DMCA.com Protection Status

Trích Tài liệu tập huấn cán bộ Đoàn về nghề nghiệp- việc làm & TL tham khảo  quan tâm

Được viết bởi: Trần Việt Thao

Cập nhật lúc 14:31 ngày 10/01/2018

Trích Tài liệu tập huấn cán bộ Đoàn về nghề nghiệp- việc làm & TL tham khảo

( Trung ương Đoàn TNCS Hồ Chí Minh- Ban điều hành đề án 103).

Hướng nghiệp- Học nghề- việc làm

Nghề nghiệp và việc làm

1, Khái niệm nghề và đặc trưng cơ bản của nghề:

a, Nghề là một dạng xác định của hoạt động lao động trong hệ thống phân công lao động xã hội, là tổng hợp những kiến thức( hiểu biết) và kỹ năng trong lao động mà con người tiếp thu được do kết quả của đào tạo chuyên môn và tích lũy trong công việc.

b, Các đặc trưng cơ bản của nghề là:

  • Công việc chuyên làm

  • Phương tiện sinh sống của con người

  • Bao gồm cả lao động trí óc và chân tay( nghĩa mở rộng)

  • Phải phù hợp với yêu cầu của xã hội và có ích cho xã hội

C, Khi mô tả về nghề, thường đề cập đến các yếu tố:

  • Đối tượng lao động

  • Công cụ lao động

  • Quá trình công nghệ

  • Tổ chức lao động

  • Yêu cầu( tâm lý và sinh lý….) với người hành nghề.

d, Trình độ nghề: Là thước đo mức độ phức tạp của lao động( kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo).

Trình độ nghề phản ánh đặc điểm, tính chất và yêu cầu về trình độ kỹ thuật, trình độ tổ chức sản xuất, tổ chức lao động trong mỗi thời kỳ phát triển kinh tế- xã hội.

2, Lựa chọn nghề. Tôi là ai?

a, Lựa chọn nghề:

Qua trao đổi với thanh niên, hầu hết đều mong muốn được học một nghề như thế nào để sau này có một công việc( việc làm) hấp dẫn, có tiền lương thỏa đáng, có cơ hội thăng tiến, có môi trường làm việc tốt, có văn hóa hợp tác và sự tôn trọng.

Theo thống kê chưa đầy đủ, hiện có hơn 1400 loại nghề khác nhau.

b, Nghề( nghiệp) nhiều và đa dạng như thế thì lựa chọn như thế nào? Để phù hợp với mong muốn và năng lực của bản thân, trên cơ sở đó có việc làm phù hợp sau này là điều không dễ. Để đi đến một lựa chọn đúng, một câu hỏi đầu tiên đặt ra “ Tôi là ai?”.

Trả lời câu hỏi này là đánh ía bản thân về các mặt: Mặt mạnh, mặt yếu, sức khỏe, trình độ học vấn, sở thích, năng lực, thành công, thất bại, kỹ năng đang có, mơ ước, tính cách của mình,…

Cần nhớ rằng, dù nghề nghiệp là rất khác nhau, song để làm được một nghề nào đó, thì ngoài các kỹ năng chuyên biệt, ai cũng phải có một số kỹ năng cơ bản, như kỹ năng đọc, kỹ năng viết, kỹ năng nói, kỹ năng nghe, kỹ năng giao tiếp xã hội, kỹ năng hợp tác,…

Một điều rất quan trọng là sự phù hợp có tính tương đối giữa con người và nghề nghiệp. Bởi vì, không bao giờ có sự phù hợp tuyệt đối cả. Do đó,liên tục được đào tạo, đào tạo lại, đào tạo bổ túc là yêu cầu bắt buộc nhằm bảo đảm sự thích nghi ngày càng cao giữa con người và nghề nghiệp- đặc biệt trong bối cảnh của cuộc cách mạng KHKT và công nghệ ngày nay.

3, Việc làm và việc làm phù hợp

“ Mọi hoạt động lao động tạo ra nguồn thu nhập, không bị pháp luật cấm đều được thừa nhận là việc làm” ( Điều 13, Bộ Luật Lao động).

Khái niệm việc làm ngày nay đã được mở rộng, không chỉ hạn chế ở các công việc làm công ăn lương trong các thành phần kinh tế mà còn có thể tự giải quyết việc làm.

Tuy nhiên, dù dưới hình tức nào, muốn có việc l;àm phải có nghề, muốn có thu nhập cao phải gioir nghề. Để đi đến việc làm, quy trình bao giờ cũng là : Giáo dục và tuyên truyền về nghề nghiệp, tư vấn nghề, lựa chọn nghề, học nghề, việc làm.

Một điều rất quan trọng cần nhớ: Cơ hội có việc làm càng cao khi nghề nghiệp phù hợp với nhu cầu của xã hội. Giỏi một nghề, biết thêm một số nghề lien quan là tăng được cơ hội có việc làm.

Bất cứ việc làm nào, nghề nghiệp nào cũng có những mặt trái của nó( khó khăn, vất vả). Một việc làm cụ thể bao giờ cũng đặt ra những đòi hởi riêng của nó mà con người cần đáp ứng. Muốn biết việc làm có phù hợp với mình hay không, cần trả lời các câu hỏi:

  • Có đủ trình độ để làm công việc ấy hay không?

  • Có cần học thêm kiến thức và kỹ năng gì để làm công việc ấy hay không?

  • Có thích nghi được với điều kiện lao động của công việc ấy hay không?

II- Hoạt động hướng nghiệp

Hướng nghiệp là hệ thống những biện pháp dựa trên cơ sở tâm lý học, sinh lý học, giáo dục học, xã hội học và một số khoa học khác nhằm giúp con người định hướng nghề nghiệp một cách đúng đắn, từ đó chọn nghề phù hợp với nguyện vọng, năng lực, đặc điểm tâm sinh lý cá nhân và hoàn cảnh sống, phù hợp với nhu cầu của xã hội; nhờ vậy có thể tiến tới đỉnh cao của nghề nghiệp, cống hiến được tối đa cho xã hội và xây dựng được cuộc sống tốt đẹp cho bản thân và gia đình.

Dưới góc đọ kinh tế- xã hội, hướng nghiệp có vai trò quan trọng để phát triển nguồn nhân lực và sử dụng nó một cách tối ưu.

Bản thân công tác hướng nghiệp cũng phải được định hướng theo tiến trình phát triển của đất nước, theo sự chuyển dịch của cơ cấu kinh tế qua từng thời kỳ, từng vùng và địa phương cụ thể.

Công tác hướng nghiệp gồm 3 khâu gắn bó chặt chẽ với nhau là định hướng nghề, tư vấn nghề và tuyển chọn nghề. Sau đó là học nghề để đi tới việc làm.

Nhưng thực tế nhiều năm gần đây ở nước ta cho thấy đang diễn ra một quy trình ngược: Rất nhiều thanh niên sau khi học xong THCS hoặc THPT, không có định hướng nghề nghiệp rõ rang, không được ư vấn nghề một cách khoa học, dành hết công sức, tiền của để thi vào một trường cao đẳng, đại học hoặc cơ sở dạy nghề nào đó mà hầu hết chưa nắm được nội dung đào tạo là như thế nào. Điều đó, dưới góc độ quốc gia đã dẫn đến tình trạng bất hợp lý về cơ cấu lao động qua đào tạo; dưới góc độ cá nhân dẫn đến tình trạng bất hợp l;ý về cơ cấu lao động qua đào tạo; dưới góc độcá nhân dẫn đến tình trạng “ vênh” giữa năng lực và nghề nghiệp, không yêu nghề, khó thăng tiến trong nghề nghiệp, chuyển nghề.

3, Nội dung công tác hướng nghiệp

a, Làm cho đối tượng hiểu rõ mình là ai? Thông qua trực tiếp trao đổi, tìm hiểu về hứng thú nghề nghiệp, hoàn cảnh và truyền thống gia đình.

Thông qua một số trắc nghiệm tìm hiểu về trí nhớ, trí tưởng tượng không gian, sự tập trung chú ý, khả năng giao tiếp,….

b, Làm cho đối tượng hiểu được về thế giới nghề nghiệp

  • Cung cấp thông tin về hệ thống đào tạo ( địa điểm, chỉ tiêu, tuyển sinh, tỷ lệ chọn học sinh thi đỗ,…)

  • Tư vấn chọn nghề

  • Một số điều cần nhấn mạnh khi hướng nghiệp:

+ Không chọn nghề theo phong trào

+ Không đồng nhất năng lực hcoj tập với khả năng nghề nghiệp

+ Không chú ý đến mặt trái của nghề nghiệp

+ Không dựa vào cảm tính thiếu cơ sở khoa học

+ Không đặt mình vào hoàn cảnh, điều kiện hạn hẹp của địa phương

+ Khả năng chuyển nghề và việc làm khi cần thiết.

III- TU VẤN NGHỀ

1, Khái niệm hoạt động tư vấn

“ Hoạt động tư vấn là hoạt động thu thập, xử lý thông tin, vận dụng kiến thức chuyện môn, phát hiện vấn đề, đề xuất giải pháp, phương án, lập dự án và giám sát đánh giá, do các tổ chức chuyên môn, cá nhân thực hiện độc lập, khách quan theo yêu cầu của người sử dụng tư vấn”.

Hoạt động tư vấn phải tuân thủ các nguyên tắc nhất định như quy định liên quan của pháp luật, đạo đức nghề nghiệp, trung thực, khách quan,….

2, Tư vấn nghề

Là một hoạt động tư vấn, dựa vào những biện pháp tâm lý, giáo dục và y học nhằmđánh giá toàn diện năng lực thể chất và trí tuệ của đối tượng, trên cơ sở những yêu cầu của một nghề cụ thể, có tính đến nhu cầu của thị trường lao động, để đưa ra lời khuyên về chọn nghề phù hợp cho đối tượng.

3, Vai trò của cán bộ tư vân nghề

  • Giúp người lao động tìm được nghề phù hợp bằng cách cung cấp đủ thông tin và biết cách tự đánh giá bản thân.

  • Giúp các cơ sở dạy nghề triển khi các khóa đào tạo và môn học phù hợp với nhu cầu của người học và của thị trường lao động

  • Thiết lập mối quan hệ 4 bên: Người muốn học nghề- Trung tâm giới thiệu việc làm- cơ sở dạy nghề- doanh nghiệp.

4, Nhiệm vụ của cán bộ tư vấn nghề

  • Hướng dẫn chọn nghề, phối hợp với hoạt động hướng nghiệp của các trường THCS, THPT.

  • Cung cấp các thông tin về cơ hội việc làm( ở địa phương, vùng, quốc gia)

  • Giới thiệu đối tượng đến cơ sở dạy nghề phù hợp

  • Giới thiệu các nguồn hỗ trợ học nghề

  • Tổ chức tham quan doanh nghiệp.

  • Cần nhớ: 2 kếnh quan trọng khi tư vấn nghề

+ Thông tin cá nhân

+ Thông tin về nghề nghiệp, cơ sở đào tạo và việc làm.

5, Bản mô tả nghề

Khi tư vấn nghề, có thể dùng “ bản mô tả nghề” để minh họa về một nghề cụ thể, ví dụ:

  • Tên nghề

  • Kiểu quan hệ của nghề( người- người; người kỹ thuật,…)

  • Đối tượng lao động

  • Công cụ lao động

  • Hình thức tổ chức lao động

  • Điều kiện lao động

  • Rủi ra nghề nghiệp

  • Điều kiện tuyển chọn( chống chỉ định về sinh lý, bệnh lý,….)

  • Nơi có thể hành nghề và khả năng thăng tiến.

  • Cơ sở đào tạo

IV- THÔNG TIN THỊ TRƯỜNG LAO ĐỘNG

1, Khái niệm cơ bản

Thị trường lao động: Là bộ phận của hệ thống thị trường; là nơi mua bán sức lao động, giữa một bên là người lao động tự do( người sở hữu sức lao động) và một bên là người có nhu cầu sử dụng lao động( cần thuê sức lao động đó).

Có nhiều loại thị trường lao động, ví dụ:

  • Phân theo địa lý: Trong nước, ngoài nước, thành thị, nông thôn

  • Phân theo thành phần kinh tế: Khu vực nhà nước, lien doanh, tư nhân,…

  • Phân heo nghề: Thwoj nề, lái xe, văn thư,…

2, Hệ thống thông tin Thị trường lao động, chức năng và vai trò của nó

a, Thông tin thị trường lao động: Là thông tin về các hoạt động của thị trường lao động. Bao gồm 2 loại:

  • Định tính: Luật pháp, quy định, báo cáo, sản phẩm truyền thông( báo chí).

  • Định lượng: Các số liệu, bảng biểu, đồ thị, tài liệu thống kê,…

Khi thu thập các thông tin thị trường lao động liên quan đến yếu tố CUNG, thường chú ý đến:

+ Các tiêu chí về dân số

+ Các tiêu chí về lực lượng lao động

+ Các tiêu chí về việc làm

+ Các tiêu chí về người thất nghiệp

Đối với yếu tố CẦU, thường chú ý đến:

+ Số chỗ việc làm còn trống

+ Dự báo nhu cầu lao động

b, Hệ thống thông tin thị trường lao động( TTLĐ)- Là sự lien kết giữa các nguồn thông tin thị trường lao động với việc sử dụng chúng.

Chức năng:

  • Thu thập, xử lý, phổ biến thông tin TTLĐ

  • Phân tích thông tin TTLĐ cho người làm chính sách

  • Chỉ đạo và đánh giá các thông tin TTLĐ và chính sách việc làm.

  • Tư vấn cho người sử dụng lao động, người tìm việc, cơ sở đào tạo.

  • Đóng góp cho nghiên cứu khoa học

Vai trò:

* ở tầm vĩ mô:

- Cơ sở hình thành các chính sách phát triển nguồn nhân lực

Xây dựng và đánh giá các chính sách về đào tạo việc làm và đào tạo nghề

Cơ sở hình thành và đánh giá các chính sách xã hội

  • ở tầm vi mô

  • Tư vấn về nhu cầu đào tạo

  • - Khuyến khích sự di chuyển lao động( theo địa lý, ngành kinh tế, thành phần kinh tế,…).

  • Tư vấn nghề, kể cả cơ hội việc làm

3, Tổ chức hoạt động của thông tin thị trường lao động

Cần nhớ: Trong hệ thống thông tin và hoạt động của thông tin TTLĐ, thì các tổ chức và các cơ sở về dịch vụ việc làm( hiện nay gọi là giới thiệu việc làm), có vai trò đặc biệt quan trọng.

Đây là:

  • Cầu nối cung- cầu về lao động( môi giới việc làm)

  • Nơi cung cấp và sử dụng thông tin về TTLĐ

  • Đầu mỗi quan trọng trong việc thực hiện công tác thống kê lao động

V- DỊCH VỤ VIỆC LÀM( DVVL)

1, Khái niệm

Hiểu theo nghĩa hẹp, DVVL là hoạt động nhằm giúp người tòm việc có việc làm, giúp người sử dụng lao động có được người lao động cần thuê mướn.

Hiểu theo nghĩa rộng, DVVL không chỉ là hoạt động như trên mà còn có mục đích hướng nghiệp và đào tạo nghề; thu thập, xử lý và cung cấp thông tin về TTLĐ.

2, Các chức năng và khách hang chủ yếu

Dịch vụ việc làm là mộ thành phần cơ bản của chính sách thị trường lao động.

Chức năng truền thống của nó là sắp xếp việc làm hiệu quả cho người tìm việc thông qua quá trình chắp nối CUNG- CẦU.

Ngoài ra, DVVL còn cung cấp thông tin TTLĐ, tư vấn nghề và việc làm, trợ giúp dịch chuyển lao động, quản lý chương trình bảo hiểm thất nghiệp và chi trả trợ cấp thất nghiệp, quản lý việc làm của người lao động nước ngoài.

Trong một số trường hợp, nó còn góp phần giải quyết việc làm cho một số đối tượngđặc thù( ví dụ người tàn tật,….); thực hiện mộ số hoạt động sản xuất nhỏ, quản lý một số chương trình việc làm đặc biệt( ví dụ, dành cho người hồi hương,…).

Khách hang chủ yếu của DVVL là:

  • Người tìm việc

  • Người sử dụng lao động( thuê lao động)

  • Người cấn tìm kiếm thông tin về học nghề và việc làm( học sinh, sinh viên, phụ huynh học sinh,…).

Đối với mỗi khách hang đều có những kỹ năng cần tiếp cận, tìm hiểu, đối thoại riêng. Lưu ý rằng, người sử dụng lao động là người tạo ra chỗ làm việc. Phải xây dựng được mối quan hệ thường xuyên, lâu dài với họ.

Cho dù đã có những cầu nối khác như phuuwong tiện truyền thông internet,….song việc tiếp xúc trực tiếp với khách hang vẫn có vai trò và hiệu quả đặc biệt, đòi hỏi cán bộ DVVL cần được đào tạo, tập huấn chu đáo( Ví dụ: Kỹ năng tham dự phỏng vấn tuyển dụng dành cho người tìm việc; ky năng tiếp cận và duy trì quan hệ với doanh nghiệp, kỹ năng đàm phán với chủ sử dụng lao động,…)……

3, Hệ thống dịch vụ việc làm quốc gia

Hiện nay, hệ thống này đã dược đổi tên là các “ Trung tâm giới thiệu việc làm”( Một số nơi vấn giữ tên cũ là “ Trung tâm dịch vụ việc làm” hoặc đặt tên mới là “ Trung tâm dạy nghề và giới thiệu việc làm”.

Hệ thống được chia thành 4 nhánh:

  • Các Trung tâm trức thuộc sở LĐTB & XH địa phương.

  • Các Trung tâm trực thuộc Tổ chức quần chúng( ví dụ của Đoàn TNCS Hồ Chí Minh, Hội LHPN, Công đoàn, Hội CCB, Hội nông dân,…).

  • Các trung tâm trực thuộc Bộ, Ngành Trung ương.

  • Các Trung tân tư nhân( thành lập theo Luật Doanh nghiệp).

Về những yêu cầu, mô hình tổ chức, chức năng nhiệm vụ….của Trung tâm, có thể tham khảo văn bản mới nhất lien quan đến vấn đề này do Chính phủ và Bộ LĐTB ^ XH ban hành(Nghị định 19/2005/NĐ- CP ngày 28/02/2005 quy định điều kiện, thủ tục thành lập và hoạt động của tổ chức giới thiệu việc làm và thông tư 20/2005/TT-BLĐTBXH ngày 22/6/2005 Hướng dẫn thi hành một số điều của Nghị định số 19/2005/NĐ- CP ngày 28/02/2005 quy định điều kiện, thủ tục thành lập và hoạt động của tổ chức giới thiệu việc làm, Nghị định 71/2008/ND- CP ngày 05/6/2008 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 19/2005/NĐ- CP ngày 28/02/2005 quy định điều kiện, thủ tục thành lập và hoạt động của tổ chức giới thiệu việc làm).

Ở đây có nêu rõ 4 nhiệm vụ của Trung tâm là: Tư vấn về việc làm và học nghề; giới thiệu việc làm, cung ứng lao động; thông tin thị trường lao động; được tổ chức dạy nghề.


VI. KỸ NĂNG TÌM VIỆC LÀM( dành cho người tìm việc)

1, Tự đánh giá: Cũng giống như khi định hướng nghề nghiệp, sau khi đã qua đào tạo nghề hoặc tốt nghiệp các cơ sở đào tạo, nắm được thông tin tuyển dụng nhờ các kênh khác nhau, bản thân người tìm việc phải tự đánh giá lại mình một lần nữa để có thể so sánh năng lực( các mặt) hiện có với những yêu cầu của việc làm( vị trí công việc) do chủ sử dụng lao động thông báo trực tiếp hoặc thông qua các cơ quan môi giới việc làm.

Có tể lập một bảng gồm 2 cột: “có”( năng lực) và “ Muốn”( công việc để so sánh).

Ví dụ “ Có”: Kỹ năng giao tiếp và ngoại ngữ( tiếng Anh(. “ Muốn”: Làm hướng dẫn viên du lịch.

Tất nhiên còn nhiều yếu tố khác cần quan tâm xem xét, ví dụ: Khả năng làm việc lưu động, hiện tượng say tàu, xe, máy bay,…

2, Địa chỉ hỗ trợ: Dưới đây là một số địa chỉ trợ giúp cho quá trình tìm việc làm:

a, Các Trung tâm giới thiệu việc làm

b, Các phương tiện truyền thông: Nhiều nhà tuyển dụng thông báo tuyển người qua báo chí, đài phát thanh truyền hình. Các thông báo có thể nêu rõ nội dung công việc, yêu cầu về trình độ và kỹ năng, mức lương, hồ sơ xin việc.( Điều này cũng có lợi khi tự đánh giá, hoặc bổ sung hoàn thiện những gì còn thiếu hay yếu).

c, Internet: Một số chủ sử dụng lao động có trang web riêng. Các thông tin về việc làm khá đa dạng, phong phú, cập nhật và có cả thông tin về việc làm ở nước ngoài.

d, Bạn bè và người thân: Đây có thể là những nguồn cung cấp thông tin về tuyển dụng, về nới làm việc, về trang thiết bị hoặc sản phẩm của cơ sở tuyển dụng. Cũng có thể tìm thấy ở đây một số lợi khuyên hữu ích của “ Người đi trước”.

đ, Các Hội chợ việc làm, sàn giao dịch việc làm: Đây là nơi doanh nghiệp trực tiếp tiếp nhận hồ sơ xin việc và tổ chức tuyển dụng sơ bộ( bước 1). Đây cũng là nơi có thể tiếp xúc với các cơ sở dạy nghề( bổ túc phần còn thiếu về lý thuyết hoặc thực hành).

3, Làm đơn xin việc và CV

Một bộ hồ sơ xin việc thường bao gồm:

  • Đơn xin việc

  • Sơ yếu lý lịch, kèm ảnh, giấy khám sức khỏe.

  • Các chứng chỉ về học vấn, nghề nghiệp.

  • Hộ khẩu( bản sao nếu cần), thư giới thiệu( nếu cần).

Háy nhớ: Hãy gây ấn tượng bằng một đơn xin việc tốt.

Đơn xin việc tốt: Nếu doanh nghiệp không đưa mẫu, thì chỉ viết( đánh máy vi tính) trên một tờ gấy A4.

  • Ngắn gọn, đủ ý

  • Trình bày sạch xẽ

  • Ngôn ngữ chuẩn xác

  • Không sai chính tả, ngữ pháp

Viết sơ yếu lý lịch( CV)

Ngoài thông tin ngắn gọn về bản thân và gia đình, nên giới thiệu:

  • Học vấn

  • Chuyên môn( nghề nghiệp)

  • Kinh nghiệm làm việc

Ngoài các yểu cầu về hình thức như đối với đơn xin việc, CV phải trung thực.

4. Tham dự phỏng vấn tuyển dụng

Dây là dịp để người sử dụng lao động tiếp xúc trực tiếp với người tìm việc và đnha sgias, đi đến tuyển dụng hoặc từ chối.

  • Một cuộc phỏng vấn tuyển dụng thường gồm 5 bước sau:

  • Mở đầu

  • Kiểm ra một số thông tin liên quan đến CV.

  • Hỏi đáp về nghiệp vụ liên quan đến vị trí tuyển dụng.

  • Kết thức

  • Quyết định của Ban giám khảo.

  • Trước khi dự phỏng vấn cần chuẩn bị kỹ:

  • Hỏi kinh nghiệm của người đi trước( người thành công, người thất bại).

  • Thu thập thông tin về nơi xin việc.

  • Tập dượt

  • Khi dự phỏng vấn:

  • Tham khảo, nghiên cứu trước những câu hỏi hoặc tình huống thường gặp.

  • Chuẩn bị tài liệu mang theo.

  • Chú ý vẻ ngoài( đầu tóc, quần áo) và cách nói năng.

  • Biết những gì có thể hỏi và không nên hỏi.

VII. KỸ NĂNG PHỎNG VẤN NGƯỜI TÌM VIỆC


Giúp cho người tìm việc có việc làm phù hợp với năng lực và mong muốn của họ, là trách nhiệm và lương tâm của cán bộ DVVL. Muốn vậy, yêu cầu đầu tiên là phải có được thông tin cần thiết về bản thân người tìm việc, để có cơ sở chắp nối với nhà tuyển dụng, hoặc đề xuất các giải pháp khác( ví dụ: tự tạo việc làm).

Thực tế cho thấy, không hiếm cán bộ DVVL lung túng khi tiếp xúc ban đầu với người tìm việc, khi phải trả lời các câu hỏi: Làm thế nào để tìm được việc làm, học nghề hoặc chuyển nghề thì phải làm gì, muốn khởi sự doanh nghiệp thì bước đi ra sao,…Thâm chí, do thái độ ứng xử hoặc hiểu biết hạn chế của cán bộ DVVL khiến người tìm việc bực tức hoặc thất vọng bỏ đi,…

1, Đón tiếp người tìm việc

  • Người đó là ai?

  • Họ đến với Trung tâm như thế nào( có hẹn, không hẹn trước).

  • Tổ chức cuộc phỏng vấn( nội dung phỏng vấn, người phỏng vấn, nội dung phỏng vấn cần chuẩn bị cho cuộc phỏng vấn….).

  • Cấn nhớ: Cán bộ phỏng vấn phải có các tài liệu về thị trường lao động địa phương, các cơ sở dạy nghề, các doanh nghiệp, một số vấn đề về pháp luật lao động, các chương trình tín dụng,….

  • Thái độ khi phỏng vấn: Thân thiện những không suồng sã. Nắm chi tiết những không tò mò.

2, Tiến hành phỏng vấn

Mục đích:

  • Thu thập thông tin cần thiết để hiểu rõ đối tượng

  • Giúp đối tuwongj nói lên điều họ muốn

  • Cung cấp hông tim, gọi mở giải pháp.

  • Động viên sự chủ động sáng tạo

Cần nhớ:

  • Phỏng vấn không phải là cuộc tra hỏi

  • Phỏng vấn không lan man mất định hướng

  • Phỏng vấn không phải là làm thay( đưa ý tưởng chủ quan).

Các trường hợp thường gặp:

  • Yêu cầu không rõ

  • Yêu cầu rõ giải quyết được

  • Yêu cầu rõ, chưa giải quyết được.

3, Công việc sau phỏng vấn

  • Bổ sung các thông tin vào hồ sơ

  • Ghi chép các nhận xét riêng.


IX. THUYẾT PHỤC NGƯỜI SỬ DỤNG LAO ĐỘNG

1, tại sao?

Như rên đã nói, người sử dụng lao động là người tạo ra việc làm. Không có họ, hoặc không có sự ủng hộ của họ thì hoạt động của tổ chức dịch vụ việc làm sẽ vô nghĩa hoặc kém hiệu quả. Ngày nay, khi cần lao động, người sử dụng lao động- doanh nghiệp có rất nhiều giải pháp kể cả trực tiếp dán thông báo ngay trước của.

Tuy dịch vụ việc làm ở nước ta đã ra đời trên dưới 20 năm nay, song theo số liệu thống kê chưa đầy đủ, chỉ khoảng 7- 10 % lao động được tuyển dụng thông qua hệ thống tổ chức này.

Có thể có nhiều nguyên nhân, song chủ yếu là:

  • Người sử dụng lao động không biết(?) sự tồn tại của tổ chức DVVL…

  • Người sử dụng lao động có biết nhưng không rõ những dịch vụ cung cấp.

  • Người sử dụng lao động có biết nhưng chưa tin tưởng chất lượng phục vụ.

  • Bản thân các tổ chức DVVL chưa biết quảng bá thương hiệu, hoặc chất lượng dịch vụ chưa cao.

Vì vậy, muốn tồn tại và phát triển; muốn hoàn thành tốt chức năng của mình, các tổ chức DVVL phải biết cách thuyết phục Doanh nghiệp sử dụng dịch vụ của mình.

2, Như thế nào?

Ở một số nước, các DN buộc phải đăng ký chỗ làm việc còn trống với cơ quan lao động hoặc các Trung tâm dịch vụ việc làm. Ở Việt nam chưa có tiền lệ này.

Muốn khuyến khích các DN đến với tổ chức DVVL, cần phải:

  • Quảng bá, tuyên truyền về chwucs năng nhiệm vụ của tổ chức này( marketing); chứng minh lợi ích của sự hợp tác.

  • Xem xét bảo đảm mức phid dịch vụ hợp lý.

  • Duy trì sự tiếp xúc thường xuyên, lien tục với họ.

  • Và đương nhiên, đảm bảo chất lượng dịch vụ( tìm đúng người, đúng lúc, đúng thời hạn).

3, Kỹ năng đàm phán

Khi đàmg phán với người sử dụng lao động- Doanh nghiệp cần lưu ý:

  • Bảo đảm vị thế bình đẳng “ Không phải là chúng ta xin việc, mà là chúng ta giúp nhau”.

  • Bảo đảm sự mềm dẻo, không phải là một cuộc họp với chương trình cững nhắc.

  • Biết điều chỉnh quan điểm và nhạy bén với các đề xuất bất ngờ.

  • Không bao giờ kỳ vọng đạt được tất cả mọi điều mong muốn. Mục đích dàm phán là đạt được một số điều mong muốn.

  • Biết nói và biết nghe.

Kết quả một cuộc đàm phán có thể xảy ra 1 trong 4 trường hợp sau đây:

Thắng- Thua

Thua- Thắng

Thua- Thua

Thắng- Thắng

Để đi đến một cuộc đàm phán, có 4 bước:

  • Chuẩn bị

  • Giới thiệu và trao đổi

  • Đàm phán( thương lượng)

  • Thóa thuận.

…………….vvv…………………

( Trích trong bài “ Tổng quan về Hướng nghiệp- Học nghề- việc làm” của Tiến sĩ Nguyễn Lê Minh, trong sách Tài liệu tập huấn cán bộ Đoàn về nghề nghiệp- việc làm- Trung ương Đoàn TNCS Hồ Chí minh- Ban điều hành đề án 103- Hà Nội- 2009).




  1. Kiến thức về hướng nghiệp:

“ Hướng nghiệp là các hoạt động nhằm hỗ trợ mọi cá nhân chọn lựa và phát triển chuyên môn nghề nghiệp phù hợp nhất với khả năng của cá nhân, đồng thời thỏa mãn nhu cầu nhân lực cho tất cả các lĩnh vực nghề nghiệp (thị trường lao động) ở cấp độ địa phương và quốc gia”( nguồn: http://www.huongnghiepviet.com/v3/huong-nghiep/khoa-hoc-huong-nghiep/20-huong-nghiep-la-gi ).


“ Giáo dục hướng nghiệp là một bộ phận của giáo dục toàn diện giúp mỗi học sinh có sự hiểu biết về tính chất của ngành nghề mà mình hướng tới, biết phân tích thị trường hoạt động và tháo gỡ vướng mắc hoặc rèn luyện bản thân từ đó, mỗi học sinh tự xác định được đâu là nghề nghiệp phù hợp hoặc không phù hợp với mình”( http://www.nhandan.com.vn/giaoduc/item/13791702-.html ).


VỊ TRÍ VÀ NHIỆM VỤ CÔNG TÁC HƯỚNG NGHIỆP trong nhà trường phổ thông:

Trong nhà trường phổ thông, hướng nghiệp là bộ phận quan trọng của nền giáo dục phổ thông. Thực hiện công tác hướng nghiệp là một yêu cầu cần thiết của cải cách giáo dục nhằm thực hiện mục tiêu nguyên lý và nội dung giáo dục của Đảng; góp phần tích cực và có hiệu quả vào việc phân công và sử dụng hợp lý học sinh sau khi tốt nghiệp.

Công tác hướng nghiệp trong nhà trường phổ thông nhằm mục đích bồi dưỡng, hướng dẫn học sinh chọn nghề phù hợp với yêu cầu phát triển của xã hội, đồng thời phù hợp với thể lực và năng khiếu của cá nhân.

Nhằm mục đích đó, công tác hướng nghiệp trong nhà trường phổ thông có các nhiệm vụ sau:

- Giáo dục thái độ lao động và ý thức đúng đắn về nghề nghiệp;

- Tổ chức cho học sinh thực tập, làm quen với một số nghề chủ yếu trong xã hội và các nghề truyền thống của địa phương;

- Tìm hiểu năng khiếu, khuynh hướng nghề nghiệp của từng học sinh để khuyến khích, hướng dẫn và bồi dưỡng khả năng nghề nghiệp thích hợp nhất;

- Động viên hướng dẫn học sinh đi vào những nghề, những nơi đang cần lao động trẻ tuổi có văn hoá.

Trong quá trình thực hiện các nhiệm vụ trên, các trường cần quán triệt các vấn đề sau:

- Hướng nghiệp phải dựa trên cơ sở giáo dục kỹ thuật tổng hợp và giáo dục toàn diện;

- Hướng nghiệp phải căn cứ vào phương hướng phát triển kinh tế, văn hoá và nhu cầu sử dụng nguồn lao động dự trữ của đất nước và địa phương;

- Mức độ nội dung, hình thức và phương pháp hướng nghiệp phải phù hợp với đặc điểm của học sinh (sức khoẻ, lứa tuổi, trình độ học tập, xu hướng v.v...)”( Nguồn: http://vbpl.vn/TW/Pages/vbpq-toanvan.aspx?ItemID=3880 ).


Điều 3( chương I- Những quy định chung- NGHỊ ĐỊNH

Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Giáo dục:

). Hướng nghiệp và phân luồng trong giáo dục

1. Hướng nghiệp trong giáo dục là hệ thống các biện pháp tiến hành trong và ngoài nhà trường để giúp học sinh có kiến thức về nghề nghiệp và có khả năng lựa chọn nghề nghiệp trên cơ sở kết hợp nguyện vọng, sở trường của cá nhân với nhu cầu sử dụng lao động của xã hội.

2. Phân luồng trong giáo dục là biện pháp tổ chức hoạt động giáo dục trên cơ sở thực hiện hướng nghiệp trong giáo dục, tạo điều kiện để học sinh tốt nghiệp trung học cơ sở, trung học phổ thông tiếp tục học ở cấp học hoặc trình độ cao hơn, học trung cấp, học nghề hoặc lao động phù hợp với năng lực, điều kiện cụ thể của cá nhân và nhu cầu xã hội; góp phần điều tiết cơ cấu ngành nghề của lực lượng lao động phù hợp với nhu cầu phát triển của đất nước.

3. Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo chỉ đạo xây dựng chương trình giáo dục trung học cơ sở, trung học phổ thông theo mục tiêu quy định tại khoản 3 và khoản 4 Điều 27 của Luật Giáo dục, chú trọng đổi mới nội dung, phương pháp giáo dục, cụ thể hoá chuẩn kiến thức, kỹ năng giáo dục kỹ thuật tổng hợp - hướng nghiệp. Ở cấp trung học cơ sở, nội dung hướng nghiệp được lồng ghép vào các môn học, đặc biệt là môn công nghệ. Ở cấp trung học phổ thông, nội dung hướng nghiệp được bố trí thành môn học.

4. Bộ Kế hoạch và Đầu tư hướng dẫn các Bộ, ngành và Ủy ban nhân dân cấp tỉnh dự báo xác định cơ cấu nhân lực theo trình độ và ngành nghề trong quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của cả nước, từng vùng và địa phương.

5. Ủy ban nhân dân các cấp có trách nhiệm dự báo và công bố công khai về nhu cầu sử dụng nhân lực trong kế hoạch hằng năm, năm năm của địa phương; xây dựng chính sách cụ thể nhằm gắn đào tạo với sử dụng, chỉ đạo cơ quan quản lý giáo dục ở địa phương thực hiện có chất lượng và hiệu quả phân luồng trong giáo dục.

6. Các trường đại học, cao đẳng, trung cấp hàng năm công bố công khai năng lực, ngành nghề đào tạo, có biện pháp cụ thể sử dụng kết quả hướng nghiệp ở phổ thông trong quá trình tuyển sinh và tổ chức đào tạo.

7. Cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội nghề nghiệp, tổ chức kinh tế có trách nhiệm tạo cơ hội cho học sinh phổ thông làm quen với môi trường hoạt động của mình”( Nguồn: http://www.moj.gov.vn/vbpq/lists/vn%20bn%20php%20lut/view_detail.aspx?itemid=15669 ).



GT Tài liệu tham khảo về tư vấn hướng nghiệp:


* “ Khái niệm chung về nghề-quản trị nghề nghiệp căn bản

Nghề là một lĩnh vực hoạt động lao động mà trong đó, nhờ được đào tạo, con người có được những tri thức, những kỹ năng để làm ra các loại sản phẩm vật chất hay tinh thần nào đó, đáp ứng được những nhu cầu của xã hội.

Nghề nghiệp trong xã hội không phải là một cái gì cố định, cứng nhắc. Nghề nghiệp cũng giống như một cơ thể sống, có sinh thành, phát triển và tiêu vong. Chẳng hạn, do sự phát triển của kỹ thuật điện tử nên đã hình thành công nghệ điện tử, do sự phát triển vũ bão của kỹ thuật máy tính nên đã hình thành cả một nền công nghệ tin học đồ sộ bao gồm việc thiết kế, chế tạo cả phần cứng, phần mềm và các thiết bị bổ trợ v.v… Công nghệ các hợp chất cao phân tử tách ra từ công nghệ hóa dầu, công nghệ sinh học và các ngành dịch vụ, du lịch tiếp nối ra đời…

Ở Việt Nam trong những năm gần đây, do sự chuyển biến của nền kinh tế từ cơ chế kế hoạch hóa tập trung sang cơ chế thị trường, nên đã gây ra những biến đổi sâu sắc trong cơ cấu nghề nghiệp của xã hội. Trong cơ chế thị trường, nhất là trong nền kinh tế tri thức tương lai, sức lao động cũng là một thứ hàng hóa. Giá trị của thứ hàng hóa sức lao động này tuỳ thuộc vào trình độ, tay nghề, khả năng về mọi mặt của người lao động. Xã hội đón nhận thứ hàng hóa này như thế nào là do “hàm lượng chất xám” và “chất lượng sức lao động” quyết định. Khái niệm phân công công tác sẽ mất dần trong quá trình vận hành của cơ chế thị trường. Con người phải chủ động chuẩn bị tiềm lực, trau dồi bản lĩnh, nắm vững một nghề, biết nhiều nghề để rồi tự tìm việc làm, tự tạo việc làm…

Khi giúp đỡ thanh niên chọn nghề, một số nhà nghiên cứu thường đặt câu hỏi: “Bạn biết được tên của bao nhiêu nghề?”. Nghe hỏi, nhiều bạn trẻ nghĩ rằng mình có thể kể ra nhiều nghề, song khi đặt bút viết thì nhiều bạn không kể được quá 50 nghề.Bạn tưởng như thế đã là nhiều, song nhà nghiên cứu lại nhận xét: Chà, sao biết ít vậy!

Để hiểu vì sao nhà nghiên cứu lại kêu lên như vậy, chúng ta hãy cùng nhau làm sáng rõ 2 khái niệm Nghề và Chuyên môn.

Nghề là một lĩnh vực hoạt động lao động mà trong đó, nhờ được đào tạo, con người có được những tri thức, những kỹ năng để làm ra các loại sản phẩm vật chất hay tinh thần nào đó, đáp ứng được những nhu cầu của xã hội.

Nghề bao gồm nhiều chuyên môn. Chuyên môn là một lĩnh vực lao động sản xuất hẹp mà ở đó, con người bằng năng lực thể chất và tinh thần của mình làm ra những giá trị vật chất (thực phẩm, lương thực, công cụ lao động…) hoặc giá trị tinh thần (sách báo, phim ảnh, âm nhạc, tranh vẽ…) với tư cách là những phương tiện sinh tồn và phát triển của xã hội.

Trên thế giới hiện nay có trên dưới 2000 nghề với hàng chục nghìn chuyên môn. Ở Liên Xô trước đây, người ta đã thống kê được 15.000 chuyên môn, còn ở nước Mỹ, con số đó lên tới 40.000.

Vì hệ thống nghề nghiệp trong xã hội có số lượng nghề và chuyên môn nhiều như vậy nên người ta gọi hệ thống đó là “Thế giới nghề nghiệp”. Nhiều nghề chỉ thấy có ở nước này nhưng lại không thấy ở nước khác. Hơn nữa, các nghề trong xã hội luôn ở trong trạng thái biến động do sự phát triển của khoa học và công nghệ. Nhiều nghề cũ mất đi hoặc thay đổi về nội dung cũng như về phương pháp sản xuất. Nhiều nghề mới xuất hiện rồi phát triển theo hướng đa dạng hóa. Theo thống kê gần đây, trên thế giới mỗi năm có tới 500 nghề bị đào thải và khoảng 600 nghề mới xuất hiện. Ở nước ta, mỗi năm ở cả 3 hệ trường (dạy nghề, trung học chuyên ngiệp và cao đẳng – đại học) đào tạo trên dưới 300 nghề bao gồm hàng nghìn chuyên môn khác nhau.( Nguồn: http://tansinhvien.vn/khai-niem-chung-ve-nghe-quan-tri-nghe-nghiep-can-ban/ )”

Trang Chủ Giới thiệu Tin tức Cựu sinh viên Sinh viên Trợ giúp Liên hệ

“ Quan hệ giữa tư vấn và tuyển chọn nghề-quản trị nghề nghiệp căn bản

Trong công tác hướng nghiệp, tư vấn nghề là khâu trung gian. Khâu trung gian này càng có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong điều kiện các Trung tâm Kỹ thuật tổng hợp – Hướng nghiệp có nhiệm vụ dạy nghề cho học sinh và thanh niên đang có nhu cầu chọn nghề, vì lẽ nó giúp phát hiện được sự phù hợp nghề thực sự cho thanh thiếu niên, sớm đề phòng được hiện tượng chán nghề, đổi nghề hoặc bỏ nghề sau này.
Các kiểu tư vấn nghề:

– Tư vấn thông tin hướng dẫn nhằm giới thiệu với thanh thiếu niên nội dung nghề mà mình định chọn.

Ở đây, người cán bộ tư vấn sẽ giới thiệu về những yêu cầu của nghề đối với những phẩm chất cá nhân của con người, đồng thời chỉ ra con đường để đạt được nghề nghiệp và triển vọng nâng cao tay nghề.

– Tư vấn chẩn đoán nhằm làm bộc lộ hứng thú, thiên hướng, năng lực và những phẩm chất nghề chuyên biệt của con người trên cơ sở nghiên cứu và đo đạc (nhân trắc) con người một cách toàn diện. Mục đích của tư vấn chẩn đoán là xác định trong những lĩnh vực hoạt động nào con người có thể lao động thành công nhất, tức là đem lại lợi ích tối đa cho xã hội, đồng thời đưa lại niềm vui và sự hài lòng cho bản thân người lao động.

– Tư vấn y học nhằm làm bộc lộ sự phù hợp giữa trạng thái sức khỏe với yêu cầu của nghề mà một người lựa chọn. Nếu như người đó mắc một trong những chứng bệnh thuộc loại chống chỉ định của nghề thì người cán bộ tư vấn sẽ khuyên nên chọn một nghề khác gần gũi với thiên hướng và hứng thú, đồng thời phù hợp với trạng thái sức khỏe của người đó. Chẳng hạn, những người rối loạn sắc giác sẽ không được chọn những ngành giao thông vận tải, thông tin tín hiệu, v.v…

– Tư vấn hiệu chỉnh được tiến hành trong trường hợp ý định nghề nghiệp của con người không phù hợp với khả năng và năng lực thực tế của họ. Trong trường hợp này, kế hoạch nghề nghiệp của cá nhân cần được xem xét và uốn nắn lại cho phù hợp với tình hình. Ví dụ, trên cơ sở những cứ liệu thu được khi nghiên cứu nhân cách con người, cán bộ tư vấn sẽ khuyên thanh thiếu niên nên chọn một nghề khác phù hợp hơn với những đặc điểm tâm sinh lý của mình.

Tư vấn nghề rút cục phải phấn đấu tạo ra được quan hệ tối ưu giữa con người với hoạt động của người đó. Làm được như vậy có nghĩa là hoạt động nghề nghiệp chẳng những được tiến hành thuận lợi mà còn tạo cho con người sự thỏa mãn, hài lòng và điều tối quan trọng là kích thích sự phát triển năng lực sáng tạo của con người.

Như vậy, tư vấn nghề xuất phát từ con người, căn cứ vào con người để đi đến nghề nghiệp, còn tuyển chọn nghề thì ngược lại – đi từ nghề hoặc nhóm nghề đến con người, nói cách khác là xuất phát từ nghề để chọn người.

Ý nghĩa của tuyển chọn nghề:

Xã hội ngày càng phát triển, vấn đề năng suất và hiệu quả lao động ngày càng trở nên quan trọng. Con người là chủ thể hoạt động nên chính con người quy định ở chừng mực đáng kể năng suất và hiệu quả của hoạt động lao động nghề nghiệp. Tuy nhiên, khả năng của con người rất khác nhau và thế giới nghề nghiệp cũng vô cùng phong phú, đa dạng, mỗi nghề đòi hỏi những khả năng khác nhau ở người lao động. Ví dụ: các nghề trong lĩnh vực nghệ thuật cần trước hết óc thẩm mỹ, tưởng tượng nghệ thuật và khả năng tư duy hình ảnh. Các nghề tiện, nguội, phay, bào… thuộc lĩnh vực cơ khí đòi hỏi khả năng ước lượng bằng mắt kích thước của các vật thể, cảm giác nhạy bén của đầu ngón tay về độ nhẵn bề mặt của vật thể. Các nghề thêu, ren… trong lĩnh vực thủ công mỹ nghệ truyền thống cần đến sự khéo léo của các ngón tay, thị giác tốt, tính kiên trì, tỉ mỉ, khả năng phân biệt và phối hợp màu sắc tốt… Những người đạt năng suất, chất lượng và hiệu quả lao động cao ở một nghề nào đó thường là những người có sự phù hợp với nghề đã chọn về mặt tâm sinh lý. Sự phù hợp nghề là tập hợp những đặc điểm tâm sinh lý bảo đảm cho con người đạt kết quả cao trong lao động nghề nghiệp.

Như vậy, vấn đề đặt ra là muốn có hiệu quả lao động nghề nghiệp cao thì phải tuyển chọn được những người có sự phù hợp nghề ở mức độ cần thiết vào học hay làm việc ở nghề tương ứng.

Tuyển chọn nghề là xác định xem ở các đối tượng dự tuyển có sự phù hợp với một nghề cụ thể hay không để có quyết định tuyển hay không tuyển vào học hay làm việc. Tuyển chọn nghề đi từ nghề / nhóm nghề đến con người vào học hay làm việc. Trong khi đó như chúng ta đã biết, tư vấn nghề lại xuất phát từ con người, đi từ con người đến nghề, xem xét đối chiếu những đặc điểm tâm sinh lý cá nhân với yêu cầu của các nghề để khuyên con người, chủ yếu là thanh thiếu niên đến với những nghề mà họ có thể đáp ứng, phù hợp được.

Từ lâu, các nhà kinh tế, các chủ xí nghiệp, công ty đã rất quan tâm, chú ý đến vấn đề tuyển chọn do thấy rõ lợi ích mà nó đem lại. Ở Mỹ, từ đầu thế kỷ 19 người ta đã rất chú trọng nghiên cứu nguyên nhân của sự khác biệt về năng suất lao động của các cá nhân trong tập thể lao động sản xuất. Chẳng hạn, X. Tompson, một nhà tổ chức lao động khoa học người Mỹ đã nghiên cứu tại một phân xưởng vòng bi và đã phát hiện ra mức độ nhạy cảm của con người đối với các vật nhỏ là nguyên nhân chủ yếu và trước hết của sự khác nhau về năng suất lao động giữa các công nhân. Ông đã đề xuất cách xác định hệ số nhạy cảm này để dựa vào đó người ta tuyển chọn được những người có các đặc điểm tâm, sinh lý phù hợp. kết quả là chất lượng sản phẩm tăng 60-70%, ngày công rút ngắn được 2 giờ và lương công nhân tăng 80%.

Tuyển chọn nghề giúp cho việc ngăn ngừa hay giảm bớt tai nạn lao động, đặc biệt là trong ngành giao thông vận tải. Biện pháp thiết thực nhất, có hiệu quả nhất để ngăn chặn và giảm bớt tai nạn giao thông là phải đề cao yêu cầu tuyển chọn về tâm sinh lý người học lái tàu, lái xe vận tải…

Tuyển chọn nghề giúp con người đến được với nghề mà họ phù hợp, do vậy họ đạt đươc thành công trong nghề ấy, yên tâm và gắn bó với nghề. Qua nghiên cứu, người ta thấy rằng tuyển chọn nghề làm giảm sự thuyên chuyển hoặc bỏ nghề từ 2 đến 3 lần, chi phí cho đào tạo và đào tạo lại giảm đi một cách đáng kể…

Để xác định sự phù hợp nghề nhằm mục đích tuyển chọn nghề, người ta phải căn cứ vào các đặc đềm tâm, sinh lý của từng cá nhân một cách cụ thể và chính xác.

(Nguồn: http://tansinhvien.vn/quan-he-giua-tu-van-va-tuyen-chon-nghe-quan-tri-nghe-nghiep-can-ban/ )”



Lý thuyết tư vấn (tham vấn)

Hiện nay khái niệm tư vấn và tham vấn được hiểu khác nhau giữa các nhà chuyên môn. Khái niệm tư vấn mà các nhà chuyên môn ở  Miền Bắc dùng, thì ở Miền Nam được gọi là tư vấn tâm lý hay tham vấn. Trong bài viết này, khái niệm tư vấn được hiểu là tư vấn tâm lý (hay còn gọi là tham vấn)

1. Tư vấn là gì?

Tư vấn là tiến trình  tương tác giữa cán bộ tư vấn ( người tư vấn) và thân chủ ( khách hàng), trong đó NTV sử dụng kiến thức, kĩ năng nghề nghiệp của mình giúp thân chủ thấu hiểu hoàn cảnh của mình và tự giải quýêt vấn đề của mình.

Có thể tóm tắt khái niệm tư vấn bằng 4 chữ T: Tiến trình, tương tác, thấu hiểu, tự giải quýêt.

- Tiến trình: Tư vấn cần một khoảng thời gian tương đối dài, có thể không phải chỉ gặp gỡ 1 lần, mà có khi rất nhiều lần mới có kết quả rõ rệt. Tư vấn là tiến trình bởi nó là một hoạt động có mở đầu, có diễn biến và có kết thúc.

- Tương tác: Tư vấn không phải là người cán bộ khuyên bảo thân chủ phải làm gì, mà đó là cuộc trao đổi hai chiều.

- Thấu hiểu: Tư vấn giúp thân chủ nhận ra mình là ai, đang ở trong hoàn cảnh nào, có thế mạnh, điểm yếu nào, đã sử dụng những biện pháp nào cho tình huống của mình, tại sao chưa có kết quả, những cái được và cái mất khi sử dụng một biện pháp giải quýêt nào đó.

- Tự giải quyết: Tư vấn không quýêt định thay. Trên cơ sở thấu hiểu hoàn cảnh của mình, thân chủ phải cân nhắc, lựa chọn biện pháp nào phù hợp nhất cho bản thân mình.

2. Các hình thức tư vấn.

2. 1. Phân loại theo cách thức tư vấn.

- Tư vấn trực tiếp ( face to face): Ví dụ gặp gỡ trực tiếp tại văn phòng.

- Tư vấn qua điện thoại : Ví dụ các đường dây tư vấn 1088 ở Hà Nội, TP HCM, qua số điện thoại tư vấn toàn quốc 1900…

- Tư vấn qua báo chí: Ví dụ, chuyên mục « Thanh Tâm », « Tâm Giao » trên các báo Phụ nữ Việt Nam…

- Tư vấn trên các phương tiện thông tin đại chúng khác như đài phát thanh, truỳên hình, internet: Ví dụ, chương trình « Cửa sổ tình yêu » trên Đài TNVN, các chương trình truỳên hình của ban khoa giáo TW, các góc tư vấn trên các trang Web…

2. 2. Phân loại theo số lượng người tham gia.

- Tư vấn cá nhân.

- Tư vấn cặp ( đôi vợ chồng, đôi nam nữ)

- Tư vấn gia đình: Tư vấn cho tất cả các thành viên trong gia đình.

- Tư vấn nhóm: Một chuyên gia tư vấn cho một nhóm ngưòi có cùng vấn đề quan tâm ( VD: Tư vấn cho nhóm phụ nữ bị bạo lực gia đình, nhóm phụ nữ có HIV, cho nhóm thanh niên sau cai nghiện…)

- Tư vấn cộng đồng: Một cán bộ tư vấn trao đổi với một đám đông với nhiều quan tâm khác nhau.

3. Một số lưu ý.

Tư vấn không phải là

Tư vấn không chỉ là

  1. Hỏi và trả lời

  2. Xin và cho lời khuyên

  3. Phê phán

  4. Quyết định thay

  5. Làm thay

  1. Động viên an ủi.

  2. Nói chuyện giải khuây

  3. Dạy dỗ

4. Mục đích tư vấn.

                Mọi hình thức tư vấn cần đạt được mục đích sau:

  • Xây dựng và phát triển lòng tin cậy và tôn trọng lẫn nhau giữa chuyên viên tư vấn và thân chủ ( khách hàng).

  • Thân chủ được cung cấp đầy đủ thông tin cần thíêt để hiểu rõ hơn hoàn cảnh của bản thân.

  • Thân chủ nhờ sự giúp đỡ của NTV mà lựa chọn được cách giải quyết phù hợp, hiệu quả trong hoàn cảnh cụ thể của bản thân.

5. Bẩy nguyên tắc tư vấn.

  1. Kín đáo, riêng tư

  2. Bí mật nội dung cuộc tư vấn.

  3. Không phê pháp, phán xét đạo đức

  4. Cung cấp thông tin cần và đủ.

  5. Tôn trọng sự tự quyết của thân chủ ( khách hàng)

  6. Ngôn ngữ phù hợp với trình độ học vấn, văn hoá của thân chủ, không dùng ngôn ngữ hàn lâm hay thô tục.

  7. Không hứa hẹn quá nhiều làm mất đi tính độc lập, tự chủ, tự quyết của thân chủ.

6. Tiến trình một ca tư vấn – 6 G.

1. G – 1: Gặp gỡ, niềm nở đón tiếp, tạo ra sự tin tưởng, cởi mở thân thiện ngay từ ban đầu.

2. G- 2: Gợi hỏi thông tin, điều gì làm thân chủ lo lắng, vấn đề của thân chủ là gì? tại sao thân chủ lại cần đến tư vấn? Đã có những giải pháp nào cho hoàn cảnh bản thân, kết quả ra sao? Thân chủ mong muốn nhất điều gì khi đến với nhà tư vấn?

3. G – 3: Giới thiệu thông tin, người tư vấn chỉ cung cấp những thông tin cần và đủ, có lợi cho thân chủ, không cung cấp quá nhiều thông tin khiến thân chủ hoang mang, lo sợ.

4. G – 4: Giúp đỡ để thân chủ hiểu rõ hơn hoàn cảnh của bản thân, từ đó cùng nhau thảo luận và lựa chọn những giải pháp phù hợp.

5. G – 5: Giải thích cho thân chủ hiểu rõ hơn giải pháp mà thân chủ đã lựa chọn, cũng như những điều cần lường trước khi lựa chọn giải pháp này.

6. G – 6: Gặp lại. Tư vấn không bó hẹp trong một lần gặp gỡ, vì vậy sau mỗi buổi gặp gỡ, NTV cần tóm tắt nội dung cơ bản đã trao đổi, nhắc nhở thân chủ suy nghĩ, hành động và nếu cần thiết phải gặp lại thì cần có dặn dò, hẹn với thân chủ để họ yên tâm hơn.

7. Các kĩ năng tư vấn – 8 K.

1. K – 1: Kĩ năng lắng nghe.

2. K – 2: Kĩ năng khai thác thông tin từ thân chủ bằng hệ thống các câu hỏi ( bao gồm câu hỏi đóng, câu hỏi mở, câu hỏi dẫn dắt)

3. K – 3: Kĩ năng phản hồi.

                Phản hồi là việc nhắc lại, tóm tắt, diễn đạt lại những gì mình đã nghe, đã cảm nhận từ thân chủ.

                Có 2 loại phản hồi: Phản hồi thông tin và phản hồi tâm trạng- cảm xúc.

- VD phản hồi thông tin: “ Chị nói rằng chị rất yêu anh ấy, ngay cả khi anh ấy bạo lực với chị, chị cũng không bao giờ có ý định lý hôn phải không?”

- VD phản hồi cảm xúc: “ Nói chuyện với em, tôi thấy em rất tự tin và sẵn sàng chia sẻ những gì đã xảy ra với bản thân mình”.

4. K – 4: Kĩ năng cung cấp thông tin. Cung cấp thông tin dưới nhiều hình thức. Thông tin phải cập nhật, liên quan tới câu chuyện của thân chủ. Không cung cấp những thông tin tuy đúng, nhưng lại mang lại sự lo lắng, hoang mang, có hại cho thân chủ.

5. K – 5: Kĩ năng bình thường hoá vấn đề ( không phải là tầm thường hoá). Khi thân chủ lo lắng thái quá, hay đánh giá vấn đề của mình quá nặng nề, NTV cần biết “bình thường hoá vấn đề” để thân chủ yên tâm hơn.

- VD: Em cũng đừng cho rằng em là người phụ nữ bất hạnh nhất trên đời, bởi thực tế có không ít phụ nữ vẫn là nạn nhân của bạo lực gia đình, nhiều người còn khổ sở hơn em rất nhiều…

6. K – 6: Kĩ năng chia nhỏ vấn đề. Khi thân chủ đến với nhà tư vấn, thường mang trong lòng quá nhiều nỗi lo. Trong câu chuyện của họ, có quá nhiều vấn đề cần giải quyết. Nhưng không ai có thể cùng lúc giải quyết hết mọi vấn đề, vì vậy, nhà tư vấn cần giúp thân chủ xác định vấn đề nào là quan trọng, ưu tiên giải quyết hàng đầu.

- VD: Trong câu chuyện của em, chị thấy em có nhiều vấn đề cần giải quyết. Nào là muốn chồng không cặp bồ nữa, mà trở lại gia đình, yêu thương vợ con/ nào là vấn đề mâu thuẫn giữa em và mẹ chồng/ Vấn đề con gái em căm thù bố và … Nhưng theo em thì vấn đề nào bức xúc nhất, cần giải quyết trước tiên?

7. K – 7: Kĩ năng tóm tắt vấn đề. Cuộc tư vấn có thể kéo dài nhiều giờ. Nhà tư vấn và thân chủ có thể trao đổi rất nhiều việc. Vì vậy, cuối buổi tư vấn, nhà tư vấn cần tóm tắt lại những nét chính của buổi tư vấn hôm ấy để thân chủ nắm được tốt hơn.

- VD: Chị em mình hôm nay nói chuyện khá dài. Nhưng tóm lại, em có thể nhớ mấy điều sau: Một là…. ; hai là….

8. K – 8: Kĩ năng kể chuyện. Đôi khi thông qua một câu chuyện của người khác, hay do nhà tư vấn “ sáng tác”, thân chủ rút ra được những bài học cho bản thân một cách tự nhiên, không cần gò bó, khiên cưỡng. Nhưng chọn lựa chuyện và cách kể chuyện cần hết sức khéo léo, tránh để thân chủ nghĩ NTV là một người “hay đưa chuyện””.( Nguồn: http://dinhdoan.net/ly-thuyet-tu-van-tham-van.html ).

“ Quan điểm của tổ chức Khoa học giáo dục văn hoá Liên Hiệp Quốc (UN ESCO) năm 1970 định nghĩa: “Hướng nghiệp là làm cho cá nhân nhận thức được các đặc tính của mình và phát triển những đặc tính đó để chọn ngành học và các hoạt động chuyên môn trong mọi hoàn cảnh của đời sống với mong muốn được phục vụ xã hội và phát triển trách nhiệm của mình”… Theo định nghĩa này, con người là chủ thể của định hướng cá nhân, hướng nghiệp chỉ tạo điều kiện để con người mở rộng khả năng hoà nhập xã hội và hoà nhập nghề nghiệp”.

Qua các cách tiếp cận của các nhà khoa học trong và ngoài nước về vấn đề hướng nghiệp, có thể nhận thấy điểm chung của các quan điểm đó 9 Đối thoại Pháp – Á: vấn đề và hướng đi cho giáo dục hướng nghiệp tại Việt Nam, trang 36, 2001. ĐHQGHN. 31 là đều coi hướng nghiệp là một hoạt động trợ giúp cá nhân lựa chọn được một nghề không chỉ phù hợp với năng lực, nguyện vọng cá nhân mà còn với phù hợp với nhu cầu của xã hội. N hư vậy, có thể định nghĩa khái niệm hướng nghiệp như sau:

Hướng nghiệp là một hệ thống các biện pháp tác động đặc biệt vào quá trình định hướng nghề nghiệp của cá nhân bằng cách giúp họ nhận thức được bản thân, nghề nghiệp và nhu cầu thị trường lao động, qua đó cá nhân tự quyết định chọn lấy một nghề phù hợp đảm bảo cho họ thành đạt trong công việc và hạnh phúc trong lao động nghề nghiệp sau này” ( Nguồn: https://trinhtuvan.files.wordpress.com/2015/08/tap-bai-giang_tam-ly-hoc-huong-nghiep_ts-pham-manh-ha.pdf )



Hướng nghiệp là các hoạt động nhằm hỗ trợ mọi cá nhân chọn lựa và phát triển chuyên môn nghề nghiệp phù hợp nhất với khả năng của họ, đồng thời đáp ứng nhu cầu nhân lực cho các lĩnh vực nghề nghiệp (thị trường lao động) ở cấp độ địa phương và quốc gia.

Để đạt được mục tiêu đó, những người làm công tác hướng nghiệp phải chú ý đến 3 yếu tố cơ bản:

1) Đặc điểm của học sinh (năng lực, phẩm chất, sức khoẻ, sở thích…)

2) Hệ thống nghề nghiệp và đòi hỏi của nghề với người lao động

3) Nhu cầu thị trường lao động của địa phương và quốc gia (ngày nay còn cần quan tâm đến thị trường lao động quốc tế)

Nếu thực hiện tốt mục tiêu trên, hướng nghiệp không phải chi có ý nghĩa quan trọng đối với cá nhân, gia đình học sinh trong việc xác định tương lại, sự nghiệp của các em, mà còn góp phần cho sự phát triển xã hội một cách toàn diện:

• Về giáo dục, hướng nghiệp giúp học sinh có hiểu biết về thế giới nghề nghiệp, hình thành nhân cách nghề nghiệp cho các em, giáo dục các em thái độ đúng đắn đối với lao động và tạo ra tâm lý sẵn sang đi vào lao động nghề nghiệp

• Về kinh tế, hướng nghiệp góp phần phân luồng học sinh phổ thông tốt nghiệp các cấp, giảm tai nạn lao động, giảm sự thuyên chuyển nghề, đổi nghề; là phương tiện quản lý công tác kế hoạch hoá phát triển kinh tế, xã hội trên cơ sở khoa học

• Về xã hội: hướng nghiệp giúp học sinh tự giác đi học nghề, tự tìm việc làm, giảm tỉ lệ thất nghiệp, giảm tệ nạn xã hội, giảm tội phạm”( Nguồn:

http://www.tuyensinhtrungcap.com.edu.vn/tu-van-tuyen-sinh-huong-nghiep-la-gi/ )”



Khái niệm hướng nghiệp

Khái niệm hướng nghiệp đã được truyền bá rộng rãi sau Hội nghị Quốc tế ở Bácxơlon năm 1921. Từ năm 1925 trở đi, những cơ quan chuyên môn về hướng nghiệp đã được thành lập ở nhiều nước (Đức, Anh, Pháp, Ý, Nga) [40, tr.177].
Theo Đại Từ điển Tiếng Việt thông dụng, hướng nghiệp được hiểu theo hai khía cạnh: 1. Tạo điều kiện xác định nghề nghiệp cho người khác: Công tác hướng nghiệp cho thanh niên học sinh; 2. Giáo dục có định hướng: Trường hướng nghiệp [50].
Hướng nghiệp thường được hiểu trên hai bình diện: bình diện xã hội và bình diện trường phổ thông [8]:
– Trên bình diện xã hội, hướng nghiệp có thể hiểu là một hệ thống tác động của xã hội về giáo dục học, y học, xã hội học, kinh tế học… nhằm giúp cho thế hệ trẻ chọn được nghề vừa phù hợp với hứng thú, năng lực, nguyện vọng, sở trường của cá nhân, vừa đáp ứng được nhu cầu nhân lực của các lĩnh vực sản xuất trong nền kinh tế quốc dân. Hướng nghiệp là công việc mà toàn xã hội có trách nhiệm tham gia. Trong những điều kiện lý tưởng, thanh thiếu niên cần được hướng nghiệp thường xuyên bằng nhiều hình thức. Nếu xã hội biết tận dụng câu lạc bộ, nhà văn hóa, truyền hình, đài phát thanh, thư viện… vào công tác hướng nghiệp thì tác dụng hướng dẫn chọn nghề đối với các em sẽ rất to lớn.
– Trên bình diện trường phổ thông, hướng nghiệp là một hình thức hoạt động dạy của thầy và hoạt động học của trò.
+ Với tư cách là hoạt động dạy của thầy, hướng nghiệp được coi như là công việc của tập thể giáo viên, tập thể sư phạm, có mục đích giáo dục học sinh trong việc chọn nghề, giúp các em tự quyết định nghề nghiệp tương lai trên cơ sở phân tích khoa học về năng lực, hứng thú của bản thân và nhu cầu nhân lực của các ngành sản xuất trong xã hội. Tóm lại, hướng nghiệp trong trường phổ thông được thể hiện như một hệ thống tác động sư phạm nhằm làm cho học sinh chọn được nghề một cách hợp lý.
+ Hướng nghiệp là một trong những hình thức hoạt động học tập của học sinh. Qua đó, mỗi học sinh phải lĩnh hội được những thông tin về nghề nghiệp trong xã hội, đặc biệt là nghề nghiệp ở địa phương, phải nắm được hệ thống yêu cầu của từng nghề cụ thể mà mình muốn chọn, phải có kỹ năng tự đối chiếu những phẩm chất, những đặc điểm tâm – sinh lý của mình với hệ thống yêu cầu của nghề đang đặt ra cho người lao động…
Công tác hướng nghiệp trong trường phổ thông chỉ là một bộ phận của công tác hướng nghiệp của toàn xã hội. Công tác hướng nghiệp trong trường phải thống nhất với công tác hướng nghiệp của toàn xã hội”.( Nguồn: https://phongvanduhoc123.wordpress.com/2013/05/31/khai-niem-huong-nghiep/ ).

Mục tiêu và nhiệm vụ hướng nghiệp ở trường THPT:

Mục tiêu:
Giáo dục hướng nghiệp nhằm phát triển và bồi dưỡng phẩm chất nhân cách nghề nghiệp cho học sinh, giúp các em hiểu mình, hiểu yêu cầu của nghề; định hướng cho học sinh đi vào những lĩnh vực mà xã hội đang có yêu cầu [5, tr.244].
* Nhiệm vụ:
K.K. Platonov đã đưa ra “Tam giác hướng nghiệp” như sau [38],[40]: Trong quyết định 126CP của Hội đồng Chính phủ, công tác hướng nghiệp ở các trường phổ thông gồm những nhiệm vụ sau:
+ Giáo dục thái độ lao động đúng đắn.
+ Tổ chức cho học sinh thực tập làm quen với một số nghề.
+ Tìm hiểu năng khiếu, khuynh hướng nghề nghiệp của từng học sinh để khuyến khích, hướng dẫn, bồi dưỡng khả năng nghề nghiệp thích hợp nhất.
+ Động viên, hướng dẫn học sinh đi vào những nghề, những nơi đang can lao động trẻ tuổi có văn hóa…
Như vậy, giáo dục hướng nghiệp ở trường THPT có 3 nhiệm vụ cơ bản sau:
* Định hướng nghề nghiệp cho học sinh:
Định hướng nghề là việc thông tin cho học sinh về đặc điểm hoạt động và yêu cầu phát triển của các nghề trong xã hội, đặc biệt là những nghề và những nơi đang cần nhiều lao động trẻ tuổi có văn hoá, về yêu cầu tâm sinh lý của mỗi nghề, về tình hình phân công và yêu cầu điều chỉnh lao động ở cộng đồng dân cư, về hệ thống trường lớp đào tạo nghề của Nhà nước, tập thể và tư nhân.
Định hướng nghề gồm: Giáo dục nghề nghiệp và tuyên truyền nghề nghiệp.
– Nhiệm vụ của giáo dục nghề nghiệp:
+ Giúp học sinh làm quen với một số nghề cơ bản, phổ biến của địa phương và xã hội, đồng thời tìm hiểu xu thế phát triển các ngành nghề cùng với những yêu cầu tâm sinh lý do ngành, nghề đó đặt ra cho người lao động.
+ Tạo điều kiện ban đầu để học sinh phát triển năng lực tương ứng với hứng thú nghề nghiệp đã hình thành.
+ Giáo dục học sinh thái độ lao động đúng đắn, uốn nắn những biểu hiện lệch lạc trong dự định chọn nghề cuả học sinh.
– Nhiệm vụ của tuyên truyền nghề nghiệp:
+ Làm cho học sinh chú ý đến những nghề đang phát triển có nhu cầu cấp thiết về nhân lực, đang cần lực lượng lao động trẻ (công nhân kỹ thuật, công nghiệp, giao thông, du lịch, dịch vụ, doanh nghiệp…)
+ Giới thiệu các gương lao động dũng cảm, sáng tạo trong sản xuất và đời sống xã hội, qua đó điều chỉnh hứng thú, động cơ chọn nghề của học sinh.
* Tư vấn nghề nghiệp cho học sinh:
Tư vấn nghề nhằm giúp học sinh có thể định hướng nghề đúng đắn hơn hoặc sẽ chuẩn bị tốt hơn đối với việc xin được tuyển vào làm việc trong moat nghề nào đó. Để đảm bảo mặt này, nhà trường cần làm các nhiệm vụ cụ thể như: khảo sát, đánh giá các đặc điểm về thể chất, trí tuệ, hứng thú, hoàn cảnh… của học sinh, đối chiếu những đặc điểm đó với đặc điểm, yêu cầu của ngành nghề; trên cơ sở đó cho học sinh những lời khuyên về chọn nghề có căn cứ khoa học.
* Tạo điều kiện cho tuyển chọn nghề nghiệp:
Tuyển chọn nghề là xác định xem các đội tượng dự tuyển có sự phù hợp với một nghề cụ thể hay không để có quyết định tuyển hay không tuyển vào học hay làm việc.
Tuyển chọn nghề đi từ nghề/ nhóm nghề đến con người, xuất phát từ nghề/ nhóm nghề để chọn người vào học hay làm việc. Trong khi đó tư vấn nghề lại xuất phát từ con người để đi đến nghề nghiệp.
– Ý nghĩa của tuyển chọn nghề:
+ Tuyển chọn nghề giúp cho việc ngăn ngừa hay giảm bớt tai nạn lao động, đặc biệt trong giao thông vận tải.
+ Tuyển chọn nghề giúp con người đến được với nghề mà họ phù hợp, thành công trong nghề, yên tâm và gắn bó với nghề.
Trường phổ thông có nhiệm vụ cung cấp tư liệu về đặc điểm nhân cách của từng học sinh khi ra trường (đạo đức, học tập văn hoá, đánh giá học sinh dưới góc độ hướng nghiệp và bàn giao học sinh ra trường…).
Nhà trường góp ý kiến cho việc tuyển sinh vào các trường đào tạo nghề và tuyển chọn người lao động vào các lĩnh vực kinh tế xã hội được thuận lợi, chính xác, khoa học”( Nguồn: https://phongvanduhoc123.wordpress.com/2013/05/31/muc-tieu-va-nhiem-vu-cua-huong-nghiep-o-truong-thpt/ ).

.Tư vấn hướng nghiệp:



“ TƯ VẤN HƯỚNG NGHIỆP- ĐỔI MỚI TƯ VẤN HƯỚNG NGHIỆP

                                                KHÁI NIỆM

                                                   (CŨ)

Tư­ vấn h­ướng nghiệp là hệ thống những biện pháp tâm lí - giáo dục nhằm đánh giá toàn bộ năng lực thể chất và trí tuệ của thanh thiếu niên, đối chiếu các năng lực đó với những yêu cầu do nghề hay nhóm nghề đặt ra đối với ngư­ời lao động, có cân nhắc đến nhu cầu nhân lực của địa ph­ương và xã hội( Nguồn: https://m.facebook.com/TSTLHuynhVanSon/posts/818642001522193 ; http://www.vjol.info/index.php/sphcm/article/download/14790/13287 ).


25