DMCA.com Protection Status

TÀI LIỆU ÔN TẬP MÔN KHOA HỌC HÀNH CHÍNH( SƯU TẦM)  quan tâm

Được đăng bởi: Trần Việt Thao

Cập nhật lúc 09:44 ngày 25/01/2018

TÀI LIỆU ÔN TẬP MÔN KHOA HỌC HÀNH CHÍNH( SƯU TẦM)

Câu 1. Tài phán hành chính, tài phán tư pháp, thực trạng giải quyết các vụ án hành chính ở nước ta hiện nay. 1

Câu 2: Sơ đồ bộ máy hành chính, thực trạng tổ chức và hoạt động của bộ máy hành chính nhà nước của nước ta. 3

Câu 3: Yêu cầu và nội dung quản lý công sản? Giải pháp chống thất thoát tài sản công? 7

Câu 4. So sánh hoạt động công vụ với các hoạt động khác không mang tính công vụ. 9

Câu 5: Quản lý nhà nước về thi hành án dân sự - yêu cầu và nội dung. 10

Câu 6: Thực trạng thi hành án dân sự ở nước ta hiện nay. 12

Câu 7. So sánh chức năng HCNN với chức năng lập pháp và tư pháp ở nước ta. 13

Câu 8. Phân tích đường lối, chủ trương cải cách hành chính trong tiến trình đổi mới. 14

Câu 9: Phân tích nguyên tắc kết hợp quản lý theo ngành, theo lĩnh vực và theo lãnh thổ trong tổ chức và hoạt động của Bộ máy HCNN ta, cho ví dụ. 16

Câu 10. Phân tích thực trạng cải cách nền hành chính ở nước ta hiện nay, phương hướng, giải pháp cải cách hành chính. 18

Câu 11. So sánh QLNN về đô thị và nông thôn. Ở nước ta hiện nay cần xây dựng mô hình chính quyền đô thị không, tại sao ?. 21

Câu 12. Nguyên tắc Đảng lãnh đạo tổ chức và hoạt động của bộ máy HCNN Việt nam (cho ví dụ để làm rõ). 24

Câu 13. So sánh cán bộ, công chức, viên chức. Thực trạng đội ngũ cán bộ công chức ở Việt Nam hiện nay? 25

Câu 14. Xây dựng đề cương của một đề án giải quyết một vấn đề mà bạn cho là bức xúc, nổi cộm cần giải quyết khi thực hiện QLHCNN ? 27

Câu 15. Thực trạng Bộ máy hành chính Nhà nước. Những giải pháp hoàn thiện? 28

Câu 16 : Hãy phân tích vai trò of NN trong xây dựng và đô thị ? 30

Câu 17: Phân tích các quan điểm hoàn thiện chế độ công vụ (CĐCV) và các giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức (CB,CC) ở Việt Nam hiện nay (5đ) 30

Câu 18 : Phân tích chức năng QLNN về kinh tế ? Nhận xét về việc thực hiện các chức năng này of NN ta ? (5đ) (QH: quan hệ) 31

Câu 19 : Phân tích thực trạng hệ thống đô thị (ĐT) và thực trạng QL đô thị Việt nam hiện nay ? (5đ) 33

Câu 20. Chức năng hành chính Nhà nước là gì? Phân loại chức năng hành chính nhà nước. 34

Câu 21. Văn kiện ĐHĐB toàn quốc lần thứ X của ĐCS Việt Nam có nêu: Đẩy mạnh cải cách hành chính, đổi mới tổ chức hoạt động của chính phủ theo hướng xây dựng cơ quan hành pháp thống nhất, thông suốt, hiện đại… phân cấp mạnh, giao quyền chủ động hơn nữa cho chính quyền đại phương…” ĐCSVN văn kiện ĐH X tr 126 – 127. Bằng kiến thức KHHC đồng chí phân tích làm sáng tỏ quan điểm trên. 34

Câu 22: a)- phân biệt cán bộ, công chức, viên chức. b)- Phân biệt cán bộ, công chức với người lao động khác. c) So sánh hoạt động công vụ với hoạt động khác không mang tính công vụ. d) Phân biệt hành chính công và Hành chính tư. đ) Phân biệt quản lý - quản lý nhà nước 37

Câu 23. Đồng chí hãy trình bày đường lối, chủ trương của Đảng về cải cách hành chính trong tiến trình đổi mới ở Việt Nam?(5 điểm) 38

Câu 24. Đồng chí hãy phân tích các quan điểm hoàn thiện chế độ công vụ và các giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ công chức ở Việt Nam hiện nay? (5 điểm) 40

Câu 25. Đồng chí hãy phân tích chức năng của quản lý nhà nước về kinh tế? Nhận xét việc thực hiện các chức năng này của nhà nước ta? (5 điểm) 41

Câu 26. Đồng chí hãy phân tích thực trạng phát triển hệ thống đô thị và thực trạng quản lý đô thị Việt Nam hiện nay? 41

Câu 27. Thông qua công tác thực tiễn, làm rõ Vai trò và chức năng cơ bản của QLHCNN. 42

Câu 28. Phân biệt cán bộ, công chức, viên chức. 44

Câu 29. Trình bày các chức năng của nhà nước trong quản lý kinh tế xã hội. Vai trò của công sản và nguyên tắc quản lý và sử dụng công sản. Nội dung cơ bản quản lý nhà nước về tài chính công. 48

Câu 30. Các nguyên tắc được áp dụng trong xử lý vi phạm hành chính: 54

Câu 31. Nguyên tắc Đảng lãnh đạo trong quản lý HCNN: 56

Câu 32. :Những biểu hiện cụ thể của nguyên tắc tập trung dân chủ trong tổ chức và hoạt động của các cơ quan QLNN 58

Câu 33. Bộ máy HCNN VN hiện nay 59

Câu 34: Vấn đề cải cách BMHCNN ở Việt Nam 64

Câu 36: Chức năng HCNN 70

CÁC ĐỀ ÁN 73

1/ ĐỀ ÁN NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG CÔNG TÁC ĐÀO TẠO CÁN BỘ, THU HÚT VÀ PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC TỈNH BÌNH PHƯỚC GIAI ĐOẠN 2011- 2015 73

2/ ĐỀ ÁN Xây dựng và phát triển đô thị thị xã Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước giai đoạn 2010-2015 và tầm nhìn 2020. 83

3/ ĐỀ ÁN “Nâng cao chất lượng đội ngũ thẩm phán Tòa Hành chính Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 2012-2015” 93

4/ ĐỀ ÁN Ứng phó với biến đổi khí hậu và nước biển dâng tỉnh Bến Tre giai đoạn 2011 - 2015 và định hướng đến 2020 95

5/ Đề án Ứng dụng hệ thống thông tin địa lý (GIS) để quản lý cơ sở hạ tầng KT-XH tỉnh Khánh Hoà 101

6/ TÓM TẮT ĐỀ ÁN Chuyển dịch mạnh cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hoá, tăng nhanh giá trị thu nhập trong sản xuất; chủ động sản xuất và cung ứng giống tốt giai đoạn 2006 - 2010 116

7/ TÓM TẮT ĐỀ ÁN Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn theo hướng công nghiệp hóa - hiện đại hoá tỉnh Lào Cai giai đoạn 2006 - 2010 121

8/ TÓM TẮT ĐỀ ÁN: Đẩy mạnh quy hoạch săp xếp dân cư gắn với quy hoạch sản xuất giai đoạn 2006-2010 126

9/ TÓM TẮT ĐỀ ÁN Giảm nghèo bền vững giai đoạn 2006-2010 tỉnh Lào Cai. 129

10/ TẮT ĐỀ ÁN Phát triển và nâng cao hiệu quả kinh tế lâm nghiệp tỉnh Lào Cai giai đoạn 2006 - 2010 137

11/ TÓM TẮT ĐỀ ÁN Phát triển cơ sở hạ tầng nông thôn tỉnh Lào Cai giai đoạn 2006 - 2010 140

12/ TÓM TẮT ĐỀ ÁN Đề án Xây dựng và phát triển giao thông tỉnh Lào Cai giai đoạn 2006-2010 143

13/ TÓM TẮT ĐỀ ÁN Hoàn thiện việc xây dựng thành phố Lào Cai giai đoạn 2006 - 2010 146

14/ TÓM TẮT ĐỀ ÁN Phát triển công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp tỉnh Lào Cai  giai đoạn 2006 - 2010 153

15/ TÓM TẮT ĐỀ ÁN Phát triển và ứng dụng công nghệ thông tin - truyền thông giai đoạn 2006 - 2010 158

16/ TÓM TẮT ĐỀ ÁN Mở rộng kinh tế đối ngoại và hội nhập kinh tế tỉnh Lào Cai 163

17/ TÓM TẮT ĐỀ ÁN Đề án phát triển kinh tế du lịch tỉnh Lào cai giai đoạn 2006-2010 167

18/ TÓM TẮT ĐỀ ÁN Phát triển thương mại và dịch vụ tỉnh Lào Cai giai đoạn 2006 - 2010. 170

19/ TÓM TẮT ĐỀ ÁN Phát triển giáo dục- đào tạo tỉnh Lào Cai giai đoạn 2006-2010 173

20/ TÓM TẮT ĐỀ ÁN Củng cố và phát triển sự nghiệp y tế tỉnh Lào Cai giai đoạn 2006-2010 177

21/ TÓM TẮT ĐỀ ÁN Phát triển phát triển văn hóa, giữ gìn và phát huy bản sắc các dân tộc Lào Cai giai đoạn 2006-2010. 181

22/ TÓM TẮT ĐỀ ÁN Phát triển Thể dục Thể thao tỉnh Lào Cai giai đoạn 2006 - 2010. 186

23/ TÓM TẮT ĐỀ ÁN Phát triển khoa học và công nghệ tỉnh Lào Cai giai đoạn 2006 - 2010 189

24/ TÓM TẮT ĐỀ ÁN Đẩy mạnh cải cách hành chính tỉnh Lào Cai giai đoạn 2006 – 2010. 192

25/ TÓM TẮT ĐỀ ÁN Đào tạo nghề cho người lao động tỉnh Lào Cai giai đoạn 2006-2010 193

26/ TÓM TẮT ĐỀ ÁN Đào tạo đội ngũ cán bộ quản lý, cán bộ chuyên môn và cán bộ kỹ thuật cấp tỉnh, huyện, thành phố tỉnh Lào Cai giai đoạn 2006 - 2010 198


Câu 1. Tài phán hành chính, tài phán tư pháp, thực trạng giải quyết các vụ án hành chính ở nước ta hiện nay.

1. Tài phán hành chính, tài phán tư pháp:

Tài phán: xuất phát điểm của từ Tài phán là sự phân xử đúng sai; sau đó có phân xử và có phán quyết; phân xử có phán quyết và phán quyết có hiệu lực pháp lý. Thuật ngữ “Tài phán” có nghĩa là tổng thể các quyền hạn của tòa án hoặc cơ quan hành chính nhà nước về việc đánh giá khía cạnh pháp lý của những sự kiện cụ thể, trong đó có việc giải quyết những tranh chấp và áp dụng các chế tài cụ thể.

* Tài phán hành chính: là toàn bộ các hoạt động, các hành vi của các tổ chức, cơ quan hay cá nhân có thẩm quyền theo luật định trong việc giải quyết các vụ việc tranh chấp hành chính.

Hay nói cách khác, Tài phán hành chính (TPHC) là việc xem xét và ra phán quyết có giá trị pháp lý nhằm giải quyết tranh chấp liên quan đến các quyết định hành chính và hành vi hành chính. Đó là tranh chấp giữa một bên là cơ quan hành chính nhà nước với một bên là đối tượng tác động của hành vi, quyết định hành chính (công dân và các tổ chức cụ thể). Như vậy, có thể hiểu TPHC là hoạt động giải quyết các tranh chấp hành chính hay các tranh chấp nảy sinh trong quá trình điều hành, quản lý của các cơ quan hành chính nhà nước, trong đó chủ yếu là việc xem xét, phán quyết về tính đúng đắn của các quyết định hay hành vi quản lý của cơ quan quản lý nhà nước.

Ở nước ta, trong cải cách nền hành chính, Đảng và Nhà nước ta khẳng định phải thiết lập các cơ quan tài phán hành chính. Quan điểm này đã trở thành hiện thực từ nửa cuối năm 1996. Hiện tại, địa vị của tài phán hành chính được xác định bởi địa vị chính trị - pháp lý của hoạt động Tòa hành chính trong hệ thống Tòa án nhân dân với tư cách là Tòa chuyên trách.

Tòa hành chính có chức năng xét xử về hành chính, giải quyết các tranh chấp phát sinh trong lĩnh vực quản lý hành chính nhà nước giữa công dân, cơ quan, tổ chức với cơ quan hành chính nhà nước và các cơ quan khác khi thực hiện việc chấp hành và điều hành và nhân viên nhà nước trong bộ máy đó khi thi hành công vụ.

Trong khi xét xử, Tòa hành chính có quyền và nghĩa vụ kiểm tra tính hợp pháp của các quyết định hành chính, hành vi hành chính bị khiếu kiện; xét xử các vụ kiện hành chính.

Việc thiết lập Tòa hành chính ở nước ta hiện nay đáp ứng nhu cầu cần thiết, khách quan cho bước đầu xây dựng nhà nước pháp quyền Việt nam, một mặt bảo đảm pháp chế, kỷ cương pháp luật trong hoạt động hành chính nhà nước; mặt khác bảo đảm được các quyền, tự do, lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức, từ đó tạo sự gắn kết chặt chẽ giữa nhà nước và công dân.

Hoạt động TPHC ở nước ta bao gồm:

- Hoạt động xem xét giải quyết khiếu nại hành chính của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền; hoạt động thanh tra, kiểm tra trong hệ thống cơ quan hành chính. Thủ tục giải quyết theo quy định của Luật khiếu nại tố cáo 1998 (sửa đổi, bổ sung 2004, 2005).

- Hoạt động xét xử các tranh chấp hành chính do Tòa án nhân dân thực hiện. Thủ tục giải quyết theo Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án hành chính 1996 (sửa đổi, bổ sung 1998, 2006).

* Tài phán tư pháp: hoạt động xét xử của các vụ án hình sự, dân sự, lao động, thương mại của tòa án để đưa ra những phán quyết cuối cùng (phân xử ai đúng ai sai).

2. Thực trạng giải quyết các vụ án hành chính ở nước ta hiện nay.

Nhà nước đã có nhiều cố gắng trong công tác lập quy, nhiều luật và các văn bản dưới luật được ban hành, phần nào đáp ứng được yêu cầu của công tác quản lý nhà nước, bảo vệ các quyền dân chủ cơ bản của công dân. Quốc hội cũng đã giao thêm thẩm quyền xét xử các vụ án hành chính cho tòa án nhằm đảm bảo mọi khiếu kiện của nhân dân được giải quyết tại tòa án. Tuy nhiên, hoạt động giải quyết khiếu kiện của Tòa hành chính và các cơ quan hành chính nhà nước vẫn còn nhiều bất cập, kém hiệu quả và chưa đáp ứng được yêu cầu.

Thời gian qua, các khiếu kiện của công dân xảy ra trong mọi lĩnh vực đời sống xã hội, với số lượng lớn và ngày càng tăng. Từ năm 2006-2008, các cơ quan hành chính nhà nước đã tiếp nhận 303.026 đơn khiếu nại về 238.888 vụ việc. Tuy các cơ quan hành chính nhà nước đã thụ lý, giải quyết được khá nhiều vụ việc song hiệu quả còn nhiều hạn chế. Bất cập là do cơ chế giải quyết khiếu nại hành chính hiện nay còn mang tính khép kín, chưa đảm bảo tính khách quan, dân chủ.

Quy định pháp luật hiện hành cho phép cơ quan hành chính cấp trên tiếp tục giải quyết các khiếu nại mà cơ quan hành chính nhà nước cấp dưới đã giải quyết, nếu công dân còn khiếu nại. Điều này dẫn đến tình trạng người dân có tâm lý không tin tưởng vào việc giải quyết khiếu nại của các cơ quan hành chính nhà nước cấp trên đối với các quyết định giải quyết khiếu nại của cơ quan hành chính cấp dưới, vì cho rằng cấp trên bênh vực cấp dưới. Trên thực tế, đa số các quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu đều được cấp trên công nhận.

Một nguyên nhân khác, là hiện nay cơ chế giải quyết khiếu nại hành chính cũng chưa phân định và tách bạch giữa hoạt động quản lý điều hành với hoạt động giải quyết khiếu nại của các cơ quan hành chính nhà nước. Các cơ quan hành chính nhà nước phải mất nhiều thời gian, công sức vào việc giải quyết khiếu nại nhưng hiệu quả vẫn không cao, thậm chí còn làm ảnh hưởng không nhỏ đến hoạt động quản lý điều hành của các cơ quan này.

Để khắc phục tình trạng kém hiệu quả trong giải quyết khiếu kiện của các cơ quan hành chính nhà nước, Quốc hội đã giao thẩm quyền xét xử các vụ án cho tòa án. Tuy nhiên, số vụ việc công dân khởi kiện ra tòa tính trên số vụ việc khiếu nại cơ quan hành chính nhà nước đã giải quyết đạt tỷ lệ rất thấp, dưới 1%. Cụ thể, theo báo cáo kết quả giám sát việc thi hành pháp luật về khiếu nại, tố cáo của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, số liệu thống kê từ 28 tỉnh, thành thì trong số 56.788 vụ việc đã giải quyết, chỉ có 310 vụ việc công dân khởi kiện ra tòa.

Tình trạng Tòa hành chính thụ lý ít, có nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan. Trong đó, nguyên nhân được lặp đi lặp lại từ nhiều năm nay, là hệ thống pháp luật của nước ta chưa hoàn chỉnh và đồng bộ. Qua các lần sửa đổi Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án hành chính, số lượng vụ việc tòa án có thẩm quyền giải quyết ngày càng tăng nhưng chỉ dừng lại ở một số loại việc nhất định. Điều này mâu thuẫn với cơ chế giải quyết khiếu nại hiện nay, là một vụ việc khiếu nại được giải quyết tối đa ở 2 cấp hành chính và người khiếu nại có quyền khởi kiện vụ án hành chính tại tòa án nhân dân trong các lần giải quyết khiếu nại của cơ quan hành chính. Như vậy những loại việc không thuộc thẩm quyền của Tòa hành chính, người dân đương nhiên bị giới hạn quyền khởi kiện ra tòa.

* Để khắc phục cơ bản tình trạng bất cập trong cơ chế giải quyết khiếu nại hành chính hiện nay, Quốc hội đã thảo luận thông qua Dự án Luật Tố tụng hành chính. Tuy nhiên, trong hướng tới cần nghiên cứu thành lập cơ quan tài phán hành chính ở Việt Nam.

Xuất phát từ yêu cầu khách quan, từ tính đặc thù của việc giải quyết khiếu kiện hành chính thì cơ quan tài phán hành chính phải được thành lập theo hệ thống dọc, thuộc hành pháp, trực thuộc Thủ tướng Chính phủ, độc lập với cơ quan hành chính các cấp.

- Cơ quan tài phán hành chính có thẩm quyền giải quyết khiếu kiện của cơ quan, tổ chức, cá nhân đối với quyết định hành chính, hành vi hành chính; có quyền phán quyết về tính hợp pháp, hợp lý của quyết định hành chính, hành vi hành chính.

- Việc giải quyết khiếu kiện được tiến hành theo những thủ tục chặt chẽ. Cơ quan hành chính bình đẳng với công dân trong quá trình giải quyết khiếu kiện. Công dân có quyền nhờ luật sư thay mặt mình thực hiện việc khiếu kiện.Việc giải quyết khiếu kiện được thực hiện thông qua hội đồng. Phán quyết của hội đồng bằng bỏ phiếu kín và quyết định theo đa số .

- Hệ thống cơ quan tài phán hành chính bao gồm; Cơ quan tài phán hành chính Trung ương, cơ quan tài phán hành chính vùng, cơ quan tài phán hành chính khu vực. Cơ quan này độc lập với cơ quan hành chính về tổ chức, công tác, kinh phí vì vậy sẽ độc lập trong việc phán quyết đối vối quyết định hành chính, hành vi hành chính.

Đảng và Nhà nước ta chủ trương xây dựng cơ quan Tài phán hành chính trong tổng thể cải cách nền hành chính, cải cách tư pháp, đổi mới tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước nhằm góp phần đưa hoạt động giải quyết khiếu nại hành chính ở nước ta phù hợp với thông lệ quốc tế, từ đó tạo cơ sở cho kinh tế nước ta hội nhập ngày càng sâu rộng với các nước trong khu vực và trên thế giới.

Việc xây dựng cơ quan Tài phán hành chính chuyên trách thực hiện việc giải quyết khiếu nại hành chính đồng thời với việc thiết lập cơ chế giải quyết khiếu nại hành chính công khai, minh bạch góp phần nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước, phát huy quyền làm chủ của nhân dân là việc làm hết sức cần thiết.

Song đây là vấn đề mới, liên quan đến Hiến pháp và tổng thể bộ máy Nhà nước, do đó việc xây dựng cơ quan Tài phán hành chính cần phải được các cơ quan có trách nhiệm nghiên cứu một cách thấu đáo, toàn diện và phải có lộ trình, bước đi thích hợp, sao cho phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế - xã hội của nước ta, qua đó giải quyết được những vấn đề bức xúc từ thực tiễn tình hình khiếu nại và giải quyết khiếu nại đặt ra.

3. Đặc thù của tài phán hành chính:

- Người bị kiện: là cơ quan HCNN, cbcc nhà nước trong phạm vi thực hiện công vụ. Điểm khác với vụ kiện dân sự ở chổ người bị quản lý kiện người quản lý. Đây là một quan hệ bất bình đẳng, cho nên đây là hoạt động đơn phương.

- Về đối tượng của khởi kiện: là quyết định hành chính và hành vi hành chính.

- Phạm vi khiếu kiện: chỉ phát sinh trong quá trình thực thi quyền lực HC (QL công) của cơ quan NN.

- Về phạm vi xem xét của TA: chỉ xem xét tính hợp pháp và ra phán quyết đối với các quyết định HC của CQNN hoặc hành vi HC của nhân viên khi thực thi công vụ.

4. Phân định thẩm quyền giải quyết các vụ án hành chính:

* Những khiếu kiện thuộc thẩm quyền giải quyết của TA: Khiếu kiện QĐHC, HVHC (trừ các QĐHC, HVHC thuộc phạm vi bí mật của NN, mang tính nội bộ). Khiếu kiện về DS cử tri bầu cử đb QH, HĐND. Khiếu kiện qđ kỷ luật buộc thôi việc công chức giữ chức vụ từ tổng cục trưởng và tương đương trở xuống (nếu xét góc độ tổ chức bộ máy thì đó là qđmang tính nội bộ). khiếu kiện qđ giải quyết khiếu nại về qđ xử lý vụ việc cạnh tranh.

5. Thẩm quyền của TAND cấp huyện (lãnh thổ HC)

Xét xử sơ thẩm các khiếu kiện về:

- QĐHC, HVHC của cơ quan NN, người có thẩm quyền trong cơ quan NN từ cấp huyện trở xuống trên cùng phạm vi địa giới HC với TA.

- Khiếu kiện qđ kỷ luật buộc thôi việc cũng cùng phạm vi địa giới HC.

- Khiếu kiện về danh sách cử tri bầu cử đại biểu QH, HĐND của cơ quan lập danh sách cử tri trên cùng phạm vi địa giới hành chính với TA.

6. Thẩm quyền của TAND cấp tỉnh:

- Đối với khiếu kiện QĐHC, HVHC của bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc chính phủ, VP chủ tịch nước, VPQH, Kiểm toán NN, TAND tối cao, VKSND tối cao và của người có thẩm quyền trong cơ quan đó; QĐHC, HVHC của các cơ quan trong các cơ quan này và của người có thẩm quyền trong cơ quan này:

+ TAND cấp tỉnh nơi người khởi kiện có nơi cư trú, nơi làm việc hoặc có trụ sở.

+ TA nơi cơ quan, người có thẩm quyền ra QĐHC, HVHC cư trú, có trụ sở (nếu người khởi kiện ko có nơi cư trú hoặc ko cư trú trên lãnh thổ VN).

- Đối với khiếu kiện QĐHC, HVHC của cơ quan NN cấp tỉnh: TA cấp tỉnh trong cùng phạm vi địa dưới HC.

- Đối với khiếu kiện QĐHC, HVHC của cơ quan đại diện ngoại giao của nước CHXHCNVN ở nước ngoài hoặc của người có thẩm quyền trong cơ quan đó: TA cấp tỉnh nơi người khởi kiện có nơi cư trú. Trường hợp người khởi kiện ko có nơi cư trú ở VN, thì TA có thẩm quyền là tòa án nd TP HN và TAND TPHCM.

- Đối với khiếu kiện qđ buộc thôi việc của người đứng đầu cơ quan, tổ chức cấp tỉnh, bộ, ngành, TW: TA cấp tỉnh nơi người khởi kiện có nơi làm việc khi bị kỷ luật.

- Đối với qđ giải quyết khiếu nại về qđ xử lý vụ việc cạnh tranh: TA cấp tỉnh nơi người khởi kiện có nơi cư trú, nơi làm việc hoặc trụ sở.

- Đối với một số vụ khiếu kiện thuộc thẩm quyền của TAND cấp huyện trong trường hợp cần thiết.

7. Phân định thẩm quyền giữa TAND và CQ HCNN: trường hợp người khởi kiện có đơn kiện vụ án hành chính tại TA có thẩm quyền, đồng thời có đơn khiếu nại đến người có thẩm quyền giải quyết k/n thì thẩm quyền giải quyết theo sự lựa chọn của người khởi kiện.

8. Người tiến hành TTHC: Chánh án TAND, với góc độ là người quản lý sẽ phân công thẩm phán tham gia.

Thẩm phán: người có phán quyết. Hội thẩm nhân dân. TKTA. Viện trưởng VKS, là người quản lý sẽ phân công KSV tham gia. KSV: để kiểm soát toàn bộ quá trình này có tuân thủ PL ko.

9. Người tham gia tố tụng: Đương sự: người khởi kiện và bên bị kiện. Người đại diện hợp pháp của đương sự, người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự. Người làm chứng. người giám định. Phiên dịch. Người có quyền và nghĩa vụ liên quan.

10. Các giai đoạn tố tụng HC: Khởi kiện và thụ lý vụ án. Chuẩn bị xét xử (hđ nghiệp vụ cơ quan TA). Phiên tòa sơ thẩm (nếu có kháng cáo, chuyển phúc thẩm). Xem xét lại bản án, qđ đã có hiệu lực pháp luật, thủ tục tái thẩm, giám đốc thẩm, thủ tục đặc biệt. Thi hành bản án, qđ của TA.

Câu 2: Sơ đồ bộ máy hành chính, thực trạng tổ chức và hoạt động của bộ máy hành chính nhà nước của nước ta.

1. Sơ đồ Bộ máy hành chính nhà nước Việt Nam:

* Sơ đồ Bộ máy hành chính nhà nước Việt Nam - cách thức thành lập: (vẽ theo slide bài giảng, trang 7).





Sơ đồ Bộ máy hành chính nhà nước Việt Nam theo Hiến pháp 1992:

-Quốc Hội Chính phủ, các Bộ, cơ quan ngang bộ

- HĐND tỉnh  UBND tỉnh

….

2. Thực trạng tổ chức và hoạt động của bộ máy hành chính nhà nước VN:

* Thành tựu:

+ Về Tổ chức:

- Thống nhất từ TW đến địa phương (trước đây 22 bộ, 6 cơ quan ngang bộ. Hiện nay 18 bộ, 4 cơ quan), giảm về số lượng và đầu mối. Cơ cấu tổ chức được bố trí, sắp xếp ngày càng phù hợp.

- Cơ cấu bên trong các cơ quan của chính phủ và chính quyền địa phương cũng đã có bước điều chỉnh mạnh, giảm đầu mối tổ chức, khắc phục tình trạng phân tán và nhiều tầng nấc trung gian. Kết quả quan trọng nhất của việc điều chỉnh chức năng, nhiệm vụ và sắp xếp tổ chức các cơ quan hành chính nhà nước là xác định rõ và ngày càng phù hợp hơn về vai trò và chức năng của nhà nước trong cơ chế kinh tế thị trường định hướng XHCN; bộ máy hành chính nhà nước từ TW đến địa phương từng bước được tăng cường và đã hoạt động ngày càng có hiệu lực, hiệu quả và thông suốt hơn.

- Chất lượng đngũ cbộ, cgchức có bước nâng lên, đáp ứng ycầu.


+ Về hoạt động:

- Kết quả quan trọng của cải cách hành chính thời gian qua, chức năng, nhiệm vụ và cơ cấu tổ chức của các cơ quan trong hệ thống hành chính nhà nước được điều chỉnh, sắp xếp phù hợp hơn, quản lý nhà nước ngày càng tốt hơn trong điều kiện mới.

- Việc điều chỉnh chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan hành chính nhà nước đã chú trọng sự phù hợp với tình hình thực tế, bao quát hết các lĩnh vực cần quản lý nhà nước, khắc phục sự trùng lặp, chồng chéo về chức năng, nhiệm vụ. Đã thực hiện việc phân cấp mạnh hơn cho chính quyền địa phương về quản lý tài chính, ngân sách, đầu tư, xây dựng, đất đai, y tế, giáo dục, tổ chức, cán bộ... Chính phủ, các bộ, ngành TW tập trung vào chức năng quản lý nhà nước ở tầm vĩ mô là xây dựng thể chế, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, điều hành tổ chức thực hiện và kiểm tra, thanh tra. Đã thực hiện việc đẩy mạnh sắp xếp đổi mới doanh nghiệp và các đơn vị sự nghiệp công, tăng quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm của doanh nghiệp và các đơn vị sự nghiệp, giảm mạnh sự can thiệp và điều hành cụ thể của cơ quan hành chính đối với doanh nghiệp nhà nước và đơn vị sự nghiệp công.

- Thể chế pluật về qlý tchính công được tích cực xdựng và hthiện

- Thủ tục HC và hđộng của các cquan HC được đmới, hlực, hquả qlý được tăng cường hơn.

* Hạn chế:

+ Về tổ chức:

- Tổ chức bộ máy còn cồng kềnh, phân công trách nhiệm chưa nhịp nhàng, trùng lắp. Đầu mối tuy gọn hơn nhưng chưa thay đổi về chất, Biên chế ngày càng tăng lên so với trước. Cấp phó ở nhiều cơ quan, đơn vị quá nhiều so với qui định. Chất lượng đội ngũ cán bộ chưa đáp ứng yêu cầu. Chẳng hạn: tất cả các cơ quan bộ, ngành ở TW đều có văn phòng đại diện ở phía nam, trong khi luật không cho phép (trừ trường hợp cần thiết)

- Số lượng các cơ quan của chính phủ mặc dù đã giảm, nhưng nhìn chung vẫn còn nhiều đầu mối, tạo ra sự trùng lắp và chia cắt trong quản lý, gây khó khăn, chậm trễ trong phối hợp hành động, làm hạn chế hiệu lực, hiệu quả trong chỉ đạo điều hành. Tổ chức bên trong của các bộ, ngành TW có chiều hướng chia nhỏ các lĩnh vực công tác để lập thêm tổ chức và có xu hướng tìm mọi lý do để nâng cấp tổ chức không hợp lý.

+ Về hoạt động:

- Mặc dù đã qua một số lần điều chỉnh, nhưng nhìn chung, chức năng, nhiệm vụ của chính phủ, các bộ, của các cấp chính quyền vẫn chưa đủ rõ và phù hợp với yêu cầu, nhiệm vụ và cơ chế quản lý mới. Tư tưởng bao cấp và giành quyền làm mọi việc vẫn còn khá phổ biến trong các cơ quan hành chính nhà nước. Trong khi đó vẫn còn một số lĩnh vực công việc không rõ trách nhiệm quản lý nhà nước của cơ quan nào, dẫn đến những lúng túng, chậm trễ trong quản lý, điều hành. Mối quan hệ giữa nhà nước với thị trường, giữa nhà nước với doanh nghiệp, nhất là với doanh nghiệp nhà nước, cũng như giữa quản lý của nhà nước với tự quản của người dân trong xã hội... trên nhiều lĩnh vực vẫn chậm được làm rõ.

- Vẫn còn nhiều trùng lắp, chồng chéo về thẩm quyền, trách nhiệm quản lý nhà nước giữa các bộ, ngành trong chính phủ và giữa các bộ, ngành với chính quyền địa phương trên một số lĩnh vực chậm được khắc phục. Việc thực hiện phân cấp theo ngành và lĩnh vực giữa TW và địa phương, giữa các cấp chính quyền địa phương vẫn còn chậm, chưa đạt mục tiêu và yêu cầu đề ra; mặt khác, việc phân cấp cũng chưa đi liền với việc tăng cường quản lý thống nhất và nâng cao năng lực cho cơ quan được phân cấp và kiểm tra, thanh tra việc thực hiện.

- Chưa làm thật rõ chức năng, nhiệm vụ của chính quyền các cấp nên tổ chức bộ máy của chính quyền địa phương vẫn chưa ổn định, thiếu sự phân biệt rành mạch giữa tổ chức bộ máy của chính quyền đô thị và chính quyền nông thôn, giữa các địa phương có quy mô và tính chất khác nhau. Tổ chức và hoạt động của chính quyền cấp cơ sở vẫn chưa thật hợp lý, chưa thật gắn bó sâu sát với cộng đồng dân cư.

- Chất lượng đngũ cbộ, cgchức chưa đáp ứng ycầu., tệ tnhũng, lphí, qliêu vẫn còn nghiêm trọng.

- Thể chế pluật về qlý tchính công được tích cực xdựng và hthiện

* Nguyên nhân

CCHC chậm, hiệu quả còn thấp có ~ nguyên nhân chủ yếu sau đây:

Thứ nhất, công tác chỉ đạo thực hiện CCHC từ CP, thủ tướng CP, các Bộ trưởng tới Chủ tịch UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc TW không thật sự kiên quyết, nhất quán và cũng không bảo đảm tính thường xuyên, liên tục. Hoạch định chính sách, thể chế vốn đã khó, thường phải kéo dài, nhưng một khi đã được ban hành thì khâu tổ chức thực hiện lại quá chậm và kém hiệu quả. Trạng thái chung là chờ đợi, chờ hướng dẫn, chờ đôn đốc, rất ít bộ, ngành và tỉnh chủ động, quyết liệt triển khai.

- Thứ hai, chậm nghiên cứu, kết luận và thể chế hoá các vấn đề liên quan mật thiết tới CC HC. Thực tế cho thấy, bước chuyển sang nền kinh tế thị trường định hướng XHCN đặt ra nhiều vấn đề, đòi hỏi có thời gian nghiên cứu, nhưng một số vấn đề như “bỏ cơ chế bộ chủ quản”, “bộ thực hiện vai trò chủ sở hữu phần vốn NN tại doanh nghiệp”…, tuy đã có kết luận, nhưng khi vào cụ thể thì việc ban hành các quy định lại rất chậm. Lý luận thì khẳng định bộ tập trung vào thực hiện chức năng QL NN ở tầm vĩ mô, không can thiệp sâu vào hoạt động of doanh nghiệp, nhưng thực tiễn thì Bộ trưởng vẫn phải xử lý khá nhiều công việc không thuộc tầm vĩ mô; nếu không giải quyết thì cũng không rõ ai giải quyết. Mối quan hệ giữa HC, doanh nghiệp và sự nghiệp đang đòi hỏi phải tiếp tục làm rõ hơn, cụ thể hơn.

- Thứ ba, khá nhiều vấn đề of CCHC đòi hỏi phải được giải quyết trong tổng thể các cuộc CC, đổi mới đang diễn ra ở nước ta. Mối quan hệ, chi phối lẫn nhau giữa CCHC, CC kinh tế, CC tư pháp, đổi mới hoạt động lập pháp và đổi mới từng bước hệ thống chính trị, nếu không được bảo đảm, thiếu đồng bộ sẽ ảnh hưởng tới tiến trình CC đổi mới nói chung và CCHC nói riêng. Nội dung và phương thức lãnh đạo of Đảng đối với NN nói chung và đối với cơ quan HC nói riêng cũng chậm đổi mới.

- Thứ tư, chưa có biện pháp, cơ chế tạo động lực, hưởng ứng CC of đa số cán bộ, công chức cũng như chưa xử lý nghiêm bộ phận cán bộ, công chức thoái hoá, kém phẩm chất trong thực thi công vụ.

* Các bài học kinh nghiệm

- Một là, về bảo đảm sự nhất quán, kiên trì liên tục trong triển khai CCHC bao gồm từ xây dựng chương trình, kế hoạch CCHC hàng năm of CP, các bộ, ngành TW và các tỉnh cần xác định rõ các mục tiêu, các nhiệm vụ và giải pháp bảo đảm thực hiện, đến tổ chức và kiểm tra thực hiện, đánh giá, kiểm điểm công tác CCHC phải dựa vào đánh giá ~ mục tiêu đã đề ra cũng như tác động tới XH thông qua công tác CCHC.

- Hai là, về công tác chỉ đạo triển khai thống nhất CCHC từ CP tới chính quyền ĐP các cấp đóng vai trò quyết định sự thành công of CC, do đó phải được duy trì và bảo đảm. Chương trình công tác, các cuộc họp of CP các bộ và UBND các cấp phải có phần về CCHC, coi đây là một nội dung quan trọng thường xuyên phải đề cập.

- Ba là, về sự thống nhất cao về nhận thức, tư tưởng và hành động trong CCHC xuất phát từ mức độ khó khăn, phức tạp of công tác này.

- Bốn là, về bảo đảm sự đồng bộ giữa CCHC với đổi mới từng bước hệ thống chính trị, với CC kinh tế, CC lập pháp và CC tư pháp.

- Năm là, về coi trọng công tác thí điểm, làm thử trong triển khai CC HC. Quá trình chuyển đổi sang kinh tế thị trường, chuyển sang nền HC phục vụ đặt ra nhiều vấn đề mới, chưa kết luận được ngay, nhưng thực tiễn đòi hỏi phải thực hiện. Thông qua thí điểm để có điều kiện đánh giá, sơ kết tổng kết, rút ra ~ vấn đề cần xử lý tiếp và nhân rộng nếu thấy đúng. Các cơ chế CC như “một cửa”, khoán . . . đã được hình thành qua phương thức thí điểm. Đây là bài học tốt cần chú ý trong giai đoạn II(2006 - 2010). .

- Sáu là, về xây dựng và tổ chức thực hiện các Chương trình hành động. Trong giai đoạn I, các Chương trình hành động đặt ra quá nhiều mục tiêu, vừa quá sức vừa không thiết thực ở một số kết quả phải đạt tới. Việc tổ chức thực hiện các Chương trình hành động không gắn với tổ chức thực hiện các nhiệm vụ chính of các Bộ, ngành, do đó bị coi nhẹ. Cơ chế tổ chức thực hiện các Chương trình hành động, sự phân công, phối hợp giữa các bộ có liên quan chưa phù hợp với tính hệ thống of chương trình tổng thể làm ảnh hưởng tới kết quả và tính thời gian of sản phẩm các chương trình hành động.

2. Phương hướng CCHC (1đ)

- Về cải cách thể chế.

Đổi mới cơ bản quy trình ban hành chính sách theo hướng làm rõ trách nhiệm of CP, các Bộ trong quá trình xây dựng thể chế, nâng cao chất lượng, tính đồng bộ của chính sách, khắc phục tình trạng luật chờ nghị định, nghị định chờ thông tư; Đẩy mạnh xây dựng và hoàn thiện thể chế phục vụ trực tiếp CCHC, đặc biệt là thể chế về tổ chức bộ máy, công chức, công vụ, phân cấp, tài chính công; CC mạnh mẽ thủ tục HC theo hướng đơn giản, thuận tiện cho dân, doanh nghiệp; nghiên cứu giảm thẩm quyền các Bộ, ngành TW ban hành thủ tục hành chính, xây dựng Luật về thủ tục HC; Triển khai thực hiện đồng loạt cơ chế “một cửa” tại cơ quan HC các cấp, bao gồm cả các cơ quan HC of TW.

- Về cải cách tổ chức bộ máy hành chính

Trên cơ sở xác định rõ chức năng, nhiệm vụ of các cơ quan HCNN, điều chỉnh cơ cấu CP, các Bộ theo hướng giảm bớt các Bộ chuyên ngành về kinh tế, tiếp tục thực hiện chủ trương xây dựng bộ QL NN đa ngành, đa lĩnh vực, khắc phục chồng chéo chức năng, thẩm quyền giữa các cơ quan HC; Đơn giản hóa cơ cấu tổ chức các Bộ, đổi mới phương thức làm việc của các cơ quan HC; Đến năm 2008, xác định xong và thực hiện các quy định mới về phân cấp QL HCNN giữa TW và ĐP, giữa các cấp chính quyền ĐP; tổ chức hợp lý và ổn định các đơn vị HC, định rõ chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền và tổ chức bộ máy chính quyền ở đô thị và nông thôn; CC các đơn vị sự nghiệp dịch vụ công, bảo đảm tách rõ hành chính với sự nghiệp, hoàn thiện thể chế tư chủ, tự chịu trách nhiệm của các đơn vị sự nghiệp dịch vụ công trong tổ chức và hoạt động.

- Về xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức

Rà soát, đánh giá đội ngũ công chức HC để cơ cấu lại công chức, bố trí lại theo từng vị trí, rõ chức trách; Xây dựng và đưa vào thực hiện phương pháp khoa học đánh giá kết quả công tác của cán bộ công chức; Xây dựng cơ chế, chính sách khuyến khích thu hút người có tài vào làm việc trong khu vực công, tạo động lực cho cán bộ, công chức làm việc có hiệu quả; Tăng cường kỷ luật, kỷ cương HC; xây dựng và áp dụng chế độ thanh tra, kiểm tra công vụ ở các cấp, kể cả chế độ trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan, đơn vị.

- Về hiện đại hóa nền hành chính

Áp dụng CNTT và hoạt động of các cơ quan HCNN, xây dựng vận bành nền HC điện tử; Triển khai hệ thống QL chất lượng trong hoạt động of cơ quan HCNN; Xây dựng, hoàn thiện Quy chế làm việc of các cơ quan HCNN; ban hành và thực hiện quy chế văn hóa công sở; Tiếp tục đổi mới phương thức điều hành theo hướng tăng cường khâu tố chức thực hiện và cơ chế hậu kiềm; Nâng cao chất lượng phục vụ nhân dân và từng bước xóa bỏ tình trạng quan liêu trong hoạt động of các cơ quan HCNN; Giải quyết xong tình trạng không có trụ sở hoặc trụ sở không đạt yêu cầu of chính quyền cấp xã.

- Về chỉ đạo, điều hành công tác CCHC

Đổi mới phương thức, nâng cao chất lượng chỉ đạo, điều hành công tác CCHC từ TW tới ĐP; Kiện toàn Ban Chỉ đạo CCHC các cấp.

* Giải pháp:

Để khắc phục những hạn chế vừa nêu, cần nhanh chóng triển khai một số nội dung cụ thể:

- Một là: Tăng cường sự lđạo của đảng đvới ctác CCHC:- Qđịnh các mục tiêu quan điểm gia pháp lớn về CCHC : qtriệt trong đảng, hệ thống chính trị; lđạo xdựng hthống thể chế pluật.- Qđịnh, gthiệu cbộ, đviên đủ pchất, nlực để NN xét bnhiệm;- Tăng cường ktra, chđạo thực hiện ctrương của đảng về CCHC

- Hai là, điều chỉnh, xác định rõ chức năng của từng cơ quan hành chính nhà nước. Đây là một nhiệm vụ, một công việc chúng ta phải tiến hành không chỉ trước mắt mà còn cả trong một thời gian dài trong những năm tới. Bước chuyển từ nền kinh tế tập trung kế hoạch hóa sang nền kinh tế thị trường định hướng XHCN đòi hỏi hệ thống các cơ quan hành chính nhà nước vốn được thiết kế, xây dựng và vận hành phù hợp với cơ chế kinh tế cũ sẽ phải có những thay đổi tương thích với cơ chế kinh tế mới, trong đó thay đổi quan trọng nhất là về chức năng của từng cơ quan. Chính phủ tập trung thực hiện tốt hơn chức năng quản lý nhà nước trên tất cả các lĩnh vực mà pháp luật đã quy định; tập trung làm tốt hơn việc hoạch định thể chế, cơ chế, chính sách, xây dựng giải pháp, bảo đảm các cân đối lớn và ổn định kinh tế vĩ mô, cải cách thủ tục hành chính, tạo môi trường pháp lý thuận lợi cho các hoạt động kinh tế - xã hội; xây dựng chiến lược, quy hoạch, kế hoạch và nâng cao năng lực chỉ đạo thực hiện, tăng cường công tác kiểm tra, thanh tra.

- Ba là, thực hiện mạnh việc phân cấp TW – địa phương, phân cấp mạnh cho chính quyền địa phương, thông qua đó giảm đáng kể những loại công việc không nhất thiết phải do chính phủ, các bộ trực tiếp quản lý, quyết định, đồng thời tăng cường được hơn nữa tính chủ động, tự chịu trách nhiệm của chính quyền địa phương trên các nhiệm vụ được phân cấp.

Giảm đầu mối, bỏ khâu trung gian, hình thành bộ quản lý đa ngành đa lĩnh vực, sắp xếp theo hướng tinh gọn, hiệu quả.

- Bốn là, trên cơ sở xác định rõ chức năng của chính phủ, các bộ và chính quyền địa phương các cấp để sắp xếp tổ chức bộ máy gọn hơn, hợp lý hơn. Nghị quyết TW 5 khóa X khẳng định tiếp tục hình thành bộ quản lý đa ngành, đa lĩnh vực, giảm số đầu mối các bộ, cơ quan ngang bộ một cách phù hợp không giữ các cơ quan thuộc chính phủ có chức năng quản lý nhà nước, chỉ duy trì một số cơ quan cần thiết thuộc chính phủ là đơn vị sự nghiệp.

- Năm là, tổ chức hợp lý chính quyền địa phương, phân biệt rõ những khác biệt giữa chính quyền nông thôn và chính quyền đô thị. Về vấn đề này, NQ TW 5 khóa X xác định 3 điểm mới như sau:

+ Tổ chức chính quyền đô thị phải bảo đảm tính thống nhất và liên thông trên địa bàn về quy hoạch đô thị, kết cấu hạ tầng (như điện, đường, cấp thoát nước, xử lý rác thải, bảo vệ môi trường) và đời sống dân cư...

+ Thí điểm không tổ chức HĐND ở huyện, quận, phường, nhưng có cơ quan hành chính là UBND để quản lý và thực hiện các nhiệm vụ theo quy định của pháp luật và phân cấp của chính quyền cấp trên (Hiện nay vấn đề này đang được thực hiện thí điểm tại TP.HCM và ở một số địa Phương).

+ Thí điểm việc nhân dân bầu trực tiếp chủ tịch UBND xã, chủ tịch UBND cấp trên trực tiếp quyết định phê chuẩn.

Câu 3: Yêu cầu và nội dung quản lý công sản? Giải pháp chống thất thoát tài sản công?

Công sản là những tài sản được đầu tư, mua sắm từ nguồn ngân sách NN hoặc có nguồn gốc từ ngân sách NN, tài sản được xác lập quyền sở hữu NN theo quy định của PL, tài sản của các chương trình, dự án kết thúc chuyển giao, đất đai, rừng tự nhiên, rừng trồng có nguồn vốn từ ngân sách NN, núi, sông hồ, nguồn nước, tài nguyên trong lòng đất, nguồn lợi tự nhiên ở vùng biển, thềm lục địa và vùng trời.

1. Yêu cầu quản lý công sản:

Quản lý công sản là một tất yếu thể hiện qua một số điểm sau đây:

- Công sản là tài sản của NN, của nhân dân do đó việc quản lý tốt để tạo lập, khai thác và sử dụng tài sản công hiệu quả là đòi hỏi KQ trong quá trình XD và phát triển của đất nước.

- Công sản đặc biệt là cơ sở hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng XH phản ánh sự phát triển của mỗi quốc gia, mỗi địa phương, mỗi vùng. Nhà nước cần có kế hoạch tạo lập, quản lý, khai thác phần tài sản công này một cách hợp lý, đồng thời đều nhằn đảm bảo sự phát triển cân đối các vùng, miền, lãnh thổ.

- Công sản đặc biệt là phần tài sản công trong các cơ quan NN, là phần vốn hiện vật của cơ quan, được hình thành từ nguồn chi tiêu công. Đó là ĐK đảm bảo cho các cơ quan NN thực hiện tốt các chức năng, nhiệm vụ đươc giao.

- Quản lý công sản là yêu cầu mong muốn của mọi người dân, tạo lập, khai thác, sửng dụng công sản có ý nghĩa KT, CT và XH to lớn. Uy tín của NN, của CBCC NN một phần rất lớn được công dân đánh giá thông qua việc quản lý, sử dụng công sản.

2. Nội dung quản lý công sản:

* Nguyên lý quản lý:

- Thống nhất về cơ chế, chính sách, chế độ quản lý; phải có cơ chế, chính sách, chế độ quản lý, sử dụng đối với những tài sản có tính đặc thù riêng, đối với ngành, địa phương, tổ chức sử dụng tài sản phục vụ cho các hoạt động có tính đặc thù riêng.

- Thực hiện quản lý và sửng dụng công sản theo tiêu chuẩn, định mức để công tác quản lý, sử dụng công sản phù hợp, đạt được hiệu quả và tiết kiệm.

- Thực hiện phân cấp quản lý công sản. Việc phân cấp quản lý công sản phải phù hợp với phân cấp về QL KT-XH, về T/c bộ máy NN; phải phù hợp với phân cấp về quản lý NSNN; phải phù hợp với trình độ và năng lực quản lý của mỗi cấp, mỗi ngành và đơn vị được giao trực tiếp sử dụng công sản). Phân cấp quản lý công sản bao gồm 2 nội dung cơ bản:

+ Phân cấp về việc xây dựng, ban hành cơ chế, chính sách, chế độ quản lý công sản.

+ Phân cấp về quản lý NN đối với tài sản công.

- Quản lý công sản phải gắn với quản lý NSNN, có nghĩa là: mọi cơ chế, chính sách, chế độ quản lý, định mức, tiêu chuẩn sử dụng công sản phải phù hợp với quy định về quản lý NSNN.

* Công cụ quản lý:

Sử dụng tổng hợp các công cụ quản lý sau:

- Xây dựng các VBPL về quản lý công sản.

- Sử dụng các cơ chế kinh tế để quản lý tài sản công (hệ thống kế hoạch hóa, hệ thống đòn bẩy kinh tế, trong đó các cơ chế tài chính có vai trò rất quan trọng).

- Phân định rõ phạm vi, nội dung và trách nhiệm quản lý giữa cơ quan thực hiện sự quản lý NN với cơ quan trực tiếp quản lý, sử dụng tài sản.

* Phạm vi quản lý:

- Đối với tài sản trong các cơ quan NN, nguyên tắc chung là: phải được cơ quan quản lý công sản trực tiếp quản lý chặt chẽ quá trình đầu tư XD, mua sắm, quá trình sử dụng và kết thúc sử dụng.

- Đối với tài sản được xác lập sở hữu NN theo PL quy định: cơ quan quản lý công sản phải trực tiếp quản lý, xử lý tài sản này. Đối với một số hàng hóa đặc biệt (vàng bác, đá quý, vũ khí…) có thê giao cho cơ quan chuyên ngành bảo quản và xử lý, nhưng về nguyên tắc CQQLCS phải thực hiện QL ngay từ ban đầu đến kết thúc và xử lý thu về cho NS.

- Đối với tài sản thuộc CSHT phục vụ lợi ích công cộng: được giao cho các đơn vị hoạt động sự nghiệp, một chuyên ngành nhất định bảo tồn, duy trì, bảo dưỡng… khai thác sử dụng phục vụ cho hoạt động XH, quốc phòng, an ninh của đất nước.

- Đối với tài sản NN đầu tư vào các DN: DN có trách nhiệm bảo toàn và phát triển vốn.

- Đối với tài sản là đất đai và các ngồn tài nguyên khác: Các CQQLCS có trách nhiệm XD cơ chế QL tài chính trong việc xác định nguồn tài nguyên, trong việc khai thác sử dụng nguồn tài nguyên và thực hiện sự QL của tài chính NN.

- Đối với tài sản dự trữ NN: Đảm bảo QL chặt chẽ là hết sức quan trọng và cần thiết.

3. Giải pháp chống thất thoát tài sản công.

Một là, Hoàn thiện hệ thống pháp luật về quản lý, sử dụng tài sản  công:

- Ban hành đồng bộ, thống nhất hệ thống văn ban triển khai thi hành Luật Quản lý, sử dụng TSNN; đặc biệt chú trọng hệ thống tiêu chuẩn, định mức sử dụng TSNN phù hợp với điều kiện mới đảm bảo yêu cầu tiết kiệm, chống lãng phí và phục vụ được nhu cầu công tác.

- Ban hành các văn bản quy phạm pháp luật thống nhất về quản lý TSNN thuộc kết cấu hạ tầng theo nguyên tắc: Mọi TSNN thuộc kết cấu hạ tầng đều phải được Nhà nước giao cho cơ quan, tổ chức, đơn vị quản lý, sử dụng; có phân công, phân cấp rõ thẩm quyền, trách nhiệm của từng cơ quan nhà nước và trách nhiệm phối hợp giữa các cơ quan; đầu tư xây dựng và sử dụng đúng mục đích; bảo dưỡng, sửa chữa, bảo vệ theo chế độ quy định...

- Hoàn thiện chính sách tài chính đối với đất đai, bao gồm sửa đổi, bổ sung Luật đất đai, xây dựng Luật thuế sử dụng đất, sửa đổi, bổ sung chính sách thu tiền sử dụng đất, thu tiền thuê đất, hướng dẫn cơ chế điều tiết phần giá trị tăng thêm của đất do Nhà nước đầu tư cơ sở hạ tầng...

Hai là, Đổi mới cơ chế quản lý TSNN tại các đơn vị sự nghiệp, tiến tới chuyển các đơn vị sự nghiệp sang hoạt động theo mô hình doanh nghiệp; Quy định cơ chế quản lý, sử dụng TSNN giữa đơn vị sự nghiệp công lập tự chủ tài chính và đơn vị sự nghiệp công lập chưa tự chủ tài chính do phù hợp với đặc điểm của từng loại hình.

Ba là, Đẩy nhanh tiến độ thực hiện việc sắp xếp lại, xử lý nhà, đất thuộc sở hữu nhà nước, hoàn thành trước ngày 31/12/2010 với các mục tiêu cơ bản là:

- Tiếp tục sử dụng hệ thống công sở phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ được giao, phù hợp với quy hoạch sử dụng đất;

- Chuyển nhượng, chuyển mục đích sử dụng đất tạo Quỹ đất mới cho các mục đích hiệu quả hơn (thương mại, nhà ở, công cộng…);

- Tạo ra nguồn lực mới để tái đầu tư mở rộng sản xuất kinh doanh.

Bốn là, Trên cơ sở rút kinh nghiệm từ thí điểm mua sắm TSNN theo phương thức tập trung để nghiên cứu, xây dựng cơ chế thống nhất trên cả nước. Đồng thời, thiết lập hệ thống các công cụ hỗ trợ cho việc thực hiện mua sắm tập trung.

Năm là, Hiện đại hoá công tác quản lý công sản, xây dựng, cập nhật và hoàn thiện cơ sở dữ liệu quốc gia về TSNN.

Sáu là, Thực hiện công khai, minh bạch trong quản lý, sử dụng TSNN.

Bảy là, Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát việc quản lý, sử dụng TSNN tại các cơ quan, đơn vị, tổ chức.

Tám là, Kiện toàn tổ chức bộ máy quản lý công sản từ trung ương đến địa phương. Với nhiệm vụ nặng nề như vậy, tổ chức của Cục Quản lý công sản cần được sắp xếp theo hướng chuyên sâu hơn. Đặc biệt, cần nhanh chóng phát triển Trung tâm cơ sở Dữ liệu về tài sản nhà nước để có thể bao quát một cách hệ thống toàn bộ hệ thống tài sản nhà nước, cập nhật được số liệu thông qua các chương trình sử dụng công nghệ thông tin hiện đại. Công khai và minh bạch hoá các số liệu về tài sản và cung cấp thông tin tài sản nhà nước phục vụ chủ trương “vốn hoá” TSNN. Tại các Bộ, ngành và các địa phương cần có tổ chức chuyên về quản lý công sản, các Chi cục hoặc các phòng độc lập, các Trung tâm. Bên cạnh đó cần nâng cao năng lực cho đội ngũ cán bộ, công chức làm nhiệm vụ quản lý TSNN thông qua chương trình đào tạo ban đầu, đào tạo lại và cập nhật kiến thức hàng năm.


Câu 4. So sánh hoạt động công vụ với các hoạt động khác không mang tính công vụ.

1. So sánh:

- Khái niệm: Công vụ là một loại lao động mang tính quyền lực nhà nước và pháp lý, được thực thi bởi đội ngũ cán bộ, công chức NN nhằm thực hiện các chức năng của Nhà nước trong quá trình quản lý toàn diện các mặt của đời sống xã hội nhằm phục vụ lợi ích của nhân dân.

- Theo Từ điển Bách khoa toàn thư Việt nam: Công vụ là công việc chủ yếu thuộc về Nhà Nước, do các cơ quan NN và cán bộ, công chức NN tiến hành theo các quy định của PL. Công vụ cũng có thể hiểu là công việc công, bao gồm cả công việc của các cơ quan thuộc các tổ chức CT-XH tiến hành.

- Theo Luật CBCC năm 2008: Hoạt động công vụ của cán bộ, công chức là việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của cán bộ, công chức theo quy định của Luật CBCC và các quy định khác có liên quan.

- Hoạt động không mang tính công vụ cũng có thể là hoạt động của các cơ quan NN, của CB, CC NN nhưng không mang tính thực hiện chức năng quản lý NN, không mang tính thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan NN, của CB, CC theo quy định của PL. VD: tổ chức hoạt động và tham gia các hoạt động VH, VN, TDTT của cơ quan, đơn vị, hoặc một số hoạt động dịch vụ của viên chức trong các đơn vị sự nghiệp.

- Một số điểm khác nhau cơ bản của hoạt động công vụ với các hoạt động khác không mang tính công vụ:

+ Mục đích:

Hoạt động công vụ phục vụ nhân dân và xã hội.

Hoạt động khác không mang tính công vụ: Không đặt mục tiêu phục vụ nhân dân và xã hội lên hàng đầu.

+ Nội dung:

Hoạt động công vụ: thực hiện chức năng, nhiệm vụ của nhà nước; thực hiện chức năng tổ chức phục vụ các nhu cầu chung của xã hội không vì mục đích lợi nhuận.

Hoạt động khác không mang tính công vụ: Không nhất thiết phải phục vụ các nhu cầu chung của xã hội. Có thể vì lợi nhuận hoặc phi lợi nhuận.

+ Chủ thể:

Hoạt động công vụ: Là cán bộ và công chức

Hoạt động khác không mang tính công vụ: Bất kỳ chủ thể nào

+ Tính chất:

Hoạt động công vụ: Hoạt động công vụ không chỉ thuần tuý mang tính quyền lực nhà nước, mà còn bao gồm cả hoạt động của các tổ chức do nhà nước thành lập (được nhà nước uỷ quyền) để phục vụ các nhu cầu của nhân dân. Các hoạt động này đều do công chức, nhân danh nhà nước tiến hành Nó bao gồm các hoạt động nhân danh quyền lực và các hoạt động của các tổ chức được nhà nước uỷ quyền. Ở các nước trên thế giới, khi đề cập đến công vụ, người ta ít nói đến yếu tố quyền lực nhà nước mà thường chỉ nói tới công chức nhân danh pháp luật hoặc nhân danh nhà nước mà thôi. Bởi lẽ, pháp luật là công cụ chính, chủ yếu do nhà nước ban hành.

Nhân danh quyền lực hoặc được nhà nước uỷ quyền. Theo chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền của nhà nước. Tuân theo pháp luật. Mang tính thường xuyên, chuyên nghiệp.

Hoạt động khác không mang tính công vụ: Hoạt động không nhân danh nhà nước, không mang tính thường xuyên chuyên nghiệp nhưng phải tuân thủ pháp luật.

Công vụ là hoạt động thực hiện quyền lực nhà nước hoặc trực tiếp phục vụ cho việc thực hiện quyền lực đó. Bắt nguồn từ bản chất của nhà nước nên hoạt động công vụ có những nguyên tắc riêng của mình bao gồm:

Tính tối cao của lợi ích nhân dân - lợi ích nhà nước; Tính tối cao của quyền lực nhân dân; Đảng lãnh đạo; Bình đẳng của mọi công dân; Thay thế và bãi miễn; Đối với cán bộ - Công chức - viên chức quyền đồng thời là nghĩa vụ và ngược lại; Tính thống nhất giữa quyền, nghĩa vụ với trách nhiệm của cán bộ, công chức, viên chức; Tính vô tư không có đặc quyền, đặc lợi về công vụ.

2. Xu hướng chung của các nền công vụ:

Nền công vụ dựa trên cơ sở là theo chế độ công trạng. Nền công vụ các nước ngày càng hiện đại. Về kỹ thuật, thủ tục đang xích lại gần nhau. Sử dụng mạnh mẽ công nghệ thông tin trong công vụ. Hoạt động công vụ thiết thực và gần dân hơn. Năng động, chú trọng chất lượng và làm cho nền công vụ ngày càng trong sạch, hiệu quả.

3. Đặc trưng của công vụ:

- Mục tiêu: phục vụ NN, ND, duy trì an ninh, trật tự, an toàn XH; đảm bảo tăng trưởng và pt; không vì lợi nhuận.

- Nguồn lực: Q Lực NN trao cho có tính pháp lý; NSNN; đội ngũ cán bộ CC có năng lực, phẩm chất.

- Cách thức tiến hành: thủ tục qui định trước, công khai, bình đẳng, không thiên vị; hệ thống thứ bậc, phân công, phân cấp; có sự tham gia của nd. Thủ tục qui định trước: mang tính pháp lý, ổn định phù hợp với qui luật và thực tiễn. Công khai cho mọi người đều biết để thực hiện và trên cơ sở bình đẳng như nhau, không được thiên về ai. Hệ thống thứ bậc, đó là sự phân cấp về mặt quản lý, tránh sự chồng chéo giữa cấp trên và cấp dưới.

4. Cấu thành nền công vụ:

- Thể chế: hệ thống PL, qui định, qui tắc, cơ chế vận hành, thủ tục (cần nói về thực trạng)

- Tổ chức bộ máy: là yếu tố trực tiếp của cơ quan NN (có 18 bộ, 4 cơ quan ngang bộ thực hiện chức năng quản lý NN). Nhìn chung có tinh gọn đầu mối; tuy nhiên, con người trong bộ máy vẫn giữ nguyên thậm chí tăng lên.

- Công chức: là trung tâm của mọi vấn đề, cán bộ là gốc của công việc do vậy yêu cầu đặt ra là cbcc phải có trình độ, năng lực, phẩm chất phục vụ công việc,…

5. Cải cách công vụ:

- Nguyên tắc chung: qui mô công vụ thu nhỏ lại, các cơ quan NN chỉ tập trung vào công vụ cốt lõi, quan trọng. XHH hoạt động cung cấp dịch vụ vốn được coi là hoạt động công vụ như giáo dục, y tế,…

- Áp dụng cách thức thực thi công vụ theo mô hình “Hiệu quả”: thay đổi chức năng quản lý, sử dụng nguồn lực hiệu quả. Hiệu quả là tiêu chí trong đánh giá thực thi công vụ của tổ chức hoặc cá nhân công chức. Nhấn mạnh vào trách nhiệm cá nhân trong thực thi công việc.

- Hoàn thiện các thể chế NN và thể chế hành chánh: các văn bản PL để điều chỉnh các hoạt động công vụ. Tổ chức bộ máy và nhân sự theo hướng tinh gọn nhẹ, linh hoạt, đẩy mạnh phân quyền theo hướng: phân quyền cho các bộ, cơ quan tổ chức cấp dưới trong quản lý CC, TW chỉ tập trung vấn đề chiến lược; đơn giản hóa các qui tắc, thủ tục; chấn chỉnh hệ thống quản lý CC và hđ công vụ thống nhất, có kỷ cương, linh hoạt hơn.


Câu 5: Quản lý nhà nước về thi hành án dân sự - yêu cầu và nội dung.

Thi hành án dân sự (THADS) là hoạt động của các cơ quan THADS cấp tỉnh, huyện (cơ quan THADS cấp quân khu) trên cơ sở thẩm quyền được Luật THADS năm 2008 quy định, tổ chức thi hành các: bảncv án, quyết định của TA cấp sơ thẩm (không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm); TA cấp phúc thẩm; quyết định tái thẩm hoặc giám đốc thẩm của TA; bản án, quyết định dân sự của TA nước ngoài, quyết định của trọng tài nước ngoài đã được TAVN công nhận và cho thi hành tại VN; quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh của Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh mà sau 30 ngày kể từ ngày có hiệu lực pháp luật đương sự không tự nguyện thi hành, không khởi kiện tại TA; quyết định của Trọng tài thương mại.

1. Yêu cầu Quản lý Nhà nước về THADS:

* Một là, Bảo đảm hiệu lực của bản án, quyết định (theo điều 4 Luật THADS năm 2008):

Bản án, quyết định quy định tại Điều 2 Luật THADS năm 2008 phải được cơ quan, tổ chức và mọi công dân tôn trọng.

Cá nhân, cơ quan, tổ chức có liên quan trong phạm vi trách nhiệm của mình chấp hành nghiêm chỉnh bản án, quyết định và phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về việc thi hành án.

* Hai là, Bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan (theo điều 5 Luật THADS năm 2008):

Trong quá trình thi hành án, quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được tôn trọng và được pháp luật bảo vệ.

* Ba là, Bảo đảm công tác pháp chế THADS.

* Bốn là, Bản án phải được thực thi theo trình tự thủ tục quy định, tránh tình trạng kéo dài làm mất đi tính nghiêm minh của pháp luật.

* Năm là, Trách nhiệm phối hợp của cơ quan, tổ chức, cá nhân với cơ quan thi hành án dân sự, Chấp hành viên (theo điều 11 Luật THADS năm 2008):

- Trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn, nghĩa vụ của mình cơ quan, tổ chức và cá nhân có trách nhiệm phối hợp với cơ quan thi hành án dân sự trong việc thi hành án.

- Cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan có trách nhiệm thực hiện yêu cầu của cơ quan thi hành án dân sự, Chấp hành viên theo quy định của Luật THADS năm 2008.

Mọi hành vi cản trở, can thiệp trái pháp luật đối với hoạt động của cơ quan thi hành án dân sự, Chấp hành viên đều bị xử lý theo quy định của pháp luật.

2. Nội dung quản lý nhà nước về THADS:

* Hệ thống tổ chức cơ quan THADS bao gồm:

- Hệ thống cơ quan QLNN về THADS (Bộ tư pháp, UBND cấp tỉnh, huyện, xã; cơ quan THADS thuộc Bộ Quốc phòng).

- Hệ thống cơ quan THA (cơ quan THADS cấp tỉnh, huyện; cơ quan THADS quân khu và tương đương).

* Chấp hành viên:- Chấp hành viên là người được Nhà nước giao nhiệm vụ thi hành các bản án, quyết định theo quy định tại Điều 2 Luật THADS năm 2008. Chấp hành viên có ba ngạch là Chấp hành viên sơ cấp, Chấp hành viên trung cấp và Chấp hành viên cao cấp.

- Chấp hành viên do Bộ trưởng Bộ Tư pháp bổ nhiệm.

- Chính phủ quy định trình tự, thủ tục thi tuyển, bổ nhiệm Chấp hành viên.

* Nội dung quản lý: - Chính phủ thống nhất QLNN về THADS trong phạm vi cả nước; chỉ đạo các cơ quan của Chính phủ, UBND cấp tỉnh trong THADS; phối hợp với TAND tối cao, VKSND tối cao trong THADS; định kỳ hàng năm báo cáo QH về công tác THADS.

- Bộ Tư pháp: + Ban hành hoặc trình cơ quan có thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật về thi hành án dân sự;

+ Xây dựng và tổ chức thực hiện chính sách, kế hoạch về thi hành án dân sự;

+ Phổ biến, giáo dục pháp luật về thi hành án dân sự;

+ Quản lý hệ thống tổ chức, biên chế và hoạt động của cơ quan thi hành án dân sự; quyết định thành lập, giải thể các cơ quan thi hành án dân sự; đào tạo, bổ nhiệm, miễn nhiệm Chấp hành viên, Thẩm tra viên;

+ Hướng dẫn, chỉ đạo, bồi dưỡng nghiệp vụ cho Chấp hành viên, Thẩm tra viên và công chức làm công tác thi hành án dân sự (QL nghiệp vụ THADS: do Cục THADS thực hiện theo sự phân công của BTBTP);

+ Kiểm tra, thanh tra, khen thưởng, xử lý vi phạm trong công tác thi hành án dân sự; giải quyết khiếu nại, tố cáo về thi hành án dân sự;

+ Quản lý phân bổ kinh phí, bảo đảm cơ sở vật chất, phương tiện hoạt động của cơ quan thi hành án dân sự;

+ Hợp tác quốc tế trong lĩnh vực thi hành án dân sự;

+ Tổng kết công tác thi hành án dân sự;

+ Ban hành và thực hiện chế độ thống kê về thi hành án dân sự;

+ Báo cáo Chính phủ về công tác thi hành án dân sự.

+ Cơ quan quản lý thi hành án dân sự thuộc Bộ Tư pháp giúp Bộ trưởng Bộ Tư pháp quản lý nhà nước về công tác thi hành án dân sự và thực hiện quản lý chuyên ngành về thi hành án dân sự theo quy định của Chính phủ.

- Các Bộ Quốc phòng, Bộ Công an, TAND tối cao, VKSND tối cao có trách nhiệm với BTP thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể được quy định cụ thể tại Luật THADS năm 2008.

- UBND cấp tỉnh, huyện, xã thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể về THADS theo quy định tại Luật THADS năm 2008 và các VB hướng dẫn của cơ quan NN cấp trên.


Câu 6: Thực trạng thi hành án dân sự ở nước ta hiện nay.

1. Về kết quả đạt được:

- Nhiều đổi mới trong thủ tục thi hành án, tạo điều kiện cho việc thi hành án được thực hiện chặt chẽ, hiệu quả hơn. Việc giải quyết đơn thư khiếu nại, tố cáo về THA DS được đẩy nhanh tiến độ, tăng cường đối thoại, chú trọng kỹ năng công tác dân vận, giải quyết dứt điểm hoặc 1 bước cơ bản nhiều vụ việc khiếu nại phức tạp, tồn đọng kéo dài. Nhiều địa phương, đơn vị đã giải quyết dứt điểm khiếu nại tại cơ sở, không để xảy ra tình trạng khiếu nại vượt cấp lên TW.

- Luật THADS năm 2008 và nhiều quy định mới góp phần tháo gỡ vướng mắc trong công tác thi hành án, tạo cơ sở pháp lý cho việc giải quyết án tồn đọng, kéo dài trong nhiều năm qua, đồng thời tạo tiền đề cho việc thực hiện chủ trương xã hội hoá trong hoạt động thi hành án dân sự.

- Công tác quản lý, chỉ đạo về TTHADS đã thu được những kết quả bước đầu, đồng thời tiếp tục phát huy vai trò quản lý nhà nước đối với công tác thi hành án dân sự ở địa phương của Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện; Tăng cường sự phối hợp giữa các cơ quan, ban ngành ở Trung ương, sức mạnh tổng hợp của hệ thống chính trị ở cơ sở trong công tác thi hành án dân sự.

- Một số tổ chức quốc tế hỗ trợ có hiệu quả về mặt kỹ thuật cho việc nghiên cứu, đề xuất hoàn thiện thể chế THA và đào tạo, bồi dưỡng CB THA. Việc áp dụng CNTT vào hoạt động chuyên môn được đẩy mạnh hơn. Công tác tuyên truyền, phổ biến PL THA ở nhiều địa phương dần khắc phục được tính hình thức, dàn trải.

Đạt được những kết quả tích cực nêu trên là do công tác lãnh đạo sâu sát của Đảng ta; là do CP, các cấp, các ngành đã nêu cao quyết tâm, chỉ đạo thực hiện đồng bộ các giải pháp thực sự tạo chuyển biến trong công tác THADS; Cơ quan THA đã thực hiện nhiều giải pháp sáng tạo để giải quyết án tồn đọng; nhiều cấp ủy, chính quyền các địa phương đã quan tâm hơn đến công tác THADS, đặc biệt là trong việc phối hợp kiện toàn tổ chức, CB, chỉ đạo THA; các Đoàn ĐBQH và MTTQ VN các cấp đã quan tâm, giám sát đối với công tác THADS.

2. Những hạn chế:

- Theo thống kê của Bộ Tư pháp, năm 2009, các cơ quan THADS thụ lý 662.961 việc, đã thi hành xong 354.490 việc, đạt 81,05% số việc có điều kiện thi hành. Tuy nhiên, công tác thi hành án dân sự vẫn còn nhiều hạn chế, nhất là số lượng án tồn đọng. Tình trạng khiếu nại, tố cáo về thi hành án dân sự còn nhiều, nhiều vụ việc phức tạp, khiếu nại tố cáo gay gắt, kéo dài…

- Theo thống kê tại Hội nghị chuyên đề triển khai công tác thi hành án dân sự năm 2010 khu vực phía Bắc do Bộ Tư pháp tổ chức, hiện nay cả nước còn 270.925 án tồn đọng. Trong đó, 188.000 việc chưa có điều kiện thi hành án; hơn 89.000 việc người phải thi hành án ốm nặng, chưa xác định được nơi cư trú, người phải thi hành án không có tài sản; 98.754  án tồn đọng vì có kháng nghị; tuyên không rõ ràng, không phù hợp với thực tế, tài sản kê biên chưa xử lý được hoặc có khiếu nại…

- Cơ chế QLNN về THADS còn hạn chế hiệu quả, trách nhiệm của cơ quan THADS chưa được đề cao.

- Các cơ quan bảo vệ pháp luật và các cơ quan hữu quan chưa thực hiện đầy đủ các nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định của PL, chưa tạo được mối quan hệ phối hợp hiệu quả trong công tác THADS.

- Tình trạng khiếu nại về THA ngày càng tăng, nhiều vụ việc có tính bức xúc kéo dài, chưa có cơ chế giải quyết. Công tác quản lý nhà nước về đất đai ở một số địa phương còn buông lỏng, để xảy ra sai phạm. Quá trình thực hiện thu hồi đất của dân chưa đúng trình tự, thủ tục, thiếu công khai, minh bạch, dân chủ, công bằng và trong một số trường hợp số tiền bồi thường, hỗ trợ chưa đủ để người dân tạo lập chỗ ở mới tốt hơn. Có một số dự án thu hồi đất sản xuất của dân nhưng không được sử dụng hợp lý, đất đai bỏ hoang, lãng phí, trong khi nông dân thiếu đất sản xuất, dẫn đến bức xúc, phát sinh khiếu nại.

Khi phát sinh khiếu nại, tố cáo, một số chính quyền địa phương chưa làm tròn trách nhiệm của mình, thiếu quan tâm giải quyết từ cơ sở, có nhiều vụ việc giải quyết chậm, thẩm tra, xác minh sơ sài, thu thập chứng cứ không đầy đủ, kết luận thiếu chính xác, áp dụng pháp luật cứng nhắc, phương án giải quyết thiếu thuyết phục, dân không đồng tình, tiếp tục khiếu nại, tố cáo. Trong khi đó, sự phối hợp giữa các cơ quan nhà nước để giải quyết khiếu nại, tố cáo có lúc chưa tốt, còn có hiện tượng đùn đẩy trách nhiệm, chuyển đơn lòng vòng, trả lời thiếu thống nhất. Việc tuyên truyền, giáo dục, vận động, thuyết phục, hướng dẫn người khiếu nại, tố cáo và công tác hòa giải ở cơ sở chưa được quan tâm thực hiện đúng mức nên có những vụ việc đơn giản vẫn phát sinh đơn thư khiếu nại, tố cáo vượt cấp.

- Hệ thống PL nói chung và PL về THADS vừa thiếu, vừa bộc lộ nhiều bất cập.

- Công tác tổ chức, biên chế, đầu tư cơ sở, vật chất chưa tương xứng với nhiệm vụ ngày càng nặng nề của cơ quan THA.

- Ý thức thi hành án của một bộ phận nhân dân và một số cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền chưa cao, gây tình trạng ách tắc, dây dưa việc kéo dài thi hành án.

3. Biện pháp nâng cao chất lượng, hiệu quả THADS:

Cần tiến hành đồng bộ các biện pháp:

- Kiện toàn tổ chức bộ máy, tăng cường đội ngũ cán bộ (nòng cốt là đội ngũ cán bộ Chấp hành viên THADS) cho cơ quan THADS.

- Xác định cụ thể mối quan hệ giữa các cơ quan quản lý THADS và các cơ quan THADS ở địa phương, nhằm vừa đảm bảo tính KH chặt chẽ, có hiệu quả, hiệu lực trong quản lý vừa tránh được sự can thiệp thái quá vào hoạt động nghiệp vụ của cơ quan THA.

- Tăng cường đầu tư CSVC, nơi làm việc, phương tiện hoạt động, kinh phí và các điều kiện bảo đảm khác cho cơ quan, Chấp hành viên, công chức trong các cơ quan THADS.

- Xây dựng đề án cải cách thủ tục hành chính trong công tác THA, tạo điều kiện để nhân dân giám sát công tác THA, kịp thời phát hiện những việc làm sai trái, thiếu công minh, vi phạm dân chủ, phát hiện và xử lý kiên quyết những hành vi tiêu cực, nhũng nhiễu trong đội ngũ cán bộ THADS.

- Nâng cao trách nhiệm, phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị trong công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo, trước hết là nhờ vai trò lãnh đạo của các cấp ủy, quản lý điều hành của chính quyền. Trong quá trình giải quyết, các cơ quan nhà nước phải thu thập đầy đủ tài liệu, chứng cứ khách quan, làm rõ nguyên nhân phát sinh khiếu nại, tố cáo, kết luận rõ đúng, sai, đề ra phương án giải quyết phù hợp, có lý, có tình. Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục nâng cao ý thức pháp luật của cán bộ, nhân dân. Bên cạnh đó, cần tăng cường vận động, thuyết phục công dân chấp hành pháp luật và các quyết định giải quyết của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền, tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật, tạo sự đồng bộ, nâng cao tính khả thi, hiệu lực, hiệu quả của hệ thống pháp luật; chấn chỉnh, tăng cường công tác quản lý nhà nước trên các lĩnh vực, nhất là trong lĩnh vực đất đai…

- Tăng cường công tác giải thích PL, thuyết phục đương sự tự nguyện thi hành, chỉ tiến hành cưỡng chế trong trường hợp thật cần thiết, phối hợp chặt chẽ giữa cơ quan THA với cơ quan quản lý, chính quyền địa phương, các cơ quan công an, TA, Kiểm sát, các cơ quan liên quan khác đảm bảo cho công tác THA có hiệu lực, hiệu quả. Trước mắt tổ chức làm tốt công tác thí điểm thực hiện chế định Thừa phát lại tại TP.HCM để XHH từng bước hoạt động THADS cho phù hợp với lộ trình cải cách tư pháp và cải cách bộ máy NN, XDNNPQ, phát huy dân chủ, huy động sức mạnh của cộng đồng vào hoạt động quản lý và THADS.


Câu 7. So sánh chức năng HCNN với chức năng lập pháp và tư pháp ở nước ta.

  • Chức năng HCNN

QLNN là một dạng QL đặc biệt được sửng dụng các quyền lực NN như lập pháp, hành pháp và tư pháp để quản lý mọi lĩnh vực của đời sống XH.

QLHCNN là một bộ phận của QLNN, là quản lý mang tính quyền lực NN để thực thi quyền hành pháp và quyền hành chính trong cả nước.

Nhìn chung chức năng HCNN là hoạt động điều hành và chấp hành, trong đó:

ĐIỀU HÀNH: Là việc chỉ đạo các đối tượng thuộc quyền trong quá trình quản lý

CHẤP HÀNH: Là hoạt động đưa pháp luật vào thực tiễn quản lý Nhà nước, chấp hành Nghị quyết của cơ quan quyền lực.

Hai chức năng trên có mối quan hệ mật thiết với nhau, là hai mặt không thể tách rời của hoạt động quản lý.

Cụ thể chức năng QLHCNN bao gồm:

+ chức năng HC đối với dân.

+Chức năng QL nền KT quốc dân.

+ Chức năng HC đối với XH.

+ Chức năng HC đối ngoại.

+ Chức năng quy hoạch, kế hoạch.

+ Chức năng tổ chức bộ máy HC.

+ Chức năng bố trí, sắp xếp CB, PT nguồn nhân lực.

+ Chức năng điều hành, hướng dẫn, thi hành.

+ Chức năng phối hợp.

+ Chức năng tài chính.

+ Chức năng theo dõi, kiểm tra, giám sát,báo cáo.

+ Chức năng sơ kết, tổng kết, đánh giá.

  • Chức năng lập pháp

Quốc hội là cơ quan duy nhất có quyền lập hiến và lập pháp. Quốc hội làm Hiến pháp và sửa đổi Hiến pháp.
Việc soạn thảo, thông qua, công bố Hiến pháp, sửa đổi Hiến pháp và thủ tục, trình tự giải thích Hiến pháp do Quốc hội quy định.

Căn cứ vào Hiến pháp, Quốc hội ban hành luật, nghị quyết. Căn cứ vào Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội ban hành pháp lệnh, nghị quyết.

Quy trình xây dựng và ban hành các văn bản pháp luật của Quốc hội bao gồm các giai đoạn :

  1. xây dựng và thông qua chương trình xây dựng văn bản pháp luật,

  2. giai đoạn soạn thảo,

  3. giai đoạn thẩm tra của Hội đồng dân tộc và các Uỷ ban,

  4. giai đoạn xem xét tại Uỷ ban thường vụ Quốc hội,

  5. giai đoạn thảo luận tại các kỳ họp của Quốc hội và

  6. giai đoạn thông qua tại Quốc hội.

* Giống nhau:

Lập pháp, hành pháp và tư pháp là 3 bộ phận cấu thành quyền lực NN, các cơ quan Lập pháp, hành pháp (HCNN), tư pháp là các cơ quan cấu thành bộ máy NN. Do đó chức năng HCNN và chức năng lập pháp, tư pháp ở nước ta đều thể hiện chức năng NN XHCN Việt nam, đó là:

- Chức năng đối nội:

+ Phát huy quyền lực của nhân dân.

+ Tổ chức, quản lý kinh tế.

+ Tổ chức, quản lý VH-XH.

+ Giữ vững ANCT, TTATXH.

- Chức năng đối ngoại:

+ Bảo vệ Tổ quốc XHCN.

+ Hòa bình hữu nghị, hợp tác.

+ Ủng hộ phong trào đấu trnh chính nghĩa.

* Khác nhau:

- HCNN, xét theo nội hàm gồm có: chức năng chấp hành (hoạt động thi hành, thực hiện pháp luật), chức năng điều hành, chức năng phục vụ.

+ Khác với chức năng Lập pháp là hoạt động xây dựng pháp luật, cụ thể là soạn thảo và ban hành các đạo luật và những văn bản quy phạm pháp luật khác (việc xây dựng các văn bản quy phạm pháp luật dưới luật được gọi là lập quy); chức năng giám sát.

+ Và khác với chức năng Tư pháp là hoạt động bảo vệ pháp luật (kiểm sát, truy tố, xét xử).

- Ngoài ra HCNN còn có những chức năng riêng:

+ Theo cơ cấu tổ chức hệ thống: là những hoạt động hành chính của CQNN ở trung ương, những hoạt động hành chính của CQNN ở địa phương.

+ Theo nhóm ngành lĩnh vực: chức năng chính trị, chức năng kinh tế, chức năng văn hóa…

Câu 8. Phân tích đường lối, chủ trương cải cách hành chính trong tiến trình đổi mới.

CCHC ở VN là công việc mới mẻ, diễn ra trong điều kiện thiếu kiến thức và kinh nghiệm về QL HCNN trong thời kỳ mới, có nhiều vấn đề phải vừa làm, vừa tìm tòi rút kinh nghiệm. Vì vậy, việc hình thành quan niệm và những nguyên tắc cơ bản chỉ đạo công cuộc CCHC cũng như việc đề ra những nội dung, phương hướng, chủ trương, giải pháp thực hiện trong từng giai đoạn là một quá trình tìm tòi sáng tạo không ngừng, là một quá trình nhận thức liên tục, thống nhất trong tiến trình đổi mới được khởi đầu từ ĐH VI của Đảng CSVN năm 1986.

Từ xác định những nguyên nhân của tình hình khủng hoảng kinh tế - xã hội trầm trọng, ĐH VI đã chỉ rõ nguyên nhân của mọi nguyên nhân là công tác tổ chức và đề ra chủ trương thực hiện một cuộc cải cách lớn về tổ chức bộ máy các cơ quan nhà nước. Thực hiện NQ ĐH VI, tổ chức bộ máy nhà nước đã được sắp xếp lại một bước theo hướng gọn nhẹ, bớt đầu mối. Tuy nhiên, nhìn chung tổ chức và biên chế của bộ máy nhà nước vẫn còn quá cồng kềnh, nặng nề.

Đến ĐH VII, Đảng xác định tiếp tục CCHC NN và đề ra những nhiệm vụ về sửa đổi Hiến pháp, cải tiến tổ chức và hoạt động của Quốc hội, sửa đổi cơ cấu tổ chức và phương thức hoạt động của Chính phủ, của chính quyền địa phương. Trên cơ sở những nhiệm vụ do ĐH VII đề ra, trong nhiệm kỳ này đã tiến hành đợt sắp xếp lần thứ hai kể từ ĐH VI hệ thống chính trị ở nước ta bao gồm Đảng, Nhà nước, Mặt trận và các đoàn thể nhân dân.

Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH, chiến lược ổn định và phát triển kinh tế - xã hội đến năm 2000 do ĐH VII thông qua đã khẳng định bước tiến về lý luận, nhận thức về nền hành chính nhà nước. Cương lĩnh đã nêu: về nhà nước “phải có đủ quyền lực và có đủ khả năng định ra luật pháp về tổ chức, quản lý mọi mặt đời sống xã hội bằng pháp luật. Sửa đổi hệ thống tổ chức nhà nước, cải cách bộ máy hành chính, kiện toàn các cơ quan lập pháp để thực hiện có hiệu quả chức năng quản lý của nhà nước”. Chiến lược cũng nêu trọng tâm cải cách “nhằm vào hệ thống hành chính với nội dung chính là xây dựng một hệ thống hành chính và quản lý hành chính nhà nước thông suốt, có đủ quyền lực, năng lực, hiệu quả”.

Thực hiện NQ ĐH VII, tháng 04/1992, Quốc hội nước CHXHCN VN đã thông qua Hiến pháp mới thay thế Hiến pháp 1980. Hiến pháp 1992 thể hiện sự nhận thức đầy đủ hơn về phân công, phối hợp giữa ba quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp trong tổng thể quyền lực thống nhất của nhà nước.

Sau ĐH VII, từ 1992 đến 1995 là giai đoạn phát triển mạnh mẽ tư duy, quan niệm, nhận thức của Đảng về nền HCNN và về CCHC. HN TW 8 khoá VII (1/1995) đánh dấu bước phát triển mới về xây dựng và phát triển nền hành chính nhà nước. Cải cách một bước nền hành chính nhà nước được xác định là trọng tâm của việc tiếp tục xây dựng và hoàn thiện nhà nước, với mục tiêu là xây dựng một nền hành chính trong sạch có đủ năng lực, sử dụng đúng quyền lực và từng bước hiện đại hoá để quản lý có hiệu lực và hiệu quả công việc của nhà nước, thúc đẩy xã hội phát triển lành mạnh, đúng hướng, phục vụ đắc lực đời sống nhân dân, xây dựng nếp sống và làm việc theo pháp luật trong xã hội. Lần đầu tiên 3 nội dung chủ yếu của cải cách hành chính nhà nước được trình bày một cách hệ thống trong NQ TW 8, đó là cải cách thể chế của nền hành chính, chấn chỉnh tổ chức bộ máy và xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức.

Việc thực hiện NQ TW 8 khoá VII đã mở ra một giai đoạn mới, giai đoạn chuyển biến thật sự trong cải cách hành chính ở nước ta. Có thể nói NQ TW 8 (khoá VII) có ý nghĩa quan trọng thúc đẩy tiến trình cải cách hành chính của hơn 20 năm đổi mới vừa qua.

Tiếp tục khẳng định cải cách hành chính là trọng tâm của việc xây dựng, hoàn thiện NN trong những năm trước mắt, NQ ĐH VIII (năm 1996) nhấn mạnh yêu cầu tiến hành cải cách hành chính đồng bộ, dựa trên cơ sở pháp luật, coi đó là một giải pháp cơ bản để thực hiện các nhiệm vụ, mục tiêu chủ yếu của kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 1996-2000.

Với tinh thần đẩy mạnh CCHC được đề ra trong NQ TW 8 (khoá VII) một cách tích cực theo chương trình, kế hoạch, NQ ĐH VIII nhấn mạnh nhiệm vụ xây dựng hệ thống pháp luật phù hợp với cơ chế mới; cải tiến quy trình xây dựng và ban hành văn bản pháp luật của Chính phủ, đồng thời tiếp tục đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, và sắp xếp lại bộ máy hành chính từ TW đến địa phương, hợp nhất một số cơ quan quản lý chuyên ngành về kinh tế trên cơ sở xác định rõ và thực hiện đúng chức năng quản lý nhà nước của các bộ, ngành. Theo đó, 4 điểm bổ sung quan trọng trong định hướng cải cách được NQ đề ra là:

- Phân định rõ thẩm quyền và trách nhiệm của từng cấp hành chính;

- Tiếp tục nghiên cứu để cụ thể hoá sự phân cấp QLNN giữa các cơ quan của Chính phủ với chính quyền tỉnh, thành phố trực thuộc TW;

- Đổi mới chế độ công chức và công vụ (bao gồm sửa đổi quy chế thi tuyển, bồi dưỡng, đào tạo mới và trẻ hoá đội ngũ cán bộ, công chức, kiên quyết xử lý và sa thải những người thoái hoá, biến chất; tăng cường biện pháp và phối hợp lực lượng đẩy mạnh đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí, cửa quyền trong bộ máy QLNN và các tổ chức kinh tế NN);

- Thành lập Toà án hành chính và thực hiện xã hội hoá đối với một số hoạt động thuộc lĩnh vực dịch vụ công.

HN lần thứ 3 của BCH TW (khoá VIII) họp tháng 06/1997 ra NQ về phát huy quyền làm chủ của nhân dân, tiếp tục xây dựng NN CHXHCN VN. Một trong những chủ trương và giải pháp lớn về CCHC được nhấn mạnh trong NQ quan trọng này là bảo đảm thực hiện dân chủ hóa đời sống chính trị của xã hội, giữ vững và phát huy bản chất tốt đẹp của Nhà nước, phát huy quyền làm chủ của nhân dân trong xây dựng và bảo vệ Nhà nước, trong giám sát hoạt động của bộ máy Nhà nước và hoạt động của cán bộ, công chức. Từ đó, Chính phủ ban hành các quy chế thực hiện dân chủ ở cơ sở.

Trong việc xây dựng chiến lược về cán bộ cho thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước đến năm 2020, NQ TW 3 đặc biệt nhấn mạnh nhiệm vụ xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức có phẩm chất và năng lực, coi đó là yếu tố quyết định đến chất lượng bộ máy NN. Cán bộ lãnh đạo phải được đào tạo, bồi dưỡng kiến thức toàn diện, được bố trí, điều động theo nhu cầu và lợi ích của đất nước.

NQ TW 6 (lần 2), NQ TW 7 (khoá VIII), đã biểu thị một quyết tâm chính trị rất lớn về việc tiếp tục tiến hành CCHC, đặt CCHC trong tổng thể của đổi mới hệ thống chính trị.

Từ việc kiểm điểm tình hình và rút kinh nghiệm thực tiễn, Đảng đã đi đến khẳng định, trong điều kiện một đảng cầm quyền, sự đổi mới chưa đồng bộ các tổ chức trong hệ thống chính trị là trở ngại lớn của công cuộc CCHC trong thời gian qua. Không thể tiến hành cải cách riêng nền hành chính tách rời sự đổi mới tổ chức và phương thức lãnh đạo của Đảng, đổi mới tổ chức và phương thức hoạt động của các đoàn thể nhân dân. Cũng không thể CCHC một cách biệt lập mà không đồng thời đổi mới tổ chức và cơ chế hoạt động của các cơ quan lập pháp, cơ quan tư pháp.

Từ nhận thức đó, NQTW7 (khoá VIII) đề ra chủ trương tiến hành sắp xếp lại tổ chức bộ máy đảng và các tổ chức trong hệ thống chính trị gắn liền với CCHC theo hướng tinh gọn, hoạt động có hiệu lực, hiệu quả. Đồng thời, với việc kiên quyết sắp xếp một bước bộ máy các tổ chức trong hệ thống chính trị, thực hiện tinh giảm biên chế, cải cách chính sách tiền lương.

ĐH IX (năm 2001) bên cạnh việc khẳng định mục tiêu xây dựng nền HCNN dân chủ, trong sạch, vững mạnh, từng bước hiện đại hoá đã đưa ra một loạt chủ trương, giải pháp có ý nghĩa quan trọng trong CCHC thời gian tới như điều chỉnh chức năng và cải tiến phương thức hoạt động của Chính phủ, nguyên tắc bộ quản lý đa ngành, đa lĩnh vực; phân công, phân cấp; tách cơ quan hành chính công quyền với tổ chức sự nghiệp, dịch vụ công; tiếp tục cải cách doanh nghiệp nhà nước, tách rõ chức năng QLNN với SXKD của các doanh nghiệp; tiếp tục cải cách thủ tục hành chính; xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức trong sạch, có năng lực; thiết lập trật tự kỷ cương, chống quan liêu, tham nhũng…

Đại hội X (năm 2006), Đảng ta tiếp tục chủ trương đẩy mạnh cải cách hành chính và đề ra các chính sách, giải pháp đẩy mạnh CCHC công, nâng cao hiệu lực quản lý NN về KT, XH. Tập trung đổi mới tổ chức và hoạt động của chính phủ theo hướng xây dựng hệ thống cơ quan hành pháp thống nhất, thông suốt, hiện đại. Luật hóa cơ cấu tổ chức của chính phủ; tổ chức bộ quản lý đa ngành, đa lĩnh vực, bảo đảm tinh gọn và hợp lý. Phân cấp mạnh, giao quyền chủ động hơn nữa cho chính quyền địa phương, nhất là trong việc quyết định về ngân sách, tài chính, đầu tư, nguồn nhân lực, thực hiện nghĩa vụ tài chính đối với trung ương.

Triển khai NQĐH X, NQ số 17-NQ/TW Hội nghị lần thứ 5 BCH TW (khóa X) về “đẩy mạnh CCHC, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý của bộ máy nhà nước” đã đánh giá những kết quả bước đầu quan trọng của CCHC, những hạn chế, yếu kém, đồng thời đề ra nhiều chủ trương về CCHC, trong đó luôn xác định CCHC là một khâu quan trọng trong sự nghiệp đổi mới để phát triển đất nước. Các chủ trương đó là:

- Tăng cường sự LĐ của Đảng đối với công tác CCHC.

- Thực hiện đồng bộ CCHC với cải cách lập pháp, cải cách tư pháp. - Tiếp tục xây dựng và hoàn thiện hệ thống thể chế.

- Tiếp tục đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính.

- Xác định rõ chức năng, nhiệm vụ của Chính phủ và các cơ quan HCNN. - Tiếp tục cải cách chế độ công vụ, công chức. - Cải cách tài chính công. - Hiện đại hoá nền hành chính. - Giải quyết tốt mối quan hệ giữa cơ quan hành chính với nhân dân, huy động sự tham gia có hiệu quả của nhân dân và xã hội vào hoạt động quản lý của các cơ quan hành chính nhà nước.

- Nâng cao nhận thức và trách nhiệm của mỗi cán bộ, đảng viên đối với công tác CCHC.

Tăng cường công tác tư tưởng, nâng cao nhận thức và ý thức chấp hành kỷ luật, kỷ cương của tổ chức đảng và đảng viên trong cả hệ thống chính trị về CCHC, đặc biệt là thủ tục CCHC. Xây dựng chương trình hành động thiết thực, cụ thể về CCHC trong từng cơ quan hành chính nhà nước. Tập trung chỉ đạo thực hiện có trọng tâm, trọng điểm và có sơ kết, uốn nắn trong từng thời gian. Bảo đảm cho công tác CCHC thật sự là một khâu đột phá trong phát triển kinh tế - xã hội và là một nhiệm vụ trọng tâm thường xuyên của các cấp uỷ và cơ quan hành chính nhà nước.

Câu 9: Phân tích nguyên tắc kết hợp quản lý theo ngành, theo lĩnh vực và theo lãnh thổ trong tổ chức và hoạt động của Bộ máy HCNN ta, cho ví dụ.

1. QLNN theo ngành theo lĩnh vực.

* K/n:

- Ngành trong kinh tế là tổng hợp của nhiều đơn vị sản xuất kinh doanh, mà hoạt động của chúng có những đặc trưng kỹ thuật – sản xuất giống nhau, hoặc tương tự nhau về: cùng thực hiện 1 phương pháp công nghệ, hoặc công nghệ tương tự; sản phẩm sản xuất ra từ 1 loại nguyên liệu hay nguyên liệu đồng loạt; sản phẩm có công dụng cụ thể giống nhau hoặc tương tự nhau.

- Quản lý theo ngành là việc quản lý về mặt kỹ thuật, về nghiệp vụ chuyên môn của Bộ, quản lý ngành ở trung ương đối với tất cả các đơn vị sản xuất kinh doanh thuộc ngành trong phạm vi cả nước.

- Quản lý nhà nước theo lĩnh vực là sự quản lý các lĩnh vực trong ngành, như trong ngành KH&CN thì gồm nhiều lĩnh vực như lĩnh vực nghiên cứu khoa học, lĩnh vực ứng dụng khoa học, lĩnh vực hợp tác quốc tế về KH&CN, lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn, lĩnh vực khoa học tự nhiên, … hay nói khác hơn là sự chia nhỏ quản lý theo ngành nhằm thực hiện quản lý nhà nước có hiệu quả hơn là quản lý theo lĩnh vực.

* Nội dung:

Quản lý NN theo ngành bao gồm các nội dung sau:

- Xây dựng và triển khai thực hiện pháp luật, chủ trương chính sách phát triển kinh tế tòan ngành.

- Xây dựng và triển khai thực hiện các chiến lược, quy hoạch, kế hoạch và các dự án phát triển kinh tế tòan ngành.

- Xây dựng và triển khai thực hiện các chính sách, biện pháp nhằm phát triển nguồn nhân lực, nguồn vốn, nguồn nhiên liệu, KH&CN… cho toàn ngành.

- Xây dựng và triển khai thực hiện các quan hệ tài chính giữa các đơn vị kinh tế trong tòan ngành với Ngân Sách NN.

- Thống nhất trong tòan ngành và liên ngành v/v tiêu chuẩn hóa quy cách, chất lượng sản phẩm. Hình thành tiêu chuẩn quốc gia về chất lượng sản phẩm.

- Thực hiện các chính sách, biện pháp phát triển và mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm chung cho tòan ngành và thực hiện sự bảo hộ sản xuất của ngành nội địa trong những trường hợp cần thiết.

- Áp dụng các hình thức tổ chức sản xuất khoa học và hợp lý các đơn vị sản xuất kinh doanh trong cùng ngành.

- Thanh tra và kiểm tra hoạt động sản xuất kinh doanh của các đơn vị kinh tế trong ngành. Định hướng đầu tư xây dựng lực lượng của ngành, chống sự mất cân đối trong cơ cấu ngành và vị trí ngành trong cơ cấu chung của nền kinh tế quốc dân.

- Thực hiện các chính sách, các biện pháp phát triển thị trường chung cho toàn ngành, bảo hộ sản xuất ngành nội địa.

- Thống nhất hóa, tiêu chuẩn hóa quy cách, chất lượng hàng hóa và dịch vụ, hình thành hệ thống tiêu chuẩn quốc gia về chất lượng sản phẩm để cơ quan có thẩm quyền ban bố.

- Thực hiện các biện pháp các chính sách quốc gia trong việc phát triển nguồn nhân lực, nguồn nguyên liệu, nguồn trí tuệ khoa học và công nghệ chung cho tòan ngành.

- Tham gia xây dựng các dự án luật, pháp lệnh, pháp quy thể chế kinh tế theo chuyên môn của mình để cùng các cơ quan chức năng chuyên môn khác hình thành hệ thống văn bản pháp luật quản lý ngành.

2. Quản lý theo lãnh thổ.

* K/n:

- Lãnh thổ của 1 nước có thể chia ra nhiều vùng lãnh thổ khac nhau, trong đó có lãnh thổ của các đơn vị hành chính với các cấp độ khác nhau.

- Quản lý theo lãnh thổ: QLNN về kinh tế trên lãnh thổ là việc tổ chức, điều hòa, phối hợp hoạt động của tất cả các đơn vị kinh tế phân bổ trên địa bàn lãnh thổ.

* Nội dung:

- Xây dựng quy hoạch, kế hoạch và dự án phát triển ktế - XH trên lãnh thổ nhằm xây dựng 1 cơ cấu kinh tế lãnh thổ hợp lý và có hiệu quả.

- Điều hòa phối hợp hoạt động sản xuất kinh doanh của tất cả các đơn vị kinh tế trên lãnh thổ nhằm tận dụng tối đa và sử dụng 1 cách có hiệu quả nguồn nhân lực sẵn có địa phương.

- Xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng kỹ thuật của từng vùng lãnh thổ bao gồm: hệ thống giao thông vận tải; cung ứng điện năng; cấp thoát nước; đường, cầu cống; thông tin liên lạc… để phục vụ chung cho cả cộng đồng kinh tế trên lãnh thổ.

- Thực hiện công tác thăm dò, đánh giá tài nguyên thiên nhiên trên địa bàn lãnh thổ.

- Thực hiện sự phân bố các cơ sở sản xuất trên địa bàn lãnh thổ 1 cách hợp lý và phù hợp với lợi ích quốc gia.

- Quản lý kiểm soát việc khai thác và sử dụng nguồn tài nguyên quốc gia trên địa bàn lãnh thổ.

- Quản lý, kiểm soát việc xử lý chất thải bảo vệ môi trường sinh thái trên địa bàn lãnh thổ.

3. Kết hợp quản lý theo ngành theo lĩnh vực và theo lãnh thổ:

* K/n: Nguyên tắc kết hợp quản lý theo ngành và theo lãnh thổ đòi hỏi phải có sự phối hợp chặt chẽ giữa quản lý theo ngành và quản lý theo lãnh thổ trên tất cả mọi lĩnh vực kinh tế. Cả 2 chiều quản lý đều phải có trách nhiệm chung trong việc thực hiện mục tiêu của ngành cũng như của lãnh thổ.

* Nội dung kết hợp: Sự kết hợp quản lý theo ngành và theo lãnh thổ được thể hiện như sau:

- Thực hiện quản lý đồng thời theo cả 2 chiều: quản lý theo ngành và quản lý theo lãnh thổ. Có nghĩa là các đơn vị phải chịu sự quản lý của ngành (Bộ), đồng thời phải chịu sự quản lý lãnh thổ của chính quyền địa phương trong 1 số nội dung theo chế độ quy định.

- Có sự phân công quản lý rành mạch cho các cơ quản lý theo ngành và theo lãnh thổ, không trùng lắp, không bỏ sót chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn.

- Các cơ quan quản lý NN theo mỗi chiều thực hiện chức năng, nhiệm vụ quản lý theo thẩm quyền của mình trên cơ sở đồng quản, hiệp quản, tham quản với cơ quan thuộc chiều kia, theo quy định cụ thể của NN.

Tổng thể kinh tế của một đơn vị lãnh thổ có mối quan hệ phụ thuộc lẫn nhau với tổng thể kinh tế của các vùng kinh tế lớn nhằm bảo đảm sự phát triển kinh tế chung của cả nước và bảo đảm sử dụng hợp lí các nguồn tài nguyên tại chỗ và nhận từ bên ngoài, bảo vệ và cải tạo môi trường thiên nhiên xung quanh trên cơ sở khắc phục những mâu thuẫn giữa ngành và ngành, giữa ngànhlãnh thổ, giữa lãnh thổ và lãnh thổ; nó xoá bỏ tình trạng phân bổ riêng lẻ, phân tán, mỗi đơn vị kinh tế khép kín trong hàng rào của mình, thiếu mối quan hệ hợp tác sử dụng công suất, nhiên liệu, phế liệu, năng lượng, cơ sở hạ tầng và sự hỗ trợ lẫn nhau giữa các ngành.

Định hướng phát triển kinh tế các vùng lãnh thổ là phát huy các thế mạnh kinh tế tự nhiên, tài nguyên, khí hậu, xã hội và nhân văn... của các vùng để xác định quy hoạch, cơ cấu ngành kinh tế, thành phần kinh tế... thích hợp để có hiệu quả kinh tế.

- xã hội cao. Định hướng phát triển các vùng lãnh thổ hiện nay là trung du và miền núi phía bắc, đồng bằng sông Hồng, Bắc Trung Bộ và Duyên hải Trung Bộ, Tây Nguyên, miền Đông Nam Bộ, đồng bằng Cửu Long.

Yêu cầu khách quan của quản lí nhà nước về kinh tế, nhằm đảm bảo cơ cấu ngành và cơ cấu lãnh thổ trong nền kinh tế quốc dân. Các đơn vị thuộc các ngành kinh tế - kĩ thuật nằm trên các địa bàn lãnh thổ khác nhau cũng đều chịu sự quản lí nhà nước theo ngành của các bộ (trung ương) và của các cơ sở chuyên môn (ở địa phương).

Trong phạm vi thẩm quyền theo quy định của luật pháp, quản lí theo ngành bảo đảm cơ cấu ngành phát triển hợp lí trong phạm vi cả nước và có hiệu quả nhất. Các đơn vị kinh tế nằm trên một đơn vị hành chính - lãnh thổ cũng chịu sự quản lí nhà nước theo lãnh thổ của chính phủ trung ương trên tổng thể, và của chính quyền địa phương các cấp theo quy định phân cấp của luật pháp. Trong cơ cấu quyền lực và phân công trách nhiệm quản lí hành chính - nhà nước, chính phủ quản lí thống nhất các ngành và các đơn vị lãnh thổ; chính quyền địa phương là người chịu trách nhiệm quản lí kinh tế - xã hội trên địa bàn lãnh thổ, đại biểu cho quyền lợi nhân dân ở địa phương; đồng thời là một bộ phận của quyền lực nhà nước thống nhất ở địa phương, là người đại diện cho nhà nước (trung ương) ở địa phương.

Vì những lí do đó nên nhất thiết phải kết hợp hai mặt: quản lí theo ngành và quản lí theo lãnh thổ. Trên cơ sở phân định rõ chức năng quản lí, các quy định về phân công, phân cấp và xây dựng nội dung và mức độ thống nhất quản lí ngành cho từng ngành theo đặc điểm ngành; nội dung và mức độ quản lí theo lãnh thổ; nội dung, mức độ kết hợp quản lí theo ngành với quản lí theo lãnh thổ, nhằm phát huy cao độ nhất hiệu quả sử dụng nguồn lực của cả nước, của từng vùng kinh tế, từng địa phương trong sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm thống nhất lợi ích quốc gia và lợi ích từng địa phương trong sự phát triển một cách có lợi nhất những lợi thế của địa phương. Sự kết hợp và thống nhất hai mặt quản lí chủ yếu được thể hiện :

1) Tổ chức điều hoà, phối hợp các hoạt động của tất cả các đơn vị thuộc các ngành, các thành phần kinh tế, các cấp quản lí, cũng như các tổ chức văn hoá, xã hội, an ninh, quốc phòng để phát triển nền kinh tế quốc dân theo một cơ cấu hợp lí nhất, có hiệu quả nhất về ngành cũng như về lãnh thổ.

2) Quản lí công việc chung của quốc gia trên phạm vi cả nước, cũng như trên từng đơn vị hành chính - lãnh thổ kết hợp hài hoà lợi ích chung của cả nước, cũng như lợi ích của địa phương.

3) Phục vụ tốt các hoạt động của tất cả các đơn vị nằm trên lãnh thổ, như về kết cấu hạ tầng, bảo vệ môi trường và tài nguyên, bảo đảm pháp chế xã hội chủ nghĩa, an ninh, trật tự công cộng, phục vụ đời sống vật chất và tinh thần của dân cư sống và làm việc trên lãnh thổ, bất kể là thuộc cơ quan, xí nghiệp trung ương hay địa phương.

Câu 10. Phân tích thực trạng cải cách nền hành chính ở nước ta hiện nay, phương hướng, giải pháp cải cách hành chính.

1. Thực trạng nền hành chính VN

Trong báo cáo Tổng kết việc thực hiện giai đoạn I (2001 - 2005) Chương trình tổng thể CCHC NN giai đoạn 2001-2010 của Ban chỉ đạo CCHC của Chính phủ ngày 27/4/2006, đã đánh giá :

CCHC đã được triển khai toàn diện trên cả bốn nội dung là : Cải cách thể chế; Cải cách tổ chức bộ máy hành chính; Xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức; Cải cách tài chính công. Chúng ta đã thực hiện được nhiều việc, tạo ra những chuyển biến đáng ghi nhận của nền HC và CCHC được coi là một trong các giải pháp quan trọng trong thực hiện chiến lược phát triển KT-XH (2001 - 2010) thiết thực thực hiện các nghị quyết của Đảng về CCHC và đổi mới từng bước hệ thống chính trị: Chiến lược, mục tiêu, giải pháp thực hiện CCHC là đúng đắn, có cơ sở, phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh; thực tế của nước ta. Kết quả CCHC đã thúc đẩy quá trình đổi mới kinh tế, dân chủ hoá đời sống XH; hội nhập kinh tế quốc tế; củng cố và duy trì ổn định chính trị.

*Thành tựu - Kết quả rõ nét nhất là hiệu lực và hiệu quả QL HCNN của hệ thống HC được nâng cao rõ rệt, không chỉ thể hiện trong điều kiện bình thường mà còn được bảo đảm trong những tình huống cấp bách, khó khăn như thiên tai, dịch bệnh v.v. .

- Thể chế của nền HC được CC và hoàn thiện 1 bước cơ bản phù hợp với yêu cầu phát huy dân chủ với thiết lập chế độ công khai, minh bạch và cơ chế kinh tế thị trường định hướng XHCN. Phần lớn các chủ trương quan trọng của Đảng về các vấn đề cơ bản trong quá trình đổi mới, xây dựng và hoàn thiện NN pháp quyền XHCN được thể chế hóa và tổ chức triển khai. CC thủ tục HC đã cải thiện mối quan hệ giữa NN và nhân dân và làm tăng tính dân chủ trong quan hệ giữa các cơ quan HCNN; thu hút sự quan tâm của nhân dân đến các công việc của NN và hoạt động của nền HC.

- Vai trò, chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan HCNN tiếp tục được điều chỉnh, bảo đảm QL NN và phục vụ XH. Thông qua kết quả và tác động của những CC, điều chỉnh trong phân công, phân cấp, quan niệm và nhận thực về vai trò và chức răng QL vĩ mô của Chính phủ trong nền kinh tế thị trường ngày càng rõ nét và phù hợp hơn, tổ chức bộ máy các cơ quan HC từ TW đến ĐP từng bước được sắp xếp lại theo hướng hợp lý, gọn đầu mối.

- Mối quan hệ giữa cơ quan HC với người dân, doanh nghiệp đã được cải thiện đáng kể, nền HC mới theo hướng phục vụ phát triển đang hình thành. Thông qua một loạt các CC và biện pháp như CC thủ tục HC, cơ chế ''một cửa'', tăng cường công tác kiềm tra, thanh tra công vụ v.v. . . phương châm phục vụ dân, doanh nghiệp của bộ máy HC đã bước đầu được thiết lập, tạo đà cho những chuyển động mạnh mẽ trong cả hệ thống công vụ …

- Cùng với những tác động của các cuộc CC khác như CC kinh tế, CC tư pháp…, CC HC đã góp phần quan trọng vào những thành tựu phát triển KT-XH ở nước ta, củng cố lòng tin của nhân dân, giữ vững ổn định CT-XH.

* Hạn chế- Nhiều chủ trương, giải pháp đúng đắn nhưng chưa được triển khai kiên quyết nên chưa được hoàn thành dứt điểm và nhân rộng ở quy mô lớn.

- Tệ cửa quyền, quan liêu, tham nhũng vẫn còn là vấn nạn, tính công khai minh bạch của nền HC còn nhiều thách thức, một bộ phận cán bộ, công chức suy giảm lý tưởng, lối sống, vi phạm đạo đức công vụ gây bất bình trong nhân dân.

- Mức độ chuyên nghiệp, tính chuyên sâu, kỹ năng HC của cán bộ, công chức thấp. Trình độ hiểu biết và kỹ năng của cán bộ, công chức với hàm lượng khoa học, thông qua đó có đủ trình độ đê xử lý các vấn đề QL ở tầm vĩ mô, vi mô thấp, chưa đáp ứng yêu cầu của một nền HC hiện đại. Các kết quả bước đầu trong việc áp dụng CNTT vào HC, trang thiết bị công sở chưa khắc phục được thực trạng nền HC của chúng ta còn lạc hậu so với khu vực và thế giới.

* Nguyên nhân CCHC chậm, hiệu quả còn thấp có những nguyên nhân chủ yếu sau đây:

Thứ nhất, công tác chỉ đạo thực hiện CCHC từ CP, thủ tướng CP, các Bộ trưởng tới Chủ tịch UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc TW không thật sự kiên quyết, nhất quán và cũng không bảo đảm tính thường xuyên, liên tục. Hoạch định chính sách, thể chế vốn đã khó, thường phải kéo dài, nhưng một khi đã được ban hành thì khâu tổ chức thực hiện lại quá chậm và kém hiệu quả. Trạng thái chung là chờ đợi, chờ hướng dẫn, chờ đôn đốc, rất ít bộ, ngành và tỉnh chủ động, quyết liệt triển khai.

- Thứ hai, chậm nghiên cứu, kết luận và thể chế hoá các vấn đề liên quan mật thiết tới CC HC. Thực tế cho thấy, bước chuyển sang nền kinh tế thị trường định hướng XHCN đặt ra nhiều vấn đề, đòi hỏi có thời gian nghiên cứu, nhưng một số vấn đề như “bỏ cơ chế bộ chủ quản”, “bộ thực hiện vai trò chủ sở hữu phần vốn NN tại doanh nghiệp”…, tuy đã có kết luận, nhưng khi vào cụ thể thì việc ban hành các quy định lại rất chậm. Lý luận thì khẳng định bộ tập trung vào thực hiện chức năng QL NN ở tầm vĩ mô, không can thiệp sâu vào hoạt động của doanh nghiệp, nhưng thực tiễn thì Bộ trưởng vẫn phải xử lý khá nhiều công việc không thuộc tầm vĩ mô; nếu không giải quyết thì cũng không rõ ai giải quyết. Mối quan hệ giữa HC, doanh nghiệp và sự nghiệp đang đòi hỏi phải tiếp tục làm rõ hơn, cụ thể hơn.

- Thứ ba, khá nhiều vấn đề của CCHC đòi hỏi phải được giải quyết trong tổng thể các cuộc CC, đổi mới đang diễn ra ở nước ta. Mối quan hệ, chi phối lẫn nhau giữa CCHC, CC kinh tế, CC tư pháp, đổi mới hoạt động lập pháp và đổi mới từng bước hệ thống chính trị, nếu không được bảo đảm, thiếu đồng bộ sẽ ảnh hưởng tới tiến trình CC đổi mới nói chung và CCHC nói riêng. Nội dung và phương thức lãnh đạo của Đảng đối với NN nói chung và đối với cơ quan HC nói riêng cũng chậm đổi mới.

- Thứ tư, chưa có biện pháp, cơ chế tạo động lực, hưởng ứng CC của đa số cán bộ, công chức cũng như chưa xử lý nghiêm bộ phận cán bộ, công chức thoái hoá, kém phẩm chất trong thực thi công vụ.

* Các bài học kinh nghiệm

- Một là, về bảo đảm sự nhất quán, kiên trì liên tục trong triển khai CCHC bao gồm từ xây dựng chương trình, kế hoạch CCHC hàng năm của CP, các bộ, ngành TW và các tỉnh cần xác định rõ các mục tiêu, các nhiệm vụ và giải pháp bảo đảm thực hiện, đến tổ chức và kiểm tra thực hiện, đánh giá, kiểm điểm công tác CCHC phải dựa vào đánh giá những mục tiêu đã đề ra cũng như tác động tới XH thông qua công tác CCHC.

- Hai là, về công tác chỉ đạo triển khai thống nhất CCHC từ CP tới chính quyền ĐP các cấp đóng vai trò quyết định sự thành công của CC, do đó phải được duy trì và bảo đảm. Chương trình công tác, các cuộc họp của CP các bộ và UBND các cấp phải có phần về CCHC, coi đây là một nội dung quan trọng thường xuyên phải đề cập.

- Ba là, về sự thống nhất cao về nhận thức, tư tưởng và hành động trong CCHC xuất phát từ mức độ khó khăn, phức tạp của công tác này.

- Bốn là, về bảo đảm sự đồng bộ giữa CCHC với đổi mới từng bước hệ thống chính trị, với CC kinh tế, CC lập pháp và CC tư pháp.

- Năm là, về coi trọng công tác thí điểm, làm thử trong triển khai CC HC. Quá trình chuyển đổi sang kinh tế thị trường, chuyển sang nền HC phục vụ đặt ra nhiều vấn đề mới, chưa kết luận được ngay, nhưng thực tiễn đòi hỏi phải thực hiện. Thông qua thí điểm để có điều kiện đánh giá, sơ kết tổng kết, rút ra những vấn đề cần xử lý tiếp và nhân rộng nếu thấy đúng. Các cơ chế CC như “một cửa”, khoán . . . đã được hình thành qua phương thức thí điểm. Đây là bài học tốt cần chú ý trong giai đoạn II(2006 - 2010). .

- Sáu là, về XD và tổ chức thực hiện các Chương trình hành động. Trong giai đoạn I, các Chương trình hành động đặt ra quá nhiều mục tiêu, vừa quá sức vừa không thiết thực ở một số kết quả phải đạt tới. Việc tổ chức thực hiện các Chương trình hành động không gắn với tổ chức thực hiện các nhiệm vụ chính của các Bộ, ngành, do đó bị coi nhẹ. Cơ chế tổ chức thực hiện các Chương trình hành động, sự phân công, phối hợp giữa các bộ có liên quan chưa phù hợp với tính hệ thống của chương trình tổng thể làm ảnh hưởng tới kết quả và tính thời gian của sản phẩm các chương trình hành động.

2. Ý nghĩa cải cách HCNN (lý do):

- Là 1 công việc thường xuyên của bất kỳ 1 nn nào để nâng cao hiệu quả hoạt động HCNN, để đáp ứng được những biến động, thay đổi của tình hình trong nước và thế giới.

Công tác QLHCNN hiện nay đang đứng trước những thách thức nghiêm trọng, nhất là dân trí ngày càng cao, xã hội ngày càng pt, KH-CN ngày càng pt, các phát minh khoa học nhanh đến chóng mặt, làm cho nguyên tắc, pp, biện pháp quản lý NN không theo kịp, dẫn đến lạc hậu. Chức năng nhiệm vụ NN cũng thay đổi, từ chức năng bảo hộ, sx trong nước, bây giờ chuyển sang 1 chức năng khác thúc đẩy sx để xuất khẩu. Nhà nước từ thống trị trong nước, tức là đảm bảo được chế độ, nay chuyển sang thích ứng thông lệ quốc tế; Nhà nước kiểm soát XH sang phải tạo điều kiện thuận chi người dân tự do làm ăn, sinh sống…cho nên muốn kiểm soát, quản lý được thì buộc NN phải thay đổi.

- CCHC là 1 giải pháp quan trọng mang tính quyết định nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động QLNN, mà CCQLHCNN là một trong 3 nội dung lớn của đổi mới hệ thống chính trị, mà đổi mới hệ thống chính trị thì liên quan đến chế độ.

- CCHC ở nước ta vừa là đk đồng thời là động cơ thức đẩy KT-XH pt nhanh hơn, mạnh hơn. Nếu cơ chế quản lý phù hợp thì sẽ tạo cho cơ chế kinh tế pt nhanh và ngược lại. Trước đổi mới, chúng ta thực hiện cơ chế kế hoạch hóa tập trung. Khi chuyển sang kinh tế thị trường, thì do thị trường quyết định, tuy nhiên thị trường vẫn bị bóp méo do một số cơ chế quản lý chưa mở…Vì vậy yêu cầu phải cải cách hành chính.

- Là một giải pháp quan trọng để nâng cao tính cạnh tranh của nền kinh tế, đảm bảo cho nước ta vượt qua được những thách thức trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế.

- Ngăn ngừa và khắc phục tình trạng tham nhũng trong QLHCNN ta hiện nay.

3. Phương hướng CCHC

- Về cải cách thể chế.

Đổi mới cơ bản quy trình ban hành chính sách theo hướng làm rõ trách nhiệm của CP, các Bộ trong quá trình xây dựng thể chế, nâng cao chất lượng, tính đồng bộ của chính sách, khắc phục tình trạng luật chờ nghị định, nghị định chờ thông tư; Đẩy mạnh xây dựng và hoàn thiện thể chế phục vụ trực tiếp CCHC, đặc biệt là thể chế về tổ chức bộ máy, công chức, công vụ, phân cấp, tài chính công; CC mạnh mẽ thủ tục HC theo hướng đơn giản, thuận tiện cho dân, doanh nghiệp; nghiên cứu giảm thẩm quyền các Bộ, ngành TW ban hành thủ tục hành chính, xây dựng Luật về thủ tục HC; Triển khai thực hiện đồng loạt cơ chế “một cửa” tại cơ quan HC các cấp, bao gồm cả các cơ quan HC của TW.

- Về cải cách tổ chức bộ máy hành chính

Trên cơ sở xác định rõ chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan HCNN, điều chỉnh cơ cấu CP, các Bộ theo hướng giảm bớt các Bộ chuyên ngành về kinh tế, tiếp tục thực hiện chủ trương xây dựng bộ QL NN đa ngành, đa lĩnh vực, khắc phục chồng chéo chức năng, thẩm quyền giữa các cơ quan HC; Đơn giản hóa cơ cấu tổ chức các Bộ, đổi mới phương thức làm việc của các cơ quan HC; thực hiện các quy định mới về phân cấp QL HCNN giữa TW và ĐP, giữa các cấp chính quyền ĐP; tổ chức hợp lý và ổn định các đơn vị HC, định rõ chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền và tổ chức bộ máy chính quyền ở đô thị và nông thôn; CC các đơn vị sự nghiệp dịch vụ công, bảo đảm tách rõ hành chính với sự nghiệp, hoàn thiện thể chế tư chủ, tự chịu trách nhiệm của các đơn vị sự nghiệp dịch vụ công trong tổ chức và hoạt động.

- Về XD và nâng cao chất lượng đội ngũ CB, công chức

Rà soát, đánh giá đội ngũ công chức HC để cơ cấu lại công chức, bố trí lại theo từng vị trí, rõ chức trách; Xây dựng và đưa vào thực hiện phương pháp khoa học đánh giá kết quả công tác của cán bộ công chức; Xây dựng cơ chế, chính sách khuyến khích thu hút người có tài vào làm việc trong khu vực công, tạo động lực cho cán bộ, công chức làm việc có hiệu quả; Tăng cường kỷ luật, kỷ cương HC; xây dựng và áp dụng chế độ thanh tra, kiểm tra công vụ ở các cấp, kể cả chế độ trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan, đơn vị.

- Về hiện đại hóa nền hành chính

Áp dụng CNTT và hoạt động của các cơ quan HCNN, xây dựng vận bành nền HC điện tử; Triển khai hệ thống QL chất lượng trong hoạt động của cơ quan HCNN; Xây dựng, hoàn thiện Quy chế làm việc của các cơ quan HCNN; ban hành và thực hiện quy chế văn hóa công sở; Tiếp tục đổi mới phương thức điều hành theo hướng tăng cường khâu tố chức thực hiện và cơ chế hậu kiềm; Nâng cao chất lượng phục vụ nhân dân và từng bước xóa bỏ tình trạng quan liêu trong hoạt động của các cơ quan HCNN; Giải quyết xong tình trạng không có trụ sở hoặc trụ sở không đạt yêu cầu của chính quyền cấp xã.

- Về chỉ đạo, điều hành công tác CCHC

Đổi mới phương thức, nâng cao chất lượng chỉ đạo, điều hành công tác CCHC từ TW tới ĐP; Kiện toàn Ban Chỉ đạo CCHC các cấp.

4. Một số yêu cầu CCHCNN:

- Làm thay đổi được chức năng bộ máy QLHCNN trong nhận thức và hành động, từ quản lý để quản lý chuyển sang quản lý để phát triển.

- Cải cách phải đạt được mục tiêu là thay đổi chức năng của NN, từ người cung cấp dịch vụ công, trở thành người kiểm soát việc cung cấp dịch vụ công.

- Phải hướng tới hiệu quả, kết quả công việc chứ không bám vào thủ tục, qui định do chính mình đặt ra.

- Làm hạn chế tình trạng hướng nội, từng bước thúc đẩy chuyển sang hướng ngoại.

5. Các giải pháp CC HC

- Thứ nhất, tăng cường công tác chỉ đạo, điều hành CCHC thống nhất, đề cao vai trò trách nhiệm người đứng đầu cơ quan HC các cấp.

- Thứ hai, Thực hiện CCHC đồng bộ với đổi mới hệ thống chính trị.

- Thứ ba, thực hiện CC HC đồng bộ từ TW đến địa phương.

- Thứ tư, tăng cường nguồn lực cho CC HC.

- Thứ năm, tăng cường công tác thông tin, tuyên truyền.

Đại hội XI:

Đẩy mạnh cải cách hành chính, nhất là thủ tục hành chính; giảm mạnh và bãi bỏ các loại thủ tục hành chính gây phiền hà cho tổ chức và công dân. Nâng cao năng lực, chất lượng xây dựng và tổ chức thực hiện các cơ chế, chính sách. Đẩy mạnh xã hội hoá các loại dịch vụ công phù hợp với cơ chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.


Câu 11. So sánh QLNN về đô thị và nông thôn. Ở nước ta hiện nay cần xây dựng mô hình chính quyền đô thị không, tại sao ?.

1. Đặc điểm của đô thị và nông thôn:

- Đô thị: Mật độ dân số cao; lao động phi nông nghiệp là chủ yếu; là nơi đóng vai trò chủ đạo cho sự phát triển của một vùng, khu vực hay quốc gia. Người dân sống theo lối sống đô thị, mức sống cao hơn vùng nông thôn, các dịch vụ phát triển mạnh hơn và phong phú hơn.

- Nông thôn: Mật độ dân số thấp, nông nghiệp đóng vai trò chủ yếu. Người dân sống theo lối sống đơn giản của vùng nông thôn, mức sống thấp và trung bình, các dịch vụ không mạnh và không nhiều.

2. Chủ thể và đối tượng quản lý:

* Chủ thề quản lý:

- Cơ quan QLNN thẩm quyền chung:

+ Chính phủ: thống nhất quản lý qui hoạch Xây Dựng đô thị cả nước. Các bộ, ban, ngành có liên quan (Bộ XD…) giúp chính phủ quản lý.

+UBND tỉnh, TP trực thuộc TW quản lý địa bàn phụ trách. UBND TP thuộc tỉnh, thị xã, quận, huyện và UBND phường, thị trấn chịu trách nhiệm quản lý theo sự phân cấp hành chính trong địa bàn mình phụ trách.

- Cơ quan QLNN thẩm quyền riêng:

+ Các sở, ban, ngành của địa phương giúp UBND tỉnh thành phố trực thuộc TW ban hành các văn bản hướng dẫn thực hiện các quy định của chính phủ, của UBND tỉnh, TP trực thuộc TW và bộ, ngành về QLXD đô thị theo uỷ quyền của UBND tỉnh, TP trực thuộc TW.

Các cơ quan chuyên môn có trách nhiệm giúp UBND các cấp tương ứng quản lý QHXD đô thị theo uỷ quyền của UBND và cơ quan chuyên môn cấp trên.

Tuy nhiên cũng không tuyệt đối hóa lĩnh vực quản lý, đôi khi có những cơ quan QLNN cả về đô thị và cả về nông thôn.

* Đối tượng quản lý:

- Đô thị: đối tượng quản lý là người dân đô thị gọi là thị dân.

- Nông thôn: đối tượng quản lý là người dân vùng nông thôn gọi là nông dân.

3. Cơ sở chính trị - pháp lý:

* Chính trị:

Các Nghị quyết, văn kiện đại hội Đảng, cụ thể là:

- Văn kiện đại hội 10: Đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp và nông thôn, giải quyết đồng bộ các vấn đề nông nghiệp, nông thôn và nông dân

 Chuyển dịch mạnh cơ cấu nông nghiệp và kinh tế nông thôn theo hướng tạo ra giá trị gia tăng ngày càng cao, gắn với công nghiệp chế biến và thị trường; thực hiện cơ khí hoá, điện khí hoá, thuỷ lợi hoá, đưa nhanh tiến bộ khoa học kỹ thuật và công nghệ sinh học vào sản xuất, nâng cao năng suất, chất lượng và sức cạnh tranh, phù hợp đặc điểm từng vùng, từng địa phương. ...

- Nghị quyết số 26-NQ/T.Ư: Ngày 5-8, Tổng Bí thư Nông Ðức Mạnh đã ký ban hành Nghị quyết số 26-NQ/T.Ư "Về nông nghiệp, nông dân, nông thôn" do Hội nghị BCH Trung ương Ðảng lần thứ 7 họp từ ngày 9 đến 17-7 đã thảo luận và thông qua. Mục tiêu tổng quát: Không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của dân cư nông thôn, hài hoà giữa các vùng …Xây dựng nền nông nghiệp phát triển toàn diện theo hướng hiện đại, bền vững, sản xuất hàng hoá lớn…Xây dựng nông thôn mới có kết cấu hạ tầng kinh tế-xã hội hiện đại…

* Pháp lý:

- Về Đô thị, điển hình như:

Nghị định 29/2007/NĐ-CP về Quản lý kiến trúc đô thị.

Nghị định 64/2010/NĐ-CP về Quản lý cây xanh đô thị.

NĐ 60/CP ngày 5/7/1994 về nhà ở, đất ở, NĐ 61/CP ngày 5/7/1994 về mua bán, kinh doanh nhà ở và các văn bản pháp quy khác của TW và địa phương …

- Về nông thôn, điển hình như::

Ngày 08/01/2010, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 02/2010/NĐ-CP về khuyến nông. 

Ngày 12/4/2010, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Nghị định số 41/2010/NĐ-CP về chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn.

Nghị định Số: 61/2010/NĐ-CP ngày 04 tháng 6 năm 2010 về Chính sách khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn.

4. Nội dung QLNN:

* Khái quát: Có 4 nội dung khái quát như sau:

+ Ban hành VB QPPL làm cơ sở pháp lý cho QLNN.

+ Tổ chức thực hiện VB QPPL bao gồm: Tổ chức bộ máy, triển khai thực hiện, tuyên truyền phổ biến,…

+ Kiểm tra thực hiện VB QPPL.

+ Thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm, giải quyết khiếu nại tố cáo, …

* Cụ thể: Các nội dung cơ bản cụ thể như sau:

Về Đô thị:

1.Quản lý Nhà nước về qui hoạch XD đô thị.

+ Lập và xét duyệt quy hoạch XD đô thị.

+ QLNN về cải tạo và xây dựng công trình.

+ Trách nhiệm và quyền hạn quản lý quy hoạch và XD đô thị của các cấp chính quyền:

2. Quản lý Nhà nước về nhà ở, đất ở đô thị:

-nội dung quản lý nhà ở đô thị:

+ Ban hành các chính sách, quy chế, tiêu chuẩn về quy hoạch, thiết kế, xây dựng, sử dụng và quản lý nhà ở.

+ Lập kế hoạch xây dựng, phát triển nhà ở.

+ Quản lý, kiểm soát việc xây dựng, cải tạo nhà ở.

+ Cấp GCN quyền sở hữu nhà ở, điều tra, thống kê nhà ở.

+ Mua bán , chuyển nhượng nhà ở không mang tính chất kinh doanh.

+ Quản lý kinh doanh phát triển nhà.

+ Thanh tra, kiểm tra, xử lý các vi phạm và giải quyết các tranh chấp về nhà ở.

  • nội dung quản lý đất ở đô thị:

+ Điều tra, khảo sát, đo đạc, lập bản đồ địa chính và giá đất ở đô thị.

+ Lập quy hoạch và kế hoạch sử dụng đất đô thị.

+ Giao đất, cho thuê đất đô thị, cấp giấy CN quyền sử dụng đất, thu hồi đất.

+ Làm thủ tục chuyển quyền sử dụng đất.

+ Thống kê, cập nhật các biến động về sử dụng đất ở đô thị.

+ Ra các văn bản hướng dẫn quản lý đất đô thị và ngoại đô.

+ Thanh tra, kiểm tra, giải quyết khiếu nại về đất ở

3. QLNN về hạ tầng kỹ thuật đô thị

- Về giao thông vận tải đô thị:

+ Xây dựng và hoàn chỉnh hệ thống pháp luật và văn bản pháp quy của ngành giao thông vận tải.

+ Ban hành các quy định về an toàn giao thông vận tải đô thị.

+ Phân công phân cấp và xây dựng cơ chế phối hợp quản lý.

+ Tổ chức phân luồng, phân tuyến, phân cấp loại đường đô thị, quản lý sử dụng đường đô thị.

+ Xây dựng các chính sách nhằm khai thác các tiềm năng, khuyến khích các thành phần kinh tế tham gia phát triển giao thông vận tải.

+ Thanh tra, kiểm tra, xử lý các vi phạm.

+ Tuyên truyền, giáo dục nâng cao ý thức chấp hành pháp luật về giao thông cho người dân đô thị.

- QLNN về cung cấp nước sạch đô thị.

- QLNN về thoát nước đô thị.

- QLNN về cấp điện, chiếu sáng công cộng.

4. QLNN về bảo vệ cảnh quan và môi trường đô thị:

5. QLNN về một số lĩnh vực hạ tầng xã hội và an ninh, trật tự an toàn xã hội.

Về Nông thôn:

1.Quản lý về nông nghiệp và kinh tế nông thôn.

2.Quản lý về quy hoạch các điểm dân cư nông thôn.

- Quản lý quy hoạch các điểm dân cư :

+ Ban hành các quy định về quy hoạch xây dựng và quản lý quy hoạch xây dựng các điểm dân cư ; Lập quy hoạch xây dựng điểm dân cư nông thôn.

- Quản lý đất đai, xây dựng và môi trường trong các điểm dân cư:

+ Tổ chức giao đất và cho thuê đất, cấp giấy chứng nhận sử dụng đất nông nghiệp, đất ở theo quy định của luật đất đai và các văn bản pháp quy khác;

+ Chính quyền địa phương, các nhà chuyên môn tư vấn việc xây dựng, cải tạo công trình kiến trúc nhà ở;

+ Quản lý xây dựng hạ tầng kỹ thuật .

+ Bảo vệ môi trường, vệ sinh công cộng bằng cách tổ chức quản lý từ khâu bàn bạc, ban hành quy chế, nội quy, hương ước, ký kết hợp đồng thực hiện với tổ chức xã hội, cá nhân theo chế độ thầu khoán và duy trì phong trào toàn dân đóng góp tham gia.

- Ql các vấn đề về xã hội, an ninh và trật tự nông thôn:

+ Thực hiện các chính sách xã hội: xoá đói giảm nghèo, CS đối với gia đình có công với cách mạng, CS dân số KHHGĐ; CS phát triển giáo dục đào tạo, y tế, văn hoá nâng cao dân trí, phát triển nguồn nhân lực, xây dựng nông thôn mới;

+ Có biện pháp hạn chế các tệ nạn xã hội ở nông thôn;

+ Thực hiện quy chế dân chủ thực sự ở nông thôn.

3. Quản lý về xây dựng kết cấu hạ tầng ở nông thôn

- Quản lý kết cấu hạ tầng kỹ thuật:

+ PT thuỷ lợi theo hướng đa dạng hoá mục tiêu;

+ Giao thông nông thôn: phát triển theo hướng thành mạng lưới nối liền mạng quốc gia thông suốt mọi thời tiết.

+ Hệ thống điện: Nhà nước hỗ trợ một phần cùng sức dân, khuyến khích nhà đầu tư trong và ngoài nước.

+ Cấp nước sạch sinh hoạt bằng nhiều hình thức.

+ Thoát nước, chống ô nhiễm gây hại sức khoẻ nhân dân.

- Quản lý kết cấu hạ tầng xã hội:

+ Gồm: nhà trẻ, trường học, nhà văn hoá, các cơ sở phòng chữa bệnh, sinh hoạt văn hoá…

+ Nhà nước và chính quyền ban hành các chính sách và biện pháp quản lý để hạn chế các tiêu cực do thị trường gây ra;

+ Thực hiện phương châm “nhà nước và nhân dân cùng làm”.

+ Nhà nước tạo điều kiện cho vay lãi suất ưu đãi, giảm nhẹ thuế nông nghiệp, ưu tiên tiếp nhận dự án tài trợ nước ngoài về phát triển nông thôn

5. Mục tiêu:

* Mục tiêu riêng:QLNN về nông thôn nhằm đạt mục tiêu là xây dựng nông thôn mới có kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội từng bước hiện đại; cơ cấu kinh tế và các hình thức tổ chức sản xuất hợp lí, gắn nông nghiệp với phát triển nhanh công nghiệp, dịch vụ; gắn phát triển nông thôn với đô thị theo quy hoạch; đồng thời đời sống vật chất và tinh thần của người dân ngày càng được nâng cao.

QLNN về đô thị nhằm mục tiêu từng bước xây dựng hoàn chỉnh hệ thống đô thị Việt Nam phát triển theo mô hình mạng lưới đô thị; có cơ sở hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội phù hợp, đồng bộ, hiện đại; có môi trường và chất lượng sống đô thị tốt; có nền kiến trúc đô thị tiên tiến, giàu bản sắc; có vị thế xứng đáng, có tính cạnh tranh cao trong phát triển kinh tế - xã hội quốc gia, khu vực và quốc tế, góp phần thực hiện tốt hai nhiệm vụ chiến lược là xây dựng xã hội chủ nghĩa và bảo vệ tổ quốc.

* Mục tiêu chung:Mục tiêu xây dựng thành công sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Phát triển và phân bố hợp lý trên địa bàn cả nước, tạo ra sự phát triển cân đối giữa các vùng. Tạo mối liên kết đô thị - nông thôn, bảo đảm chiến lược an ninh lương thực quốc gia; nâng cao chất lượng đô thị, bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống phù hợp từng giai đoạn phát triển chung của đất nước, thực hiện dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.


Câu 12. Nguyên tắc Đảng lãnh đạo tổ chức và hoạt động của bộ máy HCNN Việt nam (cho ví dụ để làm rõ).

1. Nguyên tắc Đảng lãnh đạo trong quản lý HCNN:

Thực tế lịch sử đã chỉ rõ sự lãnh đạo của ĐCS là hạt nhân của moị thắng lợi của CM nước ta. Bàng những hình thức và phương pháp hoạt động của mình ĐCS giữ vai trò quyết định đối với việc xác định phương hướng hoạt động của Nhà nước trên mọi lãnh vực. Sự lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước mang tính toàn diện cả về chính trị, kinh tế, tư tưởng, văn hóa, KHKT, …. Tuy vậy, sự lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước không đồng nghĩa với việc can thiệp của Đảng vào hoạt động chuyên môn nghiệp vụ của các cơ quan Nhà nước, mà Đảng chỉ định hướng chính trĩ về đường lối quan điểm, phương châm cộng sản, công tác tổ chức lên trên công tác chuyên môn. Hơn nữa sự lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước không phải là không có giới hạn. Hiến pháp nước ta đã xác định rõ “Mọi tổ chức của Đảng hoạt động trong khuôn khổ hiến pháp và pháp luật “ (Điều 4 - Hiến pháp nước CHXHCN VN); Quy định này không những không phủ nhận vai trò của Đảng đối với Nhà nước mà còn nêu cao uy tín lãnh đạo của tổ chức này.

Nhìn vào thành qủa cách mạng, đặc biệt là trong công cuộc đổi mới hiện nay chúng ta khẵng định hoạt động của Đảng đối với hoạt động Quản lý Nhà ước là điều tất yếu khách quan, vì vậy sự lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước là một nguyên tắc được đặt lên hàng đầu của Quản lý hành chính Nhà nước và cũng tại Điều 4 Hiến pháp nước ta đã khẳng định “ĐCS VN đội tiên phong của giai cấp công nhân VN, đại biểu trung thành cho quyền lợi của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc, theo Chủ nghĩa Mác - Lêni và tư tưởng Hồ Chí Minh, là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và XH”.

* Nội dung nguyên tắc Đảng lãnh đạo trong quản lý HCNN:

Nguyên tắc này được đưa ra từ ĐH IV của Đảng CS VN và được hoàn thiện dần qua các ĐH VI, VII, VIII, IX và X với nội dung cụ thể như sau:

- Đảng lãnh đạo bằng đường lối, chính sách chủ trương, nghị quyết của Đảng về các lĩnh vực hoạt động khác của quản lý HCNN. Các vấn đề quan trọng của quản lý Nhà nước đều cần có đường lối, chủ trương của các tổ chức Đảng. Từ chi bo cơ sở đến các cấp ủy Đảng, việc đưa ra phương hướng hoạt tạo tiền đề cơ sở quan trọng để các chủ thể quản lý HCNN có thẩm quyền thể chế hóa thành văn bản pháp luật thực hiện trong quản lý HCNN. Điều 22 Luật ban hành văn bản pháp luật quy định “chương trình xây dựng luật, pháp lệnh được xây dựng trên cơ sở đường lới chủ trương của Đảng, chiến lược phát triển KT-XH”. Khi quyết định vấn đề trong quản lý HCNN bao giờ cũng dựa trên chủ trương chính sách của Đảng; Tuy vậy cần nhấn mạnh rằng: Nghị quyết của Đảng không phải là văn bản mang tính quyền lực pháp lý nên muốn thực hiện phại thông qua quyền lực của Nhà nước; Qua những hoạt động này đường lới chủ trương chính sách của Đảng mới được thực hiện, cụ thể hoá trong quản lý HCNN

- Đảng lãnh đạo thông qua công tác tổ chức cán bộ. Đây là công việc có vai trò đặc biệt quan trọng ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả quản lý HCNN. Vì lẽ đó, một trong những nguyên tắc về quản lý CBCC được quy định tại Điều 5 của Luật Cán bộ, Công chức có hiệu lực kể từ ngày 01/10/2010 có quy định “Nguyên tắc quản lý CBCC phải bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng công sản Việt Nam”. Đồng thời, nội dung quản lý CBCC và thẩm quyền quyết định biên chế CBCC cũng được quy định rõ tại điều 65, 66 và 67 của Luật CBCC, tại Điều 66 có nêu rõ “Thẩm quyền quyết định biên chế cán bộ được thực hiện theo quy định của pháp luật và cơ quan có thẩm quyền của Đảng Công sản Việt Nam”.

- Đảng lãnh đạo không chỉ bằng đường lới chủ trương chính sách, công tác tổ chức cán bộ mà còn thông qua công tác kiểm tra việc thực hiện nhằm đánh giá tính hiệu quả, tính thực tế của các chính sách mà Đảng đề ra đảm bảo cho các hoạt động của các tổ chức Đảng có tính thông tin 2 chiều để có biện pháp uốn nắn kịp thời là cho hoạt động quản lý HCNN đi đúng định hướng phù hợp lợi ích giai cấp, lợi ích dân tộc.

Cùng với những hình thức trên, sự lãnh đạo của Đảng trong quản lý HCNN còn thực hiện thông qua: vai trò tiên phong gương mẫu của các tổ chức Đảng và Đảng viên trong tất cả các cơ quan quản lý HCNN. Chính điều đó đã tạo cơ sở quan trọng đề nâng cao uy tín của Đảng đối với nhân dân, với cơ quan Nhà nước nhằm làm cho tổ chức Đảng trở thành hạt nhân lãnh đạo trong cơ quan quản lý HCNN.

Điều này thể hiện rõ hơn trong văn kiện Đại hội toàn quốc lần thứ IX: đã đưa ra thêm 2 nguyên tắc Đảng lãnh đạo trong quản lý HCNN của ta làø:

- Cố gắng tạo điều kiện nhất nguyên hóa chức danh bên Đảng và bên nhà nước.

- Các cấp ủy viên trực tiếp đối thoại với dân về những vấn đề, những lĩnh vực mà mình phụ trách.

Và tại Đại hội X, một lần nữa Đảng ta khẳng định được tầm quan trọng trong công tác tổ chức và hoạt động của mình đối với bộ máy HCNN, thể hiện rõ ở việc “Phát huy quyền làm chủ XH của nhân dân, đảm bảo vai trò quản lý, điều tiết nền kinh tế của Nhà nước pháp quyền XHCN dưới sự lãnh đạo của Đảng”. Đồng thời, cần đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng, thể hiện ở “Đảng lãnh đạo nhưng không bao biện, làm thay nhà nước”“Thống nhất việc lãnh đạo của Đảng đối với công tác cán bộ trong hệ thống chính trị, thực hiện luân chuyển cán bộ, khắc phục tình trạng khép kính, cục bộ về cán bộ. Tăng cường trách nhiệm của cán bộ Đảng viên là thủ trưởng cơ quan nhà nước”.

* Ý nghĩa:

- Xét về chính trị: Đây là một nguyên tắc có ý nghĩa chính trị, nó thể hiện sự tín nhiệm và tôn vinh của nhân dân, của dân tộc đối với Đảng Cộng sản VN. Sự tôn vinh này thông qua một quá trình lịch sử từ khi mới được thành lập Đảng cho đến nay; và Đảng ta luôn đưa ra đường lối, chủ trương đều vì quyền lợi của nhân dân và dân tộc ta, không vì lợi ích riêng của Đảng.

- Ở góc độ pháp lý: Đảng lãnh đạo đã được quy định trong điều IV của hiến pháp nước CHXH VN.

2. Để phân biệt văn bản nào là văn bản quản lý NN thì chúng ta phải căn cứ vào tính chất pháp lý, dựa vào căn cứ này thì quyết định hành chính được chia thành: quyết định chủ đạo, quyết định quy phạm và quyết định cá biệt. Căn cứ vào loại văn bản và chủ thể ban hành để xác định, thì văn bản quản lý nhà nước (hay quyết định hành chính), bao gồm:

- Nghị quyết, Quyết định của chính phủ.

- Chỉ thị, Quyết định của bộ trưởng.

- Quyết định của UBND các cấp.

Ví dụ:

- Quyết định công nhận tốt nghiệp.

- Quyết định cấp nhà.

- Quyết định xử phạt hành chính.

- Chỉ thị phòng chống lụt bão.

Ví dụ: để làm rõ nguyên tắc Đảng lãnh đạo tổ chức và hoạt động của bộ máy HCNN Việt Nam.

- Mỗi đc tự đưa ra ví dụ cho riêng mình;

Câu 13. So sánh cán bộ, công chức, viên chức. Thực trạng đội ngũ cán bộ công chức ở Việt Nam hiện nay?


1. So sánh cán bộ, công chức, viên chức:

- Khái niệm:

+ Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh trong cơ quan của ĐCSVN, NN, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc QĐND, CAND và trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước; Công chức cấp xã: được tuyển dụng giữ 1 chức danh chuyên môn nghiệp vụ thuộc UBND cấp xã, phường, thị trấn, được hưởng lương từ ngân sách nhà nước (khỏan 2 và 3, Điều 4, Luật cán bộ công chức 2008)

+ Cán bộ là công dân Việt Nam, được bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị – xã hội ở trung ương, ở tỉnh, thành; quận, huyện, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước.

+ Viên chức: (Theo Dự thảo Luật Viên chức, dự kiến có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 01 năm 2011) là người được tuyển dụng, bổ nhiệm một chức danh nghề nghiệp, chức vụ quản lý trong đơn vị sự nghiệp công lập theo vị trí việc làm và hưởng lương từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật..

- Phân biệt giống nhau, khác nhau:

* Giống nhau:

- Là công dân Việt Nam.

- Được hưởng lương từ ngân sách nhà nước.

* Khác nhau:

Cán bộ, Công chức: - Trong biên chế (số lượng biên chế do cấp có thẩm quyền quyết định cho 01 đơn vị theo chức năng, nhiệm vụ được giao); - Được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh (Riêng cán bộ thì không tuyển dụng, cán bộ được phê chuẩn, bổ nhiệm). - Làm việc tại các cơ quan nhà nước, của Đảng, tổ chức chính trị xã hội, một số đối tượng làm việc tại cơ quan, đơn vị thuộc Q.Đội nhân dân, CAND; làm việc tại đơn vị sự nghiệp với vai trò quản lý. - Được điều chỉnh bằng Luật cán bộ công chức năm 2008 và các văn bản hướng dẫn dưới luật.


Viên chức: - Được định biên về số lượng biên chế sự nghiệp, báo cáo cấp có thẩm quyền quyết định, phê duyệt. - Tuyển dụng dưới hình thức hợp đồng làm việc. - Làm việc tại các đơn vị sự nghiệp. - Hiện nay còn thực hiện theo Pháp lệnh cán bộ công chức năm 1998, sửa đổi bổ sung năm 2003 và NĐ 116/2003/NĐ-CP đã hết hiệu lực.

2. Thực trạng đội ngũ cán bộ, công chức nước ta hiện nay

Chất lượng đội ngũ cán bộ công chức nước ta hiện nay tuy đã cơ bản đủ về số lượng và được đào tạo về chuyên môn nghiệp vụ. Tuy nhiên, qua đánh giá năng lực thực hiện nhiệm vụ của cán bộ công chức, có những mặt đạt được và hạn chế, yếu kém sau:

- Những kết quả đạt được: Về chất lượng, phần lớn đội ngũ cán bộ, công chức hiện đang công tác đã được rèn luyện, thử thách qua quá trình đấu tranh giải phóng dân tộc, xây dựng đất nước có bản lĩnh chính trị vững vàng, trung thành với sự nghiệp cách mạng. Kiến thức, trình độ chuyên môn nghiệp vụ và năng lực hoạt động thực tiễn của đội ngũ cán bộ, công chức từng bước được nâng cao về mọi mặt, góp phần tích cực vào thành công của sự nghiệp đổi mới đất nước trong giai đoạn vừa qua.

Đội ngũ CBCC ngày càng phát triển mạnh mẽ cả về số lượng cũng như chất lượng. Từ một đội ngũ mỏng và yếu, ít được đào tạo trong thời kỳ chiến tranh đến một đội ngũ lớn mạnh đáp ứng được yêu cầu ngày càng cao của thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa, hội nhập kinh tế quốc tế. Trình độ đào tạo ngày càng được nâng cao, kỹ năng làm việc được tăng cường đã tạo ra sự tự tin của CBCC trong thực thi nhiệm vụ.

Công tác xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức trong 20 năm đổi mới đã có những chuyển biến quan trọng về nhận thức, quan điểm tư tưởng, được thể hiện trong cơ chế, chính sách, pháp luật từ khâu tuyển dụng, đào tạo và quản lý, từng bước đã đáp ứng được yêu cầu phát triển kinh tế- xã hội của đất nước.

- Những hạn chế yếu kém:

+ Chưa có đội ngũ cán bộ, công chức hành chính ổn định và chuyên nghiệp. Trình độ và năng lực của đội ngũ cán bộ công chức chưa ngang tầm với yêu cầu nhiệm vụ, còn bất cập hẫng hụt về nhiều mặt: tri thức và năng lực quản lý nhà nước về xã hội, kinh tế thị trường, pháp luật, hành chính, kỹ năng thực thi công vụ cũng như khả năng vận dụng khoa học công nghệ hiện đại trong công tác quản lý còn rất hạn chế

+ Tinh thần trách nhiệm, ý thức tổ chức kỷ luật của một bộ phận cán bộ, công chức còn yếu, phong cách làm việc chậm đổi mới; tinh thần phục vụ nhân dân chưa cao; tệ quan liêu tham nhũng, sách nhiễu dân chưa được ngăn chặn gây nên sự trì trệ, trở ngại lớn cho công cuộc cải cách, làm giảm hiệu lực của bộ máy nhà nước

+ Số lượng, cơ cấu đội ngũ cán bộ, công chức chưa đáp ứng được yêu cầu trước mắt và lâu dài; tình trạng hẫng hụt giữa các thế hệ cán bộ, công chức trong mỗi cơ quan, đơn vị còn phổ biến; thiếu đội ngũ cán bộ, nòng cốt kế cận có trình độ chuyên môn cao và các chuyên gia hoạch định chính sách ở các cấp. Đặc biệt là ở những vùng sâu, vùng xa và miền núi, hải đảo, đại bộ phận cán bộ, công chức yếu về năng lực, trình độ chuyên môn, thiếu nguồn nhân lực bổ sung vào bộ máy hành chính

+ Việc bố trí cán bộ, công chức ở nhiều cơ quan, đơn vị chưa có tỷ lệ phù hợp với đặc điểm, tính chất và yêu cầu chuyên môn nghiệp vụ của mỗi loại cơ quan, tổ chức nhà nước. Tiêu chuẩn chức danh chuyên môn nghiệp vụ các nghạch công chức chưa được bổ sung, sửa đổi, hoàn chỉnh phù hợp với đặc điểm, yêu cầu của từng loại công chức

+ Cơ chế quản lý, sử dụng và chế độ chính sách đối với cán bộ, công chức còn nhiều bất hợp lý, chưa tạo được động lực khuyến khích đội ngũ cán bộ, công chức đề cao trách nhiệm, phấn đấu rèn luyện nâng cao phẩm chất đạo đức, năng lực công tác

Tóm lại: việc chỉnh đốn và nâng cao chất lượng và trình độ của đội ngũ công chức trong thời đại mới là cần thiết trong xu thế hội nhập toàn cầu.Với rất nhiều những nhược điểm cần phải sửa chữa cả về mặt tổ chức quản lý và cá nhân các công chức thì chúng ta không thể thực hiện tốt công cuộc đổi mới đất nước và cải cách hành chính hiện nay. Đặc biệt khi Việt Nam đã gia nhập WTO thì chúng ta cần có những biện pháp, giải pháp cần thiết nhằm nâng cao năng lực của đội ngũ công chức để đáp ứng được sự phát triển của nền kinh tế xã hội, văn hoá, chính trị... của đất nước.


Câu 14. Xây dựng đề cương của một đề án giải quyết một vấn đề mà bạn cho là bức xúc, nổi cộm cần giải quyết khi thực hiện QLHCNN ?

UBND HUYỆN B

UBND XÃ A

Số: 1001/ĐA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc


Xã A, ngày 06 Tháng 07 năm 2010

ĐỀ ÁN

Về việc lập lại trật tự an toàn xã hội trên địa bàn xã A huyện B tỉnh C trong sáu tháng cuối năm 2010

-----

I- Mô tả hiện trạng - kết cấu – nguyên nhân

Trong 6 tháng đầu năm 1994 tình hình an ninh trật tự trên địa bàn xã A có chiều hướng xấu đi. Nạn đua xe của các băng nhóm thanh niên thường xảy ra trên trục lộ 832 làm cản trở lưu thông và gây tai nạn cho người đi đường. Việc xây cất nhà lấn chiếm đất công, lấn chiếm lòng lề đường, xây trên cống rãnh, đường thoát nước không theo quy hoạch khá phổ biến làm tắt nghẽn cống rãnh, gây ngập úng, ảnh hưởng đến cảnh quan, môi trường khu dân cư tập trung. Tệ nạn rượu chè say xưa đập phá, đánh nhau gây thương tích liên tục xảy ra, các quán cà phê video, các điểm dịch vụ kinh doanh quá giờ quy định làm ảnh hưởng đến giờ giấc nghỉ ngơi của nhân dân lao động.

Qua báo cáo sơ kết 6 tháng cuối đầu năm 2010 của ngành công an đã xảy ra 12 vụ đua xe gắn máy gây 4 vụ tai nạn làm 3 người đi đường bị thương nặng; 24 vụ uống rượu gây rối; 22 căn hộ xây cất không phép, lấn chiếm đất công; 19 điểm kinh doanh Karaoke quá giờ quy định.

II- Mục đích – mục tiêu – kết quả cần đạt được.

Để khắc phục tình trạng trên và lập lại trật tự xã hội trên địa bàn xã A, từ nay đến cuối năm 2010 Uỷ ban nhân dân xã A xây dựng đề án “Lập lại trật tự an toàn xã hội trong 6 tháng cuối năm 2010 với mục tiêu cơ bản như sau:

Mục tiêu chính của đợt công tác này là nhằm lập lại trật tự an toàn xã hội trên địa bàn xã A. Qua đó rút ra những bài học kinh nghiệm trong công tác quản lý trật tự xã hội trên địa bàn trong những năm tới. Cùng huyện củng cố và chấn chỉnh lại việc xây cất trái phép, không phép, không theo quy hoạch để đảm bảo vẽ mỹ quan chung, không ảnh hưởng đến việc quy hoạch trong kế hoạch 5 năm sắp tới 2010 – 2015 của xã A.

Mục tiêu cụ thể:

Nhiệm vụ cụ thể trong đợt công tác này là làm thế nào triệt phá cho được các băng nhóm đua xe gây mất trật tự đường 832, ngăn chặn kịp thời các trường hợp uống rượu gây rối, không để phát sinh các trường hợp xây cất trái phép, tháo gỡ và phục hồi hiện trạng các công trình lấn chiếm lòng lề đường làm cản trở giao thông, ách tắc đường thoát nước, dẹp bỏ các lều quán bán dọc theo trục lộ gây mất an toàn giao thông.

Yêu cầu các quán ăn, các điểm kinh doanh dịch vụ karaooke, dịch vụ giải trí Internet hoạt động đúng giờ quy định.

Lập danh sách các thanh niên thường hay nhậu nhẹt quậy phá để có biện pháp giáo dục và ngăn chặn kịp thời, kiên quyết xử lý nghiêm đối với các hộ, các cá nhân cố tình vi phạm.

III- Giải pháp và hoạt động.

- Để thực hiện có hiệu quả đợt công tác này đòi hỏi toàn thể cán bộ công nhân viên tích cực tham gia, nhất là lực lượng công an, xã đội, dân quân tự vệ.

- Văn hoá thông tin thường xuyên tuyên truyền chủ trương chung của địa phương trong đợt công tác này nhằm làm cho các đối tượng biết và nhân dân nắm rõ để phối hợp cùng chính quyền thực hiện.

Uỷ ban nhân dân xã A thành lập 3 tổ lập biên bản vi phạm gồm các đồng chí có tên sau đây:

Tổ 1:

1. Lê Văn A – Phó Công an xã : Tổ trưởng

2. Nguyễn Văn B- đội trưởng DQTV: Thành viên

3. Hà Văn C – Công an viên : Thành viên.

Nhiệm vụ của tổ 1 có trách nhiệm theo dõi ngăn chặn trước các vụ đua xe gắn máy trên tuyến trục lộ 832, hạn chế đến mức tối đa các vụ việc xảy ra, phối hợp cùng Công an giao thông trật tự huyện lập biên bản tạm giữ các phương tiện của các đối tượng vi phạm, để huyện có biện pháp xử lý theo pháp luật.

Tổ 2:

1. Trần Văn D- PCT Uỷ ban nhân dân xã: Tổ trưởng

2. La thị E- Công an viên: Thành viên

3. Tạ Văn G – Cán bộ tư pháp: Thành viên.

Nhiệm vụ cả tổ 2 có trách nhiệm lập biên bản các trường hợp xây cất lấn chiếm lòng lề đường, lấn chiếm đất công …. phối hợp cùng Đội quy tắc huyện tháo gỡ các nhà xây cất trái phép, không phép, các nhà đã có quyết định tháo gỡ nhưng chưa thực hiện. Mọi trường hợp vi phạm mới phát sinh phải lập đầy đủ thủ tục chuyển cơ quan có chức năng có thẩm quyền xử lý theo pháp luật.

Tổ 3:

1. Đổ thị thúy H- Phó công an xã: Tổ trưởng

2. Bùi Văn K- Trưởng ban VHTT: Thành viên

3. Trần đình L- Quản lý trật tự: Thành viên.

Nhiệm vụ cả tổ 3 có trách nhiệm lập biên bản các trường hợp kinh doanh trái phép, không phép, lấn chiếm lòng lề đường, kiên quyết đình chỉ kinh doanh đối với các hộ kinh doanh karaoke, các quán cà phê video, dịch vụ video không phép và tạm đình chỉ các trường hợp có phép mà vi phạm giờ quy định, đề nghị cơ quan chức năng có thẩm quyền xử lý hành chính theo luật định.

Đối với các hộ gia đình có cán bộ công nhân viên vi phạm, hoặc cố tình vi phạm, thì liên hệ với các cơ quan nơi họ làm việc để phối hợp cùng đơn vị, thuyết phục giáo dục và có biện pháp hỗ trợ cho địa phương.

Hàng tháng tổng hợp báo cáo công việc đã thực hiện được, việc chưa thực hiện được, những khó khăn, thuận lợi trong quá trình thực hiện nhiệm vụ báo cáo với thường trực UBND xã A, để Uỷ ban nhân dân xã A kịp thời chỉ đạo và giải quyết.

Cuối đợt công tác sơ tổng kết rút ra bài học kinh nghiệm để tiếp tục thực hiện cho năm tới trong công tác quản lý trật tự xã hội trên địa bàn xã A.

Khen thưởng kịp thời các cá nhân có thành tích nổi bật trong đợt công tác, đồng thời nghiêm khắc phê bình các đồng chí có hiện tượng tiêu cực, cố tình không thực hiện nhiệm vụ được giao.

Với những nội dung và biện pháp vừa nêu trên, sau khi đã được phổ biến, toàn thể cán bộ công nhân viên và các cá nhân có tên trên có trách nhiệm thực hiện nhiệm vụ được giao.

T/M UỶ BAN NHÂN DÂN XÃ

CHỦ TỊCH

Câu 15. Thực trạng Bộ máy hành chính Nhà nước. Những giải pháp hoàn thiện?

1. Những thành tựu:

- Kết quả quan trọng của CCHC thời gian qua là chức năng, nhiệm vụ và cơ cấu tổ chức của các cơ quan trong hệ thống HCNN được điều chỉnh, sắp xếp phù hợp hơn, QLNN ngày càng tốt hơn trong điều kiện mới.

Việc điều chỉnh chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan HCNN đã chú trọng sự phù hợp với tình hình thực tế, bao quát hết các lĩnh vực cần QLNN, khắc phục sự trùng lắp, chồng chéo về chức năng, nhiệm vụ. Đã thực hiện việc phân cấp mạnh hơn cho chính quyền địa phương về quản lý tài chính, ngân sách, đầu tư, xây dựng, đất đai, y tế, giáo dục, tổ chức, cán bộ…Chính phủ, các Bộ, Ngành TW tập trung vào chức năng QLNN ở tầm vĩ mô là xây dựng thể chế, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, điều hành tổ chức thực hiện về kiểm tra, thanh tra. Đã thực hiện việc đẩy mạnh sắp xếp đổi mới doanh nghiệp và các đơn vị sự nghiệp công, tăng quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm của các doanh nghiệp và các đơn vị sự nghiệp, giảm mạnh sự can thiệp và điều hành cụ thể của cơ quan hành chính đối với doanh nghiệp Nhà nước và đơn vị sự nghiệp công.

- Cơ cấu trong các cơ quan của Chính phù và chính quyền địa phương cũng đã có bước điều chỉnh mạnh, giảm đầu mối tổ chức, khắc phục tình trạng phân tán và nhiều tầng nấc trung gian. Kết quả quan trọng nhất của việc điều chỉnh chức năng, nhiệm vụ và săp xếp tổ chức các cơ quan HCNN là xác định rõ và ngày càng phù hợp hơn về vai trò và chức năng của NN trong cơ chế kinh tế thị trường định hướng XHCN; bộ máy HCNN từ TW đến địa phương từng bước được tăng cường và đã hoạt động ngày càng có hiệu lực, hiệu quả và thong suốt hơn.

2. Những hạn chế:

- Mặc dù đã qua một số lần điều chỉnh, nhưng nhìn chung, chức năng, nhiệm vụ của Chính phủ, các Bộ, của các cấp chính quyền vẫn chưa đủ rõ và phù hợp với yêu cầu, nhiệm vụ và cơ chế quản lý mới. Tư tưởng bao cấp và giành quyền làm mọi việc vẫn còn khá phổ biến trong các cơ quan HCNN. Trong khi đó vẫn còn một số lĩnh vực, công việc không rõ trách nhiệm QLNN của cơ quan nào, dẫn đến những lung túng, chậm trễ trong quản ly, điều hành. Mối quan hệ giữa Nhà nước với thị trường, giữa Nhà nước với doanh nghiệp, nhất là với doanh nghiệp Nhà nước, cũng như giữa quản lý của Nhà nước với tự quản của người dân trong xã hội… trên nhiều lĩnh vực vẫn chậm được làm rõ.

- Vẫn còn nhiều trùng lắp, chồng chéo về thẩm quyền, trách nhiệm QLNN giữa các Bộ, Ngành trong Chính phủ và giữa các Bộ, Ngành vơi chính quyền địa phương trên một số lĩnh vực chậm được khắc phục. Việc thực hiện phân cấp theo ngành và lĩnh vực giữa TW và địa phương, giữa cac cấp chính quyền địa phương vẫn còn chậm, chưa đạt mục tiêu và yêu cầu đề ra; mặt khác, việc phân cấp cũng chưa đi liền với việc tăng cường quản lý thống nhất và nâng cao năng lực cho cơ quan được phân cấp và kiểm tra, thanh tra việc thực hiện.

- Số lượng các cơ quan của Chính phủ mặc dù đã giảm, nhưng nhìn chung vẫn còn nhiều đầu mối, tạo ra sự trùng lắp và chia cắt trong quàn lý, gây khó khăn, chậm trễ trong phối hợp hành động, làm hạn chế hiệu lực, hiệu quả trong chỉ đạo điều hành. Tổ chức bên trong của cac Bộ, Ngành TW có chiều hướng chia nhỏ các lĩnh vực công tác để lập thêm tổ chức và có xu hướng tìm mọi lý do để nâng cấp tổ chức không hợp lý.

- Chưa làm thật rõ chức năng, nhiệm vụ của chính quyền các cấp nên tổ chức bộ máy của chính quyền địa phương vẫn chưa ổn định, thiếu sự phân biệt rành mạch giữa tổ chức bộ máy của chính quyền đô thị và chính quyền nông thôn, giữa các địa phương có quy mô và tính chất khác nhau. Tổ chức và hoạt động của chính quyền cấp cơ sở vẫn chưa thật hợp lý, chưa thật gắn bó sâu sát với cộng đồng dân cư.

3. Những giải pháp hoàn thiện Bộ máy hành chính Nhà nước:

Để khắc phục những hạn chế vừa nêu, cần nhanh chóng triển khai một số nội dung cụ thể:

Một là, điều chỉnh, xác định rõ chức năng của từng cơ quan HCNN. Đây là một nhiệm vụ, một công việc chúng ta phải tiến hành không chỉ trước mắt mà còn cả trong một thời gian trong những năm tới. Bước chuyển từ nền kinh tế tập trung kế hoạch hóa sang nền kinh tế thị trường định hướng XHCN đòi hỏi hệ thống các cơ quan HCNN vốn được thiết kế, xây dựng và vận hành phù hợp với cơ chế kinh tế cũ sẽ phải có những thay đổi tương thích với cơ chế kinh tế mới, trong đó thay đổi quan trọng nhât là về chức năng của từng cơ quan. Chính phủ tập trung thực hiện tốt hơn chức năng QLNN trên tất cả các lĩnh vực mà pháp luật đã quy định; tập trung làm tốt hơn việc hoạch định thể chế, cơ chế, chính sách, xây dựng giải pháp, bảo đảm các cân đối lớn và ổn định kinh tế vĩ mô, cải cách thủ tục hành chính, tạo môi trường pháp lý thuận lợi cho các hoạt động kinh tế - xã hội; xây dựng chiến lược, quy hoạch, kế hoạch và nâng cao năng lực chỉ đạo thực hiện, tăng cường công tác kiểm tra, thanh tra.

Hai là, thực hiện mạnh việc phân cấp TW- địa phương, thong qua đó giảm đáng kể những loại công việc không nhất thiết phải do Chính phủ, các Bộ trực tiếp quản lý, quyết định, đồng thời tăng cường được hơn nữa tính chủ động, tự chịu trách nhiệm của chính quyền địa phương trên các nhiệm vụ được phân công.

Ba là, trên cơ sở xác định rõ chức năng của Chính phủ, các Bộ và chính quyền địa phương các cấp để sắp xếp tổ chức bộ máy gọn hơn, hợp lý hơn. Nghị quyết TW 5 khóa X khẳng định tiếp tục hình thành bộ quản lý đa ngành, đa lĩnh vực, giảm số đầu mối các Bộ, cơ quan ngang bộ một cách phù hợp không giữ các cơ quan thuộc Chinh phủ có chức năng QLNN, chỉ duy trì một số cơ quan cần thiết thuộc Chính phủ là đơn vị sự nghiệp.

Bốn là, tổ chức hợp lý chính quyền địa phương, phân biệt rõ những khác biệt giữa chính quyền nông thôn và chính quyền đô thị. Vấn đề này, Nghị quyết TW5 khóa X xác định 3 điểm mới như sau:

- Tổ chức chính quyền đô thị phải bảo đảm tính thống nhất và liên thông trên địa bàn về quy hoạch đô thị, kết cấu hạ tầng (như điện, đường, cấp thoát nước, xử lý rác thải, bảo vệ môi trường) và đời sống dân cư….

- Thí điểm không tổ chức HĐND ở huyện, quận, phường, nhưng có cơ quan hành chính là UBND để quản lý và thực hiện các nhiệm vụ theo quy định của pháp luật và phân cấp của chính quyền cấp trên.

- Thí điểm việc nhân dân bầu trực tiếp Chủ tịch UBND xã, Chủ tịch UBND cấp trên trực tiếp quyết định phê chuẩn./.

Câu 16 : Hãy phân tích vai trò of NN trong xây dựng và đô thị ?

1. NN hoạch định chiến lược hệ thống đô thị quốc gia và hệ thống đô thị vùng trên cơ sở chiến lược và kế hoạch KT-XH of đất nước. NN soạn thảo ban hành các chiến lược hệ thống đô thị quốc gia và từng vùng thông qua hệ thống quy hoạch lãnh thổ và đồ án quy hoạch vùng nhằm phục vụ cho mục tiêu phát trển KT-XH of quốc gia và of các địa phương (1đ)

2. Thể chế hóa các luật và văn bản quy phạm pháp luật tạo hành lang pháp lý cho xây dựng, và QL đô thị (1đ)

3. NN lập quy hoạch, xây dựng các đô thị trên cơ sở định hướng hệ thống đô thị quốc gia of vùng và các quy định quy chế chính sách các tiêu chuẩn quy phạm. Chính phủ và các cấp chính quyền địa phương xác lập các quy hoạch đô thị thuộc thẩm quyền of mình, tạo cơ sở pháp lý để xây dựng và QL tăng trưởng các đô thị (1đ)

4. NN xây dựng các chính sách quy động vốn đầu tư, khai thác các nguòn vốn trong và ngoài nước, thành lập quỹ đầu tư xây dựng đô thị, ngoài nguồn vốn và ngân sách NN thì chính quyền địa phương xây dựng các chính sách tạo vốn, tạo nguồn thu để đô thị, đồng thời tạo điều kiện và khuyến khích động viên các thành phần kinh tế cùng tham gia đô thị (1đ)

5. NN thực hiện QL toàn diện trên mọi lĩnh vực, mọi địa bàn, đối với các thành phần KT-XH, các tổ chức cá nhân ở đô thị phải chấp hành theo đúng pháp luật (0,5đ)

6. NN tiến hành thanh kiểm tra, xử lý các vi phạm về xây dựng và QL đô thị theo đúng quy định of pháp luật, bảo vệ trật tự an toàn đô thị (0,5đ)

Câu 17: Phân tích các quan điểm hoàn thiện chế độ công vụ (CĐCV) và các giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức (CB,CC) ở Việt Nam hiện nay (5đ)

* Quan điểm hoàn thiện CĐCV (2,5đ)

- Hoàn thiện CĐCV phải bảo đảm sự lãnh đạo thống nhất of Đảng về công tác cán bộ. ; - Hoàn thiện CĐCV gắn với đổi mới hệ thống chính trị, đổi mới hệ thống tổ chức và hoạt động of Bộ máy NN ; - Hoàn thiện CĐCV bảo đảm hội nhập kinh tế quốc tế ; - Hoàn thiện CĐCV nhằm xây dựng nền công vụ phục vụ nhân dân, chịu sự giám sát of nhân dân. ; - Hoàn thiện CĐCV gắn với tăng cường chuyên môn, nâng cao đạo đức công vụ, bảo đảm chế độ thủ trưởng trong các cơ quan công quyền.

* Các giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ công chức (2,5đ)

HN lần thứ 5 BCH TW Đảng khóa X đã thông qua Nghị quyết "Về đẩy mạnh cải cách hành chính, nâng cao hiệu lực, hiệu quả QL of bộ máy NN". (Nghị quyết số 17-NQ/TW ngày 1/8/2007)

Công cuộc đổi mới, KT-XH và hội nhập kinh tế quốc tế đang đặt ra ~ yêu cầu cấp bách về nâng cao chất lượng đội ngũ CB,CC. CB,CC vẫn là khâu quyết định nhất trong việc xây dựng và thực hiện pháp luật, thực thi công vụ.

- Xác định rõ vị trí, cơ cấu và tiêu chuẩn chức danh, công chức trong từng cơ quan of NN để làm căn cứ tuyển dụng và bố trí sử dụng CB,CC.

- Làm tốt công tác quy hoạch và thực hiện quy hoạch CB,CC; thông qua việc đánh giá, phân loại CB,CC, xác định rõ ~ người đủ và không đủ tiêu chuẩn. Có chính sách thích hợp đối với ~ người k0 đủ tiêu chuẩn phải đưa ra khỏi bộ máy.

- Đổi mới chế độ tuyển dụng và QL CB,CC. Tuyển dụng CB,CC phải căn cứ vào nhu cầu, vị trí, cơ cấu và tiêu chuẩn chức danh CB,CC. Thông qua việc thi tuyển, sát hạch, kiểm tra để tuyển dụng CB,CC đủ phẩm chất và năng lực vào làm việc trong bộ máy. Khắc phục tình trạng vào cơ quan rồi mới đưa đi đào tạo và chủ yếu là đào tạo tại chức.

- Việc đánh giá, phân loại CB,CC phải căn cứ vào kết quả thực hiện nhiệm vụ được giao.

- Thực hiện việc thi tuyển đối với một số chức danh lãnh đạo gắn với chuyên môn nghiệp vụ trong bộ máy hành chính NN và các đơn vị sự nghiệp.

- Đổi mới công tác QL biên chế. Đối với các cơ quan NN: trên cơ sở xây dựng chức danh, tiêu chuẩn, vị trí việc làm và cơ cấu công chức, từng cơ quan NN rà soát lại đội ngũ công chức, đối chiếu với tiêu chuẩn để bố trí lại cho phù hợp. Tiếp tục thực hiện mạnh chế độ hợp đồng để thực hiện một số loại việc trong cơ quan NN. Đối với các đơn vị sự nghiệp dịch vụ công: căn cứ vào nhu cầu hoạt động thực tế để xác định số lượng các vị trí việc làm trong từng đơn vị sự nghiệp dịch vụ công. Thực hiện chế độ hợp đồng làm việc trong các đơn vị sự nghiệp dịch vụ công.

- Thực hiện cải cách tiền lương và các chế độ, chính sách khác đối với đội ngũ CB,CC. Nghiên cứu để có chính sách, chế độ thích hợp về nhà ở cho CB,CC. NN có chính sách xây dựng và sử dụng nhà công vụ, quy định rõ chế độ, tiêu chuẩn sử dụng nhà công vụ để áp dụng trong cả hệ thống chính trị. Xây dựng chế độ phụ cấp đối với CB,CC hành chính, bao gồm cả CB,CC đảng, đoàn thể trong hệ thống chính trị.

- Đổi mới công tác đào tạo, bồi dưỡng CB,CC. Đổi mới phương thức và nội dung các chương trình đào tạo, bồi dưỡng CB,CC sát với thực tế, hướng vào các vấn đề thiết thực đặt ra từ quá trình thực thi công vụ, nhất là kỹ năng hành chính. Thông qua đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ và kỹ năng hành chính bảo đảm tính thống nhất trong hoạt động of cơ quan hành chính, nhất là trong giải quyết các yêu cầu of dân, doanh nghiệp. Coi trọng công tác giáo dục đạo đức và phẩm chất chính trị cho đội ngũ CB,CC để nâng cao lòng yêu nước, yêu chế độ, niềm tự hào dân tộc và tinh thần trách nhiệm, thái độ phục vụ nhân dân of đội ngũ CB,CC.

- Để khắc phục tình trạng quá nhiều cấp phó trong cơ quan hành chính, trước hết cần tập trung đổi mới phương thức, lề lối làm việc of các cơ quan; giảm hội họp, phân định rõ trách nhiệm of tập thể và người đứng đầu cơ quan. Từ đó, giảm hợp lý cấp phó trong các cơ quan HCNN.

Câu 18 : Phân tích chức năng QLNN về kinh tế ? Nhận xét về việc thực hiện các chức năng này of NN ta ? (5đ) (QH: quan hệ)

I. Sự cần thiết khách quan of QLNN đối với nền kinh tế: NN phải can thiệp vào nền kinh tế bởi các lý do sau :

Một là, do tính giai cấp trong kinh tế và bản chất giai cấp of NN : NN bao giờ cũng đại diện cho lợi ích of giai cấp thống trị, trong đó có lợi ích kinh tế. NN ta là NN of dân, do dân và vì dân. Do mục tiêu KT-XH đất nước là đem lại lợi ích vật chất và tinh thần cho nhân dân, vì vậy NN ta phải thể hiện bản chất giai cấp để bảo vệ lợi ích of dân tộc và of nhân dân.

Hai là, lĩnh vực kinh tế thường chứa đựng nhiều mâu thuẫn và chỉ có NN mới có quyền và khả năng để xử lý 1 cách tối ưu. Trong nền kinh tế thị trường chứa đựng ~ >< cơ bản, đó là ~ >< giữa các doanh nhân với nhau, mâu thuẫn giữa chủ với thợ trong các doanh nghiệp có bóc lột lao động và mâu thuẫn giữa giới SXKD với toàn thể cộng đồng.

Ba là, tính khó khăn phức tạp of sự nghiệp kinh tế: Sự can thiệp of NN rất cần thiết trong việc hỗ trợ công dân có ~ điều kiện cần thiết thực hiện sự nghiệ kinh tế (làm cách nào để làm giàu, tri thức, vốn, môi trường KD).

Bốn là, trong nền kinh tế có 1 phần là kinh tế NN. NN nào cũng đều sở hữu 1 bộ phận khá lớn các giá trị vật chất trong nền kinh tế (tài nguyên, cơ sở hạ tầng, vốn, ...) NN cần có lực lượng kinh tế riêng, cụ thể là các doanh nghiệp NN để sản xuất và cung ứng ~ hàng hóa, dịch vụ mà khu vực tư nhân không làm được. Hơn nữa NN cần có thực lực kinh tế để thực hiện chính sách XH.

II. Chức năng QLNN về kinh tế

1. CN bảo vệ lợi ích giai cấp : Để bảo vệ lợi ích giai cấp trong QLNN về kinh tế, NN trước hết phải thiết lập và bảo vệ chế độ sở hữu về TLSX, chế độ QL tối ưu, xây dựng và bảo vệ chế độ phân phối, hưởng thụ có ưu thế cho giai cấp mà NN là đại biểu.

2. CN điều chỉnh các hành vi SXKD : Để điều chỉnh các hành vi SXKD, trước hết phải điều chỉnh các QH lao động SX, đồng thời điều chỉnh các hành vi phân chia lợi ích.

+ Trong XH, thuộc tầm điều chỉnh of NN có rất nhiều QH, đó là QH quốc gia với quốc tế, QH phân công và hợp tác nội bộ nền kinh tế quốc dân, QH phân công hợp tác theo lãnh thổ nội bộ quốc gia. Để điều chỉnh các QH này, NN phải định hướng chung cho toàn XH thông qua công tác xây dựng đường lối, chiến lược, qui hoạch, kế hoạch KT-XH, qui định thiết kế chất lượng sản phẩm và dịch vụ, định hướng cụ thể cho các doanh nhân trong việc sự nghiệp SXKD of họ. Mục tiêu điều chỉnh of NN là hiệu quả tối đa. Trong chức năng này NN xuất phát từ lợi ích of tất cả mọi doanh nhân, of toàn XH.

+ Điều chỉnh các hành vi phân chia lợi ích : Trong lĩnh vực kinh tế có các QH lợi ích, đó là: QH trao đổi hàng hóa. NN điều chỉnh QH này nhằm bảo vệ lợi ích chính đáng of các bên tham gia QH; QH phân chia lợi ích trong các công ty; QH tiền công, tiền lương, NN điều chỉnh QH này nhằm giữ cho QH được thực hiện công bằng, văn minh, hợp lý, hợp tình, bảo vệ quyền lợi chính trị of Đảng cầm quyền; QH đối với công quỹ quốc gia.

Để thực hiện chức năng điều chỉnh các hành vi phân chia lợi ích, NN cần phải xây dựng thể chế kinh doanh, trao đổi hàng hoá để can thiệp vào các QH trao đổi hàng hoá of doanh nhân, xây dựng chế độ tiền công, tiền lương, bảo hộ lao động, BHXH để can thiệp vào các QH thù lao cho người lao động, xây dựng chế độ đóng góp of công dân vào công quỹ quốc gia như các thể chế về thuế, phí, lệ phí và các loại đóng góp có tính chất nghĩa vụ khác.

3. Hỗ trợ doanh nhân lập thân, lập nghiệp trên lĩnh vực kinh tế: NN là nhân tố không thể thiếu được đối với mọi công dân làm kinh tế, NN thực hiện chức năng này có ý nghĩa lớn cho sự củng cố NN, tạo nên sự tin tưởng và biết ơn NN trong lòng dân. NN có thể hỗ trợ doanh nhân trên các mặt như hỗ trợ công dân ý chí làm giàu; hỗ trợ về tri thức cho công dân lập thân, lập nghiệp về kinh tế; hỗ trợ về phương tiện SXKD và hỗ trợ doanh nhân về môi trường kinh doanh.

Để hỗ trợ công dân về ~ mặt trên, NN phải tiến hành các hoạt động QL sau:

- Tuyên truyền giới thiệu giúp cho công dân biết được thế nào là cuộc sống giàu có, đầy đủ, sung sướng để từ đó gây dựng và nuôi chí làm giàu trong nhân dân.

- Xây dựng và ban hành đường lối chính trị, hệ thống pháp luật có tính khoa học và thực tiễn cao, đủ mức để công dân có cơ sở tin tưởng vào sự ổn định chế độ chính trị, pháp luật, xã hội, ở thái độ trước sau như một of NN và cộng đồng đối với người biết làm giàu.

- Tạo điều kiện thuận lợi cho nhân dân học tập để có đủ tri thức dựng nghiệp.

- Định hướng cho mọi hoạt động of doanh nhân.

- Cung cấp cho giới doanh nhân các thông tin kinh tế, KHCN, chính trị, quân sự trong nước và quốc tế có liên quan đến hoạt động SXKD.

- Mở ra các trung tâm hội tụ doanh nhân, các địa bàn xúc tác kinh tế.

- Đầu tư xây dựng hoặc chủ trì việc xây dựng kết cấu hạ tầng cho kinh tế , xây dựng lực lượng nòng cốt kinh tế.

- NN bảo vệ tài sản và tính mạng cho doanh nhân, phòng chống tội phạm hình sự, tiến hành các biện pháp phòng chống thiên tai, hạn chế tối đa các rủi ro, tai họa tự nhiên đối với doanh nhân.

4. Bổ sung cho thị trường ~ hàng hoá, dịch vụ khi cần thiết bằng các phương thức thích hợp. Thực chất of chức năng này nhằm bổ sung cho tính hoàn hảo of kinh tế thị trường. Trong QH hoàn hảo về cung-cầu of kinh tế thị trường mọi nhu cầu về hàng hóa, dịch vụ of XH đều được khu vực tư nhân đáp ứng, từ đó tạo ra lổ hổng về cung, bức xúc về cầu, làm nảy sinh ra vấn đề bổ sung. Như vậy bổ sung này là dùng 1 lực lượng ngoài hệ thống để tăng cường nội bộ khi nội bộ thiếu sót, chỉ có NN là lực lượng tăng cường hữu hiệu và không thể thay thế.

NN xây dựng các doanh nghiệp NN để trực tiếp cung ứng hàng hóa và dịch vụ cho cộng động bằng phương thức trực tiếp, NN sử dụng phương thức gián tiếp với việc đóng vai trò đại diện tiêu dùng thay mặt toàn XH để mua 1 số hàng hóa và dịch vụ of khu vực tư trong và ngoài nước. Mỗi hình thức đều có ưu, nhược điểm riêng, thích ứng với từng lúc, từng nơi, từng loại hàng hóa, dịch vụ (khi nền kinh tế ở giai đoạn khởi phát, khả năng QL of nền hành chính quốc gia còn hạn chế- hình thức trực tiếp được trọng dụng; khi năng lực kinh tế of khu vực lên, khả năng QL XH of NN vững vàng hơn - phương thức gián tiếp sẽ chiếm ưu thế).

5. Bảo vệ công sản và khai thác công sản như 1 công cụ QL: Công sản là tài sản công, NN là người QL và sử dụng, tuy nhiên NN không trực tiếp mà giao ủy quyền trực tiếp QL và sử dụng. NN thực hiện chức năng này nhằm bảo vệ công sản đồng thời khai thác nguồn tài sản công.

Khi giao quyền về QL trực tiếp và sử dụng chính người được giao quyền này có thể tham ô, lãng phí đồng thời có các nguy cơ tổn thất tự nhiên. Do vậy công sản cần được bảo vệ. Bên cạnh đó, NN phải là người sử dụng công sản với tính chất như là 1 công cụ QL, phải làm cho kinh tế NN thực sự là vũ khí lợi hại of NN trong QLNN về kinh tế nói riêng, QL XH nói chung.

* Nhận xét hạn chế trong công tác QL kinh tế of NN

Từ khi đổi mới đến nay, với chức năng of mình, NN đã kịp thời ban hành và từng bước đưa vào cuộc sống một hệ thống luật pháp khá đầy đủ theo hướng đổi mới, tạo khuôn khổ pháp lý cơ bản cho nền kinh tế vận hành và với tốc độ cao trong một thời gian dài. Huy động được nguồn lực tài chính khá lớn để chủ động đầu tư các lĩnh vực kết cấu hạ tầng cơ bản; chuyển đổi cách thức định hướng, hướng dẫn từ kiểu trực tiếp trước đây sang kiểu gián tiếp: NN chủ yếu QL kinh tế vĩ mô, tăng cường sử dụng các chính sách kinh tế như tài chính, tiền tệ. Thực hiện tốt việc điều tiết, đảm bảo các tiêu chí công bằng xã hội trong điều kiện, trình độ kinh tế còn thấp. Bước đầu làm quen và từng bước đổi mới phương pháp kiểm tra, kiểm soát phù hợp với điều kiện thị trường.

Bên cạnh ~ thành tựu đã đạt được, trong quá trình đổi mới, QLNN về kinh tế còn nhiều mặt hạn chế và yếu kém:

Thứ nhất, QLNN chưa ngang tầm với đòi hỏi of thời kỳ mới, chưa phát huy đầy đủ mặt tích cực và hạn chế được tính tự phát, tiêu cực of kinh tế thị trường.

Thứ hai, hệ thống pháp luật, cơ chế chính sách chưa đồng bộ và nhất quán, thực hiện chưa nghiêm.

Thứ ba, QL các lĩnh vực tài chính, ngân hàng, giá cả, kế hoạch hoá, thương mại, phân phối thu nhập, xây dựng cơ bản, đất đai, vốn, tài sản NN chưa tốt và chậm đổi mới.

Thứ tư, tổ chức bộ máy NN còn nặng nề, QH phân công và hiệp tác chưa rõ ràng, còn nhiều vướng mắc, tình trạng tham nhũng, lãng phí, quan liêu, phân tán cục bộ còn nghiêm trọng; cán bộ và công chức NN còn nhiều hạn chế cả về trình độ, năng lực và phẩm chất, chưa tương xứng với yêu cầu nhiệm vụ.

Thứ năm, CCHC tiến hành chậm, hiệu quả thấp.


III. Vai trò of NN ngày càng quan trọng trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN.

Hiện nay, nền kinh tế thị trường định hướng XHCN là một quá trình khách quan, hợp quy luật và là một nội dung cơ bản của công cuộc đổi mới ở nước ta. Đây là một quá trình khó khăn và phức tạp vì phải đổi mới cả cơ cấu kinh tế, cơ chế QL, tổ chức bộ máy QL và con người, đổi mới tư duy, phong cách, và lối sống cũ đã ăn sâu vào từng con người. Do đó, đổi mới thành công hay không lại phụ thuộc vào sự lãnh đạo của Đảng và QL of NN. Như vậy, trong quá trình chuyển đổi sang cơ chế thị trường cũng như khi cơ chế thị trường đã được xây dựng đồng bộ, vai trò QL kinh tế của nhà nước không hề suy giảm mà còn tăng lên. Điều đó, không có nghĩa là nhà nước nắm tất cả, can thiệp vào tất cả mọi hoạt động kinh tế của toàn xã hội, mà trái lại nhà nước chỉ nắm ~ lĩnh vực, ~ khâu then chốt, thực hiện ~ công việc quan trọng nhất mà thị trường và nhân dân không làm được, biết sử dụng cơ chế thị trường một cách khôn khéo để phục vụ cho mục tiêu QL của mình, biết phát huy ~ mặt tích cực của cơ chế thị trường và hạn chế mặt tiêu cực của cơ chế đó, phát huy động lực của sự kinh tế, xử lý ~ bất trắc và tình huống mới nảy sinh, đảm bảo cho cơ chế thị trường ra đời đồng bộ và vận hành thông suốt, thúc đẩy kinh tế . Như vậy, vai trò của nhà nước trong bước chuyển đổi sang cơ chế thị trường hết sức quan trọng và nặng nề, vừa phải tiến hành đổi mới, cách thức điều hành từ chỗ trước đây vốn quen với cơ chế cũ sang cách thức điều hành, QL theo cơ chế mới, nguyên tắc mới nhằm thiết lập mối quan hệ hợp lý giữa nhà nước - thị trường - doanh nghiệp, vừa phải liên tục hoàn thiện phương pháp, công cụ và kỹ thuật điều hành trong điều kiện vừa chuyển đổi, vừa hội nhập, vừa theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Nhà nước phải thực hiện vai trò là người đại diện cho nhân dân để QL nền kinh tế vì lợi ích của đất nước và nhân dân nhằm thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.


Câu 19 : Phân tích thực trạng hệ thống đô thị (ĐT) và thực trạng QL đô thị Việt nam hiện nay ? (5đ)

1. Thực trạng đô thị VN (3đ) :

*Ưu điểm :

- Tốc độ ĐT nước ta khá nhanh cả về số lượng và chất lượng, tạo nên 1 số lượng cơ sở hạ tầng bằng mấy chục năm trước đây, đã đáp ứng được sự KT-XH of đất nước đồng thời nó trở thành nhân tố quan trọng of quá trình các ĐT đã đảm nhận được vai trò là trung tâm of ngành công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp…

- ĐT đã đảm bảo được việc tăng ngân sách NN, đảm bảo vững nền QP-AN.

- Phương pháp QLNN về ĐT trong thời gian qua đã đổi mới 1 cách đáng kể thể hiện ở các văn bản pháp luật, QL quy hoạch, đất đai xây dựng ĐT đã được soạn thảo và ban hành tương đối đầy đủ, đồng bộ góp phần tăng cường QL ĐT trên cả lĩnh vực đặc biệt là trong việc đổi mới lập xét duyệt quy hoạch ĐT, tăng nguồn vốn thu tài chính.

- ĐT đã được cải tạo từ hình thức manh mún nhỏ lẻ sang xây dựng tập trung theo quy hoạch, dự án.

- Việc triển khai cải cách các thủ tục hành chính nhằm nâng cao hiệu lực QLNN về ĐT đã thu được 1 số kết quả đáng quan tâm.

* Hạn chế :

- Cơ sở kinh tế kỹ thuật of ĐT còn yếu, tăng trưởng kinh tế chưa cân xứng với dân số, gây nên tình trạng thất nghiệp ngày càng cao, số dân cư từ nông thôn di cư ra ĐT nhiều làm tăng tình trạng vô gia cư gây bức xúc lớn.

- Tình trạng phân bố dân cư và sử dụng đất nông nghiệp vào mục đích xây dựng ĐT đang là 1 nguy cơ lớn đối với vấn đề an ninh lương thực, thực phẩm, hiện nay 70% số dân cư ĐT đang ở các vùng đòng bằng ven biển nơi tập trung chủ yếu quỹ đất nông nghiệp of nước.

- Hệ thống các ĐT tại trung tâm vẫn chưa hình thành, đều khắp các vùng, khoảng 50% tập trung tại 2 ĐT lớn là Hà Nội và HCM, các vùng sau, xa, núi hải đảo thiếu ĐT trung tâm, thiếu động lực .

- Cơ sở hạ tầng nhìn chung còn yếu kém, không đảm bảo được các điều kiện cho CNH, HĐH đất nước, hạ tầng không đồng bộ, môi trường sống bị ô nhiễm, xuống cấp, mạng lưới giao thông chưa , giao thông công cộng chiếm tỷ lệ thấp dẫn đến tình trạng ách tắc giao thông.

- Vấn đề cấp thoát nước rất kém, chỉ có 47% dân cư được dùng nước sạch, còn 45% bị thất thoát, mạng lưới cổng thoát nước, vệ sinh ĐT chưa được giải quyết còn hiện tượng ngập úng, ô nhiễm.

- Quá trình ĐT hoá diễn ra nhanh chóng nhưng cũng đặt ra cho chúng ta 1 nhiệm vụ là BVMT vì ở ĐT bị xuống cấp nghiêm trọng, nước, không khí, đất đai bị ô nhiễm nặng nề…

2. Thực trạng QL ĐT : (2đ)

- Quản ký ĐT chưa làm chủ được tình hình ĐT, còn có nhiều bất cập, chưa đáp ứng được nhu cầu of ĐT hiện nay. Cụ thể, tình trạng ĐT khá lộn xộn, chỉ ở dọc các trục quốc lộ không theo quy định và pháp luật còn khả phổ biến, mặc dù vậy vấn chưa có biện pháp để ngăn chặn, vai trò of các cấp chính quyền vấn chưa được phát huy đầy đủ trong công việc tổ chức thực hiện pháp luật và các quy hoạch ĐT.

- Các quy hoạch ĐT chi tiết: còn thiếu, chưa khả thi hay kém chất lượng, kiến trúc ĐT chưa được định hướng kỹ nhiều di sản kiến trúc văn hoá truyền thống đang bị vi phạm biến dạng 1 cách nghiêm trọng, cần được khôi phục lại.

- Hiện nay còn có nhiều cơ quan đơn vị tham gia vào việc QL ĐT, nhưng lại thiếu hẳn cơ quan điều phối chung, nó gây ra nhiều vấn đề chồng chéo, phức tạp và không hợp lý.

- Trong công tác QL ĐT, thì thủ tục hành chính trong vấn đề cấp đất, giấy phép xây dựng, thẩm định các dự án đầu tư còn nhiều phiếu hà, vấn đề về thuế, phí còn bất hợp lý chưa phù hợp với thực tiễn nên gây khó khăn cho các nhà đầu tư và nhân dân, dẫn đến tình trạng xây dựng không phép, chuyển nhượng ngầm đất đai,…

Nói chung thực trạng QL như hiện nay nói lên rằng ĐT nước ta rất lộn xộn, các trật tự kỷ cương bị vi phạm, môi trường sinh tháí xuống cấp, tệ nạn xã hội gia tăng và khá phức tạp điều đó là tại sự yếu kém trong khâu QL.


Câu 20. Chức năng hành chính Nhà nước là gì? Phân loại chức năng hành chính nhà nước.

Chức năng hành chính Nhà nước là những phương diện, hoạt động chủ yếu của hành chính được hình thành thông qua quá trình phân công lao động trong các cơ quan Nhà nước. Chức năng hành chính phản ảnh vai trò của hành chính trong hoạt động quản lý Nhà nước.

Chức năng hành chính nhà nước là loại hoạt động hành chính Nhà nước được tách ra trong quá trình phân công lao động. Quyền lực Nhà nước về chuyên môn hóa lao động của các cơ quan hành chính nhà nước được thực thi từng thời kỳ nhất định. Thông qua các chức năng hành chính phản ánh vai trò hoạt động của các cơ quan thực thi quyền hành pháp đối với đời sống xã hội.

Chức năng hành chính nhà nước có thể phân loại dựa trên các tiêu chí khác nhau;

1.căn cứ vào phạm vi thực hiện chức năng chia ra chức năng đối nội và đối ngoại.

2.Phân loại theo chức năng hành chính cơ bản nhất chia ra chức năng chính trị, chức năng kinh tế, chức năng văn hoá và chức năng hành chính nhà nước.

3.Phân loại theo đối tượng tác động hành chính nhà nước:- Chức năng đối với dân; - Chức năng đối với nền kinh tế thị trường; - Chức năng đối với xã hội;- Chức năng đối với bên ngoài.

4.phân loại theo trình tự vận hành xã hội và nội dung của quá trình thực hiện chức năng:- Chức năng kế hoạch hoá ;- Chức năng tổ chức;- Chức năng lãnh đạo;- Chức năng báo cáo;- Chức năng dự toán ngân sách;- Chức năng kiểm tra, đánh giá

5.Phân loại Chức năng theo lĩnh vực và các mặt hoạt động chí ra Chức năng hành chính nhà nước về tài chính, ngân sách nhà nước, kế toán kiểm toán thống kê, hội đồng chứng khoán, ngân hàng tín dụng, bảo hiểm, tài sản công, Chức năng quản lý hành chính nhà nước về khoa học, công nghệ, môi trường tài nguyên thiên nhiên nhiên, Chức năng quản lý và phát triển nguồn nhân lực, xây dựng chế độ công vụ, quy chế công chức và Chức năng quản lý hành chính nhà nước về tổ chức bộ máy và nhân sự.

6.Phân loại theo chức năng của các ngành kinh tế, kỹ thuật, dịch vụ chia ra công nghiệp, xây dựng cơ bản, giao thông vận tải, bưu chính viễn thông, nông nghiệp, lâm nghiệp, thuỷ sản, nông thôn, thương mại, dịch vụ du lịch, các công trình đô thị phục vụ dân cư.

7.Phân loại theo tính chất hoạt động:- Chức năng lập quy ;- Chức năng hành chính.

Câu 21. Văn kiện ĐHĐB toàn quốc lần thứ X của ĐCS Việt Nam có nêu: Đẩy mạnh cải cách hành chính, đổi mới tổ chức hoạt động của chính phủ theo hướng xây dựng cơ quan hành pháp thống nhất, thông suốt, hiện đại… phân cấp mạnh, giao quyền chủ động hơn nữa cho chính quyền đại phương…” ĐCSVN văn kiện ĐH X tr 126 – 127. Bằng kiến thức KHHC đồng chí phân tích làm sáng tỏ quan điểm trên.

Bài làm:

Thực hiện đường lối đổi mới đảng ta có nhiều chủ trương về cải cách hành chính và xác định cải cách hành chính là một khâu quan trọng trong sự nghiệp đổi mới và phát triển đất nước. các cơ quan nhà nước, trong đó chính phủ đã ban hành và tổ hức thực hiện nhiều chương trình , kế hoạch đã triển khai cải cách hành chính theo chủ trương NQ của Đảng, nhất là chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2001 – 2010.

Mục tiêu, quan điểm, yêu cầu đẩy mạnh cải cách hành chính.

Mục tiêu: Đẩy mạnh cải cách hành chính nhằm tiếp tục xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, xây dựng một nền hành chính dân chủ, trong sạch vững mạnh, từng bước hiện đại; đội ngũ cán bộ công chức có đủ phẩm chất và năng lực; hệ thống các cơ quan nhà nước hoạt động có hiệu , hiệu quả, phù hợp với thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN và hội nhập kinh tế quốc tế, đáp ứng tốt yêu cầu phát triển nhanh và bền vững của đất nước

Quan điểm cải cách hành chính được tiến hành trên cơ sở các nguyên tắc và nghị quyết của Đảng và xây dựng hệ thống chính trị, đổi mới phương thức lãnh đạo và nâng cao vai trò lãnh đạo của Đảng, tiếp tục hoàn thiện chức năng nhiệm vụ và quy chế phối hợp cả bộ máy nhà nước. Thực hiện phân công phân cấp rõ ràng, đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính phục vụ tốt nhất cho nhân dân và chịu sự giám sát chặt chẽ của nhân dân. Các chủ trương, giải pháp cải cách hành chính phải đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ tổ quốc VN XHCN, đẩy mạnh CNH – HĐH. cải cách hành chính phải được tiến hành đồng bộ vững chắc, có trọng tâm trọng điểm, phù hợp với điều kiện lịch sử cụ thể và đảm bảo sự phát triển ổn định, bền vững của đất nước.

Yêu cầu: cải cách hành chính phải đáp ứng yêu cầu hoàn thiện nhanh và đồng bộ thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN, nâng cao hiệu quả của quá trình hội nhập kinh tế quốc tế; phát huy dân chủ trong đời sống XH; huy động và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực và tham gia của mọi người dân vào tiến trình phát triển của đất nước. cải cách hành chính nói chung đặc biệt là cải cách thủ tục hành chính phải bảo đảm tạo điều kiện thuận lợi nhất cho nhân dân, doanh nghiệp và góp phần tích cực chống quan liêu, phòng và chống và chống tham nhũng lãng phí.

Xây dựng tổ chức bộ máy hành chính nhà nước tin gọn, xác định rõ chức năng, nhiệm vụ, phân định rõ trách nhiệm giửa các cơ quan, giữa các cấp chính quyền, giữa chính quyền đô thị với chính quyền nông thôn, giữa tập thể và người đứng đầu cơ quan hành chính, hoạt động có kỷ luật, kỷ cương và nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước.

cải cách hành chính phải đáp ứngyêu cầu xây dựng đội ngũ cán bộ công chức có phẩm chất chính trị trình độ chuyên môn nghiệp vụ , tinh thần trách nhiệm và tận tuỵ trong phục vụ nhân dân.

cải cách hành chính phải hướng tới xây dựng một nền hành chính hiện đại, ứng dụng có hiệu quả thành tựu phát triển của khoa học công nghệ, nhất là công nghệ thông tin.

Thành tựu: cải cách hành chính đã đạt được kết quả bước đầu quan trọng, góp phần vào thành tựu chung của đất nước. Hệ thống thể chế, luật pháp tiếp tục được đổi mới và hoàn thiện, hình thành dần cơ chế kinh tế thị trường định hướng XHCN, đảm bảo ngày càng tốt hơn quyền dân chủ của nhân dân. Chức năng, nhiệm vụ, cơ cấu tổ chức của các cơ quan trong hệ thống hành chính nhà nước được điều chỉnh xắp xếp phù hợp hơn, quản lý nhà nước ngày càng tốt hơn trong điều kiện mới. Chất lượng đội ngũ cán bộ công chức trong bộ máy HCNN có bước được nâng lên, đáp ứng tốt hơn yêu cầu nhiệm vụ. Thể chế, pháp luật về quản lý tài chính công được được tích cực xây dựng và từng bước hoàn thiện thủ tục hành chính và hoạt động của các cơ quan HCNN có bước đổi mới, hiệu lực hiệu quả, kỷ luật kỷ cương được tăng cường hơn.

Tuy nhiên, nền hành chính nhà nước còn nhiều hạn chế yếu kém. Hệ thống thể chế, pháp luật nhất là thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN vẫn còn nhiều bất cập, vướn mắc, chức năng nhiệm vụ của một số cơ quan trong hệ thống HCNN chưa đủ rõ, còn trùng lập và chưa bao quát hết các lĩnh vực quản lý nhà nước, cơ cấu bộ máy tổ chức còn cồng kềnh ,chưa phù hợp. chất lượng đội ngũ cán bộ, chưa đáp ứng kịp yêu cầu, tình trạng quan liêu, lãng phí còn nghiêm trọng thể chế, luật pháp về quản lý tài chính công còn bất cập thủ tục hành chính còn nhiều vướn mắc, gây phiền hà cho tổ chức và công dân; kỷ luật kỷ cương cán bộ, công chức chưa nghiêm, hiệu lực hiệu quả của quản lý nhà nước còn nhiều yếu kém.

Trong thời gian tới cải cách hành chính phải được tiếp tục thực hiện hoàn thiện trên tất cả các lĩnh vực đảm bảo tuân thủ các mục tiêu, quan điểm yêu cầu chủ trương và giải pháp của đảng đã đặt ra.

Về đổi mới tổ chức và hoạt động của chính phủ theo hướng xây dựng cơ quan hành pháp thống nhất, thông suốt hiện đại – phân cấp mạnh, giao quyền chủ động hơn nữa cho chính quyền địa phương.

- Chức năng, nhiệm vụ của chính phủ: tiếp tục hoàn thiện chức năng, nhiệm vụ của chính phủ theo hướng xây dựng hệ thống cơ quan hành pháp thống nhất, thông suốt, hiện đại và đúng với vai trò là cơ quan HCNN cao nhất, tập trung xây dựng các quy định hướng dẫn thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của chính phủ đầy đủ và cụ thể thực hiện nhất quán nguyên tắc: một việc chỉ giao cho một cơ quan, một người chịu trách nhiệm chính.

Chính phủ tập trung thực hiện tốt hơn nữa chức năng quản lý nhà nước trên tất cả các lĩnh vực mà pháp luật đã quy định, xác định rõ phạm vị và nội dung quản lý nhà nước về kinh tế, xã hội cho phù hợp với yêu cầu phát triển. Tập trung làm tốt hơn việc hoach định thể chế, cơ chế chính sách, xây dựng giải pháp, bảo đảm các cân đối lớn và ổn định kinh tế vĩ mô. Cải cách thủ tục hành chính, tạo môi trường pháp lý thuận lợi cho các hoạt động kinh tế, xã hội. xây dựng chiến lược, quy hoạch, kế hoạch và nâng cao nâng lực chỉ đạo tổ chức thực hiện, tăng cường công tác kiểm tra, thanh tra.

- Xây dựng quy chế làm việc của chính phủ chặt chẽ và thiết thực và thiết thực, xác định cụ thể nhiệm vụ của chính phủ, thủ tướng chính phủ, các phó thủ tướng và từng thành viên của chính phủ , bảo đảm bao quát hết các chức năng, nhiệm vụ của chính phủ xác định rõ phạm vi và nội dung quản lý nhà nước của CQ HCNN các cấp

- Về cơ cấu tổ chức của Chính phủ: tiếp tục bộ quản lý đa ngành, đa lĩnh vực; giảm phù hợp số đầu mối các bộ, cơ quan ngang bộ; khắc phục tình trạng bỏ bỏ trống hoặc trùng lặp về chức năng, nhiệm vụ giữa các bộ, ngành không giử các cơ quan thuộc chính phủ có chức năng quản lý nhà nước; chỉ duy trì một số cơ quan cần thiết thuộc chính phủ và đơn vị sự nghiệp.

Tập trung xây dựng các bộ để làm tốt chức năng chủ yếu và xây dựng thể chế luật pháp, cơ chế chính sách, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển đối với các lĩnh vực được phân công, tổ chức chỉ đạo thực hiện và đôn đốc, kiểm tra, thanh tra việc chấp hành.

Thực hiện phân công, phân cấp mạnh và phù hợp hơn nhiệm vụ từ chính phủ và các bộ cho chính quyền địa phương, phát huy tinh thần trách nhiệm, tính năng động sáng tạo của chính quyền địa phương trên cơ sở phân định rõ nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm của mỗi cấp trong bộ máy chính quyền, đồng thời xây dựng hành lang pháp lý bảo đảm sự thống nhất quản lý của nhà nước trung ương.

Cơ cấu bên trong của các bộ phải được sắp xếp hợp lý, bỏ cấp trung gian, giảm tầng nấc, thủ tục, xác định rõ chức năng, nhiệm vụ, tránh chồng chéo, nâng cao trách nhiệm của từng bộ phận và đề cao trách nhiệm cá nhân trong thực hiện công việc.

Đối với nhiệm vụ của Bộ công an, bộ QP có đủ điều kiện dân sự hoá thì chuyển cho các bộ không thuộc lĩnh vực an ninh QP quản lý nhằm tập trung hơn nhiệm vụ xzây dựng quân đội, công an cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại. Việc thực hiện chủ trương này phải đảm bảo thận trọng chặt chẽ và hiệu quả.

- Về chính quyền địa phương: khẩn trương xây dựng và thực hiện quy hoạch tổng thể đơn vị hành chính các cấp, trên cơ sở đó ổn định cơ bản các đơn vị hành chính ở cả 3 cấp: tỉnh, huyện, xã kiện toàn thống nhất hệ thống cơ quan chuyên môn của các cấp chính quyền.

Tính thống nhất và thông suốt của hệ thống hành chính nhà nước được đảm bảo trên cơ sở xác định rõ vị trí, trách nhiệm của chính quyền địa phương trong hệ thống cơ quan nhà nước chính quyền địa phương được xây dựng, tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc nhà nước đơn nhất, quyền lực nhà nước là thống nhất. theo đó cần điều chỉnh, bổ sung các quy định để thực hiện nhất quán chủ trương này, đồng thời có cơ chế bảo đảm nguyên tắc xây dựng chính quyền của dân, do dân và vì dân, tăng cường công tác giám sát của cấp ủy mặt trận tổ quốc và các đoàn thể đối với hoạt động của chính quyền địa phương.

Đối với chính quyền nông thôn: không tổ chức HĐND cấp huyện; ở huyện chỉ có uỷ ban nhân dân với tính chất là đại diện cơ quan của chính quyền cấp tỉnh để giải quyết các nhiệm vụ hành chính và công việc liên quan đến quyền lợi và nghĩa vụ của người dân theo quy định của pháp luật.

Chính quyền xã có HĐND và UBND chịu trách nhiệm xây dựng và chỉ đạo thực hiện kế hoạch phát triển KT – XH, quản lý ngân sách xã , quản lý nhà nước về các lĩnh vực GD – YT, đất đai, xây dựng, hộ tịch… trên địa bàn theo quy định của pháp luật. Trên cơ sở chức năng và nhiệm vụ của chính quyền cấp xã, xác định cụ thể các chức danh công chức xã theo hướng ổn định và chuyên sâu về nghiệp vụ

Đối với chính quyền đô thị: xác định cấp dân cư đô thị có HĐND là HĐND thành phố trực thuộc TW, HĐND thành phố trực thuộc tỉnh, HĐND thị xã; không tổ chức HĐND ở quận và phường. Tại quận và phường có UBND là đại đại diện cơ quan hành chính cấp trên tại địa bàn để thực hiện các nhiệm vụ theo quy định của pháp luật và phân cấp của chính quyền cấp trên.

Ở huyện, quận, phường không tổ chức HĐND nhưng có cơ quan hành chính là UBND để quản lý và thực hiện theo quy định của pháp luật và phân cấp của chính quyền cấp trên. UBND huyện, quận, phường bao gồm chủ tịch, các phó chủ tịch và các ủy viên do uỷ ban nhân dân cầp trên bổ nhiệm, miễn nhiệm trên cơ sở xem xét nhân sự do cấp uỷ quận, huyện, phường giới thiệu và được cấp có thẩm quyền quản lý cán bộ đồng ý.

Khi thực hiện không có tổ chức HĐND cấp quận, huyện, phường, cần tăng cường HĐND tỉnh, Thành phố trực thuộc TW về số lượng, chất lượng đại biểu, cơ sở vật chất, điều kiện làm việc.

Qua thí điểm sẽ tổng kết, đánh giá và xem xét để có chủ trương sửa đổi, bổ sung hiến pháp về tổ chức chính quyền địa phương cho phù hợp.Thí điểm việc nhân dân bầu trực tiếp chủ tịch UBND xã, chủ tịch UBND cấp trên trực tiếp quyết định phê chuẩn; trên cơ sở tổng kết thí điểm xem xét thực hiện chính sách chủ trương này cùng với việc xem xét sửa đổi, bổ sung hiến pháp về việc nhân dân trực tiếp bầu chủ tịch UBND cấp xã.

Bản thân công tác ở ngành Toà án thực hiện Nghị quyết số 49-NQ/TƯ (ngày 2-6-2005) của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp (CCTP) đến năm 2020.là tổ chức hệ thống toà án theo thẩm quyền xét xử, không phụ thuộc vào đơn vị hành chính gồm: toà án sơ thẩm khu vực được tổ chức ở 1 hoặc 1 số đơn vị hành chính cấp huyện; tòa phúc thẩm có nhiệm vụ chủ yếu là xét xử phúc thẩm và xét xử sơ thẩm một số vụ án; toà thượng thẩm được tổ chức theo khu vực có nhiệm vụ xét xử theo khu vực có nhiệm vụ xét xử phúc thẩm; toà án nhân dân tối cao có nhiệm vụ tổng kết kinh nghiệm xét xử, hướng dẫn áp dụng thống nhất pháp luật, phát triển án lệ và xét xử giám đốc thẩm, tái thẩm việc thành lập yòa án chuyên trách phải căn cứ vào thực tế xét xử của từng cấp toà án, từng khu vực. Đổi mới tổ chức của toà án nhân dân tối cao theo hướng tinh gọn đội ngũ, thẩm phán là chuyên gia đầu ngành về pháp luật, có kinh nghiệm trong ngành.

Đổi mới việc tổ chức phiên toà xét xử, xác định rõ hơn vị trí, quyền hạn, trách nhiệm, của người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng theo hướng bảo đảm tính công khai, dân chủ nghiêm minh nâng cao chất lượng tranh tụng tại các phiên toà xét xử coi đây là đột phá của hoạt động tư pháp.

Mở rộng thẩm quyền xét xử của toà án đối với các khiếu kiện hành chính. Đổi mới mạnh mẽ thủ tục giải quyết các khiếu kiện hành chính tại toà án, tạo điều kiện thuận lợi cho ngừoi dân tham gia tố tụng đảm bảo sự bình đẳng giửa công dân và cơ quan công quyền trước toà án. Khi xét xử phải độc lập và tuân theo pháp luật.

Từng bước thực hiện việc công khai hoá các bản án, trừ những bản án hình sự về tội xâm phạm an ninh quốc gia hoặc liên quan đến thuần phong mỹ tục. Xây dựng cơ chế đảm bảo mọi bản án của toà án có hiệu lực pháp luật phải được thi hành các cơ quan hành chính vi phạm bị xử lý theo phán quyết của toà án phải nghiêm chỉnh chấp hành.

Câu 22: a)- phân biệt cán bộ, công chức, viên chức. b)- Phân biệt cán bộ, công chức với người lao động khác. c) So sánh hoạt động công vụ với hoạt động khác không mang tính công vụ. d) Phân biệt hành chính công và Hành chính tư. đ) Phân biệt quản lý - quản lý nhà nước


a) Giống nhau: điều là công dân VN, có địa chỉ thường trú tại VN, trung thành với chế độ, hưởng lương từ ngân sách nhà nước và các nguồn khác do nhà nước qui định.

* Khác nhau: - Cán bộ: được phê chuẩn, bầu cử, bổ nhiệm theo nhiệm kỳ trong các cơ quan đảng, nhà nước và tổ chức chính trị - XH

- Công chức được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp và trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội (sau đây gọi chung là đơn vị sự nghiệp công lập), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước; đối với công chức trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập thì lương được bảo đảm từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật.

Công chức g ắn với công vụ, gắn với cơ quan nhà nước.

- Viên chức: được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức danh, được đào tạo chuyên môn nghiệp vụ và được bồ trí đảm nhiệm các nhiệm vụ ở các đơn vị sự nghiệp của đảng, nhà nước, và các đoàn thể.

Viên chức gắn với nhiệm vụ được giao trong đơn vị sự nghiệp.

b)- Phân biệt cán bộ, công chức với người lao động khác:

* Giống nhau: điều tạo ra của cải vật chất, tinh thần phục vụ đáp ứng nhu cầu của con người và xã hội; đều là hoạt động có mục đích.

* khác nhau: Dựa vào hình thức lao động:

+CB,CC : gián tiếp

+ Người lao động khác: trực tiếp

-Dựa vào kết quả lao động:

+ CB,CC: bao giờ cũng phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quan hệ pháp luật mới.

+ Người lao động khác: các sản phẩm từ lao động vật chất.

-Dựa vào chủ thể tuyển dụng và hình thức tuyển dụng:

+ CB, CC: là NN, thi tuyển

+ Người lao động khác: là người sử dụng lao động, thiết lập các hợp đồng lao động

-Dựa vào hình thức kỷ luật, trách nhiệm pháp lý và thẩm quyền xử lý:

+ CB, CC Luật cán bộ, cc… do nhà nước xử lý

+ Người lao động khác: dựa vào điều 77 luật LĐ xử lý

c)- So sánh hoạt động công vụ với hoạt động khác không mang tính công vụ:

* giống nhau: đều là hoạt động có mục đích nhất định nhằm đáp ứng nhu cầu nào đó của con người và xã hội.

*Khác nhau: Hoạt động công vụ:

- Mục đích: của Hoạt động công vụ là phục vụ nhân dân và XH

- Thường là hoạt động nhân danh quyền lực NN, được nhà nước ủy quyền, mang tính quyền lực nhà nước.

- chủ thể thực thi là công chức nhà nước (được uỷ quyền)

- phục vụ các nhu cầu của công dân, không mang mục đích lợi nhuận

- Hoạt động công vụ sử dụng công cụ là hệ thống pháp luật.

* Hoạt động khác:

- Mục đích của Hoạt động khác phục vụ cho cá nhân hoặc cho một nhóm người

- Lao động nhân danh cá nhân, một nhóm người; không mang tính quyền lực nhà nước.

- Chủ thể thực thi là mọi công dân

- Hoạt động có mang tính chất lợi nhuận

- Hoạt động khác sử dụng quy chế, điều lệ

d) Phân biệt hành chính công và Hành chính tư:

Dựa vào chủ thể quản lý:

+HCC: nhà nước và cán bộ

+ HCT: hoạt động theo điều lệ hoặc là ý chí do 1 người đứng đầu

- Dựa vào mục đích:

+ HCC: là vì lợi ích chung để bảo đảm ổn định XH.

+ HCT: phục vụ cho 1 cá nhân, một lĩnh vực, một nhóm người nào đó

-Dựa vào phạm vi điều chỉnh:

+ HCC: toàn bộ lãnh thổ hoặc một khu vực

+ HCT: hẹp hơn nhiều, bộ phận lĩnh vực nào đó

-Dựa vào sử dụng công vụ:

+HCC: công cụ là hệ thống pháp luật

+ HCT: các quy chế điều lệ riêng biệt

-Dựa vào tính chất quyền lực:

+ HCC: bao giờ cũng dựa vào quyền lực nhà nước và bắt buộc

+ HCT: không mang quyền lực nhà nước nhưng bắt buộc.

đ) Phân biệt quản lý - quản lý nhà nước

* giống nhau: đều là hoạt động điều hành, điều khiển, quản lý hoạt động của con người, là hoạt động có mục đích, mục tiêu đã được xác định trước.

* khác nhau: - Quản lý: phạm vị quản lý điều hành hẹp, một bộ phận, một lĩnh vực nào đó. Chủ thể quản lý đa dạng, bằng ý chí của một cá nhân, người đứng đầu, quản lý dùng công cụ là quy chế, điều lệ, điều chỉnh các quan hệ, quản lý bằng phương thức giáo dục, vận động là chính, không mang quyền lực, quản lý phục vụ 1 lợi ích, 1 cá nhân, 1 tổ chức nào đó.

-Quản lý NN: phạm vi quản lý điều hành rộng, toàn diện trên tất cả các lĩnh vực KT – VH – XH. Chủ thể quản lý là nhà nước, cán bộ được nhà nước uỷ quyền, quản lý dùng công cụ là hệ thống pháp luật, quyền lực nhà nước để điều chỉnh các quan hệ xã hội và hành vi hoạt động của con người, có bắt buột, có cưỡng chế, quản lý nhằm phục vụ lợi ích chung của XH.

- QLNN về đô thị và nông thôn: cũng là dạng quản lý nhà nước có những nét giống và khác nhau so với quản lý và quản lý nhà nước nhưng nét khác nhau cơ bản là quản lý mang tính đặc thù, phạm vi quản lý phải phù hợp theo đặc điểm của địa bàn đô thị và nông thôn


Câu 23. Đồng chí hãy trình bày đường lối, chủ trương của Đảng về cải cách hành chính trong tiến trình đổi mới ở Việt Nam?(5 điểm)

Đáp án:

CCHC là công việc mới mẻ, diển ra trong điều kiện thiếu kiến thức và kinh nghiệm qlý hc trong thời kỳ đổi mới, vừa làm vừa rút kinh nghiệm. Vì vậy, việc hình thành qniệm, qđiểm, ntắc chỉ đạo, ctrương, gpháp thực hiện công cuộc CCHC trong mổi gđoạn là cả qtrình tìm tòi sáng tạo không ngừng từ ĐH VI đến nay.

*Đại hội VI và các Nghị quyết trong nhiệm kỳ Đại hội VI.

Xđịnh đúng ngnhân của tình hình khủng hoảng KTXH, ĐH chỉ rỏ nguyên nhân của mọi ngnhân là ctác tchức và đề ra chủ trương thực hiện một cuộc cải cách lớn về tchức bmáy các cquan nhà nước, sắp xếp lại tchức bmáy theo hướng gọn nhẹ bớt đầu mối.

*Đại hội VII và các Nghị quyết trong nhiệm kỳ Đại hội VII.

Tiếp tục CCBMNN và đề ra nhvụ sửa đổi HP, cải tiến tchức và hđộng QH, sửa đổi CCTC, pthức hđộng của CP, cquyền đphương

CLỉnh và Clược ptriển KTXH đến 2000: NN phải có đủ qlực, đủ khả năng định ra luật pháp và tchức qlý mọi mặt đsống XH bắng pl. Sửa đổi hthống tchức NN, CCBMHC, kiện toàn các cquan hpháp,tpháp, thực hiện có hiệu quả chức năng qlnn

Hp 1992 ra đời thay thế HP 1980 thể hiện sự nhận thức đđủ hơn về phân công phối hợp giửa 3 quyền lpháp, hpháp, tpháp trong tổng thể qlực thống nhất của NN

HNTW8(1-95) đánh dấu bước ptriển mới về xdưng nền HCNN. CCmột bước nền HCNN được xđịnh là trong tâm của việc tiếp tục xdưng và hthiện NN, với mục tiêu xdựng nến Hc trong sạch có đủ năng lựcqlý có hiệu quả công việc NN.

Lần đầu tiên ndung chủ yếu của CCHC được trình bày một cách có hthống đó là CC thể chế của nề hchính, chấn chỉnh tchức bmáy và xdưng đội ngủ cán bộ công chưc.

Mở ra gđoạn mới gđoạn chuyển biến thật sự trong CCHC ở nước ta, có ý nghĩa qtrong thúc đẩy tiến trình CCHC trong 20 năm đmới

*Đại hội VIII và các Nghị quyết trong nhiệm kỳ Đại hội VIII.

Nhấn mạnh việc tiến hành CCHC thực hiện đồng bộ, dựa trên cơ sở pluật, coi đó là gpháp cơ bản để thực hiện mục tiêu, nhiệm vụ chủ yếu để ptriển KTXH đến năm 2000. Nội dung CC tập trung:

- Xdựng hthống pluật phù hợp cơ chế mới

- Cải tiến qtrình xdựng ban hành vbqppl; đẩy mạnh CCTTHC; sắp xếp bộ máy HC, hợp nhất các cquan qlý chuyên ngành KT, xdựng Bộ qlý đa ngành, lĩnh vực

- Phân định rỏ thquyền của từng cấp qlý HC

- Phân cấp qlý giữa CP và chquyền cấp tỉnh, thành phố

- Dổi mới chđộ công chức, công vụ; - Thlập TA hành chính

HNTW 3 (6-1997) ra NQ về phát huy quyền làm chủ của dân, tiếp tục xdựng nhà nước XHCH; từ đó CP ban hành các qchế thực hiện dân chủ cơ sở. Trong xdựng chlược cán bộ NQ nhấn mạnh và xem đây là ytố qđịnh chất lương bmáy NN. Cán bộ phải có pchất và năng lực, được đtạo, bố trí theo nhu cầu, lợi ích của đnước.

NQTW6 (lần 2)thể hiện qtâm chính trị rất lớn về CCHC, đặt CCHC trog tổng thể đmới HTCT; CCHC đthời đmới tchức, cơ chế hđộng của các cquan lpháp, hpáhp, tpháp.

Từ nthức đó NQTW7: tiến hành sắp xếp tchức bmáy đảng, NN và các tchức trong HTCT gắn CCHC theo hướng tin gọn, hđộng có hlực, hquả; thực hiện CC tiền lương

*Đại hội IX và các Nghị quyết trong nhiệm kỳ Đại hội IX.

Bên cạnh kđịnh mtiêu xdựng nền HC dchủ, trong sạch, vững mạnh, từng bước HĐH đã đưa ra nhiều chtrương, gpháp có ý nghĩa:

- Đ chỉnh chnăng và cải tiến pthức hđộng của CP; ngtắc Bộ qlý đa ngành, lĩnh vực

- Pcông, pcấp qlý rỏ ràng; tách cquan HC với tchức sự nghiệp, dvụ công

- tiếp tục CC DNNN, tách chnăng qlý NN với SXKD của DN

- Tiếp tục CCTTHC; xdưng đngủ cbộ công chức trong sạch, mạnh, có năng lực; thiết lật kỷ cương, chống qliêu tnhũng.

*Đại hội X đã đề ra chủ trương tiếp tục xdựng và hthiện NN pháp quyền XHCN, trong đó nhấn mạnh việc CCHC, đổi mới tchức và hđộng của BMNN:

- Hoàn thiện hthống pluật, tăng tính cụ thể, khả thi của các quy định trong vbpl.

- Tiếp tục đmới tchức và hđộng của QH; đmới qtrình ban hành luật, giảm mạnh việc ban hành pháp lệnh.

- đẩy mạnh việc CCHC, đổi mới tchức và hđộng của CP theo hướng xdưng cquan hpháp thống nhất, thông suốt, hiện đại; tchức bộ qlý đa ngành; phân cấp mạnh cho địa phương.

- Xdựng hthống cquan tư pháp trong sạch, mạnh, dchủ, nghiêm minh, bvệ công lý, quyền con người.

- năng cao chất lượng hđộng của HĐND,UBND

- cơ cấu lại đngũ cán bộ và đtạo bdưỡng theo ycầu nâng cao chất lượng cả về năng lực, phẩm chất đđức

HNTW 5 kX: Phương hướng mục tiêu:

- Đẩy mạnh CCHC nhằm tiếp tục xdưng NN pháp quyền XHCN

- Xây dựng nền HC dân chủ, trong sạch, vững mạnh, từng bước hiện đại

- Xây dựng đội ngũ cán bộ công chức có đủ phẩm chất, năng lực

- Xây dựng hthống các cquan NN hđộng có hquả, hlực, phù hợp thể chế KTTT định hướng

* Đại hội XI:

Đẩy mạnh cải cách hành chính, nhất là thủ tục hành chính; giảm mạnh và bãi bỏ các loại thủ tục hành chính gây phiền hà cho tổ chức và công dân. Nâng cao năng lực, chất lượng xây dựng và tổ chức thực hiện các cơ chế, chính sách. Đẩy mạnh xã hội hoá các loại dịch vụ công phù hợp với cơ chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.

Câu 24. Đồng chí hãy phân tích các quan điểm hoàn thiện chế độ công vụ và các giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ công chức ở Việt Nam hiện nay? (5 điểm)

Đáp án: Quan điểm

1. phải bảo đảm sự lãnh đạo thống nhất của Đảng về công tác cán bộ

Phải dựa trên cơ sở quan điểm, đường lối chính trị, chủ trương, chính sách của Đảng về công tác cán bộ, xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức.

Kịp thời thể chế hóa quan điểm của Đảng về công tác cán bộ thành pháp luật điều chỉnh quan hệ công vụ, công chức. Xây dựng đội ngũ công chức ngày càng chính quy, hiện đại, có phẩm chất chính trị, trình độ chuyên môn và phẩm chất đạo đức trong công vụ.

Tôn trọng sự kiểm tra, hướng dẫn, lãnh đạo của Đảng trong công tác cán bộ và tôn trọng sự giới thiệu của các cơ quan, tổ chức đảng trong lựa chọn, đề bạt cán bộ. Xây dựng đạo đức công vụ theo những tiêu chí đạo đức cách mạng.

2 - gắn với đổi mới hệ thống chính trị: Bên cạnh việc đổi mới hệ thống chính trị nói chung, việc hoàn thiện chế độ công vụ gắn với đổi mới tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước, và phải gắn với đổi mới cơ cấu tổ chức bên trong của từng cơ quan nhà nước, tới phân công chức năng nhiệm vụ, quyền hạn của từng bộ phận cơ quan nhà nước. Chính vì vậy, khi hoàn thiện chế độ công vụ cần phải chú ý tới việc định rõ chức trách của từng chức vụ quản lý, từng vị trí, chức danh công chức.

3 - bảo đảm hội nhập kinh tế quốc tế: việc hoàn thiện chế độ công vụ cần hướng tới việc đáp ứng các yêu cầu của hội nhập kinh tế quốc tế, mở cửa. Xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức có trình độ chuyên môn cao ngang tầm với khu vực và quốc tế, có khả năng đáp ứng linh hoạt yêu cầu của hội nhập kinh tế quốc tế.

4 - nhằm xây dựng nền công vụ phục vụ nhân dân, chịu sự giám sát của nhân dân

Xuất phát từ bản chất Nhà nước ta là Nhà nước của dân, do dân và vì dân, chế độ công vụ nước ta là chế độ công vụ phục vụ cách mạng, phục vụ nhân dân. Điều này đòi hỏi việc hoàn thiện chế độ công vụ phải đặc biệt quan tâm đến các quy tắc, quy định trách nhiệm, bổn phận công vụ của cán bộ, công chức, viên chức nói chung, công chức trong bộ máy nhà nước nói riêng. Phải thiết lập cơ chế để mọi hoạt động công vụ của cán bộ, công chức đều chịu sự giám sát của nhân dân,

5 - gắn với tăng cường chuyên môn, nâng cao đạo đức công vụ, bảo đảm chế độ thủ trưởng trong các cơ quan công quyền

Hồng và chuyên là hai phẩm chất hàng đầu của cán bộ, công chức, và trở thành thuộc tính của công chức thời kỳ xây dựng nhà nước pháp quyền và xã hội công dân.

Sự tập trung, thống nhất quyền lực là một nguyên tắc, thuộc tính của quản lý hành chính nhà nước, nếu không sẽ không bảo đảm được sự thống nhất trong điều hành, chỉ huy hoạt động công vụ. Chính điều đó đòi hỏi phải phân định rõ nhiệm vụ, quyền hạn của tập thể và cá nhân người đứng đầu cơ quan.

Trong điều hành công vụ, đòi hỏi phải đề cao vai trò của người đứng đầu cơ quan, đồng thời cần phải xác định trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan nhà nước và người đứng đầu các bộ phận trong cơ quan đó.

Giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ công chức

1 - Đổi mới quy trình, chế độ tuyển dụng công chức theo hướng tổ chức thi tuyển chung công chức ở các ngạch cho các cơ quan nhà nước ở trung ương, địa phương; không nên giao cho từng cơ quan nhà nước tự tuyển công chức như hiện nay

2 - Thi nâng ngạch công chức trên cơ sở cạnh tranh lành mạnh là động lực thúc đẩy tính tích cực, sự phấn đấu của công chức, nhằm nâng cao năng lực của công chức, khắc phục được tình trạng trì trệ "sống lâu lên lão làng". Kể cả đối với các chức vụ quản lý, lãnh đạo

Tiến hành trả lương công chức theo chức vụ chuyên môn (ngạch, bậc chuyên môn) và chức vụ quản lý, người không giữ chức vụ quản lý thì chuyển hưởng lương theo chức vụ chuyên môn. Trân trọng tính chuyên nghiệp, chuyên môn sâu của công chức.

3 - Đổi mới công tác đào tạo và bồi dưỡng nhằm nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ, công chức, đổi mới chương trình, nội dung đào tạo;

Để nâng cao năng lực thực thi công vụ của công chức, ngoài việc đào tạo, bồi dưỡng về chuyên môn nghiệp vụ, kiến thức hành chính, cần chú trọng đào tạo về kỹ năng hành chính. Thường xuyên thi sát hạch công chức để đánh giá năng lực công chức

Hoàn thiện chế độ công vụ ở nước ta hiện nay là yêu cầu cần thiết khách quan, là nhiệm vụ vừa mang tính cấp thiết vừa mang tính lâu dài, đáp ứng yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân, đáp ứng yêu cầu của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Hoàn thiện chế độ công vụ nhằm khắc phục những hạn chế, nhược điểm của chế độ công vụ ở nước ta hiện nay, đặc biệt là yếu tố thể chế của nền công vụ, đồng thời đáp ứng xu thế hội nhập kinh tế quốc tế, xu hướng chuyển từ nền hành chính điều hành sang nền hành chính phục vụ các khách hàng của nền hành chính: cá nhân, cơ quan, tổ chức.

Đại hội XI:

Xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức trong sạch, có năng lực đáp ứng yêu cầu trong tình hình mới

Rà soát, bổ sung, hoàn thiện quy chế quản lý cán bộ, công chức; phân định rõ chức năng, nhiệm vụ, trách nhiệm và thẩm quyền của mỗi cán bộ, công chức; tăng cường tính công khai, minh bạch, trách nhiệm của hoạt động công vụ. Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức cả về bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức, năng lực lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành, quản lý nhà nước. Có chính sách đãi ngộ, động viên, khuyến khích cán bộ, công chức hoàn thành nhiệm vụ và có cơ chế loại bỏ, bãi miễn những người không hoàn thành nhiệm vụ, vi phạm kỷ luật, mất uy tín với nhân dân. Tổng kết việc thực hiện “nhất thể hoá” một số chức vụ lãnh đạo Đảng, Nhà nước để có chủ trương phù hợp. Thực hiện bầu cử, bổ nhiệm lại chức vụ lãnh đạo theo hướng cấp trưởng giới thiệu cấp phó để cấp có thẩm quyền xem xét, quyết định.


Câu 25. Đồng chí hãy phân tích chức năng của quản lý nhà n­ước về kinh tế? Nhận xét việc thực hiện các chức năng này của nhà nước ta? (5 điểm)

Đáp án:

* Chức năng

- Bảo vệ lợi ích giai cấp: là thiết lập, bvệ chế độ sở hữu về TLSX; chế độ pphối, hưởng thụ tối ưu cho gcấp mà NN là đbiểu

- Điều chỉnh các hành vi sản xuất kinh doanh, trước hết:

Đchỉnh qhệ lđộng SX: qgia với qtế; pcông, hợp tác trong nội bộ nền KT;

Đ chỉnh các hành vi phân chia lợi ích: qhệ trao đổi hành hoá, phân chia lợi tức, tiền lương; giữ cho xh công bằng, bình đẳng, văn minh

- Quan hệ đối với công quỹ quốc gia để bảo đảm cho các doanh nhân có nghĩa vụ đóng góp công quỹ.

- Hỗ trợ doanh nhân lập thân, lập nghiệp trên lĩnh vực kinh tế: Chức năng này được hiểu như là sự giúp đỡ của nhà nước đối với doanh nhân cụ thể .

- Hỗ trợ công dân ý chí làm giàu: thông qua chế độ kinh tế ổn định, pháp luật khả thi, nghiêm minh

- Hỗ trợ về tri thức: như tri thức sản xuất, quản lý kinh doanh, thông tin thời sự mọi mặt

- Hỗ trợ về phương tiện sản xuất và kinh doanh như vốn, kết cấu hạ tầng kinh tế, và những phương tiện kỹ thuật đặc biệt.

- Hỗ trợ doanh nhân về môi trường kinh doanh cần có như: tuyên truyền giới thiệu, giúp cho môi trường kinh tế cụ thể, môi trường an ninh, chật tự, an toàn xã hội .

- Bổ sung thị trường những hàng hoá và dịch vụ khi cần thiết bằng phg thức thích hợp.

- Bảo vệ công sản và khai thác công sản như 1 phương thức quản lý. Bảo vệ trước sự lãng phí, tham ô, khai thác nó để phát triển kinh tế .

* Liên hệ thực tiễn Việt Nam (

Ưu: NN đã thực hiện tốt các chức năngcủa mình; thiết lập được chế độ sở hữu đa dạng, phgthức qlý, chế độ pphối hợp lý.

Giữ vững ổn định ctrị, tạo mtrường lành mạnh cho hđộng sxkd; thu hút sự đóng góp của dân

Hạn: Bảo vệ công sản và khai thác công sản còn bất cập, lảng phí, hiệu quả thấp…

Việc đchỉnh cơ chế chính sách, hđộng hổ trợ còn chậm


Câu 26. Đồng chí hãy phân tích thực trạng phát triển hệ thống đô thị và thực trạng quản lý đô thị Việt Nam hiện nay?


1. Thực trạng phát triển đô thị Việt Nam:

*Về ưu điểm:

- Tốc độ phát triển đô thị nước ta khá nhanh cả về số lượng và chất lượng, tạo nên 1 số lượng cơ sở hạ tầng bằng mấy chục năm trước đây, đã đáp ứng được sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, trở thành nhân tố quan trọng của quá trình phát triển các đô thị đã đảm nhận được vai trò là trung tâm của ngành công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp…

- Đô thị đã đảm bảo được việc tăng ngân sách Nhà nước, đảm bảo vững nên quốc phòng an ninh.

- Phương pháp quản lý Nhà nước về đô thị trong thời gian qua đã đổi mới 1 cách đáng kể thể hiện ở các văn bản pháp luật, quản lý quy hoạch, đất đai xây dựng đô thị đã được soạn thảo và ban hành tương đối đầy đủ, đồng bộ góp phần tăng cường quản lý đô thị trên cả lĩnh vực đặc biệt là trong việc đổi mới lập xét duyệt quy hoạch đô thị, tăng nguồn vốn thu tài chính.

- Đô thị đã được cải tạo từ hình thức manh mún nhỏ lẻ sang xây dựng tập trung theo quy hoạch, dự án.

- Việc triển khai cải cách các thủ tục hành chính nhằm nâng cao hiệu lực quản lý Nhà nước về đô thị đã thu được 1 số kết quả đáng quan tâm.

* Nhược điểm :

- Cơ sở kinh tế kỹ thuật của đô thị còn yếu, tăng trưởng kinh tế chưa cân xứng với dân số,gây nên tình trạng thất nghiệp ngày càng cao, số dân cư từ nông thôn di cư ra đô thị nhiều làm tăng tình trạng vô giá cư gây bức xúc lớn.

- Tình trạng phân bố dân cư và sử dụng đất nông nghiệp vào mục đích xây dựng đô thị đang là 1 nguy cơ lớn đối với vấn đề an ninh lương thực, thực phẩm, hiện nay 70% số dân cư đô thị đang ở các vùng đòng bằng ven biển nơi tập trung chủ yếu quỹ đất nông nghiệp của cả nước.

- Hệ thống các đô thị tại trung tâm vẫn chưa hình thành, đều khắp các vùng, khoảng 50% tập trung tại 2 đô thị lớn là Hà Nội và Hồ Chí Minh; các vùng sâu, vùng xa, vùng núi, hải đảo thiếu đô thị trung tâm, thiếu động lực phát triển.

-` Cơ sở hạ tầng nhìn chung còn yếu kém, không đảm bảo được các điều kiện cho công nghiệp hoá và hiện đại hoá đất nước, hạ tầng không đồng bộ, môi trường sống bị ô nhiễm, xuống cấp, mạng lưới giao thông chưa phát triển, giao thông công cộng chiếm tỷ lệ thấp dẫn đến tình trạng ách tắc giao.

- Vấn đề cấp thoát nước rất kém, mạng lưới cổng thoát nước, vệ sinh đô thị chưa được giải quyết còn hiện tượng ngập úng, ô nhiễm.

- Quá trình đô thị hoá diễn ra nhanh chóng nhưng cũng đặt ra cho chúng ta 1 nhiệm vụ là bảo vệ môi trường vì ở đô thị bị xuống cấp nghiêm trọng, nước, không khí, đất đai bị ô nhiễm nặng nề…

2.Thực trạng Quản lý đô thị Việt Nam hiện nay đã có bước phát triển nhưng nhìn chung quản lý đô thị chưa làm chủ đước tình hình phát triển đô thị, còn có nhiều bất cập, chưa đáp ứng được nhu cầu phát triển của đô thị hiện nay.

- Tình trạng phát triển đô thị khá lộn xộn, chỉ phát triển ở dọc các trục quốc lộ không theo quy định và pháp luật còn khả phổ biến, mặc dù vậy vấn chưa có biện pháp để ngăn chặn, vai trò của các cấp chính quyền vấn chưa được phát huy đầy đủ trong công việc tổ chức thực hiện pháp luật và các quy hoạch đô thị.

- Các quy hoạch đô thị chi tiết còn thiếu, chưa khả thi hay kém chất lượng, kiến trúc đô thị chưa được định hướng kỹ nhiều di sản kiến trúc văn hoá truyền thống đang bị vi phạm biến dạng 1 cách nghiêm trọng, cần được khôi phục lại.

- Có nhiều cơ quan đơn vị tham gia vào việc quản lý đô thị, nhưng lại thiếu hẳn cơ quan điều phối chung, nó gây ra nhiều vấn đề chồng chéo, phức tạp và không hợp lý.

- Trong công tác quản lý đô thị, thì thủ tục hành chính trong vấn đề cấp đất, giấy phép xây dựng, thẩm định các dự án đầu tư còn nhiều phiếu hà, vấn đề về thuế, phí còn bất hợp lý chưa phù hợp với thực tiễn nên gây khó khan cho các nhà đầu tưvà nhaan dân, dẫn đến tình trạng xây dựng không phép, chuyển nhượng ngầm đất đai,…

- Đô thị nước ta rất lộn xộn, các trật tự kỷ cương bị vi phạm, môi trường sinh thaí xuống cấp, tệ nạn xã hội gia tăng và khá phức tạp điều đó là tại sự yếu kém trong khâu quản lý.

Đại hội XI:

Nâng cao chất lượng quy hoạch đô thị và đẩy mạnh đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng ở các đô thị lớn, nhất là Thủ đô Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh. Hình thành hệ thống đô thị vừa và nhỏ theo hướng phân bố hợp lý trên các vùng, khắc phục tình trạng tự phát trong phát triển đô thị. Xây dựng đô thị ven biển cần tính đến nước biển dâng do biến đổi khí hậu. Hỗ trợ quy hoạch, xây dựng, tổ chức tốt hơn các điểm dân cư nông thôn theo hướng sạch, đẹp, văn minh.


Câu 27. Thông qua công tác thực tiễn, làm rõ Vai trò và chức năng cơ bản của QLHCNN.

Bài làm:

- Vai trò và chức năng cơ bản của QLHCNN:

Quản lý HCNN là hoạt động thực thi quyền hành pháp nhằm tác động có tổ chức và điều chỉnh bằng quyền lực NN đối với các quá trình XH và hành vi của công dân do các cơ quan trong hệ thống hành chính từ TW đến cơ sở tiến hành để thực hiện được chức năng nhiệm vụ của NN, phát triển kinh tế XH, duy trì TT an ninh, thỏa mãn nhu cầu hàng ngày của nhân dân.

Hay, Quản lý HCNN là hoạt động của các cơ quan thực thi quyền lực hành pháp (CQHCNN), là hoạt động ban hành VBQPPL dưới luật (VB pháp quy) thực thi chúng và cung cấp dịch vụ công cho toàn XH.

Chøc n¨ng HCNN lµ loại hoạt động hành chính được tách ra trong quá trình phân công lao động quyền lực và chuyên môn hoá lao động của các cơ quan HCNN được thực thi trong từng thời kỳ nhất định. Thông qua các chức năng hành chính phản ánh vị trí, vai trò hoạt động của các cơ quan thực thi quyền hành pháp đối với đời sống xã hội.

Đây là một cách tiếp cận để chỉ rõ những hoạt động bên trong các cơ quan hành chính phải tiến hành. Các chức năng bên trong nhằm:

- Bảo đảm để có một cơ cấu tổ chức hiệu quả nhất.

- Bảo đảm để hành chính phải tuân thủ pháp luật.

Chức năng bên trong của hành chính trong một số tài liệu gọi là chức năng cần thiết để vận hành cơ quan HC vận động có hiệu quả. Xem xét chức năng HCNN khi vận hành vào một cơ quan công quyền nào đó là sự chi tiết hoá các chức năng HC thành những hoạt động HC thường xuyên ổn định.

Các cơ quan HCNN có nhiều chức năng bên trong. Một số chức năng bên trong của cơ quan HC cần chú ý là:

1) Chức năng quy hoạch, kế hoạch: là dựa trên cơ sở cương lĩnh, chiến lược phát triển kinh tế xã hội đã được hoạch định trong đường lối của Đảng và được nhất trí thông qua. Chính phủ, các Bộ, các chính quyền địa phương phải xây dựng và chỉ đạo thực hiện quy hoạch, kế hoạch phát triển ngành, địa phương trong từng giai đoạn cụ thể.

Đây là chức năng hàng đầu trong tiến trình HCNN, vì xét theo góc độ vận hành, nó có nội dung dưới đây:

- Xác lập hệ thống mục tiêu, xác định tốc độ phát triển cơ cấu và các cân đối lớn; các chính sách, giải pháp để dẫn dắt đất nước phát triển theo định hướng kế hoạch .

- Tiến hành dự báo, dự toán, mô hình hoá; xây dựng chiến lược, quy hoạch phát triển, lập các chương trình dự án cho từng ngành, từng vùng, từng lĩnh vực, kế hoạch 5 năm là chính, song có phân ra hàng năm.

- Việc quy hoạch và kế hoạch phải bao quát các ngành các vùng, các lĩnh vực và các thành phần kinh tế phù hợp với cơ cấu và cơ chế quản lý kinh tế mới ở nước ta .

2) Chức năng tổ chức bộ máy HCNN: là xây dựng được một bộ máy gọn, có hiệu quả nhằm xác định các mối quan hệ chỉ đạo, quan hệ ngang dọc, quan hệ phối hợp; quản lý chặt chẽ cường độ, năng suất hoạt động của bộ máy; quản lý sự thay đổi của tổ chức.

Đây là chức năng then chốt, gồm nhiều nhiệm vụ và hoạt động cụ thể sau:

Chức năng tổ chức bộ máy là một tiến trình quản lý mà thông qua đó nhà quản lý duy trì sự ổn định của tổ chức loại bỏ những mâu thuẫn giữa con người với công việc hoặc trách nhiệm phát triển môi trường làm việc tập thể.

Chức năng tổ chức bộ máy bao gåm 1 số nhiệm vụ và hoạt động cụ thể sau:

- Xây dựng bộ máy.

- Chỉ đạo sự vận hành của bộ máy.

- Hiệp đồng bên trong và hiệp đồng bên ngoài khi triển khai nhiệm vụ.

- Liên kết công việc, liên kết tổ chức và liên kết con người.

3) Chức năng sắp xếp, bố trí, phát triển, quản lý nguồn nhân lực: là sắp xếp cán bộ, công chức theo tiêu chuẩn chức danh; tieu chuẩn hoá đội ngũ công chức hành chính, tổ chức hệ thống công việc theo số lượng định biên thích hợp.

Đây là chức năng gắn liền với việc sử dụng và phát triển nguồn nhân lực của các cơ quan hành chính. Đó là sắp xếp cán bộ, công chức theo tiêu chuẩn chức danh, tiêu chuẩn hoá đội ngũ công chức hành chính, tổ chức hệ thống công việc thích hợp.

Chức năng này từ xưa đến nay đã quan trọng và từ nay về sau còn quan trọng hơn, vì việc nâng cao dân trí, đào tạo nhân tài là quốc sách hàng đầu, là nguyên nhân cội nguồn của sự hưng thịnh của một quốc gia. Quản lý con người và tối ưu hoá nguồn nhân lực đòi hỏi nhiều hoạt động hành chính cụ thể;

4) Chức năng ra quyết định hành chính: là tập hợp đầy đủ các thông tin, xử lý thông tin, đề ra các phương án khác nhau, thẩm định hiệu quả từng phương án, ban hành quyết định quản lý HCNN. Xét cho cùng, thì quyết định là sản phẩm, là hành vi quan trọng nhất của công chức lãnh đạo, quản lý. Đó là sự lựa chọn tiên quyết để sẵn sàng thực hiện các mục tiêu đã đề ra. Những vấn đề về phương pháp ra quyết định, tổ chức thực hiện quyết định luôn luôn là đối tượng quan tâm của các nhà hành chính.

5) Chức năng điều hành, hướng dẫn thi hành: là xây dựng các chỉ dẫn cụ thể để thực hiện các quyết định của cấp trên, bên ngoài và trong nội bộ cơ quan, đặc biệt là kế hoạch chi tiết cho từng hoạt động, tiến độ thực hiện, chỉ dẫn các quy định, hiệu quả và chất lượng hoạt động.

6) Chức năng phối hợp: là sự chỉ đạo dọc, sự đồng bộ hoạt động theo cấp hành chính về thời gian, phối hợp ngang giữa các đơn vị khác nhau, xây dựng cơ chế phối hợp có hiệu quả.

7) Chức năng tài chính: là xây dựng ngân sách, chú trọng nuôi dưỡng và khai thác nguồn thu, nhất là thuế, sử dụng hiệu quả, tiết kiệm ngân sách được cấp đúng chế độ, đúng chủ trương phân cấp, quản lý chặt chẽ công sản bao gồm cơ sở vật chất, phương tiện làm việc và những vật tư cần thiết khác.

8) Chức năng theo dõi, giám sát, kiểm tra: là nhằm làm sáng tỏ những kết quả đạt được; dự đoán chiều hướng hoạt động của từng bộ phận và toàn hệ thống, phát hiện những sai sót, vướng mắc, khó khăn trong quá trình thực hiện những hoạt động hành chính. Chức năng này gắn liền nghĩa vụ, trách nhiệm các nhân và tổ chức, là cơ sở đánh giá thực thi và điều chỉnh hoạt động công vụ.

Lãnh đạo, quản lý mà không theo dõi, giám sát, kiểm tra thì coi như không có lãnh đạo và quản lý. Do đó để thực hiện tốt chức năng này đòi hỏi phải thiết lập một hệ thống kiểm tra có đủ thẩm quyền, công việc theo dõi, giám sát, kiểm tra có đủ thẩm quyền, công việc theo dõi, giám sát, kiểm tra có tính toàn diện, liên tục, thuyết phục, công khai và quần chúng, là một biện pháp quan trọng phản ánh trung thực hiện trạng, góp phần nâng cao hiệu lực và hiệu quả HCNN.

9) Chức năng báo cáo, sơ kết, tổng kết, đánh giá: là thiết lập báo cáo định kỳ (tháng, quý, 6 tháng, năm) và báo cáo tổng kết dài hạn (2 năm, 5 năm, 10 năm). Trong các bản báo cáo này cần đánh giá việc thực hiện mục tiêu, số lượng, chất lượng, hiệu quả thực hiện công vụ. Chức năng này đóng vai trò quan trọng, giúp người lãnh đạo thẩm định những việc đã làm được, những việc chưa làm được, làm cho phong phú thêm tính lý luận và thực tiễn hành chính từ đó định ra phương hướng, giải pháp cho những nằm tiếp theo.

Câu 28. Phân biệt cán bộ, công chức, viên chức.

Theo quy định tại Điều 4, Luật Cán bộ, công chức, được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XII, kỳ họp thứ 4 thông qua ngày 13 tháng 11 năm 2008:

1. Cán bộ là công dân Việt Nam, được bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị – xã hội ở trung ương, ở tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi chung là cấp tỉnh), ở huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (sau đây gọi chung là cấp huyện), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước; Cán bộ xã, phường, thị trấn (sau đây gọi chung là cấp xã) là công dân Việt Nam, được bầu cử giữ chức vụ theo nhiệm kỳ trong Thường trực Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, Bí thư, Phó Bí thư Đảng ủy, người đứng đầu tổ chức chính trị – xã hội;

2. Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị – xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp và trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị – xã hội (sau đây gọi chung là đơn vị sự nghiệp công lập), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước; đối với công chức trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập thì lương được bảo đảm từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật. Công chức cấp xã là công dân Việt Nam được tuyển dụng giữ một chức danh chuyên môn, nghiệp vụ thuộc Ủy ban nhân dân cấp xã, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước

3. Viên chức là công dân Việt Nam, trong biên chế, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào một ngạch viên chức hoặc giao giữ một nhiệm vụ thường xuyên trong đơn vị sự nghiệp của Nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội ( trừ lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị – xã hội) hưởng lương từ ngân sách nhà nước và các nguồn thu sự nghiệp theo quy định của pháp luật (đối tượng này không được điều chỉnh bởi Luật CBCC 2008).

2. Công tác đánh giá CBCC hàng năm.

Mục đích đánh giá công chức: Đánh giá công chức để làm rõ năng lực, trình độ, kết quả công tác, phẩm chất đạo đức làm căn cứ để bố trí, sử dụng, bổ nhiệm, đề bạt, đào tạo bồi dưỡng và thực hiện chính sách đối với công chức.

Việc đánh giá công chức sau 1 năm công tác được tiến hành vào thời gian cuối năm theo trình tự sau:

a) Công chức viết bản tự nhận xét công tác theo nội dung :

- Chấp hành chính sách pháp luật của Nhà nước;

- Kết quả công tác (số lượng công việc hoàn thành trong năm);

- Tinh thần kỷ luật (ý thức tổ chức kỷ luật trong công tác, việc thực hiện nội quy cơ quan)

- Tinh thần phối hợp trong công tác (phối hợp công tác với các cơ quan liên quan và đồng nghiệp);

- Tính trung thực trong công tác (Trung thực trong báo cáo cấp trên và tính chính xác trong báo cáo);

- Lối sống, đạo đức;

- Tinh thần học tập nâng cao trình độ.

- Tinh thần và thái độ phục vụ nhân dân.

* Đối với công chức giữ chức vụ lãnh đạo đơn vị (được bổ nhiệm giữ các chức vụ cấp trưởng cấp phó phòng) ngoài những nội dung quy định ở trên, còn phải đánh giá về kết quả hoạt động của đơn vị, khả năng tổ chức quản lý đơn vị, tinh thần hợp tác với đơn vị bạn và mức độ tín nhiệm với mọi người.

b) Tập thể phòng nơi công chức làm việc tham gia vào bản tự nhận xét và ghi phiếu phân loại công chức(không ký tên) .

c) Thủ trưởng phụ trách người công chức trực tiếp đánh giá công chức theo từng nội dung quy định trên và tham khảo ý kiến nhận xét của tập thể để tổng hợp, xếp loại công chức theo 4 mức độ: Xuất sắc, khá, trung bình và kém.

d) Đối với công chức giữ chức vụ Trưởng, phó phòng thực hiện việc tự phê bình trước đơn vị, công chức trong đơn vị góp ý kiến, cấp trên (Giám đốc Sở)trực tiếp đánh giá.

e) Thủ trưởng phụ trách trực tiếp đánh giá công chức thông báo ý kiến đánh giá đến từng công chức của đơn vị.

* Qua thực tế công tác đánh giá CBCC hàng năm, bản thân tự nhận thấy: Công tác đánh giá cán bộ đã dần đi vào nề nếp, công khai, dân chủ góp phần quan trọng vào việc quy hoạch, đào tạo, bố trí, sử dụng, luân chuyển cán bộ hợp lý, từ đó tạo nhiều chuyển biến về chất lượng đội ngũ cán bộ. Tuy nhiên, trong đánh giá cán bộ vẫn là khâu yếu nhất hiện nay, trong đó, tiêu chí đánh giá cán bộ chưa rõ ràng, cụ thể; việc đánh giá còn nặng cảm tính và chưa gắn kết đánh giá với quy hoạch, đào tạo và sử dụng cán bộ.

Trong đánh giá cán bộ còn những trườg hợp không phản ánh được đúng bản chất, nghĩa là chưa đánh giá được hết mặt mạnh, mặt yếu của mỗi cán bộ, nhất là những cán bộ được bố trí vào những vị trí,chủ chốt. Một trong những vấn đề đánh giá là quan hệ giữa đức và tài. Có khi quá nhấn mạnh tài năng mà xem nhẹ phẩm chất đạo đức, hoặc nhấn mạnh phẩm chất đạo đức mà xem nhẹ tài năng, vẫn chưa được nhìn nhận và giải quyết một cách khoa học.

Việc đánh giá, bố trí, sử dụng cán bộ nhiều khi còn chủ quan, chưa thật công tâm, chưa hợp lý, thiếu dân chủ, hoặc dân chủ hình thức, chưa lấy hiệu quả công việc làm thước đo. Cách đánh giá chưa thật sự đổi mới, chưa thật quan tâm đến những ý kiến khác với ý kiến tập thể, thường là thống nhất với đánh giá của người đứng đầu. Bố trí cán bộ trong nhiều trường hợp còn nặng về cơ cấu, lúng túng, bị động, chưa mạnh dạn để bạt cán bộ trẻ, cán bộ nữ. Hiện tượng bố trí những người thân trong gia đình vào những vị trí quan trọng trong bộ máy quản lý, điều hành, nhất là những vị trí gắn liền với kinh tế, tài chính, đang còn tồn tại.

Có thực trạng là cán bộ bỏ việc, thôi việc, sao nhãng làm việc.. cũng có nguyên nhân từ việc đánh giá cán bộ không đúng, làm cho cán bộ thiếu động cơ phấn đấu, nên lãng phí nguồn nhân lực, nhất là hiện tượng chảy máu chất xám từ lĩnh vực công khác lĩnh vực khác.

Tuy nhiên, việc đánh giá CBCC mang nặng tính hình thức; các CBCC còn nễ nang ngại nhận xét lẫn nhau, sợ mất lòng nhau, nhất là nhận xét và đóng góp cho lãnh đạo quản lý; nội dung đánh giá chưa cụ thể nên việc tự nhận xét, đánh giá còn mang tính chung chung; thang bậc xếp loại chưa hợp lý (thiếu loại tốt); hệ thống đánh giá CBCC chưa chuẩn xác, nên khi đánh giá CBCC chưa đúng với mức độ hoàn thành công việc của từng người…Việc đánh giá, bố trí, sử dụng cán bộ nhiều khi còn chủ quan, chưa thật công tâm, chưa hợp lý, thiếu dân chủ, hoặc dân chủ hình thức, chưa lấy hiệu quả công việc làm thước đo. Cách đánh giá chưa thật sự đổi mới, chưa thật quan tâm đến những ý kiến khác với ý kiến tập thể, thường là thống nhất với đánh giá của người đứng đầu.

Để việc đánh giá CBCC được chính xác và công bằng, xin kiến nghị:

- Xây dựng hệ thống đánh giá thật cụ thể và chuẩn: các mục lớn nên chia thành các mục nhỏ và cho điểm từng mục cụ thể.

- Việc đánh giá CBCC không nên bó hẹp trong hệ thống nội bộ, mà nên tiếp cận đánh giá từ nhiều hướng – theo phương pháp 360 độ (như cấp trên, cấp dưới, đồng nghiệp, các tổ chức, cá nhân đến liên hệ công tác cùng đánh giá CBCC) thì mới chính xác

3. Hoàn thiện đạo đức CBCC hiện nay.

Về tổng quát, đạo đức là những tiêu chuẩn, nguyên tắc được xã hội thừa nhận, quy định hành vi, quan hệ của con người đối với nhau và đối với xã hội. Theo đó, có thể nói, đạo đức công vụ là những giá trị đạo đức và chuẩn mực pháp lý được áp dụng cho những đối tượng cụ thể - đó là cán bộ, công chức hoạt động trong lĩnh vực công vụ. Người công chức có đạo đức công vụ là thể hiện lương tâm và trách nhiệm của mình vì lợi ích chung và lợi ích của người khác, ý thức rõ về cái cần phải làm và mong muốn được làm vì những lợi ích đó.

Trong điều kiện xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân vấn đề nâng cao đạo đức công vụ là hết sức quan trọng. Đảng và Nhà nước ta đang ra sức phấn đấu đẩy mạnh cải cách hành chính xây dựng một nền hành chính dân chủ, trong sạch, vững mạnh, chuyên nghiệp, hiện đại hoá, hoạt động có hiệu lực, hiệu quả theo nguyên tắc của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa dưới sự lãnh đạo của Đảng; xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức có phẩm chất và năng lực đáp ứng yêu cầu của công cuộc xây dựng, phát triển đất nước…Trước hết, cần khẳng định đại bộ phận đội ngũ cán bộ, công chức của chúng ta đã vượt qua nhiều khó khăn, thử thách, cố gắng thực hiện và phấn đấu hoàn thành nhiệm vụ, giữ vững đạo đức, phẩm chất cách mạng, có ý thức tổ chức kỷ luật và tinh thần trách nhiệm, chấp hành sự phân công của tổ chức, có lối sống lành mạnh, giản dị, gắn bó với nhân dân. Mặc dù gặp nhiều khó khăn và chịu tác động phức tạp trong điều kiện chuyển đổi kinh tế - xã hội, nhưng đội ngũ cán bộ, công chức đã góp phần đóng vai trò quyết định những thành tựu của sự nghiệp đổi mới đất nước.

Kế thừa và phát huy những ưu điểm trên, xác định nhân tố con người đóng vai trò then chốt trong công cuộc cải cách hành chính, xây dựng được một đội ngũ công chức giỏi về nghiệp vụ và đáp ứng được những chuẩn mực của đạo đức công vụ là một trong những yêu cầu cấp bách góp phần đẩy mạnh cải cách hành chính xây dựng Nhà nước thực sự của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân đồng thời nâng cao trách nhiệm và đạo đức công vụ còn là một trong những công cụ hữu hiệu phục vụ cho cuộc đấu tranh chống tham nhũng và tiêu cực. Trên thực tế, hiện vẫn còn tình trạng cán bộ sợ trách nhiệm nên chỉ "khư khư” lo bảo vệ mình để không bị sai. Do vậy nhiều khi qui định là 7 thì lại "đẻ” thêm thành 9-10 để bắt tổ chức, cá nhân bổ sung cho hoàn chỉnh. Điều này gây phiền hà rất nhiều cho người dân. Bên cạnh đó, một bộ phận không nhỏ cán bộ, công chức, kể cả một số cán bộ, đảng viên cao cấp thiếu tu dưỡng, rèn luyện bản thân, phai nhạt lý tưởng, mất cảnh giác, giảm sút ý chí, kém ý thức tổ chức kỷ luật, tha hóa về đạo đức, lối sống. Một bộ phận cán bộ, công chức né tránh, thiếu bản lĩnh đấu tranh với những hành vi quan liêu, tham nhũng, tiêu cực. Một số khác chưa thực sự lấy việc phục vụ nhân dân làm mục tiêu hàng đầu, làm thước đo chủ yếu nhất cho mức độ và kết quả thực hiện nhiệm vụ của mình. Từ đó, dẫn đến tình trạng quan liêu, cửa quyền, sách nhiễu, gây phiền hà đối với nhân dân và lợi dụng chức trách, thẩm quyền được Nhà nước và nhân dân giao phó để nhận hối lộ, tham nhũng, buôn lậu, làm biến dạng những giá trị và tiêu chuẩn đích thực của người cán bộ, rơi vào chủ nghĩa cá nhân, cơ hội, thực dụng làm suy giảm uy tín của Đảng và niềm tin của nhân dân đối với Nhà nước. Tìm hiểu thực trạng của những khuyết, nhược điểm về phẩm chất đạo đức của cán bộ, công chức ta thấy có phần do nguyên nhân khách quan là sự tác động của những nhân tố tiêu cực của tình hình thế giới đến tư tưởng, tình cảm của cán bộ, công chức. Nhưng ở đây, chủ yếu vẫn là do những nguyên nhân chủ quan, bao gồm:

Thứ nhất, Đảng và Nhà nước chưa quan tâm đầy đủ đến việc giáo dục tinh thần trách nhiệm cho cán bộ, công chức cũng như xử lý các vi phạm đạo đức của cán bộ, công chức chưa nghiêm đã dẫn đến hạn chế kết quả răn đe, giáo dục; còn thiếu những quy định cụ thể về chế độ trách nhiệm của cán bộ, công chức.

Thứ hai, nhiều cán bộ, công chức còn xem thường những chuẩn mực đạo đức, nhân cách, nên thiếu nghiêm khắc với bản thân, không thường xuyên rèn luyện, tu dưỡng, dùi mài tinh thần trách nhiệm; mắc bệnh quan liêu, mệnh lệnh, chủ quan, tự tư, tự lợi, tư tưởng cục bộ, địa phương.

Thứ ba, cơ chế quản lý, kiểm tra, giám sát của tổ chức và thủ trưởng trực tiếp cũng như của nhân dân đối với hoạt động của cán bộ, công chức còn hạn chế, chưa thường xuyên, nghiêm túc và thiếu đồng bộ. Lãnh đạo của nhiều cơ quan hành chính thiếu tinh thần trách nhiệm trong quản lý cán bộ, công chức.

Thứ tư, trong tổ chức chỉ đạo thực hiện các chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước, chưa có quy định rõ ràng về trách nhiệm của cơ quan chủ trì và trách nhiệm của các cơ quan phối hợp. Do đó, khi mắc khuyết điểm thiếu tinh thần trách nhiệm, không hoàn thành nhiệm vụ thì không cơ quan nào, không người nào chịu trách nhiệm chính và bị xử lý kỷ luật.

Đất nước đã và đang chuyển mình hội nhập vào sân chơi toàn cầu. Điều đó đặt nước ta đứng trước hai vấn đề nan giải: Làm thế nào để đáp ứng ngày càng cao nhu cầu của quản lý Nhà nước? Làm thế nào để đứng vững trong thời buổi cạnh tranh gay gắt với các nước trong khu vực và trên thế giới? Nền tảng đầu tiên là phải nâng cao tinh thần trách nhiệm của cán bộ, công chức trong các cơ quan hành chính ở nước ta hiện nay

. Do đó, xây dựng và hoàn thiện đạo đức CBCC trong giai đoạn mới hiện nay phải dựa trên nền tảng tư tưởng của HCM về đạo đức cán bộ:

Một là, trung với nước, hiếu với dân, suốt đời chiến đấu hi sinh vì độc lập tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội và hạnh phúc của nhân dân.

Hai là, cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư.

Ba là, tu dưỡng đạo đức cách mạng suốt đời.

Bốn là, nói đi đôi với làm, nêu gương về đạo đức.

Năm là, xây đi đôi với chống.

Sáu là, luôn luôn tự phê bình và phê bình.

Để làm được việc đó chúng ta cần thực hiện đồng thời các giải pháp sau:

Trước tiên, cần xây dựng một khung pháp lý chặt chẽ trong đó quy định cụ thể hoá các chuẩn mực đạo đức của cán bộ, công chức như:

- Đạo đức cá nhân: Phải có nguyên tắc và phẩm chất đạo đức tốt, Thực hiện nhiệm vụ một cách trung thực và không vụ lợi cá nhân. Có lối sống trong sạch, cần cù, sáng tạo. có ý chì vươn lên về mọi mặt. Có thái độ cư xử đúng mực và phải luôn hoàn thiện mình.

- Đạo đức với cơ quan: Phải trung thực, công bằng và không thiên vị. Thực hiện nhiệm vụ bằng hết khả năng của mình với tinh thần tận tụy, nhiệt tình. Phải luôn đúng giờ và tận dụng tối đa thời gian cho công việc. Bảo vệ và sử dụng an toàn, tiết kiệm tài sản công.

- Mối quan hệ với đồng nghiệp, với cấp trên và với cấp dưới: Hợp tác, giúp đỡ và tư vấn, khuyên bảo. Quan tâm thường xuyên tới tư cách, động cơ và lợi ích của cấp dưới. Xây dựng làm việc theo đội, nhóm với tinh thần tương trợ lần nhau khi thi hành nhiệm vụ. Có thái độ lịch sự, nhã nhặn và có mối quan hệ tốt với mọi người. Cố gắng kiềm chế phê phán công việc của người khác và phàn nàn về công việc của mình.

- Đạo đức với công chúng và với xã hội: Phục vụ nhân dân với thái độ lịch sự và công bằng, đáng tin cậy, không nhận quà biếu hay ân huệ vượt quá giới hạn cho phép.

Thứ hai, thực hiện tự phê bình và phê bình trong tất cả các cơ quan hành chính các cấp nhằm đề cao giá trị đạo đức, sự hướng thiện của con người, ngăn ngừa, hạn chế sự sa sút, suy thoái đạo đức... Cần làm rõ mỗi cán bộ, công chức có hoàn thành nhiệm vụ được giao hay không. Trên cơ sở đó, xem xét, đánh giá tinh thần trách nhiệm của họ và có thái độ xử lý thỏa đáng đối với những người thiếu tinh thần trách nhiệm nhằm giáo dục và răn đe cán bộ, công chức, đồng thời củng cố niềm tin của nhân dân vào Nhà nước và pháp luật. Cần xây dựng cơ chế trách nhiệm người đứng đầu, trong đó có cơ chế từ chức, được nâng lên thành "văn hóa từ chức". Vấn đề từ chức rất cần sức mạnh của dư luận xã hội, như là một nguyên tắc được dư luận xã hội thừa nhận.

Thứ ba, tiếp tục đổi mới, hoàn thiện chức năng, nhiệm vụ của từng cơ quan, tổ chức, từng cá nhân cán bộ, công chức, loại bỏ những cơ chế, thủ tục dẫn tới khả năng tiêu cực, sách nhiễu nhân dân nhằm tạo điều kiện cho cán bộ, công chức làm điều tốt, có điều kiện cống hiến, phát huy năng lực phục vụ đất nước và nhân dân. Quy định rõ ràng về trách nhiệm của cơ quan chủ trì và trách nhiệm của các cơ quan phối hợp

Bốn là, xây dựng chế độ trách nhiệm cá nhân của cán bộ, công chức, nhất là đối với người đứng đầu cơ quan, đơn vị. Trên cơ sở đó, thường xuyên tiến hành kiểm tra việc làm của họ, đồng thời phải lựa chọn những cán bộ, công chức được giao thực hiện cơ chế “một cửa”, tiếp dân không những phải được bồi dưỡng, nâng cao kiến thức tổng hợp, trình độ nghiệp vụ và công tác dân vận, mà còn phải có quy định rõ về chức trách, nhiệm vụ của những người đó, ngoài ra thái độ tiếp dân phải được chấn chỉnh, đúng mực.

Năm là, giáo dục đạo đức cho công chức bằng nhiều hình thức cùng với việc giáo dục nâng cao giác ngộ chính trị, kỹ năng lao động nghề nghiệp. Cần chú trọng giáo dục tinh thần "hướng nội", khai thác giáo dục phẩm hạnh, lòng tự trọng, sự hảo tâm, lòng vị tha cao cả, tình thương yêu con người, đồng loại. Kế thừa và đổi mới các giá trị đạo đức xã hội để xây dựng cho được thước đo giá trị đạo đức mới phù hợp với điều kiện chuyển sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, tôn trọng lợi ích chính đáng của cá nhân.

Sáu là, thiết lập cơ chế kiểm tra, giám sát thường xuyên, độc lập, khách quan trong nội bộ cơ quan, đơn vị cũng như của nhân dân đối với hoạt động của cán bộ, công chức nhằm khắc phục tình trạng khép kín, thiếu công khai, minh bạch dễ phát sinh tiêu cực trong việc thực thi nhiệm vụ của cán bộ, công chức .

Bảy là, cần kiên quyết xử lý nghiêm minh, kịp thời và công bằng những sai phạm của cán bộ, công chức có hành vi vi phạm, gây nhũng nhiễu, phiền hà về thủ tục hành chính trong giải quyết công việc của công dân, đặc biệt là các trường hợp tái phạm, có tổ chức, có tình tiết nghiêm trọng nhằm góp phần to lớn trong việc giáo dục và răn đe cán bộ, công chức, đồng thời củng cố niềm tin của nhân dân vào Nhà nước, vào pháp luật.

Tám là, quy định rõ ràng về trách nhiệm liên đới đối với người đứng đầu cơ quan, đơn vị hành chính nhà nước, tổ chức sự nghiệp dịch vụ công để xảy ra việc cán bộ, công chức thuộc quyền quản lý trực tiếp của mình có hành vi gây nhũng nhiễu, phiền hà trong việc tiếp nhận và giải quyết công việc của công dân.

Chín là, cần hoàn thiện cơ chế quản lý cán bộ, công chức. Tăng cường hiệu lực, hiệu quả của các cơ quan chức năng như thanh tra, kiểm tra việc chấp hành thể chế, trước hết là việc thực thi công vụ trong cơ quan nhà nước phải được đặt thành một nhiệm vụ quan trọng thường xuyên trong hoạt động của Chính phủ và chính quyền các cấp. Bên cạnh việc tăng cường các cơ quan thanh tra, kiểm toán nhà nước, Thủ tướng Chính phủ và thủ trưởng cơ quan hành chính các ngành, các cấp phải dành thì giờ làm việc trực tiếp với cấp dưới, với cơ sở, kiểm tra công tác, qua đó, đánh giá đúng về cán bộ, công chức thuộc quyền quản lý trực tiếp.

Mười là, thực hiện công khai hoá quá trình tuyển chọn, sử dụng, đánh giá cán bộ, công chức. Đưa các yếu tố về đạo đức công vụ vào nội dung tuyển dụng và đánh giá kết quả hoạt động. Công khai các lợi ích của công chức. Cải cách hệ thống tiền lương, tiền thưởng, đảm bảo trả đúng sức lao động và giá trị cống hiến của cán bộ, công chức, tạo động lực thực hiện công vụ là giải pháp có ý nghĩa quan trọng trong cuộc đấu tranh chống tham nhũng, nâng cao phẩm giá người công chức. Xây dựng các chế độ, chính sách tôn vinh, khuyến khích sự tận tâm thực hiện công vụ, khen thưởng thoả đáng cho những cán bộ, công chức làm việc tốt.

Mười một là, tăng cường phát huy vai trò của các phương tiện hữu hiệu để truyền đạt nhanh chóng các giá trị và chuẩn mực trong công vụ cho xã hội và theo đó thực hiện mục tiêu bồi dưỡng, giáo dục đạo đức cán bộ, công chức. Mặt khác, nhờ đó mà chúng ta có điều kiện thuận lợi trong việc học tập, tiếp thu những kinh nghiệm bổ ích về đạo đức công vụ của các nước có nền công vụ tiên tiến trong khu vực và trên thế giới.

Mười hai là, tiến hành rà soát, bổ sung, sửa đổi các quy định nội bộ về quy trình, thủ tục hành chính không còn phù hợp, gây phiền hà cho việc tiếp nhận và xử lý công việc của công dân; kiên quyết loại bỏ những khâu trung gian, những thủ tục rườm rà, chồng chéo, những loại giấy tờ không cần thiết, công khai hoá, minh bạch hoá các quy định về trình tự, thủ tục hành chính liên quan đến việc giải quyết công dân nhằm tránh tình trạng cán bộ, công chức có thể vận dụng một cách tuỳ tiện các quy định mà rất khó bị phát hiện.

Song song với các giải pháp nêu trên, các cơ quan, đơn vị cần công bố công khai các số điện thoại đường dây nóng, địa chỉ hộp thư điện tử của cơ quan, đơn vị, tổ chức mình để tiếp nhận các góp ý về quy trình, thủ tục; các thông tin, vướng mắc của cá nhân, tổ chức đối với những việc làm sai trái, sách nhiễu, tiêu cực, gây phiền hà của cán bộ, công chức, viên chức. Phân công trách nhiệm cụ thể trong việc theo dõi, ghi nhận đầy đủ các thông tin, góp ý, xây dựng quy chế thẩm tra, xác minh, xử lý kịp thời và công bố công khai kết quả xử lý…

Trong tiến trình phát triển đất nước trong giai đoạn mới không thể tách rời vai trò của đội ngũ cán bộ, công chức mà điều tiên quyết là mỗi người phải tự thực hiện tốt lề lối làm việc và tự hoàn thiện nâng cao, đạo đức, tinh thần trách nhiệm của mình, thật sự đóng vai trò nòng cốt và đầu tàu đổi mới vai trò quản lý nhà nước nhằm tạo nên một động lực mạnh mẽ thúc đẩy việc thực hiện chương trình cải cách hành chính nhà nước đi đến thắng lợi.




Câu 29. Trình bày các chức năng của nhà nước trong quản lý kinh tế xã hội. Vai trò của công sản và nguyên tắc quản lý và sử dụng công sản. Nội dung cơ bản quản lý nhà nước về tài chính công.

1. Chức năng của NN trong QL KT-XH.

-Khái niệm quản lý nhà nước về kinh tế:

- QLNN về kinh tế hay QL của NN đối với nền KTQD là sự tác động có tổ chức và bằng pháp quyền của NN (thường sử dụng hai công cụ: Pháp luật và tổ chức NN ) lên nền KTQD nhằm sử dụng có hiệu quả nhất, các nguồn lực kinh tế trong và ngoài nước.

Nhà nước sử dụng tất cả các biện pháp có thể, để can thiệp vào nền kinh tế nhằm hạn chế những khuyết tật của nền KTTT, tạo môi trường kinh doanh lành mạnh, phân bổ nguồn lực một cách tối ưu và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.

- Các chức năng nhiệm vụ chủ yếu:

+(1) Định hướng phát triển kinh tế: Nhà nước định hướng và hướng dẫn bằng chiến lược, quy hoạch, kế hoạch và các công cụ quản lý. Thực chất định hướng là xác định con đường và hướng vấn đề của nền kinh tế nhằm đạt đến mục đích.

Trên cơ sở nhận thức và vận dụng các quy luật khách quan căn cứ vào các mục tiêu phát triển kinh tế XH mà Đảng đ đề ra, Nhà nước định hướng phát triển kinh tế thực hiện chức năng định hướng của Nhà nước là : Xác định có căn cứ khoa học những mục tiêu xây dựng chiến lược phát triển kinh tế quốc gia, phát triển các ngành và vùng lnh thổ. Lập cc quy hoạch, kế hoạch đồng thời lựa chọn các biện pháp chủ yếu để đạt được các mục tiêu đó trong thời gian nhất định.

Trong nền kinh tế thị trường, đặc biệt là trong thời kỳ mới chuyển từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang nền kinh tế thị trường, Nhà nước càng phải tăng cường định hướng, hướng dẫn pht triển kinh tế, vì sự vận hnh của nền kinh tế thị trường mang tính tự phát và tính không xác định rất lớn. Do đó Nhà nước thực hiện chức năng định hướng pht triển nền kinh tế của mình. Điều này không chỉ cần thiết đối với sự phát triển kinh tế chung m cịn cần thiết cho sự sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp. Điều này sẽ tạo các cơ sở sản xuất kinh doanh dự đoán được sự biến đổi của thị trường, từ đó nắm lấy cơ hội trong sản xuất kinh doanh cũng như lường trước những bất lợi có thể xảy ra.

Để thực hiện chức năng định hướng phát triển kinh tế Nhà nước phải tiến hành các công việc sau :

Phân tích đánh giá thực trạng của nền kinh tế hiện nay, những nhân tố trong nước và Quốc tế có ảnh hưởng đến sự phát triển hiện tại và tương lai của nền kinh tế nước nhà.

Dự báo phát triển kinh tế.

(+) Xây dựng đường lối phát triển kinh tế - XH.

(+) Hoạch định chiến lược pht triển kinh tế - XH.

(+) Hoạch định chính sách phát triển kinh tế - XH

(+) Hoạch định phát triển ngàng, vùng, địa phương.

(+)Lập chương trình mục tiu v dự án để phát triển.

+(2) Điều chỉnh và điều tiết quan hệ thị trường.

Điều chỉnh, điều tiết thực chất là chỉnh sửa, đổi lại sắp xếp lại cho đúng.

Trong khi quản lý nền kinh tế thị trường, Nhà nước phải vận dụng các quy luật các quy luật khách quan của nền kinh tế thị trường, nhằm điều chỉnh, điều tiết chi phối thị trường theo định hướng của Nhà nước, đảm bảo cho kinh tế phát triển công bằng, ổn định và và có hiệu quả. Đảm bảo mọi hoạt động kinh tế phải đạt được hiệu quả cao nhất, mọi nguồn lực phải được sử dụng tiết kiệm nhất nhưng cung cấp cho XH các hàng hóa và dịch vụ tốt nhất.

Các quan hệ lao động, như phân công và hiệp tác, phân bố lực lượng sản xuất, ….giữa các doanh nghiệp, sao cho các quan hệ đó được thiết lập một cách tối ưu.

Các quan hệ phân phối lợi ích. Đó là các quan hệ trao đổi và thanh toán giữa các doanh nhân với nhau, quan hệ chia lợi nhuận giữa các cổ đông trong một công ty, quan hệ chủ thợ trong mỗi doanh nghiệp có lao động làm thuê, quan hệ giữa các doanh nhân với Nhà nước trong sử dụng tài nguyên và môi trường, bảo vệ an ninh quốc gia, trật tự an toàn XH, quan hệ giữa người cung ứng hàng hóa, dịch vụ với người tiêu dùng qua giá cả và chất lượng sản phẩm…..

+(3) Tạo lập môi trường, điều kiện và hỗ trợ công dân lập nghiệp.

Môi trường cho sự phát triển kinh tế là tập hợp các yếu tố, các điều kiện tạo nên khung cảnh tồn tại và phát triển của nền kinh tế. Nói cách khác là tổng thể các yếu tố và điều kiện khách quan, chủ quan; bên ngoài; bên trong; có mối liên hệ mật thiết với nhau, ảnh hưởng trực tiếp hảy gián tiếp đến việc phát triển kinh tế và quyết định đến hiệu quả kinh tế.

Một môi trường thuận lợi được coi là bệ phóng, là điểm tựa vững chắc cho nền phát triển kinh tế nói chung và cho sản xuất kinh doanh của các doanh của các doanh nghiệp nói riêng. Ngược lại môi trường kinh doanh không thuận lợi, không những sẽ kìm hm, cản trở m còn làm cho nền kinh tế lâm vào tình trạng khủng hoảng, trì trệ và các doanh nghiệp rơi vào tình trạng phá sản hàng loạt.

Vì vậy, việc tạo lập mơi trường cho sự phát triển kinh tế nói chung của đất nước và cho sự phát triển sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp là một chức năng quản lý kinh tế của Nh nước.

Để tạo lập môi trường, nhà nước cần tập trung tốt các vấn đề sau:

. Đảm bảo sự ổn định về chính trị và an ninh quốc phịng, mở rộng quan hệ đối ngoại trong đó có quan hệ kinh tế đối ngoại.

. Xây dựng v thực thi một cch nhất qun các chính sách kinh tế XH theo hướng đổi mới và chính sách dân số hợp lý.

. Xây dựng và không ngừng hoàn thiện hệ thống pháp luật.

. Xây dựng mới và nâng cấp cơ sở hạ tầng bảo đảm điều kiện cơ bản cho hoạt động kinh tế có hiệu quả : Giao thông, điện, nước, thông tin, dự trữ quốc gia…..

. Xây dựng cho được một nền văn hóa trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN trên cơ sở giữ vững bản sắc văn hóa dân tộc và thừa kế tinh hoa văn hóa của nhân loại.

. Xây dựng một nền khoa học kỹ thuật và công nghệ tiến tiến cần thiết và phù hợp đáp ứng yêu cầu của sự phát triển của nền kinh tế và sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp, cải cách nền giáo dục để đào tạo nguồn nhân lực có kỹ thuật và trí tuệ phục vụ cho sự phát triển kinh tế.

. Xây dựng và thực thi chính sách và pháp luật về bảo vệ và sử dụng có hiệu quả tài nguyên thiên nhiên của đất nước, bảo vệ hoàn thiện môi trường tự nhiên, sinh thái.

+ Tổ chức các đơn vị kinh tế và hệ thống QLNN về kinh tế.

. Sắp xếp, tổ chức lại các đơn vị kinh tế và khu công nghiệp.

. Vai trò chủ đạo của hệ thống KTNN.

. Trực tiếp tổ chức các DNNN

. Tổ chức lại hệ thống quản lý.

. Chống thất thoát, lãng phí, tham ô…

+(4) Giám sát kiểm tra hoạt động của nền KTQD.

Kiểm tra, giám sát hoạt động kinh tế là nhà nước xem xét, đánh giá tình trạng tốt xấu của các hoạt động kinh tế, và theo dõi, xem xét sự hoạt động kinh tế được thực thi đúng hoặc sai đối với quy định của pháp luật.

Đảm bảo tuân thủ pháp luật, bảo vệ tài sản công, khắc phục khuyết tật của kinh tế thị trường và tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh cho các họat động sản xuất kinh doanh nhà nước phải tăng cường công tác kiểm tra, kiểm sốt.

* Những giải pháp chủ yếu thực hiện kiểm tra, giám sát hoạt động kinh tế:

- Tăng cường chức năng giám sát của Quốc hội, HĐND các cấp đối với Chính phủ và các Ủy ban nhân dân các cấp trong quản lý nh nước về kinh tế.

- Tăng cường chức năng kiểm tra của các viện kiểm sát nhân dân, các cấp thanh tra của Chinh phủ và của Ủy ban nhân dân các cấp, cơ quan an ninh kinh tế các cấp đối với hoạt động kinh tế.

- Nâng cao tinh thấn trch nhiệm v chịu trách nhiệm của nhũng người lãnh đạo nhà nước (Chủ tịch nước, Chủ tịch Quốc hội, Thủ tướng Chính phủ và Chủ tịch Hội đồng nhân dân, Chủ tịch Ủy ban nhân dân các cấp, Thủ trưởng các ngành kinh tế) và có lợi ích liên quan từ trung ương đến địa phương trong việc kiểm tra giám sát sự hoạt động kinh tế trong cả nước, trong các địa phương, trong các ngành mình.

- Sử dụng các cơ quan chuyên môn trong nước như kiểm toán nhà nước, các tổ chức tư vấn kinh tế vv.. khi cần thiết có thể sử dụng các tổ chức Quốc tế, các chuyên gia nước ngoài vào việc kiểm tra hoạt động kinh tế.

- Nâng cao vai trò kiểm tra, giám sát của nhân dân, của các tổ chức chính trị XH, cc cơ quan ngôn luận, các cơ quan thông tin đại chúng trong việc kiểm tra hoạt động kinh tế.

- Hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về kiểm tra , giám sát hoạt động kinh tế.

- Cũng cố hoàn thiện hệ thống cơ quan kiểm tra, giám sát của Nhà nước và xây dựng các cơ quan mới cần thiết , thực hiện việc phân công và phân cấp rõ ràng nâng cao năng lực chuyên môn và đạo đức của công chức trong bộ máy kiểm tra và giám sát các hoạt động kinh tế.

2. Vai trò của công sản và nguyên tắc quản lý và sử dụng công sản:

+ Khái niệm công sản: Công sản bao gồm tất cả các tài sản (động sản và bất động sản) thuộc sở hữu toàn dân do nhà nước thống nhất quản lý để sử dụng vào mục đích phục vụ lợi ích của nhà nước lợi ích của toàn dân.

+ Các đặc trưng của công sản:

- Về sở hữu, công sản là tài sản thuộc sở hữu toàn dân mà nhà nước là người đại diện chủ sở hữu.

- Về mục đích sử dụng, công sản được sử dụng vì lợi ích chung của đất nước, của nhân dân

- Về chế độ quản lý, công sản được quản lý thep quy định của nhà nước.

2.1. Vai trò của công sản:

*Công sản có vai trò đặc biệt quan trọng.

- Một là, công sản là tài sản vật chất, của cải của đất nước, phản ánh sức mạnh về kinh tế của đất nước, là tiền đề, yếu tố vật chất để nhà nước tổ chức thực hiện mục tiêu phát triển KT-XH đã đề ra.

- Hai là, việc sử dụng, khai thác các TSC có tác dụng kích thích quá trình phát triển KT-XH, tạo ra những khoản thu lớn cho tài chính công.

- Ba là, TSC, đặc biệt là tài tài sản trong các cơ quan NN phản ánh trình độ HĐH nền hành chính QG, HĐH hoạt động công sở.

- Bốn là, bộ phận TSC thuộc CSHT kỹ thuật và CSHT xã hội, nó phản ánh tính hiện đại, trình độ đô thị hóa của đất nước.

* Sự cần thiết quản lý công sản.

Quản lý công sản là quá trình tác động và điều chỉnh vào sự hình thành và vận động của công sản nhằm khai thác, sử dụng công sản một cách có hiệu quả nhất vì lợi ích của đất nước. Bởi vì:

- Công sản là tài sản của quốc gia và của nhân dân

- Công sản (CSHT Kỹ thuật và CSHT KT-XH) phản ánh sự phát triển của mỗi quốc gia, địa phương, vùng.

- Công sản, đặc biệt là phần tài sản công trong các cơ quan NN, là phần vốn hiện vật của cơ quan, được hình thành từ nguồn chi tiêu công.

- Yêu cầu mong muốn của mọi công dân.

2.2. Nguyên tắc quản lý và sử dụng công sản. (3 nguyên tắc). (trang 110-q3)

- Một là, tập trung thống nhất.

Công sản là tài sản quốc gia phải được qảun lý tập trung theo quy định pháp luật thống nhất của nhà nước. Việc phân cấp quản lý công sản hiện nay là nhằm phân công trách nhiệm, nghĩa vụ cho các ngành, các cấp quản lý tài sản công thuộc ngành, địa phương theo luật pháp thống nhất của nhà nước. Tuyệt đối không phân chia tài sản quốc gia, tài nguyên đất nước. Nhà nước giao quyền quản lý tài sản côngcho các ngành, địa phương, đơn vị là để thực hiện tốt nhiệm vụ, chức năng được giao. Mọi sự chiếm dụng công sản làm của riêng đều là vi phạm pháp luật.

- Hai là, theo kế hoạch.

Quản lý công sản phải trên cơ sở kế hoạch đã được lập ra. Điều đó có nghĩa là việc khai thác công sản hiện có, tạo lập công sản mới, sử dụng công sản đều theo kế hoạch.

Quản lý công sản theo nguyên tắc kế hoạch cho phép việc khai thác, sử dụng công sản phù hợp kế hoạch phát triển kinh tế quốc dân, tạo lập sự cân đối, hài hòa trong quản lý công sản, đặc biệt đối với tài nguyên, khoáng sản, các công trình thủy lợi, thủy điện…

Tính kế hoạch cho phép các cơ quan, đơn vị chủ động sử dụng cò hiện quả, hợp lý tài sản quốc gia. Nguyên tắc này chống khuynh hướng tùy tiện, tự do trong khai thác, tạo lập cũng như sử dụng công sản.

- Ba là, nguyên tắc tiết kiệm.

Công sản phải được sử dụng tốt nhằm bảo đảm sử dụng một cách tiết kiệm. Tiết kiệm ở đây cần nhận thức theo 2 khía cạnh:

- Tiết kiệm phải đáp ứng tính hợp lý khi tạo lập, khai thác, sử dụng công sản.

- Tiết kiệm phải đảm bảo tính hiệu quả của công sản.

Tóm lại,Việc quản lý công sản phải tạo điều kiện để công sản phục vụ hợp lý và hiệu quả nhất cho quá trình xây dựng, phát triển đất nước, phục vụ tốt quá trình cải cách nền hành chính quốc gia và cho việc quản lý và điều hành đất nước của nhà nước.

2.3. Nội dung cơ bản QLNN về tài sản công (sử dụng công sản).

Nguồn hình thành TSC: Cấp trên giao khi thành lập (đất đai, nhà cửa, phương tiện); Mua sắm theo quy định từ nguồn NS của CQ; cấp phát bổ sung, tài trợ thêm trong quá trình hoạt động; các tổ chức quốc tế tài trợ; quà biếu, tặng cho CQ, ĐV.

* Tài sản trong các CQNN được quản lý theo các khâu:

- QL quá trình hình thành TSC trong CQNN

- QL quá trình khai thác, sử dụng, bảo quản TSC

- Kết thúc quá trình sử dụng TSC

a. Quản lý quá trình hình thành tài sản công trong cơ quan nhà nước:

-Một là, khi CQ được thành lập, cùng với quy định chức năng, nhiệm vụ tổ chức bộ máy, biên chế cán bộ công chức, cơ quan được cấp một số tài sản ban đầu nhất định để làm công sở và phương tiện làm việc, bao gồm: đất đai, nhà cửa, phương tiện đi lại, phương tiện làm việc… Cơ quan có toàn quyền sử dụng các tài sản này để thực hiện nhiệm vụ được giao.

Bên cạnh tài sản được cấp, cơ quan có kế hoạch mua sắm tài sản lần đầu từ nguồn ngân sách của CQ. Những tài sản này được quản lý theo quy chế do cơ quan xây dựng trên cơ sở chế độ của NN và đặc thù hoạt động của CQ. Quy chế này được thảo luận dân chủ, công khai.

Từng loại tài sản được giao cho các đơn vị, cá nhân chịu trách nhiệm trực tiếp quản lý, khai thác, sử dụng.

Cần chú ý là quy chế quản lý sử dụng cũng như phân công cá nhân trực tiếp phụ trách quản lý, khai thác sử dụng cần được công bố công khai cho tất cả công chức trong cơ quan biết để thực hiện và kiểm tra, giám sát.

-Hai là, việc mua sắm bổ sung tài sản.

Tài sản cơ quan được mua sắm bổ sung, sửa chữa hàng năm đều được thực hiện thông qua kế hoạch hàng năm.

Theo quy trình kế hoạch, các đơn vị trongCQ lập dự trù đề nghị mua sắm. CQ tập hợp dự trù của các đơn vị đưa vào kế hoạch ngân sách hàng năm.

Căn cứ vào kế hoạch ngân sách để tổ chức mua sắm tài sản của CQ.

Trong công tác quản lý cần chú ý là chỉ được mua sắm tài sản đã được ghi vào kế hoạch. Tuyệt đối không thực hiện các nhu cầu ngoài kế hoạch. Trừ các trường hợp được cấp chủ quản cấp bổ sung, các tổ chức quốc tế tài trợ hay quà biếu, tặng…

b. Quản lý quá trình khai thác, sử dụng, bảo quản tài sản:

Đây là khâu có ý nghĩa quan trọng trong việc phát huy hết hiệu quả của tài sản công. Quản lý ở khâu này cần tập trung xử lý một số vấn đề chủ yếu sau:

- Giao tài sản cho các đơn vị và cá nhân chịu trách nhiệm trực tiếp quản lý, khai thác, sử dụng, bảo quản. Mỗi tài sản đều có cá nhân trực tiếp chịu trách nhiệm quản lý, sử dụng, bảo quản

- Xây dựng và ban hành nội quy, quy chế sử dụng tài sản công.

- Có sự kiểm kê đột xuất và định kỳ đối với tài sản công trong cơ quan. Qua kiểm kê đánh giá số lượng, chất lượng tài sản công.

- Thường xuyên kiểm tra quá trình sử dụng, bảo quản tài sản công.

- Xử lý các trường hợp rủi ro xãy ra có liên quan đến tài sản công của cơ quan.

Tài sản cần được sửa chữa, bảo dưỡng theo yêu cầu kỹ thuật và đặc điểm sử dụng. Mọi sự sửa chữa, bảo dưỡng phải có kế hoạch và theo lịch trình kỹ thuật sử dụng. Tránh mọi sự tùy tiện trong sửa chữa, bảo dưỡng tài sản. Đồng thời cần tuân thủ quy định chặt chẽ về quản lý tài chính đối với hoạt động này.

c. Kết thúc quá trình sử dụng tài sản công:

Tài sản công hết kỳ sử dụng, đã khấu hao hết hoặc đổi mới kỹ thuật được tiến hành thanh lý. Quá trình thanh lý phải tuân thủ đúng các quy định pháp luật như sau:

- Thành lập ban thanh lý.

- Căn cứ vào đặc điểm kỹ thuật, giá trị tài sản còn lại để lựa chọn phương thức thanh lý phù hợp:

+ Thanh lý theo hình thức đấu giá. Thường được áp dụng đối với các tài sản có giá trị lớn như máy móc thiết bị, phương tiện vận tải.

+ Thanh lý theo hình thức quy định giá. Thường được áp dụng đối với các tài sản có giá trị thấp, đã khấu hao hết song còn sử dụng được. Hình thức này thường bán cho CBCC trong nội bộ CQ.

Dù hình thức nào cũng phải công bố và thực hiện công khai. Đồng thời phải tuân thủ nghiêm ngặt chế độ quản lý tài chính. Ở đây tránh tình trạng đặc quyền, đặc lợi của cán bộ lãnh đạo CQ khi thanh lý tài sản công.

* Một số nội dung chủ yếu đổi mới quản lý tài sản công trong CQNN:

Cùng với tiến trình cải cách nền hành chính quốc gia, cải cách quản lý tài chính công, đổi mới quản lý tài sản công trong các CQNN cần tập trung thực hiện một số nội dung chủ yếu sau đây:

- Một là, hoàn thiện các tiêu chuẩn, định mức sử dụng tài sản công trong các CQNN, đặc biệt là các phương tiện đi lại, công cụ làm việc… Nhằm đảm bảo tiết kiệm, hiệu quả, chống lãng phí, tiêu cực, tham nhũng.

- Hai là, tăng cường sự kiểm tra, kiểm soát đối với việc quản lý sử dụng tài sản công trong các cQNN. Trong đó cần xây dựng cơ chế bảo đảm sự kiểm tra, kiểm soát của dân (CQ dân cử cũng như mọi công dân) đối với việc sử dụng tài sản công.

- Ba là, có chế tài pháp lý, với tính răng đe mạnh đối với các cá nhân, lãnh đạo cũng như công chức trực tiếp quản lý, sử dụng bảo quản tài sản công về sự thất thoát tài sản công trong cQNN.

- Bốn là, đổi mới công tác thẩm định chủ trương đầu tư xây dựng, mua sắm tài sản của cQNN. Bảo đảm cắt bỏ những nhu cầu đầu tư xây dựng, mua sắm tài sản vượt tiêu chuẩn định mức, thật sự chưa cần thiết. Kiên quyết không thanh toán, quyết toán các khoản chi về đầu tư, mua sắm tài sản ngoài dự toán ngân sách được duyệt.

- Năm là, kiên quyết xử lý dứt điểm các trường hợp sử dụng tài sản công sai mục đích hoặc chưa sử dụng. Điều phối các tài sản này bảo đảm đưa vào sử dụng hợp lý, hiệu quả hơn.

- Sáu là, xây dựng quy chế nhằm phân định rõ quyền hạn và trách nhiệm vật chất của các thủ trưởng Bộ, ngành, địa phương, đơn vị về việc quản lý tài sản công trong các CQNN.

Đồng thời, kiện toàn tổ chức bộ máy quản lý tài sản công từ TW đến các sở nhằm tạo nên sự phối hợp nhịp nhàng cũng như quy định rõ ràng trách nhiệm, nghiã vụ, quyền hạn của từng cấp, cá nhân trong quản lý tài sản công ở các CQNN.

3. Nôi dung cơ bản QLNN về Tài chính công.

Tài chính công: là các hoạt động thu và chi bằng tiền của NN, phản ánh hệ thống các quan hệ kinh tế dưới hình thức giá trị quá trình hình thành và sử dụng các quỹ tiền tệ của NN nhằm phục vụ cho việc thực hiện các chức năng vốn có của NN đối với XH.

Đặc trưng của TCC: phục vụ cho lợi ích chung của cộng đồng; mang tính chính trị rõ rệt; mang tính lịch sử; mang tính không bồi hoàn trực tiếp; việc phân phối các nguồn tài chính không những liên quan đến lợi ích của người đóng góp và người được hưởng thụ mà còn tác động sâu sắc đến các vấn đề chính trị, KT, ANQP và đối ngoại.

Vai trò của TCC:

-Huy động các nguồn lực tài chính bảo đảm duy trì sự ổn định và hoạt động của BMNN.

-Đáp ứng các nhu cầu chỉ tiêu nhằm thực hiện các chức năng vốn có của NN.

-Bào đảm cho NN thực hiện các MT về phát triển KT-XH, ổn định chính trị của đất nước.

-Thực hiện công bằng XH.

-Góp phần thúc đẩy kinh tế phát triển có hiệu quả và ổn định.

* Khái niệm, mục tiêu của quản lý tài chính công:

a. Khái niệm: Quản lý tài chính công là quá trình lập kế hoạch, tổ chức, điều hành và kiểm soát hoạt động thu chi của NN nhằm phục vụ cho việc thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của NN một cách hiệu quả nhất.

* Các đặc điểm của quản lý tài chính công là:

- Quản lý TCC là một loại quản lý hành chính NN.

- Quản lýTCC được thực hiện bởi một hệ thống các CQ NN và tuân thủ những quy phạm PL của NN.

- Quản lý TCC là một phương thức quan trọng trong việc điều tiết các nguồn lực tài chính nhằm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của NN đối với XH.

b. Mục tiêu của quản lý tài chính công:

Các mục tiêu cụ thể của quản lý tài chính công là:

- Thứ nhất, bảo đảm kỷ luật tài khoá tổng thể. Chính phù quản lý các nhu cầu có tính cạnh tranh nhau trong giới hạn nguồn lực tài chính công cho phép, từ đó góp phần ổn định kinh tế vĩ mô.

- Thứ hai, bảo đảm hiệu quả phânbổ và huy động nguồn lực. Chính phủ phải xác định được thứ tự ưu tiên trong phân bổ nguồn lực; phù hợp với với các chiến lược và kế hoạch quốc gia, của các Bộ ngành và các tỉnh (chiến lựơc phân bổ hay sự lựa chọn mang tính chiến lược).

- Thứ ba, đảm bảo hiệu quả hoạt động, tức là làm thế nào để có thể cung ứng được các hàng hoá và dịch vụ công có hiệu quả mong muốn trong phạm vi ngân sách cho trước hoặc với chi phí thấp nhất.

* Các yêu cầu đối với quản lý tài chính công là:

- Tập trung được nguồn lực tài chính công để giải quyết các nhiệm vụ quan trọng, đúng với chức năng của NN.

- Sử dụng tập trung nguồn lực TCC cho các ưu tiên chiến lược với chính sách nhất quán và thống nhất.

- Đảm bảo sự công bằng trong phân phối thu nhập của nền kinh tế, tạo nên sự cạnh tranh bình đẳng trên thị trường.

- Nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực tài chính công ở tầm vĩ mô và hiệu quả sử dụng nguồn lực tài chính công ở những đơn vị trực tiếp sử dụng.

- Nâng cao được tính chủ động, quyền hạn và trách nhiệm của các đơn vị trực tiếp sử dụng nguồn lực TCC.

- Hướng tới mục tiêu của cải cách hành chính NN, đó là nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của bộ máy NN, nâng cao chất lượng những dịch vụ công được cung cấp.

c. Nguyên tắc của quản lý tài chính công:

Hoạt động quản lý tài chính công được thực hiện theo những nguyên tắc cơ bản sau đây:

- Nguyên tắc tập trung dân chủ:

Tập trung dân chủ là nguyên tắc hàng đầu trong quản lý TCC. Điều này được thể hiện ở quản lý ngân sách NN, quản lý các quỹ tài chính NN và quản lý tài chính đối với các CQHC và đơn vị sự nghiệp. Tập trung dân chủ đảm bảo cho các nguồn lực của XH, của nền kinh tế được sử dụng tập trung và phân phối hợp lý. Các khoản thu – chi trong quản lý tài chính công phải được bàn bạc thực sự công khai, dân chủ nhằm đáp ứng các lợi ích chung của cộng đồng.

- Nguyên tắc hiệu quả:

Hiệu quả trong quản lý tài chính công được thể hiện trên tất cả các lĩnh vực chính trị, kinh tế và XH. Khi thực hiện các nội dung chi tiêu công cũng như khi khai thác các nguồn lực TCC., NN luôn xuất phát từ lợi ích của toàn thể cộng đồng

- Nguyên tắc thống nhất:

Thống nhất quản lý theo những văn bản luật pháp là nguyên tắc không thể thiếu trong quản lý tài chính công. Thống nhất quản lý chính là việc tuân thủ theo các quy định chung từ việc hình thành, sử dụng các quỹ tài chính công, thanh tra, kiểm tra, thanh quyết toán., xử lý những vướn mắc trong quá trình triển khai thực hiện. Thực hiện nguyên tắc quản lý thống nhất sẽ đảm bảo tính bình đẳng, công bằng đảm bảo hiệu quả, hạn chế những tiêu cực và những rủi ro khi quyết định các khoản chi tiêu công.

- Nguyên tắc công khai, minh bạch:

Công khai minh bạch trong động viên, phân phối các nguồn lực tài chính công là nguyên tắc đảm bảo cho việc thực hiện quản lý TCC thống nhất, hiệu quả. Thực hiện công khai minh bạch quản lý sẽ tạo điều kiện cho cộng đồng có thể giám sát, kiểm soát các quyết định về thu, chi trong quản lý tài chính công, hạn chế những thất thoát, đảm bảo hiệu quả của những khoản và chi tiêu công.


* Nội dung cơ bản QLNN về tài chính công. (5 nội dung)(trang 78 – 81, Q.III)

Xuất phát từ khái niệm tài chính công chúng ta thấy rằng quản lý tài chính công bao gồm việc quản lý những bộ phập sau:

- Quản lý ngân sách nhà nước: Ngân sách nhà nước là công cụ quan trọng nhất của nhà nước trong việc thực hiện các chính sách của mình. Ngân sách nhà nước phản ánh các mối quan hê5 kinh tế giữa Nhà nước và các chủ thể trong xã hội. Phát sinh khi Nhà nước tham gia phân phối các nguồn tài chính quốc gia theo nguyên tắc không hoàn trả trực tiếp. Như vậy, xét về khía cạnh kinh tế, hoạt động thu – chi của ngân sách nhà nước thể hiện quá trình phân phối và phân phối lại một bộ phận giá trị tổng sản phẩm xã hội.

Quản lý ngân sách nhà nước là quản lý sự vận động của các nguồn tài chính gắn liền với quá trình tạo lập, sử dụng quỹ tiền tệ tập trung của Nhà nước nhằm thực hiện các hiện các chức năng của Nhà nước.

- Quản lý các quỹ tài chính khác của Nhà nước: Ở Việt Nam đã hình thành một số quỹ tài chính nhà nước như: Quỹ hỗ trợ phát triển, Quỹ bảo hiểm xã hội, Quỹ hỗ trợ tín dụng doanh nghiệp nhỏ và vừa, Quỹ khuyến khích hỗ trợ xuất khẩu…Các quỹ tài chính nhà nước được quản lý thông qua các quy trình riêng biệt (khác với quy trình quản lý ngân sách nhà nước), qua đó tạo ra được sự linh hoạt trong quyết định chi tiêu của Nhà nước, tránh được những nguyên tắc quản lý cứng nhắc và khắc khe của quản lý ngân sách nhà nước.

Nguồn hình thành chủ yếu của các quỹ tài chính nhà nước thường từ ngân sách nhà nước hoặc là sự kết hợp nguồn vốn từ Ngân sách nhà nước và huy động đóng góp của các tổ chức, cá nhân. Việc sử dụng quỹ tài chính nhà nước này không được hạch toán theo kiểu quản lý ngân sách nhà nước, mà được quản lý theo các quy định riêng biệt.

- Quản lý tài chính trong các cơ quan HCNN: Cơ quan hành chính là hệ thống cơ quan công quyền thực hiện chức năng quản lý nhà nước và cung cấp các dịch vụ hành chính công cho các tổ chức và công dân.

Ở những cấp độ quản lý khác nhau, các cơ quan hành chính đều có nguồn lực tài chính tưng ứng để phục vụ cho việc thực hiện các nhiệm vụ của cơ quan mình. Nguồn tài chính cho các cơ quan này hoạt động chủ yếu dựa vào các khoản cấp phát theo chế độ từ ngân sách nhà nước nước theo nguyên tắc không bồi hoàn trực tiếp để thực hiện những nhiệm vụ mà Nhà nước giao.

Nguồn tài chính của các đơn vị hành chính được sử dụng tuân thủ theo cac quy định của Luật ngân sách nhà nước, các văn bản đặc thù cho từng ngành, từng lĩnh vực, từng địa phương.

- Quản lý tài chính trong các đơn vị cung ứng dịch vụ công của Nhà nước: Một bộ phận lớn các dịch vụ công được các đơn vị trực thuộc nhà nước cung ứng. Đơn vị cung ứng dịch vụ công thuộc nhà nước là những đơn vị thực hiện nhiệm vụ chuyên môn, nghiệp vụ (ví dụ như các đơn vị sự nghiệp thuộc ngành giáo dục, y tế, khoa học, thể dục thể thao…)hoặc các đơn vị thực hiện các hoạt động công ích (ví dụ như cung ứng điện, nước, xây dựng đường xá…) không vì mục đích kinh doanh lợi nhuận.

Các đơn vị này cung ứng dịch vụ công nhằm thỏa mãn nhu cầu thiết yếu của người dân và của xã hội. Nguồn tài chính cho các đơn vị này hoạt động là từ nguồn ngân sách nhà nước, một số những khoản thu khác có nguồn gốc từ ngân sách nhà nước, các khoản thu do đơn vị tự khai thác, các khoản thu từ quyên góp, tặng, biếu không phải nộp ngân sách nhà nước.

Nguồn tài chính của các đơn vị cung ứng dịch vụ công được sử dụng, chi tiêu theo quy định của Luật ngân sách nhà nước và những quy định khác nhằm nâng cao chất lượng hoạt động cung ứng dịch vụ công và tạo quyền chủ động cho đơn vị cung ứng dịch vụ công.

- Quản lý tài sản công: Tài sản công là nguồn lực tài chính quan trọng của đất nước. Nhà nước là chủ sở hữu mọi tài sản công, song Nhà nước không phải là người trực tiếp sử dụng toàn bộ tài sản công. Tài sản công được Nhà nước giao cho các cơ quan trực thuộc bộ máy nhà nước, các tổ chức kinh tế, xã hội…trực tiếp quản lý, sử dụng. Để thực hiện vai trò chủ sở hữu tài sản công củaq mình, Nhà nước phải thực hiện các chức năng quản lý nhà nước đối với tài sản công, có trách nhiệm bảo tồn, phát triển nguồn tài sản công một cách tiết kiệm và có hiệu quả phục vụ cho sự phát triển đất nước.

Một phần tài sản công được hình thành từ hoạt động chi tiêu các quỹ tiền tệ của Nhà nước, đồng thời tài sản công cũng tạo ra một nguồn thu quan trọng cho ngân sách nhà nước. Xét dưới giác độ đó, một bộ phận tài sản công chính là biểu hiện của hoạt động thu chi bằng tiền của ngân sách Nhà nước. Giá trị các tài sản công chiếm một phần rất lớn trong chi ngân sách nhà nước hàng năm. Vì vậy, việc quản lý các tài sản công là một nội dung quan trọng trong quản lý tài chính công./.

Câu 30. Các nguyên tắc được áp dụng trong xử lý vi phạm hành chính:

Có 4 nhóm nguyên tắc:

*Các nguyên tắc về xử lý vi phạm hành chính: (điều 3)

-Mọi vi phạm hành chính đều phải được phát hiện kịp thời và phải bị đình chỉ ngay. Việc xử lý vi phạm hành chính phải được tiến hành ù nhanh chóng, công minh, triệt để; mọi hậu quả do vi phạm hành chính gây ra phải được khắc phục theo đúng qui định của pháp luật.

-Cá nhân ,tổ chức chỉ bị xử phạt hành chính khi có hành vi vi phạm hành chính do PL quy định.

Hoặc cá nhân chỉ bị áp dụng các biện xử lí hành chính khác nếu thuộc một trong các đối tượng được qui định tại các điều 23, 24, 25, 26 và 27 của pháp lệnh xử lí vi phạm hành chính năm 2002.

-Việc xử lý vi phạm hàng chính do người có thẩm quyền tiến hành đúng theo qui định của pháp luật.

-Một hành vi vi phạm hành chính chỉ bị xử phạt 1 lần,

Nhiều người cùng thực hiện 1hành vi thì mỗi người vi phạm đều bị xử phạt,

Một người thực hiện nhiều hành vi vi phạm hành chính thì bị xử phạt từng hành vi vi phạm.

-Việc xử lý vi phạm hành chính phải căn cứ vào tính chất, mức độ vi phạm, nhân thân người vi phạm và những tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng để quyết định hình thức, biện pháp xử lí thích hợp.

- Không xử lý hành chính những trường hợp tình thế cấp thiết, phòng vệ chính đáng, sự kiện bất ngờ hoặc vi phạm hành chính trong khi đang mắc bệnh tâm thần hoặc các bệnh khác làm mất khả năng điều khiển hành vi của mình.

*Các nguyên tắc về thời hiệu: (điều 10)

  • Thời hiệu xử phạt vi phạmhành chính là 1 năm, kể từ ngày vi phạm hành chính được thực hiện;

  • Đối với các hành vi vi phạm hành chính trong các lĩnh vực sau đây:Tài chính, chứng khoán, sở hữu trí tuệ, xây dựng, môi trường, an toàn và kiểm soát bức xạ, nhà ở đất đai, đê điều, xuất bản, xk, nk xuất cảnh, nhập cảnh hoặc vi phạm hành chính là hành vi buôn lậu, SX buôn bán hàng gỉathì thời hiệu là 2 năm.

  • Nếu quá thời hiệu nói trên thì không xử phạt, nhưng vẫn bị áp dụng các biện pháp khắc phục hậu quả được quy định tại các điểm a,b,c,d và đ khoản 3 điều 12 của PL XLVPHC.

  • Người có thẩm quyền xử phạt nếu có lỗi trong việc để quá thời hiệu xử phạt vi phạm vi phạm hành chính thì bị xử lý theo quy định tại điều 121 của PL XLVPHC

  • Đối với cá nhân đã bị khởi tố, truy tố hoặc đã có quyết định đưa ra xét xử theo thủ tục tố tụng hình sự, nhưng sau đó có quyết định đình chỉ điều tra hoặc đình chỉ vụ án mà hành vi vi phạm có dấu hiệu vi phạm hành chính thì bị xử phạt hành chính; trong thời hạn 3 ngày, kể từ ngày ra quyết định đình chỉ điều tra, đình chỉ vụ án, người ra quyết định phải gửi quyết định cho người có thẩm quyền xử phạt; trong trường hợp này thời hiệu xử phạt VPHC là 3 tháng, kể từ ngày người có thẩm quyền xử phạt nhận được quyết định đình chỉ và hồ sơ vụ vi phạm;

  • Trong thời hạn được quy định tại khoản 1 và khoản 2 của điều 10 PL XPVPHC mà cá nhân tổ chức lại thực hiện vi phạm hành chính mới trong cùng lĩnh vực trước đây đã vi phạm hoặc cố tình trốn tránh, cản trở việc xử phạt thì không áp dụng thời hiệu quy định tại khoản 1 và khoản 2 điều 10; Thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính được tính lại kể từ thời điểm thực hiện vi phạm hành chính mới hoạc thời điểm chấm dứt hành vi trốn tránh, cản trở việc xử phạt.

  • Thời hiệu áp dụng biện pháp xử lý hành chính khác được qui định tại các điều 23,24,25,26 của PL XLVPHC

*Các nguyên tắc xác định thẩm quyền xử lý vi phạm hành chánh :(điều 42)

-CT UBND các cấp có quyền xử phạt vi phạm hành chánh trong các lĩnh vực quản lý hành chánh nhà nước ở địa phương.

Người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính quy định tại các điều 31-40 của pháp lệnh XL VPHC ( CA nhân dân; Bộ đội biên phòng; Cảnh sát biển; Hải quan; Kiểm lâm; Thuế; QL thị trường; Thanh tra chuyên ngành; Giám đốc cảng vụ hàng hải, giám đốc cảng vụ thủy nội địa, giám đốc cảng vụ hàng không; toà án nhân dân và cơ quan thi hành án dân sự) có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính thuộc lĩnh vực, ngành mình quản lý.

Trong trường hợp vi phạm hành chính thuộc thẩm quyền xử phát của nhiều người, thì việc xử phạt do người thụ lý đầu tiên thực hiện.

  • Thẩm quyền xử phạt của những người được quy định tại các điều 28 đến 40 của PL XLVPHC thì thẩm quyền áp dụng đối với một hành vi vi phạm hành chính. Trong trường hợp phạt tiền, thẩm quyền xử phạt được xác định căn cứ vào mức tối đa của khung tiền phạt quy định đối với từng hành vi vi phạm cụ thể.

  • Trong trường hợp xử phạt một người thực hiện nhiều hành vi vi phạm hành chính thì thẩm quyền xử phạt được xác định theo nguyên tắc sau đây :

+ Nếu hình thức, mức xử phạt được quy định đối với từng hành vi đều thuộc thẩm quyền của người xử phạt, thì thẩm quyền xử phạt vẫn thuộc người đó.

+ Nếu hình thức, mức xử phạt được quy định đối với một trong các hành vi vượt quá thẩm quyền của người xử phạt thì người đó phải chuyển vụ vi phạm đến cấp có thẩm quyền xử phạt.

+ Nếu các hành vi thuộc thẩm quyền xử phạt của nhiều người thuộc các thẩm quyền khác nhau, thì quyền xử phạt thuộc CT UBND cấp có thẩm quyền xử phạt nơi xảy ra vi phạm.

*Các nguyên tắc xử lý khác:

-1 hành vi vi phạm hành chính chỉ chịu một hình thức xử phạt chính, còn các hình thức xử phạt bổ sung và các biện pháp khắc phục hậu quả có thể áp dụng ít hoặc nhiều tùy trường hợp cụ thể.

-Hình thức xử phạt chính được áp dụng độc lập còn các hình thức biện pháp khác không được áp dụng độc lập trừ trường hợp đã hết thời hiệu.


2.

a)UBND… sai vì Điều 28 PL XLVPHC thì chỉ có CT UBND xã mới có thẩm quyền phạt tiền đến 500.000 đồng. Còn UBND xã không có thẩm quyền phạt.

b)UBND phường… sai vì theo khoản 3 Điều 28 PL XLVPHC thì chỉ có CT UBND phường mới có quyền tịch thu tan vật phương tiện. được xử dụng để vi phạm hành chính có giá trị đến 500.000 đồng. Còn UBND phường không có quyền tịch thu.

c)Sai : căn cứ Khoản 3 điều 30 của PL XLVPHC thì CT UBND tỉnh có thẩm quyền tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề thuộc thẩm quyền nhưng sai ở đây là không nói rõ giấy phép do ai cấp. Nếu Giấy phép chứng chỉ hành nghề thuộc thẩm uyền của mình thì là đúng còn nếu không thuộc thẩm quyền của mình là sai.

d)Đúng : vì theo mục b khoản 1 điều 31 PL XLVPHC thì chiến sĩ CAND đang thi hành công vụ có quyền phạt tiền đến 100.000 đồng.

e)Đúng : vì theo khoản 3 điều 31 PL XLVPHC thì Trưởng công an phường có quyền phạt tiền đến 500.000 đồng

g)Đúng : vì theo mục b khoản 5 điều 31 PL XLVPHC thì Trưởng phòng CSHS có quyền phạt tiền đến 10.000.000 đ

h)Sai : vì theo khoản 5 điều 31 PL XLVPHC thì trưởng phòng CSĐT không có thẩm quyền phạt.

i)Đúng : vì theo mục b khoản 3 điều 32 PL XLVPHC thì trưởng đồn biên phòngcó quyền phạt tiền đến 10.000.000 đồng.


3.Cơ quan có thẩm quyền xử phạt như trên là sai, vì thiếu hình thức xử phạt chính.

Theo nguyên tắc áp dụng hình thức xử phạt là hành vi vi phạm hành chính chỉ chịu một hình thức xử phạt chính, còn những hình thức xử phạt bổ sung và các biện pháp khác có thể áp dụng ít hay nhiều tùy từng trường hợp cụ thể.

Ở đây cơ quan có thẩm quyền chỉ tước quyền sử dụng giấy phép và tiêu hủy toàn bộ số hàng giả, hình thức này chỉ là hình phạt bổ sung mà thôi, thiếu hình thức xử phạt chính.

Mặt khác, căn cứ vào điều 37 nghị định 49/CP ngày 15/8/1996 của Chính phủ, việc tước giấy phép kinh doanh và tiêu hủy hàng giả là hình thức xử phạt bổ sung không được áp dụng độc lập mà chỉ áp dụng kèm theo hình thức xử phạt chính.

Nếu có xử phạt chính thì phạt bổ sung trên là đúng vì căn cứ theo khoản 2 và khoản 3 điều 12 PL XLVPHC thì việc xử phạt của cơ quan có thẩm quyền đối với ông A bằng cách ra quyết định tước quyền sử dụng giấy phép và tiêu hủy toàn bộ số hàng giả là đúng.


Câu 31. Nguyên tắc Đảng lãnh đạo trong quản lý HCNN:

Thực tế lịch sử đã chỉ rõ sự lãnh đạo của ĐCS là hạt nhân của moị thắng lợi của CM nước ta. B8àng những hình thức và phương pháp hoat5 động của mình ĐCS giữ vai trò quyết định đ/v việc xác định phương hướng hoạt động của NN trên mọi lãnh vực. Sự lãnh đạo của Đảng đối với NN mang tính toàn diện cả về CT, KT, TƯ TƯỞNG, VH, KHKT….Tuy vậy sự lãnh đạo của Đảng đối với NN không đồng nghĩa với việc can thiệp của Đảng vào hoạt động chuyên môn nghiệp vụ của các CQ NN mà Đảng chỉ định hướng CT về lối quan điểm, phương châm cộng sản, công tác tổ chức lên trên làm việc chuyên môn. Hơn nữa sự lãnh đạo của Đảng đối với NN không phải là không giới hạn. Hiến pháp nước ta đã xác định rõ “Mọi tổ chức của Đảng hoạt động trong khuôn khổ hiến pháp và pháp luật “ (Điều 4-HP nuớc ta)Quy định này không những không phủ nhận vai trò của Đảng đối với NN mà còn nêu cao uy tín lãnh đạo của tổ chức này.

Nhìn vào thành quả CM đặc biệt là trong công cuộc đổi mới hiện nay chúng ta khẵng định hoạt động của Đảng đối với hoạt động Quản lý NN là điều tất yếu khách quanvì vậy sự lãnh đạo của Đảng đối với NN là một nguyên tắc được đặt lên hành đầu của Quản lý hành chính NN Điều 4 HP nước ta đã khẳng định “ĐCS VN đội tiên phong của g/c CN VN, đại biểu trung thành cho quyền lợi của g/c CN và NDLĐ và của cả dân tộc, theo CN mác Lêni và tư tưởng Hồ Chí Minh , là lực lượng lãnh đạo NN và XH

*Nội dung nguyên tắc Đảng lãnh đạo trong QL HC nhà nước:

Nguyên tắc này được đưa ra từ ĐH IV của Đảng CS VN và được hòan thiện dần qua các ĐH VI, VII, VIII, IX với nội dung cụ thể như sau:

-Đảng lãnh đạo bằng đường lối, chính sách chủ trương, nghị quyết của Đảng về các lĩnh vực hoạt động khác của quản lý HC NN. Các vấn đề quan trọng của quản lý NN đều cần có đường lới chủ trương của các tổ chức Đảng. Các chi bộ, các cấp ủy Đảng đưa ra phương hướng hoạt tạo tiền đề cơ sở quan trọng để các chủ thểql HCNN có thẩm quyền thể chế hoá thành văn bản pháp luật thực hiện trong quản lý hành chính NN. Điều 22 Luật ban hành văn bản pháp luật quy định “chương trình xây dựng luật, pháp lệnh được xây dựng trên cơ sở đường lới chủ trương của Đảng, chiến lược phát triển KT XH”. Khi quyết định vấn đề trong quản lý NN bao giờ cũng dựa trên chủ trương chính sách của Đảng Tuy vậy cần nhấn mạnh rằng NQ của Đảng không phải là văn bản mang tính quyền lực pháp lý nên muốn thực hiện phại thông qua quyền lực NN. Qua những hoạt động này đường lới chủ trương chính sách của Đảng được thực hiện, cụ thể hoá trong quản lý HCNN

-Đảng lãnh đạo thông qua công tác tổ chức CB. Đây là công việc có vai trò đặc biệt quan trọng ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả QLHCNN. Vì lẽ đó pháp lệnh CBCC có quy định ở điều 4 “công tác CBCC phải đặt dưới sự lãnh đạo thống nhất của ĐCS VN. các tổ chức Đảng đã bồi dưỡng lãnh đạo các Đảng viên ưu tú có phẩm chất tố, năng lực để gánh vác những nhiệm vụ trong bộ máy HCN. Tổ chức Đảng có ý kiến về bố trí CB phụ trách lãnh đạo của CQ HCN. Tuy nhiên vấn đề bầu bổ nhiệm được thực hiện bởi các CQ NN. Ý kiến của tổ chức Đảng là cơ sở để các cq NN xem xét và đưa ra quyết định cuối cùng.

Đả Lảnh đạo không chỉ bằng đường lới chủ trương chính sách, công tác tổ chức cán bộ mà còn thông qua công tác kiểm tra việc thực hiện nhằm đánh giá tính hiệu quả, tính thực tế của các chính sách mà Đảng đề ra đảm bảo cho các hoạt động của các tổ chức Đảng có tính thông tin 2 chiều để có biện pháp uốn nắn kịp thời là cho hoạt động quản lý HCNN đi đúng định hướn gphù hợp lợi ích g/c, lợi ích dân tộc .

Cùng với những hình thức trênsự lãnh đạo của Đảng trong quản lý HCN còn thực hiện thông qua:Đảng lãnh đạo thông qua vai trò tiên phong gương mẫu của các tổ chức Đảng và Đảng viên.chính điều đó đ4a tạo cơ sở quan trọng đề nâng cao uy tín của Đảng đối với nhân dân với CQ NN làm cho tổ chức Đảng trở thành hạt nhân lãnh đạo CQ HCNN

Mới đây ĐH IX còn đưa ra thêm 2 nguyên tắc Đảng lãnh đạo trong QL HC nhà nước là:

-Cố gắng tạo điều kiện nhất nguyên hóa chức danh bên Đảng và bên nhà nước.

-Các cấp ủy viên trực tiếp đối thoại với dân về những vấn đề, những lĩnh vực mà mình phụ trách.

* Ý nghĩa:

-Xét về chính trị: Đây là một nguyên tắc có ý nghĩa chính trị, nó thể hiện sự tí nhiệm và tôn vinh của nhân dân, của dân tộc đối với Đảng CS VN. Sự tôn vinh này thông qua 1 quá trình dài từ khi có Đảng, Đảng ta đưa ra đường lối đều vì quyền lợi của nhân dân và dân tộc ta, không vì lợi ích riên của Đảng.

-Ở góc độ pháp lý: Đảng lãnh đạo đã được quy định trong điều IV của hiến pháp nước CHXH VN.

2. Để phân biệt văn bản nào là văn bản quản lý NN thì chúng ta phải căn cứ vào tuính chất pháp lý, dựa vào căn cứ này thì quyết định HC được chia thành : quyết định chủ đạo, quyết định quy pah5m và quyết định cá biệt. Căn cứ vào loại văn bản và chủ thể ban hành để xác định, thì văn bản quản lý nhà nước (quyết định hành chính):bao gồm

-Nghị quyết của chính phủ.

-Quyết định của thủ tướng chính phủ.

-Quyết định của bộ trưởng.

-Quyết định của UBND Huyện.

-Quyết định của chủ tịch UBND xã.

-Chỉ thị của bộ trưởng.

-Quyết định công nhận tốt nghiệp.

-Quyết định cấp nhà.

-Quyết định xử phạt hành chính.

3. UBND Quận xử phạt như vậy là sai, vì thẩm quyền này thuộc về chủ tịch UBND Quận.

-Việc xử phạt này thuộc quyền chủ tịch UBND Quận vì chỉ có CT UBND cấp huyện mới có thẩm quyền xử lý vi phạm này ( theo điều 29 PL XLVPHC ) vì :

+ CT UBND cấp huyện không có xử phạt chính mà chỉ có xử phạt bổ sung

(còn thời hiệu xử phạt là đúng vì căn cứ vào điều 10 PL XLVPHC tại khoản 1 thì thời hiệu xử phạt là 2 năm)

- Do đó để có thể xủ phạt đúng pháp luật thì : CT UBND quận có quyền xử phạt bằng các hình thức sau :

+Xử phạt chính: bao gồâm phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền.

+Xử phạt bổ sung: Buộc ông A khôi phục lại tình trạng ban đầu đã bị thay đổi bằng cách buộc tháo dỡ công trình xây dựng trái phép.

Câu 32. :Những biểu hiện cụ thể của nguyên tắc tập trung dân chủ trong tổ chức và hoạt động của các cơ quan QLNN

Bản chất của NN XHCN là NN của dân, do dân và vì dân. Do vậy nguyên tắc tập trung dân chủ trong quản lý NN có ý nghĩa hết sức quan trọng trong việc bải vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của nhân dân, bảo đảm cho pháp luật được thực thi một cách nghiêm chỉnh và thống I. Đây là điều kiện tiên quyết để xây dựng và phát triển đất nước theo mục tiêu :”dân giàu, nước mạnh, XH công bằng, dân chủ, văn minh”.

  • Nguyên tắc tập trung dân chủ trong tổ chức và hoạt động của các cơ quan quản lý NN là nguyên tắc cơ bản nhất. Nguyên tắc này bao gồm 2 yếu tố: tập trung và dân chủ

+ Tập trung : là thâu tóm quyền lực của chủ thể quản lý hành chính NN để điều hành tổ chức thực hiện nhiệm vụ của mình. Tập trung là để bảo đảm sự lãnh đạo tập trung thống I từ TW đến cơ sở của cấp trên đối với cấp dưới, của Thủ tướng với nhân viên thuộc quyền.

+ Dân chủ : là mở rộng quyền cho cấp dưới, cho điạ phương để phát huy tính năng động sáng tạo của họ để hoàn thành tốt nhiệm vụ trong quản lý hành chính NN, dân chủ là để bảo đảm yếu tố tính chủ động sáng tạo của điạ phương, của cấp dưới, của nhân dân

  • Việc kết hợp 2 yếu tố tập trung và dân chủ vừa là điều kiện vừa là tiền đề bảo đảm sự lãnh đạo vừa tập trung, vưà mở rộng dân chủ. 2 yếu tố này luôn gắn bó chặc chẽ với nhau. nếu trong lãnh đạo chỉ có tập trung mà không mà không có dân chủ dẫn đến tập trung quan liên, độc đoán. Còn nếu có dân chủ mà không có tập trung thì sẽ không có sự thống nhất dẫn đến bộc phát cục bộ điạ phương. Cả 2 khuynh hướng đó đều dẫn đến suy yếu bộ máy NN thậm chí còn làm chệch hướng XHCN.

  • Trong tổ chức và hoạt động của các cơ quan quản lý NN , nguyên tắc tập trung dân chủ được biểu hiện như sau :

+ Một là sự kết hợp sự lãnh đạo tập thể với cá nhân phụ trách có nghĩa là lãnh đạo trong quản lý hành chính NN là tập thể, cá nhân phát huy tính sáng tạo của mình nhưng không được làm trái quy định của tập thể.

Lãnh đạo tập thể được kết hợp với cá nhân phụ trách, lãnh đạo tập thể là đẩ thảo luận và để thông qua văn bản hành chính còn cá nhân phụ trách là phụ trách thể chế thành văn bản

+ Hai là sự phụ thuộc của cơ quan hành chính vào cơ quan quyền lực NN: UBND luông luôn phụ thuộc vào HĐND. Yếu tố dân chủ được thể hiện ở chổ cơ quan quyền lực NN trao quyền chủ động sáng tạo cho cơ quan quản lý NN việc cơ quan quản lý NN ra văn bản hành chính để thực hiện quản lý NN về KT, XH, ANQP là sự cụ thể hoá văn bản của cơ quan quyền lực NN, quá trình đó là một quá trình sáng tạo dân chủ.

yếu tố tập trung được thể hiện ở chổ CQ quyền lực NN giám sát hoạt động của các CQ QLNN QH có quey62những bãi bỏ văn bản của CP trái với HP và PL và NQ của QH UBTVQH có quyền bãi bỏ những văn bản của CP ttái với Pháp lệnh, NQ của UBTV QH, HĐND có quyền bãi bõ văn bản của UBND cùg cấp và HĐND cấp dưới.

+ Ba là : sự phụ thuộc của cơ quan quản lý NN cấp dưới vào cơ quan quản lý hành chính NN cấp trên : UBND huyện luôn luôn phải chấp hành ý kiến của UBND tỉnh, UBND tỉnh phụ thuộc vào Chính phủ vô điều kiện

+ Bốn là sự phân cấp trong quản lý và hướng về cơ sở, phân cấp quản lý ở bên dưới cấp thiết phải có trong nguyên tắc tập trung dân chủ và mọi việc phải có từ cơ sở, hướng về cơ sở và tích cực là từ cơ sở. Nội dung này thể hiện quan điềm của Đảng ta trong tình hình biến động trên thế giới hiện nay, phải cũng cố ngay từ cơ sở

+ Năm là sự thể hiện trong cơ quan có chế độ quản lý là thủ trưởng : ở cơ quan có thủ trưởng thì thủ trưởng có quyền hạn cá nhân ra quyết địh và chịu trách nhiệm về quyết định của mình còn dân chủ là để tham khảo ý kiến, giúp thông tin cho thủ trưởng ra quyết định cuối cùng.

  • Tóm lại việc kết hợp đúng đắn 2 yếu tố tập trung và dân chủ có ý nghĩa hết sức quan trọng. Nó quyết định sức mạnh và hiệu lực trong quản lý NN vàu hiện cụ thể của nguyên tắc tập trung dân chủ đã nêu trân là bảo đảm tăng cường sự hoạt động và điều hành tập trung thống I từ TW đồng thới phát huy trách nhiệm và tinh thần chủ động, năng động của điạ phương, khắc phục được cả 2 khuynh hướng lệch lạc là phân tán và tập trung quan liêu

2. Những văn bản sau đây là văn bản pháp quy (văn bản quy phạm pháp luật)

  • Quyết định phê duyệt “Chiến lược phát triển giáo dục 2001-1010” của Thủ tướng chính phủ (ngày 28 tháng 12 năm 2001)

  • Nghị quyết của HĐND tỉnh

  • Nghị quyết của HĐND xã

  • Thông tư liên tịch của các cơ quan có thẩm quyền hướng dẫn lên lương cho CBCC

  • Nghị quyết của CP

  • Nghị quyết của HĐND huyện

3. Việc xử lý tình hình trên có 2 cách xử lý

Cách 1 : HĐND xã triệu tập họp bất thường ngay và ra nghị quyết bãi bỏ nghị quyết của chính mình đồng thời ra nghị quyết bãi bõ quyết định tổ chức thực hiện của UBND xã.

Cách 2 : CT UBND huyện ra quyết định đình chỉ thi hành nghị quyết của HĐND xã và ra quyết định bãi bõ quyết định tổ chức thực hiện của UBND xã. Đề nghị HĐND huyện họp ra nghị quyết bãi bõ nghị quyết của HĐND xã.

Câu 33. Bộ máy HCNN VN hiện nay

I. Khái quát bộ máy HCNN:

1. Khái niệm: Bộ máy HCNN là hệ thống các cơ quan HCNN từ trung ương đến địa phương được tổ chức và hoạt động theo những nguyên tắc chung nhất định nhằm thực hiện chức năng quản lý hành chính nhà nước.

2. Đặc điểm của bộ máy HCNN

Là hệ thống CQNN có chức năng quản lý hành chính nhà nước, chuyên thực hiện hoạt động chấp hành – điều hành trên mọi lĩnh vực. Các cơ quan chủ yếu của bộ máy HCNN do các cơ quan dân cử tương ứng thành lập nên chịu sự giám sát, lãnh đạo của cơ quan đó. Có tính trưc thuộc, tính thứ bậc chặt chẽ, tạo thành 1 hệ thống thống nhất. Nhiều về số lượng cơ quan và có một hệ thống các đơn vị cơ sở trực thuộc.

3. Địa vị pháp lý của BMHCNN

Tổ chức và hoạt động trên cơ sở pháp luật và để thực hiện pháp luật. Có quyền ban hành các quyết định HC (VBQPPL và VBADPL). Đặt dưới sự kiểm tra, giám sát của cơ quan quyền lực nhà nước cùng cấp. Có tính độc lập và sáng tạo trong công tác điều hành nhưng luôn theo nguyên tắc quyền lực phục tùng.

4. Phân loại:

4.1 Căn cứ vào phạm vi, tính chất thẩm quyền:

Cơ quan HCNN thẩm quyền chung: Chính phủ, UBND

Là loại CQ quản lý nhiều ngành, nhiều lĩnh vực, nhiều đối tượng khác nhau. Văn bản có thể tác động nhiều lĩnh vực, nhiều đối tượng khác nhau. Do CQ quyền lực nhà nước cùng cấp thành lập. Tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc kết hợp giữa chế độ tập thể lãnh đạo với chế độ thủ trưởng.

Cơ quan HCNN thẩm quyền riêng: Bộ, Cơ quan ngang bộ, Cơ quan thuộc Chính phủ, Sở - phòng – ban

Là loại cơ quan quản lý 1 hoặc 1 vài ngành hoặc lĩnh vực nhất định (quyền hạn có hiệu lực chỉ trong phạm vi ngành, lĩnh vực). Được thành lập bởi cơ quan HCNN cùng cấp hoặc cơ quan HCNN cấp trên. Tổ chức và hoạt động theo chế độ thủ trưởng 1 người.

4.2 Căn cứ vào phạm vi lãnh thổ hoạt động:

Cơ quan HCNN ở trung ương: Chính phủ, Bộ, Cơ quan ngang bộ, Cơ quan thuộc chính phủ

Thực hiện hoạt động quản lý trên các lĩnh vực của đời sống XH trong phạm vi toàn quốc. Văn bản có hiệu lực trên phạm vi cả nước.

Cơ quan HCNN ở địa phương: UBND các cấp, Sở, phòng, ban chuyên môn trực thuộc.

Thực hiện hoạt động quản lý HCNN trong phạm vi địa phương trên cơ sở sự phân định địa giới hành chính. Văn bản có hiệu lực trong phạm vi địa phương.

4.3 Căn cứ theo nguyên tắc tổ chức và giải quyết công việc:

Cơ quan HCNN tổ chức và hoạt động theo chế độ tập thể lãnh đạo: Chính phủ, UBND các cấp.

Cơ quan HCNN tổ chức và hoạt động theo chế độ thủ trưởng 1 người: Bộ, cơ quan ngang bộ, CQTCP, Sở, phòng, ban chuyên môn trực thuộc UBND (người đứng đầu cơ quan sẽ chịu trách nhiệm quyết định các vấn đề quan trọng, chịu trách nhiệm về các quyết định đó).

4.4 Căn cứ cơ sở pháp lý thành lập cơ quan:

Cơ quan Hiến định: Chính phủ, các Bộ, Cơ quan ngang bộ và UBND các cấp

Cơ quan HCNN do các luật hoặc văn bản dưới luật quy định: Cơ quan thuộc Chính phủ, Sở, phòng, ban chuyên môn trực thuộc UBND, các cục, chi cục.

5. Lịch sử phát triển và các nguyên tắc hoạt động của BMHCNN

5.1 Sơ lược lịch sử phát triển của BMHCNN qua các bản Hiến pháp

Chính phủ theo HP 1946:

Vị trí pháp lý: Chính phủ là cơ quan hành chính cao nhất của toàn quốc.

Cơ cấu: Quốc hội bầu ra chính phủ chính thức.

Quyền hạn của người đứng đầu CP và tập thể


CP phân định rõ ràng; Có sự tiếp thu các yếu tố của CP trong chính thể CHTT & nội các trong CHĐN.

Chính phủ theo HP 1959:

Vị trí pháp lý: Hội đồng chính phủ là cơ quan chấp hành của cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất; là cq hành chính cao nhất của nước VN Dân chủ cộng hòa.

Quyền hạn Hội đồng chính phủ: được xác định thống nhất không phân định người đứng đầu và tập thể. Là cơ quan làm việc theo chế độ tập thể

Cơ cấu: Thành phần chính phủ gồm:


Chính phủ theo HP 1980:

Vị trí pháp lý: Hội đồng Bộ trưởng là cơ quan chấp hành và hành chính cao nhất của cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất. Thiết chế Chính phủ được cải cách theo hướng tăng cường tính thống nhất và tập trung quyền lực vào QH; CP đã thuần túy trở thành cơ quan trực thuộc QH.

Địa vị khá mờ nhạt của người đứng đầu Chính phủ








Chính phủ theo Hiến pháp 1992 (Sửa đổi, bổ sung năm 2001):


5.2 Những nguyên tắc cơ bản trong tổ chức và hoạt động của Bộ máy HCNN

Nhóm những nguyên tắc chung:

Nguyên tắc Đảng lãnh đạo trong quản lý HCNN.

Nguyên tắc tập trung dân chủ: Sự phụ thuộc của cơ quan HCNN vào cơ quan quyền lực nhà nước cùng cấp; Sự phục tùng của cấp dưới- trên, địa phương - trung ương; Sự phân cấp quản lý; Sự phụ thuộc 2 chiều của cq HCNN ở địa phương (Nguyên tắc song trùng trực thuộc).

Nguyên tắc quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân, đảm bảo nhân dân tham gia quản lý HCNN.

Nguyên tắc pháp chế XHCN.

Nhóm nguyên tắc đặc thù của bộ máy HCNN

Nguyên tắc kế hoạch hóa: Hầu như tất cả các cq HCNN đều tham gia vào quá trình xây dựng kế hoạch ở các cấp. Hoạt động của các Cq HCNN đều nhằm thực hiện kế hoạch phát triển KT-XH do cq quyền lực đề ra. Vấn đề tổ chức bộ máy quản lý, công tác cán bộ và bản thân hoạt động quản lý đều được kế hoạch hóa. Kết hợp quản lý theo ngành, lĩnh vực và quản lý theo lãnh thổ: Trong quản lý, khi giải quyết những vấn đề phát triển theo ngành bao giờ cũng phải tính đến lợi ích của lãnh thổ và ngược lại.

Nguyên tắc hoạt động phi lợi nhuận: Vì hoạt động QLHCNN liên quan đến mọi khía cạnh của đời sống KT-XH; Vì BMHCNN trực tiếp đảm nhiệm nhiệm vụ kinh tế cho quốc gia; Vì trong hoạt động của BMHCNN có các đơn vị sự nghiệp.

Nguyên tắc công khai: Vì HCNN liên quan đến mọi khía cạnh của đời sống XH; Vì HCNN thường qua rất nhiều quy trình, liên quan đến nhiều cơ quan HCNN. Kết hợp chế độ tập thể lãnh đạo với chế độ thủ trưởng.

II. Địa vị pháp lý của cơ quan HCNN

1. Cơ quan HCNN ở trung ương:

1.1 Chính phủ:

- Vị trí pháp lý: Chính phủ là cơ quan chấp hành của Quốc hội, cơ quan HCNN cao nhất của nước CHXHCNVN.

+ Là cơ quan chấp hành của QH: Chính phủ có trách nhiệm triển khai thưc hiện các văn bản quy phạm pháp luật của QH, UBTVQH. Điều này còn được thể hiện trong các quy định về quyền giám sát tối cao của QH đối với Chính phủ, về trình tự thành lập Chính phủ, quan hệ trách nhiệm và báo cáo công tác của CP trước QH, UBTVQH.

+ Cơ quan HCNN cao nhất của nước CHXHCNVN: Chính phủ có quyền tổ chức, điều hành hoạt động của hệ thống HCNN từ trung ương đến cơ sở, hoạt động của mọi tổ chức, cá nhân trên cơ sở và theo các quy định của pháp luật.

- Cơ cấu của Chính phủ: bao gồm Thủ tướng, các Phó thủ tướng, Bộ trưởng và thủ trưởng các cơ quan ngang bộ.

1.2 Bộ và cơ quan ngang bộ:

Tính chất, vị trí, chức năng của Bộ: Bộ, cơ quan ngang bộ là cơ quan của CP chịu trách nhiệm quản lý nhà nước đối với ngành hoặc lĩnh vực công tác trong phạm vi cả nước; quản lý nhà nước các dịch vụ công thuộc ngành, lĩnh vực; thực hiện đại diện chủ sở hữu phần vốn của nhà nước tại doanh nghiệp có vốn nhà nước theo quy định của pháp luật.

Phân loại: Căn cứ vào các quy định của pháp luật hiện hành, bộ gồm 2 loại: Bộ quản lý ngành, đa ngành: là bộ có chức năng quản lý nhà nước theo ngành kinh tế - kỹ thuật hoặc sự nghiệp (Bộ Công thương, Bộ NN&PTNT, Bộ y tế, Bộ GD&ĐT….). Bộ quản lý lĩnh vực: Là bộ có chức năng quản lý nhà nước theo lĩnh vực (Bộ Tài chính, Bộ LĐ-TB&XH, Bộ KH&ĐT…). Hoạt động của các bộ này liên quan trực tiếp tới tất cả các bộ ngành, các cấp, các cơ quan nhà nước, các tổ chức và công dân.

Các cơ quan ngang bộ: Uỷ ban Dân tộc; Ngân hàng Nhà nước Việt Nam; Thanh tra Chính phủ; Văn phòng Chính phủ.

Các cơ quan thuộc chính phủ: Thủ trưởng không phải là thành viên CP. Không có quyền ban hành VBQPPL, gồm: Ban Quản lý Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh; Bảo Hiểm Xã hội Viẹt Nam; Thông tấn xã Việt Nam; Đài Tiếng nói Việt Nam; Đài Truyền hình Việt Nam; Học viện Chính trị-Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh; Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam; Viện Khoa học Xã hội Việt Nam.

1.3 Cơ quan HCNN ở địa phương: là UBND các cấp và các cơ quan chuyên môn trực thuộc.

Tính chất: Là cơ quan chấp hành của HĐND, cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương.

Chấp hành: do HĐND bầu ra, UBND chấp hành Hiến pháp, luật, nghị quyết, văn bản của CQNN cấp trên và nghị quyết của HĐND cùng cấp; chịu sự giám sát của các cơ quan đó.

Hành chính: Thực hiện chức năng QLNN ở địa phương, góp phần đảm bảo sự chỉ đạo, quản lý thống nhất trong bộ máy HCNN từ TW đến cơ sở.

Nguyên tắc tổ chức và hoạt động: Nguyên tắc tập trung dân chủ và chế độ thủ trưởng phụ trách.

Cơ cấu tổ chức UBND gồm: Chủ tịch UBND (là đại biểu HĐND); các PCT và các ủy viên UBND. Số lượng thành viên UBND cấp tỉnh từ 9-11(HN và Tp HCM có thể thêm nhưng không quá 13), UBND cấp huyện: 7-9, UBND cấp xã: 3-5.

-Nhiệm vụ, quyền hạn của UBND:

+ Nhiệm vụ, quyền hạn của UBND cấp tỉnh: Điều 82 – 95 của Luật tổ chức HĐND & UBND 2003. Riêng đối với UBND TP trực thuộc TW: thêm 09 nhiệm vụ, quyền hạn (Điều 96).

+ Nhiệm vụ, quyền hạn của UBND cấp huyện: Điều 97 – 109 của Luật tổ chức HĐND & UBND 2003. Riêng đối với UBND huyện thuộc địa bàn hải đảo: thêm 03 nhiệm vụ, quyền hạn (Đ - 110).

+ Nhiệm vụ, quyền hạn của UBND cấp xã: Điều 111 – 117 của Luật tổ chức HĐND & UBND 2003. Riêng đối với UBND phường: thêm 04 nhiệm vụ, quyền hạn (Điều 118).

Thực trạng bộ máy HCNN:

Cải cách tổ chức bộ máy nhà nước là một bộ phận của chương trình tổng thể cải cách hành chính (CCHC) nhà nước giai đoạn 2001 - 2010. Qua gần 10 năm thực hiện cho thấy, hiệu lực, hiệu quả quản lý của hệ thống hành chính đã được nâng lên, không chỉ thể hiện trong điều kiện bình thường mà còn được bảo đảm trong những tình huống cấp bách như thiên tai, dịch bệnh. Tổ chức bộ máy các cơ quan hành chính từ T.Ư đến địa phương đã từng bước được sắp xếp lại.

Trước năm 2001, tổ chức bộ máy hành chính nhà nước đã được rà soát, sắp xếp lại nhiều lần, qua đó, đã loại bỏ nhiều khâu trung gian. Trong chương trình tổng thể CCHC giai đoạn 2001-2010, một nhiệm vụ trọng tâm được đặt ra là điều chỉnh, làm rõ chức năng, nhiệm vụ của từng cơ quan trong hệ thống hành chính, khắc phục những chồng chéo, trùng lắp về chức năng, nhiệm vụ. Ở cấp T.Ư, Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ đã đi đầu thực hiện theo hướng này. Trong quá trình cải cách tổ chức bộ máy, bước đầu chúng ta đã phân biệt hoạt động của cơ quan hành chính nhà nước với hoạt động của các đơn vị sự nghiệp, đơn vị dịch vụ công; đã tạo lập được những cơ sở để tiếp tục quá trình tách rõ hành chính với doanh nghiệp, hành chính với sự nghiệp. Ðây là những kết quả rất có ý nghĩa khi mà trong tổ chức bộ máy hành chính ở nước ta còn nhiều tổ chức sự nghiệp, dịch vụ công thuộc các bộ, ngành và chính quyền các cấp ở địa phương.

Nhờ đạt được những kết quả trong việc phân định chức năng, thẩm quyền và phân cấp nói trên mà tổ chức bộ máy hành chính đã được sắp xếp tinh gọn hơn, hoạt động hiệu quả hơn. Ở T.Ư, tổng số đầu mối của Chính phủ nhiệm kỳ 2007 - 2011 còn 30 đầu mối, gồm 22 bộ, cơ quan ngang bộ và tám cơ quan trực thuộc. Tổ chức bộ máy ở T.Ư đã sắp xếp theo hướng hình thành các bộ quản lý đa ngành, đa lĩnh vực, tách dần chức năng quản lý nhà nước với quản lý sản xuất, kinh doanh; phân biệt chức năng của cơ quan hành chính công quyền với chức năng của các đơn vị sự nghiệp, dịch vụ công cộng. Ở các địa phương, tổ chức các cơ quan chuyên môn cũng đã được đổi mới, sắp xếp phù hợp với tổ chức ngành ở T.Ư và điều kiện cụ thể của địa phương.

Thực tế cho thấy, bộ máy hành chính nhà nước đã được cải cách đáng kể, nhưng vẫn chưa đáp ứng yêu cầu của cơ chế quản lý mới và yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế. Số bộ, ngành ở T.Ư tuy có giảm, nhưng tổ chức bên trong nhiều bộ, ngành vẫn tăng. Ðặc biệt là xu hướng nâng cấp tổ chức: phòng lên vụ, vụ lên cục, cục lên tổng cục, trường trung cấp lên cao đẳng, trường cao đẳng lên đại học đang diễn ra phổ biến, trong khi hiệu lực, hiệu quả hoạt động chưa cao. Việc tinh giản biên chế cũng chưa đạt yêu cầu đề ra.

Chức năng, nhiệm vụ quản lý nhà nước của bộ máy hành chính trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa chưa được xác định thật rõ và phù hợp; sự phân công, phân cấp giữa các ngành và các cấp chưa thật rành mạch;

Tổ chức bộ máy còn cồng kềnh, nhiều tầng nấc; phương thức quản lý hành chính vừa tập trung quan liêu lại vừa phân tán, chưa thông suốt; chưa có những cơ chế chính sách tài chính thích hợp với hoạt động của các cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp, tổ chức làm dịch vụ công.

Xuất phát từ thực tiễn cải cách bộ máy hành chính nhà nước trong những năm qua, vấn đề cải cách bộ máy hành chính nhà nước trong những năm tới cần tập trung vào những định hướng sau:

Thứ nhất, cần có một tầm nhìn chiến lược đối với cải cách bộ máy hành chính. Trong tầm nhìn này phải hướng tới tạo ra một mô hình cải cách quản lý hành chính công mới - mô hình dựa trên các đề xuất sau:

+ Thị trường được trang bị tốt hơn nhất là trong việc cung ứng hầu hết hàng hoá và dịch vụ công và bộ máy hành chính nhà nước cồng kềnh, khuyết tật và lãng phí cố hữu phải được tinh giảm mạnh mẽ.

+ Cần có những thay đổi căn bản cần thiết để tạo ra một mô hình quản lý hành chính đổi mới và năng động có thể được thiết lập bởi: cơ cấu lại khu vực hành chính công, tổ chức lại và tinh giảm bộ máy hành chính từ trung ương đến địa phương, tạo ra sự cạnh tranh trong các ngành, lĩnh vực dịch vụ công thông qua thị trường nội bộ giữa các cơ quan hành chính và ký hợp đồng hành chính với khu vực tư nhân trong việc cung ứng dịch vụ công.

Thực hiện các cuộc cải cách liên quan chặt chẽ với nhau vừa nêu trên có thể tạo ra một loại quản lý hành chính nhà nước khác với đặc điểm sau: Tách chức năng hoạch định chính sách chiến lược khỏi chức năng thực thi, điều hành; Quan tâm về kết quả hoạt động quản lý hành chính không phải là quy trình thực hiện quản lý hành chính; Hướng tới nhu cầu của người dân chứ không phải là quyền lợi của bộ máy và của những người trong bộ máy hành chính; Các cơ quan hành chính rút khỏi chức năng cung ứng hàng hoá và dịch vụ công, chuyển sang vai trò chỉ đạo và tạo điều kiện cho các tổ chức phi nhà nước và tư nhân thực hiện công việc này; Tạo ra một nền văn hoá tổ chức quản lý hành chính mới.

+ Điều cần thiết phải có hoặc phải xây dựng một tầm nhìn chiến lược về cải cách bộ máy hành chính để tránh nguy cơ nhỏ giọt, cục bộ, manh mún, không có hệ thống và không đồng bộ. Cần có một phương pháp tiếp cận trong việc cải cách bộ máy hành chính nhà nước dựa trên quan điểm cho rằng không có một thiết kế hoàn hảo, có thể thẩm định kỹ càng các điểm mạnh và điểm yếu của mô hình tổ chức bộ máy hành chính truyền thống và mô hình cải cách tổ chức bộ máy hành chính kiểu mới và xây dựng chiến lược thay đổi được điều chỉnh phù hợp với nền văn hoá chính trị và các điều kiện, chuyển đổi sang kinh tế thị trường ở nước ta hiện nay.

Thứ hai, tiến hành rà soát, làm thật rõ chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền, trách nhiệm của các cơ quan hành chính từ trung ương đến địa phương để loại bỏ những chồng chéo, trùng lặp giữa các cơ quan hành chính với nhau và phân cấp rõ ràng, cụ thể hơn về thẩm quyền và trách nhiệm giữa các cấp trong hệ thống bộ máy hành chính.

Việc xác định được đúng chức năng, nhiệm vụ là cơ sở quyết định để thiết lập tổ chức của các cơ quan hành chính. Vì vậy, đây là vấn đề rất cơ bản cấp thiết, nên cần phải tiến hành một cách khoa học, kiên quyết, chặt chẽ trong toàn bộ hệ thống hành chính. Nguyên tắc cơ bản là mỗi cơ quan, mỗi tổ chức, mỗi bộ phận hợp thành đều phải có chức năng, nhiệm vụ một cách đích thực, rõ ràng và bảo đảm có đủ thẩm quyền đối với trách nhiệm để thực hiện đầy đủ chức năng, nhiệm vụ đó. Chỉ có trên cơ sở xác định đúng và rõ ràng, rành mạch cụ thể chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền, trách nhiệm của từng cơ quan quản lý hành chính thì mới có thể khắc phục được sự chồng chéo, trùng lặp về nội dung, phạm vi, đối tượng quản lý trong hệ thống bộ máy hành chính. Có như vậy mới tiến hành phân cấp và xác định được mối quan hệ, phân công, phối hợp giữa các bộ, ngành với chính quyền địa phương. Từ đó, việc xem xét đánh giá hiệu lực và hiệu quả hoạt động của mỗi cơ quan và của toàn bộ hệ thống hành chính phải căn cứ vào kết quả thực hiện các chức năng nhiệm vụ đến đâu.

Thứ ba, phân biệt rõ chức năng, trách nhiệm, thẩm quyền của các cơ quan hành chính nhà nước trong hệ thống hành chính theo chiều dọc và theo chiều ngang.

Xác định lại vị trí, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Chính phủ; từ đó xây dựng mô hình Chính phủ văn minh, Chính phủ điện tử; Sửa Luật Tổ chức Chính phủ cho phù hợp.

Cần làm rõ chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan, tổ chức; tổng rà soát, đánh giá các Nghị định về chức năng, nhiệm vụ, tổ chức bộ máy của các Bộ, ngành Trung ương. Giải quyết các chồng chéo về chức năng, nhiệm vụ giữa các Bộ, ngành trung ương. Quy định một cách khách quan, khoa học, hợp lý, chặt chẽ các chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của các bộ, cơ quan ngang bộ. Tinh giảm đến mức thấp nhất các cơ quan thuộc Chính phủ, thành lập các bộ quản lý đa ngành, đa lĩnh vực nhằm thu gọn đầu mối cơ quan hành chính nhà nước có thẩm quyền chuyên môn.

Thứ tư, trong thời gian tới, thực hiện được một cách căn bản việc chuyển đổi chức năng của hệ thống hành chính sang tập trung vào quản lý hành chính nhà nước vĩ mô, tách chức năng này với chức năng quản lý các hoạt động sản xuất, kinh doanh và sự nghiệp.

Đối với cơ quan thuộc Chính phủ và các tổ chức trực thuộc Thủ tướng Chính phủ được sắp xếp lại theo chức năng quản lý nhà nước. Đồng thời thu gọn lại các tổ chức phối hợp liên ngành, về nguyên tắc, loại tổ chức này không có bộ máy chuyên trách và biên chế riêng. Bộ phận thường trực được đặt tại Bộ có liên quan nhiều nhất, sử dụng bộ máy, tổ chức của Bộ phục vụ tổ chức phối hợp liên ngành. Đó là loại hình cơ cấu tổ chức ma trận, cán bộ, công chức trong tổ chức này chịu trách nhiệm trước hai cấp trên.

Thứ năm, xác định rõ về mặt tổ chức các cơ quan có chức năng hoạch định chính sách, xây dựng pháp luật với các cơ quan thực thi chính sách, pháp luật.

Các cơ quan có chức năng hoạch định chính sách cần được tăng thời lượng để hoạch định chính sách. Các cơ quan, đơn vị chuyên môn, đơn vị chức năng thực hiện chính sách, pháp luật cần được bố trí theo hướng cơ động, nhanh chóng, kịp thời, thống nhất đảm bảo thực hiện các mệnh lệnh, các quy định của pháp luật được hiệu quả.

Đặc biệt cần chú ý đến các cơ quan, đơn vị ở cơ sở, đó là những cơ quan trực tiếp thực thi chính sách, đưa chính sách, pháp luật vào cuộc sống của nhân dân trong đó Uỷ ban nhân dân cấp xã là cơ quan hành chính có vị trí, vai trò hết sức quan trọng.

Xác định địa vị pháp lý hành chính của uỷ ban nhân dân xã theo hướng tăng quyền tự quản đối với các hoạt động quản lý dân cư ở địa phương, chủ yếu tập trung vào các vấn đề như xây dựng kế hoạch tổng thể về phát triển kinh tế, xã hội ở địa phương; quản lý hoạt động kinh tế chủ yếu: quản lý đất đai; quản lý dân cư; quản lý trật tự, trị an; tổ chức dân cư và cung cấp các dịch vụ công cho địa bàn dân cư.

Đối với cấp xã cần đổi mới theo hướng pháp điển hoá quy định việc bầu trực tiếp chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp xã.

Thứ sáu, thực hiện bước chuyển thực sự trong phân cấp giữa trung ương và địa phương, tạo quyền chủ động trong quản lý của chính quyền địa phương, đồng thời làm rõ trách nhiệm của các cấp trong hệ thống hành chính.

Có sự phân cấp hợp lý mang tầm vĩ mô do trung ương quyết định, tạo thế cho địa phương giải quyết những vấn đề quản lý nhà nước vi mô. Giữa các cấp chính quyền địa phương cần có sự phân công rõ ràng. Việc phân định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn giữa các cấp phải phù hợp với tính chất và yêu cầu của từng ngành, từng lĩnh vực hoạt động với chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của từng cấp chính quyền trên từng địa bàn.

Thứ bảy, ổn định địa giới hành chính, thiết lập các căn cứ phân tách tỉnh phù hợp, để các cơ quan hành chính nhà nước có thẩm quyền chung ở địa phương có thể chủ động trong quản lý nhà nước. Xây dựng Nghị định của Chính phủ về tiêu chí phân loại các đơn vị hành chính.

Thứ tám, đổi mới hoàn thiện đội ngũ cán bộ, công chức. Chỉ tuyển dụng những công dân có trình độ chuyên môn, có phẩm chất đạo đức vào ngạch công chức, viên chức nhà nước. Xác lập quy chế công vụ phù hợp, hiện đại nhằm thiết lập trật tự, kỷ cương, kỷ luật chặt chẽ đối với đội ngũ cán bộ, công chức.

Thứ chín, Đổi mới tổ chức các cơ quan thanh tra từ chính phủ đến các Bộ, ngành đảm bảo hoạt động hiệu quả, có tính độc lập tương đối. Chính phủ cần sớm ban hành Nghị định về thanh tra công vụ./.

Câu 34: Vấn đề cải cách BMHCNN ở Việt Nam

Thực trạng

Thực hiện đường lối đổi mới toàn diện, gần 25 năm qua, BCHTW Đảng đã có nhiều nghị quyết về đổi mới tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị, xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa mà trọng tâm là cải cách nền hành chính nhà nước, bắt đầu từ Nghị quyết Trung ương 8 (Khoá VII), rồi Nghị quyết Trung ương 3, 7 (Khoá VIII), Đại hội IX và X tiếp tục khẳng định cải cách nền hành chính nhà nước là nhiệm vụ trọng tâm của xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân và vì dân, của chiến lược phát triển kinh tế - xã hội và hội nhập kinh tế quốc tế. Có nhiều nghị quyết ra nhiều chủ trương, quan điểm về cải cách bộ máy nhà nước, cải cách nền hành chính nhà nước nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội, dân chủ hoá đời sống xã hội, xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN và hội nhập kinh tế quốc tế.

1. Kết quả

Thực hiện chương trình tổng thể CCHC nhà nước (2001- 2010 ), công cuộc cải cách hành chính đã đạt được những thành tựu quan trọng, góp phần thực hiện thắng lợi nhiệm vụ phát triển và ổn định kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh và trật tự xã hội. Cải cách hành chính đã được triển khai đồng bộ trên 4 lĩnh vực chủ yếu: thể chế, tổ chức bộ máy, xây dựng và phát triển đội ngũ cán bộ, công chức và cải cách tài chính công, từng bước đổi mới tổ chức và phương thức hoạt động của bộ máy hành chính, hỗ trợ tích cực và thúc đẩy quá trình cải cách, đổi mới toàn diện của đất nước. Có thể đánh giá chung về kết quả của cải cách hành chính nhà nước trong thời gian qua như sau: Hệ thống thể chế pháp luật từng bước được đổi mới và hoàn thiện, góp phần xây dựng thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN, bảo đảm và phát huy quyền làm chủ của nhân dân. Chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan trong hệ thống hành chính nhà nước  được điều chỉnh từng bước phù hợp với yêu cầu quản lý nhà nước trong kinh tế thị trường. Cơ cấu tổ chức bộ máy hành chính nhà nước từ trung ương đến địa phương được điều chỉnh, sắp xếp tinh gọn, hợp lý hơn. Chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức trong bộ máy hành chính nhà nước được nâng lên. Phương thức hoạt động của Chính phủ, các bộ ngành trung ương và UBND các cấp có bước đổi mới.

2. Hạn chế, yếu kém

Tuy đã đạt được những kết quả quan trọng, nhưng so với yêu cầu của công cuộc đổi mới, phát triển KT-XH và chủ động hội nhập quốc tế thì cải cách hành chính còn chậm, hiệu quả thấp. Nền hành chính còn bộc lộ một số tồn tại, yếu kém sau:

- Hệ thống thể chế pháp luật vẫn còn chưa đồng bộ, thiếu nhất quán và trong một số lĩnh vực chưa bám sát quá trình chuyển đổi của nền nền kinh tế. Sự chưa đồng bộ của hệ thống thể chế một mặt thể hiện ở chỗ một số luật, pháp lệnh đã ban hành nhưng các nghị định và thông tư hướng dẫn triển khai chậm được ban hành. Nhiều cơ quan nhà nước vẫn có xu hướng giữ thuận lợi cho hoạt động quản lý của mình nhiều hơn là đáp ứng nhu cầu tạo thuận lợi cho doanh nghiệp và người dân. Thủ tục hành chính vẫn chưa được cải cách đơn giản hoá triệt để, tính công khai minh bạch còn thấp. Sau một thời gian có những kết quả bước đầu trong cải cách thủ tục hành chính, thời gian gần đây vẫn còn nhiều thủ tục hành chính không hợp lý, phức tạp, tiếp tục gây phiền hà cho dân và doanh nghiệp.

- Chậm xác định rõ chức năng, nhiệm vụ quản lý HCNN vĩ mô của các cơ quan trong hệ thống hành chính nhà nước, nhất là ở cấp Chính phủ và các bộ. Chính phủ làm gì và làm đến đâu trong cơ chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, tương tự như vậy là các bộ và chính quyền các cấp, đây vẫn là vấn đề còn chưa hoàn toàn được làm sáng tỏ. Mặc dù hiện tại Chính phủ đã không còn làm một số việc giống như 25 năm trước đây, nhưng trong thực tế những việc Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ phải giải quyết vẫn quá nhiều chưa xứng tầm Chính phủ. Nhìn tổng thể thì mối quan hệ giữa nhà nước với thị trường, giữa nhà nước với doanh nghiệp, trong đó có doanh nghiệp nhà nước vẫn chưa đủ rõ.

- Tổ chức bộ máy HCNN vẫn cồng kềnh, nhiều tầng nấc với hơn 26 bộ, cơ quan ngang bộ và cơ quan thuộc Chính phủ. Bộ máy hành chính ở cấp Trung ương còn quá lớn, số lượng tổ chức bên trong các bộ, ngành còn nhiều và có xu hướng phình ra. Việc thực hiện phân cấp về ngành và lĩnh vực giữa trung ương và địa phương, giữa các cấp chính quyền địa phương còn chậm, vẫn chưa có sự phân biệt rõ về chức năng, nhiệm vụ và tổ chức bộ máy của chính quyền đô thị với chính quyền nông thôn.

- Chế độ công vụ mới chậm hình thành đầy đủ, chất lượng CBCC chưa đáp ứng với yêu cầu đổi mới, phát triển KT-XH. Đội ngũ CBCC còn bất cập về kỹ năng quản lý, thiếu tính nhạy bén, trách nhiệm thực thi công vụ chưa cao. Một bộ phận cán bộ, công chức suy thoái phẩm chất, đạo đức, tham nhũng. Chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức đang là vấn đề có ý nghĩa sống còn không chỉ riêng của công cuộc cải cách hành chính mà của cả sự nghiệp đổi mới, xây dựng và bảo vệ đất nước.

- Phương thức, lề lối làm việc còn thủ công, lạc hậu chưa đáp ứng yêu cầu chuyên nghiệp, hiện đại. Hoạt động của BM HCNN từ TW đến địa phương chưa thực sự thống nhất, thông suốt. Quy trình làm việc của CBCC nhìn chung còn thủ công, thiếu tính chuyên nghiệp. Dấu ấn của cơ chế tập trung, quan liêu còn khá đậm nét trong điều hành và tổ chức công việc của các cơ quan và đội ngũ CBCC ở tất cả các cấp. Họp hành nhiều, giấy tờ hành chính gia tăng, thẩm quyền và trách nhiệm giải quyết công việc của từng cán bộ, công chức không rõ; đặc biệt khâu phối hợp giữa các cơ quan hành chính nhà nước trong quá trình giải quyết công việc còn yếu. Trang bị thiết bị, điều kiện làm việc của cơ quan hành chính nhà nước nói chung còn nhiều hạn chế. Sau hơn một nửa thế kỷ xây dựng và củng cố chính quyền vẫn còn tới 10% chính quyền cấp xã chưa có trụ sở làm việc, khoảng 30% trụ sở cấp xã là nhà cấp 4, không bảo đảm điều kiện làm việc và giải quyết công việc của dân. Việc triển khai áp dụng công nghệ thông tin vào hoạt động quản lý nhà nước còn chậm, đạt hiệu quả thấp. Chủ trương hiện đại hoá nền hành chính, thu hẹp khoảng cách tụt hậu so với các nước trong khu vực vẫn là một thách thức lớn.

Đường lối, chủ trương

Cải cách hành chính ở Việt Nam là công việc mới mẻ, diễn ra trong điều kiện thiếu kiến thức và kinh nghiệm về quản lý hành chính nhà nước trong thời kỳ mới, có nhiều vấn đề phải vừa làm, vừa tìm tòi rút kinh nghiệm. Vì vậy, việc hình thành quan niệm và những nguyên tắc cơ bản chỉ đạo công cuộc cải cách hành chính cũng như việc đề ra những nội dung, phương hướng, chủ trương, giải pháp thực hiện trong từng giai đoạn là một quá trình tìm tòi sáng tạo không ngừng, là một quá trình nhận thức liên tục, thống nhất trong tiến trình đổi mới được khởi đầu từ ĐH VI.

Từ xác định những nguyên nhân của tình hình khủng hoảng KT-XH trầm trọng, ĐH VI đã chỉ rõ nguyên nhân của mọi nguyên nhân là công tác tổ chức và đề ra chủ trương thực hiện một cuộc cải cách lớn về tổ chức bộ máy các cơ quan nhà nước. Thực hiện Nghị quyết Đại hội VI, tổ chức bộ máy nhà nước đã được sắp xếp lại một bước theo hướng gọn nhẹ, bớt đầu mối. Tuy nhiên, nhìn chung tổ chức và biên chế của bộ máy nhà nước vẫn còn quá cồng kềnh, nặng nề.

Đến Đại hội VII, Đảng xác định tiếp tục cải cách BMNN và đề ra những nhiệm vụ về sửa đổi Hiến pháp, cải tiến tổ chức và hoạt động của Quốc hội, sửa đổi cơ cấu tổ chức và phương thức hoạt động của Chính phủ, của chính quyền địa phương. Trên cơ sở những nhiệm vụ do Đại hội VII đề ra, trong nhiệm kỳ này đã tiến hành đợt sắp xếp lần thứ hai kể từ Đại hội VI hệ thống chính trị ở nước ta bao gồm Đảng, Nhà nước, Mặt trận và các đoàn thể nhân dân.

Thực hiện Nghị quyết Đại hội VII, tháng 4/1992, Quốc hội đã thông qua Hiến pháp mới thay thế Hiến pháp 1980. Hiến pháp 1992 thể hiện sự nhận thức đầy đủ hơn về phân công, phối hợp giữa 3 quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp trong tổng thể quyền lực thống nhất của Nhà nước.

Hội nghị Trung ương 8 khoá VII (1/1995) đánh dấu bước phát triển mới về xây dựng và phát triển nền hành chính nhà nước. Cải cách một bước nền hành chính nhà nước được xác định là trọng tâm của việc tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước, với mục tiêu là xây dựng một nền hành chính trong sạch có đủ năng lực, sử dụng đúng quyền lực và từng bước hiện đại hoá để quản lý có hiệu lực và hiệu quả công việc của nhà nước, thúc đẩy xã hội phát triển lành mạnh, đúng hướng, phục vụ đắc lực đời sống nhân dân, xây dựng nếp sống và làm việc theo pháp luật trong xã hội. Lần đầu tiên 3 nội dung chủ yếu của cải cách hành chính nhà nước được trình bày một cách hệ thống trong Nghị quyết Trung ương 8, đó là cải cách thể chế của nền hành chính, chấn chỉnh tổ chức bộ máy và xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức.

Tiếp tục khẳng định cải cách hành chính là trọng tâm của việc xây dựng, hoàn thiện Nhà nước trong những năm trước mắt, ĐH VIII nhấn mạnh yêu cầu tiến hành cải cách hành chính đồng bộ, dựa trên cơ sở pháp luật, coi đó là một giải pháp cơ bản để thực hiện các nhiệm vụ, mục tiêu chủ yếu của kế hoạch phát triển KT-XH 5 năm 1996-2000.

Hội nghị TW 3 khoá VIII (1997) khẳng định, bảo đảm thực hiện dân chủ hóa đời sống chính trị của xã hội, giữ vững và phát huy bản chất tốt đẹp của Nhà nước, phát huy quyền làm chủ của nhân dân trong xây dựng và bảo vệ nhà nước, trong giám sát hoạt động của bộ máy nhà nước và hoạt động của cán bộ, công chức. Từ đó, Chính phủ ban hành các quy chế thực hiện dân chủ ở cơ sở.

Trong việc xây dựng chiến lược về cán bộ cho thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước đến năm 2020, Nghị quyết Trung ương 3 đặc biệt nhấn mạnh nhiệm vụ xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức có phẩm chất và năng lực, coi đó là yếu tố quyết định đến chất lượng bộ máy nhà nước. Cán bộ lãnh đạo phải được đào tạo, bồi dưỡng kiến thức toàn diện, được bố trí, điều động theo nhu cầu và lợi ích của đất nước.

Nghị quyết Trung ương 6 (lần 2), Nghị quyết Trung ương 7 (khoá VIII), đã biểu thị một quyết tâm chính trị rất lớn về việc tiếp tục tiến hành cải cách hành chính, đặt cải cách hành chính trong tổng thể của đổi mới hệ thống chính trị.

Nghị quyết Trung ương 7 (khoá VIII) đề ra chủ trương tiến hành sắp xếp lại tổ chức bộ máy đảng và các tổ chức trong hệ thống chính trị gắn liền với cải cách hành chính theo hướng tinh gọn, hoạt động có hiệu lực, hiệu quả. Đồng thời, với việc kiên quyết sắp xếp một bước bộ máy các tổ chức trong hệ thống chính trị, thực hiện tinh giảm biên chế, cải cách chính sách tiền lương.

    Đại hội IX (năm 2001) bên cạnh việc khẳng định mục tiêu xây dựng nền hành chính nhà nước dân chủ, trong sạch, vững mạnh, từng bước hiện đại hoá đã đưa ra một loạt chủ trương, giải pháp có ý nghĩa quan trọng trong cải cách hành chính thời gian tới như điều chỉnh chức năng và cải tiến phương thức hoạt động của Chính phủ, nguyên tắc bộ quản lý đa ngành, đa lĩnh vực; phân công, phân cấp; tách cơ quan hành chính công quyền với tổ chức sự nghiệp, dịch vụ công; tiếp tục cải cách doanh nghiệp nhà nước, tách rõ chức năng quản lý nhà nước với sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp; tiếp tục cải cách thủ tục hành chính; xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức trong sạch, có năng lực; thiết lập trật tự kỷ cương, chống quan liêu, tham nhũng.

ĐH X đã khẳng định: đẩy mạnh cải cách hành chính công, nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước về kinh tế, xã hội. Đẩy nhanh công cuộc xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa trên cả bốn mặt: chức năng, nhiệm vụ; tổ chức bộ máy; cán bộ và phương thức hoạt động. Định rõ những việc Nhà nước phải làm và bảo đảm đủ các điều kiện để làm tốt; khắc phục tình trạng buông lỏng hoặc làm thay, chồng chéo về chức năng, nhiệm vụ giữa các cơ quan của Đảng và cơ quan nhà nước; hiện đại hoá nền hành chính nhà nước. Nâng cao hiệu quả hoạt động của Quốc hội, tiếp tục cải cách tư pháp một cách thực chất và toàn diện.

Điều chỉnh chức năng của Chính phủ đúng với vai trò là cơ quan HCNN cao nhất. Xác định rõ phạm vi và nội dung quản lý nhà nước về kinh tế, xã hội phù hợp với yêu cầu phát triển của giai đoạn mới; Chính phủ tập trung vào việc hoạch định thể chế, chính sách, xây dựng biện pháp, cải cách thủ tục hành chính, tạo lập môi trường pháp lý thuận lợi cho các hoạt động kinh tế, xã hội; nâng cao năng lực và hiệu quả chỉ đạo thực hiện, kiểm tra, thanh tra thực hiện thể chế; xác định rõ phạm vi và nội dung quản lý nhà nước về kinh tế, xã hội của cơ quan công quyền các cấp.

Cơ cấu lại bộ máy Chính phủ theo hướng giảm các đầu mối phù hợp với yêu cầu đổi mới chức năng, nhiệm vụ. Cơ cấu lại các cơ quan trong hệ thống hành chính nhà nước các cấp theo hướng giảm cấp phó, bỏ các cấp trung gian; giảm bộ phận phục vụ trong cơ quan hành chính, chuyển sang hình thức hợp đồng dịch vụ; phân cấp mạnh cho cấp dưới gắn với việc hướng dẫn và thực hiện thanh tra, kiểm tra của cấp trên.

Điều chỉnh cơ cấu chính quyền địa phương cho phù hợp với những thay đổi chức năng, nhiệm vụ. Phân biệt rõ những khác biệt giữa chính quyền nông thôn và chính quyền đô thị để tổ chức bộ máy phù hợp, nghiên cứu việc giảm bớt hội đồng nhân dân cấp quận ở đô thị. Tăng cường đào tạo, bồi dưỡng và kiểm tra hoạt động của bộ máy chính quyền cơ sở.

Đổi mới chính sách cán bộ và công tác quản lý cán bộ, xây dựng chế độ công vụ rõ ràng, minh bạch, đội ngũ cán bộ, công chức có đủ phẩm chất và năng lực gắn với chế độ hưởng thụ thoả đáng và công bằng. Thực hiện đầy đủ nguyên tắc công khai, minh bạch, dân chủ và phục vụ dân đối với các cơ quan và công chức nhà nước.

Nghiên cứu để áp dụng cơ chế thủ trưởng cơ quan hành chính cấp trên bổ nhiệm chức danh người đứng đầu cơ quan hành chính cấp dưới. Tách các hoạt động công quyền với các hoạt động cung ứng dịch vụ công để các tổ chức cung ứng dịch vụ công thực hiện cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm về hoạt động, về tài chính và nhân sự.

Phát huy sự đa dạng về tổ chức và đổi mới phương thức hoạt động của các tổ chức đoàn thể, các tổ chức phi chính phủ trong việc tham gia xây dựng và thực hiện các chủ trương của Đảng, chính sách và pháp luật của NN, khắc phục tình trạng hành chính hoá các tổ chức quần chúng. Ban hành Luật về hội; phát triển nhiều hình thức tự quản của dân hoạt động theo pháp luật.

Định hướng

- Xác lập mô hình tổ chức nền hành chính mới cho phù hợp với yêu cầu xây dựng một nền hành chính phục vụ nhân dân, phục vụ phát triển và hội nhập của đất nước.

- Hoàn thiện thể chế hành chính dân chủ - pháp quyền, có sự tham gia tích cực của người dân vào quá trình quản lý nền hành chính hiệu lực-hiệu quả của đất nước.

- Có chế độ công vụ chuyên nghiệp, đảm bảo triệt để tính trách nhiệm, tính công khai, minh bạch của hoạt động công vụ. Có sức đề kháng cao với tệ quan liêu, tham nhũng.

- Xây dựng nền hành chính thống nhất, thông xuốt, trên cơ sở phân cấp, phân quyền triệt để trong bộ máy quản lý hành chímh nhà nước. Đề cao tính tự chủ, tự chịu trách nhiệm của tổ chức chính quyền các cấp trong thực hiện chính sách, pháp luật, thiết lập một trật tự hành chính phù hợp với việc tăng cường kỷ luật, kỷ cương của nền hành chính.

- Nền hành chính năm 2020 phải được hiện đại hóa từ công sở tới phương thức quản trị hiện đại, đạt trình độ quản lý của nền hành chính khu vực và thế giới. Chính phủ điện tử được thiết lập và vận hành hiệu quả.

Những định hướng CCHC nhà nước trên đây được thực hiện, sẽ tạo lập được một nền hành chính dân chủ, hiện đại, một nền hành chính năng động trong một thế giới luôn biến đổi, đáp ứng yêu cầu phát triển KT-XH của đất nước trong thời kỳ CNH, HĐH, mở cửa hội nhập quốc tế./.

Câu 35: Công vụ - Công chức

Công chức là công dân VN, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh trong cơ quan của ĐCSVN, NN, tổ chức CT-XH ở TW, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc QĐND mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc CAND mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp và trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của các đơn vị sự nghiệp công lập của ĐCSVN, NN, tổ chức CT-XH, trong biên chế và hưởng lương từ NSNN; đối với công chức trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của các đơn vị sự nghiệp công lập của ĐCSVN, NN, tổ chức CT-XH thì lương được đảm bảo từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật.

Hoạt động công vụ của CBCC là việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của CBCC theo quy định của Luật CBCC và các quy định của pháp luật có liên quan.

Thực trạng

Cải cách công vụ, công chức là những vấn đề có tính cốt lõi, bởi mọi hoạt động của Nhà nước nói chung và quá trình cải cách hành chính nói riêng, chủ yếu đều do người công chức đảm trách hoặc liên quan đến họ. Chức năng tổ chức, hoạt động quản lý nhà nước nhằm phát triển kinh tế - xã hội và đời sống công dân được thông qua công vụ và công chức. Hiểu rõ vai trò, vị trí của lĩnh vực công vụ, công chức, trong nhiều năm qua, đặc biệt từ sau khi có văn bản của Chính phủ về cải cách một bước thủ tục hành chính trong việc giải quyết các công việc của công dân, tổ chức (năm 1994) và Luật cán bộ công chức (năm 2008) công tác này được các cấp chính quyền, các ngành chức năng, các tổ chức trong bộ máy nhà nước quan tâm thực hiện và đã có nhiều chuyển biến tích cực. Các vấn đề về công chức, công vụ được đặt ra khá toàn diện từ khái niệm; quyền, nghĩa vụ; điều kiện phát sinh, thay đổi, chấm dứt quan hệ công vụ; chế độ đãi ngộ; khen thưởng và kỷ luật; bộ máy quản lý công chức... làm cơ sở thống nhất để xây dựng một nền công vụ hiệu quả, hiện đại, đáp ứng yêu cầu phát triển và hội nhập của đất nước.

Tuy nhiên bên cạnh những thành công đạt được trong những năm qua thì vẫn còn nhiều tồn tại, yếu kém trong hoạt động công vụ - công chức ở nước ta trong giai đoạn hiện nay. Cơ sở vật chất cũng như trang thiết bị, phương tiện kỹ thuật trong các công sở còn nghèo nàn, lạc hậu chưa đáp ứng được nhu cầu thực tế giải quyết công việc. Trong một thời gian dài chúng ta lúng túng chưa ban hành được luật công vụ, công chức trong khi đó pháp lệnh cán bộ công chức năm 2003 chưa thật sự đáp ứng được yêu cầu hiện tại. Vừa qua luật cán bộ, công chức năm 2008 đã có hiệu lực từ ngày 01/01/2010 đây là bước tiến dài cho việc thể chế hóa hoạt động công vụ - công chức. Kỹ năng hành chính cũng như trình độ chuyên môn nghiệp vụ của một số cán bộ công chức còn yếu kém, một số chưa đáp ứng được yêu cầu của vị trí đang công tác. Bên cạnh đó việc thiếu ý thức trách nhiệm trong công việc cũng diễn ra thường xuyên do nhiều nguyên nhân trong đó chế độ tiền lương chưa thỏa đảng có thể xem là nguyên nhân chính. Ngoài ra đạo đức công chức, thái độ phục vụ, phương thức phục vụ chưa được văn minh, hiện đại cũng là vấn đề cần xem xét trong quá trình hoàn thiện chế độ công vụ và nâng cao chất lượng đội ngũ công chức hiện nay. Tham nhũng vẫn là vấn đề nóng bỏng nhất cần quan tâm hiện nay.

Hoàn thiện chế độ công vụ và nâng cao chất lượng đội ngũ công chức

Hoàn thiện chế độ công vụ là nội dung quan trọng của cải cách hành chính nhà nước, làm cho chế độ công vụ ngày một hoàn thiện hơn. Qua đó, bảo đảm sự vận hành của bộ máy hành chính thông suốt, nâng cao ý thức trách nhiệm công vụ của cán bộ, công chức; giải quyết đúng đắn, kịp thời các yêu cầu hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức; bảo vệ các quyền, lợi ích hợp pháp của công dân.

I - Quan điểm hoàn thiện chế độ công vụ

1 - Hoàn thiện chế độ công vụ phải bảo đảm sự lãnh đạo thống nhất của Đảng về công tác cán bộ

Điều 4, Hiến pháp nước ta khẳng định: "Đảng Cộng sản Việt Nam, đội tiên phong của giai cấp công nhân Việt Nam..., là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội". Đảng lãnh đạo Nhà nước được thể hiện ở nhiều phương diện khác nhau: lãnh đạo trong tổ chức và hoạt động của toàn bộ bộ máy nhà nước, đưa ra các chủ trương, quan điểm xây dựng Nhà nước, định hướng chính trị cho hoạt động của Nhà nước, thông qua công tác kiểm tra, giám sát của Đảng, thông qua công tác cán bộ. Xuất phát từ nhận thức đó, hoàn thiện chế độ công vụ cần phải: Dựa trên cơ sở quan điểm, đường lối chính trị, chủ trương, chính sách của Đảng về công tác cán bộ, xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức. Kịp thời thể chế hóa quan điểm của Đảng về công tác cán bộ thành pháp luật điều chỉnh quan hệ công vụ, công chức. Xây dựng đội ngũ công chức ngày càng chính quy, hiện đại, có phẩm chất chính trị, trình độ chuyên môn và phẩm chất đạo đức trong công vụ. Tôn trọng sự kiểm tra, hướng dẫn, lãnh đạo của Đảng trong công tác cán bộ và tôn trọng sự giới thiệu của các cơ quan, tổ chức đảng trong lựa chọn, đề bạt cán bộ. Xây dựng đạo đức công vụ theo những tiêu chí đạo đức cách mạng.

2 - Hoàn thiện chế độ công vụ gắn với đổi mới hệ thống chính trị, đổi mới tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước

Mối quan hệ, sự phối hợp giữa các bộ phận cấu thành hệ thống chính trị với Nhà nước thể hiện qua các mặt chủ yếu sau: quan hệ trong thiết lập bộ máy nhà nước; trong xây dựng pháp luật; trong tổ chức thực thi pháp luật và trong kiểm tra, giám sát việc thực hiện pháp luật.

Bên cạnh việc đổi mới hệ thống chính trị nói chung, việc hoàn thiện chế độ công vụ gắn với đổi mới tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước, các cơ quan nhà nước. Đổi mới tổ chức bộ máy nhà nước phải gắn với đổi mới cơ cấu tổ chức bên trong của từng cơ quan nhà nước, tới phân công chức năng nhiệm vụ, quyền hạn của từng bộ phận cơ quan nhà nước. Yếu tố này ảnh hưởng có tính quyết định đến hoạt động công vụ của công chức trong các cơ quan nhà nước, đến trách nhiệm công vụ của công chức. Chính vì vậy, khi hoàn thiện chế độ công vụ cần phải chú ý tới việc định rõ chức trách của từng chức vụ quản lý, từng vị trí, chức danh công chức.

3 - Hoàn thiện chế độ công vụ bảo đảm hội nhập kinh tế quốc tế

Đội ngũ cán bộ, công chức giữ các chức vụ quản lý ở nước ta phần lớn được đào tạo trong cơ chế cũ, nhiều tri thức của họ đã trở nên lạc hậu, không còn phù hợp với yêu cầu có tính thời đại, thêm vào đó là các thủ tục hành chính rườm rà, cùng với tính bảo thủ, đã làm cho bộ máy hành chính vận hành một cách kém hiệu quả, mọi công việc thường được giải quyết chậm trễ.

Vì vậy, việc hoàn thiện chế độ công vụ cần hướng tới việc đáp ứng các yêu cầu của hội nhập kinh tế quốc tế, mở cửa. Xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức có trình độ chuyên môn cao ngang tầm với khu vực và quốc tế, có khả năng đáp ứng linh hoạt yêu cầu của hội nhập kinh tế quốc tế. Thể chế của chế độ công vụ được hoàn thiện phải hướng tới phục vụ cho hội nhập kinh tế quốc tế.

4 - Hoàn thiện chế độ công vụ nhằm xây dựng nền công vụ phục vụ nhân dân, chịu sự giám sát của nhân dân

Xuất phát từ bản chất Nhà nước ta là Nhà nước của dân, do dân và vì dân, chế độ công vụ nước ta là chế độ công vụ phục vụ cách mạng, phục vụ nhân dân. Hiến pháp năm 1992 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2001) khẳng định: "Các cơ quan nhà nước, cán bộ, viên chức nhà nước phải tôn trọng nhân dân, tận tụy phục vụ nhân dân, liên hệ chặt chẽ với nhân dân, lắng nghe ý kiến và chịu sự giám sát của nhân dân; kiên quyết đấu tranh chống mọi biểu hiện quan liêu, hách dịch, cửa quyền, tham nhũng". Điều này đòi hỏi việc hoàn thiện chế độ công vụ phải đặc biệt quan tâm đến các quy tắc, quy định trách nhiệm, bổn phận công vụ của cán bộ, công chức, viên chức nói chung, công chức trong bộ máy nhà nước nói riêng. Đi đôi với quá trình đó, phải thiết lập cơ chế để mọi hoạt động công vụ của cán bộ, công chức đều chịu sự giám sát của nhân dân, thông qua các cơ quan quyền lực nhà nước do nhân dân trực tiếp bầu lên, thông qua các tổ chức chính trị - xã hội mà công dân là thành viên, thông qua việc công dân sử dụng quyền khiếu nại, tố cáo. Đặc biệt, các tổ chức xã hội thực sự là người phản biện xã hội đối với mọi hoạt động nhà nước, hoạt động của đội ngũ cán bộ, công chức nhà nước.

5 - Hoàn thiện chế độ công vụ gắn với tăng cường chuyên môn, nâng cao đạo đức công vụ, bảo đảm chế độ thủ trưởng trong các cơ quan công quyền

Hồng và chuyên là hai phẩm chất hàng đầu của cán bộ, công chức, trở thành thuộc tính của công chức thời kỳ xây dựng nhà nước pháp quyền và xã hội công dân. Rèn luyện đạo đức là một yêu cầu có tính nguyên tắc, là bắt buộc trong điều kiện hiện nay. Vì vậy, hoàn thiện chế độ công vụ ở nước ta hiện nay cần phải hướng tới xây dựng hệ thống các chuẩn mực đạo đức công vụ của cán bộ, công chức.

Sự tập trung, thống nhất quyền lực là một nguyên tắc, thuộc tính của quản lý hành chính nhà nước, nếu không sẽ không bảo đảm được sự thống nhất trong điều hành, chỉ huy hoạt động công vụ. Từ góc độ hành chính, người đứng đầu cơ quan nhà nước là người chỉ huy, điều hành các công việc có tính hành chính trong cơ quan nhà nước để thực thi các nhiệm vụ, công vụ của cơ quan đó. Chính điều đó đòi hỏi phải phân định rõ nhiệm vụ, quyền hạn của tập thể và cá nhân người đứng đầu cơ quan.

Trong điều hành công vụ, đòi hỏi phải đề cao vai trò của người đứng đầu cơ quan, đồng thời cần phải xác định trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan nhà nước và người đứng đầu các bộ phận trong cơ quan đó. Việc hoàn thiện chế độ công vụ cần phải hướng tới xây dựng chế độ phân định rõ nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm của tập thể và trách nhiệm cá nhân của người đứng đầu cơ quan, đơn vị trong cơ quan nhà nước.

II - Nâng cao chất lượng đội ngũ công chức

1 - Đổi mới quy trình, chế độ tuyển dụng công chức

Tuyển dụng công chức là khâu đầu tiên có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, có tính chất quyết định đến chất lượng công chức sau này. Tổ chức thi tuyển chung công chức ở các ngạch cho các cơ quan nhà nước ở trung ương, địa phương; không nên giao cho từng cơ quan nhà nước tự tuyển công chức như hiện nay. Vì như vậy sẽ phá vỡ kế hoạch chung của nền công vụ, mà còn gây ra những tiêu cực khó lường. Từ đó, chúng ta không dự liệu một cách đầy đủ nhu cầu bổ sung nguồn nhân lực cho bộ máy nhà nước.

2 - Thi nâng ngạch công chức trên cơ sở cạnh tranh lành mạnh

Cạnh tranh trong công vụ như là động lực thúc đẩy tính tích cực, sự phấn đấu của công chức, nhằm nâng cao năng lực của công chức, khắc phục được tình trạng trì trệ "sống lâu lên lão làng". Ngạch công chức là cấp bậc về trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, do đó tương ứng với những công việc đảm nhiệm mà cần công chức có chuyên môn, nghiệp vụ tương ứng. Từ đó, thi nâng ngạch công chức chỉ được tiến hành theo yêu cầu công vụ, chỉ thi nâng ngạch khi có chỗ trống chức vụ chuyên môn. Việc thi nâng ngạch công chức hiện nay mới chủ yếu là nhằm giải quyết chế độ cho công chức về lương, về danh, mà chưa làm thay đổi về nghĩa vụ, chức phận công vụ của họ.

Tiến hành trả lương công chức theo chức vụ chuyên môn (ngạch, bậc chuyên môn) và chức vụ quản lý, người không giữ chức vụ quản lý thì chuyển hưởng lương theo chức vụ chuyên môn. Trân trọng tính chuyên nghiệp, chuyên môn sâu của công chức.

3 - Đổi mới công tác đào tạo và bồi dưỡng nhằm nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ, công chức

Khi xem xét đào tạo và bồi dưỡng trong tổng thể quản lý và phát triển nguồn nhân lực trong công vụ, điều quan trọng là cần xây dựng một chiến lược đào tạo để nhìn nhận và dự báo yêu cầu về kiến thức và kỹ năng cán bộ, công chức cần thiết trong hiện tại và tương lai một cách chủ động, từ đó điều chỉnh các hoạt động đào tạo cho phù hợp với yêu cầu mới. Các bộ phận liên quan tới bộ phận quan trọng này trong cải cách hành chính bao gồm: 1 - đổi mới chương trình, nội dung đào tạo; 2 - cải tiến giáo trình và tài liệu giảng dạy; 3 - vận dụng phương pháp đào tạo mới, lấy người học làm trung tâm; 4 - tăng cường cơ sở vật chất hỗ trợ đào tạo. Xét cho cùng, trước mắt cần tăng cường năng lực cho chính đội ngũ giảng viên để đảm đương được nhiệm vụ này.

Các chương trình đào tạo, bồi dưỡng thường nặng về kiến thức, tri thức mà chưa quan tâm nhiều đến công chức. Ngoài việc đào tạo, bồi dưỡng về chuyên môn nghiệp vụ, kiến thức hành chính, cần chú trọng đào tạo về kỹ năng hành chính. Thường xuyên thi sát hạch công chức để đánh giá năng lực công chức (5 năm một lần). Ấn định số lượng công chức theo ngạch trong các công việc hành chính. Để nâng cao năng lực thực thi công vụ của các cơ quan nhà nước (xác định cơ cấu công chức trong cơ quan nhà nước từ trung ương đến địa phương).

Tóm lại, hoàn thiện chế độ công vụ ở nước ta hiện nay là yêu cầu cần thiết khách quan, là nhiệm vụ vừa mang tính cấp thiết vừa mang tính lâu dài, đáp ứng yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân, đáp ứng yêu cầu của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Hoàn thiện chế độ công vụ nhằm khắc phục những hạn chế, nhược điểm của chế độ công vụ ở nước ta hiện nay, đặc biệt là yếu tố thể chế của nền công vụ, đồng thời đáp ứng xu thế hội nhập kinh tế quốc tế, xu hướng chuyển từ nền hành chính điều hành sang nền hành chính phục vụ các khách hàng của nền hành chính: cá nhân, cơ quan, tổ chức./.

Câu 36: Chức năng HCNN

I. Khái niệm và ý nghĩa:

1. Khái niệm:

Chức năng hành chính nhà nước là những phương diện hoạt động chủ yếu của hành chính được hình thành thông qua quá trình phân công lao động trong các cơ quan nhà nước. Chức năng hành chính phản ảnh vai trò của hành chính trong hoạt động quản lý hành chính nhà nước. Chức năng hành chính của mỗi quốc gia phụ thuộc vào vị trí và mối quan hệ giữa các cơ quan nhà nước trong bộ máy quản lý nhà nước nói chung và của các cơ quan hành chính nói riêng.

Trong điều kiện cụ thể của Việt Nam, ĐCSVN, Nhà nước và các tổ chức CT-XH hoạt động theo một cơ chế nhất định nhằm đảm bảo mọi quyền lực thuộc về nhân dân. Trong hệ thống chính trị nầy, Đảng là lực lượng lãnh đạo; Nhà nước là trụ cột, công cụ thực hiện quyền lực, là trung tâm quản lý xã hội; Mặt trận tổ quốc và các tổ chức chính trị – xã hội là cơ sở chính trị của chính quyền nhân dân. Các cơ quan nhà nước trong tổng thể bộ máy nhà nước có chức năng, nhiệm vụ nhất định do pháp luật quy định. Đây là điều khác với chức năng của một tổ chức không phải của nhà nước, chức năng do người chủ, người thành lập nó tạo nên.

Chức năng của cơ quan nhà nước của mọi quốc gia đều do Hiến pháp, các đạo luật hay các văn bản pháp luật khác quy định. Tuỳ thuộc vào thể chế chính trị, thể chế nhà nước, pháp luật quy định. Ví dụ: theo hệ thống pháp luật Việt Nam, Quốc hội (cơ quan đại diện, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất, thực hiện chức năng lập hiến, lập pháp, giám sát tối cao đối với toàn bộ bộ máy nhà nước); Chính phủ (theo Hiến pháp 1992) là cơ quan chấp hành của Quốc hội, thực thi quyền hành pháp, đồng thời là cơ quan hành chính nhà nước cao nhất của Nhà nước CHXHCNVN, thực hiện chức năng quản lý nhà nước trên các lĩnh vực đời sống xã hội.

Chức năng cụ thể của Chính phủ được quy định trong luật tổ chức Chính phủ. Cơ quan hành chính nhà nước trung ương chịu trách nhiệm quản lý thống nhất các ngành, các lĩnh vực, các vùng, các thành phần kinh tế trong phạm vi cả nước. Các cơ quan hành chính ở địa phương là cơ quan chấp hành của Hội đồng nhân dân, chịu trách nhiệm chấp hành Hiến pháp, Luật, các văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên, chịu trách nhiệm quản lý về mặt nhà nước đối với tất cả các lĩnh vực, các hoạt động ở địa phương dưới sư chỉ huy, điều hành thống nhất của Chính phủ.

2. Ý nghĩa:

- Thứ nhất, hành chính nhà nước là một tiến trình được thể hiện qua các chức năng hành chính nhà nước (thực hiện các chức năng quản lý). Nếu không làm rõ chức năng hành chính nhà nước thì không thể hình dung được tiến trình hành chính; cấp độ các thể chế hành chính, thủ tục hành chính theo các khâu, các cấp hành chính; cũng như các hoạt động chi tiết, cụ thể của tiến trình ấy trong một hệ thống nhất định. Coi hành chính là sự tập hợp những chức năng hành chính (chức năng quản lý) đã cho phép các công chức lãnh đạo giải quyết thành công nhiều vấn đề trong thực tiễn.

- Thứ hai, sự hình thành, phát triển, hoàn thiện các chức năng hành chính nhà nước là một quá trình lịch sử, một quá trình khách quan. Quá trình đó ngày càng trở nên phức tạp do lực lượng sản xuất, quan hệ xã hội, quan hệ quốc tế không ngừng phát triển. Trên góc độ này, chức năng hành chính là là sản phẩm của quá trình phân công, chuyên môn hóa, tổng hợp hoá lao động trên lĩnh vực thực thi quyền hành pháp nhằm tạo ra của cải vật chất, dịch vụ, hàng hoá ngày càng nhiều cho cộng đồng. Với ý nghĩa đó, chức năng hành chính nhà nước là một trong những căn cứ quan trọng nhất để thiết lập các cơ quan hành chính nhà nước.

- Thứ ba, những chức năng hành chính được cụ thể hoá thành các khâu, các nhiệm vụ của các cấp, các chức danh hành chính, quy chế tổ chức (mỗi cấp có chức năng, nhiệm vụ khác nhau) và do đó, nó là một phương tiện quan trọng để góp phần thực hiện đường lối tổ chức, đường lối cán bộ của Đảng và Nhà nước.

- Thứ tư, xác định cụ thể, rõ ràng một cách khoa học các chức năng hành chính của từng cơ quan hành chính là một nội dung quan trọng không thể thiếu được của khoa học hành chính.

- Thứ năm, nghiên cứu các chức năng hành chính là trả lời câu hỏi: hành chính và các cơ quan hành chính phải làm gì để thực hiện chức năng vĩ mô của hành chính là thực thi quyền hành pháp.

- Thứ sáu, nghiên cứu các chức năng hành chính là xác định rõ mối quan hệ về chức năng (tính phân công nhiệm vụ chuyên môn, tính hệ thống) giữa các yếu tố cấu thành bộ máy hành chính nhà nước.

- Thứ bảy, nghiên cứu chức năng hành chính và chức năng của các cơ quan hành chính tạo cơ sở khoa học cho việc xác định thể chế hành chính; quy chế công vụ và các chính sách phát triển nguồn nhân lực để đảm bảo thực hiện tốt nhiệm vụ hành chính.

Nhiều người cho rằng bàn đến chức năng hành chính phải gắn liền với sự ra đời của nhà nước. Khi nhà nước ra đời, một trong những vấn đề được quan tâm là làm thế nào để giữ được những giá trị của nó; thu phí và sử dụng khoản thu nhập có được. Cùng với sự mở rộng quy mô lãnh thổ cũng như sự phát triển xã hội, nhà nước phải làm nhiều việc hơn để giải quyết những vấn đề xã hội như về y tế, giáo dục…

II. Phân loại chức năng hành chính nhà nước

1. Mục đích của phân loại chức năng

Việc phân loại các chức năng hành chính nhằm:

Bảo đảm quá trình được tiếp cận một cách bao quát, trọn vẹn, hoàn chỉnh đối với từng cơ quan, từng chức vụ, từng cấp hành chính trong các ngành, các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội cũng như đối với chính quyền địa phương. Điều nầy có ý nghĩa quan trọng và trực tiếp đến thiết kế bộ máy; thiết lập mối quan hệ phối hợp ngành, cấp; cơ cấu kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo và xây dựng phong cách, chế độ làm việc của đội ngũ cán bộ, công chức trong các công sở hành chính.

Tạo cơ sở khách quan cho việc xác định khối lượng công việc theo từng chức năng, xây dựng mô hình tổ chức cho từng loại cơ quan hành chính (để giao nhiệm vụ, kiểm tra, đánh giá: khen thưởng, trả lương, tránh bình quân chủ nghĩa), đặc biệt mô hình tổ chức bộ máy kinh tế cấp bộ, cơ quan ngang bộ và mô hình tổ chức hành chính UBND các cấp.

Là điều kiện quan trọng nhất bảo đảm sự phù hợp, ăn khớp giữa chức năng, cơ cấu bộ máy hành chính giữa các cấp, các ngành; phòng ngừa và sửa chữa có hiệu quả sự trùng lắp, chồng chéo, rắc rối, bỏ trống, giành giật, đổ lỗi cho nhau giữa các cơ quan hành chính nhà nước.

2. Phân loại chức năng hành chính nhà nước

Các chức năng hành chính có thể chia thành một số loại sau: Phân loại chức năng hành chính dựa trên cơ sở phân biệt giữa các chức năng thực thi quyền lập pháp; quyền hành pháp và tư pháp. Phân lọai chức năng theo cơ cấu tổ chức hệ thống hành chính nhà nước giữa trung ương và chính quyền địa phương các cấp. Phân loại theo chức năng của từng cơ quan hành chính trong tổng thể các cơ quan hành chính: Bộ; cơ quan ngang bộ; cơ quan thuộc chính phủ; các Cục, Vụ, Viện; Uỷ ban nhân dân; Hội đồng nhân dân; các cơ quan trực thuộc UBND. Phân loại thành nhóm chức năng bên trong và các chức năng bên ngoài.

Cũng có thể tiến hành phân loại chức năng hành chính chi tiết hơn theo từng nhóm ngành, lĩnh vực. Trong cách phân lọai nầy có thể chia thành các nhóm: Phân lọai theo các chức năng hành chính cơ bản nhất như chia ra chức năng chính trị, chức năng kinh tế, chức năng văn hoá, chức năng xã hội. Phân lọai theo các đối tượng tác động hành chính: chức năng đối với dân, chức năng đối với nền kinh tế thị trường, chức năng đối với xã hội và chức năng đối với bên ngoài. Phân loại theo trình tự và nội dung của tiến trình thực hiện chức năng: chức năng kế hoạch hóa, chức năng tổ chức, chức năng lãnh đạo, chức năng báo cáo, chức năng dự toán ngân sách, chức năng kiểm tra, đánh giá. Phân loại theo lĩnh vực và các mặt hoạt động: chức năng kinh tế, văn hoá, xã hội, ngoại giao, an ninh, quốc phòng, tài chính, ngân sách nhà nước, kế toán, kiểm toán, thống kê, chứng khoán, ngân hàng, tín dụng, bảo hiểm, tài sản công, khoa học, công nghệ, môi trường, tài nguyên thiên nhiên, phát triển nguồn nhân lực, xây dựng chế độ công vụ và quy chế công chức, tổ chức bộ máy. Phân loại theo các ngành kinh tế, kỹ thuật, dịch vụ: công nghiệp, xây dựng cơ bản, giao thông vận tải, bưu chính viễn thông, nông nghiệp, lâm nghiệp, thuỷ sản, nông thôn, thương mại, dịch vụ du lịch, các công trình đo thị phục vụ dân cư. Phân loại theo thể chế hiện hành (hiến pháp, luật, văn bản pháp quy). Đây là cách phân loại gắn liền với việc thực thi luật pháp hằng ngày trong nền hành chính nhà nước với tính chất thực tiễn hành chính. Phân loại theo tiến trình lịch sử của sự phát triển chức năng quản lý và chức năng hành chính (chức năng cai trị- chức năng phục vụ). Đối với những quốc gia coi các thành tựu nghiên cứu lý thuyết khoa học thì các lý thuyết đó là một căn cứ quan trọng hàng đầu trong việc phân loại các chức năng hành chính. Phân loại chức năng hành chính theo sự vận hành của quy trình hành chính nhà nứơc: chức năng quản lý; tạo sân chới hay cấm đoán.

III. Chức năng hành chính nhà nước:

1. Chức năng hành chính tổng quát:

- Chức năng hành chính nhà nước đối với dân: Thiết lập hệ thống chính sách an dân, khơi dậy và phát huy tính chủ động, sáng tạo của dân và phục vụ dân ngày càng tốt hơn; giao một số việc cho dân làm, dân tự quản; có những phương thức đảm bảo cho dân tham gia xây dựng, theo dõi, giám sát hoạt động của nền hành chính; thực hiện tốt phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra”.

- Chức năng hành chính nhà nước đối với nền kinh tế thị trường: Định hướng và tạo điều kiện phát triển nền kinh tế thị trường, thúc đẩy sự phát triển và tăng trưởng kinh tế. Tạo môi trường pháp lý cho sự phát triển kinh tế thị trường đúng hướng, lành mạnh theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Phát huy vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước, tạo lập kết cấu hạ tầng, công nghệ, thông tin. Khuyến khích hướng dẫn các thành phần kinh tế bằng hệ thống chính sách đòn bẩy, tạo môi trường thuận lợi, ổn định, phát huy tiềm lực nội tại. Điều tiết kinh tế, phân phối và phân phối lại thu nhập quốc dân, điều hòa quyền lợi hợp pháp chính đáng giữa Nhà nước, doanh nghiệp và công dân, bảo đảm công bằng xã hội. Ngăn ngừa và khắc phục những yếu tố tiêu cực, trừng phạt những hành vi xâm phạm đến lợi ích chung cũng như lợi ích của công dân. Tham gia tích cực vào việc hội nhập kinh tế thế giới, bên cạnh đó phải bảo đảm chủ quyền và lợi ích kinh tế của quốc gia.

- Chức năng hành chính nhà nước đối với xã hội: Điều hành xã hội theo luật pháp, bảo đảm trật tự kỷ cương, phòng chống có hiệu quả các tệ nạn tham nhũng, tệ nạn xã hội, thực hiện công bằng xã hội.

- Chức năng hành chính nhà nước đối với bên ngoài: Thiết lập nền hành chính, nhất là thể chế, bộ máy, công chức làm công tác đối ngoại thích ứng với tiến trình toàn cầu hóa, từ đó hội nhập có hiệu quả vào đời sống quốc tế, thực hiện một phần quốc tế hóa hành chính.

2. Chức năng vận hành hành chính nhà nước

Đây là các chức năng cụ thể khi vận hành vào các cơ quan hành chính công quyền nào đó, là sự chi tiết hóa các chức năng hành chính thành những hoạt động hành chính thường xuyên.

- Chức năng hoạch định: Đây là chức năng hàng đầu trong tiến trình hành chính Nhà nước, dựa trên cơ sở cương lĩnh, chiến lược phát triển kinh tế - xã hội đã được hoạch định trong đường lối của Đảng và được nhất trí thông qua. Chính phủ, các Bộ, các chính quyền địa phương phải xây dựng và chỉ đạo thực hiện quy họach, kế hoạch phát triển ngành, địa phương trong từng giai đoạn cụ thể.

Chức năng hoạch định có thể khái quát ở những nội dung cơ bản sau: Tiến hành dự báo, dự đoán, mô hình hóa. Xác định hệ thống mục tiêu, tốc độ phát triển, cơ cấu và cân đối lớn. Xây dựng chiến lược, quy hoạch phát triển, lập các chương trình dự án cho từng ngành, từng vùng, từng lĩnh vực. Đề ra chính sách, giải pháp để dẫn dắt đất nước phát triển theo định hướng kế hoạch.

- Chức nang tổ chức hành chính: Đây là chức năng then chốt, gồm nhiều nhiệm vụ và hoạt động cụ thể sau: Xây dựng một bộ máy gọn, có hiệu quả nhằm xác định các mối quan hệ chỉ đạo, quan hệ ngang – dọc, quan hệ phối hợp. Chỉ đạo sự vận hành của bộ máy. Hiệp đồng bên trong và bên ngoài khi triển khai nhiệm vụ. Liên kết công việc, tổ chức và con người. Quản lý chặt chẽ các hoạt động của bộ máy. Quản lý sự thay đổi của tổ chức.

- Chức năng nhân sự và phát triển nguồn nhân lực. Sau khi đã thiết lập một hệ thống tổ chức bộ máy hành chính nhà nước theo cấp hành chính, phải lựa chọn những con người phù hợp với các tiêu chuẩn chức danh mà các vị trí công việc yêu cầu. Đồng thời phải xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức hành chính chính quy hiện đại, đáp ứng yêu cầu quản lý trong tình hình mới.

- Chức năng ra quyết định và tổ chức thực hiện quyết định. Đây là chức năng cơ bản của quản lý hành chính nhà nước. Quyết định là sản phẩm, là hành vi quan trọng nhất của công chức lãnh đạo, quản lý. Vì vậy những vấn đề về phương pháp ra quyết định, tổ chức thực hiện quyết định luôn luôn là đối tượng quan tâm của các nhà hành chính. Nó bao gồm những nội dung: Tập hợp đầy đủ các thông tin, xủ lý thông tin. Đề ra các phương án khác nhau, thẩm định hiệu quả từng phương án. Thông qua quyết định. Ban hành quyết định quản lý hành chính nhà nước.

- Chức năng phối hợp thực hiện thẩm quyền. Trong một hệ thống hành chính nói chung và trong từng cơ quan hành chính nói riêng, mỗi cán bộ, công chức được phân công đảm nhiệm những công việc nhất định, việc thực hiện công việc của họ góp phần vào việc hoàn thành công việc chung, do đó đòi hỏi phải phối hợp và khớp nối các công việc của các cá nhân riêng lẽ nhằm đạt được mục tiêu chung. Trong nhiều trường hợp, các cơ quan hành chính phối hợp để ra các quyết định hành chính nhằm thực hiện thẩm quyền.

- Chức năng tài chính. Để đảm bảo kinh phí cho hoạt động của NN, bộ máy hành chính NN, cũng như các chi phí đầu tư phát triển trong các lĩnh vực đòi hỏi phải chú trọng đến chức năng tài chính của NN. Chức năng này bao gồm nhưng nội dung cơ bản sau:Xây dựng ngân sách, nuôi dưỡng và khai thác nguồn thu, nhất là thuế. Sử dung đúng chế độ, tiết kiệm, hiệu quả ngân sách được cấp. Quản lý chặt chẽ công sản, bao gồm cơ sở vật chất, phương tiện làm việc và những vật tư cần thiết.

- Chức năng theo dõi, giám sát, kiểm tra. Kiểm tra là nhiệm vụ quan trọng của cá nhân người lãnh đạo cơ quan, hệ thống hành chính. Hoạt động kiểm tra nhằm phát hiện những sai sót, vướng mắc trong quá trình hoạt động để có giải pháp giải quyết đồng thời tìm kiếm những cơ hội, những nguồn lực có thể khai thác, tận dụng nhằm đạt được mục tiêu đã định, làm sáng tỏ những việc đã làm được, chưa làm được để khen thưởng và xử lý kịp thời. Báo cáo, sơ kết, tổng kết, đánh giá là công cụ quan trọng trong công tác kiểm tra. Chức năng này đóng vai trò quan trọng giúp người lãnh đạo thẩm định những việc đã làm được, những việc chưa làm, làm phong phú thêm lý luận và thực tiễn hành chính, từ đó định ra phương hướng, giải pháp cho những kỳ tiếp theo./.

CÁC ĐỀ ÁN

1/ ĐỀ ÁN NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG CÔNG TÁC ĐÀO TẠO CÁN BỘ, THU HÚT VÀ PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC TỈNH BÌNH PHƯỚC GIAI ĐOẠN 2011- 2015

  1. LỜI NÓI ĐẦU:

Tỉnh Bình Phước được thành lập và chính thức đi vào hoạt động từ ngày 01/01/1997. Từ khi thành lập tỉnh đến nay, mặc dù vẫn còn gặp nhiều khó khăn song lãnh đạo tỉnh đã rất quan tâm đến công tác đào tạo và bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, công chức ở các cấp, các ngành trong tỉnh, nhất là cán bộ dự nguồn và cán bộ tạo nguồn.

Nhìn chung, công tác đào tạo cán bộ của tỉnh trong thời gian qua đem lại kết quả đáng kể đã góp phần quan trọng trong việc xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức từ tỉnh, huyện, thị xã đến xã, phường, thị trấn có đủ trình độ, phẩm chất, năng lực, cơ bản đáp ứng được tiêu chuẩn cán bộ trong thời kỳ mới góp phần thực hiện thắng lợi mục tiêu phát triển kinh tế- xã hội, quốc phòng- an ninh của tỉnh.

Tuy nhiên, công tác đào tạo cán bộ, công chức, viên chức của tỉnh còn bộc lộ một số hạn chế như đào tạo chưa gắn với quy hoạch, bố trí và sử dụng cán bộ chưa phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ, định hướng phát triển kinh tế- xã hội của tỉnh. Do đó, khi có nhu cầu (điều động, luân chuyển,...) hoặc trong các kỳ đại hội Đảng, bầu cử Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân thì bị hụt hẫng, đôi khi còn chắp vá trong việc sắp xếp cán bộ, bố trí công tác cho một số cán bộ chưa đúng với chuyên môn, trình độ kiến thức được đào tạo.

Chất lượng, hiệu quả đào tạo còn thấp (đa số hình thức học là tại chức) chưa có kế hoạch và giải pháp cụ thể cho việc quy hoạch lựa chọn đào tạo cán bộ (nhất là cán bộ chủ chốt ở cơ sở) để phục vụ thiết thực cho sự phát triển kinh tế- xã hội của tỉnh. Việc đào tạo trong thời gian qua vẫn còn tình trạng cử cán bộ đi học không đúng với chuyên môn, nghiệp vụ đang đảm nhận, đi học ngoài kế hoạch, đi học để có bằng đại học dẫn đến chất lượng hiệu quả công việc của cán bộ, công chức chưa đạt yêu cầu. Nội dung đào tạo chưa mở rộng ra nhiều ngành, nhiều lĩnh vực dẫn đến cơ cấu về chuyên môn nghiệp vụ trong các cơ quan, tổ chức của hệ thống chính trị chưa hợp lý. Việc thu hút cán bộ có trình độ chuyên môn từ khá, giỏi trở lên còn hạn chế...

Thực trạng trên cho thấy việc tham mưu cho Tỉnh ủy Bình Phước xây dựng và ban hành đề án “Nâng cao chất lượng công tác đào tạo cán bộ, thu hút và phát triển nguồn nhân lực tỉnh Bình Phước giai đoạn 2011- 2015” là rất cần thiết và cấp bách nhằm xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức của tỉnh đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ của thời kỳ mới.

Nội dung của Đề án: Nâng cao chất lượng công tác đào tạo cán bộ, thu hút và phát triển nguồn nhân lực tỉnh Bình Phước giai đoạn 2011- 2015 được trình bày như sau :

I. Một số đặc điểm về kinh tế- xã hội của tỉnh Bình Phước và sự cần thiết phải nâng cao chất lượng công tác đào tạo cán bộ, thu hút và phát triển nguồn nhân lực.

II. Những định hướng, mục tiêu.

III. Cơ sở pháp lý của đề án.

IV. Thực trạng đội ngũ cán bộ và nguồn nhân lực tại tỉnh Bình Phước hiện nay.

V. Những giải pháp cụ thể.

VI. Kinh phí thực hiện đề án.

VII. Tổ chức thực hiện.

  1. NỘI DUNG ĐỀ ÁN:

I. MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM VỀ KINH TẾ - XÃ HỘI TỈNH BÌNH PHƯỚC VÀ SỰ CẦN THIẾT PHẢI NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG CÔNG TÁC ĐÀO TẠO CÁN BỘ, THU HÚT VÀ PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC:

1. Sự cần thiết phải nâng cao chất lượng công tác đào tạo, thu hút và phát triển nguồn nhân lực:

1.1 Đối với công tác đào tạo cán bộ:

Với quan điểm phát triển kinh tế làm nhiệm vụ trọng tâm, xây dựng đảng là vấn đề then chốt. Nên việc tổ chức đào tạo, thu hút cán bộ, công chức, viên chức giỏi về chuyên môn nghiệp vụ, vững vàng về chính trị, nắm bắt và ứng dụng vào thực tiễn công tác những tiến bộ khoa học công nghệ phục vụ nhiệm vụ phát triển kinh tế- xã hội, hội nhập quốc tế, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc là tất yếu và cấp thiết.

Nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức trong hệ thống chính trị đáp ứng được yêu cầu của sự phát triển hiện nay.

1.2 Đối với công tác thu hút và phát triển nguồn nhân lực:

Nguồn nhân lực cùng với nguồn lực kinh tế, tự nhiên và xã hội có ý nghĩa rất quan trọng đối với quá trình phát triển kinh tế- xã hội. Trong đó, nguồn nhân lực với tư cách là chủ thể của mọi hoạt động, có vai trò tích cực nhất, mang tính chất quyết định đến việc khai thác và sử dụng các nguồn lực khác. Do đó, không có sự đầu tư nào mang lại nguồn lợi lớn hơn, bền vững hơn so với việc đầu tư về nguồn nhân lực, đặc biệt là đầu tư cho giáo dục. Chính vì vậy, Nghị quyết Trung ương 2, khóa VIII của Đảng đã khẳng định “Cùng với khoa học và công nghệ, giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực và bồi dưỡng nhân tài…”

Với những ý nghĩa trên, thì nhiệm vụ đầu tư cho công tác đào tạo cán bộ, thu hút và phát triển nguồn nhân lực phục vụ phát triển kinh tế- xã hội, phục vụ công nghiệp hóa, hiện đại hoá đất nước nói chung và cho tỉnh Bình Phước nói riêng là rất cần thiết và cấp bách.

2. Đặc điểm kinh tế - xã hội tỉnh Bình Phước:

Bình Phước là tỉnh miền núi, nông nghiệp, biên giới và đa sắc tộc, thuộc vùng miền Đông Nam bộ được tái lập từ ngày 01/01/1997, trung tâm tỉnh lỵ cách thành phố Hồ Chí Minh 110 km, là đầu mối giao lưu giữa các vùng, miền trong nước và quốc tế. Trong nhiều năm qua, tỉnh Bình Phước đã có nhiều thành tựu về sản xuất, cũng như chăm lo đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân.

2.1 Về vị trí địa lý:

Phía Đông giáp tỉnh Lâm Đồng và Đồng Nai, phía Tây giáp tỉnh Tây Ninh và Campuchia, phía Nam giáp tỉnh Bình Dương và phía Bắc giáp tỉnh Đắk Nông. Bình Phước có đường biên giới dài 240km giáp với Vương quốc Campuchia (giáp 3 tỉnh: Kongpongchàm, Kratie, Mundulkiri) là cửa ngõ và là cầu nối của vùng với Tây nguyên và nước bạn Campuchia.

2.2 Đặc điểm kinh tế:

Bình Phước là một trong 8 tỉnh thuộc vùng kinh tế trọng điểm phía Nam cùng với các tỉnh Bình Dương, Bà Rịa - Vũng Tàu, Đồng Nai, Tây Ninh, Long An, Tiền Giang và thành phố Hồ Chí Minh; nhưng là một tỉnh nghèo, kém phát triển. Tuy tốc độ phát triển kinh tế trong những năm qua luôn ở mức hai con số 13,2%, nhưng GDP bình quân đầu người vẫn còn rất thấp, cơ cấu chuyển dịch chậm.

2.3 Đặc điểm xã hội:

Theo tổng điều tra dân số năm 2009, dân số tỉnh Bình Phước khoảng 873.598 người, là tỉnh thưa dân số nhất vùng Đông Nam Bộ và cũng là tỉnh đô thị hóa thấp, 16,5% (có 144.242 người), 83,5% tổng dân số nông thôn (có 729.356 người). Tỷ lệ tăng dân số là 2,94%/năm (cao nhất vùng ĐNB), tỷ lệ tăng cơ học thấp, chỉ chiếm 0,68%; có nghĩa tỷ lệ tăng tự nhiên của Tỉnh còn chiếm tỷ lệ cao.

Vào thời điểm điều tra 1/4/2009, số người từ 15 tuổi trở lên chiếm 58,9% tổng dân số. Số lao động có việc làm chiếm 97,7% lực lượng lao động trong khi số lao động thất nghiệp chỉ chiếm 2,3% lực lượng lao động. Lực lượng lao động của Bình Phước ở nam giới cũng cao hơn nữ giới (46,8% nữ giới so với 53,2% nam giới). Lao động ở khu vực nông thôn chiếm gần 4/5 tổng lực lượng lao động trên địa bàn tỉnh.

Tỉnh Bình Phước rất đa dạng về thành phần dân tộc, toàn tỉnh có 41 thành phần dân tộc, trong đó người Kinh chiếm gần 81%, còn lại gần 20% dân số là đồng bào dân tộc thiểu số.

II. NHỮNG ĐỊNH HƯỚNG, MỤC TIÊU:

1. Định hướng đến năm 2015:

1.1 Quy hoạch và đào tạo đội ngũ cán bộ một cách khoa học nhằm đào tạo, đào tạo lại, đào tạo nâng cao.

1.2 Xây dựng tiêu chuẩn cán bộ phù hợp với tình hình thực tế của tỉnh và phấn đấu đến năm 2015, đội ngũ cán bộ, công chức đạt chuẩn theo quy định, có năng lực đáp ứng yêu cầu của tỉnh hình mới.

1.3 Thực hiện đồng bộ các chính sách, bảo đảm đầy đủ, công bằng các chính sách đào tạo và phát triển nguồn nhân lực, trọng dụng người tài.

1.4 Phát triển, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao là một trong những nhân tố quyết định cho sự phát triển nhanh, bền vững của tỉnh nhà.

1.5 Thực hiện đầy đủ, công bằng chính sách thu hút nguồn nhân lực, trọng dụng nhân tài, quy hoạch đào tạo đội ngũ lao động chuyên môn kỹ thuật một cách khoa học.

2. Mục tiêu đào tạo cán bộ, thu hút và phát triển nguồn nhân lực:

2.1 Mục tiêu chung:

Chuẩn hóa đội ngũ cán bộ, công chức nói chung trước hết là đội ngũ cán bộ chủ chốt từ tỉnh, huyện đến xã, phường, thị trấn nhằm lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện thành công nhiệm vụ phát triển kinh tế- xã hội, ổn định chính trị, bảo đảm quốc phòng- an ninh theo tinh thần đổi mới, hội nhập và phát triển.

Đào tạo và thu hút cán bộ lãnh đạo, quản lý và cán bộ các ngành khoa học kỹ thuật mũi nhọn của tỉnh có trình độ trên đại học.

Đào tạo nâng cao chất lượng nguồn nhân lực phục vụ sản xuất nông nghiệp, công nghiệp, thương mại và du lịch. Phấn đấu nâng tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt từ 40 % trở lên vào năm 2015.

2.2. Mục tiêu cụ thể:

2.2.1. Đối với công tác quy hoạch, đào tạo cán bộ phấn đấu đến năm 2015, đội ngũ cán bộ, công chức phải đáp ứng được các yêu cầu sau:

- 100% số cán bộ, công chức, viên chức chưa đạt được đào tạo chuyên môn nghiệp vụ phải được đào tạo chuyên môn theo chuẩn ngạch công chức, viên chức theo quy định.

- 95% cán bộ thuộc diện Ban Thường vụ Tỉnh ủy quản lý đạt chuẩn ngạch theo quy định trước khi đề bạt, bổ nhiệm.

- Đảm bảo tỷ lệ cán bộ nữ, cán bộ trẻ tham gia các khóa đào tạo từ 30% trở lên.

- Đào tạo 100% cán bộ chủ chốt cấp cơ sở đặc biệt là người dân tộc thiểu số về giáo dục phổ thông (văn hóa) và chuyên môn nghiệp vụ.

- 100% cán bộ cấp xã có trình độ chuyên môn nghiệp vụ và lý luận chính trị hành chính từ trung cấp trở lên theo tiêu chuẩn chức danh về cán bộ công chức cấp xã.

- Đối với các chức danh trưởng, phó phòng và tương đương được đào tạo về chuyên môn đạt chuẩn ngạch, chức danh theo tiêu chuẩn cán bộ quy định tại Quyết định 132- QĐ/TU ngày 16/5/2006 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy (trình độ đại học chuyên môn và cử nhân hoặc cao cấp lý luận chính trị).

2.2.2. Chỉ tiêu đào tạo:

- Đào tạo cán bộ nguồn: sử dụng tối đa chỉ tiêu được phân bổ hàng năm gồm có đại học chuyên ngành, cao cấp lý luận chính trị, Đại học chính trị, lý luận chính trị trung cấp và trung cấp pháp lý, thanh vận và hành chính (chỉ tiêu đào tạo cho cấp xã và dân tộc). Trong tổng số cán bộ đào tạo ưu tiên 10% là đồng bào dân tộc thiểu số.

- Đào tạo trên đại học trong và ngoài nước: 55 chỉ tiêu (thuộc các đối tượng cán bộ lãnh đạo, quản lý, khoa học kỹ thuật mũi nhọn và cán bộ nguồn). Trong đó :

+ 60% đào tạo cán bộ lãnh đạo, quản lý thuộc các chuyên ngành : Quản trị nhân sự, thị trường, tài chính, quản lý đô thị, quản lý dự án và môi trường.

+ 40% đào tạo cho cán bộ, viên chức các ngành khoa học kỹ thuật: Giáo dục và đào tạo, y tế, công nghệ thông tin, công nghệ sinh học, quản trị kinh doanh, dịch vụ du lịch.

2.2.3. Đối với công tác đào tạo và thu hút nguồn nhân lực:

- Đào tạo và thu hút nguồn nhân lực có tay nghề phục vụ các hoạt động sản xuất công nghiệp, nông nghiệp, thương mại và dịch vụ.

- Phấn đấu đến năm 2015 tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt 40,0% (tương đương 226.700 lao động) và 70,0% vào năm 2020. Tỷ lệ lao động qua đào tạo nghề trong tổng số lực lượng lao động trong độ tuổi lao động đạt 32,0%, tăng 11 điểm % so với năm 2010. Cơ cấu lao động sơ cấp và dạy nghề dưới ba tháng là 80,0%; trình độ trung cấp nghề chiếm 13,0%; cao đẳng nghề chiếm 7,0%.

2.3.4 Nội dung, yêu cầu đào tạo:

2.3.4.1 Đối với công chức hành chính, đảng, đoàn thể và viên chức:

- Đào tạo và trang bị cho công chức lãnh đạo và công chức các ngạch cán sự, chuyên viên, chuyên viên chính, chuyên viên cao cấp đạt đủ tiêu chuẩn trình độ theo quy định của ngạch, chức danh công chức.

- Thực hiện đào tạo, bồi dưỡng đạt chuẩn trước khi bổ nhiệm và đề bạt.

- Tiến hành quy hoạch và đào tạo xây dựng đội ngũ chuyên gia đầu ngành về quản lý nhà nước trên các lĩnh vực.

- Đào tạo bồi dưỡng tiếng dân tộc thiểu số cho cán bộ, công chức đang và sẽ công tác ở địa bàn dân tộc.

- Đào tạo, bồi dưỡng kiến thức về hội nhập kinh tế quốc tế cho cán bộ, công chức làm công tác hội nhập kinh tế quốc tế.

2.3.4.2 Đối với cán bộ, công chức cấp xã:

- Tổ chức đào tạo bồi dưỡng về lý luận chính trị, kiến thức quản lý nhà nước và trình độ chuyên môn theo tiêu chuẩn quy định cho cán bộ chuyên ngành.

- Đào tạo bồi dưỡng theo chức danh cho cán bộ, công chức cấp xã theo tiêu chuẩn quy định tại Quyết định số 132- QĐ/TU ngày 16/5/2006 của Tỉnh ủy.

- Đào tạo trình độ trung cấp trở lên cho phù hợp với chức danh đảm nhiệm cho công chức cấp xã.

- Đào tạo bồi dưỡng về lý luận chính trị đáp ứng tiêu chuẩn, trình độ về chính trị cho công chức cấp xã theo quy định tại Quyết định số 04/2004/QĐ-BNV của Bộ Nội vụ.

- Trang bị kiến thức tin học bảo đảm áp dụng được trong công tác chuyên môn cho công chức cấp xã.

2.3.4.3 Yêu cầu đào tạo phát triển nguồn nhân lực :

- Các trường đào tạo nghề, trung tâm dạy nghề của các tổ chức đoàn thể, các ngành trên địa bàn tỉnh chủ động tìm hiểu nhu cầu xã hội để xây dựng kế hoạch đào tạo lao động có chuyên môn phục vụ nhu cầu của sự phát triển. Đồng thời, đẩy mạnh việc thực hiện chủ trương xã hội hóa công tác đào tạo nghề nhằm đào tạo đội ngũ lao động có tay nghề phục vụ nhu cầu ở các khu công nghiệp trên địa bàn.

- Đào tạo nghề cho lao động nông thôn và học sinh các trường dân tộc nội trú nhằm đưa lực lượng lao động nông thôn có chuyên môn, năng động ứng dụng khoa học công nghệ phục vụ lĩnh vực nông nghiệp và nông thôn.

- Về cơ cấu ngành nghề cần ưu tiên đào tạo :

+ Các ngành nghề kỹ thuật phục vụ công nghiệp: Điện dân dụng, điện công nghiệp, tin học ứng dụng, lắp ráp, cài đặt, bảo trì, sửa chữa máy vi tính; gia công cơ khí, sửa chữa cơ khí, xây dựng, may công nghiệp, mộc công nghiệp…

+ Các ngành nghề dịch vụ : Dịch vụ thương mại, dịch vụ vận tải, dịch vụ du lịch, chế biến thực phẩm …

+ Các ngành nghề phục vụ nông nghiệp : Kỹ thuật chăn nuôi, kỹ thuật trồng, khai thác, chế biến nông sản, lâm sản, bảo vệ thực vật, thú y…

+ Các ngành nghề phục vụ doanh nghiệp vừa và nhỏ: Quản trị doanh nghiệp, khởi sự doanh nghiệp …

+ Các nghề cho lao động nông thôn và thanh niên dân tộc thiểu số : Sửa chữa xe máy, điện dân dụng, kỹ thuật trồng và khai thác cây cao su, tiểu thủ công nghiệp, may dân dụng, mộc dân dụng, các mặt hàng thủ công mỹ nghệ kinh koanh du lịch.

III. CƠ SỞ PHÁP LÝ CỦA ĐỀ ÁN:

- Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh Bình Phước lần thứ IX về đào tạo cán bộ và phát triển nguồn nhân lực giai đoạn 2011-2015.

- Quyết định 132-QĐ/TU ngày 16/5/2005 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy về quy định tiêu chuẩn các chức danh cán bộ thuộc diện quy hoạch cán bộ lãnh đạo quản lý, thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa.

- Quyết định số 159/2005/QĐ- UBND ngày 21/12/2005 của UBND tỉnh Bình Phước về chính sách đào tạo, thu hút cán bộ và phát triển nguồn nhân lực.

IV. THỰC TRẠNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ VÀ NGUỒN NHÂN LỰC TẠI TỈNH BÌNH PHƯỚC HIỆN NAY.

1. Thực trạng đội ngũ cán bộ:

    1. Thực trạng về số lượng đội ngũ CB, CC:

Tính đến ngày 31/12/2010 (Báo cáo số lượng, chất lượng công chức - nguồn cung cấp Sở Nội vụ) cán bộ, công chức hành chính cấp tỉnh, huyện gồm có: 1.845 người, trong đó cấp huyện 807 người, chiếm 43,7 %.

1.2. Thực trạng về chất lượng đội ngũ CB, CC:

- Về trình độ chuyên môn:

+ Thạc sĩ: 22 người, chiếm: 1,19%; (cấp huyện 02).

+ Đại học: 1.170 người, chiếm 63,42%; (cấp huyện 493).

+ Cao đẳng: 85 người, chiếm 4,61%; (cấp huyện 50).

+ Trung cấp 455 người, chiếm 24,66%; (cấp huyện 209).

+ Còn lại 113 người chiếm 6,12%. (cấp huyện 53).

- Về trình độ lý luận chính trị:

+ Cao cấp 242 người, chiếm 13,12%; (cấp huyện 114).

+ Trung cấp 303 người, chiếm 16,42%; (cấp huyện 153).

- Về trình độ ngoại ngữ:

+ Đại học 9, chiếm 0,49%; (cấp huyện 02).

+ Chứng chỉ 968 người, chiếm 52,46%. (cấp huyện 406).

- Về trình độ tin học:

+ Đại học 24 người, chiếm 1,3%; (cấp huyện 07).

+ Chứng chỉ: 1040 người, chiếm 56,3%. (cấp huyện 431).

- Về cơ cấu ngạch bậc:

+ Chuyên viên cao cấp và tương đương: 6, chiếm 0,325 %. Số chuyên viên cao cấp tập trung ở cấp tỉnh, cấp huyện không có trường hợp nào.

+ Chuyên viên chính và tương đương: 113 người, chiếm 6,12 %; (cấp huyện 36 người).

+ Chuyên viên và tương đương: 1.119 người, chiếm 60,65 %. (cấp huyện 510).

+ Cán sự và tương đương: 507 người, chiếm 27,47%;(cấp huyện 231).

+ Nhân viên: 100 người, 5,42%. (cấp huyện 30).

- Về cơ cấu khác: (độ tuổi, giới tính, dân tộc):

+ Độ tuổi dưới 30: 536 người, chiếm 29%; từ 30-50: 1.135 người, chiếm 61,5 %; từ 50-60: 174 người, chiếm 9,43%. Đây là tỷ lệ tương đối đạt, vì đối tượng cán bộ, công chức hành chính trẻ, đối tượng 30 -50 chiếm số đông hơn ½ , đây là độ tuổi đạt được bước chuẩn về kinh nghiệm, đã qua thời gian công tác khá lâu tập hợp được nhiều kinh nghiệm….

- Trong số 1.845 cán bộ, công chức hành chính có 928 đảng viên, chiếm 50,3% (cấp huyện 468 đảng viên). Đây là kết quả đáng lưu ý vì số cán bộ, công chức của tỉnh đa số là mới; do vậy của các cấp uỷ Đảng Tỉnh Bình Phước luôn quan tâm coi trọng và làm tốt công tác phát triển đảng viên, chủ động nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của các tổ chức cơ sở đảng, xây dựng đảng bộ trong sạch vững mạnh, đảm bảo giữ vững vai trò lãnh đạo của Đảng.

- Cán bộ, công chức nữ 422 người, chiếm 22,87%; cấp huyện 229 người. Đây là một tỷ lệ không cao, mặt khác trong số đó cán bộ lãnh đạo là nữ chiếm tỷ lệ rất ít.

- Cán bộ, công chức người dân tộc thiểu số: 42, chiếm 2,28 %, cấp huyện 16. Với đặc điểm là một tỉnh vùng sâu, vùng xa có tỷ lệ người dân tộc 20%, đây là tỷ lệ đáng quan tâm của các cơ quan có thẩm quyền trong việc thực hiện chính sách đối với cán bộ dân tộc.

Qua số liệu trên cho thấy về trình độ chuyên môn của đội ngũ cán bộ cấp tỉnh, huyện của tỉnh Bình Phước đa số chưa đáp ứng với tình hình hiện nay của tỉnh. Bởi vì Bình Phước là một tỉnh miền núi, có nhiều đồng bào dân tộc sinh sống, nông nghiệp chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu kinh tế, trình độ dân trí thấp, là tỉnh mới tái lập cơ sở vật chất còn thiếu thốn. Vì vậy, rất khó thu hút được cán bộ có trình độ năng lực về công tác.

Trình độ lý luận chính trị của đội ngũ cán bộ của tỉnh còn hạn chế chưa qua đào tạo chiếm tỷ lệ khá lớn 69,88% vì vậy đã ảnh hưởng đến công tác và bản lĩnh chính trị trong điều kiện mở cửa hội nhập quốc tế hiện nay.

Trình độ tin học, đa số mới dừng ở mức biết các chức năng cơ bản của máy tính, đánh máy, soạn thảo văn bản, vấn đề triển khai vận dụng công nghệ thông tin trong quản lý còn kém.

Trình độ ngoại ngữ, hầu hết là chứng chỉ A, B nhưng chỉ một số rất ít có trình độ thực sự, đủ khả năng giao tiếp, học tập, nghiên cứu, phục vụ công tác. Thực trạng này cũng làm ảnh hưởng đến đề án đào tạo cán bộ sau đại học trong nước và nước ngoài của tỉnh.

Văn kiện Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ IX, đã đánh giá về đội ngũ cán bộ của tỉnh như sau: “Đa số cán bộ chưa đạt tiêu chuẩn về chuyên môn, lý luận chính trị; cán bộ có trình độ đại học, sau đại học được đào tạo theo hệ chuyên tu, tại chức, từ xa chiếm trên 85%. Cán bộ, công chức cấp xã trình độ chưa đáp ứng nhu cầu”1.

2. Thực trạng nguồn nhân lực:

2.1 Quy mô, tốc độ phát triển nguồn nhân lực:

Theo số liệu thống kê năm 2010, tỉnh Bình Phước có 441 ngàn người trong độ tuổi lao động chiếm 51,2% dân số. Tốc độ tăng trưởng nguồn nhân lực khá cao do hàng năm số người trong độ tuổi lao động tăng khá lớn, nhưng chủ yếu vẫn là tăng cơ học.

2.2 Cơ cấu nguồn nhân lực:

- Cơ cấu theo nghề: lao động làm việc ở Bình Phước chủ yếu trong là nghề giản đơn, chiếm đến 69,2% (con số này của cả nước là 40,3% và của vùng Đông Nam Bộ là 18,7%), các nghề “chuyên môn kỹ thuật bậc trung” chỉ chiếm có 6,3% (con số này của vùng Đông Nam Bộ là 13,6%, cả nước là 8,9%). Điều này cho thấy, vấn đề đào tạo nguồn lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật và chuyên môn kỹ thuật cao phải được đặt ra như là một yêu cầu quan trọng để tạo ra đột phá của Tỉnh.

- Cơ cấu lao động theo ngành: Lao động làm việc ở khu vực nông nghiệp [1] chiếm đến 74%, cao gần gấp 1,5 cả nước (cả nước là 54%), lao động làm việc trong khu vực công nghiệp gần bằng một nửa cả nước (chiếm 8,0% trong khi cả nước là 20%); lao động làm việc trong khu vực dịch vụ bằng 2/3 trung bình cả nước (chiếm 18% so với cả nước là 24%.

2.3 Chất lượng nguồn nhân lực:

Trình độ học vấn của lực lượng lao động của tỉnh Bình Phước thấp, chỉ có 17,0% đã tốt nghiệp phổ thông trung học trở lên; có 58,7% số người đủ chưa tốt nghiệp THCS và  83,0% số người đủ 15 tuổi trở lên chưa tốt nghiệp THPT. Trình độ chuyên môn kỹ thuật của Bình Phước thấp, chiếm 89,3% so với 84,4% của vùng Đông Nam Bộ.

Số người qua đào tạo nghề ở Bình Phước thấp hơn trung bình cả nước. Năm 2009 chỉ đạt 27,0% (cả nước khoảng 50,0%); chưa qua đào tạo chiếm 73% LLLĐ. Trong đó, đào tạo nghề chiếm 19,6% tổng số LLLĐ trong độ tuổi (cả nước khoảng 30,0%). Ước năm 2010, tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt 28%, hay 72% lao động trong độ tuổi chưa qua đào tạo.

2.4. Mạng lưới cơ sở dạy nghề:

Mạng lưới cơ sở dạy nghề ở Bình Phước tăng rất nhanh. Trước năm 2005, toàn Tỉnh chỉ có 4 cơ sở tham gia đào tạo, dạy nghề cho người lao động và phần lớn tập trung ở thị xã Đồng Xoài. Mỗi năm đào tạo 1.500 - 2.000 học viên; với các nghề như lái xe, sửa chữa mô tô, điện dân dụng... Đến nay trên địa bàn Tỉnh đã có 12 cơ sở, bao gồm 4 trường (Trường cao đẳng công nghiệp cao su, Trường Trung cấp kinh tế kỹ thuật Bình Phước, Trường Trung cấp Y tế và Trường Dạy nghề tư thục), 7 trung tâm: Trung tâm giới thiệu việc làm tỉnh Bình Phước, Trung tâm Dịch vụ việc làm Phụ nữ, Trung tâm dạy nghề ở các huyện: Bình Long, Bù Đăng, Phước Long, Chơn Thành và 1 doanh nghiệp tham gia đào tạo nghề cho người lao động, năng lực đào tạo thường xuyên 4.000 - 4.500 học viên/năm.

Trong những năm vừa qua, các cơ sở dạy nghề trên toàn Tỉnh đã đào tạo, cấp bằng/chứng chỉ cho khoảng 5 ngàn lao động/năm, trong khi LLLĐ trong độ tuổi tăng thêm hàng năm là 13,5 ngàn người/năm. Điều này cho thấy mạng lưới cơ sở dạy nghề hiện nay chỉ đáp ứng được khoảng 1/3 nhu cầu dạy, đào tạo nghề cho người lao động.

Để nâng cao tỷ lệ lao động qua đào tạo cho Tỉnh trong thời gian tới, việc nâng cấp, mở rộng, xây mới các cơ sở đào tạo, dạy nghề là yêu cầu đầu tiên, quan trọng nhất của Tỉnh, đặc biệt là ở khu vực nông thôn, đồng bào dân tộc thiểu số.

3. Đánh giá chung về công tác đào tạo cán bộ, thu hút và phát triển nguồn nhân lực:

3.1 Thành tựu:

Trong điều kiện của một tỉnh miền núi còn gặp nhiều khó khăn, có gần 20% dân tộc thiểu số, nhưng nhìn chung công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức và thu hút nguồn nhân lực của tỉnh đã có những bước chuyển biến tích cực hơn những năm trước, số lượng cán bộ, công chức, viên chức hàng năm được đào tạo, bồi dưỡng ngày càng tăng, gắn với quy hoạch, sử dụng cán bộ; đối tượng, tiêu chuẩn đi học, thẩm quyền cử cán bộ đi đào tạo, bồi dưỡng được bảo đảm; chính sách đào tạo, bồi dưỡng tương đối phù hợp đã phần nào khuyến khích được người học, tạo tư tưởng thoải mái, yên tâm cho cán bộ, công chức khi được cử đi đào tạo bồi dưỡng.

3.2 Hạn chế:

Bên cạnh đó, công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức và thu hút nguồn nhân lực của Tỉnh thời gian qua cũng còn hạn chế nhất định:

- Một số ngành, địa phương chưa nhận thức rõ vai trò, trách nhiệm đối với công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức, thu hút và phát triển nguồn nhân lực. Vì vậy, trong công tác chỉ đạo, thực hiện chưa đồng bộ, chưa sát với thực tiễn, chưa bám sát chương trình. Hầu hết các ngành, các cấp chỉ mới quan tâm đến việc đào tạo chuẩn hoá đội ngũ cán bộ, công chức theo chuẩn ngạch và chức danh quy hoạch, nhằm hợp thức hoá bằng cấp hoặc phục vụ công tác chuyên môn trước mắt. Một số cán bộ đương chức có kinh nghiệm lại quá tuổi đào tạo hoặc chưa tốt nghiệp trung học phổ thông, không đào tạo được. Vẫn còn tư tưởng nôn nóng, chạy theo bằng cấp để “chuẩn hóa” cán bộ dẫn đến chất lượng không cao.

- Đào tạo chưa thực sự gắn với các chức danh quy hoạch nên tỉnh hiện nay vẫn còn số lượng khá lớn cán bộ trong các chức danh quy hoạch chưa đảm bảo tiêu chuẩn theo quy định, nhất là ở cấp huyện và cấp xã; trong khi đó đây là 2 cấp trực tiếp thực thi chính sách, pháp luật cho nhân dân, thực hiện nhiệm vụ sâu sát với dân. Còn tình trạng đào tạo theo nhu cầu của địa phương và các doanh nghiệp.

- Cơ cấu đào tạo mất cân đối về ngành, nghề chuyên môn và loại hình đào tạo, chủ yếu tập trung vào đào tạo hệ tại chức. Trình độ của đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức còn nhiều hạn chế, vẫn chưa đáp ứng yêu cầu phát triển trong tình hình mới, số lượng khá lớn cán bộ, lãnh đạo quản lý dưới 45 tuổi có trình độ đại học tại chức, từ xa; cấp phó trưởng phòng cấp tỉnh chưa qua đào tạo lý luận chính trị.

- Vấn đề đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức là giải pháp bắt buộc trong tình hình hiện nay. Nhưng việc đào tạo, bồi dưỡng này làm mất không ít đến thời gian, ảnh hưởng đến tiến độ giải quyết công việc của các cán bộ, công chức, viên chức, cũng như của Nhà nước.

- Nội dung đào tạo còn trùng lắp, không cần thiết; ví dụ: người có trình độ cử nhân hành chính, cử nhân luật chuyên ngành hành chính, vẫn phải học chương trình chuyên viên, chuyên viên chính. Chưa có sự phối hợp đồng bộ giữa công tác quy hoạch với đào tạo, nhiều trường hợp vừa học xong trung cấp chính trị lại tiếp tục học cao cấp chính trị. Trình độ ngoại ngữ, tin học và kỹ năng chuyên môn của một số cán bộ, công chức của chúng ta chưa phù hợp để đáp ứng yêu cầu quan hệ công tác, đây là hạn chế lớn trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay.

Tình trạng này đòi hỏi phải có sự đổi mới chặt chẽ về nội dung và phương thức giảng dạy, kết hợp chặt chẽ giữa yêu cầu đào tạo với yêu cầu tuyển dụng, sử dụng, quy hoạch cán bộ, công chức hiện nay.

4. Nguyên nhân:

4.1 Nguyên nhân khách quan:

- Bình Phước là một tỉnh miền núi, kinh tế nông nghiệp là chủ yếu, có gần 20 % dân tộc thiểu số, bên cạnh đó, tỷ lệ dân di cư tự do cao (từ khi tách tỉnh tăng 5% mỗi năm); dân di cư chủ yếu là những người dân nghèo, khó khăn kinh tế nên không có điều kiện học hành, không tiếp cận với những tri thức mới, chính vì những nguyên nhân đó nên mặt bằng dân trí của tỉnh nói chung còn rất thấp và không đồng đều.

- Chỉ tiêu phân bổ để đào tạo còn hạn chế trong khi nhu cầu đào tạo nhiều, điều này gây khó khăn cho việc thực hiện kế hoạch đào tạo để có một đội ngũ cán bộ đạt chuẩn từ nay đến năm 2020.

- Tình trạng chung của cả nước, do các quy định về chế độ đãi ngộ, tiền lương trợ cấp cho cán bộ, công chức, viên chức còn hạn chế, tình trạng chảy máu chất xám làm tỉnh thiếu hụt đội ngũ cán bộ, công chức, chuyên gia, khoa học kỹ thuật hầu như không có.

4.2 Nguyên nhân chủ quan:

- Công tác đào tạo chưa thực sự gắn với yêu cầu nhiệm vụ và công tác quy hoạch cán bộ. Đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã đa số lớn tuổi, chưa tốt nghiệp phổ thông trung học nên không đủ điều kiện để đưa đi đào tạo. Mặt khác, chưa quan tâm chỉ đạo việc xã hội hoá về đào tạo.

- Tuy tỉnh đã có sự quan tâm ban hành nhiều chính sách cho việc đào tạo bồi dưỡng cán bộ, công chức, nhưng vẫn chưa theo kịp sự biến đổi của tình hình kinh tế, mức trượt giá hiện nay. Mặt khác, một số cơ quan, đơn vị chưa thực sự quan tâm đến công tác này, chưa quan tâm đến quyền lợi, chế độ của cán bộ, công chức; do vậy đã không tuân thủ các trình tự, thủ tục trong việc cử cán bộ, công chức đi đào tạo, bồi dưỡng và thu hút nguồn nhân lực khiến cho cán bộ, công chức thiệt thòi trong việc không được hưởng chính sách của Tỉnh.

- Đội ngũ cán bộ làm công tác đào tạo cán bộ ở một số nơi còn thiếu về số lượng và kinh nghiệm, hạn chế về trình độ nên chưa đáp ứng tốt yêu cầu và nhiệm vụ được giao. Sự phối hợp giữa các cơ quan hữu quan chưa chặt chẽ và nhất quán.

- Chất lượng đội ngũ tri thức của tỉnh còn thấp, số tri thức có trình độ chuyên môn cao chưa nhiều (chuyên gia đầu ngành), điều này khiến cho đội ngũ trí thức của tỉnh đông nhưng chưa mạnh, chưa thể đáp ứng được những yêu cầu hiện nay về khoa học - công nghệ. Đây cũng là trở ngại lớn cho đội ngũ cán bộ, công chức của tỉnh trong việc truyền thụ những kiến thức hiện đại về khoa học- kỹ thuật và nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ cho người lao động.

V. NHỮNG GIẢI PHÁP CỤ THỂ:

1. Đối với công tác đào tạo cán bộ:

+ Xây dựng quy hoạch cán bộ cho nhiệm kỳ 2015-2020 đảm bảo cơ cấu ba độ tuổi theo quy định.

+ Trên cơ sở quy hoạch cán bộ xây dựng kế hoạch tạo nguồn cán bộ trong đó chú trọng:

- Xây dựng kế hoạch đào tạo cán bộ theo quy hoạch được phê duyệt, bảo đảm công tác đào tạo phải chuẩn hoá cán bộ (tránh tình trạng đào tạo tràn lan nhằm hợp thức hóa văn bằng chứng chỉ) theo chuẩn ngạch và chức danh được quy hoạch.

- Xây dựng kế hoạch sử dụng cán bộ theo quy hoạch và đào tạo để tái sắp xếp, bố trí, luân chuyển cán bộ phù hợp với năng lực chuyên môn và theo yêu cầu nhiệm vụ được giao.

- Thực hiện nghiêm các quy định của Nhà nước trong công tác tuyển dụng và bổ nhiệm cán bộ, công chức, viên chức, kiểm soát chặt chẽ đầu vào và tổ chức các kỳ thi tuyển công bằng, công khai nhằm tuyển dụng được những người có trình độ chuyên môn phù hợp với yêu cầu. Ưu tiên tuyển dụng sinh viên tốt nghiệp đạt loại khá, giỏi, xuất sắc, cán bộ thuộc các ngành nghề mũi nhọn. Tuyệt đối không tuyển dụng vào các cơ quan đảng, chính quyền, đoàn thể và các đơn vị sự nghiệp những người không đạt chuẩn trình độ chuyên môn, nghiệp vụ.

- Tổ chức thực hiện tốt việc đào tạo chính quy cho đội ngũ cán bộ tạo nguồn cho các ngành, các cơ sở từ đối tượng là cán bộ nữ, cán bộ dân tộc thiểu số, con gia đình chính sách có triển vọng phát triển.

- Rà soát lại đội ngũ cán bộ quản lý, cán bộ khoa học đã tốt nghiệp đại học chính quy đạt loại khá, giỏi, xuất sắc để có kế hoạch đào tạo sau đại học.

- Tổ chức thanh tra công tác tuyển dụng và đào tạo cán bộ của các ngành, các cấp nhằm đảm bảo phải tuyển dụng được người có chuyên môn tốt theo yêu cầu, đào tạo phải có hiệu quả, tránh lãng phí và không làm phát sinh những hậu quả lâu dài trong việc xử lý những cán bộ không đạt yêu cầu về chuyên môn.

- Ban Thường vụ Tỉnh ủy ấn định thời gian để những cán bộ hiện chưa đáp ứng về trình độ học vấn và chuyên môn theo ngạch, bậc của công việc đang phụ trách phải chuẩn hoá về học vấn và chuyên môn. Mặt khác, cho chủ trương theo hướng giảm biên chế và giải quyết chế độ đối với những cán bộ, công chức, viên chức không đáp ứng được yêu cầu về chuyên môn và học vấn theo thời gian ấn định của Ban thường vụ Tỉnh ủy.

2. Đối với công tác thu hút và phát triển nguồn nhân lực :

- Nâng cao chất lượng dân số: Đây là mục tiêu trọng tâm trong chiến lược phát triển dân số của tỉnh. Muốn thực hiện được điều này thì cần phải tập trung thực hiện tốt các vấn đề sau :

+ Thực hiện có hiệu quả các chương trình phát triển kinh tế- xã hội, nhằm để người dân cải thiện thu nhập nâng dần mức sống vật chất và tinh thần.

+ Đẩy mạnh công tác xóa đói giảm nghèo, giải quyết việc làm, tạo điều kiện cho dân vay vốn sản xuất.

+ Thực hiện tốt công tác chăm sóc sức khoẻ, xây dựng các cụm điểm văn hóa thể thao nhằm đáp ứng yêu cầu các phong trào văn hoá- văn nghệ và rèn luyện thể dục thể thao nhằm tạo cho nhân dân sảng khoái về tinh thần và mạnh mẽ về thể chất.

- Đầu tư phát triển giáo dục, nâng cao trình độ học vấn: Đây được xem là giải pháp cơ bản nhất để phát triển nguồn nhân lực. Vì vậy việc nâng cao nhận thức của người dân về học tập để người dân thấy được mối quan hệ giữa trình độ học vấn và phát triển kinh tế- xã hội, thấy được lợi ích của việc học tập là rất quan trọng.

- Nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ của lực lượng lao động chất xám, thu hút nhân tài.

- Phát triển nghề có kế hoạch và đúng hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa.

- Tập trung đổi mới trong phát triển nhanh mạng lưới cơ sở đào tạo, dạy nghề; tăng cường đội ngũ giáo viên, giảng viên và cán bộ quản lý dạy nghề; đổi mới cơ chế tài chính về phát triển dạy nghề; từng bước đổi mới nội dung, phương pháp đào tạo, dạy nghề; từng bước hiện đại hóa trang thiết bị dạy nghề; tăng cường gắn kết giữa cơ sở dạy nghề với doanh nghiệp nhỏ và vừa trên địa bàn theo hướng đào tạo có kế hoạch.

- Đổi mới quản lý Nhà nước về công tác phát triển nhân lực.

- Liên kết, hợp tác các trường đào tạo nghề có uy tín các doanh nghiệp trong tỉnh, các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đầu tư vào các khu công nghiệp của tỉnh để tổ chức đào tạo đội ngũ công nhân có tay nghề theo nhu cầu của địa phương và doanh nghiệp.

VI. KINH PHÍ THỰC HIỆN ĐỀ ÁN :

1. Phân bổ kinh phí:

Trên cơ sở đề án được phê duyệt, Sở Tài Chính có trách nhiệm căn cứ vào chỉ tiêu đào tạo, thu hút cán bộ và phát triển nguồn nhân lực của từng năm để cân đối, phân bổ ngân sách bảo đảm đủ kinh phí thực hiện theo lộ trình của đề án.

2. Nguyên tắc quyết toán:

Kinh phí đào tạo, thu hút cán bộ và phát triển nguồn nhân lực thực hiện theo Quyết định 159/2005/QĐ- UBND của Ủy ban nhân dân Tỉnh.

VII. TỔ CHỨC THỰC HIỆN:

      1. Ban Tổ chức Tỉnh ủy :

- Giúp Ban Thường vụ Tỉnh ủy quán triệt và triển khai thực hiện đề án.

- Phối hợp với Sở Nội vụ xây dựng lộ trình thực hiện cụ thể đề án này và giám sát việc lập quy hoạch cán bộ, kiểm tra tiêu chuẩn cán bộ thuộc diện được cử đi đào tạo tham mưu cho Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Ủy ban nhân dân tỉnh quyết định cử đi học theo thẩm quyền.

      1. Các Huyện, Thị ủy, Đảng ủy:

Căn cứ đề án này để triển khai thực hiện trong đảng bộ của mình.

C- KẾT LUẬN:

Qua thực trạng nêu trên thì việc nâng cao chất lượng công tác đào tạo cán bộ, thu hút và phát triển nguồn nhân lực tỉnh Bình Phước giai đoạn 2011-2015 là yêu cầu bức thiết nhằm thực hiện tốt nhiệm vụ chính trị của Đảng bộ tỉnh; thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và mở rộng hợp tác quan hệ quốc tế để tranh thủ học tập kinh nghiệm của các nước phát triển.

Đề án được lập tại Đồng Xoài, ngày 15/5/2011

Người lập đề án







Bùi Thị Giang



TÀI LIỆU THAM KHẢO





  1. Nghị quyết số 42- NQ/TW ngày 30/11/2004 của Bộ Chính trị về công tác quy hoạch cán bộ lãnh đạo quản lý thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hoá đất nước.

  2. Hướng dẫn số 47- HD/ BTCTW ngày 24/5/2005 của Ban Tổ chức Trung ương về thực hiện Nghị quyết 42- NQ/TW của Bộ Chính trị.

  3. Quyết định số 40/2006/QĐ- TTg ngày 15/02/2006 về việc phê duyệt đề án quy hoạch đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức giai đoạn 2008- 2010.

  4. Quyết định 04/2004/QĐ- BNV ngày 16/01/2004 của Bộ Nội vụ về việc ban hành quy định tiêu chuẩn cụ thể đối với cán bộ, công chức xã, phường, thị trấn.

  5. Quyết định số 132- QĐ/TU ngày 16/5/2005 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy về quy định tiêu chuẩn các chức danh cán bộ thuộc diện quy hoạch cán bộ lãnh đạo quản lý, thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa.

  6. Quyết định số 159/2005/QĐ- UBND ngày 21/12/2005 của UBND tỉnh Bình Phước về chính sách đào tạo, thu hút cán bộ và phát triển nguồn nhân lực

7. Báo cáo số lượng, chất lượng công chức, viên chức của Sở Nội vụ.

8. Báo cáo quy hoạch phát triển nhân lực tỉnh Bình Phước giai đoạn 2011-2020.


2/ ĐỀ ÁN Xây dựng và phát triển đô thị thị xã Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước giai đoạn 2010-2015 và tầm nhìn 2020.

Thị xã Đồng Xoài đã được Bộ Xây dựng công nhận là đô thị loại IV tại Quyết định số 8991/QĐ-BXD ngày 25/8/1999. Đến ngày 01/9/1999 tại Nghị định số 90/NĐ-CP của Chính phủ, thị xã Đồng Xoài được thành lập và chính thức hoạt động là Trung tâm chính trị, kinh tế, văn hoá-xã hội của tỉnh Bình Phước từ năm 2000. Để có cơ sở tổ chức thực hiện, tạo bước đột phá trong việc xây dựng đô thị đạt tiêu chí đô thị loại IV, đúng vị thế là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hoá-xã hội của tỉnh Bình Phước; Thị uỷ Đồng Xoài xây dựng đề án phát triển đô thị thị xã giai đoạn 2010-2015 và tầm nhìn2020.

I. CÁC ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN:

1. Vị trí địa lý:

Thị xã Đồng Xoài là trung tâm tỉnh lỵ tỉnh Bình Phước, nằm trong vùng kinh tế trọng điểm phía nam. Có hệ thống giao thông thuận lợi đến tất cả các huyện trong tỉnh, nằm trên giao lộ ĐT 741 và Quốc lộ 14; nối liền các tỉnh Tây nguyên với Bình Dương và Thành phố Hồ Chí Minh.

Trong tương lai sẽ có tuyến đường sắt từ tỉnh Đắk Nông đi qua thị xã Đồng Xoài đến cảng Thị Vải (Bà Riạ - Vũng Tàu). Đây là một lợi thế trong quan hệ phát triển kinh tế-xã hội trong tương lai.

2. Địa hình:

Địa hình khu vực thị xã Đồng Xoài tương đối bằng, có địa hình thấp dần từ Đông Bắc xuống Tây Nam với hai dạng địa hình chủ yếu:

- Dạng địa hình đồi thấp lượn sóng, phân bố hầu hết trên địa bàn thị xã Đồng Xoài.

-Dạng địa hình bưng bầu thấp trũng, nằm xen kẽ với dạng địa hình đồi thấp lượn sóng.

3. Khí hậu:

Thị xã Đồng Xoài nằm trong vùng có khí hậu nhiệt đới gió mùa cận xích đạo, có nền nhiệt đới cao đều quanh năm, ít có gió bão.

4. Tài nguyên nước:

Sông bé, Suối cam, Suối Sông Rinh, Suối Sam Brinh… là nguồn nước chủ yếu phục vụ cho sản xuất nông nghiệp và sinh hoạt của thị xã Đồng Xoài trong mùa khô.

Nước ngầm: Nguồn nước ngầm ở thị xã Đồng Xoài tương đối phong phú, có thể khai thác phục vụ sản xuất và sinh hoạt.

5. Tài nguyên đất:

Tổng diện tích tự nhiên là 16.675,6 ha, trong đó đất nông nghiệp 15.073ha, đất phi nông nghiệp 1.621ha, đất chuyên dùng 846ha.

6. Tài nguyên khoáng sản:

Theo bản đồ khoáng sản của tỉnh Bình Phước, trên địa bàn thị xã Đồng Xoài có rất ít khoáng sản, chỉ có một số mỏ đá, cuội sỏi.

II. TÌNH HÌNH XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN ĐÔ THỊ TRONG THỜI GIAN QUA:

1. Hiện trạng kinh tế xã hội đô thị Đồng Xoài:

Thị xã Đồng Xoài có tổng diện tích đất tự nhiên là 16.675,6ha, nằm trong địa bàn vùng kinh tế trọng điểm phía Nam. Theo quy hoạch chung xây dựng thị xã Đồng Xoài đã được phê duyệt theo Quyết định số 1061/QĐ-UB năm 1997 của UBND tỉnh Bính Phước thì quy mô diện tích nội ô trong giai đoạn ngắn hạn đến 2010 là 1.200 ha và dài hạn đến năm 2020 là 2.000 ha. Hiện tại thị xã Đồng Xoài có 05 phường và 03 xã.

1.1. Kinh tế:

Từ năm 2000, sau khi trở thành Trung tâm kinh tế-chính trị-văn hoá xã hội của tỉnh Bình Phước; Tỉnh ủy, UBND và các ngành của tỉnh cùng với Đảng bộ, chính quyền và nhân dân thị xã Đồng Xoài đã tập trung mọi nguồn lực vượt qua mọi khó khăn, tổ chức thực hiện đạt nhiều thành quả, tạo ra chuyển biến tích cực trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, đời sống xã hội, cụ thể: Kinh tế duy trì được tốc độ tăng trưởng cao, bình quân tăng 16-17%. Cơ cấu kinh tế chuyển biến tích cực theo hướng tăng dần tỷ trọng Dịch vụ-Thương mại, Công nghiệp-Xây dựng và giảm dần tỷ trọng Nông nghiệp. Năm 2010, giá trị sản xuất nông nghiệp 99,5 tỷ đồng, giá trị sản xuất Công nghiệp-Xây dựng 605,5 tỷ đồng, giá trị sản xuất Thương mại-Dịch vụ 625 tỷ đồng. Tỷ trọng trong cơ cấu kinh tế thực hiện: Thương mại-Dịch vụ 52,1%; Công nghiệp-Xây dựng 36,2; Nông nghiệp 11,7%.

Tổng thu ngân sách Nhà nước 249,373 tỷ đồng, trong đó thu mới phát sinh trên địa bàn thực hiện 140,400 tỷ đồng. Tổng chi ngân sách Nhà nước 235,209 tỷ đồng, trong đó chi XDCB 75,5 tỷ đồng.

1.2. Dân số-Lao động:

Dân số thị xã hiện có khoảng 82.553 người, nguồn lao động không ngừng tăng lên năm 2010 có 50.492 người trong độ tuổi lao động. Cơ cấu lao động thay đổi đáng kể, tỷ lệ lao động phi nông nghiệp ngày càng tăng so với tổng số lao động.

1.3. Đời sống xã hội:

- Việc giải quyết các chính sách xã hội đã đạt được những kết quả khả quan. Tỷ lệ hộ nghèo giảm còn 2,45% hộ nghèo (theo chuẩn mới) và không còn hộ đói. Quan tâm thực hiện tốt công tác chăm sóc thương binh, gia đình liệt sĩ, đến nay 100% gia đình chính sách có mức sống bằng mức sống trung bình trở lên so với đời sống nhân dân nơi cư trú.

- Cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư” đã đạt được những kết quả tích cực, chất lượng cuộc vận động đã đi vào thực chất hơn và ngày càng được nâng cao. Năm 2010, có 15.001/16.200 hộ đạt gia đình văn hoá, đạt 93,49% so với số hộ đăng ký; 43/51 khu dân cư đạt tiêu chuẩn khu dân cư tiên tiến, đạt 84,431%; 90/90 cơ quan đạt cơ quan “Văn minh-An toàn-Sạch đẹp", đạt 100%; 2.592/2.605 cán bộ công chức đạt danh hiệu “Nếp sống văn minh cá nhân”, đạt 99,5%. Công tác xây dựng nhà văn hóa khu phố-ấp đến nay có 50/51 KDC có nhà văn hoá.[

1.4. Giáo dục:

Sự nghiệp giáo dục đào tạo tiếp tục được phát triển, chất lượng giáo dục được nâng cao, quy mô trường lớp được mở rộng và đầu tư ngày một khang trang hơn, tỷ lệ giáo viên giỏi, học sinh giỏi cao hơn so với năm học trước. Công tác chống mù chữ phổ cập giáo dục được quan tâm và thực hiện tốt; đến nay thị xã vẫn duy trì và nâng cao tỷ lệ đạt chuẩn XMC-PCGDTH đúng độ tuổi và phổ cập THCS. Kết quả năm học 2009-2010: tỷ lệ lên lớp thẳng: Tiểu học đạt 99,3%, tăng 0,9%; THCS đạt 88,36%, tăng 3,54%; học sinh lớp 5 hoàn Hoàn thành chương trình tiểu học đạt 100%; học sinh tốt nghiệp THCS đạt 98,4%, tăng 0,6%. Tỷ lệ tốt nghiệp THPT bình quân đạt 97,80%. (Trường THPT Hùng Vương đạt 100%; Trường THPT Đồng Xoài: đạt 95,16%; Trường THPT Nguyễn Du: đạt 98,25%).

1.5. Y tế:

Mạng lưới y tế trên địa bàn thị xã có 2 bệnh viện, 01 trung tâm y tế và 8/8 trạm y tế phường-xã (trong đó 4/8 trạm y tế có Bác sĩ và chức danh đông y), 01 Trạm sơ cấp cứu. Thực hiện các chương trình phòng chống sốt rét, tiêm chủng mở rộng, phòng chống bệnh lao, bệnh phong, phòng chống suy dinh dưỡng… Ngành y học dân tộc cũng phát triển khá mạnh tại 8 trạm y tế phường-xã có khám chữa bệnh đông y. Đến nay, thị xã có 6/8 phường-xã đạt chuẩn quốc gia về Y tế.

1.6. An ninh chính trị, trật tự xã hội:

Tình hình an ninh chính trị và trật tự xã hội nhìn chung đảm bảo, tương đối ổn định. Phong trào toàn dân tham gia đấu tranh phòng chống tội phạm được đẩy mạnh, phong trào toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá ở khu dân cư có nhiều chuyển biến tích cực, các đoàn thể quần chúng phối hợp hoạt động có hiệu quả. Thường xuyên củng cố và xây dựng lực lượng dân quân tự vệ, dự bị động viên. Đảm bảo quân số huấn luyện, sẵn sàng bảo vệ an ninh quốc phòng trên địa bàn thị xã trong mọi tình huống. Tổ chức tốt các đợt tuyển quân, giao quân. Duy trì tốt công tác đấu tranh và phòng ngừa các loại tội phạm trên địa bàn. Phấn đấu thực hiện theo mục tiêu 5 giảm: giảm tội phạm, ma tuý, mại dâm, lây nhiễm HIV/AIDS và giảm tai nạn giao thông.

2. Hiện trạng kết cấu hạ tầng đô thị:

- Giao thông với tổng chiều dài hệ thống đường giao thông trên địa bàn thị xã là 350,68 km, trong đó đường QL (QL.14) 17,7km chiếm 5,04%; đường tỉnh lộ 25,16 km chiếm 7,17%, đường địa phương quản lý 299 km chiếm 85,5%. Nhìn chung mạng lưới giao thông cơ bản hoàn chỉnh các trục giao thông đối ngoại và đường chính đô thị, riêng đường nội bộ đô thị chưa được đầu tư toàn diện. Tỷ lệ đất giao thông so với đất đô thị còn thấp so với tiêu chí quy định. Mật độ đường nhựa so với tổng diện tích đất giao thông còn thấp, đường cấp phối sỏi đỏ chiếm tỷ lệ lớn.

- Mạng lưới điện trung thế 148,3km trung thế, 234km hạ thế và 321 TBA với tổng dung lượng 41.525 KVA. Tỷ lệ hộ dùng điện đạt 98,2%, với mức tiêu thụ bình quân mỗi người là 375 kwh/năm. Tỷ lệ sử dụng máy điện thoại năm 2010 đạt 43 máy/100 dân.

- Cấp nước: Số hộ dân dùng nước máy năm 2010 đạt 60%.

- Thoát nước: Hệ thống thoát nước chủ yếu là hệ thống thoát nước mưa thu gom dọc các tuyến đường thoát ra suối theo địa hình tự nhiên. Hệ thống thoát nước thải đô thị chưa được đầu tư xây dựng, nên nước thải sinh hoạt thực hiện xử lý bằng hệ thống tự hoại, giếng thấm.

- Nhà ở: Tỷ lệ nhà xây dựng kiên cố chiếm 60%, diện tích xây dựng bình quân 30 m2/người.

- Môi trường: Đã quy hoạch bãi chôn lấp chất thải rắn, xây dựng Nghĩa trang thị xã, củng cố hoạt động Xí nghiệp Công trình đô thị để thu gom xử lý rác.

3. Những tồn tại, hạn chế:

Kết quả đạt được trong thời gian qua chưa xứng với vị thế và tiềm năng của thị xã:

- Tăng trưởng chưa gắn với chất lượng, hiệu quả và phát triển bền vững, bảo vệ môi trường.

- Công tác quản lý quy hoạch, kế hoạch đầu tư xây dựng còn hạn chế, quy hoạch chưa gắn với kế hoạch, kết cấu hạ tầng còn thiếu và yếu kém; chưa tạo được sự đồng bộ để xây dựng và phát triển thị xã.

- Định hướng chiến lược phát triển ngành còn nhiều hạn chế, đặc biệt một số ngành là thế mạnh và lợi thế của thị xã.

- Sự phối hợp giữa các Sở ngành tỉnh với chính quyền địa phương chưa thật tốt, nhất là trong phối hợp tổ chức thực hiện dự án đầu tư xây dựng. Phân cấp quản lý giữa tỉnh, ngành và thị xã chưa đồng bộ, còn chồng chéo.

- Cải cách thủ tục hành chính theo đề án số 30 của Thủ tướng Chính phủ có chuyển biến ở một số bộ phận, một số khâu nhưng mới chỉ là kết quả bước đầu.

- Trình độ năng lực cán bộ chưa đáp ứng yêu cầu phát triển đô thị.

- Quy hoạch chưa gắn với kế hoạch đào tạo bồi dưỡng cán bộ trong tình hình mới. Chưa có cơ chế chính sách để thu hút nhân tài.

- Hiện tượng tiêu cực, nhũng nhiễu dân ở một số lĩnh vực, ngành còn xảy ra nhưng chưa được phát hiện, xử lý kịp thời.

Những tồn tại trên đã ảnh hưởng đến việc thu hút đầu tư xây dựng thị xã, đến nay một số tiêu chí đô thị loại IV vẫn chưa đạt.

4. Thách thức và khó khăn:

- Là thị xã xa trung tâm khu vực Miền đông Nam bộ, có mặt bằng kinh tế-xã hội nhìn chung còn thấp. Công nghiệp, Thương mại-Dịch vụ tuy đã có bước phát triển nhưng chưa mạnh, thiết bị công nghệ còn lạc hậu, năng lực cạnh tranh thấp, tài nguyên ít, nguồn năng lực chủ yếu là lao động nông nghiệp và dịch vụ thủ công. Chất lượng nguồn nhân lực còn thấp, thiếu lao động có kỹ thuật.

- Việc phát triển đô thị hoá với tốc độ nhanh chóng đã dẫn đến sự chênh lệch giữa khu vực trung tâm với vùng ven đô thị, đây là thách thức to lớn mà Đảng bộ và chính quyền cần quan tâm khắc phục.

- Sự phân tầng xã hội, chênh lệch kinh tế giữa người giàu, người nghèo cũng là vấn đề đặc biệt chú trọng trong quá trình phát triển đô thị.

- Nguy cơ về khủng hoảng vốn đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng để đáp ứng yêu cầu đô thị hoá. Song song đó sự gia tăng dân số với tốc độ nhanh sẽ dẫn đến nguy cơ quá tải về kết cấu hạ tầng kỹ thuật cũng như hạ tầng xã hội đô thị.

- Trình độ quản lý và năng lực quản lý của đội ngũ cán bộ chưa đáp ứng yêu cầu phát triển đô thị là thách thức không nhỏ trong quá trình xây dựng đô thị.

- Một số cá nhân, tổ chức chưa nhận thức đúng về tầm quan trọng của việc lập và thực hiện đúng quy hoạch được duyệt, do đó còn hiện tượng xây dựng không đúng quy hoạch được duyệt, xây dựng trái phép trong khu quy hoạch làm ảnh hưởng đến bộ mặt đô thị và tốc độ phát triển.

- Chưa xây dựng các chủ trương chính sách tập trung khai thác triệt để nguồn lực, lợi thế của địa phương cũng như tạo môi trường đầu tư thông thoáng để thu hút các nhà đầu tư trong và ngoài nước vào đầu tư phát triển.

III. DỰ BÁO XU HƯỚNG PHÁT TRIỂN ĐÔ THỊ.

1. Dân số và lao động:

Trên cơ sở phát triển các khu công nghiệp, tốc độ phát triển kinh tế và khả năng thu hút lao động dự báo dân số và lao động thị xã sẽ tăng nhanh trong thời gian tới. Cơ cấu lao động sẽ chuyển biến phù hợp với sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế.

Dự báo dân số và lao động:

STT

Chỉ tiêu

Ðơn vị

Năm 2010

Năm 2015

Năm 2020

1

Dân số (nội ô)

Người

84.237

93.000

130.000

2

Mật độ dân số bình quân (nội ô)

Ng/km2

1.200

2.000

3.400

3

Tỷ lệ tăng tự nhiên

%

1,702

1,45

1,15

4

Tỷ lệ tăng cơ học

%

1.108

2,53

1,9

5

Dân số lao động thành thị

%

60,8

64

68

6

Dân số lao động nông thôn

%

39,2

36

32

7

Ty ûlệ lao động phi nông nghiệp

%

60,23

70

76,80

8

Độ tuổi lao động

%

48,7

54,5

55

2. Tăng trưởng kinh tế và chuyển dịch kinh tế:

- Dự báo tăng trưởng kinh tế thị xã giai đoạn tới vẫn sẽ ở mức cao, Công nghiệp-Xây dựng đạt 17%, Thương mại-Dịch vụ đạt 16%, Nông nghiệp đạt 9%.

- Trong giai đoạn từ nay đến năm 2020, thương mại và xây dựng vẫn là ngành chủ lực trong các ngành sản xuất chủ lực của thị xã, đảm bảo xây dựng kết cấu hạ tầng, cung ứng nhu cầu vật tư, máy móc, thiết bị cho sản xuất nông-lâm nghiệp, hàng hoá tiêu dùng phục vụ đời sống nhân dân trong thị xã, đồng thời thu mua tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp trên địa bàn, nhất là thu mua và chế biến các sản phẩm phục vụ xuất khẩu như cao su, hạt tiêu, hạt điều …

3. Nguồn vốn đầu tư:

Với tốc độ phát triển cao dự báo tổng nhu cầu vốn đầu tư trên địa bàn thị xã sẽ rất lớn. Cụ thể nhu cầu vốn dự báo như sau:

- Giai đoạn 2010-2015 GDP tăng thêm 1.011 tỷ đồng, nhu cầu vốn đầu tư 400 tỷ đồng.

- Giai đoạn 2015-2020 GDP tăng thêm 2.355 tỷ đồng, nhu cầu vốn đầu tư 1.000 tỷ đồng.

IV. QUAN ĐIỂM MỤC TIÊU PHÁT TRIỂN THỊ XÃ ĐỒNG XOÀI GIAI ĐOẠN 2010-2015 VÀ TẦM NHÌN 2020:

1. Quan điểm phát triển:

- Căn cứ Quy hoạch phát triển đô thị và điểm dân cư nông thôn tỉnh Bình Phước đến năm 2020 và căn cứ vào Quy hoạch phát triển kinh tế-xã hội ở địa phương, quy hoạch sử dụng đất đã được phê duyệt để có kế hoạch lập quy hoạch, đầu tư thực hiện các dự án xây dựng kết cấu hạ tầng trong đô thị.

- Phát triển bền vững, đáp ứng yêu cầu gắn phát triển kinh tế với đảm bảo quốc phòng an ninh, phát triển kinh tế theo hướng công nghiệp hoá hiện đại hoá, đảm bảo công bằng xã hội và các yếu tố về khoa học-kỹ thuật, mỹ quan đô thị, môi trường sinh thái.

- Tập trung đẩy mạnh phát triển giáo dục, xoá đói giảm nghèo cải thiện cơ sở hạ tầng, đảm bảo an ninh quốc phòng, từng bước nâng dần đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân trên cơ sở nội lực địa phương là chủ yếu.

- Tranh thủ tối đa sự hỗ trợ của Tỉnh, Trung ương để phát triển các hoạt động văn hoá thông tin, thể dục thể thao, nâng cao chất lượng xã hội văn hoá thể dục thể thao trong nhân dân, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực.

- Mục tiêu phát triển kinh tế, trước hết cần phải đẩy mạnh phát triển giáo dục đào tạo, nâng cao dân trí, thực hiện chiến lược phát triển con người một cách toàn diện và chuyên nghiệp. Chú ý đào tạo nguồn nhân lực, nhất là cán bộ quản lý, lực lượng lao động có kỹ thuật, đội ngũ chủ doanh nghiệp, trang trại đáp ứng yêu cầu phát triển trong giai đoạn mới. Đồng thời đào tạo nguồn nhân lực cho nông thôn để thực hiện nội dung chuyển dịch cơ cấu kinh tế và cơ cấu lao động.

-Khai thác và phát huy mọi tiềm năng, lợi thế so sánh của thị xã một cách tốt nhất.

2. Mục tiêu đạt được:

Đảm bảo kinh tế phát triển ổn định và bền vững, đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng hoàn chỉnh các tiêu chí đô thị loại IV vào năm 2015. Cụ thể gồm các mục tiêu chủ yếu sau:

- Tăng trưởng kinh tế bình quân hàng năm đạt 16-17% năm.

- Chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tăng nhanh tỷ trọng Thương mại-Dịch vụ, Công nghiệp và Xây dựng, giảm dần tỷ trọng Nông nghiệp (năm 2015 cơ cấu kinh tế đạt: Thương mại-Dịch vụ 52,3%, Công nghiệp Xây dựng 41,5%, Nông nghiệp 6,2%).

- Thu nhập bình quân đầu người đến năm 2015 đạt 41,4 triệu đồng/năm.

- Quy mô dân số nội ô thị xã: 93.000 người.

- Tỷ lệ lao động phi nông nghiệp: 70%.

- Mật độ dân số: 2.000 người/km2.

- Có kết cấu hạ tầng đồng bộ và hoàn chỉnh. Chủ yếu thực hiện các tiêu chí chưa đạt như sau:

+ Đất xây dựng công trình công cộng cấp đô thị: 3 m2/người.

+ Tỷ lệ đất giao thông so với đất xây dựng đô thị: 16%.

+ Mật độ đường chính rãi nhựa : 3,5%.

+ Mật độ đường ống thoát nước chính: 3,5 km/km2.

+ Tỷ lệ đường phố chính được chiếu sáng: 85%.

+ Tỷ lệ nước bẩn được thu gom xử lý: 30%.

V. NHIỆM VỤ CHỦ YẾU:

1. Tăng trưởng kinh tế gắn với chuyển dịch cơ cấu kinh tế và nâng cao hiệu quả kinh tế.

- Khuyến khích và tạo mọi điều kiện thuận lợi, đối xử bình đẳng công bằng đối với tất cả các thành phần kinh tế, đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh trên địa bàn thị xã. Thực hiện khuyến khích ưu đãi đầu tư cho các đối tượng được hưởng ưu đãi đầu tư theo luật quy định (như miễn giảm thuế doanh thu, thuế lợi tức, vay vốn ưu đãi, tiền thuê đất giá rẻ…). Đa dạng các loại hình dịch vụ Vận tải, Bưu chính, Tài chính, Tín dụng…

- Xây dựng hoàn thiện và đưa vào hoạt động khu Trung tâm Thương mại Đồng Xoài, Chợ Tân Xuân. Tổ chức sắp xếp lại các chợ hiện có, kết hợp phát triển các siêu thị bán lẻ hình thành hệ thống dịch vụ khai thác tiềm năng dịch vụ thương mại. Củng cố phát triển về số lượng và chất lượng loại hình kinh tế hợp tác, quỹ tín dụng nhân dân để huy động nguồn vốn đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng kinh tế.

- Tiếp tục xây dựng và hoàn thiện hạ tầng khu công nghiệp Đồng Xoài 1, 2, 3, 4, phấn đấu thu hút đầu tư đến năm 2015 đạt 65%. Phát triển nhà máy sản xuất chế biến nông sản, khuyến khích hình thành cơ sở sản xuất thủ công mỹ nghệ, hàng tiêu dùng tạo điều kiện giải quyết việc làm. Đến năm 2020 xây dựng hoàn thành khu công nghiệp Đồng Xoài 1, 2, 3, 4. Tổ chức di dời các cơ sở sản xuất gây ảnh hưởng đến môi trường ra ngoại ô thị xã.

- Kết hợp phát triển trồng trọt và chăn nuôi công nghiệp đi vào chiều sâu, hiệu quả và áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, công nghệ tiên tiến nhằm tạo ra những sản phẩm hàng hoá có giá trị cao phục vụ tiêu dùng nội địa và hướng tới xuất khẩu. Chuyển đổi diện tích đất Bưng bàu, đất trồng lúa kém hiệu quả theo hướng trồng cây phục vụ tiêu dùng (như hoa màu) và cây hoa kiểng hoặc nuôi trồng thủy sản.

-Phát triển kinh tế phải đi đôi với chú trọng phát triển xã hội, bảo vệ môi trường và đảm bảo củng cố Quốc phòng-An ninh. Từ đó tác động trở lại, thúc đẩy kinh tế phát triển bền vững.

2. Y tế và chăm sóc sức khoẻ cộng đồng:

- Phấn đấu giảm tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi suy dinh dưỡng (21%) đến năm 2015 còn dưới 12% và dưới 8% vào năm 2020, đảm bảo trên 95% trẻ em dưới 1 tuổi được tiêm đủ 6 loại vắc xin và 100% vào năm 2020. Giảm tỷ xuất sinh bình quân hàng năm 0,7%0.

- Làm tốt công tác vệ sinh môi trường, năm 2015 xây dựng hoàn thành nhà máy xử lý chất thải rắn, 2015 xây dựng hệ thống xử lý nước thải, phấn đấu đến năm 2015 đảm bảo 85% dân số được dùng nước máy và năm 2020 đạt tỷ lệ là 95%.

3. Giáo dục và Đào tạo:

Quy hoạch đất xây dựng trường học, ưu tiên đầu tư thiết bị, nâng cấp chất lượng dạy và học; sử dụng có hiệu quả các loại hình đào tạo nghề phục vụ nhu cầu công nghiệp.

- Phấn đấu đến năm 2015 thị xã có 41 trường, 561 lớp, 17.570 học sinh.

- Phấn đấu đến năm 2015 thị xã có 37% trường mần non, 40 trường tiểu học và 37% trường THCS đạt chuẩn quốc gia; 3-4 phường, xã đạt chuẩn phổ cập phổ thông trung học .

- Năm 2020 thị xã có 52 trường, 675 lớp, 21.400 học sinh.

- Năm 2020 đạt chuẩn quốc gia về phổ cập bậc trung học ở 100% xã, phường.

- Tăng tỷ lệ lao động qua đào tạo lên khoảng 40% vào năm 2015 và 55-60% vào năm 2020.

4. Văn hoá-Thông tin, thể dục-thể thao, xã hội:

- Hoàn thành quy hoạch xây dựng Sân vận động tỉnh, Nhà thi đấu đa năng, Nhà thiếu nhi… trước năm 2015. Xây dựng sân vận động thị xã, khu trung tâm thể dục thể thao thị xã. Nâng dần mức hưởng thụ văn hóa tinh thần của nhân dân và xóa bỏ cách biệt về mức hưởng thụ giữa vùng đô thị và vùng sâu vùng xa, vùng đồng bào dân tộc. Đến năm 2015 có 100% khu phố, ấp hoàn chỉnh việc xây dựng nhà văn hóa (gồm cả sân tập thể thao). Xây dựng thí điểm trung tâm văn hóa-thể thao ở một số phường-xã có điều kiện.

- Phấn đấu đến năm 2015 đạt 100% trường phổ thông và trường trung học chuyên nghiệp dạy nghề có giảng viên chuyên môn hướng dẫn TD-TT. Phấn đấu mỗi phường-xã quy hoạch quỹ đất xây dựng 01 sân bóng đá và một sân bóng chuyền đạt tiêu chuẩn, 01 câu lạc bộ dưỡng sinh cho người cao tuổi. Tỷ lệ dân số tham gia tập luyên thể thao thường xuyên từ 23-25%. Số cán bộ hướng dẫn viên, cộng tác viên thể dục thể thao ở cấp xã-phường được đào tạo, bồi dưỡng về nghiệp vụ đạt 90%.

- Thực hiện có hiệu quả các chương trình xoá đói giảm nghèo trên địa bàn toàn thị xã. Đến năm 2015 giảm tỷ lệ hộ nghèo xuống còn 1,7% và đến năm 2020 cơ bản không còn hộ nghèo.

5. Phát triển và quản lý hệ thống kết cấu hạ tầng đô thị.

5.1. Phát triển mạng lưới giao thông:

Thực hiện đến năm 2015 tập trung giải phóng mặt bằng, thi công nền hạ các tuyến đường nội ô theo quy hoạch. Tiếp tục xây dựng mới và cải tạo nâng cấp đường sỏi đỏ sang kết cấu nhựa theo quy hoạch đã duyệt. Mở mới các đường tránh đô thị, đường vành đai phường Tân Xuân-Tân Đồng về lâu dài nâng cấp lên Tỉnh lộ. Đối với đường giao thông liên thôn, xóm được nhựa hoá. Mỗi năm phấn đấu xây dựng 15-20 km đường nhựa các loại, đến năm 2015 đạt tiêu chí mật độ đường giao thông đô thị loại IV.

Dự kiến đến năm 2020, tiếp tục xây dựng mới và cải tạo nâng cấp mạng lới giao thông đạt các mục tiêu sau:

- Đường đô thị: Đường nhựa đạt tiêu chuẩn đường đô thị phù hợp với cấp đường đô thị loại 3. Mật độ đường bộ đạt 4km/km2 và 5,7km/1.000 dân; nhựa hoá 100% các tuyến đường do thị xã quản lý.

-Đường nông thôn: Nhựa hoá đường giao thông nông thôn đạt 50% đến 60%.

Quy hoạch các bến xe, bãi đậu xe:

- Hoàn chỉnh các cơ sở dịch vụ, quản lý bến xe phục vụ các tuyến trong thị xã và nội ngoại tỉnh, nâng cao chất lượng phục vụ khách hàng.

- Các khu thương mại, dịch vụ trong thị xã cần quy hoạch hệ thống các bãi đậu xe hợp lý phục vụ nhân dân, khách du lịch và vận chuyển hàng hoá.

5.2. Phát triển bưu chính viễn thông:

Từng bước hiện đại hoá, đồng bộ hoá hệ thống thông tin liên lạc và đa dạng hoá các loại hình dịch vụ bưu chính viễn thông, nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của nhân dân và của các nhà đầu tư, các doanh nghiệp trên địa bàn. Tăng cường công tác đào tạo, xây dựng hệ thống tổ chức và hệ thống thiết bị phương tiện đồng bộ để nâng cao chất lượng phục vụ, thực hiện việc chuyển giao các loại bưu phẩm đến địa chỉ một cách an toàn và nhanh chóng.

Phấn đấu đến năm 2015 tỷ lệ sử dụng điện thoại 60 máy/100 dân, đến năm 2020 đạt 85 máy/100dân.

5.3. Phát triển hệ thống cấp điện:

Đến năm 2015 xây dựng mạng lưới đường dây trung thế 221 Km, đường dây hạ thế đạt 270 km, dung lượng trạm biến áp đạt công suất 30.000 KVA, ngầm hoá một số tuyến cáp khu vực trung tâm đô thị, phấn đấu tỷ lệ hộ sử dụng điện 99%.

5.4. Cấp nước:

Đến năm 2015 đạt 85% hộ dân khu vực nội ô sử dụng nước sạch theo tiêu chuẩn cấp nước sạch đô thị, bình quân mỗi người sử dụng 120 lít nước/ngày-đêm.

5.5. Thoát nước-chất thải:

Tiếp tục xây dựng hệ thống thoát nước đô thị, khắc phục tình trạng ngập cục bộ. Đến năm 2015 xây dựng cơ bản hệ thống thoát nước mưa, mương thoát hạ lưu cống ngang. Đến năm 2015 hoàn thiện kiên cố hoá suối Đồng Tiền và suối Cống Tầm Vông. Năm 2020 xây dựng cơ bản hệ thống thoát nước thải và nhà máy xử lý nước thải sinh hoạt đô thị thị xã theo quy hoạch đã được phê duyệt. Hoàn thiện quy hoạch bãi chôn lấp chất thải rắn, Nghĩa trang nhân dân thị xã; năm 2015 xây dựng Nhà máy xử lý chất thải rắn.

5.6. Thuỷ lợi:

Phấn đấu đến năm 2015 hoàn thành công trình thủy lợi hồ Suối Cam 2, hồ Đồng Xoài trữ nước sinh hoạt.

5.7. Cảnh quan-môi trường:

Quy hoạch xây dựng hoàn thiện Công viên văn hoá thị xã Đồng Xoài, khu Lâm viên, các khu hoa viên đã quy hoạch trong các khu dân cư. Đầu tư xây dựng, cải tạo đồng bộ hệ thống chiếu sáng đô thị, vỉa hè, cây xanh ở tất cả các tuyến đường khu vực nội thị. Mua sắm trang thiết bị phục vụ công tác vệ sinh môi trường, bảo quản công trình công cộng. Tăng cường công tác quản lý gìn giữ cây xanh vỉa hè. Khuyến khích các công sở, các hộ gia đình xây dựng hoa viên nhỏ.

5.8. Nhà ở:

Khuyến khích và tạo điều kiện để các thành phần kinh tế, nhân dân xây dựng nhà ở đáp ứng yêu cầu phát triển đô thị. Xây dựng hoàn chỉnh các khu tái định cư, khu dân cư dành cho hộ thu nhập thấp, khu đất dự trữ bố trí tái định cư, khu nhà ở cho công nhân các khu công nghiệp.

5.9.Tăng cường công tác quản lý nhà nước đối với lĩnh vực xây dựng và phát triển đô thị. Tổ chức quản lý ngăn chặn có hiệu quả tình trạng vi phạm quy hoạch, vi phạm hành lang lộ giới, lấn chiếm vỉa hè, lòng đường … Thực hiện tốt công tác đặt tên đường, cấp số nhà, tập trung cải cách hành chính để đáp ứng yêu cầu cấp phép xây dựng, cấp quyền sở hữu, cấp quyền sử dụng đất… nhằm tăng cường quản lý nhà nước.

5.10. Lập điều chỉnh quy hoạch chung thị xã Đồng Xoài theo Nghị quyết của Hội đồng nhân dân tỉnh trình cấp có thẩm quyền phê duyệt, trên cơ sở đó triển khai lập và phê duyệt các quy hoạch chi tiết xây dựng đô thị thị xã Đồng Xoài theo quy hoạch chung, thu hút nhiều dự án đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng, chỉnh trang đô thị, xây dựng đô thị thị xã Đồng Xoài ngày càng khang trang hiện đại.

Lập và phê duyệt mạng lưới điểm dân cư nông thôn, trên cơ sở đó triển khai việc quy hoạch xây dựng các điểm dân cư nông thôn, thu hút nhiều dự án đầu tư cơ sở hạ tầng, phân cấp quản lý đầu tư xây dựng, cấp phép xây dựng về cơ sở theo quy định của pháp luật.

6. Định hướng phát triển không gian lãnh thổ:

6.1. Bố trí sử dụng đất:

Tổng diện tích đất tự nhiên của thị xã 16.675,6 ha. Định hướng từ nay đến năn 2015 đất nông nghiệp 78,38%; đất phi nông nhiệp 21,62%, đất chưa sử dụng 0%.

6.2. Định hướng phát triển đô thị:

Từ nay đến năm 2015 tiếp tục xây dựng thị xã Đồng Xoài theo quy hoạch xây dựng đã được duyệt, từng bước hoàn thành các tiêu chí xây dựng đô thị loại IV. Nâng cấp thành lập phường Tiến Thành, tách xã Tiến Hưng. Triển khai mở rộng đô thị về phía Tây (hồ Suối Cam) nhằm tận dụng hồ nước tạo cảnh quan đô thị. Hoàn thiện quy hoạch và đầu tư xây dựng khu trung tâm xã Tân Thành, Tiến Thành, Chợ Tân Thành, Chợ Tiến Hưng.

6.3. Định hướng xây dựng khu công nghiệp:

Tiếp tục xây dựng và hoàn thiện hạ tầng khu công nghiệp Đồng Xoài 1, 2, 3, 4. Đến năm 2020 xây dựng hoàn thành khu công nghiệp Đồng Xoài 1, 2, 3, 4 và xây dựng mới Cụm công nghiệp khi có điều kiện.

6.4. Định hướng phát triển khu vực nông thôn:

­­­­­­Đến năm 2015 tập trung đầu tư nâng cấp các tuyến đường liên xã, xây dựng các đường vành đai nhằm khai thác quỹ đất khu vực. Quy hoạch các cụm dân cư nông thôn, gắn liền hạ tầng xã hội. Đến năm 2020 nhựa hoá đường nông thôn đạt 90%. Về sử dụng nước sạch đảm bảo đến năm 2015 có 85% sử dụng nước sạch và năm 2020 có 95% dân số thị xã sử dụng nước sạch. Tăng cường phát triển mạng lưới điện sinh hoạt nông thôn, đảm bảo đáp ứng nhu cầu điện khí hoá nông thôn.

6.5. Định hướng Tài chính-ngân hàng:

-Tài chính: Tăng thu ngân sách dựa trên cơ sở đẩy mạnh phát triển sản xuất kinh doanh, dịch vụ cả về số lượng, quy mô và hiệu quả kinh tế. Đa dạng hoá ngành nghề, phát triển mạnh sản xuất công nghiệp-tiểu thủ công nghiệp, thương mại-dịch vụ nhằm mở rộng nguồn thu. Tăng thu từ khai thác quỹ đất.

-Ngân hàng: Đảm bảo huy động các nguồn vốn trong xã hội và hỗ trợ kịp thời, hiệu quả vốn cho đầu tư phát triển kinh tế-xã hội. Có vai trò tích cực trong việc thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế trên địa bàn.

VI. THỜI GIAN THỰC HIỆN:

Chia làm 02 giai đoạn thực hiện đề án:

-Giai đoạn I: Năm 2010-2015.

-Giai đoạn II: Năm 2015-2020.

VII. NHỮNG GIẢI PHÁP CHỦ YẾU:

1. Giải pháp tạo và huy động nguồn vốn:

- Tổ chức thực hiện, sử dụng tốt nguồn vốn ngân sách mà UBND tỉnh và các Sở ngành ưu tiên bố trí. Kết hợp tăng nguồn thu thuế để kết dư ngân sách, ưu tiên bố trí xây dựng kết cấu hạ tầng.

- Thực hiện tốt chủ trương tiết kiệm để tăng vốn đầu tư phát triển, nâng cao hiệu quả đầu tư, đầu tư có trọng điểm.



- Tranh thủ các nguồn vốn ngoài ngân sách như vốn tài trợ, vốn vay, vốn huy động từ nhân dân, vốn các doanh nghiệp… Bằng các giải pháp như: vay ưu đãi, đầu tư theo BOT, xây dựng quỹ tín dụng nhân dân, xã hội hoá đầu tư phát triển, đấu giá quyền sử dụng đất huy động vốn… để hình thành quỹ đầu tư phát triển.

- Đẩy mạnh cải cách hành chính, kết hợp có hiệu quả các phong trào hành động cách mạng do các đoàn thể phát động, tuyên truyền giáo dục chủ trương, chính sách cho nhân dân.

2. Thu hút, đào tạo nguồn nhân lực:

- Ưu tiên phát triển giáo dục đào tạo, có chính sách đãi ngộ khuyến tài. Củng cố tổ chức, nâng cao trình độ cán bộ công chức.

- Xây dựng chính sách thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế… nhằm giải quyết việc làm và tăng số lượng lao động tham gia hoạt động trong các ngành kinh tế, khuyến khích đào tạo, nâng cao trình độ người lao động, phát triển trung tâm dạy nghề.

- Có chủ trương chính sách hợp lý thu hút lực lượng lao động kỹ thuật về địa phương.

3-Cơ chế chính sách:

-Thực hiện cải cách hành chính.

-Tiếp tục thực hiện chính sách kinh tế nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa.

-Thực hiện tốt các chính sách của Nhà nước. Tổ chức sản xuất có hiệu quả.

-Tăng cường phối hợp với các huyện trong tỉnh.

4. Ứng dụng tiến bộ khoa học-công nghệ và môi trường đô thị:

- Tập trung nghiên cứu chuyển giao khoa học-công nghệ vào lĩnh vực đầu tư cơ sở hạ tầng cũng như phát triển chuyển đổi cơ cấu giống cây trồng, giải pháp chăn nuôi khoa học.

- Có chính sách khuyến khích các nhà doanh nghiệp đầu tư công nghệ mới, nghiên cứu triển khai ứng dụng giống mới, kỹ thuật công nghệ mới nhằm nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả kinh tế.

5. Phân cấp và giao quyền chủ động một số lĩnh vực:

- Tham mưu ban hành quy định phân công trách nhiệm cụ thể và quy định phối hợp giữa các Sở ngành, địa phương để thực hiện việc đầu tư xây dựng các dự án trên địa bàn.

- Hiện nay hạ tầng kỹ thuật trên địa bàn thị xã do nhiều đơn vị đầu tư và quản lý, đã gây ra nhiều sự chồng chéo trong quá trình bảo quản sửa chữa, sử dụng cũng như thống kê đánh giá; tham mưu UBND tỉnh thống nhất phân loại, phân cấp cụ thể giao cho từng ngành hoặc địa phương quản lý.

VIII. TỔ CHỨC THỰC HIỆN:

- Tổ chức thông báo rộng rãi và công khai Đề án xây dựng và phát triển đô thị thị xã Đồng Xoài giai đoạn 2010-2015 và tầm nhìn 2020 đến các cơ quan, ban ngành, đoàn thể và nhân dân, tạo nhận thức thống nhất trong chỉ đạo và tổ chức thực hiện.

- Phòng Quản lý đô thị thị xã có trách nhiệm tham mưu cho UBND thị xã Đồng Xoài xây dựng kế hoạch để triển khai thực hiện Đề án, có phân định thời gian, đề ra bước đi cụ thể, sâu sát và phù hợp.

- Phòng Tài chính-Kế hoạch thị xã tham mưu cho UBND thị xã Đồng Xoài ban hành cơ chế, chính sách kêu gọi đầu tư; mạnh dạn phân cấp quản lý, tạo sự thông thoáng về cơ chế chính sách giúp thị xã đẩy nhanh tốc độ đô thị hoá.

- Các phòng-ban có liên quan: Tài chính-Kế hoạch, Quản lý đô thị, Kinh tế, Tài nguyên& Môi trường, UBND các phường-xã…vv cụ thể hoá Đề án trên bằng quy hoạch, kế hoạch để thực hiện tốt Đề án này.

- Giao phòng Quản lý đô thị thị xã, Văn phòng Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân có trách nhiệm theo dõi, phản ánh tình hình triển khai thực hiện Đề án, tổng hợp những thuận lợi, khó khăn để tham mưu cho Uỷ ban nhân dân thị xã kịp thời điều chỉnh cho phù hợp với tình hình thực tế của địa phương.

- Định kỳ 6 tháng, năm, Uỷ ban nhân dân thị xã sẽ chủ trì họp nghe phòng Quản lý đô thị thị xã báo cáo kết quả thực hiện Đề án này để có biện pháp chỉ đạo, nhằm đẩy nhanh tốc độ đô thị hoá thị xã Đồng Xoài, đưa thị xã sớm trở thành đô thị loại 3 vào năm 2020.

IX. KẾT LUẬN:

1-Kết luận:

Xây dựng và phát triển đô thị thị xã Đồng Xoài giai đoạn 2010-2015 và tầm nhìn 2020 là chiến lược hết sức quan trọng trong phát triển đô thị thị xã Đồng Xoài trong thời kỳ cùng với cả nước đẩy mạnh công nghiệp hoá-hiện đại hoá đất nước. Việc thực hiện tốt chiến lược này, sẽ giúp cho thị xã Đồng Xoài đẩy mạnh phát triển kinh tế-văn hoá-xã hội, nâng cao đời sống vật chất của nhân dân thị xã, nhanh chóng xây dựng thị xã Đồng Xoài tương xứng là trung tâm chính trị, kinh tế, xã hội của cả tỉnh Bình Phước.

2-Kiến nghị:

Là một thị xã miền núi, mới được thành lập không lâu, nên còn nhiều khó khăn, đặc biệt về cơ sở hạ tầng kỹ thuật như: Điện, nước, giao thông, Y tế, trường học…vv, nhất là đối với 03 xã khu vực nông thôn. Vì vậy đề nghị UBND tỉnh Bình Phước và các cơ quan ban, ngành, đoàn thể và Trung ương tạo mọi điều kiện, quan tâm chỉ đạo, giúp đỡ thị xã Đồng Xoài về mọi mặt cũng như về vốn đầu tư để thị xã nhanh chóng thực hiện tốt Đề án, đẩy mạnh phát triển kinh tế-xã hội, nâng cao một bước về đời sống nhân dân trong thị xã, đưa thị xã phát triển về mọi mặt ngang tầm với các đô thị khác trong khu vực.

3/ ĐỀ ÁN “Nâng cao chất lượng đội ngũ thẩm phán Tòa Hành chính Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 2012-2015”


TÒA ÁN NHÂN DÂN TP.HỒ CHÍ MINH CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Tp.Hồ Chí Minh, ngày tháng năm 2012

ĐỀ ÁN

“Nâng cao chất lượng đội ngũ thẩm phán Tòa Hành chính Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 2012-2015”


I. Lý do chọn đề án


Tòa hành chính Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh là một phân tòa thuộc Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh được thành lập từ năm 1996. Từ đó đến nay, đội ngũ cán bộ, thẩm phán, thư ký của Tòa luôn cố gắng nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ, rèn luyện phẩm chất để hoàn thành nhiệm vụ được giao. Tuy nhiên, trong thực tế, số vụ án HC thụ lý và giải quyết của Tòa ngày càng tăng đặc biệt là các khiếu kiện HC về quản lý đất đai trong trường hợp bồi thường, hỗ trợ giài phóng mặt bằng, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất, cấp giấy Chứng nhận quyền sử dụng đất và khiếu kiện HC, hành vi HC trong việc áp mã thuế, truy thu thuế của cơ quan Thuế, cơ quan Hải quan. Hơn nữa, Luật Tố tụng Hành chính có hiệu lực 1/7/2011 mở rộng thẩm quyền xét xử của Tòa án đối với các khiếu kiện HC và nới lỏng tòan bộ các điều kiện khởi kiện nên số lượng các vụ án HC thời gian tới sẽ tăng lên rất nhiều.

Chính vì vậy, với một lực lượng còn ít (12 thẩm phán), trình độ, kinh nghiệm, bản lĩnh còn có nhưng hạn chế như hiện tại thì Tòa hành chính khó đáp ứng nhiệm vụ trong tình hình mới. Cho nên, việc tăng cường số lượng, nâng cao chất lượng đội ngũ thẩm phán của Tòa hành chính tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh hiện nay là việc làm cấp thiết.


II. Cơ sở pháp lý của đề án

- Căn cứ Luật Tổ chức tòa nhân dân 2001;

- Luật Tố tụng hành chính 2010;

- Căn cứ Nghị quyết 49/NQ-BCT về cải cách tư pháp

- Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh nhiệm kỳ 2011 – 2016.

III. Mục tiêu của đề án:

Xây dựng đội ngũ thẩm phán có phẩm chất đạo đức tốt, có bản lĩnh chính trị, có năng lực, có tính chuyên nghiệp cao, tận tụy phục vụ nhân dân nhằm nâng cao chất lượng xét xử các vụ án hành chính của Tòa Hành chính Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh đáp ứng kịp thời việc giải quyết các vụ án hành chính trong điều kiện Luật Tố tụng Hành chính mở rộng thẩm quyền xét xử của Tòa án đối với các khiếu kiện HC và nới lỏng tòan bộ các điều kiện khởi kiện cũng như tinh thần cải cách tư pháp của Đảng tại Nghị quyết 49/NQ-BCT của Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng cộng sản Việt Nam.

IV. Nội dung đề án:

1. Thực trạng chất lượng đội ngũ thẩm phán Tòa hành chính Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh

1.1. Về ưu điểm

- Tòa Hành chính là một tòa chuyên trách của Tòa án nhân dân TP.Hồ Chí Minh. Đội ngũ cán bộ, thẩm phán ngành TAND đã không ngừng được tăng cường về số lượng và nâng cao về chất lượng, hiện nay Tòa có 12 thẩm phán và đội ngũ thư ký được đào tạo chính qui.

- Đội ngũ thẩm phán giải quyết các khiếu kiện HC phải có lập trường tư tưởng vững vàng, quán triệt sâu sắc đường lối chính sách của Đảng về giải quyết án HC, phải nắm chắc các Nghị định và văn bản ., phải mềm dẻo trong tiếp xúc, phải luôn “ Phụng công thủ pháp, chí công vô tư”, chủ động sáng tạo; Giải quyết các vụ án HC có chất lượng và đúng pháp luật…

1.2. Về nhược điểm, hạn chế

- Đội ngũ thẩm phán còn thiếu so với yêu cầu. Vẫn còn một số thẩm phán, cán bộ Tòa án hạn chế về năng lực, trình độ (chưa có ý thức tự học hòi, trau đồi trình độ chuyên môn nghiệp vụ, cập nhật kiến thức mới liên quan với lĩnh vực công việc của mình); tinh thần trách nhiệm, thái độ phục vụ nhân dân và việc chấp hành kỷ luật công vụ chưa tốt nên hiệu quả công tác thấp.

- Hiệu quả công tác đào tạo, bồi dưỡng năng lực, trình độ nghiệp vụ cho đội ngũ cán bộ, thẩm phán chưa cao.

- Tỷ lệ xét xử các vụ án hành chính chưa đạt dược chỉ tiêu công tác xét xử của ngành đã đề ra; mặc dù đã có những tiến bộ nhưng tỷ lệ các bản án, quyết định về hành chính bị hủy, sửa do lỗi chủ quan của thẩm phán còn cao. Vẫn còn xáx định sai đối tượng khiếu kiện hoặc người tham gia tố tụng dẫn đến việc đình chỉ vụ án không đúng quy định của pháp luật

- Một số trường hợp Thẩm phán, cán bộ tòa án có lối sống không lành mạnh, vi phạm phẩm chất đạo đức. Mặc dù số lượng có hành vi vi phạm không nhiều nhưng đã ảnh hưởng uy tín của ngành và lòng tin của nhân dân đối với họat động của các cơ quan tư pháp nói chung và Tòa án nói riêng.

2. Giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ thẩm phán Tòa Hành chính Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh

- Giải pháp 1: Tăng cường công tác giáo dục giáo dục chính trị, tư tưởng cho thẩm phán.

- Giải pháp 2: Thực hiện tốt công tác đào tạo nghiệp vụ xét xử để tạo nguồn bổ nhiệm thẩm phán; đào tạo, bồi dưỡng về lý luận chính trị, trình độ quản lý, tin học ngọai ngữ và các kiến thức về Quản lý HC nhà nước chuyên sâu về một số lĩnh vực: Quản lý đất đai, xử phạt vi phạm HC thuế, hải quan, cạnh tranh và các kiến thức xã hội khác, trong đó có kỹ năng về công tác dân vận.

- Giải pháp 3: Đổi mới và thực hiện tốt kế họach đào tạo lại, bồi dưỡng và tập huấn nghiệp vụ cho cán bộ, công chức

- Giải pháp 4: Tiếp tục thực hiện tốt việc luân chuyển, điều động cán bộ trong ngành Tòa án

- Giải pháp 5: Tổ chức thực hiện tốt Quy tắc ứng xử của cán bộ, thẩm phán ngành tòa án tại Tòa hành chính Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh.

V. Thời gian, kinh phí, tổ chức thực hiện:

1. Thời gian

- Công tác giáo dục giáo dục chính trị, tư tưởng cho thẩm phán: từ tháng 5/2012-2013

- Công tác đào tạo nghiệp vụ xét xử để tạo nguồn bổ nhiệm thẩm phán; đào tạo, bồi dưỡng về lý luận chính trị, trình độ quản lý, tin học ngọai ngữ và các kiến thức về Quản lý HC nhà nước chuyên sâu: tiến hành xen kẽ từ 2012-2015

- Bồi dưỡng và tập huấn nghiệp vụ cho cán bộ, công chức: xen kẽ từ 2012-2015

- Thực hiện luân chuyển, điều động cán bộ: từ 2012- 2013

- Thực hiện Quy tắc ứng xử của cán bộ, thẩm phán: tháng 5/2012-05/2013

2. Kinh phí:

Tổng kinh phí thực hiện đề án là 700 triệu đồng được trích từ nguồn ngân sách Nhà nước phục vụ cho việc đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức ngành tòa án của Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh. Cụ thể:

2.1. Kinh phí đào tạo: 400 triệu đồng

2.2. Kinh phí bồi dưỡng: 200 triệu đồng

2.3. Kinh phí thực hiện luân chuyển điều động thẩm phán, tổ chức thực hiện qui tắc ứng xử: 100triệu đồng

3. Tổ chức thực hiện

3.1. Phòng Tổ chức cán bộ, Chánh Tòa hành chính phụ trách công tác liên quan đến vấn đề đào tạo, bồi dưỡng, điều động cán bộ

3.2. Phòng tài vụ phụ trách về vấn đề kinh phí

VI. Kết luận

4/ ĐỀ ÁN Ứng phó với biến đổi khí hậu và nước biển dâng tỉnh Bến Tre giai đoạn 2011 - 2015 và định hướng đến 2020



ỦY BAN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TỈNH BẾN TRE Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

ĐỀ ÁN

Ứng phó với biến đổi khí hậu và nước biển dâng tỉnh Bến Tre

giai đoạn 2011 - 2015 và định hướng đến 2020

(Ban hành kèm theo Quyết định số:1983 /QĐ-UBND ngày 06 tháng 9 năm 2011 của Ủy ban nhân dân tỉnh)

I. SỰ CẦN THIẾT

Biến đổi khí hậu trước hết là biểu hiện trái đất ngày càng nóng lên và nước biển dâng, là một thách thức lớn đối với nhân loại trong thế kỷ 21. Biến đổi khí hậu làm cho thiên tai và các hiện tượng khí hậu cực đoan đang ngày càng gia tăng chưa từng có ở nhiều nơi trên thế giới, đang là mối lo ngại của các quốc gia trên thế giới trong đó có Việt Nam.

Bến Tre với diện tích tự nhiên 2.360,20km2, dân số 1.255.809 người (số liệu thống kê năm 2009), kinh tế sản xuất nông nghiệp và thuỷ sản là chủ yếu; Bến Tre nằm ở hạ lưu sông Mêkông, có chiều dài bờ biển là 65km tiếp giáp Biển Đông và có hệ thống sông ngòi chằng chịt, trên 90% diện tích đất có cao độ địa hình từ 1-2 mét so mực nước biển, trong đó vùng thấp ven sông, biển chỉ dưới 1 mét, thường xuyên bị ngập khi triều cường. Do đặc thù điều kiện tự nhiên, Bến Tre được nhận định là một trong những tỉnh bị ảnh hưởng nặng nề của biến đổi khí hậu và nước biển dâng.

Theo kịch bản biến đổi khí hậu của tỉnh Bến Tre (năm 2011), kịch bản B2 (kịch bản trung bình nước biển dâng do Bộ Tài nguyên và Môi trường công bố năm 2009), nước biển dâng 12cm vào năm 2020, tỉnh Bến Tre với diện tích bị ngập là 272,09km2, chiếm 12,24 % diện tích, có khoảng 97.890 người trên tổng số dân tỉnh Bến Tre sống trong vùng bị ngập; nước biển dâng 30cm vào năm 2050, với diện tích bị ngập là 342,08km2, chiếm 15,39 % diện tích, có khoảng 102.054 người bị ảnh hưởng. Trong đó, 3 huyện ven biển: Bình Đại, Ba Tri và Thạnh Phú bị ảnh hưởng nặng nề, mực nước biển dâng sẽ làm mất đi một vùng đất thấp rộng lớn, với các khu rừng ngập mặn ven biển, nơi sinh sống của nhiều loài bản địa thuộc các vùng cửa sông Ba Lai, Tiền, Hàm Luông. Nước biển dâng sẽ tác động đến các công trình xây dựng, trong đó có hệ thống đê điều, giao thông, cảng cá, nhà cửa người dân ven biển, ven sông. Theo kịch bản, ranh giới mặn 4 tiến vào trong nội đồng hơn 50km vào năm 2050 sẽ tác động trực tiếp đến tình trạng thiếu nước ngọt ảnh hưởng đến sản xuất và sinh hoạt của người dân.

Dưới tác động biến đổi khí hậu làm cho thời tiết nóng ẩm hơn tạo điều kiện thuận lợi cho các loài vi khuẩn, nấm mốc phát triển, tăng khả năng gây ra dịch bệnh, nhất là sự bùng phát dịch bệnh liên quan đến nước sạch và vệ sinh môi trường như sốt xuất huyết, đau mắt, sốt rét, bệnh giun sán ký sinh trùng, suy dinh dưỡng trẻ em, ngộ độc thức ăn, viêm màng não, các bệnh đường ruột, suy dinh dưỡng, tăng nguy cơ mắc bệnh đối với người già, những người mắc bệnh tim mạch, một số bệnh thần kinh do thời tiết nóng, ẩm. Biến đổi khí hậu làm cho sức chịu đựng của con người giảm sút, các loại dịch bệnh tăng, đòi hỏi phải có chiến lược lâu dài về chăm sóc sức khỏe cộng đồng.

Từ nhận định biến đổi khí hậu đã và đang hiện diện tại Bến Tre với tác động đến nhiều lĩnh vực khác nhau. Để thực hiện thích ứng và giảm nhẹ tác động biến đổi khí hậu hiệu quả, việc xây dựng và thực hiện đề án “Ứng phó với biến đổi khí hậu và nước biển dâng tỉnh Bến Tre giai đoạn 2011 - 2015 và định hướng đến năm 2020” là hết sức cần thiết.

II. NGUYÊN TẮC CHỈ ĐẠO

Trước hết, phải nâng cao nhận thức trong hệ thống chính trị về nội dung, giải pháp và lộ trình để cùng tham gia thực hiện. Tăng cường sự lãnh đạo của các cấp ủy Đảng và sự điều hành, quản lý của nhà nước làm cho mọi người dân hiểu biết và tự thích nghi; phổ biến kinh nghiệm và kiến thức về ứng phó với biến đổi khí hậu.

Thứ hai, các hoạt động ứng phó với biến đổi khí hậu và nước biển dâng cần được thực hiện trên nguyên tắc: vừa thích nghi vừa giảm nhẹ để tồn tại và phát triển.

Thứ ba, công tác phòng tránh những tác động cấp bách trước mắt của biến đổi khí hậu phải được triển khai khẩn trương, đồng bộ, có trọng tâm, trọng điểm, ưu tiên cho các công trình xung yếu, không để trì hoãn. Các hoạt động thích nghi với những tác động tiềm tàng, lâu dài của biến đổi khí hậu cần được hoạch định dựa trên những căn cứ khoa học, phải thường xuyên được cập nhật.

Thứ tư, tăng cường hợp tác quốc tế nhằm tranh thủ tài trợ kinh phí và hỗ trợ khoa học kỹ thuật; tăng cường hợp tác nhằm giải quyết các vấn đề chung mang tính chất liên vùng, liên ngành.

III. MỤC TIÊU

1. Giai đoạn 2011 - 2015

- Tăng cường năng lực đội ngũ cán bộ nhằm nâng cao hiệu quả trong công tác ứng phó với biến đổi khí hậu và nước biển dâng; hiện đại hoá về đo đạc môi trường, khí tượng thuỷ văn, từng bước xây dựng hệ thống giám sát môi trường và xây dựng hệ thống cảnh báo thiên tai, thời tiết.

- Chi tiết được kịch bản, đánh giá tác động biến đổi khí hậu tỉnh Bến Tre, xây dựng được bản đồ nguy cơ ảnh hưởng đến từng xã để lập nên cơ sở dữ liệu phục vụ cho hoạch định chính sách và hoạt động ứng phó; xây dựng được kế hoạch hành động một cách hệ thống, đồng bộ, xác định rõ trọng tâm, trọng điểm và phân kỳ thực hiện với bước đi thích hợp; quy hoạch kinh tế - xã hội, các quy hoạch ngành, các kế hoạch giai đoạn 2011 - 2015 cần được rà soát bổ sung các vấn đề thích ứng với biến đổi khí hậu và nước biển dâng.

- Xác định được giải pháp lâu dài trong cấp nước phục vụ sản xuất và sinh hoạt cho toàn tỉnh trong điều kiện nước biển dâng và xâm nhập mặn; thực hiện các dự án cấp nước sinh hoạt, có 95% dân cư đô thị sử dụng nước sạch, có 90% dân cư nông thôn sử dụng nước sinh hoạt hợp vệ sinh, trong đó 50% dân cư nông thôn sử dụng nước sạch.

- Thực hiện các chương trình, dự án củng cố nâng cấp hệ thống đê sông, đê biển, công trình ngăn lũ, ngăn mặn, hồ chứa nước ngọt; cơ bản kiểm soát được tình hình xâm nhập mặn, ngập lụt do nước biển dâng, đảm bảo chủ động tưới tiêu cho khoảng 80% diện tích canh tác.

- Mở rộng diện tích rừng ngập mặn, phòng hộ và đặc dụng ven biển, bãi bồi, nhằm mục tiêu bảo vệ môi trường ven biển, chống xói lở và đẩy mạnh quá trình bồi lắng ven bờ, đồng thời giảm dần diện tích nuôi tôm trong đất rừng. Diện tích rừng định hình trên 5.100ha (theo quy hoạch đất rừng 7.833ha ).

- Nghiên cứu, ứng dụng khoa học công nghệ: bảo tồn được giống cây trồng, vật nuôi bản địa; bình tuyển, lai tạo được 3 giống cây trồng, vật nuôi có năng suất cao chịu được khô hạn, xâm nhập mặn do tác động biến đổi khí hậu; nghiên cứu, ứng dụng 5 công nghệ xử lý nước quy mô hộ gia đình hoặc cụm dân cư phục vụ cho sinh hoạt trong điều kiện khan hiếm nước; xây dựng được 10 mô hình phục vụ cho vùng nhạy cảm bị tác động của biến đổi khí hậu.

- Có trên 60% trường học cơ bản lồng ghép được các kiến thức cơ bản biến đổi khí hậu vào giáo dục, giảng dạy.

- Thực hiện tốt công tác chăm sóc sức khoẻ cho nhân dân, có 100% xã đạt chuẩn quốc gia về y tế, 90% dân số có bảo hiểm y tế; tăng cường phòng chống các dịch bệnh do sự thay đổi thời tiết, thiên tai gây ra.

- Xây dựng nông thôn mới gắn liền với bảo vệ môi trường và ứng phó với biến đổi khí hậu; vận động người dân sử dụng tiết kiệm năng lượng, trồng cây xanh; xử lý chất thải sinh hoạt gia đình hợp vệ sinh; giảm phát thải khí hiệu ứng nhà kính; có 80% hộ gia đình có người hiểu biết về biến đổi khí hậu.

2. Đến năm 2020

- Các sở, ban ngành và Ủy ban nhân dân các huyện, thành phố đồng bộ triển khai có hiệu quả kế hoạch ứng phó với biến đổi khí hậu và nước biển dâng; tăng cường được dự báo thiên tai, rủi ro ảnh hưởng đến các hoạt động kinh tế - xã hội và đời sống của nhân dân.

- Các khu vực bị ảnh hưởng sớm và nặng nề của biến đổi khí hậu và nước biển dâng được bảo vệ hiệu quả và tiếp tục phát triển; chống sạt lở bờ sông, ven biển, nước biển dâng và xâm nhập mặn một cách hiệu quả; phát triển bền vững khu vực ven biển (3 huyện: Ba Tri, Bình Đại và Thạnh Phú) theo quy hoạch phù hợp; phát triển hệ thống canh tác nông nghiệp và xây dựng các công trình có tính đến tác động biến đổi khí hậu về lâu dài.

- Triển khai được các kế hoạch giảm nhẹ phát thải khí nhà kính phù hợp trên các lĩnh vực: năng lượng, rừng, nông nghiệp, chất thải; phát triển kinh tế theo hướng cacbon thấp; ứng dụng và triển khai một số công nghệ mũi nhọn cho thích ứng với biến đổi khí hậu.

IV. NHIỆM VỤ VÀ GIẢI PHÁP

Tập trung thực hiện 12 nhóm nhiệm vụ và giải pháp như sau:

1. Tăng cường công tác tuyên truyền, truyền thông, nâng cao năng lực và nhận thức của cộng đồng

- Xây dựng chương trình tập huấn cho các đối tượng trực tiếp tham gia công tác ứng phó với biến đổi khí hậu; chú trọng tới cán bộ quản lý, cán bộ lập kế hoạch, cán bộ chuyên trách, cán bộ cấp tỉnh, huyện, xã.

- Tăng cường vai trò của báo chí, các phương tiện thông tin đại chúng trong tuyên truyền, cung cấp thông tin. Tăng cường các biện pháp tuyên truyền, giáo dục, nâng cao nhận thức người dân, phấn đấu đến năm 2015 có 80% hộ gia đình có người hiểu biết cơ bản về biến đổi khí hậu; khuyến khích, khen thưởng các điển hình tốt.

- Xây dựng và thực hiện lồng ghép nội dung về ứng phó với biến đổi khí hậu vào chương trình giảng dạy trong trường học; đến năm 2015 có trên 60% trường học tổ chức các hình thức lồng ghép kiến thức cơ bản biến đổi khí hậu vào giảng dạy và các hoạt động sinh hoạt ngoại khoá, vẽ tranh, viết báo trường, các hội thi,…

2. Bổ sung và quản lý tổng hợp nguồn tài nguyên nước cho phát triển dân sinh, kinh tế bền vững của tỉnh

- Đầu tư hoàn chỉnh hệ thống thủy lợi ngọt hóa cống đập Ba Lai, hệ thống Cầu Sập, xây dựng hệ thống đê và các cống nhằm điều tiết lượng nước trên các con sông chảy qua tỉnh theo từng mùa và thiết lập hệ thống hồ chứa nước ngọt cung cấp cho sản xuất và sinh hoạt, ngăn chặn sự xâm nhập mặn; đảm bảo chủ động tưới tiêu cho khoảng 80% diện tích canh tác.

- Quy hoạch và quản lý nguồn nước ngầm và nước mặt; đồng thời bảo vệ môi trường nước, kiểm soát các nguồn thải xả vào môi trường nước, chủ động phòng, chống, giảm thiểu tác động tới tài nguyên nước.

- Xây dựng các công trình cấp nước, các thiết bị trữ nước cho các hộ dân; sử dụng nguồn nước khoa học, tiết kiệm và hợp lý; phấn đấu đến năm 2015 có 95% dân cư đô thị sử dụng nước sạch, có 90% dân cư nông thôn sử dụng nước sinh hoạt hợp vệ sinh, trong đó 50% dân cư nông thôn sử dụng nước sạch.

3. Thích ứng và giảm nhẹ hậu quả sự nóng lên toàn cầu và mực nước biển dâng tác động đối với hệ sinh thái trên biển và dải ven bờ

Đối với dải ven bờ

- Kết hợp 3 phương án chiến lược ứng phó với nước biển dâng: bảo vệ đầy đủ, thích nghi và rút lui (né tránh) tùy đặc điểm cụ thể của từng khu vực.

- Quản lý tổng hợp vùng ven biển, bảo vệ hệ sinh thái rừng ngập mặn và vùng đất ngập nước ven biển, sử dụng bền vững tài nguyên thiên nhiên.

- Xây dựng tuyến đê biển kiên cố có tính đến độ cao mực nước biển dâng ở những nơi cần thiết; đến năm 2015 hoàn thành và nâng cấp được hệ thống đê biển và đê vùng cửa sông; xác định các vùng đất cấm xây dựng trên dải ven biển, khu vực sạt lở ven sông; xây dựng hệ thống phòng tránh, trú bão, sóng và nước dâng.

- Đến năm 2020 phát triển bền vững khu vực ven biển (3 huyện: Ba Tri, Thạnh Phú và Bình Đại) theo quy hoạch phù hợp; cơ bản ứng phó được tình hình sạt lở bờ sông, ven biển và nước biển dâng.

Đối với vùng biển

Tổ chức quản lý những thay đổi của hệ sinh thái biển; mở rộng nghề nuôi trồng thuỷ sản; nghiên cứu đổi mới và quản lý tổng hợp nghề cá giữa đại dương và ven bờ; đầu tư cho một hệ thống cảnh báo và dự báo thời tiết, khí hậu và hải dương chuyên phục vụ các hoạt động trên biển.

4. Bảo đảm quy hoạch sử dụng đất đáp ứng chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, an ninh quốc phòng và thích ứng với biến đổi khí hậu trên địa bàn tỉnh

- Nghiên cứu điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất có lồng ghép các yếu tố biến đổi khí hậu cho các đô thị, khu vực dân cư, đặc biệt những nơi có nguy cơ bị ảnh hưởng của lũ lụt, sạt lở đất và nước biển dâng.

- Bố trí tối ưu nhu cầu sử dụng đất cho các dự án, công trình đã được ghi trong quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội và quy hoạch các ngành, lĩnh vực, đặc biệt là các công trình thuỷ lợi phục vụ mở rộng đất nông nghiệp và đầu tư thâm canh tăng vụ, tăng năng suất, chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi.

- Xây dựng các chương trình, dự án trọng điểm, nhất là các giải pháp ngăn chặn suy thoái đất, ô nhiễm môi trường, khai thác và sử dụng hợp lý tài nguyên đất theo hướng phát triển bền vững.

5. Mở rộng diện tích và nâng cao chất lượng rừng, tăng cường trồng cây phân tán, bảo vệ hệ sinh thái rừng ngập mặn

- Tăng cường công tác trồng rừng, nhất là vùng ven biển, phấn đấu đến năm 2012 diện tích rừng định hình trên 5.100 ha (theo quy hoạch đất rừng 7.833 ha ).

- Quản lý và bảo vệ hệ sinh thái rừng ngập mặn ở vùng đất ngập nước, giảm thiểu tình trạng suy kiệt rừng tự nhiên; gắn với các chính sách xã hội như: giao đất, giao rừng, xoá nghèo, khuyến khích và tạo điều kiện để người dân ở khu vực ven biển làm nghề rừng sống được và làm giàu.

- Tăng cường trồng cây phân tán, cây xanh đô thị; xây dựng vùng cung cấp giống lâm nghiệp.

6. Phát triển thuỷ sản thích ứng với biến đổi khí hậu và nước biển dâng

- Phát triển những giống, loài thuỷ sản có khả năng thích ứng với môi trường; du nhập và phát triển giống thuỷ hải sản có giá trị cao, phải được chọn lọc, thích nghi với nhiệt độ cao và xâm nhập mặn, gia tăng độ sâu của ao hồ để tạo nhiệt độ thích hợp và giảm tổn hại do quá trình tăng nhiệt độ và bốc hơi nhanh của mặt nước.

- Phát triển mô hình nhân giống thuỷ sản và nuôi cá thương phẩm; thiết lập các khu bảo tồn sinh thái tự nhiên; tăng cường nghiên cứu dự báo sự di chuyển của đàn cá, những thay đổi của ngư trường.

- Chuyển đổi cơ cấu canh tác ở một số vùng ngập nước từ thuần lúa sang luân canh nuôi thuỷ sản; phát triển nuôi cá nước ngọt trong các đập, hồ, ao theo mô hình nông - lâm - ngư kết hợp.

7. Phát triển nền nông nghiệp bền vững

- Quy hoạch thời vụ, sử dụng đất nông nghiệp, duy trì diện tích đất canh tác hợp lý và bền vững; tạo điều kiện thuận lợi và đảm bảo phát triển sinh kế nông thôn.

- Chuyển dịch cơ cấu cây trồng, vật nuôi thích ứng với biến đổi khí hậu: theo hướng giảm diện tích trồng lúa, tăng diện tích trồng dừa và bảo đảm ổn định diện tích trồng cây ăn trái.

- Tăng cường khả năng tiêu thoát nước mưa ở các vùng đất thấp; ứng dụng khoa học công nghệ tưới tiết kiệm nước, kỹ thuật canh tác nông nghiệp tăng sản lượng và giảm nhẹ khí nhà kính (khí methane).

- Tăng cường, hoàn thiện hệ thống kiểm soát, phòng chống sâu bệnh cây trồng và dịch bệnh động vật.

8. Nghiên cứu và áp dụng khoa học - công nghệ

- Tăng cường nghiên cứu, ứng dụng khoa học - công nghệ thích ứng và giảm nhẹ tác động của biến đổi khí hậu. Nghiên cứu các công nghệ sản xuất tiết kiệm năng lượng, ít phát thải khí gây hiệu ứng nhà kính; ưu tiên nghiên cứu sử dụng các nguồn năng lượng vô tận, tái tạo.

- Nghiên cứu xây dựng các mô hình canh tác, tạo các giống vật nuôi, cây trồng thích ứng với điều kiện biến đổi khí hậu; gìn giữ các giống vật nuôi, cây trồng trong điều kiện khí hậu thay đổi và nước biển dâng.

9. Bảo đảm nguồn năng lượng cho phát triển, sử dụng năng lượng hợp lý, hiệu quả và hạn chế phát thải khí nhà kính

- Nâng cao hiệu quả sử dụng và bảo tồn năng lượng; khai thác, sử dụng các nguồn năng lượng mới, năng lượng tái tạo, như điện gió, điện mặt trời; tiết kiệm năng lượng trong sinh hoạt, trong giao thông vận tải, trong sản xuất và chiếu sáng công cộng.

- Hạn chế và chấm dứt hoạt động của các cơ sở sản xuất có lượng phát thải khí hiệu ứng nhà kính cao, gây ô nhiễm môi trường; áp dụng công nghệ mới, công nghệ sản xuất sạch hơn để giảm phát thải.

10. Tăng cường và mở rộng hệ thống dịch vụ chăm sóc sức khoẻ cộng đồng

Tăng cường hệ thống chăm sóc sức khoẻ từ cấp tỉnh đến cấp xã; giáo dục nâng cao nhận thức cộng đồng về những tổn hại đến sức khoẻ do tác động của biến đổi khí hậu và biện pháp phòng tránh; tăng cường công tác theo dõi và giám sát dịch bệnh phát sinh do khí hậu, thời tiết thay đổi cực đoan; các giải pháp can thiệp y tế khi cần thiết ở những nơi có điều kiện. Phấn đấu đến năm 2015 thực hiện tốt công tác chăm sóc sức khoẻ cho nhân dân, có 100% xã đạt chuẩn quốc gia về y tế, 90% dân số có bảo hiểm y tế

11. Tăng cường hợp tác quốc tế, khu vực

Hợp tác quốc tế nhằm tranh thủ tài trợ kinh phí và hỗ trợ khoa học kỹ thuật tiến bộ thực hiện ứng phó với biến đổi khí hậu và nước biển dâng. Tăng cường hợp tác khu vực Đồng bằng sông Cửu Long và tham gia tích cực vào Ủy ban sông Mêkông góp phần thực hiện tốt ứng phó với biến đổi khí hậu của vùng. Đồng thời, tăng cường hợp tác trong cảnh báo thiên tai, tìm kiếm cứu nạn trong khu vực.

12. Giải pháp tài chính

- Sử dụng hiệu quả nguồn vốn ngân sách Nhà nước (ngân sách Trung ương và địa phương) trong ứng phó với biến đổi khí hậu và nước biển dâng; đảm bảo cho việc đầu tư các dự án cấp bách và khắc phục tác động của biến đổi khí hậu, nước biển dâng. Tăng cường thu hút nguồn vốn tài trợ nước ngoài; ưu tiên sử dụng các nguồn vốn ODA không hoàn lại trong việc nâng cao năng lực, chuyển giao tri thức khoa học, công nghệ và kinh nghiệm quản lý.

- Khuyến khích các tổ chức, cá nhân, doanh nghiệp trong tỉnh, trong và ngoài nước tham gia cung cấp tài chính cho ứng phó với biến đổi khí hậu. Chú trọng lồng ghép các vấn đề biến đổi khí hậu vào các quy hoạch, kế hoạch, dự án đầu tư, phát triển thành phần kinh tế để gia tăng nguồn đầu tư vào ứng phó với biến đổi khí hậu.

V. TỔ CHỨC THỰC HIỆN

Tăng cường năng lực về tổ chức bộ máy, nhân lực cấp tỉnh, huyện; chuyên môn hoá đội ngũ cán bộ làm công tác ứng phó với biến đổi khí hậu, nâng cấp cơ sở hạ tầng làm việc, đầu tư trang thiết bị, công nghệ đảm bảo điều kiện làm việc cho các đơn vị chỉ đạo, quản lý, thực hiện các biện pháp ứng phó với biến đổi khí hậu và nước biển dâng.

- Đối với cấp tỉnh: trong năm 2012 kiện toàn Ban Chỉ đạo và cơ quan chuyên môn (Văn phòng Chương trình).

- Đối với cấp huyện (huyện, thành phố): phải tổ chức thành lập Ban Chỉ đạo, Phòng Tài nguyên và Môi trường là cơ quan thường trực giúp việc cho Ban Chỉ đạo cấp huyện.

1. Văn phòng Chương trình

Là cơ quan chuyên môn cấp tỉnh tham mưu cho Ủy ban nhân dân tỉnh, Ban Chỉ đạo thực hiện về ứng phó với biến đổi khí hậu và nước biển dâng, với các nhiệm vụ sau:

- Căn cứ nội dung đề án được phê duyệt, xây dựng và trình Ủy ban nhân dân tỉnh các dự án, kế hoạch thực hiện ứng phó với biến đổi khí hậu trên địa bàn tỉnh, tổ chức thực hiện sau khi được phê duyệt.

- Làm đầu mối liên hệ công tác giữa Ban Chỉ đạo Chương trình với các sở, ban ngành tỉnh và Ủy ban nhân dân các huyện, thành phố trong việc thực hiện và phối hợp thực hiện ứng phó với biến đổi khí hậu và nước biển dâng.

- Tổ chức các hoạt động phục vụ công tác chỉ đạo, điều hành của Ủy ban nhân dân tỉnh và Ban Chỉ đạo.

- Thực hiện công tác tổng hợp, báo cáo định kỳ, đột xuất kết quả thực hiện dự án, kế hoạch và đề xuất hướng giải quyết những vấn đề mới phát sinh.

- Quản lý và đề xuất phân bổ kinh phí thực hiện các dự án, kế hoạch về biến đổi khí hậu.

- Thực hiện các nhiệm vụ khác do Ủy ban nhân dân tỉnh và Ban Chỉ đạo giao.

2. Sở Tài nguyên và Môi trường

- Thực hiện chức năng quản lý nhà nước được phân công; tham mưu Ủy ban nhân dân tỉnh chỉ đạo các sở, ngành và huyện, thành phố thực hiện tốt kế hoạch ứng phó với biến đổi khí hậu và nước biển dâng.

- Hiện đại hoá về đo đạc môi trường, khí tượng thuỷ văn, từng bước xây dựng hệ thống giám sát môi trường; tăng cường công tác bảo vệ môi trường nhằm giảm phát thải khí gây hiệu ứng nhà kính, bảo vệ đa dạng sinh học và các khu bảo tồn; đề xuất và thực hiện các giải pháp bảo vệ tài nguyên nước, bảo vệ môi trường biển trong điều kiện biến đổi khí hậu và nước biển dâng.

- Lồng ghép biến đổi khí hậu vào quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch khai thác tài nguyên nước và các lĩnh vực công tác của ngành.

- Quản lý các cơ sở dữ liệu, thông tin và truyền thông liên quan đến biến đổi khí hậu và môi trường.

3. Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn

- Căn cứ nội dung đề án được phê duyệt, xây dựng và thực hiện kế hoạch ứng phó với biến đổi khí hậu và nước biển dâng trong lĩnh vực của ngành trên địa bàn tỉnh.

- Lồng ghép thích ứng và giảm nhẹ tác động của biến đổi khí hậu và nước biển dâng vào hoạt động sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp nuôi trồng thủy sản.

4. Sở Kế hoạch và Đầu tư

- Đề xuất các chủ trương, giải pháp thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia ứng phó với biến đổi khí hậu vào các chương trình, chiến lược, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh.

- Hướng dẫn các sở, ngành và Ủy ban nhân dân huyện, thành phố tích hợp yếu tố biến đổi khí hậu vào các quy hoạch và kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội.

- Tổng hợp kế hoạch vốn đối ứng của tỉnh, kế hoạch thu hút tài trợ kinh phí; phân bổ chỉ tiêu kinh phí hợp lý thực hiện chương trình, dự án về ứng phó với biến đổi khí hậu hàng năm của tỉnh.

5. Sở Khoa học và Công nghệ: Căn cứ nội dung Đề án, xây dựng chương trình nghiên cứu khoa học và ứng dụng cho thích ứng và giảm nhẹ tác động của biến đổi khí hậu và nước biển dâng áp dụng trên địa bàn tỉnh.

6. Sở Giáo dục và Đào tạo: Xây dựng chương trình lồng ghép các kiến thức cơ bản về biến đổi khí hậu đưa vào giáo dục, giảng dạy.

7. Sở Y tế: Tăng cường công tác y tế; nâng cấp, cải tạo, xây dựng mới cơ sở hạ tầng, nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ y tế các huyện, xã phục vụ chăm sóc sức khoẻ cộng đồng; tăng cường phòng chống các dịch bệnh do sự thay đổi thời tiết, thiên tai gây ra.

8. Sở Tài chính

- Kịp thời cấp phát dự toán và hướng dẫn thanh quyết toán theo đúng định mức và chế độ kế toán hiện hành đối với các cơ quan, đơn vị có sử dụng kinh phí ứng phó với biến đổi khí hậu.

- Cân đối ngân sách địa phương, bố trí vốn đối ứng theo đúng tỷ lệ quy định. Đồng thời phối hợp với ngành có liên quan xây dựng kế hoạch thu hút nguồn vốn tài trợ quốc tế, các thành phần kinh tế tư nhân tham gia thực hiện Đề án.

9. Các sở, ngành tỉnh khác

- Căn cứ nội dung đề án được phê duyệt, chịu trách nhiệm xây dựng và thực hiện kế hoạch ứng phó với biến đổi khí hậu và nước biển dâng cho ngành, lĩnh vực mình.

- Thực hiện các nhiệm vụ được giao và chủ động tham gia các hoạt động phối hợp chung theo sự chỉ đạo của Ủy ban nhân dân tỉnh và Ban Chỉ đạo.

10. Ủy ban nhân dân huyện, thành phố

- Hoàn thiện cơ chế, tổ chức ứng phó với biến đổi khí hậu cấp huyện (huyện, thành phố).

- Phải chủ động xây dựng và thực hiện kế hoạch ứng phó cấp huyện và phải đồng bộ với kế hoạch cấp tỉnh; tổ chức thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ được Ủy ban nhân dân tỉnh giao./.


TM. ỦY BAN NHÂN DÂN

KT. CHỦ TỊCH

PHÓ CHỦ TỊCH


Đã ký

Cao Văn Trọng


5/ Đề án Ứng dụng hệ thống thông tin địa lý (GIS) để quản lý cơ sở hạ tầng KT-XH tỉnh Khánh Hoà

I. GIỚI THIỆU ĐỀ ÁN

1. Tên đề án:

Ứng dụng hệ thống thông tin địa lý (GIS) để quản lý cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội tỉnh Khánh Hoà.

2. Mục tiêu

Tăng cường năng lực của các đơn vị trên địa bàn Tỉnh Khánh Hoà trong việc ứng dụng hệ thống thông tin địa lý (GIS) hiệu quả và đồng bộ để tạo ra giải pháp quản lý hiện đại hỗ trợ công tác quy hoạch, điều hành và phát triển cơ sở hạ tầng kinh tế-xã hội trên địa bàn của tỉnh.

3. Các căn cứ pháp lý

- Chỉ thị số 58-CT/TW ngày 17/10/2000 của Bộ Chính trị (khóa VIII) về đẩy mạnh ứng dụng và phát triển công nghệ thông tin phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa;

- Nghị định số 64/2007/NĐ-CP ngày 10/4/2007 của Chính phủ về ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động của cơ quan nhà nước;

- Quyết định số 1605/QĐ-TTg ngày 27/8/2010 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình quốc gia về ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động của cơ quan nhà nước giai đoạn 2011 - 2015;

- Quyết định số 1755/QĐ-TTg ngày 22/9/2010 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án “Đưa Việt Nam sớm trở thành nước mạnh về công nghệ thông tin và truyền thông”;

- Kế hoạch số 1040/KH-UBND ngày 10/3/2011 của Ủy ban nhân dân tỉnh Khánh Hòa về ứng dụng công nghệ thông tin trong cơ quan nhà nước tỉnh Khánh Hòa giai đoạn 2011 - 2015;

- Kế hoạch số 3262/KH-UBND ngày 29/6/2011 của Ủy ban nhân dân tỉnh Khánh Hòa Triển khai thực hiện Đề án “Đưa Việt Nam sớm trở thành nước mạnh về công nghệ thông tin và truyền thông” tại tỉnh Khánh Hòa giai đoạn 2011 – 2015;

- Công văn số 234/UBND-VX ngày 16/01/2012 của Ủy ban nhân dân tỉnh Khánh Hoà về việc “Đầu tư ứng dụng Hệ thống thông tin địa lý (GIS) để quản lý CSDL hạ tầng thoát nước trên địa bàn thành phố Nha Trang”.

4. Thời gian thực hiện đề án

5 năm (2012 – 2017) được phân kỳ theo 3 giai đoạn.

5. Địa điểm thực hiện đầu tư

Trên địa bàn tỉnh Khánh Hòa.

6. Chủ đầu tư

Sở Thông Tin và Truyền thông tỉnh Khánh Hòa.

7. Cơ quan chủ quản đầu tư

Ủy ban nhân dân tỉnh Khánh Hòa.

II. SỰ CẦN THIẾT ĐẦU TƯ

1. Định hướng đầu tư

1.1. Định hướng lâu dài

Xây dựng hệ thống thông tin hiện đại để phục vụ quản lý, điều hành và phát triển cơ sở hạ tầng kinh tế xã hội tỉnh Khánh Hòa dựa trên công nghệ hệ thống thông tin địa lý (GIS).

Mỗi ngành, lĩnh vực hoạt động sẽ là một phân hệ tham gia vào hệ thống thông tin kinh tế - xã hội của tỉnh, có khả năng trao đổi, chia sẻ thông tin với nhau một cách đồng bộ và hiệu quả. Dữ liệu cơ bản về cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội của tỉnh sẽ được phân cấp xây dựng và cập nhật theo chuẩn thống nhất. Thông tin về cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội của tỉnh Khánh Hoà được tập trung và tích hợp nhằm mục đích phục vụ công tác quản lý nhà nước; phổ biến cho các nhà đầu tư, cũng như phổ cập khai thác dữ liệu GIS cho cộng đồng.

1.2. Định hướng phát triển của đề án

Đề án “Ứng dụng hệ thống thông tin địa lý (GIS) để quản lý cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội tỉnh Khánh Hoà” là hoạt động ứng dụng công nghệ thông tin (CNTT), nhằm tạo ra một hệ thống thông tin (gồm nhiều phân hệ) được khai thác sử dụng rộng rãi, duy trì phát triển liên tục, gắn kết và đồng bộ với các ứng dụng CNTT khác đang triển khai trên địa bàn tỉnh Khánh Hòa.

Để đảm bảo tính khả thi và hiệu quả đầu tư, Đề án được chia thành 3 giai đoạn thực hiện.

  1. Giai đoạn 1 (2012 - 2014):

Tập trung chủ yếu đầu tư xây dựng cơ sở dữ liệu (CSDL) nền và CSDL dùng chung cho toàn tỉnh. Đối với dữ liệu chuyên ngành, lĩnh vực phục vụ tác nghiệp của các đơn vị, Đề án sẽ hỗ trợ công nghệ và giải pháp thống nhất để phát triển các phân hệ này trong hệ thống (do các Sở, ban, ngành,... làm chủ đầu tư).

Giai đoạn này cần ưu tiên cho đào tạo nguồn nhân lực và chuyển giao công nghệ, vì đây là yếu tố then chốt cho việc ứng dụng GIS thành công cho các giai đoạn tiếo theo. Ở đây, việc đầu tư trang thiết bị chỉ gới hạn ở mức đủ để vận hành và có tính đến khả năng kết hợp đến các ứng dụng CNTT khác có liên quan.

Nhu cầu quản lý cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội ứng dụng công nghệ GIS đòi hỏi xây dựng các loại dữ liệu nền, dữ liệu dung chung và dữ liệu chuyên đề như sau:

- CSDL nền: thể hiện các thông tin về cơ sở toán học bản đồ và các thực thể địa lý cơ bản (dân cư, ranh giới, địa hình, thủy hệ, giao thông, thực phủ,…) nhằm cung cấp các loại bản đồ nền địa hình (theo các loại tỷ lệ và được chuẩn hoá cùng hệ toạ độ tham chiếu theo quy định hiện hành của Nhà nước) để làm nền tảng và định hướng cho tất cả các Sở, ban, ngành,... sử dụng để phát triển CSDL GIS tác nghiệp của từng chuyên ngành, lĩnh vực.

- CSDL dùng chung: bao gồm một số lớp thông tin chuyên đề của một ngành hoặc lĩnh vực có liên quan cần thiết đến nhiều ngành, lĩnh vực khác và ngược lại. Đây là các lớp thông tin có tính dùng chung cao, có nhu cầu trao đổi giữa nhiều cơ quan chuyên môn như: CSDL của bản đồ địa chính, thông tin hiện trạng sử dụng đất, thông tin quy hoạch,… Nguồn CSDL này cung cấp các loại bản đồ dùng chung và từ điển dữ liệu (Metadata) theo chuẩn công nghệ thống nhất để có thể tích hợp với CSDL GIS của các Sở, ban, ngành, địa phương,… hỗ trợ quá trình ra quyết định trong quản lý.

- CSDL chuyên đề (dùng riêng): thể hiện các thông tin đặc thù của từng chuyên ngành hoặc lĩnh vực cần được quản lý, được sử dụng trong tác nghiệp của các đơn vị. Đề án chỉ hỗ trợ công nghệ và giải pháp thống nhất để các Chủ đầu tư chủ động phát triển các phân hệ CSDL của mình (là các Sở, ban, ngành,…). CSDL GIS bao gồm các chuyên đề sau:

    • Quản lý mạng Bưu chính - viễn thông.

    • Quản lý mạng lưới cung cấp điện.

    • Quản lý mạng cấp, thoát nước.

    • Quản lý hệ thống giao thông.

    • Quản lý công nghiệp.

    • Quản lý nông nghiệp.

    • Quản lý xây dựng.

    • Quản lý thương mại - dịch vụ.

    • Quản lý y tế.

    • Quản lý văn hóa.

    • Quản lý giáo dục.

    • Quản lý tài nguyên và môi trường.

    • Quản lý cây xanh,…

Mỗi phân hệ sẽ phát triển các phần mềm ứng dụng chuyên ngành nhằm đáp ứng các quy trình tác nghiệp hiện tại của từng phân hệ trong quản lý chuyên ngành dựa trên thiết kế CSDL nền và CSDL chuyên đề dung chung. Trong quá trình vận hành (theo định kỳ) sẽ cập nhật bản sao dữ liệu chuyên đề mới nhất vào CSDL kinh tế - xã hội tập trung. CSDL này sẽ được chia sẻ cho tất cả các phân hệ tùy theo mức độ bảo mật và phân cấp nhu cầu sử dụng của từng ngành, lĩnh vực (quy định bởi Quy chế hoạt động chung của hệ thống).

Ngoài ra, để khai thác và sử dụng hiệu quả dữ liệu cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội, Đề án thực hiện xây dựng mô hình phát triển chung với các phần mềm ứng dụng trong quản lý cấp vĩ mô trên phạm vi toàn tỉnh. Phần mềm cho phép phân tích tổng hợp các thông tin số liệu kinh tế xã hội theo từng chỉ tiêu và hiển thị tích hợp trên nền ảnh vệ tinh có độ phân giải siêu cao (0,5m ảnh Geoeye, 061m ảnh Quicbird, 1m ảnh Ikonos, 2,5m ảnh Spot,...). Các đối tượng sử dụng có thể truy cập trực tiếp dữ liệu cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội thông qua mạng Internet theo cơ chế cập nhật và chia sẻ thông tin GIS theo quy định của Quy chế khai thác sử dụng hệ thống.

  1. Giai đoạn 2 (2015 - 2016):

Sau khi CSDL nền và CSDL dùng chung cho toàn tỉnh hoàn tất; xây dựng cơ bản nguồn nhân lực đáp ứng các yêu cầu về quản lý, sử dụng hệ thống. Đề án đầu tư nâng cấp, mở rộng các phân hệ đã có, phát triển các phân hệ mới trong hệ thống nhằm đáp ứng nhu cầu khai thác dữ liệu về cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội và của tỉnh.

Giai đoạn này tập trung xây dựng hoàn thiện hạ tầng dữ liệu không gian (Spatial Data Infrastructure - SDI) của tỉnh Khánh Hòa bao gồm: công nghệ (technology), chính sách (policies), chuẩn (standards), nguồn nhân lực (human resources), qui trình (procedures),… nhằm nâng cao tính hữu dụng của dữ liệu (nền, dùng chung và chuyên ngành) trong việc cung cấp và chia sẻ dữ liệu giữa các cơ quan, đơn vị.

Hạ tầng dữ liệu không gian được phát triển mục đích là đảm bảo tính thống nhất và hiệu quả trong xây dựng và cập nhật dữ liệu; tận dụng tối đa nguồn nhân lực và hạ tầng CNTT hiện có, không cản trở tính sáng tạo và chủ động của các cơ quan, đơn vị cũng như đảm bảo tránh mâu thuẩn hay trùng lắp công việc trong hệ thống đã được phân cấp quản lý của tỉnh.

Với nguồn cơ sở hạ tầng CNTT dùng chung của tỉnh đã được nâng cấp, mở rộng như: Trung tâm dữ liệu tỉnh, hệ thống mạng diện rộng của tỉnh, mạng truyền số liệu chuyên dùng,… cùng với các chính sách, giải pháp về đường truyền, về an toàn, an ninh thông tin,… việc triển khai Đề án ở giai đoạn này dự kiến hoàn thành mục tiêu đề ra, sản phẩm của Đề án được triển khai sử dụng đạt hiệu quả cao.

  1. Giai đoạn 3 (từ năm 2017):

Tiếp tục phát triển và hoàn thiện toàn bộ hệ thống GIS phục vụ công tác quản lý nhà nước về cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội cho toàn tỉnh. Đề án sẽ hỗ trợ các phân hệ hoàn thiện đầu tư nâng cấp, mở rộng để đồng bộ hóa nhu cầu khai thác dữ liệu GIS phục vụ cộng đồng dựa trên cơ sở hạ tầng dữ liệu không gian (SDI) của tỉnh Khánh Hòa.

Giai đoạn này tập trung xây dựng các ứng dụng GIS, các ứng dụng tích hợp để phục cụ công tác quản lý và điều hành, đặc biệt là công tác quản lý các hoạt động có liên quan trực tiếp đến người dân và doanh nghiệp như: đầu tư, sản xuất kinh doanh, an sinh xã hội, phòng chống thiên tai, dịch bệnh, nông nghiệp, nông thôn, an ninh, quốc phòng,…

Bước thực hiện tiếp theo của Giai đoạn này là xây dựng các ứng dụng đồng bộ dữ liệu từ các hệ thống thông tin khác nhau, đặc biệt là các ứng dụng dùng chung đã triển khai nhằm thiết lập một hệ thống dữ liệu tổng thế cung cấp nguồn chính thống về tất cả các hoạt động của địa phương.

Ngoài ra, để đảm bảo hệ thống GIS hoạt động ổng định, lâu dài cần thiết xây dựng và ban hành các quy trình, quy chế quản ly hoạt động của hệ thống nhằm khai thác sử dụng triệt để các sản phẩm của Đề án, tăng cường hiệu quả kinh tế đầu tư.

2. Tổng quan về hiện trạng ứng dụng GIS

2.1. Tình hình ứng dụng GIS trong nước:

Tại Việt Nam, công nghệ GIS được thí điểm khá sớm và được sử dụng phổ biến để quán lý nhiều lĩnh vực. Từ năm 1995, Bộ Khoa học và Công nghệ đã thành lập dự án Hệ thống thông tin địa lý phục vụ quản lý tài nguyên thiên nhiên và giám sát môi trường, tạo điều kiện cho nhiều cơ quan trong cả nước tiếp cận với công nghệ thông tin địa lý (GIS). Năm 1996, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 362/TTg và 363/TTg ngày 30/05/1996 xác định phương hướng, mục tiêu và nhiệm vụ hoạt động khoa học công nghệ từ năm 1996 – 2000, trong đó có nhiệm vụ: Triển khai các hệ thống thông tin phục vụ cho quản lý điều hành Nhà nước và hệ thống thông tin địa lý (GIS) phục vụ quản lý Nhà nước. Từ đó, hàng năm công nghệ GIS đều được Bộ Khoa học và Công nghệ xác định là một trong những nội dung nghiên cứu ứng dụng phục vụ nghiên cứu chuyên ngành và hiện đại hóa quản lý nhà nước.

Để tránh đầu tư trùng lặp gây lãng phí và đặc biệt phát sinh tình trạng không thống nhất từ hệ thống bản đồ nền, các chuẩn dữ liệu,... hiện nay, ứng dụng GIS để quản lý cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội đã được một số tỉnh, thành phố xây dựng và triển khai như: Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, Đồng Nai,... Và bước đầu mang đã lại hiệu quả đầu tư cao, nguồn thông tin dữ liệu được quản lý thống nhất, chặt chẽ, không chồng chéo và được cung cấp rộng rộng đền mọi đối tượng.

Một số dự án GIS đã và đang triển khai:

  • Dự án Hệ thống thông tin địa lý quản lý môi trường tỉnh Đồng Nai (DONAGIS) năm 1999 – 2000.

  • Dự án Hệ thống thông tin đất đai tỉnh Bến Tre (BLIS) năm 2004 – 2005.

  • Dự án Xây dựng hệ thống thông tin địa lý Huế (GIS Huế) ứng dụng tại Ủy ban nhân dân Tỉnh (tổng dự án 22 tỷ đồng).

  • Hệ thống tích hợp thông tin địa lý TP.Đà Lạt, năm 2002 – 2004 .

  • Dự án Xây dựng hệ thống thông tin địa lý TP.HCM (HCMGIS).

  • Dự án Xây dựng CSDL quản lý hệ thống viễn thông TP.HCM.

  • Dự án Hệ thống thông tin quản lý mạng cung cấp điện TP.HCM.

  • Dự án Xây dựng CSDL cấp nước TP.HCM

  • Dự án Ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý nhà đất TP.HCM,...

2.2. Tình hình ứng dụng GIS tại Khánh Hòa

Được sự quan tâm của UBND tỉnh, hiện nay một số ứng dụng quản lý chuyên ngành theo công nghệ GIS đang được đầu tư và bước đầu mang lại hiệu quả sử dụng rất lớn.

Một số đề tài nghiên cứu khoa học và dự án ứng dụng GIS đã, đang và dự kiến triển khai trên địa bàn tỉnh Khánh Hòa như sau:

  • Dự án hoàn thiện và hiện đại hóa hệ thống quản lý đất đai Việt Nam (VLAP) trên địa bàn tỉnh Khánh Hòa.

  • Dự án ứng dụng hệ thống GIS để quản lý quy hoạch và phát triển khu kinh tế Vân Phong tỉnh Khánh Hòa.

  • Ứng dụng hệ thống thông tin địa lý (GIS) để quản lý hạ tầng bưu chính, viễn thông trên địa bàn tỉnh Khánh Hòa (đang triển khai).

  • Đầu tư ứng dụng hệ thống thông tin địa lý (GIS) để quản lý CSDL hạ tầng thoát nước trên địa bàn TP. Nha Trang (đang đề xuất).

Tuy nhiên, với mức độ nhỏ lẻ và rời rạc các ứng dụng này không đảm bảo cho việc phát triển tổng thể một hệ thống GIS dùng chung để quản lý cơ sở dữ liệu về hạ tầng kinh tế - xã hội của tỉnh. Các yêu cầu về nguồn nhân lực, giải pháp công nghệ, mô hình kiến trúc, tiêu chuẩn kỹ thuật, phương pháp tính toán,…. vẫn chưa đáp ứng một cách đầy đủ và thống nhất. Đánh giá chung về hiện trạng ứng dụng GIS của tỉnh hiện nay như sau:

* Về mặt hạn chế:

  • Hiện trạng và nhu cầu phát triển các phân hệ cơ sở dữ liệu quản lý hạ tầng kinh tế - xã hội của tỉnh chưa mang tính toàn diện, tổng thể. Việc xây dựng dữ liệu nền và dùng chung bị trùng lắp, dữ liệu chuyên đề không theo chuẩn thống nhất nên khó trong liên kết trao đổi với các đơn vị khác. Dữ liệu bản đồ thường không đầy đủ và lạc hậu, số liệu thống kê còn quản lý phân tán rất khó khăn trong điều tra và thu thập.

  • Đa số bản đồ đang sử dụng tại nhiều đơn vị đều xuất phát từ dạng giấy, bản vẽ AutoCAD,… được số hóa nhưng theo khuôn dạng của các phần mềm GIS khác nhau (MapInfo, Microstation, Arcview,…), không có từ điển dữ liệu (metadata) xác định rõ các tiêu chí để phân loại, đánh giá và khai thác như: đơn vị và thời gian thành lập, tên gọi, mã số, ký hiệu,... là những hạn chế nổi bật của các ứng dụng GIS hiện nay. Ngoài ra, nhiều dữ liệu dạng AutoCAD nhưng không có thông tin hệ toạ độ, nên tốn thời gian tiến hành xử lý, nắn chỉnh để đưa về phần mềm GIS. Dữ liệu của các ngành hiện nay đa số được lưu trữ trên giấy hoặc các tập tin rời rạc trên máy ở dạng các tập tin *.xls (MS Excel), *.mdb (MS Access),… *.dxf (AutoCAD), *.dgn (MicroStation) nên việc truy vấn, tìm kiếm thông tin còn gặp nhiều khó khăn và mất nhiều thời gian.

  • Quy trình cập nhật dữ liệu chưa có các quy chế bắt buộc phải tuân theo, dẫn đến có những ứng dụng sau khi nghiệm thu và bàn giao bị lạc hậu rất nhanh. Việc đào tạo và sử dụng nguồn nhân lực phục vụ vận hành, khai thác các hệ thống đã được đầu tư còn nhiều hạn chế, chưa đạt hiệu quả cao nhất.

  • Hiện nay hai nguồn dữ liệu bản đồ số quan trọng là bản đồ địa hình và bản đồ địa chính của Sở Tài nguyên và Môi trường được lưu trữ theo định dạng *.dgn. Đây sẽ là nguồn dữ liệu nền cung cấp cho hệ thống thông tin kinh tế xã hội của tỉnh. Một số nguồn dữ liệu chuyên đề như giao thông, điện lực, viễn thông được xây dựng cơ bản bằng phần mềm MapInfo tuy nhiên dữ liệu đã có nhiều biến đổi so với thực trạng hệ thống cần phải được chuẩn hóa và cập nhật.

* Về mặt thuận lợi cho nhu cầu phát triển ứng dụng hệ thống thông tin địa lý (GIS) để quản lý cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội của tỉnh trong giai đoạn tới:

  • Trên địa bàn tỉnh Khánh Hòa hiện cũng có nhiều số liệu dạng số đang được lưu trữ dưới khuôn dạng các phần mềm quốc tế theo chuẩn công nghệ như MapInfo, MicroStation, Access, Oracle, MS SQL là điều kiện thuận lợi khi đưa vào hệ thống chung. Các phần mềm GIS được một vài đơn vị áp dụng quản lý như tài nguyên môi trường, viễn thông, điện lực,… như là MapInfo, ArcView 3.x, ArcGIS,… tuy chỉ đạt mức độ đáp ứng cho mô hình một người sử dụng trên máy đơn nhưng điều này không ảnh hưởng lớn tới việc chuyển đổi mô hình nhiều người sử dụng trên hệ thống mạng.

  • Bước đầu xây dựng nguồn nhân lực có kiến thức cơ bản về phát triển các ứng dụng hệ thống thông tin địa lý (GIS). Kết hợp với đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức có kiến thức nghiệp vụ và thao tác thường xuyên trên máy tính là điều kiện quan trọng trong việc xây dựng nguồn nhân lực có đủ năng lực để tiếp cận quản lý và quy hoạch phát triển cơ sở dữ liệu của từng chuyên ngành, góp phần vận hành hiệu quả hệ thống GIS quản lý cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội của tỉnh Khánh Hòa.

Định hướng tổng thể phát triển các ứng dụng GIS, phân kỳ rõ lộ trình đầu tư, xác định thứ tự ưu tiên và quy hoạch các dự án trọng điểm ứng dụng GIS trên địa bàn tỉnh, cần thiết phải thực hiện nghiên cứu tài liệu, các báo cáo thực tiễn kinh nghiệm trong việc triển khai ứng dụng GIS tại Việt Nam và trên thế giới để xây dựng Đề án phát triển hệ thống GIS phù hợp với điều kiện thực tế của địa phương, nhằm từng bước xây dựng và phát triển hệ thống GIS phục vụ quản lý nhà nước đa ngành, có khả năng tích hợp và kết nối vào mạng thông tin quốc gia, đồng thời đáp ứng nhu cầu khai thác, sử dụng thông tin của các doanh nghiệp và cộng đồng.

Để làm tốt cho việc xây dựng Đề án có tính khả thi và hiệu quả cao cần thiết triển khai các hoạt động:

  • Nghiên cứu hệ thống thể chế, chính sách hiện hành (bộ máy quản lý, văn bản pháp quy, quy trình quản lý) và quy trình trao đổi và chia sẻ thông tin trong quản lý hành chính nhà nước trên địa bàn tỉnh.

  • Đánh giá toàn diện về hiện trạng và quy hoạch phát triển công nghệ thông tin cũng như hiện trạng áp dụng GIS ở các Sở, ban, ngành, địa phương,… bao gồm các nội dung: hạ tầng CNTT, nguồn dữ liệu, giải pháp, kết quả và nguồn nhân lực.

  • Xác định nhu cầu ứng dụng GIS thực tế, xây dựng thể chế quản lý hệ thống, quy trình chia sẻ dữ liệu GIS, đề xuất danh mục các nhiệm vụ ưu tiên và xây dựng nguồn nhân lực GIS cho toàn tỉnh.

3. Sự cần thiết đầu tư

Trong quá trình công nghiệp hóa và hội nhập với khu vực và thế giới, việc phát triển ứng dụng công nghệ thông tin và xây dựng nền kinh tế tri thức đã trở thành yêu cầu tất yếu. Tương tự như vậy, đối với Khánh Hòa, với tốc độ phát triển nhanh chóng như hiện nay đã làm gia tăng nhu cầu triển khai các ứng dụng công nghệ thông tin để phục vụ quản lý cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội của tỉnh, như: các công trình điện, nước, nước thải, thông tin liên lạc, hệ thống giao thông, y tế, giáo dục,....

Để có thể tiếp cận được thông tin đầy đủ và chính xác về cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội, nhằm hỗ trợ công tác quản lý nhà nước và điều hành trong tác nghiệp hàng ngày luôn là vấn đề quan tâm hàng đầu của các cấp lãnh đạo của đại phương. Giải pháp đặt ra là cần có một hệ thống và các công cụ quản lý thông tin hiện đại, đủ mạnh và phù hợp để thống nhất quản lý cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội của tỉnh, nhằm nâng cao năng lực quản lý và điều hành của các cấp chính quyền, tăng cường công tác cải cách hành chính, nâng cao năng lực cạnh tranh đầu tư và thúc đẩy sự nghiệp phát triển chung của tỉnh.

Từ việc triển khai sử dụng thực tiễn ở một số ngành, lĩnh vực trên địa bàn tỉnh hiện nay cùng với những tính năng công nghệ và chức năng sử dụng chuyên nghiệp, ứng dụng GIS được xem là giải pháp tối ưu cho việc quản lý cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội của tỉnh. Và thực hiện đề án “Ứng dụng hệ thống thông tin địa lý (GIS) để quản lý cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội tỉnh Khánh Hoà” là nhiệm vụ cần thiết và quan trọng trong giai đoạn hiện nay.

Việc triển khai Đề án sẽ tạo điều kiện để các cơ quan chuyên môn phát triển các ứng dụng phục vụ tác nghiệp quản lý nhà nước theo chức năng, nhiệm vụ được giao. Tạo đầu mối thống nhất các nguồn cơ sở dữ liệu và cung cấp thông tin một cách tổng thể, chính xác về tất cả các lĩnh vực kinh tế - xã hội, giúp các cấp lãnh đạo có cái nhìn tổng quan về tình hình phát triển của tỉnh nhà, từ đó có kế hoạch phát triển phù hợp hơn, tạo môi trường làm việc chuyên nghiệp người cho cán bộ, công chức.

Triển khai Đề án “Ứng dụng hệ thống thông tin địa lý (GIS) để quản lý cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội tỉnh Khánh Hòa” là hoạt động có tính khả thi và hiệu quả đầu tư cao, tránh được sự đầu tư nhỏ lẻ, chồng chéo, tốn chi phí và thời gian, sản phẩm tạo ra không khai thác hết công suất,... Việc triển khai thành công của Đề án sẽ giải quyết được nhiều bất cập trong công tác quản lý cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội, tăng cường năng lực quản lý những lĩnh vực cấp thiết hiện nay, chẳng hạn như:

  1. Công tác quản lý đất đai: đang gặp phải rất nhiều khó khăn do số lượng đối tượng (lô, thửa đất) cần quản lý rất lớn, luôn biến động theo thời gian, đặc biệt là ở khu vực đô thị. Hồ sơ pháp lý phức tạp, đòi hỏi trãi qua nhiều công đoạn rời rạc nên mất nhiều thời gian trong xác định chủ quyền và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và sở hữu nhà,... Những vấn đề này sẽ được giải quyết khi có được một hệ thống GIS với bản đồ địa chính chính xác, luôn được cập nhật đầy đủ với các tài liệu kỹ thuật và các hồ sơ đất đai hoàn chỉnh.

  2. Công tác quản lý mạng lưới cơ sở hạ tầng: tình trạng bất cập và thiếu đồng bộ, cũng như thiếu phối hợp trong quản lý, điều hành và phát triển các mạng lưới cơ sở hạ tầng là do thiếu chia sẻ thông tin. Dữ liệu quản lý mạng lưới cơ sở hạ tầng hiện nay được quản lý không thống nhất về hệ tham chiếu toạ độ, không được cập nhật thường xuyên, do đó nếu phát triển riêng lẻ theo từng ngành, lĩnh vực sẽ dẫn đến dữ liệu trùng lắp làm ảnh hưởng đến hiệu quả đầu tư và quản lý sử dụng,… Việc phát triển hệ thống GIS phục vụ quản lý nhà nước có khả năng tích hợp các thông tin mạng lưới hạ tầng của các ngành khác nhau lên cùng một CSDL GIS của tỉnh, cho phép quản lý thông tin tổng hợp và tạo ra sự liên thông giữa các ngành.

  3. Quy hoạch cơ sở hạ tầng và quản lý xây dựng: vấn đề lớn nhất hiện nay là thiếu các thông tin về hiện trạng trên địa bàn, nên công tác quy hoạch và quản lý xây dựng chưa chính xác, chưa phù hợp thực tiễn, dẫn đến sự chậm trễ trong phê duyệt và thi công các công trình cơ sở hạ tầng. Hầu hết các công trình về quy hoạch và xây dựng hiện nay chỉ được thể hiện bằng công cụ của phần mềm AutoCAD (hình vẽ đồ hoạ các đối tượng), chứ không được gắn kết với các thông tin thuộc tính. Việc ứng dụng GIS 3D sẽ góp phần nâng cao tính khoa học và hiệu quả trong quy hoạch, rút ngắn thời gian cấp phép xây dựng, giám sát tốt tình trạng xây dựng không phép hoặc sai giấy phép cũng như tạo nhanh phương án đền bù, giải tỏa,...

  4. Quản lý dân số và giám sát môi trường: ứng dụng GIS cho phép tăng cường và nâng cao năng lực quản lý và điều hành những vấn đề mang tính vĩ mô trên phạm vi toàn tỉnh như: quản lý phân bố dân cư, các nguồn ô nhiễm, theo dõi dịch bệnh, quy hoạch, cải tạo môi trường,… được nhanh chóng và khách quan.

  5. Cải cách hệ thống quản lý hành chính: việc thiếu các phương tiện để tiếp cận các nguồn thông tin phục vụ công tác quản lý và điều hành đặc biệt là đối với hoạt động cải cách hành chính đã làm hạn chế sự nỗ lực và phát huy vai trò của các cấp lãnh đạo trong hoạt động quản lý nhà nước. Ứng dụng GIS được xem là giải pháp công nghệ phù hợp để tạo lập và phổ biến các nguồn thông tin, dữ liệu hiệu quả nhất phục vụ tốt cho hoạt động cải cách hành chính của địa phương, tăng cường chất lượng cung cấp, giải quyết thủ tục hành chính cho người dân và doanh nghiệp.

  6. Hiện trạng thông tin tư liệu bản đồ: việc thu thập, cập nhật, chỉnh lý các dữ liệu nền cơ bản (địa hình 1/10.000, địa chính 1/2.000, 1/5.000) và các bản đồ chuyên ngành cơ bản nhất (quy hoạch đô thị, giao thông, hiện trạng sử dụng đất, mạng lưới cấp nước, mạng lưới thoát nước, mạng lưới chiếu sáng và lưới điện,…) chưa có quy trình xử lý; chuẩn hóa các nội dung. Đề án sẽ là nền tảng để các cơ quan chuyên môn có điều kiện xây dựng hệ thống GIS tác nghiệp chi tiết cho chuyên ngành của mình, nắm bắt các quy trình gắn kết thông tin liên quan, chuẩn hóa định dạng dữ liệu, xác định các mối liên kết với các hệ thông tin khác,… nhằm cung cấp thông tin, dữ liệu chuyên ngành một cách chính thống và toàn diện.

Ngoài ra, việc triển khai đề án co những thuận lợi nhu sau:

  • Sự ủng hộ và quyết tâm của các cấp lãnh đạo của các cơ quan, đơn vị liên quan trong việc triển khai tin học hóa quản lý nhà nước là điều kiện thuận lợi để triển khai Đề án. Đây là thời điểm để tỉnh Khánh Hòa áp dụng công nghệ mới để hiện đại hóa các tác nghiệp quản lý tại trong các cơ quan nhà nước.

  • Kế thừa các nguồn dữ liệu số đang được lưu trữ dưới khuôn dạng các phần mềm quốc tế (theo chuẩn công nghệ: MapInfo, MicroStation, Access, Oracle, MS SQL) từ các dự án CNTT đã thực hiện.

  • Hạ tầng CNTT đã được nâng cấp hoàn thiện cơ bản: Trung tâm dữ liệu tỉnh, mạng diện rộng của tỉnh.

  • Trong nước đã có nhiều công ty đủ năng lực để thực hiện các ứng dụng tương tự, cho phép Chủ đầu tư có thể lựa chọn nhà thầu triển khai phù hợp quy mô đầu tư.

III. QUY MÔ ĐẦU TƯ

1. Quan điểm đầu tư:

  • Ứng dụng GIS để quản lý hạ tầng kinh tế - xã hội của tỉnh ở giai đoạn đầu, cần ưu tiên cho quản lý ở cấp vĩ mô, điều này làm giảm sự ảnh hưởng bởi mức độ tiếp cận công nghệ, xây dựng dữ liệu và phát triển nguồn nhân lực GIS của từng đơn vị do hiện nay còn nhiều cách biệt.

  • Ứng dụng GIS để quản lý hạ tầng kinh tế - xã hội của tỉnh phải đảm bảo đáp ứng toàn diện dữ liệu của các lĩnh vực kinh tế - xã hội: Quản lý kinh tế, xã hội, dân cư, an ninh và quốc phòng,…

  • Có thiết kế tổng thể để định hướng, phân kỳ đầu tư thích hợp và khả thi cho từng giai đoạn để xây dựng hoàn thiện cơ sở hạ tầng dữ liệu không gian của tỉnh Khánh Hòa (công nghệ, chính sách, chuẩn dữ liệu, nguồn nhân lực GIS, qui trình cập nhật, trao đổi và khai khác thông tin,...).

  • Hình thành hệ thống vận hành theo một cơ chế quản lý thống nhất, cho phép nhiều người sử dụng và tạo lập các ứng dụng trong thành lập bản đồ và quản lý công trình công ích, phù hợp với trình độ kỹ thuật của từng giai đoạn phát triển cho từng khâu điều hành, tác nghiệp của cơ quan nhà nước.

  • Kinh phí đầu tư cho Đề án lấy từ ngân sách của tỉnh Khánh Hòa. Tuy nhiên, trong quá trình triển khai, cần khai thác các nguồn kinh phí khác (lấy thu trong cung cấp thông tin để bù chi) sử đụng tối đa các thiết bị, kỹ thuật, các ứng dụng thông tin đã được đâu tư trên địa bàn, nhằm giảm gánh nặng cho ngân sách Tỉnh.

2. Quy mô đầu tư:

2.1.Nâng cấp hạ tầng CNTT:

- Mở rộng kết nối mạng diện rộng đến các cơ quan chuyên môn bằng hình thức sử dụng đường truyền số liệu chuyên dùng.

- Máy chủ triển khai các ứng dụng phân hệ chuyên ngành, tùy theo điều kiện của cơ quan chuyên môn triển khai, máy chủ có thể được lắp đặt tại vị trí của cơ quan hoặc tại Trung tâm dữ liệu tỉnh.

- Máy chủ dữ liệu nền địa hình, nền địa chính được trang bị và quản lý tại Trung tâm dữ liệu tỉnh.

2.2. Đầu tư phần mềm

Mỗi phân hệ tham gia hệ thống sẽ phải trang bị một phần mềm hệ quản trị CSDL để tổ chức lưu trữ CSDL chuyên ngành và một hệ phần mềm GIS để quản lý và khai thác dữ liệu GIS. Giải pháp được lựa chọn theo kế hoạch đầu tư hiệu quả từng bước và khả năng mở rộng trong khi vẫn đáp ứng được về cơ bản yêu cầu quản lý số liệu trên địa bàn toàn tỉnh. Trong quá trình xử lý dữ liệu, việc tạo ra các bản đồ và triển khai ứng dụng GIS là nhiệm vụ của phần mềm thuộc tầng ứng dụng (Application Server).

Hình 1: Mô hình 3 tầng của hệ thống GIS tại mỗi phân hệ

a. Hệ quản trị CSDL

Yêu cầu về tính năng và chức năng sử dụng của hệ quản trị CSDL là đặc biệt quan trọng đối với một giải pháp ứng dụng GIS quản lý hạ tầng kinh tế - xã hội, bao gồm:

- Có khả năng quản lý dữ liệu dung lượng lớn: thông tin dựa trên nền bản đồ phục vụ trong nhiều lĩnh vực quản lý, có nguồn CSDL lớn, sử dụng lâu dài.

- Tổ chức quản trị CSDL theo cấu trúc quan hệ và cấu trúc client/server: vừa đảm bảo khả năng xử lý, lưu giữ và quản lý số liệu dung lượng lớn, vừa đảm bảo việc sử dụng hữu hiệu và chia sẻ dữ liệu giữa những người sử dụng khác nhau trong mạng (các client), đồng thời cũng đảm bảo an toàn dữ liệu.

- Có công cụ để phát triển tương thích với yêu cầu sử dụng: để có thể phát triển các ứng dụng để tự động hoá một số thao tác thường dùng nhằm nâng cao hiệu suất khai thác dữ liệu.

Trong Đề án này, dự kiến sử dụng phần mềm quản trị CSDL SQL Server hoặc Oracle để quản trị nguồn CSDL, đây là hai hệ quản trị được sử dụng phổ biến ở Việt Nam.

b. Hệ phần mềm GIS

Hệ phần mềm GIS được triển khai áp dụng cho việc xây dựng, xử lý, lưu trữ và quản lý thông tin kinh tế - xã hội một cách chuyên nghiệp, cơ bản cần đáp ứng các khả năng sau:

b1. Xây dựng và cập nhật dữ liệu bản đồ số

- Số hoá bản đồ giấy: chủ yếu thực hiên thông qua sử dụng máy quét với phần mềm số hoá tự động và các thao tác chuột. Trên địa bàn của tỉnh, dữ liệu bản đồ số ngày càng đầy đủ, nên yêu cầu về số hoá cũng giảm dần.

- Tích hợp ảnh máy bay, ảnh vệ tinh: việc sử dụng ảnh vệ tinh đã khá phổ biến để phục vụ việc cập nhật nhanh chóng bản đồ hiện trạng sử dụng đất, hiện trạng rừng,... Thời gian gần đây, các sản phẩm GIS mới nhất đã cho phép nhập thông tin trực tiếp từ các format khác nhau, tuy nhiên cần phải nắn chỉnh và chyển đổi toạ độ tham chiếu.

- Chuyển đổi khuôn dạng bản đồ số: chủ yếu phục vụ công tác quản lý bản đồ ở các hệ thống toạ độ và lưới chiếu khác nhau và có thể chuyển đổi từ hệ này sang hệ khác theo yêu cầu. Ngoài ra, các thao tác biên tập, chia mảnh, tạo khung, đặt nét, tô màu,... và trình bày bản đồ các loại ở các tỷ lệ khác nhau để làm nên sự tiện lợi của hệ thống và đảm bảo chất lượng sản phẩm bản đồ.

- In ấn bản đồ: phần mềm GIS đáp ứng tốt được yêu cầu tự động hoá chức năng in ấn bản đồ để đáp ứng các loại sản phẩm có tỷ lệ khác nhau, dung lượng khác nhau, kích thước khác nhau.

b2. Phân tích GIS

Phân tích GIS là các ứng dụng bản đồ số phục vụ cho công tác chuyên môn, đòi hỏi dữ liệu phải được lưu trữ theo mô hình cụ thể như: tổ chức thông tin theo cấu trúc topo (giúp cho mọi đối tượng trên bản đồ có ngữ nghĩa và được quản lý trong mối quan hệ không gian với các đối tượng khác), bao gồm các hoạt động:

- Thực hiện các phép chồng ghép, tổng hợp và phân tích bản đồ: để đảm bảo công tác quản lý chung về kinh tế - xã hội yêu cầu phải chồng ghép giữa các bản đồ, chẳng hạn như: bản đồ hiện trạng với bản đồ quy hoạch, giữa bản đồ quy hoạch tổng thể với bản đồ quy hoạch chi tiết,...

- Thực hiện các phép phân tích mạng: Bài toán phân tích mạng được ứng dụng phục vụ cho công tác quản lý và vận hành hệ thống hạ tầng đô thị: như hệ thống giao thông, mạng viễn thông, điện lực, cấp nước, thoát nước,…

- Tích hợp thống nhất CSDL và lập trình phát triển bổ sung các công cụ để đáp ứng yêu cầu quản lý và sử dụng: đây là một yếu tố không thể thiếu đối với một phần mềm GIS, nhằm phân phối thông tin tới nhiều tổ chức, cá nhân có liên quan thông qua hệ thống mạng, cung cấp đầy đủ hình ảnh các bản đồ và các thông tin thuộc tính đính kèm với những công cụ tìm kiếm, tra cứu thông tin hiện đại.

Hiện nay trên thị trường có rất nhiều phần mềm để có thể sử dụng triển khai GIS, như MapInfo, Microstation, ArcView, ArcGIS, AutoCAD Map, DolGIS,… Với nhu cầu ứng dụng của tỉnh Khánh Hòa, giải pháp xây dựng hệ thống GIS nhiều người sử dụng của ESRI với họ phần mềm Arc (ArcView, ArcGIS, ArcSDE, ArcIMS,…) là lựa chọn đầu tư phù hợp. Đây là sản phẩm được nhiều tổ chức trong nước và nước ngoài sử dụng.

c. Phát triển phần mềm ứng dụng

Phát triển ứng dụng bao gồm thiết kế CSDL, xây dựng các công cụ khai thác dữ liệu tại UBND tỉnh và các phân hệ. Phần mềm ứng dụng phục vụ công tác quản lý chuyên môn, sẽ là công cụ hữu hiệu thúc đẩy sự hình thành và phát triển các ứng dụng GIS tại các Sở, ban, ngành,… tạo điều kiện cho việc chia sẻ thông tin, dữ liệu về hạ tầng kinh tế - xã hội của tỉnh một cách chính xác và hiệu quả nhất.

Các phần mềm ứng dụng được phát triển để phục vụ theo các nhóm sử dụng:

- Nhóm cơ quan lãnh đạo tỉnh và các huyện, thị, phường, xã, thành phố: ứng dụng tự động lập báo cáo, thống kê hoặc bản vẽ, bản đồ,... đáp ứng kịp thời nhu cầu sử dụng thông tin thường xuyên trong công tác lãnh đạo và quản lý.

- Nhóm các Sở, ban, ngành: hỗ trợ khai thác thông tin trong công tác lập và quản lý quy hoạch, kế hoạch và các đề án liên ngành.

- Nhóm cơ quan khoa học, giảng dạy, doanh nghiệp và cộng đồng: cung cấp các dịch vụ và thông tin về cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội của tỉnh qua môi trường Internet.





Hình 2: Mô hình trao đổi và khai thác dữ liệu giữa các phân hệ

d. Xây dựng các phân hệ

Khả năng sử dụng chung nguồn dữ liệu GIS trên khu vực inh Khánh Hòa là rất lớn, dữ liệu GIS có cấu trúc vector sẽ phù hợp với ứng dụng của nhiều ngành.


Hình 4: Mô hình ứng dụng hệ thống thông tin địa lý tại các phân hệ


Giai đoạn đầu, Đề án sẽ đầu tư tập trung chủ yếu xây dựng CSDL (CSDL) nền và dùng chung cho toàn tỉnh. Đối với dữ liệu chuyên ngành phục vụ tác nghiệp của các đơn vị, Đề án sẽ hỗ trợ công nghệ và giải pháp thống nhất để phát triển các phân hệ và đào tạo nguồn nhân lực triển khai các phân hệ.

Các phân hệ chính có nhu cầu đầu tư sớm để tạo nguồn dữ liệu GIS về cơ sở hạ tầng kinh tế xã hội như sau:

d1. Phân hệ Tài nguyên và Môi trường

* Nhu cầu quản lý:

Phân hệ giữ vai trò quan trọng trong việc cập nhật bản đồ địa hình và địa chính dùng chung cho toàn tỉnh. Đây là việc đầu tư ứng dụng GIS cần được ưu tiên thực hiện trước vì có lợi ích quan trọng trong công tác quản lý, như: lập quy hoạch, kế hoạch 5 năm, hàng năm về sử dụng đất; các dự án đầu tư về khai thác tài nguyên đất đai phát triển trên địa bàn tỉnh; cân đối quỹ đất theo hiện trạng và gắn với quy hoạch phát triển tổng thể cơ sở hạ tầng; lập bản đồ giá đất và cập nhật giá đất hàng năm; lập kế hoạch bảo vệ môi trường, giám sát và thẩm định môi trường đối với các dự án đầu tư quan trọng.

* Các ứng dụng tác nghiệp:

- Quản lý/Truy vấn/Phân tích theo dữ liệu không gian và thuộc tính thửa đất. Tự động tạo lập báo cáo/cấp giấy chứng nhận theo mẫu quy định. Cập nhật biến động dữ liệu và truy cập lịch sử thửa đất. Liên kết số nhà, tên đường, chủ sở hữu, tình trạng pháp lý với từng thửa đất,…

- Quản lý/Truy vấn/Phân tích theo cả dữ liệu không gian và thuộc tính của lớp dữ liệu quan trắc môi trường. Xem thông tin về quan trắc môi trường và hiển thị bản đồ chuyên đề theo dữ liệu môi trường.Tự động tạo lập báo cáo, thống kê tổng hợp hoạt động môi trường (bao gồm cả hình ảnh bản đồ và số liệu thuộc tính). Tích hợp các dữ liệu thuộc tính môi trường lên bản đồ và tích hợp các bản đồ chuyên đề để đánh giá và theo dõi môi trường và điều kiện tự nhiên.

d2. Phân hệ Giao thông

* Nhu cầu quản lý:

Nguồn dữ liệu GIS về cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội sẽ góp phần hiệu quả trong việc xây dựng quy hoạch giao thông và kế hoạch đầu tư, phát triển hàng năm trong việc xây dựng, bảo trì, khai thác hệ thống các công trình giao thông vận tải, gắn với quy hoạch phát triển tổng thể cua tỉnh.

* Ứng dụng tác nghiệp:

Ứng dụng GIS trong quản lý giao thông cho phép quản lý thông tin về: tuyến đường, tên cầu liên quan đến cấp quản lý, đơn vị thi công; chiều dài, bề rộng và số làn đường; chất liệu mặt đường, năm duy tu và tải trọng cho phép,…

d3. Phân hệ Quy hoạch và Xây dựng

* Nhu cầu quản lý:

Ứng dụng GIS trợ giúp Quy hoạch phát triển tổng thể và Quy hoạch chi tiết; Thẩm định quy hoạch và đánh giá các giải pháp điều chỉnh bản đồ quy hoạch và các bản đồ chuyên đề khác.

* Các ứng dụng tác nghiệp:

- Quản lý/Truy vấn/Phân tích GIS trợ giúp công tác: duyệt thiết kế quy hoạch chi tiết 1/500, 1/2000; quản lý nhà và cấp Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở; Quản lý các dữ liệu thuộc tính nhà ở và các công trình xây dựng.

- Chồng phủ các lớp bản đồ quy hoạch và bản đồ hiện trạng trợ giúp công tác: hướng dẫn kiến trúc quy hoạch cho địa điểm xây dựng; lập báo cáo thống kê về hồ sơ xin sử dụng đất xây dựng làm nhà ở; cung cấp thông tin về các khu dân cư hoặc nhà độc lập trong khu vực,...

d4. Các Phân hệ Điện, Cấp, thoát nước,…

Ứng dụng GIS trong quản lý các công trình công ích là nhu cầu rất cấp thiết hiện nay, các phân hệ này là nguồn cung cấp dữ liệu chuyên ngành cho hệ thống đồng thời chia sẻ dữ liệu để phục vụ tác nghiệp của các đơn vị. Đề án sẽ hỗ trợ đào tạo nguồn nhân lực, công nghệ và giải pháp thống nhất để phát triển các phân hệ này.

- Các ứng dụng tác nghiệp trong cấp, thoát nước chủ yếu bao gồm: Quản trị Thiết bị và Tài sản, Quản lý tiến trình phân phối nước, thoát nước, các công trình sử dụng mạng lưới. Trạm bơm, Ống dẫn (Tên, Công suất, thời gian lắp đặt, thời gian duy tu gần nhất, vật liệu, áp suất,…).

- Các ứng dụng tác nghiệp trong Môi trường đô thị và chiếu sang đô thị chủ yếu bao gồm: Quản lý các thông tin về công viên, cây xanh, các điểm sinh hoạt, khu vệ sinh công cộng, các điểm chôn rác,... Trạm biến áp, cáp điện, đèn chiếu sang (Loại; Công suất; Số lượng, thời gian lắp đặt; thời gian duy tu gần nhất,…)

d5. Các Phân hệ tại huyện, thị xã, thành phố

* Nhu cầu quản lý:

Ứng dụng GIS trong điều hành, xây dựng quy hoạch, kế hoạch dài hạn và hàng năm về phát triển tổng thể các mặt kinh tế, văn hoá, xã hội tại địa phương; Chương trình đầu tư, đề án, dự án đầu tư phát triển hạ tầng kỹ thuật hạ tầng,...và cập nhật các dữ liệu GIS theo sự phân cấp từ tuyến tỉnh.

* Các ứng dụng tác nghiệp

- Truy vấn, hiển thị bản đồ chuyên đề; xem thông tin về đối tượng liên quan, tạo lập tự động các báo cáo, thống kê tổng hợp (bao gồm cả hình ảnh bản đồ và số liệu thuộc tính) theo mẫu quy định,…

- Trực tiếp tạo ra các số liệu về các công trình hạ tầng kỹ thuật trên địa bàn quản lý, đồng thời sử dụng các số liệu phục vụ cho mục đích theo dõi, phối hợp quản lý với các cơ quan chuyên ngành cấp sở, kết xuất thông tin tổng hợp đa ngành (Nhà, đất, đô thị và giao thông),…

2.3. Xây dựng quy chế khai thác, vận hành hệ thống

CSDL GIS quản lý cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội tỉnh Khánh Hòa được tổ chức quản lý tập trung kết hợp phân tán. Áp dụng tâp trung với dữ liệu nền đại hình, nền địa chính, bản sao dữ liệu chuyên ngành, điểm tập trung là Trung tâm dữ liệu tỉnh Khánh Hòa. Mô hình phân tán được áp dụng tại cơ quan chuyên môn nhằm tăng cường tính độc lập, sáng tạo và dữ liệu tại mỗi phân hệ cũng như việc cập nhật CSDL thường xuyên trong khi thực hiện tác nghiệp, góp phần làm cho bản sao các dữ liệu chuyên ngành luôn mới.

Để quản lý và vận hành hệ thống GIS một cách hiệu quả và đồng bộ, thống nhất giữa các mô hình áp dụng, cần phải xây dựng và ban hành quy hoạt động của hệ thống GIS quản lý cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội tỉnh Khánh Hòa.



Hình 5: Các phân hệ trong hệ thống thông tin kinh tế - xã hội tỉnh Khánh Hòa

2.4. Đào tạo nhân lực ứng dụng GIS

Việc triển khai hệ thống GIS gắn liền với công tác đào tạo nhằm đảm bảo có đủ nguồn nhân lực quản lý, sử dụng hệ thống. Công tác đào tạo có thể được tổ chức thực hiện thành nhiều đợt nhằm đáp ứng cho sự phát triển của công nghệ và nhu cầu ứng dụng của hệ thống.

a. Đào tạo đội ngũ quản trị:

- Mục đích: Xây dựng đội ngũ cán bộ có trình độ chuyên sâu về công nghệ GIS. Đội ngũ này có khả năng tiếp nhận, quản trị hệ thống và có khả năng phát triển, mở rộng hệ thống trong tương lai. Đây là đội ngũ nòng cốt trong công việc vận hành và xử lý các tình huống xảy ra trong quá trình hoạt động của hệ thống.

- Đối tượng: Các cán bộ có trình độ chuyên môn và có năng lực trong lĩnh vực công nghệ thông tin. Học viên là các cán bộ chuyên phụ trách chuyên môn về CNTT tại các Sở, ban, ngành, địa phương

- Nội dung đào tạo: Đào tạo chuyên về kỹ thuật tổ chức thu thập, cập nhật số liệu, xây dựng CSDL, quản trị và bảo trì hệ thống.

b. Đào tạo người sử dụng trực tiếp, sử dụng WebGIS:

- Mục đích: Xây dựng đội ngũ có thể thao tác, xử lý thành thạo tất cả các các ứng dụng trên hệ thống: nhập liệu, truy xuất, tra cứu thông tin, lập báo cáo,…

- Đối tượng: Cán bộ, công chức, viên chức tham gia gai vào vận hành của hệ thống tại các S, ban, ngành và các Phòng quản lý chuyên môn cấp huyện,

- Nội dung đào tạo: Đào tạo cơ bản về công nghệ GIS, về xử lý, thao tác trực tiếp trên các phân hệ GIS thuộc chuyên môn phụ trách, khả năng khai thác sử dụng WebGIS.

V. KHÁI TOÁN VÀ KẾ HOẠCH TRIỂN KHAI

1. Tổ chức thực hiện

Đề án có phạm quy triển khai rộng, tác động trực tiếp đến các ngành, lĩnh vực hoạt động, khối lượng công việc thực hiện lớn, nghiệp vụ đa dạng và công nghệ áp dụng mới, do đó để đảm bảo sự thành công của Đề án cần có sự phối hợp thực hiện giữa các đối tượng có liên quan. Sở Thông tin và Truyền thông Khánh Hòa là đơn vị đầu mối chủ trì, hướng dẫn tổ chức triển khai. Các cơ quan chuyên môn: Sở, ban, ngành, UBND cấp huyện, tiếp nhận công nghệ, giải pháp, các nguồn CSDL nền tổ chức triển khai xây dựng, quản lý và vận hành phân hệ chuyên ngành do đơn vị phụ trách.

Thành lập Ban chỉ đạo và điều hành Đề án với nguồn nhân sự đề nghị dự kiến: Trưởng Ban là đồng chí Lãnh đạo tỉnh, phó ban là đống chí Giám đốc Sở Thông tin Truyền thông, thành viên là các đồng chí Giám đốc hoặc thủ trưởng của cơ quan chuyên môn và tổ giúp việc. Đề án bao gồm nhiều hạng mục thành phần (theo phân hệ), cơ quan chuyên môn sẽ làm chủ đầu tư triển khai hạng mục do đơn vị mình trực tiếp quản lý.

2. Chi phí đầu tư

Việc đầu tư thực hiện dự án trên tinh thần tiết kiệm, sử đụng tối đa các thiết bị, kỹ thuật, các ứng dụng thông tin đã được đâu tư xây dựng trong các giai đoạn trước. Kinh phí đầu tư bao gồm chi phí trực tiếp và chi phí vận hành

a. Khái toán kinh phí đầu tư trực tiếp


Stt

Hạng mục triển khai

Thành tiền (triệu đồng)

A

Xây dựng CSDL GIS cho tỉnh Khánh Hoà

16.500

1

Xây dựng các lớp CSDL nền và dùng chung toàn tỉnh

8.000

2

Xây dựng các lớp CSDL chuyên đề cho các phân hệ:

  • Viễn thông, Điện, Cấp thoát nước

  • Tài nguyên và Môi trường, Giao thông, vận tải

  • Xây dựng, Quy hoạch, Công nghiệp, Nông nghiệp

  • Giáo dục và Đào tạo, Y tế, Thương mại - dịch vụ

  • Văn hóa - thể thao - du lịch, dân cư - lao động

8.500

B

ng dụng GIS vào quản lý CSHT kinh tế - xã hội

11.200

1

Phân hệ áp dụng tại Tp. Nha Trang và Tp. Cam Ranh

4.500

2

Phân hệ áp dụng cho thị xã Ninh Hòa và 5 huyện

5.000

3

Xây dựng CSDL và Website về cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội tnh Khánh Hòa

1.700

C

ng dụng GIS hỗ trợ dịch v công

2.850

1

Chương trình cấp giấy chng nhận quyền sử dụng đất

1.250

2

Chương trình quản lý quy hoạch

650

3

Chương trình cấp phép xây dựng

950

D

Đào tạo nguồn nhân lực GIS

750

E

Xây dựng hệ thống tích hợp GIS cho tỉnh Khánh Hòa

3.400

1

Xây dựng ứng dụng quản lý, tích hợp và khai thác CSDL kinh tế - xã hội

2.500

2

Tích hợp hệ thống thông tin tổng thể của tỉnh (các phần mềm dùng chung của tỉnh)

600

3

Xây dựng quy chế quản lý vận hành hệ thống

300


TỔNG CỘNG

34.700

b. Khái toán chi phí quản lý, tư vấn đầu tư

- Chi phí quản lý: 550 triệu đồng.

- Chi phí tư vấn: 1.530 ttriệu đồng.

+ Lập dự án: 130 triệu đồng.

+ Thiết kế kỹ thuật và tổng dự toán: 800 triệu đồng.

+ Thẩm định thiết kế kỹ thuật và tổng dự toán: 50 triệu đồng.

+ Giám sát thi công: 550 triệu đồng.

- Chi phí khác: 350 triệu đồng.

- Chi phí dự phòng (≈10%): 1.500 triệu đồng.

Tổng mức đầu tư dự kiến: 38.630 triệu đồng.

3. Phân kỳ đầu tư:

Do đặc điểm của hệ thống GIS quản lý cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội của tỉnh bao gồm nhiều phân hệ kết nối với nhau thông qua hạ tầng mạng máy tính, lần đầu tiên được triển khai và thực hiện tại nhiều đơn vị khác nhau. Để đảm bảo hiệu quả đầu tư, triển khai đồng bộ và công tác quản lý, giám sát toàn bộ quá trình thực hiện dự án được chặt chẽ, các hạng mục chi đầu tư trực tiếp của dự án sẽ được thực hiện làm 3 giai đoạn như sau:

a. Giai đoạn 1 (2012 - 2014): đầu tư tập trung chủ yếu xây dựng CSDL (CSDL) nền và dùng chung cho toàn tỉnh, ưu tiên cho đào tạo nguồn nhân lực và chuyển giao công nghệ, vì đây là yếu tố then chốt cho việc ứng dụng GIS thành công trên địa bàn của tỉnh Khánh Hoà.

Stt

Hạng mục triển khai

Thành tiền (triệu đồng)

1

Xây dựng các lớp CSDL nền và dùng chung toàn tỉnh

8.000

2

Xày dựng CSDL và Website về cơ sở hạ tầng kinh tế xã hội tnh Khánh Hòa (giai đoạn 1)

700

3

Chương trình cấp giấy chng nhận quyền sử dụng đất

1.250

4

Chương trình quản lý quy hoạch

650

5

Chương trình cấp phép xây dựng

950

6

Đào tạo nguồn nhân lực GIS

750

7

Xây dựng ứng dụng quản lý, tích hợp và khai thác CSDL kinh tế xã hội (giai đoạn 1)

1.000

8

Xây dựng quy chế quản lý vận hành hệ thống.

150


TỔNG CỘNG

13.450

b. Giai đoạn 2 (2015 - 2016): Đề án sẽ đầu tư nâng cấp, mở rộng tương xứng với nhu cầu sử dụng GIS để quản lý cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội của tỉnh.

Stt

Hạng mục triển khai

Thành tiền (triệu đồng)

1

Xây dựng các lớp CSDL chuyên đề cho các phân hệ (giai đoạn 2)

7.500

2

Phân hệ ứng dụng tại Tp. Nha Trang, Tp. Cam Ranh

4.500

3

Phân hệ ứng dụng tại thị xã Ninh Hòa và 5 huyện

(giai đoạn 2)

3.000

4

Xây dựng CSDL và Website về cơ sở hạ tầng kinh tế xã hội tnh Khánh Hòa (giai đoạn 2)

1.000

5

Xây dựng ứng dụng quản lý, tích hợp và khai thác CSDL kinh tế xã hội (giai đoạn 2)

1.000

6

Sửa đổi, bổ sung quy chế quản lý, vận hành hệ thống

100

7

Tích hợp hệ thống thông tin tổng thể của tỉnh

250

 

TỔNG CỘNG

17.350

c. Giai đoạn 3 (từ năm 2017): Hoàn thiện cơ bản hệ thống ứng dụng công nghệ thông tin địa lý phục vụ công tác quản lý nhà nước về cơ sở hạ tầng kinh tế xã hội cho toàn Tỉnh.

Stt

Hạng mục dự án

Thành tiền (triệu đồng)

1

Xây dựng các lớp CSDL chuyên đề cho các phân hệ

(giai đoạn 3)

1.000

2

Phân hệ ứng dụng GIS cho thị xã Cam Ranh và 5 huyện

(giai đoạn 3)

2.000

3

Xây dựng ứng dụng quản lý, tích hợp và khai thác CSDL kinh tế xã hội (giai đoạn 3)

500

4

Sửa đổi, bổ sung quy chế quản lý, vận hành hệ thống

50

5

Tích hợp hệ thống thông tin tổng thể của tỉnh

350


TỔNG CỘNG

3.900

Ghi chú: Một số hạng mục của dự án có thể tiến hành đồng thời, phụ thuộc vào yêu cầu thực tế và khả năng đầu tư của tỉnh. Tiến độ và phân kỳ đầu tư đề xuất này nhằm vừa phù hợp với mức độ đầu tư hàng năm của tỉnh, vừa phù hợp với chiến lược phát triển CNTT và truyền thông.

VI. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

1. Sản phẩm của dự án

Sản phẩm của Đề án bao gồm:

- Hình thành hệ thống GIS quản lý cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội cho tỉnh Khánh Hòa, hỗ trợ đắc lực trong công tác quản lý kinh tế - xã hội một cách tổng thể, cung cấp thông tin một cách trực quan để các cấp lãnh đạo nắm bắt được tình hình phát triển kinh tế - xã hội toàn tỉnh để từ đó vạch ra các chiến lược phát triển kinh tế xã hội bền vững.

- Hệ thống được quản lý, vận hành một cách chặt chẽ, thống nhất, đảm bảo hệ thống hoạt động ổn định, lâu dài, an toàn, an ninh thông tin, dữ liệu.

- Website cung cấp thông tin về cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội được vận hành theo mô hình Atlas nhằm nâng cao chất lượng phục vụ của các cơ quan nhà nước và phổ biến thong tin cho nhà đầu tư và người dân trên địa bàn.

- Các phân hệ ứng dụng GIS trong quản lý quy hoạch, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, sở hữu nhà, cấp phép xây dựng,… được triển khai để hỗ trợ các quy trình tác nghiệp, cho phép tiết kiệm nhiều thời gian, kinh phí, nâng cao năng suất hoạt động và năng lực quản lý.

- Các thiết bị phần cứng phục vụ cho việc triển khai hệ thống được đầu tư, bổ sung vào nguồn cơ sở hạ tầng CNTT của tỉnh.

- Xây dựng được nguồn nhân lực có đủ trình độ, năng lực để quản lý vận hành và khai thác sử dụng hệ thống GIS quản lý cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội tỉnh Khánh Hòa.

2. Hiệu quả đầu tư

Tin học hóa quản lý hành chính nhà nước là nhằm nâng cao năng lực quản lý, tiết kiệm thời gian, nâng cao năng suất, hiệu quả công việc. Thực hiện Đề án là khởi tạo phần cốt lõi để hình thành hệ thống quản lý thông tin tổng thể về kinh tế - xã hội tỉnh Khánh Hoà.

Những lợi ích tiêu biểu như sau:

- Hệ thống hỗ trợ đắc lực trong công tác quản lý kinh tế - xã hội một cách tổng thể, cung cấp thông tin một cách trực quan, chính xác, nhanh chóng tránh được những sai sót hay nhầm lẫn thông tin có thể làm sai lệch kết quả quản lý và quy hoạch phát triển.

- Chia sẻ dữ liệu thông tin kinh tế - xã hội của tỉnh để mỗi ngành có thể sử dụng hoặc tham khảo các thông tin của ngành khác tùy theo mức độ bảo mật để phục vụ cho tác nghiệp quy hoạch, phát triển của từng ngành. Ngoài ra, triển khai Đề án, CSDL GIS được chia sẻ trên mạng Internet, là môi trường thúc đẩy quá trình phổ cập, công khai hóa thông tin GIS cho cộng đồng, nâng cao chất lượng phục vụ của các cơ quan nhà nước đối với người dân, từ đó nâng cao uy tín của các đơn vị trong công tác quản lý nhà nước, tăng cường năng lực cạnh tranh đầu tư.

- Ứng dụng tin học vào công tác quản lý nhà nước tăng cường cải tiến phương tiện làm việc, nâng cao trình độ tính hiện đại, chuyên nghiệp của người cán bộ trong môi trường mới. CSDL liệu dạng số thay dần dữ liệu dạng giấy và được chuẩn hóa, nên đảm bảo an toàn ở mức độ cao cũng như có tính chính xác, tính sẵn sàng sử dụng cao (dữ liệu chỉ cần nhập một lần và được sử dụng nhiều lần).

3. Kết luận và kiến nghị

Đề án nhằm xây dựng chiến lược tổng thể về ứng dụng hệ thống GIS cho toàn tỉnh, từng bước xây dựng hệ thống thông tin thống nhất, toàn diện, góp phần quan trọng trong việc nâng cao năng lực quản lý và cung cấp các thông tin cần thiết cho việc lập các quy hoạch, kế hoạch và định ra các chiến lược phát triển phù hợp.

Triển khai đề án là giải pháp đột phá về ứng dụng CNTT của tỉnh, hỗ trợ đắc lực cho công tác quản lý toàn diện các ngành, lĩnh vực của tỉnh, đặc biệt là đối với các ngành trọng điểm.

Qua phân tích về tính khả thi và hiệu quả ứng dụng của công nghệ GIS trong quản lý kinh tế - xã hội; khả năng kế thừa cơ sở hạ tầng CNTT, nguồn CSDL sẵn có, giải pháp công nghệ mới,... thì việc triển khai Đề án “Ứng dụng hệ thống thông tin địa lý (GIS) để quản lý cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội tỉnh Khánh Hoà” là giải pháp phù hợp và cần thiết, kính đề nghị Ủy ban nhân dân tỉnh xem xét, phê duyệt cho phép đầu tư./.

6/ TÓM TẮT ĐỀ ÁN Chuyển dịch mạnh cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hoá, tăng nhanh giá trị thu nhập trong sản xuất; chủ động sản xuất và cung ứng giống tốt giai đoạn 2006 - 2010

 

Đề án gồm 8 dự án thành phần:

- Dự án 1: Sản xuất thâm canh tăng vụ trên đất ruộng tỉnh Lào Cai giai đoạn 2006 - 2010.

- Dự án 2: Trồng, chế biến chè chất lượng cao tỉnh Lào Cai giai đoạn 2006 - 2010.

- Dự án 3: Sản xuất rau an toàn tỉnh Lào Cai giai đoạn 2006 - 2010.

- Dự án 4: Sản xuất hoa hàng hoá tỉnh Lào Cai giai đoạn 2006 - 2010.

- Dự án 5: Tổ chức sản xuất cây thuốc lá tỉnh Lào Cai giai đoạn 2006 - 2010.

- Dự án 6: Tổ chức sản xuất và cung ứng giống lúa lai tỉnh Lào Cai giai đoạn 2006 - 2010.

- Dự án 7: Phát triển chăn nuôi đại gia súc tỉnh Lào Cai giai đoạn 2006 - 2010.

- Dự án 8: Phát triển thuỷ sản tỉnh Lào Cai giai đoạn 2006 - 2010.

I. Mục tiêu của Đề án

1. Mục tiêu tổng quát:

- Tăng trưởng ngành nông nghiệp bình quân 7%/năm.

- Tổng sản lượng lương thực có hạt 200 nghìn tấn.

- Giá trị sản xuất /1 ha canh tác đạt 20 triệu đồng.

- Cơ cấu kinh tế nông nghiệp đến 2010: trồng trọt 55%, chăn nuôi - dịch vụ 45%.

2. Mục tiêu cụ thể:

- Phát triển thêm 5.000 ha đất sản xuất tăng vụ trong toàn tỉnh. Tăng hệ số sử dụng đất vùng thấp từ 2,13 lần lên 2,3 lần (tăng thêm thu nhập từ vụ đông 6,2 triệu đồng/ha). Hệ số sử dụng đất vùng cao từ 1,05 lên 1,3 lần (tăng thêm thu nhập từ vụ xuân 5,5 triệu đồng/ha).

- Trồng mới 1.000 ha chè đảm bảo quy trình kỹ thuật, sử dụng giống chè chất lượng cao gắn với chế biến, xây dựng thương hiệu.

- Xây dựng vùng rau an toàn 250 ha, sản lượng đạt 3.750 tấn/năm. Xây dựng thương hiệu rau an toàn của Lào Cai.

- Phát triển vùng trồng hoa hàng hoá với quy mô 150 ha, từng bước xây dựng thương hiệu hoa Lào Cai.

- Trồng 2.000 ha thuốc lá nguyên liệu tại các huyện: Mường Khương, Bắc Hà, Si Ma Cai, Bát Xát. Nâng thu nhập bình quân đạt 30 triệu đồng/ha /năm; gắn sản xuất với chế biến, tiêu thụ ổn định.

- Tổ chức sản xuất tại chỗ đáp ứng được 80% nhu cầu hạt giống lúa lai phục vụ sản xuất. Đào tạo đội ngũ cán bộ có đủ năng lực và trình độ sản xuất lúa lai.

- Phát triển chăn nuôi đại gia súc hàng hoá: tổng đàn bò đạt 35.000 con, tỷ lệ bò lai chiếm 35%, tốc độ tăng đàn từ 10-12%/năm; đàn trâu đạt 145.000 con, tỷ lệ tăng đàn 6-7%/năm. Phát triển trồng cỏ đảm bảo thức ăn và hạn chế thả rông gia súc.

- Mở rộng diện tích nuôi trồng, nâng cao năng suất, chất lượng và tăng giá trị thu nhập cho các hộ nuôi trồng thuỷ sản. Sản xuất đủ giống tại chỗ với chất lượng tốt, giá thành hạ. Mở rộng nuôi thương phẩm cá đặc sản nước lạnh đáp ứng nhu cầu thị trường cao cấp, phục vụ du lịch và xuất khẩu.

II. Nội dung của Đề án:

1. Sản xuất thâm canh tăng vụ trên đất ruộng nước:

- Tăng 1 vụ lên 2 vụ ở vùng cao: diện tích 3.050 ha, tại các huyện: Bắc Hà, Si Ma Cai, Bát Xát, Sa Pa, Văn Bàn, Mường Khương.

Đến năm 2010 giá trị sản xuất do tăng vụ ở vùng cao đạt bình quân 15 triệu đồng/ha/năm.

- Tăng 2 vụ lên 3 vụ ở vùng thấp: Diện tích 1.950 ha, tại các huyện: Văn Bàn, Bảo Thắng, Bảo Yên, Thành phố Lào Cai.

Đến năm 2010 giá trị sản xuất do tăng vụ ở vùng thấp đạt bình quân 30 triệu đồng/ha/năm.

2. Trồng, chế biến chè chất lượng cao:

2.1. Trồng 1.000 ha chè giống mới chất lượng cao.

2.2. Chỉ đạo tập trung thâm canh 1.600 ha chè/2.924,7 ha chè hiện có.

2.3. Xây dựng, nâng cấp hệ thống chế biến chè:

a) Doanh nghiệp quốc doanh:

- Nâng cấp, hoàn thiện 2 cơ sở chế biến chè của Nông trường Phong Hải, 1 cơ sở chế biến chè tại Nông trường Thanh Bình.

- Xây dựng mới 2 cơ sở chế biến chè: Cơ sở Tân Phú - xã Phú Nhuận - huyện Bảo Thắng do Nông trường Phong Hải thực hiện. Xưởng sơ chế chè xã Bản Sen huyện Mường Khương do Nông trường Thanh Bình thực hiện.

- Đầu tư xây dựng một nhà máy tinh chế chè gắn với xây dựng thương hiệu chè Lào Cai tại Nông trường Phong Hải - Bảo Thắng.

b) Các thành phần kinh tế khác:    

Đầu tư xây dựng các nhà máy:

- Nhà máy chế biến chè tại thị trấn Phố Ràng - huyện Bảo Yên.

- Nhà máy chế biến chè sạch hữu cơ xã Bản Liền - huyện Bắc Hà.

- Nhà máy chế biến chè Ô Long tại Sa Pa.

- Nhà máy chế biến chè xuất khẩu tại Khu công nghiệp Bắc Duyên Hải - thành phố Lào Cai.

3. Sản xuất rau an toàn:

- Phát triển vùng rau đến năm 2010 có diện tích 250 ha, tại Lào Cai, Sa Pa và Bắc Hà.

- Xây dựng mô hình trình diễn, đào tạo tập huấn kỹ thuật cho nhân dân trong vùng dự án (mỗi huyện xây dựng 1 mô hình).

- Xây dựng hệ thống quản lý chất lượng sản phẩm (Chi cục Bảo vệ thực vật) và xây dựng mạng lưới cán bộ kỹ thuật quản lý, giám sát đồng ruộng và chất lượng sản phẩm.

- Xây dựng 3 cơ sở bảo quản, phân loại sản phẩm tại 3 huyện và một số cửa hàng, điểm bán sản phẩm (tại các chợ trung tâm).

4. Sản xuất hoa hàng hoá:

- Đến năm 2010 tổng diện tích trồng hoa ổn định 150 ha hoa các loại, tại Lào Cai, Sa Pa và Bắc Hà.

- Phát triển các loại lan đạt 20.000 chậu tại Sa Pa, Bắc Hà.

- Xây dựng 2 mô hình điểm trồng hoa cao cấp (mỗi huyện 1 ha) tại 2 huyện: Bảo Thắng và Bát Xát.

- Thành lập cơ sở nghiên cứu, chuyển giao kỹ thuật và nhân giống hoa cung cấp cho vùng dự án tại Sa Pa.

5.  Trồng cây thuốc lá:

- Phát triển vùng nguyên liệu: Đến năm 2010, trồng được 2.000 ha thuốc lá; được bố trí trồng trên 2 loại đất: đất ruộng 1 vụ  900 ha, đất nương đồi 1.100 ha; trồng tại các huyện: Mường Khương, Bát Xát, Bắc Hà, Si Ma Cai.        

- Xây dựng hệ thống lò sấy: tổng số lò 4.000 lò (bình quân 2 lò/ha).

6. Tổ chức sản xuất, cung ứng giống lúa lai.

- Sản xuất hạt giống lai F1: Đến năm 2010, tỉnh Lào Cai có 220 ha sản xuất hạt giống lúa lai F1, sản lượng 430 tấn, được quy hoạch ở các huyện: Bát Xát 180 ha, Bảo Thắng 40 ha.

- Duy trì và nhân dòng bố mẹ một số tổ hợp lai: Tổ hợp lai hệ 2 dòng: quy mô 2 ha, sản lượng 3,5 tấn/năm; Tổ hợp lai hệ Bắc Ưu: quy mô 2 ha, sản lượng 2 tấn/năm.

- Nghiên cứu khảo nghiệm các tổ hợp lai mới: Khảo nghiệm từ 3-5 tổ hợp lai/năm, được thực hiện ở cả 2 vùng: Vùng thấp và vùng cao.

- Đào tạo cán bộ kỹ thuật và nông dân tham gia sản xuất giống: Đào tạo 2 cán bộ kỹ thuật duy trì và nhân dòng bố mẹ, 5 cán bộ kỹ thuật chỉ đạo sản xuất hạt lai F1 và 800 hộ nông dân (1.600 lao động) trực tiếp tham gia sản xuất giống.

- Xây dựng cơ sở vật chất cho vùng sản xuất giống: Trại thực nghiệm và sản xuất giống lúa tại Bản Qua - Bát Xát và hệ thông kênh mương tưới tiêu 4 km (Quang Kim, Bản Qua - Bát Xát).

7. Phát triển chăn nuôi đại gia súc:

7.1. Chăn nuôi bò:

- Vùng cao: Cải tạo và phát triển chăn nuôi tại chỗ giống bò vàng vùng cao. Địa điểm thực hiện: Bắc Hà, Si Ma Cai, Mường Khương, Bát Xát, Sa Pa. Tổng đàn hiện có 9.823 con, đến năm 2010 đạt 15.800 con (tăng đàn 10%/năm). Nâng tầm vóc bình quân tăng thêm 10%.

- Vùng thấp: Tổng đàn hiện có 11.980 con, đến năm 2010 đạt 19.200 con (tăng bình quân 10%/năm). Trong đó đàn bò lai đạt 11.500 con, chiếm 60% tổng đàn. Tập trung phát triển đàn bò lai Zêbu bằng 2 phương pháp: phối giống trực tiếp và thụ tinh nhân tạo. Địa điểm thực hiện: Lào Cai, Bảo Thắng, Bát Xát, Bảo Yên, Văn Bàn.

7.2. Chăn nuôi trâu: Chọn 8 huyện (trừ thành phố Lào Cai) tham gia dự án. Phương pháp: tuyển chọn đàn nái sinh sản đủ tiêu chuẩn 11.000 con, tuyển chọn đàn đực giống tốt 550 con. Đến năm 2010, phấn đấu số trâu sinh sản thêm 30.000 con (không kể số trâu tăng cơ học), nâng tổng đàn trâu trên toàn tỉnh đạt 145.000 con, tăng 32% so với năm 2005.

7.3. Quy hoạch trồng cỏ và các bãi chăn thả: Diện tích đất trồng cỏ là 1.500 ha, trong đó: Nhà nước hỗ trợ giống cỏ cho các xã 135 là 200 ha.

7.4. Xây dựng vùng giống trâu, bò tốt của tỉnh: Tuyển chọn và duy trì vùng giống trâu tốt 500 con trâu cái sinh sản, 25 con trâu đực giống (huyện Bảo Yên). Vùng giống bò tốt: 500 con bò cái sinh sản, 30 con bò đực giống (huyện Mường Khương, Si Ma Cai).

8. Phát triển thuỷ sản:

- Diện tích nuôi trồng thuỷ sản đến năm 2010 đạt 1.500 ha, trong đó phát triển mới 300 ha.

- Sản xuất giống: Trại giống cấp 1: 12,6 triệu con (Rô phi đơn tính và chép lai); Trại giống tư nhân: 8,4 triệu con (giống cá truyền thống); Mua giống nơi khác: 2,2 triệu con.

III. Nhu cầu vốn thực hiện Đề án:

1. Tổng nhu cầu vốn để thực hiện Đề án: 636,6 tỷ đồng, gồm:

- Dự án thâm canh: 12,5 tỷ đồng.

- Dự án chè:  221,3 tỷ đồng.

- Dự án rau:    51,5 tỷ đồng.

- Dự án hoa:   93,7 tỷ đồng.

- Dự án thuốc lá: 176,9 tỷ đồng.

- Dự án lúa:          13,3 tỷ đồng.

- Dự án chăn nuôi: 61,2 tỷ đồng.

- Dự án thuỷ sản :     6,2 tỷ đồng.

2. Phân loại nguồn vốn:

- Vốn ngân sách: 78,6 tỷ đồng.

- Vốn dân đóng góp: 323,8 tỷ đồng.

- Vốn của các doanh nghiệp: 106,6 tỷ đồng.

- Vốn vay tín dụng:  127,6 tỷ đồng.

3. Phân kỳ đầu tư như sau:

- Năm 2006: 59,9 tỷ đồng         - Năm 2009: 161,2 tỷ đồng.

- Năm 2007: 105,2 tỷ đồng      - Năm 2010: 174,1 tỷ đồng.

- Năm 2008: 136,2 tỷ đồng

IV. Giải pháp và cơ chế chính sách chủ yếu:

1. Quy hoạch và quản lý sử dụng đất: bố trí hợp lý kế hoạch sử dụng đất đai ở các xã, phường, thị trấn cho các dự án trọng điểm. Xây dựng các chương trình, dự án trọng điểm đẩy mạnh sản xuất nông nghiệp.

2. Phát triển khoa học công nghệ: Ưu tiên lĩnh vực giống cây trồng, vật nuôi. Có chính sách khuyến khích các tổ chức, hộ gia đình, nông dân sản xuất giống theo quy định của Nhà nước. Quản lý chặt chẽ việc cung ứng, phổ biến giống tốt cho nông dân. Khuyến khích đầu tư công nghệ mới, phát triển công nghệ chế biến, bảo quản nông lâm sản và ngành nghề nông thôn để gắn sản xuất với chế biến và tiêu thụ sản phẩm.

3. Đầu tư, tín dụng: Đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng nông thôn từ các chương trình, dự án bằng các nguồn vốn, trong đó ưu tiên thuỷ lợi, giống cây con, chế biến nông lâm sản, ngành nghề nông thôn. Tiếp tục thực hiện chính sách khuyến nông, kiên cố hoá kênh mương, chính sách trợ cước, trợ giá và tiêu thụ sản phẩm.

4. Phát triển nguồn nhân lực: Sắp xếp, củng cố bộ máy quản lý nhà nước và các đơn vị sự nghiệp thuộc ngành nông lâm nghiệp. Tăng cường công tác đào tạo cán bộ khoa học kỹ thuật, lao động kỹ thuật...

5. Phát triển các thành phần kinh tế: Chuyển đổi và thành lập mới các hợp tác xã nông nghiệp, phát triển kinh tế hộ, kinh tế trang trại. Củng cố, sắp xếp lại các doanh nghiệp nông lâm nghiệp đảm bảo họat động, cung cấp dịch vụ khoa học kỹ thuật và tiêu thụ sản phẩm.

6. Hệ thống dịch vụ: Đẩy mạnh việc thực hiện chính sách khuyến nông, khuyến lâm. Quan tâm đào tạo bồi dưỡng khuyến nông, đặc biệt khuyến nông xã. Mở rộng hình thức khuyến nông tự nguyên. Mở rộng các điểm cung ứng giống, vật tư gắn với tiêu thụ sản phẩm, đặc biệt là những vùng sản xuất hàng hoá.

7. Cơ chế chính sách:

Tiếp tục thực hiện chính sách trợ cước vận chuyển vật tư phân bón. Ngoài ra tỉnh điều chỉnh, bổ sung một số chính sách cụ thể:

- Sản xuất thâm canh tăng vụ trên đất ruộng: Vùng cao: hỗ trợ 80% giá giống vụ đầu, 50% giá giống vụ 2 đối với một số giống cây trồng. Hỗ trợ khuyến nông (xây dựng mô hình, tập huấn kỹ thuật, tham quan..).

- Trồng và chế biến chè chất lượng cao:

+ Điều chỉnh lại cơ chế, chính sách tại Quyết định số 521/2003/QĐ.UB ngày 1/10/2003 của UBND tỉnh cho phù hợp với giai đoạn mới, theo hướng giảm hỗ trợ từ ngân sách nhà nước.

+ Hỗ trợ các doanh nghiệp quốc doanh: Kinh phí đào tạo, xây dựng thương hiệu. Hỗ trợ doanh nghiệp được hưởng các chính sách ưu đãi hiện hành và vay vốn ưu đãi để xây dựng nhà máy tinh chế chè tại Phong Hải - Bảo Thắng.

+ Hỗ trợ các dự án đầu tư khác: Theo chính sách thu hút đầu tư của tỉnh hiện hành.

- Sản xuất rau an toàn: Hỗ trợ kinh phí quản lý chất lượng sản phẩm rau an toàn. Hỗ trợ khuyến nông (xây dựng mô hình, tập huấn kỹ thuật, tham quan, xúc tiến thương mại...). Xây dựng hạ tầng cơ sở cho vùng quy hoạch trồng rau theo quy trình công nghệ cao.

- Sản xuất hoa hàng hoá: Hỗ trợ khuyến nông (xây dựng mô hình, tập huấn kỹ thuật, tham quan, xúc tiến thương mại...). Xây dựng hạ tầng cơ sở cho vùng quy hoạch trồng hoa theo quy trình công nghệ cao. Được vay vốn xây dựng cơ bản từ nguồn vốn ưu đãi. Hỗ trợ kinh phí thuê chuyên gia chuyển giao công nghệ theo dự án do UBND tỉnh phê duyệt.

- Sản xuất thuốc lá: Hỗ trợ 20% giá cây giống đối với diện tích sản xuất vụ đầu (đối với những diện tích trồng mới trong năm 2007 và năm 2008). Hỗ trợ 50% cước vận chuyển than sấy (tính từ ga Phố Lu). Trợ cước vận chuyển phân bón theo chính sách hiện hành. Hỗ trợ kinh phí tập huấn kỹ thuật cho nông dân. Doanh nghiệp được vay vốn ưu đãi từ Ngân hàng Phát triển để sản xuất thuốc lá.

- Sản xuất, cung ứng giống lúa lai: Vùng sản xuất giống: Hỗ trợ kinh phí cải tạo đồng ruộng, kiên cố hoá kênh mương, đào tạo cán bộ kỹ thuật, tập huấn kỹ thuật cho nông dân. Về nghiên cứu, tổ chức sản xuất giống: Cấp kinh phí cho hoạt động nghiên cứu, cho các đơn vị sự nghiệp nông lâm nghiệp tạm ứng vốn ngân sách để sản xuất giống.

- Phát triển chăn nuôi đại gia súc: Hỗ trợ một phần kinh phí mua bò đực giống ngoại và giống địa phương, mua giống cỏ, tinh bò ngoại và ni tơ bảo quản. Hỗ trợ một phần kinh phí cho các hộ nghèo thuộc xã 135 mua trâu, bò cái sinh sản. Hỗ trợ kinh phí cho xây dựng, phát triển vùng giống trâu, bò tốt của tỉnh. Hỗ trợ toàn bộ tiền mua vắc xin phòng bệnh đối với vùng cao (vùng 2 và vùng 3).

- Phát triển thuỷ sản: Hỗ trợ kinh phí cho diện tích chuyển đổi từ cây trồng kém hiệu quả sang nuôi trồng thuỷ sản; đào tạo nguồn nhân lực; trợ giá giống, trợ cước vận chuyển giống. Hỗ trợ khuyến ngư (xây dựng mô hình, tập huấn kỹ thuật...).

V. Tổ chức thực hiện:

1. Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn:

- Chịu trách nhiệm tổ chức và chỉ đạo, kiểm tra các huyện, thành phố thực hiện các nội dung của Đề án.

- Chỉ đạo các đơn vị trực thuộc Sở theo nhiệm vụ được phân công, chỉ đạo về chuyên môn tới các trạm trực thuộc phối hợp thực hiện các nhiệm vụ về tập huấn kỹ thuật, xây dựng mô hình... Hàng năm tổng kết, đánh giá kết quả thực hiện Đề án.

- Tăng cường quan hệ với các Viện, Trung tâm nghiên cứu khoa học kỹ thuật trong nước, xúc tiến việc thuê chuyên gia giỏi giúp tỉnh thực hiện đề án.

- Chủ trì, phối hợp với Sở Kế hoạch và Đầu tư, Sở Tài chính và các ngành có liên quan xây dựng cơ chế, chính sách trình UBND tỉnh quyết định.

2. Sở Kế hoạch và Đầu t­ư, Sở Tài chính:

Cân đối nguồn lực để thực hiện đề án. Hàng năm phối hợp với Sở Nông nghiệp và PTNT kiểm tra, đánh giá kết quả thực hiện Đề án.

3. Các tổ chức đoàn thể của tỉnh:

Các hội, đoàn thể căn cứ nội dung, tiến độ thực hiện Đề án, xây dựng các chương trình cụ thể để tuyên truyền, vận động, hướng dẫn các hội viên tích cực tham gia chương trình đạt hiệu quả.

4. UBND các huyện, thành phố:

Căn cứ các nội dung của Đề án được phê duyệt, xây dựng các dự án chi tiết hợp phần. Chỉ đạo các phòng ban chuyên môn, cơ quan đoàn thể ở địa phương tuyên truyền vận động, hướng dẫn các hộ nông dân, các thành phần kinh tế tích cực tham gia dự án trên địa bàn đạt hiệu quả.

7/ TÓM TẮT ĐỀ ÁN Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn theo hướng công nghiệp hóa - hiện đại hoá tỉnh Lào Cai giai đoạn 2006 - 2010

 

Đề án gồm 4 dự án thành phần:

- Dự án 1: Phát triển sản xuất, chế biến nông, lâm sản và công nghiệp nông thôn Lào Cai giai đoạn 2006 - 2010.

- Dự án 2: Quy hoạch và phát triển các hoạt động dịch vụ chủ yếu trong nông nghiệp ở nông thôn tỉnh Lào Cai giai đoạn 2006 - 2010.

- Dự án 3: Đẩy mạnh hoạt động tín dụng trong nông thôn tỉnh Lào Cai giai đoạn 2006 - 2010.

- Dự án 4: Phát triển dịch vụ thương mại nông thôn tỉnh Lào Cai giai đoạn 2006 - 2010.

I. Mục tiêu của Đề án:

1. Mục tiêu tổng quát:

Phát triển chế biến nông, lâm sản, tiểu thủ công nghiệp và các hoạt động dịch vụ ở nông thôn (khuyến nông, bảo vệ thực vật, thú y, cung ứng các loại vật tư nông nghiệp, tín dụng ngân hàng, dịch vụ thương mại) để tạo ra sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở nông thôn theo hướng tăng nhanh giá trị về công nghiệp chế biến, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ, nhằm tiêu thụ sản phẩm nông lâm ngư nghiệp cho nông dân với giá trị cao, thúc đẩy phát triển sản xuất, tạo vùng nguyên liệu nông nghiệp góp phần nâng cao hiệu quả kinh tế trong khu vực nông thôn.

2. Mục tiêu cụ thể:

- Phấn đấu đến năm 2010 công nghiệp chế biến nông lâm sản đạt trên 225 tỷ đồng, tốc độ tăng trưởng bình quân về giá trị đạt: 15,8%/năm, tạo việc làm mới cho 3.000 lao động. Công nghiệp nông thôn đạt trên 90 tỷ đồng, tốc độ tăng trưởng bình quân hàng năm về giá trị sản xuất đạt 19%.

- Hoàn thiện hệ thống tổ chức các hoạt động dịch vụ nông nghiệp trong nông thôn, bao gồm: khuyến nông, bảo vệ thực vật, thú y và cung ứng vật tư  nông nghiệp. Kiện toàn sắp xếp hệ thống tổ chức từ tỉnh đến cơ sở để có đủ điều kiện và năng lực đảm nhận được nhiệm vụ chuyên môn theo yêu cầu.

- Chuyển tải, đưa nhanh các tiến bộ khoa học kỹ thuật về sản xuất nông nghiệp, giúp nông dân tiếp cận được khoa học kỹ thuật mới ứng dụng vào sản xuất mang lại hiệu quả kinh tế cao.

- Tạo nguồn lực về vốn để cho vay: Tổng nguồn vốn huy động tăng trưởng trên 20%/năm, đến cuối năm 2010 có số dư 1.450 - 1.500 tỷ đồng. Trong đó: nguồn vốn huy động tại địa bàn chiếm 50 - 55%, nguồn vốn do Trung ương điều hoà từ 25 - 30%, nguồn vốn huy động ngoài địa bàn khoảng 20%.

- Doanh số cho vay và dư nợ cho vay khu vực nông thôn tăng trưởng hàng năm 20 - 25%. Doanh số cho vay kinh tế nông nghiệp nông thôn 5 năm 2006 - 2010 đạt trên 6.000 tỷ đồng, tăng 2 lần so với giai đoạn trước; dư nợ cho vay kinh tế nông thôn đến cuối năm 2010 đạt 1.400 - 1.450 tỷ, tăng 70% so với năm 2005.

- Cho vay hộ nghèo dư nợ bình quân hằng năm 350 tỷ với 40.000 - 45.000 hộ, đến cuối năm 2010 còn 25.000 hộ với dư nợ 300 tỷ đồng. Cho vay giải quyết việc làm vùng nông thôn ven thành thị giai đoạn 2006 - 2010 khoảng 111 tỷ đồng, dư nợ cuối năm 2010 đạt 22 tỷ đồng. Cho vay sản xuất nông nghiệp và xây dựng cơ sở hạ tầng nông nghiệp nông thôn cả giai đoạn 5.000 tỷ đồng, dư nợ cuối năm 2010 đạt 1.080 - 1.100 tỷ đồng.

- Mức cho vay hộ sản xuất nông nghiệp 15- 20 triệu đồng, cho vay hộ nghèo bình quân 10 - 12 triệu đồng, hộ làm kinh tế trang trại được ưu tiên đầu tư thoả đáng.

- Tăng cường cơ sở vật chất kỹ thuật cho hoạt động thương mại - dịch vụ vùng nông thôn theo hướng kiên cố hoá, từng bước hiện đại hoá cơ bản không còn các chợ, cửa hàng tạm. Tổ chức lại hệ thống mạng lưới thương mại - dịch vụ đảm bảo tính rộng khắp đến từng thôn bản giúp nông dân ngày càng được tiếp cận và hưởng lợi từ các dịch vụ thương mại cũng như dịch vụ xã hội.

II. Nội dung, nhiệm vụ:

1. Chế biến nông, lâm sản, thực phẩm:

1.1. Chế biến chè:

- Đầu tư chiều sâu, chế biến chè xuất khẩu tại Phong hải:  Nâng công suất từ 13 tấn chè búp tươi trên ngày hiện nay lên công suất 30 tấn chè búp tươi/ngày và xây dựng mới hệ thống thiết bị tẩm ướp hương hoa, hoàn thành sản phẩm (sàng, cắt, phân loại, đóng gói, bao bì, nhãn mác…). Sản xuất chè xanh chất lượng cao (mở rộng, nâng cấp nhà máy Xuân Quang - Bảo Thắng), chè đặc sản (đầu tư mới xưởng chế biến tại Tân Phú và Đại Lộc - Phong hải) và sản xuất chè đen xuất khẩu.

- Nông trường Thanh Bình: Đầu tư chiều sâu, chế biến chè xuất khẩu nâng   Công suất lên: 15 tấn búp tươi/ngày.

- Tiếp tục hoàn thiện đầu tư nhà máy chế biến chè xuất khẩu tại cụm TTCN huyện Bảo Yên: Công suất: 6 tấn búp tươi/ngày.

- Đầu tư mới nhà máy chế biến chè công nghệ cao tại cụm công nghiệp Bắc Duyên Hải (giai đoạn I) với công suất 5 tấn búp tươi/ngày.

- Tiếp tục hoàn thiện đầu tư xưởng sơ chế chè tại Mường Hum - Bát Xát với công suất 2 tấn búp tươi/ngày.

- Đầu tư mới nhà máy chế biến chè xuất khẩu tại Bản Liền, Bắc Hà với công suất 1,5 tấn búp tươi/ ngày.

- Đầu tư nhà máy chế biến chè công nghệ cao tại Sa Pa với công suất 3 tấn búp tươi/ ngày.

1.2. Sơ chế lá thuốc lá: Đầu tư trồng và chế biến nguyên liệu thuốc lá tại các huyện: Mường Khương, Bát Xát, Bắc Hà và Si Ma Cai dự kiến đến 2010 sản lượng 3.000 tấn/năm, đầu tư xây dựng trên 4.000 lò sấy.

1.3. Chế biến sắn:  Tiếp tục hoàn thiện đầu tư (giai đoạn I) nhà máy tinh bột sắn tại Tân An- Văn Bàn; Công suất: 15.000 tấn sản phẩm/năm.

1.4 Chế biến hoa quả: Đầu tư các cơ sở bảo quản hoa quả, sản xuất rượu vang, mứt hoa quả tại huyện Sa Pa, Bắc Hà.

1.5 Sản xuất đồ uống: Đầu tư  nâng cao sản lượng, chất lượng, xây dựng bảo vệ thương hiệu các loại rượu đặc sản: rượu ngô (Bắc Hà, Si Ma Cai, Mường Khương); rượu thóc: Thanh Kim (Sa pa), Nậm Cần (Văn Bàn), Shan Lùng (Bát Xát). Bằng cách đầu tư mở rộng sản xuất, nâng cao sản lượng, đầu tư công nghệ, thiết bị tinh chế để nâng cao và ổn định chất lượng.

 Đầu tư mở rộng sản xuất nâng cao chất lượng sản phẩm bia từ 3 triệu lít/năm lên 5 triệu lít/năm vào năm 2010.

1.6 Xay xát, đánh bóng gạo: Đầu tư các cơ sở xay xát, đánh bóng gạo, xây dựng và bảo vệ thương hiệu cho các loại gạo đặc sản tại Mường Khương, Bát Xát, Sa Pa.

1.7 Chế biến súc sản, thức ăn nguội: Đầu  tư các cơ sở giết mổ gia súc tập trung với công nghệ giết mổ, bảo quản sản phẩm tiến tiến và chế biến thịt sau giết mổ như: Lạp sườn, giò lụa, pa tê, thịt khô, tại các xã thuộc thành phố Lào Cai và một số huyện lỵ.

1.8 Chế biến các loại nông sản khác: Phát triển một số ngành nghề mới như: Chế biến miến, bánh kẹo, nước chấm, tương các loại. Chế biến rau quả và các loại nấm nhân tạo; chế biến đường mía; sản xuất các loại bột dinh dưỡng từ ngũ cốc.

1.9 Chế biến lâm sản:

- Đầu tư nhà máy bột giấy tại Bảo Yên: Công suất: 10.000 tấn sản phẩm/năm.

- Đầu tư nhà máy chế biến gỗ xuất khẩu tại Gia Phú, Bảo Thắng với công suất 10.000 m3 sản phẩm/năm.

- Đầu tư mới xưởng sản xuất giấy đế, đũa xuất khẩu ở Văn Bàn với công suất 3.000 tấn giấy đế /năm và 500 tấn đũa /năm.

- Ngoài ra, đầu tư mở rộng một số cơ sở chế biến gỗ như: Ván ghép thanh, ván sàn tại huyện Bảo Yên, Văn Bàn; các cơ sở chế biến gỗ có quy mô nhỏ khác tại huyện Bảo Thắng, Bát Xát, Sa Pa; phát triển các cơ sở nhỏ sản xuất hàng thủ công từ tre, vầu, nứa, song mây, trúc, cọ… tại các huyện Văn Bàn, Bảo Yên, Sa Pa, Bát Xát và một số xã thuộc thành phố Lào Cai.

2. Phát triển các ngành nghề dịch vụ:

2.1. Sản xuất vật liệu xây dựng:

Sắp xếp lại các cơ sở khai thác VLXD và sản xuất gạch ngói thủ công, hướng dẫn một số đơn vị chuyển sang sản xuất gạch, gạch block, bê tông nhẹ, vữa xây dựng khô…

2.2. Gia công, sửa chữa cơ điện:

Đầu tư đổi mới thiết bị, mở rộng sản xuất, nâng cao chất lượng phục vụ, đáp ứng nhu cầu gia công sửa chữa cơ điện phục vụ cho sản xuất nông, lâm nghiệp và các ngành nghề nông thôn; nghiên cứu đầu tư chế tạo: phụ tùng, chi tiết, các máy móc thiết bị, công cụ lao động phù hợp với các ngành chế biến nông, lâm sản, công nghiệp nông thôn của điạ phương.

2.3. Phát triển các nghề thủ công truyền thống:

Tiếp tục phát triển các nghề dệt, may, thổ cẩm, sản xuất hàng lưu niệm, một số ngành nghề mới trên cơ sở sử dụng nguyên liệu tại chỗ như: mộc, sừng, xương, đá mỹ nghệ… phục vụ cho du lịch và xuất khẩu tại Sa Pa, Bắc Hà, Văn Bàn, Bảo Thắng.

2.4. Phát triển các ngành nghề, dịch vụ khác:

Phát triển các ngành nghề khai thác, sơ chế khoáng sản với quy mô nhỏ làm vệ tinh hoặc cung cấp nguyên nhiên liệu, phụ gia cho các cơ sở khai thác chế biến khoáng sản quy mô lớn trên địa bàn tỉnh. Khuyến khích mọi thành phần kinh tế tham gia hoạt động trong lĩnh vực tư vấn, dịch vụ khuyến công, dịch vụ cung cấp nguyên nhiên liệu, tiêu thụ sản phẩm, xây dựng quảng bá thương hiệu cho các cơ sở sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp nông thôn.

2.5. Xây dựng một số làng nghề:

   Hỗ trợ nhân dân một số địa phương có nghề truyền thống phát triển sản xuất theo hướng làng nghề như sau: Các làng nghề thêu, dệt thổ cẩm tại: Tả Phìn, San Sả Hồ (Sa Pa); Bản Phố (Bắc Hà); Làng Mạ (Văn Bàn). Các làng nghề nấu rượu đặc sản: Shan Lùng(Bát Xát); Bản Phố (Bắc Hà); Thanh Kim (Sa Pa); Cốc Ngù (Mường Khương).

3. Quy hoạch và phát triển các hoạt động dịch vụ nông nghiệp ở nông thôn:

- Giải thể hệ thống cán bộ khuyến nông cụm xã. Kiện toàn lại hệ thống cán bộ dịch vụ nông nghiệp ở xã theo hướng: Mỗi xã bố trí 1 cán bộ làm nhiệm vụ khuyến nông, lâm, ngư, bảo vệ thực vật; 1 cán bộ làm công tác thú y.

 - Sắp xếp, củng cố, nâng cao chất lượng hiệu quả tổ chức các dịch vụ bảo vệ thực vật. Củng cố hệ thống Bảo vệ thực vật tỉnh, huyện đủ cán bộ có năng lực để thực hiện nhiệm vụ chuyên môn. Xây dựng được quy chế phối hợp hoạt động trong hệ thống và các đơn vị có liên quan để tổ chức thực hiện nhiệm vụ hoạt động dịch vụ bảo vệ thực vật. Tăng cường đầu tư cơ sở hạ tầng cho hệ thống BVTV.

- Đầu tư một số trang bị thiết yếu và tập huấn cho thú y viên thôn bản hằng năm. Phối hợp với các trường đào tạo tuyển chọn và gửi người ở cơ sở đi đào tạo kỹ thuật chăn nuôi thú y. Xây dựng chức năng, nhiệm vụ, quy chế hoạt động cho thú y viên cơ sở, đồng thời tổ chức triển khai để mạng lưới thú y cơ sở hoạt động theo đúng chức năng, nhiệm vụ. Tổ chức triển khai tiêm phòng vác xin theo quy định. Thực hiện tốt công tác hướng dẫn người chăn nuôi áp dụng các biện pháp khoa học kỹ thuật tiên tiến vào chăn nuôi hàng hóa, đảm bảo yêu cầu vệ sinh thú y.

- Chủ động các nguồn hàng vật tư nông nghiệp các loại để cung ứng kịp thời và đầy đủ, đảm bảo chất lượng theo yêu cầu của sản xuất trên địa bàn toàn tỉnh. Tổ chức tốt việc cung ứng các loại vật tư nông nghiệp có trợ giá, trợ cước vận chuyển với chi phí thấp nhất nhưng cung ứng phục vụ nông dân được lượng vật tư nhiều nhất, đảm bảo chất lượng mà vẫn đáp ứng nhu cầu sản xuất.

4. Đẩy mạnh hoạt động tín dụng trong nông thôn:

                Bố trí, phân bổ qui mô cơ cấu đầu tư tín dụng thương mại, tín dụng cho hộ nghèo trong nông nghiệp nông thôn:

- Đối tượng đầu tư: Ưu tiên vốn cho vay đối với hộ sản xuất nông lâm nghiệp, hộ làm kinh tế trang trại, các HTX và hộ nghèo. Tạo điều kiện  cho các đối tượng cần vốn thuận lợi trong tiếp cận với nguồn vốn tín dụng, các đối tượng đủ điều kiện đều được vay vốn. Ưu tiên vốn cho các dự án nông nghiệp trọng điểm: vùng cây ăn quả, vùng chè, ngô, lúa, chăn nuôi gia súc, gia cầm, thuỷ sản… Hình thành các vùng sản xuất tập trung chuyên canh tạo sản phẩm hàng hóa , cung cấp nguyên liệu cho công nghiệp chế biến và thực hiện giá trị thu nhập trên 50 triệu đồng/ha/năm. Tập trung vốn đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng nông thôn: giao thông. thuỷ lợi, điện, nước sinh hoạt, sửa chữa nhà cửa, trường học. Đầu tư phát triển mạnh công nghiệp chế biến nông lâm sản: chè, nguyên liệu giấy và công nghệ bảo quản sau thu hoạch đối với rau quả thực phẩm.

- Khối lượng đầu tư tín dụng, tiến độ thực hiện: Hàng năm căn cứ vào khả năng tăng trưởng nguồn vốn, quản lý sử dụng vốn để xác định doanh số cho vay, thời hạn nợ, dư nợ cho tổng thể các loại tín dụng thương mại, tín dụng chính sách đối với từng lĩnh vực trong nông nghiệp nông thôn. Tổng doanh số cho vay đối với nông nghiệp - nông thôn đạt 6.000 tỷ đồng, tăng trên 80% so với giai đoạn trước.

- Điều chỉnh cơ cấu tín dụng theo hướng có chiều sâu, tác động tăng trưởng ổn định và phù hợp với chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong nông nghiệp nông thôn. Cụ thể: dư nợ cho vay trung dài hạn trong nông nghiệp nông thôn 72-75% (năm 2005 là 70%); tỷ trọng dư nợ cho vay ngành trồng trọt 17-18% (năm 2005 là 14%); tỷ trọng dư nợ cho vay ngành chăn nuôi 34-35% (năm 2005 là 52%); tỷ trọng dư nợ cho vay XD cơ sở hạ tầng nông nghiệp nông thôn 22-23% (năm 2005 là 25%); tỷ trọng dư nợ cho vay chế biến và đối tượng khác 24-25% (năm 2005 là 9,4%).

5. Phát triển dịch vụ thương mại nông thôn:

5.1. Phát triển mạng lưới và hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật:

- Mạng lưới chợ (chợ nông thôn, chợ biên giới): Trước mắt từ  2006- 2010 sẽ tập trung đầu tư nâng cấp, mở rộng những chợ có quy mô nhỏ, hiện đã quá tải. Đầu tư xây mới các chợ hiện đang là chợ tạm, chợ tranh tre nứa lá và mở thêm một số chợ mới tại các trung tâm cụm xã hiện chưa có chợ. Các chợ được cải tạo, nâng cấp và xây dựng mới gồm: Huyện Bảo Thắng: 6 chợ; Bảo Yên: 2 chợ; Văn Bàn: 3 chợ; Bắc Hà: 2 chợ; Si Ma Cai: 1 chợ; Mường Khương: 4 chợ Bát Xát: 3 chợ; Sa Pa: 2 chợ.

Phát triển mạng lưới đồng thời nâng cao chất lượng xây dựng và thời gian sử dụng của công trình theo hướng đầu tư đồng bộ và từng bước hiện đại hóa. Đối với các chợ được đầu tư xây dựng mới, ngoài việc đảm bảo tính kiên cố và đồng bộ còn phải đề cập đến các yếu tố về lịch sử, văn hóa của mỗi dân tộc, mỗi địa phương. Chợ vùng cao được xây dựng theo hướng vừa là chợ thương mại, vừa là nơi để đồng bào sinh hoạt, giao lưu văn hóa nhằm nâng cao dân trí và hình thành, phát triển tư duy sản xuất hàng hóa.

- Mạng lưới cửa hàng bán lẻ thương nghiệp: Phát triển mạng lưới cửa hàng thương nghiệp, ưu tiên tập trung phát triển ở một số trung tâm cụm xã đông dân cư, điều kiện kinh tế còn nhiều khó khăn, đang rất cần có cửa hàng để phục vụ cho đời sống và sản xuất: Giai đoạn 2006 - 2010, dự kiến phát triển mới 7 cửa hàng thương nghiệp cụ thể: Huyện Mường Khương: cụm xã Thanh Bình (gồm cả Nậm Chảy); Bắc Hà: Bản Liền và Cốc Ly; Sa Pa: Tả Phìn và cụm Bản Hồ; Văn Bàn: Dương Quỳ; Bát Xát: Tòng Sành. Mạng lưới cửa hàng thương nghiệp được xây dựng đảm bảo đáp ứng cung cấp các mặt hàng chính sách, tư liệu sản xuất, hàng hóa tiêu dùng và thu mua, tiêu thụ nông sản cho nông dân.

- Mạng lưới cửa hàng xăng dầu: Trong giai đoạn 2006- 2010, khuyến khích các doanh nghiệp xăng dầu tiếp tục đầu tư phát triển và mở rộng mạng lưới. Phấn đấu đến năm 2010 xây dựng mới được 12 cửa hàng xăng dầu trên 6 huyện, bao gồm: Bảo Thắng: 4 cửa hàng; Bảo Yên: 2 cửa hàng; Văn Bàn: 1 cửa hàng; Sa Pa: 2 cửa hàng; Bắc Hà: 2 cửa hàng; Mường Khương: 1 cửa hàng.

5.2. Phát triển nguồn nhân lực và lực lượng thương nhân:

Đào tạo đội ngũ cán bộ quản lý HTX thương mại dịch vụ, cán bộ ban quản lý chợ và lao động nông thôn tham gia kinh doanh thương mại. Dự kiến trong 4 năm (2007- 2010) mỗi năm đào tạo cho mỗi xã 3 người, thời gian đào tạo 6 tháng, nội dung đào tạo chủ yếu tập trung vào lĩnh vực quản lý thương mại như nghiệp vụ quản lý chợ, quản lý cửa hàng thương nghiệp, quản lý HTX dịch vụ thương mại.

5.3. Hỗ trợ nông dân nâng cao chất lượng, quảng bá và tiêu thụ sản phẩm:

Nội dung chủ yếu là hỗ trợ nông dân sản xuất các sản phẩm sạch, có chất lượng cao; đăng ký thương hiệu, tham gia giới thiệu và quảng bá sản phẩm trên thị trường. Đối tượng hỗ trợ là những sản phẩm đã được bình chọn, đáp ứng các tiêu chí cơ bản về chất lượng, tính đặc trưng, có giá trị đặc biệt trên thị trường và mang lại giá trị kinh tế cao cho người sản xuất và có khả năng sản xuất với khối lượng lớn.

III. Nhu cầu vốn thực hiện đề án:

1. Tổng nhu cầu và nguồn vốn đầu tư:

Tổng số 1.861 tỷ đồng, trong đó:

- Ngân sách tỉnh 94,6 tỷ đồng;

- Các bộ ngành TW 2,5 tỷ đồng;

- Vốn tín dụng 1.654,4 tỷ đồng;

- Vốn tự có của DN, HTX… 109,5 tỷ đồng;

2. Phân bổ theo các dự án:

- Dự án 1: 302,5 tỷ đồng;    - Dự án 2: 28,5 tỷ đồng;

- Dự án 3: 1.450 tỷ đồng;           - Dự án 4: 80 tỷ đồng.

3. Phân kỳ đầu tư (không kể 1.450 tỷ đồng vốn vay ngân hàng):

- Năm 2006: 98 tỷ đồng                  - Năm 2009: 67 tỷ đồng;

- Năm 2007: 126,4 tỷ đồng             - Năm 2010: 48,3 tỷ đồng.

- Năm 2008: 71,3 tỷ đồng

IV. Các giải pháp và cơ chế chính sách chủ yếu:

1. Đẩy mạnh việc hỗ trợ cung cấp thông tin phổ biến ứng dụng khoa học, công nghệ, tổ chức tốt các hoạt động khuyến công.

2. Quy hoạch các vùng nguyên liệu cho chế biến, gắn vùng nguyên liệu với chế biến, gắn nhà đầu tư với nông dân. Quy hoạch và xây dựng cơ chế chính sách ưu đãi đầu tư tại các cụm tiểu thủ công nghiệp.

3. Đa dạng hóa các loại hình đào tạo, gắn đào tạo với giải quyết việc làm cho người lao động. Chú trọng các loại hình đào tạo hỗ trợ cho lao động nông thôn như: tập huấn nâng cao tay nghề, bồi dưỡng kèm cặp tại chỗ, bồi dưỡng tập trung ngắn hạn, thông qua các phương tiện thông tin, tham quan kiến tập…

4. Toàn bộ các dự án đầu tư sản xuất, chế biến nông, lâm sản, thực phẩm…đều phải thực hiện lập đánh giá tác động môi trường và phải được đầu tư công nghệ xử lý môi trường phù hợp.

5. Phân cấp quản lý cán bộ thuộc hệ thống dịch vụ nông nghiệp: cán bộ làm công tác khuyến nông, lâm, ngư và bảo vệ thực vật giao cho Trung tâm Khuyến nông quản lý; cán bộ làm công tác thú y giao cho Chi cục Thú y quản lý.

6. Thực hiện tốt công tác quản lý Nhà nước đối với các hoạt động dịch vụ nông nghiệp trong nông thôn. Đặc biệt là quản lý tốt về chất lượng đối với việc cung ứng các giống cây trồng vật nuôi, cung ứng các loại vật tư nông nghiệp và các hoạt động dịch vụ khác theo đúng quy định của Nhà nước, nhằm nâng cao chất lượng hiệu quả dịch vụ nông nghiệp trong nông thôn. Kiểm tra, rà soát lại các điểm dịch vụ, các đại lý về cung ứng các loại vật tư nông nghiệp để lập hồ sơ theo dõi các điểm dịch vụ trên địa bàn toàn tỉnh. Xây dựng nội quy, quy chế hoạt động và hình thức quản lý hoạt động các loại dịch vụ.

7. Rà soát lại các văn bản pháp quy của Nhà nước hiện hành về hoạt động các dịch vụ nông nghiệp trong nông thôn để xây dựng các chức năng, nhiệm vụ của các đơn vị thực hiện các hoạt động dịch vụ nông nghiệp trong nông thôn  theo đúng quy định của Nhà nước.

8. Rà soát lại toàn bộ đội ngũ những người làm việc trong toàn bộ hệ thống dịch vụ nông nghiệp để kiện toàn lại, bổ sung và đào tạo có đủ năng lực chuyên môn với từng ngành nghề làm cho toàn bộ hệ thống hoạt động có chất lượng và hiệu quả cao. Đầu tư cơ sở hạ tầng và các trang thiết bị để phục vụ tốt cho hoạt động các dịch vụ.

9. Huy động, khai thác tối đa và lồng ghép có hiệu quả các nguồn vốn để đầu tư phát triển nông nghiệp, nông thôn: vốn ngân sách, vốn viện trợ, vốn tín dụng, vốn của các doanh nghiệp, vốn tự có của các gia đình, hộ nông dân...

10. Phát triển mạnh mạng lưới hoạt động cả điểm giao dịch cố định và lưu động của các ngân hàng để huy động vốn và cho vay. Áp dụng khoa học công nghệ tiên tiến vào hoạt động nghiệp vụ ngân hàng, cải tiến quy trình nghiệp vụ cho phù hợp. Thực hiện nghiêm túc chính sách ưu đãi lãi suất đối với vùng II, vùng III và hộ nghèo theo quy định. Đa dạng hóa các hoạt động tín dụng. Điều chỉnh, bổ sung cơ chế cho vay phù hợp với từng đối tượng. Xác định mức cho vay đối với từng loại đối tượng, từng vùng kinh tế.

11. Tập trung ưu tiên xây dựng cơ sở hạ tầng thương mại theo phương châm Nhà nước và doanh nghiệp, doanh nghiệp với nhân dân cùng làm, đầu tư của Nhà nước thúc đẩy đầu tư toàn xã hội. Tạo hành lang pháp lý và cơ chế khuyến khích mọi thành phần kinh tế cũng như toàn xã hội tham gia hoạt động thương mại - dịch vụ. Quản lý và sử dụng một cách hiệu quả vốn đầu tư cũng như các công trình thương mại đã hình thành. Khai thác mọi nguồn lực để phát triển thị trường, tăng cường các hoạt động xúc tiến thương mại và định hướng sản xuất. Nâng cao vai trò quản lý Nhà nước đối với hoạt động thương mại dịch vụ nông thôn.

12. Cơ chế, chính sách:

- Ngân sách địa phương trả lương và các khoản phụ cấp hàng tháng cho những người làm công tác khuyến nông lâm ngư, bảo vệ thực vật, thú y ở các xã, phường, thị trấn.

- Tiếp tục thực hiện chính sách trợ giá trợ, cước các loại vật tư nông nghiệp cho nông dân toàn tỉnh: đối với giống cây trồng (vùng II trợ giá 20%, vùng III trợ giá 30%) tính trên giá bán đủ chi phí; đối với nhóm phân bón các loại: Trợ cước vận chuyển theo đúng quy định của Nhà nước trên địa bàn toàn tỉnh. Việc thực hiện chính sách trợ cước, trợ giá được thực hiện theo kế hoạch hàng năm.

- Nhà nước hỗ trợ toàn bộ tiền mua vắc xin phòng bệnh đối với vùng cao (vùng 2 và vùng 3).

- Có cơ chế, chính sách phù hợp như: Chính sách về vốn; đất đai; đào tạo nguồn nhân lực; tài chính, tín dụng; phí và cơ chế ưu đãi khác; phát triển thương nhân, hỗ trợ khởi nghiệp...

V. Tổ chức thực hiện:

1. Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn:

- Chịu trách nhiệm tổ chức và chỉ đạo, kiểm tra các huyện, thành phố thực hiện các nội dung của Đề án.

- Chỉ đạo các đơn vị trực thuộc Sở theo nhiệm vụ được phân công, chỉ đạo về chuyên môn tới các trạm trực thuộc phối hợp thực hiện... Hàng năm tổng kết, đánh giá kết quả thực hiện Đề án.

- Chủ trì, phối hợp với Sở Kế hoạch và Đầu tư, Sở Tài chính và các ngành có liên quan xây dựng cơ chế, chính sách trình UBND tỉnh quyết định.

2. Sở Công nghiệp, Sở Thương mại và Du lịch, Chi nhánh Ngân hàng nhà nước:

Chịu trách nhiệm tổ chức và chỉ đạo các đơn vị trực thuộc triển khai thực hiện; hướng dẫn, kiểm tra các huyện, thành phố thực hiện các nội dung của các dự án thành phần.

3. Sở Kế hoạch và Đầu tư, Sở Tài chính:

Cân đối nguồn lực để thực hiện đề án. Hằng năm, phối hợp với Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn kiểm tra, đánh giá kết quả thực hiện Đề án.

3. Các tổ chức đoàn thể của tỉnh:

Các hội, đoàn thể căn cứ nội dung, tiến độ thực hiện Đề án, xây dựng các chương trình cụ thể để tuyên truyền, vận động, hướng dẫn các hội viên tích cực tham gia chương trình đạt hiệu quả.

4. UBND các huyện, thành phố:

Căn cứ các nội dung của Đề án được phê duyệt, xây dựng các dự án chi tiết hợp phần. Chỉ đạo các phòng ban chuyên môn, cơ quan đoàn thể ở địa phương tuyên truyền vận động, hướng dẫn các hộ nông dân, các thành phần kinh tế tích cực tham gia dự án trên địa bàn đạt hiệu quả. 



8/ TÓM TẮT ĐỀ ÁN: Đẩy mạnh quy hoạch săp xếp dân cư gắn với quy hoạch sản xuất giai đoạn 2006-2010

( Đề án không có dự án thành phần)

               

I. Mục tiêu của Đề án:

                1. Mục tiêu tổng quát:       

   Tiếp tục rà soát, đẩy mạnh tiến độ thực hiện Dự án quy hoạch sản xuất gắn với sắp xếp dân cư được phê duyệt, tổ chức thực hiện các vùng sản xuất quy hoạch, góp phần chuyển đổi cơ cấu sản xuất nông nghiệp, tăng thu nhập trên đơn vị diện tích, góp phần thực hiện công nghiệp hoá hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn.

                Trên cơ sở quy hoạch sản xuất, tiến hành rà soát, bố trí sắp xếp lại dân cư nhằm ổn định đời sống, phát triển sản xuất phù hợp từng vùng, địa phương, trước hết tập trung ưu tiên sắp xếp, di chuyển hộ trong vùng nguy cơ thiên tai, hộ thiếu đất sản xuất.

                2. Mục tiêu cụ thể: Sắp xếp khoảng 5.075 hộ (biên giới: 316 hộ, nội địa: 4.759 hộ), chưa kể tái định cư thuộc các dự án khác 1.276 hộ. Thành lập 19 thôn mới; 17 điểm dân cư mới và xen ghép  tại 459 thôn bản,

II. Nội dung của Đề án:

1. Sắp xếp dân cư:

            - Thực hiện là 5.075 hộ, trong đó: nội địa  là 4.759 hộ; biên giới 316 hộ.

- Hình thức sắp xếp :

                + Sắp xếp dân cư nội địa 4.759 hộ gồm: thành lập 18 thôn mới, 592 hộ; thành lập 15 điểm dân cư mới, 313 hộ và xen ghép 459 thôn, bản 3.854 hộ.

                + Sắp xếp dân cư biên giới 316 hộ, gồm: thành lập 6 thôn mới 171 hộ; thành lập 2 điểm dân cư, 75 hộ; xen ghép 10 hộ; ngoại huyện 60 hộ (Mường Khương sang Bát Xát).

- Đối tượng, điều kiện quy hoạch sắp xếp dân cư .

+ Đối tượng: Di chuyển ra khỏi vùng tiềm ẩn thiên tai, nguy hiểm 847 hộ; thiếu đất sản xuất 431 hộ;  ở phân tán, giao thông không thuận tiện, thiếu nước ăn, khó khăn công tác quản lý 2.078 hộ; di cư tự do vào nơi quy hoạch 12 hộ, quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội 1.391 hộ (chưa tính phần di dân tái định cư 1.276 hộ).

+ Điều kiện: Việc bố trí sắp xếp dân cư được bố trí tập trung gần đường giao thông, thuận tiện việc giao lưu, phát triển kinh tế, có nguồn nước, từng bước hoàn thiện hệ thống  công trình phúc lợi, đảm bảo cho người dân yên tâm định cư lâu dài, đồng bào đến nơi ở mới có điều kiện sống, sản xuất tốt hơn nơi cũ.

- Nội dung sắp xếp:

+ Sắp xếp nội địa: Si Ma Cai 503 hộ, trong đó thành lập 5 thôn mới, 87 hộ; 4 điểm mới, 81 hộ; nội thôn 335 hộ; Bắc Hà 570 hộ (chưa kể 50 hộ tái định cư thuộc dự án thuỷ điện Cốc Ly), trong đó thành lập 9 điểm dân cư mới, 170 hộ; nội thôn 400 hộ; Mường Khương 272 hộ nội thôn; Bát Xát 66 hộ nội thôn; Sa Pa 935 hộ, trong đó thành lập 1 thôn mới, 90 hộ; 2 điểm mới 62 hộ; nội thôn 783 hộ; Văn Bàn 1.151 hộ, trong đó thành lập 11 thôn mới, 319 hộ; nội thôn 832 hộ; Bảo Yên 661 hộ, trong đó thành lập 01 thôn mới 45 hộ (cũ 9 hộ); nội thôn 625 hộ; Bảo Thắng 572 hộ chủ yếu nội thôn (chưa kể 1.226 hộ sắp xếp tái định cư của các dự án xây dựng); TP Lào Cai 29 hộ chủ yếu xen ghép (năm 2006).

+ Sắp xếp biên giới: Si Ma Cai 91 hộ, trong đó thành lập 3 thôn mới 81 hộ; nội thôn 10 hộ; Mường Khương 225 hộ, trong đó thành lập 3 thôn mới 90 hộ; ngoại huyện 60 hộ (Mường Khương sang Bát Xát); 2 điểm dân cư 75 hộ.

            2. Đầu tư CSHT với thôn mới, điểm dân cư mới: Các thôn, điểm dân cư mới được xem xét, đầu tư CSHT thiết yếu phục vụ sản xuất, đời sống: 23 tuyến giao thông, 56 km, cho 23 thôn, điểm dân cư mới; 30 cấp nước tự chảy cho 30 thôn, điểm dân cư mới; 20 nhà lớp học cho 19 thôn, 1 điểm dân cư mới; 14 thuỷ lợi; 17 nhà văn hoá thôn cho thôn mới; Hỗ trợ san tạo mặt bằng 18 thôn, 15 điểm mới (nội địa).

3. Đẩy mạnh quy hoạch sản xuất: Thực hiện quy hoạch các vùng sản xuất được xác định, phê duyệt, đồng thời rà soát điều chỉnh nội dung không phù hợp với thực tế, thực hiện theo các đề án, dự án chuyên ngành như:

- Phát triển sản xuất nông lâm nghiệp: Sản xuất thâm canh tăng vụ trên đất ruộng; Phát triển chăn nuôi đại gia súc; Phát triển chăn nuôi thuỷ sản; Trồng, chế biến chè chất lượng cao; Sản xuất rau an toàn; Sản xuất hàng hoá; Sản xuất lúa đặc sản; Phát triển lâm nghiệp (trồng rừng kinh tế, rừng cảnh quan, rừng sinh thái...)....

- Phát triển tiểu thủ công nghiệp: Phát triển chế biến nông lâm sản; Ngành nghề tiểu thủ công nghiệp.

- Phát triển dịch vụ: Các hoạt động dịch vụ nông nghiệp nông thôn; Dịch vụ thương mại nông thôn.

4. Quy hoạch sản xuất gắn với thôn, điểm dân cư mới.

                Sản xuất nông lâm nghiệp là ngành kinh tế quan trọng nhằm: duy trì, đảm bảo an ninh lương thực tại chỗ đảm bảo ổn định chính trị - xã hội ở nông thôn, vì vậy quy hoạch bố trí đất đai hợp lý, nâng cao hiệu quả sử dụng đất, ưu tiên đất cho phát triển nông, lâm, ngư nghiệp, xoá đói giảm nghèo một cách vững chắc.

                Tuỳ theo từng địa phương sử dụng hợp lý, hiệu quả nguồn lực, nguồn tài nguyên đất đai và khí hậu của từng vùng phát triển sản xuất nông lâm nghiệp bền vững, lấy ngành chính làm mũi nhọn đột phá trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, tạo ra nhiều sản phẩm hàng hoá chât lượng cao phù hợp với thị trường, tăng thu nhập và ổn định đời sống dân cư.

                III- Kinh phí thực hiện đề án:

1. Tổng nhu cầu vốn: Nhu cầu vốn thực hiện đề án khoảng: 54.337 triệu đồng (chưa tính vốn phát triển sản xuất, vốn nhân dân tham gia), trong đó:

- Vốn hỗ trợ trực tiếp sắp xếp dân cư (nội địa):          13.541 triệu đồng

- Vốn hỗ trợ trực tiếp sắp xếp dân cư biên giới:            6.367 triệu đồng

- Vốn đầu tư CSHT gắn với sắp xếp dân cư:                34.429 triệu đồng

+ Giao thông, T.lợi, N.ăn, L.học, nhà VH, điện:         33.977 triệu đồng

+ Hỗ trợ san tạo mặt bằng (37 thôn, điểm mới) 905 hộ:   452 triệu đồng

2. Cơ cấu vốn đầu tư.

                - Đề án đầu tư thực hiện chủ yếu bằng nguồn vốn ngân sách Nhà nước (CT135, QĐ134, QĐ120, NQ37, CTMT văn hoá, CT nước sạch, CTMT giáo dục, CTXĐGN, NSTT, NSĐP và vay tín dụng...): 54.337 triệu đồng.

- Vốn nhân dân tham gia đóng góp ngày công lao động như làm đường GTLT, KCHKM, CT nước sạch. Tham gia lao động tăng thu nhập nhà nước trả công lao động .

- Vốn phát triển sản xuất, đã tính trong các đề án, dự án chuyên ngành.

3. Phân kỳ đầu tư:  

Đơn vị: triệu đồng                                                                                     

 

Nội dung

Tổng số

2006

2007

2008

2009

2010

 

Tổng số

54.337

14.368

14.922

12.732

8.548

3.786

1

Sắp xếp dân cư nội địa

13.541

6.039

3.000

1.931

1.923

668

2

Săp xếp dân cư biên giới

6.367

2.015

1.229

1.451

1.169

502

3

Đầu tư CSHT

34.439

6.314

10.693

9.350

5.456

2.616

 

      IV. Giải pháp -  Chính sách:

             1. Đất đai: Rà soát quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất cân đối cho hộ chưa đủ hạn điều theo quy định của nhà nước.

Thu hồi quỹ đất doanh nghiệp sau khi đổi mới sắp xếp bàn giao cho địa phương quản lý sử dụng.

Chuyển đổi diện tích rừng phòng hộ ít sung yếu sang diện tích rừng sản xuất.

Về đất ở: UBND huyện, thành phố chỉ đạo xã, rà soát quỹ đất (những điểm bố trí dân cư) cân đối, điều chỉnh quỹ đất phù hợp, hoặc vận động nhân dân chuyển nhượng lại.

Đất sản suất: Cơ bản được giữ nguyên, đồng bào vẫn canh tác trên diện tích  đất cũ được giao, chỗ ở mới cách nơi sản xuất hợp lý (từ 1 - 3 km).

Đối với hộ thiếu đất sản xuất, thay đổi đất sản xuất, UBND huyện sử dụng lồng ghép các nguồn vốn như đề án 134 hỗ trợ thêm đất theo chế độ hỗ trợ đất sản xuất, đất ở quy định tại QĐ134, quỹ đất chung chưa sử dụng bố trí, chính quyền xã vận động nhân dân tự nhường lại nhau, chủ yếu là trong nội tộc dòng hộ, phù hợp với thực tế địa phương.

2. Tài chính:

- Sắp xếp dân cư: Nguyên tắc là nhân dân tự làm, cộng đồng giúp đỡ, nhà nước hỗ trợ.

+ Sắp xếp dân cư nội thôn, nội xã nội địa thực hiện định mức Nhà nước ban hành

+ Sắp xếp dân cư biên giới (thôn có đường biên giới chung với nước ngoài) thực hiện theo QĐ120 của Thủ tướng Chính phủ.

 - Ngoài kinh phí hỗ trợ trực tiếp cho hộ tạo thôn bản, điểm dân cư mới (nội địa) hỗ trợ thêm kinh phí san tạo mặt bằng với mức hỗ trợ 500.000 đồng/hộ; Những nơi cần khai hoang được hỗ trợ theo CT135, các vốn khác.

- Đối với sản xuất: Thực hiện các chính sách hỗ trợ của Nhà nước, tỉnh ban hành.

3. Công tác tổ chức thực hiện: Thực hiện tốt những thôn, điểm dân cư mới, có kế hoạch chủ động bố trí cơ sở hạ tầng thiết yếu đảm bảo khi được sắp xếp lại đồng bào có đủ điều kiện ổn định đời sống và phát triển kinh tế bền vững. Đặc biệt phát hiện kịp thời những điểm dân cư nằm trong khu vực tiềm ẩn thiên tai cần được ưu tiên di chuyển ngay; những hộ được quy hoạch sắp xếp xen ghép nội thôn tận dụng cơ sở hạ tầng hiện có, các địa phương có kế hoạch xây dựng các thôn, điểm dân cư mới, chủ động xây dựng cơ sở hạ tầng trước khi đưa đồng bào đến ở ổn định được ngay.

4. Công tác tuyên truyền: Thực hiện tốt công tác tuyên truyền chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước đến các các cấp chính quyền và người dân, thông qua tập huấn và thông tin đại chúng.

    V. Tổ chức thực hiện:

1. Cấp tỉnh: Ban Dân tộc chủ trì tham mưu cho UBND tỉnh hướng dẫn, đôn đốc, kiểm tra tổng hợp đánh gía quá trình thực hiện, phối hợp với sở: Kế hoạch & Đầu tư, Nông nghiệp và PTNT, Tài nguyên - Môi trường, Tài chính, Lao động-TBXH, Biên phòng và UBND các huyện, thành phố, tháo gỡ khó khăn cho cơ sở.

2. Cấp huyện: UBND huyện là chủ đầu tư (chủ quản đầu tư) các dự án trên địa bàn, giao Phòng Dân tộc huyện là cơ quan thường trực, giúp UBND huyện hướng dẫn các xã, từ khâu xây dựng đề án, dự án (phương án) đến tổ chức thực hiện các mục tiệu nhiệm vụ được duyệt, phối hợp với Phòng Kinh tế, Tài nguyên, phòng tổ chức LĐTB&XH và UBND xã; xác định đối tượng, xây dựng quy hoạch từng thôn, điểm để sắp xếp dân cư cho phù hợp với quy hoạch sản xuất, điều kiện của từng địa phương. Thực hiện chế độ báo cáo định kỳ cũng như đột xuất phục vụ cho công tác chỉ đạo của UBND tỉnh, các ngành liên quan.

3. Cấp xã: UBND xã phối hợp với Phòng Dân tộc, các phòng ban liên quan xác định đối tượng, quy hoạch thôn, điểm sắp xếp dân cư, quy hoạch vùng sản xuất phù hợp với quy hoạch chung của huyện, tỉnh.

                Huy động nhân dân địa phương tham gia xây dựng công trình bằng công lao động, tuỳ theo từng chương trình, dự án như: Huy động nhân dân tham gia đóng góp bằng công lao động (đường GTLT, KCHKM, CT nước sạch, tạo mặt bằng trường lớp học...); Huy động nhân dân tham gia lao động nhà nước trả công để tăng thu nhập (công trình dự án thuộc CT135, QĐ120, QĐ134, XĐGN...). 



9/ TÓM TẮT ĐỀ ÁN Giảm nghèo bền vững giai đoạn 2006-2010 tỉnh Lào Cai.

( Đề án không có dự án thành phần ) 

I. MỤC TIÊU CỦA ĐỀ ÁN :

1. Mục tiêu tổng quát:

                - Giữ vững và tăng tốc độ giảm nghèo cao hơn giai đọan tr­ước, giảm tỷ lệ nghèo phát sinh, củng cố các thành quả giảm nghèo, kết quả giảm nghèo bền vững toàn diện hơn, công bằng hơn và hội nhập tạo cơ hội cho hộ đã thoát nghèo vư­ơn lên khá giả, cải thiện một bước điều kiện sống và sản xuất ở các xã nghèo, xã đặc biệt khó khăn, nâng cao chất l­ượng cuộc sống của nhóm hộ nghèo.

                 - Tiếp tục phấn đấu rút ngắn khoảng cách chênh lệch tỷ tệ nghèo, mức thu nhập của ngư­ời nghèo giữa thành thị và nông thôn, giữa vùng cao và vùng thấp, giữa các dân tộc và giữa nhóm hộ giầu và nhóm hộ nghèo.                

                  2. Mục tiêu cụ thể:

               - Giảm tỷ lệ hộ nghèo từ  43,01 % năm 2005 xuống còn 20% năm 2010.

               - Cơ bản xoá xong tình trạng nhà tạm, nhà dột nát cho hộ nghèo.

               - 100% số hộ nghèo trong các xã còn quỹ đất đ­ược giao đất sản xuất theo định mức tỉnh duyệt.

               - Cơ bản hộ nghèo và nhân dân vùng 135 đ­ược mua BHYT và học sinh nghèo là dân tộc thiểu số và trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn thuộc diện nghèo đư­ợc miễn toàn bộ học phí và các khoản đóng góp xây dựng trường, được hỗ trợ sách giáo khoa, vở viết. Giảm 50% học phí và các khoản đóng góp xây dựng tr­ường, lớp  cho số học sinh nghèo còn lại.

- 100% số hộ nghèo trong nhóm 1 và nhóm 2 (chiếm 55% số hộ nghèo) được bồi d­ưỡng về khuyến nông, bồi d­ưỡng về cách làm ăn.

- 100% hộ nghèo có nhu cầu về vốn đ­ược vay vốn ưu đãi để sản xuất kinh doanh.

- Trong 5 năm 2006 – 2010 bình quân hàng năm giải quyết cho khoảng 9.200 lao động; dạy nghề cho 10.000 ng­ười nghèo.

II. GIẢI PHÁP VÀ NHIỆM VỤ:

A. Hoàn thiện và đổi mới hệ thống cơ chế và chính sách:

1. Về cơ chế:

- Đảm bảo thực hiện công khai, dân chủ, tăng cường sự tham gia của cơ sở, của người dân trong toàn bộ hoạt động của đề án.

- Đa dạng hoá, xã hội hoá nguồn lực huy động.

- Đẩy mạnh phân cấp, xây dựng cơ chế giám sát đề án.

Thực hiện phân cấp trong tổ chức, quản lý thực hiện đề án cho cấp huyện và xã.

Tăng cường công tác quản lý, kiểm tra của các cơ quan nhà nước, kiểm tra, giám sát của cộng đồng, đánh giá của tư vấn độc lập.

2. Về chính sách:

a) Chính sách ưu đãi về lãi suất trong tín dụng, tiếp cận dần với lãi suất thị trường, gắn tín dụng với tiết kiệm của hộ nghèo.

- Cung cấp tín dụng ưu đãi cho người nghèo theo qui định của Trung ương kết hợp với việc tư vấn để người nghèo sử dụng vốn có hiệu quả. Không cấp bù lãi suất cho vay tín dụng hộ nghèo và tăng dần suất đầu tư.

- Đẩy mạnh hoạt động tín dụng của các đoàn thể, tín dụng trong dân. Thực hiện lồng ghép với các hoạt động tín dụng Nhà nước để chuyển giao kinh nghiệm và kỹ thuật, đồng thời gắn kết hoạt động tín dụng với tiết kiệm.

b) Chính sách hỗ trợ vốn cho hộ quá nghèo để phát triển sản xuất:

Thực hiện chính sách hỗ trợ vốn cho những hộ  nghèo có mức thu nhập thuộc nhóm I (ở nông thôn: dưới 80.000đ/người/tháng và ở thành thị dưới 150.000đ/người/tháng) từ ngân sách để đầu tư vào sản xuất, chủ yếu là đầu tư chăn nuôi đại gia súc (trâu, bò). Mức hỗ trợ được xác định trên cơ sở giá trị của 1 con bò giống tại từng thời điểm. Định mức hỗ trợ bằng 50% giá trị 1 con bò (dự ước tại thời điểm cuối năm 2006 là 02 triệu đồng).

Đối với  những hộ không có điều kiện chăn nuôi đại gia súc cũng được hưởng định mức tương đương để phát triển sản xuất như: chăn nuôi gia cầm, trồng trọt và các điều kiện cần thiết khác để phát triển sản xuất, kinh doanh đạt hiệu quả.

Ưu tiên hỗ trợ trước cho những hộ nghèo ở các xã đặc biệt khó khăn có tỷ lệ nghèo cao từ 50% trở lên trong năm 2007 và năm 2008, hộ nghèo các xã có tỷ lệ dưới 50% sẽ thực hiện ở những năm tiếp theo.

 c) Chính sách khuyến nông, khuyến lâm, khuyến ngư:

- Qui hoạch và xây dựng cho được mạng lưới khuyến nông và đội ngũ khuyến nông viên, thú y viên xã, thôn, bản đạt tiêu chuẩn như mục tiêu đã đề ra.

- Thường xuyên bồi dưỡng cho khuyến nông, thú y viên cơ sở để đáp ứng nhu cầu dịch vụ phục vụ phát triển sản xuất, nâng cao trình độ khoa học kỹ thuật cho nông dân.

- Thực hiện từng bước việc liên kết để gắn trách nhiệm của khuyến nông với việc sản xuất và tiêu thụ sản phẩm của nông dân.

-  Xã hội hoá công tác khuyến nông tiến tới giảm dần khuyến nông cụm xã.

d) Chính sách khám chữa bệnh cho người nghèo.

Tiếp tục thực hiện theo Quyết định 139/2002/QĐ-TTg ngày 15/10/2002 của Thủ tướng Chính phủ và những qui định sửa đổi.

Xây dựng cơ chế phối hợp giữa các ngành chức năng ở tỉnh, huyện và xã, phát triển mạnh mạng lưới y tế cơ sở và tăng cường cơ sở vật chất, năng lực cán bộ y tế xã.

Ban hành chính sách hỗ trợ 1 phần tiền ăn cho bệnh nhân nghèo mắc bệnh nặng, điều trị nội trú dài ngày tại các cơ sở khám chữa bệnh từ Phòng khám khu vực trở lên

đ) Chính sách hỗ trợ con em người nghèo trong giáo dục- đào tạo.

- Tiếp tục thực hiện theo chính sách qui định của Nhà nước, đồng thời áp dụng một số chính sách phù hợp với thực tế ở địa phương như: Hỗ trợ sách giáo khoa vở viết cho học sinh nghèo có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn ngoài vùng 135, khuyến khích học sinh là người dân tộc thiểu số đi học trung học phổ thông, học sinh dân tộc thiểu số nghèo ở các trường nội trú.

e) Chính sách hỗ trợ con em người nghèo trong đào tạo nghề.

- Xây dựng chính sách ưu tiên tuyển sinh học sinh nghèo đào tạo ở các trường trong tỉnh, chính sách hỗ trợ dạy nghề.

f) Chính sách hỗ trợ hộ nghèo nhà ở, đất ở, đất sản xuất, nước sinh hoạt.

Thực hiện theo Quyết định số 134/2004/QĐ-TTg ngày 20/7/2004 của Thủ tướng Chính phủ.

Quan tâm đầu tư, thực hiện chính sách hỗ trợ nhà ở cho hộ nghèo để đạt mục tiêu xoá nhà tạm đến năm 2010.

Đối với những hộ nghèo không thuộc diện đối tượng của Quyết định 134, tập trung sử dụng chủ yếu nguồn quỹ “Ngày vì người nghèo” để hỗ trợ làm nhà bằng các hình thức như: Nhà đại đoàn kết, “Nhà tình thương”. Định mức hỗ trợ theo định mức của Quyết định 134. Đồng thời tăng cường các biện pháp huy động nguồn Quỹ và xã hội hoá việc cải thiện nhà ở trên địa bàn.

   g) Chính sách hỗ trợ đầu tư cơ sở hạ tầng các xã nghèo.

Tiếp tục thực hiện đầu tư cơ sở hạ tầng cho các xã 135 và các xã có tỷ lệ nghèo 20% trở lên.

Ưu tiên đặc biệt về nguồn lực cho xây dựng hoàn chỉnh cơ sở hạ tầng các xã có tỷ lệ nghèo từ 70% trở lên.

h) Mở rộng thực hiện dự án xây dựng mô hình điểm:

Triển khai xây dựng và tổ chức thực hiện dự án mô hình điểm và nhân rộng các mô hình giảm nghèo có hiệu quả góp phần đẩy nhanh tốc độ giảm nghèo chung của cả tỉnh.

i) Xây dựng quỹ hỗ trợ phát triển ở các xã nghèo có tỷ lệ nghèo cao.

Xây dựng Qũy phát triển cộng đồng ở các xã có tỷ lệ nghèo cao từ 70% trở lên, nhằm hỗ trợ thêm nguồn lực một cách kịp thời, sớm rút ngắn khoảng cách về tỷ lệ nghèo giữa thành thị, nông thôn, vùng thấp, vùng cao và giữa các dân tộc trên địa bàn tỉnh.

j) Chính sách phụ cấp cho cán bộ chuyên trách làm công tác XĐGN:

                Bố trí cán bộ chuyên trách giảm nghèo cho tất cả các xã đặc biệt khó khăn và thực hiện chế độ trả lương theo hợp đồng với mức thấp nhất là bằng mức lương tối thiểu trong từng thời kỳ. Các xã còn lại sử dụng cán bộ VHXH kiêm nhiệm.

B- Giải pháp hỗ trợ người, hộ, xã nghèo thông qua các chính sách, dự án:

1. Nhóm giải pháp hỗ trợ tạo điều kiện cho hộ nghèo phát triển sản xuất tăng thu nhập, bao gồm:

1.1. Về tín dụng ưu đãi cho người nghèo:

*Nội dung:

- Cung cấp tín dụng ưu đãi, kết hợp chặt chẽ giữa tín dụng với hoạt động tiết kiệm giúp hộ nghèo vươn lên thoát nghèo bền vững.

- Hỗ trợ điều kiện cho hộ nghèo phát triển sản xuất, chủ yếu tập trung phát triển chăn nuôi đại gia súc, đồng thời hỗ trợ những hộ không có điều kiện phát triển đại gia súc có thể phát triển chăn nuôi gia cầm, trồng trọt.

*Cơ chế thực hiện:

- Thực hiện cơ chế cho vay trực tiếp hoặc uỷ thác qua các tổ chức đoàn thể, có sự chỉ đạo chặt chẽ và phê duyệt của UBND. Có cơ chế thưởng, phạt rõ ràng.

*Kết quả dự kiến

- Nâng suất cho vay từ 5 triệu đồng/ hộ năm 2005 lên 7 triệu đồng/hộ vào năm 2006 và đến năm 2010 đạt 12 triệu đồng/hộ.

- Số hộ dư nợ: Từ khoảng 51.000 hộ hiện nay giảm dần số hộ dư nợ xuống còn 25.000 hộ vào năm 2010.

* Nhu cầu về vốn:

Nguồn vốn: Sử dụng có hiệu quả nguồn vốn TW đã chuyển cho NHCSXH Lào Cai đến 31 tháng 12 năm 2005 là 260.793 triệu đồng.

Tổng số vốn cần cho tín dụng ưu đãi hộ nghèo khoảng: 391 tỷ đồng.

Trong đó: Nguồn TW 382 tỷ đồng, địa phương 9 tỷ đồng.

1.2. Hỗ trợ trực tiếp cho hộ nghèo tham gia vay vốn tín dụng người nghèo:

* Nội dung:

 Hỗ trợ vốn và các điều kiện cho hộ nghèo phát triển sản xuất, chủ yếu tập trung phát triển chăn nuôi đại gia súc (trâu, bò). Ngoài ra, đối với  những hộ không có điều kiện chăn nuôi đại gia súc để phát triển sản xuất như: chăn nuôi gia cầm, trồng trọt.

* Cơ chế thực hiện:

Hỗ trợ trực tiếp bằng tiền mặt một lần cho hộ nghèo tham gia vay vốn tín dụng người nghèo.

Mức hỗ trợ tính bằng 50% giá trị 01 con bò giống tại thời điểm thực hiện chính sách.

Sở Lao động – TBXH chủ trì, phối hợp với Sở Kế hoạch và Đầu tư, Sở Tài chính, Sở Nông nhiệp và PTNT, Ngân hàng chính sách tỉnh và UBND các huyện, thành phố xây dựng kế hoạch hàng năm trình UBND tỉnh phê duyệt. Chỉ tiêu kế hoạch hỗ trợ hàng năm giao cho UBND các huyện, thành phố. Các huyện, thành phố có trách nhiệm chỉ đạo, triển khai thực hiện tại địa phương.

* Kết quả dự kiến: Đến năm 2010 hỗ trợ cho khoảng 9.050 hộ.

Nguồn vốn: Nguồn đảm bảo xã hội và lồng ghép các nguồn như: Chương trình mục tiêu quốc gia về giảm nghèo, Chương trình 135, Chương trình phát triển chăn nuôi đại gia súc của tỉnh…

* Nhu cầu vốn:

Nhu cầu về vốn ước 18,1 tỷ đồng, trong đó NSTW là 5,4 tỷ đồng, NSĐP là 12,7 tỷ đồng

1.3. Hỗ trợ hộ nghèo về đất sản xuất, đất ở, nhà ở và nước sinh hoạt:

* Nội dung: Về hỗ trợ đất sản xuất, đất ở, nhà ở, nước sinh hoạt cho hộ nghèo dân tộc thiểu số.

* Cơ chế thực hiện: NSTW hỗ trợ cho các hộ nghèo dân tộc thiểu số về đất sản xuất, đất ở, nhà ở, nước sinh hoạt (theo QĐ 134).

* Kết quả dự kiến:

- Cơ bản giải quyết song vấn đề đất sản xuất, đất ở, nhà ở và nước sinh hoạt cho hộ nghèo là dân tộc thiểu số.

* Nhu cầu vốn: Ước 42,2 tỷ đồng, trong đó NSTW 70% là 29 tỷ đồng, NSĐP 8 tỷ đồng, huy động từ các tầng lớp  nhân dân các doanh nghiệp và cộng đồng là 5,2 tỷ đồng

1.4. Về khuyến nông, lâm, ngư và hỗ trợ phát triển sản xuất, phát triển ngành nghề.

* Nội dung:

- Trang bị kiến thức và kỹ năng nông, lâm, ngư nghiệp thông qua khuyến nông.

- Hỗ trợ việc hình thành và tổ chức hoạt động của các tổ chức khuyến nông

- Cung cấp các thông tin khoa học và kỹ thuật, thị trường cho nông dân.

- Tăng cường đội ngũ cán bộ khuyến nông ở các xã nghèo và thôn bản.

* Cơ chế thực hiện:

- Sở Nông nghiệp và PTNT phối hợp với các ngành xây dựng đề án tập huấn khuyến nông, lâm, ngư và hướng dẫn tổ chức thực hiện.

*Kết quả dự kiến:

- Đến hết năm 2010 có 40.000 lượt người được tập huấn tham gia mô hình, hội nghị đầu bờ về khuyến nông, lâm, ngư, chuyển giao kỹ thuật.

- 100% số xã có đủ cán bộ khuyến nông với trình độ từ trung cấp trở lên.

- 100% số thôn có người làm công tác khuyến nông, lâm, ngư với trình độ từ bằng nghề trở lên.

*Nhu cầu về vốn và nguồn vốn: Nhu cầu kinh phí là 47 tỷ đồng. Trong đó NSTW hỗ trợ 16,9 tỷ đồng, NSĐP 11,3 tỷ đồng, huy động từ cộng đồng 18,8 tỷ đồng.

1.5. Về dạy nghề cho người nghèo:

*Nội dung:

- Nghiên cứu, đánh giá nhu cầu học nghề của người nghèo.

- Xây dựng kế hoạch đào tạo và tổ chức đào tạo nghề ngắn hạn phù hợp để người nghèo có thể tự tạo ra cơ hội việc làm.

- Gắn đào tạo nghề với việc làm và cung cấp tín dụng, người học nghề được trợ giúp giới thiệu việc làm  miễn phí.

- Hỗ trợ Trường, trung tâm dạy nghề nâng cao năng lực dạy nghề.

*Cơ chế thực hiện

- Sở Lao động- TBXH xây dựng kế hoạch dạy nghề cho người nghèo, dạy nghề nông thôn gắn với giải quyết việc làm cho người nghèo và nông dân trình UBND tỉnh phê duyệt và tổ chức hướng dẫn thực hiện.

- Tỉnh trực tiếp chi trả phí dạy nghề, giới thiệu việc làm cho người nghèo hoặc trả thay người nghèo đối với cơ sở dạy nghề, trung tâm dịch vụ việc làm.

*Kết quả dự kiến: Đến năm 2010, khoảng 10.000 lao động nghèo được hỗ trợ học nghề và tạo việc làm tại chỗ,

*Nhu cầu vốn và nguồn vốn: Nhu cầu vốn là 6 tỷ đồng, trong đó TW hỗ trợ 3 tỷ đồng, NSĐP 1,5 tỷ đồng, huy động cộng đồng 1,5 tỷ đồng (Có dự án về dạy nghề cho nông thôn riêng)

1.6. Xây dựng và nhân rộng mô hình XĐGN:

*Nội dung:

 - Tổng kết rút kinh nghiệm các mô hình triển khai.

 - Duy trì, mở rộng và khuyến khích các mô hình phát triển sản xuất, GN có hiệu quả bằng nguồn lực của địa phương, các doanh nghiệp, các thôn, các nhóm, các dòng họ và chính các hộ nông dân.

- Giám sát việc đánh giá nhân rộng mô hình.

* Cơ chế thực hiện:

- Sở Lao động – TBXH phối hợp với các ngành, các huyện, các đơn vị sản xuất kinh doanh xây dựng kế hoạch và tổ chức nhân rộng mô hình giảm nghèo.

- Hỗ trợ một phần kinh phí nhằm khuyến khích chủ động nhân rộng mô hình.

*Kết quả dự kiến: Thu nhập của hộ nghèo tham gia dự án tăng 20 – 25%/năm và giảm 2/3 số hộ nghèo tham gia dự án.

*Nhu cầu vốn: Tổng số 8,4 tỷ đồng, trong đó NSTW hỗ trợ là 5,4 tỷ đồng, ngân sách tỉnh  2 tỷ đồng, huy động các doanh nghiệp 1 tỷ đồng

1.7. Xây dựng Qũy phát triển cộng đồng ở các xã có tỷ lệ nghèo cao từ 70% trở lên

*Nội dung hoạt động:

- Hướng dẫn, chỉ đạo các địa phương lựa chọn các xã nghèo theo tiêu chí trên đưa vào danh sách các xã thực hiện dự án thí điểm.

- Hỗ trợ phát triển cộng đồng cơ sở nhỏ ở thôn, bản (phục vụ sản xuất và dân sinh).

- Hỗ trợ khuyến nông- lâm- ngư, áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật và sản xuất, nâng cao năng lực của lãnh đạo thôn và người dân.

- Hỗ trợ phát triển chăn nuôi đại gia súc, phát triển nâng cao thu nhập từ rừng, phát triển ngành nghề tiểu thủ công nghiệp.

*Cơ chế thực hiện:

- Sở Lao động- TBXH phối hợp với các huyện hướng dẫn xây dựng kế hoạch huy động, sử dụng và quản lý dự án trên nguyên tắc: “Công khai, dân chủ, trách nhiệm, minh bạch”. Bình quân mỗi xã 200 triệu đồng/năm.

*Nhu cầu vốn: Tổng nhu cầu vốn 6,8 tỷ, trong đó NSTW 1 tỷ đồng, NSĐP 5 tỷ đồng và huy động 0,8 tỷ đồng.

2. Tạo cơ hội để người nghèo tiếp cận các dịch vụ xã hội.

2.1. Hỗ trợ về y tế cho người nghèo và nhân dân xã 135.

*Nội dung:

- Tiếp tục củng cố mạng lưới y tế cơ sở, thực hiện chương trình kiên cố hóa trạm y tế xã và phòng khám đa khoa khu vực, triển khai thực hiện đạt chuẩn y tế xã.

- Miễn 100% chi phí khám và chữa bệnh cho người nghèo và nhân dân xã 135 khi đau ốm đến KCB nội trú hay ngoại trú ở các cơ sở y tế công lập và dân lập.

- Hỗ trợ 1 phần tiền ăn cho bệnh nhân nghèo mắc bệnh nặng, điều trị nội trú dài ngày tại các cơ sở khám chữa bệnh từ Phòng khám khu vực trở lên.

* Cơ chế thực hiện:

- Thẻ BHYT có giá trị trong vòng 2 năm và được cấp ngay từ đầu năm.

- Mệnh giá thẻ 60.000 đ/thẻ/năm. Các mức KCB thực hiện bình đẳng như Bảo hiểm y tế bắt buộc đối với cán bộ công nhân viên và người lao động tham gia BHYT.

*Kết quả dự kiến:

- 100% người nghèo, người thoát nghèo trong thời gian 2 năm và nhân dân xã 135 được mua thẻ BHYT.

*Nhu cầu về vốn: Tổng nguồn vốn 100,7 tỷ, trong đó NSTW 96,068 tỷ đồng, NSĐP 4,632tỷ đồng (Phần tiền ăn cho bệnh nhân nghèo điều trị nội trú).

2.2. Hỗ trợ về giáo dục cho người nghèo.

*Các nội dung:

- Miễn 100% học phí (đối với các cấp học và bậc học phải đóng học phí) và các khoản đóng góp xây dựng trường cho người học là thành viên của các hộ nghèo là người dân tộc thiểu số, đồng thời được trợ cấp 1 lần là 120.000đ/ người /năm để mua sách vở và đồ dùng học tập.

- Giảm 50% học phí (đối với các cấp học và bậc học phải đóng học phí);50% các khoản đóng góp  xây dựng trường cho người học là thành viên các hộ nghèo khác

* Cơ chế thực hiện:

- Chính sách trên thực hiện theo cơ chế hiện hành của Luật Giáo dục, Luật Phổ cập, giáo dục tiểu học.

- Sở Lao động - TBXH chủ trì phối hợp với  Sở Tài chính, Giáo dục và Đào tạo, xây dựng cơ chế Nhà nước trực tiếp chi trả học phí và các khoản hỗ trợ trên hoặc trả thay cho đối tượng trên đối với các cơ sở đào tạo kể cả công lập và ngoài công lập.

*Kết quả dự kiến:

- Về học phí: 165.000 lượt học sinh nghèo được miễn, BQ 33.000 học sinh /năm; 39.700 lượt học sinh nghèo được giảm, BQ 7.940 học sinh/ năm.

- Về hỗ trợ vở viết, sách giáo khoa 165.000 lượt học sinh nghèo. BQ 33.000 học sinh /năm .

*Nhu cầu vốn: Tổng nguồn vốn là 69,38 tỷ đồng, bình quân 1 năm là 13,8 tỷ đồng. UBND tỉnh Quyết định trong nguồn chi bảo đảm xã hội hàng năm.

3. Nâng cao năng lực:

3.1. Về nâng cao năng lực cho cán bộ làm công tác giảm nghèo và cán bộ trợ giúp pháp lý cho người nghèo các cấp.

* Nội dung:

- Kiện toàn đội ngũ cán bộ làm công tác XĐGN các cấp.

- Nghiên cứu đánh giá nhu cầu đào tạo ở tất cả các cấp.

- Xây dựng chương trình, nội dung và phương pháp đào tạo.

- Trang bị vật tư thiết bị cho đào tạo.

- Đào tạo đội ngũ “ tiểu giáo viên”.

- Tổ chức tập huấn cán bộ trợ giúp pháp lý cho người nghèo.

- Tổ chức khảo sát học tập kinh nghiệm trong tỉnh, ngoài tỉnh, tổ chức hội thảo, hội nghị đánh giá nhu cầu và kết quả đào tạo.

* Cơ chế thực hiện:                                                                                 

- Sở Lao động- TBXH phối hợp với Sở Nội vụ, UBND các huyện, thành phố trong việc kiện toàn đội ngũ cán bộ giảm nghèo các cấp, nhất là ở cơ sở.

*Kết quả dự kiến:

- Đến năm 2010, dự ước 4.100 lượt người được đào tạo bồi dưỡng (bình quân 820 lượt người/ năm).

Trong đó: Cán bộ cấp xã 250 lượt người; cấp thôn 3.750; cấp huyện và ngành 100 lượt người.

- Hợp đồng 81 cán bộ làm công tác XĐGN tại 81 xã ĐBKK.

*Nhu cầu vốn: Tổng nguồn vốn là 5,360 tỷ đồng, trong đó ngân sách TW là 2,250 tỷ đồng, NSĐP 3,110 tỷ đồng.

3.2. Công tác truyền thông về XĐGN.

* Nội dung:

- Xây dựng kế hoạch thông tin, tuyên truyền chương trình mục tiêu về giảm nghèo.

- Tổ chức tuyên truyền chủ trương, luật pháp, chính sách của Đảng, Nhà nước và của tỉnh về giảm nghèo.

- Xây dựng trang Website của Đề án XĐGN bền vững giai đoạn 2006 – 2010 để tuyên truyền chia sẻ thông tin với các địa phương, các cấp, các ngành, các tổ chức kinh tế và người dân, thông qua đó để huy động thêm nguồn lực cho mục tiêu giảm nghèo.

- Tổ chức hội nghị điển hình tiên tiến về giảm nghèo cấp tỉnh 5 năm  2 lần và cấp huyện 1 năm  một lần.

* Cơ chế thực hiện:

- Sở Lao động – TBXH phối hợp chặt chẽ với sở Văn hoá Thông tin và các huyện, thành phố triển khai các hoạt động nêu trên.

- Các huyện, thành phố chủ động sử dụng các kênh thông tin hiện có, phát hiện các điển hình tiên tiến để tuyên truyền và chia sẻ kinh nghiệm cho các huyện khác trong tỉnh.

* Kết quả dự kiến: Nhận thức về công tác XĐGN của các cấp, các ngành và người dân được nâng lên. Các cơ quan truyền thông thiết lập được chương trình tuyên truyền thường kỳ trong tuần.

* Nhu cầu vốn: Tổng nhu cầu vốn là 1 tỷ đồng trong đó NSĐP 1 tỷ đồng.

3.3. Về nâng cao năng lực giám sát đánh giá.

* Nội dung:

- Xây dựng hệ thống chỉ tiêu giám sát và đánh giá 3 cấp (từ tỉnh đến xã).

- Xây dựng phần mềm quản lý đối tượng ở cấp huyện và tỉnh.

- Tổ chức điều tra giảm nghèo hàng năm.

- Xây dựng cơ sở dữ liệu đầu kỳ về thực trạng nghèo đói.

* Kết quả dự kiến: Kiểm soát được diễn biến nghèo đói có căn cứ khoa học và kiểm soát được kết quả thực hiện đề án một cách trung thực. Cung cấp được những thông tin chính xác và kịp thời cho việc điều chỉnh cơ chế, chính sách cũng như các hoạt động hỗ trợ của đề án, nâng cao hiệu quả của đề án.

* Nhu cầu vốn: Tổng nguồn vốn cho giám sát, đánh giá là 3 tỷ đồng trong đó NSTW 1 tỷ đồng, NSĐP 2 tỷ đồng.

4. Đầu tư cơ sở hạ tầng:

 Phát triển cơ sở hạ tầng thiết yếu ở 142 xã gồm các xã ĐBKK,  các xã có tỷ lệ nghèo từ 20% trở lên và các xã vùng II (Dự án cụ thể do Sở kế hoạch đầu tư thực hiện).

III. NHU CẦU VỐN – PHÂN KỲ ĐẦU TƯ:                 

1. Khái toán nhu cầu vốn thực hiện đề án:                698,940 triệu đồng.

2. Cơ cấu vốn đầu tư:

2.1  Nguồn vốn tín dụng:

                       391.000 triệu đồng

Trong đó: NS TW:              

                       382.000 triệu đồng

                 NSĐP:                  

                              9.000 triệu đồng

2.2  Nguồn Vốn ngân sách Nhà nước:

                        280.640 triệu đồng

Trong đó: NS TW:

                        160.020 triệu đồng

                 NSĐP:                          

                         120.620 triệu đồng

2.3 Nguồn  vốn huy động cộng đồng, doanh nghiệp và tổ chức khác:  

 

                            27.00 triệu đồng

3. Phân kỳ đầu tư : ( Chưa tính nguồn vốn tín dụng)

- Năm 2006 :      60.505,4 triệu đồng

- Năm 2007 :      70.496,4 triệu đồng

- Năm 2008 :      65.884,4 triệu đồng

- Năm 2009 :      59.019,4 triệu đồng

- Năm 2010 :      52.034,4 triệu đồng

IV. TỔ CHỨC THỰC HIỆN:

1. Trách nhiệm của các sở, ban, ngành:

- Sở Lao động- TBXH là thường trực đề án. Chủ trì xây dựng và thực hiện các giải pháp, chính sách: Hỗ trợ vốn cho hộ quá nghèo phát triển sản xuất; Nhân rộng mô hình giảm nghèo; Đào tạo bồi dưỡng cán bộ XĐGN; Tổ chức dạy nghề cho lao động nông thôn và người nghèo; Quỹ hỗ trợ cho người nghèo và giải pháp truyền thông.

- Sở Kế hoạch và Đầu tư: Chủ trì cân đối đảm bảo nguồn lực cho đề án, xây dựng và thực hiện dự án đầu tư cơ sở hạ tầng.

- Sở Tài chính phối hợp với Sở Kế hoạch và Đầu tư:  Cân đối nguồn lực cho đề án, trực tiếp cấp phát, giám sát và quyết toán kinh phí.

- Sở Nông nghiệp và PTNT: Chủ trì xây dựng và thực hiện giải pháp về khuyến nông khuyến ngư, hướng dẫn cách làm ăn cho người nghèo. Giải pháp tổ chức hệ thống khuyến nông từ tỉnh đến thôn bản.

- Ban Dân tộc: Chủ trì xây dựng và thực hiện các giải pháp chính sách hỗ trợ nhà ở, đất sản xuất, nước sinh hoạt cho người nghèo. Giải pháp quy hoạch SX và sắp xếp dân cư.

- Sở Y tế: Chủ trì xây dựng và thực hiện giải pháp chính sách hỗ trợ y tế cho người nghèo.

- Sở Giáo dục và Đào tạo: Chủ trì xây dựng và thực hiện giải pháp hỗ trợ giáo dục cho người nghèo.

- Ngân hàng Nhà nước: Chủ trì chỉ đạo ngân hàng chính sách xã hội xây dựng và thực hiện giải pháp tín dụng ưu đãi cho người nghèo.

- Các ngành khác căn cứ vào chức năng nhiệm vụ của ngành lồng ghép và phối hợp tích cực với các ngành trên để thực hiện đề án.

2. Trách nhiêm của các tổ chức chính trị xã hội:

Các đoàn thể tham gia xây dựng và thực hiện Đề án theo chức năng, nhiệm vụ quyền hạn qui định.

3. Trách nhiệm các huyện, thành phố:

Xây dựng và tổ chức thực hiện đề án giảm nghèo của địa phương giai đoạn 2006-2010. Xây dựng đề án, kế hoạch giảm nghèo xong trước tháng 8 năm 2006 hiệp y thống nhất với sở Lao động – TBXH trước khi phê duyệt sau đó báo cáo về UBND tỉnh (qua sở Lao động – TBXH) để tổng hợp và theo dõi.

    4. Trách nhiệm của xã phường:

- Kiện toàn Ban phát triển xã.

- Xây dựng kế hoạch xoá đói giảm nghèo ngắn và dài hạn.

- Trực tiếp tổ chức thực hiện đề án, kế hoạch và hệ thống chính sách đối với hộ nghèo, người nghèo. 

 

10/ TẮT ĐỀ ÁN Phát triển và nâng cao hiệu quả kinh tế lâm nghiệp tỉnh Lào Cai giai đoạn 2006 - 2010

 

                Đề án gồm 2 dự án thành phần:

                Dự án 1: Trồng rừng cảnh quan, rừng sinh thuỷ giai đoạn 2006 - 2010;

                Dự án 2: Trồng rừng kinh tế giai đoạn 2006 - 2010;

             I. Mục tiêu của Đề án:

1. Mục tiêu tổng quát:

Từng bước xã hội hóa nghề rừng; đưa sản xuất kinh doanh lâm nghiệp thành một nghề có thu nhập cao, cải thiện đời sống cho nhân dân; góp phần giữ vững ổn định chính trị, an ninh quốc phòng và ổn định dân cư trên địa bàn tỉnh… Phấn đấu đến năm 2010 tỷ lệ che phủ của rừng đạt 49% (tương đương với 311.677 ha rừng); Giá trị sản xuất lâm nghiệp tăng bình quân từ 8 - 10%/năm. Xây dựng vùng nguyên liệu, khai thác, sử dụng rừng bền vững; Củng cố, sắp xếp đơn vị sản xuất kinh doanh lâm nghiệp và các đơn vị quản lý rừng thành các đơn vị chủ lực, nòng cốt trên địa bàn làm nhiệm vụ dịch vụ, tư vấn về: giống, kỹ thuật lâm sinh, khai thác, chế biến, tiêu thụ lâm sản cho người lao động tham gia nghề rừng.

2. Mục tiêu cụ thể:

                Rà soát quy hoạch lại 3 loại rừng, đảm bảo ổn định quy mô, ranh giới, diện tích; thực hiện đóng mốc ranh giới lâm phận 3 loại rừng nêu trên ở ngoài thực địa và được xác định rõ trên bản đồ cấp xã.

                Thực hiện trồng mới 20.000 ha rừng, trong đó:

             - Trồng rừng phòng hộ đầu nguồn: 3.700 ha, bình quân 740 ha/năm (các huyện trừ thành phố Lào Cai).

             - Trồng rừng phòng hộ kết hợp cảnh quan: 300 ha, bình quân 60 ha/năm (huyện Bắc Hà, Sa Pa, thành phố Lào Cai).

 - Trồng rừng kinh tế 16.000 ha, bình quân 3.200 ha/năm  (không tính diện tích trồng lại rừng sau khai thác) gắn vùng sản xuất nguyên liệu với cơ sở sản xuất chế biến lâm sản; tập trung đầu tư một số huyện vùng thấp: Bảo Yên, Bảo thắng, Văn bàn và một số xã vùng thấp huyện Bát xát, Mường khương, Bắc Hà, Sa Pa.

- Bảo vệ tốt diện tích rừng hiện có.

II. Nội dung của Đề án:

1. Rà soát, quy hoạch lại 3 loại rừng:

- Kết quả rà soát quy hoạch lại 3 loại rừng: Diện tích đất, rừng quy hoạch cho lâm nghiệp: 418.361 ha, trong đó:

+ Rừng phòng hộ: 170.208ha gồm đất có rừng: 138.339ha, đất chưa có rừng 31.869 ha.

+ Rừng đặc dụng: 46.173 ha, gồm đất có rừng: 43.988 ha, đất chưa có rừng: 2.185 ha (còn có đất ngoài lâm nghiệp 501 ha).

+ Rừng sản xuất: 201.980ha, gồm đất có rừng: 113.834ha, đất chưa có rừng: 88.146ha.

           - Cắm mốc ranh giới 3 loại rừng: sau khi rà soát, quy hoạch lại 3 loại rừng được phê duyệt tiến hành thực hiện vào đầu năm 2007.

2. Trồng rừng cảnh quan, rừng sinh thuỷ:

                Trồng mới 4.000 ha rừng phòng hộ, xây dựng mới 120 km đường băng xanh cản lửa, trạm quản lý bảo vệ rừng (khoảng 9 trạm), trong đó:

- Trồng mới 3.700 ha rừng phòng hộ đầu nguồn tập trung chủ yếu các huyện có độ che phủ thấp, nguy cơ sa mạc hóa cao (Si Ma Cai, Bắc Hà, Mường Khương)

- Trồng mới 300 ha rừng phòng hộ cảnh quan môi trường tập trung (Bắc Hà, Sa Pa, thành phố Lào Cai).

- Xây dựng 120 km đường băng xanh cản lửa tại khu vực trồng rừng thuần loài.

- Xây dựng trạm bảo vệ rừng, mỗi huyện, thành phố 01 trạm các điểm rừng tự nhiên, rừng trồng diện tích lớn, chưa giao khoán hưởng lợi được, khó quản lý bảo vệ.

- Bảo vệ tốt diện tích rừng phòng hộ hiện có.

3. Trồng rừng kinh tế:

            - Trồng mới 16.000 ha rừng kinh tế, hình thành 3 vùng phát triển kinh tế lâm nghiệp trọng điểm: Vùng nguyên liệu phục vụ cho chế biến sản phẩm ván lạng, ván sàn và gỗ công nghiệp, lấy huyện Bảo Thắng làm trung tâm quy mô 50.000 ha; vùng nguyên liệu giấy, lấy huyện Bảo Yên làm trung tâm quy mô 15.000 ha;  vùng giấy đế xuất khẩu và sản xuất các sản phẩm có nguồn gốc từ gỗ rừng tự nhiên tại huyện Văn Bàn.

- Diện tích trồng bố trí trên địa bàn các huyện, thành phố (Bảo thắng: 4.500 ha, M­ường kh­ương: 1.000 ha, Bảo yên: 4.500 ha, Sa pa: 1.250 ha, Bát xát:          1.800      ha,SiMa  Cai: 500 ha, Văn bàn: 1.600 ha, TP Lào Cai: 200 ha, Bắc Hà: 650 ha).

4. Xây dựng hệ thống vườn ươm: Để cung cấp giống đảm bảo cho trồng rừng: 

- Xây dựng 01 trung tâm giống cấp I với năng lực 02 triệu cây giống/năm, phòng nhân giống bằng công nghệ nhân mô với công xuất 01 triệu cây/năm. Xây dựng 02 vườn ươm giống cấp II với năng lực 01 triệu cây giống/năm trên địa bàn.

- Nâng cấp hệ thống vườn ươm hiện có (17 vườn) thành vườn ươm cấp II cung cấp giống cho phát triển rừng sản xuất, phòng hộ.

III. Nhu cầu vốn đầu tư:

1. Tổng nhu cầu vốn thực hiện đề án khoảng: 240,802 tỷ đồng.

- Rà soát quy hoạch lại 3 loại rừng:                         3,138 tỷ đồng.

- Trồng rừng cảnh quan, sinh thủy:                       88,284 tỷ đồng.

- Trồng rừng kinh tế:                                           149,380 tỷ đồng.

2. Phân theo nguồn vốn:

- Vốn ngân sách do địa phương trực tiếp quản lý

+Vốn ngân sách tỉnh:                                           31,934 tỷ đồng.

+Vốn NSTW  hỗ trợ có mục tiêu:                      101,132 tỷ đồng.

- Vốn NDTW qua Bộ NN&PTNT (vườn ươm):   12,800 tỷ đồng.

- Vốn doanh nghiệp:                                               9,00 tỷ đồng.

- Vốn tự có của dân (công lao động):                   73,336 tỷ đồng.

- Vốn vay tín dụng:                                                          12,600 tỷ đồng.

3. Phân kỳ đầu tư theo năm:

- Năm 2006:  28,791 tỷ đồng.         - Năm 2009:  55,709 tỷ đồng.

- Năm 2007:  47,945 tỷ đồng.         - Năm 2010:  56,790 tỷ đồng.

- Năm 2008:  52,567 tỷ đồng.

IV. Giải pháp chủ yếu:

1. Về khoa học, kỹ thuật:

- Đối với trồng rừng: Đảm bảo theo quy trình, mật độ cây trồng, cơ cấu loài cây theo vùng, khu vực.

- Về giống: Sử dụng giống cây con đủ tiêu chuẩn theo đúng quy định của Bộ NN&PTNT, UBND tỉnh để phục vụ phát triển rừng.

- Ứng dụng các thành tựu khoa học công nghệ về quản lý, sản xuất để nâng cao nâng suất, chất lượng sản phẩm. Tập trung ứng dụng cac smô hình lâm nghiệp bền vững trên đất dốc; chuyển đổi cơ cấu cây trồng; chế biến lâm sản...

- Tổ chức tuyên truyền hướng dẫn kỹ thuật trồng, chăm sóc, bảo vệ rừng đối với từng loại rừng, phòng cháy chữa cháy rừng và phòng trừ sâu bệnh hại rừng.

2. Về nhân lực:

             - Tăng cường tập huấn, đào tạo nâng cao năng lực cho đội ngũ cán bộ quản lý lâm nghiệp, nhất là cán bộ lâm nghiệp cấp huyện, xã. Đào tạo đội ngũ công nhân kỹ thuật lành nghề và đào tạo cán bộ khoa học; Xây dựng hệ thống khuyến lâm cơ sở đủ mạnh đáp ứng yêu cầu phát triển lâm nghiệp cộng đồng, xã hội hoá nghề rừng.

              - Trách nhiệm quản lý nhà nước về rừng và đất lâm nghiệp ngày càng được phân cấp nhiều hơn cho cấp xã, rà soát, củng cố hệ thống cán bộ lâm nghiệp tham mưu cho cấp huyện, xã đảm bảo đủ trình độ, năng lực cho công tác quản lý nhà nước về rừng, đất lâm nghiệp (theo đề án tổ chức quản lý Nhà nước ngành nông nghiệp và PTNT cấp xã)

3. Về quy hoạch, đất đai:

                Tiến hành rà soát, quy hoạch lại 3 loại rừng (rừng phòng hộ, rừng đặc dụng, rừng sản xuất), căn cứ kết quả rà soát, quy hoạch lại 3 loại rừg để làm cơ sở quy hoạch cho dự án, quản lý và sử dụng tài nguyên đất một cách hợp lý, khoa học, đảm bảo nguyên tắc giải quyết, tháo gỡ những bất cập chồng chéo trong thời gian qua trên cơ sở tôn trọng ý kiến tham gia đóng góp của người dân, chính quyền sở. Đảm bảo phát triển rừng phòng hộ, rừng sản xuất theo đúng quy hoạch, có sự điều chỉnh hợp lý.

4. Về tài chính:

                Các đơn vị, hộ gia đình, cá nhân tham gia vào dự án đều được cấp, phát vốn đầu tư hàng năm theo khối lượng thực hiện đã được nghiệm thu theo đúng quy định và luật ngân sách hiện hành.

5. Về cơ chế, chính sách:

5.1. Cơ chế: Khuyến khích mọi thành phần kinh tế trong và ngoài nước tham gia xây dựng vườn ươm sản xuất, cung ứng cây giống lâm nghiệp, đầu tư trồng rừng sản xuất, xây dựng cơ sở chế biến lâm sản được giao đất, thuê, khoán đất theo Dự án được cấp có thẩm quyền phê duyệt và các quy định của pháp luật hiện hành; được hưởng các chính sách hiện hành của tỉnh và của Nhà nước.

Tỉnh cân đối nguồn ngân sách địa phương để đầu tư trở lại thực hiện dự án phát triển rừng theo kế hoạch bằng thu thuế tài nguyên rừng (quỹ lâm nghiệp) hàng năm.

5.2. Chính sách.

                - Đầu tư xây dựng vườn giống cấp I, II bằng nguồn vốn qua Bộ Nông nghiệp và PTNT. Nâng cấp hệ thống vườn ươm hiện có bằng nguồn vốn chương trình mục tiêu và các nguồn vốn ngân sách khác.

                - Nhà nước khuyến khích các thành phần kinh tế sản xuất cây giống theo tiêu chuẩn quy định để phát triển trồng rừng.

                - Phát triển rừng phòng hộ, đặc dụng, sản xuất thực hiện theo chính sách hiện hành.  Riêng đối với trồng rừng cảnh quan môi trường ngoài phần NSTW đầu tư 5 triệu đồng/ha, phần vốn NSĐP hỗ trợ theo từng dự án được duyệt và theo khả năng ngân sách địa phương hàng năm. Các thành phần kinh tế tham gia phát triển rừng cảnh quan trồng trên đất rừng sản suất được sử dụng rừng làm tài sản thế chấp để phát triển sản xuất, du lịch sinh thái theo quy định của pháp luật.

                - Các thành phần kinh tế tham gia trồng rừng nguyên liệu được vay vốn ưu đãi và hỗ trợ lãi suất vay vốn theo Nghị định số 106/2004/NĐ-CP ngày 01/4/2004 và Nghị định số 20/2005/NĐ-CP ngày 28/02/2005 của Chính phủ; Quyết định số 19/2005/QĐ-BTC ngày 01/4/2005 của Bộ Tài chính. Nhà nước cho vay tối đa bằng 70% tổng vốn đầu tư của dự án. Lãi xuất cho vay đầu tư bằng 70% lãi xuất cho vay trung và dài hạn qua ngân hàng thương mại...

                - Chính sách thương mại và thị trường: Hỗ trợ cho việc xúc tiến thương mại và tiếp thị theo dự án được duyệt. 

V- Tổ chức thực hiện:

1. Sở Nông nghiệp và PTNT: Thực hiện quản lý nhà nước theo chức năng nhiệm vụ về lĩnh vực lâm nghiệp. Chịu trách nhiệm chủ trì phối với với các sở ban ngành có liên quan và UBND huyện, thành phố tổ chức triển khai thực hiện. Có trách nhiệm chỉ đạo, kiểm tra và hướng dẫn các đơn vị, địa phương, các tổ chức kinh tế xây dựng các dự án chi tiết trình UBND tỉnh phê duyệt làm căn cứ triển khai thực hiện.

2. Sở Tài chính chủ trì phối hợp với Sở Kế hoạch & Đầu tư, Sở Nông nghiệp và PTNT cân đối vốn hỗ trợ theo chính sách đảm bảo thực hiện đề án (trồng rừng cảnh quan môi trường, chi phí quản lý các dự án 661 phần tăng ngoài quy định của TW).

3. Các ngành có liên quan căn cứ chức năng, nhiệm vụ phối hợp với Sở Nông nghiệp và PTNT hướng dẫn các đơn vị, địa phương, các tổ chức kinh tế, cá nhân, hộ gia đình về quy hoạch đất đai, khoa học kỹ thuật, công nghệ, máy móc thiết bị, xúc tiến thương mại, quản lý tài chính và tổ chức thực hiện dự án;

4. UBND các huyện, thành phố xây dựng kế hoạch chi tiết hàng năm, phối hợp với Ngành Nông nghiệp, Tài nguyên - Môi trường, các ngành liên quan và các đơn vị ngành Nông nghiệp trong công tác quy hoạch, kế hoạch và triển khai thực hiện đề án.

5. Chi cục Lâm nghiệp: phối hợp Chi cục Kiểm lâm, UBND các huyện, thành phố triển khai thực hiện theo chức năng quản lý Nhà nước. Đồng thời chỉ đạo cac sdự án 661 cơ sở, các tổ chức, cá nhân triển khai thực hiện. Thực hiện chức năng quán lý Nhà nước về giống cây lâm nghiệp trên địa bàn tỉnh theo Pháp lệnh giống cây trồng.

6. UBND các xã, phường, thị trấn tổ chức huy động nhân dân tham gia thực hiện dự án.

7. Kiện toàn các Ban quản lý dự án 661 cơ sở, cân đối và bố trí đủ biên chế thực hiện nhiệm vụ quản lý, bảo vệ phát triển rừng phòng hộ, đặc dụng; Đồng thời phối hợp các xã triển khai tổ chức thực hiện dự án.

8. Củng cố, sắp xếp các đơn vị sản xuất kinh doanh lâm nghiệp và các đơn vị quản lý rừng trở thành các đơn vị chủ lực, nòng cốt trên địa bàn làm nhiệm vụ dịch vụ, tư vấn về: giống, kỹ thuật lâm sinh, khai thác, chế biến, tiêu thụ lâm sản cho người lao động tham gia nghề rừng. Tổ chức liên kết 4 nhà: Nhà nước, nhà khoa học, nhà nông và nhà đầu tư, chế biến tiêu thụ lâm sản để phát triển trồng rừng nguyên liệu.



11/ TÓM TẮT ĐỀ ÁN Phát triển cơ sở hạ tầng nông thôn tỉnh Lào Cai giai đoạn 2006 - 2010

                 Đề án gồm 3 dự án thành phần:

                - Dự án 1: Cấp nước sinh hoạt cho nhân dân vùng nông thôn tỉnh Lào Cai giai đoạn 2006 - 2010;

                - Dự án 2: Phát triển hệ thống thuỷ lợi tỉnh Lào Cai giai đoạn 2006 - 2010;

- Dự án 3: Phát triển hệ thống điện nông thôn tỉnh Lào Cai giai đoạn 2006 - 2010;

           I. Mục tiêu của Đề án:

           1. Mục tiêu tổng quát:       

Đầu tư cơ sở hạ tầng kinh tế đảm bảo hiệu quả được nâng cao, đáp ứng mục tiêu phát triển sản xuất, đời sống nhân dân vùng nông thôn giai đoạn 2006 - 2010.

2. Mục tiêu cụ thể:

Về thủy lợi: đầu tư có tỷ lệ diện tích được chủ động nước tưới: vụ đông xuân đạt 95%, vụ hè thu trên 80 % (ước đến 2010, diện tích vụ hè thu 18 nghìn ha, vụ đông xuân 8,5 nghìn ha).

Về cấp nước sinh hoạt: Cải tạo, mở rộng một số công trình cũ và đầu tư xây dựng mới để nâng tỷ lệ 62% lên 75% số hộ vùng nông thôn có đủ, ổn định nước sinh hoạt hợp vệ sinh (ước 2010 vùng nông thôn có 92 ngìn hộ).

Về cấp điện: đầu tư để đến năm 2010 có 100 % số xã, 70% số thôn bản, 73% số hộ được sử dụng điện lưới (năm 2005 đạt 50%), tổng số hộ được sử dụng điện 78% (trong đó 5 % sử dụng thủy điện cực nhỏ).

II. Nội dung chính của Đề án.

Nhiệm vụ chính là xác định, lựa chọn danh mục công trình để nâng cấp, xây dựng mới đảm bảo có hiệu quả; tổ chức quản lý khai thác, bảo dưỡng tăng tuổi thọ, nâng cao hiệu quả đầu tư.

1. Thủy lợi.

Đầu tư xây dựng mới, nâng cấp cho 300 công trình, phục vụ cho khoảng 7 nghìn ha đất canh tác. Trong đó năng lực mới tăng 5 nghìn ha (diện tích chưa được đầu tư thủy lợi) và năng lực ổn định 2 nghìn ha (diện tích có thủy lợi nhưng chưa đồng bộ). Trước hết là tập trung cải tạo nâng cấp các công trình phục vụ diện tích lớn, suất đầu tư nhỏ; vùng cao ưu tiên đầu tư khu vực đồng bào đặc biệt khó khăn; vùng thấp ưu tiên đầu tư các vùng trọng điểm lúa, sản xuất giống nông nghiệp.

Số công trình thuộc địa bàn huyện, thành phố: Si Ma Cai 27 công trình, phục vụ 540 ha; Bắc Hà 32 công trình, 930 ha; Bát Xát 60 công trình, 1.290 ha; Sa Pa 21 công trình, 550 ha; Mường Khương 28 công trình, 670 ha; Văn Bàn 45 công trình, 1.520 ha; Bảo Yên 59 công trình, 870 ha; Bảo Thắng 25 công trình, 640 ha; Lào Cai 3 công trình, 40 ha.

Các công trình chủ yếu được thiết kế đầu tư kiên cố theo hình thức đập dâng, kênh dẫn. Ngoài ra, nếu điều kiện cho phép, áp dụng hình thức bơm va, bơm thủy luân.

2. Cấp nước sinh hoạt.

Đầu tư sửa chữa 180 hệ thống cấp nước tự chảy bị hỏng, xuống cấp; cải tạo 2.500 giếng để ổn định cấp nước khoảng 15,5 nghìn hộ (đầu tư chiều sâu); Đầu tư làm mới 580 hệ thống tự chảy, phục vụ thêm 15 nghìn hộ gia đình, một số cơ quan thuộc xã (đầu tư chiều rộng). Ưu tiên đầu tư tu bổ để khôi phục, nâng cao năng lực hoạt động của những công trình đã bị xuống cấp; đầu tư mới công trình phục vụ vùng sắp xếp dân cư, vùng biên giới, vùng đặc biệt khó khăn.

Mô hình áp dụng: Vùng cao: đầu tư chủ yếu theo hình thức hệ tự chảy quy mô nhỏ lấy nước từ các khe, mạch đùn có xử lý lắng lọc đơn giản. Trường hợp khu dân cư ở xa nguồn nước, dân cư ở không tập trung, hỗ trợ đầu tư bể, lu loại 2 m3. Nếu dân cư ở quá phân tán, bố trí sắp xếp cho phù hợp để đầu tư cấp nước thuận tiện. Vùng thấp: đầu tư theo hình thức tập trung tự chảy có bố trí xử lý lắng, lọc chung và bể lọc nhỏ từng hộ gia đình tự làm; Giếng xây khai thác nước ngầm dùng bơm tay, bơm điện.

3. Cấp điện:

Đầu tư cho 46 xã chưa có điện lưới (Si Ma Cai 5 xã, Bắc Hà 10 xã, Bát Xát 7 xã, Sa Pa 11 xã, Mường Khương 3 xã, Văn Bàn 8 xã, Bảo Yên 2 xã).

Cải tạo, nâng cấp lưới điện cho 25 xã; mở rộng lưới điện cho 34 xã đã có điện, nhưng còn một số khu dân cư tập trung chưa được đầu tư; vùng khó khăn đầu tư điện lưới, đầu tư các máy thủy điện cực nhỏ để sử dụng.

Khối lượng chính gồm khoảng 655 km đường dây trung thể, 780 km đường dây hạ áp, 215 trạm hạ áp, dung lượng khoảng 15.740 KVA; công tơ và nhánh rẽ hộ tiêu thụ điện; Đầu tư các máy thuỷ điện cực nhỏ ở những nơi thuận lợi nguồn nước chạy máy phát, chưa có điều kiện đầu tư điện lưới quốc gia (4.500 máy) dân tự đầu tư.

                III. Nhu cầu vốn của Đề án.

1. Tổng nhu cầu , cơ cấu vốn:

Tổng nhu cầu vốn để thực hiện đề án khoảng: 880 tỷ đồng

Tổng nhu cầu vốn để thực hiện đề án

Đơn vị: Tỷ đồng.

 

Nguồn vốn

Tổng số

Thuỷ lợi

Cấp nước

Cấp điện

 

Tổng số

880

345

135

400

1

Ngân sách nhà nước

435

260

115

60

-

NS địa phương

40

35

5

0

-

NSTW đầu tư theo MT

220

50

110

60

-

Trái phiếu Chính phủ

160

160

 

 

2

Vốn nước ngoài

240

45

5

190

3

Vốn Doanh nghiệp

135

 

 

135

4

Dân đóng góp

70

40

15

15

5

Vốn khác

 

 

 

 

3. Phân kỳ vốn đầu tư:

Lĩnh vực

Tổng số

2006

2007

2008

2009

2010

Tổng cộng

880

240

265

184

123

68

Thuỷ lợi

345

31

103

95

80

36

Cấp nước SH

135

34

32

29

23

17

Cấp điện

400

175

130

60

20

15

                IV. Giải pháp thực hiện.

1. Về nguồn vốn đầu tư:

- Bám sát các chủ trương, nội dung chương trình, dự án của TW triển khai đầu tư cho vùng nông thôn để khai thác, lồng ghép, bố trí có hiệu quả nguồn vốn ngân sách TW.

- Tranh thủ khai thác tốt các nguồn tài trợ, nhất là các nhà tài trợ nước ngoài

- Huy động nhân dân đóng góp:

- Định hướng bố trí nguồn vốn đầu tư từng lĩnh vực công trình như sau:

1.1. Đầu tư thuỷ lợi: Đầu tư công trình được phê duyệt dự án nguồn trái phiếu Chính phủ; vốn do NSTW qua Bộ NN&PTNT đầu tư một số hồ, đập có quy mô lớn; Đầu tư theo chương trình, QĐ của Chính phủ đang triển khai trên địa bàn như CT135, xoá đói giảm nghèo, QĐ120, NQ37; vốn nước ngoài như WB, ADB; vốn nhân dân đóng góp và ngân sách của tỉnh để đầu tư chương trình kiên cố hóa kênh mương vùng trọng điểm lúa, vùng sản xuất giống cây nông nghiệp, sửa chữa nhỏ hàng năm.

1.2. Đầu tư cấp nước sinh hoạt: Nguồn vốn chủ yếu bố trí từ QĐ134, CT135, CT nước sạch &VSMT; nhân dân đóng góp, vốn nước ngoài và vốn vay tín dụng ưu đãi.

1.3. Đầu tư cấp điện: Nguồn vốn WB  theo dự án năng lượng nông thôn đã được phê duyệt dự án và có kế hoạch đầu tư; vốn khấu hao ngành Điện; vốn ngân sách theo các chương trình, quyết định đang triển khai trên địa bàn tỉnh, trong đó kể cả đầu tư đường dây hạ thế sau các trạm biến áp do ngành Điện đã đầu tư và vốn do nhân dân đóng góp xây dựng đường nhánh rẽ hộ tiêu thụ, lắp đặt công tơ, máy thuỷ điện nhỏ.

2. Về quy hoạch, thiết kế các hệ thống công trình: Đầu tư các công trình phải bám sát quy hoạch sắp xếp dân cư, phát triển sản xuất trên từng địa bàn.

Trong đầu tư cần bám sát quy hoạch và tiến độ đầu tư các công trình thủy điện trong từng khu vực để tính toán lợi dụng nguồn nước, kết hợp đầu tư cho hiệu quả.

Khi khảo sát, thiết kế lưu ý việc lựa chọn nguồn nước ổn định, nhất thiết có ý kiến của địa phương tránh tình trạng nhân dân tranh chấp nguồn nước giữa các thôn, giữa các hộ; được nguồn nước sinh hoạt, mất nguồn nước cho thủy lợi.

Đối với những công trình cấp nước tập trung: đường ống thiết kế dùng ống nhựa HDPE, những nơi địa chất là đá hoặc địa hình phức tạp mới dùng ống thép để giảm chi phí đầu tư; Chủ yếu bố trí các bể chứa nước ở cụm hộ, hạn chế việc đầu tư bể và đường ống đến từng hộ (phần này do hộ tự đầu tư).

Đối với công trình thủy lợi: vốn Nhà nước chỉ hỗ trợ đầu tư công có quy mô phục vụ tối thiểu 5 ha. Những công trình phục vụ dưới 5 ha do nhân dân tự đầu tư, nếu những hộ hưởng lợi là hộ nghèo thì được xét để vốn Nhà nước hỗ trợ phần kinh phí mua vật liệu không khai thác được tại địa phương xã.

Quan tâm công tác bảo vệ ổn định nguồn nước thông qua việc phát triển rừng.

3. Về cơ chế, chính sách:

Thực hiện theo cơ chế đã ban hành, đang thực hiện như: Về quản lý đầu tư; Về quản lý khai thác, bảo quản công trình.

Tăng cường giao cho xã tự tổ chức nhân dân địa phương thi công các công trình và tăng cường công tác chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra đôn đốc của cấp tỉnh, huyện đối với cơ sở.

Hàng năm, tăng cường công tác đào tạo đội ngũ cán bộ, công nhân quản lý, vận hành các công trình ở cơ sở.

Phát huy hơn nữa vai trò giám sát đầu tư của cộng đồng  và hoạt động của Thanh tra nhân dân; thực hiện tốt quy chế dân chủ ở cơ sở, đề cao những ý kiến, tâm tư nguyện vọng để nâng cao, phát huy tính tự lực tự cường của người dân.

IV. Tổ chức thực hiện.

1. Sở Nông nghiệp & PTNT: Thực hiện quản lý nhà nước theo chức năng nhiệm vụ về lĩnh vực thuỷ lợi, cấp nước. Khai thác nguồn lực qua Bộ Nông nghiệp & PTNT; các tổ chức trong và ngoài nước.

                2. Sở Công nghiệp: Thực hiện quản lý nhà nước theo chức năng nhiệm vụ (cơ quan thường trực) về lĩnh vực điện. Chịu trách nhiệm khai thác nguồn lực qua Bộ Công nghiệp, Tổng công ty Điện lực; các tổ chức trong và ngoài nước.

3. Điện lực tỉnh: Chịu trách nhiệm đầu tư các công trình điện thuộc ngành điện quản lý đầu tư; Phối hợp ngành Công nghiệp, UBND các huyện, thành phố trong công tác đầu tư xây dựng và GPMB công trình; quản lý khai thác, vận hành hệ thống lưới điện nông thôn thuộc phạm vi được giao quản lý.

4. UBND các huyện chỉ đạo việc xây dựng phát triển thuỷ lợi, cấp nước, điện trên địa phương mình, phối hợp với ngành Nông nghiệp, Công nghiệp, Điện lực trong công tác quy hoạch, đầu tư xây dựng và công tác GPMB.

5. UBND các xã, phường thị trấn tổ chức huy động nhân dân tham gia các công trình, phối hợp với UBND huyện, ngành chức năng trong công tác GPMB, công tác đầu tư xây dựng; Trực tiếp tổt chức quản lý khai thác sử dụng, bảo vệ, bảo dưỡng công trình được đầu tư trên địa bàn.

6. Sở Kế hoạch & Đầu tư, Sở Tài chính: tổng hợp, cân đối các nguồn vốn đầu tư đề án.

7. Các sở, ban, ngành có liên quan căn cứ chức năng nhiệm vụ của mình phối hợp với Ngành Nông nghiệp, Công nghiệp, UBND các huyện, thành phố cùng thực hiện đề án đúng tiến độ đề ra. 



12/ TÓM TẮT ĐỀ ÁN Đề án Xây dựng và phát triển giao thông tỉnh Lào Cai giai đoạn 2006-2010

 

Đề án gồm 05 dự án thành phần:

Dự án 1: Phối hợp, nâng cấp các tuyến đường quốc lộ, các công trình do trung ương quản lý trên địa bàn.

Dự án 2: Đầu tư, nâng cấp các tuyến tỉnh lộ .

Dự án 3: Đầu tư, nâng cấp các tuyến đường giao thông đến trung tâm xã.

Dự án 4: Đầu tư, nâng cấp đường giao thông liên thôn.

Dự án 5: Đầu tư, nâng cấp các tuyến đường ra biên giới, đường tuần tra biên giới.

I. Mục tiêu của Đề án:

A. Mục tiêu chung:

Để đạt được các mục tiêu Kinh tế – xã hội mà Đại hội tỉnh Đảng bộ lần thứ XIII, một trong những nhiệm vụ quan trọng và phải đi trước một bước trong sự phát triển chung của nền kinh tế, đó là xây dựng hạ tầng giao thông trên địa bàn tỉnh - khu vực bản lề giữa hai vùng phía Đông và Tây Bắc của Tổ quốc, là cầu nối của cả nước với vùng Tây Nam Trung Quốc.

Xây dựng nâng cấp đường nối Hà Nội và các tỉnh trong cả nước với Lào Cai và vùng Tây Nam Trung Quốc; đảm bảo giao thông thông suốt từ tỉnh xuống các huyện, xã; hoàn thành xây dựng đường GTNT tới các thôn, bản; xây dựng đường tuần tra biên giới và đường ra biên giới.

B. Mục tiêu cụ thể: Phấn đấu đến hết năm 2010, đạt được các mục tiêu cụ thể sau đây:

1. Đường bộ: Xây dựng mới và nâng cấp khoảng 113 km đường quốc lộ, 58km đường Tỉnh lộ và cầu Kim Thành, cầu Cốc Ly.

- Nâng cấp 100% đường đến trung tâm xã được rải nhựa hoặc cấp phối, trong đó 60% số xã có đường được rải nhựa với chiều dài khoảng 220km.

- Mở mới đường đến 85% thôn bản, rải mặt đường bằng cấp phối chống trơn lầy, xây dựng công trình thoát nước cho một số tuyến đường liên thôn quan trọng với tổng chiều dài 542km.

- Nâng cấp, xây dựng đường ra biên giới với chiều dài 78,8km, đường tuần tra biên giới tổng chiều dài 141 km.

- Duy tu bảo dưỡng đường GTNT, đường biên giới được triển khai thường xuyên, đảm bảo chất lượng, nâng cao tuổi thọ công trình.

2. Đường Sắt: Phối hợp với Tổng công ty Đường sắt Việt Nam lập dự án nâng cấp tuyến đường sắt Yên Viên - Lào Cai.

3. Đường Sông: Phối hợp với Tổng công ty Đường sông Việt Nam lập dự án chỉnh trị  Sông Hồng.

4. Đường không: Phối hợp với Tổng công ty Hàng không Việt Nam lập dự án xây dựng Sân bay Lào Cai.

II. Nội dung chính của Đề án:              

A. Phối hợp nâng cấp các tuyến quốc lộ, các công trình Trung ương quản lý trên địa bàn tỉnh Lào Cai:

1. Hoàn thành các thủ tục để khởi công xây dựng đường cao tốc Lào Cai - Hà Nội (đoạn qua địa phận tỉnh Lào Cai khoảng 80km).

2. Hoàn thành nâng cấp cải tạo Quốc lộ 70 đoạn từ  Đoan Hùng đến Bản Phiệt (đoạn qua địa bàn tỉnh Lào Cai dài 79km) theo tiêu chuẩn đường cấp IV. Dự kiến khởi công năm 2007 và hoàn thành  2008. Kinh phí dự kiến khoảng 300 tỷ đồng.

3. Hoàn thành nâng cấp 14km Quốc lộ 4D (đoạn Trạm Tôn - Sa Pa) theo quy mô đường cấp IV. Khởi công xây dựng đầu năm 2007, hoàn thành đầu năm 2008. Kinh phí dự kiến khoảng 57 tỷ đồng.

4. Xây dựng QL 4 đoạn nối Hà Giang - Lào Cai (đoạn Mường Khương - Si Ma Cai - Lùng Phình - Lùng Cải dài 60km) giai đoạn 1 xây dựng theo tiêu chuẩn đường cấp V. Dự kiến khởi công vào đầu năm 2007 và hoàn thành năm 2008, kinh phí đầu tư khoảng 338 tỷ đồng.

5. Quản lý và sửa chữa đường: 86 tỷ đồng.

6. Phối hợp với Tổng công ty Đường sắt Việt Nam trong việc lập dự án nâng cấp đường sắt Hà Nội - Lào Cai, để sớm khởi công xây dựng theo qui hoạch của Chính phủ.

7. Phối hợp với Tổng công ty Đường sông Việt Nam trong việc lập dự án chỉnh trị Sông Hồng để khai thác tầu trên 100 tấn.

8. Phối hợp với Tổng công ty Hàng không Việt Nam trong việc lập dự án xây dựng sân bay Lào Cai với qui mô tầm trung.

B. Đầu tư nâng cấp các tuyến đường Tỉnh lộ:

1. Xây dựng cầu Kim Thành nối Lào Cai (Việt Nam) và Hà Khẩu (Trung Quốc), khởi công 2006; hoàn thành 2007, kinh phí đầu tư 96 tỷ đồng.

2. Xây dựng cầu Cốc Ly nối tỉnh lộ 153 (đường Bắc Ngầm - Bắc Hà) với tỉnh lộ 154 (đường Hoàng Liên Sơn 2). Dự kiến khởi công năm 2007, hoàn thành năm 2008, kinh phí đầu tư khoảng 32 tỷ đồng.

3. Nâng cấp tỉnh lộ 155 (đường Ô Quý Hồ - Bản Xèo) dài 24km. Dự kiến khởi công đầu năm 2007 và hoàn thiện năm 2008. Kinh phí đầu tư khoảng 47 tỷ đồng.

4. Nâng cấp 24km Tỉnh lộ 154 (đường Bắc Ngầm - Bắc Hà - Si Ma Cai) đoạn còn lại. Gồm 14km đoạn Bắc Ngầm - Bắc Hà (khởi công năm 2007, hoàn thành 2008, kinh phí dự kiến 30 tỷ đồng); 10km đoạn Bắc Hà - Lùng Phình (hoàn thành 2009, kinh phí dự kiến 20 tỷ đồng).

5. Triển khai xây dựng đường D2 (thành phố Lào Cai) theo quy mô đường cấp 2 đô thị. Dự kiến hoàn thành 2008, kinh phí xây dựng 45 tỷ đồng.

6. Nâng cấp tỉnh lộ 151 (tỉnh lộ 79): Nâng cấp mặt đường 10km đoạn Xuân Giao - Tằng Loỏng (dự kiến khởi công 2006, hoàn thành 2007; kinh phí đầu tư khoảng 7 tỷ đồng). Nâng cấp đoạn Tằng Loỏng - Khe Lếch dài 30km dự kiến khởi công cuối năm 2007 hoàn thành năm 2009.

7. Nâng cấp tỉnh lộ 156 dài 15 km: Dự kiến khởi công năm 2007 hoàn thành vào năm 2008.

8.   Quản lý và sửa chữa đường: 55 tỷ đồng.

C. Đầu tư nâng cấp các tuyến đường giao thông đến trung tâm xã:

Nâng cấp 100% đường đến Trung tâm xã được rải nhựa hoặc cấp phối, trong đó; 60% số xã có đường được rải nhựa với chiều dài khoảng 220km, kinh phí đầu tư 153,37 tỷ đồng. Đầu tư vốn cho sửa chữa thường xuyên cho 724 km đường đến Trung tâm xã và 7.700 m cầu ngầm với kinh phí là 15 tỷ đồng.

D. Đầu tư xây dựng, nâng cấp đường giao thông liên thôn:

1. Mở mới và kiên cố hoá đường liên thôn, xây dựng công trình thoát nước cho một số tuyến đường liên thôn quan trọng với tổng chiều dài 542km, kinh phí với kinh phí hỗ trợ của nhà nước hỗ trợ là 96,34 tỷ đồng, nhân dân thực hiện 72,56 tỷ đồng. Đầu tư xây dựng mới khoảng 60 cầu GTNT với kinh phí dự kiến là 33,4 tỷ đồng, trong đó nhà nước hỗ trợ 20 tỷ đồng, nhân dân thực hiện là 13,4 tỷ đồng.

2. Hỗ trợ duy tu, sửa chữa bảo dưỡng đường giao thông liên thôn với kinh phí là 10 tỷ đồng/2.000 km.

E. Đầu tư nâng cấp các tuyến đường ra biên giới, đường tuần tra biên giới.

1. Nâng cấp, xây dựng đường ra biên giới với chiều dài 78,8km, kinh phí đầu tư khoảng 70,73 tỷ đồng.

2. Xây dựng các đường tuần tra biên giới tổng chiều dài 141 km, kinh phí xây dựng 212 tỷ đồng.

III. Nhu cầu vốn của Đề án:

A. Tổng nhu cầu vốn:                                                                         1.776,44 tỷ đồng.

Bao gồm:

1. Đầu tư đường quốc lộ:                                                                      781,00 tỷ đồng.

2. Đầu tư đường tỉnh lộ:                                                                        332,00 tỷ đồng.

3. Đầu tư nâng cấp đường đến trung tâm xã:                                   168,37 tỷ đồng.

4. Đầu tư xây dựng và nâng cấp đường liên thôn:           212,30 tỷ đồng.

5. Đường biên giới:                                                                                282,77 tỷ đồng.

B. Cơ cấu nguồn vốn: Khái toán sơ bộ nhu cầu vốn để thực hiện Đề án:

1. Vốn đầu tư qua các Bộ, Ngành TW:                                            1.108,60 tỷ đồng.

2. Vốn Nhân dân đóng góp:                                                                   72,56 tỷ đồng.

3. Vốn tín dụng:                                                                                        69,74 tỷ đồng.

4. Vốn Ngân do địa phương trực tiếp quản lý:                  525,54 tỷ đồng.

Trong đó :

- Vốn Ngân sách đầu tư XDCB:                                                           131,15 tỷ đồng

- Vốn Sự nghiệp (duy tu bảo dưỡng đường):                      80,00 tỷ đồng.

- Vốn Ngân sách TW hỗ trợ có mục tiêu:                           211,77 tỷ đồng.

- Vốn ODA( AFD, JBIC) cân đối qua ngân sách:               102,62 tỷ đồng.

C. Phân kỳ đầu tư theo các năm:

- Năm 2006:                          214,35 tỷ đồng. - Năm 2009:             186,34 tỷ đồng.

- Năm 2007:                          646,25 tỷ đồng. - Năm 2010:             169,01 tỷ đồng.

- Năm 2008:                          560,45 tỷ đồng.

IV. Các cơ chế chính sách và giải pháp thực hiện đề án:

1. Các cơ chế chính sách thu hút vốn, đầu tư, quản lý bảo vệ đường giao thông:

Việc phát triển giao thông trên địa bàn tỉnh Lào Cai - một tỉnh miền vùng cao biên giới, xuất phát điểm chưa cao, diện tích rộng, cơ sở hạ tầng giao thông kém phát triển là một việc hết sức khó khăn, cần sự đầu tư rất lớn về vốn. Trong những năm qua, ngành đã được sự hỗ trợ rất lớn của Nhà nước, các tổ chức quốc tế... Để đạt được kế hoạch đã đề ra, đáp ứng được yêu cầu phát triển mạng lưới giao thông trên địa bàn toàn tỉnh, cần có một chính sách huy động nguồn lực cụ thể:

- Đường Trung ương quản lý: Do Trung ương đầu tư qua Bộ Giao thông Vận tải, gồm: Đường cao tốc Hà Nội-Lào Cai; Quốc lộ 4 nối Hà Giang - Lào Cai; Quốc lộ 70, QL 4D...

- Đường tỉnh: Ngân sách tỉnh đầu tư hoặc đối ứng để kết hợp với các nguồn vốn khác như ADB, JBIC...

- Giao thông nông thôn: Ngoài chủ trương “Nhà nước và nhân dân cùng làm” cần tranh thủ các nguồn vốn viện trợ nước ngoài như: DFID, WB, ADB, JBIC, AFD... cũng như các nguồn hỗ trợ khác.

- Xây dựng cơ chế duy tu bảo dưỡng đường giao thông nông thôn hợp lý, phù hợp với tình hình hiện tại của địa phương.

2. Giải pháp cụ thể:

a. Đường Trung ương quản lý: Trong kỳ kế hoạch Sở Giao thông - Vận tải thống kê, đánh giá khả năng đáp ứng vận tải để UBND tỉnh có số liệu làm việc với Chính phủ và các Bộ, Ngành về phương án đầu tư nâng cấp các tuyến Quốc lộ, đường sắt, đường sông. Giai đoạn 2006 - 2010 đề nghị Bộ GTVT tiếp tục đầu tư hoàn thành các dự án đang triển khai như QL4D, QL4 đoạn nối Hà Giang - Lào Cai, QL70 từ nguồn vốn Trái phiếu Chính phủ. Đặc biệt tuyến cao tốc Hà Nội - Lào Cai rất quan trọng không chỉ cho các tỉnh phía Tây Bắc trong đó có Lào Cai mà còn là việc thực hiện cam kết giữa hai Chính phủ Việt Nam - Trung Quốc về đường cao tốc Côn Minh - Hải Phòng và hành lang kinh tế Côn Minh - Hà Nội - Hải Phòng. Bộ Giao thông  - Vận Tải cần đầu tư xây dựng sớm, có thể triển khai trước đoạn Lào Cai - Yên Bái.

Thành lập Ban chỉ đạo cấp tỉnh kiểm tra theo dõi quy hoạch, kế hoạch xây dựng các tuyến quốc lộ, kịp thời giải quyết các khó khăn vướng mắc trong quá trình thi công. Thành lập Ban GPMB các tuyến quốc lộ cấp tỉnh trong đó 01 đồng chí Lãnh đạo UBND tỉnh làm Trưởng Ban, Phó ban thường trực là đồng chí Giám đốc Sở GTVT, thành viên là Chủ đầu tư và UBND các huyện có tuyến đường đi qua. Cần xây dựng các khu tái định cư trước khi khởi công tuyến đường để tạo quĩ đất dành cho các hộ dân phải di chuyển GPMB để xây dựng các tuyến quốc lộ.

b. Đường Tỉnh lộ: Tiếp tục thực hiện theo phương án lồng ghép từ các chương trình, cụ thể: Vốn ngân sách tỉnh đầu tư phần giải phóng mặt bằng, phần kinh phí quản lý và sửa chữa đường (có thể thêm phần xây dựng nền đường), vốn từ các tổ chức khác đầu tư phần xây lắp còn lại.

c. Đường Biên giới: Sở Giao thông  - Vận Tải phối hợp với Bộ chỉ huy Bộ đội Biên phòng tỉnh lập kế hoạch xây dựng đường biên giới để UBND tỉnh có số liệu làm việc với Chính phủ và các Bộ về phương án đầu tư. Hiện nay Bộ Quốc phòng đang có chương trình đầu tư đường biên giới bằng nguồn Trái phiếu Chính phủ. Ưu tiên những đoạn có sự tranh chấp biên giới, những tuyến có thể kết hợp giữa đường vành đai biên giới + đường ra biên giới + đường tuần tra biên giới như đường: Ý Tý - Ngải Thầu - A Lù - A Mú Sung; Bản Vược - Tùng Sáng… Triển khai duy tu, bảo dưỡng đường biên giới hợp lý để tăng tuổi thọ công trình.

d. Đường GTNT: Ưu tiên việc nâng cấp, kiên cố hoá hệ thống thoát nước, từng bước nâng cấp mặt đường các tuyến đường GTNT đã được xây dựng nền đường. Đầu tư có trọng điểm các tuyến GTNT có quy mô Bnền=4,8m; làm đường GTNT tới các thôn bản chưa có đường. Tiếp tục thực hiện việc đầu tư từ ngân sách tỉnh, sự đóng góp của nhân dân và các doanh nghiệp và vốn viện trợ của các tổ chức quốc tế thông qua các dự án như: WB3, dự án giảm nghèo… Xây dựng cơ chế chính sách, các qui định cụ thể trong quản lý, xây dựng, sửa chữa và bảo dưỡng đường GTNT để đảm bảo nhân dân tích cực tham gia.

V. Tổ chức triển khai thực hiện:

1. Sở Giao thông Vận tải:

- Chủ trì phối hợp với các ngành có liên quan tổ chức xây dựng kế hoạch thực hiện từng nội dung của Đề án cụ thể cho từng giai đoạn, từng năm trình UBND tỉnh phê duyệt và triển khai thực hiện. Thực hiện quản lý nhà nước theo chức năng nhiệm vụ đã được giao.

- Chịu trách nhiệm khai thác nguồn lực qua Bộ GTVT. Thực hiện các mục tiêu phát triển Quốc lộ và Tỉnh lộ.

- Phối hợp với các ngành tham mưu trình UBND tỉnh điều chỉnh, bổ sung và xây dựng mới các cơ chế quản lý, vận hành, sửa chữa bảo dưỡng để tăng tuổi thọ cho các công trình giao thông. Tiến hành sơ kết, đánh giá tình hình thực hiện Đề án sau khi kết thúc từng giai đoạn của Đề án. Tổng kết, đánh giá hiệu quả của Đề án khi kết thúc vào cuối năm 2010.

2. UBND các huyện chỉ đạo việc xây dựng phát triển GTNT trên địa phương mình, phối hợp với ngành Giao thông thực hiện tốt công tác giải phóng mặt bằng cho các công trình tại địa phương.

3. Bộ Chỉ huy Bộ đội biên phòng tỉnh phối hợp với Bộ Quốc phòng, Sở Giao thông - Vận tải và các cơ quan liên quan thực hiện mục tiêu xây dựng phát triển hệ thống đường biên giới.

4. Các Sở, Ban, Ngành có liên quan căn cứ chức năng nhiệm vụ của mình phối hợp với Sở Giao thông - Vận tải thực hiện đề án theo đúng tiến độ đã đề ra.



13/ TÓM TẮT ĐỀ ÁN Hoàn thiện việc xây dựng thành phố Lào Cai giai đoạn 2006 - 2010

 

Đề án gồm 3 dự án thành phần:

- Dự án 1: Xây dựng Khu đô thị mới Lào Cai - Cam Đường

- Dự án 2: Điều chỉnh, sắp xếp trụ sở các cơ quan hành chính sự nghiệp trên địa bàn thị xã Lào Cai, thị xã Cam Đường cũ.

-  Dự án 3: Hoàn chỉnh các tiêu chí đô thị loại III thành phố Lào Cai

I. Mục tiêu Đề án

1. Mục tiêu tổng quát

Khai thác có hiệu quả tiền năng và lợi thế để thành phố Lào Cai trở thành động lực phát triển chung về kinh tế - xã hội của tỉnh, tăng cường đầu tư cơ sở hạ tầng kỹ thuật và bố trí, sắp xếp lại các cơ quan hành chính sự nghiệp trên địa bàn theo quy hoạch được duyệt để đến năm 2010, thành phố Lào Cai trở thành một thành phố văn minh, hiện đại và giàu bản sắc văn hóa dân tộc của vùng Tây Bắc đồng thời tạo ra những điều kiện cơ bản cần thiết để đạt tiêu chí đô thị loại II trực thuộc tỉnh vào năm 2015.

2. Mục tiêu cụ thể

 - Rà soát, điều chỉnh lại quy hoạch chung, các khu chức năng tại khu thị xã Lào Cai và Cam Đường cũ sau khi đã sáp nhập.

- Đầu tư cơ bản hoàn thiện cơ sở hạ tầng kỹ thuật (điện, nước, thông tin...) tại Khu đô thị mới. Xây dựng xong 9 trụ sở làm việc hợp khối để đến năm 2010 cơ bản di chuyển các cơ quan hành chính sự nghiệp về Khu đô thị mới. Triển khai xây dựng các trường học chuyên nghiệp, công trình công cộng, thiết chế văn hóa, cơ sở vật chất cho hoạt động thể dục thể thao… tại Khu đô thị mới.

- Điều chỉnh, sắp xếp lại trụ sở các cơ quan hành chính sự nghiệp trên địa bàn khu thị xã Lào Cai và Cam Đường cũ để nâng cao hiệu quả công tác quản lý và thực hiện các nhiệm vụ chuyên môn đồng thời mở rộng không gian cho phát triển thương mại, du lịch.

- Chỉnh trang đô thị khu thị xã Lào Cai và Cam Đường cũ gồm: nâng cấp, cải tạo các tuyến đường nội thị; hoàn thiện hệ thống điện chiếu sáng; kiên cố hóa hệ thống thoát nước; xây dựng mới nhà máy xử lý nước thải tập trung; trồng và cải tạo cây xanh đô thị theo quy hoạch…

- Củng cố và duy trì vững chắc 25 tiêu chí đã đạt, hoàn thiện 03 tiêu chí chưa đạt gồm: Cân đối đủ thu chi hàng năm, xử lý nước thải và quy mô dân số.

Một số chỉ tiêu chủ yếu đến năm 2010

- Tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân hàng năm đạt 15%/năm

- Thu ngân sách trên địa bàn đạt 300 tỷ đảm bảo cân đối dư chi thường xuyên

- Mức tăng dân số trung bình đạt 4%/năm, trong đ