DMCA.com Protection Status

TÀI LIỆU TẬP HUẤN NGHIỆP VỤ BÁO CÁO VIÊN   quan tâm

Được đăng bởi: Trần Việt Thao

Cập nhật lúc 14:36 ngày 10/01/2018

TÀI LIỆU TẬP HUẤN NGHIỆP VỤ BÁO CÁO VIÊN NĂM 2009

Cập nhật ngày: 21/10/11

( Nguồn: http://www.laichau.gov.vn/news/detail/tabid/2902/newsid/20638/seo/TAI-LIEU-TAP-HUAN-NGHIEP-VU-BAO-CAO-VIEN-NAM-2009/language/vi-VN/Default.aspx ).

Đ



ể phục vụ việc học tập cũng như trang bị cẩm nang hoạt động cho đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền miệng của tỉnh, Ban Tuyên giáo Tỉnh uỷ tổ chức biên soạn và giới thiệu tài liệu “Tập huấn nghiệp vụ báo cáo viên, tuyên truyền miệng”.

Thực hiện chương trình công tác giáo dục lý luận chính trị, bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ cho cán bộ, đảng viên. Căn cứ Chỉ thị số 33 - CT/TU, ngày 28 tháng 02 năm 2008 của Ban Thường vụ Tỉnh uỷ “về việc tiếp tục đổi mới và nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác tuyên truyền miệng trong tình hình mới”. Nhằm nâng cao nhận thức, hiểu biết cho đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên cơ sở về vai trò, tầm quan trọng của công tác báo cáo viên, tuyên truyền miệng. Trang bị những kiến thức, kỹ năng, nghiệp vụ cơ bản về công tác báo cáo viên, tuyên truyền miệng cho đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên.

Để phục vụ việc học tập cũng như trang bị cẩm nang hoạt động cho đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền miệng của tỉnh, Ban Tuyên giáo Tỉnh uỷ tổ chức biên soạn và giới thiệu tài liệu “Tập huấn nghiệp vụ báo cáo viên, tuyên truyền miệng”. Với các nội dung sau:

- Chỉ thị số 17-CT/TW, ngày 15 tháng 10 năm 2007 của Ban Bí thư Trung ương “về tiếp tục đổi mới và nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác tuyên truyền miệng trong tình hình mới”.

- Chỉ thị số 33-CT/TU, ngày 28 tháng 02 năm 2008 của Ban Thường vụ Tỉnh uỷ “về tiếp tục đổi mới và nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác tuyên truyền miệng trong tình hình mới” .

- Bài 1: Tuyên truyền và công tác tuyên truyền miệng trong công tác tư tưởng.

- Bài 2: Nội dung và phương pháp chuẩn bị đề cương buổi tuyên truyền miệng.

- Bài 3: Phương pháp trình bày bài tuyên truyền miệng.

- Bài 4: Công tác nghiên cứu, nắm bắt tư tưởng và dư luận xã hội.

Mong rằng những nội dung của tài liệu sẽ giúp các đồng chí thực hiện tốt hơn nhiệm vụ công tác báo cáo viên, tuyên truyền miệng; góp phần nâng cao hiệu quả chất lượng công tác tuyên truyền miệng của Đảng bộ tỉnh.

Xin trân trọng giới thiệu tài liệu tới các đồng chí!

BAN TUYÊN GIÁO TỈNH UỶ

 

 

 

STT

NỘI DUNG

TRANG

1


3

2


7

3

- Bài 1: Tuyên truyền và công tác tuyên truyền miệng trong công tác tư tưởng.

11

4

- Bài 2: Nội dung và phương pháp chuẩn bị đề cương buổi tuyên truyền miệng.

22

5

- Bài 3: Phương pháp trình bày bài tuyên truyền miệng.

34

6

- Bài 4: Công tác nghiên cứu, nắm bắt tư tưởng và dư luận xã hội.

46

 

 

BAN CHẤP HÀNH TRUNG ƯƠNG

*

Số: 17- CT/TW

ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM

 

Hà Nội, ngày 15 tháng 10 năm 2007

  

CHỈ THỊ CỦA BAN BÍ THƯ

về tiếp tục đổi mới và nâng cao chất lượng,

hiệu quả công tác tuyên truyền miệng trong tình hình mới

------------- 

Công tác tuyên truyền miệng đã đi vào nền nếp, bám sát cơ sở, có cố gắng đổi mới nội dung và phương thức hoạt động để phù hợp với tình hình thực tiễn và trình độ nhận thức, yêu cầu của cán bộ, đảng viên và nhân dân ở mỗi đơn vị, thực sự là một trong những kênh quan trọng, có hiệu quả cao của công tác tư tưởng - văn hoá. Đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên được phát triển cả về số lượng và chất lượng, có nhiều hoạt động phong phú, tích cực, làm tốt vai trò là lực lượng nòng cốt, chủ lực thực hiện công tác tuyên truyền miệng của Đảng.

Tuy nhiên, việc thực hiện các chủ trương của Đảng về công tác tuyên truyền miệng và hoạt động của đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên còn những hạn chế và khuyết điểm. Một số cấp uỷ và ban tuyên giáo các cấp chưa nhận thức đầy đủ ý nghĩa, tầm quan trọng của công tác tuyên truyền miệng; chưa thực sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo công tác tuyên truyền miệng và việc xây dựng lực lượng, đổi mới nội dung, phương thức hoạt động của đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên. Không ít cán bộ lãnh đạo các cấp chưa tích cực tham gia công tác tuyên truyền miệng với vai trò báo cáo viên, tuyên truyền viên. Nhiều đảng viên chưa chủ động tham gia tuyên truyền các chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước cho quần chúng.

Chất lượng công tác tuyên truyền miệng còn hạn chế, chưa đáp ứng tốt nhu cầu của cán bộ, đảng viên, nhân dân có trình độ ngày càng cao và có nhiều nguồn thông tin; tính thuyết phục, tính hấp dẫn chưa cao, gần đây có biểu hiện né tránh những vấn đề bức xúc mà dư luận quan tâm. Phương thức hoạt động còn nặng về tuyên truyền một chiều từ trên xuống, ít chú trọng trao đổi, đối thoại trực tiếp với cán bộ, đảng viên và nhân dân.

Lực lượng báo cáo viên, tuyên truyền viên đông nhưng chưa mạnh, nhiều vùng, lĩnh vực còn thiếu và yếu; chất lượng còn nhiều hạn chế, chưa đủ sức giải đáp có sức thuyết phục những vướng mắc do thực tiễn cuộc sống đặt ra. Các chế độ, chính sách, điều kiện về cơ sở vật chất, kỹ thuật và tài chính cho công tác tuyên truyền miệng và hoạt động của báo cáo viên, tuyên truyền viên đã lạc hậu nhưng chậm được khắc phục.

Để đáp ứng những đòi hỏi của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong thời kỳ mới, thực hiện Nghị quyết Đại hội X và Nghị quyết Trung ương 5 (khoá X) “Về công tác tư tưởng, lý luận và báo chí trước yêu cầu mới”, Ban Bí thư yêu cầu các cấp uỷ đảng và mỗi cán bộ, đảng viên cần nhận thức sâu sắc vai trò, tầm quan trọng của công tác tuyên truyền miệng, phát huy cao độ các ưu thế của tuyên truyền miệng của đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên để cùng với các kênh thông tin, tuyên truyền khác tạo ra sức mạnh tổng hợp và nâng cao hiệu quả của công tác tư tưởng; cụ thể, cần tập trung thực hiện tốt các nhiệm vụ và giải pháp chủ yếu sau:

1- Tiếp tục quán triệt ý nghĩa, vai trò, tầm quan trọng của công tác tuyên truyền miệng, hoạt động của đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên, xác định đây là một trong những kênh thông tin quan trọng nhất, trực tiếp truyền bá sâu rộng chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, phổ biến, giáo dục, quán triệt các quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; định hướng tư tưởng cho cán bộ, đảng viên và nhân dân trước các vấn đề thời sự quan trọng trong nước và quốc tế; góp phần tạo sự thống nhất tư tưởng trong Đảng, sự đồng thuận trong xã hội, củng cố niềm tin, cổ vũ phong trào cách mạng. Đồng thời, đây là một trong những vũ khí sắc bén, kịp tthời đấu tranh chống âm mưu, thủ đoạn “Diễn biến hoà bình” của các thế lực thù địch, phê phán các quan điểm sai trái, lệch lạc, phản động. Tuyên truyền miệng và đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên là một mắt khâu quan trọng, trực tiếp nối liền Đảng, Nhà nước với nhân dân, Trung ương với địa phương và cơ sở để vừa đưa chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước đến với nhân dân, vừa nắm bắt, phản ánh trung thực, kịp thời tư tưởng, tâm tư, nhu cầu, lợi ích, nguyện vọng của nhân dân đối với lãnh đạo Đảng, Nhà nước; gắn truyền đạt với đối thoại, trao đổi, truyền tải trực tiếp những thông tin nội bộ cần thiết phục vụ công tác tư tưởng đối với tất cả các đối tượng ở mọi hoàn cảnh, điều kiện một cách linh hoạt.

2- Công tác tuyên truyền miệng là nhiệm vụ của toàn Đảng, vì vậy tất cả cấp uỷ các cấp từ Trung ương đến cơ sở, các đảng viên hoạt động trên mọi lĩnh vực đều phải có trách nhiệm làm nhiệm vụ tuyên truyền miệng, trực tiếp tham gia tuyên truyền đường lối, quan điểm của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; kịp thời thông tin và định hướng tư tưởng cho cán bộ, đảng viên, nhân dân ở nơi công tác và cư trú về các vấn đề quan trọng trong nước và trên thế giới, coi đó là một tiêu chuẩn để đánh giá năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu, chất lượng công tác của các cấp uỷ, tính tiên phong, gương mẫu và phẩm chất chính trị của mỗi đảng viên.

3- Các cấp uỷ đảng, người đứng đầu các cơ quan, đơn vị có trách nhiệm lãnh đạo xây dựng, quản lý và chỉ đạo hoạt động của đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên của ngành, cấp và đơn vị mình, phát huy vai trò của đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên của ngành, ưu thế của công tác tuyên truyền miệng trên mặt trận tư tưởng - văn hoá. Tất cả các tổ chức đảng từ Trung ương đến cơ sở đều phải có lực lượng báo cáo viên, tuyên truyền viên.

4- Ban Tuyên giáo Trung ương chỉ đạo, hướng dẫn việc tổ chức và hoạt động của đội ngũ báo cáo viên từ Trung ương đến các tổ chức cơ sở đảng, việc đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ chính trị, tư tưởng, chuyên môn nghiệp vụ cho đội ngũ báo cáo viên, kết hợp hài hoà giữa đội ngũ báo cáo viên lâu năm, có kinh nghiệm với đội ngũ cán bộ trẻ, kế cận, từng bước nâng cao trình độ chuyên nghiệp của báo cáo viên ở tỉnh, thành phố và Trung ương; đổi mới mạnh mẽ phương thức hoạt động tuyên truyền miệng, hoạt động của đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên theo hướng đáp ứng kịp thời, nhanh nhạy nhu cầu và phù hợp với trình độ của cán bộ, đảng viên và nhân dân, nâng cao tính định hướng và sức thuyết phục của hoạt động tuyên truyền miệng.

5- Văn phòng Trung ương Đảng chủ trì, phối hợp với Bộ Tài chính, Ban Tuyên giáo Trung ương và các cơ quan liên quan nghiên cứu, xây dựng, bổ sung chế độ, chính sách và bảo đảm các phương tiện hoạt động cho báo cáo viên các cấp phù hợp với tình hình mới và hướng dẫn, kiểm tra việc thực hiện.

6- Ban Tổ chức Trung ương chủ trì, phối hợp với Ban Tuyên giáo Trung ương chỉ đạo, hướng dẫn việc đổi mới, kiện toàn tổ chức bộ máy, chức năng, nhiệm vụ, cơ chế hoạt động của Trung tâm Thông tin công tác Tuyên giáo các cấp để nâng cao tính tích cực, năng động, hướng về cơ sở, chất lượng, hiệu quả hoạt động của Trung tâm này.

7- Ban Tuyên giáo Trung ương chỉ đạo, hướng dẫn, đôn đốc, kiểm tra việc thực hiện Chỉ thị này và định kỳ báo cáo Ban Bí thư.

Chỉ thị này phổ biến đến chi bộ./.


 

T/M BAN BÍ THƯ

 

(Đã ký)

 

 

 

Trương Tấn Sang





BÀI 1

 

TUYÊN TRUYỀN MIỆNG VÀ CÔNG TÁC TUYÊN TRUYỀN MIỆNG

TRONG CÔNG TÁC TƯ TƯỞNG

*****

I- NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ CÔNG TÁC TƯ TƯỞNG

1- Khái niệm công tác tư tưởng

Công tác tư tưởng là hoạt động có mục đích của một giai cấp, một chính đảng nhằm xây dựng, xác lập, phát triển và truyền bá hệ tư tưởng trong quần chúng, định hướng giá trị, tạo niềm tin và thúc đẩy quần chúng đi tới hành động vì lợi ích chung của mình.

Công tác tư tưởng của Đảng cộng sản là hoạt động nhằm phát triển và hoàn thiện chủ nghĩa Mác-Lênin, truyền bá chủ nghĩa Mác-Lênin vào trong quần chúng nhân dân, cổ vũ, động viên quảng đại quần chúng nhân dân tự giác tham gia vào cuộc đấu tranh cải biến xã hội cũ, xây dựng chế độ xã hội mới vì lợi ích của đại đa số quần chúng nhân dân.

2- Các bộ phận cấu thành công tác tư tưởng

* Công tác tư tưởng bao gồm 3 bộ phận hợp thành:

a. Công tác lý luận là một bộ phận quan trọng của công tác tư tưởng hướng vào việc nghiên cứu, phát triển sáng tạo hệ tư tưởng của giai cấp lãnh đạo cách mạng - giai cấp công nhân, nghiên cứu và tổng kết thực tiễn cách mạng nhằm xây dựng hệ thống quan điểm lý luận và cơ sở lý luận cho việc hoạch định đường lối, chính sách, các quyết định của Đảng và Nhà nước, đấu tranh, phê phán các trào lưu tư tưởng sai trái, thù địch.

b. Công tác tuyên truyền là một hình thái, một bộ phận cấu thành của công tác tư tưởng nhằm truyền bá hệ tư tưởng và đường lối chiến lược, sách lược trong quần chúng, xây dựng cho quần chúng thế giới quan phù hợp với lợi ích của chủ thể tư tưởng, hình thành và củng cố niềm tin, tập hợp và cổ vũ quần chúng hành động theo thế giới quan và niềm tin đó.

c. Công tác cổ động là sự tác động của chủ thể vào tư tưởng, tình cảm của đối tượng thông qua việc giải thích một việc cụ thể, thiết thực nhằm tạo nên một ấn tượng mạnh ở đối tượng, kích thích và thúc đẩy họ hăng hái hành động thực hiện công việc đó.

* Quan hệ giữa 3 bộ phận của công tác tư tưởng:

Công tác lý luận được coi là khâu trọng yếu hành đầu của công tác tư tưởng. Nó quyết định phương hướng, nội dung của công tác tuyên truyền và cổ động và là cơ sở, nền tảng của công tác tư tưởng.

Công tác tuyên truyền nối tiếp công tác lý luận, làm cho lý luận có sức sống mạnh mẽ, thể hịên sinh động trong thực tiễn.

Cổ động là khâu cuối cùng quyết định việc chuyển hóa lý luận đã được nhận thức, niềm tin đã được xây dựng và củng cố thành hành động cách mạng.

II- TUYÊN TRUYỀN MIỆNG VÀ NGHỆ THUẬT PHÁT BIỂU MIỆNG

1-Tuyên truyền miệng và các loại hình tuyên truyền miệng

1.1. Tuyên truyền miệng

a.Khái niệm tuyên truyền miệng

Tuyên truyền miệng là một phương thức tuyên truyền được tiến hành bằng lời nói trực tiếp nhằm mục đích nâng cao nhận thức, củng cố niềm tin và cổ vũ tính tích cực hành động của người nghe.

Khái niệm tuyên truyền miệng trong công tác tư tưởng được hiểu ở nhiều phương diện khác nhau do cách tiếp cận khác nhau. Có lúc tuyên truyền miệng được hiểu như một bộ phận của công tác tư tưởng. Có lúc tuyên truyền miệng lại được hiểu như một hình thức tuyên truyền. Trong chương này, tuyên truyền miệng và cùng với nó là hoạt động của đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên được tiếp cận như là một kênh, một phương tiện của công tác tư tưởng.

b. Vị trí, vai trò của tuyên truyền miệng

- Vị trí: Tuyên truyền miệng và hoạt động của đội ngũ báo cáo viên, tuyên truỳên viên là một trong những kênh thông tin quan trọng nhất của công tác tư tưởng; là công cụ quan trọng hàng đầu nhằm tuyên truyền, giáo dục về đường lối, chính sách, truyền bá những quan điểm của Đảng, đưa tiếng nói của Đảng đến quần chúng nhân dân.

- Vai trò:

+ Cùng với các công cụ, phương tiện công tác tư tưởng khác, tuyên truyền miệng góp phần truyền bá sâu rộng trong cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân về chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và những tinh hoa văn hóa dân tộc và nhân loại.

+ Tuyên truyền miệng là kênh thông tin chủ yếu và chính thống nhằm giáo dục phổ biến, quán triệt mọi chủ trương, đường lối, chính sách, quan điểm của Đảng và Nhà nước; thông báo kịp thời và có định hướng các vấn đề thời sự quan trọng trong nước và quốc tế, vấn đề nóng bỏng mà dư luận quan tâm.

+ Thông qua kênh truyền miệng và hoạt động của đội ngũ bào cáo viên mà một mặt, thông tin đến được với quần chúng nhân dân, mặt khác nhờ thông tin phản hồi có thể nắm bắt được nhận thức và thái độ của nhân dân đối với chủ trương, đường lối, chính sách, nắm được tâm tư, nguyện vọng, nhu cầu, lợi ích… của quần chúng.

+ Tuyên truyền miệng là vũ khí sắc bén trong cuộc đấu tranh chống âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch đối với cách mạng nước ta.

+ Tuyên truyền miệng có khả năng đưa được những thông tin nội bộ, những thông tin mà về lý do nào đó không thể đưa trên các phương tiện thông tin đại chúng được.

c. Những ưu thế của tuyên truyền miệng

- Ưu thế của ngôn ngữ nói

So với các phương tiện chuyển tải thông tin khác, ngôn ngữ nói có ưu thế là nó mang tính phổ biến trong giao tiếp xã hội.

Lời nói có ưu thế là sử dụng linh hoạt, hiệu quả thông tin cao. Lời nói có thể sử dụng trong mọi hoàn cảnh, mọi điều kiện.

Trong tuyên truyền miệng, cán bộ tuyên truyền có thể sử dụng các thuật ngữ, thành ngữ quen thuộc với đối tượng để biểu đạt một cách ngắn gọn, chính xác, dễ hiểu về vấn đề, nói cách khác là có thể trình bày tóm tắt, cô đọng được về sự vật, hiện tượng mà không cần phải nói dài. Đồng thời có thể sử dụng châm ngôn, cách ngôn, từ đồng nghĩa, nghịch nghĩa và các thủ thuật tu từ để làm cho lời nói sinh động, hấp dẫn, thu hút người nghe.

Nhờ khai thác, vận dụng sức mạnh truyền cảm của lời nói - một ưu thế riêng mà không một phương tiện thông tin tuyên truyền nào có được - tuyên truyền miệng có thể tác động mạnh mẽ vào tình cảm của con người, khơi dậy tính tích cực nhận thức của đối tượng, thúc đẩy quá trình hình thành niềm tin và cổ vũ hành động tự giác của công chúng.

- Ưu thế trong việc sử dụng các yếu tố phi ngôn ngữ

Trong tuyên truyền miệng, ngoài việc sử dụng phương tiện lời nói để chuyển tải thông tin, cán bộ tuyên truyền có thể sử dụng các yếu tố phi ngôn ngữ như tư thế, cử chỉ, điệu bộ, diện mạo… làm phương tiện biểu đạt thông tin và sắc thái tình cảm.

Cử chỉ, điệu bộ là một trong số các yếu tố bổ sung cho lời nói, làm cho đối tượng hiểu rõ hơn ý nghĩa, sắc thái của lời nói.

Có thể nói, tư thế, cử chỉ điệu bộ, nét mặt, ánh mắt, nụ cười… nghĩa là tất cả các yếu tố phi lời nói có ảnh hưởng lớn đến quá trình tuyên truyền miệng.

- Ưu thế của loại hình giao tiếp trực tiếp

Khác với giao tiếp qua các phương tiện thông tin đại chúng, sự giao tiếp trực tiếp và sinh động của kênh tuyên truyền miệng dễ tạo cho người nghe cảm giác gần gũi, thân mật.

Một ưu thế không kém phần quan trọng của giao tiếp trực tiếp là nói đúng đối tượng.

Giao tiếp trực tiếp tạo điều kiện cho cán bộ tuyên truyền linh hoạt vận dụng cách nói, trong những tình huống khác nhau, sử dụng cử chỉ, điệu bộ, điều chỉnh âm thanh phù hợp với đối tượng, với hoàn cảnh.

Giao tiếp trực tiếp còn cho phép chuyển từ độc thoại sang đối thoại.

Tóm lại, giao tiếp trực tiếp tạo cho cán bộ tuyên truyền cũng như người nghe nhiều ưu thế mà người phát biểu trên vô tuyến truyền hình, phát thanh, truyền thanh và khán thính giả của họ không thể có được.

2- Nghệ thuật phát biểu miệng

Theo E.A Nôgin, nghệ thuật phát biểu miệng là khả năng vận dụng thành thạo, sáng tạo một tập hợp những thao tác chuẩn bị và tiến hành phát biểu trước công chúng nhằm tạo mục đích thông tin kiến thức, thuyết phục, cảm hóa, tạo ra niềm tin và thôi thúc hành động của người nghe1.

Ngoài khái niệm phát biểu miệng trên các sách báo và trong thực tế chúng ta còn bắt gặp một số khái niệm gần nghĩa có liên quan như: hùng biện, tuyên truyền miệng, truyền thông bằng lời nói trực tiếp.

a. Các thể loại phát biểu miệng

- Độc thoại là loại hình phát biểu miệng mà người nói tác động liên tục đến người nghe bằng lời.

Độc thoại bao gồm các loại hình sau:

+ Bài giảng

+ Báo cáo chuyên đề

+ Thông tin chính trị

+ Tổng thuật các sự kiện

+ Kể chuyện

+ Báo cáo tổng kết

+ Bài nói chuyện chính trị

+ Phát biểu tại các cuộc mít tinh (diễn văn)

+ Giới thiệu nghị quyết

- Đối thoại là nói chuyện qua lại giữa hai hay nhiều người khác nhau.

Đối thoại có các loại hình cơ bản sau:

+ Tọa đàm

+ Tranh luận

+ Hỏi - đáp

Từ những quan niệm trên về độc thoại và đối thoại và về các hình thức khác nhau của đối thoại, có thể rút ra ý nghĩa thực tiễn là:

- Đối thoại có thể chuyển hóa thành một trong các hình thức độc thoại nếu “người đối thoại im lặng” trong cuộc thoại tham gia đối thoại.

- Trong đối thoại, các vai thoại (người nói - người nghe, chủ thể - đối tượng) chuyển hóa lẫn nhau. Chủ thể đối thoại không chỉ là một ngừơi. Có thể là một nhóm người này đối thoại với nhóm người kia một cách có tổ chức dưới sự điều khiển của người có trách nhiệm.

Thể loại phát biểu miệng rất đa dạng, phong phú. Trong thực tế cần căn cứ vào đặc điểm đối tượng, nội dung để lựa chọn thể loại phát biểu miệng phù hợp. Đồng thời có thể kết hợp nhiều thể loại với nhau trong một buổi phát biểu để đạt được hiệu quả cao nhất.

III- CHUẨN BỊ BÀI PHÁT BIỂU MIỆNG

Nghệ thuật phát biểu miệng là sự vận dụng tổng hợp các thao tác chuẩn bị và tiến hành phát biểu trước công chúng nhằm mục đích thông tin kiến thức, thuyết phục, cảm hóa, tạo ra niềm tin thôi thúc hành động của người nghe.

Để chuẩn bị bài phát biểu và tiến hành phát biểu trước công chúng, cán bộ tuyên truyền phải thực hiện những thao tác nào? Có thể hình dung các thao tác đó qua sơ đồ sau:

Chuẩn bị phát biểu miệng Tiến hành phát biểu miệng

(Giai đoạn trước khi giao tiếp) (Giai đoạn giao tiếp)

Nghiên cứu đặc thù đối tượng

Tập phát biểu

Phát biểu

Xác định mục đích, nội dung

Sưu tầm, nghiên cứu tài liệu

Trả lời câu hỏi

Lập đề cương phát biểu

Thảo luận, tranh luận

Lập chọn ngôn ngữ, văn phong

 

1- Nghiên cứu về đối tượng

a. Sự cần thiết phải nghiên cứu đối tượng

Trong tuyên truyền, đối tượng quy định việc xác định nội dung, lựa chọn phương pháp, phương tiện tác đến họ. Đối với những đối tượng khác nhau, nội dung, phương pháp tuyên truyền phải khác nhau. Vì vậy nghiên cứu về đối tượng là công việc đầu tiên mà cán bộ tuyên truyền phải tiến hành.

b- Nội dung nghiên cứu đối tượng

- Nghiên cứu đặc điểm về mặt xã hội - nhân khẩu: các đặc điểm về thành phần xã hội - giai cấp, nghề nghiệp, học vấn, giới tính, tuổi tác,… của đối tượng.

- Nghiên cứu các đặc điểm về tư tưởng và tâm lý - xã hội: hệ thống các quan điểm, chính kiến, động cơ, khuôn mẫu tư duy, tâm trạng và trạng thái thể chất… của họ.

- Nghiên cứu về nhu cầu, thị hiếu thông tin; thái độ của người nghe đối với nguồn thông tin và nội dung thông tin; con đường, cách thức thỏa mãn nhu cầu thông tin của đối tượng.

Trên cơ sở nghiên cứu về các đặc điểm này mà xác định mục đích, nội dung, phương pháp phát biểu phù hợp.

2- Xác định mục đích, nội dung bài phát biểu

a. Mục đích bài phát biểu

Hoạt động tuyên truyền có mục đích:

- Thông tin, cung cấp kiến thức.

- Hình thành, củng cố niềm tin.

- Cổ vũ tính tích cực xã hội của người nghe.

Xác định mục đích có ý nghĩa định hướng đối với nội dung của bài phát biểu.

b- Xác định nội dung phát biểu miệng

Khi lựa chọn nội dung bài phát biểu miệng, cần chọn những vấn đề mang các đặc trưng sau:

Một là, phải mang đến cho người nghe những thông tin mới.

Hai là, phải thiết thực, đáp ứng nhu cầu thông tin của một loại công chúng cụ thể.

Ba là, phải mang tính thời sự, tính cấp thiết, phản ánh những vấn đề nóng bỏng của cuộc sống.

Bốn là, phải đảm bảo tính tư tưởng và tính chiến đấu.

Cán bộ tuyên truyền có thể căn cứ vào kế hoạch đề tài tuyên truyền của cấp ủy xây dựng hoặc cơ quan tuyên truyền, giáo dục đặt ra hoặc bốn đặc trưng để xây dựng, lựa chọn nội dung bài phát biểu tuyên truyền miệng.

3- Lựa chọn, nghiên cứu và xử lý tài liệu

a. Chọn nguồn tài liệu

- Nguồn tài liệu quan trọng nhất mà cán bộ tuyên truyền thường xuyên sử dụng là tác phẩm kinh điển của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, các văn kiện của Đảng và Nhà nước.

- Các loại từ điển, số liệu thống kê chính thức là nguồn tài liệu chủ yếu để tra cứu các khái niệm, khai thác số liệu cho bài nói.

- Các sách báo chuyên khảo phù hợp với nội dung tuyên truyền cũng là một nguồn tài liệu.

- Các báo, tạp chí chính trị - xã hội, tạp chí chuyên ngành cũng là một nguồn tài liệu.

- Sổ tay tuyên truyền, sổ tay báo cáo viên là những tài liệu hướng dẫn nội dung, nghiệp vụ tuyên truyền rất thiết thực và bổ ích.

- Các bản tin nội bộ, đặc biệt là thông tin được cung cấp thông qua Hội nghị báo cáo viên định kỳ là nguồn thông tin trực tiếp mà dựa vào đó báo cáo viên, tuyên truyền viên xây dựng nội dung bài nói.

- Ngoài ra có thể sử dụng các băng ghi âm, ghi hình do các cơ quan có trách nhiệm cung cấp, các thông tin có được nhờ nghiên cứu thực tế, tham quan các điển hình tiên tiến và các di tích lịch sử - văn hóa….

Muốn có nguồn tài liệu phong phú, cần tuân theo chỉ dẫn sau đây của Bác Hồ:

“Muốn có tài liệu thì phải tìm, tức là:

1. Nghe: Lắng nghe các cán bộ, nghe các chiến sĩ, nghe đồng bào để lấy tài liệu mà viết.

2. Hỏi: Hỏi những người đi xa về, hỏi nhân dân, hỏi bộ đội những việc, những tình hình khắp nơi.

3. Thấy: mình phải đi đến xem xét mà thấy.

4. Xem: Xem báo chí, sách vở. Xem báo chí trong nước, xem báo chí nước ngòai.

5. Ghi: Những cái gì đã nghe, đã thấy, đã hỏi được, đã học đựơc thì phải chép lấy để dùng và viết. Có khi xem mấy tờ báo chỉ được một tài liệu thôi. Tìm tài liệu cũng như công tác khác phải chịu khó.

Có khi xem tờ báo này có vấn đề này, xem tờ báo khác có vấn đề khác, rồi góp hai ba vấn đề, hai ba con số làm thành một tài liệu mà viết.

Muốn có nhiều tài liệu thì phải xem cho rộng"2

b- Đọc và nghiên cứu tài liệu

- Đọc tài liệu: Thoạt đầu đọc lướt qua mục lục, lời chú (nếu có) của từng tài liệu để trên cơ sở đó hình thành quan niệm về nội dung, kết cấu bài nói. Sau đó đọc kỹ, có phân tích, phê phán, có suy nghĩ.

- Ghi chép: Cách ghi chép tốt nhất, thiết thực nhất là ghi tóm tắt những điều đã đọc được.

Khi cần giữ lại ý kiến của tác giả một cách hoàn chỉnh có thể trích nguyên văn từng câu, từng đoạn và chú giải xuất xứ của đoạn trích (ghi rõ tên tác giả, tác phẩm, nơi xuất bản, năm xuất bản, lần xuất bản, số trang). Có thể ghi vào sổ tay hoặc trên phích. Mỗi phích ghi một vấn đề, ghi trên một mặt giấy, mặt kia có thể ghi những vấn đề mới.

Có rất nhiều phương pháp nghiên cứu tài liệu. Lựa chọn phương pháp nào phụ thuộc vào thói quen, kinh nghiệm cá nhân.

c- Một vài chú ý khi sử dụng tài liệu

- Sau khi đọc, ghi chép, tiến hành lựa chọn những tài liệu mới nhất, có gía trị nhất, dự kiến có khả năng thu hút người nghe nhất đưa vào bài phát biểu.

- Chọn và sắp xếp tư liệu theo trình tự lôgic để hình thành đề cương.

- Chỉ sử dụng những tài liệu rõ ràng, chính xác. Không dùng những tài liệu thấy còn chưa tường minh về tư tưởng, thiếu chính xác về mặt khoa học.

- Trước khi sử dụng bất kỳ tư liệu nào đều phải xem xét nó bằng "lăng kính" của người cán bộ tư tưởng. "Lăng kính" ở đây chính là sự nhạy cảm về tư tưởng, là bản lĩnh chính trị, là trách nhiệm người cán bộ trước Đảng, trách nhiệm công dân.

Trong điều kiện bùng nổ thông tin hiện nay, cần thiết phải định hướng thông tin theo quan điểm của Đảng.

Sử dụng tài liệu là một nghệ thuật. Nghệ thuật đó phụ thuộc vào năng lực, bản lĩnh nghề nghiệp của cán bộ tuyên truyền. Cùng một lượng tài liệu như nhau, ai dày công và sáng tạo hơn sẽ có bài nói chuyện chất lượng cao hơn.

4. Xây dựng đề cương bài phát biểu

Đề cương bài phát biểu là văn bản mà dựa vào đó người tuyên truyền tiến hành buổi nói chuyện trước công chúng. Đề cương bài phát biểu cần đạt tới các yêu cầu sau:

- Phải thể hiện mục đích tuyên truyền.

- Phải chứa đựng, bao hàm nội dung tuyên truyền một cách lôgic.

Cần xây dựng nhiều phương án của đề cương, từ đó chọn phương án tối ưu.

Quá trình xây dựng đề cương có thể thay đổi, bổ sung, hoàn thiện dần từ thấp lên cao, từ đề cương sơ bộ đến đề cương chi tiết.

Phát biểu miệng có nhiều thể loại: nói chuyện thời sự, giảng bài, báo cáo chuyên đề, báo cáo nhanh hoặc giới thiệu nghị quyết của các cấp ủy Đảng, kể chuyện người tốt việc tốt, gương anh hùng, chiến sĩ thi đua, bài diễn văn đọc trong cuộc mít tinh… Mỗi thể loại trên đều có kết cấu đề cương riêng. Nhưng khái quát lại đề cương được kết cấu bởi ba phần: Phần mở đầu, Phần chính và phần kết luận. Mỗi phần có chức năng riêng, yêu cầu riêng, phương pháp riêng.

a. Phần mở đầu

- Phần mở đầu có chức năng sau:

+ Là phần nhập đề cho chủ đề bài nói.

+ Là phương tiện giao tiếp với người nghe, kích thích sự hứng thú của người nghe với nội dung bài phát biểu.

- Yêu cầu đối với phần mở đầu

+ Phải tự nhiên và gắn với các phần khác trong bố cục tòan bài cả về nội dung và phong cách ngôn ngữ.

+ Ngắn gọn, độc đáo và tạo hấp dẫn với người nghe.

- Cách mở đầu và cấu trúc phần mở đầu

+ Mở đầu trực tiếp: Là cách mở đầu bằng việc giới thiệu thẳng với người nghe vấn đề sẽ trình bày để người nghe tiếp cận ngay.

+ Mở đầu gián tiếp: Là cách mở đầu không đi thẳng vào vấn đề mà chỉ nêu vấn đề sau khi đã dẫn ra một ý kiến có liên quan, gần gũi với vấn đề ấy nhằm chuẩn bị bối cảnh, dọn đường cho vấn đề xuất hiện.

Ngoài các cách mở đầu có tính "kinh điển" này, trong bài phát biểu miệng người ta còn sử dụng hàng loạt phương pháp mở đầu khác, tự do hơn, miễn là chúng đáp ứng được các yêu cầu như đã nêu trên.

b. Phần chính của bài nói

Đây là phần quan trọng nhất, dài nhất, quy định chất lượng của bài nói, là phần bao hàm, phát triển nội dung tuyên truyền một cách toàn diện, sâu sắc.

Việc chuẩn bị phần chính của bài nói này cần đạt tới các yêu cầu sau:

- Bố cục chặt chẽ, được trình bày lập luận theo những quy tắc, phương pháp nhất định.

Phần chính được bố cục thành các luận điểm hay các mục (mục lớn tương ứng với luận điểm cấp một, mục nhỏ tương ứng với luận điểm cấp hai). Các luận điểm phải được làm sáng tỏ bởi các luận cứ. Giữa các luận điểm hay các phần, các mục phải có đoạn chuyển tiếp.

Tư liệu, tài liệu dùng để chứng minh, làm sáng tỏ luận điểm cần được sắp xếp một cách lôgic theo phương pháp quy nạp, phương pháp diễn dịch, phương pháp loại suy hoặc phương pháp nêu vấn đề.

- Tính xác định, tính nhất quán và tính có luận chứng.

Lôgic là một thuộc tính đặc biệt của ý thức con người. Trong quá trình hình thành ý thức con người thì trong ý thức mỗi cá nhân cũng hình thành những mối quan hệ lôgic nhất định. Nếu lôgic bài nói phù hợp với lôgic trong tư duy, ý thức con người thì bài nói sẽ trở nên dễ hiểu, dễ thuyết phục người nghe.

- Tính tâm lý, tính sư phạm

Khi xây dựng phần chính của bài nói và thể hiện nội dung, ngoài việc vận dụng các quy luật của lôgic hình thức cần vận dụng các quy luật của tâm lý học tuyên truyền như: quy luật hình thành và biến đổi của tâm thế, quy luật của đồng hóa và tương phản của ý thức, quy luật đứng đầu trong niềm tin, quy luật về sự tác động của cái mới…

Đề cương phần bài nói còn được sắp xếp theo yêu cầu của phương pháp sư phạm: trình bày từ cái đơn giản, đã biết đến cái phức tạp, cái chưa biết và nêu bật được những luận điểm quan trọng nhất của bài.

c. Phần kết luận

Kết luận là phần không thể thiếu trong cấu trúc một bài nói. Nó làm cho bố cục bài nói trở nên cân đối, lôgic, có tác dụng khái quát và nhấn mạnh điều đã nói.

Phần kết luận có các chức năng đặc trưng sau:

+ Tổng kết những vấn đề đã nói.

+ Củng cố và làm tăng trọng lượng về nội dung bài nói.

+ Đặt ra trước người nghe những nhiệm vụ nhất định và kêu gọi họ đi đến hành động.

Kết luận phải ngắn gọn, giàu cảm xúc nhưng tự nhiên, không giả tạo và được sử dụng để kết thúc bài nói.

- Những cách kết luận chủ yếu và cấu trúc của nó:

+ Phần đầu gọi là phần tóm tắt hay toát yếu (tóm lược các vấn đề đã trình bày trong phần chính).

+ Phần hai là phần mở rộng và mang đặc trưng của phương pháp.

Có thể còn nhiều loại kết luận khác nhau. Tuy nhiên, nếu buổi nói chuyện đã đầy đủ và thấy rằng không cần phải tổng kết, thời gian nói chuyện đã hết thì tốt nhất nên nói: " Đến đây cho phép tôi được kết thúc bài phát biểu, xin cảm ơn các đồng chí"./.

_____________________________________________________

1 Xem F.A.Nôgin: Nghệ thuật phát biểu miệng, NXB SGK Mác-Lênin, Hà Nội, 1984, tr 31

2 Hồ Chí Minh: Về công tác tư tưởng. NXB Sự thật, Hà Nội 1985, tr 198.

BÀI 2

 

NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP CHUẨN BỊ

ĐỀ CƯƠNG BUỔI TUYÊN TRUYỀN MIỆNG

------------------

 

Chuẩn bị tốt cho một buổi tuyên truyền miệng là yếu tố có tính quyết định đến kết quả của hoạt động tuyên truyền. Chuẩn bị cho một buổi tuyên truyền là phải trả lời cho các câu hỏi: Nói để làm gì? Nói về vấn đề gì? Nói ở đâu, vào thời gian nào? Nói cho ai nghe? Lấy tài liệu nào, ở đâu để nói? Chuẩn bị bài nói như thế nào?...

Như vậy, chuẩn bị một buổi tuyên truyền miệng không chỉ là chuẩn bị nội dung (đề cương chi tiết) mà còn chuẩn bị những công việc cần thiết khác đối với hoạt động của người báo cáo viên.

I- TÌM HIỂU ĐỐI TƯỢNG, XÁC ĐỊNH MỤC ĐÍCH, YÊU CẦU CỦA BUỔI NÓI CHUYỆN

1- Tìm hiểu yêu cầu và đặc điểm của người nghe (đối tượng)

- Muốn cho bài nói thành công, báo cáo viên, tuyên truyền viên phải đặt câu hỏi: Nói cho ai nghe? “Ai” ở đây chính là đối tượng mà cán bộ tuyên truyền tác động tới. Tìm hiểu yêu cầu và đặc điểm đối tượng tuyên truyền là nhiệm vụ đầu tiên cần thực hiện khi chuẩn bị một buổi nói chuyện.

- Chủ tịch Hồ Chí Minh thường xuyên căn dặn cán bộ tuyên truyền, nhà văn, nhà báo phải tự đặt câu hỏi: Viết cho ai xem? Nói cho ai nghe? Nếu không như vậy thì cùng như cố ý không muốn người ta nghe, không muốn cho người ta xem… Người viết: “Công tác tuyên truyền phải cụ thể, thiết thực. Tuyên truyền cái gì? Tuyên truyền cho ai? Tuyên truyền để làm gì? Tuyên truyền cách thế nào? Đó là những vấn đề các chú phải tự hỏi và tự trả lời chứ không phải ngồi chờ trên gửi tài liệu xuống, rồi theo một, hai, ba, bốn mà làm”. 1

- Nội dung tìm hiểu đối tượng gồm:

+ Nghiên cứu đặc điểm về mặt xã hội: giai cấp, dân tộc, nghề nghiệp, học vấn, giới tính, tuổi tác… của người nghe;

+ Nghiên cứu các đặc điểm về tư tưởng và tâm lý - xã hội: các quan điểm, chính kiến, động cơ, khuân mẫu tư duy, tâm trạng, trạng thái thể chất… của họ;

+ Nghiên cứu về nhu cầu, thị hiếu thông tin; thái độ của người nghe đối với nguồn thông tin và nội dung thông tin; con đường, cách thoả mãn thông tin của đối tượng.

Đối với mối đối tượng cụ thể khi nghiên cứu cần chú ý đến tâm thế chung của họ. Có: tâm thế chủ động và tâm thế bị động, tâm thế khẳng định và tâm thế phủ định.

Tâm thế chủ động thể hiện sự nhiệt tình, mong muốn của người nghe. Tâm thế bị động là sự chưa sẵn sàng của người nghe, do nhiều lý do chủ quan và khách quan, họ đi nghe vì nghĩa vụ chứ không do có nhu cầu.

Tâm thế khẳng định thể hiện niềm tin sẵn có của người nghe. Tâm thế phủ định thể hiện những định kiến có sẵn, thái độ phản ứng, phủ nhận của người nghe với những điều mình sẽ nói.

Trên cơ sở đó mà báo cáo viên lựa chọn nội dung, cách thức tuyên truyền cho phù hợp. Có như vậy mới đem lại hiệu quả cáo cho bài nói.

- Về nhóm đối tượng có nhu cầu khác nhau:

Trong thực tế, rất ít buổi nói chuyện được dành cho một loại đối tượng thuần nhất (trừ các lớp học, đơn vị quân đội, công an). Thông thường, cán bộ tuyên truyền phải tiếp xúc cùng một lúc với nhiều đối tượng khác nhau trong cùng một cơ sở, cùng một môi trường công tác. Trong một Đảng bộ doanh nghiệp, tuy người nghe đều là cán bộ, đảng viên nhưng trình độ học vấn, công việc của mỗi người khác nhau, phần đông là công nhân trực tiếp sản xuất, số còn lại là cán bộ quản lý, cán bộ khoa học kỹ thuật… Trong một cơ quan nghiên cứu vừa có các nhà khoa học, cán bộ quản lý nhưng cũng có những đảng viên làm tạp vụ, lao công… Báo cáo viên phải tìm cho được những điểm chung trong những người nghe để lựa chọn nội dung và phương pháp thích hợp, chuẩn bị để chỗ nào cần nói sâu, nói kỹ, chỗ nào cần nói lướt. Đương nhiên một bài nói không thể dễ dàng thoả mãn mọi đối tượng nhưng cần đáp ứng yêu cầu của số đông và ở mức nhận thức “trung bình tiên tiến”.

- Phương pháp cơ bản để tìm hiểu đối tượng:

Để tìm hiểu được yêu cầu và đặc điểm đối tượng như trên, có thể dựa trên 3 cách:

+ Tìm hiểu qua tổ chức, cá nhân người đến “dặt hàng”, yêu cầu mới;

+ Tìm hiểu qua những báo cáo viên đã trình bày một lần với đối tượng đó;

+ Dựa trên kinh nghiệm của mình và qua quan sát nhanh tại chỗ khi tiếp xúc với đối tượng để xác định.

2- Xác định mục đích và chủ đề của bài nói

Từ yêu cầu của người nghe và mục đích, yêu cầu của hoạt động tuyên truyền, báo cáo viên cần xác định rõ mục đích, yêu cầu và chủ đề của bài nói.

- Mục đích chung của công tác tuyên truyền là nâng cáo nhận thức, hình thành niềm tin và cổ vũ hành động người nghe. Hồ Chí Minh nói: “Tuyên truyền là đem một việc gì đó nói cho dân hiểu, dân nhớ, dân theo, dân làm. Nếu không đạt được mục đích đó là tuyên truyền thất bại” 2. Vì vậy, mục đích bài nói của người báo cáo viên bao giờ cũng cần đạt được 3 yêu cầu là:

+ Cung cấp thông tin, qua đó nâng cao nhận thức;

+ Xây dựng, củng cố niềm tin;

+ Cổ vũ đi tới hành động.

Tuỳ theo nội dung trình bày và yêu cầu của đối tượng để xử lý mối quan hệ của 3 yêu cầu đó trong bài nói. Mỗi bài nói cụ thể cần đặt ra mục đích rõ ràng và phù hợp. Bài nói chuyện ngắn, chủ đề hẹp không nên đặt ra mục đích quá cao. Đối với các đối tượng quen thuộc đã nghe nhiều lần cần chú ý đến các mục đích cung cấp thông tin, nâng cao nhận thức, tránh liên hệ gò bó, công thức…

- Xác định chủ đề bài nói

Chủ đề bài nói có thể do báo cáo viên, tuyên truyền viên đặt ra theo yêu cầu của công tác tuyên truyền nói chung trong tháng, trong quý nhưng cũng phải đáp ứng yêu cầu ở cơ sở, ở người nghe. Mặt khác, chủ đề rộng hay hẹp còn do thời lượng quy định. Trong một thời gian dài không nên nói một chủ đề hẹp, ngược lại trong thời gian ngắn không nên nói một chủ đề rộng.

Chủ đề bài nói cần đáp ứng yêu cầu, thoả mãn nhu cầu người nghe (tính thời sự, tính thiết thực, có thông tin mới) trong thời gian cho phép, qua đó để chuyển tải mục đích tuyên truyền. Không nên bắt đầu từ mục đích tuyên truyền hoặc những điều mình biết, có ưu thế để áp đặt cho người nghe những điều mình muốn nói.

- Để xá định chủ đề bài nói, cần căn cứ vào 3 yếu tố sau:

+ Yêu cầu tư tưởng của cấp uỷ theo chương trình kế hoạch;

+ Yêu cầu của đối tượng tuyên truyền thông qua cơ quan, tổ chức “đặt hàng”;

+ Dựa vào kinh nghiệm và hiểu biết của báo cáo viên về đặc điểm đối tượng

3- Tìm hiểu không gian, thời gian diễn ra buổi nói.

a- Tìm hiểu không gian buổi nói chuyện

- Không gian diễn ra buổi nói chuyện có vai trò nhất định đến kết quả của buổi nói chuyện. Do hoạt động tuyên truyền miệng là hoạt động tập thể với các giao tiếp trực tiếp nên các yếu tố ngoại cảnh có tác động không nhỏ đến người nói và người nghe.

- Khi tìm hiểu không gian của buổi nói chuyện, báo cáo viên cần chú ý để biết trước những trường hợp sau đây:

+ Địa điểm nói chuyện: trong phòng hay ngoài trời, phòng họp lớn hay nhỏ, số lượng người nghe;

+ Điều kiện của buổi nói chuyện với người nghe: có ghế ngồi, có quạt, có điều hoà nhiệt độ;

+ Điều kiện với người nói: có bàn. bục, micrô (có dây hoặc không dây), máy tính, đén chiếu…

- Báo cáo viên tìm hiểu các điều trên đây qua người “đặt hàng” để có thể chủ động nắm được những thông tin cơ bản về không gian buổi nói chuyện. Cũng có thể biết được những điều trên qua các kênh thông tin khác như hỏi các báo cáo viên đã có lần đến nói chuyện với các cơ quan, đơn vị trên…

b- Thời gian diễn ra buổi nói chuyện

- Thời gian buổi nói chuyện cũng có tác động đến kết quả buổi nói chuyện nên báo cáo viên cần chủ động chuẩn bị trước. Thông thường vào buổi sáng, người nghe tỉnh táo, tiếp thu thông tin tốt hơn; đầu giờ chiều, người nghe thường mệt mỏi, buổi tối hay bị phân tán… Trong mỗi hoàn cảnh đòi hỏi người tuyên truyền phải quan tâm đến việc sắp xếp nội dung bài nói và phương pháp diễn đạt sinh động để phát huy hoặc khắc phục trạng thái tinh thần, tâm lý trên của đối tượng.

- Thời gian nói chuyện dài hay ngắn cũng tác động đến người nghe. Nói chung, trong một buổi nói chuyện không nên kéo dài quá trưa, quá tối, dù người tổ chức có yêu cầu. Trong buổi nói chuyện nếu kéo dài đến trên 2 giờ, nhất thiết phải cho nghỉ giải lao. Trong trường hợp điều kiện để nghỉ giải lao không thuận tiện, có thể để nghỉ “giải lao tại chỗ” bằng tổ chức hoạt động của người nghe (hát tập thể hoặc đơn ca, song ca…), hoặc của người nói (dành nhiều thời gian hơn cho kể chuyện minh hoạ hoặc kể các chuyện có chủ đề xa hơn với vấn đề đang nói).

- Ngoài ra, báo cáo viên cũng chuẩn bị sẵn sàng cách xử lý khi thời gian nói chuyện bị điều chỉnh theo yêu cầu của người tổ chức. Ví dụ: khi đến nơi, thời gian bắt đầu bị chậm (rất hay xảy ra); người tổ chức đề nghị cho nghỉ sớm, xin thời gian để triển khai công việc cơ quan… Người báo cáo viên chủ động chuẩn bị để có cách xử lý phù hợp.

II- CHUẨN BỊ TƯ LIỆU, TÀI LIỆU CHO BUỔI NÓI CHUYỆN

Trong điều kiện bùng nổ thông tin toàn cầu và sự phát triển của hệ thống truyền thông, bất cứ một lĩnh vực nào cũng có rất nhiều tài liệu và người báo cáo viên luôn luôn giả định rằng tài liệu mình có nhiều người cũng có, trong đó có người sẽ nghe mình. Vấn đề đặt ra với người tuyên truyền là thu thập, nghiên cứu, xử lý tài liệu thế nào cho hợp lý và tài liệu phải phục vụ chủ đề bài nói một cách sát hợp nhất. Quá trình thu thập, nghiên cứu, xử lý tài liệu là quá trình biến tri thức trong tài liệu thành nhận thức của người báo cáo viên để truyền đạt lại cho người nghe.

1- Chọn tài liệu

Nguồn tài liệu của báo cáo viên, tuyên truyền viên rất phong phú, nhưng để xây dựng đề cương bài nói, báo cáo viên cần chú ý đến các loại tài liệu sau:

- Các tài liệu lý luận về chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, các văn kiện của Đảng và Nhà nước. Đây là cơ sở lý luận để người báo cáo viên lý giải các vấn đề thực tiễn, đặc biệt là những vấn đề liên quan đến các chủ trương, chính sách mới. Người làm công tác tuyên truyền miệng phải có kiến thức, lý luận vững chắc và hệ thống về chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chính sách của Đảng, để trên cơ sở đó đánh giá, phân tích các sự kiện, hiện tượng được đề cập trong bài nói.

- Các loại từ điển, số liệu thống kê chính thức của các cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền giúp tra cứu các khái niệm, khai thác số liệu liên quan đến các vấn đề trong bài nói.

- Các tạp chí nghiên cứu, báo chí, sách báo chuyên khảo phù hợp với nội dung tuyên truyền. Qua các tài liệu này có thể thu thập khối lượng lớn kiến thức có hệ thống cho nội dung bài nói.

- Sổ tay tuyên truyền, sổ tay báo cáo viên. Đây là những tài liệu cung cấp nội dung và nghiệp vụ tuyên truyền rất thiết thực, bổ ích.

- Các bản tin nội bộ, tài liệu tham khảo (dùng cho báo cáo viên), thông tin được cung cấp qua hội nghị báo cáo viên định kỳ… là nguồn tài liệu quan trọng giúp báo cáo viên các tư liệu, số liệu và nhiều câu chuyện, mẩu chuyện cụ thể làm dẫn chứng thú vị cho các vấn đề định trình bày.

- Ngoài ra, có thể sử dụng các băng ghi âm, ghi hình do cơ quan có trách nhiệm cung cấp, các thông tin thu được nhờ nghiên cứu, tham quan thực tế các điển hình tiên tiến và các di tích lịch sử - văn hoá…

Tóm lại, cái gốc là các văn bản, tài liệu chính thống. Đương nhiên, người tuyên truyền nếu cần thiết có thể sử dụng cả tài liệu của nước ngoài, của các thế lực xấu, thù địch, tìm hiểu quan điểm và lập luận của họ để phê phán nhưng phải thận trọng để không trở thành “kẻ tuyên truyền không công” cho địch. Người tuyên truyền còn phải biết khai thác một nguồn tài liệu sẵn có, đó là vốn sống thực tế của bản thân. Khi sử dụng những nguồn tài liệu nói trên phải theo đúng quan điểm, đường lối của Đảng. Người cán bộ tuyên truyền phải chịu trách nhiệm về việc phát ngôn của mình.

Cán bộ tuyên truyền giỏi phải là người có vốn tri thức phong phú, vừa rộng, vừa sâu. Muốn vậy phải có ý thức tự tích luỹ thường xuyên, liên tục, bằng nhiều cách khác nhau.

2- Nghiên cứu và xử lý tài liệu

- Đọc tài liệu: đầu tiên đọc lướt qua mục lục, lời chú, trên cơ sở đó lựa chọn các nội dung liên quan đến bài nói, sau đó đọc kỹ, có phân tích, đánh giá, suy nghĩ. Có thể đọc cả tài liệu phản diện để hiểu, phê phán, nâng cao tính chiến đấu cho bài nói.

- Ghi chép: ghi tóm tắt những điều đã đọc được. Có thể ghi thêm lời bình luận ra lề hoặc bổ sung những ý kiến của mình khi ngôn ngữ của tài liệu quá cô đọng hoặc quá trừu tượng. Khi cần giữ lại ý kiến của tác giả một cách hoàn chỉnh có thể trích nguyên văn (ghi rõ tên tác giả, tác phẩm, nơi xuất bản, lần xuất bản, số trang).

- Phân loại: đối với người báo cáo viên nên có các túi hồ sơ phân loại theo vấn đề (kinh tế, chính trị, đối ngoại…) theo đối tượng nghiên cứu (như về Trung Quốc, Nga, Mỹ…). Mỗi khi có thông tin gì về các nội dung đó, cần cắt, dán để vào trong túi để khi có yêu cầu thì lấy ra đọc lại và xử lý.

Trên cơ sở các tài liệu hiện có được lựa chọn, báo cáo viên hình thành nên đề cương bài nói.

3- Một số lưu ý khi sử dụng tài liệu

- Quá trình thu thập, nghiên cứu, xử lý tài liệu đối với người tuyên truyền là quá trình nạp thông tin. Chọn và sắp xếp tư liệu theo trình tự lôgíc và thời gian để hình thành đề cương. Chú ý chỉ sử dụng những tài liệu rõ ràng, chính xác. Trước khi sử dụng bất cứ tài liệu nào, đều phải xem xét qua “lăng kính” của người cán bộ tư tưởng của Đảng. Đó chính là bản lĩnh chính trị, là sự nhạy cảm về tư tưởng, là trách nhiệm công dân. Không được để lộ bí mật của Đảng, của Nhà nước. Khi sử dụng thông tin nội bộ, tài liệu mật cần xác định rõ vấn đề nào không được nói, hoặc chỉ được nói đến đối tượng nào.

- Đọc, ghi chép và xử lý thông tin, đưa thông tin vào “bộ nhớ” trong não của người tuyên truyền là điều hết sức quan trọng, sử dụng những thông tin, tư liệu đã có là một nghệ thuật. Nghệ thuật ấy có được là nhờ vào bản lĩnh, khả năng, vào quá trình tích luỹ, rèn luyện của báo cáo viên. Nó góp phần rất quan trọng vào thành công của bài nói.

III- XÂY DỰNG ĐỀ CƯƠNG BÀI NÓI

Đề cương bài nói chính là dàn bài chi tiết thể hiện mục đích, yêu cầu và những nội dung cơ bản của bài nói, là quá trình sắp xếp trên văn bản để người báo cáo viên, căn cứ vào đó trình bày những vấn đề định nói một cách đầy đủ, theo một trình tự hợp lý, nhằm đạt hiệu quả cao nhất. Đề cương không được quá sơ sài, không làm rõ những nội dung và lý lẽ cần trình bày nhưng cũng không biến đề cương thành một bài viết sẵn để đọc. Tuỳ theo khả năng, phương pháp và thói quen cuảe báo cáo viên, đề cương có thể dài, ngắn khác nhau nhưng bao giờ cũng cần phải rõ ràng, phân ra từng phần để dễ nhìn, dễ thực hiện.

Mỗi đối tượng cụ thể nên có một đề cương bài nói phù hợp. Một đề cương, báo cáo viên có thể dùng nhiều lần. Do vậy, cần cập nhật thông tin, thường xuyên bổ sung, hoàn thiện đề cương, làm phong phú thêm bài nói.

1- Cấu trúc đề cương bài nói

Đề cương bài nói thường có 3 phần, mỗi phần có chức năng riêng.

- Phần mở đầu

Yêu cầu chung của phần mở đầu gồm 3 mục tiêu cụ thể là:

+ Giới thiệu và làm quen;

+ Thông báo nội dung trình bày;

+ Thông báo thời gian và phương thức tiến hành.

- Phần chính (nội dung bài nói)

Đây là phần quan trọng nhất của bài nói, giải quyết vấn đề mà người báo cáo viên đặt ra theo một trình tự nhất định.

Về nguyên tắc bài nói có thể đề cập đến mọi vấn đề của đời sống xã hội như kinh tế, chính trị, văn hoá, khoa học kỹ thuật, an ninh, quốc phòng, đối ngoại… Nhưng nói chung một bài nói tổng hợp được trình bày trong một buổi (khoảng 3 giờ) không nên đề cập đến quá nhiều vấn đề, chỉ nên 3-4 vấn đề và nên có đoạn gắn kết với nhau.

- Phần kết luận

Đây là phần tổng kết bài nói, củng cố nhận thức người nghe và cổ vũ hành động. Yêu cầu chung của phần kết luận là: tóm tắt, nhấn mạnh nội dung, cổ vũ hành động và tạo mối giao lưu tình cảm giữa người nói và người nghe. Phần này cũng cần ngắn gọn, tránh dài dòng.

2- Yêu cầu và phương pháp chuẩn bị đề cương bài nói

a. Phần mở đầu

- Đây là phần nhập đề, là bước tiếp xúc đầu tiên với người nghe, do đó báo cáo viên phải mở đầu sao cho hấp dẫn, kích thích hứng thú của người nghe và làm rõ chủ đề của bài nói. Lời mở đầu cấn tự nhiên, ngắn gọn.

- Để thực hiện yêu cầu trên cần lựa chọn trước cách vào đề. Có 2 cách vào đề chủ yếu là vào đề trực tiếp và vào đề gián tiếp.

+ Vào đề trực tiếp là giới thiệu trực tiếp chủ đề nội dung bài nói. Hình thức này thường được thực hiện với đối tượng quen, thời gian ngắn.

+ Vào đề gián tiếp là đưa ra một luận đề nào đó (gần với chủ đề bài nói) rồi dẫn dắt người nghe đến vấn đề báo cáo viên định nói. Thí dụ: với bài nói “Tình hình Trung Quốc và quan hệ Việt Nam - Trung Quốc thời gian gần đây”, có thể vào đề như sau: Trong phỏng vấn Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết sau chuyến đi thăm Mỹ tháng 6/2007, phóng viên hãng CNN hỏi: trong các mối quan hệ giữa Việt Nam - Mỹ và Việt Nam - Trung Quốc, Việt Nam quan tâm đến mối quan hệ nào hơn và theo ngài quan hệ nào quan trọng hơn. Qua câu hỏi trên, chúng ta thấy thế giới rất quan tâm đến mối quan hệ giữa nước ta và Trung Quốc. Tôi tin chắc các đồng chí cũng như vậy. Hôm nay, chúng tôi xin báo cáo với các đồng chí về “Tình hình Trung Quốc và quan hệ Việt Nam - Trung Quốc thời gian gần đây” Cách vào đề gián tiếp có tác dụng kích thích và làm tăng dần sự chú ý của người nghe nhưng khi thực hiện cần tránh sa đà, lạc nội dung.

Trong bài chuẩn bị, sau khi xác định rõ cách vào đề, cần chuẩn bị nội dung của cách vào đề đó, chú ý phải ngắn gọn.

b- Chuẩn bị nội dung bài nói

Để đạt mục đích tuyên truyền đặt ra và tạo khả năng thu hút sự chú ý của người nghe, đề cương bài nói phải được chuẩn bị đáp ứng các yêu cầu sau:

Một là, phải cung cấp cho người nghe những thông tin mới

- Trong lý thuyết giao tiếp, quá trình trao đổi thông tin được ví như hai bình thông nhau chứa tin. Mỗi bình chứa tin là một vai giao tiếp. Quá trình giao tiếp, trao đổi thông tin là mở van giữa hai bình để tin từ bình này (người nói) chảy sang bình kia (người nghe). Nếu tin của hai bình ngang nhau, quá trình trao đổi thông tin trên thực tế không diễn ra nữa. Để quá trình này diễn ra liên tục, giữa người nói và người nghe phải có “độ chênh lệch” về thông tin, về sự hiểu biết xung quanh nội dung đang đề cập. Độ chênh lệch về thông tin, về sự hiểu biết, đó chính là cái mới của nội dung bài nói.

- Cái mới của nội dung tạo khả năng thu hút sự chú ý của người nghe, gây được lòng tin trong công chúng, thuyết phục những người có quan điểm khác hoặc trái với quan điểm cần thuyết phục.

- Trong tuyên truyền miệng, cái mới không chỉ được hiểu là cái chưa hề được đối tượng biết đến mà còn là một phương pháp tiếp cận mới, cách trình bày mới, độc dáo, một nhận điịnh, đánh giá mớivề cái đã biết. Cái mới cũng có thể là một kinh nghiệm được tích luỹ, một sự kiện, một hiện tượng mới phát sinh xung quanh những vấn đề đã được thông tin trước đây cho người nghe.

- Để tạo ra cái mới cho nội dung bài nói, người báo cáo viên cần thường xuyên tích luỹ tư liệu, tài liệu để làm giàu, phong phú sự hiểu biết; tìm tòi, sáng tạo cách trình bày, tiếp cận mới đối với vấn đề; rèn luyện năng lực bình luận, đánh giá, truyền tải thông tin; tích cực nghiên cứu thực tế, lăn lộn trong phong trào cách mạng của quần chúng để phát hiện, nắm bắt cái mới; tổng kết những kinh nghiệm hay từ thực tiễn đời sống của nhân dân.

Hai là, phải đáp ứng một cách cao nhất yêu cầu thông tin của một loại đối tượng cụ thể

- Nội dung bài nói do mục đích của công tác giáo dục tư tưởng và nhu cầu thoả mãn thông tin của đối tượng quy định. Nhu cầu của thông tin xuất hiện do nhu cầu của hoạt động nhận thức (nghe để biết hoặc nghe để biết và để làm). Hoạt động thực tiễn của công chúng rất đa dạng, nhu cầu thông tin cũng đa dạng. Không thể lựa chọn một nội dung nói cho nhiều đối tượng khác nhau. Nội dung bao giờ cũng hướng tới một đối tượng, một nhóm người nghe cụ thể.

- Trong trường hợp công chúng chưa xuất hiện nhu cầu thông tin về vấn đề quan trọng nào đó, mà vấn đề đó lại được đặt ra do yêu cầu giáo dục tư tưởng thì cần chủ động hướng dẫn, khêu gợi, kích thích sự quan tâm ở họ. Chỉ khi nào ở người nghe xuất hiện nhu cầu thông tin, đòi hỏi được đáp ứng thì khi đó ở họ mới có tâm thế chủ động, thái độ sẵn sàng tiếp nhận thông tin, có những hành động nhằm thoả mãn nhu cầu đó (tìm tài liệu để đọc, đến hội trường để nghe nói chuyện và chú ý lắng nghe…).

Việc phân loại đối tượng người nghe, nắm vững nhu cầu thông tin, biết kích thích và thường xuyên đáp ứng yêu cầu thông tin của đối tượng, vừa là yêu cầu, vừa là điều kiện đảm bảo sự thành công của bài nói.

Ba là, bài nói phải mang tính thời sự, phản ánh những vấn đề đang diễn ra trong thực tiễn cuộc sống.

- Giá trị và sức lôi cuốn người nghe, ý nghĩa chỉ đạo tư tưởng và hành động của nội dung bài nói do thời điểm đưa tin, thời điểm tổ chức buổi nói chuyện quyết định. Nếu buổi nói chuyện được tổ chức đúng thời điểm thì sức thu hút người nghe càng lớn. Ngược lại nếu triển khai chậm, thông tin thiếu tính thời sự thì sức hấp dẫn bị hạn chế, hiệu quả của công tác tuyên truyền kém tác dụng.

- Để đáp ứng yêu cầu này, một mặt người tuyên truyền phải nắm vững chương trình, kế hoạch của cấp uỷ hoặc của cấp trên đề ra. Mặt khác, phải luôn luôn cập nhật thông tin, trên cơ sở đó bằng bản lĩnh chính trị, sự nhạy cảm và tính năng động sáng tạo, cán bộ tuyên truyền có thể chọn trong số những vấn đề lý luận và thực tiễn cấp bách nhất, những sự kiện lớn đang kích thích sự quan tâm của đông đảo quần chúng, tham mưu cho cấp uỷ làm chủ đề cho các buổi nói chuyện. Những vấn đề và sự kiện như vậy thường có sức mạnh thông tin cổ vũ cao, tác động sâu sắc đến ý thức và hành vi của con người.

Bốn là, bài nói phải đảm bảo tính tư tưởng và tính chiến đấu

- Từ bản chất của tuyên truyền chính trị, bài nói của báo cáo viên phải có mục đích tư tưởng rất rõ rệt. Bằng lời nói, nghệ thuật sử dụng ngôn từ, nội dung tuyên truyền miệng dù theo chủ đề nào cũng đặt ra không chỉ mục đích thông tin mà quan trọng hơn là mục đích tác động về mặt tư tưởng (hình thành niềm tin, cổ vũ hành động). Cho nên, nội dung bài nói không chỉ đạt yêu cầu cung cấp thông tin đa dạng, nhiều chiều, hấp dẫn mà quan trọng hơn là đạt tới yêu cầu định hướng thông tin, định hướng tư tưởng về các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, về các sự kiện chính trị trọng đại trong nước và trên thế giới, từ đó công chúng có niềm tin và hành động tích cực.

- Tính tư tưởng, tính chính đấu đòi hỏi người báo cáo viên khi thông tin về những quan điểm khác nhau phải có tính định hướng, phân tích theo lập trường, quan điểm của Đảng. Bằng lập luận chặt chẽ, lý lẽ sắc bén, dẫn chứng sát thực, sinh động, có tính thuyết phục cao… để khẳng định và bảo vệ quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Khi nêu các hiện tượng tiêu cực, lạc hậu… phải tỏ rõ thái độ phê phán, kiên quyết, đúng mức, tránh gây hoài nghi, hoang mang, làm giảm lòng tin của công chúng bởi cái gọi là “thông tin nhiều chiều” thiếu cơ sở khoa học, có khi thông tin còn bị bóp méo, làm sai lệch bản chất sự việc.

Năm là, chuẩn bị phương pháp trình bày phù hợp

- Phương pháp chủ yếu được sử dụng trong bài nói là “quy nạp” và “diễn dịch”, chú ý phối hợp hài hoà hai phương pháp này.

- Thực hiện quy nạp trong bài nói là chứng minh từng luận điểm để đi tới chứng minh những vấn đề lớn được đặt ra trong bài nói. Chứng minh gồm ba bộ phận: luận đề, luận cứ và phương thức chứng minh.

+ Luận đề là một luận điểm mà tính chân thực của nó cần được chứng minh. Trong đề cương, khi nêu luận đề cần trả lời cho câu hỏi: chứng minh cái gì?

+ Luận cứ, luận chứng là một hay nhiều luận điểm mà sự đúng đắn của chúng đã được thừa nhận, được dẫn ra làm cơ sở hay lý do xác thực để chứng minh luận đề. Trong chứng minh, luận cứ trả lời cho câu hỏi: chứng minh bằng cái gì?

+ Phương thức chứng minh là các suy luận và các mối liên hệ giữa luận cứ và luận đề được sử dụng khi suy ra luận đề từ luận cứ. Trong chứng minh, nó trả lời cho câu hỏi: chứng minh như thế nào?

- Chứng minh một luận đề có hai phương thức: chứng minh trực tiếp và chứng minh gián tiếp.

+ Chứng minh trực tiếp là chứng minh từ các luận cứ, dựa vào các quy tắc suy luận để rút ra sự đúng đắn của luận đề.

+ Chứng minh gián tiếp là không luận chứng thẳng sự đúng đắn của luận đề mà lại chứng minh phản luận đề là sai trái, phi lý, phản khoa học, giả dối… để rút ra kết luận: luận đề là chân thực.

+ Chứng minh một điều gì đó là sai trái để phủ nhận nó gọi là bác bỏ. Bác bỏ là chứng minh đặc biệt, vì trong chứng minh bình thường thì cần chứng minh tính chân thực của luận đề. Còn bác bỏ lại chứng minh sự giả dối, không chân thực của một luận đề, một nhận thức, quan niệm sai… Ví dụ: Có người nói “Việt Nam đổi mới nhưng chưa được là bao” (!). Người báo cáo viên chuẩn bị lý lẽ, luận cứ, luận chứng để bác bỏ luận điểm trên. Nội dung chứng minh là những thành tựu to lớn và có ý nghĩa lịch sử qua 20 năm đổi mới được nêu trong Nghị quyết Đại hội X; những thực tiễn thay đổi trên đất nước ta; so sánh với sự bất ổn của các nước trong khu vực và trên thế giới…

- Thực hiện phương pháp diễn dịch là sự giải thích các luận điểm được nêu ra bằng sự phân tích tính khoa học, hợp lý của nó. Trong quá trình phân tích các luận điểm cần chú ý tính “tầng lớp” của nó để đi từ cái chung đến cái riêng, từ trừu tượng đến cụ thể và tránh lẫn lộn các bộ phận cấu thành của luận điểm. Hết luận điểm này mới sang luận điểm khác.

- Trong chuẩn bị bài nói nên kết hợp cả phân tích và chứng minh thật nhuần nhuyễn và phù hợp.

Sáu là, đề cương bài nói cần bố cục rõ ràng, kết cấu chặt chẽ, lôgic, có trọng tâm, trọng điểm phù hợp với quá trình nhận thức, thể hiện cả phương pháp trình bày với từng vấn đề, quan điểm được nêu ra.

Bảy là, đề cương bài nói phải thể hiện được cả hai yêu cầu: nêu luận điểm và các thông tin, tư liệu làm ví dụ chứng minh luận điểm đó. Trong mỗi phần cần nêu lên các luận điểm (nhận định) chủ yếu. Sau mỗi luận điểm, nhận định phải đưa ra được một số ví dụ, số liệu để chứng minh. Tuỳ theo khả năng, trí nhớ của người báo cáo viên cần thể hiện rõ từng luận điểm và các ví dụ chứng minh trong đề cương.

Tám là, đề cương cần dự kiến tình huống có các câu hỏi người nghe đặt ra. Có thể báo cáo viên chủ động gợi ý những nội dung quan trọng, những vấn đề “nóng” đang được dư luận quan tâm để hướng người nghe vào chủ đề đó, góp phần định hướng dư luận trong cán bộ, đảng viên và nhân dân. Người báo cáo viên phải chủ động để trả lời, đối thoại tạo nên không khí dân chủ trong tuyên truyền miệng.

c- Phần kết luận

- Trong phần kết luận, báo cáo viên chuẩn bị các nội dung, cách thức kết luận những vấn đề nêu lên trong bài nói theo yêu cầu chung.

- Cần chuẩn bị xử lý các tình huống có thể xảy ra, ví dụ: thời gian nói đã gần hết hay còn nhiều (nhất là đối với nội dung mới và đối tượng mới, báo cáo viên chưa chủ động được thời gian).

Đề cương bài nói nên viết trên giấy một mặt, nên để lề rộng để bổ sung. Chữ viết rõ ràng để có thể đọc những đoạn khi cần thiết. Viết xong cần đọc, kiểm tra kỹ. Chuẩn bị bài tốt là đảm bảo 50% thành công của bài nói. Phần còn lại phụ thuộc vào phương pháp trình bày./.

___________________________

1 Hồ Chí Minh Toàn tập, NXB Chính trị Quốc gia, Hà nội - 2001, tập 11, Tr 128

2 Hồ Chí Minh Toàn tập, NXB Chính trị Quốc gia, Hà nội - 2001, tập 5, Tr 162

BÀI 3

 

 

PHƯƠNG PHÁP TRÌNH BÀY BÀI TUYÊN TRUYỀN MIỆNG

 
            Tuyên truyền miệng là sự giao tiếp trực tiếp giữa người nói và người nghe. Do vậy, kỹ năng trình bày bài nói có ý nghĩa quyết định đến kết quả hoạt động tuyên truyền miệng của người báo cáo viên.

I- CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA HOẠT ĐỘNG TUYÊN TRUYỀN MIỆNG

1- Cơ sở tâm lý của hoạt động tuyên truyền miệng

Trong hoạt động tuyên truyền, báo cáo viên là chủ thể của hoạt động tuyên truyền, người nghe là chủ thể của hoạt động lĩnh hội thông tin. Vì vậy, xét về khía cạnh tâm lý, hoạt động tuyên truyền là sự tác động của chủ thể tâm lý này đối với chủ thể tâm lý khác. Vì vậy, sự vận dụng khoa học về tâm lý đóng vai trò hết sức quan trọng. Người báo cáo viên chẳng những phải chuẩn bị tốt tâm lý của mình để tác động vào nhận thức, tư tưởng, tình cảm của đối tượng tuyên truyền mà còn phải chuẩn bị tốt tâm thế cho người nghe, để họ sẵn sàng đón nhận, tiếp thu và hành động sau khi được tuyên truyền.

V.I. Lênin đòi hỏi người tuyên truyền phải nghiên cứu đặc điểm tâm lý của các tầng lớp nhân dân trong quá trình tuyên truyền. Người khuyên: “cần phải thâm nhập vào quần chúng và học hỏi ở họ một cách kiên trì, bền bỉ thì mới hiểu được các thuộc tính, đặc trưng tâm lý đa dạng ở mỗi tầng lớp, mỗi nghề của họ”(1).

a. Tâm lý tuyên truyền

Tâm lý học tuyên truyền là một môn khoa học, nghiên cứu các hiện tượng, quy luật, các cơ chế tâm lý ảnh hưởng đến hiệu quả tiếp nhận thông tin của đối tượng tuyên truyền.

Vận dụng tâm lý học tuyên truyền đòi hỏi báo cáo viên vừa phải nắm chắc nội dung, vừa phải có khả năng dự đoán được phản ứng của đối tượng, mục đích để nội dung tuyên truyền được tiếp thu một cách nhanh nhất, thúc đẩy hành động của đối tượng một cách tích cực nhất.

Vận dụng tâm lý học tuyên truyền ngoài việc nắm bắt nhu cầu thông tin của đối tượng, báo cáo viên còn phải biết tác động đến đối tượng trong không gian, thời gian thích hợp, biết phân tích sự xuất hiện các hiện các yếu tố, các quy luật tâm lý, khai thác và vận dụng để táo ự hứng thú và quan tâm chú ý của đối tượng tiếp cận với chủ đề tuyên truyền.

b. Tâm thế và tích cực trong hoạt động tuyên truyền

- Tâm thế trong tuyên truyền là một trạng thái tâm lý hoàn chỉnh, đó là sự chuẩn bị về thể lực và trí lực để tham gia vào hoạt động tuyên truyền, nhằm đem lại hiệu quả cao cho hoạt động đó.

- Tâm thế của người được tuyên truyền thường có các dạng: tâm thế chủ động và tâm thế bị động (muốn nghe và phải nghe); tâm thế phủ định và tâm thế khẳng định (không nhất trí và nhất trí). Các loại tâm thế trên ảnh hưởng lớn đến kết quả tiếp nhận nội dung tuyên truyền. Người tuyên truyền khi nắm được các trạng thái tâm lý đó sẽ có biện pháp để tác động có hiệu quả vào người được tuyên truyền.

- Tâm thế của người nghe thường phụ thuộc vào các yếu tố sau:

+ Nhu cầu thông tin của người nghe. Tuỳ từng thời điểm khác nhau, đối tượng khác nhau mà nhu cầu thông tin có cấp độ và ý nghĩa khác nhau, tạo nên tâm thế của người nghe.

+ Trình độ nhận thức của người nghe, sự hiểu biết khác nhau sẽ tạo ra tâm thế khác nhau khi tiếp thu cũng như khi thực hiện mục đích tuyên truyền.

+ Môi trường khách quan (môi trường vật lý, môi trường tâm lý) cũng là một yếu tố tạo ra tâm thế của đối tượng tuyên truyền.

- Tâm thế của người ngheo có vai trò quan trọng đối với hoạt động của báo cáo viên. Vì vậy, báo cáo viên phải tìm hiểu, nắm bắt tâm thế của họ, chủ động tác động vào tâm thế đó để thúc đẩy sự hình thành tâm thế chủ động trong đa số người nghe, bằng cách làm cho nhu cầu thông tin của người nghe và các điều kiện tác động đến tâm thế của họ phù hợp với yêu cầu thông tin của người tuyên truyền.

c. Các quá trình tâm lý ảnh hưởng đến hiệu quả tuyên truyền

- Trong tuyên truyền miệng, các quá trình tâm lý xảy ra với người nghe có tác động trực tiếp đến hiệu quả tuyên truyền. Các trạng thái tâm lý của người nghe như: sảng khoái, vui vẻ, hào hứng, tích cực hay buồn rầu, mệt mỏi, chán nản, phẫn nộ… không chỉ tác động đến sự tiếp thu thông tin của họ, mà còn có thể tác động lây lan trong tập thể và đến hoạt động tuyên truyền của báo cáo viên. Nắm bắt kịp thời các trạng thái tâm lý của số đông trong tập thể là yêu cầu cần thiết của mỗi báo cáo viên để chủ động tác động vào trạng thái tâm lý đó, khuyến khích các xu hướng tích cực và hạn chế các tác động tiêu cực của chúng.

- Các yếu tố khác như dư luận xã hội, truyền thống địa phương dân tộc, mối quan hệ vốn có giữa người tuyên truyền và đối tượng tuyên truyền… đều ảnh hướng đến quá trình tâm lý của người nghe. Người báo cáo viên cần nắm được những đặc điểm đó để chủ động trong hoạt động tuyên truyền.

d. Các tác động tâm lý của báo cáo viên với người nghe

Để nội dung tuyên truyền có tác dụng sâu sắc đến đối tượng tuyên truyền, báo cáo viên cần giải quyết tốt những yêu cầu tâm lý sau:

- Tổng hợp các đặc điểm của từng đối tượng thông qua trao đổi với cấp ủy và đơn vị, cơ quan nơi báo cáo viên thuyết trình để nắm bắt các mặt chủ yếu như: thành phần, trình độ văn hoá, nghề nghiệp, tuổi tác, dân tộc, tôn giáo… từ đó nắm được đặc điểm tâm lý của họ.

V.I. Lênin nhắc nhở người tuyên truyền: khi phát biểu trước công chúng, phải luôn luôn hướng tới họ, cố gắng tìm hiểu xem họ đang lo lắng, băn khoăn điều gì?

- Thiết lập sự giao lưu, tạo ra mối truyền cảm giữa báo cáo viên với người nghe: đó là sự tin cậy lẫn nhau, cùng quan tâm đến vấn đề sẽ đề cập.

- Xác định đúng hình thức và phương pháp kích thích nhu cầu nhận thức của người nghe. Để làm được điều này, báo cáo viên phải nắm được nhu cầu người nghe và đem đến cho họ những nội dung thông tin mới, cách tiếp cận và phân tích những vấn đề mới.

- Khi thuyết trình, cần vận dụng linh hoạt các hình thức, phương pháp mang tính sáng tạo, phù hợp với thực tiễn đời sống xã hội, sử dụng vốn sống và kinh nghiệm thực tiễn phong phú để trình bày các nội dung tuyên truyền một cách sinh động hấp dẫn. Đặc biệt, khi nói báo cáo viên phải gần gũi và thực sự tôn trọng người nghe… Khi tuyên truyền cần chủ động vận dụng các phương pháp tuyên truyền, như sử dụng các phương tiện trực quan, nêu câu hỏi, đối thoại, dẫn các tư liệu, mẩy chuyện sinh động, sử dụng những câu ngạn ngữ, thành ngữ; trình bày bằng sự đa dạng về nhịp điệu, ngữ điệu… để tác động vào tâm lý của người nghe.

2- Giao tiếp và đối thoại trong tuyên truyền miệng

Con người là tổng hoà của các mối quan hệ xã hội, nên giao tiếp là nhu cầu tự thân của mỗi người. Đối với tuyên truyền miệng, giao tiếp là một thành phần cơ bản, là đòi hỏi không thể thiếu được trong thuyết trình, đối thoại của báo cáo viên.

Giao tiếp có ba loại: giao tiếp thông qua hành động với tập thể tức thông qua hoạt động có đối tượng; giao tiếp bằng ngôn ngữ, bao gồm tiếng nói và chữ viết; giao tiếp bằng cử chỉ, nét mặt, ánh mắt, điệu bộ (phi ngôn ngữ).

- Hoạt động tập thể cơ bản của người báo cáo viên là đối thoại. Đối thoại trong tuyên truyền miệng là quá trình trao đổi thông tin giữa báo cáo viên với người nghe, là hoạt động tập thể có vai trò phát huy dân chủ trong tuyên truyền, tăng cường thông tin hai chiều, hạn chế việc thông tin áp đặt, một chiều. Trong đối thoại báo cáo viên vừa là người nói, vừa là người nghe, người cung cấp thông tin. Do vậy, báo cáo viên vừa biết nói tốt, vừa phải biết gợi mở, nêu vấn đề để người nghe nói đúng những vấn đề quan tâm. Để đạt được yêu cầu này, quá trình đối thoại nên mang tính chất trao đổi, tạo bầu không khí tin tưởng, gần gũi và chân thành. Trong quá trình đối thoại cần cố gắng tìm hiểu thông tin về một số đặc điểm của người đối thoại. Khi cần có thể tạo không khí tranh luận để bổ sung, củng cố nội dung tuyên truyền.

- Trong hoạt động tuyên truyền miệng giao tiếp bằng ngôn ngữ nói là hình thức chủ yếu trong quan hệ giao tiếp của người tuyên truyền, được sử dụng dưới hai hình thức: độc thoại và đối thoại.

Ngôn ngữ độc thoại là ngôn ngữ người nói cho một hoặc nhiều người khác nghe. Báo cáo viên phải có ngôn ngữ trong sáng, chính xác, dễ hiểu và có khả năng truyền cảm. Ngôn ngữ độc thoại được sử dụng chủ yếu trong thuyết trình.

Ngôn ngữ đối thoại là ngôn ngữ dùng để trao đổi thông tin giữa báo cáo viên với một hoặc nhiều người. Ngôn ngữ đối thoại có tính chất tình huống, liên quan chặt chẽ đến hoàn cảnh đối thoại, thường không chặt chẽ, câu thường rút gọn, có sự hỗ trợ của giao tiếp phi ngôn ngữ.

Trong giao tiếp bằng ngôn ngữ của người báo cáo viên, kỹ năng sử dụng từ có vai trò quan trọng. Nguyên tắc cơ bản dùng từ phải đúng âm thanh, đúng ý nghĩa, nếu không sẽ làm người nghe hiểu sai nội dung. Nói vội vàng, dùng từ sai hoặc dùng những từ “có sẵn” sáo mòn… sẽ không có tác dụng, thậm chí có thể làm cho người nghe khó chịu, hoặc không hiểu, như vậy báo cáo viên không hoàn thành vai giao tiếp của mình.

- Là hoạt động thông qua quan hệ trực tiếp giữa người nói và người nghe, nên tuyên truyền miệng có sự giao tiếp qua kênh phi ngôn ngữ. Đó là nét mặt, nụ cười, ánh mắt, cử chỉ… của người báo cáo viên khi tực hiện hoạt động tuyên truyền. Sử dụng đúng đắn, đúng lúc, tự nhien, không khiên cưỡng các thủ pháp giao tiếp qua kênh phi ngôn ngữ tạo nên sự tin cậy của người nghe về những điều mình nói và quan hệ thân thiện giữa người nói và người nghe.

- Trong tuyên truyền miệng cũng cần vận dụng một số phương pháp dạy học để thực hiện thuyết trình một cách có hệ thống, đảm bảo tính khoa học, tính giáo dục, tính thực tiễn của nội dung tuyên truyền. đó là các phương pháp nêu vấn đề, đặt câu hỏi và trả lời, giả định, phản đề, thuận đề, sử dụng bảng biểu… Trong điều kiện thuận lợi có thể sử dụng các giáo cụ trực quan, phim ảnh, đèn chiếu và vi tính hoá hoạt động tuyên truyền. Đó là những phương tiện hỗ trợ phong phú và cần thiết để báo cáo viên hoàn thành vai giao tiếp của mình.

3- Ngôn ngữ trong tuyên truyền miệng

- Ngôn ngữ vừa là tiền đề vừa là kết quả của quá trình phát triển xã hội. Ngôn ngữ là hình thức thể hiện của tư duy, giữ vai trò quan trọng trong việc hình thức ý thức. Vì vậy, ngôn ngữ là phương tiện chủ yếu của báo cáo viên, là yếu tố cực kỳ quan trọng để thực hiện và nâng cao chất lượng bài nói. Người báo cáo viên phải có vốn ngôn ngữ phong phú để trình báy chính xác những khái niệm, sự vật, hiện tượng và những quan điểm, quan niệm, sự kiện…

- Trong bào nói, trước hết là truyền đạt thông tin, hướng người nghe đi đến mục đích tuyên truyền mà boá cáo viên đề ra. Do đó, mọi lời nói của báo cáo viên đều phải hướng tới mục đích tuyên truyền (tính định hướng). Tiêu chuẩn cơ bản của lời nói tốt bao gồm: tính chính xác, tính đúng đắn và tính thẩm mỹ.

+ Tính chính xác: đó là sự thống nhất giữa các phương tiện thông tin với những tư liệu, sự kiện đã được khẳng định, diễn đạt bằng những phương tiện đó.

Tính chính xác đòi hỏi báo cáo viên phải có từ ngữ chính xác về mức độ và hiệu lệnh, truyền đạt đúng dắn và khách quan nội dung của vấn đề, sự vật, hiện tượng, diễn tả trung thành, làm nỏi bật vấn đề mà báo cáo viên trình bày.

+ Tính đúng đắn: Ngôn ngữ của báo cáo viên sử dụng phải được mọi người thừa nhận và được coi là mẫu mực bởi nói phù hợp với chuẩn mực ngôn ngữ.

+ Tính thẩm mỹ: đó là vẻ đẹp và sự hấp dẫn của lời nói, làm tăng sự thích thú của người nghe trên cơ sở những ngôn từ có chọn lọc được sử dụng chính xác, đúng đắn, văn hoá mà không hoa mỹ một cách cầu kỳ, quà mức cần thiết, không phù hợp với đối tượng.

Có được tính chính xác, tính đúng đắn, tính thẩm mỹ của ngôn ngữ trong tình bày bài nói báo cáo viên mới diễn tả ý tưởng của mình một cách chân thành, sáng sủa, chính xác và có sức thuyết phục người nghe.

- Sử dung kênh phi ngôn ngữ trong tuyên truyền miệng có vai trò quan trọng, góp phần nâng cao hiệu quả của hoạt động tuyên truyền.

+ Ưu thế đặc trưng của tuyên truyền miệng là người tuyên truyền có thể sử dụng kênh phi ngôn ngữ trong hoạt động tuyên truyền. Nếu biết sử dụng tốt, kênh phi ngôn ngữ không chỉ là sự bổ sung mà còn làm nhân lên hiệu quả của sự tuyên truyền.

+ Yêu cầu của kênh phi ngôn ngữ là phải tự nhiên, hợp lý, gắn với nội dung và hợp với từng loại đối tượng, bối cảnh tuyên truyền. Tránh “biểu diễn”, “diễn kịch” khi tuyên truyền, làm cho tác dụng tuyên truyền hạn chế, thậm chí phản cảm. Việc kể chuyện vui gây hưng phấn, làm cho buổi nói chuyện đỡ căng thẳng là cần thiết. Nhưng tránh “cù” một cách gượng gạo, tếu tạo, thô thiển, gây phản cảm.

4- Sử dụng tư liệu thực tế

- Sử dụng tư liệu thực tế trong bài nói thể hiện tính thống nhất giữa lý luận và thực tiễn, tính cụ thể trong nội dung tuyên truyền, làm cho bài nói thêm sinh động, hấp dẫn và thu hút người nghe.

Tư liệu thực tế được dùng để chứng minh, làm rõ một luận điểm nào đó trong bài nói, giúp người nghe hiểu hơn, tăng thêm độ tin cậy và sức thuyết phục của bài nói.

Tư liệu thực tế phải đảm báo tính chính xác, chân thực, khách quan, phù hợp với đề tài, đặc điểm, trình độ người nghe và đặc biệt báo cáo viên phải sử dụng một cách nhuần nhuyễn, đúng lúc, đúng chỗ.

Tài liệu thực tế chỉ có sức thuyết phục nó gần gũi, dễ hiểu, chính xác, rõ ràng, đã được kiểm nghiệm hoặc thực hiện trong thực tế cuộc sống, phù hợp với nhận thức chung của toàn xã hội.

- Khi sử dụng tư liệu, dẫn chứng tế để minh hoạ trong bài nói, báo báo cáo viên cần bám sát đề cương, đồng thời linh hoạt, tránh vận dụng cứng nhắc, gượng ép. Điều cần chú ý là không sử dụng tư liệu lặp đi, lặp lại trong một bài nói, hoặc ở những đơn vị, đối tượng mà mình thường báo cáo.

- Điều cần tránh nữa là báo cáo viên có thể kể các câu chuyện liên quan đến mình, những việc minh được chứng kiến hay đã trải qua. Nhưng cần rất chú ý đến tính khách quan, tự nhiên của câu chuyện, tránh nói nhiều về cái tôi, về vai trò của tôi, chỉ nên nói về tôi như người quan sát trọng câu chuyện.

II- QÚA TRÌNH THỰC HIỆN BÀI TUYÊN TRUYỀN MIỆNG

1- Trước khi nói

Thông thường, trước khi bắt đầu bài nói, báo cáo viên còn có một chút thời gian chờ đợi khi người tổ chức làm các công việc tổ chức (kiểm điểm quân số, chuẩn bị phương tiện, chờ thủ trưởng đến dự…) và tuyên bố lý do, xác định mục đích, yêu cầu của buổi sinh hoạt. Báo cáo viên cần tranh thủ thời gian đó để kiểm tra thếmự chuẩn bị của mình, bổ sung những nhận thức của mình về đối tượng và điều chỉnh nội dung, nếu cần thiết.

- Xác định lại một lần nữa về nội dung. Cần dung lại cấu trúc bài nói, phác hoạ nhanh cách trình bày. Đây là việc cần thiết, nhất là với đối tượng mới, đề cương mới.

- Quan sát nhanh hội trường và người nghe để bổ sung cho những chuẩn bị của mình về đối tượng, về không gian, thời gian buổi nói chuyện. Nếu có nhiều sự kiện khác biệt thì phải điều chỉnh ngay.

- Điều chỉnh lại nội dung nếu như thực tiễn của buổi nói chuyện khác với những gì người báo cáo viên đã chuẩn bị hoặc theo giới thiệu của người mời.

- Chuẩn bị về tâm lý cá nhân để tránh hồi hộp. Có thể sửa lại trang phục, đầu tóc.. điều này thể hiện sự tôn trọng, gần gũi đối tượng, phù hợp với bối cảnh buổi nói, hoà đồng với người nghe.

- Có thể nêu ý kiến đề nghị điều chỉnh ánh sáng, nơi đặt micrô, loa, lọ hoa, bục… phù hợp với không gian của hội trường, tạo thuận lợi cho báo cáo viên khi thuyết trình. Nhưng nói chung, nên thích nghi với hoàn cảnh hiện có, chỉ nêu yêu cầu trong trường hợp thật đặc biệt cần thiết, không nêu yêu cầu ngay từ đầu để tránh gây ấn tượng không tốt với tập thể người nghe.

2- Mở đầu buổi nói chuyện.

- Phần mở đầu buổi nói chuyện có tác dụng quan trọng đối với báo cáo viên trong việc gây sự chú ý và thiện cảm của người nghe. Thông thường báo cáo viên không nên vội vàng bắt đầu nói ngay mà cần tạo sự chú ý ban đầu. Khi bước lên bục, làm nhiệm vụ “tổ chức người nghe”, tập trung sự chú ý của họ.

- Trong giai đoạn bắt đầu nói thường xảy ra một số tình huống, người báo cáo viên cần chủ động dự báo và có cách xử lý phù hợp:

+ Người nói bị hồi hộp:

Hồi hộp là một rạng thái tâm lý xúc cảm tiêu cực, dẫn đến hành động lúng túng, bị động, không tự chủ của người báo cáo viên. Nguyên nhân của hồi hộp có nhiều, cả chủ quan và khách quan. Để khắc phục hồi hộp có thể thực hiện theo 4 cách sau:

Một là, hít thật sâu và thở ra từ từ vài lần.

Hai là, thay đổi trạng thái bằng cách bình tĩnh thay đổi các đồ vật hiện có trên bàn, như lọ hoa, micrô, chai nước, giáo án, hoặc làm một hành động hợp lý nào đó, như lau kính…

Ba là, nhìn xuống khán giả, tìm ánh mắt đồng cảm của những người có tâm thế chủ động và tâm thế khẳng định để tìm sự thông cảm, giúp đỡ.

Bồn là, nói thẳng với người nghe là tôi hồi hộp quá để tìm sự ủng hộ.

+ Người nghe ồn ào, không tập trung. Trong trường hợp này báo cáo viên cần bình tĩnh, lấy lại sự ổn định và sự tập trung chú ý bằng cách nói to, nói chậm từng từ, có thể lặp lại một hai lần câu đã nói.

+ Người nghe ồn ào, tỏ thái độ phản ứng, không đồng tình về một vấn đề nào đó (chẳng hạn báo cáo viên không phải là người đã được thông báo từ trước, thay đổi nội dung, thời gian…). Trong trường hợp này cần bình tĩnh, tìm hiểu nguyên nhân và tỏ thái độ đồng tình, nhân nhượng bước đầu, tìm sự thiện cảm của người nghe rồi tìm cách làm chủ diễn đàn, bắt đầu trình bày nội dung của bài nói theo kế hoạch. Tuyệt đối không tranh luận với số đông khi mới bắt đầu.

Để xử lý tốt các tình huống trên, báo cáo viên phải chuẩn bị thật tốt bài nói, nắm chắc nội dung, có kiến thức sâu rộng, phong phú về lý luận và thực tiễn, có bản lĩnh chính trị vững vàng, chủ động và ứng xử linh hoạt.

- Khi bắt đầu, khẩu ngữ “kính thưa, hoặc thưa…” rất quan trọng, thể hiện thái độ trân trọng với người nghe. Chủ tịch Hồ Chí Minh nhắc nhở người tuyên truyền phải lễ độ. Thái độ này phải thể hiện ở ngay câu nói đầu tiên.

- Phần giới thiệu tóm tắt đề cương cơ bản của bài nói để người nghe chủ động theo dõi là rất cần thiết, góp phần tạo sự tin cậy của người nghe. Phần giới thiệu ngắn gọn, cần phải rõ bài nói có mấy phần, thời gian bao lâu, có nghỉ giải lao không, có đối thoại không, kết thúc lúc mấy giờ…

3- Trình bày bài nói.

a. Trình bày nội dung bài nói:

Trong khi trình bày nội dung bài nói, báo cáo viên cần bám sát đề cương đã chuẩn bị, trình bày từng phần, từng ý theo đề cương. Nếu như đề cương đã được trình bày nhiều lần, báo cáo viên đã thuộc, cũng cần có đề cương trước mặt. Làm như vậy sẽ tạo thêm độ tin cậy của người nghe về các số liệu được đưa ra và đề phòng, khi đi sâu phân tích một vấn đề, ta có thể quên đang nói về phần nào đó trong bài. Khi có đề cương trước mặt, chỉ cần lướt qua là có thể xác định nhanh chóng đang trình bày phần nào trong bài.

- Khi nêu một luận điểm, một nhận định nên đưa ra một, hai ví dụ làm luận chứng để chứng minh luận điểm đó. Ví dụ càng gần gũi với người nghe càng có sức thuyết phục cao.

- Phân tích các nội dung lý luận, các luận điểm chính trị có tính chiến đấu cao, nên thực hiện phương pháp “nâng lên, thả xuống”. Đó là, sau khi phân tích một nội dung lý luận, cần lấy ngay một, hai ví dụ thực tiễn để minh hoạ, làm giảm nhẹ sự căng thẳng của bài nói và tăng khả năng tiếp thu của người nghe.

b. Phương pháp sử dụng ngôn ngữ trong trình bày bài nói

- Khi sử dụng ngôn ngữ cần chú ý đến các yếu tố ngữ âm, ngữ điệu, nhịp độ và ngừng giọng.

+ Ngữ âm là cường độ của âm thanh, nói to, nói nhỏ phù hợp với hội trường. Không nói to quá hoặc nhỏ quá. Khi cần nhấn mạnh không nên dùng cường độ âm thanh mà nên dùng ngữ điệu, vừa đỡ tốn sức lại ít gây khó khăn chịu cho người nghe.

+ Ngữ điệu thể hiện sự lên giọng cần thiết cho một câu. Ngữ điệu rất cần thiết để nhấn mạnh một nội dung nào đó. Nhưng cũng tránh lạm dụng, trở thành “du dương”, “véo von”, “lảnh lót” quá mức cần thiết. Khi dùng ngữ điệu cần tránh hiện tượng nuốt âm khi xuống giọng ở cuối câu.

+ Nhịp độ thể hiện nói nhanh hay chậm. Nói chung không nên nói nhanh quá dẫn đến nuốt từ, người nghe không kịp nhận biết nội dung của câu nói và ngược lại nói chậm quá tạo không khí “buồn ngủ” trong hội trường.

+ Ngừng giọng hoặc lặp lại những cụm từ chủ yếu để tạo ấn tượng, tập trung sự chú ý có vai trò quan trọng để nhấn mạnh những ý cần nhấn mạnh và làm tăng sự chú ý.

- Kênh phi ngôn ngữ thể hiện chủ yếu bằng những hành vi như tư thế, các hành động, cử chỉ, điệu bộ, ánh mắt… Những hoạt động này cần hết sức linh hoạt, được diễn tả phù hợp và ăn khớp với nội dung. Có thể sử dụng các thủ thuật như đứng tại bục, đi lại (khi có micrô cầm tay) và tiếp cận với người nghe. Trong khi nói có thể sử dụng điệu bộ bằng tay… để mô tả lời nói, nhưng không nên vung tay quá mức. Sự hài hước gây cười một cách tế nhị, tạo không khí, biểu lộ tình cảm, thái độ là cần thiết, nhưng không được thái quá.

c. Sử dụng giải thích và chứng minh khi trình bày bài nói

Khi nói báo cáo viên có thể giải thích và chứng minh, tức diễn dịch và quy nạp hoặc kết hợp cả hai phương pháp này.

- Phương pháp diễn dịch là sự giải thích một quan điểm, một luận điểm được đưa ra. Đầu tiên báo cáo viên phải nêu luận điểm, các bộ phận cấu thành (các ý của luận điểm) rồi lần lượt làm rõ từng nội dung một luận điểm. Đây là phương pháp diễn giải dễ thực hiện, có thể áp dụng phổ biến đối với mọi đối tượng người nghe, nhất là khi giới thiệu các nghị quyết, các quyết định của Đảng và Nhà nước. Khi phân tích, chẻ nhỏ vấn đề cần chú ý đến “sự quay về” điểm xuất phát, tránh “quên đường về”, không biết mình đang trình bày phần nào của bài. Khi tiến hành giải thích báo cáo viên cần thận trọng, tránh bị coi là răn dạy, rao giảng, coi thường trình độ người nghe.

- Phương pháp quy nạp là chứng minh tính đúng đắn của một luận điểm từ nhiều hiện tượng, sự kiện có tính riêng lẻ sau khi đã phân tích dưới nhiều khía cạnh, góc độ khác nhau. Phương pháp này đòi hỏi báo cáo viên phải biết lựa chọn sự kiện, tài liệu để dẫn dắt, thuyết phục người nghe thống nhất quan điểm với minh và khả năng tổng hợp sau khi phân tích các sự kiện riêng lẻ.

- Trong khi trình bày bài nói, báo cáo viên có thể vận dụng cả hai phương pháp giải thích và chứng minh để diễn đạt ở các phần khác nhau và nói chung cần kết hợp cả hai phương pháp này. Sự kết hợp cả hai phương pháp cần uyển chuyển, phù hợp với trình độ và thói quen của người nghe.

Tuy nhiên, dù vận dụng phương pháp nào cũng cần ghi nhớ lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Nói phải gọn gàng, có đầu, có đuôi, có nội dung… nói ít, nhưng nói cho thấm thía, nói cho chắc chắn, thì quần chúng thích hơn. Muốn nói gì phải chuẩn bị trước”(2).

d. Bao quát và quản lý các hoạt động trong hội trường

- Khi trình bày bài nói, báo cáo viên phải thường xuyên bao quát hội trường, quản lý buổi nói chuyện, theo dõi người nghe tiếp thu bài nói của mình đến đâu để chủ động điều chỉnh nội dung và phương pháp trình bày. Phải duy trì trật tự trong hội trường vù lợi ích của số đông. Qua quản lý buổi nói chuyện yêu cầu báo cáo viên phải luôn làm chủ mọi tình huống để đảm bảo buổi nói chuyện kết thúc có hiệu quả.

- Trong quá trình báo cáo, người nghe có thể mệt mỏi do tác động khách quan (thời tiết, tiếng ồn…). Khi phát hiện thấy hiện tượng đó, báo cáo viên cần sử dụng một số thủ thuật để thay đổi không khí trong hội trường, tạo sự chú ý của người nghe như: thay đổi âm điệu, ngữ điệu, dùng các phương tiện trực quan (nếu có), kế các câu chuyện vui và dùng các thủ pháp gây cười, tạo không khí sôi nổi… thậm chí có thể cho nghỉ giải lao đột xuất nếu có sự cố nào đó.

- Nếu có một bộ phận người nghe thiếu tập trung, báo cáo viên cần nhanh chóng xác định nguyên nhân. Nếu nguyên nhân từ phương pháp trình bày, báo cáo viên phải kịp thời điều chỉnh cách nói. Nếu có biểu hiện không đồng tình, phản ứng với quan điểm của mình, báo cáo viên tìm cách “hoà hoãn” và sau đó tìm hiểu nguyên nhân, nêu vấn đề để người nghe đối thoại, tạo sự đồng thuận.

e. Tiến hành đối thoại khi tuyên truyền

Trong quá trình nói, báo cáo viên có thể thực hiện đối thoại với người nghe, khi đối thoại cần chú ý:

- Cần khêu gợi và hướng người nghe nêu câu hỏi tập trung vào nội dung và chủ đề tuyên truyền.

- Luôn có thái độ cầu thị, tôn trọng, chú ý lắng nghe câu hỏi của người nghe để trả lời rõ ràng, đúng và trúng yêu cầu câu hỏi. Những vấn đề chưa rõ hoặc chưa thể trả lời thì khéo léo đề nghị để trả lời riêng hoặc xin lui vào dịp khác. Không trả lời những vấn đề chưa nắm vững. Nếu có nhiều người nghe nêu câu hỏi, báo cáo viên có thể trả lời từng câu hỏi hoặc có thể để người nghe nêu nhiều câu hỏi, rồi lần lượt trả lời từng vấn đề hoặc theo cụm vấn đề.

- Trong tập thể đông, có câu hỏi không đại diện cho số đông, nên đề nghị trả lời riêng.

- Trả ời câu hỏi trong thực hiện đối thoại là một vấn đề khó. Báo cáo viên phải bình tĩnh, ứng xử nhanh, do vậy phải tích luỹ kinh nghiệm và rèn luyện kỹ năng trả lời bằng sự hiểu biết rộng và sâu, cả về thực tiễn và kiến thức toàn diện trên các lĩnh vực.

4- Kết thúc bài nói

Đây là phần tổng kết nói chuyện. Yêu cầu phải để lại “dư âm, ấn tượng” của bài nói. Vì vậy, báo cáo viên có thể kết thúc bài nói bằng nhiều cách: hệ thống toàn bộ bài nói một cách ngắn gọn, khái quát hoặc chốt lại những vấn đề cơ bản nhất của nội dung tuyên truyền. Trên cơ sở đó rút ra kết luận định hướng tư tưởng, kêu gọi hành động của mọi người thực hiện mục đích, yêu cầu của vấn đề tuyên truyền.

Thời điểm này có thể người nghe đặt thêm câu hỏi, báo cáo viên căn cứ vào nội dung và thời gian để trả lợi hoặc xin trả lời riêng.

Cần kết thúc bài nói chuyện sớm hơn thời gian ấn định khoảng 5 - 7 phút, tuyệt đối không nên kéo dài quá giờ, dù chỉ 1 - 2 phút sẽ gây ức chế và tâm lý người nghe.

Trước khi rời diễn đàn, báo cáo viên cần cảm ơn người nghe đã theo dõi, cổ vũ, xin lỗi những sơ suất (nếu có), chúc sức khoẻ, tạm biệt và hạn gặp lại người nghe trong các nội dung tuyên truyền mới.

Chủ tịch Hồ Chí Minh là nhà tuyên truyền vĩ đại và là tấm gương mẫu mực về công tác tuyên truyền miệng. Người yêu cầu “tất cả cán bộ, đảng viên hễ những người tiếp xúc với quần chúng đều là người tuyên truyền của Đảng. Vì vậy, “ai cũng phải học nói, nhất là học nói cho quần chúng hiểu”.

Quán triệt tư tưởng Hồ Chí Minh, học tập phong cách tuyên truyền Hồ Chí Minh, người báo cáo viên cần ra sức rèn luyện, tu dưỡng phẩm chất đạo đức cách mạng, thường xuyên học tập trau dồi kiến thức, nghiệp vụ, tích luỹ kinh nghiệm thực tế để nâng cao tình độ chuyên môn, nghiệp vụ, đặc biệt là kỹ năng viết và nói, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ tuyên truyền được cấp uỷ giao cho./.

_________________________________________________

(1) Lênin toàn tập, NXB Tiến bộ Matxcơva, tiếng Việt, tập 41, tr 192.

(2) Hồ Chí Minh về công tác văn hoá, văn nghệ, NXB Sự thật, Hà Nội 1977, tr 24


BÀI 4

CÔNG TÁC NGHIÊN CỨU, NẮM BẮT TƯ TƯỞNG

VÀ DƯ LUẬN XÃ HỘI

I- BẢN CHẤT CỦA HIỆN TƯỢNG TƯ TƯỞNG

Muốn nghiên cứu, nắm bắt tư tưởng, trước hết phải biết tư tưởng là gì? Cách hiểu về khái niệm tư tưởng có sự khác nhau, cần có sự thống nhất.

1- Khái niệm tư tưởng

- Nghĩa rộng: Mọi sản phẩm tư duy của con người (ý nghĩ, ý tưởng, quan điểm, khái niệm, học thuyết, hệ tư tưởng).

- Nghĩa hẹp: hệ tư tưởng, hệ thống các quan điểm về tự nhiên, xã hội và con người.

2- Tư tưởng

Tư duy xã hội là sự suy nghĩ, cách suy nghĩ chung, giống nhau, theo một khuôn mẫu nhất định trong xã hội nói chung, trong các cộng đồng, tầng lớp, nhóm xã hội nói riêng. Đối tượng nắm bắt của công tác tư tưởng là sự suy nghĩ, ý nghĩ, cách suy nghĩ chung, giống nhau này, chứ không phải là các ý nghĩ, cách suy nghĩ riêng, cá biệt của các cá nhân. Xã hội, cộng đồng, nhóm xã hội không thể thống nhất về nhận thức, nếu mọi người không suy nghĩ, không có các ý nghĩ theo một khuôn mẫu giống nhau.

Khuôn mẫu tư duy xã hội thường là những quan niệm, suy lý, phán xét khái quát, giản đơn, hữu hạn nhưng có tính phổ biến, được nhiều người chấp nhận và tương đối bền vững trong một cộng đồng xã hội. Các quan niệm phức tạp, toàn diện, nhất là các học thuyết cao siêu, muốn thâm nhập được vào quần chúng, phải được đơn giản hoá thành các quan niệm hoặc hệ thống các quan niệm giản đơn, dễ hiểu. Nói cách khác, phải được chuyển hoá thành các khuôn mẫu tư duy. Khuôn mẫu tư duy tồn tại trong tất cả các lĩnh vực cuộc sống của con người: trong ý thức tôn giáo, đạo đức, chính trị… Trước đây, trong lĩnh vực tư tưởng chính trị, các khuôn mẫu tư duy về chủ nghĩa xã hội là các quan niệm như: “Chủ nghĩa xã hội không có kinh tế thị trường”; “Kinh tế kế hoạch hoá đối lập với kinh tế thị trường”; Các khuôn mẫu tư duy về các nước tư bản: “Kinh tế tư bản là kinh tế không có kế hoạch”; “Sự phồn vinh của các nước tư bản chỉ là sự phồn vinh bề ngoài, giả tạo”… Trong lĩnh vực đạo đức, một thời đã tồn tại các khuôn mẫu về tư duy như: “làm kinh tế cá nhân, cá thể là xấu”; “phụ nữ không chồng mà có con là thiếu đức hạnh”… Trong các lĩnh vực tri giác cũng tồn tại rất nhiều khuôn mẫu tư duy, ví dụ: “nhất lé, nhì lùn”; “đàn ông miệng rộng thì tài, đàn bà miệng rộng điếc tai láng giềng”..

Khuôn mẫu tư duy đơn giản hoá thực tế, song sự tồn tại của nó không phải là phi lý. Có thể nói, sự tồn tại của khuôn mẫu tư duy vừa hợp lý, vừa bất hợp lý.

Khuôn mẫu tư duy có 3 chức năng quan trọng:

- Chức năng thống nhất nhận thức, ý chí, hành động: Khuôn mẫu tư duy tạo ra sự thống nhất về nhận thức; sự thống nhất về nhận thức là cơ sở của sự thống nhất về ý chí và hành động.

- Chức năng tiết kiệm trí lực: Khuôn mẫu tư duy giúp người ta nhanh chóng nắm bắt tình huống, không phải tiêu tốn nhiều trí lực cho việc tìm hiểu tình huống. Ví dụ, trong việc nhận dạng người khác, nhiều khi người ta chỉ cần lướt qua dáng đi, điệu đứng, chứ không phải nhìn kỹ. Sự đồng nhất dáng đi, điệu đứng với một con người cụ thể nào đó là một trong các hình thức của khuôn mẫu tư duy.

- Chức năng khẳng định nhân cách: Mọi con người, dân tộc, cộng đồng xã hội đều có nhu cầu tự khẳng định nhân cách, “cái tôi”, “cái chúng ta”. Khuôn mẫu tư duy góp phần rất quan trọng trong việc hình thành ý thức tự tôn, lòng tự trọng, niềm tự hào về quốc gia, dân tộc, cộng đồng… của mọi người. Ví dụ, người Việt Nam hầu như ai cũng cho rằng “con rồng, cháu tiên” là một trong những khuôn mẫu tư duy lâu đời, góp phần quan trọng hình thành niềm tự hào dân tộc của người Việt Nam.

Tuy nhiên, khuôn mẫu tư duy xã hội cũng có những hạn chế nhất định. Chân lý của khuôn mẫu tư duy mang tính nhất thời. Khuôn mẫu của tư duy có thể hợp hoặc lỗi thời (phù hợp hoặc không còn phù hợp với thực tiễn). Sự tồn tại của các khuôn mẫu tư duy cực kỳ cần thiết, không chỉ đối với thực tiễn mà còn đối với nhận thức, nhưng cũng dễ dẫn đến cái sai khi chúng ta tuyệt đối hoá các định nghĩa, các khuôn mẫu tư duy, vẫn bám lấy chúng khi chúng đã lỗi thời.

3- Cơ sở nhận thức và cơ sở xã hội của tư duy xã hội

a. Cơ sở nhận thức: Sự thống nhất về tư tưởng là do phương pháp, cách thức tư duy quy định. Phương pháp,cách thức tư duy giống nhau thì tư tưởng cũng giống nhau. Phương pháp tư duy có thể đúng đắn, thích hợp hoặc sai lệch, không thích hợp và điều đó quy định tính chất đúng, sai của tư duy xã hội. Cốt lõi của phương pháp tư du là lôgíc tư duy. Người ta có thể tư duy theo lô gíc biện chứng, lôgíc hình thức hoặc lôgíc tâm lý. Lôgíc hình thức, lô gíc tâm lý chỉ đúng đắn, thích hợp trong những phạm vi nhất định. Đối với những vấn đề cuộc sống phức tạp, chỉ có tư duy biện chứng mới có thể đem lại cho chúng ta sự hiểu biết đúng đắn.

b. Cơ sở xã hội: Sự thống nhất về tư tưởng có thể do sự thống nhất về lợi ích quy định. Các nhóm xã hội có lợi ích giống nhau thì tư tưởng của họ về những vấn đề, sự việc có liên quan đến lợi ích đó cũng thường là giống nhau.

II- BẢN CHẤT CỦA HIỆN TƯỢNG DƯ LUẬN XÃ HỘI

1- Khái niệm dư luận xã hội

Dư luận xã hội là tập hợp tất cả các luồng ý kiến cá nhân trước các vấn đề, sự kiện, hiện tượng có tính thời sự.

Khái niệm luồng ý kiến có những nội hàm đáng lưu ý:

- Mỗi luồng ý kiến là một tập hợp các ý kiến cá nhân giống nhau (dư luận xã hội là ý kiến phát biểu tự phát, không có tổ chức). Các ý kiến chính thức, kết quả tổng hợp ý kiến phát biểu có tổ chức của các nhóm xã hội, các đoàn thể chính trị xã hội không phải là dư luận xã hội.

- Dư luận xã hội là tập hợp các ý kiến cá nhân giống nhau, nhưng không phải là tập hợp rời rạc, một phép tính cộng đơn giản mà là một kết cấu tinh thần của xã hội, sự gắn kết suy nghĩ, tình cảm và ý chí của các nhóm người nhất định.

- Dư luận xã hội có thể bao gồm nhiều luồng ý kiến khác nhau, thậm chí đối lập nhau (luồng ý kiến có thể rộng, tuyệt đại đa số, đa số hoặc ít, thiểu số).

- Chỉ có những sự kiện, hiện tượng, vấn đề xã hội có tính thời sự (động chạm đến lợi ích, các mối quan tâm hiện có của nhiều người) mới có khả năng tạo ra dư luận xã hội.

2- Mối quan hệ giữa dư luận xã hội, tin đồn và lẽ phải

a. Sự khác nhau giữa dư luận xã hội và tin đồn

Giữa dư luận xã hội và tin đồn có những điểm khác biệt cơ bản sau:

- Nguồn thông tin: Nguồn thông tin của tin đồn bao giờ cũng xuất phát từ người khác (tôi nghe người này nói…., người kia nói rằng….); nguồn thông tin của dư luận xã hội lại xuất phát từ chính bản thân người phát ngôn (theo ý kiến của tôi thì…);

- Tin đồn loang càng xa thì càng có nhiều biến thái, do nó không ngừng được thêm thắt. Lúc ban đầu, dư luận xã hội thường rất phân tán, nhưng sau đó, thông qua sự trao đổi, tranh luận, tính thống nhất của dư luận xã hội thường tăng lên.

- Tin đồn thường có tính thất thiệt (mặc dù có những tin đồn về cơ bản là sự thật), trong khi đó, dư luận xã hội phản ánh trung thực về suy nghĩ, tình cảm, thái độ của chủ thể. Tuy nhiên, giữa dư luận xã hội và tin đồn không có sự ngăn cách không vượt qua được. Tin đồn có thể làm nảy sinh dư luận xã hội khi trên cơ sở tin đồn người ta đưa ra những phán xét, đánh giá bày tỏ thái độ của mình. Tin đồn thường xuất hiện khi người ta thiếu hoặc thừa thông tin.

b. Khả năng phản ánh chân lý của dư luận xã hội

Dư luận xã hội có thể đúng nhiều, đúng ít. Dù có đúng đến mấy thì dư luận xã hội vẫn có những hạn chế, không nên tuyệt đối hoá khả năng nhận thức của dư luận xã hội. Dù có sai đến mấy, trong dư luận xã hội cũng có những hạt nhân hợp lý, không thể coi thường được. Chân lý của dư luận xã hội không phụ thuộc vào tính chất phổ biến của nó. Không phải lúc nào dư luận của đa số cũng đúng hơn dư luận của thiểu số. Cái mới, lúc đầu thường chỉ có một số người nhận thấy do đó dễ bị đa số phản đối.

3- Cơ sở nhận thức và cơ sở xã hội của dư luận xã hội

a. Cơ sở nhận thức

Sự thống nhất ý kiến được quyết định trước hết bởi sự thống nhất, giống nhau về tư duy, cách suy nghĩ. Nói cách khác, nền tảng nhận thức của dư luận xã hội chính là các khuôn mẫu tư duy xã hội.

b. Cơ sở xã hội của dư luận xã hội

Đó chính là sự thống nhất, giống nhau về lợi ích. Các nhóm xã hội có lợi ích giống nhau thì ý kiến của họ về những vấn đề, sự việc có liên quan đền lợi ích đó cũng thường là giống nhau.

III- CÁC PHƯƠNG PHÁP CHỦ YẾU NẮM BẮT DƯ LUẬN XÃ HỘI

Với các điều kiện chung của các địa phương hiện nay, có thể sử dụng 3 phương pháp chủ yếu để nắm bắt dư luận xã hội: Một là, nắm bắt dư luận xã hội qua hệ thống mạng lưới cộng tác viên; Hai là, nắm bắt dư luận xã hội qua phân tích tài liệu; Ba là, điều tra xã hội học về dư luận xã hội.

1- Nắm bắt dư luận xã hội qua mạng lưới cộng tác viên

a. Thành lập mạng lưới cộng tác viên

Để làm được việc này, trước hết phải thành lập mạng lưới cộng tác viên dư luận xã hội. Mạng lưới cộng tác viên cần có cơ cấu đại diện cho cơ cấu của cộng đồng, đối tượng mà chúng ta quan tâm (theo các đặc điểm có khả năng tác động đến nội dung, sắc thái của dư luận xã hội như lứa tuổi; giới tính; nghề nghiệp; học vấn; vùng miền sinh sống). Ví dụ trong mạng lưới phải có các cộng tác viên công tác tại các đoàn thể chính trị, xã hội, các ban, ngành quan trọng của tỉnh, thành phố…

Cộng tác viên phải là người luôn có thái độ tôn trọng, kiên nhẫn lắng nghe ý kiến của đối tượng và sẵn sàng phản ánh đầy đủ, khách quan, trung thức với cấp trên mọi ý kiến nghe được, cho dù ý kiến đó không phù hợp, trái với quan điểm của mình hoặc của cấp trên.

Sau khi lựa chọn xong về nhân sự, cần ban hành quy chế hoạt động của cộng tác viên. Trong đó quy định rõ chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và chế độ hoạt động của cộng tác viên. Một trong những quyền hạn cần thiết đối với cộng tác viên là cộng tác viên phải được quyền giữ bí mật nguồn thông tin. Việc tiết lộ nguồn thông tin có thể gây tổn hại đến lợi ích của người cung cấp thông tin, đánh mất niền tin giữa cộng tác viên và quần chúng, cộng tác viên sẽ gặp khó khăn trong việc nắm bắt dư luận xã hội.

b. Việc phản ánh dư luận xã hội qua mạng lưới cộng tác viên được thực hiện dưới nhiều hình thức, nhưng chủ yếu là giao ban theo định kỳ.

Nội dung buổi giao ban thường kỳ có 2 phần: Một là, phần thông tin: thông tin cho cộng tác viên những vấn đề có thính thời sự mà cộng tác viên cần biết để nắm và định hướng dư luận xã hội; Hai là, phần phản ánh dư luận của cộng tác viên: các cộng tác viên cần phản ánh những dư luận nổi lên trong tuần mà họ nắm được.

c. Sản phẩm của phương pháp nắm bắt dư luận xã hội thông qua mạng lưới cộng tác viên là báo cáo nhanh (theo định kỳ và đột xuất) về tình hình dư luận xã hội.

Trong báo cáo nhanh, điều quan trọng nhất là phải phản ánh được đầy đủ các luồng ý kiến khác nhau, dư luận của đa số cũng như của thiểu số. Cố gắng làm rõ khía cạnh định lượng của thông tin thông qua các phạm trù như “tuyệt đại đa số”, “đa số”; “số đông”; “nhiều ý kiến”; “một bộ phận”; “một số người”; “có người”. Cũng cần làm rõ chủ thể của luồng dư luận (nông dân, công nhân, trí thức, cán bộ hưu trí, lão thành cách mạng,… hay dư luận chung trong xã hội). Trong báo cáo nhanh có thể thêm sự phân tích bản chất của dư luận xã hội và nêu các kiến nghị.

Điểm mạnh của phương pháp nắm bắt dư luận xã hội qua mạng lưới cộng tác viên là nắm bắt thông tin nhanh chóng, kịp thời; chi phí cho việc nắm bắt thông tin rẻ; cán bộ làm công tác nắm bắt dư luận xã hội không cần đào tạo nhiều. Điểm yếu nhất của phương pháp này là khía cạnh của định lượng thông tin thiếu chính xác.

Để nắm bắt dư luận xã hội, cộng tác viên phải sử dụng các phương pháp nhất định, chủ yếu là các phương pháp nghiên cứu định tính (nghiên cứu định tính là hình thức nghiên cứu nhằm làm rõ có bao nhiêu loại ý kiến, thái độ, luồng dư luận xung quanh mỗi vấn đề, sự kiện, hiện tượng mà chúng ta quan tâm) sau đây:

Nghiên cứu định tính trực tiếp: Cộng tác viên nói rõ với đối tượng là mình cần nghe ý kiến của họ đối với một vấn đề, sự kiện, hiện tượng nào đó và mục đích là để làm gì. Hình thức họ tìm hiểu ý kiến của đối tượng ở đây có thể là trao đổi, toạ đàm, quan sát, phỏng vấn sâu, phỏng vấn nhóm tập trung.

Phỏng vấn nhóm tập trung là loại phỏng vấn nhằm vào các đối tượng là những nhóm nhỏ (thông thường từ 8 đến 12 người) với những đặc điểm xã hội nhất định. Mục đích chính của phỏng vấn nhóm tập trung là làm rõ các góc cạnh của vấn đề nghiên cứu thông qua sự tranh luận tự do của các thành viên trong nhóm. Phỏng vấn nhóm tập trung là loại phỏng vấn không có các câu hỏi cho sẵn. Người phỏng vấn tuỳ theo tình hình mà đặt ra các câu hỏi cho nhóm.

Phỏng vấn sâu là hình thức phỏng vấn cá nhân, “tay đôi” giữa người được phỏng vấn và cá nhân được phỏng vấn. Phỏng vấn sâu không có các câu hỏi được chuẩn bị sẵn, người phỏng vấn đặt câu hỏi tuỳ theo diễn biến, tiến trình của cuộc phỏng vấn. Thế mạnh của phỏng vấn sâu là bằng các câu hỏi có tính gợi mở, người phỏng vấn có thể làm rõ mọi ngóc ngách, suy nghĩ, thái độ, tâm trạng, tình cảm của người được phỏng vấn đối với vấn đề mà mình quan tâm.

Nghiên cứu định tính gián tiếp: Là hình thức nghiên cứu không để lộ cho các đối tượng nghiên cứu biết ý đồ, mục đích thực sự của người nghiên cứu. Các phương pháp thường được sử dụng phổ biến là các phương pháp phản chiếu như phương pháp liên tưởng, phương pháp bổ khuyết, phương pháp kết cấu và phương pháp biểu cảm.

2- Nắm bắt dư luận xã hội qua phân tích tài liệu.

Phân tích tài liệu là một phương pháp rất thích hợp trong việc tổng hợp dư luận xã hội qua báo chí và đơn thư khiếu nại, tố cáo, góp ý của nhân dân. Phương pháp này đòi hỏi các kỹ thuật nhất định như phân loại phạm trù mà tài liệu đề cập; xác định đơn vị tài liệu (là bức thư, tờ báo hay bài viết trong tờ báo?); xác định được các dấu hiệu thể hiện sự hiện diện của phạm trù, tính tần số mà mỗi phạm trù được đề cập trong tổng số tài liệu có được (tổng số các số báo cáo, bức thư, đơn khiếu nại, tố cáo… trong một khoảng thời gian nhất định nào đó).

Ví dụ phạm trù “tiêu cực xã hội” là một trong những phạm trù được báo chí thường xuyên đề cập. Các dấu hiệu thể hiện của phạm trù là các từ như: tham nhũng, mại dâm, xì ke, ma tuý, buôn lậu… Nếu coi đơn vị tài liệu là bài viết trong mỗi số báo ra hàng ngày của một tờ báo nào đó thì cách tính toán tần số của mỗi phạm trù sẽ như sau: lướt qua các bài viết của mỗi số báo; bỏ vào thùng phiếu tần số 1 phiếu mỗi khi thấy có bài báo đề cập (một cũng như nhiều từ, một lần cũng như nhiều lần) các từ tham nhũng, xì ke, ma tuý, buôn lậu. Sau khi đã lướt qua các số báo trong một khoảng thời gian nhất định (ví dụ trong vòng một tháng) chúng ta sẽ đếm xem trong “thùng phiếu” tần số có bao nhiêu “phiếu”. Số phiếu này chính là tần số của phạm trù “tiêu cực xã hội” trong tháng mà chúng ta xem xét. Nếu tháng nào chúng ta cũng tính toán như vậy, chúng ta sẽ có biểu đồ tần số của phạm trù “tiêu cực xã hội” và trên cơ sở đó có thể rút ra được các kết luận quan trọng.

3- Phương pháp điều tra xã hội học

Hình thức điều tra xã hội học về dư luận xã hội phổ biến nhất hiện nay là phỏng vấn thông qua bảng hỏi một lượng người nhất định, được lựa chọn theo những cách thức khoa học. Với phương pháp này, chúng ta chỉ cần điều tra (phỏng vấn) một lượng người không lớn, ví dụ một vài nghìn người, nhưng kết quả thu được cũng gần giống như kết quả điều tra toàn bộ cộng đồng người mà chúng ta quan tâm (cho dù cộng đồng này có lớn đến đâu).

Các công việc chính của một cuộc thăm dò dư luận xã hội theo bảng hỏi là:

- Xác định chủ đề, mục đích nghiên cứu;

- Xây dựng phiếu câu hỏi;

- Chọn mẫu thăm dò;

- Triển khai cuộc điều tra trên thực điạ;

- Xử lý các cứ liệu thu được;

- Viết báo cáo.

a. Xác định chủ đề, mục đích thăm dò

Đây là công việc đầu tiên và do đó cũng rất quan trọng vì “đầu xuôi, đuôi lọt”. Trước khi xây dựng phiếu câu hỏi và chọn mẫu, phải làm rõ vấn đề cần đưa ra thăm dò dư luận là vấn đề gì? Cuộc thăm dò dư luận có những mục đích gì? Đối tượng thăm dò là ai?

b. Xây dựng phiếu câu hỏi

Sau khi đã làm rõ chủ đề, mục đích của cuộc thăm dò dư luận xã hội, chúng ta có thể bắt tay vào việc xây dựng, thiết kế bảng hỏi (phiếu hỏi). Có thể chia cấu trúc của một phiếu câu hỏi thành 3 phần: phần mở đầu, phần nội dung và phần cứ liệu dân số - xã hội.

c. Vấn đề chọn mẫu trong cuộc trưng cầu ý kiến

Khi tiến hành thăm dò ý kiến theo phiếu đối với một cộng đồng xã hội nào đó, tốt nhất chúng ta phát phiếu cho tất cả các thành viên trong cộng đồng đó. Đó là kiểu điều tra tổng thể. Trên thực tế, điều tra tổng thể đối với các nhóm người có số lượng ít khoảng vài ba trăm người trở xuống thì không có vấn đề gì, nhưng khi số lượng của người điều tra lớn (đặc biệt khi đó là hàng chục vạn, hàng triệu người) thì có rất nhiều khó khăn xuất hiện. Một cuộc điều tra tổng thể ở đay đòi hỏi rất nhiều công sức, phí tổn, kết quả xử lý mất nhiều thời gian, thông tin thu được thường mất đi tính chất kịp thời… Làm thế nào để giải quyết các khó khăn này? Có thể giải quyết nhờ những phương pháp chọn mẫu nhất định. Bằng các phương pháp chọn mẫu, chúng ta có thể chỉ chọn lấy một số người trong tổng thể (số người được gọi là mẫu điều tra) để điều tra mà không cần phải điều tra toàn bộ tổng thể. Song, kết quả cũng không sai lệch bao nhiêu.

Một số cách chọn mẫu đơn giản: Có nhiều cách chọn mẫu (cả ngẫu nhiên và không ngẫu nhiên). Ở đây chỉ giới thiệu một cách lấy mẫu đơn giản nhất mà với trình độ hiện có, các cán bộ làm công tác tư tưởng, công tác nghiên cứu dư luận xã hội có thể làm được.

Lấy mẫu ngẫu nhiên hệ thống: Cách lấy mẫu này được tiến hành như sau: đầu tiên chúng ta lập danh sách họ, tên toàn bộ các thành viên trong tổng thể (tập hợp chính), có thể sử dụng các bản danh sách sẵn có của các cơ quan, đơn vị trong tổng thể. Sau khi đã có bản danh sách, chúng ta bắt đầu tiến hành chọn mẫu theo nguyên tắc cứ cách một số người nhất định, chọn một người. Thí dụ cách 20 lấy 1 chẳng hạn, còn cách bao nhiêu là tuỳ thuộc vào số lượng mẫu cần lấy và số lượng của bản danh sách liệt kê. Ví dụ, nếu cần lấy 300 người trong một tổng thể gồm 1.500 người thì cứ cách 5 người lấy 1 người. Cách lấy mẫu này thuận tiện trong trường hợp tổng thể có số lượng ít.

Lấy mẫu ngẫu nhiên phân tầng: Phân tập hợp gốc thành các tầng lớp có đặc trưng cơ bản mà chúng ta quan tâm giống nhau. Tất cả các tầng đều được lấy làm căn cứ cho sự lấy mẫu tiếp theo. Mỗi tầng cần chọn ngẫu nhiên lấy một lượng người sao cho tỷ lệ trong mẫu của mỗi tầng lớp tương đương với tỷ lệ của tầng đó trong tập hợp chính.

Lấy mẫu ngẫu nhiên theo cụm: (cluster sampling) Trong cách lấy mẫu ngẫu nhiên phân cụn, đầu tiên tập hợp gốc được phân thành các tiểu tập hợp hoặc các cụm có tính loại trừ lẫn nhau và có khả năng bao quát được tất cả mọi thành viên trong tập hợp gốc. Mẫu được lập ở đây nếu chỉ dừng lại ở chỗ là một tập hợp các cụm được lựa chọn ra từ tổng thể các cụm của tập hợp gốc theo nguyên tắc chọn ngẫu nhiên, đơn giản. Đó là mẫu ngẫu nhiên theo cụm một giai đoạn. Nếu tiếp tục thêm một giai đoạn nữa, cụ thể là từ mẫu ngẫu nhiên theo cụm một giai đoạn, một mẫu khác với tư cách là một tập hợp các thành viên được lựa chọn một cách ngẫu nhiên từ các cụm của mẫu ngẫu nhiên theo cụm một giai đoạn thì chúng ta sẽ có mẫu ngẫu nhiên theo cụm hai giai đoạn.

Hình thức phổ biến của cách lấy mẫu theo cụm là cách lấy mẫu theo vùng. Trong cách lấy mẫu theo vùng các cụm được cấu thành từ các cùng địa cư như làng, xã, huyện, khu nhà, khu phố…

Cách lấy mẫu ngẫu nhiên theo cụm có hai ưu điểm lớn: Thứ nhất là nó dễ thực hiện, thứ hai là nó có chi phí thấp. Trong rất nhiều trường hợp, chỉ có thể lập được các khung lấy mẫu theo các cụm chứ không phải theo các thành viên của tập hợp gốc. Cách lấy mẫu theo cụm có một số hạn chế: mẫu được lập ra theo cách lấy mẫu này không có độ chính xác cao, ngoài ra thiết lập các cụm có cấu trúc nội tại đa dạng là công việc rất khó, các kết quả thống kê ở đây cũng khó tính toán và khó giải thích.

Sự khác nhau cơ bản giữa cách lấy mẫu theo cụm và cách lấy mẫu phân tầng là ở chỗ trong cách lấy mẫu theo cụm chỉ có một nhóm các cụm được lựa chọn, còn trong cách lấy mẫu phân tầng, tất cả các tầng đều được lấy làm căn cứ cho sự lấy mẫu tiếp theo. Hai cách lấy mẫu trên cũng khác nhau về mục đích. Mục đích của sự lấy mẫu theo cụm là tăng hiệu quả của mẫu bằng cách giảm chi phí. Mục đích của cách lấy mẫu phân tầng là tăng độ chính xác. Cơ sở để hình thành các cụm đối lập với cơ sở để hình thành các tầng là tính đồng nhất và tính đa dạng. Các thành viên trong một cụm cần phải đa dạng, song các cụm lại cần phải đồng nhất với nhau. Nói một cách lý tưởng, mỗi cụm cần phải là một nấc đại diện nhỏ của tập hợp gốc. Trong cách lấy mẫu theo cụm khung lấy mẫu chỉ cần thiết đối với các cụm được lựa chọn để đưa vào mẫu.

Hình thức phổ biến của cách lấy mẫu theo cụm là cách lấy mẫu theo vùng. Trong cách lấy mẫu theo vùng, các cụm được cấu thành từ các vùng đại cư như làng, xã, huyệnn, khu nhà, khu phố…

Cách lấy mẫu ngẫu nhiên theo cụm có hai ưu điểm lớn: thứ nhất là nó dễ thực hiện, thứ hai là nó có chi phí thấp. Trong rất nhiều trường hợp, chỉ có thể lập được các khung lấy mẫu theo các cụm chứ không phải theo các thành viên của tập hợp gốc. Cách lấy mẫu theo cụm có một số hạn chế: mẫu được lập ra theo cách lấy mẫu này không có độ chính xác cao, ngoài ra, thiết lập các cụm có cấu trúc nội tại đa dạng là công việc rất khó, các kết quả thống kê ở đây cũng khó tính toán và khó giải thích.

Lấy mẫu ngẫu nhiên theo nhiều nấc. Trong trường hợp tổng thể có số lượng lớn, người ta thường sử dụng cách lấy mẫu này.

Nấc thứ nhất: phân tổng thể thành các nhóm theo một cơ sở phân chia nhất định. Lập bảng đanh sách các đơn vị được phân chia. Tiến hành lấy một số nhóm theo nguyên tắc ngẫu nhiên. Các nhóm này hợp thành mẫu của nấc thứ nhất.

Nấc thứ hai: mẫu của nấc thứ nhất lại tiếp tục được phân thành những nhóm nhỏ hơn. Theo bản danh sách liệt kê các nhóm đã được phân chia ở bước này tiến hành lấy mẫu của nấc thứ hai (lấy một số nhóm nhất định theo nguyên tắc ngẫu nhiên). Nếu ở đây, chúng ta chỉ tiến hành lấy mẫu theo 3 nấc thì nấc thứ ba sẽ là nấc lấy mẫu cuối cùng. Ở bước này, chúng ta lập danh sách tất cả các thành viên của mẫu ở nấc thứ hai. Trên cơ sở này chúng ta tiến hành lấy mẫu cuối cùng cũng theo nguyên tắc ngẫu nhiên. Có thể lấy một một ví dụ về cách chọn mẫu này. Chẳng hạn, chúng ta muốn tiến hành một cuộc điều tra về thái độ của nông dân đối với tình trạng mê tín, dị đoan ở một địa phương nào đó. Mẫu điều tra dự định là 2.000 hộ nông dân. Ở đây mẫu được lấy theo ba nấc. Nấc thứ nhất: phân tỉnh thành các đơn vị huyện. Theo bản liệt kê các huyện của tỉnh đó chúng ta tiến hành lấy mẫu của nấc thứ nhất (lấy một số huyện theo nguyên tắc ngẫu nhiên). Nấc thứ hai: các huyện đã được chọn ở nấc thứ nhất tiếp tục được phân chia theo đơn vị xã. Lập bản danh sách liệt kê tất cả các xã của huyện trong mẫu của nấc thứ nhất. Lấy mẫu của nấc thứ hai bao gồm một số xã nhất định theo nguyên tắc ngẫu nhiên. Nấc thứ ba: Lập danh sách các hộ nông dân trong mẫu của nấc thứ hai, theo bản dan sách này lấy 2.000 hộ theo nguyên tắc ngẫu nhiên. Như vậy, chúng ta đã có mẫu cần thiết.

Cách lấy mẫu không theo nguyên tắc ngẫu nhiên. Cách lấy mẫu này cũng rất đa dạng, đòi hỏi người nghiên cứu phải có trình độ phân tích các đặc điểm xã hội, tâm lý - xã hội của tổng thể. Ở đây chỉ giới thiệu một trong những cách lấy mẫu thuộc loại này mà chúng ta thường gọi là lấy mẫu theo điển hình. Để tiến hành lấy mẫu điển hình, trước hết, chúng ta cần phải phân tổng thể ra thành các nhóm khác nhau theo những tiêu chuẩn hoặc cơ sở nhất định. Sau khi đã phân nhóm xong mẫu được chọn, bằng cách lấy ra từ mỗi nhóm một số đối tượng điển hình (tiêu biểu, đại diện cho nhóm để nghiên cứu). Cách lấy mẫu này nghe qua có vẻ đơn giản, nhưng thực rất khó. Ở bước phân nhóm đòi hỏi chúng ta phải xác định được các cơ sở (tiêu chuẩn) để phân nhóm. Các cơ sở đó phải là các đặc điểm xã hội, tâm lý - xã hội có thể ảnh hưởng lớn đến thái độ phán xét, đánh giá của các thành viên trong tổng thể. Các đặc điểm ấy có thể là các đặc điểm giai tầng (công nhân, nông dân, trí thức…), các đặc điểm địa lý, lãnh thổ (đồng bằng, trung du, miền núi…), các đặc điểm hoạt động (trực tiếp sản xuất, không trực tiếp sản xuất…), các đặc điểm nhận thức (trình độ học vấn cao - thấp…), hoặc các đặc điểm giới tính, lứa tuổi… Có những vấn đề, thái độ khác nhau trong tổng thể được quyết định bởi những giai tầng, song vẫn có vấn đề, thái độ phán xét khác nhau trong tổng thể lại do các đặc điểm khác quy định chứ không phải do các đặc điểm giai tầng (các đặc điểm khác ấy có thể là đặc điểm giới tính, lứa tuổi… chẳng hạn ).

Trong trường hợp đặc điểm giai tầng quyết định chúng ta có thể phân tổng thể thành các nhóm như: 1. Công nhân; 2. Nông dân; 3. Trí thức; 4. Các thành phần khác. Chúng ta lấy từ mối nhóm trên đây một vài cơ sở có tính điển hình (đại diện cho đa số các cơ sở trong mỗi nhóm), số lượng các thành viên của mỗi nhóm trong mẫu phải tỷ lệ thuận với số lượng của nhóm đó trong tổng thể, như vậy, chúng ta đã có một mẫu điển hình. Sự phân nhóm không phải là một mà là từ hai trở lê. Thí dụ, nếu thái độ phán xét của các thành viên trong tổng thể do hai đặc điểm giai tầng và địa lý - lãnh thổ (đồng bằng, trung du, miền núi) quy định thì tổng thể cần được phân thành các nhóm như: 1. Công nhân miền núi; 2. Công nhân miền xuôi; 3. Công nhân miền trung du; 4. Nông dân miền núi; 5. Nông dân miền xuôi; 6. Nông dân vùng trung du; 7. Trí thức vùng núi; 8. Trí thức vùng đồng bằng; 9. Trí thức vùng trung du; 10. Các thành phần khác vùng núi; 11. Các thành phần khác vùng đồng bằng; 12. Các thành phần khác vùng trung du. Đặc điểm xã hội, tâm lý - xã hội cần tính toán để phân chia tổng thể là do người nghiên cứu trên cơ sở kinh nghiệm và sự phân tích của mình nêu ra. Các lấy mẫu này có thể dễ bị sai lệch vì nhiều khi giả định về sự liên hệ giữa các đặc điểm xã hội, tâm lý mà người nghiên cứu đưa ra với thái độ của người trả lời là không đúng.

d. Phần thực địa

Sau khi xây dựng xong phiếu câu hỏi và mẫu điều tra, chúng ta phải triển khai bước tiếp theo là tiếp xúc với đối tượng trên thực địa, phỏng vấn hoặc phát phiếu, hướng dẫn đối tượng trả lời và thu hồi phiếu.

Qúa trình thực địa gồm những công việc: lựa chọn, huấn luyện, phân công, giám sát các cán bộ đi thực địa, đánh giá chất lượng công tác thực địa.

đ. Xử lý phiếu điều tra

Khâu này gồm những công việc: giám định phiếu hỏi (kiểm tra toàn bộ các phiếu hỏi thu được xem có hoàn chỉnh và đảm bảo chất lượng hay không); Hiệu chỉnh phiếu hỏi (để sửa chữa các câu trả lời không đạt yêu cầu, chúng ta có thể dùng các biện pháp: gửi trả lại nơi thực địa để trả lời lại; tự ấn định các giá trị đã bị bỏ sót theo các nguyên tắc khoa học và loại trừ các phiếu câu hỏi không đạt yêu cầu); Nhập và lấy kết quả trên máy vi tính.

e. Viết báo cáo.

Trước hết là viết dự thảo báo cáo. Sau khi có dự thảo báo cáo cần tổ chức hội thảo để xin ý kiến góp ý cảu các chuyên gia. Có những cuộc điều tra phải tiến hành nhiều cuộc hội thảo nhằm đóng góp cho dự thảo báo cáo mới ra được báo cáo chính thức.

­___________________________________________________ 

Qua 30 năm thực hiện Chỉ thị số 14-CT/TW, ngày 03-8-1977 của Ban Bí thư (khoá IV) “Về việc tổ chức đội ngũ báo cáo viên và tuyên truyền viên của Đảng” và 10 năm thực hiện Thông báo số 71-TB/TW, ngày 07-6-1997 của Thường vụ Bộ Chính trị (khoá VIII) “Về việc tăng cường lãnh đạo và đổi mới công tác tuyên truyền miệng”, công tác tuyên truyền miệng và hoạt động của đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên đã có bước phát triển, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ công tác tư tưởng trong từng thời kỳ, góp phần tăng cường sự gắn bó giữa Đảng với nhân dân, sự thống nhất tư tưởng trong Đảng, sự đồng thuận trong xã hội.

MỤC LỤC



Ý kiến của bạn

Gửi cho bạn bè

In bài này