DMCA.com Protection Status

Tham gia hướng dân vài nét cơ bản về an toàn giao thông(ATGT) cho thanh, thiếu niên:  quan tâm

Được đăng bởi: Trần Việt Thao

Cập nhật lúc 15:28 ngày 05/01/2018

Tham gia hướng dân vài nét cơ bản về an toàn giao thông(ATGT) cho thanh, thiếu niên:

 

Cho đến hiện nay một số thanh, thiếu niên( nhất là ở nông thôn, vùng sâu, vùng xa, vùng cao; thậm chí một số ít ở thị trấn, thị xã, thành phố; TTN ở một số trường học) tham gia giao thông mà vẫn chưa nắm vừng một số quy định về tín hiệu giao thông thông thường, vì vậy tôi mạnh dạn viết ra để giúp các em nắm rõ những vấn đề cơ bản tối thiểu cần biết khi ra đường:

 

1, Về tín hiệu xe xin rẽ( chuyển hướng):

Xe máy, ô tô xin đường rẽ về bên nào thì bật nháy đèn tín hiệu(signal- đọc là xi nhan) ở phía đầu và phía sau về bên đó( thay cho lời nói: đề nghị tạo điều kiện cho tôi xin rẽ về phía nháy đèn), nhưng khi điều kiện cho phép xe mới được rẽ( nếu không sẽ gây nguy hiểm) và khi điều kiện cho phép người tham gia giao thông có liên quan khi thấy tín hiệu đó thì phải tạo điều kiện giúp người xin rẽ; người lái xe bật tín hiệu xin rẽ khi rẽ xong thì phải tắt đèn tín hiệu xin rẽ( vì nếu quên tắt đèn tín hiệu thì đến đoạn đường giao nhau dễ nhầm với đang xin rẽ có thể dẫn đến va vấp do tưởng là đang xin rẽ).

  •  

Khi xe ô tô bật (1 hoặc 2 đèn vuông hoặc đèn tròn) đèn sáng trắng phía sau là báo tín hiệu xe đang lùi( người ở phía sau phải chú ý nhanh chóng tránh xe); đèn đỏ phía sau sáng là báo xe dừng lại; xe máy đèn chớp nháy hai bên phía sau là báo hiệu dừng khẩn cấp.

Ban đêm xe phía sau bấm còi và nháy đèn ( thay đổi pha, cốt) là tín hiệu báo xin vượt.

  •  
  •  

 

Xe cứu hỏa, xe cứu thương, xe công an, xe quân sự, xe hộ đê rú còi liên tục, nháy đèn tín hiệu, cắm cờ là báo hiệu mọi người tham gia giao thông cần tránh nhanh, nhường đường cho xe được ưu tiên( theo quy định của pháp luật) đi trước để làm nhiệm vụ khẩn cấp.

Trẻ em dưới 7 tuổi đi ra đường phải có người lớn trông coi đi kèm, giúp đỡ: “Trẻ em dưới 7 tuổi khi đi qua đường đô thị, đường thường xuyên có xe cơ giới qua lại phải có người lớn dắt; mọi người có trách nhiệm giúp đỡ trẻ em dưới 7 tuổi khi đi qua đường”- điều 32, chương II, luật GTĐB.

  •  
  •  

 

Những hành vi hay gây mất an toàn giao thông: Bất ngờ thay đổi hành vi(đang đi bộ đột nhiên chạy, đang chạy đột ngột đi chậm hẳn hoặc dừng lại giữa đường, đang đứng yên bất ngờ chạy; đang chạy nhanh bất ngờ rẽ trái, rẽ phải; đi sang ngang đường rồi bất ngờ quay trở lại ngay hoặc đang đi xe máy nhanh đột ngột đi quá chậm hoặc dừng lại giữa đường, bất ngờ bấm còi xe kêu quá to khiến người đi gần giật mình; bất ngờ rẽ mà không bật đèn tín hiệu hoặc ra hiệu; phát tín hiệu xin rẽ và rẽ ngay lập tức khi điều kiện chưa cho phép,..….là những hành vi khiến cho người đi bộ, xe máy, ô tô tham gia giao thông không lường trước được nên khó tránh, dễ gây tai nạn( điều quan trọng là tham gia giao thông cần tuân thủ luật giao thông đường bộ và đi sao cho những người lái xe khác dễ lường được là mình sẽ đi như thế nảo, tránh kiểu đi một cách bất thường khiến lái xe khác không lường trước được nên khó tránh).

  •  

 

(TríchGT một phần) “ LUẬT

GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ

Căn cứ Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Nghị quyết số 51/2001/QH10;

Quốc hội ban hành Luật giao thông đường bộ.

Chương I
NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG

 

Chương II
QUY TẮC GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ

Điều 9. Quy tắc chung

1. Người tham gia giao thông phải đi bên phải theo chiều đi của mình, đi đúng làn đường, phần đường quy định và phải chấp hành hệ thống báo hiệu đường bộ.

2. Xe ô tô có trang bị dây an toàn thì người lái xe và người ngồi hàng ghế phía trước trong xe ô tô phải thắt dây an toàn.

Điều 10. Hệ thống báo hiệu đường bộ

1. Hệ thống báo hiệu đường bộ gồm hiệu lệnh của người điều khiển giao thông; tín hiệu đèn giao thông, biển báo hiệu, vạch kẻ đường, cọc tiêu hoặc tường bảo vệ, rào chắn.

2. Hiệu lệnh của người điều khiển giao thông quy định như sau:

a) Tay giơ thẳng đứng để báo hiệu cho người tham gia giao thông ở các hướng dừng lại;

b) Hai tay hoặc một tay dang ngang để báo hiệu cho người tham gia giao thông ở phía trước và ở phía sau người điều khiển giao thông phải dừng lại; người tham gia giao thông ở phía bên phải và bên trái của người điều khiển giao thông được đi;

c) Tay phải giơ về phía trước để báo hiệu cho người tham gia giao thông ở phía sau và bên phải người điều khiển giao thông phải dừng lại; người tham gia giao thông ở phía trước người điều khiển giao thông được rẽ phải; người tham gia giao thông ở phía bên trái người điểu khiển giao thông được đi tất cả các hướng; người đi bộ qua đường phải đi sau lưng người điều khiển giao thông.

3. Tín hiệu đèn giao thông có ba mầu, quy định như sau:

a) Tín hiệu xanh là được đi;

b) Tín hiệu đỏ là cấm đi;

c) Tín hiệu vàng là phải dừng lại trước vạch dừng, trừ trường hợp đã đi quá vạch dừng thì được đi tiếp; trong trường hợp tín hiệu vàng nhấp nháy là được đi nhưng phải giảm tốc độ, chú ý quan sát, nhường đường cho người đi bộ qua đường.

4. Biển báo hiệu đường bộ gồm năm nhóm, quy định như sau:

a) Biển báo cấm để biểu thị các điều cấm;

b) Biển báo nguy hiểm để cảnh báo các tình huống nguy hiểm có thể xảy ra;

c) Biển hiệu lệnh để báo các hiệu lệnh phải thi hành;

d) Biển chỉ dẫn để chỉ dẫn hướng đi hoặc các điều cần biết;

đ) Biển phụ để thuyết minh bổ sung các loại biển báo cấm, biển báo nguy hiểm, biển hiệu lệnh và biển chỉ dẫn.

5. Vạch kẻ đường là vạch chỉ sự phân chia làn đường, vị trí hoặc hướng đi, vị trí dừng lại.

6. Cọc tiêu hoặc tường bảo vệ được đặt ở mép các đoạn đường nguy hiểm để hướng dẫn cho người tham gia giao thông biết phạm vi an toàn của nền đường và hướng đi của đường.

7. Rào chắn được đặt ở nơi đường bị thắt hẹp, đầu cầu, đầu cống, đầu đoạn đường cấm, đường cụt không cho xe, người qua lại hoặc đặt ở những nơi cần điều khiển, kiểm soát sự đi lại.

8. Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải quy định cụ thể về báo hiệu đường bộ.

Điều 11. Chấp hành báo hiệu đường bộ

1. Người tham gia giao thông phải chấp hành hiệu lệnh và chỉ dẫn của hệ thống báo hiệu đường bộ.

2. Khi có người điều khiển giao thông thì người tham gia giao thông phải chấp hành hiệu lệnh của người điều khiển giao thông.

3. Tại nơi có biển báo hiệu cố định lại có báo hiệu tạm thời thì người tham gia giao thông phải chấp hành hiệu lệnh của báo hiệu tạm thời.

4. Tại nơi có vạch kẻ đường dành cho người đi bộ, người điều khiển phương tiện phải quan sát, giảm tốc độ và nhường đường cho người đi bộ, xe lăn của người khuyết tật qua đường.

Những nơi không có vạch kẻ đường cho người đi bộ, người điều khiển phương tiện phải quan sát, nếu thấy người đi bộ, xe lăn của người khuyết tật đang qua đường thì phải giảm tốc độ, nhường đường cho người đi bộ, xe lăn của người khuyết tật qua đường bảo đảm an toàn”.

 

Điều 15. Chuyển hướng xe

1. Khi muốn chuyển hướng, người điều khiển phương tiện phải giảm tốc độ và có tín hiệu báo hướng rẽ.

2. Trong khi chuyển hướng, người lái xe, người điều khiển xe máy chuyên dùng phải nhường quyền đi trước cho người đi bộ, người đi xe đạp đang đi trên phần đường dành riêng cho họ, nhường đường cho các xe đi ngược chiều và chỉ cho xe chuyển hướng khi quan sát thấy không gây trở ngại hoặc nguy hiểm cho người và phương tiện khác.

3. Trong khu dân cư, người lái xe, người điều khiển xe máy chuyên dùng chỉ được quay đầu xe ở nơi đường giao nhau và nơi có biển báo cho phép quay đầu xe.

4. Không được quay đầu xe ở phần đường dành cho người đi bộ qua đường, trên cầu, đầu cầu, gầm cầu vượt, ngầm, trong hầm đường bộ, đường cao tốc, tại nơi đường bộ giao nhau cùng mức với đường sắt, đường hẹp, đường dốc, đoạn đường cong tầm nhìn bị che khuất”.

 

( Nguồn: http://thuvienphapluat.vn/archive/Luat-giao-thong-duong-bo-2008-23-2008-QH12-vb82203.aspx ; http://www.luatgiaothongduongbo.net/ ).

 

4