DMCA.com Protection Status

Vận dụng ba luận điểm cơ bản của Hồ Chí Minh về vấn đề tôn giáo trong giai đoạn hiện nay  quan tâm

Được viết bởi: Ẩn danh

Cập nhật lúc 13:19 ngày 26/12/2017

Trong thời gian qua, ngành Nội vụ được Đảng, Nhà nước tin tưởng giao nhiệm vụ công tác tham mưu cho cấp uỷ, chính quyền về công tác tôn giáo và quản lý nhà nước về tôn giáo. Đây không chỉ là niềm tự hào của ngành mà còn là trách nhiệm nặng nề, đòi hỏi cán bộ, công chức toàn ngành phải không ngừng nỗ lực, học tập và công tác để hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao, không phụ sự kỳ vọng của Đảng, Nhà nước và nhân dân. Nhân kỷ niệm 72 năm, ngày truyền thống ngành Nội vụ (28/8/1945 – 28/8/2017), xin trao đổi 03 luận điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về vế đề tín ngưỡng, tôn giáo để vận dụng vào công tác quản lý nhà nước về tôn giáo trong giai đoạn hiện nay.

1. Tín ngưỡng, tôn giáo tự do và lương giáo đoàn kết

Một ngày sau khi đọc Bản Tuyên ngôn độc lập, khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà (ngày 02/9/1945), Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ ra một trong những nhiệm vụ quan trọng, cấp bách của Chính phủ cách mạng đó là: “Thực dân và phong kiến thi hành chính sách chia rẽ đồng bào Giáo và đồng bào Lương, để dễ thống trị. Tôi đề nghị Chính phủ ta tuyên bố: “TÍN NGƯỠNG TỰ DO VÀ LƯƠNG GIÁO ĐOÀN KẾT”(Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb CTQG , Hà Nội 2000, Tập 4, Trang 9). Kể từ đó, trong nhiều sắc lệnh, văn bản do Người thay mặc Chính phủ ký ban hành, hay trong nhiều bài phát biểu và các cuộc nói chuyện, Bác Hồ đều nhất quán quan điểm “Tín ngưỡng tự do và đoàn kết lương giáo”.

Vận dụng tư tưởng tự do tôn giáo của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong giai đoạn hiện nay, các cấp, các ngành phải nhận thức đúng đắn và đầy đủ quy định tại Điều 24, Hiến pháp năm 2013 về quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo tại Việt Nam: (1) Mọi người đều có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào. Các tôn giáo bình đẳng trước pháp luật. (2) Nhà nước tôn trọng và bảo hộ quyền tự do, tín ngưỡng, tôn giáo. (3) Không ai được xâm phạm tự do tín ngưỡng, tôn giáo hoặc lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để vi phạm pháp luật” và Điều 6, Luật tín ngưỡng, tôn giáo được Quốc hội khoá XIV thông qua tại kỳ họp thứ 2, sẽ có hiệu lực từ ngày 01/01/2018: (1) Mọi người đều có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào. (2) Mọi người có quyền bày tỏ niềm tin tín ngưỡng, tôn giáo; thực hành nghi lễ tín ngưỡng, tôn giáo; tham gia lễ hội; học tập và thực hành giáo luật tôn giáo. (3) Mỗi người có quyền vào tu tại cơ sở tôn giáo, học tập tại cơ sở đào tạo tôn giáo, bồi dưỡng của tổ chức tôn giáo... (4) Chức sắc, chức việc, nhà tu hành có quyền thực hiện lễ nghi tôn giáo, giảng đạo, truyền đạo tại cơ sở tôn giáo hoặc địa điểm hợp pháp khác. (5) Người bị tạm giữ, người bị tạm giam theo quy định của pháp luật về thi hành tạm giữ, tạm giam; người đang chấp hành hình phạt tù; người đang chấp hành biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc có quyền sử dụng kinh sách, bày tỏ niềm tin tín ngưỡng, tôn giáo”.

Ngày nay, trong xu thế hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, việc các tôn giáo nước ngoài du nhập vào cùng với những tôn giáo nội sinh đã làm cho bức tranh tôn giáo nước ta ngày càng đa sắc màu, Việt Nam trở thành một quốc gia đa tôn giáo. Do đó, hơn lúc nào hết, việc đoàn kết tôn giáo, đoàn kết lương giáo đang đặt ra cho chúng ta một nhiệm vụ hết sức khó khăn và phức tạp. Bởi, mỗi một tôn giáo có tôn chỉ, mục đích, đường hướng hành đạo, phát triển tín đồ khác nhau, nếu công tác quản lý nhà nước không tốt sẽ dễ dẫn đến nguy cơ mất đoàn kết giữa các tôn giáo, giữa đồng bào theo tôn giáo với đồng bào không theo tôn giáo. Tuy nhiên, nếu chúng ta nhận thức đúng đắn, đầy đủ tư tưởng “đoàn kết lương giáo” của Chủ tịch Hồ Chí Minh và các quy định của pháp luật thì nhất định sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc sẽ không ngừng được củng cố và phát huy!

2. Phát huy những điểm tương đồng giữa tôn giáo và CNXH; chấp nhận những khác biệt của tôn giáo

Khác với những người cộng sản trên thế giới, Chủ tịch Hồ Chí Minh có quan điểm rất nhân văn và tiến bộ về tôn giáo và những giá trị tích cực của tôn giáo đối với sự nghiệp cách mạng của dân tộc. Theo Hồ Chí Minh:“Chúa Giêsu dạy: Đạo đức là bác ái/ Phật Thích Ca dạy: Đạo đức là từ bi/ Khổng Tử dạy: Đạo đức là nhân nghĩa”. Với Bác Hồ, những giá trị đạo đức của tôn giáo: bác ái, từ bi, nhân nghĩa… rất phù hợp với đạo đức của truyền thống của dân tộc Việt Nam từ xưa đến nay. Đặc biệt, Hồ Chí Minh còn là người đã nêu ra ra sự tương hợp giữa học thuyết các tôn giáo và học tuyết cách mạng. Người viết: “Học thuyết của Khổng Tử có ưu điểm của nó là sự tu dưỡng đạo đức cá nhân. Tôn giáo Giêsu có ưu điểm của nó là lòng nhân ái cao cả. Chủ nghĩa Mác có ưu điểm của nó là phương pháp làm việc biện chứng. Chủ nghĩa Tôn Dật Tiên có ưu điểm của nó, chính sách của nó phù hợp với điều kiện nước ta. Khổng Tử, Giêsu, Mác, Tôn Dật Tiên chẳng có những ưu điểm chung đó sao? Họ đều muốn mưu hạnh phúc cho mọi người, mưu phúc lợi cho xã hội. Nếu hôm nay họ còn sống trên cõi đời này, nếu họ hợp lại một chỗ, tôi tin rằng họ nhất định chung sống với nhau rất hoàn mỹ như những người bạn thân thiết. Tôi cố gắng làm người học trò nhỏ của các vị ấy” (Về Tôn giáo, Nxb KHXH, Hà Nội 1994, Tập 1, Trang 6-7).

Nhân loại từ ngàn xư đến nay đều cháy bỏng khát vọng giải phóng khỏi áp bức, bất công, yêu chuộng hoà bình và luôn hướng đến Chân-Thiện-Mỹ. Các tôn giáo chân chính trên thế giới, nếu bỏ qua các yêu tố hư ảo, cũng có những tôn chỉ, mục đích tốt đẹp: Phật giáo quan niệm muốn tìm đến chân lý của hạnh phúc là “diệt khổ” để giải thoát, chứng được Niết bàn. Trong đạo đức Kitô giáo, yêu thương được xem là nền tảng, con người trước hết phải yêu Thiên Chúa rồi yêu thương đến bản thân mình. Kinh thánh khuyên con người phải yêu chồng vợ, cha mẹ, con cái, anh em, làng xóm, cộng đồng…

Bên cạnh những giá trị tương đồng về đạo đức, tôn giáo cũng có nhiều đóng góp tích cực đối văn hoá. Văn hoá tôn giáo ngày nay đã khẳng định được giá trị, chỗ đứng trong nền văn hoá dân tộc. Những nghi lễ tôn giáo không còn là hoạt động riêng có của những người theo đạo mà nó đã mang tính xã hội rộng lớn. Lễ Giáng sinh đã vượt ra xã phạm vi của giáo hội, nó dân trở thành ngày hội của dân chúng mọi nơi. Lễ Vu Lan (Rằm tháng Bảy) không chỉ là đại lễ của Phật giáo, mà từ lâu lễ Vu Lan đã trở thành hoạt động bảy tỏ lòng hiếu thảo của con cái đối với cha mẹ… Các công trình tôn giáo, cơ sở thờ tự của tôn giáo ngoài chức năng làm nơi sinh hoạt tôn giáo, nó còn là các công trình kiến trúc, là nơi trưng bày, lưu giữ các tác phẩm điêu khắc, hội hoạ có giá trị nghệ thuật rất lớn. Các ấn phẩm kinh sách tôn giáo, những tác phẩm thơ ca, nhạc kịch về đời sống tín ngưỡng, tôn giáo đang góp phần làm phong phú cho kho tàng văn hoá dân tộc.

Với những giá trị không thể phủ nhận đó, đã đặt ra nhiệm vụ khó khăn, phức tạp cho cơ quan nhà nước nói chung, cơ quan quản lý về tôn giáo, về văn hoá nói riêng là phải tìm hiểu, nghiên cứu, đánh giá đúng để phát huy những giá trị tốt đẹp của tôn giáo trong quá trình thực hiện chức năng quan lý nhà nước. Bên cạnh đó, cần có nhận thức khoa học để chấp nhận về những khác biệt để có cách ứng xử phù hợp với các tôn giáo: con đường giải phóng con người của tôn giáo; thế giới quan, nhân sinh quan tôn giáo; đạo đức tôn giáo...

3. Phần lớn đồng bào theo tôn giáo đều yêu nước

Đồng bào các tôn giáo từ xưa đến nay là bộ phận không thể tách rời trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam. Năm 1952, trong Báo cáo tại Hội nghị lần thứ ba của Ban Chấp hành Trung ương Đảng, khóa II, khi đề cập đến Tôn giáo, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết: “Phần lớn đồng bào tôn giáo, nhất là các tầng lớp lao động đều yêu nước kháng chiến”. Luận điểm này đã được chứng minh qua hai cuộc kháng chiến trường kỳ của dân tộc, các tổ chức, chức sắc, tín đồ các tôn giáo đã có nhiều hoạt động yêu nước, kháng chiến như:  Phật giáo có “Đoàn Phật giáo cứu quốc”, “Bộ đội Tăng già”, “Hội Phật giáo cứu quốc”; Công giáo có “Hội Công giáo kháng chiến Nam Bộ”; “Ủy ban Liên lạc Công giáo khu Ba”, “Ủy ban Liên lạc Công giáo khu Tả Ngạn”; trong chống Mỹ, cứu nước, đã có hơn 5 vạn thanh niên Công giáo lên đường bảo vệ Tổ quốc. Cao Đài có Pháp phái Cao Đài Tiên thiên tham gia tổ chức “Cao Đài cứu quốc 12 phái hợp nhất" để động viên chức sắc, tín đồ tham gia kháng chiến. Phật giáo Hoà Hảo có “Mặt trận quốc gia liên hiệp Việt Nam” do Huỳnh Phú Sổ làm chủ tịch...

Tiếp tục phát huy truyền thống yêu nước thương nòi, hiện nay, các tôn giáo ở Việt Nam đã xây dựng đường hướng hành đạo gắn bó với dân tộc, tập hợp đông đảo tín đồ trong khối đại đoàn kết toàn dân tộc, góp phần xây dựng quê hương, đất nước giàu đẹp, như: “Đạo pháp - Dân tộc - Chủ nghĩa xã hội” của Phật giáo; “Sống phúc âm giữa lòng dân tộc” của Công giáo; “Sống phúc âm phụng sự Thiên Chúa, phục vụ Tổ quốc và dân tộc” của đạo Tin lành; “Nước vinh, đạo sáng” của đạo Cao Đài; “Vì đạo pháp, vì dân tộc” của Phật giáo Hòa Hảo...

Mặc dù trong thời gian qua, ở một số nơi, trong một số thời điểm cụ thể, một bộ phận tín đồ tôn giáo do nhận thức chưa đầy đủ hoặc bị các đối tượng xấu lợi dụng, kích động, lôi kéo để gây sức ép, đòi yêu sách với chính quyền, gây mất an ninh trật tự. Tuy nhiên, sau khi được tuyên truyền, vận động, giải thích, giáo dục bà con tín đồ đã nhận thức được việc làm của mình và quay về con đường chính đạo.

Trong công tác quản lý nhà nước về tôn giáo, hơn ai hết các cán bộ, công chức phải có niềm tin vững chắc luận điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh “phần lớn đồng bào theo các tôn giáo đều yêu nước”. Những vấn đề phát sinh có liên quan đến tôn giáo cần phải được nhìn nhận, đánh giá một cách khách quan, khoa học để tìm ra được căn nguyên, bản chất của nó, tuyệt đối không được chủ quan, dẫn đến mất lòng tin vào quần chúng tín đồ. Có như vậy, trong công tác tham mưu, thực hiện hiện chức năng quản lý nhà nước mới vượt qua được những định kiến, thành kiến, nghi kị, cảm tính, tránh được tâm lý phân biệt đối xử giữa các tôn giáo, giữa đồng bào theo tôn giáo và không theo tôn giáo. Thông thường, mỗi cán bộ, công chức đều có tâm trạng, tình cảm, cảm xúc như bao người khác, nên họ có thể có cảm tình với tôn giáo này hơn tôn giáo khác. Tuy nhiên, trong quá trình tham mưu, quản lý nhà nước về tôn giáo, cán bộ, công chức tuyệt đối không để tình cảm cá nhân chi phối vào công việc, cần phải thực hiện đúng nguyên tắc “vô nhân xưng” của cơ quan nhà nước khi thi hành công vụ.

Quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo là nhiệm vụ không dễ thực hiện bởi đó là quản lý hoạt động liên quan trực tiếp đến đời sống tâm linh, lĩnh vực tinh thần của con người. Do đó, ngoài việc nắm vững pháp luật, có lập trường, tư tưởng vững vàng, cán bộ, công chức cần phải có niềm tin vào quần chúng, có hiểu biết cơ bản về các tôn giáo để có ứng xử phù hợp với tổ chức, cá nhân tôn giáo. Bên cạnh đó, hiện nay, toàn Đảng, toàn dân ta đang tích cực thực hiện Chỉ thị 05-CT/TW, ngày 15/5/1016 của Bộ Chính trị về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, thiết nghĩ, việc tìm hiểu, nghiên cứu, vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh vào công tác quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo là góp phần thực hiện tốt Chỉ thị của Bộ Chính trị./.

Hà Đăng Khoa