DMCA.com Protection Status

(Tham khảo) CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ GIÁO DỤC HƯỚNG NGHIỆP( đầy đủ)   quan tâm

Được đăng bởi: Trần Việt Thao

Cập nhật lúc 15:44 ngày 05/01/2018

(Tham khảo) CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ GIÁO DỤC HƯỚNG NGHIỆP( đầy đủ)

 

1. TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VỀ GIÁO DỤC HƯỚNG NGHIỆP TRÊN THẾ GIỚI VÀ Ở VIỆT NAM

(Nguồn: http://vienspkt.hcmute.edu.vn/images/stories/VienSPKT/Luanvanthacsi2009_2011/NGUYENTHIHOAN_09_11_TOANVAN.pdf )

 

1.1. Giáo dục hướng nghiệp tại một số nước trên thế giới

Theo UNESCO, hướng nghiệp (HN) là một quá trình cung cấp cho người học những thông tin về bản thân, về thị trường lao động và định hướng cho người học có các quyết định đúng đối với sự lựa chọn nghề nghiệp. Ngày nay, người ta đã nhận thấy chỉ cung cấp thông tin là không đầy đủ mà cần phải chỉ ra sự phát triển về mặt cá nhân, xã hội, giáo dục và nghề nghiệp của học sinh. Một sự thay đổi khác có ảnh hưởng lớn đến hoạt động HN là nó được nhận thức như là một quá trình phát triển, đòi hỏi một cách tiếp cận chương trình chứ không chỉ đơn giản là các cuộc phỏng vấn cá nhân tại các thời điểm quyết định. Trong các cuộc cải cách giáo dục, việc đưa vào giáo dục phổ thông nội dung giáo dục nghề nghiệp để chúng ta có thể định hướng nghề nghiệp, giúp các em có khái niệm về nghề nghiệp và chọn lựa nghề của mình trong tương lai là nội dung rất được coi trọng trong các nền giáo dục tiên tiến.

1.1.1. Giáo dục hướng nghiệp ở Thụy Điển Ở Thụy điển, nhà trường Mẫu giáo và Tiểu học chú trọng rèn luyện các kỹ năng sống trong xã hội, còn ở cấp 3 thì học sinh được chuẩn bị lao động theo tinh thần trường trung học tổng hợp [33]. Trong mỗi học khu ở Thụy Điển có 16 chương trình trung học cấp 3 chú trọng về hướng nghiệp (career-centered programs of study). Tất cả 5 môn học chính là tiếng Thụy Điển, tiếng Anh, Toán, Khoa học xã hội, và Khoa học tự nhiên đều là 5 môn bắt buộc trong mỗi chương trình. Nhưng những môn này lại được học trong bối cảnh nghề nghiệp riêng của từng chương trình. Thụy Điển, thường chỉ 1/3 học sinh tốt nghiệp trung học được chọn vào đại học. Một số học sinh tham gia lực lượng lao động ngay sau khi tốt nghiệp trung học. 7 Mỗi cộng đồng dân cư đều có một hội đồng gồm các nhà lãnh đạo địa phương trong các cơ quan chính phủ và các doanh nghiệp. Họ thường kỳ tổ chức nói chuyện cho học sinh nghe về các nhu cầu kinh tế của cộng đồng. Trong đó nêu rõ các học sinh nên được chuẩn bị như thế nào để sẵn sàng tham gia lực lượng lao động. Như các nhà giáo dục hướng nghiệp, hội đồng này cho biết họ mong muốn những gì và họ cảm nhận học sinh nay đang ở mức nào, đó chính là cách giáo dục hướng nghiệp vững chắc cho học sinh. Các doanh nghiệp địa phương thường hỗ trợ các phương tiện, thiết bị cho việc thực hành của học sinh, và sắp xếp tạo công ăn việc làm cho học sinh tốt nghiệp. Ở Thụy Điển, mọi nhu cầu tài chính của nhà trường đều do sự đóng góp bắt buộc của các cấp chính quyền.

1.1.2. Giáo dục hướng nghiệp ở Liên Bang Nga Giáo dục hướng nghiệp ở Liên Bang Nga được thực hiện nhằm mục tiêu [34]: - Đảm bảo quyền tự chọn nghề của học sinh giúp các em tự thể hiện nhân cách trong điều kiện quan hệ thị trường. - Tôn trọng hứng thú nghề nghiệp của con người cũng chỉ rõ nhu cầu của thị trường lao động. - Không ngừng nâng cao trình độ thạo nghề của cá nhân như là điều kiện quan trọng nhất được thỏa nguyện yêu cầu phát triển của con người trong lao động.

1.1.3. Giáo dục hướng nghiệp ở Nhật Bản Nhật Bản sớm quan tâm giải quyết tốt mối quan hệ giữa học vấn văn hoá phổ thông với kiến thức và kỹ năng lao động - nghề nghiệp ở tất cả các bậc học. Có khoảng 27,9% số trường phổ thông trung học vừa học văn hoá phổ thông vừa học các môn học kỹ thuật thuộc các lĩnh vực cơ khí, ngư nghiệp, công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ vv… Sau cấp II có đến 94% học sinh vào cấp III, trong đó 70% học sinh theo học loại hình trường PT cơ bản và 30% HS theo hướng học nghề [19].

1.1.4. Cộng hòa liên bang Đức Dư luận quốc tế đánh giá rất cao hệ thống đào tạo nghề của Đức. Hầu hết thanh niên Đức sau khi tốt nghiệp bậc phổ cập giáo dục đều theo học từ 2 đến 3.5 năm tại nơi là xí nghiệp và trường dạy nghề nên gọi là “hệ thống kép”. 8 Xí nghiệp là nơi đào tạo nghề chủ yếu ở Đức nhưng phải thỏa mãn yêu cầu: chỉ đào tạo nghề cho thanh thiếu niên dưới 18 tuổi, phải có giáo viên phù hợp, phải có kế hoạch đào tạo cụ thể phù hợp với quy chế chung, bảo đảm tự cấp kinh phí (thay vì tại các trường, kinh phí sẽ do nhà nước cấp). Việc đào tạo nghề ở CHLB Đức luôn luôn đổi mới về chương trình, phương pháp, cách quản lý cho phù hợp với những tiến bộ KH- KT hiện đại, phù hợp với sự phát triển của nền kinh tế, xã hội, cách tổ chức lao động tiên tiến [19].

1.2. Nghiên cứu hoạt động giáo dục hướng nghiệp tại Việt Nam đã được tiến hành nghiên cứu và triển khai khá sớm, từ đầu những năm 80 của thế kỷ XX. Quyết định 126/CP ngày 19/3/1981 của Chính phủ đã tạo hành lang pháp lý cho sự phát triển của công tác HN, nhất là HN cho học sinh phổ thông Trong những năm 1983 - 1996, GDHN ở nước ta đã đạt được một số thành tựu quan trọng, được coi là thời kỳ thịnh vượng nhất. Nhưng từ năm 1997 trở lại đây, công tác GDHN cho học sinh phổ thông (PT) đã bị coi nhẹ, ảnh hưởng không nhỏ đến sự phát triển nguồn nhân lực của đất nước. Trong những năm gần đây, Nghị quyết 40 của Quốc hội khoá 10, Chiến lược phát triển GD giai đoạn 2001-2010, văn kiện đại hội IX, đại hội X của Đảng đã nhấn mạnh việc đổi mới chương trình và sách giáo khoa PT. Vấn đề dạy học công nghệ và GDHN đã được nhiều trường chú trọng hơn, công tác GDHN cho học sinh PT vẫn chưa được các cấp quản lý quan tâm đúng mức. Các cấp bộ Đảng, Chính quyền và xã hội chưa nhận thức được vị trí và tầm quan trọng của công tác GDHN đối với sự phát triển kinh tế và xã hội. Học để đi thi, học để “làm quan”, không thích làm thợ còn khá nặng nề trong nhân dân ta, đặc biệt là trong học sinh và phụ huynh. Yếu tố tâm lý này có ảnh hưởng rất lớn đến sự định hướng nghề nghiệp tương lai của học sinh sắp ra trường, làm cho chủ trương phân luồng học sinh PT không thực hiện được. Có thể nói rằng, công tác HN cho học sinh PT ở nước ta còn yếu kém, còn cách xa với các nước trong khu vực chưa đáp ứng được nhiệm vụ chuẩn bị nguồn lực cho công nghiệp hoá. 9 Tại Việt Nam, hoạt động giáo dục hướng nghiệp thu hút được sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu. Nghiên cứu về hoạt động giáo dục hướng nghiệp rất phong phú và đa dạng, song nhìn chung các nghiên cứu tập trung vào các vấn đề sau: Thứ 1: Nghiên cứu về định hướng nghề nghiệp Trong các nội dung của hoạt động giáo dục hướng nghiệp, định hướng nghề nghiệp là vấn đề được nhiều tác giả như Nguyễn Toàn [15], Nguyễn Thị Bạch Phượng [11], Liêu Thị Thùy Trang [8], Phan Thị Tố Oanh [24]… nghiên cứu. Các nghiên cứu này tập trung làm sáng tỏ thực trạng và định hướng công tác tư vấn cho học sinh tại các trung tâm kỹ thuật hướng nghiệp tại tp HCM, hướng chọn nghề của học sinh THPT, động cơ chọn nghề Sư phạm, sự thích ứng với nghề ... Trên cơ sở nghiên cứu định hướng nghề nghiệp, tác giả Phạm Đức Khiêm còn đề xuất biện pháp phân luồng học sinh vào các trường THCN tại tp HCM [17]. Thứ 2: Khảo sát thực trạng và đề xuất giải pháp hoạt động hướng nghiệp Nghiên cứu thực trạng và đề xuất giải pháp hoạt động hướng nghiệp được các tác giả như Phạm Hồng Thắng [18], Nguyễn Toàn [14], Lý Ngọc Sáng [9], Phạm Thị Liên [22] ... nghiên cứu. Trên cơ sở phân tích thực trạng và nhu cầu công tác tư vấn hướng nghiệp cho học sinh phổ thông tại TPHCM, tác giả Nguyễn Toàn và các cộng tác viên đã tiến hành khảo sát một số nghề phổ biến tại thành phố và thực nghiệm tư vấn nghề tại hai trung tâm: Trung tâm tư vấn tâm lý giáo dục TPHCM và Trung tâm Hướng nghiệp Thủ Đức. Các tác giả đã xây dựng một bộ công cụ trắc nghiệm và chương trình máy tính phục vụ công tác tư vấn hướng nghiệp. Cùng hướng với nghiên cứu này, tác giả Lý Ngọc Sáng cũng đề xuất giải pháp tăng cường công tác tư vấn giáo dục truyền thông về hướng nghiệp, triển khai ứng dụng và hoàn thiện một số trắc nghiệm nghề cho học sinh phổ thông theo yêu cầu thị trường lao động thành phố Hồ Chí Minh một bộ công cụ trắc nghiệm phục vụ công tác hướng nghiệp. Bộ công cụ này đã được áp dụng thí điểm thành công tại một số trường học thuộc TPHCM. Thứ 3: Nghiên cứu xây dựng bộ công cụ trắc nghiệm phục vụ công tác hướng nghiệp Nhiều nhà nghiên cứu đi sâu vào việc xây dựng công cụ phục vụ công tác 10 hướng nghiệp như Võ Hưng [31], Hồ Thiệu Hùng [5], Lê Thị Thanh Mai [5]... Trên cơ sở nghiên cứu hiệu chỉnh bộ công cụ trắc nghiệm hướng nghiệp, thiết kế website và viết chương trình máy tính để phục vụ công tác hướng nghiệp, Võ Hưng đã đề xuất giải pháp tăng cường công tác tư vấn giáo dục truyền thông về hướng nghiệp, triển khai ứng dụng và hoàn thiện một số trắc nghiệm nghề nghiệp cho học sinh phổ thông theo yêu cầu thị trường lao động ở Thành phố Hồ Chí Minh. Cùng hướng nghiên cứu này, Hồ Thiệu Hùng, Lê Thị Thanh Mai đã tập hợp, xây dựng cơ sở dữ liệu về các trường đại học, ngành đào tạo, mục tiêu đào tạo, kỹ năng nghề, điểm chuẩn tuyển sinh... Từ đó, các tác giả bước đầu xây dựng website giúp học sinh tự khám phá sở thích nghề nghiệp, khả năng học tập và định hướng việc chọn trường thi phù hợp với sở thích nghề nghiệp và kết quả học tập; từ đó “tự phân luồng” vào các ngành và trường một cách tự giác, có cơ sở khoa học hơn, nâng cao xác suất lựa chọn nghề phù hợp với bản thân và xã hội, nâng cao xác suất trúng tuyển vào đại học và cơ hội phát huy ngành nghề được đào tạo trong thời kỳ CNH-HĐH.

…….vvv………..

2. CÁC KHÁI NIỆM CƠ BẢN

2.1. Định hướng nghề nghiệp Định hướng nghề nghiệp là thông tin cho học sinh biết về đặc điểm hoạt động và yêu cầu phát triển của các nghề trong xã hội, đặc biệt là các nghề và các nơi đang cần nhiều lao động trẻ tuổi có văn hóa, về những yêu cầu tâm sinh lý của mỗi nghề, về tình hình phân công và yêu cầu điểu chỉnh lao động ở cộng đồng dân cư, về hệ thống trường lớp đào tạo nghề của nhà nước, tập thể và tư nhân [21].

2.2. Tư vấn nghề nghiệp Tư vấn nghề nghiệp là hình thức tác động hướng nghiệp thông qua sự góp ý và lời khuyên của những nhà chuyên môn. Thông thường, là thành lập những ban tư vấn nghề nghiệp trong trường học hoặc trung tâm tư vấn nghề nghiệp ngoài nhà 12 trường. Tại đó, tiến hành theo dõi sự phát triển những đặc điểm tâm sinh lý của từng học sinh và đối chiếu những đặc điểm đó với yêu cầu của các nghề, rồi giới thiệu một số nghề phù hợp cho học sinh [21].

2.3. Hướng nghiệp PGS. TS Phạm Viết Vượng quan niệm “Hướng nghiệp là hoạt động định hướng nghề nghiệp của các nhà sư phạm cho học sinh nhằm giúp họ chọn một nghề phù hợp với hứng thú, năng lực của cá nhân và yêu cầu nhân lực xã hội” [23]. Hướng nghiệp là hệ thống các biện pháp giúp đỡ học sinh làm quen, tìm hiểu các nghề, cân nhắc, lựa chọn nghề nghiệp phù hợp với nguyện vọng, năng lực, sở trường của mỗi người với nhu cầu và điều kiện thực tế khách quan của xã hội [29]. Hướng nghiệp là hệ thống các biện pháp giúp cho con người lựa chọn và xác định nghề nghiệp của bản thân trong cuộc sống tương lai trên cơ sở kết hợp nguyện vọng, sở trường của cá nhân với nhu cầu xã hội. Có nhiệm vụ: 1) Nghiên cứu đặc điểm tâm sinh lí của thanh niên học sinh; 2) Làm cho thanh niên hiểu nội dung lao động của một số nghề, giúp họ chọn nghề. Là một bộ phận hữu cơ của quá trình giáo dục - đào tạo, hướng nghiệp được tiến hành không chỉ ở các trường học mà còn tại các cơ quan và cơ sở sản xuất, với thế hệ trẻ và cả người lớn tuổi không có nghề hoặc phải thay đổi nghề [45].

2.4. Nghề Nghề là một hình thức lao động sản xuất nào đó trong xã hội hay là một công việc theo sự phân công của xã hội mà thông qua việc hành nghề đó, con người kiếm tiền sinh sống nhằm duy trì phát triển bản thân góp phần xây dựng đất nước [45].

2.5. Phân loại nghề Muốn nhận thức một cách khoa học về các sự vật và hiện tượng, người ta thường dùng phương pháp phân loại. Ví dụ: phân loại động vật, thực vật, ôtô, máy bay, tên lửa, vệ tinh nhân tạo, các nền văn minh, các loại kiến trúc… Song, khi phân loại nghề nghiệp, các nhà khoa học vấp phải không ít khó khăn vì số lượng nghề và chuyên môn quá lớn, tính chất và nội dung các nghề quá phức tạp. Một trong những cách phân loại nghề hợp lý là xây dựng công thức nghề. Những nghề có cùng công thức được xếp vào một loại. Cách lập công thức nghề như sau [46]: 13 Người ta nhận thấy rằng nghề nào cũng có 4 dấu hiệu cơ bản là: - Đối tượng lao động - Mục đích lao động - Công cụ lao động - Điều kiện lao động

2.5.1. Căn cứ vào đối tượng lao động có 5 kiểu nghề sau:: - Nghề “Người tiếp xúc với thiên nhiên”: trồng trọt, chăn nuôi, bảo vệ rừng… - Nghề “Người tiếp xúc với kỹ thuật”: các loại thợ nề, thợ tiện, thợ nguội, lắp ráp máy truyền hình và máy tính, thợ sửa chữa công cụ… - Nghề “Người tiếp xúc với người”: nhân viên bán hàng, nhân viên phục vụ khách sạn, thầy thuốc, thầy giáo, thẩm phán… - Nghề “Người tiếp xúc với các dấu hiệu”: thư ký đánh máy, chế bản vi tính, ghi tốc ký, sắp chữ in, lập trình máy tính… - Nghề “Người tiếp xúc với nghệ thuật”: họa sĩ, nhà soạn nhạc, thợ trang trí…

2.5.2. Căn cứ vào mục đích lao động có 3 dạng nghề sau: - Nghề có mục đích nhận thức đối tượng: thanh tra chuyên môn, điều tra vụ án, kiểm tra kho hàng, kiểm kê tài sản… - Nghề có mục đích biến đổi đối tượng: dạy học, chữa bệnh, sản xuất công nghiệp, nông nghiệp, thủ công nghiệp… - Nghề có mục đích tìm tòi, phát hiện, khám phá những cái mới: nghiên cứu khoa học, sáng tác văn học nghệ thuật, tạo giống mới, thiết kế thời trang…

2.5.3. Căn cứ vào công cụ lao động có 4 loại nghề sau:: - Nghề với những hình thức lao động chân tay: khuân vác, khơi thông cống rãnh, lắp đặt ống nước, quét rác… - Nghề với những công việc bên máy: tiện, phay, xây dựng, lái xe… - Nghề làm việc bên máy tự động: làm việc ở bàn điều khiển, các loại máy thêu, máy dệt, máy in hoa trên vải, tiện hoặc phay các chi tiết theo chương trình máy tính… 14 - Nghề lao động bằng những công cụ đặc biệt như ngôn ngữ, cử chỉ: dạy học, làm thơ, múa hát, nghiên cứu lý luận… - Điều kiện lao động ở đây được hiểu là những đặc điểm của môi trường làm việc.

2.5.4. Căn cứ vào điều kiện lao động có 4 nhóm nghề sau: - Nghề cần phải tính đến môi trường đạo đức, chính trị là chủ yếu: xử án, chữa bệnh, dạy học, quản giáo tội phạm… - Nghề được tiến hành trong không gian sinh hoạt bình thường: kế toán, đánh máy, trực điện thoại, lưu trữ tài liệu, thợ may… - Nghề làm trong khoảng không gian khoáng đạt, gần gũi với thiên nhiên: chăn gia súc, súc vật trên đồng cỏ, trồng rừng, bảo vệ rừng, trồng hoa… - Nghề được tiến hành trong điều kiện đặc biệt: du hành vũ trụ, thám hiểm đáy biển, lái máy bay thí nghiệm, xây dựng dưới nước…

2.6. Cách lập công thức nghề Tổ hợp các dấu hiệu Kiểu, Dạng, Loại, Nhóm của một nghề cho ta công thức của nghề đó [46]. Ví dụ: - Công thức của nghề dạy học là: “Người tiếp xúc với người” + Nghề có mục đích biến đổi đối tượng + Nghề lao động bằng những công cụ đặc biệt như ngôn ngữ, cử chỉ + Nghề cần phải tính đến môi trường đạo đức, chính trị là chủ yếu - Công thức của nghề lái xe là: “Người tiếp xúc với kỹ thuật” + Nghề có mục đích biến đổi đối tượng + Nghề với những công việc bên máy + Nghề làm trong khoảng không gian khoáng đạt, gần gũi với thiên nhiên Hiện nay, việc phân loại nghề theo công thức nghề là một bước tiến mới trong quá trình nhận thức thế giới nghề nghiệp. Vì vậy, một số nghề có chung nhau công thức. Nếu không chọn được một nghề nào đó, ta có thể chọn cho mình một nghề khác có cùng công thức. Cũng có những nghề khác nhau nhiều hoặc ít về công thức nghề. Một người sẽ rất khó chuyển từ nghề này sang nghề khác mà giữa hai nghề ấy có sự khác biệt quá lớn trong công thức nghề. 15

 

3. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ GIÁO DỤC HƯỚNG NGHIỆP

3.1. Cơ sở khoa học của giáo dục hướng nghiệp.

3.1.1. Cơ sở tâm lí Hướng nghiệp có ảnh hưởng lớn tới tương lai không chỉ của mỗi học sinh mà còn tác động đến nguồn nhân lực của đất nước. Một trong những nhiệm vụ cơ bản của hướng nghiệp đó chính là việc xác định sự phù hợp nghề của từng con người cụ thể trong tương lai. Do đó, tìm hiểu mối tương quan giữa những đặc điểm nhân cách với hệ thống những yêu cầu mà ngành nghề đó đòi hỏi là rất quan trọng. Sự phù hợp nghề của một con người bao giờ cũng bộc lộ ở hai phương diện đó là năng lực và phẩm chất trong lao động nghề nghiệp theo yêu cầu của nghề đó đặt ra. Năng lực và phẩm chất lao động luôn thống nhất và chuyển hóa cho nhau, vì thế trong mỗi con người nếu như thiếu một trong hai thành phần trên thì không thể coi người đó phù hợp với nghề. Ở góc độ hướng nghiệp, các nhà tâm lý cho rằng nhân cách bao gồm 04 cấu trúc sau [30]: - Xu hướng nghề nghiệp gồm hứng thú nghề nghiệp, lý tưởng nghề nghiệp, khuynh hướng nghề nghiệp… Xu hướng nghề nghiệp đóng vai trò là động cơ chọn nghề, vì thế trong hướng nghiệp cần phải coi trọng giáo dục xu hướng nghề nghiệp cho học sinh. - Kinh nghiệm nghề nghiệp: là những tri thức về quá trình công nghệ, về tổ chức lao động khoa học, quản lý công nghệ, những kỹ năng, kỹ xảo nghề nghiệp, thói quen lao động cần thiết. - Những đặc điểm của các quá trình tâm lý là những đặc điểm của các quá trình cảm giác, tri giác, tư duy, tưởng tượng, trí nhớ… giúp thuận lợi cho việc thực hiện nghề nghiệp. - Đặc điểm về khí chất, giới tính, lứa tuổi và bệnh lý là những đặc điểm chịu ức chế sinh vật, nó đóng vai trò quan trọng. Do đó, khi hướng dẫn chọn nghề cần phải chú ý đến đặc điểm tuổi tác, giới tính, sức khỏe của học sinh để có những hướng dẫn phù hợp. 16 Trong bất kỳ hiện tượng tâm lý nào, dù là quá trình hay phẩm chất tâm lý, con người thường có những đặc điểm giống nhau và khác nhau. Sự khác biệt tâm lý trong các hiện tượng tâm lý của con người được gọi là sự khác biệt cá nhân. Điều này dẫn đến kết quả là có những người có năng lực về hoạt động nghệ thuật, có người có năng lực về hoạt động xã hội, có người lại có năng lực quản lý và ra quyết định… Công tác hướng nghiệp cho học sinh phổ thông không phải chỉ dựa vào sự phù hợp ngẫu nhiên, mà điều quan trọng hơn là tạo ra sự phù hợp nghề. Nói khác đi, công tác hướng nghiệp phải giành lấy quyền chủ động trong việc điều chỉnh sự chọn nghề của học sinh trên cơ sở giáo dục và dạy học, mở ra khả năng sử dụng hợp lí nguồn lao động của đất nước.

3.1.2. Cơ sở điều khiển học Theo quan điểm của điều khiển học, bản chất của công tác hướng nghiệp là một hệ thống điều khiển các động cơ chọn nghề của học sinh bao gồm: - Chủ thể điều khiển là nhà trường, gia đình, các trung tâm Kĩ thuật và hướng nghiệp, cơ quan nhà nước, các tổ chức xã hội, các nhóm không chính thức của học sinh. - Các phương tiện và phương pháp điều khiển là công tác hướng nghiệp trong nhà trường, sự giáo dục định hướng trong gia đình, thông tin nghề nghiệp của các cơ quan chuyên môn, các phương tiện thông tin đại chúng, dư luận nhóm và dư luận xã hội, hoạt động tư vấn nghề nghiệp của các trung tâm tư vấn nghề nghiệp. - Đối tượng điều khiển là động cơ và định hướng nghề nghiệp tương lai của học sinh. Kết quả của hệ thống là tâm lý sẵn sàng tham gia lao động nghề nghiệp của học sinh, các em chọn ngành nghề phù hợp với bản thân và đáp ứng được yêu cầu của xã hội. Ngoài ra, hướng nghiệp cho học sinh THPT cần chú ý đến thế giới nghề nghiệp và thế giới con người: - Thế giới nghề nghiệp: Khi đang ngồi trên ghế nhà trường phổ thông, các em học sinh nhìn vào xã hội rộng lớn, nhìn ngắm cuộc sống và mơ ước về tương 17 lai cho mình, tuy nhiên nghề nghiệp trong xã hội lại có rất nhiều, là một thế giới bao la và có nhiều bí ẩn. Thế giới nghề nghiệp luôn luôn biến đổi tùy thuộc vào nhu cầu lao động của thị trường lao động trong từng giai đoạn phát triển kinh tế xã hội cũng như tiến bộ kỹ thuật công nghệ được áp dụng ở mỗi quốc gia. - Thế giới con người: Thế giới con người rất đa dạng, có sự khác biệt đáng kể giữa mỗi con người trên các mặt tâm sinh lý, sở thích nguyện vọng, sở trường và hoàn cảnh sống… Tuy nhiên, nhà tâm lý học Pavlop đã căn cứ vào khí chất mà chia thế giới con người thành 04 loại khí chất khác nhau [10]: o Loại Flex: có ưu điểm là chín chắn, điềm đạm, kín đáo, cẩn thận, nhưng có ngược điểm là chậm chạp, trầm lắng, ít cởi mở, kém nhạy bén và kém năng động. o Loại Xăng-ganh: có những ưu điểm là nhanh nhẹn, hoạt bát, sôi nổi, nhiệt tình, hiếu động. Tuy nhiên, có nhược điểm là thiếu chín chắn, bồng bột và thiếu sâu sắc… o Loại Cô-lê: có những ưu điểm là kiên quyết, thẳng thắn. Mặt khác, lại có các nhược điểm như thiếu chín chắn, hay bốc đồng và nóng nảy, cáu gắt… o Loại Mê-lan-cô-li: có đặc điểm là giàu tưởng tượng, hòa nhã, kín đáo, nhưng hay trầm tư, ủy mị, bay bổng, xa thực tế… Trong thực tế, có những người không hoàn toàn giống một loại nào kể trên mà có thể nằm trung gian giữa các loại khí chất khác nhau. Do vậy, sự phân loại trên đây cũng chỉ là tương đối. Tuy nhiên, sự phân loại này rất quan trọng cho công tác hướng nghiệp. Thế giới con người rất đa dạng, có sự khác biệt đáng kể giữa mỗi con người trên các mặt tâm sinh lý, sở thích nguyện vọng, sở trường và hoàn cảnh sống. Việc tự đánh giá xếp loại tâm lý của bản thân vào hướng nội hay hướng ngoại với những đặc điểm cơ bản của nó, tính khí thuộc nhóm khí chất nào trong bốn nhóm cơ bản với những nghề nào có yêu cầu phù hợp với nhóm tính khí cá nhân là hoạt động quan trọng trong việc chọn nghề nghiệp phù hợp. 18 Một cơ sở quan trọng khác mà công tác hướng nghiệp cần chú ý đến đó là nhu cầu phát triển nhân lực, kinh tế xã hội của đất nước. Trong khi làm công tác hướng nghiệp GV cần tìm hiểu mục tiêu chung của đất nước, của địa phương, đặc biệt là chú ý đến nhu cầu lao động và nghề nghiệp, nhu cầu của mỗi cá nhân... để từ đó hướng HS lựa chọn ngành nghề phù hợp với bản thân, phù hợp với nhu cầu của địa phương, của đất nước. Hướng nghiệp cần phải xác định sự phù hợp nghề, người chọn ngành nghề cần phải xác định được sở thích, năng lực cá nhân và cả nhu cầu của xã hội để tìm sự phù hợp nghề. Nói cách khác phải tổng hợp cả ba yếu tố, con ngýời, nghề và kinh tế xã hội, tức là tìm ra sự phù hợp giữa đặc điểm bản thân với những đòi hỏi của nghề và nhu cầu phát triển kinh tế xã hội của địa phương và của đất nước. Tóm lại, để thực hiện tốt công tác hướng nghiệp, người thực hiện hướng nghiệp và học sinh tham gia hướng nghiệp phải dựa trên những cơ sở khoa học của hoạt động hướng nghiệp như cơ sở tâm lý, tìm hiểu thế giới nghề nghiệp, tìm hiểu và đánh giá bản thân, nhu cầu phát triển kinh tế xã hội và nhân lực của đất nước, xác định sự phù hợp nghề…

3.2. Mục đích và nhiệm vụ của công tác hướng nghiệp ở trường THPT

3.2.1. Mục đích của công tác hướng nghiệp ở trường THPT Công tác hướng nghiệp ở trường THPT có các mục đích sau [40]: - Giúp học sinh đạt được kiến thức về chức năng, nhiệm vụ, trách nhiệm và các kết quả về nghề nghiệp. - Giúp học sinh khám phá ra khả năng và kỹ năng của chính mình có phù hợp với yêu cầu chung của nghề nghiệp đang được xã hội quan tâm. - Giúp học sinh đánh giá khả năng và sự hứng thú nghề nghiệp theo giá trị lớn nhất - Giúp học sinh phát triển thái độ hướng tới công việc và nỗ lực với công việc bất kể nghề nghiệp nào theo sự mong muốn của học sinh. - Giúp học sinh thấy được mối liên quan các loại nghề nghiệp khác nhau và kỹ thuật phân tích thông tin về nghề nghiệp. 19 - Tạo cơ hội cho việc học và khám phá nghề nghiệp, làm cho người học có thể nhận được cảm giác về nhiều loại hoạt động. - Giúp học sinh đạt được niềm tin vào giáo viên để nâng đỡ học sinh khi gợi ý về các vấn đề nghề nghiệp. - Giúp học sinh củng cố thông tin cần thiết được đưa bởi các trường giáo dục khác nhau trong huấn luyện nghề. - Cung cấp thông tin liên quan cho người học như yêu cầu nhập học, khoảng thời gian huấn luyện, chi phí tham gia học, học sinh mong ước để chuẩn bị vào nghề. - Báo cho học sinh biết về thời gian huấn luyện cần thiết để thành thạo với sự nỗ lực và thực hiện công việc một cách cẩn thận và thành thạo. - Giúp học sinh bị tật nguyền về tinh thần, cơ thể hay về kinh tế để điều chỉnh tốt nhất cho cuộc sống, lợi ích cho cá nhân và xã hội. - Giúp đỡ người học nhận ra rằng thành công được trả giá bằng sự nỗ lực và sự thỏa mãn công việc đó được rút ra từ việc thực hiện công việc của bản thân. - Nhằm cung cấp đến học sinh những thông tin về thế giới nghề nghiệp và các việc làm ở địa phương, trong nước, tìm hiểu những nghề mà học sinh quan tâm, tìm hiểu những cơ hội mà có thể tiếp tục học tập, thăng tiến. Qua việc học nghề phổ thông, học sinh có thêm hiểu biết về nghề nghiệp và việc làm. Đây là cơ sở cho việc chọn nghề sau này. - Lập các sổ hướng nghiệp giúp học sinh hiểu về khả năng và điều kiện của bản thân như đặc điểm cá nhân (thể chất, trí tuệ, tình cảm, tính cách), năng lực của bản thân với yêu cầu của nghề. - Định hướng nghề nghiệp giúp cho học sinh có hướng giải quyết vấn đề và đối mặt với những giấc mơ không thể thực thi.

3.2.2. Nhiệm vụ công tác hướng nghiệp ở trường THPT

Công tác hướng nghiệp ở trường THPT có các nhiệm vụ sau [32]: 20 - Giúp học sinh làm quen với những nghề cơ bản trong xã hội: Đó là những nghề có vị trí then chốt trong nền kinh tế quốc dân, những nghề cần thiết phải phát triển ở ngay địa phương mình. Nhiệm vụ này được thể hiện trong suốt những năm còn ngồi trên ghế nhà trường, HS có điều kiện tìm hiểu nghề trong xã hội đặc biệt là nghề của địa phương, hình thành ở học sinh biểu tượng đúng đắn về những nghề cần phát triển. - Hướng dẫn phát triển hứng thú nghề nghiệp: Trong quá trình tìm hiểu nghề, học sinh sẽ xuất hiện và phát triển hứng thú nghề nghiệp theo các hướng khác nhau. - Giúp học sinh hình thành năng lực nghề nghiệp tương ứng: Trong quá trình hướng nghiệp, GV phải tạo điều kiện sao cho học sinh hình thành năng lực tương ứng với hứng thú nghề nghiệp đã có. - Nhiệm vụ cuối cùng của hướng nghiệp là giáo dục cho học sinh thái độ lao động, ý thức tôn trọng người lao động thuộc các ngành nghề khác nhau, ý thức tiết kiệm và bảo vệ của công, giáo dục đạo đức và lương tâm nghề nghiệp, là nhiệm vụ chủ yếu đối với thế hệ trẻ. Tóm lại, hướng nghiệp có nhiệm vụ cơ bản là hướng dẫn và chuẩn bị cho thế hệ trẻ sẵn sàng đi vào các ngành nghề mà đất nước hay ở từng địa phương đang cần. Quá trình giáo dục hướng nghiệp phải làm cho học sinh có những hiểu biết cần thiết về thị trường lao động, biết cách lựa chọn nghề nghiệp có cơ sở khoa học, có thái độ đúng đắn, yêu quý nghề, và điều quan trọng là học sinh có được tình cảm, thói quen lao động để tiến tới có thể biết làm một số nghề truyền thống, nghề thông dụng đang cần duy trì và phát triển ở địa phương.

3.3. Hình thức và nội dung của hoạt động giáo dục hướng nghiệp Khi phân tích nhiệm vụ, nội dung và các hình thức của công tác hướng nghiệp, K.K. Platonov đã đưa ra sơ đồ “Tam giác hướng nghiệp”. Theo K.K Platonov, hoạt động giáo dục HN phải thông qua 3 hình thức cơ bản: Định hướng nghề, tư vấn nghề và tuyển chọn nghề [35]. 21

3.3.1. Hình thức của hoạt động giáo dục hướng nghiệp

3.3.1.1. Định hướng nghề nghiệp Định hướng nghề nghiệp là giúp con người tự xác lập nghề nghiệp và đi tới quyết định một cách có ý thức trong việc lựa chọn con đường nghề nghiệp phù hợp với những đặc điểm tâm lý và khả năng của con người cùng với yêu cầu của xã hội [21]. Là thông tin về sự phát triển của các nghề trong xã hội, đặc biệt là những nghề đang có nhu cầu nhân lực cấp thiết, về những yêu cầu tâm sinh lý của nghề đang đặt ra, về tình hình phân công lao động trong xã hội, về hệ thống trường dạy nghề. Đối tượng chủ yếu của định hướng nghề là học sinh, nhưng đôi khi còn nhằm cung cấp những thông tin trên cho cha mẹ học sinh để có thể phối hợp hướng nghiệp cho các em một cách thống nhất.

3.3.1.2. Tư vấn nghề nghiệp Tư vấn nghề nghiệp là đưa ra những lời khuyên cho con người dựa trên cơ sở xem xét mối quan hệ giữa đặc điểm của hoạt động nghề phù hợp với những đặc điểm tâm sinh lý, thể chất, dựa trên cơ sở các kết quả chẩn đoán tâm lý, tâm sinh lý và y tế. Hay nói cách khác tư vấn nghề nghiệp là hình thức tác động hướng nghiệp thông qua sự góp ý và lời khuyên của những nhà chuyên môn. Thông thường, là thành lập những ban tư vấn nghề nghiệp trong trường học hoặc trung tâm tư vấn nghề nghiệp ngoài nhà trường. Tại đó, tiến hành theo dõi sự phát triển Đặc điểm, yêu cầu của hệ thống nghề nghiệp xã hội đang cần phát triển Tư vấn nghề Định hướng nghề Thị trường lao động Hứng thú, năng lực, hoàn cảnh cá nhân Tuyển chọn nghề Hình 1: Tam giác hướng nghiệp của K.K. Platonov 22 những đặc điểm tâm lý, sinh lý của từng học sinh và đối chiếu với những đặc điểm đó với yêu cầu của các nghề, rồi giới thiệu một số nghề phù hợp cho học sinh.

3.3.1.3. Tuyển chọn nghề nghiệp Tuyển chọn nghề nghiệp là xác định mức độ phù hợp với những đòi hỏi, tiêu chuẩn cụ thể của nghề. Công tác này không thuộc chức năng của nhà trường nhưng lại có liên quan mật thiết với công việc định hướng cũng như tư vấn nghề nghiệp. Thực chất của tuyển chọn nghề nghiệp là căn cứ vào nhu cầu nhân lực của một nghề cụ thể mà đi tìm những người có đặc điểm nhân cách phù hợp. Trong trường phổ thông, mọi việc thuộc lĩnh vực tư vấn và định hướng nghề nghiệp phải tạo ra những điều kiện thuận lợi cho việc tuyển chọn nghề nghiệp sau này. Để cung cấp cho học sinh những tri thức cần thiết về các nghề nghiệp, trong tâm lý học nghề nghiệp có một chuyên ngành mô tả đặc điểm, yêu cầu của nghề nghiệp khác nhau gọi là ngành họa đồ nghề nghiệp. Ngành này sẽ đưa ra những họa đồ nghề nghiệp cụ thể cho từng nghề. Một bản họa đồ nghề nghiệp cần phải bao gồm tất cả các tri thức về nghề nghiệp:

1. Đặc điểm chung của nghề.

2. Sự mô tả quá trình của công việc.

3. Những tri thức về sự chuẩn bị phải có.

4. Những đặc điểm sinh lý và vệ sinh.

5. Những điều cần tránh về mặt sinh học.

6. Đặc điểm kinh tế của nghề.

7. Những triển vọng, phát triển của nó.

8. Những đặc điểm tâm lý của nghề.

Trên cơ sở các hình thức hướng nghiệp đã đề cập ở trên, hoạt động hướng nghiệp cho học sinh THPT có các hình thức điển hình sau:

1. Hướng nghiệp qua việc dạy - học các môn văn hóa.

2. Tổ chức các giờ học hướng nghiệp.

3. Hướng nghiệp qua dạy - học các môn kỹ thuật, dạy nghề phổ thông. 23

4. Cho HS tham quan các làng nghề, các cơ sở sản xuất và tham gia vào lao động sản xuất.

5. Tham quan các trường Đại học, cao đẳng, trung cấp nghề...

6. Tham gia ngày hội hướng nghiệp do báo đài hoặc do các doanh nghiệp tổ chức. 7. Tổ chức các buổi giao lưu với chuyên gia để tìm hiểu, trao đổi về nghề nghiệp.

8. Mở phòng tư vấn hướng nghiệp tại trường để tư vấn hướng nghiệp cho HS.

9. Tổ chức cho học sinh đến các trung tâm tư vấn hướng nghiệp để tìm hiểu về nghề nghiệp.

10.Tổ chức các cuộc thi tìm hiểu về nghề.

11.Hướng nghiệp qua các phương tiện thông tin đại chúng, gia đình và các tổ chức xã hội.

3.3.2. Nội dung của hoạt động giáo dục hướng nghiệp Theo K.K. Platonov, hoạt động giáo dục hướng nghiệp phải nhằm làm cho học sinh thấy rõ được 3 mặt sau: - Xác định năng lực bản thân HS. - Xác định sở thích nghề nghiệp của HS. - Tìm hiểu nhu cầu xã hội đối với nghề. Hình 2: Vùng chọn nghề tối ưu Vùng chọn nghề tối ưu 24

3.3.2.1. Xác định năng lực bản thân Năng lực là điều kiện cần thiết nhưng chưa đủ để theo đuổi một ngành - nghề. Bởi vì mỗi ngành - nghề sẽ đòi hỏi những yêu cầu năng lực khác nhau. Để xác định được năng lực của một người không thể dựa vào cảm tính chủ quan mà cần phải dựa vào phương pháp khoa học trắc nghiệm tâm lý khách quan để có kết quả tương đối chính xác. Nhà tâm lý học người Mỹ J.L. Holland đã xây dựng mô hình RIASEC chia ra 6 năng lực nghề nghiệp như sau [37]:

1. Nhóm thực tế (Realistic): Người thích làm việc ngoài trời, thích sử dụng các thiết bị, máy móc, công cụ… để làm việc. Ngành - nghề phù hợp: các ngành công nghiệp, kỹ thuật, nông - ngư - nghiệp, môi trường, giao thông vận tải,…

2. Nhóm nghiên cứu (Investigative): Người có khả năng vận dụng trí tuệ, óc quan sát, óc phân tích, đánh giá để tìm giải pháp giải quyết các vấn đề. Ngành - nghề phù hợp: nghiên cứu khoa học, dạy học, thiết kế…

3. Nhóm nghệ thuật (Artistic): Người có khả năng vận dụng tình cảm, trực giác và óc tưởng tượng phong phú nhằm sáng tạo các tác phẩm nghệ thuật bằng phong cách đầy ngẫu hứng. Ngành - nghề phù hợp: sáng tác văn học, nghệ thuật, thời trang…

4. Nhóm xã hội (Social): Người có khả năng sử dụng tốt ngôn ngữ, họ thích làm những việc cần vận dụng các mối quan hệ của những con người. Ngành - nghề phù hợp: giáo dục, tư vấn, công tác xã hội…

5. Nhóm mạo hiểm (Enterprise): Người thích hợp với công việc đòi hỏi năng lượng và nhiệt tình cao, họ có khả năng thuyết phục và quản lý. Ngành - nghề phù hợp: kinh doanh, ngoại giao, chính trị…

6. Nhóm qui tắc (Conventional): Người thích hợp với những công việc truyền thống, ổn định. Ngành - nghề phù hợp: hành chính, quản trị, văn phòng. Dựa vào năng lực nghề nghiệp và HS làm trắc nghiệm tâm lý khách quan từ đó HS sẽ có kết luận tương đối chính xác về năng lực của bản thân phù hợp với nhóm ngành nghề nào. 25

3.3.2.2. Xác định sở thích nghề nghiệp Sở thích là điều kiện quan trọng để thành công trong công việc. Tuy nhiên sở thích là yếu tố tâm lý chủ quan, dễ thay đổi, nên khi chọn nghề phải xác định chính xác sở thích của mình và phối hợp chặt chẽ với năng lực để không bị chọn lầm nghề.

3.3.2.3. Tìm hiểu nhu cầu xã hội Đây là yếu tố rất quan trọng giúp một người thành công khi hành nghề. Khi chọn nghề, cần phải cân nhắc xem nghề đang định học có nhu cầu bền vững hay nhất thời, tình hình nhân lực của nghề đó hiện nay và thời gian tới ... Như vậy, trong hoạt động giáo dục hướng nghiệp GV phải làm cho HS thấy rõ được năng lực bản thân của từng HS, xác định chính xác sở thích và tư vấn cho HS về nhu cầu xã hội đối với ngành nghề đó trong tương lai. Trên cơ sở đó HS sẽ lựa chọn ngành nghề phù hợp với bản thân mà không bị chọn làm nghề.

3.4. Các giai đoạn hướng nghiệp Theo quan điểm khoa học, hướng nghiệp là một quá trình gồm nhiều giai đoạn kế tiếp nhau. Tác giả Trần Khánh Đức đã trình bày quá trình hướng nghiệp theo các giai đoạn sau [27]: - Giai đoạn hướng nghiệp ban đầu - bậc tiểu học: Ở giai đoạn này HS sau khi tốt nghiệp bậc tiểu học vẫn chưa có khả năng tham gia vào lao động sản xuất do đó các em bắt buộc học tiếp lên trung học cơ sở. Hiện nay, hướng nghiệp trong giai đoạn này chưa được chú trọng. - Giai đoạn I (từ lớp 8 đến lớp 9): Sau khi tốt nghiệp THCS, ngoài một số bộ phận học sinh trực tiếp tham gia lao động sản xuất ngoài xã hội và trong gia đình thì một bộ phận khác sẽ tiếp tục theo học các loại hình đào tạo chuyên nghiệp (trường dạy nghề, trường THCN) hoặc ở các phân ban của trường trung học phổ thông. Nói cách khác, trên thực tế sau THCS, tất cả học sinh đã thực sự bước vào tham gia các loại hình lao động nghề nghiệp hoặc các loại hình đào tạo nghề ở các mức độ khác nhau. Nhiệm vụ chọn nghề của học sinh sau khi tốt nghiệp THCS về cơ bản đã phải giải quyết để bước vào các loại hình lao động hoặc đào tạo nghề nghiệp. Vì vậy, nội dung chương trình sinh hoạt hướng nghiệp trong 26 giai đoạn này rất quan trọng và cần được xây dựng theo hướng cơ bản và toàn diện, bảo đảm cho học sinh có đầy đủ những tri thức và năng lực lựa chọn nghề nghiệp tương lai theo nhiều hướng khác nhau. Có thể gọi giai đoạn này là giai đoạn hướng nghiệp cơ bản. - Giai đoạn II (từ lớp 10 đến lớp 12): Trên cơ sở kế thừa nội dung sinh hoạt hướng nghiệp ở giai đoạn 2, HS cần được nâng cao kiến thức nghề nghiệp và phân hóa theo các phân ban ở trường trung học phổ thông. Nội dung thông tin nghề nghiệp cần được nâng cao và thu hẹp theo hướng vào các nghề học sinh đang được đào tạo hoặc nhóm các ngành nghề phù hợp với đặc trưng đào tạo ở các phân ban. Các hoạt động tư vấn nghề nghiệp cần được tiến hành phù hợp với trình độ học sinh, đặc điểm lứa tuổi và nhu cầu đào tạo, sử dụng lao động nghề nghiệp trong xã hội. Giai đoạn này có thể được gọi là giai đoạn hướng nghiệp chuyên ban. TRUNG HỌC CƠ SỞ BẬC TIỂU HỌC 6 11 11 15 15 18 12 10 9 6 5 1 Tuổi Lớp Ban A Ban B ĐẠI HỌC – CAO ĐẲNG Ban C Ban D Ban E Giai đoạn hướng nghiệp ban đầu Giai đoạn hướng nghiệp cơ bản Giai đoạn hướng nghiệp chuyên ban Cuộc sống lao động Hình 3: Sơ đồ các giai đoạn hướng nghiệp [27] 27 Ban Phân hóa nội dung hướng nghiệp chuyên ban A. Toán lý Định hướng theo các ngành nghề khoa học toán lý: điện tử, tin học, các ngành kỹ thuật, xây dựng, cơ khí, điện. B. Hóa sinh Định hướng theo các ngành khoa học thực nghiệm, công nghệ hóa học, công nghệ sinh học, nông nghiệp, lâm nghiệp, chế biến lương thực… C. Nhân văn Định hướng theo các lĩnh vực khoa học xã hội, dịch vụ, quản lý, y tế, văn hóa, giáo dục D. Ngoại ngữ Định hướng theo các ngành nghề phiên dịch, giáo viên du lịch, văn thư lưu trữ, thư ký, ngoại giao, ngoại thương, thương nghiệp, dịch vụ E. Kỹ thuật - Côngnghiệp - Nôngnghiệp - Dịch vụ Tùy thuộc vào các phân ban nội dung hướng nghiệp được định hướng sâu vào các ngành nghề tương ứng với nội dung phân ban: công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ. Bảng 1: Định hướng nội dung hướng nghiệp chuyên ban

3.5. Nội dung chương trình hoạt động giáo dục hướng nghiệp ở trường THPT

3.5.1. Nội dung chương trình hoạt động giáo dục hướng nghiệp cho học sinh THPT Từ năm 1982, Bộ Giáo dục đã ban hành chương trình hướng nghiệp đối với các lớp cuối cấp THCS và các trường THPT, năm học 2003- 2004, các trường THPT bắt đầu thực hiện chương trình thí điểm THPT về hoạt động giáo dục hướng nghiệp đối với các lớp 10-11-12. Trong chương trình (thí điểm) THPT, hoạt động giáo dục hướng nghiệp được học ở 3 lớp gồm 10, 11, 12. Mục tiêu chung của chương trình là phát hiện và bồi dưỡng phẩm chất nhân cách nghề nghiệp cho học sinh, giúp các em hiểu mình, hiểu yêu cầu của nghề. Thông qua hoạt động giáo dục hướng nghiệp, giáo viên giúp học sinh điều chỉnh động cơ chọn nghề, trên cơ sở đó các em định hướng đi vào lĩnh vực sản xuất mà xã hội đang có nhu cầu nhân lực.

3.5.1.1. Phân bố chương trình và nội dung hoạt động giáo dục hướng nghiệp lớp 10 Chương trình hoạt động giáo dục hướng nghiệp lớp 10 gồm 27 tiết học với 9 bài. Mỗi bài được tiến hành trong 3 tiết liền nhau (trong 1 buổi). Do vậy, toàn bộ chương trình được dạy trong 9 buổi và rải đều ở 9 tháng học. 9 bài học về hoạt động giáo dục hướng nghiệp 10 gồm 3 nội dung chính: 28 - Những vấn đề chung mà học sinh phải nắm chắc để làm cơ sở cho việc chọn nghề sau này (bài số 1, 2, 4, 9). - Những hiểu biết cần thiết về một số lĩnh vực lao động nghề nghiệp cụ thể (bài số 3, 5, 6, 8). - Tiếp xúc trực tiếp với con người và hoạt động lao động nghề nghiệp của họ để có ấn tượng rõ nét hơn về nghề nghiệp tương lai, đồng thời có thái độ tôn trọng, yêu quý lao động sản xuất (bài số 7). Bài Tên bài Số tiết 1 Em thích nghề gì 3 2 Năng lực bản thân và truyền thống gia đình 3 3 Nghề dạy học 3 4 Vấn đề giới trong chọn nghề 3 5 Tìm hiểu một số nghề thuộc lĩnh vực nông, lâm, ngư nghiệp 3 6 Tìm hiểu một số nghề trong lĩnh vực y và dược 3 7 Tham quan một số cơ sở sản xuất CN hoặc nông nghiệp 3 8 Tìm hiểu một số nghề thuộc ngành xây dựng 3 9 Nghề tương lai của tôi 3 Bảng 2: Nội dung hoạt động giáo dục hướng nghiệp lớp 10 [16] 3.5.1.2. Phân bố chương trình và nội dung hoạt động giáo dục hướng nghiệp lớp 11 Chương trình "Hoạt động giáo dục hướng nghiệp lớp 11" có 27 tiết học, phân bố thành 8 bài học. Từ bài 1 đến bài 7, mỗi bài được thực hiện trong 3 tiết (l buổi), riêng bài 8 được thực hiện trong 6 tiết học (2 buổi). Nội dung cụ thể của 8 bài học như sau: 4 bài đầu (từ bài 1 đến bài 4) đi vào những nhóm nghề khác nhau: - Một số nghề thuộc ngành Giao thông và Địa chất (bài l). - Một số nghề thuộc ngành Kinh doanh và Dịch vụ (bài 2). - Một số nghề thuộc ngành Năng lượng, Bưu chính viễn thông, Công nghệ thông tin (bài3). - Một số nghề thuộc lĩnh vực An ninh, Quốc phòng (bài 4). 4 bài sau (từ bài 5 đến bài 8) đi sâu tìm hiểu những điều kiện chọn nghề: - Giao lưu với những điển hình về sản xuất, kinh doanh giỏi, những gương vượt khó (bài 5). Thực chất của hoạt động giao lưu này là tìm hiểu điều kiện nào để người ta thành đạt trong nghề. 29 - Nghề nghiệp với nhu cầu của thị trường lao động (bài 6). Qua bài này, học sinh hiểu được những điều kiện phải có khi chọn nghề để đáp ứng nhu cầu lao động trong nước. - "Tôi muôn đạt ước mơ" (bài 7). Chủ đề này giúp học sinh hiểu rõ phải có những điều kiện nào thì ước mơ nghề nghiệp sẽ trở thành hiện thực. - Tham quan một số trường Đại học, Cao đẳng, Trung cấp chuyên nghiệp và đào tạo công nhân (bài 8). Qua tham quan học sinh hiểu rõ điều kiện tuyển chọn vào trường, điều kiện học hành trong trường và điều kiện lao động nghề nghiệp trong tương lai nếu học ở trường đó. Bài Tên bài Số tiết 1 Tìm hiểu một số nghề thuộc ngành GTVT, địa chất 3 2 Tìm hiểu một số nghề thuộc lĩnh vực kinh doanh – dịch vụ 3 3 Tìm hiểu một số nghề thuộc ngành Năng lượng, Bưu chính viễn thông, Công nghệ thông tin. 3 4 Tìm hiểu một số nghề thuộc lĩnh vực An ninh, Quốc phòng. 3 5 Giao lưu với những điển hình về sản xuất, kinh doanh giỏi, những gương vượt khó (chủ đề: Làm gì su khi tốt nghiệp THPT?) 3 6 Nghề nghiệp với nhu cầu của thị trường lao động 3 7 Tôi muốn đạt ước mơ 3 8 Tổ chức tham quan trường Đại học hoặc cao đẳng, TCCN dạy nghề tại địa phương. 6 Bảng 3: Nội dung hoạt động giáo dục hướng nghiệp lớp 11 [16]

3.5.1.3. Phân bố chương trình và nội dung hoạt động giáo dục hướng nghiệp lớp 12 Bài Tên bài Số tiết 1 Định hướng phát triển kinh tế - xã hội của đất nước và địa phương 3 2 Những điều kiện để thành đạt trong nghề 3 3 Tìm hiểu hệ thống trường trung học chuyên nghiệp và đào tạo nghề của trung ương và địa phương 3 4 Tìm hiểu hệ thống dào tạo đại học và cao đẳng 3 5 Thanh niên lập thân lập nghiệp 3 6 Tư vấn chọn nghề trong quá trinh hướng nghiệp 3 7 Hướng dẫn học sinh chọn nghề và làm hồ sơ tuyển sinh 3 8 Tổ chức tham quan hoặc hoạt động văn hoá theo chủ đề hướng nghiệp 6 Bảng 4: Nội dung hoạt động giáo dục hướng nghiệp lớp 12 [16] 30 Chương trình hoạt động giáo dục hướng nghiệp lớp 12 có 27 tiết học trong 8 bài. Mỗi bài được thể hiện trong 3 tiết liền nhau (1 buổi), riêng bài thứ 8 (tham quan hoặc tổ chức hoạt động văn hoá theo chủ đề hướng nghiệp) thì được tiến hành trong 6 tiết học liền nhau (cả ngày). Do vậy chương trình được dạy trong 8 tháng học, mỗi tháng 1 bài. 08 bài học về giáo dục hướng nghiệp 12 gồm các nội dung chính sau đây: - Phương hướng phát triển kinh tế - xã hội ở nước ta trong quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế, do tiến hành công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. - Những con đường đi vào nghề nghiệp tương lai cũng những yêu cầu cụ thể đặt ra mà mỗi học sinh phải tự quyết định lựa chọn ngay trước khi tốt nghiệp THPT. 3.6. Phương pháp dạy hướng nghiệp Toàn bộ chương trình giáo dục hướng nghiệp của cả 3 khối lớp được phân bố theo những nội dung chính như sau: 1. Các bài mở đầu đề cập tới vị trí, tầm quan trọng và cách thức lựa chọn nghề. 2. Các loại nghề phổ biến trong một số lĩnh vực kinh tế của trung ương và địa phương, một số nghề khác trong đời sống xã hội. 3. Các bài với nội dung trao đổi, toạ đàm giữa học sinh với các tổ chức xã hội, diễn đàn tranh luận trong nội bộ học sinh. 4. Các bài giới thiệu hệ thống các trường lớp, cơ quan đào tạo nghề nghiệp. 5. Các bài giới thiệu thủ tục tuyển chọn, thi cử, nghi thức bàn giao học sinh ra trường. Nội dung các bài trên được thực hiện thông qua các phương pháp chủ yếu: 3.6.1. Phương pháp thuyết trình: Là phương pháp GV chủ yếu dùng lời nói để làm cho học sinh hiểu được nội dung bài học, học sinh chú ý nghe, hiểu, ghi chép, học sinh có xu hướng nhớ kiến thức, theo 1 trình tự logic, chặt chẽ đã được sắp xếp. Ưu điểm: Khi sử dụng phương pháp này GV có thể truyền tải đến HS một khối lượng kiến thức lớn trong một thời gian ngắn, tiết kiệm thời gian. HS lĩnh hội tri thức dưới sự trình bày một cách khoa học và có hệ thống của GV… Nhược điểm: HS tiếp thu kiến thức một cách thụ động, không phát huy được 31 tính tích cực, chủ động của HS, bài học dễ dẫn tới nhàm chán… Phương pháp thuyết trình trong dạy học hướng nghiệp GV chuẩn bị nội dung về chủ đề hướng nghiệp, sau đó thuyết trình trước lớp nội dung chủ đề hướng nghiệp mà GV đã chuẩn bị. Để tăng thêm hiệu quả bài dạy GV có thể kết hợp thuyết trình với nêu câu hỏi, đặt ra các tình huống về nghề nghiệp để khuyến khích HS trả lời. Cũng có thể kết hợp thuyết trình với dùng tranh ảnh, đoạn phim để minh họa cho bài giảng. GV cũng có thể yêu cầu HS tự thu thập thông tin về các chủ đề hướng nghiệp trên các phương tiện thông tin truyền thông, trên sách, báo. Sau đó HS thuyết trình trước tập thể. Tập thể lắng nghe, đóng góp ý kiến. Thuyết trình theo hướng này vừa rèn luyện cho HS kĩ năng thể hiện mình trước đám đông, vừa làm cho HS tiếp thu sâu sắc các kiến thức về nghề nghiệp. Ví dụ minh họa Khi dạy bài chủ đề về “Nghề Dạy Học” (chủ đề 3: Hướng nghiệp lớp 10). GV thu thập thông tin, thuyết trình trước lớp về lịch sử phát triển, ý nghĩa và tầm quan trọng của nghề dạy học. GV có thể minh họa bằng hình ảnh người thầy qua các thời kì phát triển của nghề dạy học. Sau đó, GV có thể đưa ra các câu hỏi để HS trả lời, GV đánh giá sự tiếp thu bài của các em và giúp các em củng cố kiến thức. GV có thể đặt câu hỏi như: Em hãy nêu các thời kỳ phát triển của nghề dạy học? Ý nghĩa và tầm quan trọng của nghề dạy học đối với xã hội loài người? Khi dạy bài chủ đề về “Tìm hiểu một số nghề thuộc các ngành giao thông vận tải” (chủ đề hướng nghiệp lớp 11). GV cho HS kể lại các loại phương tiện giao thông mà HS đã từng sử dụng. Qua đó, HS sẽ có kiến thức hiểu biết về các ngành nghề thuộc lĩnh vực giao thông vận tải. 3.6.2. Phương pháp đàm thoại: GV dùng hàng loạt câu hỏi đã được sắp xếp theo 1 logic chặt chẽ để tác động đến học sinh nhằm dẫn dắt chúng đến mục đích dạy học của mình: học sinh lắng nghe và cố gắng trả lời câu hỏi theo 1 trình tự, do đó học sinh có thể chủ động tìm hiểu tài liệu về các nội dung bài học. 32 Ưu điểm: So với phương pháp thuyết trình, phương pháp đàm thoại đã có sự chủ động tham gia của HS; HS rèn luyện được năng lực tư duy giải quyết vấn đề và kĩ năng trình bày ý kiến của mình trước đám đông;… Nhược điểm: Nếu hỏi, đáp quá nhiều sẽ mất thời gian, ảnh hưởng đến bài học, nếu GV không khéo léo trong triển khai thực hiện phương pháp đàm thoại thì chỉ khuyến khích được một số HS tham gia, số còn lại sẽ không tập trung hoặc làm mất trật tự lớp học… Phương pháp đàm thoại trong dạy học hướng nghiệp Ở mỗi chủ đề hướng nghiệp GV chuẩn bị các câu hỏi trước phù hợp với chủ đề (GV phải lường trước những câu trả lời của HS). Khi triển khai phương pháp đàm thoại trên lớp, nên chú ý dẫn dắt HS lĩnh hội tri thức theo mục tiêu đã đề ra, tránh lan man không cần thiết. Sau khi đặt ra câu hỏi và dẫn dắt HS trả lời, GV cần tổng kết và nhấn mạnh các vấn đề chủ yếu trong từng chủ đề hướng nghiệp. Ví dụ minh họa Khi dạy bài “Tôi muốn đạt được ước mơ” (chủ đề 7: Hướng nghiệp lớp 11). GV đặt câu hỏi dẫn dắt HS: Em hãy cho cả lớp biết về ước mơ nghề nghiệp của mình? HS lần lượt phát biểu ước mơ nghề nghiệp của mình. GV hỏi tiếp: Vì sao em lại có ước mơ đó? Em đã hình dung được những thuân lợi, khó khăn khi theo nghề nghiệp đó không? HS trả lời, GV củng cố thêm những thuận lợi và khó khăn khi chọn nghề. GV tiếp tục hỏi: Sau khi tốt nghiệp THPT các em có nhiều hướng đi nhưng nói chung các em có những lựa chọn nào? GV tổng kết câu trả lời của HS bằng 2 hướng đi chính: - Hướng thứ nhất: Tiếp tục đi học. o Những trường hợp nào thì nên tiếp tục đi học? o Liệu có phải chỉ tiếp tục học tiếp mới là con đường duy nhất để vào đời ? - Hướng thứ 2: Trực tiếp tham gia vào lao động sản xuất. o Những trường hợp nào thì các em nên đi theo hướng này? o Các hình thức lao động là gì? o Mặt tích cực của hướng đi này là gì? 33 GV tổng kết cho HS: Dù HS tiếp tục đi học hay tham gia vào lao động sản xuất thì HS phải đối mặt với những khó khăn gì? Hướng khắc phục giải quyết những khó khăn để thực hiện ước mơ.

3.6.3. Phương pháp dạy học thảo luận nhóm: Giáo viên sử dụng phương pháp này tổ chức các nhóm, tổ khối để thực hiện nhiệm vụ học tập hướng nghiệp trong một thời gian nhất định. Thảo luận nhóm có thể được tiến hành theo các bước sau: - Bước 1: GV đưa ra vấn đề cần thảo luận. - Bước 2: Chia HS thành các nhóm và phân công nhiệm vụ cho mỗi nhóm. - Bước 3: Các HS trong từng nhóm tiến hành thảo luận theo chủ đề được giao. - Bước 4: Đại diện từng nhóm lên báo cáo kết quả thảo luận. Các nhóm khác lắng nghe, trao đổi và đóng góp ý kiến - Bước 5: GV tổng kết, đánh giá Ưu điểm: Rèn luyện cho HS kĩ năng trình bày trước tập thể, biết cách tiếp thu và lắng nghe ý kiến của người xung quanh, nâng cao vốn hiểu biết của mình, nâng cao kĩ năng thu thập và xử lý thông tin,… Nhược điểm: Các ý kiến của các nhóm có thể không tập trung vào chủ đề mà giáo viên đưa ra; việc tranh luận giữa các nhóm có thể kéo dài gây mất thời gian và có thể gây mất đoàn kết; một số HS phát biểu hăng hái còn một số HS có thể thụ động, không phát biểu… Phương pháp dạy học thảo luận nhóm trong dạy học hướng nghiệp Giáo viên chuẩn bị chủ đề hướng nghiệp cùng hệ thống những câu hỏi. Sau đó GV chia nhóm và phân công nhiệm vụ cho các nhóm. Các nhóm tiến hành thảo luận. Khi báo cáo kết quả, các nhóm có thể sử dụng hình ảnh minh họa. Những nhóm khác tham gia đóng góp ý kiến. Giáo viên đưa ra kết luận chung củng cố lại kiến thức. Ví dụ minh họa Khi dạy bài “Định hướng phát triển kinh tế - xã hội của đất nước và địa phương” (chủ đề 1: Hướng nghiệp lớp 12). GV chia lớp thành 4 nhóm theo tổ, các nhóm thảo luận theo những câu hỏi tương ứng, thời gian thảo luận 5 phút. 34 Câu 1: Vì sao CNH phải đi đôi với HĐH? Câu 2: Em hiểu CNH theo định hướng XHCN là thế nào? Câu 3: Em hiểu CNH của đất nước ta là CNH sinh thái là gì? Câu 4: “Chuyển kinh tế nông nghiệp sang kinh tế công nghiệp, vừa đưa một số lĩnh vực sản xuất đi vào kinh tế tri thức” có thể được hiểu là gì? HS thảo luận, cử đại diện nhóm trả lời. GV nhận xét, kết luận về đặc điểm của quá trình CNH ở nước ta. Kết luận: Phương pháp thuyết trình, đàm thoại và thảo luận nhóm thường được GV sử dụng trong công tác hướng nghiệp vì các phương pháp trên dễ sử dụng và cũng quen thuộc với HS. Tuy nhiên, giáo dục hướng nghiệp cần có sự phối hợp nhiều phương pháp tùy vào điều kiện cơ sở vật chất của nhà trường và trình độ nhận thức của HS để đạt hiệu quả cao hơn. 3.7. Các hình thức tổ chức hướng nghiệp Hoạt động hướng nghiệp ở trường THPT thường được tổ chức theo các hình thức sau [16]:

3.7.1. Tổ chức cho học sinh tham quan tại các cơ sở sản xuất Nhà trường liên hệ với các cơ sở sản xuất cho học sinh tham quan. Căn cứ vào mục đích và lịch trình tham quan, dưới sự hướng dẫn của cán bộ tại cơ sở sản xuất, học sinh trong thời gian tham quan sẽ thu thập các nội dung sau : - Tên của cơ sở sản xuất, địa điểm sản xuất của cơ sở, tên của giám đốc hoặc người điều hành cơ sở, số điện thoại liên hệ. - Sơ lược về tổ chức quản lý của cơ sở sản xuất. - Các loại nhân lực trong cơ sở (quản lý, trực tiếp sản xuất, dịch vụ). - Các loại sản phẩm của cơ sở sản xuất, nơi tiêu thụ sản phẩm, năng suất lao động, giá thành sản phẩm và giá kinh doanh trên thị trường, lợi nhuận. - Trình độ, trang thiết bị phục vụ sản xuất, các khu vực lao động giản đơn và lao động bằng máy, việc ứng dụng công nghệ sản xuất. - Điều kiện lao động (vệ sinh lao động, an toàn lao động). - Lương, phụ cấp, chế độ bảo hiểm. 35 - Nơi đào tạo, nguồn nhân lực cung cấp cho cơ sở, trình độ học vấn cần có để chuyển tải vào cơ sở, triển vọng phát triển của những người làm việc tại cơ sở (về vật chất và vị thế xã hội).

3.7.2. Tham quan trường Cao đẳng, Đại học, TCCN, dạy nghề tại địa phương Nhà trường liên hệ với các trường Đại học, Cao đẳng, TCCN, dạy nghề tại địa phương tổ chức cho học sinh tham quan nhằm: - Tạo điều kiện để các em học sinh THPT được trực tiếp tham gia vào các hoạt động học tập, sinh hoạt, vui chơi như một học sinh, sinh viên của trường. - Giới thiệu, quảng bá rộng rãi đến học sinh THPT về trường, về mục tiêu đào tạo, chuẩn đầu ra các chương trình đào tạo, khả năng và cơ hội việc làm sau tốt nghiệp, về công tác tuyển sinh đại học, cao đẳng, TCCN, dạy nghề.

3.7.3. Tổ chức giao lưu với những điển hình về sản xuất, kinh doanh giỏi, những gương vượt khó Qua buổi giao lưu bằng cách đặt các câu hỏi học sinh sẽ biết: - Biết được các con đường, các hình thức tự học tập sau khi tốt nghiệp trung học phổ thông để đạt được ước mơ của mình. - Hiểu được bất cứ nghề nào cũng là vinh quang và cũng được tôn trọng, nhất là những người có tay nghề cao, có nhiều thành tích trong công tác. - Có nhận thức học hỏi ở những gương thành đạt, gương vượt khó để phấn đấu trong nghề nghiệp tương lai của mình. Như vậy, giáo dục hướng nghiệp theo chương trình của Bộ giáo dục và đào tạo được thực hiện chủ yếu thông qua hình thức tập thể, dưới dạng lớp - bài. Với quy định về nội dung, tính chất làm việc của chương trình, rõ ràng nó cần được bổ sung những nội dung và hình thức tổ chức sinh hoạt hướng nghiệp khác, với sự cộng đồng trách nhiệm của nhiều lực lượng xã hội cùng tham gia, dưới nhiều hình thức nội khóa và ngoại khoá, sinh hoạt có tính tập thể và cá nhân nhằm phát huy hết sở trường, hứng thú, năng lực của từng học sinh trong công tác hướng nghiệp.

3.8. Các yếu tố tác động đến chất lượng công tác giáo dục hướng nghiệp cho học sinh THPT Hướng nghiệp là một hệ thống các biện pháp tác động của gia đình, nhà trường và xã hội, trong đó nhà trường đóng vai trò chủ đạo nhằm hướng dẫn và 36 chuẩn bị cho thế hệ trẻ sẵn sàng đi vào lao động ở các ngành nghề, ở những nơi xã hội đang cần phát triển, đồng thời phù hợp với hứng thú, năng lực của cá nhân. Hiện nay công tác hướng nghiệp cho học sinh đã được các trường THPT triển khai nhưng kết quả còn rất thấp. Một số yếu tố tác động đến chất lượng công tác hướng nghiệp như nội dung HN, phương pháp dạy HN, hình thức tổ chức HN, vấn đề kiểm tra đánh giá trong thực hiện công tác HN, GV làm công tác HN, quản lý chỉ đạo công tác HN, các tổ chức xã hội, phương tiện truyền thông…

3.8.1. Nội dung, phương pháp và hình thức tổ chức hướng nghiệp Trong chương trình (thí điểm) THPT, hoạt động giáo dục hướng nghiệp được học ở 3 lớp gồm 10, 11, 12. Mục tiêu chung của chương trình là phát hiện và bồi dưỡng phẩm chất nhân cách nghề nghiệp cho học sinh, giúp các em hiểu mình, hiểu yêu cầu của nghề. Tuy nhiên, nhìn chung giáo dục hướng nghiệp các trường THPT chưa có nội dung và chương trình mang tính thực tiễn. Ở trường THPT có triển khai chương trình về hướng nghiệp và tư vấn mùa thi tuy nhiên nội dung vẫn chủ yếu xoay quanh việc giải đáp các thắc mắc của HS khi đi thi, làm bài thi... Hàng năm Bộ Giáo dục và Đào tạo xuất bản cuốn sách hướng dẫn tuyển sinh khá chi tiết nhưng nội dung cũng chỉ đề cập đến việc giới thiệu trường, mã trường, môn thi, chỉ tiêu tuyển sinh, địa điểm trường... mà thiếu hẳn phần giới thiệu sâu về các trường, các ngành học, các đặc điểm, yêu cầu của ngành đó đối với người học, và nhiều thông tin cần thiết khác như hướng dẫn các em nên học trường nào, ngành nghề gì là phù hợp với khả năng và điều kiện của mỗi HS, thiếu các trắc nghiệm (test) khách quan giúp HS bước đầu tìm ra sự phù hợp của bản thân với những ngành nghề mà các em đang lựa chọn. Giáo viên làm công tác HN phần lớn chỉ kiêm nhiệm, chưa có kỹ năng về hướng nghiệp, chưa có sự đầu tư thích đáng cho hoạt động này. Do đó, đa số GV dạy HN chỉ sử dụng một số phương pháp dạy học thông thường như thuyết trình, đàm thoại… các phương pháp dạy học này chưa tạo được hứng thú học tập cho HS, dẫn tới việc tiếp thu, lĩnh hội kiến thức về HN còn nhiều hạn chế. Hiện nay có rất nhiều các hình thức tổ chức HN, song thực tế ở các trường THPT việc sử dụng các hình thức HN còn nhiều hạn chế, một số hình thức được sử 37 dụng thường xuyên, một số hình thức ít hoặc không được sử dụng. Chính vì vậy mà hiệu quả HN chưa cao. Nhìn chung, nội dung HN chưa đầy đủ, chưa mang tính thực tiễn, phương pháp dạy học HN chưa phát huy tính tích cực của HS, hình thức tổ chức còn nhiều hạn chế. Tất cả các yếu tố trên ảnh hưởng đến chất lượng công tác HN.

3.8.2. Kiểm tra đánh giá trong công tác hướng nghiệp Công tác HN được triển khai thực hiện ở hầu hết các trường THPT, hoạt động HN được giảng dạy trong suốt năm học. Tuy nhiên, công tác kiểm tra đánh giá trong dạy học HN chưa được thực hiện. HS không tích cực trong công tác này lí do là HN không lấy điểm đánh giá từng HS mà chỉ đánh giá bằng hạnh kiểm. Vì vậy, kiểm tra đánh giá là một nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng của công tác hướng nghiệp.

3.8.3. Nguồn nhân lực tham gia vào công tác hướng nghiệp

3.8.3.1. Vai trò của người quản lý Vai trò của Hiệu trưởng trong công tác HN ở trường THPT rất quan trọng. Hiệu trưởng có trách nhiệm lập kế hoạch hướng nghiệp trong cả năm, từng học kỳ, từng tháng, hủ động phối hợp với chính quyền các cơ sở sản xuất, các trường dạy nghề đóng tại địa phương trong việc xây dựng kế hoạch giúp trường phổ thông cơ sở vật chất, cán bộ kỹ thuật nghiệp vụ để dạy lao động kỹ thuật, hướng nghiệp và tổ chức lao động sản xuất cho học sinh phổ thông, chỉ đạo và kiểm tra công tác hướng nghiệp của các giáo viên, phối hợp các hình thức hướng nghiệp trong và ngoài nhà trường. Hiệu trưởng làm tốt nhiệm vụ của mình góp phần nâng cao chất lượng công tác HN.

3.8.3.2. Giáo viên tham gia công tác hướng nghiệp Giáo viên tham gia công tác HN là các GV chủ nhiệm, GV bộ môn. Là người trực tiếp tham gia dạy học HN, là người trực tiếp tư vấn, hướng dẫn HS chọn nghề phù hợp. Vì vậy GV tham gia công tác HN có ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng công tác HN trong trường THPT.

3.8.4. Các phương tiện thông tin đại chúng và các tổ chức xã hội Trong thời đại bùng nổ của thông tin và các phương tiện thông tin đại chúng 38 như hiện nay đã tác động không nhỏ tới công tác HN. Với sự hỗ trợ của sách, báo, phim ảnh, truyền hình đặc biệt là kho thông tin khổng lồ - mạng Internet, các em dễ dàng nắm bắt, tiếp thu các thông tin đa dạng về mọi mặt của các lĩnh vực đời sống xã hội. Tuy nhiên, dù đa dạng đến mức nào thì đây cũng là những dạng thông tin một chiều, ít có cơ hội để các em trao đổi và nhận được sự tư vấn cần thiết đặc biệt là trong vấn đề tư vấn hướng nghiệp. Nhưng cũng cần được phải khẳng định rằng trong điều kiện giáo dục hướng nghiệp trong các nhà trường và gia đình đang có nhiều bất cập như hiện nay thì các phương tiện thông tin đại chúng giữ vai trò quan trọng, đã phần nào cung cấp cho HS các thông tin về nghề nghiệp trong xã hội, các yêu cầu của nghề... giúp cho HS tự định hướng trong việc lựa chọn nghề nghiệp. Đây là yếu tố giúp nâng cao chất lượng công tác HN. Bên cạnh đó các tổ chức khác như: Hội phụ nữ, Đoàn thanh niên, Hội cựu chiến binh, các trung tâm tư vấn... có tác động đáng kể đến công tác HN. Các tổ chức xã hội này đóng vai trò là tư vấn, cung cấp cho các em thông tin về nghề, các yêu cầu của nghề, hỗ trợ học nghề và việc làm... Như vậy, chất lượng công tác hướng nghiệp chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố: các yếu tố chủ quan như nội dung HN, phương pháp và hình thức tổ chức HN, các yếu tố về nguồn nhân lực, các yếu tố khách quan như các phương tiện truyền thông, sự hỗ trợ của các tổ chức xã hội…Có thể thấy rằng, sự phát triển mạnh mẽ của khoa học công nghệ như hiện nay có tác động tích cực đến chất lượng công tác GDHN.

 

4. NGUYÊN NHÂN CHỌN NGHỀ SAI CỦA HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG

Lựa chọn ngành nghề chính là lựa chọn cho con đường đi sau này của cuộc đời, là lựa chọn cho tương lai. Cuộc đời của con người có ý nghĩa ở chỗ lao động của mình đem lại lợi ích cho bản thân và người khác. Công việc là nội dung chủ yếu của đời sống con người. Để lao động trở thành niềm vui, hạnh phúc, sự thỏa mãn, nguồn cảm hứng và sáng tạo, con người phải chọn được cho mình một dạng hoạt động, một nghề thích hợp. Sự tác động qua lại giữa “con người và nghề nghiệp” này sẽ giúp con người phát triển và phát huy cao độ khả năng và sức lực của mình. Để 39 định hướng đúng nghề nào phù hợp với bản thân, ngoài việc tranh thủ đọ sức với nghề, tham khảo ý kiến phụ huynh, giáo viên, cán bộ tư vấn nghề… học sinh phải tuân thủ phương châm hiểu rõ mình và nghề. Tuy nhiên, trong thực tế việc lựa chọn nghề của HS còn gặp nhiều khó khăn. Theo tài liệu tư vấn hướng nghiệp dùng cho học sinh phổ thông trong quá trình chọn nghề của HS lứa tuổi THPT thường gặp những khó khăn như thiếu thông tin về nghề, thiếu thông tin về thị trường lao động, thiếu điều kiện tài chính để theo học nghề, bị gia đình phản đối và một số khó khăn từ phía xã hội như việc phát triển nhanh của khoa học công nghệ, vùng nông thông miền núi thiếu thốn về sách báo, truyền hình, internet nên tất khó trong việc tích lũy tri thức, trau dồi học vấn… Những khó khăn đó cũng là những trở ngại khi chọn nghề của học sinh THPT [2]. Ngoài những khó khăn trong việc chọn ngành nghề trong xã hội còn tồn tại những nguyên nhân gây ra sự sai lầm trong việc chọn nghề của HS lứa tuổi THPT. GS. Phạm Tất Dong cho rằng có 02 nhóm nguyên nhân dẫn đến sự sai lầm trong việc chọn nghề của HS gồm nhóm nguyên nhân thứ nhất là thái độ không đúng với nghề và nhóm nguyên nhân thứ hai là thiếu hiểu biết về nghề [20]. - Nhóm nguyên nhân thứ nhất HS có thái độ không đúng với nghề. Nhóm nguyên nhân này có các đặc điểm: o HS cho rằng nghề thợ thấp kém hơn nghề kỹ sư; giáo viên tiểu học thua kém giáo viên trung học o HS có thành kiến với một số nghề trong xã hội. Như HS cho rằng lao động chân tay là nghề thấp kém, nghề kinh doanh là nghề không trung thực. Tuy nhiên, khi 1 nghề đã được xã hội thừa nhận thì không có nghề nào là cao sang hay thấp hèn. Do đó, việc đánh giá nên dựa vào sự hoàn thành trách nhiệm do xã hội phân công, người có cống hiến càng lớn càng tăng uy tín trong nghề nghiệp và được xã hội kính trọng. - Nhóm nguyên nhân thứ hai HS thiếu hiểu biết về nghề. Nhóm nguyên nhân này có các đặc điểm: o Dựa dẫm vào ý kiến của người khác, không độc lập quyết định trong việc 40 chọn nghề. Thực tế có rất nhiều bạn chọn nghề theo ý muốn của cha mẹ, theo ý thích của người lớn, theo lời rủ rê của bạn bè. Cách chọn nghề này đã dẫn đến nhiều trường hợp chán nghề vì không phù hợp. o Bị hấp dẫn bởi vẻ bề ngoài của nghề, thiếu hiểu biết về nội dung lao động của nghề đó. HS cho rằng nghề giáo viên là nghề nhàn hạ, các nghề như nghề diễn viên điện ảnh, người dẫn chương trình, người mẫu thời trang… rất hấp dẫn với các bạn trẻ, nhưng để thạo nghề thì phải rèn luyện gian khổ. HS tin vào quảng cáo của các cơ sở đào tạo để chọn nghề, khi vào học cũng sẽ dễ chán trường và chán nghề. o HS cho rằng đạt thành tích cao trong việc học tập một môn văn hóa nào đó là làm được nghề cần đến tri thức của môn đó. Ví dụ HS giỏi môn toán sẽ nghề kiến trúc sư, đây là nghề phải làm việc với các con số và tính toán giỏi nhưng nếu không có óc sáng tạo, óc quan sát, tư duy logic và vẽ không giỏi thì không thể theo đuổi nghề này được. o Có quan niệm “tĩnh” về tính chất, nội dung lao động nghề nghiệp trong các lĩnh vực sản xuất mà không tính đến những tác động mạnh mẽ của Cách mạng khoa học kỹ thuật. o Đánh giá quá cao hoặc quá thấp năng lực của bản thân. Cả hai trưởng hợp này đều dẫn đến hiệu quả công việc kém: Nếu đánh giá quá cao năng lực của bản thân khi chọn nghề sẽ vấp phải chủ quan ban đầu, thất vọng lúc cuối, nếu đánh giá quá thấp, chúng ta sẽ không lựa chọn những nghề phù hợp. o Thiếu hiểu biết về thể lực, sức khỏe của bản thân, không có đầy đủ thông tin về những chống chỉ định y học trong nghề. Điều này cũng dễ gây nên những tác hại lớn: người hay chóng mặt sợ độ cao chọn nghề làm phi công, người hay viêm họng, viêm phổi lại chọn nghề dạy học. Từ những khó khăn trong khi chọn nghề của HS cùng với những nguyên nhân gây ra sự sai lầm khi chọn nghề của đa số HS hiện nay. GV trong khi làm 41 công tác hướng nghiệp cần cung cấp đầy đủ thông tin về nghề, thông tin về thị trường lao động, điều kiện của HS khi theo học và hành nghề…Điều này giúp các em hiểu rõ mình và hiểu rõ nghề để hạn chế những sai lầm khi chọn nghề.

 

5. ĐẶC ĐIỂM TÂM LÝ LỨA TUỔI HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG

Học sinh trung học phổ thông (THPT) còn gọi là tuổi thanh niên, là giai đoạn phát triển bắt đầu từ lúc dậy thì và kết thúc khi bước vào tuổi người lớn.Tuổi thanh niên là thời kỳ từ 15 - 25 tuổi, được chia làm 2 giai đoạn: - Giai đoạn từ 15 - 18 tuổi: gọi là tuổi đầu tuổi thanh niên. - Giai đoạn từ 18 - 25 tuổi: giai đoạn hai của tuổi thanh niên [36].

5.1. Đặc điểm về sự phát triển thể chất Tuổi học sinh trung học phổ thông là thời kỳ đạt được sự trưởng thành về mặt cơ thể. Sự phát triển thể chất đã bước vào thời kỳ phát triển bình thường, hài hòa, cân đối. Cơ thể của các em đã đạt tới mức phát triển của người trưởng thành, nhưng sự phát triển của các em còn kém so với người lớn. Ở thời kỳ lứa tuổi này quá trình phát triển thể chất đã hoàn thành về căn bản, các cơ quan, các bộ phận của cơ thể cũng như các chức năng của nó dần dần trở nên cân đối hoàn thiện. Điều đó được biểu hiện ở các đặc điểm sau: Chiều cao và trọng lượng đang tiếp tục phát triển nhưng tốc độ đã bắt đầu chậm lại. Hệ cơ và hệ xương đã được cốt hóa và phát triển ở mức độ cao nên cơ thể các em trở nên rắn chắc, nở nang, cân đối trông rất khỏe mạnh (ở các em nữ biểu hiện rõ rệt nhất). Do cơ thể phát triển mạnh gần như người lớn nên các em có thể làm được những công việc nặng của người lớn. Hệ tuần hoàn đi vào thời kỳ hoạt động bình thường, sự mất cân đối giữa tim và mạch đã chấm dứt. Trọng lượng và chức năng hoạt động của não bộ đã đạt tới mức phát triển tương đương như não người lớn nên hoạt động trí tuệ của các em có thể phát triển tới mức cao. Khả năng hưng phấn và ức chế ở vỏ não tăng lên rõ rệt có thể hình thành mối liên hệ thần kinh tạm thời phức tạp hơn. Tư duy, ngôn ngữ và những phẩm chất ý chí có điều kiện phát triển mạnh. Tuổi đầu thanh niên đa số đã qua thời kỳ phát dục, giới tính các em biểu hiện rõ rệt về cả hình thể bên ngoài lẫn chức năng bên trong. Nhưng ở một số em 42 do sự phát dục kéo dài nên cơ thể các em phát triển chậm hơn so với các em khác (thể hiện nhiều ở các em nam). Nhìn chung tuổi đầu thanh niên các em có sức khỏe và sức chịu đựng tốt hơn tuổi thiếu niên. Thể chất của các em đang ở độ phát triển mạnh mẽ rất sung sức, nên người ta thường hay gọi “Tuổi 17 bẻ gãy sừng trâu”. Sự phát triển thể chất ở lứa tuổi này sẽ có ảnh hưởng nhất định đến sự phát triển tâm lý và nhân cách, đồng thời nó còn ảnh hưởng tới sự lựa chọn nghề nghiệp sau này của các em.

5.2. Điều kiện sống và hoạt động

5.2.1. Vị trí trong gia đình Trong gia đình các em đã có nhiều quyền lợi và trách nhiệm như người lớn, cha mẹ bắt đầu trao đổi với các em về một số vấn đề quan trọng trong gia đình. Các em cũng thấy được quyền hạn và trách nhiệm của bản thân đối với gia đình. Các em bắt đầu quan tâm chú ý đến nề nếp, lối sống sinh hoạt và điều kiện kinh tế chính trị của gia đình (như việc chấp hành chính sách của đảng và nhà nước, sẵn sàng đấu tranh chống lại tư tưởng sai trái). Có thể nói rằng cuộc sống của nhiều thanh niên mới lớn là cuộc sống vừa học tập vừa lao động.

5.2.2. Vị trí trong nhà trường Ở nhà trường học tập vẫn là hoạt động chủ đạo nhưng tính chất và mức độ thì phức tạp và cao hơn hẳn so với tuổi thiếu niên, đòi hỏi các em tự giác tích cực độc lập hơn, các em phải biết cách vận dụng tri thức một cách sáng tạo trong học tập. Ở lứa tuổi này môi trường hoạt động chính là nhà trường, nhà trường có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, bởi vì nội dung học tập không chỉ nhằm trang bị và hoàn chỉnh tri thức, mà còn có tác dụng hình thành thế giới quan, nhân sinh quan cho các em. Khoảng 14 - 15 tuổi các em đủ tuổi gia nhập đoàn Thanh niên Cộng sản trong nhà trường, đó là một tổ chức chính trị đóng vai trò tích cực đối với việc hình thành và phát triển nhân cách của học sinh, đòi hỏi các em phải tích cực độc lập, sáng tạo phải có tính nguyên tắc, tinh thần trách nhiệm, biết phê bình và tự phê bình. 5.2.3. Vị trí ngoài xã hội Hoạt động xã hội của thiếu niên thường mang tính chất nội bộ nhà trường 43 còn đối với tuổi đầu thanh niên lại khác, hoạt động của các em đã vượt ra khỏi phạm vi nhà trường, ảnh hưởng của xã hội đến các em rất mạnh. Xã hội đã giao cho các em quyền công dân, quyền tham gia mọi hoạt động bình đẳng giống người lớn như được bầu cử, có nghĩa vụ quân sự, nghĩa vụ lao động... Khi tham gia vào hoạt động xã hội các em được tiếp xúc với nhiều tầng lớp xã hội khác nhau, quan hệ xã hội được mở rộng, các em có dịp hòa nhập vào cuộc sống đa dạng phức tạp của xã hội giúp các em tích lũy vốn kinh nghiệm sống để chuẩn bị cho cuộc sống tự lập sau này.

5.3. Đặc điểm hoạt động nhận thức và sự phát triển trí tuệ Lứa tuổi học sinh trung học phổ thông là giai đoạn quan trọng trong việc phát triển các năng lực trí tuệ. Do cơ thể các em đã được hoàn thiện, đặc biệt là hệ thần kinh phát triển mạnh tạo điều kiện cho sự phát triển các năng lực trí tuệ. Ở học sinh trung học phổ thông tính chủ định được phát triển mạnh ở tất cả các quá trình nhận thức. Nhìn chung, tư duy của học sinh trung học phổ thông phát triển mạnh, hoạt động trí tuệ linh hoạt và nhạy bén hơn. Các em có khả năng phán đoán và giải quyết vấn đề một cách rất nhanh. Tuy nhiên, ở một số học sinh vẫn còn nhược điểm là chưa phát huy hết năng lực độc lập suy nghĩ của bản thân, còn kết luận vội vàng theo cảm tính... Vì vậy, giáo viên cần hướng dẫn giúp đỡ các em tư duy một cách tích cực độc lập để phân tích đánh giá sự việc và tự rút ra kết luận đúng đắn. Ở các lớp cuối cấp trung học phổ thông, do yêu cầu của nội dung chương trình, do tính chất của hoạt động học tập, học sinh cần phải nắm vững được các kĩ năng tư duy độc lập, nắm được các phương pháp và kĩ thuật hoạt động trí tuệ độc lập. Các em phải biết tự học, những đòi hỏi đó đã thúc đẩy sự phát triển tư duy ở các em. Tuy nhiên, số học sinh phổ thông trung học của ta hiện nay đạt tới mức tư duy đặc trưng cho lứa tuổi như trên còn chưa nhiều. Thiếu sót cơ bản hiện nay trong hoạt động tư duy của nhiều em là thiếu tính độc lập, các em chưa chú ý phát huy hết khả năng độc lập suy nghĩ của bản thân, còn kết luận vội vàng theo cảm tính hoặc thiên về tái hiện tư tưởng, cách luận chứng của người khác. 44 Do đó, phát triển khả năng nhận thức của học sinh trong dạy học là một trong những nhiệm vụ quan trọng của người giáo viên. Tóm lại, hoạt động nhận thức của tuổi học sinh trung học phổ thông đã phát triển ở mức độ cao, các em đã có khả năng nhận thức vấn đề một cách đúng đắn và sâu sắc hơn. Ở một số em khả năng nhận thức đã đạt tới đỉnh cao, hoạt động nhận thức của các em sẽ tiếp tục được hoàn thiện trong quá trình học tập và rèn luyện của cá nhân.

5.4. Những đặc điểm nhân cách chủ yếu của học sinh trung học phổ thông

5.4.1. Sự phát triển của tự ý thức của học sinh trung học phổ thông Sự tự ý thức là một đặc điểm nổi bật trong sự phát triển nhân cách của học sinh THPT, nó có ý nghĩa to lớn đối với sự phát triển tâm lý của lứa tuổi này. Nhu cầu tự ý thức của tuổi đầu thanh niên diễn ra rất mạnh mẽ, sôi nổi, đó là một quá trình lâu dài phức tạp và trải qua nhiều mức độ khác nhau, nó mang tính đặc thù riêng của lứa tuổi. Sự tự ý thức của học sinh trung học phổ thông được biểu hiện ở nhu cầu tìm hiểu và tự đánh giá những đặc điểm tâm lý của mình theo các chuẩn mực đạo đức của xã hội, theo quan điểm về mục đích cuộc sống... Điều đó khiến cho các em quan tâm sâu sắc tới đời sống tâm lý, những phẩm chất nhân cách và năng lực riêng. Sự tự ý thức của thanh niên được xuất phát từ yêu cầu của cuộc sống và hoạt động. Do địa vị mới mẻ trong tập thể, những quan hệ mới với thế giới xung quanh buộc thanh niên mới lớn phải ý thức được những đặc điểm nhân cách của mình, tự đánh giá khả năng của mình. Nhu cầu tự giáo dục thanh niên đang được phát triển mạnh. Các em không chỉ hướng vào việc khắc phục một thiếu sót trong hành vi hay phát huy những mặt tốt nào đó, mà các em đã chú ý hướng vào việc hoàn thiện toàn bộ những phẩm chất nhân cách nói chung cho phù hợp với chuẩn mực xã hội, với quan điểm sống của các em. Nhìn chung, thanh niên mới lớn có thể tự đánh giá bản thân mình một cách sâu sắc, nhưng đôi khi sự tự đánh giá của các em vẫn chưa đúng đắn. Do vậy, các 45 em vẫn cần có sự giúp đỡ hướng dẫn của người lớn. Một mặt, người lớn phải chú ý lắng nghe ý kiến của các em, mặt khác phải giúp các em hình thành được biểu tượng khách quan về nhân cách của mình, nhằm giúp cho sự tự đánh giá của các em được đúng đắn hơn, tránh những lệch lạc phiến diện trong tự đánh giá. Cần tổ chức hoạt động của tập thể cho các em, trong đó có sự giúp đỡ, kiểm tra lẫn nhau để hoàn thiện nhân cách của bản thân

5.4.2. Xu hướng nghề nghiệp của học sinh trung học phổ thông Thanh niên đã xuất hiện nhu cầu lựa chọn vị trí xã hội trong tương lai cho bản thân và các phương thức đạt tới vị trí xã hội ấy. Các em hiểu rằng: cuộc sống tương lai phụ thuộc vào chỗ mình có biết lựa chọn nghề nghiệp một cách đúng đắn hay không. Xu hướng nghề nghiệp có tác dụng thúc đẩy các mặt hoạt động và điều chỉnh hoạt động của các em. Càng ở cuối cấp học thì xu hướng nghề nghiệp càng được thể hiện rõ rệt và mang tính ổn định hơn. Nhiều em biết gắn những đặc điểm riêng về thể chất, về tâm lý và khả năng của mình với yêu cầu của nghề nghiệp, mặc dù sự hiểu biết về yêu cầu của nghề nghiệp vẫn chưa đầy đủ. Vì sự hiểu biết về yêu cầu nghề nghiệp ở các em còn phiến diện chưa đầy đủ nên đại đa số các em chỉ hướng thi vào trường đại học hơn là học nghề. Tâm thế chuẩn bị bước vào đại học như thế sẽ dễ có ảnh hưởng tiêu cực đối với các em, nếu như dự định của các em không thực hiện được. Điều đó cho thấy thanh niên vẫn chưa chú ý đến yêu cầu của xã hội đối với các loại ngành nghề khác nhau. Vì vậy, công tác hướng nghiệp cho học sinh đầu tuổi thanh niên có ý nghĩa rất quan trọng.

46 TIỂU KẾT CHƯƠNG 1

Hướng nghiệp cho học sinh lựa chọn ngành nghề phù hợp trong thế giới nghề nghiệp rộng lớn là nhiệm vụ không chỉ của những người làm giáo dục mà phải có sự cộng tác của toàn xã hội. Hướng nghiệp cho học sinh có hiệu quả phải dựa vào cơ sở khoa học, căn cứ vào những đặc điểm tâm lý, năng lực của học sinh và nhu cầu xã hội về ngành nghề đó. Nền tảng của hướng nghiệp là phải dựa trên năng lực, sở thích cá nhân và nhu cầu xã hội, đây là 3 yếu tố chủ đạo trong hoạt động hướng nghiệp cho học sinh cần phải làm rõ, đây cũng chính là cơ sở để tránh những sai lầm trong việc lựa chọn nghề nghiệp tương lai của học sinh. Dựa trên cơ sở nền tảng đó, trong chương I người nghiên cứu đã tập trung làm rõ các vấn đề sau: - Nghiên cứu tổng quan về giáo dục hướng nghiệp trên thế giới và ở Việt nam. - Nghiên cứu về các khái niệm cơ bản của giáo dục hướng nghiệp. - Nghiên cứu về cơ sở lý luận của giáo dục hướng nghiệp. - Nghiên cứu về nội dung chương trình hoạt động giáo dục hướng nghiệp, các phương pháp dạy hướng nghiệp và hình thức hướng nghiệp cho HS THPT. - Nghiên cứu về một số nguyên nhân dẫn đến sai lầm khi chọn nghề. - Nghiên cứu về tâm lý lứa tuổi HS THPT. Từ những cơ sở nghiên cứu đó, để nâng cao hơn nữa chất lượng công tác hướng nghiệp, người nghiên cứu tiếp tục tiến hành khảo sát thực trạng công tác hướng nghiệp tại trường THPT ……vvv……..

 

24