viên bị thi hành kỷ luật yêu cầu TCĐ có thẩm quyền xem xét lại về kỷ luật Đảng. Đây là quyền của TCĐ và đảng viên bị thi hành kỷ luật được quy định tại Điều 39 ĐLĐ.

-> Giải quyết khiếu nại về kỷ luật Đảng là nhiệm vụ của cấp uỷ, ban thường vụ cấp uỷ, uỷ ban kiểm tra: Phải thực hiện cho được quyền của TCĐ và đảng viên (Điều 39), đồng thời xem xét trách nhiệm của TCĐ có thẩm quyền thi hành kỷ luật.

- Xác định quyền khiếu nại kỷ luật đảng và trách nhiệm xem xét, giải quyết khiếu nại của TCĐ và đảng viên, nhằm:

+ Đảm bảo nguyên tắc tập trung dân chủ trong sinh hoạt Đảng;

+ Đảm bảo quyền dân chủ của TCĐ và đảng viên trước kỷ luật của Đảng.

+ Chăm lo và giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa TCĐ cấp trên với TCĐ cấp dưới và đảng viên, giữa TCĐ có thẩm quyền thi hành kỷ luật với đối tượng bị thi hành kỷ luật.

=> Cần kịp thời giải quyết mọi thắc mắc, khiếu nại kỷ luật Đảng của TCĐ và đảng viên, nhằm đảm bảo, ổn định tình hình đoàn kết, thống nhất trong nội bộ đảng.

III- NỘI DUNG, ĐỐI TƯỢNG:

1- Nội dung:

Uỷ ban kiểm tra các cấp chỉ xem xét giải quyết khiếu nại về kỷ luật Đảng; những nội dung không thuộc phạm vi giải quyết khiếu nại kỷ luật Đảng thì chuyển cho các cơ quan chức năng có thẩm quyền giải quyết, đồng thời thông báo cho đối tượng khiếu nại biết.

=> Cần phân biệt:

+ Khiếu nại kỷ luật Đảng.

+ Khiếu nại kỷ luật về hành chính.

+ Kết luận lịch sử chính trị.

+ Tính tuổi Đảng bầu cử trong Đảng.

+ Xoá tên.

2- Đối tượng:

- Tất cả các thư khiếu nại của TCĐ và đảng viên về kỷ luật đảng thuộc trách nhiệm giải quyết của cấp mình, của uỷ ban kiểm tra.

- Cần ưu tiên giải quyết khiếu nại:

+ Đối với các hình thức kỷ luật cao: Khai trừ đối với đảng viên; giải tán đối với TCĐ.

+ Đối với các đảng viên liên quan đến nhân sự cấp uỷ, chính quyền, đoàn thể (bầu cử, bổ nhiệm).

+ Đối với các vụ kỷ luật có dấu hiệu oan, sai hoặc bị trù dập.

- Khiếu nại nhưng chưa được giải quyết thì đã qua đời: Vẫn tiến hành xem xét, giải quyết; nếu người thân (cha, mẹ, vợ hoặc chồng, con) trong gia đình đảng viên đó yêu cầu cho biết kết quả thì thông báo tóm tắt kết quả giải quyết cho TCĐ nơi cư trú và thân nhân của người đó biết.

Nếu đảng viên đó đã chết, sau đó gia đình mới viết đơn khiếu nại (cũng là đảng viên) thì không xem xét giải quyết mà gặp gia đình đảng viên đó để giải thích, thuyết phục.

=> Khiếu nại hộ: + Khi đảng viên đó còn sống.

+ Khi đảng viên đó đã chết. -> không xem xét.

3- Phạm vi giải quyết:

- Phải giải quyết theo trình tự phân cấp theo thẩm quyền.

Lưu ý:

- Ban thường vụ, uỷ ban kiểm tra của đảng uỷ cơ sở và đảng uỷ bộ phận có trách nhiệm xem xét khiếu nại về kỷ luật đảng của đảng viên do chi bộ quyết định nhưng không có quyền chuẩn y, thay đổi hoặc xoá bỏ hình thức kỷ luật mà phải đề nghị đảng uỷ cơ sở xem xét, quyết định.

- Trường hợp cấp uỷ viên cấp trên hoặc đảng viên là cán bộ thuộc diện cấp uỷ cấp trên quản lý bị chi bộ thi hành kỷ luật bằng hình thức khiển trách hoặc cảnh cáo, nếu không đồng ý với quyết định kỷ luật của chi bộ thì có quyền khiếu nại đến cấp uỷ mà mình là thành viên hoặc TCĐ trực tiếp quản lý mình để xem xét, giải quyết.

* Thời hạn khiếu nại (Quyết định số 46-QĐ/TW, ngày 01/11/2011 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng): 30 ngày (làm việc) kể từ ngày TCĐ có thẩm quyền thông báo quyết định kỷ luật hoặc quyết định giải quyết khiếu nại kỷ luật đến ngày khiếu nại (không phải là tính từ ngày ghi trong quyết định kỷ luật hoặc quyết định giải quyết khiếu nại kỷ luật).

Lưu ý: Thời hạn giải quyết khiếu nại kỷ luật Đảng:

+ Căn cứ vào dấu Bưu điện.

+ Không căn cứ vào ngày đề trong đơn khiếu nại.

- Không giải quyết những trường hợp sau:

+ Quá thời hạn 30 ngày (kể từ ngày nhận quyết định kỷ luật hoặc quyết định giải quyết khiếu nại đến ngày khiếu nại).

+ Đã hoặc đang được cấp trên có thẩm quyền giải quyết.

+ Đã được cấp có thẩm quyền cao nhất xem xét, kết luận, nay khiếu nại tiếp -> người khiếu nại không cung cấp được tài liệu, chứng cứ mới để làm rõ sự việc.

+ Trường hợp đảng viên vi phạm pháp luật bị cơ quan chức năng quyết định từ cải tạo không giam giữ trở lên mà cơ quan chức năng có thẩm quyền chưa đưa ra quyết định huỷ bỏ bản án (hoặc giảm án nhẹ hơn).

+ Cá nhân, tập thể và TCĐ khiếu nại hộ cho TCĐ hoặc đảng viên bị thi hành kỷ luật.

+ Khiếu nại khi chưa có quyết định kỷ luật của TCĐ có thẩm quyền.

* Thời hạn giải quyết khiếu nại (Quyết định số 46-QĐ/TW, ngày 01/11/2011 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng):

- Chậm nhất là 90 ngày đối với cấp tỉnh, thành, huyện, quận và tương đương trở xuống; 180 ngày đối với cấp Trung ương, kể từ ngày nhận được khiếu nại => Phải xem xét, giải quyết, trả lời cho đối tượng khiếu nại.

- Nghiêm cấm các hành vi cản trở, dìm bỏ, không xem xét, giải quyết khiếu nại kỷ luật đảng.

- Trường hợp hết thời hạn mà chưa giải quyết xong thì phải thông báo cho đối tượng khiếu nại biết.

- Sau khi công bố quyết định kỷ luật hoặc quyết định giải quyết khiếu nại kỷ luật mà đối tượng bị kỷ luật có khiếu nại trực tiếp đến cấp mình, thì chủ động xem xét lại, nếu thấy quyết định của cấp mình không đúng mức thì thay đổi quyết định đó cho phù hợp.

IV- CÁCH TIẾN HÀNH:

Giải quyết khiếu nại về kỷ luật đảng là xem xét lại quyết định kỷ luật của TCĐ có thẩm quyền quyết định.

Phương châm: Thận trọng, công minh, chính xác, khách quan để đối tượng khiếu nại tâm phục, khẩu phục.

Trong biên bản làm việc nên ghi rõ các nội dung buổi làm việc có liên quan đến nội dung kiểm tra đồng thời hỏi và ghi 02 câu sau:

+ Buổi làm việc này đồng chí thấy có khách quan thoải mái không?

+ Biên bản này đã được đọc lại cho các đồng chí dự họp nghe.

1- Bước chuẩn bị:

- Nghiên cứu nội dung của người khiếu nại đưa ra, yêu cầu của đối tượng khiếu nại là những cái gì (khiếu nại có thể là: nội dung - một số hoặc tất cả, hình thức kỷ luật hoặc cả hai; về văn bản - câu chữ, số liệu…; nguyên tắc, thủ tục trong quyết định kỷ luật hoặc quyết định giải quyết khiếu nại…).

- Tiếp cận hồ sơ thi hành kỷ luật, hồ sơ giải quyết khiếu nại, các văn bản tài liệu của TCĐ có thẩm quyền có liên quan.

=> Phát hiện ra những vấn đề trong giải quyết, xem xét còn vướng mắc (đơn đề cập: xử nặng, thiếu khách quan, công bằng, bị oan... -> xin giảm).

* Các tài liệu chúng ta cần chú ý:

+ Nội dung kiểm điểm của đối tượng bị xử lý kỷ luật.

+ Nội dung phản biện của người khiếu nại.

+ Nghiên cứu các đơn khiếu nại (nhiều đơn nhưng không giống nhau).

-> Đối chiếu với các tài liệu của TCĐ đã giải quyết và chứng cứ trong thẩm tra xác minh.

- Sau khi nghiên cứu, cán bộ kiểm tra phải báo cáo, và khi đại diện uỷ ban kiểm tra đồng ý: Gặp người khiếu nại (nếu có điều kiện), các TCĐ đã giải quyết kỷ luật đảng, khiếu nại theo trình tự từ thấp đến cao.

- Dự kiến kế hoạch nội dung thẩm tra xác minh; xây dựng kế hoạch, lịch trình và dự kiến đoàn (tổ) kiểm tra giải quyết khiếu nại.

=> Kế hoạch giải quyết khiếu nại phải được Thường trực Uỷ ban, Uỷ viên phụ trách địa bàn thống nhất thông qua.

Lưu ý: Chỉ giải quyết những nội dung của quyết định kỷ luật đảng mà đối tượng bị kỷ luật có khiếu nại. Tuy nhiên, đối với những đơn khiếu nại có nhiều vấn đề, có dấu hiệu bị xử lý oan hoặc bị trù dập thì cần phải xem xét lại toàn bộ nội dung trong quyết định xử lý kỷ luật.

2- Bước tiến hành:

- Thành lập đoàn (tổ) kiểm tra (thống nhất gọi chung là đoàn kiểm tra cho tất cả các cuộc kiểm tra).

- Làm việc với Thường trực cấp uỷ cấp dưới trực tiếp (hoặc uỷ ban kiểm tra) để yêu cầu cử cán bộ phối hợp.

Trường hợp bổ sung nội dung xem xét giải quyết hoặc có những nội dung cần các cơ quan nghiệp vụ phải giám định thì đồng chí trưởng đoàn (tổ) kiểm tra báo cáo đồng chí Uỷ viên phụ trách hoặc Thường trực Uỷ ban xem xét quyết định.

Qua nghiên cứu nội dung, hình thức khiếu nại, xem xét hồ sơ tài liệu và gặp gỡ TCĐ, đảng viên…mà nội dung giải quyết không thay đổi hình thức kỷ luật thì đoàn (tổ) kiểm tra giải thích, động viên TCĐ, đảng viên khiếu nại rút đơn -> Tuyệt đối không được ép buộc đối tượng khiếu nại rút đơn khiếu nại.

- Đoàn (tổ) kiểm tra thu thập tài liệu, chứng cứ; tiến hành thẩm tra xác minh; tổ chức gặp TCĐ, các tổ chức đoàn thể nơi đảng viên khiếu nại kỷ luật đảng để tìm hiểu đạo đức, lối sống, công tác… của người khiếu nại từ khi bị xử lý kỷ luật đến thời điểm giải quyết khiếu nại -> Yêu cầu nêu rõ chính kiến về nội dung và hình thức kỷ luật (bằng văn bản).

- Tổ chức hội nghị BTV, Thường trực để đoàn (tổ) kiểm tra báo cáo và xem xét, kết luận (dự thảo văn bản thẩm tra xác minh).

*/ Phiếu biểu quyết đề nghị xem xét, đề nghị giải quyết khiếu nại kỷ luật Đảng:

+ Giữ nguyên hình thức kỷ luật.

+ Thay đổi hình thức kỷ luật:

. Đảng viên: Khiển trách, cảnh cáo, cách chức (ghi đầy đủ các chức vụ của đảng viên đó), khai trừ.

.TCĐ: Khiển trách, cảnh cáo, giải tán.

+ Xoá bỏ hình thức kỷ luật đang áp dụng.

=> Lưu ý: Đoàn (tổ) giải quyết khiếu nại có trách nhiệm làm rõ nội dung khiếu nại trong quá trình thẩm tra xác minh và báo cáo cấp uỷ có thẩm quyền xem xét kết luận giải quyết khiếu nại theo nội dung báo cáo của đoàn (tổ) giải quyết khiếu nại chứ không cho ý kiến về hình thức giải quyết khiếu nại (giữ nguyên hay thay đổi hình thức kỷ luật).

- Đoàn (tổ) kiểm tra tiếp tục thẩm tra, xác minh bổ sung (nếu cần).

- Hoàn chỉnh báo cáo kiểm tra và gửi thường trực uỷ ban.

3- Bước kết thúc:

- Đoàn (tổ) kiểm tra báo cáo kết quả giải quyết khiếu nại, trình bày đầy đủ:

+ Ý kiến của: đối tượng khiếu nại; các TCĐ đã đề nghị, đã thi hành kỷ luật, đã giải quyết khiếu nại. ->Không đồng ý hoặc khác với đoàn (tổ) kiểm tra.

+ Đề xuất những vấn đề thuộc cơ chế, chính sách (nếu có).

+ Trường hợp thay đổi hoặc xoá bỏ hình thức kỷ luật khai trừ: Phải báo cáo về tư cách, phẩm chất của người khiếu nại từ sau khi bị thi hành kỷ luật.

=> Uỷ ban kiểm tra thảo luận, kết luận nội dung giải quyết khiếu nại.

- Hoàn chỉnh thông báo kết luận, quyết định của uỷ ban kiểm tra hoặc báo cáo đề nghị cấp trên thi hành kỷ luật và những yêu cầu khác (nếu có); trình ký, ban hành.

- Thông báo kết quả giải quyết khiếu nại, những yêu cầu, kiến nghị và công bố quyết định giải quyết khiếu nại đến TCĐ có liên quan và đối tượng khiếu nại.

+ Trường hợp thay đổi hoặc xoá bỏ hình thức kỷ luật cần: làm tốt công tác tư tưởng đối với TCĐ cấp dưới và đối tượng khiếu nại.

+ TCĐ cấp dưới nếu còn ý kiến khác hoặc chưa đồng tình với kết luận, quyết định của TCĐ cấp trên thì báo cáo bằng văn bản và chấp hành quyết định của TCĐ cấp trên.

-> TCĐ và đảng viên là đối tượng được giải quyết khiếu nại vẫn chưa đồng tình thì tiếp tục khiếu nại lên TCĐ cấp trên TCĐ đã giải quyết.

-> Nếu đối tượng bị thi hành kỷ luật từ chối nghe công bố hoặc không nhận quyết định thì ghi vào biên bản, quyết định vẫn được công bố và có hiệu lực thi hành ngay.

- Rút kinh nghiệm việc giải quyết khiếu nại, lập và lưu trữ hồ sơ.

Theo dõi, kiểm tra, đôn đốc việc thực hiện các quyết định về giải quyết khiếu nại.

V- NHỮNG VẤN ĐỀ CẦN NẮM VỮNG:

1- Kiểm tra việc thi hành kỷ luật trong Đảng bao gồm nhiều nội dung. Để đạt chất lượng và hiệu quả, nội dung kiểm tra nên tập trung vào một số vấn đề chủ yếu, mốc thời gian kiểm tra không nên dài; đối tượng kiểm tra chủ yếu là cấp uỷ hoặc ban thường vụ cấp uỷ và uỷ ban kiểm tra cấp dưới trực tiếp.

2- Có thể kết hợp việc kiểm tra thi hành kỷ luật trong Đảng với việc giải quyết từng vụ hoặc nhiều vụ khiếu nại ở một đảng bộ trong một thời gian nhất định để có thể nhận xét, đánh giá ưu điểm, khuyết điểm và nguyên nhân của việc thực hiện phương hướng, phương châm, nguyên tắc, thủ tục thi hành kỷ luật trong Đảng của đảng bộ đó và yêu cầu những vấn đề cần sửa đổi, khắc phục.

3- Kiểm tra việc thi hành kỷ luật trong Đảng không những chỉ nghiên cứu những hồ sơ về thi hành kỷ luật, về giải quyết khiếu nại kỷ luật, mà còn phải nghiên cứu hồ sơ về giải quyết các vụ tố cáo, các hồ sơ liên quan đến việc thi hành kỷ luật tổ chức đảng và đảng viên (nơi được kiểm tra), vì những loại hồ sơ này thường chứa đựng những nội dung, yếu tố có liên quan chặt chẽ đến việc vận dụng thực hiện phương hướng, phương châm thi hành kỷ luật mà uỷ ban kiểm tra các cấp (cấp kiểm tra) cần quan tâm xem xét.

Câu hỏi thảo luận:

1- Đ/c hãy trình bày quy trình một vụ giải quyết khiếu nại kỷ luật Đảng đối với đảng viên?

2- Theo đồng chí trong quy trình giải quyết khiếu nại kỷ luật Đảng thì bước nào là quan trọng nhất? Vì sao?

3- Theo quy trình giải quyết tố cáo đối với TCĐ, đảng viên, đồng chí thấy khâu nào, nội dung nào là khó nhất, vì sao?

4- Đề xuất, kiến nghị với cấp uỷ và uỷ ban kiểm tra cấp trên về những vướng mắc gì cần khắc phục trong công tác giải quyết tố cáo?




I.CHUYÊN ĐỀ 3

II.CÔNG TÁC KIỂM TRA KHI CÓ DẤU HIỆU VI PHẠM

III.ĐỐI VỚI TỔ CHỨC ĐẢNG VÀ ĐẢNG VIÊN

IV. -----------

V.I. KIỂM TRA ĐẢNG VIÊN KHI CÓ DẤU HIỆU VI PHẠM

1. KHÁI NIỆM, Ý NGHĨA, TÁC DỤNG:

a. Khái niệm:

Dấu hiệu vi phạm là những hiện tượng cho thấy có sự không tuân theo hoặc làm trái những điều quy định.

Khi có dấu hiệu vi phạm là khi có những biểu hiện việc không tuân theo hoặc làm trái những điều quy định mà đã phát hiện và nhận biết được. Đảng viên có dấu hiệu vi phạm là những đảng viên có những hiện tượng cho thấy có sự không tuân theo hoặc làm trái tiêu chuẩn đảng viên, tiêu chuẩn cấp ủy viên và trong việc thực hiện nhiệm vụ đảng viên.

Dấu hiệu vi phạm mới chỉ là hiện tượng, chưa phải là bản chất nên đảng viên có dấu hiệu vi phạm chưa phải là đảng viên sai phạm. Chỉ khi nào kiểm tra kết luận có sai phạm thì đảng viên đó mới là đảng viên sai phạm cần xem xét và có hình thức kỷ luật.

Kiểm tra đảng viên khi có dấu hiệu vi phạm là nhiệm vụ của tổ chức đảng có thẩm quyền, trước hết là của ủy ban kiểm tra các cấp nhằm xem xét, kết luận đảng viên có hoặc không vi phạm tiêu chuẩn đảng viên, tiêu chuẩn cấp ủy viên và trong việc thực hiện nhiệm vụ đảng viên và xử lý kịp thời nếu có vi phạm đến mức phải xử lý.

b. Ý nghĩa:

Kiểm tra đảng viên là một nhiệm vụ quan trọng và thường xuyên của tổ chức đảng. Chất lượng đội ngũ đảng viên là nhân tố quyết định tạo nên sức mạnh của Đảng. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: "Để lãnh đạo cách mạng, Đảng phải mạnh, Đảng mạnh là do chi bộ tốt, chi bộ tốt là do đảng viên tốt". Để nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên, bên cạnh việc giáo dục bồi dưỡng, rèn luyện phẩm chất, đạo đức cách mạng, kiến thức, năng lực cho đảng viên, các tổ chức đảng phải thường xuyên coi trọng và làm tốt công tác kiểm tra đảng viên. Nhất là trong giai đoạn đảng ta đang triển khai thực hiện Nghị quyết lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương, khoá XI “một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay”.

c. Tác dụng:

Thực hiện nhiệm vụ kiểm tra đảng viên khi có DHVP nhằm giúp cho đảng viên kịp thời nhận rõ ưu điểm, khuyết điểm hoặc vi phạm (nếu có); không để khuyết điểm trở thành vi phạm, khuyết điểm hoặc vi phạm của một người trở thành khuyết điểm vi phạm của nhiều người, vi phạm ít nghiêm trọng trở thành vi phạm nghiêm trọng... Qua kiểm tra nếu đảng viên có vi phạm đến mức phải thi hành kỷ luật thì phải thi hành kỷ luật công minh, chính xác, kịp thời. Kiểm tra đảng viên khi có DHVP còn giúp cho tổ chức đảng quản lý đảng viên thấy rõ trách nhiệm của mình trong việc quản lý, giáo dục và kiểm tra đảng viên, góp phần nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên, xây dựng tổ chức đảng trong sạch vững mạnh.

2. NỘI DUNG, ĐỐI TƯỢNG:

a. Nội Dung:

Kiểm tra đảng viên khi có DHVP tiêu chuẩn đảng viên, tiêu chuẩn cấp ủy viên và trong việc thực hiện nhiệm vụ đảng viên. Nội dung tiêu chuẩn đảng viên, tiêu chuẩn cấp ủy viên, nhiệm vụ đảng viên được quy định tại Điều 1, Điều 2, Điều 12 của Điều lệ Đảng, UBKT phải căn cứ chức trách, nhiệm vụ được giao và tính chất, dấu hiệu vi phạm của đảng viên. Nếu phát hiện đảng viên có DHVP nội dung nào trong các nội dung trên thì xác định đó là nội dung kiểm tra, kết luận.

Chú ý phát hiện và kiểm tra các DHVP trên các mặt chủ yếu sau:

Thứ nhất: Việc chấp hành các quy định của Điều lệ Đảng, chủ trương, nghị quyết, chỉ thị, các quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước.

Thứ hai: Việc chấp hành, thực hiện các chức trách, nhiệm vụ được giao.

Thứ ba: Việc chấp hành quy chế làm việc, các nguyên tắc tổ chức, sinh hoạt đảng, trước hết là nguyên tắc tập trung dân chủ; chấp hành các quy định của Đảng và pháp luật của Nhà nước về những việc mà đảng viên, cán bộ công chức không được làm.

Thứ tư: Việc giữ gìn phẩm chất chính trị, đạo đức cách mạng, lối sống, giữ gìn đoàn kết, thống nhất nội bộ; thực hành tiết kiệm, chống lãng phí; phòng chống tham nhũng; gắn bó mật thiết với nhân dân.

Thứ năm: Việc phục tùng tổ chức, kỷ luật đảng.

b. Đối tượng:

Ủy ban kiểm tra các cấp có nhiệm vụ kiểm tra mọi đảng viên trong đảng bộ. nhưng không phải là đảng viên thuộc diện cấp ủy cấp trên quản lý; trước hết là cấp ủy viên cùng cấp, đảng viên là cán bộ do cấp ủy cấp mình quản lý khi có DHVP. Trường hợp đảng viên có DHVP là cấp ủy viên cùng cấp nhưng lại là cán bộ do cấp ủy cấp trên quản lý (bí thư, phó bí thư, chủ tịch HĐND, Chủ tịch UBND), khi UBKT cấp dưới phát hiện có DHVP thì báo cáo để UBKT cấp trên chủ trì và phối hợp kiểm tra.

Đối với những cán bộ thuộc diện cấp ủy cấp mình quản lý nhưng trước khi được bổ nhiệm phải có ý kiến của các ban có liên quan của cấp ủy cấp trên (theo quy định phân cấp quản lý cán bộ của cấp ủy các cấp) thì khi kiểm tra do ủy ban kiểm tra cùng cấp chủ trì và có sự chỉ đạo phối hợp của ủy ban kiểm tra cấp trên.

3. CÁCH TIẾN HÀNH (quy trình):

a. Bước chuẩn bị:

Thứ nhất: Nắm bắt tình hình, phát hiện dấu hiệu vi phạm của đảng viên thông qua:

Việc nắm bắt tình hình để phát hiện dấu hiệu vi phạm của đảng viên trong đảng bộ cơ sở phải được uỷ ban kiểm tra đảng uỷ cơ sở tiến hành thường xuyên qua các kênh thông tin, đó là:

Thông qua việc theo dõi tình hình hoạt động và sinh hoạt của tổ chức đảng, đảng viên; công tác kiểm tra, giám sát, thanh tra của các cấp uỷ, tổ chức đảng, tổ chức nhà nước, Mặt trận tổ quốc, các tổ chức chính trị- xã hội; tự phê bình và phê bình của các tổ chức đảng và đảng viên; việc bình xét, phân tích chất lượng đảng viên, tổ chức đảng; khiếu nại, phản ánh, kiến nghị của đảng viên và quần chúng; phản ánh của các thông tin đại chúng đã được kiểm chứng;…..

Thứ hai: Lập kế hoạch kiểm tra

Trên cơ sở dấu hiệu vi phạm được phát hiện, sau khi tiến hành khảo sát (có thể thẩm tra, xác minh để làm rõ các căn cứ), tập thể uỷ ban kiểm tra đảng uỷ cơ sở phân tích, xác định chọn nội dung, đối tượng cần tiến hành kiểm tra, nếu đối tượng là đảng uỷ viên hoặc trưởng đầu ngành thì nên xin ý kiến Thường trực đảng uỷ, sau đó phân công cán bộ lập kế hoạch kiểm tra. Trong kế hoạch kiểm tra cần nêu rõ: mục đích, yêu cầu, nội dung kiểm tra, đối tượng được kiểm tra, thời gian và các bước tiến hành kiểm tra, đồng thời phân công cán bộ tiến hành kiểm tra.

Thứ ba: Trao đổi với đại diện tổ chức đảng có liên quan

Đại diện ủy ban kiểm tra trao đổi với đại diện tổ chức đảng có liên quan đến đảng viên được kiểm tra và nội dung kiểm tra.

Thứ tư: Ban hành quyết định kiểm tra đảng viên khi có dấu hiệu vi phạm:

Sau khi thống nhất kế hoạch kiểm tra, uỷ ban kiểm tra đảng uỷ cơ sở ra quyết định và các văn bản kèm theo (quyết định thành lập tổ kiểm tra, kế hoạch kiểm tra; Hướng dẫn gợi ý đảng viên được kiểm tra viết báo cáo tự kiểm tra) để kiểm tra đảng viên khi có dấu hiệu vi phạm, trong quyết định cần xác định rõ chủ thể tiến hành kiểm tra (uỷ ban kiểm tra đảng uỷ cơ sở), đối tượng, nội dung dấu hiệu vi phạm được kiểm tra; thành lập tổ hoặc cán bộ được phân công tiến hành kiểm tra (nên thành lập tổ KT và trưng dụng thêm một số đảng viên trong đảng ủy cơ sở).

Thứ năm: Xây dựng lịch trình kiểm tra

Tổ kiểm tra (nếu có) xây dựng lịch trình kiểm tra; phân công nhiệm vụ cho từng thành viên trong tổ

b. Bước tiến hành:

Thứ nhất: Công bố quyết định, kế hoạch kiểm tra

Sau khi xây dựng xong kế hoạch và quyết định tiến hành kiểm tra đảng viên khi có dấu hiệu vi phạm, uỷ ban kiểm tra đảng uỷ cơ sở thống nhất với cấp uỷ nơi có đảng viên được kiểm tra để tổ chức hội nghị gồm: Đại diện uỷ ban kiểm tra đảng uỷ cơ sở, tổ kiểm tra hoặc cán bộ được phân công tiến hành kiểm tra, đại diện cấp uỷ, đảng viên được kiểm tra để thông qua các nội dung sau: công bố quyết định kiểm tra của uỷ ban kiểm tra đảng uỷ cơ sở, thông qua kế hoạch kiểm tra của tổ kiểm tra hoặc kế hoạch của cán bộ được phân công tiến hành kiểm tra, hướng dẫn cho đảng viên được kiểm tra viết báo cáo tự kiểm tra và quy định ngày nộp báo cáo đó cho ủy ban kiểm tra. Hội nghị này phải thiết lập biên bản ghi rõ diễn biến, nhất là các ý kiến của tổ chức đảng nơi quản lý đảng viên và đảng viên được kiểm tra để làm rõ các nội dung theo yêu cầu của cuộc kiểm tra và để lưu hồ sơ kiểm tra.

Thứ hai: Tiến hành kiểm tra theo kế hoạch

- Thu thập tài liệu, chứng cứ và các văn bản tài liệu liên quan; nhận và nghiên cứu báo cáo tự kiểm tra của đảng viên được kiểm tra, xây dựng kế hoạch thẩm tra, xác minh và tiến hành thẩm tra, xác minh, làm việc với các tổ chức đảng và cá nhân có liên quan.

- Đại diện tổ chức đảng có thẩm quyền và tổ hoặc cán bộ được phân công tiến hành kiểm tra trao đổi với đảng viên được kiểm tra những nội dung cần bổ sung, làm rõ;

Nếu cần bổ sung nội dung kiểm tra, thì tổ hoặc cán bộ được phân công tiến hành kiểm tra báo cáo cho ủy ban kiểm tra đảng ủy xem xét, quyết định;

Nếu thấy đảng viên có khuyết điểm hoặc vi phạm đến mức phải thi hành kỷ luật thì báo cáo cho đảng ủy, ủy ban kiểm tra đảng ủy cho kết hợp làm quy trình xem xét, thi hành kỷ luật (Quy trình kép); gợi ý cho đảng viên viết bản tự kiểm điểm, tự nhận hình thức kỷ luật.

Thứ ba: Tổ chức hội nghị

* Họp chi bộ để đảng viên được kiểm tra trình bày báo cáo tự kiểm tra (tự kiểm điểm), trong hội nghị này cần mời đại diện thường trực đảng uỷ, chủ nhiệm hoặc phó chủ nhiệm UBKT đảng uỷ và cán bộ được phân công tiến hành kiểm tra của uỷ ban kiểm tra đảng uỷ cơ sở tham dự để gợi ý, bổ sung những vấn đề cần thiết, tạo cơ sở cho hội nghị xem xét, kết luận. Chủ toạ và thư ký hội nghị phải được chi bộ bầu thông qua biểu quyết giơ tay; nếu bí thư chi bộ là đối tượng kiểm tra thì không được chủ trì hội nghị mà bầu phó bí thư hoặc chi uỷ viên (nơi không có phó bí thư) chủ trì; sau khi chủ toạ thông báo nội dung kiểm tra thì đảng viên được kiểm tra báo cáo tự kiểm tra, tổ kiểm tra hoặc cán bộ phụ trách báo cáo kết quả thẩm tra, xác minh của tổ; chi bộ thảo luận, phân tích, nhận xét; chủ toạ tóm lược ý kiến kết luận để chi bộ cho ý kiến và biểu quyết về những vấn đề liên quan.

- Qua từng nội dung được kiểm tra, chi bộ xác định đảng viên có vi phạm hay không vi phạm; nêu cụ thể từng nội dung vi phạm (nếu có). Nếu vi phạm đã được làm rõ, đảng viên sai phạm đó thừa nhận, tự nhận hình thức kỷ luật thì chi bộ biểu quyết đề nghị hình thức kỷ luật.

- Việc đề xuất hình thức xử lý kỷ luật đối với đảng viên được kiểm tra khi có dấu hiệu vi phạm phải được thực hiện biểu quyết bằng phiếu kín và có biên bản kiểm phiếu kèm theo (biểu quyết 02 lần: lần thứ nhất biểu quyết có xử lý hay không xử lý, nếu kết quả biểu quyết lần thứ nhất có xử lý thì tiến hành biểu quyết lần thứ 2 về hình thức xử lý) .

- Quá trình xem xét chú ý đến nguyên nhân (chủ quan, khách quan) dẫn đến vi phạm; tính chất, tác hại do các vi phạm của đảng viên gây ra để cân nhắc trước khi xem xét, kết luận hoặc đề nghị tổ chức đảng có thẩm quyền xem xét, quyết định cho phù hợp.

Biên bản hội nghị các tổ chức đảng phải có ký tên, nếu có dấu thì đóng dấu gửi cho tổ kiểm tra.

Thứ tư: Tổ kiểm tra tiếp tục thẩm tra, xác minh

Trong quá trình kiểm tra, nếu phát hiện có những nội dung chưa rõ thì cán bộ (tổ kiểm tra) tiếp tục thẩm tra, xác minh làm rõ trước khi xem xét, kết luận; căn cứ vào báo cáo của đảng viên được kiểm tra, ý kiến kết luận của tổ chức đảng cấp dưới và kết quả thẩm tra, xác minh để dự kiến kết luận về những nội dung kiểm tra; trao đổi dự kiến kết luận với đảng viên được kiểm tra và tổ chức đảng có liên quan.

Thứ năm: Cán bộ (tổ) kiểm tra dự thảo báo cáo kết quả kiểm tra

Trong quá trình tham gia các hội nghị chi bộ, đảng uỷ bộ phận, nếu thấy có vấn đề gì cần thiết phải làm rõ thì cán bộ (tổ) kiểm tra tiến hành thẩm tra, xác minh thêm. Sau đó, dự thảo báo cáo kết quả kiểm tra đảng viên khi có dấu hiệu vi phạm.

Trường hợp có vi phạm đến mức phải thi hành kỷ luật thì ủy ban kiểm tra đảng ủy tham mưu cho cấp ủy gặp để nghe đảng viên được kiểm tra trình bày ý kiến trước khi trình ủy ban chấp hành đảng ủy xem xét, quyết định (theo điểm 3, Điều 39 của Hướng dẫn thực hiện các quy định về công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật của Đảng trong Chương VII và Chương VIII Điều lệ Đảng khoá X ban hành kèm theo Quyết định số 46-QĐ/TW, ngày 01/11/2011 của Ban Chấp hành Trung ương).

Trong buổi làm việc này, cán bộ (tổ) kiểm tra phải để cho đảng viên trình bày hết ý kiến và nói rõ việc nhất trí hay không nhất trí với quan điểm của tổ, thiết lập biên bản để làm cơ sở trình bày trước ủy ban kiểm tra đảng ủy và ban chấp hành đảng bộ xem xét, kết luận để lưu trữ hồ sơ sau khi kết thúc cuộc kiểm tra.

c. Bước kết thúc kiểm tra:

Thứ nhất: Tổ chức họp uỷ ban kiểm tra đảng uỷ cơ sở để xem xét, kết luận kiểm tra

Sau khi có báo cáo của cán bộ (tổ) kiểm tra, uỷ ban kiểm tra đảng uỷ cơ sở tổ chức hội nghị để nghe báo cáo của cán bộ (tổ) kiểm tra để cho ý kiến kết luận về những nội dung đã tiến hành kiểm tra đối với đảng viên được kiểm tra, bỏ phiếu kín đề nghị hình thức kỷ luật (nếu đảng viên được kiểm tra có khuyết điểm), những nội dung kết luận này, sau hội nghị phải được soạn thảo thành văn bản.

Thứ hai: Ban hành kết luận kiểm tra

Sau khi hoàn thành các bước tiến hành kiểm tra theo kế hoạch, uỷ ban kiểm tra đảng uỷ cơ sở tiến hành các thủ tục sau đây:

- Nếu kết luận đảng viên được kiểm tra không vi phạm hoặc có vi phạm nhưng chưa đến mức phải xử lý bằng các hình thức kỷ luật của đảng thì uỷ ban kiểm tra đảng uỷ cơ sở phổ biến văn bản kết luận trên đến chi bộ nơi có đảng viên được kiểm tra và đảng viên được kiểm tra biết để thực hiện; đồng thời, báo cáo cho đảng ủy và ủy ban kiểm tra cấp trên biết để theo dõi.

- Nếu kết luận đảng viên được kiểm tra có vi phạm đến mức phải xử lý bằng một trong các hình thức kỷ luật của đảng thì uỷ ban kiểm tra đảng ủy lập báo cáo tham mưu cho ban chấp hành đảng bộ xem xét, quyết định thi hành kỷ luật đối với đảng viên đó theo thẩm quyền và đúng với quy trình thi hành kỷ luật đối với đảng viên.

Thứ ba: Lập và lưu trữ hồ sơ

Hồ sơ kiểm tra đảng viên khi có dấu hiệu vi phạm phải có danh mục và lưu trữ đầy đủ các văn bản theo trình tự các công việc như đã nêu trên ( kể cả các văn bản, tài liệu phục vụ việc phát hiện dấu hiệu vi phạm và các tài liệu thẩm tra, xác minh nếu có). Trong trường hợp đảng viên được kiểm tra bị thi hành kỷ luật thì lưu trữ vào hồ sơ thi hành kỷ luật.

d. Những vấn đề cần nắm vững:

Thứ nhất: Kiểm tra đảng viên khi có dấu hiệu vi phạm tiêu chuẩn đảng viên, tiêu chuẩn cấp ủy viên và trong việc thực hiện nhiệm vụ đảng viên được xác định là nhiệm vụ trọng tâm của UBKT các cấp. Do vậy, UBKT các cấp cần quán triệt đầy đủ ý nghĩa, tác dụng, nội dung, yêu cầu, tính chủ động, kịp thời của nhiệm vụ kiểm tra đảng viên khi có dấu hiệu vi phạm.

Thứ hai: Kiểm tra đảng viên khi có dấu hiệu vi phạm là nhiệm vụ khó, trong thực tế nhiều địa phương, đơn vị thực hiện nhiệm vụ này rất khó khăn. Hai khó khăn chủ yếu là

- Xác định dấu hiệu vi phạm một cách chính xác với độ tin cậy cao.

- Tâm lý của cấp ủy, của người được kiểm tra còn nặng nề về cuộc kiểm tra khi có dấu hiệu vi phạm.

Vì vậy, muốn tháo gở khó khăn đó, cán bộ kiểm tra cần căn cứ vào tình hình cụ thể để có biện pháp phù hợp với hai yếu tố quan trọng nhất vẫn là nắm vững nội dung, bản lĩnh vững vàng, chủ động, linh hoạt trong quá trình thực hiện nhiệm vụ.

Thứ ba: Cán bộ kiểm tra còn vận dụng linh hoạt phương pháp kiểm tra và thực hiện tốt quy trình kiểm tra; trong đó, chú ý làm tốt công tác tư tưởng để đảng viên được kiểm tra báo cáo giải trình trung thực, đầy đủ nội dung kiểm tra. Tổ chức đảng quản lý đảng viên được kiểm tra có trách nhiệm động viên, giúp đỡ để đảng viên được kiểm tra thực hiện nghiêm túc. Ủy ban kiểm tra chủ động phối hợp với các cơ quan chức năng kiểm tra những nội dung mà ủy ban kiểm tra không đủ điều kiện xem xét, làm rõ, nhưng phải giữ vững vị trí, trách nhiệm của mình.

Thứ tư: Cần và có thể kết hợp giải quyết tố cáo đảng viên với kiểm tra đảng viên khi có dấu hiệu vi phạm trong trường hợp phát hiện đảng viên bị tố cáo có những dấu hiệu vi phạm khác mà tố cáo không nêu. Bởi vì, quy trình giải quyết tố cáo và quy trình kiểm tra đảng viên khi có dấu hiệu vi phạm có những bước căn bản giống nhau, nếu kết hợp sẽ đồng thời giải quyết được 02 việc. Khi kết hợp giải quyết cần giữ bí mật cho người tố cáo và bằng biện pháp thích hợp thông báo cho người tố cáo biết những nội dung cần thiết.

Thứ năm: Ủy ban kiểm tra các cấp cần phối kết hợp chặt chẽ với việc thực hiện nhiệm vụ kiểm tra đảng viên của cấp ủy và nhiệm vụ kiểm tra, phân tích chất lượng đảng viên của tổ chức cơ sở đảng để phát hiện dấu hiệu vi phạm làm cơ sở tiến hành kiểm tra đảng viên khi có dấu hiệu vi phạm.

đ. Lưu ý :

Thứ nhất: Ủy ban kiểm tra đảng ủy cơ sở không có thẩm quyền xử lý kỷ luật đảng viên.

Thứ hai: Đối tượng kiểm tra của uỷ ban kiểm tra đảng uỷ cơ sở là các đảng viên trong đảng bộ mà trước hết là cấp uỷ viên cùng cấp, đảng viên là cán bộ thuộc diện đảng uỷ cơ sở quản lý; do vậy, trường hợp đảng viên có dấu hiệu vi phạm là cấp uỷ viên cấp trên hoặc cán bộ thuộc diện cấp uỷ cấp trên quản lý (theo phân cấp quản lý cán bộ của cấp uỷ cấp trên) thì uỷ ban kiểm tra đảng uỷ cơ sở báo cáo đảng ủy và đề nghị ủy ban kiểm tra cấp trên tiến hành kiểm tra theo đúng thẩm quyền.

Thứ ba: Việc tổ chức hội nghị chi bộ để đảng viên được kiểm tra trình bày báo cáo tự kiểm tra là cần thiết; tuy nhiên, trong những trường hợp dấu hiệu vi phạm của đảng viên có những nội dung liên quan đến bí mật của Đảng hoặc Nhà nước thì uỷ ban kiểm tra đảng uỷ cơ sở không chỉ đạo cho đảng viên được kiểm tra trình bày những nội dung đó ở hội nghị chi bộ mà trình bày trước tổ chức đảng có thẩm quyền, sau khi kết luận thì báo lại kết quả để chi bộ biết.

--------------



II. KIỂM TRA TỔ CHỨC ĐẢNG KHI CÓ DẤU HIỆU VI PHẠM

1. KHÁI NIỆM, Ý NGHĨA, TÁC DỤNG

a. Khái niệm: Kiểm tra tổ chức đảng cấp dưới khi có dấu hiệu vi phạm là một nhiệm vụ kiểm tra của tổ chức đảng có thẩm quyền, trước hết là của ủy ban kiểm tra các cấp nhằm xem xét kết luận tổ chức đảng có hoặc không có vi phạm trong việc chấp hành Cương lĩnh chính trị, Điều lệ Đảng, nghị quyết, chỉ thị của Đảng, các nguyên tắc tổ chức của đảng và xử lý kịp thời nếu có vi phạm đến mức phải xử lý.

b. Ý nghĩa:

Các tổ chức đảng đều có nhiệm vụ chấp hành và lãnh đạo kiểm tra tổ chức đảng cấp dưới chấp hành Cương lĩnh chính trị, Điều lệ Đảng, nghị quyết, chỉ thị của Đảng, bảo đảm cho chủ trương, đường lối của Đảng được thực hiện thắng lợi trong thực tiễn.

c. Tác dụng:

Kiểm tra tổ chức đảng cấp dưới khi có DHVP là nhiệm vụ thường xuyên của UBKT các cấp, do đó UBKT các cấp chủ động, trực tiếp tiến hành nhằm giúp tổ chức đảng được kiểm tra thấy rõ ưu điểm, khuyết điểm vi phạm (nếu có) về những nội dung được kiểm tra, không để khuyết điểm trở thành vi phạm, vi phạm ít nghiêm trọng trở thành vi phạm nghiêm trọng... Qua kiểm tra nếu tổ chức đảng có vi phạm đến mức phải thi hành kỷ luật thì phải thi hành kỷ luật công minh, chính xác, kịp thời; góp phần bảo đảm Cương lĩnh chính tri, Điều lệ Đảng, nghị quyết, chỉ thị và các nguyên tắc của Đảng được chấp hành nghiêm chỉnh.

2. NỘI DUNG, ĐỐI TƯỢNG:

a. Nội dung:

Tập trung kiểm tra vào những nội dung chính sau:

Thứ nhất: Việc chấp hành Cương lĩnh chính trị, Điều lệ Đảng, chủ trương, đường lối, nghị quyết, chỉ thị, quy định của Đảng, chính sách pháp luật Nhà nước, nhất là những vấn đề có liên quan trực tiếp đến lĩnh vực hoạt động của tổ chức đảng nơi được kiểm tra.

Thư hai: Việc chấp hành nguyên tắc tập trung dân chủ, quy chế làm việc, chế độ công tác, thực hiện dân chủ trong Đảng, giữ gìn đoàn kết nội bộ (hay vi phạm).

Thứ ba: Việc thực hành tiết kiệm, phòng chống tham nhũng, lãng phí.

Thứ tư: Việc quản lý, giáo dục, rèn luyện phẩm chất đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên.

Thứ năm:Việc tuyển dụng, quy hoạch, luân chuyển, đào tạo, đề bạt, bố trí, sử dụng cán bộ.

Khi kiểm tra cần chú ý việc vận dụng đường lối, quan điểm, nghị quyết, chỉ thị, quy định, các nguyên tắc tổ chức của Đảng trong việc cụ thể hoá thành các quyết định, quy định, kế hoạch, quy chế hoạt động của tổ chức đảng nơi được kiểm tra.

b. Đối tượng:

Ủy ban kiểm tra có trách nhiệm kiểm tra các tổ chức đảng thuộc phạm vi quản lý của cấp ủy cấp mình khi có DHVP, nhưng trước hết là tổ chức đảng cấp dưới trực tiếp, nếu cần mới kiểm tra tổ chức đảng cấp dưới cách nhiều cấp. Khi kiểm tra tổ chức đảng cấp dưới có DHVP, có thể kết hợp một số đảng viên giữ cương vị chủ chốt trong tổ chức đảng đó.

3. CÁCH TIẾN HÀNH (Quy trình)

a. Bước chuẩn bị:

Thứ nhất: Khảo sát tình hình, xác định nội dung dấu hiệu vi phạm

Thông qua các kênh để phát hiện dấu hiệu vi phạm giống như việc khảo sát tình hình xác định nội dung dấu hiệu vi phạm đối với đảng viên trong đảng bộ, uỷ ban kiểm tra đảng uỷ cơ sở cần chủ động nắm bắt tình hình dấu hiệu vi phạm của các chi ủy, chi bộ và các đảng uỷ bộ phận trong đảng bộ để tiến hành kiểm tra (cần xin ý kiến của thường trực cấp uỷ trước khi kiểm tra).

Thứ hai: Lập kế hoạch kiểm tra

Trên cơ sở dấu hiệu vi phạm được phát hiện, sau khi tiến hành khảo sát (có thể thẩm tra, xác minh để làm rõ các căn cứ), tập thể uỷ ban kiểm tra đảng uỷ cơ sở phân tích, xác định chọn nội dung, đối tượng cần tiến hành kiểm tra. Trong kế hoạch kiểm tra cần nêu rõ: mục đích, yêu cầu, nội dung kiểm tra, đối tượng được kiểm tra, thời gian và các bước tiến hành kiểm tra; thành phần của tổ kiểm tra.

Thứ ba: Trao đổi với đại diện tổ chức đảng có liên quan

Đại diện ủy ban kiểm tra trao đổi với tổ chức đảng được kiểm tra về mục đích và nội dung kiểm tra.

Thứ tư: Ban hành quyết định kiểm tra đảng viên khi có dấu hiệu vi phạm:

Sau khi thống nhất kế hoạch kiểm tra, uỷ ban kiểm tra đảng uỷ cơ sở ban hành quyết định và các văn bản kèm theo (quyết định thành lập tổ kiểm tra, kế hoạch kiểm tra; gợi ý tổ chức đảng được kiểm tra báo cáo tự kiểm tra) để kiểm tra tổ chức đảng khi có dấu hiệu vi phạm, trong quyết định cần xác định rõ chủ thể tiến hành kiểm tra (uỷ ban kiểm tra đảng uỷ cơ sở), đối tượng, nội dung dấu hiệu vi phạm được kiểm tra; thành lập tổ kiểm tra.

Thứ năm: Xây dựng lịch trình kiểm tra:

Tổ kiểm tra xây dựng lịch trình kiểm tra; phân công nhiệm vụ cho từng thành viên trong tổ.

b. Bước tiến hành:

Thứ nhất: Công bố quyết định, kế hoạch kiểm tra

Sau khi xây dựng xong kế hoạch và quyết định tiến hành kiểm tra tổ chức đảng khi có dấu hiệu vi phạm, uỷ ban kiểm tra đảng uỷ cơ sở thống nhất với cấp uỷ được kiểm tra để tổ chức hội nghị gồm: Đại diện uỷ ban kiểm tra đảng uỷ cơ sở, tổ kiểm tra, đảng ủy bộ phận (hoặc chi bộ) để thông qua các nội dung sau: công bố quyết định kiểm tra của uỷ ban kiểm tra đảng uỷ cơ sở, thông qua kế hoạch kiểm tra của tổ kiểm tra, hướng dẫn cho cấp uỷ được kiểm tra viết báo cáo tự kiểm tra. Hội nghị này phải thiết lập biên bản ghi rõ diễn biến, nhất là những ý kiến của các thành viên tham gia hội nghị đóng góp kế hoạch kiểm tra, hướng dẫn báo cáo tự kiểm tra để làm rõ các nội dung theo yêu cầu của cuộc kiểm tra để lưu hồ sơ kiểm tra sau khi kết thúc cuộc kiểm tra.

Thứ hai: Tiến hành kiểm tra theo kế hoạch

- Thu thập tài liệu, chứng cứ và các văn bản tài liệu liên quan; nhận và nghiên cứu báo cáo tự kiểm tra của tổ chức đảng được kiểm tra, xây dựng kế hoạch thẩm tra, xác minh và tiến hành thẩm tra, xác minh.

- Đại diện tổ chức đảng có thẩm quyền và tổ kiểm tra trao đổi với tổ chức đảng được kiểm tra những nội dung cần bổ sung, làm rõ;

Nếu cần bổ sung nội dung kiểm tra, thì tổ kiểm tra báo cáo cho ủy ban kiểm tra đảng ủy xem xét, quyết định;

Nếu thấy tổ chức đảng có khuyết điểm hoặc vi phạm đến mức phải thi hành kỷ luật thì báo cáo cho đảng ủy, ủy ban kiểm tra đảng ủy cho kết hợp làm quy trình xem xét, thi hành kỷ luật (Quy trình kép); gợi ý cho tổ chức đảng tự nhận hình thức kỷ luật.

Thứ ba: Tổ chức hội nghị để tổ chức đảng được kiểm tra báo cáo tự kiểm tra

Nếu tổ chức đảng được kiểm tra là chi uỷ thì phải tổ chức hội nghị chi bộ để chi uỷ thông qua báo cáo tự kiểm tra, hội nghị này phải mời đại diện thường trực đảng uỷ và tổ kiểm tra tham dự.

Nếu tổ chức đảng được kiểm tra là chi bộ hoặc đảng uỷ bộ phận thì phải tổ chức hội nghị chi bộ hoặc đảng uỷ bộ phận để thảo luận báo cáo tự kiểm tra và có mời đại diện của đảng uỷ tham dự.

Hội nghị nghe báo cáo tự kiểm tra của tổ chức đảng được kiểm tra, tổ kiểm tra thông qua báo cáo kết quả thẩm tra xác minh của tổ kiểm tra, hội nghị thảo uận, xem xét kết luận các nội đung được kiểm tra.

Các hội nghị này phải thiết lập biên bản ghi rõ diễn biến, nhất là phải ghi rõ kết luận của hội nghị về những vấn đề sau:

- Qua các nội dung kiểm tra thì tổ chức đảng được kiểm tra có vi phạm hay không vi phạm; nêu cụ thể từng nội dung vi phạm (nếu có).

- Nguyên nhân chủ quan, khách quan dẫn đến vi phạm; tính chất, tác hại; hậu quả do các vi phạm của tổ chức đảng được kiểm tra gây ra.

- Việc đề xuất hình thức xử lý kỷ luật đối với tổ chức đảng được kiểm tra khi có vi phạm khuyết điểm phải được thực hiện biểu quyết bằng phiếu kín (biểu quyết 02 lần: lần thứ nhất biểu quyết có xử lý hay không xử lý, nếu kết quả biểu quyết lần thứ nhất có xử lý thì tiến hành biểu quyết lần thứ 2 về hình thức xử lý).

Thứ tư: Tổ kiểm tra tiếp tục thẩm tra, xác minh

Trong quá trình kiểm tra, nếu phát hiện có những nội dung chưa rõ thì tổ kiểm tra tiếp tục thẩm tra, xác minh làm rõ trước khi kết luận; căn cứ vào báo cáo của tổ chức đảng được kiểm tra, ý kiến kết luận của tổ chức đảng cấp dưới và kết quả thẩm tra, xác minh để dự kiến kết luận về những nội dung kiểm tra; trao đổi dự kiến kết luận với tổ chức đảng được kiểm tra.

Thứ năm: Tổ kiểm tra dự thảo báo cáo kết quả kiểm tra::

Trong quá trình tham gia hội nghị chi bộ nếu thấy có vấn đề gì cần thiết phải làm rõ thì tổ kiểm tra tiến hành thẩm tra, xác minh thêm. Sau đó dự thảo báo cáo kết quả kiểm tra tổ chức đảng khi có dấu hiệu vi phạm.

Trường hợp có vi phạm đến mức phải thi hành kỷ luật thì ủy ban kiểm tra đảng ủy tham mưu cho cấp ủy gặp để nghe tổ chức đảng được kiểm tra trình bày ý kiến trước khi trình ban chấp hành đảng bộ xem xét, quyết định (theo điểm 3, Điều 39 của Hướng dẫn thực hiện các quy định về công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật của Đảng trong Chương VII và Chương VIII Điều lệ Đảng khoá X ban hành kèm theo Quyết định số 46-QĐ/TW, ngày 01/11/2011 của Ban Chấp hành Trung ương).

Trong buổi làm việc này, tổ kiểm tra phải để cho tổ chức đảng trình bày hết ý kiến và nói rõ việc nhất trí hay không nhất trí với quan điểm của tổ, thiết lập biên bản để làm cơ sở trình bày trước trước tổ chức đảng có thẩm quyền xem xét, kết luận và lưu trữ hồ sơ kiểm tra.

c. Bước kết thúc :

Thứ nhất: Tổ chức họp uỷ ban kiểm tra đảng uỷ cơ sở để kết luận kiểm tra

Sau khi có báo cáo của tổ kiểm tra, uỷ ban kiểm tra đảng uỷ cơ sở tổ chức hội nghị để nghe báo cáo của tổ kiểm tra và cho ý kiến nhận xét về ưu, khuyết điểm theo những nội dung đã tiến hành kiểm tra, những kiến nghị đối với tổ chức đảng được kiểm tra để cân nhắc trước khi xem xét, kết luận. Những nội dung kết luận của ủy ban kiểm tra, sau hội nghị phải được soạn thảo thành văn bản.

Thứ hai: Ban hành, phổ biến kết luận kiểm tra

Sau khi hoàn thành các bước tiến hành kiểm tra theo kế hoạch, uỷ ban kiểm tra đảng uỷ cơ sở tiến hành các thủ tục sau đây:

- Nếu kết luận tổ chức đảng được kiểm tra không vi phạm hoặc có vi phạm nhưng chưa đến mức phải xử lý bằng các hình thức kỷ luật của đảng thì uỷ ban kiểm tra đảng uỷ cơ sở phổ biến bằng văn bản kết luận của ủy ban kiểm tra đảng ủy đến tổ chức đảng được kiểm tra biết để thực hiện, đồng thời báo cáo cho đảng ủy và ủy ban kiểm tra cấp trên để theo dõi.

- Nếu kết luận tổ chức đảng được kiểm tra có vi phạm đến mức phải xử lý bằng một trong các hình thức kỷ luật của đảng thì uỷ ban kiểm tra lập báo cáo tham mưu cho Đảng uỷ cơ sở tiến hành xem xét, hoặc đề nghị tổ chức đảng có thẩm quyền xem xét, quyết định thi hành kỷ luật đối với tổ chức đảng đó đúng thẩm quyền và đúng với quy trình thi hành kỷ luật đối với tổ chức đảng.

Thứ ba: Lập và lưu trữ hồ sơ

Hồ sơ kiểm tra tổ chức đảng khi có dấu hiệu vi phạm phải có danh mục và lưu trữ đầy đủ các văn bản theo trình tự các công việc như đã nêu trên (kể cả các văn bản, tài liệu phục vụ việc phát hiện dấu hiệu vi phạm và các tài liệu thẩm tra xác minh nếu có). Trong trường hợp tổ chức đảng được kiểm tra bị thi hành kỷ luật thì lưu trữ vào hồ sơ kỷ luật.

d. Những nội dung cần nắm vững:

Thứ nhất: Nhiệm vụ kiểm tra tổ chức đảng cấp dưới của ủy ban kiểm tra các cấp được Điều lệ Đảng khóa VIII bổ sung, sửa đổi, chuyển từ kiểm tra chấp hành sang kiểm tra tổ chức đảng cấp dưới khi có dấu hiệu vi phạm. Qua thực hiện bốn nhiệm kỳ, tuy đã đạt được những kết quả nhất định, nhưng ở nhiều nơi vẫn còn khó khăn, lúng túng. Vì vậy, ủy ban kiểm tra các cấp phải thường xuyên coi trọng việc quán triệt nâng cao trình độ nhận thức cho tổ chức đảng các cấp và đội ngũ cán bộ, đảng viên về khái niệm, tính chủ động, vai trò, vị trí, ý nghĩa của nhiệm vụ kiểm tra tổ chức đảng cấp dưới khi có dấu hiệu vi phạm.

Thứ hai: Nội dung kiểm tra tổ chức đảng cấp dưới khi có dấu hiệu vi phạm rất rộng, thuộc nhiều lĩnh vực phức tạp khó khăn. Muốn tiến hành có hiệu quả, đòi hỏi ủy ban kiểm tra và cán bộ kiểm tra các cấp phải có đủ kiến thức, am hiểu các lĩnh vực cần kiểm tra. Khi tiến hành kiểm tra phải nắm vững và thực hiện đúng quy trình, phương pháp cơ bản của công tác kiểm tra; tuỳ nội dung kiểm tra, ủy ban kiểm tra báo cáo để cấp ủy chỉ đạo các ban ngành có liên quan cử cán bộ tham gia hoặc phối hợp kiểm tra. Về lực lượng kiểm tra, nhất thiết phải thành lập tổ kiểm tra.

Thứ ba: Khi tiến hành thẩm tra, xác minh hoặc thu thập ý kiến đóng góp của quần chúng đối với tổ chức đảng và đảng viên được kiểm tra, phải lãnh đạo và tổ chức chặt chẽ. Cách thu thập ý kiến tốt nhất là trưng cầu góp ý bằng phiếu kín. Khi cần thiết có thể gặp gở cá nhân để trao đổi làm rõ thêm. Không tổ chức hội nghị lấy ý kiến tại chỗ, dễ phát sinh phức tạp, khó khăn.

Thứ tư: Đối với tổ chức đảng yếu kém hoặc cán bộ chủ chốt của tổ chức đảng có dấu hiệu vi phạm nghiêm trọng, ủy ban kiểm tra có thể đề nghị cấp ủy cấp mình kiện toàn cán bộ lãnh đạo trước khi tiến hành kiểm tra.

-----------------






CHUYÊN ĐỀ 4

KỶ LUẬT ĐẢNG, VIỆC THI HÀNH KỶ LUẬT

VÀ THẨM QUYỀN THI HÀNH KỶ LUẬT TRONG ĐẢNG

-----

I- KỶ LUẬT CỦA DẢNG

1- Khái niệm: khái niệm kỷ luật có 02 nghĩa sau đây:

* Nghĩa thứ nhất: Kỷ luật là “tổng thể những điều qui định có tính chất bắt buộc đối với hoạt động của các thành viên trong một tổ chức, để đảm bảo tính chặt chẽ của tổ chức đó”.

Theo khái niệm này Kỷ luật của đảng chính là những quy định có tính chất bắt buộc đối với mọi đảng viên và tổ chức đảng phải nghiêm chỉnh chấp hành, bao gồm: Cương lĩnh chính trị, Điều lệ Đảng, nghị quyết, chỉ thị của Đảng, quy định, quy chế hoạt động của tổ chức đảng, pháp luật của Nhà nước và kỷ luật của các đoàn thể quần chúng mà đảng viên tham gia hoạt động, nhằm bảo đảm sự thống nhất về chính trị, tư tưởng và tổ chức trong toàn Đảng.

* Nghĩa thứ hai:“Kỷ luật là hình phạt đối với người hoặc tổ chức vi phạm kỷ luật”.

Theo khái niệm này Kỷ luật của đảng là các tổ chức đảng có thẩm quyền được quyền thi hành kỷ luật đối với tổ chức đảng và đảng viên khi các đối tượng đó vi phạm đến mức phải thi hành kỷ luật bằng một trong các hình thức được quy định tại Điều 35 Điều lệ Đảng khóa XI.

Tổ chức đảng và đảng viên vi phạm kỷ luật phải xử lý công minh, chính xác, kịp thời”. Mọi đảng viên vi phạm đến mức xử lý kỷ luật đều phải chịu kỷ luật của Đảng. Kỷ luật đảng không thay thế kỷ luật hành chính, kỷ luật đoàn thể.

2- Ý nghĩa kỷ luật của Đảng

Kỷ luật của Đảng là một yếu tố quan trọng mang tính nguyên tắc, chế độ, quy định có tính chất bắt buộc được Đảng điều chỉnh hành vi của các tổ chức và đảng viên bằng Điều lệ Đảng và các quy định của Đảng; Nhà nước điều chỉnh hành vi các thành viên trong xã hội bằng Hiến pháp, pháp luật; các tổ chức trong xã hội điều chỉnh hành vi các thành viên trong tổ chức của mình bằng điều lệ, kỷ luật của tổ chức đó, nhằm giữ vững kỷ cương, kỷ luật của đảng. Kinh nghiệm cho thấy: Kỷ luật chặt chẽ thì tổ chức vững mạnh; kỷ luật lỏng lẻo thì tổ chức suy yếu; thiếu kỷ luật thì tổ chức khỏi tránh khỏi tan rã. Kỷ luật gắn liền với tổ chức, bảo đảm cho tổ chức tồn tại, hoạt động và phát triển.

Đảng ta lấy nguyên tắc tập trung dân chủ làm nguyên tắc tổ chức cơ bản, do đó vấn đề tổ chức, kỷ luật có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, nhất là trong điều kiện Đảng ta là đảng cầm quyền, đang lãnh đạo công cuộc đổi mới của đất nước hiện nay.

Từ khi thành lập đến nay, Đảng ta luôn coi trọng vấn đề kỷ luật. Chính nhờ có kỷ luật nghiêm minh mà Đảng ta đứng vững được trước mọi thử thách để lãnh đạo cách mạng giành thắng lợi vẻ vang qua các thời kỳ.

3- Mục đích của kỷ luật Đảng là bảo đảm cho chỉ thị, nghị quyết, các nguyên tắc sinh hoạt đảng, chính sách, pháp luật Nhà nước, pháp chế XHCN được chấp hành triệt để, ngăn ngừa khuyết điểm, sai lầm, giáo dục và bảo vệ đội ngũ đảng viên; giữ vững sự thống nhất ý chí và hành động trong toàn Đảng. Kỷ luật của Đảng có tầm quan trọng đặc biệt trong việc thực hiện nhiệm vụ chính trị và xây dựng Đảng, bảo đảm cho sự tồn tại và phát triển của Đảng.

Kỷ luật nghiêm minh mới bảo đảm cho đường lối, chính sách, nghị quyết, chỉ thị của Đảng được chấp hành triệt để, không bị chệch hướng; năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng mới được tăng cường. Trong tình hình hiện nay, Đảng ta cần có kỷ luật nghiêm minh.

4- Tính chất kỷ luật của Đảng

Bắt nguồn từ bản chất giai cấp của Đảng, nên kỷ luật của Đảng ta là kỷ luật sắt, nghĩa là kỷ luật của Đảng là nghiêm túc và tự giác

Nghiêm túc là mọi tổ chức đảng và đảng viên phải chấp nành không điều kiện kỷ luật của Đảng, chấp hành Cương lĩnh chính trị, Điều lệ Đảng, nghị quyết, chỉ thị của Đảng, quy định, quy chế hoạt động của tổ chức đảng. Đảng không giảm bớt yêu cầu có tính nguyên tắc đối với ai, không để cho ai đặc quyền, đặc lợi và không ai được coi là ngoại lệ trong việc chấp hành kủ luật của Đảng.

Tự giác là: Mọi tổ chức đảng và đảng viên dù trong điều kiện, hoàn cảnh nào, hoạt động tập trung hay độc lập, đang công tác hay đã nghỉ hưu, có hay không có sự quản lý, kiểm tra, giám sát của tổ chức đảng điều phải tự giác chấp hành kỷ luật của Đảng.

Như vậy, tính nghiêm túc và tự giác trong kỷ luật của Đảng là sự thống nhất giữa 2 mặt tập trung và dân chủ, bắt buộc và tự giác. Sự thống nhất và kết hợp giữa nghiêm túc và tự giác bảo đảm cho kỷ luật của Đảng thật sự là kỷ luật sắc.

5- Nội dung kỷ luật của Đảng bao gồm: những nội dung vi phạm các quy định trong nội bộ Đảng, vi phạm HP, PL, vi phạm kỷ luật đoàn thể.

a- Những quy định trong nội bộ Đảng bắt buộc mọi tổ chức đảng và Đảng viên phải nghiêm chỉnh chấp hành: Cương lĩnh chính trị, Điều lệ Đảng, nghị quyết, chỉ thị của Đảng, quy định, quy chế hoạt động của tổ chức đảng, tiêu chuẩn, nhiệm vụ của đảng viên. Vì Điều lệ Đảng là bộ luật chung của toàn Đảng, quy định sự tôn chỉ mục đích của Đảng; các nguyên tắc cơ bản về xây dựng Đảng; nhiệm vụ quyền hạn của các tổ chức đảng và đảng viên. Cương lĩnh chính trị của Đảng, Điều lệ Đảng được cụ thể hoá thành nghị quyết, chỉ thị, quyết định của các TCĐ; mọi TCĐ và đảng viên phải chấp hành nghiêm chỉnh nghị quyết, chỉ thị, quyết định của Đảng, vi phạm trong việc chấp hành nghị quyết, chỉ thị là vi phạm kỷ luật Đảng.

b- Trong điều kiện Đảng cầm quyền, đường lối, quan điểm, chính sách, nghị quyết, chỉ thị của Đảng được Nhà nước cụ thể hoá thành Hiến pháp, pháp luật, pháp lệnh, nghị định, quyết định.... Vì vậy, các TCĐ và đảng viên phải "hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật".Do đó, đảng viên vi phạm Hiến pháp, pháp luật, nghị định, chỉ thị...của Nhà nước cũng là vi phạm kỷ luật của Đảng.

c- Các đoàn thể chính trị- xã hội được lập ra dưới sự lãnh đạo của Đảng để thực hiện thắng lợi đường lối chính sách của Đảng trong phạm vi từng tổ chức. Mỗi đoàn thể chính trị- xã hội đều có điều lệ, kỷ luật riêng. Đảng viên sinh họat và hoạt động trong các đoàn thể chính trị- xã hội phải chấp hành nghiêm chỉnh kỷ luật của tổ chức mà mình tham gia. Vì vậy, nếu như đảng viên vi phạm kỷ luật của đoàn thể chính trị- xã hội mà mình tham gia tức là vi phạm kỷ luật của Đảng.

II- VIỆC THI HÀNH KỶ LUẬT TRONG ĐẢNG

1- Mục đích thi hành kỷ luật

Tăng cường kỷ luật của Đảng là nhiệm vụ quan trọng, thường xuyên để đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ lãnh đạo và xây dựng đảng, nhằm giữ vững kỷ cương của Đảng, bảo đảm sự thống nhất ý chí và hành động, tăng cường sức chiến đấu của Đảng, giáo dục TCĐ và đảng viên. Việc THKL phải đảm bảo đúng phương hướng, phương châm, nguyên tắc, thủ tục mà ĐLĐ, nghị quyết của Đảng đã xác định.

a- Phương hướng THKL trong Đảng: Cần tập trung vào các vi phạm về quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng; về chấp hành nguyên tắc tổ chức của Đảng, trước hết là nguyên tắc tập trung dân chủ; suy thoái về tư tưởng, chính trị, về đạo đức về phẩm chất và lối sống. (cụ thể: lợi dụng dân chủ để tuyên tuyền chống Đảng,..vi phạm nguyên tắc tổ chức, tham nhung, quan liêu, thiếu trách nhiệm, suy thoái về đạo đức, phẩm chất, lối sống).

Đảng viên ở bất kỳ cương vị nào, lĩnh vực nào nếu vi phạm đều phải xử lý nghiêm minh.

b- Phương châm THKL: "phải xử lý công minh, chính xác, kịp thời". Công minh, chính xác có nghĩa là việc xử lý kỷ luật phải đúng người vi phạm; không nhẹ trên, nặng dưới; tất cả đảng viên đều bình đẳng trước kỷ luật của Đảng, nếu vi phạm đến mức phải THKL đều phải xử lý, không có ngoại lệ, không phân biệt chức vụ, tuổi đảng. Kịp thời là việc xem xét, THKL phải khẩn trương, đúng lúc, không để chậm trể, kéo dài,... sau khi có quyết định kỷ luật phải công bố ngay, không được trì hoãn với bất cứ lý do gì.

c- Nguyên tắc thi hành kỷ luật:

Việc thi hành kỷ luật phải tuân thủ những quy định chủ yếu có tính nguyên tắc sau:

- Việc THKL đối với đảng viên thuộc thẩm quyền của chi bộ cơ sở, chi bộ trong đảng bộ bộ phận và đảng ủy cơ sở; việc THKL tổ chức đảng cấp dưới thuộc thẩm quyền của đảng ủy cơ sở.

- Kỷ luật TCĐ và đảng viên vi phạm có hiệu lực ngay khi công bố quyết định hoặc nhận được quyết định kỷ luật do cấp trên ủy quyền công bố.

Thời gian công bố chậm nhất không quá 15 ngày kể từ ngày ký quyết định hoặc nhận được quyết định kỷ luật do cấp trên ủy quyền công bố.

- Tổ chức đảng và đảng viên phải chấp hành nghiêm chỉnh mọi quyết định kỷ luật (kể cả quyết định giải quyết khiếu nại về kỷ luật đảng) của TCĐ có thẩm quyền. Nếu không đồng ý thì có quyền khiếu nại, nhưng trong khi chưa được TCĐ có thẩm quyền giải quyết thì phải chấp hành nghiêm chỉnh quyết định kỷ luật đã công bố.

- Tổ chức đảng và đảng viên vi phạm không thuộc thẩm quyền THKL của cấp mình thì phải báo cáo và đề nghị lên TCĐ có thẩm quyền cấp trên xem xét, quyết định. Báo cáo và đề nghị này phải gửi cho cấp ủy và UBKT cấp trên trực tiếp.

- Trường hợp chi bộ không xử lý hoặc xử lý không đúng mức đối với tổ chức đảng và đảng viên vi phạm thì cấp ủy hoặc ủy ban kiểm tra cấp trên quyết định các hình thức kỷ luật theo thẩm quyền, đồng thời xem xét trách nhiệm của tổ chức đảng đó và nếu vi phạm đến mức phải xử lý kỷ luật thì phải xử lý đúng mức.

- Quyết định kỷ luật hoặc đề nghị THKL bằng hình thức khiển trách, cảnh cáo, cách chức đối với đảng viên và khiển trách, cảnh cáo đối với TCĐ, phải được biểu quyết với sự đồng ý với trên một nữa số đảng viên hoặc cấp ủy viên của TCĐ đó (ở chi bộ là tổng số đảng viên chính thức, trừ số đảng viên được miễn sinh hoạt không có mặt tại cuộc họp, ở cấp ủy là số cấp ủy viên).

- Kỷ luật khai trừ đảng viên, giải tán TCĐ phải được ít nhất 2/3 số thành viên của TCĐ cấp dưới đồng ý đề nghị và TCĐ có thẩm quyền cấp trên quyết định với biểu quyết đồng ý với trên 1/2 số thành viên của tổ chức đó.

- Đảng viên bị kỷ luật cách chức (kể cả chức vụ do đại hội bầu, cấp ủy bầu hoặc bổ nhiệm) trong vòng 01 năm, kể từ ngày có quết định, không được bầu vào cấp ủy (từ chi ủy trở lên), không được bổ nhiệm vào chức vụ tương đương và cao hơn.

- Đảng viên bị hình phạt từ cải tạo không giam giữ trở lên phải khai trừ ra khỏi Đảng. Việc khai trừ phải tiến hành ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật (hiệu lực bản án- thủ tục ).

- Trường hợp tất cả cấp ủy viên của chi bộ hoặc đảng bộ cơ sở đều bị THKL khiển trách, cảnh cáo thì TCĐ có thẩm quyền cấp trên ra văn bản quyết định (vì ĐU có quyền khiển trách cảnh cáo ĐUV ).

- Việc cách chức, khai trừ đối với cấp ủy viên của chi bộ cơ sở do chi bộ cơ sở đề nghị, Ban thường vụ cấp ủy huyện, quận hoặc tương đương quyết định. (UBKT huyện, quận hoặc tương đương không được, vì cấp uỷ viên cấp dưới trực tiếp)

- Đề nghị của tổ chức đảng cấp dưới về kỷ luật cách chức, khai trừ đảng viên, giải tán TCĐ khi chưa được TCĐ có thẩm quyền quyết định và công bố thì đảng viên đó vẫn được sinh hoạt đảng, sinh hoạt cấp ủy, TCĐ đó vẫn được hoạt động.

d- Thủ tục thi hành kỷ luật:

- Đảng viên vi phạm phải kiểm điểm trước chi bộ (trừ trường hợp liên quan đến bí mật của Đảng và Nhà nước), tự nhận hình thức kỷ luật, Nếu có đủ bằng chứng mà đảng viên vi phạm từ chối kiểm điểm, cố tình khước từ hội nghị chi bộ hoặc bị tạm giam, tổ chức đảng vẫn tiến hành xem xét kỷ luật. Trường hợp cần thiết, cấp ủy và UBKT cấp có thẩm quyền xem xét kỷ luật (có thể không họp chi bộ...).

Đảng viên vi phạm là cấp ủy viên hoặc cán bộ do cấp ủy quản lý thì ngoài việc kiểm điểm ở chi bộ còn phải kiểm điểm ở tổ chức nào do cấp ủy hoặc UBKT của cấp ủy quản lý cán bộ đó quyết định (không thuộc thẩm quyền chi bộ xử lý).

- TCĐ vi phạm phải kiểm điểm, tự nhận hình thức kỷ luật và báo cáo lên câp ủy cấp trên quyết định.

Nếu là chi ủy vi phạm thì kiểm điểm trước chi bộ; nếu là chi bộ hoặc đảng ủy bộ phận vi phạm thì kiểm điểm trước đại diện đảng ủy cơ sở, nếu là BTV vi phạm thì kiểm điểm trước đảng ủy.

- Trước khi quyết định kỷ luật, đại diện TCĐ có thẩm quyền nghe đảng viên vi phạm hoặc đại diện TCĐ vi phạm trình bày ý kiến (điểm 3 điều 39 ĐLĐ).

Đại diện cấp ủy có thẩm quyền là người do cấp ủy phân công, có thể là bí thư, phó bí thư, ủy viên BTV hoặc cấp ủy viên phụ trách khối công tác hoặc địa bàn (nơi đảng viên, TCĐ vi phạm sinh hoạt hoặc hoạt động). Đại diện UBKT có thể là chủ nhiệm, phó chủ nhiệm, ủy viên phụ trách địa bàn hoặc lĩnh vực công tác.

Trường hợp đảng viên vi phạm hoặc đại diện TCĐ vi phạm vì lý do nào đó mà không trình bày ý kiến với đại diện TCĐ có thẩm quyền thì phải báo cáo bằng văn bản và phải chấp hành nghiêm chỉnh quyết định của tổ chức có thẩm quyền (trường hợp này ít có xảy ra).

- Quyết định của cấp dưới về kỷ luật đảng viên, TCĐ vi phạm phải báo cáo lên cấp ủy, UBKT cấp trên trực tiếp.

- Quyết định của cấp trên dưới về kỷ luật đảng viên, TCĐ vi phạm phải được thông báo đến cấp dưới, nơi có TCĐ và đảng viên vi phạm; trường hợp cần thông báo rộng hơn thì do cấp ủy có thẩm quyền quyết định.

- Tổ chức đảng bị kỷ luật giải tán, cấp ủy cấp trên trực tiếp lập TCĐ mới hoặc giới thiệu sinh hoạt cho đảng viên không bị kỷ luật khai trừ.

Những đảng viên vi phạm đến mức phải kỷ luật khai trừ thì TCĐ có thẩm quyền khai trừ từng người một.

Những đảng viên vi phạm chưa đến mức phải kỷ luật khai trừ thì TCĐ căn cứ vào nội dung, mức độ, tính chất vi phạm của từng đảng viên mà xem xét, xử lý kỷ luật trước khi lập TCĐ mới hoặc giới thiệu sinh hoạt đảng đến chi bộ, đảng bộ khác.

- Đảng viên vi phạm nghiêm trọng đến mức phải khai trừ nhưng xin ra khỏi Đảng, thì phải THKL khai trừ, không chấp nhận việc xin ra khỏi Đảng.

Cấp ủy viên vi phạm nghiêm trọng đến mức phải cách chức nhưng xin rút khỏi cấp ủy, thì phải THKL cách chức, không chấp nhận việc xin rút khỏi cấp ủy.

- Đảng viên giữ nhiều chức vụ trong Đảng bị kỷ luật cách chức thì tùy mức độ, tính chất vi phạm mà cách một hay nhiều chức vụ.

Đối với chi bộ chỉ có bí thư, phó bí thư hoặc chỉ có bí thư, nếu bị cách chức bí thư hoặc phó bí thư thì còn chi ủy viên. Nếu bị cách chức chi ủy viên thì đương nhiên không còn bí thư, phó bí thư.

Đối với đảng ủy có BTV, nếu đảng viên bị cách chức bí thư hoặc phó bí thư thì còn ủy viên BTV, bị cách chức ủy viên BTV thì còn là đảng ủy viên. Nếu bị cách chức đảng ủy viên thì đương nhiên không còn chức vụ trong đảng ủy.

Đối với UBKT, nếu bị cách chức chủ nhiệm hoặc phó chủ nhiệm thì vẫn còn là ủy viên UBKT; Nếu bị cách chức ủy viên UBKT thì không còn là chủ nhiệm, phó chủ nhiệm nữa.

- Đảng viên dự bị vi phạm đến mức phải THKL, kể cả vi phạm trong thời gian cuối thời kỳ dự bị thì chỉ áp dụng hai hình thức khiển trách hoặc cảnh cáo (hết thời kỳ dự bị chi bộ vẫn phải xét công nhận đảng viên chính thức). Nếu vi phạm nghiêm trong không đủ tư cách đảng viên, thì xóa tên trong danh sách đảng viên, không áp dụng hình thức khai trừ.

- Việc biểu quyết đề nghị thi hành kỷ luật hoặc biểu quyết kỷ luật phải bằng phiếu kín. Sau khi xem xét, kết luận, tổ chức đảng phải biểu quyết bằng phiếu kín việc có kỷ luật hay không kỷ luật. Nếu kết quả không kỷ luật thì phải báo cáo tổ chức đảng cấp trên. Trường hợp kết quả biểu quyết đến mức phải kỷ luật thì bỏ phiếu quyết định hình thức kỷ luật cụ thể. Trường hợp biểu quyết không có hình thức nào đủ đa số phiếu theo quy định (quá nữa hoặc ít nhất 2/3) thì báo cáo đầy đủ hồ sơ để tổ chức đảng cấp trên có thẩm quyền xem xét, quyết định. Quyết định của cấp có thẩm quyền phải được chấp hành nghiêm chỉnh.

Ban Chấp hành Trung ương là cấp biểu quyết kỷ luật cuối cùng, sau khi xem xét, kết luận, tổ chức đảng phải biểu quyết bằng phiếu kín việc có kỷ luật hay không kỷ luật. Nếu có quá nữa số phiếu đến mức phải kỷ luật thì bỏ phiếu quyết định hình thức kỷ luật cụ thể. Trường hợp biểu quyết các hình thức cụ thể mà không có hình thức kỷ luật nào đủ đa số phiếu theo quy định, thì cộng dồn số phiếu từ hình thức kỷ luật cao nhất xuống đến hình thức kỷ luật liền kề thấp hơn, đến hình thức nào mà kết quả có đủ đa số phiếu theo quy định thì lấy hình thức đó để quyết định.

2- Hình thức kỷ luật

a- Đối với tổ chức đảng: có 03 hình thức: khiển trách, cảnh cáo, giải tán.

b- Đối với đảng viên chính thức: có 04 hình thức: khiển trách, cảnh cáo, cách chức, khai trừ.

c- Đối với đảng viên dự bị có 02 hình thức: khiển trách, cảnh cáo.

(Lưu ý: Phê bình sâu sắc; nghiêm khắc kiểm điểm, rút kinh nghiệm; miễn xữ; xoá tên trong danh sách đảng viên; chấp nhận đơn xin ra khỏi Đảng; cho thôi giữ chức, miễn nhiệm,... không phải là hình thức kỷ luật đối với đảng viên. Giải thể không phải là hình thức kỷ luật đối với TCĐ)

III- THẨM QUYỀN THI HÀNH KỶ LUẬT

A- THẨM QUYỀN THI HÀNH KỶ LUẬT ĐỐI VỚI ĐẢNG VIÊN

Thẩm quyền thi hành kỷ luật đối với đảng viên được quy định tại Điều 36 Điều lệ Đảng, Quy định số 45 -QĐ/TW, ngày 01/11/2011 của Ban Chấp hành Trung ương về thi hành Điều lệ Đảng và Quyết định số 46 -QĐ/TW, ngày 01/11/2011 của Ban Chấp hành Trung ương về việc "ban hành Hướng dẫn thực hiện các quy định về công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật của Đảng trong Chương VII và Chương VIII Điều lệ Đảng khóa XI".

Muốn xác định thẩm quyền thi hành kỷ luật thuộc tổ chức đảng cấp nào, phải căn cứ đối tượng vi phạm bị xử lý (có hay không có chức vụ, là cán bộ thuộc diện cấp ủy cấp nào quản lý...) và hình thức xử lý kỷ luật sẽ phải áp dụng đối với tổ chức đảng hoặc đảng viên vi phạm.

a- Các tổ chức đảng có thẩm quyền thi hành kỷ luật

Chỉ có chi bộ, ban chấp hành đảng bộ các cấp từ cấp cơ sở trở lên, ban thường vụ cấp ủy các cấp từ huyện, quận và tương đương trở lên và tổ chức đảng được Trung ương Đảng ủy quyền mới có quyền thi hành kỷ luật đối đảng viên theo quy định của Điều lệ Đảng, quy định và hướng dẫn của Trung ương Đảng.

Chi ủy, đảng ủy bộ phận; UBKT đảng ủy cơ sở; ban thường vụ đảng ủy cơ sở, kể cả ban thường vụ đảng ủy cơ sở được ủy quyền; các ban, văn phòng của cấp ủy; ban cán sự đảng, đảng đoàn...không có thẩm quyền thi hành kỷ luật đối với đảng viên.

b- Thẩm quyền thi hành kỷ luật của các tổ chức đảng

1- Đối với chi bộ ( gồm chi bộ cơ sở, chi bộ trong đảng bộ cơ sở, chi bộ trong đảng bộ bộ phận):

Chi bộ được quyền quyết định khiển trách, cảnh cáo đảng viên trong chi bộ (kể cả cấp ủy viên các cấp, đảng viên thuộc diện cấp ủy cấp trên quản lý) vi phạm phẩm chất chính trị, tư tưởng, đạo đức lối sống, sinh hoạt Đảng, trong việc thực hiện nhiệm vụ đảng viên (trừ nhiệm vụ do cấp trên giao). Nếu phải áp dụng hình thức kỷ luật cao hơn, chi bộ đề nghị lên cấp có thẩm quyền xem xét, quyết định.

Quyết định kỷ luật khiển trách, cảnh cáo của chi bộ đối với đảng viên là cấp ủy viên các cấp, là cán bộ thuộc diện cấp ủy cấp trên quản lý phải báo cáo lên cấp ủy (hoặc các cấp ủy) mà đảng viên đó là thành viên, cấp ủy và ủy ban kiểm tra của cấp ủy quản lý cán bộ đó để biết.

2- Đối với Đảng uỷ cơ sở

Đảng ủy cơ sở quyết định khiển trách, cảnh cáo đối với đảng viên. Đối với cấp ủy viên cấp trên trực tiếp trở lên và cán bộ thuộc diện cấp ủy cấp trên quản lý sinh hoạt tại đảng bộ, nếu vi phạm phải áp dụng hình thức kỷ luật thì đảng ủy đề nghị lên cấp có thẩm quyền xem xét, quyết định.

Quyết định cách chức bí thư, phó bí thư, cấp ủy viên của chi bộ hoặc đảng ủy bộ phận trực thuộc nhưng không phải là cấp ủy viên cùng cấp hoặc cán bô thuộc diện cấp ủy cấp trên quản lý.

Quyết định chuẩn y, thay đổi hoặc xoá bỏ hình thức kỷ luật do chi bộ quyết định đối với đảng viên theo thẩm quyền. Trường hợp cần thay đổi bằng hình thức kỷ luật cao hơn, nhưng không thuộc thẩm quyền của cấp mình thì báo cáo lên cấp ủy và ủy ban kiểm tra cấp trên trực tiếp quyết định.

Đảng uỷ cơ sở được uỷ quyền kết nạp đảng viên thì có quyền quyết định kỷ luật đối với đảng viên như thẩm quyền của đảng ủy cơ sở và được quyền quyết định khai trừ đảng viên, nhưng không phải là cấp uỷ viên cùng cấp và đảng viên là cán bộ thuộc diện cấp uỷ cấp trên quản lý.

* Những điều cần lưu ý

+ Đảng uỷ bộ phận và ban thường vụ đảng uỷ cơ sở không được quyền thi hành kỷ luật đảng viên, nhưng có trách nhiệm thẩm tra việc đề nghị thi hành kỷ luật của chi bộ. ban thường vụ đảng uỷ cơ sở còn có trách nhiệm thẩm tra đề nghị của uỷ ban kiểm tra đảng uỷ cơ sở để kiến nghị với đảng uỷ cơ sở xem xét, quyết định theo thẩm quyền.

+ Trường hợp tất cả cấp uỷ viên của chi bộ và của đảng bộ cơ sở đều bị thi hành kỷ luật khiển trách, cảnh cáo thì báo cáo để tổ chức đảng có thẩm quyền cấp trên ra văn bản quyết định.

+ Việc cách chức, khai trừ đối với cấp uỷ viên của chi bộ cơ sở do chi bộ cơ sở đề nghị, ban thường vụ cấp uỷ huyện, quận hoặc tương đương quyết định.

3- Đối với uỷ ban kiểm tra các cấp

Uỷ ban kiểm tra của đảng uỷ cơ sở không được quyền thi hành kỷ luật đảng viên, nhưng có trách nhiệm xem xét, kết luận và đề xuất ý kiến với đảng uỷ cơ sở và uỷ ban kiểm tra cấp trên trong việc xử lý kỷ luật đảng viên.

Ủy ban kiểm tra từ cấp huyện, quận và tương đương trở lên quyết định các hình thức kỷ luật đảng viên, nhưng không phải là cấp ủy viên cùng cấp; quyết định kiển trách, cảnh cáo đảng viên là cán bộ thuộc diện cấp ủy cùng cấp quản lý và cấp ủy viên cấp dưới trực tiếp.

B- THẨM QUYỀN THI HÀNH KỶ LUẬT ĐỐI VỚI TỔ CHỨC ĐẢNG

Thẩm quyền thi hành đối với tổ chức Đảng được quy định tại Điều 37, Điều lệ Đảng, Quy định số 45 -QĐ/TW, ngày 01/11/2011 của Ban Chấp hành Trung ương về thi hành Điều lệ Đảng và Quyết định số 46 -QĐ/TW, ngày 01/11/2011 của Ban Chấp hành Trung ương về việc "ban hành Hướng dẫn thực hiện các quy định về công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật của Đảng trong Chương VII và Chương VIII Điều lệ Đảng khóa XI".

* Về tổ chức đảng có thẩm quyền thi hành kỷ luật tổ chức Đảng

Đảng ủy cơ sở, đảng ủy cấp trên cơ sở, ban thường vụ cấp ủy huyện, quận và tương đương trở lên có quyền quyết định thi hành kỷ luật tổ chức đảng theo quy định của Điều lệ Đảng. Ủy ban kiểm tra các cấp không được quyền thi hành kỷ luật tổ chức đảng nhưng có trách nhiệm xem xét, kết luận, đề xuất ý kiến với cấp ủy trong việc xử lý kỷ luật tổ chức đảng.

1- Đảng ủy cơ sở: được quyền quyết định khiển trách, cảnh cáo chi bộ, chi uỷ, đảng uỷ bộ phận, uỷ ban kiểm tra, các ban của các cấp uỷ cơ sở.

2- Đối với cấp huyện, quận, thành phố và tương đương: được quyền quyết định khiển trách, cảnh cáo đảng ủy cơ sở, ban thường vụ đảng ủy cơ sở,...

* Lưu ý: Cấp ủy cấp trên trực tiếp quyết định khiển trách, cảnh cáo tổ chức đảng cấp dưới.

Kỷ luật giải tán một tổ chức đảng do cấp ủy cấp trên trực tiếp đề nghị, cấp ủy cấp trên cách một cấp quyết định. Quyết định này phải báo cáo lên cấp ủy cấp trên trực tiếp và Ủy ban Kiểm tra Trung ương.

Chỉ giải tán một tổ chức đảng khi tổ chức đảng đó phạm một trong các trường hợp sau: có hành động chống đối đường lối, chính sách của Đảng; vi phạm đặc biệt nghiêm trọng nguyên tắc tổ chức và sinh hoạt Đảng hoặc pháp luật của Nhà nước.

Thi hành kỷ luật một tổ chức đảng phải xem xét và quy rõ trách nhiệm của tổ chức đảng đó để xử lý cho đúng. Đồng thời, phải xem xét trách nhiệm cá nhân và thi hành kỷ luật đối với những đảng viên vi phạm có liên quan đến vi phạm của tổ chức đảng.

Khi tổ chức đảng bị thi hành kỷ luật thì tất cả thành viên trong tổ chức ấy đều phải chịu trách nhiệm, phải ghi rõ nội dung, hình thức kỷ luật của tổ chức vào lý lịch từng thành viên. Những thành vên không tán thành hoặc không liên quan trực tiếp đến quyết định sai lầm của tổ chức đảng đó cũng được ghi rõ vào lý lịch đảng viên.

Quyết định kỷ luật hoặc đề nghị thi hành kỷ luật bằng hình thức khiển trách, cảnh cáo, cách chức đối với đảng viên; khiển trách, cảnh cáo đối với tổ chức đảng phải được biểu quyết với sự đồng ý của trên một nữa số đảng viên hoặc cấp ủy viên của tổ chức đảng đó. Trường hợp kỷ luật khai trừ đảng viên, giải tán tổ chức đảng phải được ít nhất 2/3 đảng viên hoặc cấp ủy viên của tổ chức đảng cấp dưới đề nghị và và được sự đồng ý của trên một nữa số thành viên của tổ chức đảng cấp trên có thẩm quyền quyết định.

3- Một số vấn đề cần nắm vững

- Việc THKL một TCĐ phải xác định rõ đối tượng (chi ủy hay chi bộ, đảng ủy bộ phận,..) để việc quyết định được chính xác và khi cần phải kết hợp xem xét trách nhiệm của đảng viên có liên quan trực tiếp đến vi phạm của TCĐ và có hình thức xử lý thích hợp (kiểm tra, xử lý người có trách nhiệm).

- Trường hợp đảng viên vi phạm đã bị TH kỷ luật, nhưng việc xem xét kết luận trước đây đã bỏ sót vi phạm nay mới phát hiện thì tiếp tục xem xét. Nếu vi phạm mới phát hiện này không nghiêm trọng bằng vi phạm đã bị THKL thì không cần ra thêm quyết định THKL mới để nâng hình thức kỷ luật cao hơn. Nếu vi phạm mới phát hiện này nghiêm trọng các vi phạm đã bị THKL thì có thể ra quyết định bằng hình thức kỷ luật cao hơn, thay quyết định kỷ luật trước đây.

- Trường hợp đảng viên vi phạm chính sách, pháp luật của Nhà nước, chi bộ, đảng ủy cơ sở và ủy ban kiểm tra cơ sở vẫn phải xem xét, kết luận dưới góc độ vi phạm tiêu chuẩn đảng viên, tiêu chuẩn cấp ủy viên và trong việc thực hiện nhiệm vụ đảng viên mà quyết định hoặc đề nghị TCĐ có thẩm quyền cấp trên THKL đảng theo thẩm quyền. Nếu xét thấy vi phạm cần phải xử bằng pháp luật thi chi bộ, ủy ban kiểm tra cơ sở báo cáo và đề nghị cấp ủy cấp trên trực tiếp chuyển cơ quan bảo vệ pháp luật xem xet, xử lý.

Câu hỏi:

1- Kỷ luật của Đảng là gì? nêu ý nghĩa, mục đích, tính chất, nội dung kỷ luật của Đảng.

2- Trình bày nội dung, đối tượng và thẩm quyền thi hành kỷ luật của chi bộ đối với đảng viên.




Chuyên đề 5:

SOẠN THẢO VĂN BẢN TRONG CÔNG TÁC KIỂM TRA, GIÁM SÁT CỦA ĐẢNG

I- VỊ TRÍ, TÁC DỤNG:

II- YÊU CẦU VĂN BẢN KIỂM TRA, GIÁM SÁT VÀ KỶ LUẬT CỦA ĐẢNG.

1- Bảo đảm tính chính trị.

2- Bảo đảm tính chính xác.

3- Bảo đảm tính khoa học:

4- Bảo đảm đúng thể loại văn bản, thể chức hành chính, có tính pháp lý, tính hiệu lực và thống nhất.

III- QUY TRÌNH SOẠN THẢO VĂN BẢN.

1- Bước chuẩn bị:

1.1- Xác định mục đích, yêu cầu của văn bản.

1.2- Xác định nội dung văn bản.

1.3- Xác định đối tượng đọc và xử lý văn bản.

1.4- Thu thập, chọn lọc tài liệu, thông tin.

2- Bước xây dựng đề cương.

2.1- Xây dựng đề cương văn bản.

2.2- Tranh thủ ý kiến của tổ chức, cá nhân có liên quan.

3- Bước dự thảo và hoàn chỉnh văn bản.

3.1- Căn cứ đề cương, dư thảo từng phần văn bản cho đến khi hoàn thành.

3.2- Lấy ý kiến của tổ chức và cá nhân có liên quan đóng góp vào dự thảo văn bản.

4- Bước duyệt văn bản và trình ký, đóng dấu.

IV- NỘI DUNG MỘT SỐ VĂN BẢN THÔNG THƯỜNG CỦA ỦY BAN KIỂM TRA.

1- Báo cáo.

a- Báo cáo tình hình thực hiện nhiệm vụ công tác kiểm tra, giám sát.

b- Báo cáo kết quả kiểm tra đảng viên hoạc tổ chức đảng.

c- Báo cáo giải quyết tố cáo và báo cáo giải quyết khiếu nại về kỷ luật đảng.

d- Báo cáo đề nghị thi hành kỷ luật thường có ba phần.

2- Quyết định.

Quyết định là văn bản dùng để ban hành hoặc bãi bỏ các quy định, quy chế, quy trình… hay các quyết định khác về tổ chức, bộ máy, nhân sự hoặc các lĩnh vực liên quan đến công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật đảng trong phạm vi quyền hạn, thẩm quyền của cấp ủy đảng và ủy ban kiểm tra các cấp.

Quyết định của công tác kiểm tra có:

- Quyết định thi hành kỷ luật đối với đảng viên hoặc tổ chức đảng.

- Quyết định giải quyết khiếu nại kỷ luật (chuẩn y, thay đổi hoặc xoá bỏ hình thức kỷ luật do tổ chức đảng cấp dưới quyết định).

- Quyết định đình chỉ sinh hoạt đảng…

- Quyết định kiểm tra, giám sát…

3- Biên bản.

4- Thông báo.

5- Tờ trình.

6- Quy định.

7- Quy chế.

8- Đề án.

9- Chương trình.

10- Kế hoạch.

11- Hướng dẫn.

12- Công văn.

13- Giấy mời.

14- Giấy giới thiệu.

15- Giấy đi đường.

V- MỘT SỐ YÊU CẦU ĐỐI VỚI NGƯỜI SOẠN THẢO VĂN BẢN.

VI. QUY ĐỊNH VỀ THỂ THỨC VĂN BẢN CỦA ĐẢNG

Các văn bản của UBKT các cấp cũng nằm trong diện các văn bản của Đảng được quy định tại Hướng dẫn số 11-HD/VPTW, ngày 28/5/2004 của Văn phòng Trung ương Đảng.

  1. Các thành phần thể thức bắt buộc.

    1. Tiêu đề “Đảng Cộng sản Việt Nam”

Tiêu đề “Đảng Cộng sản Việt Nam” là thành phần thể thức xác định văn bản của Đảng. Tiêu đề được trình bày trang đầu, góc phải, dòng đầu; phía dưới có đường kẻ ngang để phân định với địa điểm và ngày, tháng, năm ban hành văn bản. Đường kẻ có độ dài bằng độ dài tiêu đề.

Ví dụ: ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM


    1. Tên cơ quan ban hành văn bản

Tên cơ quan ban hành văn bản là thành phần thể thức xác định tác giả văn bản.

Ví dụ: ĐẢNG BỘ KHỐI CÁC CƠ QUAN TỈNH ĐĂK NÔNG

    1. Số hiệu văn bản

Số văn bản là số thứ tự được ghi liên tục từ số 01 cho mỗi loại văn bản của cấp ủy, ủy ban kiểm tra, các ban tham mưu giúp việc cấp ủy, số hiệu văn bản được ghi theo nhiệm kỳ.

Số văn bản, gồm: số thứ tự và 2 nhóm chữ viết tắt thể hiện tên thể loại văn bản và tên cơ quan ban hành văn bản; giữa số và ký hiệu có dấu gạch ngang (-), giữa tên văn bản và tên cơ quan ban hành văn bản có dấu gạch chéo (/).

Ví dụ: Số 55-QĐ/KTĐU (Quyết định của UBKT Đảng ủy)

1.4 Địa điểm và ngày, tháng, năm ban hành văn bản

- Địa điểm ban hành văn bản: đó là tên thành phố, hoặc thị xã mà cơ quan ban hành văn bản có trụ sở; cơ quan đảng cấp huyện, thị xã, thành phố thì ghi tên riêng huyện, thị xã, thành phố đó; tương tự xã, phường, thị trấn….

- Ngày, tháng, năm phát hành: là ngày ký chính thức văn bản đó; ngày dưới 10 và tháng dưới 3 thì phải thêm số (0) đứng trước và viết đầy đủ các từ ngày…tháng…năm…Không dùng các dấu (.) hoặc dấu ngang nối (-), hoặc dấu gạch chéo (/) để thay các từ ngày, tháng, năm trong thành phần thể thức văn bản. Giữa địa điểm và ngày, tháng, năm ban hành phải có dấu phẩy và được in nghiêng.

Ví dụ: Gia Nghĩa, ngày 09 tháng 02 năm 2014

Hà Nội, ngày 10 tháng 3 năm 2014

    1. Tên loại văn bản và trích yếu nội dung văn bản

- Tên loại văn bản là tên gọi thể loại văn bản như: nghị quyết, quyết định, chỉ thị, thông báo...

- Là phần tóm tắt ngắn gọn, chính xác chủ đề của nội dung văn bản.



Ví dụ:


QUYẾT ĐỊNH

ban hành quy định về chế độ làm việc của UBKT Đảng ủy ….

    1. Phần nội dung văn bản

Phần nội dung văn bản là phần thể hiện toàn bộ nội dung cụ thể của văn bản.

    1. Chữ ký, thể thức đề ký và dấu cơ quan ban hành

Chữ ký thể hiện trách nhiệm và thẩm quyền của người ký đối với văn bản được ban hành. Văn bản phải ghi đúng, đủ chức vụ được bầu hoặc được bổ nhiệm và đầy đủ họ tên người ký.

Người ký không dùng bút chì, mực màu đỏ hoặc màu nhạt, mực dễ phai để ký văn bản chính thức.

Lưu ý: Đối với Đảng ủy cấp cơ sở không có dấu của UBKT mà chỉ có dấu của BCH Đảng bộ (Đảng ủy), thì sử dụng con dấu trong trường hợp nào mới đúng, khi mà đồng chí Phó Bí thư thường là Chủ nhiệm UBKT Đảng ủy.

    1. Nơi nhận văn bản

Gồm: đối tượng báo cáo, đối tượng thực hiện; đối tượng phối hợp; đối tượng lưu hồ sơ và lưu trữ bảo mật.

  1. Các thành phần thể thức bổ sung.

Ngoài các thành phần thể thức bắt buộc được quy định tại Điều 15 Quy định số 31-QĐ/TW ngày 01/10/1997 của BCH Trung ương Đảng, thì đối với từng loại văn bản cụ thể, tùy theo nội dung và tính chất, có thể bổ sung các thành phần thể thức sau đây:

  • Dấu chỉ chỉ mức độ mật (mật, tối mật, tuyệt mật).

  • Dấu chỉ mức độ khẩn (khẩn, thượng khẩn, hỏa tốc hẹn giờ).

- Các chỉ dẫn về phạm vi phổ biến, giao dịch, bản thảo và tài liệu hội nghị.

Các thành phần thể thức bổ sung do người ký văn bản quy định.









MỘT SỐ VĂN BẢN MẪU ĐANG SỬ DỤNG

CHO CÔNG TÁC KIỂM TRA, GIÁM SÁT

CỦA ĐẢNG ỦY KHỐI HIỆN NAY



Mẫu số 1a

ĐẢNG UỶ KHỐI CCQ TỈNH ĐẮK NÔNG ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM

ĐẢNG ỦY (CHI BỘ)……… Gia Nghĩa, ngày….tháng…..năm …..

*

Số -QĐ/ĐU (CB)

Độ mật theo quy định

QUYẾT ĐỊNH

kiểm tra ……(Nội dung kiểm tra) đối với ……………………..

(tên tổ chức đảng; họ và tên, chức vụ, nơi công tác của đảng viên được kiểm tra)

-----

- Căn cứ Điều lệ Đảng Cộng sản Việt Nam khóa XI;

- Căn cứ các quy định và hướng dẫn thực hiện công tác kiểm tra, giám sát và thi hành kỷ luật của Đảng;

- Căn cứ Chương trình, kế hoạch công tác kiểm tra, giám sát năm …. Đảng ủy (Chi bộ)……

ĐẢNG ỦY (CHI BỘ)……………………………..

QUYẾT ĐỊNH

Điều 1: Kiểm tra …..(nội dung kiểm tra) đối với … (tên tổ chức đảng; họ và tên, chức vụ, nơi công tác của đảng viên được kiểm tra).

Điều 2: Thành lập Đoàn hoặc Tổ Kiểm tra gồm các đồng chí có tên sau đây:

1- Đồng chí ……………...….., Trưởng Đoàn hoặc Tổ Trưởng .

  1. Đồng chí …………………,Phó Trưởng Đoàn hoặc Tổ Phó.

3- Đồng chí ……………….…, Thành viên.

  1. Đồng chí …………………, Thư ký.

(Ghi đầy đủ họ và tên, chức vụ, đơn vị công tác của các đồng chí trong Đoàn hoặc Tổ Kiểm tra; thành lập Tổ từ 2 đến 3 người, Đoàn từ 4 người trở lên)

Điều 3: Mục đích, yêu cầu, nội dung, thời gian và phương pháp tiến hành được xác định cụ thể trong Kế hoạch kiểm tra (ban hành kèm theo Quyết định này).

Điều 4: Cấp ủy Chi bộ …, (tên tổ chức đảng; họ và tên đảng viên được kiểm tra) và các đồng chí có tên tại Điều 2 thi hành Quyết định này./.

Nơi nhận: T/M ĐẢNG ỦY HOẶC CHI BỘ

- UBKT ĐUK (để b/c), BÍ THƯ HOẶC PHÓ BÍ THƯ

- Đảng ủy (chi ủy), (ký, ghi rõ họ và tên, đóng dấu)

- Như Điều 4,

- Lưu: HSKT.





- Mẫu số 1b

KẾ HOẠCH

kiểm tra ....(Nội dung kiểm tra) đối với ………………

(tên tổ chức đảng; họ và tên, chức vụ, nơi công tác của đảng viên được kiểm tra)

(ban hành kèm theo Quyết định số -QĐ/ĐU (CB), ngày ….

của Đảng ủy (Chi bộ)…….)

------

1. Mục đích, yêu cầu

- Kiểm tra làm rõ, kết luận đánh giá đúng ưu điểm, khuyết điểm của … (tên tổ chức đảng được kiểm tra), cá nhân các đồng chí …(họ và tên đảng viên được kiểm tra) về các nội dung được kiểm tra.

- Việc kiểm tra bảo đảm dân chủ, khách quan; đúng nguyên tắc, quy trình, quy định của Đảng; nêu cao ý thức tự phê bình và phê bình của tổ chức đảng và đảng viên được kiểm tra.

- Cấp ủy Chi bộ … (nơi được kiểm tra) chỉ đạo các tổ chức đảng trực thuộc và đảng viên có liên quan phối hợp, tạo điều kiện để Đoàn hoặc Tổ Kiểm tra hoàn thành nhiệm vụ.

2. Nội dung kiểm tra

(Ghi đầy đủ, cụ thể, chi tiết nội dung kiểm tra đối với tập thể, từng cá nhân được kiểm tra. Nếu đối tượng kiểm tra có cả tập thể và cá nhân, thì ghi tập thể trước, cá nhân sau).

3. Thời gian kiểm tra

- Mốc thời gian kiểm tra: Từ ngày …. đến ngày …

- Thời gian tiến hành: (Ghi rõ tổng số ngày làm việc tại địa phương, đơn vị).

4. Phương pháp tiến hành

(Ghi thứ tự các công việc phải thực hiện theo quy trình kiểm tra hiện hành)

Trong quá trình thực hiện, Kế hoạch này có thể được điều chỉnh, bổ sung cho phù hợp với tình hình thực tế./.

T/M ĐẢNG ỦY (CHI BỘ)










- Mẫu số 1c

HƯỚNG DẪN

nội dung viết báo cáo tự kiểm tra

------



Để đạt được mục đích, yêu cầu và đảm bảo nội dung, thời gian kiểm tra theo Quyết định số ....-QĐ/ĐU (CB), ngày ....tháng ..... năm ..... của Đảng uỷ (Chi bộ)....... Đoàn hoặc Tổ kiểm tra hướng dẫn tổ chức Đảng hoặc đảng viên được kiểm tra nghiên cứu, vận dụng trong việc chuẩn bị báo cáo tự kiểm tra, như sau:

-----------------------------------------------------------------------------------------

ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM


BÁO CÁO

tự kiểm tra theo Quyết định số: .....-QĐ/ĐU (CB), ngày .... tháng ..... năm .....

của Đảng uỷ (Chi bộ).......


Kính gửi : - Đảng uỷ (Chi bộ).....................................;

- Đoàn hoặc Tổ kiểm tra số ......

I- Khái quát đặc điểm, tình hình (hoặc sơ yếu lý lịch)

1. Nếu kiểm tra tổ chức đảng thì nêu khái quát đặc điểm, tình hình của tổ chức đảng có liên quan đến nội dung kiểm tra.

2. Nếu kiểm tra đảng viên thì ghi sơ yếu lý lịch đảng viên, gồm:

- Họ và tên: ; Bí danh:

- Ngày sinh:

- Quê quán:

- Nơi ở hiện nay:

- Chức vụ về Đảng, chính quyền, nơi công tác:

- Dân tộc: ; Tôn giáo:

- Trình độ học vấn, lý luận, chuyên môn nghiệp vụ:

- Ngày vào Đảng: ; Ngày chính thức:

- Quá trình công tác (nêu khái quát quá trình công tác, các chức vụ chính đã qua):

- Khen thưởng: (các loại huân chương, huy chương, Bằng khen, Giấy khen đã được tặng thưởng):

- Kỷ luật: (nếu đã bị kỷ luật, ghi rõ thời gian, hình thức kỷ luật, nội dung vi phạm, cấp quyết định).

Chấp hành Quyết định số ....-QĐ/ĐU (CB), ngày .....tháng .....năm ...... của Đảng uỷ (Chi bộ)..... và hướng dẫn của Đoàn hoặc Tổ kiểm tra số ....Bản thân ....(tên tổ chức đảng; họ và tên, chức vụ công tác của đảng viên được kiểm tra), tôi xin báo cáo tự kiểm tra, như sau :

1. Ưu điểm:

a. Nội dung 1:....................

b. Nội dung  2:.............

c. Nội dung 3 :...............

* Nguyên nhân của ưu điểm:

- Khách quan:

- Chủ quan:

2. Khuyết điểm:

........................................................................................................................................................................................................................................................

* Nguyên nhân của khuyết điểm:

- Khách quan:

- Chủ quan:

3. Phương hướng khắc phục những khuyết điểm:

4. Kiến nghị và đề xuất (nếu có):

Trên đây là báo cáo tự kiểm tra về trách nhiệm của ........(tên tổ chức đảng; họ và tên, chức vụ công tác của đảng viên được kiểm tra)

..............(tên tổ chức đảng; họ và tên, chức vụ công tác của đảng viên được kiểm tra) rất mong nhận được ý kiến tham gia của Đoàn hoặc Tổ kiểm tra số .... và Đảng uỷ (Chi bộ) về những ưu, khuyết điểm của ........(tên tổ chức đảng; họ và tên, chức vụ công tác của đảng viên được kiểm tra) để có hướng phát huy những ưu điểm, đồng thời khắc phục những thiếu sót, khuyết điểm trong thời gian đến.

Gia Nghĩa, ngày tháng năm............

Tổ chức hoặc Người tự kiểm tra

(ghi rõ tên tổ chức hoặc họ tên người được kiểm tra)

..........................................................................................................................

Trên đây là những nội dung chính mà trong báo cáo tự kiểm tra của ........(tên tổ chức đảng; họ và tên, chức vụ công tác của đảng viên được kiểm tra) cần đề cập tới. Quá trình nghiên cứu vận dụng viết báo cáo tự kiểm tra; ........(tên tổ chức đảng; họ và tên, chức vụ công tác của đảng viên được kiểm tra) có thể nêu thêm những vấn đề có liên quan đến nội dung kiểm tra mà tổ chức hoặc đảng viên được kiểm tra xét thấy cần thiết phải báo cáo./

Nơi nhận: TRƯỞNG ĐOÀN HOẶC TỔ TRƯỞNG TỔ KIỂM TRA

- Thành viên Tổ kiểm tra;

- Đ/c BT ĐU ....;

- Lưu HSKT ;






- Mẫu số 1d

ĐẢNG UỶ KHỐI CCQ TỈNH ĐẮK NÔNG ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM ĐẢNG ỦY (CHI BỘ)……….. …….., ngày ….. tháng …. năm ….

*

TỔ KIỂM TRA … (ghi theo số Quyết định)

Độ mật theo quy định

BÁO CÁO

kết quả kiểm tra ....(Nội dung kiểm tra) đối với ………………

(tên tổ chức đảng; họ và tên, chức vụ, nơi công tác của đảng viên được kiểm tra)

----


Thực hiện Quyết định số …, ngày ….. của Đảng ủy (Chi bộ) ……., Tổ Kiểm tra đã tiến hành kiểm tra ....(Nội dung kiểm tra) đối với … (tên tổ chức đảng; họ và tên, chức vụ, nơi công tác của đảng viên được kiểm tra) về việc … (ghi nội dung kiểm tra).

Đoàn hoặc Tổ kiểm tra báo cáo kết quả kiểm tra như sau:

I- Khái quát đặc điểm, tình hình (hoặc sơ yếu lý lịch)

1. Nếu kiểm tra tổ chức đảng thì nêu khái quát đặc điểm, tình hình của tổ chức đảng có liên quan đến nội dung kiểm tra.

2. Nếu kiểm tra đảng viên thì ghi sơ yếu lý lịch đảng viên, gồm:

- Họ và tên: ; Bí danh:

- Ngày sinh:

- Quê quán:

- Nơi ở hiện nay:

- Chức vụ về Đảng, chính quyền, nơi công tác:

- Dân tộc: ; Tôn giáo:

- Trình độ học vấn, lý luận, chuyên môn nghiệp vụ:

- Ngày vào Đảng: ; Ngày chính thức:

- Quá trình công tác (nêu khái quát quá trình công tác, các chức vụ chính đã qua):

- Khen thưởng: (các loại huân chương, huy chương, Bằng khen, Giấy khen đã được tặng thưởng):

- Kỷ luật: (nếu đã bị kỷ luật, ghi rõ thời gian, hình thức kỷ luật, nội dung vi phạm, cấp quyết định).

II- Kết quả thẩm tra, xác minh

- Nêu rõ kết quả thẩm tra, xác minh về từng nội dung được kiểm tra theo quyết định kiểm tra và làm rõ ưu điểm, tồn tại khuyết điểm và nguyên nhân ưu, khuyết điểm của tổ chức đảng hoặc đảng viên được kiểm tra.

- Nhận xét của Đoàn hoặc Tổ Kiểm tra về trách nhiệm của tập thể, cá nhân đảng viên được kiểm tra theo từng nội dung đã thẩm tra, xác minh.

(Nếu đối tượng kiểm tra cả tập thể và cá nhân, thì ghi tập thể trước, cá nhân sau).

III- Nhận xét và đề nghị

- Nhận xét của các tổ chức đảng có liên quan về nội dung kiểm tra.

- Nhận xét chung của Đoàn hoặc Tổ Kiểm tra về ưu điểm, khuyết điểm, tồn tại, hạn chế của tổ chức đảng và đảng viên được kiểm tra.

- Đoàn hoặc Tổ kiểm tra kiến nghị Đảng ủy (Chi bộ) đề nghị hoặc yêu cầu xem xét, kết luận đối với các tổ chức đảng và đảng viên được kiểm tra (nếu có)./.

TRƯỞNG ĐOÀN HOẶC TỔ TRƯỞNG TỔ KIỂM TRA

(ký và ghi rõ họ tên)




- Mẫu số 1e

ĐẢNG UỶ KHỐI CCQ TỈNH ĐẮK NÔNG ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM

ĐẢNG ỦY (CHI BỘ) …. …….., ngày ….. tháng …. năm ….

*

Số -KL/ĐU (CB)

Độ mật theo quy định

KẾT LUẬN

kiểm tra ....(Nội dung kiểm tra) đối với ………………

(tên tổ chức đảng; họ và tên, chức vụ, nơi công tác của đảng viên được kiểm tra)

----


Đảng ủy (Chi bộ)….. đã tiến hành kiểm tra đối với … (tên tổ chức đảng; họ và tên, chức vụ, nơi công tác của đảng viên được kiểm tra) về việc … (ghi nội dung kiểm tra).

Sau khi xem xét báo cáo kết quả kiểm tra, Đảng ủy (Chi bộ) ……nhận thấy:

1- Ghi kết luận về từng nội dung theo quyết định kiểm tra; về ưu điểm, khuyết điểm, tồn tại hạn chế, nguyên nhân ưu, khuyết điểm của tổ chức đảng hoặc đảng viên được kiểm tra; về trách nhiệm của tập thể, cá nhân đảng viên được kiểm tra đối với từng nội dung đã được thẩm tra, xác minh làm rõ (nếu đối tượng kiểm tra có cả tập thể và cá nhân, thì ghi tập thể trước, cá nhân sau).

2- Đảng ủy (Chi bộ) yêu cầu:

- Đối với tổ chức đảng; đảng viên được kiểm tra.

- Đối với các tổ chức đảng và đảng viên có liên quan.

- Đối với Đoàn hoặc Tổ kiểm tra.

Theo Quy chế làm việc, Đảng ủy (Chi bộ) thông báo để … (tên tổ chức đảng; họ và tên đảng viên được kiểm tra) và … (tên các tổ chức đảng có liên quan) biết, triển khai thực hiện và báo cáo kết quả về Đảng ủy, chi bộ trước ngày … ./.


Nơi nhận: T/M ĐẢNG ỦY (CHI BỘ)

- UBKT ĐUK (để b/c), BÍ THƯ HOẶC PHÓ BÍ THƯ

- Cấp ủy Chi bộ … , (ký, ghi rõ họ và tên, đóng dấu)

- (Tên tổ chức đảng; họ và tên đảng viên được kiểm tra)

- Các đồng chí Đảng ủy, Chi ủy,

- Lưu: HS KT.








- Mẫu số 2a

ĐẢNG UỶ KHỐI CCQ TỈNH ĐẮK NÔNG ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM

ĐẢNG ỦY (CHI BỘ)………. …….., ngày ….. tháng …. năm ….

*

Số -QĐ/ĐU (CB)

Độ mật theo quy định

QUYẾT ĐỊNH

Giám sát việc ……(Nội dung Giám sát) đối với ……………

(tên tổ chức đảng; họ và tên, chức vụ, nơi công tác của đảng viên được giám sát)

- Căn cứ Điều lệ Đảng Cộng sản Việt Nam khóa XI;

- Căn cứ các quy định và hướng dẫn thực hiện công tác kiểm tra, giám sát và thi hành kỷ luật của Đảng;

- Căn cứ Quy chế làm việc và Chương trình công tác năm … của Đảng ủy (Chi bộ) ……………

ĐẢNG ỦY (CHI BỘ)……………………..

QUYẾT ĐỊNH

Điều 1: Giám sát … (Nội dung, tên tổ chức đảng; họ và tên, chức vụ, nơi công tác của đảng viên được giám sát).

Điều 2: Thành lập Đoàn hoặc Tổ Giám sát gồm các đồng chí có tên sau đây:

1- Đồng chí …………..…….., Trưởng Đoàn hoặc Tổ Trưởng .

  1. Đồng chí …………………, Phó Trưởng Đoàn hoặc Tổ Phó.

3- Đồng chí …………………, Thành viên.

  1. Đồng chí …………………, Thư ký.

(Ghi đầy đủ họ và tên, chức vụ, đơn vị công tác của các đồng chí trong Tổ Giám sát)

Điều 3: Mục đích, yêu cầu, nội dung, thời gian và phương pháp tiến hành được xác định cụ thể trong Kế hoạch giám sát (ban hành kèm theo Quyết định này).

Điều 4: Tổ chức đảng; họ và tên đảng viên được giám sát và các đồng chí có tên tại Điều 2 thi hành Quyết định này./.


Nơi nhận: T/M ĐẢNG ỦY (CHI BỘ)

- UBKT ĐUK (để b/c), BÍ THƯ HOẶC PHÓ BÍ THƯ

- Đảng ủy (chi ủy), (ký, ghi rõ họ và tên, đóng dấu)

- Như Điều 4,

- Lưu: HSGS.










- Mẫu số 2b

KẾ HOẠCH

giám sát đối với …… (tên tổ chức đảng; họ và tên, chức vụ,

nơi công tác của đảng viên được giám sát)

(ban hành kèm theo Quyết định số -QĐ/ĐU (CB), ngày ….

của Đảng ủy (Chi bộ)…………………….)

------

1. Mục đích, yêu cầu

- Qua giám sát, đánh giá đúng ưu điểm, hạn chế, khuyết điểm của tổ chức Đảng hoặc cá nhân đảng viên (tên tổ chức đảng; họ và tên đảng viên được giám sát) trong việc ….. (nêu nội dung giám sát) để kịp thời sửa chữa, uốn nắn, khắc phục.

- Việc giám sát bảo đảm đúng quy trình, quy định của Đảng; phát huy dân chủ, nêu cao ý thức tự phê bình và phê bình của tổ chức Đảng và đảng viên trong quá trình giám sát.

- Cấp ủy Chi bộ … (nơi được kiểm tra) chỉ đạo các tổ chức đảng trực thuộc và đảng viên có liên quan phối hợp, tạo điều kiện để Đoàn hoặc Tổ Giám sát hoàn thành nhiệm vụ.

2. Nội dung giám sát

(Ghi đầy đủ, cụ thể, chi tiết nội dung giám sát đối với các tập thể và cá nhân được giám sát; tập thể ghi trước, cá nhân ghi sau)

3. Thời gian kiểm tra

- Mốc thời gian giám sát: Từ ngày …. đến ngày …

- Thời gian tiến hành: (Ghi rõ tổng số ngày làm việc tại địa phương, đơn vị).

4. Phương pháp tiến hành

(Ghi thứ tự các công việc phải thực hiện theo quy trình giám sát hiện hành)

Trong quá trình thực hiện, Kế hoạch này có thể được điều chỉnh, bổ sung cho phù hợp với tình hình thực tế./.

T/M ĐẢNG ỦY (CHI BỘ)

BÍ THƯ HOẶC PHÓ BÍ THƯ

(ký, ghi rõ họ và tên, đóng dấu)






- Mẫu số 2c

HƯỚNG DẪN

nội dung viết báo cáo tự Giám sát

------



Để đạt được mục đích, yêu cầu và đảm bảo nội dung, thời gian giám sát theo Quyết định số ....-QĐ/ĐU (CB), ngày ....tháng .....năm ..... của Đảng uỷ (Chi bộ)....... Đoàn hoặc Tổ Giám sát hướng dẫn tổ chức Đảng hoặc đảng viên được giám sát (tên tổ chức đảng; họ và tên, chức vụ, nơi công tác của đảng viên được Giám sát) nghiên cứu, vận dụng trong việc chuẩn bị báo cáo tự Giám sát, như sau:

-----------------------------------------------------------------------------------------

ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM


BÁO CÁO

tự Giám sát theo Quyết định số: .....-QĐ/ĐU (CB), ngày .... tháng ..... năm .....

của Đảng uỷ (Chi bộ).......


Kính gửi : - Đảng uỷ (Chi bộ).....................................;

- Đoàn hoặc Tổ Giám sát số ......

I- Khái quát đặc điểm, tình hình (hoặc sơ yếu lý lịch)

1. Nếu kiểm tra tổ chức đảng thì nêu khái quát đặc điểm, tình hình của tổ chức đảng có liên quan đến nội dung Giám sát.

2. Nếu Giám sát đảng viên thì ghi sơ yếu lý lịch đảng viên, gồm:

- Họ và tên: ; Bí danh:

- Ngày sinh:

- Quê quán:

- Nơi ở hiện nay:

- Chức vụ về Đảng, chính quyền, nơi công tác:

- Dân tộc: ; Tôn giáo:

- Trình độ học vấn, lý luận, chuyên môn nghiệp vụ:

- Ngày vào Đảng: ; Ngày chính thức:

- Quá trình công tác (nêu khái quát quá trình công tác, các chức vụ chính đã qua):

- Khen thưởng: (các loại huân chương, huy chương, Bằng khen, Giấy khen đã được tặng thưởng):

- Kỷ luật: (nếu đã bị kỷ luật, ghi rõ thời gian, hình thức kỷ luật, nội dung vi phạm, cấp quyết định).

Chấp hành Quyết định số ....-QĐ/ĐU (CB), ngày ......tháng .....năm .... của Ban Đảng uỷ (Chi bộ)..... và hướng dẫn của Đoàn hoặc Tổ Giám sát số ....Bản thân ....(tên tổ chức đảng; họ và tên, chức vụ công tác của đảng viên được Giám sát), tôi xin báo cáo tự giám sát, như sau :

1. Ưu điểm:

* Nguyên nhân của ưu điểm:

- Khách quan:

- Chủ quan:

2. Khuyết điểm:

........................................................................................................................................................................................................................................................

* Nguyên nhân của khuyết điểm:

- Khách quan:

- Chủ quan:

3. Phương hướng khắc phục những khuyết điểm:

4. Kiến nghị và đề xuất (nếu có):

Trên đây là báo cáo tự giám sát về trách nhiệm của ........(tên tổ chức đảng; họ và tên, chức vụ công tác của đảng viên được giám sát).

..............(tên tổ chức đảng; họ và tên, chức vụ công tác của đảng viên được giám sát) rất mong nhận được ý kiến tham gia của Đoàn hoặc Tổ giám sát số .... và Đảng uỷ (Chi bộ) về những ưu, khuyết điểm của ........(tên tổ chức đảng; họ và tên, chức vụ công tác của đảng viên được giám sát) để có hướng phát huy những ưu điểm và khắc phục những thiếu sót, khuyết điểm trong thời gian đến.

Gia Nghĩa, ngày tháng năm............

T/M Tổ chức (cá nhân đảng viên) tự giám sát

(ký, ghi rõ họ tên)

..........................................................................................................................

Trên đây là những nội dung chính mà trong báo cáo tự Giám sát của ........(tên tổ chức đảng; họ và tên, chức vụ công tác của đảng viên được giám sát) cần đề cập tới. Quá trình nghiên cứu vận dụng viết báo cáo tự Giám sát; ........(tên tổ chức đảng; họ và tên, chức vụ công tác của đảng viên được Giám sát) có thể nêu thêm những vấn đề có liên quan đến nội dung giám sát mà tổ chức hoặc cá nhân xét thấy cần thiết phải tự Giám sát./

Nơi nhận: TRƯỞNG ĐOÀN HOẶC TỔ TRƯỞNG

- Thành viên Đoàn hoặc Tổ giám sát;

- Tổ chức hoặc cá nhân được GS,

- Lưu HSGS.





- Mẫu số 2d

ĐẢNG UỶ KHỐI CCQ TỈNH ĐẮK NÔNG ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM

ĐẢNG ỦY (CHI BỘ)………. …….., ngày ….. tháng …. năm ….

*

TỔ GIÁM SÁT … (ghi theo số Quyết định)

Độ mật theo quy định

BÁO CÁO

kết quả giám sát ……….…

(tên tổ chức đảng; họ và tên, chức vụ, nơi công tác của đảng viên được giám sát)

------


Thực hiện Quyết định số …, ngày ….. của Đảng ủy (Chi bộ)………….., Trưởng Đoàn hoặc Tổ Giám sát đã tiến hành giám sát …. (tên tổ chức đảng; họ và tên, chức vụ, nơi công tác của đảng viên được giám sát) về việc ….. (ghi nội dung giám sát)

Đoàn hoặc Tổ Giám sát báo cáo kết quả giám sát như sau:

I- Đặc điểm tình hình

Nêu khái quát đặc điểm tình hình của tổ chức đảng có liên quan trực tiếp đến nội dung giám sát (nếu giám sát đảng viên thì không có mục này).

II- Kết quả giám sát

Trình bày kết quả từng nội dung đã được giám sát, trong đó nêu rõ ưu điểm, hạn chế, khuyết điểm, nguyên nhân.

III- Nhận xét và đề nghị

- Nhận xét của các tổ chức đảng có liên quan về nội dung giám sát.

- Đoàn hoặc Tổ Giám sát đưa ra nhận xét chung và kiến nghị với Đảng ủy (Chi bộ)…………..để đề nghị (hoặc yêu cầu) tổ chức đảng hoặc đảng viên được giám sát phát huy ưu điểm, sửa chữa, khắc phục hạn chế, khuyết điểm./.

TRƯỞNG ĐOÀN HOẶC TỔ TRƯỞNG

(ký và ghi rõ họ tên)




- Mẫu số 2e

ĐẢNG UỶ KHỐI CCQ TỈNH ĐẮK NÔNG ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM

ĐẢNG ỦY (CHI BỘ)………. …….., ngày ….. tháng …. năm ….

*

Số -TB/ĐU (CB)

Độ mật theo quy định

THÔNG BÁO

kết quả giám sát ……....…

(nội dung tên tổ chức đảng; họ và tên, chức vụ, nơi công tác của đảng viên được giám sát)

----


Đảng ủy (Chi bộ)….. đã tiến hành giám sát …. (tên tổ chức đảng; họ và tên, chức vụ, nơi công tác của đảng viên được giám sát) về việc …. (ghi nội dung giám sát).

Sau khi xem xét báo cáo kết quả giám sát, Đảng ủy (Chi bộ)….. …………. nhận thấy …. (tên tổ chức đảng; họ và tên, chức vụ, nơi công tác của đảng viên được giám sát):

Sau khi xem xét báo cáo kết quả kiểm tra, Đảng ủy (Chi bộ) nhận thấy:

1- Ghi kết luận về từng nội dung theo quyết định Giám sát; về ưu điểm, khuyết điểm, tồn tại hạn chế, nguyên nhân ưu, khuyết điểm của tổ chức đảng hoặc đảng viên được Giám sát; về trách nhiệm của tập thể, cá nhân đảng viên được giám sát đối với từng nội dung đã được thẩm tra, xác minh làm rõ (nếu đối tượng giám sát có cả tập thể và cá nhân, thì ghi tập thể trước, cá nhân sau).

2- Đảng ủy (Chi bộ) yêu cầu:

- Đối với tổ chức đảng; đảng viên được giám sát.

- Đối với các tổ chức đảng và đảng viên có liên quan.

- Đối với Đoàn hoặc Tổ giám sát.

Theo Quy chế làm việc, Đảng ủy (Chi bộ)….. thông báo để … (tên tổ chức đảng; họ và tên đảng viên được giám sát) và … (tên các tổ chức đảng có liên quan) biết, triển khai thực hiện và báo cáo kết quả về Đảng ủy (Chi bộ)….. trước ngày … .

Nơi nhận: T/M ĐẢNG ỦY (CHI BỘ)

- UBKT ĐUK (để b/c), BÍ THƯ HOẶC PHÓ BÍ THƯ

- (Tên tổ chức đảng, đảng viên được giám sát) (ký, ghi rõ họ và tên, đóng dấu)

- Cấp ủy Chi bộ ….,

- Lưu: HSGS.










146