DMCA.com Protection Status

Từ loại trong tiếng Việt- Đại học sư phạm Hà Nội  quan tâm

Được viết bởi: Trần Việt Thao

Cập nhật lúc 14:50 ngày 10/01/2018

Từ loại trong tiếng Việt- Đại học sư phạm Hà Nội

( Nguồn: http://old.voer.edu.vn/module/khoa-hoc-xa-hoi/thuc-tu-va-hu-tu.html ).

Lịch sử tiếng việt

6715

Tóm tắt

Lịch sử vấn đề từ loại tiếng việt

Tác giả

  • Đại học sư phạm Hà Nội

Lịch sử vấn đề từ loại tiếng Việt

Đọc các tài liệu tham khảo đã cho và trả lời câu hỏi:

Các nhà Việt ngữ học có những xu hướng nhìn nhận vấn đề từ loại tiếng Việt như thế nào? Vì sao lại có những quan niệm trái ngược nhau như vậy về vấn đề từ loại tiếng Việt?

- Xu hướng 1: phủ nhận sự tồn tại của từ loại tiếng Việt .

- Xu hướng 2: Nhiều nhà nghiên cứu thừa nhận sự tồn tại của từ loại tiếng Việt

Nguyên nhân: Tiếng Việt là ngôn ngữ đơn lập, từ tiếng Việt không biến đổi hình thái trong hoạt động sử dụng ngôn ngữ. Đặc điểm này khiến cho việc xác định từ loại trong tiếng Việt có những điểm khác biệt so với các ngôn ngữ hòa kết (tiêu biểu là các ngôn ngữ Ấn - Âu).

Hãy cho biết:

Giữa các nhà Việt ngữ học theo xu hướng thừa nhận sự tồn tại của từ loại tiếng Việt, quan niệm phân chia từ loại tiếng Việt có hoàn toàn thống nhất không?       

So sánh các tiêu chí phân chia từ loại tiếng Việt được các tác giả Trương Vĩnh Kí, Trần Trọng Kim, Bùi Đức Tịnh, Nguyễn Lân, Lê Văn Lí. Nguyễn Phú Phong, Nguyễn Tài Cẩn,...nêu ra.



Khái quát về lịch sử vấn đề từ loại tiếng Việt

Vì tiếng Việt thuộc loại hình ngôn ngữ đơn lập, không biến đổi hình thái nên việc nghiên cứu về từ loại không thể tránh khỏi những ý kiến bất đồng. Có 2 quan điiểm trái ngược nhau trong vấn đề phân chia từ loại tiếng Việt:- Xu hướng 1: phủ nhận sự tồn tại của từ loại tiếng Việt .Đó là các tác giả: M.Grammont, Lê Quang Trình, Hồ Hữu Tường, Nguyễn Hiến Lê." Tiếng Việt cơ cấu theo một lối khác hẳn với ngôn ngữ phương Tây nên không có từ loại..." và "... không nên phân biệt từ loại bởi vì không phân loại được và cũng chẳng để làm gì"( Lịch sử văn chương Việt Nam. 1.Paris. Hồ Hữu Tường)

- Xu hướng 2: Nhiều nhà nghiên cứu thừa nhận sự tồn tại của từ loại tiếng Việt.Song tuỳ theo quan điểm và tuỳ theo các phương pháp khác nhau, các ý kiến đó tập hợp thành 3 nhóm chính: +Phân loại từ loại xuất phát từ ý nghĩa của từ: Đây là xu hướng của ngữ pháp truyền thống, với các đại diện như Trương Vĩnh Kí, Trần Trọng Kim, Bùi Đức Tịnh, Nguyễn Lân… Áp dụng khuôn mẫu sẵn có của ngữ pháp Latinh, họ đã chia vốn từ tiếng Việt theo đúng các từ loại của ngôn ngữ Ấn - Âu. Các nhà ngôn ngữ sau này gọi cách phân chia của buổi đầu nghiên cứu ấy là phân loai từ theo lối “tiên nghiệm chủ nghĩa”.+Phân loại từ loại dựa vào khả năng kết hợp của từ: Đây là xu hướng của nhóm tác giả theo trường phái cấu trúc luận với các đại diện là Lê Văn Lí. Nguyễn Phú Phong, Nguyễn Tài Cẩn.Chịu ảnh hưởng của trường phái cấu trúc luận Mĩ về thế phân bố (chu cảnh), các tác giả đã tiến hành phân loại tiếng Việt dựa vào khả năng kết hợp của từ. Lê Văn Lí trong tác phẩm Le parler vietnamien. Hương Canh. Paris 1948 đã khẳng định “ Chính nhờ sự phân tích tỉ mỉ tất cả các yếu tố của chu cảnh 1 từ trong tất cả các vị trí của nó mà người ta đi tới chỗ xác định được những tiêu chí khu biệt cho phép ta tìm ra các từ, khiến cho 1từ này vì có những tiêu chí này nên không trùng với từ khác vốn có tiêu chí khác.” Những từ dùng để khu biệt từ này với từ khác ông gọi là từ làm chứng ( mots – témoins). + Phân loại từ dựa vào cả ý nghĩa và khả năng kết hợp của từ.Với phương pháp này vốn từ Tiếng Việt được phân loại khá triệt để song nó vẫn không thể rạch ròi 1 số nhóm từ và 1 số tiểu loại trong mỗi nhóm. Nhằm khắc phục điều đó, trong cuốn Văn phạm Việt Nam- NXB Phạm Văn Tươi. Sài Gòn 1952, tác giả Bùi Đức Tịnh đã bổ sung thêm tiêu chí “chức năng mà từ đảm nhận trong câu” nhằm phân định từ loại .

Hệ thống từ loại tiếng Việt

6717

Tóm tắt

Hệ thống từ loại tiếng Việt

Tác giả

  • Đại học sư phạm Hà Nội

Hệ thống tiếng Việt

Sơ đồ khái quát hệ thống từ loại tiếng Việt

DANH TỪ

ĐẶC ĐIỂM CƠ BẢN CỦA DANH TỪ

Danh từ là một từ loại lớn, bao gồm một số lượng từ rất lớn và đóng vai trò quan trọng trong họat động nhận thức, tư duy và giao tiếp của con người.

Hoạt động đọc

Cho đoạn văn sau:

“Tôi lắng nghe tiếng xôn xao từ cánh đồng. Những âm thanh ấy tác động thật mạnh mẽ đến tốc độ chín vàng của lúa. Mới đây thôi đồng lúa phơi một màu vàng chanh , còn lúc này nó đã rực lên một màu vàng cam rồi. Mặt trời từ từ trôi về phía những dãy núi mờ xa.Dường như đồng lúa và mặt trời đang có một sự đua tài thầm kín nào đấy.”

SV tìm các DT có trong đoạn văn trên?

“Tôi lắng nghe tiếng xôn xao từ cánh đồng. Những âm thanh ấy tác động thật mạnh mẽ đến tốc độ chín vàng của lúa. Mới đây thôi đồng lúa phơi một màu vàng chanh , còn lúc này nó đã rực lên một màu vàng cam rồi. Mặt trời từ từ trôi về phía những dãy núi mờ xa.Dường như đồng lúa và mặt trời đang có một sự đua tài thầm kín nào đấy.”

Trả lời câu hỏi

Em dựa vào những tiêu chí nào để nhận ra DT? Từ đó hãy rút ra đặc điểm của DT?

 SV xét danh từ trên 3 tiêu chí nhận diện từ loại nói chung:ý nghĩa khái quát, khả năng kết hợp, chức vụ cú pháp.Cụ thể là:

Ý nghĩa khái quát: danh từ là từ thường chỉ sự vật, chỉ người, chỉ hiện tượng tự nhiên - xã hội và các khái niệm trừu tượng thuộc phạm trù tinh thần.

VD: cánh đồng, dãy núi, âm thanh,xã hội, tư tưởng...

-Khả năng kết hợp: thường kết hợp với từ chỉ lượng ở đằng trước và từ chỉ định ở đằng sau. Tức là,danh từ có khả năng làm thành tố chính trong cụm danh từ.

  Chức vụ cú pháp: đảm nhận vai trò của các thành phần câu (thành phần chính và thành phần phụ)

Phân tích ví dụ

Hãy tìm những tổ hợp chứa danh từ để xem xét khả năng kết hợp của danh từ trong đoạn văn trên?.

Tôi lắng nghe tiếng xôn xao từ cánh đồng. Những âm thanh ấy tác động thật mạnh mẽ đến tốc độ chín vàng của lúa. Mới đây thôi đồng lúa phơi một màu vàng chanh , còn lúc này nó đã rực lên một màu vàng cam rồi. Mặt trời từ từ trôi về phía những dãy núi mờ xa.Dường như đồng lúa và mặt trời đang có một sựđua tài thầm kín nào đấy.”

Thực hành

Hãy tìm các thành phần câu mà danh từ ( cụm danh từ) đảm nhận.

Tôi lắng nghe tiếng xôn xao từ cánh đồng. Những âm thanh ấy tác động thật mạnh mẽ đến tốc độ chín vàng của lúa. Mới đây thôi đồng lúa phơi một màu vàng chanh , còn lúc này nó đã rực lên một màu vàng cam rồi. Mặt trời từ từ trôi về phía những dãy núi mờ xa.Dường như đồng lúa và mặt trời đang có một sựđua tài thầm kín nào đấy.”

Danh từ có thể đảm nhận mọi thành phần câu nhưng thường xuyên nhất là danh từ thường giữ chức vụ chủ ngữ và bổ ngữ.

Kiến thức cần đạt

Danh từ là một loại thực từ biểu thị sự vật tính (sinh vật, vật thể, hiện tượng, sự việc trong đời sống thực tại và tư duy), có những đặc trưng ngữ pháp sau đây: a) Không trực tiếp làm vị ngữ. Do đó, khi làm vị ngữ phải có hệ từ "là" (câu khẳng định) hoặc "không phải", "không phải là" (câu phủ định), không đặt sau các từ như "đừng", "hãy", "sẽ"... b) Có thể kết hợp với một trong những từ loại sau đây và được các từ loại này xác định, hạn chế: số từ (một, hai,...), đại từ chỉ số (tất cả), lượng từ (những, các), phó danh từ (con, cái,...), đại từ chỉ định (này, ấy, kia,...). (Nguyễn Kim Thản, "Nghiên cứu về ngữ pháp tiếng Việt". Nxb Khoa học, Hà Nội, 1963. Tr. 162)

Danh từ là từ chỉ người, sự vật. Danh từ có thể kết hợp với những từ chỉ số lượng ở trước nó và những từ để trỏ ở sau nó. Khi dùng vị ngữ, danh từ thường phải đặt sau từ "là". (Trương Dĩnh. "Về vấn đề hình thành khái niệm ngữ pháp cho học sinh phổ thông". Tạp chí Ngôn ngữ, số 3, năm 1974. Tr. 19)

Nói chung danh từ thường chỉ sự vật (bao gồm đồ vật, động vật, thực vật), chỉ người (bao gồm tên người và cả tên các nghề nghiệp,chức vụ của con người), chỉ các hiện tượng tự nhiên, hiện tượng xã hội, và các khái niệm. (Nguyễn Anh Quế. "Giáo trình lí thuyết tiếng Việt". Trường ĐH Tổng hợp Hà Nội, 1976. Tr. 19)

Danh từ là loại từ không thể độc lập làm vị ngữ. Đó là một từ loại không có vị ngữ tính. (Nguyễn Tài Cẩn. "Từ loại danh từ trong tiếng Việt hiện đại". Nxb KHXH. Hà Nội, 1975. Tr. 29). Trên phương diện ý nghĩa có thể coi danh từ là lớp từ chỉ các khái niệm sự vật cụ thể, các khái niệm trừu tượng và tất cả các khái niệm khác được nhận thức một cách độc lập. (Đinh Văn Đức. "Về một cách hiểu ý nghĩa các từ loại trong tiếng Việt". Tạp chí Ngôn ngữ, số 2, năm 1978. Tr.37)

Về mặt ý nghĩa, danh từ là những từ có ý nghĩa từ vựng khái quát chỉ sự vật và các khái niệm trừu tượng. (Hữu Quỳnh. "Ngữ pháp tiếng Việt hiện đại". Nxb Giáo dục, Hà Nội, 1980. Tr.55) Danh từ là những từ có khả năng đứng giữa và kết hợp hoặc trực tiếp, hoặc gián tiếp với số từ (hay những phụ từ chỉ lượng - những, các, mọi, mỗi, mấy; hay những đại từ chỉ lượng - bao nhiêu, bấy nhiêu,...) và với từ chỉ định (này, kia, ấy, đó, nọ,...) để tạo ra cấu trúc danh ngữ. (Hồ Lê. "Một số vấn đề xung quanh vị trí bắt buộc và vị trí tùy ý trong danh ngữ tiếng Việt hiện đại". Tạp chí Ngôn ngữ, số 1, 1983. Tr.37)

Các tiểu loại của danh từ

 Các nhà nghiên cứu thường chia danh từ thành 2 loại lớn là: danh từ chung và danh từ riêng.

Danh từ riêng- Chỉ tên riêng của người, vật, địa điểm....

VD: Lan, Hoa, Hà Nội, Sài Gòn,...

-Khả năng kết hợp: kết hợp hạn chế với từ chỉ số lượng và từ chỉ định.

VD: Không thể nói: ba Hà NộiHà Nội ấy

Bởi vì tên riêng của một cá thể đã được xác định nên danh từ riêng không cần và không thể được xác định về mặt lượng và được chỉ định để khu biệt với các cá thể khác có tên chung. [1]

- Tuy nhiên, khi có sự trùng tên riêng thì ta cũng có thể nói "Lan này" hay "Lan kia".- Đôi khi ta gặp trường hợp:(1) Đó là một Điện Biên Phủ trên không đối với nước Mỹ.(2) Đó là những Hoạn Thư thời nay.=>các danh từ riêng trên, nghĩa đã bị chuyển theo phương thức ẩn dụ.

Danh từ chung

Trả lời câu hỏi

Danh từ chung phân biệt với danh từ riêng ở đặc điểm nào?Danh từ chung là những danh từ gọi tên chung tất cả các cá thể trong cùng một lớp sự vật.

VD: ghế, bàn, nhà, sách, vở, bảng, bút...

Từ ghế là một tên chung cho tất cả các vật do con người tạo ra, có chân, có một mặt phẳng, để con người có thể ngồi trên đó. Các cá thể ghế có thể khác nhau về các phương diện : hình dáng, kích thước, chất liệu,mầu sắc,... nhưng đều được con người gọi tên bằng một tên chung là ghế.

Trả lời câu hỏi

Hãy nêu các tiểu loại của danh từ chung và đặc điểm của chúng?

Trả lời câu hỏi

Dựa vào đặc điểm chung của danh từ, anh (chị) hãy cho biết những từ sau đây có gì đặc biệt?

quần áo, vợ chồng, nhà cửa, binh lính, sách vở, bếp núc, máy móc, bạn bè,...

 Danh từ tổng hợp hay tổng thể (đối lập với đanh từ không tổng hợp, hoặc danh từ đơn thể)

- Chúng chỉ gộp các sự vật khác nhau nhưng gần gũi với nhau, thường đi đôi với nhau và hợp thành một loại sự vật.

- Chúng không kết hợp trực tiếp với số từ (chính xác), không kết hợp với danh từ chỉ đơn vị cá thể, nhưng có thể kết hợp với các từ chỉ tổng thể (tất cả, cả, toàn thể, hết thảy...), và các từ chỉ đơn vị tổng thể (bộ, đàn, tốp, đống, đoàn, lũ,…).

VD: - Không nói :+ hai quần áo, năm nhà cửa,... .+ chiếc máy móc, cây tre pheo,... - Có thể nói :+ tất cả quần áo, hết thảy bạn bè,...+ tốp binh lính , chồng sách vở, . . .

Về cấu tạo, danh từ tổng hợp có cấu tạo theo kiểu từ ghép đẳng lập , có thể có một tiếng mờ nghĩa hoặc một tiếng có gốc thuộc ngôn ngữ khác ( như đất nước, quần áo,xe cộ, tre pheo,…) hoặc từ láy (máy móc, bạn bè, gai góc,...)

Thảo luận

Những từ dưới đây có điểm gì khác biệt với danh từ nói chung?

VD: tư tưởng, thái độ, quan điểm lập trường, ý nghĩ, đạo đức, ý nghĩa, cuộc sống, sức sống, niềm vui, nỗi buồn, cái ăn, cái đẹp,..

  Danh từ trừu tượng (đối lập với các danh từ cụ thể)- Chúng chỉ các khái niệm trừu tượng thuộc phạm trù tinh thần (không thể cảm nhận được bằng các giác quan).

- Chúng có thể kết hợp trực tiếp với các từ có ý nghĩa số lượng (số từ hoặc lượng từ) : hai, ba. những, các, vài, mấy, mọi, mỗi,...

VD: hai quan điểm, một thái độ, vài ý nghĩ, những nỗi buồn, các ý nghĩa, mỗi cái đẹp,...

Đôi khi giữa danh từ trừu tượng và từ chỉ số lượng có thể dùng một danh từ đơn vị.

Tìm hiểu tài liệu

Qua việc đọc giáo trình, anh (chị) hãy trình bày các tiểu loại của danh từ chỉ đơn vị?

Danh từ chỉ đơn vị tự nhiênĐó là các danh lừ chỉ rõ dạng tồn tại tự nhiên của sự vật. Chúng vừa có ý nghĩa chỉ đơn vị, vừa có ý nghĩa chỉ loại sự vật (được phân biệt theo quan niệm của người bn ngữ). Vì vậy các danh từ chỉ đơn vị tự nhiên còn được gọi là loại từ hay danh từ chỉ loại, danh từ loại thể.Đó là các danh từ như : cái, con, chiếc , cây, tấm, bức , tờ, quyển, cục, hòn, giọt, sợi, hạt,...Trong đó tiêu biểu cho việc thể hiện loại bất động vật là các loại từ cái, chiếc, còn tiêu biểu cho việc thể hiện ý nghĩa động vật là loại từ con.

Các danh từ chỉ đơn vị tự nhiên mang mầu sắc hình tượng và biểu cảm.Chúng thể hiện cách nhìn, cách cảm đối với sự vật của người Việt Nam Vì vậy có nhiều danh từ khác nhau chỉ đơn vị tự nhiên được dùng để biểu hiện một sự vật, tuỳ thuộc vào cách nhìn nhận sự vật trong từng tình huống.

VD: cái cờ, chiếc cờ, cây cờ, ngọn cờ, lá cờ

+ Danh từ chỉ đơn vị đo lường, tính toánĐó là các danh từ chỉ đơn vị đo lường, tính toán với các sự vật là chất liệu.Các đơn vị này có tính quy ước chính xác.

VD: cân, lít, mét, tạ, tấn, mẫu, sào , . . .

Chúng được dùng trực tiếp sau số từ và trước các danh từ chất liệu :

VD:hai lít nước ; ba cân đường ; năm cân thịt,...

+ Danh từ chỉ đơn vị tập thểChúng chỉ đơn vị cho các sự vật tồn tại dưới dạng tổng thể. Vì vậy chúng thường dùng trước các danh từ tổng hợp (tổng thể) và sau các từ chỉ lượng.Đó là các từ như : bộ, cặp, bọn, tụi, đàn, đoàn, tốp, lũ, chồng, đống,...

VD: vài bộ bàn ghế, một đàn trâu bò, mấy tốp binh lính, những đống máy móc.

+ Danh từ chỉ đơn vị thời gianĐó là các từ : giờ, phút, giây, ngày, tháng, năm, tuần, quý, mùa, thế kỷ, thiên niên kỉ, ,...+ Danh từ chỉ đơn vị tổ chức hành chínhĐó là các từ : làng, xã, tỉnh, huyện, thôn, xóm, quận, phường, tổ, nhóm , đoàn, tiểu đội, đại đội,...+ Danh từ chỉ đơn vị hành động, sư việcChúng được dùng để chỉ đơn vị hành động sự việc như : lần, lượt, trận, chuyến, phen, cuộc, cú, nắm, bó, gánh, vốc, ngụm,…

Các danh từ đơn vị trên đây dễ dàng dùng trực tiếp sau số từ nên được quy vào các danh từ đếm được.Thuộc vào số các danh từ đếm được còn có các danh từ chỉ sự vật đơn thể mà mục sau đây sẽ trình bày(tuy rằng muốn đếm được, danh từ đơn thể thường phải có một danh từ đơn vị đứng giữa nó và số từ).

Thực từ và hư từ

6719

Tóm tắt

Từ loại thực từ và từ loại hư từ

Tác giả

  • Đại học sư phạm Hà Nội

Từ loại thực từ và từ loại hư từ

Thực từ

Ví dụ 1

Hãy nêu ý nghĩa từ vựng khái quát của các từ sau:bàn, ghế, ăn, ngủ, vui, buồn, tốt, xấu...

- Các từ bàn, ghế có ý nghĩa từ vựng khái quát là (gọi tên) sự vật;

- Các từ ăn, ngủ có ý nghĩa từ vựng khái quát là (gọi tên) hoạt động;

- Các từ vui, buồn có ý nghĩa từ vựng khái quát là (gọi tên) trạng thái;

- Các từ tốt, xấu có ý nghĩa từ vựng khái quát là (gọi tên) tính chất.

Ví dụ 2

Các từ được gạch chân trong ví dụ sau đây giữ vai trò gì trong các cụm từ chính phụ:

Những bông sen đẫm sương đêm.

- Từ sen giữ vai trò thành tố trung tâm của cụm từ chính phụ những bông sen.

- Từ sương giữ vai trò thành tố phụ bổ sung ý nghĩa cho từ trung tâm trong cụm từ chính phụ đẫm sương đêm.

Ví dụ 3

Hãy cho biết các từ được gạch chân trong các ví dụ sau có chức vụ ngữ pháp gì trong câu:

a. Chim hót.

b. Gió thổi.

- Từ chim giữ chức vụ chủ ngữ trong câu Chim hót.

- Từ thổi giữ chức vụ vị ngữ trong câu Gió thổi.

Định nghĩa

Những từ được đề cập đến trong các ví dụ trên được gọi là thực từ. Hãy rút ra những đặc điểm của thực từ.

Người ta gọi những từ có ý nghĩa chân thực như từ "nhà" là thực từ. Nhưng thực từ có giá trị đầy đủ và có vị trí độc lập, rõ ràng, không cần bàn cãi. (Nguyễn Văn Tu. "Từ vựng học tiếng Việt hiện đại". Nxb Giáo dục, Hà Nội, 1968, tr.31)

Những từ có ý nghĩa từ vựng chân thực và có thể làm thành phần câu gọi là thực từ. (Nguyễn Kim Thản. "Nghiên cứu về ngữ pháp tiếng Việt". Tập 1. Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1963. Tr.147)

Từ thực là những từ có khả năng một mình tạo thành câu, một mình làm phần nêu hoặc phần báo trong phần chính của câu; đồng thời có chức năng gọi tên (hoặc trỏ) sự vật, thuộc tính sự vật. (Hồng Dân. "Bước đầu tìm hiểu vấn đề từ hư trong tiếng Việt". Tạp chí Ngôn ngữ, số 1, năm 1970. Tr.68)

Tiếng độc lập, thực, chính là những yếu tố xưa nay ta thường quen gọi là thực từ. (Nguyễn Tài Cẩn. "Ngữ pháp tiếng Việt". Nxb Đại học và Trung học chuyên nghiệp. Hà Nội, 1975. Tr.33)

Trong bản thân ý nghĩa của mỗi từ loại, thực từ bao giờ cũng chứa đựng sự thống nhất của các nhân tố "từ vựng" và nhân tố "ngữ pháp". (Đinh Văn Đức. "Về một cách hiểu ý nghĩa các từ loại trong tiếng Việt". Tạp chí Ngôn ngữ, số 2, năm 1978. Tr.39)

Thực từ là từ có "nghĩa thực" (hoặc nghĩa từ vựng) về sự vật, hiện tượng, loại nghĩa mà nhờ nó có thể làm được sự liên hệ giữa các từ với sự vật, hiện tượng nhất định. Ví dụ: cơm, bánh, ăn, sản xuất, ngon, giỏi, tích cực... Thực từ có thể dùng làm phần đề và phần thuyết trong một nòng cốt câu. Với hai thực từ đã có thể cấu tạo được một nòng cốt câu đơn. Ví dụ: Xe // chạy. Lúa // tốt. (UBKHXHVN. "Ngữ pháp tiếng Việt". Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1983. Tr.68)

Hư từ

Ví dụ 1

Nêu nhận xét về ý nghĩa từ vựng của các từ được gạch chân trong các ví dụ sau đây:

a. đang học

b. tôi với anh

Các từ được gạch chân trong các ví dụ trên không có ý nghĩa từ vựng chân thực, không có khả năng định danh sự vật, hiện tượng, trạng thái, tính chất mà chỉ có khả năng làm dấu hiệu bổ sung một số ý nghĩa ngữ pháp cho thực từ.

Cụ thể:- Từ đang bổ sung ý nghĩa thời gian hiện tại cho động từ học;- Từ với bổ sung ý nghĩa quan hệ bình đẳng cho các từ tôi - anh.

Ví dụ 2

Các từ được gạch chân trong các ví dụ sau có chức năng ngữ pháp như thế nào trong các cụm từ chính phụ và trong các câu?

a. đang học bài

b. Có lẽ nó đang học bài.

- Từ đang không thể làm thành tố chính mà chỉ có khả năng làm thành tố phụ của cụm động từ.- Từ có lẽ là thành phần phụ tình thái trong câu biểu thị sự phỏng đoán, chưa chắc chắn.

Định nghĩa

Những từ được đề cập đến trong các ví dụ trên được gọi là hư từ. Vậy, theo anh, chị, hư từ là gì?

Hư từ không có chức năng định danh, không có khả năng độc lập làm thành phần câu, dùng để biểu thị các quan hệ ngữ nghĩa - cú pháp khác nhau giữa các thực từ.(Nguyễn Như Ý chủ biên. "Từ điển giải thích thuật ngữ ngôn ngữ học". Nxb Giáo dục, Hà Nội, 1996. Tr.123)

Hư từ dùng để biểu thị ý nghĩa ngữ pháp và không có ý nghĩa từ vị.(Nguyễn Văn Tu. "Khái luận ngôn ngữ học". Nxb Giáo dục, Hà Nội, 1960. Tr.196)

Hư từ không tồn tại độc lập nếu không có những thực từ. Tuy vậy, chúng vẫn khác với các từ tố ở chỗ không gắn chặt với thực từ, chúng vẫn có đời sống riêng giữa các thực từ, thậm chí giữa các mệnh đề nữa.Hư từ vẫn biểu thị khái niệm: đó là khái niệm về sự tương quan giữa các sự vật. Bởi vậy, hư từ - là những từ - quan hệ - tuy không làm thành phần của câu nhưng rất cần thiết cho việc xây dựng câu.(Đỗ Hữu Châu. "Giáo trình Việt ngữ". Tập 2 - Từ hội học. Nxb Giáo dục, Hà Nội, 1962. Tr.20)

Theo nghĩa dùng trong ngôn ngữ học, hư từ là những từ không có ý nghĩa từ vựng chân thực, mà chỉ có tác dụng làm công cụ ngữ pháp để chỉ các ý nghĩa ngữ pháp khác nhau của các từ.(Nguyễn Kim Thản. "Nghiên cứu về ngữ pháp tiếng Việt". Tập 1. Nxb KHXH, Hà Nội, 1963. Tr.35)

Từ hư là những từ không có khả năng một mình tạo thành câu, không có khả năng một mình làm phần nêu hoặc phần báo trong phần chính của câu; đồng thời không có chức năng gọi tên (hoặc trỏ) sự vật, thuộc tính của sự vật, nhưng lại có chức năng làm dấu hiệu của một quan hệ ngữ pháp nào đó, một tình cảm hoặc một thái độ nào đó. (Hồng Dân. "Bước đầu tìm hiểu vấn đề từ hư trong tiếng Việt". Tạp chí Ngôn ngữ, số 1, năm 1970. Tr.66)

Tiếng độc lập, hư, phần lớn là những yếu tố xưa nay ta thường quen gọi là hư từ (hay từ công cụ). (Nguyễn Tài Cẩn. "Ngữ pháp tiếng Việt". Nxb ĐH và THCN, Hà Nội, 1975. Tr.33)

Hư từ là những từ dùng để biểu thị một số những quan hệ cú pháp nhất định. (UBKHXHVN. "Ngữ pháp tiếng Việt". Nxb KHXH, Hà Nội, 1983. Tr.29)

Đó là tập hợp không lớn về số lượng các từ, bản chất của ý nghĩa hư từ là tính chất ngữ pháp, là phương tiện biểu đạt mối quan hệ giữa các khái niệm trong tư duy theo cách thức phản ánh bằng ngôn ngữ của người bản ngữ. (Đinh Văn Đức. "Ngữ pháp tiếng Việt (từ loại)". Nxb ĐH và THCN, Hà Nội, 1986. Tr.43)

Hư từ chân chính thì không thể thay thế bằng từ khác trong một văn cảnh cụ thể được. Thuộc vào đây có các chỉ tố về số (những, các), các mạo từ (mọi, mỗi, từng, cái), các chỉ tố thời gian (đã, sẽ, đang, vừa, mới, từng), hệ từ (là), giới từ (cùng, bằng, với), liên từ (nếu, tuy, nên), liên giới từ (của, vì, bởi). (Nguyễn Minh Thuyết. "Thảo luận về vấn đề xác định hư từ trong tiếng Việt". Tạp chí Ngôn ngữ, số 3, năm 1986. Tr.43).

Lưu ý

- Sự phân loại thực từ - hư từ chỉ mang tính chất tương đối.- Số lượng thực từ nhiều hơn hư từ nhưng hư từ lại có tần số sử dụng cao hơn. - Trong quá trình sử dụng, có sự chuyển hóa giữa thực từ sang hư từ và ngược lại.

Động từ6720

Tóm tắt

động từ

Tác giả

  • Đại học sư phạm Hà Nội

ĐỘNG TỪ

Vấn đề phạm trù vị từ trong tiếng Việt

Thảo luận

Ngữ pháp chức năng gộp cả động từ và tính từ vào chung một nhóm là vị từ.Anh (chị) hãy nêu ý kiến của mình?

Trong nhiều ngôn ngữ trên thế giới, ngoài từ loại cơ bản là danh từ, có hai từ loại cơ bản khác là động từ và tính từ. Ở tiếng Việt, ở một mức độ nhất định cũng có thể thấy có sự khác biệt giữa 2 từ loại này, nhưng bên cạnh đó, hai từ loại này bộc lộ trong tiếng Việt nhiều điểm gần gũi với nhau hơn.Trong nhiều ngôn ngữ thuộc họ Ấn - Âu, mức độ khác biệt giữa động từ và tính từ rất rõ. đặc biệt là trong hoạt động ngữ pháp của chúng, ở đó tính từ biểu lộ nhiều điểm gần gũi với danh từ hơn, mà khác biệt với động từ. Chẳng hạn ở tiếng Nga, tính từ có quan hệ chặt chẽ với danh từ, và luôn tương hợp với danh từ về các phạm trù giống. số, cách. Hơn nữa tính từ hạn chế trong vai trò làm vị ngữ độc lập (khi làm vị ngữ. tính từ cần biến đổi thành hình thức ngắn đuôi, hoặc cần có sự trợ giúp của trợ động từ).Ở tiếng Việt, tính từ và động từ gần gũi với nhau về nhiều phương diện :- Về ý nghĩa, có thể quan niệm cả hai từ loại đó đều biểu hiện ý nghĩa đặc trưng của thực thể, đối lập với danh từ là từ loại biểu hiện thực thể. Ta có sự lưỡng phân :Thực thể // Đặc trưng của thực thểDanh từ // Động từ và tính từ.- Về khả năng kết hợp trong cụm từCả hai (động từ và tính từ) đều có thể kết hợp với các nhóm phụ từ, tuy rằng động từ dễ dàng kết hợp với các phụ từ chỉ mệnh lệnh (hãy, từng, chớ) hơn, còn tính từ thì phần nhiều dễ kết hợp với các phụ từ chỉ mức độ (rất, hơi, khí, khá lắm, cực kỳ, vô cùng...) hơn.- Về khả năng đảm nhiệm các thành phần câuCả hai từ loại động từ và tính từ đều có thể đảm nhiệm được chức năng của các thành phần câu, đặc biệt là các chức năng vị ngữ. định ngữ. bổ ngữ. Hơn nữa cả hai đều có thể làm vị ngữ một cách trực tiếp. Còn danh từ, không thể làm vị ngữ trực tiếp.

VD: so sánh khả năng kết hợp từ của động từ và tính từ

VD: so sánh khả năng làm vị ngữ trực tiếp :Con ngựa ấy // đi.Con ngựa ấy// đẹp.

Chính vì sự gần gũi giữa tính từ và động từ như vậy, nên đã từng có ý kiến cho rằng trong tiếng Việt hai từ loại này nằm trong một phạm trù từ loại chung là vị từ (hoặc thuật từ). Còn trong nhiều ngôn ngữ thuộc họ Ấn - Âu thì tính từ cùng với danh từ có thể họp thành một từ loại lớn là tĩnh từ, đối lập với động từ.

Trả lời câu hỏi

Theo bạn, hai từ loại này còn có những điểm khác biệt nào?

Tuy động từ và tính từ trong tiếng Việt có sự gần gũi như vậy, nhưng chúng vẫn có những sự khác biệt. Vì vậy, trong phần lớn các công trình nghiên cứu hoặc giảng dạy tiếng Việt, động từ và tính từ vẫn được xem xét như hai từ loại riêng biệt. Giáo trình này, một mặt chỉ ra sự gần gũi của động từ và tính từ trong tiếng Việt, mặt khác vẫn thừa nhận sự khác biệt của chúng, và xem xét chúng như những từ loại riêng biệt .

Đặc điểm cơ bản của động từ

Hoạt động đọc

Cho đoạn văn sau:

“... Mặt trời lên cao dần. Gió đã thổi mạnh. Gió lên, nước biển càng dữ. Khoảng mênh mông ầm ĩ càng lan rộng mãi. Bãi vẹt đã ngập lưng lưng. Biển cả như ơ muốn nuốt tươi con đê mỏng manh như con mập đớp con cá chim nhỏ bé.

Trống giục thùng thùng. Từ hai bên, đất đơợc đổ xuống thành từng dòng.Đất cao dần, đã nổi trên mặt lòng sông thành những vệt đỏ.Sọt đất dựa vào cọc tre, cọc tre giữ chặt sọt đất. Dòng nơớc bị chặn lại.Tiếng reo hò nổi lên ầm ĩ: chúng ta thắng biển rồi. Cố lên anh em ơi!..”

( Trích “Bão biển” – Chu Văn)

Yêu cầu: . Tìm các động từ có trong đoạn văn trên.

.

“... Mặt trời lên cao dần. Gió đã thổi mạnh. Gió lên, nươớc biển càng dữ. Khoảng mênh mông ầm ĩ càng lan rộng mãi. Bãi vẹt đã ngập lương lơng. Biển cả nhươ muốn nuốt tươơi con đê mỏng manh nhươ con mập đớp con cá chim nhỏ bé.

Trống giục thùng thùng. Từ hai bên, đất đơợc đổ xuống thành từng dòng.Đất cao dần, đã nổi trên mặt lòng sông thành những vệt đỏ.Sọt đất dựa vào cọc tre, cọc tre giữ chặt sọt đất. Dòng nươớc bị chặn lại.Tiếng reo hò nổi lên ầm ĩ: chúng ta thắng biển rồi. Cố lên anh em ơi!..”

( Trích “Bão biển” – Chu Văn)

Trả lời câu hỏi

Các động từ trên có ý nghĩa khái quát là gì?

Động từ có ý nghĩa ngữ pháp khái quát là chỉ hoạt đông, trạng thái (trạng thái vật lí, tâm lí. sinh lí)

Trả lời câu hỏi

Các động từ trên thường kết hợp với những từ loại nào?

Chúng có khả năng kết hợp với các phó từ, đặc biệt là, khác với các tính từ chúng có khả năng kết hợp với các phó từ chỉ mệnh lệnh (hãy đừng, chớ). Nói khác đi. động từ có khả năng làm thành tố chính của cụm từ chính phụ, mà các thành tố phụ tiêu biểu của nó là các phụ từ, trong đó có các phụ từ chỉ mệnh lệnh.

Trả lời câu hỏi

Các động từ (cụm động từ) nêu trên thường giữ chức vụ gì trong câu?

- Ở trong câu, động từ đảm nhiệm được chức năng của các thành phần câu, thành phần phụ cũng như thành phần chính. Riêng chức năng vị ngữ, động từ có thể đảm nhiệm được một cách trực tiếp.

Đôi khi , động từ có thể đảm nhiệm chức vụ chủ ngữ , hoặc làm vị ngữ mà vẫn cần có từ là ( khi câu thể hiện một điều suy luận ).

Chức năng tiêu biểu nhất của động từ trong câu là vị ngữ. Nhưng động từ có thể hoàn thành nhiệm vụ của thành phần bổ ngữ, định ngữ, trạng ngữ và cả chủ ngữ.

Các tiểu loại của động từ

Đọc và trả lời câu hỏi

Qua việc đọc giáo trình và các tài liệu tham khảo, anh chị hãy hệ thống lại các cách phân loại động từ trong tiếng Việt.

Theo ngữ pháp chức năng, mỗi sự tình (sự thể. sự kiện) trong hiện thực mà câu phản ánh tạo nên nghĩa miêu tả của câu. Nội dung của mỗi sự tình đó có một cái lõi được biểu hiện bằng một vị từ, và có các tham tố (tham thể).Tuyệt đại đa số các vị từ được biểu hiện bằng động từ hoặc tính từ, còn các tham tố - bằng các danh từ, cụm danh từ, đại từNgữ pháp chức năng phân biệt các sự tình theo hai đặc trưng (+-động), ( + - chủ ý). Mỗi loại sự tình có một loại vị từ biểu hiện. Do đó, cùng với sự phân loại các sự tình là sự phân loại các vị từ theo hai đặc trưng ( +- động) và ( +- chủ ý). Có thể hình dung sự phân loại như sau :

Vị từ hành động : mang đặc trưng ( + động), ( + chủ ý)

Ví dụ : (tôi) đi ; (nó) học : (họ) làm việc

- Vị từ quá trình : mang đặc trưng ( + động). ( - chủ ý)

Ví dụ : (lá) rơi ; (nước) chảy(bom) nổ ; (củi) cháy

- Vị từ trạng thái : mang đặc trưng ( - động), ( - chủ ý)

Các tính từ của quan niệm truyền thống thuộc về vị từ trạng thái.

Ví dụ : (núi) cao ; (ao thu) lạnh lẽo(tay) mỏi ; (đầu) nhức

Vị từ tư thế : mang đặc trưng ( - động), ( + chủ ý)

Ví dụ : (con nhỏ) nằm ; (họ) quỳ ; (đứa bé) đứng.

* Có tác giả phân loại động từ thành 2 mảng lớn: Nội động từ và ngoại động từ.

*Có tác giả phân loại động từ theo khả năng chi phối các thành tố phụ đi sau.

Thảo luận

Theo anh chị, ở góc độ giảng dạy ngữ pháp trong nhà trường phổ thông, quan điểm nào là phù hợp?

Phân loại theo khả năng dùng độc lập trong câu và khả năng chi phối đối với các thành tố phụ đi sau: Các động từ thường không dùng độc lậpĐó là các động từ thường không dùng một mình để làm thành phần câu, mà phải dùng với một từ khác (có cả động từ khác) hoặc một cụm từ đi sau làm thành tố phụ.

Tính chất không độc lập của động từ nhóm này không phải hoàn toàn tuyệt đối. Trong những điều kiện về ngữ cảnh và văn cảnh nhất định. động từ không độc lập vẫn có thể dùng một mình làm thành phần câu.

- Nhóm động từ tình thái : chỉ sự cần thiết (cần, nên, phi, cần phi....), chỉ khả năng (có thể, không thể, chẳng thể, chưa thể), chỉ ý nghĩa tình thái về ý chí (định, toan, dám, quyết, nỡ,...), chỉ tình thái nguyện vọng, mong muốn (mong, muốn, ước…), chỉ tình trạng tiếp thụ chịu đựng (bị. được, phải. mắc,...)

VD: Anh nên giữ sức khoẻ .Tôi không thể nói với anh dượcHọ phải làm việc mười hai tiếng một ngày.

- Nhóm động từ chỉ sự biến hoá : hoá, thành, biến thành, hoá thành, trở nên , trở thành , hoá ra, sinh ra, . . .

VD: Nó đã trở thành người tốtAnh ấy sinh ra lười biếng.

- Nhóm động từ chỉ diễn tiến của hoạt động: bắt đầu, tiếp tục, thôi, ngừng, bỏ, kết thúc,…

VD:Tôi mới bắt đầu công việc.Nó đã bỏ học.Anh ấy thôi làm việc ở đây rồi.

- Nhóm động từ quan hệ :+ Quan hệ đồng nhất : là, làm+ Quan hệ sở hữu, sở thuộc : có, gồm, thuộc về, thuộc, bao gồm,.+ Quan hệ so sánh : như, bằng, hn, kém, giống, khác, tựa, y như, hệt như+ Ngoài ra còn một số loại quan hệ khác như quan hệ sự vật - chất liệu ( bằng ), quan hệ sự việc - nguyên nhân (vì, tại, bởi, do,nhờ…), quan hệ sự kiện - mục đích (để, cho, đặng)

Động từ độc lập Đó là các động từ có thể được dùng một mình trong một chức năng cú pháp của câu.

Nội động từ (động từ vô tác ) - Ý nghĩa : chỉ hoạt động, trạng thái tự thân, không tác động đến một đối tượng nào khác.- Hình thức kết hợp : ở trong câu, chúng không thể có thành tố phụ chỉ đối tượng chịu sự tác động.

VD : đi, đứng,nằm, ngồi, nghỉ, nghỉ ngơi, lo lắng, hồi hộp

+ Nhóm chỉ tư thế : đứng, nằm, ngồi, quỳ,...+ Nhóm chỉ sự tự di chuyển : đi, chạy, bò, bay, nhảy, bơi, lăn, lê, trườn….Trong nhóm này có các động từ chỉ sự tự di chuyển có hướng : ra, vào, lên, xuống, sang, qua, về, lại, đến, tới, lui, tiến...+Nhóm động từ chỉ quá trình : chảy, rơi, cháy, rụng, úa, héo, chết , sống,…+ Nhóm chỉ trạng thái tâm lí, sinh lí : băn khoăn, hồi hộp, lo sợ, đau đớn, mỏi mệt, ray rứt, thao thức…+ Nhóm chỉ trạng thái tồn tại : có, còn, mất, hết,mọc, lặn, tàn, tan, tan tác…

Ngoại động từ (động từ chuyển tác )- ý nghĩa : chỉ những hoạt đông có chuyển đến, tác động đến một đối tượng nào đó.- hình thức kết hợp : khi dùng trong câu, các động từ này thường đòi hỏi thành tố phụ chỉ đối tượng chịu sự tác động.

VD : (động từ + thành tố phụ chỉ đối tượng) đá bóng, xây nhà, diệt giặc, phá hàng rào, kiến thiết đất nước, lập chính quyền. xây dựng quan điểm tư tưởng,

+ Các động từ tác động : chỉ hành động tác động vào đối tượng. hoặc làm hình thành đối tượng , hoặc huỷ diệt đối tượng hay làm biến đổi đối tượng

VD : đánh người ,đóng một cái tủxé rách quyển sách

Sau các động từ này luôn có thành tố phụ chỉ đối tượng.

+ Các động từ chỉ sự di chuyển đối tượng trong không gian.

VD: kéo thuyền (vào bờ);ném đá (vào cửa sổ).

Sau các động từ này, ngoài bổ ngữ chỉ đối tượng còn có bổ ngữ chỉ hướng và đích di chuyển.

+ Các động từ chỉ hoạt động phát nhận (cho, lấy) như : cho, tặng, trả, vay, lấy cướp, hiến dâng, thí biếu, thu, nộp, lấy trộm, lấy cắp,…

Đó là các hoạt động cho ai cái gì, hoặc nhận của ai cái gì.Trong câu, các động từ này đòi hỏi hai thành tố phụ đi sau để được trọn nghĩa : thành tố phụ chỉ vật nhận(hoặc vật phát )và thành tố phụ chỉ kẻ được nhận hoặc chịu tổn thất (kẻ phát )

VD:Nó cho tôi cái bút.Họ mượn thư viên rất nhiều sách.Anh ấy chuyển bức thư cho tôi.

+ Các động từ chỉ hoạt động nối kết các đối tượng(ít nhất là hai) như : nối, hoà, trộn , pha, liên kết, kết hợp, hợp nhất, thống nhất, sáp nhập,…

Chúng đòi hỏi hai thành tố phụ chỉ các đối tượng được nối kết với nhau.

VD: Tôi trộn bột với đườngNó pha sữa với cà phê.Tôi nối điểm A với điểm B,

+ Các động từ chỉ hoạt động cầu khiến, sai khiến như : bắt, sai, khiến, mời, đề nghị, yêu cầu, khuyên bảo, rủ, lệnh, cử, cắt, bảo,…

Đây là các hoạt động tác động đền một đối tượng khác và khiến đối tượng này phải thực hiện (hoặc không thực hiện ) một hành động , hay phải chuyển sang một trạng thái nào đó.Vì vậy trong câu, động từ loại này đòi hỏi hai thành tố phụ để trọn nghĩa : - Thành tố phụ thứ nhất chỉ đối tượng chịu sự sai khiến, thường được biểu hiện bằng danh từ (cụm danh từ) hoặc đại từ.- Thành tố phụ thứ hai chỉ nội dung sai khiến. thường được biểu hiện bằng động từ (cụm động từ).Chúng trả lời cho các câu hỏi sai khiến ai?, làm gì '?

Ví dụ : Nó bảo tôi làm việc này.Ông yêu cầu cơ quan cấp nhà ở.Chúng tôi mời anh đến chơi.Chị khuyên tôi đừng đến.

Hoạt động sai khiến, cầu khiến có thể có nhiều mức độ khác nhau : bắt - yêu cầu đề nghị - mời - khuyên....Gần với hoạt động sai khiến là hoạt động gây khiến : gây ra cho đối tượng một trạng thái nào đó, một hệ quả nào đó. Các động từ gây khiến cũng đòi hỏi hai thành tố phụ đi sau, nhưng thành tố phụ chỉ đối tượng có thể biểu hiện các vật.Ví dụ : Nó bẻ cái bút gãy làm đôi.Tôi chặt khúc cây làm hai đoạn.Họ chia số hàng hoá đó thành hai phần.

+ Các động từ chỉ hoạt động đánh giá đối tượng. Các động từ này cũng đòi hỏi hai thành tố phụ đi sau :- Thành tố phụ chỉ đối tượng chịu sự đánh giá, thường được biểu hiện bằng danh từ (cụm danh từ) hoặc đại từ.- Thành tố phụ chỉ nội dung đánh giá, thường được biểu hiện bằng các kết cấu : là (làm) + danh từ (cụm danh từ), hoặc tính từ (cụm tính từ)

Ví dụ : cho, gọi, coi, công nhận, tôn, bầu, thừa nhận, đánh giá,...Lão gọi con chó là Cậu vàng.Chúng tôi bầu ông ấy làm chủ tịch.Họ công nhận anh ấy rất tích cực

+ Các động từ chỉ các hoạt động cảm giác, tri giác, nhận thức, suy nghĩ, nói năng: biết, nghĩ, nói, nhận thấy, thấy, phát biểu,...

Các động từ này có thể chỉ có thành tố phụ chỉ đối tượng đi sau (được biểu hiện bằng danh từ, cụm danh từ, đại từ), chẳng hạn :Tôi biết nó.Tôi thấy cái ô tô.Nhưng các động từ này có thể có thành tố phụ chỉ nội dung cảm nghĩ nói năng. Loại thành tố phụ này có đặc điểm :- Có cấu tạo là một cụm chủ vị ;- Có thể liên kết với động từ nhờ các quan hệ từ như rằng hoặc là.Ví dụ :Tôi biết là nó đi vắng.Nó thấy rằng cái ô tô chở đầy hàng.Ông tuyên bố rằng nó vô tội.

Tính từ

6718


Tóm tắt

tính từ

Tác giả

  • Đại học sư phạm Hà Nội

Đặc điểm cơ bản của tính từ

Phân tích ví dụ

Ao thu lạnh lẽo nước trong veo

Một chiếc thuyền câu bé tẻo teo

Sóng biếc theo làn hơi gợn tí

Lá vàng trước gió sẽ đưa vèo.

Tầng mây lơ lửng trời xanh ngắt

Ngõ trúc quanh co khách vắng teo

Tựa gối ôm cần lâu chẳng được

Cá đâu đớp động dưới chân bèo.

(Nguyễn Khuyến - Thu điếu)

Tìm các tính từ trong bài thơ trên. Vì sao anh, chị xác định được đó là các tính từ?

Ao thu lạnh lẽo nước trong veo

Một chiếc thuyền câu bé tẻo teo

Sóng biếc theo làn hơi gợn

vàng trước gió sẽ đưa vèo.

Tầng mây lơ lửng trời xanh ngắt

Ngõ trúc quanh co khách vắng teo

Tựa gối ôm cần lâu chẳng được

Cá đâu đớp động dưới chân bèo.

- Tính từ có ý nghĩa khái quát là chỉ tính chất, đặc điểm của sự vật, của hoạt động, của trạng thái.

- Gần gũi với động từ, tính từ cũng có khả năng kết hợp với các phụ từ .Tuy nhiên, thường tính từ rất ít kết hợp với các phụ từ chỉ mệnh lệnh, ngược lại phần lớn các tính từ dễ dàng kết hợp với các phụ từ chỉ mức độ. Nói' cách khác. tính từ có thể đảm nhiệm vai trò thành tố chính của một cụm từ chính phụ mà các thành tố phụ là các phụ từ, trong đó khá tiêu biểu là các phụ từ chỉ mức độ.

- Cũng giống như động từ, tính từ có thể làm vị ngữ trực tiếp. Ngoài ra trong câu, tính từ có thể đảm nhiệm chức năng cú pháp của nhiều thành phần khác

VD:+ làm định ngữ : Đó là phim mới .+ làm bổ ngữ : Anh nói nhanh như gió.+ làm trạng ngữ : Xưa có một người nông dân nghèo.+ làm chủ ngữ : Hiếu thảo là đức tính tốt của những người con

Các tiểu loại tính từ

Đọc và trả lời câu hỏi

Theo giáo trình, có mấy cách phân loại tính từ tiếng Việt?

Căn cứ vào ý nghĩa khái quát của các tiểu phạm trù, có thể phân biệt 2 loại tính từ.Các tính từ biểu hiện các đặc điểm về chấtNhững đặc điểm này không thể” lượng hoá" được, mà chỉ có thể được sắc thái hoá. Đó là các nhóm tính từ :+ chỉ mầu sắc : xanh, đỏ, tím, vàng, đen, trắng,...+ chí kích thước, hình dáng : to, nhỏ, lớn, bé,...+ chỉ mùi vị : cay, đắng, ngọt, bùi, mặn, chát chua, thm, thối, hắc...+ chỉ tính chất vật lí : cứng, mềm, dẻo, giòn, rắn, căng, chùng, nhão, nát.+ chỉ phẩm chất của sự vật : tốt, xấu, hay ,dở, xinh, đẹp, tồi.....+ chỉ đặc điểm tâm lí : hiền, ác, dữ , lành, điềm đạm, nóng ny, cục, phúc hậu. .+ chỉ đặc điểm sinh lí : khoẻ, yếu, mạnh, cường tráng, tráng kiện, ốm yếu,...+ chỉ đặc điểm trí tuệ : ngu, đần, dốt ,thông minh, lanh lợi. khôn khéo, mưu trí, xo trá, gian gio . . .+ chỉ cách thức hoạt động : nhanh, chậm ,vững, thạo, bền, chắc, rề rà, chậm chạp.Các tính từ chỉ đặc điểm về lượngNhững đặc điểm này có thể "lượng hoá" (nhờ một thành tố phụ có số từ chính xác đi sau : dày 400 trang).

VD:cao, thấp, nông, sâu, rộng, hẹp, ngắn, dài, nặng, nhẹ, mỏng, dày, xa, gần,...

Căn cứ vào nét nghĩa mức độ và khả năng thể hiện ý nghĩa mức độ nhờ các thành tố phụ, có thể phân biệt 2 nhóm tính từ :Các tính từ chỉ đặc điểm, tính chất có các thang độ khác nhauTuỳ theo thang độ của các đặc điểm tính chất mà các tính từ đó có thể kết hợp với các thành tố phụ khác nhau : hi, khá, khí, rất, lắm, vô cùng, cực, cực kỳ, tuyệt

VD:+ rất đẹp+ khá hay+ vô cùng dũng cm+ cực kì thông minh

Có thể thể hiện mức độ nhờ sự kết hợp với các thành tố phụ khác

VD:+ đẹp như tiên, cao như núi+ sâu đến ngực, cao đến lưng trời.+ sâu thăm thẳm, cao vời vợi.

Các tính từ chỉ đặc điểm không phân biệt theo các thang độ khác nhauCác tính từ này không kết hợp với các thành tố phụ chỉ mức độ. Có 2 loại : + Các tính từ chỉ tính chất được phân hoá thành 2 cực rõ rệt, giữa hai cực đó không có các thang độ chuyển tiếp.

VD:đực/cái, trống/mái, riêng/chung, công/tư, âm lịch/dương lịch

+ Các tính từ được cấu tạo theo phưng thức ghép, trong đó các hình vị đi sau vừa sắc thái hoá ý nghĩa cho hình vị đi trước, vừa chỉ mức độ cao nhất của đặc điểm tính chất mà hình vị đi trước biểu hiện.

VD:xanh lè, đen kịt, cao ngất, thm phức , đỏ au, trắng xoá, bạc phếch, trọc lốc, xanh um, vàng xuộm, tím ngắt, nhỏ xíu,...

Lựa chọn

Read the paragraph below and fill in the missing words.

1. rất xanh lè, hơi trắng phau, khá đỏ auTrue False

Incorrect! Các kết hợp này không được chấp nhận trong tiếng Việt vì các tính từ xanh lè, trắng phau, đỏ au... là những tính từ chỉ mức độ tuyệt đối, do đó không thể kết hợp với các phụ từ chỉ mức độ.

Correct! Các kết hợp này không được chấp nhận trong tiếng Việt vì các tính từ xanh lè, trắng phau, đỏ au... là những tính từ chỉ mức độ tuyệt đối, do đó không thể kết hợp với các phụ từ chỉ mức độ.

2. rất xanh, hơi trắng, khá đỏTrue False

Correct! Các kết hợp này được chấp nhận trong tiếng Việt.

Incorrect! Các kết hợp này được chấp nhận trong tiếng Việt.

Thảo luận

Lớp từ tượng thanh trong tiếng Việt thuộc từ loại gì?

Ngoài ra trong tiếng Việt có lớp từ tượng thanh, tức những từ mà âm thanh của nó mô phỏng các âm thanh của tự nhiên. Một số từ tượng thanh có ý nghĩa sự vật (gọi tên sự vật theo âm thanh mà chúng phát ra)Những từ đó thuộc loại danh từ, ví dụ : con mèo, con bò, con tắc kè, xe bình bịch, xe cút kítCó nhiều từ tượng thanh cấu tạo theo kiểu láy để mô phỏng âm thanh tự nhiên : róc rách, lộp độp, đì đòm, đùng đoàng, long xong, leng keng, tí tách, ào àoCác từ láy tượng thanh được các nhà nghiên cứu tiếng Việt quan niệm khác nhau : hoặc là động từ, hoặc là tính từ. Nếu căn cứ vào công dụng ý nghĩa của chúng (chúng thường miêu tả tính chất của một hoạt động, một quá trình : chim hót líu lo, nước chảy róc rách) và chức năng thường làm thành tố phụ cho động từ (như phần lớn các tính từ) thì có thể quan niệm các từ láy tượng thanh là tính từ.Nhưng xét về nét nghĩa mức độ, thì các từ láy tượng thanh này, rõ ràng không hàm chứa nét nghĩa mức độ. Chúng không kết hợp với các thành tố phụ chỉ mức độ

Đại từ

6721


Tóm tắt

đại từ

Tác giả

  • Đại học sư phạm Hà Nội

Đặc điểm của đại từ

Phân tích ví dụ

Cho các ví dụ sau:

Tôi muốn tắt nắng đi

Cho màu đừng nhạt mất

Ba mươi năm ấy chân không nghỉ

Mà đến bây giờ mới tới nơi

Bạn Lan học rất giỏi. Bạn Cúc cũng vậy.

Chỉ ra các đại từ trong các ví dụ trên.

Nhận xét về ý nghĩa khái quát, khả năng kết hợp và chức vụ cú pháp của các đại từ nêu trên.

Tôi muốn tắt nắng đi

Cho màu đừng nhạt mất

Ba mươi năm ấy chân không nghỉ

Mà đến bây giờ mới tới nơi

Bạn Lan học rất giỏi. Bạn Cúc cũng vậy.

Đại từ có chức năng để xưng hô, để trỏ, hoặc để thay thế (thay thế cho các từ thuộc danh từ, động từ, tính từ, số từ). Khi thay thế cho từ thuộc loại từ nào thì đại từ mang đặc điểm ngữ pháp cơ bản của từ loại ấy.

VD:Họ sống và chiến đấu.

Họ là từ chỉ những người được nói đến, thay thế cho danh từ chỉ những người này. Trong câu trên, nó làm chủ ngữ

Bạn tôi thích xem phim. Tôi cũng thế.

Đại từ có nhiều điểm giống các từ loại thuộc thực từ : có thể làm thành phần chính trong câu , nhưng nó vẫn khác các thực từ ở chỗ : đại từ không có chức năng định danh, không liên hệ tới đối tượng cụ thể trong hiện thực. Đại từ chỉ thực hiện chức năng để trỏ và để thay thế .

Ví dụ từ tôi không dùng để biểu hiện một người nào mà chỉ để người nói tự xưng , để thay thế cho bất kì người nói nào

Vì vậy , có thể không coi đại từ là thực từ, hoặc cho rằng đại từ không tiêu biểu cho thực từ . Đó đều là những quan niệm có cơ sở trong thực tế ngôn ngữ.

Các tiểu loại đại từ

Hoạt động đọc

Có mấy cách phân loại đại từ trong tiếng Việt?

 

Căn cứ vào chức năng thay thế có thể tách biệt các đại từ thành ba nhóm :- Các đại từ thay thế cho danh từ :

VD:tôi, tao, chúng tôi, mày, nó, họ, chúng, ....

 

Các đại từ này có khả năng hoàn thành các chức năng ngữ pháp của danh từ : có thể đảm nhiệm vai trò của các thành phần câu ; khi làm vị ngữ cũng cần từ là.

VD:Nạn nhân là nó. Còn thủ phạm là ai ?

- Các đại từ thay thế cho động từ, tính từ :

VD:thế, vậy, như thế, như vậy

Các đại từ này cũng có khả năng kết hợp với các phụ từ như các động từ và tính từ : đồng thời cũng có khả năng và cách thức thực hiện các chức năng ngữ pháp trong câu như các động từ và tính từ (hoặc cụm động từ hoặc cụm lính từ).

VD:(1 ) Công việctrước đây rất khó khăn, trì trệ. Bây giờ công việc vẫn thế. (Công việc vẫn khó khăn, trì trệ. )(2) Tôi thích đá bóng, em tôi cũng vậy. (Em tôi cũng thích đá bóng.)

- Các đại từ thay thế cho số từ :

VD:bao, bao nhiêu, bây, bấy nhiêu

Những đại từ này có những đặc điểm ngữ pháp như số từ : thường làm thành tố phụ trước cho danh từ để biểu hiện ý nghĩa số lượng .

VD:bao nhiêu người, bấy nhiêu sách vở

Căn cứ vào mục đích sử dụng, có thể tách các đại từ thành các tiểu loại sau

- Các đại từ xưng hô

Bảng các đại từ xưng hô đích thực

+ người nói tự xưng (tôi, tao, chúng tôi, chúng ta, chúng mình, mình, chúng tớ), + người nói gọi người nghe (mày, chúng mày, mi, ngươi...), + chỉ người được nói tới (nó, hắn, y thị, chúng nó, họ, chúng,...).

Bảng thống kê sắc thái của các đại từ xưng hô đích thực

Các đại từ xưng hô mày, tao được sử dụng trong ví dụ trên thể hiện sắc thái tình cảm thân mật, suồng sã.

Vì đại từ xưng hô đích thực trong tiếng Việt thường ít mang sắc thái trang trọng nên có một bộ phận danh từ chỉ quan hệ thân tộc được dùng như đại từ xưng hô : ông, bà, anh, chị, em, cháu, cô, dì , chú, bác ,…(dùng rộng trong giao tiếp xã hội).

Các đại từ xưng hô của tiếng Việt cũng phân biệt theo ngôi và số . Có thể trình bày trong bảng sau :

Các danh từ thân tộc dùng để xưng hô trong gia đình và trong xã hội thì không phân biệt theo ngôi : cùng một từ có thể dùng ở cả ba ngôi , tuỳ theo tình huống giao tiếp .

- Các đại từ chỉ định

VD:ấy, kia, này, nọ, đó, đấy, đây, này, bây, bấy,...

Các đại từ này thường được làm thành tố phụ kết thúc cụm danh từ, nhưng cũng có thể dùng độc lập. Chúng chỉ định sự vật trong không gian hoặc thời gian.

Ví dụ : Những em học sinh này rất ngoan.Đó là một truyền thống quý báu của ta.Đây là xe gắn máy, còn kia là những chiếc máy bơm.

Sách Ngữ văn ở THCS tách các đại từ chỉ định thành một từ loại riêng là chỉ từ . Song căn cứ vào đặc điểm gần gũi với đại từ của chúng, và số lượng không lớn của chúng, giáo trình này thống nhất các từ chỉ định trong từ loại lớn là đại từ.

- Các đại từ để hỏi (nghi vấn )

+ hỏi về người và sự vật (ai, cái gì,...),+ hỏi về nơi chốn (đâu),+ hỏi về thời gian (bao giờ),+ hỏi về đặc điểm, tính chất (nào, sao,...),+ hỏi về số lượng (bao, bao nhiêu,...).

VD:Ta là ai ? Như ngọn gió siêu hìnhCâu hỏi hư vô thổi nghìn nến tắtTa vì ai ? Sẽ xoay chiều ngọn bấcBàn tay người thắp lại triệu chồi xanh( Chế Lan Viên )

Trong tiếng Việt tất cả các đại từ để hỏi còn được dùng theo nghĩa phiếm chỉ : chúng không nhằm vào mục đích để hỏi, mà chỉ chung mọi người, mọi sự vật. mọi nơi chốn, thời gian, mọi đặc điểm tính chất và số lượng....nhưng không ám chỉ một đối tượng cụ thể nào.

VD:+ Việc ai người nấy biết.+ ở đâu tre cũng xanh tốt(Thép Mới )+ Nhiệm vụ nào cũng hoàn thành,...(Hồ Chí Minh)

Trong việc dùng đại từ, nhất là đại từ xưng hô, người Việt Nam ta rất chú ý đến việc bày tỏ thái độ, tình cảm của mình đối với người khác. Đó cũng là một trong những sắc thái riêng của đại từ xưng hô tiếng Việt.

Số từ

6724


Tóm tắt

số từ

Tác giả

  • Đại học sư phạm Hà Nội

Đặc điểm của số từ

Trả lời câu hỏi

 Hãy tìm các số tư có trong bai thơ sau:

 " Một canh...hai canh...lại ba canh

Trằn trọc, băn khoăn giấc chẳng thành

Canh bốn, canh năm vừa chợp mắt

Sao vàng năm cánh mộng hồn quanh"

 ( Không ngủ được - Hồ Chí Minh) 

Một canh...hai canh...lại ba canh

Trằn trọc, băn khoăn giấc chẳng thành

Canh bốn, canh năm vừa chợp mắt

Sao vàng năm cánh mộng hồn quanh"

Trả lời câu hỏi

 

 Nêu những đặc điểm cơ bản của số từ? ( Về ý nghĩa chung của số từ; về khả năng kết hợp; về chức vụ cú pháp)

Số từ thường dùng để chỉ số lượng hay số thứ tự của sự vật. Ví dụ: hai canh, ba canh canh bốn, canh năm...

Khả năng kết hợp:Số từ thường kết hợp với danh từ đơn vị để chỉ lượng hoặc chỉ thứ tự sự vật:Số từ + Danh từ = chỉ số lưọngDanh từ + Số từ = số thứ tự.- Số từ thường đứng sau danh từ : thứ, cấp, số, hạng…- Là thành tố phụ trước của cụm danh từ, đứng ở vị trí ngay trước danh từ.

Chức vụ cú pháp:- Trong câu,số từ có thể đảm nhận vai trò một số thành phần như chủ ngữ, vị ngữ…Ví dụ:+ Nước VN là một.+ Nhất nước, nhì phân.+ Ta là một, là riêng,là thứ nhất.....và có thể một mình làm thành câu đặc biệt: Một! Hai!...….nhưng không phổ biến.:

Ngoài ra, ST còn được dùng như 1 yếu tố liên kết cấp câu: liên kết câu chứa nó với các câu sau góp phần tạo mạch lạc cho ngôn bản hoặc văn bản: một là, hai là...; thứ nhất, thứ hai…

Các tiểu loại số từ

Số từ số lượngSố từ chỉ số lượng chính xác: một, ba, bảy...-Làm yếu tố phụ truớc trong cụm danh từ .Trong câu: Số từ làm vị ngữ phải có từ là:Một với một là haiHai thêm hai là bốn...( trừ trường hợp nói về tuỏi tác: Cô ấy đã 24 tuổi rồi)

Số từ chỉ lượng ước chừngvài, dăm, mươi,đôi ba, dăm bảy…-Số từ chỉ lượng ước chừng không thể kết hợp vói các danh từ để làm số thứ tựVD: canh bốn, canh năm..(+)Canh vài..(-)-Số từ ước chừng không thể trả lời cho câu hỏi: bao nhiêu, mấy như những số từ khác một các trực tiếp mà phải kết hợp với danh từ đơn vị đứng sau.

Số từ loại này không làm vị ngữ trong câu cho dù kết hợp với từ là

Số từ chỉ số thứ tựTrong ngôn ngữ Ấn- Âu có 1 hệ thống từ chỉ số thứ tự, như:Tiếng Pháp: premier; seconde, troixieme, quatieme..Tiếng Anh: first, second, third…nhưng tiếng Việt phải thêm các yếu tố như thứ, số,cấp, hạng....- Vị trí : sau danh từ: tầng 3; phòng 4..- Thường thêm các yếu tố: thứ, số,cấp, hạng....- Có thể làm vị ngữ 1 cách trực tiếp.VD: Nó nhất thì tôi thứ nhìAi mà hơn nữa tôi thì thứ ba.

Thảo luận

Các từ đôi, cặp, tá, chục, trăm, nghìn, triệu, tỉ... có phải là số từ không?

đôi, chục, tá,cặp..: => Mang ý nghĩa chỉ số nhưng có hoạt động ngữ pháp giống danh từ, làm thành tố chính của cụm danh từ.VD: Tất cả những đôi găng tay đó…

Phụ từ

6723


Tóm tắt

phụ từ

Tác giả

  • Đại học sư phạm Hà Nội

Đặc điểm

Hoạt động dành cho người học

Phân tích ví dụ

Quan sát ví dụ sau, nêu nhận xét về ý nghĩa khái quát và chức năng ngữ pháp của các từ in nghiêng:

VD1: Em đang ngồi học mà nhớ cô quá 

VD 2: Trong lớp tôi mỗi người có một vẻ riêng 

Gợi ý

Activity

Trong ví dụ 1 từ đang là một từ làm dấu hiệu chỉ thời gian tiếp diễn. Nó đi kèm với từ học, làm thành tố phụ cho từ đó và tạo thành cụm từ đang học (cả cụm này làm vị ngữ 1 của câu.)

Trong ví dụ 2, từ mỗi, một là  từ làm dấu hiệu chỉ ý nghĩa về số lượng nhưng nó khác số từ ở chỗ không thể dùng độc lập để tính đếm. Nó đi kèm với các danh từ người, vẻ, làm thành tố phụ cho từ đó và tạo thành các cụm danh từ mỗi người, một vẻ (cụm danh từ mỗi ngừơi làm chủ ngữ, cụm DT một vẻ làm bổ ngữ trong câu)

Câu hỏi gợi mở

Activity

Các từ in nghiêng nêu trên là các phụ từ. Căn cứ vào đó hãy chỉ ra đặc điểm của phụ từ. Tại sao phụ từ con fđược gọi là phó từ, từ kèm?

Đặc điểm của phụ từ

Kiến thức cần đạt

- Về mặt ý nghĩa, phụ từ không thực hiện được chức năng gọi tên (định danh). mà chỉ làm dấu hiệu cho một loại ý nghĩa nào đó mà thôi.- Phụ từ không thể đảm nhiệm vai trò thành tố chính của cụm từ, chúng chuyên làm thành tố phụ trong cụm từ để bổ sung cho thành tố chính một ý nghĩa nào đó. Vì thế chúng được coi là các từ chứng, làm bộc lộ bản chất ngữ pháp của các từ làm thành tố chính.- Phụ từ không thể một mình đảm nhiệm chức năng của các thành phần câu, mà thường cùng với từ chính đảm nhiệm chức năng của một thành phần câu.

Vì chức năng như thế, nên phụ từ còn được gọi là từ kèm. hoặc phó từ.

Các tiểu loại

Câu hỏi gợi mở

Hoạt động dành cho người học

Căn cứ vào bản chất ngữ pháp của các từ chính mà phụ từ thường đi kèm, có thể phân chia phụ từ thành những loại nào?

Các tiểu loại phụ từ

Kiến thức cần đạt

Căn cứ vào bản chất ngữ pháp của các từ chính mà phụ từ thường đi kèm, các phụ từ được phân chia thành hai nhóm :-Nhóm các phụ từ thường đi kèm với danh từ :Các phụ từ này làm thành tố phụ trước cho danh từ và chiếm vị trí 2 trong kết cấu của cụm danh từ. Chúng làm dấu hiệu cho ý nghĩa về lượng sự vật, nhưng khác số từ ở chỗ : chúng không thể dùng độc lập để tính đếm. Chúng thường được gọi là các lượng từ. Đó là các từ : những, các, mọi, mỗi, từng, một,...

Ví dụ :Trong lớp tôi, mỗi người có một vẻ riêng.

Nhóm các phụ từ thường đi kèm với động từ và tính từ : các phụ từ này làm thành tố phụ trước hay sau cho động từ hoặc tính từ. Có thể tách biệt chúng thành một số nhóm nhỏ như sau :+ các phụ từ chỉ ý nghĩa thời - thể : đã, từng, vừa, mới, đang, sẽ , sắp....+ các phụ từ chỉ sự tiếp diễn tưng tự, đồng nhất : đều, cũng, vẫn, cứ, còn, lại,. . .+ các phụ từ chỉ ý khẳng định hay phủ định : có, không, chưa, chẳng.+ các phụ từ chỉ ý mệnh lệnh : hãy, đừng, chớ (đi trước động tư), đi, nào (đi sau).+ các phụ từ chỉ mức độ : rất, hi, khí, khá (đi trước), qúa, lắm, vô cùng: cực kì (đi sau).+ các phụ từ chỉ sự hoàn thành (xong, rồi), chỉ kết qu (được, mất, ra....), chỉ ý tự lực (lấy), chỉ ý tưng hỗ (nhau), chỉ sự phối hợp (cùng, với), chỉ cách thức (ngay liền, luôn, nữa, mãi, dần,...). Các phụ từ này thường đi sau động từ

VD:Họ cũng sẽ không đến.Các anh cứ đi đi nào !Em đừng khóc nữa.

Một số điểm cần lưu ý

Activity

Có thể thấy rằng các phụ từ tuy không có ý nghĩa thuần nhất trong nội bộ như các từ thuộc các từ loại khác, nhưng điều cơ bản là chúng chuyên thực hiện chức năng đi kèm làm thành tố phụ cho các từ loại cơ bản (danh. động. tính).Chúng không thể độc lập làm thành phần câu.

Quan hệ từ

6722

  •  

(0 votes, average 0 out of)

Tóm tắt

quan hệ từ

Tác giả

  • Đại học sư phạm Hà Nội

Đặc điểm

Phân tích ví dụ

Hoạt động dành cho người học

Quan sát ví dụ sau, nêu nhận xét về đặc điểm ý nghĩa khái quát, chức năng ngữ pháp của các từ in nghiêng

+ Anh không xuống thuyền của chúng tôi đi bộ dọc bờ sông.+ Họ có thể đọc sách bằng tiếng Anh tiếng Pháp.

Tiếp cận kiến thức

Hoạt đông dành cho ngừời học

Các từ vừa phân tích là các quan hệ từ. Căn cứ vào đó hãy chỉ ra đặc điểm của quan hệ từ

Đặc điểm của quan hệ từ

Kiến thức cần đạt

- Quan hệ từ là những từ biểu thị quan hệ ngữ pháp giữa các từ, các cụm từ , giữa các bộ phận của câu hoặc giữa các câu với nhau.- Chúng không thể đm nhiệm được vai trò thành tố chính lẫn vai trò thành tố phụ trong cụm từ, chúng cũng không thể đm nhiệm được chức năng của các thành phần câu. Chúng chỉ thực hiện được chức năng liên kết các từ, các cụm từ hay các câu với nhau. Vì thế chúng còn được gọi là các từ nối, kết từ hoặc từ quan hệ.

Các tiểu loại

Activity

Câu hỏi gợi mở

Activity

Căn cứ vào loại quan hệ ngữ pháp mà từ biểu thị, kết hợp với tiêu chí về ý nghĩa, hãy nêu các nhóm quan hệ từ bản

Các tiêủ loại quan hệ từ

Kiến thức cần đạt

Căn cứ vào loại quan hệ ngữ pháp mà từ biểu thị, có thể phân biệt các quan hệ từ thành các nhóm :- Các quan hệ từ phục vụ cho quan hệ đẳng lập : và, với, rồi. nhưng, song, mà. chứ, hay, hoặc,...- Các quan hệ từ phục vụ cho quan hệ chính phụ : của, bằng, rằng, với, vì, tại, bởi, do, nên, để, cho,…

VD:+ Mặt đất bầu trời đều tươi sáng. (đẳng lập)+ Chúng dùng thuốc phiện, rượu cồn để làm cho nòi giống ta suy nhược (chính phụ)

Một số điểm cần lưu ý

Activity

Trong thực tế sử dụng, các quan hệ từ có thể được dùng thành cặp để liên kết các bộ phận của câu với nhau, nhất là trong các câu ghép : nếu...thì,..., hễ (giá)... thì,..., dù mặc dù, mặc dầu)...thì..., vì (tại, bởi, do)... nên..., tuỵ... nhưng,.... không những... mà còn,...

VD:+ Nếu trời mưa to thì chúng ta không đi nữa.+ Không những nó không đến mà nó còn không cho em nó đến.

Một số phụ từ cũng có thể được dùng trong chức năng của quan hệ từ để nối kết các từ, các cụm từ.

VD:Bọn thực dân Pháp đã không đáp ứng, lại thẳng tay khủng bố Việt minh hơn nữa(Hồ Chí Minh)

Các phụ từ đã,... lại trong ví dụ này liên kết hai vị ngữ của câu và biểu hiện quan hệ tăng tiến.

Tình thái từ

6725


Tóm tắt

tình thái từ

Tác giả

  • Đại học sư phạm Hà Nội

Đặc điểm

Tìm hiểu ví dụ

Hoạt động dành cho người học

Quan sát đối thoại sau, nêu nhận xét về ý nghĩa, chức năng ngữ pháp của các từ in nghiêng:

 - Ấy thầy thì chỉ thế!...Cái gì cũng chước! Thành thử ra con mình chỉ theo không?

- Theo không cũng được. Mẹ mày ngày xưa cũng chỉ theo không tao đấy. Thế mà cũng ăn ở với nhau được mãi, sinh con đẻ cái, mà lại còn thưong yêu nhau bằng mấy những cặp vợ chồng cưới linh đình. Mẹ kiêp! Lắm đám cưới linh đình, mà rồi lại bỏ nhau ùn ùn ra đấy à?

Tiếp cận kiến thức

Hoạt động dành cho người học

Các từ in nghiêng nêu trên là các tình thái từ. Căn cứ vào đó hãy chỉ ra đặc điểm của tình thaí từ.

Các đặc điểm của tình thái từ

Kiến thức cần đạt

- Các tình thái từ là những từ biểu lộ thái độ tình cảm của người nói (người viết) đối với nội dung của câu hoặc đối với người cùng tham gia hoạt động giao tiếp (người nghe. người đọc).- Các tình thái từ không thể đóng vai trò thành phần cấu tạo trong cụm từ hay trong câu, chúng chỉ được dùng trong câu để bày tỏ thái độ tình cảm.

Các tiểu loại

Câu hỏi gợi ý

Hoạt động dành cho người học

Căn cứ vào đặc điểm ý nghĩa và vị trí xuất hiện trong câu của các tình thái, có thể phân chia thành những tiểu loại tình thái từ nào?

Các tiểu loại tình thái từ

Kiến htức cần đạt

Các trợ từ nhấn mạnh : Những từ này dùng để nhấn mạnh vào từ, cụm từ hay một câu nào đó mà chúng đi kèm. Chúng ở trước từ hay cụm từ cần nhấn mạnh. Đó là những từ như : cả, chính, đích, đúng, chỉ, những,đến, tận, ngay,...

VD:+ Hai ngày sau, chính một số cảnh sát đã giải anh đi tối hôm trước lại quay về nhà thương Chợ Quán.(Trần Đình Vân)+ Nó mua những tám cái vé.+ Nó làm việc cảngày lễ.

- Các tiểu từ tình thái : Đây là những từ thường làm dấu hiệu chỉ rõ mục đích nói của câu (hỏi, ra lệnh, kể, cảm thán,...). Chúng đứng ở cuối câu để biểu hiện các sắc thái nghi vấn, cầu khiến hay cảm thán. Đồng thời chúng cũng bộc lộ thái độ, tình cảm của người nói, người viết.

VD:+ Chúng ta đi xem phim nhé ?+ Đã bảo mà !+ Trời có mưa đâu ?

Khi thêm các tiểu từ tình thái vào sau một thực từ hay một cụm từ thì chúng có tác dụng tình thái hoá cho các từ hay cụm từ đó : các từ hay cụm từ đó trở thành các câu (phát ngôn ).

VD:            + Cà phê => Cà phê nhé ?+ Đọc báo => Đọc báo à ?+ Ngày mai => Ngày mai ư ?

Những từ này tuy bao gồm một số lượng không nhiều nhưng diễn đạt những sắc thái tình cảm, cảm xúc tế nhị, phức tạp. Chúng bao gồm những từ như : à, ư, nhỉ, nhé, chứ, vậy, đâu ,chăng, ừ, ạ, h, hử.... Nhờ chúng mà người nói hay người viết có thể bày tỏ những sắc thái tinh tế trong thái độ, tình cảm đối với người nghe. người đọc hoặc đối với nội dung được nói tới.

- Các từ cảm thán : Đó là những từ dùng để bộc lộ trực tiếp xúc cảm của người nói. Chúng không thể dùng làm tên gọi cho xúc cảm được, mà chỉ làm dấu hiệu cho những xúc cảm mà thôi. Chúng không thể làm thành phần cho cụm từ hay câu, nhưng lại có thể tách riêng khỏi câu để làm thành một câu riêng biệt.Trong khi sử dụng chúng thường gắn liền với một ngữ điệu hay cử chỉ, nét mặt, điệu bộ của người nói.Các từ cảm thán có thể dùng để gọi đáp (ơi, vâng, dạ, bẩm, thưa, ừ,...), có thể dùng để bộc lộ cảm xúc vui mừng, ngạc nhiên, đau đớn, sợ hãi, tức giận,...(ôi ! trời ơi, ô, ; ủa, kìa, ái, ối, than ôi, hỡi ôi, eo ôi, ôi giời ôi,...). Có thể nói, chúng dùng để bộc lộ những cảm xúc đột ngột, mạnh mẽ thuộc các loại khác nhau.

VD:+ Ô hay ! Sao lại vất thang lại thế này ?(Trần Đăng)+ , sao mà ngu si làm vậy?(Chu Văn)

Hiện tượng chuyển loại của từ

6727


Tóm tắt

hiện tượng chuyển loại của từ

Tác giả

  • Đại học sư phạm Hà Nội

Giới thiệu khái quát

Quan sát ví dụ và nêu nhận xét

Đọc ví dụ sau và xác định từ loại của các từ in nghiêng:

Tôi định nói với anh Nhâm những suy nghĩ1 vừa rồi của tôi nhưng lại thôi. (Triệu Bôn)

Bắt chước anh Ánh, em cũng lim dim mắt suy nghĩ2.

Tôi còn nhiều khó khăn1 chưa vượt qua được.

Tôi khó khăn2 lắm mới thuyết phục được cháu Nhơn để tôi trở về nhà khách một mình.

Em có nhận xét gì về hiện tượng ngôn ngữ xảy ra ở đây, so sánh với các ngôn ngữ biến hình?

Gợi ý

Các từ đánh số 1 là các danh từ, các từ đánh số 2 là động từ (suy nghĩ) hoặc tính từ (khó khăn) căn cứ vào ý nghĩa và khả năng kết hợp của chúng.

Ở đây một từ khi thì được dùng với ý nghĩa và đặc điểm của từ loại này, khi thì với ý nghĩa và đặc điểm của từ loại khác. Hiện tượng này hầu như không xảy ra ở các ngôn ngữ biến hình. Các từ khác từ loại thường có hình thức cấu tạo khác nhau, ví dụ:

dificult: khó khăn (Tính từ)

dificulty: khó khăn (Danh từ)

discuss: thảo luận (động từ)

discussion: sự thảo luận (danh từ)

Hiện tượng chuyển loại từ là gì?

Từ trong tiếng Việt không có hình thức ngữ âm riêng cho từng từ loại, cũng không biến đổi hình thức ngữ âm để biểu hiện các ý nghĩa ngữ pháp khác nhau và quan hệ ngữ pháp khác nhau. Do đó có nhiều trường hợp vẫn cùng một hình thức ngữ âm nhưng khi thì mang những đặc điểm ngữ pháp của từ loại (tiểu loại) này, khi thì mang các đặc điểm ngữ pháp của từ loại (tiểu loại) khác. Hiện tượng đó được gọi là sự chuyển loại của từ.

Các cách phân loại vốn từ tiếng Việt

6714


Tóm tắt

Các cách phân loại vốn từ tiếng Việt

Tác giả

  • đại học sư phạm hà nội

Các quan niệm về từ loại tiếng Việt

Các cách phân loại vốn từ tiếng Việt

Trả lời câu hỏi

Từ nhanh và từ mĩ lệ có những điểm nào khác nhau, những điểm nào giống nhau?

Khác nhau:

- Về âm thanh và cấu tạo : nhanh là từ một tiếng, còn mĩ lệ là từ nhiều tiếng, hơn nữa mỗi từ có thành phần âm thanh (các phụ âm, nguyên âm, thanh điệu) khác nhau. - Về nghĩa từ vựng (tạm thời giới hạn trong nghĩa gốc): từ nhanh chỉ đặc điểm về tốc độ của hoạt động (trên mức trung bình), còn từ mĩ lệ chỉ đặc điểm về hình thức của sự vật (đẹp). - Về nguồn gốc: nhanh là một từ Việt. còn mĩ lệ là từ gốc Hán. Nhanh là một từ đa phong cách, trong khi mĩ lệ thiên về phong cách văn chương....

Giống nhau :

Về các phương diện trên. nhanh mĩ lệ không cùng một loại, một hệ thống. Nhưng nếu xem xét về đặc điểm ngữ pháp thì hai từ đó lại có nhiều điểm giống nhau :

+ Cả hai đều có ý nghĩa thuộc phạm trù nghĩa khái quát chỉ đặc điểm + Cả hai đều có thể đóng vai trò trung tâm của một cụm từ chính phụ : kết hợp ở phía trước với phụ từ chỉ mức độ (cực kỳ nhanh, cực kỳ mĩ lệ...) + Cả hai đều có thể làm vị ngữ trong câu một cách trực tiếp :

Ví dụ : Nó nhanh lắm.

Phong cảnh ở đây thật là mĩ lệ.

Nhận xét

Số lượng từ trong mỗi ngôn ngữ là rất lớn. Nhưng không phải mỗi từ đều hoàn toàn khác với những từ khác. Vốn từ trong mỗi ngôn ngữ hình thành những loại, những lớp, những hệ thống lớn nhỏ có những đặc điểm giống nhau. Những từ có đặc điểm giống nhau tạo nên một loại . Đặc điểm giống nhau của các từ có thể thuộc về ngữ âm, có thể thuộc về cấu tạo, có thể thuộc về ngữ nghĩa, có thể thuộc về ngữ pháp,…

Ví dụ:

- Dựa vào hình thức âm thanh: các từ giống nhau toàn bộ hay gần toàn bộ về hình thức âm thanh tập hợp thành từ đồng âm hay từ gần âm.- Dựa vào đặc điểm cấu tạo: các từ có cùng một kiểu cấu tạo hợp thành từ đơn, từ ghép (từ ghép đẳng lập, từ ghép chính phụ); từ láy (từ láy hoàn toàn, từ láy phụ âm đầu, từ láy bộ phận vần).- Các từ có thể giống nhau về nghĩa, từ đó hình thành các hệ thống ngữ nghĩa với các mức độ lớn nhỏ khác nhau: các từ cùng trương nghĩa, các từ gần nghĩa, các từ đồng nghĩa, các từ trái nghĩa...- Dựa vào nguồn gốc: từ gốc Việt, từ gốc Hán, từ có nguồn gốc Ấn Âu...

Khái niệm từ loại

Từ loại là lớp các từ có sự giống nhau về các đặc điểm ngữ pháp. Muốn phân định được từ loại thì cần xác định được đặc điểm ngữ pháp của từ.

Một số vấn đề của chữ viết tiếng Việt dính liền

16846

Tác giả

  • Nguyễn Tiến Hải

Cuộc vận động cải cách chữ viết tiếng Việt VNY2K (tiếng Việt mới cho năm 2020)[1] có mục đích tốt đẹp là làm chữ viết tiếng Việt hợp lí hơn. Các tác giả cuộc vận động này cho rằng tiếng Việt hiện đại là ngôn ngữ đa âm tiết[1][2], và các đơn vị từ thống nhất nên được viết dính liền lại với nhau. Ví dụ các từ "quấn quýt", "rời rạc", "bâng khuâng", "lạnh lẽo", "sạch sành sanh", ...nên được viết dính liền lại với nhau. Tuy nhiên, tồn tại một số khó khăn cản trở cuộc vận động này.

Những khó khăn cản trở cuộc vận động cải tổ chữ viết tiếng Việt VNY2K

Mới đầu chưa quen với cách viết mới, người đọc sẽ gặp phải một số khó khăn trong cách đọc và cách gõ văn bản trên máy tính. Đó là:

a) Chữ viết dính liền gây khó khăn trong việc phân biệt các từ có cách viết giống nhau, ví dụ:

+ "thúy" ở đây đọc là "thúy" hay là "thú y"?[3]

+ "phát hành" trường hợp này "phát hành" hay "phá thành" đều có nghĩa. Nếu bàn sâu hơn thì trường hợp này là cách viết cho "phát hành", vì "phát hành" là một động từ, còn "phá thành" theo quy tắc phải viết thành hai từ riêng chứ không được phép viết dính liền vì động từ "phá", đi sau nó là đối tượng "thành", tuy nhiên lúc đầu chưa quen người viết có thể sẽ có nhầm lẫn trong cách viết như vậy.

+ "côngân" (khi gặp chữ côngân biết đọc thế nào đây? "cô ngân" hay "công ân" mới là đúng, vì dù theo chuẩn chính tả chữ ngân trong "cô ngân" phải viết hoa nhưng đôi khi vẫn có người viết sai chính tả như thế. Tôi sẽ tìm ví dụ khác thuyết phục hơn, nhưng những ví dụ tương tự như vậy có nhiều).

b) Chữ viết dính liền gây khó khăn cho người đọc trong việc đọc tài liệu (gây nhức mỏi cơ mắt vì phải đánh vần để tách các tiếng)

c) Chữ viết dính liền gây khó khăn trong việc gõ tiếng Việt trên máy vi tính theo kiểu telex: Gõ tiếng Việt theo kiểu telex được coi là phổ biến và hiệu quả nhất hiện nay (do tốc độ gõ văn bản tiếng Việt không có xen từ nước ngoài nhanh nhất), nhưng telex không hỗ trợ việc viết dính liền các tiếng (trong một từ gồm 2 tiếng trở lên telex không cho phép hai vị trí bỏ dấu, ví dụ không thể gõ từ "ánhsáng" theo kiểu telex được).

Cách khắc phục

a) Tạm thời chúng ta dùng dấu ngang nối thay vì viết các tiếng dính liền. Việc này không trái với ý nghĩa chính của cuộc cải cách chữ viết tiếng Việt là nối các đơn vị từ đa âm tiết có ý nghĩa thống nhất lại với nhau.

Đối với những cụm từ có dấu ngang nối trong cách viết thông thường hiện nay thì chúng ta nên thay bằng dấu gạch ngang dưới "_" hay hai dấu ngang nối liên tiếp " ". (ví dụ: tỉnh Thừa-Thiên_Huế, hay tỉnh Thừa-Thiên--Huế).

Còn việc tiết kiệm dung lượng lưu trữ văn bản nhờ cách viết dính liền sẽ thành hiện thực nếu như trong tương lai có cách viết tiếng Việt mới khác ra đời và giải quyết những hạn chế đã nêu của kiểu viết dính liền hiện nay.

b) Có thể dùng kiểu gõ Tubinhtran (chương trình gõ WinVNKey cho phép cách gõ này), chọn cách kết hợp dấu là "Nhiều vần kiểu tự do"[4].

Phiên bản PDF: http://voer.vn/content/m45451/latest/?format=pdf


Quy tắc đặt dấu thanh trong tiếng Việt

18301



Tác giả

  • Lê Văn Tám

Việc đặt dấu thanh cho tiếng Việt tuân thủ một số quy tắc, dựa trên cách phát âm theo chữ cái tiếng Việt. Hiện nay có ít nhất hai quan điểm về cách đặt dấu thanh, mỗi quan điểm đều có một số nhà ngôn ngữ học ủng hộ.

Quan điểm chính thống

Quan điểm tương đối hợp lí hiện nay như sau:

1. Với các âm tiết [-tròn môi] (âm đệm /zero/) có âm chính là nguyên âm đơn: Đặt dấu thanh điệu vào vị trí của chữ cái biểu diễn cho âm chính đó. Ví dụ: á, tã, nhà, nhãn, gánh, ngáng...

2. Với các âm tiết [+tròn môi] (âm đệm /w/, được biểu diễn bằng "o, u") có âm chính là nguyên âm đơn thì cũng bỏ dấu thanh điệu vào vị trí chữ cái biểu diễn cho âm chính. Ví dụ: hoà, hoè, quỳ, quà, quờ, thuỷ, nguỵ, hoàn, quét, quát, quỵt, suýt...

3. Với các âm tiết có âm chính là nguyên âm đôi:

  • Nếu là âm tiết [-khép] (nguyên âm được viết là: "iê, yê, uô, ươ"; âm cuối được viết bằng: "p, t, c, ch, m, n, ng, nh, o, u, i") thì bỏ dấu lên chữ cái thứ hai trong tổ hợp hai chữ cái biểu diễn cho âm chính. Ví dụ: yếu, uốn, ườn, tiến, chuyến, muốn, mượn, thiện, thuộm, người, viếng, muống, cường...

  • Nếu là âm tiết [+khép] (nguyên âm được viết là: "ia, ya, ua, ưa") thì nhất loạt bỏ dấu vào vị trí chữ cái thứ nhất trong tổ hợp hai chữ cái biểu diễn cho âm chính. Ví dụ: ỉa, tủa, cứa, thùa, khứa...

4. Phân biệt vị trí đặt dấu thanh điệu ở tổ hợp "ua" và "ia":

  • Với "ia" thì thì phân biệt bằng sự xuất hiện hay vắng mặt của chữ cái "g" ở đầu âm tiết. Có "g" thì đặt vào "a" (già, giá, giả...), không có "g" thì đặt vào "i" (bịa, chìa, tía...). Trường hợp đặc biệt: "gịa" (có trong từ "giặt gịa" và đọc là zịa [ʐie6]).

  • Với "ua" thì phân biệt bằng sự xuất hiện hay vắng mặt của chữ cái "q". Có "q" thì đặt vào "a" (quán, quà, quạ...), không có "q" thì đặt vào "u" (túa, múa, chùa...). Hoặc để giản tiện cho việc làm bộ gõ, có thể coi "qu" như là một tổ hợp phụ âm đầu tương tự như "gi, nh, ng, ph, th"... Khi đó, sẽ coi "quán, quà, quạ"... như là những âm tiết có âm đệm /zero/.

Trong đời sống

Thông tin trong bài (hay đoạn) này không thể kiểm chứng được do không được chú giải từ bất kỳ nguồn tham khảo nào.

Xin bạn hãy cải thiện bài viết này bằng cách bổ sung chú thích tới các nguồn uy tín. Nếu bài được dịch từ Wikipedia ngôn ngữ khác thì hãy chuyển nguồn tham khảo từ phiên bản đó cho bài này.

Trong đời sống, ví dụ như trong các chương trình máy tính giúp nhập tiếng Việt, hiện vẫn tồn tại hai cách đặt dấu thanh trong tiếng Việt. Ví dụ "hòa" là một cách đặt dấu thanh khác cho "hoà", trong đó "hòa" còn gọi là cách đặt dấu thanh "cũ". Bảng sau liệt kê các trường hợp mà hai cách đặt dấu thanh khác nhau:

Những người ủng hộ cách bỏ dấu kiểu "mới" cho rằng vì oa, oe & uy phiên âm theo IPA là wa, we & wi nên phải bỏ dấu vào vần a, e và i tương đương.

Thêm vào đó, theo cách bỏ dấu gọi là kiểu "mới" bất cứ từ có biến đổi, vị trí dấu thanh không hề thay đổi.

Trong khi đó những người ủng hộ cách bỏ dấu kiểu "cũ" thì cho rằng cách lí luận như trên là thiếu cơ sở vì IPA là để biểu thị cách phát âm chứ không phải biểu thị cách viết do đó không thể dùng để quyết định là cách bỏ dấu kiểu "mới" là đúng hơn. Thêm vào đó, IPA mới chỉ được phát triển vào cuối thế kỉ 19, trong khi chữ Quốc Ngữ đã được phát triển hoàn toàn độc lập và không ngừng thay đổi từ thế kỉ 17. Do đó, theo những người ủng hộ cách bỏ dấu kiểu "cũ" việc dùng IPA để quyết định xem tiếng Việt phải bỏ dấu thế nào là bất hợp lí. Những người này còn cho rằng mặc dù IPA là phương pháp biểu thị cách phát âm phổ dụng nhất nhưng không có nghĩa là cách biểu thị cách phát âm duy nhất cũng như không phải là cách biểu thị cách phát âm chính xác nhất vì vậy không có lí gì lại sử dụng nó làm chuẩn để quyết định cách bỏ dấu tiếng Việt mà không phải là một trong các phương pháp biểu thị cách phát âm khác.

Hơn nữa, theo như những người ủng hộ cách bỏ dấu kiểu "cũ" thì việc dùng IPA để quyết định cách tiếng Việt bỏ dấu là thiếu thống nhất vì lẽ IPA là phương pháp phiên âm quốc tế do đó nếu nó có thể áp dụng trong tiếng Việt để làm chuẩn mực cho vị trí bỏ dấu theo cách lí luận của những người ủng hộ cách bỏ dấu kiểu "mới" thì cũng phải áp dụng được cho toàn bộ các ngôn ngữ khác trên thế giới. Tuy nhiên, cách lí luận đó lại không thể giải thích thỏa đáng việc tại sao chữ C trong tiếng Catalan (phiên âm IPA là /k/ hoặc /s/) lại có thể được bỏ dấu để trở thành Ç (phiên âm IPA là /s/). Những người ủng hộ cách bỏ dấu kiểu "cũ" còn cho rằng lí luận như những người ủng hộ cách bỏ dấu kiểu "mới" là sử dụng một số ngôn ngữ nhất định để làm chuẩn mực cho toàn bộ các ngôn ngữ khác bởi vì đúng là ở một số ngôn ngữ thì không thể bỏ dấu trên chữ w, nhưng ở một số ngôn ngữ (ví dụ như tiếng Wales thì chữ w hoàn toàn có thể được bỏ dấu), do đó, bỏ dấu kiểu "cũ" vẫn dựa chính xác theo cách phát âm.

Trên quan điểm ngôn ngữ là do con người tạo nên và luôn biến đổi theo nhu cầu của con người, những người ủng hộ cách bỏ dấu kiểu "cũ" còn chỉ trích những người ủng hộ cách bỏ dấu kiểu "mới" là đang cố phức tạp hóa tiếng Việt, gây khó khăn không cần thiết nhất là trong giảng dạy học sinh tiểu học cũng như trong việc phát triển thuật toán và xử lí tiếng Việt trên máy vi tính. Họ còn cho rằng, thêm một quy tắc như trên không đem lại gì cho tiếng Việt nói chung và chữ Quốc Ngữ nói riêng do đó là hoàn toàn không cần thiết. Họ lấy dẫn chứng cho quan điểm của mình là việc chữ Quốc Ngữ từ khi được phát triển vào thế kỉ 17 đến nay đã trải qua rất nhiều thay đổi, bổ sung có và loại bỏ cũng có.

Phiên bản PDF: http://voer.vn/content/m49005/latest/?format=pdf


Quy tắc đặt dấu thanh trong tiếng việt

16948

  •  

(0 votes, average 0 out of)

Tác giả

  • Nguyễn Thế Phúc

Việc đặt dấu thanh cho tiếng Việt tuân thủ một số quy tắc, dựa trên cách phát âm theo chữ cái tiếng Việt. Hiện nay có ít nhất hai quan điểm về cách đặt dấu thanh, trong đó một quan điểm được ủng hộ nhiều hơn bởi các nhà ngôn ngữ học do nó dựa chính xác hơn trên cách phát âm.

Quan điểm chính thống

Quan điểm tương đối hợp lí hiện nay như sau:

Với các âm tiết [-tròn môi] (âm đệm /zero/) có âm chính là nguyên âm đơn: Đặt dấu thanh điệu vào vị trí của chữ cái biểu diễn cho âm chính đó. Ví dụ: á, tã, nhà, nhãn, gánh, ngáng...

Với các âm tiết [+tròn môi] (âm đệm /w/, được biểu diễn bằng "o, u") có âm chính là nguyên âm đơn thì cũng bỏ dấu thanh điệu vào vị trí chữ cái biểu diễn cho âm chính. Ví dụ: hoà, hoè, quỳ, quà, quờ, thuỷ, nguỵ, hoàn, quét, quát, quỵt, suýt...

Với các âm tiết có âm chính là nguyên âm đôi:

Nếu là âm tiết [-khép] (nguyên âm được viết là: "iê, yê, uô, ươ"; âm cuối được viết bằng: "p, t, c, ch, m, n, ng, nh, o, u, i") thì bỏ dấu lên chữ cái thứ hai trong tổ hợp hai chữ cái biểu diễn cho âm chính. Ví dụ: yếu, uốn, ườn, tiến, chuyến, muốn, mượn, thiện, thuộm, người, viếng, muống, cường...

Nếu là âm tiết [+khép] (nguyên âm được viết là: "ia, ya, ua, ưa") thì nhất loạt bỏ dấu vào vị trí chữ cái thứ nhất trong tổ hợp hai chữ cái biểu diễn cho âm chính. Ví dụ: ỉa, tủa, cứa, thùa, khứa...

Phân biệt vị trí đặt dấu thanh điệu ở tổ hợp "ua" và "ia":

Với "ia" thì thì phân biệt bằng sự xuất hiện hay vắng mặt của chữ cái "g" ở đầu âm tiết. Có "g" thì đặt vào "a" (già, giá, giả...), không có "g" thì đặt vào "i" (bịa, chìa, tía...). Trường hợp đặc biệt: "gịa" (có trong từ "giặt gịa" và đọc là zịa [ʐie6]).

Với "ua" thì phân biệt bằng sự xuất hiện hay vắng mặt của chữ cái "q". Có "q" thì đặt vào "a" (quán, quà, quạ...), không có "q" thì đặt vào "u" (túa, múa, chùa...). Hoặc để giản tiện cho việc làm bộ gõ, có thể coi "qu" như là một tổ hợp phụ âm đầu tương tự như "gi, nh, ng, ph, th"... Khi đó, sẽ coi "quán, quà, quạ"... như là những âm tiết có âm đệm /zero/.

Trong đời sống

Trong đời sống, ví dụ như trong các chương trình máy tính giúp nhập tiếng Việt, hiện vẫn tồn tại hai cách đặt dấu thanh trong tiếng Việt. Ví dụ "hòa" là một cách đặt dấu thanh khác cho "hoà", trong đó "hòa" còn gọi là cách đặt dấu thanh "cũ". Bảng sau liệt kê các trường hợp mà hai cách đặt dấu thanh khác nhau:

Phiên bản PDF: http://voer.vn/content/m45737/latest/?format=pdf


Khối liệu đặc trưng và phân loại

16917

(0 votes, average 0 out of)

Tác giả

  • Đào Hồng Thu

Dẫn nhập

Trong phần 1, chúng tôi đã đưa ra các khái niệm: khối liệu, ngôn ngữ học khối liệu (ngôn ngữ học corpus), corpus, corpus văn bản. Trong đó, các thuật ngữ corpus và corpus văn bản là tương đồng về ngữ nghĩa. Về mặt tiếng Việt, các thuật ngữ trên có thể đặt ở vị trí tương đồng với thuật ngữ "khối liệu".

Khối liệu là tập hợp các dữ liệu tương đồng về mặt ngôn ngữ, được trình bày dưới dạng model văn bản điện tử, theo các cấu trúc nhất định. Khối liệu được sử dụng để giải quyết các vấn đề về ngôn ngữ trong các lĩnh vực khoa học cụ thể. Việc tìm kiếm dữ liệu trong khối liệu theo bất kì từ nào đều cho phép lập danh mục tất cả các trường hợp sử dụng từ đã cho trong ngữ cảnh với đầy đủ dẫn nguồn. Khối liệu có thể được sử dụng làm cẩm nang hướng dẫn và tìm kiếm thông tin, cũng như dữ liệu thống kê về các đơn vị ngôn ngữ và lời nói. Trên cơ sở khối liệu chúng ta có thể nhận được các dữ liệu về tần số hình thái từ, đơn vị từ vựng, phạm trù ngữ pháp; có thể theo dõi được các thay đổi về tần số và ngữ cảnh ở các thời điểm khác nhau v.v. Cuối cùng, khối liệu được sử dụng làm cơ sở và công cụ biên soạn các thể loại từ điển lịch sử và hiện đại khác nhau; được sử dụng để xây dựng và giải thích ngữ pháp; để phục vụ cho việc dạy học bản ngữ và ngoại ngữ cũng như dịch thuật.

Các đặc trưng cơ bản của khối liệu

Có thể nói rằng khối liệu là mô hình nhỏ nhất của ngôn ngữ. Căn cứ vào hoạt động của khối liệu trong các hệ thống của nó có thể thấy các đặc trưng cơ bản sau:

Tính điển hình

Đây là khái niệm quan trọng nhất của Ngôn ngữ học khối liệu. Đặc trưng này xác định tính thực tiễn của khối liệu, có nghĩa là khối liệu phải là tập hợp của nhiều loại văn bản phù hợp cho việc nghiên cứu đối với nhiều ngôn ngữ. Điều đặc biệt quan trọng là khối liệu chung phải hàm chứa được một tỉ lệ xác định các văn bản thuộc nhiều thể loại, tại nhiều thời điểm lịch sử, của nhiều tác giả khác nhau v.v.

Tính điển hình của khối liệu có thể được hiểu là sự thể hiện tỉ lệ cần và đủ trong khối liệu về dung lượng, thể loại, phong cách, số lượng tác giả, vùng địa lí, thời kì lịch sử v.v.

Kích cỡ xác định

Khái niệm "khối liệu" có nghĩa thông thường là tập hợp các văn bản có kích cỡ xác định. Theo thời gian, kích cỡ (dung lượng và thành phần) của khối liệu có thể thay đổi. Tuy nhiên, những thay đổi này hoặc là không được kéo theo sự thay đổi về tính điển hình của toàn khối hoặc là phải thay đổi nền của khối liệu cần thay đổi.

Các khối liệu ban đầu như khối liệu Brown hoặc khối liệu tiếng Nga Upsanski bao gồm một triệu đơn vị từ và cụm từ sử dụng. Ngày nay, các khối liệu cần chứa được ít nhất là 100 triệu đơn vị từ và cụm từ sử dụng.

Khi xây dựng khối liệu cần lưu ý đến mục đích sử dụng ngữ liệu khối và người sử dụng khối liệu được tạo lập. Quá trình xây dựng khối liệu cho thấy mỗi nhóm người sử dụng khối liệu đều có nhu cầu riêng của mình. Ví dụ, phần lớn người sử dụng tìm trong khối liệu các từ hoặc cụm từ khi gặp phải các vấn đề chính tả hoặc phong cách của chúng, thường là họ tìm đồng nghĩa của từ hoặc cụm từ. Đối với các trường hợp như vậy thì chỉ cần xây dựng khối liệu ngôn ngữ vừa đủ, có thể chấp nhận một số từ hoặc cụm từ trong khối chưa mang đầy đủ tính điển hình của khối liệu được tạo dựng với nguồn từ điển thông dụng của ngôn ngữ toàn dân. Một ví dụ khác với trường hợp trên có thể được dẫn chứng cho tầm quan trọng trong việc lựa chọn mục đích xây dựng khối liệu và đáp ứng được nhu cầu của người sử dụng khối liệu. Đối với người sử dụng là chuyên gia một chuyên ngành công nghệ chẳng hạn thì người xây dựng khối liệu cần tuân thủ đầy đủ các nguyên tắc về tính điển hình, kích cỡ xác định và phong cách ngôn ngữ của chuyên ngành đó bên cạnh một lượng dự trữ từ và cụm từ của từ điển thông dụng. Hoặc đối với người sử dụng là nhà từ vựng học thì ngoài nguồn từ và cụm từ của từ điển thông dụng ra còn cần một lượng các đơn vị từ theo chuyên ngành cụ thể và các phương tiện ngôn ngữ kèm theo. Đối với người sử dụng là các nhà lí luận ngôn ngữ và chuyên gia trong lĩnh vực soạn thảo ngôn ngữ máy tính thì cần khối liệu đặc trưng về mặt ngôn ngữ, bao gồm các dữ liệu về từ vựng - ngữ nghĩa, cú pháp và hình thái học.

Tính chú giải

Để giải quyết được các vấn đề ngôn ngữ khác nhau trong khối liệu, khi xây dựng khối liệu cần có lượng đáng kể chú giải thông tin ngôn ngữ và ngoại ngôn ngữ thuộc các thể loại khác nhau. Vì vậy, trong Ngôn ngữ học khối liệu hình thành các khối chú giải thông tin. Chú giải (tagging) là phần giải thích các thông tin đặc thù làm rõ nghĩa cho các văn bản trong khối liệu như là chú giải bên ngoài, ngoại ngôn ngữ (ví dụ, chú giải về tác giả: tên, tuổi, giới tính, năm sinh v.v. và về văn bản: tác giả, tên văn bản, năm và nơi xuất bản, thể loại, phong cách ngôn ngữ v.v.); hoặc là chú giải cấu trúc (ví dụ, chương, đoạn, câu, hình thái từ v.v.); hoặc là chú giải cho chính ngôn ngữ văn bản về từ vựng, cú pháp.

Các nghiên cứu về Ngôn ngữ học khối liệu đã cho thấy việc xác định và lựa chọn các loại hình chú giải phải do các nhà ngôn ngữ tiến hành trên cơ sở các văn bản được lựa chọn cho việc xây dựng khối liệu.

Chú giải trong khối liệu có thể được chia thành:

* Chú giải hình thái học (POS-tagging)

Đây là dạng cơ bản trong phân tích và xây dựng khối liệu bởi vì phần lớn các khối liệu lớn chính là các khối liệu nhỏ được chú giải hợp lại về mặt hình thái học. Trong quá trình xây dựng khối liệu, phân tích hình thái học được xem là cơ sở của phân tích cú pháp và phân tích ngữ nghĩa.

Chú giải hình thái học bao gồm chú giải các thành phần lời nói (viết và nói) và phạm trù ngữ pháp của các thành phần đó trong khối liệu. Đơn vị chú giải hình thái học là từ (<w>) hoặc cụm từ.

Hiện nay, các thành tựu về hình thái học máy tính đã phát triển ở mức độ cho phép tự động chú giải các khối liệu có kích cỡ lớn. Chú giải hình thái học ngày nay thường được thực hiện một cách tự động nhưng bắt buộc phải có sự tham gia của con người vào việc lựa chọn nghĩa từ xác định trong ngữ cảnh cụ thể cho khối liệu do trong phân tích hình thái học có thể xảy ra các hiện tượng đa nghĩa của từ.

Các nghiên cứu về khối liệu cho thấy nếu chú giải hình thái học được lựa chọn càng nhiều bao nhiêu thì phân tích văn bản càng được chi tiết bấy nhiêu. Ngày nay đang có xu hướng giảm số lượng chú giải hình thái học do dung lượng các khối liệu ngày càng tăng. Hệ thống làm đơn giản quá trình mã hóa tạo điều kiện cho việc tránh mắc lỗi không cần thiết, sử dụng một cách lôgíc các dữ liệu, tránh các trường hợp đa nghĩa của từ trong văn bản và tăng tốc độ chú giải của các khối liệu lớn với hàng triệu từ.

* Chú giải cú pháp (parsing)

Chú giải cú pháp là kết quả của phân tích cú pháp được thực hiện trên cơ sở dữ liệu về phân tích hình thái học. Đây là dạng chú giải mô tả các mối quan hệ cú pháp giữa các đơn vị từ vựng và cấu trúc cú pháp khác nhau (ví dụ, mệnh đề phụ thuộc, mệnh đề độc lập, thành ngữ v.v.).

Hiện nay, ở mức độ phân tích cú pháp đang tồn tại xu hướng chi tiết hóa nhỏ nhất việc mã hóa chú giải để tăng tốc độ và trình tự phân tích văn bản. Điều này cũng diễn ra đối với chú giải hình thái học và chú giải ngữ nghĩa.

* Chú giải ngữ nghĩa (semantic tagging)

Trong quá trình xây dựng khối liệu thì phần chú giải ngữ nghĩa là phần phức tạp và khó khăn nhất. Cho đến nay, đối với ngữ nghĩa học dành cho khối liệu vẫn chưa có sự đồng nhất chung về mặt lí luận. Tuy vậy, các phạm trù ngữ nghĩa của các đơn vị từ và cụm từ sử dụng đã được xác định khá rõ ràng cho việc xây dựng các khối liệu cụ thể.

Do tính chất phức tạp trong việc lựa chọn các chú giải ngữ nghĩa cho khối liệu nên hiện nay các nhà nghiên cứu ngôn ngữ học khối liệu đang tập trung rất nhiều công sức vào lĩnh vực phát triển này. Một điều hiển nhiên là chú giải ngữ nghĩa hiện đang được phát triển rất mạnh bởi tính xác thực của nó đối với hoạt động của khối liệu, nghĩa là chú giải ngữ nghĩa đảm bảo cho việc thực hiện chức năng quan trọng nhất trong hệ thống khối liệu là tạo khả năng so sánh các văn bản khác nhau với mục đích tích lũy các ngân hàng kiến thức và phục vụ cho việc nhanh chóng tìm kiếm các thông tin cần thiết.

Kiểu chú giải ngữ nghĩa là các mã (code) gồm các con chữ và chữ số. Các nghiên cứu cho thấy có khoảng 250 - 300 đơn vị mã để phân loại toàn bộ từ vựng.

* Ngoài các loại hình chú giải chủ yếu trên còn tồn tại các chú giải khác như chú giải từ loại, chú giải ngôn điệu, chú giải bình luận hoặc tranh luận v.v.

Phân loại các khối liệu chủ yếu

Trong Ngôn ngữ học khối liệu, khối liệu có thể được phân loại theo phương thức phân nhóm hoặc theo kiểu chú giải ngôn ngữ. Mặc dù tồn tại nhiều kiểu chú giải, trên thực tế, phần lớn các khối liệu có kiểu chú giải cú pháp / hình thái học (treebanks - ngân hàng cấu trúc cú pháp - ĐHT dịch). Một điều hiển nhiên và cần nhấn mạnh là khối liệu có chú giải cú pháp luôn hàm chứa các đặc trưng hình thái học của các đơn vị từ vựng.

Căn cứ vào mục đích nghiên cứu - sử dụng khối liệu và đặc điểm hoạt động của nó, có thể phân loại như sau:

* Theo kiểu dữ liệu, các khối liệu được chia thành khối liệu viết, khối liệu nói, khối liệu kết hợp;

* Theo ngôn ngữ văn bản, các khối liệu được chia thành khối liệu tiếng Việt, khối liệu tiếng Anh, khối liệu tiếng Nga v.v.

* Theo đặc tính song song của văn bản, các khối liệu được chia thành khối liệu đơn ngữ, khối liệu song ngữ và khối liệu đa ngữ.

* Theo thể loại chuyên ngành, các khối liệu được chia thành khối liệu khoa học phổ biến, khối liệu không phổ biến, khối liệu ngôn ngữ học ứng dụng, khối liệu khoa học kĩ thuật và công nghệ v.v.

* Theo tính chất chú giải, các khối liệu được chia thành khối liệu có chú giải và khối liệu không có chú giải.

* Theo chức năng và mục đích sử dụng, các khối liệu được chia thành khối liệu nghiên cứu, khối liệu minh họa, khối liệu tham khảo v.v.

* Theo tính chất xã hội của văn bản, các khối liệu được chia thành khối liệu cộng đồng, khối liệu tác phẩm v.v.

Phiên bản PDF: http://voer.vn/content/m45642/latest/?format=pdf


46