DMCA.com Protection Status

Cây Chùm ngây (Horseradish tree)  quan tâm

Được đăng bởi: Ẩn danh

Cập nhật lúc 15:07 ngày 28/12/2017

Tên tiếng anh/Tên khoa học: Horseradish tree

Các tên gọi khác của cây chùm ngây

Tên khoa học: Moringa oleifera

Trên thế giới Chùm ngây được gọi với nhiều cái tên khác nhau:

Tiếng Anh: Horsradish tree, Drumstick tree, Moringa tree

Tiếng pháp: Ben ailes, Ben oléifere, Pois quénique

Tiếng Đức: Behenbaum, Behennussbaum, Meerrettichbaum

Tiếng Ấn Độ: Sobhan, jana

Tiếng Tamil: Murungai

Tiếng Philippine: Malunggay

Nguồn gốc cây chùm ngây 

Xuất hiện từ cách đây 4 ngàn năm ở vùng Nam Á và sau đó được trồng nhiều ở châu Á và châu Phi.

Cây Chùm ngây (Moringa oleifera Lam) còn được gọi là - cây phép màu - cây thần diệu, bắt nguồn từ tên tiếng anh là ―Miracle tree, đây là cây đa tác dụng vì ở nhiều nơi trên thế giới nhất là các vùng đang phát triển ở vùng châu Á và châu Phi, nó được xem là tài nguyên vô giá, chống nạn thiếu dinh dưỡng, bảo vệ sức khỏe cộng đồng và phòng hộ giảm nhẹ thiên tai. Ngoài khả năng cung cấp chất dinh dưỡng, các bộ phận của cây Chùm ngây còn có dược tính phổ rộng, được dùng để điều trị nhiều bệnh khác nhau. Chính nền y học cổ truyền Ấn Độ cũng đã xác định được 300 bệnh khác nhau được điều trị bằng lá của cây này (Martin, 2000).

Vùng trồng chùm ngây ở Việt Nam

Ở  Việt Nam, từ lâu, cây đã được trồng ở Nha Trang, Ninh Thuận, Phan Thiết, Phú Quốc. Gần đây, kiều bào ở Mỹ Trần Tiễn Khanh đã chuyển về Việt Nam 100 hạt giống, đã được phân phát cho một số nông dân ở Quảng Ngãi, Quảng Nam, Đà Nẵng. (Trần Việt Hưng, 2006).

Tại vùng Bảy Núi (Tri Tôn), An Giang đã phát hiện cây Chùm ngây mọc tự nhiên nhiều nhất ở 2 dãy núi Dài và núi Cấm. Đây là một loại thảo dược quý, loại thảo dược này mọc ở những khu vực ít người qua lại, mật độ thưa thớt . Phòng NN&PTNT huyện Tri Tôn đã xây dựng đề án thực hiện trồng cây Chùm ngây trong 3 năm và chính thức triển khai vào đầu năm 2010.

Mô tả sơ bộ về cây chùm ngây

Cây chùm ngây

Cây Chùm ngây có dạng sống là cây gỗ nhỏ đến trung bình, cao từ 8 - 10m, cây trưởng thành sau 15 năm có thể cao tới 12-15 m, đường kính gốc từ 20- 35 cm. Lá kép lông chim 3 lần, dài 30 - 60 cm, với nhiều lá chét màu xanh mốc , không lông, dài 1,3 - 2 cm, rộng 0,3 - 0,6 cm; lá kèm bao lấy chồi. Hoa thơm, to, dạng hơi giống hoa đậu, tràng hoa gồm 5 cánh, màu trắng, vểnh lên, rộng khoảng 2,5 cm. Bộ nhị gồm 5 nhị thụ xen với 5 nhị lép. Bầu noãn 1 buồng do 3 lá noãn, đính phôi trắc mô. Quả nang dài từ 30 - 120 cm, rộng 2 cm, khi khô mở thành 3 mảnh dày. Hạt nhiều (khoảng 20), tròn dẹt, to khoảng 1 cm, có 3 cánh mỏng bao quanh. Cây ra hoa vào tháng 1, 2.

Cây và quả chùm ngây

Cây và quả chùm ngây

Tác dụng của chùm ngây

Chùm ngây là loài cây đa tác dụng với vai trò chủ yếu như sơ đồ sau:

Tác dụng của cây chùm ngây

- Lá chùm ngây: Lá cây được dùng làm rau ăn (lá, chồi, cành non và cả cây con được dùng trộn dầu dấm ăn thay rau diếp), làm bột cà-ri, ủ chua làm gia vị, làm trà giải khát, ngoài ra còn được sử dụng làm thức ăn cho gia súc, tinh dầu chiết suất trong lá có thể sử dụng làm chất kích thích sinh trưởng...

Tinh dầu chiết xuất từ lá cây Chùm ngây làm chất kích thích sinh trưởng thực vật đã cho kết quả khả quan: Chất kích thích sinh trưởng từ cây Chùm ngây có thể làm tăng sản lượng từ 25 - 30% với các cây nông nghiệp ngắn ngày sau khi phun như hành, đậu tương, ớt tím, ngô, cà phê, chè…

- Hạt: Chùm ngây chứa nhiều dầu, lượng dầu chiếm đến 30 - 40% trọng lượng hạt, có nơi trồng Chùm ngây ép dầu, năng suất dầu đạt 10 tấn /ha. Dầu hạt Chùm ngây chứa 65,7% acid oleic, 9,3% acid palmitic, 7,4% acid stearic và 8,6% acid behenic. Ở Malaysia, hạt Chùm ngây được dùng để ăn như đậu phộng. Dầu Chùm ngây ăn được, và còn được dùng bôi trơn máy móc, máy đồng hồ, dùng cho công nghệ mỹ phẩm, xà phòng, dùng để chải tóc. Dầu Chùm ngây được bán ở thị trường dưới tên gọi tiếng Anh là Ben-oil. Chính vì thế cây Chùm ngây có tên là "Ben-oil tree".

- Quả: Nghiên cứu tại ĐH Baroda, Kalabhavan, Gujarat (Ấn Độ) về hoạt tính trên các thông số lipid của quả Chùm ngây, thử trên thỏ, ghi nhận: Chùm ngây có tác dụng gây hạ cholesterol, phospholipid, triglyceride, VLDL, LDL hạ tỷ số cholesterol/ phospholipid trong máu... tăng sự thải loại cholesterol qua phân.

- Rễ: Nghiên cứu tại ĐH Jiwaji, Gwalior (Ấn độ) về các hoạt tính estrogenic, kháng estrogenic, ngừa thai của nước chiết từ rễ Chùm ngây ghi nhận chuột đã bị cắt buồng trứng, cho uống nước chiết, có sự gia tăng trọng lượng của tử cung.

- Hoa: Chùm ngây có thể dùng để làm rau ăn hoặc làm trà (nhiều nước Tây phương sản xuất trà hoa Chùm ngây bán ngoài thị trường), cung cấp tốt nguồn muối khoáng calcium và potassium.

Giá trị dinh dưỡng của cây chùm ngây

Chùm ngây, cả lá và hoa, đều có giá trị dinh dưỡng rất cao. Nhiều chuyên gia dinh dưỡng đã gọi chùm ngây là "siêu thực phẩm" của thế kỷ 21.

Cây chùm ngây

Chỉ riêng trong 100g lá chùm ngây có thể chứa lượng chất dinh dưỡng cao gấp nhiều lần các loại thực phẩm khác.

- Đối với trẻ em từ 1-3 tuổi, cứ ăn 20gr lá tươi là cung ứng 90% canxi , 100% Vitamin C, Vitamin A, 15% chất sắt, 10% chất đạm cần thiết, đồng, và Vitamin B bổ sung cần thiết cho trẻ.

- Đối với các bà mẹ đang cho con bú, chỉ cần dùng 100gr lá tươi mỗi ngày là đủ bổ sung canxi , Vitamin C, VitaminA , Sắt , Đồng, và các vitamin B cần thiết trong ngày.

Tuy chùm ngây tốt cho phụ nữ đang cho con bú nhưng cũng tương tự như rau ngót, tránh sử dụng cho phụ nữ có thai.

Chính vì giá trị dinh dưỡng của mình, chùm ngây được hai tổ chức thế giới là WHO và FAO xem như là giải pháp ưu việt cho các bà mẹ thiếu sữa và trẻ em suy dinh dưỡng. Toàn bộ các phần trên cây chùm ngây đều có thể được dùng làm thức ăn hoặc phục vụ cho các mục đích khác nhau; nên chùm ngây hiện đang được khuyến khích trồng ở nhiều quốc gia trên thế giới, đặc biệt là những nước nghèo.

Giá trị y dược của cây chùm ngây

Giá trị y dược của cây chùm ngây

Không chỉ có giá trị dinh dưỡng ấn tượng, chùm ngây cũng được sử dụng bổ trợ nhiều trong y học, có tác dụng chữa 300 bệnh (nhiều bệnh trong số đó đã được chứng minh bởi cộng đồng khoa học). Trà làm từ lá chùm ngây có thể chống lại cảm lạnh và nhiễm trùng. Lá tươi để chữa bệnh thiếu máu, viêm loét dạ dày, tiêu chảy và đắp lá giúp chống vi khuẩn và điều trị chống viêm cho vết côn trùng cắn, vết thương hoặc các vấn đề nấm da. Hạt nghiền nát có tác dụng với bệnh thấp khớp và viêm khớp, và là một loại kháng sinh tự nhiên.