DMCA.com Protection Status

VĂN HỌC TRUNG QUỐC HIỆN ĐẠI  quan tâm

Được đăng bởi: Trần Việt Thao

Cập nhật lúc 10:19 ngày 05/01/2018

VĂN HỌC TRUNG QUỐC HIỆN ĐẠI

http://giangnamlangtu.wordpress.com

LỊCH SỬ VĂN HỌC TRUNG QUỐC (phân loại, tóm tắt)

Mẫu bià THƠ HAIKU BASAHO 2



Posted by: giangnamlangtu on: 10.07.2011

 (tiếp theo Văn học châu Á 1- Văn học Trung Quốc)

Chương 4.  Văn học hiện đại và Lỗ Tấn

Chương 5. Quách Mạt Nhược, Mao Thuẫn, Ba Kim, Lão Xá và Tào Ngu

Chương 6. Nữ sĩ Băng Tâm và tập thơ Phồn tinh

Chương 7. Tiểu thuyết đương đại

7.1  Một số chủ đề truyện ngắn đương đại tiêu biểu

7.2  Tiểu thuyết thời kỳ Đổi Mới và nhà văn Mạc Ngôn

7.3  Số phận của chủ nghiã hiện thực XHCN ở Trung Quốc

Chương 8. Kim Dung và Quỳnh Giao

Phụ lục

1.      Bảng đối chiếu lịch sử Việt Nam- Trung Quốc

2.      Bảng bầu chọn 10 nhân vật văn hóa

3.      Danh mục khoá luận tốt nghiệp nghiên cứu văn học Ttung Quốc ở Đại học An Giang,


Chương 4         VĂN HỌC HIỆN ÐẠI TRUNG QUỐC VÀ LỔ TẤN

4.1 Khái quát văn học hiện đại Trung Quốc

Bài này giới thiệu những nét chủ yếu của nền văn học Trung Quốc hiện đại trải qua 4 giai đoạn.

Giai đoạn 1 (1911- 1949) “Văn học dân chủ, tiền cách mạng và hiện đại hoá”

Văn học cất tiếng nói giã từ chế độ phong kiến. Văn học truyền bá tư tưởng phê phán chế độ phong kiến, cổ vũ cho tư tưởng cộng hoà, dân chủ…Văn học hiện đại có thể tính từ Cách mạng Tân Hợi năm 1911 hoặc từ cuộc vận động Ngũ Tứ 1919. Nổi bật là nhà văn, nhà báo, nhà giáo Lỗ Tấn. Ông là nhà tổ chức, cây bút  tiên phong chủ lực xây dựng nền văn học mới của cách mạng vô sản. Sau đó, nhà thơ Quách Mạt Nhược, nhà văn Mao Thuẫn, Ba Kim, Lão Xá và Tào Ngu trở thành những cây bút hàng đầu của nền văn học mới, sẽ trở thành những nhà văn cộng sản đầu tiên (năm 1921 Đảng Cộng sản TQ ra đời) . . .và tiếp tục sáng tác về sau.

Giai đoạn 2 (1949-1965) “Nền văn học xã hội chủ nghĩa giai đoạn đầu”

Văn học sáng tác theo “Tư tưởng văn nghệ Mao Trạch Đông”. Ngoài những tác giả lão thành có mặt từ giai đoạn đầu, thêm những tên tuổi mới: Chu Lập Ba, Ngải Thanh, nữ sĩ Dương Mạt, La Quảng Bân, Điền Hán. vv…Những tác phẩm tràn đầy hào khí cách mạng nhưng  nghệ thuật còn non yếu, kéo dài 16 năm .  Cuộc cải cách ruộng đất  nông thôn – đấu tổ địa chủ đã mắc sai lầm nghiệm trọng như thời cổ đại. Tiếp đó công cuộc xây dựng CNXH với những mô hình ấu trĩ “duy ý chí” như “công xã nhân dân”, phong trào “đại nhảy vọt”. Tình trạng quan liêu, cửa quyền, tham nhũng triền miên, kinh tế suy đốn . . xã hội điêu tàn,  chính trị khủng hoảng, văn nghệ khô cứng. Tình trạng đó tất yếu phải dẫn đến một sự đổ vỡ nào đó. Vai trò lãnh đạo của  chủ tịch Mao Trạch Đông suy yếu. Cặp Lâm Bưu- Giang Thanh rồi đến “bè lũ 4 tên” chụp lấy cơ hội nhảy ra .

Giai đoạn 3 (1966-1976) 10 năm động loạn “Đại cách mạng văn hoá vô sản”

Thực chất “cách mạng văn hoá” chỉ diễn ra trong 3 năm (1966-1969) nhưng hậu quả kéo dài đến 1979 và lâu dài  hơn. Lịch sử gọi đó là “10 năm động loạn”, văn học nghệ thuật chân chính bị tê liệt .

Thay vì cải tổ cải cách, vực dậy tình trạng suy đốn của đất nước, Lâm Bưu, Giang Thanh và “bè lũ 4 tên” âm mưu cướp đoạt quyền lãnh đạo Đảng, Nhà nước bằng cách  mở chiến dịch mang tên “ Đại cách mạng văn hoá vô sản”. Nhân danh cách mạng chân chính, thực chất họ là “phái tả” (nghĩa là duy trì cách mạng vô sản một cách cực đoan, tiến hành vội vã, làm ẩu, áp đặt, bất chấp thực tiễn và bỏ qua qui luật, đốt cháy giai đoạn). Họ tung nhiều “chưởng” tàn bạo, dã man đạp thêm cho đất nước Trung Hoa ngày càng dúi sâu xuống vũng bùn suy đồi…Họ chọn đột phá khẩu là “phê phán văn nghệ tư sản” và đả kích vạch mặt “phái hữu” (nghĩa là tư tưởng rút lui, không kiên trì cách mạng vô sản, có ý muốn theo con đường tư bản chủ nghĩa), đó chỉ là cái cớ để triệt hạ tất cả những con người ưu tú nhất của đất nước. Lịch sử TQ sẽ không bao giờ quên “10 năm động loạn” khủng khiếp hơn cả thời đế chế Tần Thuỷ Hoàng. Trong thời xây dựng hoà bình mà có tới hàng triệu người, trong đó có hàng trăm văn nghệ sĩ cách mạng bị bức hại đến chết, tất cả trường đại học, học viện đóng cửa … Văn học Trung Quốc giai đoạn này bị tê liệt nếu chưa nói là bị tiêu diệt. (Lúc này, đất nước Việt Nam đang tập trung kiên trì kháng chiến chống Mỹ cứu nước, không chịu ảnh hưởng của “đại cách mạng văn hoá vô sản Trung Quốc”)..

Giai đoạn 4 (1977-1982 và tiếp tục tới nay) gọi là “Văn học đương đại”

Từ sau 1976 đến 1982. Những người đảng viên cộng sản chân chính với sự  ủng hộ của quần chúng cách mạng, kiên quyết đấu tranh chống lại “bè lũ bốn tên” đã giành lại quyền lãnh đạo cách mạng. Đất nước TQ tìm ra  đường lối mở cửa, phong trào “bốn hiện đại hoá” theo đường lối tư tưởng của lãnh tụ Đặng Tiểu Bình. Văn học cuộn mình trỗi dậy. Dòng văn học “vết thương”, dòng văn học “sám hối” với những tác phẩm sục sôi đòi thanh toán nỗi uất ức “10 năm khủng khiếp”, triệt để phê phán giai đoạn sai lầm ấu trĩ, từ đây mở ra thời kì phục hưng văn học nghệ thuật. Văn chương giữ vai trò tiên phong trong lĩnh vực văn hoá nghệ thuật và đời sống tinh thần của công chúng Trung Quốc..

Kể từ những năm 1982 về sau, văn học “trăm hoa đua nở” (bách hoa tranh khai). Những cây bút trẻ hăm hở tìm tòi phương pháp mới đồng thời kế thừa những phương pháp truyền thống của Trung Quốc và nhân loại. Nhiều phong cách mới, tác giả mới xuất hiện, mau chóng tạo ra sức hút mạnh mẽ trong đời sống văn học nghệ thuật hồi sinh. Có thể nói, cuộc “lột xác” để phục hưng của văn học Trung Quốc thật đớn đau, phải trả bằng những giá đắt chưa từng có trong lịch sử.

Nổi bật lên hàng trăm cây bút, tiêu biểu với hàng chục tác giả xuất sắc như Trương Hiền Lượng, Vương Mông, Đường Mẫn, Phùng Kí Tài, Cao Hiểu Thanh, Giả Bình Ao Lưu Tâm Vũ, Mạc Ngôn, Vệ Tuệ, Miên Miên, Cửu Đan, Diệp Tân, Như Chí Quyên, Uông Tằng Kỳ, Tốt Thục Mẫn, Diệp Văn Linh. . .

Những cây bút trẻ đó quả thực không làm hổ danh nền văn học truyền thống TQ ba ngàn năm qua. Bắt kịp tư tưởng – phương pháp nghệ thuật Tây Âu- Nga- Mỹ …họ sáng tạo với những tư tưởng nghệ thuật mới mẻ, phóng khoáng, không câu nệ qui phạm, họ không bận tâm quá nhiều vào những phương pháp cổ điển, truyền thống Trung Hoa.

Truyện ngắn, tản văn, tiểu thuyết lấn át thơ ca. Cảm hứng chủ đạo đầu tiên của họ là kiên quyết phê phán quá khứ “cách mạng vô sản” .

Truyện ngắn “Song cầm tế” (Văn tế hai cây đàn sinh đôi) của nhà văn Lương Hiểu Thanh, tác phẩm được coi là một trong những bản tuyên ngôn nghệ thuật hiện đại. Tiểu thuyết “Phong nhũ phì đồn” (Vú to mông nở) của nhà văn thạc sĩ Mạc Ngôn gây “cơn sốt” văn chương cuối thế kỉ XX. “Phong nhũ phì đồn” được coi là bộ tiểu thuyết “Trăm năm cô đơn” của Trung Quốc. Trần Đình Hiến dịch ra tiếng Việt với tựa đề “Báu vật của đời” .

Xưa nay nói tới văn học TQ, người ta nghĩ ngay tới Đường Thi và tiểu thuyết cổ điển Minh Thanh… Những người bi quan cho rằng văn học hiện đại không thể sánh bằng văn học trung đại cổ điển. Thực ra, thử tính 300 năm Đường Thi để lại được 54 000 bài thơ, trung bình mỗi năm  sáng tác được 180 bài .  600 năm Minh-Thanh chỉ để lại  trên 10 bộ tiểu thuýêt tiêu biểu kiệt xuất, trung bình mỗi thế kỉ có 2 bộ truyện hay với tổng số khoảng 200 truyện. Thế mà chỉ cần 10 năm đổi mới, văn học hiện đại đã xuất bản được hàng trăm bộ tiểu thuyết trong đó hơn 10 bộ tiểu thuyết xuất sắc tiêu biểu … Văn học đương đại TQ đang ở trong thời kì được mùa chưa từng có trong lịch sử văn học ba nghìn năm của nước này.

4.2   LỖ TẤN (1881- 1936)

- Người đặt nền móng cho văn nghệ cách mạng Trung Hoa

Thân thế

Lỗ Tấn鲁迅  (Lǔ Xùn)  tên thật là Chu Thụ Nhân,  tự là Dự Tài,  Lỗ Tấn là bút danh. Ông sinh 25- 9- 1881 tại  huyện Thiệu Hưng,  tỉnh Triết Giang. Gia đình vốn  là quan lại  sa sút. Ông  nội là Chu Giới Phu từng làm quan trong triều đình nhà Thanh, bị cách chức hạ ngục năm Lỗ Tấn 13 tuổi. Thân sinh là Chu Bá Nghi, đỗ tú tài cũng năm đó rồi lâm bệnh nặng,  ba năm sau vì không có thuốc chữa trị mà mất. Mẹ là Lỗ Thụy người phụ nữ nông thôn trung hậu, kiên nghị, phẩm chất của bà có ảnh hưởng rất  lớn đến Lỗ Tấn. Bút danh của ông là theo họ mẹ.

 

Lỗ Tấn sống  trong thời  đại xã  hội Trung  quốc có nhiều biến động  lớn lao  nhất là  sau năm  1919 với ảnh hưởng của Cách Mạng Tháng Mười Nga. Cuộc  đời ông trải  qua hai cuộc  cách mạng : cách mạng dân chủ kiểu cũ – cách mạng Tân Hợi (do giai cấp tư sản lãnh đạo) và cách mạng dân  tộc dân chủ  kiểu mới do  giai cấp vô sản và Ðảng cộng sản Trung quốc lãnh đạo.

Cuộc đời, sự nghiệp và quá trình tư tưởng của Lỗ Tấn có thể chia ra ba giai đoạn như sau:

TRƯỚC NGŨ TỨ (1881- 1918)

Thời thơ ấu từ 6 đến 17 tuổi,  Lỗ Tấn học ở trường tư thục quê nhà. Ông học rất thông minh. Ðọc hầu  hết các thư tịch cổ Trung Quốc. Ðặc biệt thích đọc dã sử, thích nghe truyền thuyết, xem hát tuồng và tranh dân gian. Thị hiếu và sở trường  văn nghệ của ông được hình thành từ sớm. Mặt khác, vì gia đình sa sút, ông hay đi lại với con em nông dân lao động ở quê nhà. Tắm mình trong tình cảm chân thành và hồn hậu ấy,  Lỗ Tấn “bú được sữa sói rừng” mà lớn lên, dần  dần trở  thành “đứa con bất hiếu” của giai cấp phong kiến,”bề tôi hai lòng”của tầng lớp thân sĩ.

Xã hội Trung Quốc biến động kịch liệt, chính quyền Mãn Thanh quì gối  đầu hàng  trước sự  xâm lăng  của các đế quốc, phong trào yêu nước của nhân  dân phát triển rầm rộ.  Lỗ Tấn được cổ vũ mạnh mẽ. Ông giã từ  gia đình và quê hương đi  tìm đường hoạt động.

Năm 18 tuổi, Lỗ Tấn đến Nam Kinh, thi vào Thuỷ sư học đường (đào tạo  nhân  viên  hàng  hải).  Hai  năm sau lại thi vào Khoáng lộ học đường (đào tạo kỹ  sư mỏ). Ðây là những  trường tây học, dạy kiến thức khoa học mới,  khác hẳn với các trường hán học chỉ dạy “tứ thư, ngũ kinh”. Tầm mắt anh mở rộng,  thay đổi nếp tư duy. Hoài  nghi truyền thống  cũ và hướng  đến sự cải cách, Lỗ Tấn rất say mê  cuốn “Thiên diễn luận” của  Husley nhà sinh vật học người Anh – giải thích sự biến hoá vũ trụ và vạn vật theo quan điểm thuyết tiến  hoá Darwin (nhà  sinh học vĩ  đại Anh). Lỗ Tấn chịu ảnh hưởng sâu sắc và từ đó, thế giới quan của ông chịu sự chi phối của thuyết tiến hoá trong một  thời gian tương đối dài. Ông tin  tưởng rằng “sinh  mệnh lớp sau bao giờ cũng có ý nghĩa hơn, hoàn thiện hơn lớp trước, tương lai sẽ sáng sủa hơn hiện tại vì lực lượng mới sẽ thay thế lực lượng cũ. Từ đó ông ca ngợi sự đổi mới,  kêu gọi phản kháng, căm ghét truyền thống trì trệ.

Năm 1902, sau khi tốt nghiệp Khoáng lộ học đường, Lỗ Tấn được chọn đi du học  ở Nhật  Bản. Trước  tiên ông  học ngành y. Ông muốn dùng y học để cứu  dân,   trước hết là  chữa chạy cho  những người nghèo đói, dốt nát, mê tín khỏi bị chết oan như bố ông. Học sinh Trung Quốc học ở  Nhật khá đông. Quang Phục Hội  là tổ chức lãnh đạo cách mạng Tân Hợi (1911) sau này, cũng hoạt động sôi nổi ở Tokio. Lỗ Tấn tham gia Quang Phục Hội với quyết tâm cứu nước. Về sau, nhân một lần xem  phim, ông bị kích động  mạnh mẽ và chuyển sang làm văn nghệ (ông thấy người Trung Quốc vui  thú khi xem phim có cảnh người Nhật chém  một người Trung Hoa vì  tội làm gián điệp cho quân Nga thời  chiến tranh Nga Nhật).  Lỗ Tấn nghĩ  rằng chữa bệnh cho họ về thể xác còn  chưa quan trọng bằng chữa bệnh cho họ về tinh thần.  Từ đó ông  quyết tâm dùng  ngòi bút để thức tỉnh tinh thần dân  tộc và  ý chí tự  lập tự cường  của người Trung Hoa. Ông ra sức  phiên dịch giới  thiệu các trước  tác khoa học cũng như các tác phẩm  văn nghệ thế  giới. Ðặc biệt  ông viết tập “Sức mạnh của dòng thơ ma quỷ” giới  thiệu những nhà thơ đấu tranh cho tự do như Byron, Shelli (Anh) Puskine, Lermontov (Nga) v.v… với hy vọng mượn ý chí  phản kháng và quyết tâm  hành động của họ để thức tỉnh tinh thần dân tộc.

Hai năm trước Cách  mạng Tân Hợi, năm 1909  vì gia đình quẫn bách, Lỗ Tấn dời Nhật trở về nước nuôi mẹ và em. Ông dạy học ở các trường trung học quê nhà và làm  hiệu trưởng trường sư phạm Thiệu Hưng. Năm 1911, Cách mạng Tân Hợi bùng nổ, ông hưởng ửng sôi nổi. Với quốc hiệu “Trung  Hoa dân quốc”, cuộc cách mạng tư sản này không đem lại cho xã hội Trung Quốc sự thay đổi nào đáng kể. Lỗ Tấn  không khỏi thất vọng. Còn đối  với Cách mạng vô sản, ông chưa có nhận thức rõ ràng, phần nào hoài nghi, giai cấp công nhân chưa hình thành một lực lượng  chính trị độc lập,  ông rơi vào đau khổ, trầm tư.

THỜI KỲ 1918 – 1927

Cách mạng Tháng Mười  Nga rung động,  thức tỉnh  dân tộc Trung Hoa và tâm hồn nhà yêu nước Lỗ Tấn. Ông đăng  thiên truyện đầu tay “Nhật ký người điên” trên tạp chí  Tân Thanh Niên. Ðó là phát súng mở đầu của cuộc cách mạng văn hoá và tư tưởng Ngũ tứ ở Trung Quốc công kích lễ giáo và chế  độ phong kiến. Hàng loạt các truyện khác tiếp nối ra đời. “Khổng Ất Kỷ, AQ chính truyện, Lễ cầu phúc …” .Những truyện này sau được soạn thành hai tập “Gào thét” và “Bàng hoàng”. Ông còn viết nhiều bài tạp văn sắc bén lên án xã hội đế quốc phong kiến và những tập quán xấu của xã hội cũ.

Lỗ Tấn  còn tham  gia chỉ  đạo phong  trào thanh niên yêu nước khoảng năm 1920 – 1925, ông là giáo sư các trường Ðại học ở Bắc Kinh, và lãnh đạo sinh viên lập nhóm văn học, xuất bản báo và tạp chí cổ động  cách mạng.  Ông đã  nhiệt tình  ủng hộ  cuộc đấu tranh của sinh viên trường Ðại học nữ sư  phạm Bắc Kinh chống lại tên Bộ trưởng Giáo  dục phản  động … Ông trở  thành lãnh tụ tư tưởng của sinh viên lúc bấy giờ.

Khoảng năm 1923 -1924, phong trào Ngũ Tứ vỡ, hình thành mặt trận thống nhất văn hoá.

Năm 1926, bị chính phủ Quốc dân đảng bức bách, ông rời Bắc Kinh xuống Hạ Môn (tỉnh Phúc Kiến). Làm giáo sư văn học ở Ðại học Hạ Môn. Ông cảm thấy hưu quạnh vì phải xa lánh cuộc  đấu tranh. Ðầu năm 1927, ông lại đến Quảng Châu – căn cứ địa cách mạng bấy giờ, làm trưởng phòng giáo vụ kiêm chủ nhiệm  khoa văn trường Ðại  học Trung Sơn. Ông liên hệ chặt chẽ với các  tổ chức cách mạng do  Ðảng Cộng Sản lãnh đạo .

Tháng 4 năm 1927,Tưởng Giới Thạch phản bội Cách mạng, khủng bố Ðảng Cộng  Sản và  các tổ  chức do Ðảng lãnh đạo. Chúng giết hàng chục vạn đảng viên và quần chúng. Lỗ Tấn đứng ra bảo vệ sinh viên không được nên đã phẫn nộ từ chức. Sự thật tàn nhẫn đã giúp ông giác ngộ quan điểm giai cấp của chủ nghĩa Mác – Lênin.

Kể từ đó, Lỗ Tấn đã không ngừng chiến đấu cho sự nghiệp giải phóng của giai cấp, của dân tộc dưới ngọn cờ quang vinh của chủ nghĩa Mác – Lênin và Ðảng Cộng Sản Trung  Quốc.

THỜI KỲ 1928 – 1936

Ðây là thời kỳ của văn học vô sản với nhà văn cộng sản Lỗ Tấn. Tháng 10 năm 1927, do có nguy cơ bị ám hại, Lỗ Tấn rời Quảng Châu đến thành phố Thượng Hải và ở  lại đây cho đến khi  mất. Tham gia tổ chức và lãnh đạo phong trào văn học vô sản. Năm 1928, ông xuất bản tạp chí “Dòng nước xiết “(Bôn lưu), phiên dịch, giới thiệu hệ thống lý luận văn nghệ Mác -  Lênin. Lỗ Tấn đứng ra  thành lập và lãnh đạo Hội liên minh các nhà văn cánh tả  (gọi tắt là Tả liên). Ông tiếp nhận đường  lối Mác- Lênin  qua một  chiến sĩ cộng sản chân chính lãnh đạo hội là nhà văn Cù Thu Bạch.

Những năm đầu Tả Liên, các tập đoàn  văn nghệ phản động mọc lên như nấm,   tiến công điên rồ  vào nền văn học vô  sản non trẻ. Lỗ Tấn đứng  vững trên  lập trường  vô sản  đập tan các cuộc “vây quét” trên  mặt trận  văn hoá  tư tưởng.  Ông viết được 9 tập văn: “Giọng Nam điệu Bắc, Viết tự do, Chuyện cũ viết lại….”.

Ngày 19 tháng 10 năm 1936, sau thời gian lâm bệnh, Lỗ Tấn từ trần ở Thượng Hải.  Bất chấp  sự ngăn cấm  và đàn áp  của chính quyền Quốc dân đảng, nhân dân và văn nghệ sĩ vẫn làm lễ an táng trọng thể Lỗ Tấn. Trên quan tài  ông có phủ  lá cờ đỏ  thêu bốn chữ “Linh hồn dân tộc”.

Lỗ Tấn mất đi đã  hơn nửa thế kỷ. Tên tuổi  Lỗ Tấn  vẫn mãi  mãi được  loài người  tiến bộ và nhân dân cách mạng trân trọng.

4.2.  TÁC PHẨM

Gồm 3 tập “Gào thét”, “Bàng  hoàng” và “Chuyện cũ viết theo lối mới” (Cố sự tân biên) với các chủ đề chính sau đây (viết từ 1918 đến 1935, tức là sau Cách mạng Tân Hợi)

 Tuyên chiến chống chế độ phong kiến

“Nhật ký người điên” (Cuồng nhân nhật ký) là bài  hịch tuyên chiến chống lễ giáo, đạo đức phong kiến và phủ nhận nó triệt để.

Nhân vật là một  người điên, lên án  lịch sử 4 ngàn năm là “lịch sử ăn thịt người”. Qua con mắt người điên, uộc sống thực là đáng sợ. Người sợ người  như lang sói.  Người lao động  lo sợ, nơm nớp đề phòng.

Người điên  đã cảnh  cáo giai  cấp phong  kiến thống trị và răn đe chúng.

“Ngọn đèn sáng mãi” (Trường minh đăng) là truyên ngắn tượng trưng: tả một ngon đèn như là biểu tượng uy lực phong kiến thắp lên từ đời xưa, người dân phải lo giữ  đèn khỏi tắt vì  sợ tai hoạ. Chỉ  có người điên mới thổi tắt ngọn đèn lại còn định đốt cháy cả miếu thờ ngọn đèn nữa.

Số phận của nhân dân lao động

Những truyện này miêu  tả có  chiều sâu  hơn các nhà văn cùng thời. Nhà văn không chỉ dừng lại ở  chỗ miêu tả bề ngoài đau khổ về vật chất,  bị đói rét, đánh đập mà còn khơi lên những đau khổ về tinh thần. Lỗ Tấn  đã khám  phá ra  những bi kịch tâm hồn của người lao động.

Truyên ngắn “Lễ cầu phúc” miêu tả nỗi đau khổ triền miên, day dứt của thím Tường Lâm.  Ðó là  nỗi khổ “muốn làm nô lệ mà không được”, có lúc “tạm được  làm nô lệ”. Ðó là  nàng dâu bị mua đi bán lại, cố chống chỏi và  thất bại. Thất  nghiệp đi ăn  xin. Quá đau khổ, thím muốn chết, nhưng lại sợ xuống âm phủ bị Diêm Vương trừng phạt bằng cách xẻ  thân chia cho hai người chồng  (!).Cuối cùng, thím vẫn tự tử, chết đuối giữa tiếng  pháo “cầu phúc” của nhà giàu nổ ran. Truyện ngắn “Cố  hương” miêu tả số phận  một anh nông dân – con người “tạm được làm nô lệ” và an tâm với kiếp nô lệ. Nhuận Thổ, bạn ấu thơ hiện lên trong ký ức nhà văn – đó là một thiếu niên tươi trẻ, chân thành, dũng cảm và vị tha. Bây giờ đôi bạn gặp lại nhau,  anh ta chỉ còn là một tượng gỗ không hồn, không biết khổ cực và lặng lẽ sống với trật tự xã hội đã an bài.

Lỗ Tấn hy vọng  sẽ có cách  mạng “trên  mặt đất, vốn chẳng có đường, người ta đi nhiều mà thành đường”.

Phê phán cách mạng Tân Hợi

Cách mạng Tân Hợi do  giai cấp tư sản lãnh đạo  nổ ra năm 1911, nhưng thất  bại. Sau  đó giai  cấp tư  sản vẫn  cố gắng lôi cuốn thiên hạ, hy vọng ngọn  cờ cũ ấy  bằng ảo tưởng. Lỗ Tấn viết truyện ‘AQ  chính truyện’ nhằm  phê phán  cuộc “cách mạng” này.

Cách mạng Tân Hợi là hình tượng cậu Tú Triệu và lão địa chủ họ Tiền quấn đuôi sam lên, rồi lại buông xuống. Tấn bi kịch của nhân vật AQ là bi kịch của cách  mạng Tân Hợi. Tuy vậy, nhà văn không quên  công  lao  của  những  người cách mạng chân chính (nhân vật Hạ Du trong truyện ngắn “Thuốc”). Ông đặt vòng hoa lên ngôi mộ anh. Cách  mạng Tân  Hợi thất  bại vì  xa rời quần chúng, không làm cho nhân dân hiểu và không phát động được quần chúng.

 Vấn đề nông dân và cách mạng nông thôn

Mâu thuẫn chủ yếu  ở nước Trung  Quốc phong kiến  lâu đời là mâu thuẫn giữa gia cấp nông dân và giai  cấp địa chủ. Ông chú ý phân tích lực lượng chính trị đó.  Ông  nâng niu ca ngợi những phẩm chất quí báu và tích cực của họ và hy vọng có  ngày họ thức tỉnh. Nhà văn chỉ ra nguyên  nhân chính là : do họ chưa  được giác ngộ. Chủ đề này bao trùm hơn nửa tác phẩm của ông.(Các chủ đề trên sẽ được chứng minh trong phần phân tích ‘AQ Chính truyện’ ở đoạn sau).

Cuộc sống của những người trí thức

Lỗ Tấn viết khá nhiều về giới  trí thức, nhất là trong tập truyện ký “Bàng hoàng”. Theo  ông trí thức nhạy  bén với biến động xã hội, đóng vai trò quan trọng trong lịch sử. Tuy vậy, qua cuộc đấu tranh giai cấp khốc liệt, họ cũng  bộc lộ bản chất dao động, thoả hiệp. Nhân vật “tôi”  trong đó sự phê phán  mình để cổ vũ giới trí thức .

Nhân vật Khổng Ất Kỷ là loại nho sỹ cuối mùa, ôm mộng khoa cử, lúc nào cũng ngâm :

Vạn ban giai hạ phẩm

Duy hữu độc thư cao.

và rốt cuộc anh bị xã hội bỏ rơi.

Bi kịch  tình yêu  của Quyên  Sinh và Tử Quân có giá trị điển hình cao (truyện Tiếc thương những ngày đã mất). Ðây là đề tài tình yêu duy  nhất trong tác phẩm của Lỗ Tấn. Ðôi sinh viên yêu nhau trong cuộc đấu tranh quyết liệt cho tự do, và tự  do hôn nhân. Nhưng khi đạt được “một túp lều  tranh hai trái  tim vàng” thì Tử Quân quên mất lý tưởng  đấu tranh  xã  hội, còn Quyên  Sinh lại thức tỉnh :”Tình yêu phải có cái gì sinh  sôi, sáng tạo … Phải nhân lúc đôi cánh chưa quên bay  mà đi  tìm một  chân trời mới”. Rồi chàng ra đi. Hai người đều rơi vào bi kịch, nhưng bi kịch của Tử Quân nặng nề hơn và thảm thiết hơn

Phương pháp sáng tác của Lỗ Tấn

      Xây dựng hình tượng điển hình

Ðây là  vấn  đề  quan  trọng  nhất  của  chủ  nghĩa  hiện thực.”Người điên” là hình tượng kẻ “phản nghịch”.

Hạ Du là người chiến sỹ cách mạng dân chủ tư sản.

Nhuận Thổ, Tường Lâm, AQ…. là những hình tượng nông dân bị áp bức và bị lăng nhục.

Khổng Ất Kỷ, Trần Sĩ Thành là kẻ sỹ cuối mùa (nhà văn đặt cho nhân vật họ Khổng khiến người ta nghĩ đến Khổng giáo). Còn Tử Quân, Quyên Sinh là những trí thức mới dễ thoả hiệp.

Hình tượng kẻ thống trị  tuy không được miêu tả  công phu nhưng vẫn hiện lên sắc nét và gây ấn tượng.

Lỗ Tấn chú ý  vận dụng phương  pháp miêu tả  truyền thống để xây dựng tính cách điển hình. Ðó là thủ pháp hội  hoạ “vẽ rồng chấm mắt” (hoạ long điểm tình). Ông nói “vẽ người tốt nhất là vẽ mắt, vẽ những bộ phận khác dù cố gắng đến đâu cũng chả ích gì, chỉ một lời nói, một dáng điệu múa may, một cặp mắt nhìn… đủ gây ấn tượng mạnh khiến người đọc day dứt “.

      Về nghệ thuật kết cấu tác phẩm :

Truyện Lỗ Tấn  hầu hết là  truyện ngắn nhưng  nội dung xã hội rất sâu sắc, bởi  có  tầm  vóc  của  truyện dài. Cốt truyện thường không phức tạp ly kỳ.

Truyện Lỗ Tấn có 2 kiểu kết cấu:

- Cắt lấy  một  mảng  của  bức  tranh đời sống, dùng vài nét chấm phá gương mặt của nhân  vật. Nhân vật kể  chuyện ở ngôi thứ nhất, (xưng tôi) từ đó  nhà văn trực tiếp bộc  bạch quan điểm của mình và gây cảm xúc thấm đẫm hơn.

- Khái quát tính cách của nhiều người trong xã hội, rút ra những nét điển hình và  tập trung vào một nhân vật (AQ chính truyện). Loại điển hình này được nhà văn  gia công thêm những chi tiết chân thực và sinh động nên đã  tránh khỏi khuynh hướng “nghị luận cảm khái”.

       ”Uy mua” và châm biếm

Ðó là giọng văn nghệ thuật của người nhiệt tình, ưu phẫn nhưng cố đè nén bằng sự bình tĩnh, khách quan và nụ cười cay đắng. Ðó là tính trữ tình sâu sắc  trong văn  Lỗ Tấn  thể hiện  chủ nghĩa nhân đạo chiến đấu của ông.

Lời văn đôi khi dí dỏm, có tính giải trí gây cười (uy mua – humour). Ðã có  thời người  ta kết  tội ông  miệt thị giai cấp vô sản. Nhưng ông cho rằng “bi kịch trình bày sự huỷ diệt của cái có giá trị, còn hài kịch trình bày sự huỷ diệt của cái vô giá trị và châm biếm thực ra chỉ là loại hài kịch đơn giản “.

Một số thủ pháp nghệ thuật độc đáo

- Tiết kiệm, chọn lọc trong  mô tả và đối thoại. Ðó là tinh hoa kịch cổ điển Trung Quốc (không  có phong cảnh, như bức tranh tết cho trẻ con – chỉ có mấy người).

- Câu mở đầu và kết  thúc phụ thuộc các kiểu  kết cấu tác phẩm khác nhau.

- Một số chi tiết  được lặp đi  lặp lại xoáy  trôn ốc vừa là kết cấu, vừa là cảm xúc ( xuất  phát từ  thủ pháp điệp từ  ngữ của Kinh Thi).

- Chú trọng cách đặt tên và biệt hiệu của nhân vật,   vừa gợi ra bản chất nhân vật vừa tỏ rõ thái độ của tác giả.

Tóm lại, với các thủ pháp nghệ  thuật trên, Lỗ Tấn đã thành công trong các truyện ngắn  vì đã đáp ứng yêu cầu “dành cho tư tưởng một địa bàn rộng, cho ngôn ngữ một địa bàn hẹp”  (Fadeev – Bàn về Lỗ Tấn).

Do vậy,  truyện của ông có thể đọc đi đọc lại như những bài thơ.

 

Lỗ Tấn là nhà văn chiến đấu, với 20 tập sách lớn để lại ông đã cống hiến cả cuộc  đời cho cuộc  đấu tranh giải  phóng dân tộc  dưới ánh sáng  chủ nghĩa  Mác – Lênin. Ngòi  bút của ông đã đụng chạm đến mọi mặt của  đời sống nhân  dân Trung Quốc  vượt xa các nhà văn hiện thực thế kỷ trước. Ông trở thành nhà văn, nhà tư tưởng thiên tài của nhân loại.

Năm 1981, toàn thế giới tổ chức kỷ niệm 100 năm sinh của Lỗ Tấn, danh nhân văn hoá thế giới.

Lỗ Tấn, về mặt đồng tình và thương cảm những nhân vật hèn mọn thì gần với Sê Khốp (nhà văn cổ điển Nga) nhưng tính phê phán mạnh mẽ và sắc bén lại giống Gorki. Lỗ Tấn,  người giữ vai trò kế thừa và cách tân xuất sắc nền văn học cổ điển dân tộc. Do đó, ông vừa là nhà văn Trung Hoa, vừa là nhà văn của loài người. Người ta cũng còn chú ý đến phong cách tự phê dân tộc đặc sắc  của Lỗ Tấn.

4.3.   AQ. CHÍNH TRUYỆN

AQ 正传   [A.Q zhèng zhuàn]

“AQ. chính truyện” gồm 9  chương. Sau đây là sơ  lược cốt truyện.

Chương I.  TỰA

Nhà văn châm biếm các loại truyện cũ  kỹ lỗi thời và giới thiệu lai lịch nhân vật chính là anh nông dân khoảng ba chục tuổi tên là AQ (giải thích cái tên kỳ lạ của anh).

Chương II.  Những chuyến thắng lợi

AQ. thân phận hèn mọn, đi làm mướn hàng ngày, tối về ngủ đậu miếu thổ thần. Anh thường bị trêu chọc, bắt nạt và thường bị thua, nhưng tìm cách thắng lợi bằng tưởng tượng, gọi  là “phép thắng lợi tinh thần”

Chương III.  Những chuyến thắng lợi (tiếp theo).

Anh đi bắt nạt những kẻ yếu hơn như thằng cu Ðen và ni cô ở chùa Tĩnh Tu.

Chương IV. Bi kịch ái tình

Anh tỏ tình với vú Ngò  là vú già của gia đình  địa chủ họ Triệu. Bị phản ứng, đánh đập và bị phạt nặng.

Chương V. Vấn đề sinh kế

Sau vụ vú Ngò,   anh bị thất nghiệp vì cả làng đều chê anh đạo đức kém. Ði ăn trộm  củ cải ở chùa  Tĩnh Tu. Rồi bỏ  lên tỉnh kiếm sống.

Chương VI. Từ vận “trung hưng” đến bước đường cùng

Khoảng sáu tháng sau, AQ  trở về làng với nhiều của cải tiền bạc, bán quần áo cũ mốt lạ, kể chuyện  thành thị, chế diễu thành thị. Các bà, các cô ngày trước khinh AQ ra mặt,  nay tranh nhau cảm tình của AQ để mua  được quần áo mốt  mới. AQ còn báo tin cách mạng đã xảy ra và kể chuyện “chặt đầu bọn cách mạng” ở trên tỉnh.

Chương VII. Cách mạng.

Một con thuyền lớn  của quan Cử  từ trên huyện di tản về làng Vị trang, tiếng đồn quân  cách mạng sắp sửa đánh tới. Thấy bọn địa chủ lo sợ cách  mạng thì  AQ hăng  hái cổ  vũ cách mạng và tự nhận mình là người cách mạng. AQ  ước mơ cách mạng thành  công, y sẽ trả thù, sẽ đoạt của cải, lấy vợ … Anh đến chùa Tĩnh Tu thì hai tên địa chủ Triệu và Tiền đã nhanh chân hơn – đến chùa gỡ bàn thờ nhà vua coi như đã “làm cách mạng”.

Chương VIII. Không cho cách mạng

Tin đồn cách mạng đã xong. Nhưng bộ  mặt xã hội vẫn không thay đổi. Quan huyện vẫn  là quan huyện  cũ. Dân làng  sợ nhất là bị cắt đuôi sam, họ đối phó bằng cách cuốn  đuôi sam lên đầu (ý là khi cần thì lại buông  thõng xuống). Bọn  địa chủ chạy  lên tỉnh xem cách mạng,  trở về  chúng khoe  khoang đã  theo cách mạng. AQ xin nhập bọn, bọn địa chủ không cho,  anh về  miếu thổ thần ngủ. Ðêm ấy nhà họ Triệu bị cướp.

Chương IX. Đại đoàn viên.

Cả làng vừa khoái chí vừa sợ hãi  thấy nhà Triệu bị cướp. Bốn hôm sau, giữa đêm, AQ bị bắt lên huyện. Toà án tra hỏi, nghi anh ăn cướp nhà họ Triệu. AQ không hiểu chuyện  gì. Họ đưa ra một tờ giấy bảo anh ký. Vì không biết chữ, anh  lấy cây viết khoanh một vòng tròn. Cố ráng  sức vẽ cho tròn  vì sợ bị chế  giễu nhưng hình vẽ vẫn méo mó. Ðêm ngủ bị cùm nhưng vẫn hy vọng đời con cháu mình sẽ vẽ được vòng tròn. Hôm sau bị lôi  ra pháp trường. Xe đưa AQ đi diễu khắp phố phường. Dân chúng reo  hò ầm ĩ, anh cố nghĩ một câu khẩu hiệu để hô vang trước khi chết nhưng nghĩ không trọn câu. Anh thấy vú Ngò chen chúc giữa đám đông, anh nhìn mụ nhưng mụ không nhìn anh,  mụ mải ngắm nhiều thứ lạ như khẩu súng. AQ sợ hãi kêu cứu … Dân chúng  đều tin  chắc rằng  AQ vì hư hỏng nên đáng bị xử bắn,  họ còn tiếc rẻ vì không chém đầu, lại đi bắn súng, xem không sướng mắt. Người ta lại  chê AQ xoàng, không hô  được một câu khẩu hiệu có “khí phách”  khiến họ uổng công đi xem.

Lưu ý cái tựa đề “Ðại đoàn viên” có ý chế  giễu các loại truyện và kịch của văn  học quá  khứ Trung  Hoa lúc nào cũng “có hậu”.

PHÂN TÍCH  ”AQ CHÍNH TRUYỆN”

“AQ chính truyện” là tác phẩm tiêu  biểu của Lỗ Tấn, một trong những  kiệt tác  ưu tú  nhất của  nền văn  học hiện đại Trung Quốc và khá quen biết đối với nhân dân thế giới.

Truyện triển khai theo ba chủ đề lớn.

      Bức  tranh của  nông thôn Trung Quốc  nửa phong kiến, nửa thuộc địa

Giai cấp  tư sản  Trung Quốc  đã hình  thành nhưng còn mờ nhạt, yếu ớt ở nông thôn. Thống trị nông thôn vẫn là giai cấp địa chủ (tiêu biểu là làng Vị Trang). Vẫn là không khí nông thôn thời trung cổ. Dân chúng vẫn  quen nếp nghĩ  tăm tối ngày xưa. Dư luận quần chúng là ngồi  lê mách lẻo, nhưng dư luận cũng ghê gớm  như một  kiểu luật  pháp. Bọn địa chủ vẫn ung dung bóc lột theo kiểu cũ. Sinh hoạt tinh thần văn hoá của họ rất nghèo nàn. Ðó là một nông thôn cận đại, lạc hậu và trì trệ

Phê phán tính chất nửa vời của Cách mạng Tân Hợi

Cách mạng tư sản chỉ khiến cho bọn địa chủ lo sợ lúc đầu. Nhưng chúng mau chóng “bắt tay” được với những kẻ cách  mạng nửa vời để cùng lợi dụng nhau. Chỉ  có dân chúng bị bỏ  rơi (hình ảnh AQ). Tất cả vẫn như xưa, chỉ khác cái búi tóc cuộn lên, tấm biển của nhà vua Mãn Thanh ở  trong chùa bị  dẹp đi. Không  cho AQ làm cách mạng, không cho nông dân làm cách mạng, đó là bản chất của cách mạng Tân Hợi

Phê phán “tinh thần AQ”

Ðó là phép thắng lợi tinh thần của  kẻ yếu hèn. Cho đến khi sắp bị giết, AQ nghĩ ai cũng phải chết một lần, thế là trấn tĩnh được. Ðó là tâm trạng của kẻ thua nhưng không chấp nhận thất bại, cố trốn vào ảo giác. AQ  rất bảo thủ  nhưng lại thích  cách mạng, thích cách mạng  vì muốn  trả thù.  AQ cũng  là điển hình của chủ nghĩa thất bại  – đặc  trưng của  giai cấp  phong kiến thống trị. Bởi đã tồn tại quá lâu  nên tư tưởng ấy  đã thấm đẫm tới  cả quần chúng. Tuy nhiên Lỗ Tấn  có nhược  điểm là ông miêu tả và chứng minh cái nhược điểm đó như là “quốc dân tính”.

Ðó là 3 chủ đề chính của tác phẩm.

Nhiều người trên thế giới cho rằng truyện này là  điển hình của những nước đã từng trải trong nô lệ, có thể gặp ở mọi nơi, mọi lúc. Song trước hết, chúng ta cần lưu ý rằng AQ có  cơ sở giai cấp của nó là giai cấp phong kiến Trung Hoa.

Và sau hết, AQ còn là điển hình của người vô sản ở nông thôn Trung Quốc  vốn  có  khả  năng  cách  mạng nhưng bị tư tưởng phong kiến và “phép  thắng lợi  tinh thần”  trói buộc  nên họ ngơ ngác trước tấn tuồng do giai cấp tư sản đạo diễn vụng về.

“AQ chính truyện” thật sự đã vượt  xa chủ nghĩa hiện thực phê phán nói chung.

Cuộc đời và tác phẩm của Lỗ Tấn  đi từ chủ nghĩa yêu nước và dân chủ đến chủ nghĩa xã hội,  từ chủ nghĩa hiện thực phê phán đến chủ nghĩa hiện thực cao hơn. Nó tiêu  biểu cho quá trình vươn tới của đội ngũ nhà văn cách mạng Trung  Quốc trên con đường phát triển đúng đắn duy nhất của nền văn học Trung Hoa mới

Câu hỏi ôn tập

1 – Con đường tư tưởng của  Lỗ Tấn .

2 – Các chủ đề chính trong truyện ngắn  Lỗ Tấn .

3 – Phân tích và phê phán “tinh thần AQ”.

4. Phân tích hình tượng nhân vật chính trong truyện “Thuốc” .

 




5 – Vị trí  của  Lỗ Tấn  trong  lịch  sử văn học hiện đại Trung Quốc và thế giới. Chương 5.Quách Mạt Nhược, Mao Thuẫn, Ba Kim, Lão Xá và Tào Ngu

 

5.1.  QUÁCH MẠT NHƯỢC

郭沫若 Guō Mò Ruò (1982-1978)

Sinh năm 1892 tại Tứ Xuyên, sau Lỗ Tấn 11 năm. Tuổi nhỏ Quách Mạt Nhược đọc nhiều thơ ca cổ điển. Sớm đọc sách báo thế giới qua tiếng Hán. Ba lần bị đuổi học vì phản ứng  với sự giáo dục hủ bại. Sớm hào hứng vì cách mạng Tân Hợi nhưng lại thất vọng, rời bỏ quê Tứ Xuyên. Cuối năm 1913 ông đi Triều Tiên, năm sau đến Nhật bản, thi vào Cao đẳng số1 Tokyo. Tốt nghiệp cao đẳng Quách Mạt Nhược lại thi vào khoa Y đại học. Bất mãn với Nhật ông trở về Thượng Hải với lòng yêu nước và nỗi căm giận đế quốc. Qua 4 năm ở Nhật, ông đọc nhiều tác phẩm thế giới, chịu ảnh hưởng của Tagore, Goethe, Haine, Whitman . . .

Ông làm báo, làm thơ viết văn soạn kịch, truyền bá tư tưởng Mác, chống Tưởng Giới Thạch, đi lưu vong ở Nhật. Trở về, Quách Mạt Nhược gia nhập Ðảng cộng sản do lãnh tụ Chu Ân Lai giới thiệu.

Sau khi nước Trung Hoa mới thành lập, ông làm nhiều công việc quan trọng của Ðảng, Nhà nước đồng thời vẫn sáng tác. Tạ thế ngày 12-6-1978.

 

Tác phẩm chính

1.      Tập tân thi đầu tiên “Nữ thần”

Xuất bản 1921 thành công nổi bật, gây ảnh hưởng lớn cho nền văn học hiện đại. Gồm 56 bài chưa kể bài thơ Tựa, bày tõ tinh thần phá cái cũ, đạo đức lễ giáo cũ, nền chính trị chuyên chế cùng mọi thần tượng phong kiến bị đả kích dữ dội để xây đời sống mới. Ðó là khoa học, dân chủ, chủ nghĩa xã hội. Nhà thơ hòa vào đó tất cả nhiệt tình tự giác nồng nhiệt của mình, khát khao ca ngợi lí tưởng tốt đẹp là âm hưởng chủ đạo mạnh mẽ nhất trong tập thơ. Tiêu biểu nhất là hai bài “Phượng hoàng niết bàn” và “Kiếp tái sinh của nữ thần”.

 

Truyền thuyết về phượng hoàng nhặt gỗ thơm để tự thiêu, rồi lại tái sinh từ trong đám tro xác:

Cuối năm gần ba mươi

 bay đi bay lại một đôi phượng hoàng

bay đi hát tiếng buồn thương

ngậm từng cành gỗ trầm hương bay về

Trên núi Ðan Huyệt, cây ngô đồng chết khô, suối rượu thơm cạn hết dưới trời giá băng gió thét, đôi phượng hoàng sắp đặt cuộc hỏa táng cho mình. Trước khi chết, chúng bay lượn thấp cao, con phượng hót lên chít chít, con hoàng hót lên chút chút. Chúng nguyền rủa hiện thực, cái vũ trụ “lạnh lùng như sắt”, “tối đen như mực”, “tanh nồng như máu”, vũ trụ như cái “lò mổ, nhà giam, phần mộ, địa ngục” và hỏi nó – cớ sao ngươi tồn tại ?

Từ trong nước mắt năm trăm năm nay lệ tuôn như dòng thác,

năm trăm năm lệ tuôn như nến sáp

chúng giấu bầu bi phẫn

chúng nguyền rủa cuộc đời

năm trăm năm ngủ say thối mục như xác chết

suối lệ chảy khôn vơi nhớp nhơ khôn gpt sạch

lửa tình khôn dập tắt

hổ thẹn rửa khôn trôi

Trong quãng thời gian dằng dặc ấy, chẳng tìm đâu thấy “tươi mát, dịu ngọt, sáng ngời, yên vui” và sức sống trẻ trung đã tiêu mất. Thế là chúng đau đớn chẳng thiết sống nữa, đi nhặt gỗ tự thiêu. Những lời lên án hiện thực đan xen nỗi bi phẫn của nhà thơ .

 

Sự tự hy sinh, tự tái tạo của phượng hoàng hình thành nên bầu không khí bi tráng nồng đậm.

Khi chúng đồng thanh hát lên :

Ðã đến rồi thời gian

Ðã đến rồi giờ chết

thì một ngọn lửa ngút trời rốt cuộc thiêu ra tro bụi cả cái “tôi” cũ cùng mọi đen tối và phi nghĩa của thế giới cũ .

Thiêu trụi rồi, lại được cuộc sống mới, không chỉ có phượng hoàng mà còn có nhà thơ.

Hai ngày trước khi viết bài thơ này ông từng biểu lộ trong một bức thư rằng bản thân mình muốn như phượng hoàng, nhặt gỗ thơm “thiêu hủy cái hình hài hiện hữu đi“ để sinh ra một cái tôi mới. Ðó là sự khắc họa một hình tượng tinh thần cách mạng triệt để, tự giác của đại chúng nhân dân trong phong trào Ngũ Tứ. Vừa vách trần cái xấu xa dung tục của hiện thực, sự nông cạn bạc bẽo và bỉ ổi của bầy chim phàm tục, càng làm nổi bật nỗi trầm thống và nét đẹp hùng tráng của cặp phượng hoàng tự thiêu .

Cặp phượng hoàng đã sống lại nhờ  tinh thần cách mạng và thái độ lạc quan lịch sử .Bằng ngòi bút dạt dào cảm xúc và những dòng thơ trùng điệp, liên hoàn, nhà thơ Quách đã dụng công làm nổi bật cảnh tượng đại hài hòa, đại hoan lạc. Nhà thơ ca ngợi vận hội mối Ngũ Tứ, sự bắt đầu thức tỉnh của tổ quốc và bản thân nhà thơ, tràn trề nhiệt tình rực cháy hướng về ánh sáng, theo đuổi lí tưởng. Nhà thơ cho hay đã viết bài thơ trong một ngày chia ra hai lần .

Hai bài thơ đều dựa từ truyền thuyết Nữ Oa luyện đá vá trời  nhẳm chủ đề phản kháng, phá hoại và sáng tạo. Các nữ thần đồng thanh hát:

Chúng ta phải đi sáng tạo một vầng dương mới thắm tươi

Không thể làm vị thần trong khám thờ này nữa  !

           Quách Mạt Nhược có tấm lòng yêu thiên nhiên tha thiết sâu sắc, trong Nữ Thần có nhiều bài vịnh cảnh thiên nhiên. Nữ thần có  nét đặc sắc của chủ nghĩa lãng mạn cách mạng. Thể thơ tự do khí thế hùng hồn, hào phóng là những bài đặc sắc xúc động nhất, đó là khởi đầu cho thơ tự do sau thời Ngũ Tứ. Trước hết đó là sự giải phóng cái tôi tự do phóng khoáng, mang tinh thần thời đại.

 

2.      Hai tập thơ “Tiền mao” và “Khôi phục”

Năm 1923, Quách xuất bản tập “Tinh không” (trời sao)  gồm thơ và văn xuôi. Bài      “Hiến thi” (Thơ dâng) trong tập đã viết :

Mình như con nhạn phải tên

Người dũng sĩ bị thương

Nằm ngửa trên sa trường mù mịt

Mong tìm sự an ủi trong ánh sáng le lói đêm trời sao

Tập thơ “Tiền mao” (ngọn cờ phía trước) gồm có 23 bài, từ bỏ nỗi buồn khổ sâu sắc trong Tinh không, nhìn thẳng vào hiện thực và ca ngợi cách mạng bằng tiếng hát khỏe khoắn, ông quyết cùng “tất thảy công nông ở trên đời cứu con người khỏi cảnh khổ, cho thế giới mới ra đời. Lúc này Ðảng cộng sản lãnh đạo quần chúng ngày càng lên cao .”Mặt trời không còn nữa” là bài thơ truy điệu Lê Nin, miêu tả nỗi đau thương vô hạn của nhân dân toàn thế giới khi mất người thầy cách mạng vĩ đại :

Sóng ánh sáng rừng rực của Người quyết xua tan ma quỉ

luồng hơi nóng cuồn cuộn của Người quyết nung chảy giá băng

những con người nghèo khốn không áo mặc cơm ăn

đã nhận được ngọn lửa thiêng người lấy trộm trên Trời về đấy .

Tập thơ “Khôi phục” viết năm 1928 có 24 bài  viết trong thời kì cách mạng bị khủng bố trắng nghiêm trọng. Bọn phản động khủng bố tàn sát đẫm máu, nhà thơ bị bệnh, ông đáp lại bọn chúng bằng thơ đanh thép hùng hồn. Qua hai bài “Tôi nhớ Trần Thiệp và Ngô Quảng” (hai lãnh tụ khởi nghĩa thời nhà Tần), và “Ðối thoại giữa sông Hoàng Hà và Dương Tử” báo hiệu sự đổi thay về tư tưởng lí luận  theo chủ nghĩa Mác :

 

Bay muốn giết thì mặc bay cứ giết

Bay giết một người, ta đứng dậy một trăm

Khắp mình ta có lông khỉ Tôn Ngộ Không

Một hơi thổi thành muôn vàn “ta” mới

(Cuộc khủng bố bừng bừng ngùn ngụt)

Tôi đã sẵn sàng li rượu thọ đỏ tươi

Là nhiệt huyết đầy tim tôi bạn hỡi

Trong đêm đen gió tanh mưa máu này

Chiến đấu giành vầng dương  vũ trụ mới !

3.      Kịch và tiểu thuyết

 

Kịch lịch sử

Ông dành nhiều công sức viết kịch lịch sử. Ba vở kịch về ba nữ nhân vật “phản nghịch” là Nhiếp Oanh, Vương Chiêu Quân và Trác Văn Quân xuất bản năm 1926 .

Theo lịch sử, Trác Văn Quân ở góa, bất chấp mệnh cha, chạy trốn theo Tư Mã Tương Như, nàng chống lại lễ giáo phong kiến “tòng nhất nhi chung” (theo một người chồng đến cùng) .

Vương Chiêu Quân viết tháng 7 năm 1923, hư cấu thêm nhiều nhân vật, Chiêu Quân từ bi kịch số phận đổi thành bi kịch tính cách . . Nàng cự tuyệt miếng mồi vinh hoa của Mao Diên Thọ khi vẽ tranh đòi nàng hối lộ, nàng còn mắng cả Hán Nguyên đế, phản kháng  ý chí của hán vương nàng tự ý xuất giá lấy chồng Hung Nô ở vùng hoang vu cực bắc .

Nhiếp Oanh là kịch rút từ truyện Nhiếp Chính giúp Nghiêm Toại đâm chết tướng Hàn là Hiệp Lũy thời Chiến quốc. Chị em Nhiếp Oanh Nhiếp Chính xả thân  không chỉ vì trọng lời hứa cá nhân và nghĩa hiệp mà vì nghĩa lớn. Khi hai chị em vĩnh biệt trước Nhiếp mẫu  cất tiếng hát : “Xin đem mạng sống mình cứu lấy đám dân đen”. Chị hành thích thành công xong tự sát. Em lại  đi quảng bá sự tích anh hùng của chị, rồi đến chỗ  Hàn Thị hoàn thành nốt nhiệm vụ của mình .

Tiểu thuyết

Mục Dương ai thoại (Chuyện buồn chăn dê) 11-1929 , kể câu chuyện bi kịch của người phụ nữ Triều Tiên phản đế. Phiêu lưu tam bộ khúc (bộ ba phiêu lưu) gồm ba truyện ngắn liên tục: Kì lộ (Lối rẽ), Luyện ngục (Rèn luyện trong ngục) và Thập tự giá  (cây thập tự). Ái  Mâu trong Kì Lộ chính là hóa thân của tác giả, trải qua ba tác phẩm, anh từ Nhật trở về đất nước trải qua những biến động, vật lộn anh tỉnh ngộ cách mạng. Khí chất lãng mạn của nhà văn hào Quách Mạt Nhược thêm một lần nữa được khẳng định .

Văn hào Quách Mạt Nhược, người từng đánh giá cao Nhật kí trong tù của Hồ Chí Minh là bậc đại nhân đại chí đại dũng, đã được UNESCO phong tặng danh hiệu danh nhân văn hóa thế giới.

 

5.2. MAO THUẪN

茅盾 [Māo Dùn]

Tên thật là Thẩm Nhạn Băng, sinh năm 1896 tại Ô Trấn, huyện Ðồng Hương tỉnh Triết Giang. Người cha có tư tưởng duy tân, thích và tự học khoa học tự nhiên, qua đời năm hơn ba mươi tuổi. Mao Thuẫn sống trong gia đình có tư tưởng tiến bộ, người mẹ lại giáo dục ông rất nghiêm khắc. Từ nhỏ Mao đã đọc các bộ tiểu thuyết cổ điển Tam quốc, Tây du ký  . . ..

Khi học trung học, Mao đã cảm thấy phấn chấn với thời đại nhưng cuộc Cách mạng Tân Hợi không đem lại thay đổi cơ bản cho xã hội. Nhà trường chưa có không khí dân chủ. Anh bị đuổi học vì chống lại sự áp bức của ban lãnh đạo nhà trường .Những năm trung học chỉ để lại câu: “Không đọc sách sau Tần Hán, thơ phải học Kiến An thất tử, thư phải phỏng theo cách viết Lục Triều, văn biền ngẫu là lối văn chủ đạo”.  Lên Bắc Kinh, là người khởi xướng vận động tân văn học, ông viết tác phẩm “Bàn về văn học mới cũ”. Năm 1920, ông chủ biên tờ Tiểu thuyết nguyệt báo. Phiên dịch, giới thiệu văn học nước ngoài nhằm truyền bá tư tưởng hiện đại như nghiên cứu văn học Nga.Dạy trường đại học Thượng hải do Ðảng CSTQ thành lập, tích cực tham gia Ngũ tạp 1925. Viết bài “Bàn về nghệ thuật của giai cấp vô sản”, ông cho rằng”nghệ thuật của g/c vô sản phải có nội dung thật phong phú, lí tưởng của giai cấp vô sản là xây dựng một đời sống nhân loại hoàn toàn mới”. Nghệ thuật vô sản cũng phải theo hướng đó để giúp giai cấp mình đạt mục đích lí tưởng  cuối cùng. Ðó là ảnh hưỡng lí luận của Mác nhân hành và những truyện ngắn khác. Rồi hàng loạt thành phố sung sức cảm hứng mới như: Nửa đêm, Cửa hàng họ Lâm, Tằm mùa xuân …có chiều rộng xã hội và chiều sâu tư tưởng hơn trước .

Ông còn viết về Lỗ Tấn, về văn học Nga Xô viết và tiếp tục bàn về xây dựng văn học Trung quốc mới …

Giảng dạy ở Học viện nghệ thuật Lỗ Tấn, ông viết tản văn Nói chuyện phong cảnh Ca ngợi bạch dương - một loại văn  thú vị  như tùy bút . Cuối năm 1948 ông đến vùng giải phóng , từ đó hoạt động chính trị, làm cống tác lí luận văn nghệ, hướng dẫn nhà văn trẻ. Mao Thuẫn là người lính già trên mặt trận văn nghệ mới, có nhiều cống hiến cho Lê Nin vận dụng vào Trung quốc .

Ông lại làm chủ bút tờ Dân quốc nhật báo. Tháng 4 năm 1927 tưởng Giới Thiệu đại diện tư sản và địa chủ ra mặt chống lại cách mạng tại Thượng Hải. Phong trào CM suy yếu khiến ông dao động. Ông rời khỏi lí luận chuyển sang sáng tác, tinh thần khủng hoảng bộc lộ trong bộ ba tiểu thuyết Thực (mục ruỗng) viết từ 1927-1928. Thực gồm ba tập liên hoàn : Vỡ mộng, Dao động Tìm kiếm viết về hiện thực và những thanh niên trí thức tiểu tư sản trước và sau đại cách mạng (Ngũ tứ và Ngũ tạp). Trong Vỡ mộng, cô Chương Tỉnh gia đình khá giả  được nuông chiều mơ mộng thiếu dũng khí… cố quyết tâm đi Vũ Hán trung tâm cách mạng. Vỡ mộng trong sự nghiệp khi thấy những tiêu cực mâu thuẫn trong CM là mâu thuẫn phổ biến không thể giải quyết. Cô tìm lánh vào tình yêu và cũng vỡ mộng. Trong Dao động, anh Phương La Lan phụ trách đáng bộ Quốc dân đảng trong liên minh cách mạng, dao đông thỏa hiệp nên đã tiếp dầu cho ngọn lửa phản cách mạng. Anh biết rõ tội ác tên Hồ Quốc Quang kẻ cơ hội luồn lách vào hàng ngũ nhưng không dám vạch mặt y, sợ cả lực lượng quần chúng. Anh rời bỏ cách mạng. Tập ba: Tìm kiếm. Các nhân vật  Trương Man Thanh, Vương Trọng Chiêu đều bế tắc, Chương Thu Liễu tự kết liễu đời  mình và còn hại lây người khác bằng đắm say trụy lạc .

Tiểu thuyết Hồng năm 1929 sự bi quan mờ nhạt dần với nhân vật Mai Hàng Tố . Sau khi đi Nhật về 1930 ông viết các tác phẩm mới như Lộ, Tam sự nghiệp sáng tạo văn nghệ cách mạng .

³

5.3. BA KIM

 

巴金Ba Jin (1904-)

Ba Kim tên thật là Lý Phất Cam sinh năm 1904 trong gia đình địa chủ quan lại ở Thành Ðô, Tứ Xuyên. Năm 1923 rời gia đình đi học ở Thượng Hải, Nam Kinh .Ðầu năm 1927 anh đi Pháp, tiếp xúc những tư trào xã hội rộng rãi, nhất là phong trào dân chủ do đại cách mạng tư sản Pháp để lại. Ông từng nói “tất cả chúng ta là con đẻ của Ðại cách mạng Pháp”. Ông còn chịu ảnh hưởng của một số đảng viên Ðảng hư vô nước Nga . Những dấu ấn ảnh hưởng ấy còn lưu lại trong tác phẩm của ông.

Ngay từ năm 1927 ông bắt đầu sáng tác ở Pháp. Những tác phẩm đầu tay  bộc lộ tâm trạng bồn chồn áy náy: Diệt vong, Cuộc sống mới, Bộ ba tình yêu …viết về hoạt động của nhóm thanh niên Trung quốc, họ dũng cảm đấu tranh chống quân phiệt theo đuổi tương lai tươi sáng và dám hy sinh, hướng về nhiệm vụ chống đế quốc và phong kiến. Họ coi thủ đoạn khủng bố cá nhân là chính. Tác giả không phê phán sai lầm đó của họ.

Sống ở một khu mỏ, hai năm sau Ba Kim viết hai tác phẩm Manh nhaTuyết , mố tả khát vọng mãnh liệt của công nhân mỏ và tinh thần đoàn kết đấu tranh của họ .Tác phẩm tiêu biểu của ông là bộ ba Dòng Xoáy (tên chung của ba tác phẩm liên tục) bao gồm: Gia đình, Mùa xuân Mùa thu . Bộ ba  miêu tả sự suy tàn và phân hóa của một gia đình phong kiến lớn qua đó thể hiện chế độ phong kiến Trung Hoa tan rã và sự lan tỏa bắt rễ của phong trào và tư tưởng cách mạng. Gia đình là tập đạt chất lượng vượt trội, hay hơn cả :

Bối cảnh là Cách mạng Ngũ Tứ lan tỏa đến Thành Ðô tỉnh Tứ Xuyên và gia đình họ Cao – một gia đình hiển hách quyền thế vốn dòng thi hương, thi lễ ngày càng đen tối , hoang dâm vô sỉ hủ bại. Họ cố gắng giữ gìn cho khỏi tan vỡ, thậm chí hy sinh cả lớp trẻ gây ra những thảm kịch. Cái chết uất ức của Mai, số phận bi thảm của Thụy Giác, Minh Phượng trẫm mình, Uyển Nhi bị ép duyên và nhiều cô gái bất hạnh khác… Nhân vật Giác Tuệ biểu hiện nhiệt tình giác ngộ của tuổi trẻ trỗi dậy. Anh kiên quyết chống lại “chủ nghĩa bất đề kháng” và triết lí “chắp tay lạy” của anh cả Giác Tân .

Trong Lời Tựa  của tập “Chìm đắm”, Ba Kim nói tác phẩm của ông đều được “viết trong tâm trạng căm phẫn”. Lỗ Tấn từng ca ngợi “Ba Kim là nhà văn nhiệt tình, có tư tưởng tiến bộ, là một trong số ít nhà văn tốt có thể đếm trên đầu ngón tay”. Trong hơn 20 năm sáng tác trước khi nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa ra đời, Ba Kim đẽ viết trên bốn triệu chữ, có ảnh hưởng quốc tế rộng rãi. Ba Kim còn dịch rất nhiều, trong đó có những tác phẩm nổi tiếng của Turgueniev nhà văn Nga. Tạp chí Văn học tùng san do ông chủ biên đã xuất bản nhiều tác phẩm ưu tú có cả những tác phẩm đầu tay của nhà văn trẻ. Ba Kim đã đóng góp tích cực cho nền văn học hiện đại Trung Quốc.

 

5.2 LÃO XÁ 老舍 (1899-1936) Lǎo Shè

Sinh năm 1899 tên thật Thư Khánh Xuân, tự Xá Dư người Bắc Kinh, dân tộc Mãn  Châu  xuất thân nghèo khổ, quen sống trong dân nghèo thành thị. Ông căm ghét xã hội bất công xấu xa, cảm thông với người cùng khổ. Cuộc CM Ngũ Tứ khiến ông yêu thích văn học, tập viết tiểu thuyết . . . Năm 1924 sang Anh dạy học, ông mới thực sự viết văn. Do nhu cầu học tiếng Anh, Lão Xá đọc khá nhiều tiểu thuyết Anh. Nỗi buồn xa xứ khiến ông nhớ nhà và viết lại chuyện quá khứ thành tập truyện dài Triết lý của lão Trương  , sau đó là Triệu Tử Viết, Nhị Mã. Triết lý của lão Trương miêu tả một tên ác ôn tác quái rẽ duyên cặp thanh niên yêu nhau, khiến kẻ chết kẻ bỏ nhà đi. Nhị Mã tả cảnh ở nước ngoài Hoa kiều bị kỳ thị qua so sánh hai tính cách Trung Hoa và người Anh như những chuyện hài hước.  Ông sáng tác Triệu Tử Viết  trên đề tài sinh viên, giọng trào phúng không thích hợp với sinh viên và phong trào của họ .

Trên đường về nước ghé lại Singapore, ở đây hiểu rõ hơn về thuộc địa của Anh và sự áp bức bóc lột của chúng, kì thị chủng tộc và cảm thấy được phong trào cách mạng trào dâng của phương Ðông. Câu chuyện đồng thoại  Sinh nhật của bé Pha  biểu thị đồng tình với dân tộc bị áp bức. Về nước ông dạy học ở Tế Nam. Tác phẩm mới viết là Hồ Ðại Minh  bản thảo bị cháy trong cuộc chiến Thượng Hải. Lại viết  Miêu thành ký (1932) thất vọng vì việc nước, bộc lộ nhận thức sai lầm về cách mạng và người cách mạng. Ly hôn viết năm 1943 về một đám công chức phản động sống đời tầm thường , lên án bộ máy quan liêu thối nát, tội ác của chế độ đặc vụ . . Sau 1932 ông viết rất nhiều , phong cách thay đổi, đặc biệt Tường tử lạc đà chọn một người phu xe kéo làm nhân vật chính. Ðây là tác phẩm ưu tú của Lão Xá .

Truyện miêu tả chân thực số phận bi thảm của một phu kéo xe Bắc Kinh. Tường tử từ nông thôn ra thành thị, thuê xe để kéo kiếm sống. Rồi anh quyết chí mua một cái xe làm người lao động độc lập. Anh trẻ khỏe cần cù, ba năm lao động cật lực anh đã mua được xe tay. Chỉ được ít hôm xe anh bị bọn quân phiệt cướp, bọn trinh sát tước nốt số tiền còn lại . . Người yêu anh là Hổ Nữu cô gái già con lão Lưu tứ chủ hãng xe (một tình yêu đầy xác thịt và thực dụng) góp tiền cho anh mua cái khác thì lại phải bán để chôn cất chị ta. Anh hoàn toàn tuyệt vọng và suy sụp .

Câu chuyện sinh động, miêu tả cố gắng phi thường của một người chỉ biết bằng sức cố gắng cá nhân để đạt mục đích. Anh bằng lòng với lí tưởng nhỏ hẹp, xa lánh bạn bè cùng cảnh ngộ. Anh là nhân vật thất bại, “con quỷ cùng đường của chủ nghĩa cá nhân ” .

Kháng chiến chống Nhật bùng nổ, Lão Xá tham gia hội văn nghệ, đến Diên An được Chủ tịch Mao, Lưu Thiếu Kỳ quan tâm săn sóc. Ông sáng tác mạnh mẽ nhiều thể loại thơ, kịch nói, truyện,  tạp văn, dân ca  . . .

Tác phẩm của Lão Xá phần nhiều viết về đời sống dân nghèo thành thị, chú ý đến tính phức tạp ly kỳ hấp dẫn của tình tiết và vận dụng khẩu ngữ Bắc kinh tinh xác . Một số tác phẩm của ông chịu ảnh hưởng  tiểu thuyết Anh rõ rệt chủ yếu ở tính hài hóm hỉnh và ngân ngữ thông minh tinh nghịch.Về sau ông cố viết giản dị theo hướng dân tộc hóa. Ðộc giả chính của ông là dân thành thị. Sau khi Tường Tử lạc đà được dịch ra nhiều thứ tiếng, uy tín của ông lên rất cao, góp phần phát huy ảnh hưởng rộng rãi của văn học Trung Quốc.

 

Ba Kim, Lão Xá và Tào Ngu là ba nhà văn do bão táp cách mạng Ngũ Tứ làm chấn động tư tưởng của họ, khiến họ dấn thân vào con đường văn học vào những năm 20 và đến những năm 30 họ đã được hoan nghênh nhiệt liệt. Họ trở thành những nhà văn dân chủ, góp phần đẩy văn học hiện đại tiến lên hướng tới gần nền văn học cách mạng. Sau này họ đều trở thành nhà văn cách mạng sau 1949 khi nước Trung Hoa mới.ra đời.

 

5.3 TÀO NGU

曹禺 Cáo Yú  (1910-)

Tên thật là Vạn Gia Bảo, sinh năm 1910 trong một gia đình quan lại sa sút quê gốc Tiềm Giang tỉnh Hồ Bắc. Ông là nhà văn có thành tựu lớn và có ảnh hưởng rộng rãi , nổi lên từ thời nội chiến cách mạng lần thứ hai. Năm 1934 viết Lôi vũ, 1936 viết Nhật xuất. Cả hai đều phản ánh tình trạng thối nát và tội lỗi của tầng lớp phong kiến tư sản lớp trên ở thành thị. Với tài năng kiệt xuất ông đã miêu tả sâu sắc cảnh sụp đổ tất yếu của chế độ cũ, giáng một đòn nặng vào giai cấp đang suy tàn hấp hối. Nhận định của tác giả cũng chưa đúng đắn do bị hạn chế về lập trường và tư tưởng: “vũ trụ như cái giếng tàn khốc, đã rơi vào đó thì gào khóc bao nhiêu cũng khó thoát khỏi cái hố tối tăm ấy”

Sau Cách mạng 1949, nhà văn Tào Ngu sáng tác theo phong cách hiện thực xã hội chủ nghĩa. Những năm 1980 ông được bầu là chủ tịch Hội Nhà Văn Trung Quốc.

 

Lôi vũ-  bi kịch của Tào Ngu

雷雨   (Lēi Yǔ)

 

HOÀN  CẢNH  SÁNG TÁC

Sau phong trào Cách mạng Ngũ Tứ (4-5-1919) đến trước phong trào Ngũ Tạp    (30-5 -1925), khi thấy g/c công nhân, nông dân liên kết đấu tranh với hội sinh viên do trí thức lãnh đạo,  giai cấp phong kiến và g/c tư sản Trung Quốc non trẻ bị cô lập bèn tìm chỗ dựa ở Nhật, Ðức, Anh và câu kết với nhau bóc lột đàn áp họ. Vở kịch “Lôi vũ”  được sáng tác trong khí thế phục hưng văn học chưa từng có trong 2 thế kỉ qua  đã miêu tả cuộc sống đổ vỡ hủ bại của một gia đình địa chủ tư sản hóa xoay quanh những bi kịch tình yêu. Phong trào văn học thúc đẩy phong trào cách mạng chính trị, bãi khóa, bãi thị, bãi côngmà công đầu là của phong trào sinh viên học sinh Bắc Kinh.

Cuộc Cách mạng Ngũ Tứ gắn với sự chống lại Hòa ước Versailles và Hội nghị Washington.

Ðầu thế chiến I, Nhật về phe Ðồng Minh, chiếm Giao Châu, tô giới của Ðức, mà Ðức sắp thua (Ðức Áo Ý chống với Nga Anh Pháp Mỹ sau thêm Nhật, Trung Hoa) . Hai chính phủ Bắc kinh  (của Viên Thế Khải) và chính  phủ Quảng Châu (của Tôn Văn) đều đi dự Hội với hy vọng đòi họ trả tô giới Ðức cho Trung Hoa. Nhưng thất vọng, họ ủng hộ quân phiệt Nhật giữ đất với lí do  Viên thế Khải đã ký với Nhật. Dân Trung Hoa phẫn nộ, 3000 HSSV Bắc Kinh biểu tình đòi chính phủ  trừng trị ba tên kí  hiệp ước bán nước với Nhật, đòi hủy bỏ 21 điều ước khiến Trung Hoa thành thuộc địa của Nhật. Bị khủng bố, SVHS bãi khóa, kéo theo giới công thương bãi thị, thợ thuyền bãi công. Chính phủ nhượng bộ, bãi chức ba tên bán nước. Chính phủ phản đối hội nghị Washington 9 nước họp (1921-22), đòi trả tô giới, đòi Nhật phải rút quân về nước. Hội nghị  tán thành. Công lao ấy trước hết thuộc về SVHS .

Cuộc Ngũ Táp vận động 30 tháng 5 năm 1925 (sà/ táp là 30). Một người thợ ở xưởng dệt Thượng Hải bị nhân viên Nhật bắn chết. Lễ truy điệu và biểu tình chống Nhật trong khu vực tô giới Anh, bị cảnh sát Anh bắn: 12 chết 17 bị thương. Dân chúng phẫn nộ, khắp Hong kong tẩy chay hàng Nhật và Anh, trong đó Đảng cộng sản Trung Quốc góp phần chỉ đạo, kéo dài 1 năm rưỡi, gây chấn động thế giới, tê liệt kinh doanh Anh ở Hoa Nam và Hong kong. Chiến hạm Anh Pháp Nhật Bồ lại bắn vào biểu tình tẩy chay hàng ngoại. Dân chúng càng sục sôi .Phong trào cộng sản mạnh dần lên. Tôn Văn lấy lại ưu thế, chuẩn bị bắc phạt (chính phủ ngụy Viên Thế Khải và đám cận thần thay thế khi y chết). Ông Tôn Văn ảo tưởng khi muốn liên kết với Nhật. Chính phủ Bắc kinh đổ, họ mời ông về nhận chức, ông về Bắc Kinh, chưa kịp thì ngã bệnh mất, kịp để lại di chúc .

Trên đây là bối cảnh khiến cho giới văn nghệ sĩ mang trong lòng khí thế hừng hực sục sôi của nhân dân Trung Quốc chống cả phong kiến Trung Hoa lẫn quân phiệt Nhật và các tư bản phương Tây. Trong phong trào đấu tranh của dân tộc và khí thế văn học ấy,  nhà văn Tào Ngu đã sáng tác vở kịch bất hủ Lôi vũ  xong năm 1934, hai năm sau viết tiếp vở Nhật xuất (Mặt trời mọc).

 

NHÂN VẬT

Chu Phác Viên – chủ vùng mỏ , chủ biệt thự

Chu Bình           – con trai CPV ( mẹ là Mai Thị Bình )

Phồn Y              – vợ sau của CPV

Chu Sung          – con trai của CPV và Phồn Y

Mai Thị Bình     – vợ cũ của CPV

Lỗ Quý              – chồng của MTB , đầy tớ nhà họ Chu

Lỗ Tứ Phượng   – con gái của MTB và LQ,  đầy tớ nhà họ Chu

Lỗ Ðại Hải       – con trai của MTB và CPV,  công nhân mỏ

 

BỐI  CẢNH  TRUYỆN KỊCH  (không gian và thời gian)

Hiện tại: tỉnh Cáp Nhĩ Tân, miền Bắc, biệt thự họ Chu ở cách vùng mỏ mấy giờ xe lửa. Câu chuyện xảy ra trong khoảng từ buổi sáng đến 2 giờ  sáng hôm sau,  phần lớn  tại biệt thự  họ Chu và một cảnh ngôi nhà Lỗ Quý (gần đó – một lúc đi bộ)  xen kẽ những đoạn hồi tưởng về quá khứ  30 năm trước ở Giang Tô .

Quá khứ: hồi tưởng (không gian bậc 2 thể hiện qua lời thoại của nhân vật) : huyện Vô Tích  (quê gốc của họ Chu)  và huyện Tế Nam (quê gốc của họ Lỗ) thuộc  tỉnh Giang Tô, miền Nam.

 

CỐT TRUYỆN

Màn 1  (phòng khách biệt thự họ Chu, buổi chiều, khí trời oi bức ngột ngạt báo hiệu sắp có giông bão ) .

Phồn Y mở tung cửa sổ phòng khách. Lão Chu về nhà, la rày vợ, sai người đóng hết cửa sổ. Lão nhắc cô vợ trẻ uống thuốc tâm thần do bác sĩ người Ðức cấp. Phồn Y phản đối. Chu Bình đang chuẩn bị hành lí để sớm mai đón xe lửa lên mỏ tập sự quản lí thay cha. Phồn Y với tình cảm tha thiết thương yêu năn nỉ mong Bình ở lại. Bình kiên quyết chối từ, khuyên dì ghẻ hãy quên và chấm dứt mối tình dan díu tội lỗi với anh thời gian qua . . . Phồn Y sai lão đầy tớ Lỗ Quý đi gọi vợ y – bà Mai Thị Bình – tới gặp nàng . Lỗ Quý kiếm chuyện đòi xin tiền bà chủ. Y gọi con gái là Lỗ Tứ Phượng, dọa mách mẹ Phượng chuyện cô đang yêu Chu Bình, đòi con đưa cho lão ít tiền hối lộ để uống rượu. Y lại kể chuyện Chu Bình dan díu với dì ghẻ để cản ngăn con đừng yêu Bình . . . Nhưng thiếu nữ Phượng đang yêu, không tin cha .

Màn 2 (phòng khách biệt thự họ Chu…)

Thị Bình, một thợ mỏ lam lũ, ngơ ngác vào phòng khách chờ gặp bà chủ của chồng con. Ngạc nhiên nhìn thấy một căn phòng, tấm ảnh của mình hồi trẻ và  những đồ đạc quen thuộc, Tbị Bình sửng sốt, rồi nhìn thấy lão Chu đi ra, bà bàng hoàng nhận ra người tình – người chồng cũ. Giây phút nhìn nhau, lặng lẽ. Lão Chu trấn tĩnh, hỏi thăm Thị Bình. Hai người chuyện trò ngượng ngập, Thị Bình hỏi về Chu Bình. Lão Chu hứa cho bà gặp nhưng không được nhận con, lão nói vì Chu Bình được biết mẹ đã chết đuối ở dòng sông quê nhà Vô Tích khi anh còn nhỏ (ba mươi năm về trước) – bây giờ nói ra chẳng ích gì. Lỗ Ðại Hải đại diện công đoàn mỏ xông vào biệt thự họ Chu  để phản đối chủ sa thải thợ. Xung đột, lão Chu định bắn anh, bà Bình bảo vệ con, can ngăn. Chu Bình chạy ra, hai người cãi lộn mà không biết họ là anh em cùng cha cùng mẹ. Hải nghe mẹ bỏ đi (qua lời thoại: 30 năm trước, khi bị nhà chồng xỉ nhục đuổi đi, bà Bình đã bỏ lại Chu Bình, nhảy xuống sông tự vẫn mang theo cái thai Lỗ Ðại Hải. Sau được cha Lỗ Quý cứu vớt, Tbị Bình lấy Lỗ Quý đền ơn, Hải mang họ cha dượng). Bà Bình đau đớn xót xa  lặng ngắm đứa con xa cách 30 năm. Còn lại hai người, lão Chu đưa cho Thị Bình một số tiền bảo ra về. Bà cay đắng từ chối. Phồn Y khuyên bà đem con gái  (Phượng) về nhà, nói khích về việc Phượng và Bình yêu nhau để xỉ nhục thân phận đầy tớ. Bà Bình tự ái nổi giận hứa đem Phượng về, Phồn Y cho tiền, bà lại chối từ. Thị Bình gặp Phượng, giận dữ bắt cô bỏ việc về nhà ngay. Phượng van xin mẹ. Chu Sung thầm yêu Phượng, năn nỉ xin nàng ở lại.

Màn 3  (cảnh nhà Lỗ Quý)

Trời tối, mưa gió mỗi  lúc  càng lớn, Chu Sung tìm đến nhà Phượng. Lỗ Ðại Hải giận dữ mắng đuổi con trai của lão Chu. Chàng trai hiền lành đành phải quay về nhà. Chu Bình lại đến, anh trèo qua cửa sổ vào buồng riêng của Phượng. Hai người đang tâm sự, Hải nhảy vào đuổi đánh Bình, anh chay ra cửa sổ nhưng cửa sổ đã bị ai cài chặt bên ngoài. Bình và Phượng thú nhận yêu nhau và hứa thành thực. Hải  nguôi giận, tin tưởng em, thôi không đuổi Bình. Bình hứa sau khi lên mỏ, sẽ đón Phượng theo cùng. Bình ra về. Bà Bình bắt Phượng phải thề độc dưới cơn bão táp sấm sét sẽ cắt đứt với Chu Bình. Khóc lóc, thương mẹ, Phượng cất lời thề. Nửa đêm, Phượng bỏ nhà ra đi trong cơn mưa bão .

Màn 4  (biệt thự họ Chu)

Chu Bình quay về biệt thự, Phồn Y lại năn nỉ anh đừng bỏ đi và Bình biết Phồn Y đã theo dõi anh tới nhà Phượng, lại gài cửa sổ bên ngoài khiến anh bị Hải bắt giữ lại. Nổi giận, anh xỉ mắng dì ghẻ thậm tệ .

Chu Sung buồn bã về nhà, Phồn Y khuyên con muốn giữ được Phượng thì cần phải tuyên bố với mọi người rằng hai người yêu nhau, đã “ăn ở” với nhau.

Phượng trốn nhà đến ở biệt thự họ Chu tìm Bình, hai người ở phòng Bình, nàng đòi chàng đưa đi luôn cùng chuyến xe lửa sớm hôm sau .

Hai mẹ con bà Bình đội mưa gió  đến biệt thự tìm Phượng. Bà bắt  con về, hai người quỳ van xin mẹ và thú nhận Phượng đã có thai với Chu Bình. Bà đau đớn nhục nhã tột cùng, tha thứ  nhưng bắt hai con phải thề sẽ đi ngay, đi xa không bao giờ trở về gặp lại mẹ nữa. Ðôi trẻ chiều ý mẹ, quỳ lạy sống và thề …

Họ chuẩn bị đi, nhưng Phồn Y dẫn Chu Sung bước ra ngăn lại. Chu Sung không dám làm theo mẹ, anh buồn rầu chúc Phượng hạnh phúc. Cô bị mẹ xỉ mắng xối xả . Phồn Y xỉ mắng Chu Bình là kẻ bạc tình ! Sung đau đớn, ê chề, kêu gào. Phồn Y quay sang gọi lão Chu xuống cản ngăn. Lão Chu buộc lòng bảo Chu Bình ra nhận mẹ ruột. Bình kinh hoàng, đau đớn, Phượng hoảng hốt, nhục nhã, bỏ chạy ra ngoài trời mưa gió, Sung chạy theo. Phượng vướng vào sợi dây điện đứt từ sáng chưa ai nối, chết ngay, Sung kéo nàng ra, chết theo. Chu Bình chạy về phòng riêng, lát sau một tiếng súng vang lên. Lão Chu lảo đảo, lê bước về phòng. Lại một tiếng súng nổ. Trên sân khấu chỉ còn hai người đàn bà tê tái sững sờ  trong đớn đau ân hận, tuyệt vọng .

Lôi Vũ đã khái quát lịch sử sa đọa ba mươi năm của một gia đình phong kiến đang chuyển biến tư sản hóa hủ bại không lối thoát .

 

CÂU HỎI THẢO LUẬN

            1) Vì sao sau 30 năm thương nhớ vợ cũ chết thảm, nay gặp lại Thị Bình, lão Chu chỉ thoáng xúc động, rồi mau chóng trấn tĩnh, rồi lạnh nhạt, cho tiền mà không tìm cách nối lại tình xưa ? (gợi ý :  lúc này lão có thừa thế lực và mọi điều kiện để làm việc đó / vấn đề pháp lí và  đạo đức có mâu thuẫn gì không nếu lão Chu muốn đoàn tụ với ngưới vợ chính thức đầu tiên ? ). Hành động cho tiền có ý nghĩa gì ?

2)  Phân tích ý nghĩa của hai chi tiết sau :

* Lão Chu thích đóng chặt cửa sổ, còn Phồn Y lúc nào cũng đòi mở tung ra. Cửa sổ có ý nghĩa tượng trưng gì ?

* Sợi dây diện đứt ngoài vườn  gây ra cái chết của Phượng và Sung có ý nghĩa gì ?

3)  Ai là nhân vật bi kịch, còn ai là nạn nhân bi kịch ? (gợi ý: Hành động chính là gì ? Ai thực hiện hành động ấy thì người đó là nhân vật chính)

4) Vai trò của nhân vật Lỗ Ðại Hải ?

5)      Lôi Vũ là “trò chơi quái ác của định mệnh” (sự rủi ro) hay là bi kịch tình yêu, bi kịch xã hội Trung Hoa trong buổi giao thời phong kiến đang tư sản hóa ?

 

³


 CHƯƠNG 6.  Nữ sĩ Băng Tâm và tập thơ Phồn tinh

Hầu như chúng ta ít biết đến cái tên Băng Tâm cho tới sau thời điểm Đổi mới. Ngay ở Trung Quốc theo quan điểm chính thống, giới nghiên cứu văn học chỉ đề cao các nhà văn cách mạng, cộng sản. Bảng xếp hạng văn nghệ sĩ của Trung Quốc thời trước Đổi mới được xếp theo đẳng cấp chính trị, ngoại trừ Lỗ Tấn là ngoại cỡ vì sự nghiệp văn chương sáng chói vượt hơn mọi tiêu chuẩn đương thời. Nhà văn Băng Tâm chỉ được coi là “nhân sĩ yêu nước” nên cũng chưa được đánh giá nghiêm túc.

Cuối thế kỉ XX, người đọc Trung Quốc lại chú ‎ ý tới những cây bút mới mẻ như Vương Mông, Giả Bình Ao, Mạc Ngôn, Trương Hiền Lượng, Phùng Kí Tài…Trong khi đó ở Trung Quốc người đọc bắt đầu quay lại với Băng Tâm một tên tuổi vốn đã sáng tác từ những năm 20 đầu thế ki. Băng Tâm đã chọn một bút danh đẹp, giản dị như cuộc đời nữ sĩ, xứng đáng với câu thơ cổ:

“Nhất phiến băng tâm tại ngọc hồ”

(Tâm hồn như mảnh băng tuyết chứa trong bình ngọc)

(thơ Vương Xương Linh, bài “Tại Phù Dung lâu tống Tân Tiệm”).

Cuộc đời và sự nghiệp

Băng Tâm (1900-1999) là nhà văn cận đại kiệt xuất của Trung Quốc, nhà yêu nước trung thành, nhà họat động xã hội trứ danh.

Bà tên thực Tạ Uyển Oánh quê quán xứ Trường Lạc, Phúc Châu, tỉnh Phúc Kiến, sinh ngày 5 tháng 10 năm 1900 trong một gia đình quan chức hải quân có tư tưởng Duy tân. Phụ thân cô tham gia trận hải chiến Giáp Ngọ, sau giữ chức khai biện hải quân học giáo bính xuất- tức giáo trưởng- ở Yên Đài tỉnh Sơn Đông.

Bốn tuổi Băng Tâm theo gia đình dời về Yên Đài, Sơn Đông, ven bờ biển rộng. Trong thời gian học tập ở gia đình, Băng Tâm đã tiếp xúc với các tác phẩm cổ điển trứ danh, 7 tuổi đọc các tác phẩm như Tam quốc diễn nghĩa, Thủy hử truyện. Cách mạng Tân Hợi bùng nổ, cô trở lại Phúc Châu, năm 1912 dự thi vô khoa dự bị Trường sư phạm nữ Phúc Châu.

Năm 1913 chuyển về Bắc Kinh, học trung học. Cô chịu ảnh hưởng Cơ đốc giáo và gia nhập tôn giáo này, Năm 1918 đăng ký học khoa dự bị Đại học nữ Hiệp Hòa, Băng Tâm muốn làm một y sinh góp phần giảm bớt tổn thương của con người.

Cuộc vận động Ngũ Tứ bùng nổ (4.5.1919) và phong trào vận động Tân văn hóa phát khởi Băng Tâm toàn tâm toàn trí gia nhập vào trào lưu thời đại, cuốn mình vào công việc văn thư của Hội sinh viên đại học, tập trung sức tham gia công tác tuyên truyền của Hội liên hiệp sinh viên đại học Bắc Kinh. Với sự kích thích của cuộc Đại hội học sinh sinh viên toàn quốc, cũng vào tháng 8, 9 năm 1919, cô công bố trên tờ “Thần báo”(Tin tức buổi sáng) thiên tản văn đầu tiên “Cảm tưởng hai mươi mốt ngày nghe hiểu” và đoản thiên tiểu thuyết đầu tiên “Hai gia đình”. Từ đây về sau cô dùng bút danh “Băng Tâm”.

Từ sau cao trào“Ngũ Tứ”, Băng Tâm chùn bước, lánh vào cái gia đình nhỏ hẹp, miêu tả những cảm xúc bất mãn trong cái xã hội có giai cấp, đi vào trăn trở tình yêu nhân loại (Băng Tâm tiểu thuyết, tản văn tuyển tập, lời Tựa tự viết).

Tác phẩm “Tư nhân độc tiều tụy”(Riêng người ấy tiều tụy) là tác phẩm tâm đắc của Băng Tâm, thể hiện nhận thức đầy đủ “vấn đề tiểu thuyết” là vấn đề nóng hổi đương thời. Cô phản ánh cái gia đình phong kiến đang làm suy đồi nữ tính, đối diện với thế giới trong tình trạng hỗn chiến quân phiệt mang lại bao nỗi thống khổ cho nhân dân. Tiểu thuyết “Thu phong thu vũ sầu sát nhân” (Gió mưa mùa thu sầu chết người) có lẽ lấy ý một bài Từ trong tiểu thuyết Hồng Lâu Mộng, “Khứ quốc” (Rời nước ra đi), “Trang Hồng đích tỷ tỷ” (Chị gái của Trang Hồng)

Năm 1921, gia nhập Hội nghiên cứu văn học, sáng tác của Băng Tâm thiên về  tình mẹ con và miêu tả những vẻ đẹp thiên nhiên ban sơ…Cô yêu thích và chịu ảnh hưởng “Phi điểu tập” (A flight of swan: Những cánh thiên nga) của R.Tagore. Cô viết đoản thi trên “Thần báo”, cột ‘Tân văn nghệ’, sau kết thành tập “Phồn tinh” (Sao dày đặc) gồm 164 bài và “Xuân thủy”(Nước mùa xuân) gồm 211 bài, xuất bản năm 1923. Các bài thơ chỉ ghi theo số thứ tự, không đặt tựa. Hai tập thơ này tiêu biểu cho thời kỳ đầu Thơ Mới có tính khơi động gọi là trào lưu viết “tiểu thi”. Khi Đại học nữ Hiệp Hòa sáp nhập với Đại học Yên Kinh cô sáng tác theo ngọn cờ “vị nhân sinh” như dòng suối nguồn tuôn chảy, bày tỏ tinh thần sáng tạo trong tiểu thuyết “Siêu nhân” được giới bình luận trọng thị. Năm 1922, công bố tập tản văn “Vãng sự” (Chuyện đã qua). Từ hai mươi tuổi, bút danh Băng Tâm đã quen thuộc trên văn đàn Trung Quốc.

Tháng 8 năm 1923, cô đạt được học bổng khen thưởng về thành tích hạng ưu tại Wellesley College, một đại học nữ ở Hoa Kỳ, theo học ngành văn học Anh. Suốt thời gian lưu học, cô liên tục viết một loại tản văn thông tấn và trở thành cây bút tản văn cho thiếu nhi sớm nhất Trung Quốc.. Thời gian này viết các tác phẩm tiêu biểu như “Ngộ”, “Ký tiểu độc giả” (Gửi độc giả nhỏ)…Năm 1926 thành đạt sự học ở nước ngoài, cô nhận được học vị thạc sĩ văn học. Trở về nước, dạy ở các Đại học.Tiểu thuyết tiêu biểu có “Phân” năm 1931, tản văn ưu tú là “Nam quy” năm 1931. Năm 1934, tiểu thuyết “Đông Nhi cô nương” biểu hiện triết lý tình yêu (Ái đích triết học) mang tính đột phá sâu sắc.

Năm 1936, Băng Tâm theo chồng là Ngô Văn Tảo một nhà xã hội học đi Âu Mỹ du học một năm, Họ thực hiện các cuộc thăm viếng rộng rãi trước sau ở các nước như Nhật Bản, Hoa Kỳ, Pháp, Anh, Ý, Đức và Liên Xô.

Năm 1938, bà cùng chồng mang con đi kháng chiến chống Nhật.. Băng Tâm đã đến trình diện Giản Dịch sư phạm học hiệu nhận nghĩa vụ giảng dạy, cùng với  cộng đồng dân tộc trải qua bao khốn khổ gian nan của chiến tranh…Năm 1940 di cư đến Trùng Khánh, bà trở thành thành viên Quốc dân tham chính hội. Không lâu sau, tham gia Hiệp hội văn nghệ Trung Hoa kháng địch, nhiệt tâm  tham gia hoạt động văn hoá cứu nước, Băng Tâm vẫn viết được “Quan vu nữ nhân” (Về người phụ nữ), “Tái ký tiểu độc giả” (Lại gửi bạn đọc nhỏ) và những thiên tản văn có ảnh hưởng rộng…

Sau kháng chiến thắng lợi, tháng 11 năm 1946, bà cùng Ngô Văn Tảo đi Nhật Bản, lưu lại Đông Phương học hội Nhật Bản và khoa Văn Đại học Tokyo, bà được coi là  nữ giáo sư thỉnh giảng đầu tiên nơi đây giảng dạy giáo trình “Trung – Nhật tân văn học”..

Khi nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa thành lập. Bà viết văn ca tụng đất nước, ca ngợi sinh hoạt mới của nhân dân trong nhiều tác phẩm.

Từ 1954 bà viết tiểu thuyết“Siêu nhân”, “Phiền muộn” với cảm hứng triết lý tình yêu. Năm 1960, giữ chức phó chủ tịch Hội liên hiệp nhà văn TQ (Trung Quốc văn liên hội). Bà nói: “Chúng ta lúc này không có mùa đông”, “chúng ta đã thức dậy rồi”. Bà cần cù dịch thuật, xuất bản nhiều loại tác phẩm. Bà dịch nhiều tản văn và tiểu thuyết, hợp thành các tập như “Tiểu kết đăng”(Cây đèn trái quất nhỏ), “Anh nữ tán” (Ngợi ca hoa anh đào), “Thập tuệ tiểu trát” (Ghi chép đi nhặt lúa)  chất văn tao nhã mới mẻ làm ngạc nhiên độc giả, được lưu truyền rộng rãi.

Trong cuộc “đại cách mạng văn hóa vô sản”, Băng Tâm chịu đựng sự đả kích gay gắt, gia sản bị tịch thu, cuộc sống khắc nghiệt gọi là “bị đưa vào chuồng bò”. Bà chịu đựng sự phê đấu của bọn “tạo phản”. Đầu năm 1970, thượng thọ 70 tuổi bà bị điều đi lăn lộn thực tế ở tỉnh Hồ Bắc, cam chịu ngủ ở chuồng ngựa, tiếp thụ lao động cải tạo, cho đến 1971 tổng thống Hoa Kỳ Nixon sắp sang thăm Trung Hoa, Băng Tâm cùng Ngô Văn Tảo mới được trở lại Bắc Kinh nhận nhiệm vụ làm phiên dịch. Bà lại cùng với Ngô Văn Tảo và Phí Hiểu Thông hợp lực phiên dịch bộ sách “Thế giới sử cương” và “Thế giới sử”.

Trong tình trạng chính đảng khủng hoảng, Băng Tâm cùng chịu chung số phận khốn đốn với nhân dân và vẫn trăn trở sáng tác. Suốt 10 năm “Văn cách” động loạn, trải qua bao nhiêu đối đãi bất công nhất, bà vẫn thản nhiên trấn tĩnh nhất mực, tin tưởng chân lý nhất định thắng lợi. Bà thường xuyên đề cao tổ quốc tiến bộ và sinh hoạt nhân dân. Bà đã viết trong tản văn “Ấn tượng thế kỷ”: “Chín mười năm nay…trái tim yêu tổ quốc, lòng yêu nhân dân, ý chí của tôi vĩnh viễn bền chắc như vàng đá”. Thực tiễn chứng minh nữ sĩ Băng Tâm đã trường kỳ giữ quan hệ mật thiết với tổ chức Đảng và chia sẻ những hoạn nạn mà đất nước phải trải qua.

Sau phiên họp toàn thể lần thứ 3 của Đảng cộng sản Trung Quốc khóa 11, đất nước bước sang trang lịch sử mới. Băng Tâm hăng hái bước vào cao trào sáng tác thứ 2 đầy kỳ tích. Không biết đến tuổi già, thủy chung sáng tác, Băng Tâm vẫn giữ chí tiến thủ, vô tư cống hiến với phẩm chất cao thượng của mình.

Tháng 6 năm 1980. Băng Tâm tiên sinh bị chứng ách tắc mạch máu não, sau lại bị gãy xương. Đau bệnh không hề khiến bà ngưng con đường sáng tác. Bà nói một lời bất hủ: “cuộc sống bắt đầu từ năm 80 tuổi”. Năm đó bà sáng tác tập truyện ngắn “Không sào” (Tổ chim trống rỗng) được giải thưởng truyện ngắn xuất sắc toàn quốc. Tiếp theo cho ra đời những kiệt tác tản văn “Vạn ban giai thượng phẩm” (Vạn nghề đều cao quí), “Viễn lai đích hòa thượng” (Hoà thượng từ nơi xa đến).

Về tản văn, không kể “Tam ký tiểu độc giả” (Ba lần viết gửi bạn đọc nhỏ), bà liên tục sáng tác 4 tập “Tưởng đáo tựu tả” (Nghĩ đến là viết), “Ngã đích tự truyện” (Tự truyện của tôi), “Quan vu nam nhân” (Về nam giới), “Phục lịch tạp ký”(Tạp ghi nằm trong chuồng ngựa). Số lượng nhiều, sự phong phú nội dung, phong cách sáng tác độc đáo đã làm cho thành tựu văn học của bà đạt tới một cột mốc (cảnh giới) mới.

Tác phẩm dịch thuật của bà như “Tiên tri”,“Cát và bọt” của  tác giả Kahlil Gibran người Liban, “Cát đàn già lợi” (Gitanjali: Thơ Dâng), “Viên đinh tập” (The Gardener: Người làm vườn) của Rabindranath Tagore và các tuyển tập kịch đa dạng đều được công nhận là những tác phẩm văn học phiên dịch tinh tế. Năm 1995, bà đã được tổng thống nước Cộng hòa Liban trao tặng huân chương Tuyết Tùng.

Giải thưởng văn học thiếu nhi mang tên Băng Tâm đặt ra từ năm 1990.

Nữ sĩ Băng Tâm tạ thế do bệnh tại Bắc Kinh ngày 28.2.1999 hưởng thọ 99 tuổi.

Ảnh hưởng văn chương siêu việt của bà lan khắp thế giới, tác phẩm được phiên dịch thành các văn bản quốc văn, đạt được sự tán thưởng của độc giả hải nội ngoại.



Nhân sinh quan rất sớm hình thành của Băng Tâm là triết lý tình yêu, với ba gốc rễ: mẫu ái, đồng tâm, đại tự nhiên. Thi nhân đã nhập tâm hồn mình vào cái thuyền giấy nhỏ bé với thủ pháp “thác vật ngụ tình”, vừa sinh động cụ thể lại vừa hàm súc thâm trầm. Ngữ điệu thơ thong thả phóng túng. Một bài thơ cảm động ấm áp của người con gái đi xa mẹ.(Thơ cổ điển chưa dành chỗ cho đứa con gái xa nhà và tình mẫu tử, ngoại trừ bài “Du tử ngâm”của Mạnh Giao thời Đường nói nỗi lòng đứa con trai xa mẹ).

           Ta đọc bài 159 (Phồn tinh) dễ thấy ngay chủ đề “Mẫu ái”.

Phiên âm Hán Việt

Mẫu thân nha

Thiên thượng đích phong vũ lai liễu,

Điểu nhi đóa đáo tha đích sào lý.

Tâm trung đích phong vũ lai liễu

Ngã chỉ đóa đáo nhĩ đích hoài lý.

 Dịch nghĩa

Mẫu thân ơi

Mưa gió trên trời ập đến,

con chim nhỏ ẩn náu trong tổ khác

Mưa gió trong tim con ập tới,

 con chỉ biết ẩn náu trong nỗi nhớ mẹ

Bài thơ số 33 (tập Xuân thủy)

Tường giác đích hoa

Nhĩ cô phương tự thưởng thì

Thiên địa tiện tiểu liễu

Dịch nghĩa

Hoa nở góc tường

tự biết mình thanh cao.

Thiên địa như nhỏ lại

Hoa sinh trưởng tại góc tường, thiếu ánh sáng mặt trời và mưa móc ẩm mát,  bởi vậy sức sống thiếu thốn, đóa hoa héo vàng và nhỏ bé. Vậy mà một sáng kia bông hoa vẫn tự cho mình là thanh cao. Bông hoa không coi mình nhỏ bé, nó hoàn toàn phủ trùm thiên địa bao la…Thi nhân ngâm vịnh về hoa thảo, ví von chuyện con người. Bông hoa mọc ở góc tường muốn cảnh báo những kẻ hãnh tiến kiêu ngạo hư vô không ít trên đời này. Toàn bài chỉ có ba câu 15 từ ngắn ngủi nhưng hàm súc, dễ ngâm nga, như một haiku Trung Quốc

Ta đọc thử một bài  thơ số 104 (tập Xuân thủy)

Con cá nổi lên rồi,

trên mặt nước một con trùng nhỏ bơi lờ đờ.

Trong giây phút sinh tử của mạng sống nhỏ bé này,

Trái tim yếu đuối của ta

bỗng nhiên run rẩy

Băng Tâm là người đồng hành cùng thế kỷ XX, suốt đời sống chung với sự biến động của thế kỷ, theo mỗi bước đi của lịch sử hiện đại, kiên trì suốt 75 năm cầm bút. Bà là bậc nguyên lão của trào lưu vận động nền văn học mới. Lịch trình sáng tác của bà biểu thị quĩ tích phát triển từ văn học “Ngũ Tứ vận động” đến văn học đương đại Trung Quốc.

Bà là tiểu thuyết gia tiên phong trứ danh của Trung Quốc hiện đại, tản văn gia, thi nhân, đệ nhất tác gia văn học nhi đồng và phiên dịch gia nổi tiếng.

Bà đã khai sáng một kiểu văn học đa dạng gọi là “Băng Tâm thể”, góp phần hiện đại hóa văn học, phản ánh một thực tiễn dày đặc biến cố của đất nước. Tài năng đa dạng của Băng Tâm bộc lộ do yêu cầu của thời đại là phản ánh trực tiếp thời đại với ý thức viết văn “vị nhân sinh”.

Băng Tâm từng viết tập tản văn mang tựa đề “Tưởng đáo tựu tả” (Nghĩ đến là viết). Rõ ràng nhà văn Băng Tâm ý thức rất mạnh về vai trò thư ký thời đại, coi đó là điều kiện tiên quyết của người cầm bút…

Nghệ thuật Băng Tâm- Hài hòa truyền thống và hiện đại hóa

Tản văn

冰心的散文,题材广泛,寓意深邃。 Tản văn bao gồm nhiều tiểu luận vừa hiện thực vừa trữ tình sâu sắc. 她通过自身经历的细腻描写,生动而形象地反映了一个世纪来,中国动荡复杂的社会生活的某些侧面。 Bà vận dụng kinh nghiệm riêng của mình, thông qua sự mô tả tinh vi, sống động và phản ánh hình ảnh của một thế kỷ sôi động “bãi bể nương dâu”, một xã hội phức tạp lo âu trong vô vàn khía cạnh của cuộc sống. 在她的散文里,我们可以看到在半殖民地半封建的旧中国,帝国主义、封建主义、官僚买办阶级压迫蹂躏中国人民的惨景,以及英雄人民、爱国青年奋起反抗,英勇斗争的画面。Tản văn Băng Tâm kết hợp miêu tả hiện thực và cảm xúc thơ hòa hợp nhuần nhuyễn.

Tiểu thuyết

Truyện ngắn và truyện vừa Băng Tâm không tả trực tiếp các vấn đề lớn lao, gay cấn mà chỉ xoay quanh nhân vật trung tâm là người phụ nữ với số phận hèn kém, bất hạnh đối mặt với thực tế đen tối nhưng đều có ý nghĩa phản phong sâu sắc. Do đáp ứng cuộc sống sôi động, bà không viết tiểu thuyết sử thi, nhưng hiện thực đời thường trong truyện Băng Tâm vẫn mang dấu ấn thời đại. Bà coi trọng thủ pháp “sáng tạo không khí tiểu thuyết”. Giọng văn của Băng Tâm thanh nhã, đậm đà âm hưởng triết lý nhân ái.

Truyền thống văn xuôi Trung Quốc là văn chương hiện thực lấn át văn chương lãng mạn. Bà viết nhiều đoản thiên tiểu thuyết theo truyền thống, cảm thấy chưa đủ, lại viết nhiều tản văn cho kịp phổ biến.

Nhìn chung tản văn và tiểu thuyết viết theo phong cách mới châu Âu, không còn chương hồi, không điển tích điển cố, biền ngẫu, chú trọng tâm lí

Thi ca

Tiếp nối truyền thống thi ca cổ điển, coi trọng tả cảnh “thác vật ngụ tình”, Băng Tâm nâng cao lên thành cảm thức đại tự nhiên. Thiên nhiên trong thơ cổ điển là thiên nhiên được chọn lọc theo quan niệm thẩm mỹ trung cổ, còn với Băng Tâm thiên nhiên là tất cả, không chọn lựa phân biệt đẳng cấp. Xuất phát từ triết lý “đại tự nhiên”(như quan niệm hiện đại ngày nay là “đại môi trường sinh thái toàn cầu”), thơ Băng Tâm viết từ ngọn cỏ đến mây trời…Tuy nhiên Băng Tâm có một  thiên nhiên tâm đắc riêng mình là “biển cả” vốn thiếu vắng trong thơ cổ điển (thi nhân cổ điển thường chỉ hứng thú với núi non, sơn thủy lâm tuyền, lữ quán, chốn tịch liêu…). Khác với thơ cổ điển đề cao thi ca với cảm hứng “nam nhi đại trượng phu”, Băng Tâm viết nhiều về tâm tình nhi nữ, tiêu biểu là cảm hứng“mẫu ái”. Và rất khác với thi ca cổ điển không quan tâm tới trẻ con thì Băng Tâm viết rất nhiều bài về nhi đồng.

Hầu như Băng Tâm không viết bài thơ nào theo luật thi cổ điển, trái lại tất cả là thơ tự do, trong đó phổ biến là “tam tuyệt” (chắc hẳn có ảnh hưởng haiku Nhật Bản).

Thi ca Băng Tâm chịu ảnh hưởng thi hào Tagore cánh cửa giao thoa sớm nhất với nghệ thuật phương Tây về hình thức thi văn và tư duy nghệ thuật. Ý thức nữ quyền nổi bật lên sau cách mạng, khát vọng vượt thoát khỏi truyền thống phong kiến, hướng tới cuộc sống mới, Thơ Mới của Băng Tâm bứt hẳn khỏi thi pháp trung đại, phóng khoáng, cởi mở, dân chủ…Trường thẩm mỹ nghệ thuật văn chương khai mở phía trời Tây, qua con đường Nhật Bản, Ấn Độ, Anh  Mỹ…cuối cùng trở lại với truyền thống hiện thực và nhân đạo của văn chương truyền thống Trung Hoa.

Băng Tâm tự đánh giá thơ mình là “Linh toái đích tư tưởng” (tư tưởng nhỏ lẻ vụn vặt).Trên thực tế, nhà văn không nhất thiết cứ phải đưa ra tư tưởng “lớn”. Trong hơn năm vạn bài thơ Đường Tống có được mấy bài chứa đựng tư tưởng lớn?. Băng Tâm là cây bút  văn chương chứa đựng “tư tưởng nhỏ lẻ” mà vẫn đáp ứng nhu cầu giãi bày và được ngâm ngợi thích thú.

Đó là những đổi mới cơ bản dễ nhận thấy nhất của thi ca Băng Tâm trong công cuộc hiện đại hoá ảnh hưởng Phương Tây.

Trong các giáo trình văn học Trung Quốc hiện đại đã dịch ở Việt Nam (gần đây nhất là bộ sách của Đường Thao và Nghiêm Gia Viêm, bản dịch của nhóm Lê Huy Tiêu, Nxb Giáo dục 2002) chưa thấy một dòng nào dành cho Băng Tâm, quả là thiếu sót lớn của một thời. Hi vọng cây bút Băng Tâm sẽ được bổ sung vào các giáo trình Ngữ văn Trung Quốc.

Sáng tác

  1. “Phồn tinh” thi tập, Thường Vụ xuất bản, 1923

  2. “Xuân thủy” thi tập, Tân Trào xã xuất bản, 1923

  3. “Siêu nhân” tiểu thuyết, tản văn hợp tập, Thường Vụ xuất bản, 1923,

  4. “Ký tiểu độc giả” (Gửi bạn đọc nhỏ), tản văn tập, Bắc Tân xb, 1926

  5. “Vãng sự”, tiểu thuyết, tản văn, Khai Minh xb, 1930,

  6. “Nam quy” (Trở về Nam) tập tản văn, Bắc Tân xb, 1931,

  7. “Cô cô” (Người cô ruột), tập tiểu thuyết, Bắc Tân xb, 1932,

  8. “Băng Tâm toàn tập quyển 1- tiểu thuyết”, Bắc Tân xb, 1933

  9. Băng Tâm toàn tập quyển 2- thi tập”, Bắc Tân xb, 1932,

  10. “Băng Tâm toàn tập quyển 3- tập tản văn”, Bắc Tân xb, 1932,

  11. “Nhàn tình”, thơ, tản văn tập,  Bắc Tân xb, 1922,

  12. “Khứ quốc” (Rời bỏ nước) tiểu thuyết, Bắc Tân xb, 1933,

  13. “Bình Tuy duyên tuyến lữ hành ký”(Ký sự du lịch dọc theo xứ Bình Tuy), tản văn, Cục quản lý đường sắt Bình Tuy xb, 1935,

  14. “Đông Nhi cô nương” tiểu thuyết, Bắc Tân xb, 1935,

  15. “Băng Tâm trứ tác quyển 1- tiểu thuyết ”, Bắc Tân xb, 1943,

  16. “Băng Tâm trứ tác quyển 2- tản văn”,  Khai Minh xb, 1943,

  17. Băng Tâm trứ tác quyển 3- thi tập”, Khai Minh xb, 1943,

  18. “Quan vu nữ nhân” (Về người phụ nữ) tản văn, Thiên Địa xb, 1943,

  19. “Băng Tân tiểu thuyết, tản văn tuyển tập”, Nhân văn xb, 1954,

  20. “Đào Kỳ đích thử kỳ nhật ký”(Nhật ký mùa hè của Đào Kỳ), tiểu thuyết,

  21. Thượng Hải Thiếu Nhi xb, 1956,

  22. “Hoàn hương tạp ký” (Ký sự trở về quê) tản văn,Thượng Hải thiếu nhi xb, 1957,

  23. “Quy lai dĩ hậu” (Sau khi trở về), tản văn, Tác gia xb, 1958,

  24. “Ngã môn bả xuân thiên sảo tỉnh liễu”(Chúng tôi nắm lấy trời xuân bừng thức dậy),

  25. tập tản văn, Bách Hoa xb, 1960

  26. “Tiểu kết đăng” (Cây đèn trái quất nhỏ), Nhi đồng văn học tập, Tác gia xb, 1960,

  27. “Anh hoa tán”(Ngợi ca hoa anh đào) tản văn, Bách Hoa xb, 1962,

  28. “Thập tuệ tiểu trát” (Ghi chép đi nhặt lúa), tản văn, Tác gia xb, 1964,

  29. “Vãn tình tập” (Tình muộn), tản văn, tiểu thuyết hợp tập,  Bách Hoa xb, 1980,

  30. “Tam ký tiểu độc giả” tản văn,  Thiếu Nhi xb, 1981,

  31. “Ký sự châu”, bàn về sáng tác,  Nhân  văn xb, 1982,

  32. “Băng Tâm luận sáng tác”, Thượng Hải nghệ thuật xb, 1982,

  33. “Băng Tâm tác phẩm tuyển”, Thiếu Nhi xb, 1982,

  34. “Băng Tâm tản văn tập”, Nhân văn xb, 1986,

  35. “Băng Tâm tuyển tập, (tập 1-2)”,  Tứ Xuyên nhân dân  xb, 1983,

  36. “Băng Tâm văn tập (tập 1-3)”, Thượng Hải nghệ thuật xb, 1983,

  37. “Băng Tâm toàn tập (tập 1-8)”, Hải Hiệp nghệ thuật xb, 1994.

Dịch tác

  1. “Tản văn, thi tập”, “Tiên tri” của Kahlil Gibran người Liban, Tân Nguyệt xb, 1931, Nhân dân văn học xuất bản xã, 1957.

  2. “Ấn Độ đồng thoại tập” (Thơ thiếu nhi) của Mulk Raj Anand,  Thượng Hải thiếu niên nhi đồng xuất bản xã, 1955 .

  3. “Cát đàn già lợi”(Gitanjali – Thơ Dâng) của R.Tagore, Trung Thanh xb, 1955, Nhân dân văn học xuất bản xã tái bản, 1983.

  4. “Ấn Độ dân gian cố sự”, Mulk Raj Anand, Thượng Hải thiếu nhi xb, 1955

  5. “R.Tagore kịch tác tuyển”, Nhân dân văn học xuất bản xã, 1958  .

  6. “Viên đinh tập” (The Gardener), R.Tagore,  Nhân dân văn học xuất bản xã, 1961.

  7. “R.Tagore thi tuyển tập”, cùng Thạch Chân hợp dịch,

  8. Nhân dân văn học xuất bản xã, 1958 .

  9. “Thi tuyển”, hợp dịch,  Nhân dân văn học xuất bản xã, 1980 .

  10. R.Tagore trữ tình thi tuyển”,  Hương Cảng vạn lý thư điếm, 1959.

  11. “R.Tagore kịch tác tập”, Trung Quốc hí kịch xuất bản xã, 1959 .

  12. “R.Tagore tiểu thuyết tuyển”, hợp dịch, Quí Châu nhân dân xuất bản xã, 1981

  13. “R.Tagore thi tuyển” (Gitanjali, The Gardener), Hồ Nam nhân dân xuất bản xã, 1982.

  14. “Tuyển tập thơ Mahendra”, Mahendra (quốc vương Nepal), Băng Tâm hợp dịch với

  15. Tôn  Dụng, Tác gia xuất bản xã, 1966.

  16. “Nhiên đăng giả” thi tập, Anton Buttigieg, nước Cộng hòa Malta, Nhân dân văn học

xuất bản xã,1981.

 


CHƯƠNG 7. TIỂU THUYẾT ĐƯƠNG ĐẠI

 

 

8.1. Một số chủ đề truyện ngắn

 

Trong sự phục hưng và phát triển của văn học trong thời kì mới, trước hết phải nói đến thể loại truyện ngắn. Thể loại văn học này có thành tựu chói sáng từ trước và sau “Ngũ tứ” (1919) mà đỉnh cao là những kiệt tác bất hủ của đại văn hào Lỗ Tấn. Có thể nói truyện ngắn Lỗ Tấn mà tiêu biểu là AQ chính truyện, Lễ cầu phúc, Khổng Ất Kỷ, Nhật kí người điên, Cố hương là những “phát đại bác” ầm vang mở dầu cho nền văn học hiện đại cách mạng Trung Quốc. Trong văn học thời kì mới truyện ngắn là thể loại văn học “anh hùng”, “thủ công”. Nó là những “quả lựu đạn”, những “quả bộc phá” làm nổ tung ngục tù chính trị và văn nghệ đen tối mười năm “cách mạng văn hoá” của tập đoàn Lâm Bưu, Giang Thanh và “Bè lũ bốn tên”, mở ra một con đường mới cho văn học hiện thực chủ nghĩa Trung Quốc phát triển trong thời kì cải cách, mở cửa.

Nữ văn sĩ Vương An Ức, chủ tịch hội nhà văn Thượng Hải, sau khi đọc những tiểu thuyết hay và truyện ngắn hay nhất của các năm gần đây đã nhận xét:

Cái mà tôi gọi là da thịt của cuộc sống trong các thiên truyện kia ngày một rắn chắc hơn. Chúng tựa hồ như bước ra khỏi quan niệm phức tạp. dị kì của những năm 1990, từ trong định nghĩa hư không mà tiến vào thế giới trải nghiệm vô danh mà sinh khí bừng bừng. Tiểu thuyết Trung Quốc đã sống bao nhiêu năm, đã có bao nhiêu người cầm bút mà vẫn cứ xuất hiện bao nhiêu sáng tạo mới mẻ, bởi vì những kinh qua của cá nhân đã không hề trùng lặp. Nó là một loại vật chất không có cách gì để quy nạp, trừu tượng hoá, cái này là cái này, cái kia là cái kia, là thực thể sống sinh tồn và phát triển theo lí do riêng lẻ. Xã hội đang trong đà vươn tới hiện đại, dầu vậy vẫn có nhiều cách giải thích khác nhau nếu xuất phát từ các góc độ khác nhau và tiểu thuyết của chúng ta đã phản ánh xu thế đó. (Thái Nguyễn Bạch Liên, 2003)

Những hình tượng nhân vật trong văn học đương đại rất đa dạng và đặc sắc. Đó là một giáo viên mẫu mực với lí tưởng cao đẹp của sứ mệnh giáo dục thế hệ trẻ,  đó là một người nghệ sĩ hết lòng vì nghệ thuật và trân trọng cái đẹp đúng nghĩa, đó có thể là một người nông dân thật thà chất phác sống chí tình chí nghĩa, hay đó chỉ là một ông lão bơ vơ lạc lõng giữa chốn đô thị xa hoa hiện đại… Chúng ta nhận thấy rằng những hình tượng nhân vật này được khắc hoạ một cách chân thực độc đáo. Họ đã nhân danh cho tình người thiêng liêng và bao la để làm đẹp cuộc đời và làm đẹp lòng người. Họ đã làm sáng thêm ngọn lửa nhân văn cao đẹp và giữ cho nó sáng mãi theo thời gian.

Từ những điều trên, chúng tôi cảm nhận rằng tìm hiểu hình tượng nhân vật trong các tác phẩm đương đại Trung Quốc mà cụ thể là hình tượng nhân vật trí thức, hình tượng nhân vật nông dân và hình tượng nhân vật lao động khác là một vấn đề rất thú vị.

Nghiên cứu ở nước ngoài

Những nghiên cứu về Văn học Trung Quốc đương đại của các tác giả người Trung Quốc. Đó là “Đương đại Trung Quốc văn học” của Diêu Đại Lương chủ biên (1993) và “Hai mươi năm văn học thời kì mới” của Vương Thiết Tiên, Dương Kiếm Long, Vương Khắc Cường, Mã Di Lỗ, Lưu Đỉnh Sinh (2001). Cả hai đều nghiên cứu về tình hình văn học đương đại Trung Quốc với sự “nở rộ” và “cách tân đổi mới” của các thể loại văn học ở phương diện cả nghệ thuật lẫn nội dung. Họ khẳng định những thành tựu cũng như tiềm lực của văn học thời khì mới. Và cả hai sự nghiên cứu này đều quan tâm nhiều đến tiểu thuyết, tản văn và thơ ca mà chưa chú ý nhiều đến truyện ngắn.

 

MỘT SỐ NỘI DUNG TIÊU BIỂU TRONG TRUYỆN NGẮN ĐƯƠNG ĐẠI

 

Thứ nhất, đó là lên án những “vết thương” do ảnh hưởng của “Bè lũ bốn tên”, đề cập đến hoàn cảnh giáo dục và những quan niệm mới về con người. Tiểu biểu cho nội dung này là truyện Chủ nhiệm lớp của Lưu Tâm Vũ. Truyện nói lên sự ảnh hưởng dai dẳng của độc tố mà “Bè lũ bốn tên” đã gieo vào tâm trí của thế hệ trẻ làm họ suy nghĩ lệch lạc và thậm chí tha hoá, đồng thời truyện cũng đề cao trách nhiệm của nhà giáo dục trong việc cải tạo tâm hồn, thanh lọc trí óc cho lớp thanh niên lệch lạc ấy bằng một trách nhiệm lớn lao và tấm lòng cao cả. Hay đó là truyện Vết thương của Lưu Tân Hoa, truyện đã nêu bật lên sự ảnh hưởng nặng nề và sự phân biệt nghiệt ngã mà con người đã chịu từ nọc độc do “Bè lũ bốn tên” để lại. Họ không thể chối bỏ quá khứ, bị cho là phản bội (dù là nhiệm vụ hay bị hiểu lầm đi chăng nữa) và phải chịu sự khinh rẻ, đề phòng của mọi người. Hay đó là truyện Bảo vệ anh đào của Cừu Sơn Sơn nói về tấm lòng hi sinh cho sự nghiệp giáo dục, tất cả vì học sinh thân yêu, quyết không để sự bất công, dốt nát ảnh hưởng đến thế hệ sau. Hay đó là sự chiêm nghiệm về cuộc sống của nhà văn nặng nghiệp văn chương, muốn hết lòng thực hiện lý tưởng nhưng những quan niệm lỗi thời đã kìm hãm không cho những khát vọng nghệ thuật bay cao bay xa. Nhưng chung nhất vẫn là sự ý thức mạnh mẽ trách nhiệm của bản thân cùng lòng yêu nước thiết tha, muốn dùng hết sức lực và tài năng phục vụ tổ quốc, xây dựng quê hương ngày càng giàu đẹp.

Thứ hai, đó là những truyện viết về những mối quan hệ của xã hội, cộng đồng, vấn đề cải tạo những mối quan hệ ấy theo chiều hướng tốt đẹp, làm ngời sáng tình người với nhau. Đồng thời cũng nêu lên được những giá trị truyền thống tốt đẹp cần phải được gìn giữ. Những truyện Chim phóng sinh của Hoàng Mỹ Hoa, Lá thư tình của Cố Công, Kính của Giả Bình Ao là những suy ngẫm, trăn trở về giá trị truyền thống ngày càng bị mai một trong xã hội ngày nay. Sự phóng túng của lớn thanh niên, thói đạo đức giả tạo được che đậy đến nực cười hay sự lạc lõng của lớp người đi trước giữa cảnh xa hoa dị thường của lối sống hiện đại hoá điện cuồng đã làm cho người đọc phải gấp trang sách lại để suy gẫm. Đó như những tiếng chuông cảnh tỉnh con người hãy quay về cội nguồn để gìn giữ những giá trị tốt đẹp vốn có. Những truyện như Đinh hương tháng Mười của Vương Tùng, Song cầm tế của Lương Hiểu Thanh, Lá phong của Vương Mông thì cũng những vấn đề trên nhưng các tác giả đề cập đến có phần thẳng thiết và da diết hơn bằng những triết lí sâu sắc lay động lòng người, kết hợp với bút pháp tượng trưng đầy ý nghĩa biểu cảm. Đề tài những người nông dân cũng được đề cập đến một cách chân thật và đầy ý nghĩa giáo dục, sự cảm phục cùng lòng yêu quí đã trở thành điểm nhấn cho những tác phẩm này. Chúng ta như được hiểu thêm về đời sống cơ cực của những người nông dân, hơn thế nữa còn thấy được ở họ vẻ đẹp tâm hồn đáng trân trọng. Những truyện ngắn về người nông dân của Giả Bình Ao là những truyện như thế. Hắc Thị, Thiên Cẩu, Triền núi hẹp đều là những thiên truyện cảm động về những người lao động thật thà, mộc mạc nhưng thanh cao thuần khiết. Trên nền phong cảnh hùng vĩ của núi non hay bạt ngàn của đồng lúa xanh mơn mởn, chân dung của những người lao động vẫn hiện lên sừng sừng và tỏa sáng nơi tâm hồn trong trẻo, cao đẹp, soi rọi cho những ước mơ cháy bỏng, khát vọng tự do, được là chính mình, sống bằng năng lực và tình yêu của bản thân mình.

Thứ ba là những truyện có nội dung phản ánh cuộc sống và sự khát khao tình cảm của con người thời hiện đại. Đây là những câu truyện nhẹ nhàng, trầm lắng và sâu sắc. Những câu chuyện rất đỗi đời thường, xảy ra hằng ngày trong đời sống. Đó là truyện Nhà văn và thiếu nữ của Triệu Quảng Tồn, Chào em, Tiểu Mai của Vương Quân, San San và Sa Sa của Nhiêu Kiến Trung, Đoá hồng cuối cùng của Từ Tuệ Phấn, những câu chuyện tưởng chừng bình thường nhưng đó lại hiện thực của cuộc sống mà hằng ngày chúng ta vô tình hay hữu ý đã bỏ quên mất. Những cảm xúc bình thường nhất cũng tạo nên những vẻ đẹp tự nhiên nhất. Những câu chuyện trên như những bài tình ca êm đềm, thơ mộng tạo sự đồng cảm với người đọc. Thêm vào mảng nội dung này còn có những câu truyện về những thân phận của tình yêu. Họ yêu nhau thật lòng nhưng vì nhiều lý do, mà áp đảo nhất là sự môn đăng hộ đối – sự phân biệt nghiệt ngã giữa giàu và nghèo làm cho tình yêu của họ thật buồn và đầy bi kịch. Tiêu biểu cho những mối tình ngang trái ấy là truyện Hai vé xem phim của Khuyết Danh, Chuông gió của Lưu Quốc Phương. Nếu ở trên là những bản tình ca sâu lắng, lãng mạn của những chuyện hằng ngày trong cuộc sống bộn bề này thì các thiên truyện ở dưới như những khoảng lặng buồn của bản tình ca trắc trở phân li làm cho chúng ta không khỏi bồi hồi xúc động. Còn truyện Thời đại ảo của Ngô Huyền như một tiếng chuông gióng lên cảnh báo con người trong thời đại khoa học kỹ thuật. Khi mà máy móc dần thay thế con người thì sự ảo ảnh mộng mị của thế giới ảo sẽ làm con người ta xa rời cuộc sống, biến ta thành môn đồ sùng tín đến mê muội không tìm ra lối thoát. Chính vì thế ngày nay tâm thế và phương châm sống của con người đã phần nào bị “ảo hoá”. Trong cuộc sống, con người không thể chỉ chạy theo ảo tưởng mà quên đi hiện thực, phải biết chọn lọc những tác động để không bị sa vào thời đại ảo một cách mù quáng, tỉnh táo và ý thức là luôn luôn cần thiết và con người càng ngày càng phải thận trọng với những phát minh của mình.

Trên đây là những nội dung tiêu biểu của một số truyện ngắn đương đại Trung Quốc. Vì tư liệu quá đồ sộ nên chúng tôi chỉ đi vào một số truyện tiêu biểu. Nhưng thiết nghĩ qua những thiên truyện này chúng ta phần nào thấy được xã hội Trung Quốc đương thời về bối cảnh cuộc sống cũng như tâm tư tình cảm của con người Trung Quốc hiện nay.

 

Sơ lược chủ đề và tác phẩm

 

Nhóm chủ đề 1

”Vết thương’ do ảnh hưởng của 10 năm “Văn cách động loạn”. hoàn cảnh giáo dục và quan niệm mới về con người.

Chủ nhiệm lớp của nhà văn Tâm Vũ, Bảo vệ anh đào của Cừu Sơn Sơn, Vết thương của Lưu Tân Hoa

Nhóm này chủ yếu miêu tả hình tượng nhân vật trí thức.

 

Nhóm chủ đề 2

Quan hệ xã hội cộng đồng phức tạp với những giá trị truyền thống tốt đẹp cần gìn giữ

Song cầm tế của Lương Hiểu Thanh, Lá phong của Vương Mông, Chim phóng sinh của Hoàng Mỹ Hoa, Đinh hương tháng mười của Vương Tùng, Lá thư tình của Cố Công, Triền núi hẹp, Kính , Thiên cẩu của Giả Bình Ao

Nhóm này miêu tả hình tượng nhân vật nông dân.

 

 

Nhóm chủ đề 3

Cuộc sống khao khát tình cảm của con người hiện đại

 

Nhà văn và thiếu nữ (Triệu Quảng Tồn), Chào em Tiểu Mai của Vương Quân, Hai vé xem phim của Khuyết danh, Chuông gió của lưu Quốc Phong, San San và Sa sa của Nhiêu Kiến Trung.

Nhóm này miêu tả hình tượng nhân vật một số kiểu người lao động thảo dân khác.

 

(Trích Khóa luận tốt nghiệp của SV Huỳnh Phương Đan khóa 6C do GVC.THS Phùng Hoài Ngọc hướng dẫn)

 

 

8.2. Tiểu thuyết thời kỳ đổi mới và nhà văn Mạc Ngôn

 

Theo sự thống kê chưa đầy đủ, chỉ tính riêng năm 1978 đã xuất bản được hơn 55 bộ tiểu thuyết, năm 1979 tăng lên 61 bộ và năm 1980 tăng lên 90 bộ. Từ năm 1980 đến năm 1982 bình quân mỗi năm có hơn 200 bộ tiểu thuyết được xuất bản. Mười bảy năm trước “Cách mạng văn hóa” đỉnh cao của sáng tác tiểu thuyết là năm 1959, năm thứ 10 của Trung Hoa mới ra đời (1949) cũng chỉ có 32 bộ. Điều này chứng tỏ thể loại tiểu thuyết của thời kì mới gặt hái nhiều kết quả rực rỡ. Không chỉ trên số lượng mà chất lượng của tiểu thuyết trong thời kì này cũng được nâng lên chưa từng thấy. Chất lượng của tiểu thuyết trong thời kì mới được thể hiện ở hai bình diện nghệ thuật và tư tưởng.

Mở rộng phạm vi đề tài:

Tiểu thuyết của “17 năm” (1949-1966) trước “Cách mạng văn hóa” thường viết về lịch sử cách mạng, chủ yếu tập trung miêu tả phong trào cách mạng quần chúng trong cuộc đấu tranh chống Quốc dân đảng, cuộc đấu tranh giải phóng chống xâm lược Nhật và cuộc đấu tranh phản phong của nhân dân Trung Quốc do Đảng Cộng sản lãnh đạo.

Dưới ngòi bút của nhà văn, phong trào cách mạng sau cách mang Tân Hợi (1911) đến khi thành lập Đảng Cộng sản Trung Quốc (1921) kéo dài thời kì đổi mới mở cửa đều được miêu tả chân thực, sống động và đầy kịch tính. Đó là sự phản kháng anh dũng và sự đàn áp tàn bạo, cuộc kình chống kịch liệt giữa các lực lượng chính phủ và các giai cấp; sự tranh giành quyền lực của chủ thể Trung Quốc; ghi chép lại những trang lịch sử quan trọng trong lịch sử phát triển của Trung Quốc; các tác phẩm dựa trên những bình diện khác nhau biểu hiện con đường trưởng thành của phần tử trí thức tiến bộ phản kháng lại sự gian ác, xấu xa để đi tìm chân lí và ánh sáng; lột tả một cách hình tượng vận mệnh bi thảm của người phụ nữ trong thời đại cũ và con đường sống mới của họ.

Tăng cường tình cảm lịch sử và tình cảm thời đại:

Tiểu thuyết miêu tả lịch sử cách mạng trong “mười bảy năm” (mười bảy năm trước “Cách mạng văn hóa”) coi trọng ở việc theo đuổi tình tiết câu chuyện và sắc thái truyền kì, còn rất nhiều tiểu thuyết thời kì mới viết về lịch sử cách mạng thì coi trọng việc bộc lộ hoàn cảnh, phản ánh sự thay đổi, cuộc sống rộng lớn, đặc trưng bàn chất của thời đại và sự phát triển lịch sử. Thể hiện sự phát triển và bộ mặt thời đại của thời kì cách mạng dân chủ cũ Trung Quốc từ cách mạng Tân Hợi đến trước cuộc chiến tranh Bắc phạt, miêu tả sinh hoạt xã hội rộng lớn của thời đại đó: cuộc chiến tranh quân phiệt gay gắt; sự gian khổ của phần tử nhân sĩ trí thức; sự tha hóa của con người trong thời đại mới; những góc khuất của lịch sử cùng với sự chìm nổi của thân phận nhỏ bé.

Sự xuất hiện nhiều tác phẩm văn học có tính “sử truyện”:

Tiểu thuyết có tính “sử truyện” là một thành tựu quan trọng của sáng tác tiểu thuyết thời cổ đại. Trong tiểu thuyết của thời kì “mười bảy năm”, loại tác phẩm này rất ít. Trong thời kì mới, sự “đứt đoạn” của “dòng chảy” này lại được tiếp tục và càng “chảy” mạnh hơn. Chỉ mấy năm ngắn ngủi, tác phẩm mang tính “sử truyện” xuất hiện không ít.  Những tác phẩm này không những tái hiện lại bộ mặt tinh thần của một số nhân vật mà còn lưu lại rất nhiều sử liệu có liên quan đến những mặt chính trị, quân sự và văn hóa của thời đại đó.Sự đột phá của tiểu thuyết lịch sử đã dành được thu hoạch to lớn mà văn học thời kì mới đã đem đến cho độc giả.

 

Trong tiểu thuyết của thời kì “mười bảy năm”, ngay cả thời “Ngũ tứ”, tiểu thuyết lịch sử của Trung Quốc là vùng trống vắng trong sáng tác hiện đại. Nguyên nhân chủ yếu là do sự can thiệp của tư trào “tả” làm cho đề tài lịch sử trở thành “vùng cấm” không có ai dám vi phạm. Trong văn học thời kì Đổi mới tình hình này có sự đổi khác. “Vùng cấm” được xóa bỏ, không còn ranh giới, không còn cấm kị. Tiểu thuyết lịch sử đã dám đột phá vào thể loại này, viết nên nhiều tác phẩm mang nhiều tính sử thi, “sử truyện”, tiêu biểu như “ Báu vật của đời” của Mạc Ngôn, được độc giả đón nhận nồng nhiệt.

 

Tiểu thuyết mang tính sử truyện trong thời kì mới có mấy đặc điểm sau đây:

Phản ánh đời sống lịch sử rộng lớn mà sâu sắc.

Có thể nói, những tác phẩm này đã phản ánh lịch sử lâu dài cuộc sống xã hội phức tạp và phong phú của xã hội phong kiến Trung Quốc, đến cuộc cách mạng Tân Hợi và kéo dài đến cả những năm Trung Quốc bước vào cải cách mở cửa. Những tác phẩm này không những chú ý dùng hình tượng sáng tạo trên cơ sở sử liệu tương đối chính xác, phản ánh sự chân thật của phong trào lịch sử mà còn chú ý tái hiện bộ mặt chân thực của thời đại. Tất cả đều không hạn chế ở việc miêu tả sự nghiệp và tinh thần của nhân vật chính mà từ bối cảnh thời đại rộng lớn để miêu tả nhân vật, miêu tả thời đại.

 Đa dạng hóa đề tài lịch sử.

Tiểu thuyết lịch sử của thời kì mới về phương diện đề tài có sự đột phá và mở rộng hơn trước rất nhiều.

Vấn đề mấu chốt của sáng tác tiểu thuyết là xử lí như thế nào về mối quan hệ giữa chân thật lịch sử và hư cấu nghệ thuật. Vấn đề này, do quan niệm văn học của các tác giả không giống nhau nên trên biểu hiện nghệ thuật cũng khác nhau. Tuy vậy, đại thể có mấy con đường sau đây:

•           Loại thứ nhất là: lấy tài liệu lịch sử làm căn cứ đối chiếu với tình tiết câu chuyện và tính cách của số nhân vật nào đó và nhất định phải hư cấu.

•           Loại thứ hai: cũng là lấy tài liệu lịch sử làm căn cứ nhưng tình tiết câu chuyện có sự hư cấu.

•           Loại thứ ba là: tôn trọng sự thực lịch sử, yếu tố hư cấu rất ít, tức là kiểu “bác khảo văn hiến, ngôn tất hữu cứ” (uyên bác ở việc tham khảo văn hiến, lời nói tất đều có căn cứ). Ở đây không có sự phân biệt phải trái, cao thấp. Bởi vì tiểu thuyết lịch sử không phải là sách sử đơn thuần mà là tác phẩm văn học lấy sử liệu làm căn cứ sáng tác.

Tiểu thuyết của thời kì mới còn xuất hiện tác phẩm phản ánh cuộc sống của nước Trung Hoa mới.

 

Các tác phẩm miêu tả “cuộc đại cách mạng văn hóa” là một lĩnh vực hoàn toàn mới, mở ra một đề tài của tiểu thuyết thời kì mới. Không chỉ viết về “cách mạng văn hóa” mà đối với lịch sử cũng có sự tìm tòi, suy nghĩ làm cho độc giả tiếp nhận một cách tích cực. Những tác phẩm này có đề tài mới, chủ đề mới và quan trọng hơn là sự lí giải, nắm vững, đề xuất và biểu hiện của tác giả đối với cuộc sống cũng là mới. loại tác phẩm này mang đến dòng máu mới để mọi người đi vào thời kì mới.

 

Có thể rút ra những thành tích đáng chú ý của tiểu thuyết thời kì mới:

-Trước hết, nhiều tác phẩm đã duy trì, ủng hộ và phát huy một số truyền thống ưu tú của sáng tác tiểu thuyết truyền thống. Từ trong dòng chảy mạnh mẻ của đời sống, các tác giả đã chọn lựa chủ đề và đề tài có liên quan mật thiết đến vận mệnh của nhân dân và tình hình của đất nước. Về mặt nghệ thuật, nhiều tác giả đã thể hiện nhiều hình thức thể hiện mới, tỏ rõ phong cách, phong thái của người sáng tác văn học, làm cho mọi người phấn khởi sáng tạo ra cái mới, nhất là việc sáng tạo ra hình tượng nghệ thuật mới. Nhân vật anh hùng mới được xây dựng đep đẽ, sáng tạo và có sức thuyết phục cao.

 

Đề tài của tiểu thuyết thời kì mới tương đối rộng lớn, bao quát có tính khái quát cao. Trong thời kì mới, tầm nhìn của các nhà văn được mở rộng và được giải phóng. Họ một mặt vẫn không từ bỏ việc miêu tả cuộc đấu tranh của giai đoạn cách mạng, mặt khác họ đem tầm nhìn đó đặt vào đời sống với giá trị thẩm mĩ mới.

 

Tiểu thuyết của thời kì mới về mặt phương pháp nghệ thuật cũng dần dần có sự cách tân sáng tạo. Tiết tấu trần thuật, kể chuyện được tăng nhanh; phê phán, trần thuật cũng dần dần đa dạng hóa. Về mặt kết cấu, các nhà văn sử dụng phương pháp “từ đầu, nối đầu, nối tới”, đồng thời xuất hiện phương pháp kết cấu nhiều kiểu, nhiều dạng độc đáo. Về khắc họa tính cách nhân vật, các tác giả đã sử dụng đặc trưng tính cách từ hành động đặc trưng đơn nhất dần dần đi sâu vào miêu tả thế giới nhân vật làm cho thủ pháp miêu tả phong phú, mới mẻ, gây sự hấp dẫn cho người đọc. (PSG.TS Hồ Sĩ Hiệp, 2003)

 

Mạc Ngôn và Báu vật của đời

 

Mạc Ngôn tên thật là Quản Mạc Nghiệp, người huyện Cao Mật, tỉnh Sơn Đông, Trung Quốc. Ông sinh ngày 17 tháng 02 năm 1955, xuất thân trong một gia đình nông dân. Do “Cách mạng văn hóa”, ông phải nghỉ học khi đang học đở tiểu học và phải tham gia lao động nhiều năm ở nông thôn. Trong thời gian đó ông đã làm rất nhiều việc, từng làm công nhân hợp đồng ở nhà máy chế biến bông, có cuộc sống gần gũi với người nông dân.

 

Tháng 02 năm 1976, ông nhập ngũ, từng làm chiến sĩ, rồi tiểu đội trưởng, giáo viên, rồi sau đó chuyển sang làm sáng tác. Năm 1984, trúng tuyển vào khoa Văn thuộc Học viện nghệ thuật Quân Giải phóng và tốt nghiệp năm 1986. Năm 1988, ông lại trúng tuyển lớp nghiên cứu sinh sáng tác thuộc Học viện văn học Lỗ Tấn, trường Đại học Sư phạm Bắc Kinh, năm 1991 tốt nghiệp với học vị thạc sĩ. Hiện nay, ông là sáng tác viên bậc một của Cục Chính trị, Bộ Tổng tham mưu Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc.

 

Từ năm 1980, Mạc Ngôn bắt tay vào sáng tác. Những tác phẩm nổi tiếng của ông có: Gia tộc Hồng Cao Lương (Cao lương đỏ), Báu vật của đời, Đàn hương hình, Tửu quốc, Sống đoạ thác đày,… Ngoài tiểu thuyết ra ông còn viết 24 truyện vừa, trên 60 truyện ngắn và nhiều vở kịch cho sân khấu. Nhà văn Mạc Ngôn từng được thế giới biết đến qua tác phẩm Cao lương đỏ. Bộ phim cùng tên do đạo diễn nổi tiếng Trương Nghệ Mưu chuyển thể từ tác phẩm này đã đoạt giải “Cành cọ vàng” tại Liên hoan phim Canne (Pháp) năm 1994. Mạc Ngôn đã đóng góp cho nền văn học Trung Quốc nhiều tác phẩm có giá trị và được dịch ra nhiều thứ tiếng trên thế giới.

 

Báu vật của đời, nguyên tác: (丰乳肥臀Phong nhũ phì đồn), là một tác phẩm nổi tiếng của nhà văn Mạc Ngôn. Tác phẩm được xuất bản tháng 9 năm 1995 đã trở thành một hiện tượng đặc biệt, tác phẩm đã được trao giải cao nhất của Hội Nhà văn Trung Quốc về truyện trong năm đó.

 

Tiểu thuyết đã cung cấp cho bạn đọc một lượng thông tin lớn, khái quát cả giai đoạn lịch sử hiện đại của Trung Quốc thông qua câu chuyện về các số phận của các thế hệ gia đình nhà Thượng Quan. Bối cảnh chính của câu truyện là vùng Cao Mật, tỉnh Sơn Đông.

 

Báu vật của đời của Mạc Ngôn, một trong những tác phẩm được đánh giá là xuất sắc nhất của văn học Trung Quốc hiện đại.

 

Trong nền văn học đương đại Trung Quốc, Mạc Ngôn cùng với Vương Mông, Giả Bình Ao, Trương Hiền Lượng, Phùng Ký Tài, Lục Văn Phu, Trương Tử Long, Cao Hiểu Thanh, Hàn Thiếu Công… đã trở thành nhà tiểu thuyết có tên tuổi được bạn đọc trong và ngoài nước biết đến.

 

Đề tài truyện của Mạc Ngôn rất rộng. Phản ánh sinh hoạt của quân đội thời hiện đại có Bãi cát đen, Đoạn Thủ,…; miêu tả phong tục tập quán nông thôn có Vết hõm trong dép cỏ, Âm nhạc dân gian...; “Phản tư lịch sử”, suy ngẫm nhân sinh có Dòng sông khô cạn, Củ cà rốt trong suốt, Thu thủy, Làm đường…; phản ánh hiện thực nông thôn, miêu tả sự xung đột giữa ý thức cũ và mới trong công cuộc cải cách có Ánh chớp hình cầu, Bùng nổ, Cây đu chó trắng…; phản ánh cuộc kháng chiến chống quân xâm lược có Gia tộc Cao lương đỏ (gồm 5 truyện: Cao lương đỏ, Rượu cao lương, Nhà quàn cao lương, Cẩu đạo, Da chó), Báu vật của đời (Mông to vú nở), Đàn hương hình

 

Nhiều người gọi những tác phẩm của Mạc Ngôn là tiểu thuyết “cảm giác mới”. Cảm giác mới bắt nguồn từ nhận thức luận của chủ nghĩa biểu hiện và phương pháp biểu hiện tư tưởng của chủ nghĩa đa đa. Tiểu thuyết cảm giác mới đối lập với tiểu thuyết hiện thực truyền thống, nó không đơn thuần miêu tả hiện thực bề ngoài, mà nhấn mạnh cảm thụ trực giác, đưa cảm giác chủ quan vào trong khách thể đặng sáng tạo ra một hiện thực mới mẻ. Tiểu thuyết của Mạc Ngôn chịu ảnh hưởng của trường phái cảm giác mới của chủ nghĩa hiện đại phương Tây và của Nhật Bản những năm 20 – 30. Mạc Ngôn cho rằng trạng thái sáng tác nhẹ nhàng thoải mái, tự do, muốn nói gì thì nói là trạng thái tốt nhất đối với nhà văn. Khi cánh cửa hồi ức được mở ra, ông thường dùng cảm tính để phê phán, bình phẩm cuộc sống chứ không dùng lí tính để phê phán, bình phẩm cuộc sống.

 

Tiểu thuyết của Mạc Ngôn không còn là cốt truyện hoàn chỉnh như tiểu thuyết truyền thống mà nó chỉ còn là “cái khung truyện” mà thôi. Nhưng trong cái khung truyện ấy chứa đầy cảm giác, đó là linh hồn của tiểu thuyết Mạc Ngôn. Ông có biệt tài nắm bắt cảm giác. Thế giới cảm giác trong tiểu thuyết Mạc Ngôn mang sắc thái chủ quan mãnh liệt. Đứng trước khách thể, ông “rót” ấn tượng chủ quan của mình vào để tạo ra hiện trạng khác lạ.

 

Dường như khi sáng tác, Mạc Ngôn huy động mọi tế bào của cơ thể để khám phá hiện thực. Dù là một làn gió nhẹ, một nhánh cỏ, một cây cao lương, một giọt nước trong… cũng được tác giả miêu tả có hồn mang đậm chất chủ thể hóa. Bằng bút pháp tả thực kết hợp với bút pháp tượng trưng, biến hình, huyền ảo khoa trương… tác giả đã khiến cho một ánh mắt, một nụ cười, một tiếng thở dài, một cảm xúc nhỏ… cũng trở thành hình ảnh có hương có sắc có mùi có vị. Nhờ có cảm giác mới lạ, làm cho bộ mặt cuộc sống mà tác giả mô tả không còn như nguyên dạng nữa. Tác giả mượn nhân vật trong truyện Hồng hoàng  nói lên ý đồ sáng tác của mình:

 

Sẽ có một ngày tôi soạn một vở kịch chân chính, trong đó mộng ảo và hiện thực, khoa học và đồng thoại, thượng đế và ma quỷ, ái tình và mãi dâm, cao quý và ti tiện, mĩ nữ và đại tiện, quá khứ và hiện tại, huân chương và bao cao su… đều đan xen với nhau, gắn chặt với nhau, cái nọ nối cái kia, tạo thành một thế giới hoàn chỉnh”(Mạc Ngôn và những lời tự bạch, Nguyễn Thị Thại dịch, NXB Văn học, 2004)

 

Thế giới nghệ thuật trong tiểu thuyết của Mạc Ngôn còn chịu ảnh hưởng của học thuyết phân tâm học của Freud (tên đầy đủ là Sigmund Schlomo Freud; (1856 – 1939) là một bác sĩ về thần kinh và tâm lý người Áo. Freud đã được công nhận là người đặt nền móng và phát triển lĩnh vực nghiên cứu về phân tâm học, đồng thời hấp thụ cả thuyết dân tộc học, nhân loại học của Frazer (1854-1941, người Anh). Mạc Ngôn từng nói ông dùng văn học để thể hiện sự tưởng tượng độc đáo. Tiểu thuyết của ông đậm đà màu sắc nguyên sơ, man dại. Những tác phẩm đầu tay như Dòng sông khô cạn, Thu thủy, Âm nhạc dân gian nói nhiều đến bản năng sinh tồn, thể nghiệm nhân sinh mô tả cảnh vật nông thôn cổ xưa qua lăng kính của tuổi thơ. (Lê Huy Tiêu, 2003)

 

Chủ đề trong tiểu thuyết của Mạc Ngôn thường nói về những vấn đề sinh tồn của nhân loại: cái đói, cái rét, tính dục, thù oán, tôn giáo, cái sống cái chết, mê tín dị đoan, chiến tranh…

 

Trong một bài báo viết về ảnh hưởng của G.G Marquez và Faulkner đối với mình, Mạc Ngôn viết: “Trong vũ trụ bao la, vị trí của con người là vô cùng bé nhỏ, lịch sử quá khứ và thế giới hiện tại liên quan mật thiết với nhau, máu của lịch sử lại chảy trong mạch máu của người đương đại” (Mạc Ngôn và những tự bạch, Nguyễn Thị Thại dịch, NXB Văn học, 2004). Dưới ngòi bút của Mạc Ngôn, vừa có sự vạch trần, phê phán thói dâm dục, quan liêu hách dịch của các ông “quan mới” ở nông thôn (Cây tỏi nổi giận), vừa có sự phẫn nộ căm ghét những thói ác của con người (Tội ác, Bỏ con thơ) và có cả hiện tượng sa đọa về luân lí đạo đức cùng sự xót thương sinh mệnh bấp bênh (Ánh chớp hình cầu, Bùng nổ). Mạc Ngôn vừa mô tả sự trỗi dậy của sinh mệnh trước mọi thế lực áp bức, đồng thời cũng chứng minh sự trỗi dậy phản kháng là tốn công vô ích, do đấy tiểu thuyết của ông mang màu sắc bi thương.

 

Nghệ thuật tự sự của tiểu thuyết Mạc Ngôn khá độc đáo. Tiểu thuyết truyền thống thường dùng ngôi thứ ba để thuật chuyện, còn ở tiểu thuyết Mạc Ngôn thường được kể theo ngôi thứ nhất “tôi”. “Tôi” có khi là người, có khi là đồ vật hoặc động vật; có cái “tôi” là hiện thực, có cái “tôi” là sự kết hợp giữa vật và người. Trong Cao lương đỏ, “tôi” kể về câu chuyện của “ông tôi” (Từ Chiếm Ngao), “bà tôi” (Phương Liên), “bố tôi” (Đậu Quan). Trong Báu vật của đời, – một truyện đề cao vai trò của nữ giới – nhân vật “tôi” (đứa con trai thứ chín của Thượng Quan Lỗ thị) cũng dùng con mắt tuổi thơ để nhìn nhận những chuyện của ông bà cha mẹ, anh chị của mình. Ở đây nhân vật “tôi” dường như chỉ là giả thuyết (tuy vẫn có tính cách) nên ta có cảm giác hư hư thực thực. Khi tả thực thì “tôi” là hiện hữu, khi truyền kì biến hình “tôi” là lãng mạn.

 

Người kể chuyện trong tiểu thuyết truyền thống là đứng ở góc nhìn biết tất cả, tầm nhìn không bị hạn chế, còn người kể chuyện theo ngôi thứ ba của Mạc Ngôn có tầm nhìn hạn chế, sự hiểu biết của người kể chuyện ít hơn của nhân vật. Người kể chuyện “bé” hơn nhân vật, không phải cái gì anh ta cũng biết. Nhờ có góc nhìn tự thuật đa dạng, luôn thay đổi đã tạo ra hiệu quả nghệ thuật: tác giả cố ý bảo lưu một số bí mật, gợi lên trí tò mò của độc giả.

 

Do điểm nhìn tự thuật luôn biến hóa, nên kết cấu truyện của Mạc Ngôn cũng xuất hiện một hình thức tương xứng mới mẻ về không gian và thời gian. Dựa vào sự tưởng tượng như “quỉ nhập tràng”, “Con ma cắm móng tay vào vỏ cây hòe không rút ra được, gà gáy là biến thành xác chết” (Báu vật của đời, tr. 381) ranh giới thời gian và không gian, lịch sử và hiện tại, vật lí và tâm lí trở nên mơ hồ. Nghệ thuật xử lí không gian và thời gian trong tiểu thuyết của Mạc Ngôn giống như trong phim của trường phái hiện đại chủ nghĩa, vừa tồn tại một kết cấu nội tại vừa có một kết cấu ngoại tại. Bản thân cốt truyện có thời gian tuyến tính, nhưng xuất phát từ điểm nhìn của “tôi”, “tôi” cắt cốt truyện ra thành nhiều đoạn, sau đó dùng kí ức ảo mộng của “tôi” để tái tạo nên một thế giới hoàn toàn mới. Tiểu thuyết của ông là một loại kết cấu phức hợp, tuần hoàn, phi tuyến tính, phi lôgic, rất “hỗn độn”, vô thủy vô chung.

 

Trong tiểu thuyết của Mạc Ngôn thường xuất hiện ba thế hệ nhân vật: ông bà, bố mẹ, “tôi” và bạn bè cùng trang lứa với “tôi”. Dựa vào ba thế hệ đó, tác giả tạo ra một hệ thống ẩn dụ có ý nghĩa tượng trưng, một bức tranh nhân sinh biến ảo đa sắc màu. Đó là đặc điểm nổi bật trong việc sáng tạo nhân vật của ông. Nhân vật của ông có nhiều loại nhưng chủ yếu vẫn là ba thế hệ đó, và ba thế hệ này có khi là quan hệ huyết thống là người thân của “tôi”, nhưng cũng có khi chỉ là nhân vật tượng trưng ẩn dụ có một nhân cách độc lập có vốn sống văn hóa riêng có nội hàm sinh mệnh riêng. “tôi” (tức Kim Đồng – con thứ 9 của Thượng Quan Lỗ thị) trong Báu vật của đời là đứa con hoang, chú được mẹ quá nuông chiều, trở nên yếu hèn mắc bệnh “say mê” bầu vú. Đó là sự thoái hóa của nhân sinh.

 

Do kí ức về tuổi thơ ở nông thôn quá sâu đậm nên mặc dù sau này lớn lên, Mạc Ngôn từ giã làng quê đi làm thợ, đi lính, nhưng ngôn ngữ trong tiểu thuyết của ông vẫn đượm mùi dân dã. Ngôn ngữ tự thuật của ông là thiên biến vạn hóa, chen nhiều ca dao thành ngữ, có hơi hướng cổ thi, danh ngôn biền ngẫu, có nhiều câu hay lời đẹp, có thanh có tục.

 

 

 

1. HÌNH TƯỢNG NGƯỜI MẸ VĨ ĐẠI VÀ ĐAU THƯƠNG

 

1.1. Đứa con dâu của xã hội phong kiến

Nói đến đất nước Trung Quốc là nói đến một lịch sử phát triển lâu dài với nhiều công trình kiến trúc vĩ đại, nhiều danh lam thắng cảnh, nhiều phát minh sáng chế và cả những phong tục tập quán lạc hậu, những thói xấu trong thời phong kiến. Nạn nhân trực tiếp của những phong tục lạc hậu ấy chủ yếu là những người phụ nữ. Những người phụ nữ trong xã hội phong kiến Trung Quốc luôn bị khinh khi, coi rẻ. Họ là nạn nhân của rất nhiều quan niệm hà khắc của một xã hội trọng nam khinh nữ, những người phụ nữ trong cái xã hội ấy bị coi như những công cụ sản xuất không hơn không kém. Trong xã hội ấy, phẩm giá của người phụ nữ cũng chỉ là thứ vô giá trị. Nhưng cho dù có bị khinh khi đến đâu chăng nữa, cho dù có bị chà đạp như thế nào đi nữa thì những người phụ nữ ấy vẫn tin tưởng vào tương lai, vẫn cố gắng hòan thành thiên chức thiêng liêng của mình bằng một tấm lòng chân thành thiết tha.

 

Lỗ Toàn Nhi, cô gái ở vùng quê Cao Mật, xinh đẹp, dịu dàng và tràn đầy sức sống. Cuộc đời của Toàn Nhi gắn liền với những đau thương, những thăng trầm, cũng như những biến cố của lịch sử ở vùng Cao Mật – Đại La. Đó cũng là lịch sử phát triển của cả đất nước Trung Quốc rộng lớn. Ngay từ những năm tháng đầu tiên của cuộc đời, cô bé Toàn Nhi đã phải nếm trải sự tàn khốc của chiến tranh. Cả gia đình cô đều bị quân Đức tàn sát cùng với bốn trăm chín mươi hai người khác. Đó là một ngày mùa thu năm Quang Tự thứ 26 tức năm 1900, khi quân Đức ồ ạt tấn công vào thôn Sa Oa, quê của Toàn Nhi, và chúng giết người một cách điên dại, lúc đó cô bé Toàn Nhi vừa tròn sáu tháng tuổi. Là người duy nhất sống sót trong đợt tàn sát ấy, cô bắt đầu quãng đời đầy gian truân sau này của Lỗ Toàn Nhi.

 

Lên năm tuổi, Lỗ Toàn Nhi phải bó chân, một phong tục tàn khốc đã gây ra cho những người phụ nữ Trung Quốc những thương tích tật nguyền suốt đời, họ chịu nhiều đau đớn với chỉ một lý do phụ nữ không bó chân sẽ thành chân bàn cuốc, không ai thèm lấy! (Tr. 763). Với lý do như vật, biết bao bậc bề trên ở Trung Quốc đã ép con ép cháu phải chịu những nỗi đau đớn về thể xác cũng như những dày vò về tinh thần trong tục bó chân.

 

Với sự miêu tả chân xác, Mạc Ngôn đã giúp cho người đọc thấu hiểu được nỗi đau khôn cùng của những người phụ nữ trong cái tập tục bó chân tàn khốc ấy:

Bà dùng nẹp tre cố định chân mẹ lại, khiến mẹ gào lên như lợn bị chọc tiết, phải kẹp chặt vì tạo hình cho bàn chân nhỏ là rất quan trọng. Sau đó quấn thật chặt hết lớp này đến lớp khác những đoạn vải đã tẩm nước muối phơi khô, rồi lấy dùi gỗ vỗ một lượt. Mẹ kể rằng, buốt đến tận óc… (Tr. 764)

 

Mãi đến năm mười sáu tuổi, Toàn Nhi mới được giải thoát khỏi tục bó chân. Năm mười bảy tuổi thì được gả vào nhà Thượng Quan. Lúc bước vào nhà Thượng Quan, cuộc đời của cô gái Lỗ Toàn Nhi càng đau khổ, tủi nhục hơn. Là vợ của Thượng Quan Thọ Hỷ, là con dâu trong gia đình khá giả nhưng thực chất, Toàn Nhi chẳng khác gì một kẻ tôi tớ. Lấy một người chồng bất tài, vũ phu lại bất lực, không có khả năng truyền giống, nên mọi sự hành hạ, mọi sự oán trách từ niềm khao khát có cháu nối dõi tông đường đều bị đổ dồn lên người Toàn Nhi. Cô phải thường xuyên chịu những cơn mắng nhiếc cay nghiệt: “Chỉ biết ăn mà không biết đẻ, nuôi cái đồ vô tích sự ấy làm gì!” (Tr. 773) và những trận đòn roi không thương tiếc từ mẹ chồng: “Nhà Thượng Quan tiền oan nghiệp chướng làm sao cưới phải quả mít đực, tuyệt tự đến nơi rồi” (Tr. 747)

 

Trước nỗi khát khao có cháu của mẹ chồng cũng như những thành kiến của xã hội, Lỗ Toàn Nhi phải mang thân mình đi “xin giống” của những người đàn ông xa lạ. Cuối cùng Toàn Nhi đã sinh cho gia đình Thượng Quan một đàn con chín đứa gồm tám gái một trai, trong đó Lai Đệ và Chiêu Đệ là giống của ông chú dượng Vu Bàn Vả; Lãnh Đệ là con của anh chàng bán vịt dạo; Tưởng Đệ là con của một thầy lang bán rong; Phán Đệ là của lão Béo bán thịt chó ở thôn Sa Tử; Niệm Đệ là giống của Hoà thượng Trí Thông ở chùa Thiên Tề; Cầu Đệ là kết quả của lần Lỗ Toàn Nhi bị bốn tên lính thất trận cưỡng hiếp ở bờ bắc sông Thuồng Luồng; sau cùng là cặp song sinh Kim Đồng, Ngọc Nữ của mục sư Malôa. Nỗi đau lớn nhất trong cuộc đời của Lỗ Toàn Nhi không phải là cái chết của cha mẹ, không phải là sự hành hạ thân xác của tục bó chân, cũng không phải do sự vũ phu của người chồng mà đó chính là tập tục nghiệt ngã buộc phải có con trai. Đây chính là điều đã buộc Lỗ Toàn Nhi phải ngủ với những người đàn ông không mong muốn, phải đem tiết hạnh, đem tấm thân của mình đánh đổi lấy sự bình yên trong cuộc sống. Lỗ thị, trước hết là thân phận của người phụ nữ Trung Quốc bị khinh khi, coi rẻ phẩm chất giá trị trong xã hội phong kiến lúc bấy giờ. Việc ăn nằm, sinh nở của Lỗ thị trước hết là sự thách thức với xã hội, là tiếng cười ngạo nghễ, chống lại những tập tục phi nghĩa lí của xã hội.

 

Sinh được đứa con gái đầu lòng, cứ tưởng rằng sẽ được như lời của mẹ chồng khấn vái: Tạ ơn trời đất, cuối cùng thì nẻ đít ra rồi! Xin Bồ Tát phù hộ sang năm cho gia đình con xin đứa con trai!. Dù phải đi “xin giống” của sáu người đàn ông, nhưng rồi bảy đứa con ra đời đều là bảy cô con gái cả. Bảy đứa con toàn gái làm cho cuộc sống của Lỗ thị trong gia đình chồng càng thêm khốn khổ: “Từ khi sinh đứa con gái thứ tư, bầu trời nhà Thượng Quan lúc nào cũng mây đen vần vũ, mặt bà nội như lưỡi hái vừa lấy ra khỏi nước tôi, sẵn sàng đâm chém ai đó bất cứ lúc nào” (Tr. 790).

 

Bị đối xử thua một con vật, vừa mới sinh con xong, Toàn Nhi phải phơi mình giữa cái nắng trưa để lật rơm trong khi “bụng vẫn đau quặn, dạ con vừa trút được gánh nặng co bóp dữ dội, mồ hôi lạnh chảy cùng mình, từng dòng âm ấm từ cửa mình chảy ra ướt đẫm hai đùi” (Tr. 792); phải sinh con trên một cái giường đầy đất đá đã nhão ra vì máu, “vượt cạn” trong sự lo lắng, sợ hãi, bẩn thỉu và cô đơn trong khi cả nhà đang lo lắng, nâng niu một con lừa cũng đang đau đẻ.

 

Người phụ nữ ấy nhận ra một chân lí nghiệt ngã:“Là đàn bà, không lấy chồng không được, lấy chồng mà không sinh con không được, sinh con toàn con gái cũng không được. Muốn có địa vị trong gia đình, dứt khoát phải sinh con trai” (Tr. 783). Cái xã hội mà tính mạng con người bị khinh khi vì không có con trai “không có con trai thì suốt đời cô chỉ là nô lệ; đẻ con trai, cô lập tức thành chủ nhà”. Chính cái xã hội đó đã làm thay đổi con người của Lỗ Toàn Nhi, từ một cô gái hiền lành chịu đựng đến nhẫn nhục cô đã trở nên liều lĩnh, mang trong lòng sự thù hận, căm ghét xã hội cùng những tập tục phi lí và căm thù nhà Thượng Quan vô nhân đạo. Lỗ Toàn Nhi từ đó luôn nuôi ý định trả thù và xem việc ăn nằm với những người đàn ông khác là cách trả thù tốt nhất: “Toàn Nhi này có đẻ thêm một ngàn đứa nữa, cũng không phải là giống nhà Thượng Quan” (Tr. 785)

 

Với giọng gào thét hả hê, nhưng cũng đầy chua chát nghẹn ngào, xót xa cho thân phận của mình: Các người nghe thấy rồi chứ! Các người cứ cười đi! Chú ơi, đời là thế, cháu muốn làm chính chuyên liệt nữ thì bị đánh, bị mắng, bị trả về nhà mẹ đẻ; cháu đi xin trộm giống của người khác thì lại trở thành chính nhân quân tử! Chú ơi, con thuyền của cháu sớm muộn cũng chìm, không chìm ở rãnh nước nhà chú Kèo thì cũng chìm trong rãnh nước nhà chú Cột, chú ơi! (Tr.793), Toàn Nhi đồng thời cũng vạch trần những nghịch lí bất công mà người phụ nữ trong xã hội phong kiến Trung Quốc phải gánh chịu. Tuy nhiên, bên trong người phụ nữ ấy, luôn có một sức sống mãnh liệt, không chỉ ở khả năng thiên phú mà còn là có một niềm tin vào tương lai, là khát khao được sống, khát khao tìm được tình yêu, hạnh phúc gia đình đích thực:

“Đứng trước dòng nước trong xanh, mẹ nảy ra ý định nhảy xuống sông tự vẫn. Nhưng khi vén áo chuẩn bị nhảy, mẹ bỗng trông thấy bầu trời xanh biếc của vùng đông bắc Cao Mật in bóng dưới lòng sông. Mấy cụm mây trắng như bông bay ngang trời, những con chim sơn ca cất tiếng hót véo von dưới cụm mây trắng. Những con cá nhỏ, trong suốt bơi trong bóng mây in dưới lòng sông. Hình như chẳng có chuyện gì xảy ra, trời vẫn trong xanh, mây vẫn nhởn nhơ, lười nhác và trắng muốt như thế. Chim chóc không vì có diều hâu mà ngừng ca hát, con cá nhỏ không vì có chim bói cá mà ngừng bơi lội. Mẹ cảm thấy một làn gió tươi mát xua tan mọi uất ức trong lòng” (Tr. 802).

 

Mang trong mình niềm tin vào cuộc sống, đi tìm sự công bằng cho thân phận người phụ nữ, mặc dù in dấu trên hình hài và trong tận sâu tâm hồn nhiều vết thương do xã hội gây ra, nên không đơn thuần chỉ là nạn nhân của xã hội phong kiến Trung Quốc mà Lỗ thị còn chính là nhân chứng tố cáo sự cay nghiệt của xã hội ấy. Và cũng là người đưa nhát búa đầu tiên đập vào nền móng vốn khập khiễng của những tập tục lạc hậu, là sự chống đối phản kháng lại chế độ xã hội phong kiến hà khắc. Từ khi sinh ra đã được tạo hóa giao phó thiên chức thiêng liêng – làm mẹ, suốt đời bám víu vào thiên chức ấy, sức mạnh cuộc sống của bà là từ sự bảo bọc những đứa con mà ra. Với khả năng thiên phú ấy, dù cho có bị chà đạp bị tiêu diệt đến đâu thì nó vẫn trường tồn bằng một sức mạnh kì diệu, một niềm tin tuyệt đối, vì bà biết rằng nếu đánh mất thiên chức làm mẹ thì cũng là đánh mất luôn cả sự sống. Lỗ thị là một bà mẹ vĩ đại.

 

1.2. Lỗ thị người mẹ – thân phận đất nước Trung Hoa đau thương

 

Với thiên chức làm mẹ, Lỗ thị đảm đương nhiệm vụ đó với tất cả tình thương yêu và sự hi sinh cao cả nhất. Dù đã phải đi “xin giống dạo” của nhiều người đàn ông xa lạ vì xuất phát từ mục đích duy nhất là có con trai để thỏa nỗi khát khao hằn học của mẹ chồng, nhưng hơn thế nữa là thoát khỏi sự dày vò của những quan niệm cổ hủ khắc nghiệt. Tuy nhiên kết quả của hành động ấy là bảy cô con gái, điều đó làm cho cuộc sống của Lỗ thị trong gia đình chồng càng thêm khốn đốn, nhưng không vì thế mà bà căm ghét, ghẻ lạnh những đứa con của mình mà ngược lại bà luôn dành trọn vẹn tình thương cho chúng:

“Niệm Đệ vừa lọt lòng oe oe khóc, mẹ chồng thấy vẫn là con gái, liền chẳng nói chẳng rằng túm lấy hai chân định đem dìm chết trong chum nước. Mẹ nhào xuống đất ôm chặt hai chân mẹ chồng, van xin:  Mẹ ơi mẹ, xin mẹ mở lượng từ bi, thương con hầu hạ mẹ nửa năm nay mà tha cho cháu bé!” (Tr. 801)

 

Trong bất cứ hoàn cảnh nào, bà cũng sẵn sàng dang tay che chở, bảo bọc cho đàn con. Nói cách khác, những đứa con thân yêu của bà chính là chỗ dựa duy nhất để bà tiếp tục sống. Đối với bà chúng như những thiên thần ngây thơ, trong sáng; vừa như những sinh linh nhỏ bé dễ tổn thương nhất: “Xúm xít quanh mẹ là ba sinh vật bé bỏng, đó là Lai Đệ, Chiêu Đệ và Lãnh Đệ của mẹ”  (Tr. 798).

 

Khi cả nhà chồng bị bọn Nhật tàn sát, cuộc đời của Lỗ Toàn Nhi bước sang một trang mới, kết thúc kiếp làm dâu đau khổ chuyển sang vai trò làm chủ gia đình, làm mẹ, làm bà. Lỗ thị gánh trên vai trách nhiệm là người chủ là trụ cột của gia đình, từ khi chứng kiến cái chết của người tình, mục sư Malôa, và bị bọn “đội hỏa mai lừa đen” hãm hiếp thì tình yêu và cuộc sống của bà đều hướng đến và dâng trọn cho những đứa con thân yêu của mình.

 

Mạc Ngôn đã dựng nên hình ảnh người mẹ Trung Quốc vĩ đại suốt cuộc đời hi sinh cho con cháu. Lỗ thị là hình ảnh của những bà mẹ Trung Quốc tràn đầy niềm tin yêu vào cuộc sống và sự hi sinh, sự yêu thương vô hạn với thế hệ tương lai của gia đình, của đất nước. Người mẹ ấy luôn dang rộng đôi tay che chở cho đàn con trước nanh vuốt của kẻ thù. Giặc ngoại xâm, các thế lực chính trị thay nhau đến rồi đi, bao biến thiên, bao bi kịch xảy ra với vùng đất Cao Mật, với gia đình Thượng Quan, nhưng rồi người mẹ Lỗ thị với sức mạnh kiên cường, tình yêu bao la và niềm tin mạnh mẽ cùng đàn con đã bươn chải vượt qua tất cả.

 

Mỗi người con của Lỗ thị đều lớn lên trong vòng tay yêu thương của bà, họ được người mẹ vĩ đại ấy sinh ra và nuôi lớn đúng vào lúc đất nước Trung Quốc có nhiều biến động. Mỗi đứa con lớn lên, mỗi người họ đều chọn một con đường, một cách sống, và một cách chết trên cuộc đời đầy gian truân khổ ải. Họ thậm chí còn xung khắc, thù ghét nhau bởi sự đối lập trong chính kiến, lí tưởng, nhưng điểm tựa duy nhất, nguồn an ủi duy nhất của họ chính là người mẹ Lỗ thị. Đối với các con, bà sẵn sàng làm ngọn gió, chắp thêm sức mạnh cho các con vươn đôi cánh bay thật xa, thật lâu và khi những đôi cánh ấy mệt mỏi, thì bà mẹ Lỗ thị lại là nguồn an ủi, là chốn quay về bình yên và an toàn nhất.

 

Nỗi đau lớn nhất của bà là phải xa lìa con cái và không cho chúng được một cuộc sống tốt đẹp hơn. Với tình yêu của một người mẹ, Lỗ thị luôn nỗ lực để sinh tồn, vì chỉ có sinh tồn mới có thể nuôi dưỡng chăm lo cho các con. Hai nạn đói kinh hoàng năm 1941 và 1960 đã tác động mạnh mẽ đến Lỗ thị và gia đình Thượng Quan. Năm 1941, để cứu lấy đàn con, Lỗ thị phải đứt ruột đưa đàn con đi “bán”, bán mà không cần tiền, chỉ cần xin đối xử tốt với cháu! Vì Lỗ thị biết rằng nếu chúng được nhận làm con của những gia đình giàu sang trong hoàn cảnh này, những đứa con của bà chắc chắn sẽ được sống sót. Cũng trong năm đó, Lỗ thị phải bàng hoàng, ray rứt mặt trắng nhợt, lảo đảo rồi ngã sóng soài ra nhà khi nhận được tiền bán thân của đứa con gái thứ tư – Tưởng Đệ. Vì muốn chữa bệnh cho mẹ và cứu lấy chị em trong cơn đói, Tưởng Đệ đã bằng lòng bán thân vào nhà chứa với giá ba trăm đồng. Năm 1960, Lỗ thị đã biến bao tử của mình thành một chiếc túi chứa đậu. Bà trộm đậu trong hợp tác xã rồi nuốt vào, về đến nhà lại nôn ra, lấy đậu để nuôi con nuôi cháu: “lần đầu tiên muốn nôn thì phải lấy đũa ngoáy cổ họng, cảnh đó thì … bây giờ quen rồi, cúi xuống là nôn ra. Bụng mẹ bây giờ chẳng khác cái bao lương thực” (Tr. 584). Sức mạnh sinh tồn của Lỗ thị thật mãnh liệt, chính niềm tin vào tương lai và tình yêu thương vô bờ đối với đàn con là động lực nuôi dưỡng ý chí sinh tồn của người mẹ vĩ đại ấy.

 

Bao thế lực chính trị đến rồi lại đi, vinh quang rồi tàn lụi, đem đến cho vùng đất Cao Mật biết bao biến đổi, Lỗ thị và gia đình Thượng Quan cũng chịu ảnh hưởng của những lần thay ngôi đổi chúa ấy. Lỗ thị nhìn các thế lực chính trị không phải bằng đôi mắt của một đảng viên Cộng sản Đảng hay Quốc dân Đảng, bà nhìn hành động, nhìn cách cư xử, nhìn bộ mặt của các thế lực ấy bằng con mắt của một người lao động – người mẹ. Điểm nhìn đó không hề có một điểm gẫy, một góc khuất nào. Ở góc nhìn đó, bà nhìn thấy được những cái hay cái dở, những mặt tốt mặt xấu của các lực lượng nắm quyền. Nạn nhân trực tiếp của các thế lực ấy vẫn là người dân.

 

Hết quân Đức, quân Nhật, Quốc dân Đảng rồi đến Cộng sản Đảng, mỗi lần thay chủ đổi ngôi là mỗi lần nhân dân chứng kiến cảnh li loạn, cảnh chạy giặc, cảnh tang tóc … Lỗ thị đã bao lần phải mất con mất cháu trong những đợt biến loạn ấy, mà Tư Mã Phượng, Tư Mã Hoàng, Chiêu Đệ rồi đến Câm anh, Câm em đều là nạn nhân. Các thế lực cầm quyền đem đến cho Lỗ thị biết bao tai họa, biết bao mất mát, biết bao khổ đau thế nhưng bà vẫn dang rộng đôi tay, mở rộng tấm lòng cưu mang che chở, nuôi dưỡng những đứa con rơi của chúng (ở đây nói đến con cái của các thế lực chính trị ấy khi thất thế đã bỏ lại cho bà ngoại Lỗ thị nuôi dưỡng). Ngoài việc nuôi dưỡng đàn con tám gái một trai của mình trưởng thành, trong suốt cuộc đời của mình, Lỗ thị còn cưu mang thêm tám đứa cháu gọi bà bằng ngoại. Tám đứa cháu mỗi đứa một hoàng cảnh, mỗi đứa một xuất thân. Có đứa cha mẹ là đảng viên Cộng sản Đảng (Lỗ Chiến Thắng, Câm anh, Câm em), có đứa là con của đảng viên Quốc dân Đảng (Tư Mã Lương, Tư Mã Phượng, Tư Mã Hoàng), có đứa là con của Hán gian (Sa Tảo Hoa), có đứa chỉ là con của thường dân (Hàn Vẹt). Dù cha mẹ chúng là ai, thuộc đảng phái nào, tư tưởng chính trị ra sao thì Lỗ thị vẫn dành cho chúng tình thương yêu, tình người thân thiết nhất:

Chiếc áo da báo của Lai Đệ chỉ có thể bọc con của Lai Đệ… mẹ bỏ lại con bé bọc trong chiếc áo da báo ở cổng nhà thờ, rồi chạy về nhà như bị ma đuổi. Nhưng chỉ chạy được hơn chục bước, chân mẹ đã cất không nổi nữa. Con bé khóc như lợn bị chọc tiết, tiếng khóc như sợi dây vô hình giữ chân mẹ lại… (Tr. 172)

 

Tám đứa cháu, tám sinh linh nhỏ bé trong tay bà đều được bà yêu thương, chăm sóc, bà không cần biết cha chúng là ai, là người của đảng phái nào, đối với bà chúng là những đứa cháu ngoại. Bà luôn đưa tay nâng đỡ chúng, che chở chúng trước mọi nguy hiểm dù việc làm ấy của bà có thể nguy hiểm đến tính mạng:

“Mẹ ưỡn ngực, thét lên chói tai – Thằng súc sinh giết tao trước đi! Mẹ xông tới mặt thằng câm cào vào mặt hắn. Mặt hắn xuất hiện bốn rãnh màu trắng, sau đó máu từ trong rãnh tứa ra… lát sau hắn “ầu ầu” lên mấy tiếng, đấm mẹ một quả, mẹ ngã bay về phía chúng tôi. Chúng tôi vừa khóc, vừa phủ phục trên mẹ” (Tr. 347).

 

Những sinh linh bé bỏng ấy được chăm sóc, nuôi dưỡng bằng bàn tay đầy yêu thương của bà ngoại Lỗ thị. Cuộc sống của chúng thật sự đã gắn chặt với bà, chúng là sức mạnh là động lực là lí do giúp bà luôn kiên cường chiến đấu cho mục tiêu sinh tồn. Vì vậy khi chúng mất đi, bà cũng đau đớn như mất đi “núm ruột” của chính mình:

“Mẹ bốc một nắm đất nhét vào lỗ thủng, nhưng máu và ruột cứ đẩy đất ra ngoài, mẹ bóc nắm nữa rồi nắm nữa nhét vào mà vẫn không bịt được, ruột thằng Câm em đùn ra đầy nửa sọt… mẹ buông xuôi hai tay đờ đẫn nhìn đống ruột rồi đột nhiên mẹ nôn ra mật xanh mật vàng, sau đó mẹ òa khóc nức nở” (Tr. 389).

Trái tim dào dạt tình yêu của Lỗ thị luôn rộng mở đón đàn cháu nhỏ. Thiên chức làm mẹ được vận dụng một cách triệt để chỉ vì một mục đích duy nhất: nuôi sống đàn con. Vòng tay bà luôn ôm ấp chở che cho mọi đứa con không phân biệt quan điểm chính trị, bảo bọc uốn nắn cho những đứa cháu – những tương lai được sống. Tất cả họ đều được bà mẹ Lỗ thị sinh ra và nuôi dưỡng đúng vào lúc đất nước Trung Quốc cũng đang trong cơn đau đẻ – một con đường, một xã hội phù hợp.

 

Dù những đứa con có xung khắc, thù ghét nhau vì họ đã lỡ chọn quan điểm chính trị khác nhau thì Lỗ thị vẫn là điểm tựa vững vàng, là điểm kết nối duy nhất của họ. Đó không còn là thân phận của người phụ nữ nữa. Đó là thân phận của đất nước Trung Hoa vĩ đại và đau thương. Đau thương và vĩ đại như cơn lốc tràn qua lục địa Trung Hoa mênh mông, xoáy quật thân phận người phụ nữ như Lỗ thị, đến chết vẫn chưa yên.

 

Người ta nói sữa là sức sống và máu của người phụ nữ. Do vậy suốt đời Lỗ thị đem nguồn sống quí giá ấy nuôi dưỡng một hoài bão mang tên Kim Đồng. Đặt trọn niềm hi vọng vào đứa con trai duy nhất trong chuỗi sinh nở dằn dặt của mình, Lỗ thị đã cho Kim Đồng tất cả nguồn sống của mình thông qua nguồn sữa. Nguồn sữa ấy chỉ dành riêng cho Kim Đồng, ngay cả chị em song sinh của Kim Đồng là Ngọc Nữ cũng không được nếm qua dù chỉ một lần. Ở đây ta lờ mờ thấy được di căn của căn bệnh chế độ phong kiến – sự trọng nam khinh nữ trong con người Lỗ thị. Đây là hạn chế của Lỗ thị và những người phụ nữ khác trên lục địa Trung Quốc trong buổi giao thời: “Phong kiến – Dân chủ – Cộng sản” . Bà cũng từng ép Lai Đệ bỏ Sa Nguyệt Lượng lấy Tôn Bất Ngôn làm cho Lai Đệ phải bỏ nhà theo người yêu, và đây cũng là nguyên nhân dẫn đến kết thúc bi kịch của Lai Đệ; Lỗ thị từng cấm đoán Lãnh Đệ quan hệ với Hàn Chim khiến Lãnh Đệ trở nên điên dại… chính hạn chế này đã khiến Lỗ thị có một số hành động sai về lí nêu trên nhưng nếu xét về tình (tình yêu của một người mẹ đối với con) thì ta có thể hoàn toàn cảm thông được.

 

Lỗ thị là một nhân vật rất hiện thực và cũng rất tượng trưng. Sự biến chuyển vận động của cuộc đời Lỗ thị với đầy gian truân, vật vã thăng trầm nhưng vô cùng vĩ đại cũng là hình ảnh đất nước Trung Hoa trên bước đường phát triển. Điều ám ảnh tác giả và độc giả đó là hình ảnh người mẹ với lòng khoan dung vô bờ bến chạy dọc suốt chiều dài tác phẩm. Một phụ nữ tượng trưng cho một đất nước ở khả năng thiên phú mà cho dù có bị chà đạp, tiêu diệt đến đâu thì vẫn trường tồn, bởi vì khả năng đó cũng chính là sự sống và nó nhân danh sự sống.

2. HÌNH TƯỢNG NHỮNG CÔ GÁI BIẾT ƯỚC MƠ, KHAO KHÁT SỐNG VÀ HÀNH ĐỘNG

 

Lỗ Toàn Nhi – bà mẹ vĩ đại, thân phận của đất nước Trung Hoa vĩ đại và đau thương, mang trên mình thiên chức làm mẹ thiêng liêng và khát vọng sinh tồn mạnh mẽ. Bà là cầu nối, là điểm tựa cho những người con bước vào đời. Những cô con gái nhà Thượng Quan được người mẹ Lỗ thị sinh ra trong lúc đất nước Trung Quốc cũng đang trong cơn “đau đẻ”. Đàn con của Lỗ thị có đủ mọi thành phần của xã hội – đó là một xã hội Trung Quốc thu nhỏ. Mỗi đứa con chọn cho mình một con đường, một cách sống và một cách chết riêng trong hành trình cuộc sống. Họ thậm chí còn đối đầu nhau, thù ghét nhau do sự lựa chọn chính kiến, lí tưởng khác nhau.

 

Các cô gái nhà Thượng Quan chính là các luồng tư tưởng, các cách sống cách nghĩ của người dân Trung Quốc trong lịch sử phát triển của đất nước Đông Á này. Đó là sự vận động, sự biến đổi của bộ mặt xã hội Trung Quốc trong lịch sử phát triển được Mạc Ngôn khắc họa một cách tài tình, chân thật và sống động. Qua số phận của những cô gái nhà Thượng Quan, ta phần nào thấy được những biến động trong xã hội Trung Quốc to lớn đến mức nào; đồng thời cũng thấy được những chuyển biến mạnh mẽ về tư tưởng của người dân Trung Quốc. Biết bao sự kiện, biết bao biến động xảy đến với vùng Cao Mật và gia đình Thượng Quan, tất cả những biến chuyển ấy làm cho sự nhập cuộc, dấn thân của con cháu nhà Thượng Quan thêm sống động và chân thật. Chín chị em nhà Thượng Quan với những thăng trầm, những nỗi trần ai cùng cực, mỗi người cũng đã là một thiên tiểu thuyết.

 

Chín chị em nhà Thượng Quan gồm tám gái một trai là kết quả mang nặng đẻ đau của Lỗ thị. Trong đó, Kim Đồng, đứa con trai duy nhất của Lỗ thị là niềm hi vọng, sự kì vọng của Lỗ thị về tương lai của gia đình Thượng Quan. Nhưng đứa con trai duy nhất trong chuỗi sinh nở dằng dặc một đời của người mẹ Lỗ thị ấy lại suốt đời bám vào vú mẹ. Trong khi các cô gái nhà Thượng Quan – những cô gái sống trong xã hội phong kiến trọng nam khinh nữ – lại xông xáo, quyết liệt dấn thân vào đời, ước mơ, tìm kiếm tình yêu và hạnh phúc.

Báu vật của đời được coi là một “Trăm năm cô đơn” (·)của Trung Quốc. Báu vật của đời là một tác phẩm biên niên sử thế kỷ 20 của đất nước Trung Quốc đầy biến động dữ dội kỳ lạ.

(Trích Khóa luận tốt nghiệp của SV Nguyễn Trung Nam khóa 6C do GVC Phùng Hoài Ngọc hướng dẫn)

 

7.3 Số phận của “Chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa” ở Trung Quốc

 

Từ những năm 20 của thế kỷ XX, văn học và lý luận văn nghệ Liên Xô, đã bắt đầu xuất hiện trên văn đàn Trung Quốc, nhưng mãi đến những năm 50 của thế kỷ XX, Trung Quốc mới tiếp nhận toàn diện lý luận văn nghệ Liên Xô. Mao Trạch Đông từng nói: “Đảng cộng sản Liên Xô là người thầy tốt nhất của chúng ta, chúng ta cần phải học tập họ” (Mao Trạch Đông tuyển tập, T.4, 1991, tr.148). Chu Dương (1) cũng nói: “Đi theo con đường của người Nga, chính trị và cả văn học nghệ thuật cũng thế” (Nhân dân nhật báo.11-11-1953).

 

Học tập toàn diện lý luận của Liên Xô, người Trung Quốc đã học được ở văn học Xô Viết nhiều thứ: Quan điểm văn học phải “phục vụ nhân sinh”, “Văn học là nhân học”, quan điểm coi trọng việc dùng phản ánh luận của Lênin để giải thích các hiện tượng văn học, v.v… Những điều đó giúp cho lý luận văn học Trung Quốc được xây dựng trên cơ sở duy vật biện chứng. Đó là ảnh hưởng tích cực, còn ảnh hưởng tiêu cực cũng có nhiều. Những lý luận văn nghệ xã hội dung tục và tả khuynh, đặc biệt là chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa (viết tắt là CNHTXHCN) đã làm cho văn học Trung Quốc có thời kỳ ngừng trệ, kém phát triển .

 

Như chúng ta đã biết, CNHTXHCN là do Stalin nêu ra. Ngày 16-10-1932 trong một cuộc toạ đàm văn học ở Mátxcơva, khi trả lời một nhà thơ, Stalin đã nói: “Nhà nghệ thuật cần phải miêu tả chân thực cuộc sống. Nếu như anh ta miêu tả cuộc sống chân thực thì anh ta không thể không chú ý và không thể không phản ánh cuộc sống đang hướng về chủ nghĩa xã hội. Đó chính là CNHTXHCN (Tạp chí Vấn đề văn học. 5-1991) và thế là Đại hội đại biểu các nhà văn Liên Xô lần thứ nhất họp vào tháng 8/1934, chính thức tuyên bố CNHTXHCN là phương pháp cơ bản của sáng tác văn nghệ  Liên Xô.

 

Tin đó được báo chí Trung Quốc giới thiệu ngay. Tờ Văn học nguyệt báo của Trung Quốc ra ngày 15-12-1932 đã kịp thời đưa tin về cuộc họp nói trên của Hiệp hội nhà văn Liên Xô. Và đến năm 1933, trên tờ tuần san Nghệ thuật tân văn bắt đầu giới thiệu về phương pháp hiện thực xã hội chủ nghĩa của Liên Xô. Tháng 9-1933 trên tờ Văn học số 3, quyển 1, Chu Dương viết bài phê phán “phương pháp sáng tác duy vật biện chứng” do RAPP đưa ra và ca ngợi CNHT.XHCN của Stalin (Chu Dương văn tập. T.1, P99). Tuy vậy lúc bấy giờ, một số nhà văn đứng ngoài tổ chức “Liên minh các nhà văn cánh tả” (gọi tắt là “Tả liên”) vẫn còn nghi ngờ, chưa ủng hộ phương pháp sáng tác đó. Nhà văn Mục Thời Anh thuộc phái “Cảm giác mới” gọi CNHTXHCN là “chủ nghĩa hiện thực giả tạo”. Năm 1936, Cảnh Tề Chi – dịch giả văn học Nga nổi tiếng, qua nghiên cứu tình hình văn học Liên Xô từ năm 1935, ông thấy CNHTXHCN làm cho văn học Liên Xô “đề tài trở nên quá hẹp”, các tác phẩm thì “nghìn thiên như một” trở nên “khô cứng” (Tạp chíVăn học số 2, quyển 6, 1936). Như vậy nhà dịch thuật này có  con mắt quan sát sắc sảo, nhìn xa trông rộng hơn một số nhà lý luận đương thời.

 

Đến thập niên 40 thế kỷ XX, giới văn học Trung Quốc bắt đầu dịch một số trước tác lý luận đề cao CNHTXHCN của Nhật Bản và Liên Xô. Ví dụ, tháng 4-1940, NXB Quang Minh, Thượng Hải xuất bản cuốn sách Con đường mới của văn học, gồm có 29 bài báo và phát biểu của các học giả trong Đại hội các nhà văn Liên Xô lần thứ nhất về CNHTXHCN. Tháng 10 cùng năm, NXB Hy Vọng cho ra cuốn Bàn về chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa của học giả Nhật Bản Sâm Sơn Khải. Từ 1949 trở đi một số trước tác của học giả Liên Xô cũng được dịch, ví dụ cuốn Đặc trưng của chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩacủa Vaxinhiép, Chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa trong văn học Liên Xô của Têrasenkôp, v.v… Các cuốn sách trên còn trích đăng “Điều lệ” của Hội Nhà văn Liên Xô và một số bài viết của Phadiev bàn về CNHTXHCN.

 

Tuy vậy, thời kỳ này, người Trung Quốc vẫn chưa coi CNHTXHCN là khẩu hiệu và lá cờ của mình. Tháng 5-1939, trong buổi kỷ niệm một năm thành lập Học viện nghệ thuật Lỗ Tấn, Mao Trạch Đông còn đề xuất “Chủ nghĩa hiện thực kháng Nhật, chủ nghĩa lãng mạn cách mạng”. Lúc bấy giờ, giới văn học Trung Quốc còn có nhiều cách giải thích khác nhau về CNHTXHCN. Nhà văn Ba Nhân cho rằng con đường và xu thế phát triển văn nghệ Trung Quốc, tức là từ “chủ nghĩa hiện thực kháng Nhật” đến “chủ nghĩa lãng mạn” rồi đến “CNHTXHCN” (Trận địa văn nghệ kỳ 7, quyển 4 tháng 2-1940). Theo ông thì CNTHXHCN là phương hướng phát triển của văn học Trung Quốc. Lâm Hoán Bình thì cho rằng, “chủ nghĩa hiện thực kháng Nhật, chủ nghĩa lãng mạn cách mạng”, thực chất là “CNHTXHCN” (Văn học nguyệt báo 9-1940). Các giải thích này đương thời chưa được mọi người thừa nhận. Ví dụ, nhân kỷ niệm một năm bài Bàn về chủ nghĩa dân chủ mới của Mao Trạch Đông, Chu Dương căn cứ vào ý kiến của Mao Trạch Đông bàn về tính chất và nhiệm vụ lịch sử của xã hội Trung Quốc, mô phỏng cách đề xuất của Liên Xô về CNHTXHCN mà nêu ra khái niệm “chủ nghĩa hiện thực dân chủ mới” (Chu Dương Văn tập. T.1, P324). Trong “Bài nói chuyện ở toạ đàm văn nghệ Diên An” (1942) của Mao Trạch Đông nói về phương pháp sáng tác như sau: “chúng ta chủ trương chủ nghĩa hiện thực của giai cấp vô sản”. Sau này Chu Dương trong một số bài viết cũng như bài nói chuyện, ông dùng những khái niệm như “chủ nghĩa hiện thực cách mạng” “chủ nghĩa hiện thực cách mạng mới”, v.v.

 

Mãi đến sau năm 1949, giới văn học Trung Quốc mới bắt đầu coi CNHTXHCN là tiêu chí cao nhất của sáng tác và phê bình văn học nghệ thuật. Tháng 5-1951 trong một lần nói chuyện ở Sở nghiên cứu văn học trung ương, Chu Dương nhấn mạnh: “Chúng ta cần phải học tập nước ngoài, đặc biệt là học tập Liên Xô. Văn học nghệ thuật của CNHTXHCN là món ăn tinh thần có ích nhất cho nhân dân và quảng đại thanh niên Trung Quốc. Chúng ta từ nay trở đi phải tăng cường công tác dịch thuật và giới thiệu” (Chu Dương văn tập. T.2, P61). Tháng 5 năm sau, Chu Dương nói rõ hơn: “Phương pháp mới của nghệ thuật cách mạng – CNHTXHCN nên trở thành thước đo cao nhất của phương pháp sáng tác của chúng ta” (Chu Dương văn tập. T.2, P145). Như vậy là Chu Dương không còn chủ trương phương pháp “duy vật biện chứng” như thời 1933 nữa, giờ đây ông dứt khoát nêu ra “CNHTXHCN” là phương pháp cơ bản trong sáng tác văn học Trung Quốc. Tháng 12-1952, trong một bài báo viết cho báo Ngọn cờ của Liên Xô, Chu Dương thông báo cho giới văn học Liên Xô biết rằng: “Sau khi theo đuổi văn học Liên Xô, văn học của chúng tôi đã bắt đầu đi lên con đường “CNHTXHCN”, chúng tôi sẽ tiếp tục tiến lên trên con đường này” (Chu Dương văn tập. T.2, P191).

 

Chủ trương này của Chu Dương không phải là ý kiến cá nhân của ông mà là đại biểu cho giới lãnh đạo văn nghệ của Trung Quốc lúc bấy giờ. Tháng 3-1953, trong “Phương án công tác cải tổ Hiệp hội văn học toàn quốc và tăng cường lãnh đạo sáng tác văn học” của Hội nghị mở rộng lần thứ 6 của Uỷ ban chấp hành Hiệp hội nhà văn toàn quốc thông qua, đã quyết định kết hợp với việc học tập phương pháp sáng tác “CNHTXHCN” là thảo luận các vấn đề tư tưởng sáng tác văn học. Thế là, các tổ chức văn học từ Trung ương đến địa phương đều tiến hành học tập phương pháp sáng tác mới này.

 

Tháng 9-1953, trong Đại hội đại biểu lần thứ 2 của những người làm công tác văn học nghệ thuật Trung Quốc, Chu Dương chính thức tuyên bố “Chúng ta coi phương pháp sáng tác HTXHCN là chuẩn tắc cao nhất của sáng tác và phê bình văn học nghệ thuật của chúng ta”. Và lần đầu tiên ông khẳng định: “SauBài nói chuyện ở toạ đàm văn nghệ Diên An trở đi, văn học nghệ thuật của chúng ta là “văn học nghệ thuật của CNHTXHCN” và trong hoạt động sáng tác của Lỗ Tấn ở thời kỳ sau, ông “đã trở thành người đi đầu, người đại biểu của CNHTXHCN” (Chu Dương văn tập. T.2, P249, 247) (Sự thực thì, trong bài báo viết cho Ngọn cờ nói ở trên, Chu Dương đã từng nói: Cũng giống như cách mạng dân chủ mới của Trung Quốc là một bộ phận tổ thành của cách mạng thế giới xã hội chủ nghĩa của giai cấp vô sản, văn học của nhân dân Trung Quốc cũng là bộ phận tổ thành của văn học HTXHCN của thế giới. Như vậy, Chu Dương lấy văn học mới của Trung Quốc từ Ngũ tứ làm cái mốc để đánh giá phương pháp sáng tác và địa vị của Lỗ Tấn trong lịch sử văn học là căn cứ vào cái khung lý luận CNHTXHCN để điều chỉnh).

 

Cũng ở đại hội trên, Mao Thuẫn cũng coi nguyên tắc CNHTXHCN “là yêu cầu cơ bản đối với nhà văn Trung Quốc”, và chỉ ra “một nhà văn hiện thực chủ nghĩa phải đòi hỏi mình giỏi quan sát phương hướng phát triển của cuộc sống, mầm mống của sự vật mới, giỏi biểu hiện cuộc sống từ trong sự phát triển cách mạng. Một chức trách của nhà văn hiện thực xã hội chủ nghĩa chính là cần phải biểu hiện sự vật ngày nay  xem ra chưa phải là tồn tại phổ biến, nhưng ngày mai nó sẽ trở thành phổ biến”.

 

Cần chú ý rằng, câu “chúng ta chủ trương chủ nghĩa hiện thực của giai cấp vô sản” ở trong Bài nói chuyện ở toạ đàm văn nghệ Diên An in lần đầu thì đến năm 1954 được in lại trong Mao Trạch Đông tuyển tập. T.3 đã sửa lại là: “Chúng ta chủ trương chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa”. Từ đấy trở đi, các ấn phẩm sau này của Mao Trạch Đông, hễ có bài đó, thì đều đổi thành như thế.

 

Trong khi giới văn học Trung Quốc đang ra sức tuyên truyền và quán triệt CNHTXHCN thì giới văn học Liên Xô đã có người không tán thành khẩu hiệu này. Tháng 12-1954, trong Đại hội đại biểu các nhà văn Liên Xô lần thứ 2 họp ở Matxcova, nhà thơ Ximônov có đọc một bản báo cáo bổ sung, trong đó ông chủ trương xoá bỏ đoạn định nghĩa về CNHTXHCN trong Điều lệ Hiệp hội các nhà văn Liên Xô. Đoạn đó là: “Đồng thời với việc miêu tả chân thực, lịch sử, cụ thể, cần phải kết hợp với nhiệm vụ dùng tinh thần XHCN để cải tạo và giáo dục nhân dân lao động về mặt tư tưởng”. Ximonov cho rằng câu đó là một trong những nguyên nhân gây nên “sự tô hồng hiện thực” trong văn học Liên Xô, bởi vì “trong tác phẩm của một số nhà văn, nhà phê bình sau thời kỳ chiến tranh đã từng mượn cớ biểu hiện hiện thực theo khuynh hướng phát triển, để ra sức “cải thiện hiện thực”(2). Kết quả là “Điêu lệ” mới được thông qua ở Đại hội đại biểu các nhà văn Liên Xô lần thứ 2 đã tiếp thụ ý kiến của Ximônov.

 

Báo chí Trung Quốc lúc bấy giờ có giới thiệu động thái mới này của giới lý luận văn học Liên Xô, nhưng họ vẫn không thay đổi xu hướng kiên trì CNHTXHCN. Bằng chứng là người ta lấy lý thuyết về CNHTXHCN để phê phán Hồ Phong. Lâm Mạc Hàm nói, một trong những sai lầm của Hồ Phong là “không thấy được sự khác nhau giữa chủ nghĩa hiện thực và CNHTXHCN, không hiểu được ai theo “CNHTXHCN” đầu tiên là phải có “lập trường giai cấp công nhân và thế giới quan cộng sản chủ nghĩa” (Văn nghệ báo số 2-1953). Chu Dương cũng chỉ ra: “Công thức của CNHTXHCN là quan điểm cơ bản, là cống hiến lịch sử của chủ nghĩa Mác Lênin đối với phương pháp của văn học nghệ thuật… Chủ nghĩa hiện thực nên bao quát ở trong chủ nghĩa Mác, chỉ có chủ nghĩa Mác mới có thể lý giải đầy đủ nhất chủ nghĩa hiện thực”.

 

Nhưng, trước và sau năm 1956, tình hình chính trị và văn học xã hội Liên Xô có biến động, tư tưởng chống “tô hồng hiện thực” và đề xướng “can dự cuộc sống” của giới lý luận văn học Liên Xô ảnh hưởng đến văn đàn Trung Quốc. Chu Dương  – người đầu tiên giới thiệu CNHTXHCN ở Trung Quốc – tháng 8-1956 trong một lần nói chuyện ở cuộc họp Hội nhà văn Trung Quốc, ông đưa ra ý kiến mới. Một mặt ông vẫn tiếp tục nhấn mạnh “khẩu hiệu CNHTXHCN này không nên bỏ, nó là phương hướng phát triển nghệ thuật nhân dân, tại sao chúng ta lại phản đối phương hướng đó”. Mặt khác, ông lại cho rằng: “Việc học tập CNHTXHCN, quyết không nên sa vào vũng bùn giáo điều chủ nghĩa”. Ông chỉ ra, những nhà văn bài xích dòng văn học phi XHCN, và có quan hệ không bình thường với những dòng văn học khác ngoài CNHTXHCN là biểu hiện giáo điều và công thức. Chu Dương nhắc nhở mọi người: “Chúng ta nên coi CNHTXHCN là một phương hướng mới, chứ không được coi nó là giáo điều hoặc giả coi là một công thức trong sáng tác. Nếu không, sẽ có nguy hiểm lớn” (Chu Dương văn tập. T.2, P408-409).

 

Nếu như trong lý luận của Chu Dương còn mơ hồ, mâu thuẫn, thì một số nhà lý luận khác của Trung Quốc đã bộc bạch sự hoài nghi đối với định nghĩa của CNHTXHCN. Tháng 6-1956 Tần Triệu Dương có bài Chủ nghĩa hiện thực – con đường rộng mở, Chu Bột có bài Bàn về chủ nghĩa hiện thực và sự phát triển của nó ở thời kỳ xã hội chủ nghĩa, Lưu Thiệu Đường có bài Sự phát triển của chủ nghĩa hiện thực trong thời đại xã hội chủ nghĩa, v.v… Nội dung của những bài báo trên nêu ra ba vấn đề: Một là, định nghĩa nhấn mạnh “việc nghệ thuật miêu tả chân thực, lịch sử cụ thể, cần phải kết hợp với nhiệm vụ dùng tinh thần xã hội chủ nghĩa để cải tạo giáo dục nhân dân lao động về mặt tư tưởng”, như vậy là cho tinh thần xã hội chủ nghĩa tồn tại ngoài sáng tác văn nghệ, nó chỉ là một khái niệm chính trị trừu tượng ở trong đầu óc nhà văn, chứ không phải là tồn tại một cách hữu cơ trong cuộc sống, không phải là tồn tại một cách hữu cơ trong tính chân thực và tính lịch sử cụ thể của miêu tả nghệ thuật, mà là sự “kết hợp” giả tạo từ bên ngoài. Chính vì vậy, về mặt lý luận đã dẫn đến những luận điểm sai lầm như dùng quan điểm chính trị thay thế thế giới quan, dùng quan điểm chính trị thay thế phương pháp sáng tác, dùng tính chính trị thay thế tính chân thực, dùng phân tích chính trị thay thế phân tích nghệ thuật. Hai là, định nghĩa trên không xuất phát từ nghệ thuật, coi nhẹ địa vị then chốt của vấn đề điển hình hoá ở trong văn học hiện thực chủ nghĩa. Trong các luận thuyết về chủ nghĩa hiện thực ở trong lá thư của Mác gửi Hecơnex lại coi việc điển hình hoá là trung tâm. Chính vì vậy, trong phê bình văn học đã xuất hiện hiện tượng mượn cớ tăng cường chức năng tuyên truyền chính trị mà phủ định đặc trưng nhân học của văn học, coi con người chỉ là cái loa tuyên truyền chính trị. Ba là, có người nói “CNHTXHCN” là “chủ nghĩa hiện thực khẳng định” để phân biệt với chủ nghĩa hiện thực phê phán của giai cấp tư sản chuyên chú trọng phê phán, như vậy là trong sáng tác và phê bình của văn học hiện thực XHCN không thừa nhận nhiệm vụ bộc lộ và phê phán những hiện tượng xấu xa tội ác, từ đó dẫn đến “lý luận không xung đột”, “tô hồng cuộc sống”.

 

Những nhà lý luận Trung Quốc nghi ngờ CNHTXHCN đều hoàn toàn đồng ý với ý kiến phản bác của Ximonov phát biểu ở trong Đại hội đại biểu các nhà văn Liên Xô lần thứ hai, đồng thời bổ sung mấy điểm bất hợp lý của định nghĩa về CNHTXHCN. Họ viết: từ khi định nghĩa này được xác định đến nay, chưa có ai giải thích được chính xác, thường hôm qua coi là giải thích xác đáng thì hôm nay đã bị người khác lật đổ. Qua khảo sát đặc trưng văn học hiện thực chủ nghĩa, họ cho rằng, “từ đặc điểm bên trong của văn học hiện thực chủ nghĩa để phân chia văn học của hai thời đại cũ và mới thành một đường ranh giới tuyệt đối khác nhau là rất khó khăn”. Do đấy, Tần Triệu Dương đề nghị “gọi chủ nghĩa hiện thực trước mắt là chủ nghĩa hiện thực của thời đại xã hội chủ nghĩa”. Ông còn nói: “Sở dĩ tôi nghiên cứu khuyết điểm của định nghĩa CNHTXHCN là vì định nghĩa này đã đẻ ra một số tư tưởng dung tục, ở Trung Quốc chúng ta còn kết hợp với một số tư tưởng dung tục khác tạo thành sự gò bó giáo điều trong sự nghiệp văn học. Tư tưởng dung tục này là sự giải thích lý giải dung tục hoá đối với “Bài nói chuyện” của Mao Trạch Đông và biểu hiện chủ yếu là ở việc lý giải quan hệ giữa văn nghệ và chính trị” (Tần Triệu Dương: Tập tìm đường văn học Nxb. Văn học nhân dân, 1984, P143-144). Như thế có thể thấy, các ông Tần Triệu Dương đã phủ định CNHTXHCN là một phương pháp sáng tác độc lập, và chỉ ra định nghĩa này sẽ dẫn đến chủ nghĩa giáo điều và lý giải dung tục về quan hệ giữa chính trị và văn nghệ.

 

Ý kiến phủ định CNHTXHCN của các ông Tần Triệu Dương bị một số nhà lý luận phê bình khác phản bác. Trương Quang Niên, Hoàng Dược Miên, Tưởng Khổng Minh, Diệp Dĩ Quần, v.v… đều xuất phát từ quan điểm thế giới quan và phương pháp sáng tác là gắn bó chặt chẽ với nhau; coi hạt nhân của khái niệm CNHTXHCN là chủ nghĩa xã hội; dùng tinh thần xã hội chủ nghĩa để giáo dục nhân dân là sự khác nhau cơ bản giữa CNHTXHCN và chủ nghĩa hiện thực trước đây. Do đó họ cho rằng không thể dùng khái niệm chủ nghĩa hiện thực thời đại xã hội chủ nghĩa để thay thế CNHTXHCN được.

 

Mặc dù ý kiến của các ông Tần Triệu Dương… bị một số người phản bác, nhưng điều đó chứng tỏ giới văn học Trung Quốc chưa có nhận thức nhất trí về khái niệm và định nghĩa CNHTXHCN.

 

Lúc đầu ý kiến qua lại giữa các nhà lý luận phê bình còn được khẩu hiệu “Trăm hoa đua nở” đảm bảo nên chưa xảy ra chuyện gì gay gắt, nhưng đến năm 1957 nổ ra cuộc “đấu tranh chống phái hữu” thì những ý kiến khác nhau về CNHTXHCN bị quy là cuộc đấu tranh giữa hai con đường tư bản chủ nghĩa và xã hội chủ nghĩa. Ngày 1-9-1957 Nhân dân nhật báo có bài xã luận Đấu tranh bảo vệ đường lối văn nghệ xã hội chủ nghĩa phê phán “phần tử phái hữu” có mưu đồ giương cao ngọn cờ viết chân thực để “bộc lộ mặt đen tối của cuộc sống xã hội”. Ngày 16-9, Lục Đinh Nhất, Bộ trưởng bộ tuyên truyền của  trung ương Đảng CSTQ, trong cuộc họp mở rộng của tổ đảng Hội nhà văn Trung Quốc nói: “Cho dù “CNHTXHCN” không phải là phương pháp sáng tác duy nhất thì cũng là phương pháp tốt nhất” (Văn nghệ báo số 25-1957) Chu Dương trong bài Phản đối thái độ hư vô chủ nghĩa đối với văn học xã hội chủ nghĩa – trao đổi với đồng chí Lưu Thiệu Đường, khẳng định “bản thân phương pháp sáng tác hiện thực XHCN là tuyệt đối không liên quan gì đến thuyết không xung đột, chủ nghĩa công thức, hiện tượng đơn điệu, dung tục cả” (Văn nghệ báo, số 15-1957). Diêu Văn Nguyên viết bài Văn học hiện thực XHCN là văn học của thời đại cách mạng của giai cấp vô sản – tranh luận với Hà Trực (Tần Triệu Dương) Chu Bột nói dứt khoát là trong lý luận văn học của Trung Quốc đã xuất hiện tư trào xét lại. Ông ta viết: “Trọng tâm của tư trào xét lại chủ nghĩa là “viết chân thực” và nhấn mạnh CNHTXHCN và chủ nghĩa hiện thực trước đây không khác nhau về phương pháp, do đấy CNHTXHCN không thể trở thành trường phái độc lập được” (Tạp chí Nhân dân văn học, số 9-1957). Những người không tán thành ý kiến của Trần Triệu Dương, v.v… nhưng cho định nghĩa CNHTXHCN chưa hoàn thiện cũng bị phê phán là xét lại như Trần Dũng, Vương Nhược Vọng, v.v… Đến 1958 Nxb. Văn nghệ mới cho ra hai tập Bàn về CNHTXHCN gồm 58 bài phê phán.

 

Để bảo vệ CNHTXHCN, Trung Quốc còn cho dịch một số tài liệu của các học giả Liên Xô ủng hộ CNHTXHCN. Ví dụ bài CNHTXHCN – phương pháp sáng tác của nghệ thuật Liên Xô của Trôfimov, v.v.. Nxb.Văn học nhân dân cho in cuốn Các nhà văn Liên Xô bàn về CNHTXHCN (1960). Tạp chí Dịch thuật cho in cuốn Bảo vệ CNHTXHCN (1958) chia làm hai tập, tập một gồm những bài viết của giới văn học Liên Xô bảo vệ “CNHTXHCN”, tập hai gồm những bài viết của giới nghiên cứu Đông Âu về CNHTXHCN.

 

Ngoài một số ấn phẩm dịch và một số bài phê phán ra, còn có một số bài của Mao Thuẫn, Quách Mạt Nhược, Qua Bảo Quyền… cũng chính thức ủng hộ và bảo vệ CNHTXHCN. Quách Mạt Nhược không những coi CNHTXHCN là “ngọn cờ hồng tươi rói” mà còn coi những ý kiến bất đồng là cuộc đấu tranh chính trị (Văn nghệ báo số 30-1957).

 

Năm 1958, ở Trung Quốc xuất hiện phong trào “nhảy vọt”. Quan hệ giữa hai đảng, hai nhà nước Xô-Trung có hiện tượng rạn nứt, nên Mao Trạch Đông không đề xướng CNHTXHCN của Liên Xô nữa, mà đưa ra phương pháp sáng tác mới của riêng mình, đó là sự “kết hợp giữa chủ nghĩa hiện thực cách mạng và chủ nghĩa lãng mạn” (gọi tắt là “hai kết hợp”). Trong một bài nói chuyện ở Hội nghị Thành Đô  của Trung ương Đảng tháng 8-1958, khi bàn đến con đường phát triển của thơ mới Trung Quốc, Mao Trạch Đông nói nội dung của thơ mới nên là “sự thống nhất đối lập giữa chủ nghĩa hiện thực và chủ nghĩa lãng mạn”. Cùng năm đó, tháng 4, Quách Mạt Nhược khi trả lời ban biên tập Văn nghệ báo về bài từ Trả lời Lý Thục Nhất – theo điệu Điệp Luyến hoa của Mao Trạch Đông, ông cho rằng bài từ đó là “sự kết hợp điển hình của chủ nghĩa lãng mạn cách mạng và chủ nghĩa hiện thực cách mạng” (Văn nghệ báo số 7-1958. Sau đó ít lâu, Văn nghệ báo số 9-1958 cho đăng một số bài của mấy nhà thơ dưới tiêu đề Sự kết hợp giữa chủ nghĩa hiện thực cách mạng và chủ nghĩa lãng mạn cách mạng. Nhưng những bài viết này chỉ mới bàn đến “Hai kết hợp” ở trong thơ. Cho mãi đến khi tạp chí Hồng kỳ (1.6.1958) đăng bài Dân ca mới mở ra con đường mới cho thơ ca của Chu Dương thì mới chính thức truyền đạt tinh thần của buổi nói chuyện của Mao Trạch Đông nói ở trên và nói rõ ý nghĩa của “Hai kết hợp”. Chu Dương viết: “Đồng chí Mao Trạch Đông nêu ra văn học chúng ta nên là sự kết hợp giữa chủ nghĩa hiện thực cách mạng và chủ nghĩa lãng mạn cách mạng. Đó là khái quát khoa học về kinh nghiệm lịch sử văn học, là chủ trương vô cùng chính xác căn cứ vào nhu cầu và đặc điểm của thời đại trước mắt mà nêu ra. Nó nên trở thành phương hướng phấn đấu của những người làm công tác văn học nghệ thuật” (Chu Dương văn tập. T.3, P5). Như vậy là, khẩu hiệu “Hai kết hợp” không phải Mao Trạch Đông trực tiếp nói ra mà là do Chu Dương truyền đạt ý của Mao Trạch Đông cho giới văn học Trung Quốc biết.

 

Có điều nên chú ý là, khi khẩu hiệu “Hai kết hợp” mới nêu ra, nó chưa thay thế ngay cho CNHTXHCN, do đấy báo chí Trung Quốc từ 1958 cho đến đầu những năm 60 vẫn dùng song song cả hai khẩu hiệu. Họ nói hai phương pháp sáng tác này không mâu thuẫn với nhau mà bổ sung cho nhau. Như vậy, ta thấy Trung Quốc không hề để ý đến ý kiến của Ximonov mà càng ngày càng thiên về “Cách mạng” và “tô hồng” nên mới nêu ra “Hai kết hợp”. Trong buổi nói chuyện ở Đại học Bắc Kinh tháng 11-1958, Chu Dương nói: “Chúng ta không phủ định CNHTXHCN, nhưng về hệ thống CNHTXHCN này chúng ta cũng có thể nghiên cứu một chút… Cá nhân tôi cho rằng, cách nêu vấn đề kết hợp giữa chủ nghĩa hiện thực cách mạng và chủ nghĩa lãng mạn cách mạng là tương đối toàn diện” (Chu Dương văn tập, T.3, P60).

 

Thời “cách mạng văn hoá” (1960-1976), trong bối cảnh văn học Trung Quốc đoạn tuyệt giao lưu với văn học nước ngoài, thì việc giới thiệu, dịch thuật và bàn về CNHTXHCN gần như rơi vào trạng thái ngưng trệ. Ngoại trừ vài tạp chí dịch lưu hành nội bộ đăng vài bài của các tác giả Liên Xô về CNHTXHCN, còn mọi người chỉ còn biết “mấy vở kịch mẫu mực cách mạng” và được giới cầm quyền đương thời giải thích chúng là thành quả của phương pháp sáng tác “hai kết hợp”.

Bắt đầu từ cuối những năm 70 – nghĩa là thời kết thúc cách mạng văn hoá – giới văn học khôi phục lại việc dịch và giới thiệu về CNHTXHCN. Năm 1979, Sở nghiên cứu văn học nước ngoài thuộc Viện khoa học Xã hội Trung Quốc cho in tập Những vấn đề CNHTXHCN thập niên 70 – Thảo luận về lý luận “hệ thống mở” của Liên Xô; năm 1981, Nxb. Văn học nước ngoài in cuốn Tập thảo luận về CNHTXHCN của Liên Xô.

 

Đầu thời kỳ đổi mới, Mao Thuẫn vẫn đề cao CNHTXHCN và cho rằng hai phương pháp sáng tác CNHTXHCN và “Hai kết hợp” là nhất trí, nhưng ông bắt đầu nhắc nhở mọi người: không thể coi “Hai kết hợp” là phương pháp  bắt buộc phải tuân theo(3) Chu Dương bắt đầu có vẻ cởi mở hơn. Tháng 12-1978 trong buổi toạ đàm sáng tác văn học ở Quảng Đông, sau khi nhắc đến “Hai kết hợp”, ông nói: “Bất cứ khẩu hiệu sáng tác nào đều không nên trở thành công thức và giáo điều trói buộc… Chúng ta cần đề xướng phương pháp sáng tác mà chúng ta cho là tốt nhất, đồng thời càng cần phải cổ vũ đa dạng hoá phương pháp sáng tác và phong cách sáng tác, không đòi hỏi nhất luật như nhau” (Chu Dương văn tập. T.5, P178). Ở đây, có điều khác với Mao Thuẫn là ông không nói “Hai kết hợp” và CNHTXHCN là như nhau.

 

Từ 1980 trở về sau, Chu Dương không nhắc đến khái niệm CNHTXHCN và cũng không nhắc gì đến “Hai kết hợp” nữa, mà chỉ nhấn mạnh “chủ nghĩa hiện thực cách mạng”. Ví dụ, tháng 2-1980, trong một buổi tọa đàm về sáng tác kịch bản, khi thấy có người đòi khôi phục lại truyền thống hiện thực chủ nghĩa của nền văn học mới thời Ngũ tứ, trở về như thời Ngũ tứ, Chu Dương nói: “Một thời gian trước đây chúng ta kiên trì cầm chừng con đường sáng tác hiện thực chủ nghĩa. Thời kỳ Lâm Bưu và “bọn bốn tên” ngang ngược hoành hành, chủ nghĩa hiện thực bị dày xéo hoàn toàn, bây giờ nhấn mạnh lại chủ nghĩa hiện thực là rất cần thiết. Nhưng không phải quay lại trước kia một cách đơn giản, mà nay trong điều kiện mới, hãy lấy tinh thần mới để khôi phục và phát triển chủ nghĩa hiện thực cách mạng” (Chu Dương văn tập. T.5, P211-212). Qua đây có thể thấy áp lực đòi quay về truyền thống hiện thực chủ nghĩa đã ảnh hưởng tới Chu Dương.

 

Từ cuối thập niên 70 trở đi, giới nghiên cứu văn học Liên Xô của Trung Quốc bắt đầu viết bài bình luận về “hệ thống mở của CNHTXHCN” của Liên Xô. Gần như đồng thời, một số nhà lý luận cũng bắt đầu viết bài chất vấn, nghi ngờ “Hai kết hợp”. Ví dụ, bài “Hai kết hợp” có thể trở thành phương pháp sáng tác được không? của Chu Ân Bân (1979); Phương pháp sáng tác “Hai kết hợp” và tư tưởng tả khuynhcủa Lưu Quang (1980); Nghi ngờ về phương pháp sáng tác “Hai kết hợp” của Đinh Phúc Nguyên (1989), v.v… Những bài văn trên đều gắn “Hai kết hợp” với tư tưởng tả khuynh và phủ định “Hai kết hợp” là một phương pháp sáng tác tồn tại độc lập.

 

Cuối thập niên 80 của thế kỷ XX, tình hình chính trị xã hội Liên Xô có biến động, khiến cho giới văn học của nước này dần dần công khai hoài nghi, phê phán, phủ định CNHTXHCN. Giới báo chí Trung Quốc kịp thời giới thiệu động thái này. Ngày 22/3/1989 Báo văn học Liên Xô lại công bố một tin mới: Đại hội đại biểu các nhà văn Liên Xô lần thứ 9 vừa thông qua Điều lệ mới. Điều lệ viết: Hiệp hội cho rằng “tự do sáng tác là điều kiện không thể thiếu để phát triển văn học”. Hiệp hội “sẽ như trước đây ủng hộ phương pháp hiện thực chủ nghĩa và những tác phẩm có lý tưởng xã hội chủ nghĩa”. Điều đặc biệt là trong điều lệ mới khi đề cập đến phương pháp sáng tác, tránh né khái niệm CNHTXHCN. Như vậy là văn học Liên Xô cuối cùng đã từ bỏ khái niệm và định nghĩa về CNHTXHCN.

 

Gần như đồng thời, giới văn nghệ Trung Quốc cũng lên tiếng phủ định CNHTXHCN. Đầu tiên là bài CNHTXHCN không phải là phương pháp sáng tác độc lập của Lý Lưu Cơ đăng trên Trung Châu học san số 5-1988. Tác giả nói, CNHTXHCN chỉ là một tư trào văn học, chứ không phải là một phương pháp và chủ trương tư trào văn học này “chỉ là một nhà trong trăm nhà, là một phái trong các phái văn học, nó sẽ cạnh tranh trường tồn cùng với các đối thủ khác, nó có thể tiếp tục phát triển”. Như vậy là bài của Lý Lưu Cơ mới chỉ phủ định sự tồn tại độc lập duy nhất của CNHTXHCN, chứ chưa phủ định định nghĩa và khái niệm CNHTXHCN.

 

Ý kiến phủ định quyết liệt là của nhà nghiên cứu Dương Xuân Thời. Ông viết hai bài liền. Bài thứ nhất có tên là Suy nghĩ lại về CNHTXHCN đăng trên Văn hối báo ngày 12-1-1989, bài thứ hai có tên làPhê phán CNHTXHCN đăng trên Văn học bình luận, số 2-1989. Cả hai bài đều nhất trí cho rằng: “CNHTXHCN không phải là tư trào văn học có tính tự phát, nó không có cơ sở tự nhiên trong sáng tác văn học, mà là một mô thức văn học do kết cấu quyền lực chính trị dựa theo ý chí quốc gia mà chế tác ra”, tác giả cho rằng “thực tiễn lịch sử của CNHTXHCN có tính phủ định, nó làm cho văn học bị hạ thấp thành thứ phụ thuộc của hình thái ý thức, thành con điếm của chính trị”. Ở Liên Xô, nó cắt đứt truyền thống hiện thực chủ nghĩa lớn lao của nước Nga từ thế kỷ XIX trở lại đây, nó tạo ra một loạt tác phẩm hiện thực giả tạo, dẫn đến sự suy thoái của văn học thời Stalin. Ở Trung Quốc nó cắt đứt truyền thống hiện thực chủ nghĩa thời Ngũ tứ, nó đánh mất chủ nghĩa hiện thực vốn rất yếu ớt của Trung Quốc “Việc phê phán tư tưởng Hồ Phong, thực chất là CNHTXHCN đã bóp chết lý luận hiện thực chủ nghĩa của thời Ngũ tứ”. Theo ông, cái gọi là CNHTXHCN hoặc “Hai kết hợp”, thực chất là một loại “chủ nghĩa cổ điển mới”, tức là “nhấn mạnh việc khống chế của hình thái ý thức đối với văn học (Văn nghệ tòng thuộc chính trị), lấy lý tính để trang sức giả tạo cho hiện thực (nhấn mạnh tính lý tưởng và chủ nghĩa lãng mạn). Nó vừa làm mất tinh thần phê phán của chủ nghĩa hiện thực lại vừa không có tinh thần phản kháng của chủ nghĩa lãng mạn. Tác giả cho rằng: “chủ nghĩa hiện thực thế kỷ XIX và chủ nghĩa hiện thực thời Ngũ tứ là chủ nghĩa hiện thực chân chính. Chỉ có thể trên cơ sở này phát triển chủ nghĩa hiện thực chứ không thể dưới tiền đề phủ định cơ sở này mà tạo ra một CNHTXHCN khác, làm như vậy chỉ có thể chủ nghĩa hiện thực giả tạo”.

 

Ý kiến của Dương Thời Xuân bị một vài nhà lý luận bảo thủ phản bác lại, nhưng họ lại nêu ra một ý kiến mới. Ví dụ nhà nghiên cứu Trần Liêu dưới tiền đề khẳng định CNHTXHCN, ông phủ định “Hai kết hợp”. Ông cho rằng “Hai kết hợp” xuất hiện trong bối cảnh “chống phái hữu” đang mở rộng, “đại nhảy vọt” đang dâng cao và những người theo chủ nghĩa giáo điều cho CNHTXHCN đã lỗi thời và dùng “Hai kết hợp” để thay thế CNHTXHCN, kết quả là tạo ra hàng loạt tác phẩm hiện thực giả tạo và lãng mạn rẻ tiền. Do đấy Trần Liêu cho rằng cần triệt để phủ định “Hai kết hợp” và kiên trì CNHTXHCN (Văn hối báo3-3-1989).

 

Tiếng nói của Trần Liêu rơi vào lạc lõng, chẳng ai đồng tình. Từ cuối thập niên 90 của thế kỷ XX, dường như không ai coi CNHTXHCN là phương pháp cơ bản của sáng tác văn học Trung Quốc nữa. Sự cáo biệt CNHTXHCN cũng thể hiện ở các giáo trình lý luận văn học ở các trường Đại học. Giờ đây người ta chỉ nói đến chủ nghĩa hiện thực còn những khái niệm “kết hợp chủ nghĩa hiện thực cách mạng và chủ nghĩa lãng mạn cách mạng” hoặc CNHTXHCN đã biến mất khỏi các giáo trình lý luận văn học.

(GS.Lê Huy Tiêu)

 

__________________

 

(1) Chu Dương (1908-1989) tên thật là Chu Vận Nghi quê tỉnh Hồ Nam .

 

(2) Simonov: Những vấn đề phát triển văn học Liên Xô in trong tập Văn học nhân dân Liên Xô – Tuyển tập các báo cáo và bài phát biểu ở Đại hội đại biểu các nhà văn Liên Xô lần thứ hai (Nxb. Nhân dân Văn học, 1955, P34).

 

(3) Mao Thuẫn toàn tập. T.27. Nxb. Văn học nhân dân, 1996, P37.


Chương 8. Kim Dung và Quỳnh Dao

 

 

Trong khoảng vài chục năm qua, có hai hiện tượng văn học Hán ngữ hiện đại đã ít nhiều gây ảnh hưởng đến sinh hoạt đọc sách và xem phim ở Việt Nam. Đó là hai nhà tiểu thuyết Kim Dung (Hồng Kông) và Quỳnh Giao (Đài Loan). Nhưng giới nghiên cứu phê bình thì không hào hứng, có chăng, chỉ phê phán qua loa. Khuynh hướng nghiên cứu phê bình của Trung Quốc và Việt Nam vốn đồng nhất trong mấy chục năm trước khi cải cách đổi mới. Theo khuynh hướng hiện thực xã hội chủ nghĩa những năm trước đây, những tác phẩm đựơc coi là chính thống khi nó nghiêm túc ủng hộ công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội và đấu tranh chống đế quốc xâm lược, đấu tranh thống nhất đất nước. Thứ hai là những tác phẩm văn học sử thi, có tính truyền thống dân tộc nhưng vẫn phải trực tiếp hỗ trợ các chủ đề cách mạng kể trên. Tóm lại, văn học cách mạng đòi hỏi sự tập trung cao độ vào nhiệm vụ chính, không được lơi lỏng, lạc đề. Trong bối cảnh như thế, hai cây bút Kim Dung và Quỳnh Giao dường như lạc lõng, không ăn nhập gì với dòng văn học chính thống ở Trung Quốc, và tất nhiên cũng không được giới thiệu, phát hành chính thức ở miền Bắc nước ta.

Công cuộc đổi mới ở Trung Quốc và Việt Nam sôi nổi cuối  thế kỷ XX  cùng với sự thay đổi bối cảnh khách quan trong nước và thế giới đã đem lại cho văn học những khuynh hướng nghiên cứu phê bình mới. Nhưng hệ thống lý thuyêt văn học không thể “ba phải“, “gió chiều nào che chiều ấy”. Chỉ có lý thuyết khoa học thực sự mới làm kẻ sỹ chân chính cầm bút viết. Nếu trước đây có những cây bút phê phán chỉ trích hai tác giả này thì đó cũng là sự thành thực của họ. Ngày nay giới phê bình khẳng định giá trị của hai cây bút ấy cũng là điều dễ hiểu. Thời đại đã cấp cho họ công cụ lí luận và cái nhìn mới…. Để cảm nhận văn chương của hai cây bút Quỳnh Giao và Kim Dung, người nghiên cứu cần áp dụng lý thuyết văn hoá học, ngành khoa học mới phát triển ở Việt Nam khoảng hai chục năm qua. Mặt khác, lý thuyết văn học cũng phải thừa nhận chức năng giải trí  của văn chương thì mới hi vọng bao dung được hai cây bút ấy và những trường hợp tương tự.

Vài năm nay, truyện của hai nhà văn Kim Dung và Quỳnh Giao chiếm một số lượng nổi bật ở khắp các nhà sách.

 

Chắc hẳn hai cây bút này không khỏi băn khoăn về khuynh hướng tư tưởng khi cầm bút. Và họ đã tìm một lối đi ở bên ngoài mọi ý thức hệ tư tưởng chính trị, một lối đi “trung dung”. Nói giản đơn là họ khôn ngoan tránh mọi mâu thuẫn ý thức hệ. Và họ đều thành công, mỗi người đã tạo ra độc giả riêng cho mình. Văn chương Quỳnh Giao tràn đầy nữ tính, trăn trở và phản ứng với cuộc sống hiện đại đang “tây âu hoá“ nhàm chán. Văn Kim Dung lại lục tìm giá trị văn hoá trong quá khứ. Văn Kim Dung  đậm nam tính, ưa suy tư  triết học phương Đông, thể hiện ý thức giữ gìn và phát huy truyền thống văn hoá dân tộc, ít quan tâm đến những cuộc đấu tranh thời hiện đại. Thực ra, ý tưởng của ông rất kín đáo. Trong tiểu thuyết võ hiệp lấy bối cảnh thời Tống, Nguyên, Minh, Thanh, tư tưởng hoà bình, hoà hợp, nhân ái, dung thứ vẫn làm nên chất men say trong lòng người đọc..(ª)

Quỳnh Dao琼瑶 (Qióng Yāo)

Nữ sĩ Quỳnh Giao sinh 1938 ở tỉnh Tứ Xuyên, năm 1949 theo gia đình trôi dạt sang lập nghiệp ở đảo Đài Loan.

            Văn chương Quỳnh Giao khá giản đơn, thiếu tính hàm súc, chứa đựng ít hàm lượng văn hoá truyền thống và ít thể hiện tư duy nghệ thuật mới mẻ hiện đại. Ngay giới cầm bút phê bình ở Đài Loan cũng ngần ngại, ít chiụ lên tiếng. Đến nay vẫn chưa thấy công trình nghiên cứu phê bình nào viết về tiểu thuyết Quỳnh Giao ! Thử đọc lướt qua những cái tên tiểu thuyết của nữ sĩ này, chúng ta có thể hiểu ngay tình trạng đó : Vẫn về bên anh, Hãy ngủ yên tình yêu, Hồ ly trắng, Như cánh bèo trôi, Đoạn cuối cuộc tình, Một khúc thu ca, Giông bão, Trôi theo dòng nước, Bọt sóng, Mãi mãi yêu thương, Ảo mộng, Cánh chim trong giông bão, Tình đã chia xa, Hỏi áng mây chiều, Bông cúc vàng, Bên bờ quạnh hiu, Xóm vắng, Như mây hoàng hôn, Lao xao trong rừng, Một sáng mùa hè, Chớp bể mưa nguồn, Dây tơ hồng, Hoa hồng khóc trong đêm, Tuyết Kha, Tình như bọt biển, Vòng tay kỷ niệm, Thiên đường bốc cháy, Vội vã, Tôi là một áng mây, Bên dòng nước, Giọt lệ tương tư, Tình vẫn đẹp sao, Băng Nhi, Chiếc áo mộng mơ, Cánh nhạn cô đơn, Mùa thu lá bay, Dòng sông lý biệt, Tình buồn, Hoàn Châu công chúa … (tổng cộng 60 cuốn tiểu thuyết và mấy tập truyện ngắn) . Đặc biệt, với tác phẩm Hoàn Châu công chúa, với phong cách “cổ trang” đậm tính lãng mạn truyền thống hấp dẫn, nữ sĩ đã gây bất ngờ cho độc giả quen thuộc của bà, đồng thời khiến những người xưa nay thường chê “tiểu thuyết tính cảm ủy mị Quỳnh Giao“ phải chú ý. Bà kịp nhớ lại rằng người Trung Quốc rất ưa những chuyện gắn liền với lịch sử dân tộc, với quá khứ. Chưa biết số lượng độc giả của Quỳnh Giao nhưng chắc hẳn khá lớn. Chiếm đa số thường là giới nữ sinh, giới nội trợ. Như thế cũng là một thành công lớn. Văn chương của bà cũng đã đáp ứng nhu cầu đọc truyện của hàng triệu người. Giới điện ảnh cũng tiếp tục làm phim trên các tiểu thuyết của Quỳnh Giao, thêm một lần nữa họ gặp lại độc giả của bà.

 

KIM DUNG金庸 [Jīn Yōng]

 

Kim Dung sinh vào khoảng những năm 20 ở Triết Giang. Đến năm 1948, tốt nghiệp đại học Luật ông chuyển sang Hồng Kông lập nghiệp (một năm trước cột mốc lịch sử 1949: đất nước Trung Hoa rộng lớn chia ba, 3 ý thức hệ trên 3 lãnh thổ)

Nhà văn Kim Dung có 12 bộ tiểu thuyết võ hiệp kỳ tình, vừa nối tiếp truyền thống tiểu thuyết võ hiệp Tống Nguyên Minh Thanh, vừa thể hiện cái nhìn hiện đại, suy ngẫm từ hiện đại. Thậm chí người ta khẳng định ông đã tạo ra một trào lưu tiểu thuyết võ hiệp kì tình hiện đại.  Nhiều cây bút đã viết nên những công trình nghiên cứu Kim Dung đồ sộ ngang với số sách Kim Dung viết ra. Đây là  trường hợp tác giả sáng tạo nên cả tác phẩm văn chương và những công trình văn hoá. Số lượng 12 tiểu thuyết của Kim Dung tuy có ít hơn Quỳnh Giao nhưng số chữ thì không kém (người Trung Quốc đo đếm văn chương bằng số chữ chứ không tính theo số trang, số quyển): Thư kiếm ân cừu lục, Bích huyết kiếm, Xạ điêu anh hùng truyện, Thân điêu hiệp lữ, Tuyết sơn phi hồ, Lãnh nguyệt bảo đao, Ỷ thiên Đồ long ký, Tố tâm kiếm (Liên thành quyết), Thiên Long bát bộ, Hiệp khách hành, Tiếu ngạo giang hồ, Lộc Đỉnh ký .

Đọc sách Kim Dung, nhu cầu nghiên cứu phê bình nảy sinh ào ạt từ Trung Quốc đến Việt Nam. Đây là vinh dự của những tác gia lớn, tác phẩm phong phú, hình tượng phức tạp đa nghĩa. Nhờ phê bình nghiên cứu, đời sống văn học càng náo nhiệt hơn, gợi hướng quần chúng đi vào chiều sâu sau khi đã thoả mãn nhu cầu giải trí. Qua tác phẩm, nhà văn đóng dấu ấn sâu sắc vào đời sống tinh thần, văn hoá của dân tộc… Với những tác phẩm lớn, ý nghĩa của nó vựơt ra ngoài biên giới địa lý hạn hẹp, đi tìm cộng hưởng trong thế giới loài người. Giới văn học Trung Quốc có các công trình nghiên cứu về Kim Dung (đã dịch in ở Việt Nam) như: Trần Mặc viết “Bàn về các nhân vật trong tiểu thuyết Kim Dung”, Trần Tấn Tài “Mơ và thực trong tiểu thuyết Kim Dung”, Bành Hoa, Triệu Kính Lập “Kim Dung, cuộc đời và tác phẩm”, Vương Hải Hồng, Trương Hiểu Yến “Giải mã tiểu thuyết Kim Dung” … Ở Việt Nam cũng có một số cây bút phê bình nghiên cứu Kim Dung như Nguyễn Duy Chính viết “Đọc Kim Dung tìm hiểu văn hoá Trung Quốc”. Trần Thức viết “Kim Dung- tác phẩm và dư luận” (tuyển chọn), Huỳnh Ngọc Chiến viết “Lai rai chén rượu giang hồ”, đặc biệt cây bút Vũ Đức Sao Biển, được gọi là nhà Kim Dung học của Việt Nam đã xuất bản bộ sách nghiên cứu 4 cuốn “Kim Dung giữa đời tôi” với chất lượng cao.

Nếu bạn đã từng đọc truyện Kim Dung thì nên đọc thêm một trong những cuốn khảo luận nghiên cứu đã nêu trên. Thông thường, đọc xong tác phẩm, người đọc chưa tận hưởng hết những gía trị của nó, và sẽ chỉ thoả mãn khi đọc được những bài viết của người phê bình, bởi họ  nghiên cứu mở rộng và đào sâu tác phẩm. Sự ngộ nhận nào đó của người đọc sẽ được xoá bỏ khi đọc qua ý kiến của giới phê bình nghiên cứu. Đọc sách và suy tưởng, bàn tán với nhau nữa, cũng là một thú vị trên đời. Theo tôi. trước hết, bạn nên tìm đọc bộ sách nghiên cứu Kim Dung giữa đời tôi của nhà giáo, nhà báo Vũ Đức Sao Biển ở thành phố Hồ Chí Minh (cũng là nhạc sĩ đã viết hai ca khúc nổi tiếng: Thu, hát cho người Điệu buồn phương Nam) .

Nếu chưa đọc hết Kim Dung, bạn chỉ cần đọc bộ Hiệp khách hành, bộ sách nhỏ nhất trong 12 tác phẩm của ông cũng đủ hiểu phong cách Kim Dung, cây bút  đã được Bắc Kinh công nhận là một trong 10 tác gia hàng đầu của văn học TQ thế kỷ XX.

Từ khi thế giới dập tắt chiến tranh “lạnh”, quan điểm văn học cũng mở rộng. Văn học Trung Quốc được coi là bao gồm cả những tác giả ngưòi Hoa sống ở hải ngoại, văn học không còn bó hẹp ở chính quốc và ý thức hệ nữa.

      (P.H.N)

 

TỔNG KẾT VĂN HỌC TRUNG QUỐC

 

  1. BỐI CẢNH VĂN HỌC TRUNG QUỐC

Đặc điểm lịch sử Trung Quốc: phân rồi hợp, hợp lại phân.Ý thức bành trướng quốc gia từ  bắt đầu từ hai xứ Hà Nam và Sơn Ðông (cái nôi của đất nước Trung Quốc). Lãnh chúa xứ này vừa coi rẻ vừa muốn thôn tính những vùng khác.Nhà Tần thực sự xây dựng một đế quốc đầu  tiên với  học thuyết  Pháp gia, một kiểu phát xít cổ đại bắt đầu xâm lược láng giềng Ðông Nam Á, Trung Á, Tây bắc Á. Truớc đây nhà Chu chỉ lo bao chiếm thiên hạ của mình thôi.

Thủ lãnh xây dựng nước bao giờ cũng từ võ nghiệp (Tần Chính, Lưu Bang, Lí Uyên, Chu Nguyên Chương), tranh bá đồ vuơng, cải cách xã hội chỉ đủ lấy lòng dân, sau đó suy thoái…

Nho học được coi là “tôn giáo nhà nuớc” luôn luôn bị các giai cấp phong kiến chế tác, cải biên “dĩ bất biến ứng vạn biến” nhằm củng cố quyền lực của mình và giữ đất nước quốc gia đế chế ổn định. Phật  giáo được Nho hoá, Trung quốc hoá và Ðạo Lão cũng bị cải biến theo mỗi thời đại..

Quyền lực đế chế và văn hoá phong kiến rất bền vững đã chế ngự được sự phát triển đô thị trong vòng chế độ phong kiến. Do vậy, Trung Quốc  không thể canh tân, duy tân dễ dàng khi cái gốc phong kiến còn quá vững và sâu bền .

Trong 80 năm cận đại, nước Trung Hoa phong kiến chịu sự nhục nhã chưa từng có trong lịch sử và đến đây kết thúc trên hai nghìn năm phong kiến lâu dài nhất thế giới (từ  thế kỉ 3 truớc công nguyên đến hết thế kỉ 19).

 

  1. CÁC LOẠI THỂ VĂN HỌC TRUNG QUỐC

Trữ tình: Kinh thi, Sở từ, phú Hán, thơ Đường, từ Tống, thơ hiện đại tự do.

Tự sự: Thần thoại truyền thuyết, truyện cổ tích, truyện truyền kỳ thời Đường, Sử ký, tiểu thuyết Minh Thanh, tiểu thuyết hiện đại.

Kịch: Hý kịch dân gian, kịch thơ thời Nguyên. Ba hệ Nho Phật và Ðạo đều tránh xung đột nên kịch kém phát triển. Kịch hiện đại tiếp tục theo phong cách Tây Âu.

Tản văn, tạp văn: Bách gia chư tử, tạp văn hiện đại.

Nghiên cứu lý luận phê bình văn học

Khổng Tử sưu tầm, biên soạn Kinh thi và phê bình, giảng dạy .

Trần Tử Ngang cải cách Đường thi, Bạch Cư Dị bàn mở rộng nâng cao thơ Đường,

Kim Thánh Thán, Mao Tôn Cuơng nghiên cứu phê bình tiểu thuyết Minh, Thanh

Lưu Hiệp viết Văn tâm điêu long nghiên cứu văn chương cổ điển Trung Quốc.

Bộ phận văn học của Tứ khố toàn thư do nhà Thanh biên soạn tập thể (một loại từ điển bách khoa Trung Quốc).

Nhà thơ Viên Mai nghiên cứu thơ Tùy viên thi thoại.

Nhà văn Chung Vinh nghiên cứu văn chương cổ. v.v…

 

Ta có thể nhận thấy 3 yếu tố nổi bật của văn chương Trung Hoa là

hiện thực, nhân đạo và yêu nước



Mối quan hệ gắn bó, song hành của văn học Trung Quốc – Việt Nam

 

Trong quá khứ, văn học Trung Quốc là hình mẫu, cảm hứng cho các nhà thơ nhà văn  thời phong kiến Việt Nam. Quan hệ gắn bó đặc biệt suốt nghìn năm ấy đã góp phần quan trọng tạo ra nền văn học cổ điển Việt Nam với những tác gia, tác phẩm tiêu biểu : Thơ văn Lí Trần (Trần Quốc Tuấn, các thiền sư Dương Không Lộ, Lý Trường, Mãn Giác, Đặng Dung, Phạm Ngũ Lão), Nguyễn Trãi, Lý Tử Tấn, Lê Thánh Tôn, Bà huyện Thanh Quan, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Lê Quí Đôn, Nguyễn Dữ, Hồ Xuân Hương, Nguyễn Du, Nguyễn Đình Chiểu, Nguyễn Khuyến…

Văn học Trung Quốc đương đại vẫn được nhà văn Việt Nam hào hứng đọc rút kinh nghiệm và phấn đấu đuổi theo. Trên bối cảnh lịch sử xã hội tương đồng, văn học TQ vẫn luôn luôn đi  trước một bước so với Việt Nam. Duy chỉ có sự khác nhau là giai đoạn 1949 đến 1976. Trong giai đoạn đó, văn học TQ say mê xây dựng “chủ nghiã xã hội” thì văn học Việt Nam đặt nhiệm vụ đấu tranh thống nhất đất nước, kháng chiến chống Mỹ lên hàng đầu và ưu tiên hơn hết. Chủ đề xây dựng chủ nghiã xã hội ở nước ta chỉ giữ vai trò thứ hai. Rất may mắn nước ta không mắc phải những tổn thất khủng khiếp, không có “những cái chết uất ức trong hoà bình” như ở TQ giai đoạn 1966-1976. Bản sắc dân tộc Việt Nam, cũng như phương châm của Đảng CSVN, đặc sắc ở chỗ là: không bao giờ chấp nhận cực đoan quá “tả” ! Đó là một may mắn của người Việt chúng ta.

Văn học Việt Nam  tiếp tục nghiên cứu, học tập những tiến bộ của văn học TQ đương đại để xây dựng tư tưởng phong cách riêng, duy trì bản sắc văn hoá dân tộc Việt Nam.  Bàn về văn học đương đại TQ, như người TQ nói về tiểu thuyết Hồng Lâu Mộng, chúng ta có thể nói: “Khai đàm bất thuyết Trung văn học, Độc tận thi thư diệc uổng nhiên” (Mở miệng nói chuyện mà không bàn đến văn học Trung Quốc thì đọc hết sách thiên hạ cũng uổng phí).

Văn học Trung Quốc hiện đại còn phải kể đến hai nhà văn khá quen thuộc với độc giả Việt Nam: nữ văn sĩ Quỳnh Giao (nhà văn tâm lí xã hội của quần chúng bình dân) sống ở Đài Loan và Kim Dung (nhà văn võ hiệp ái tình dã sử) sống ở Hồng Công.

Giai đoạn văn học đương đại Trung Quốc đang nở rộ những mùa gặt tiểu thuyết, nhưng cũng như Việt Nam, đang dò dẫm đi tìm một hướng sáng tác mới, rộng mở thênh thang hơn bao giờ hết. Nhưng họ không bao giờ quên kế thừa truyền thống đặc sắc phong phú của văn học cổ đại và trung đại.

 

™


 

PHỤ LỤC 1

BẢNG ÐỐI CHIẾU NIÊN ÐẠI TRUNG QUỐC VÀ VIỆT NAM

 

VIỆT NAM

TRUNG QUỐC

Nước Văn Lang – cách đây 4000 năm

-Văn hóa Phùng Nguyên

-Văn hóa Ðồng Ðậu, Gò Mun

-Văn hóa Ðông Sơn

Nước Âu Lạc

Vua An Dương vương Thục Phán

Nửa sau thế kỉ 3 tr CN

Chiến tranh xâm lấn của Triệu Ðà

Âu Lạc diệt vong (179 tr.C.N )

Thuộc Triệu (179- 111 tr.CN)

Thuộc Tây Hán (111- 24 sau CN)

Thuộc Ðông Hán (25- 204)

Cuộc k/n Hai Bà Trưng (40)

Thuộc Ngô / Tam quốc (244-280 )

 

 

 

Khởi nghĩa Bà Triệu (248)

Thuộc Tấn (280-420)

 

 

Thuộc Tống (420- 479)

Thuộc Tề  (479-505)

Thuộc Lương (504-543)

Nuớc Vạn Xuân (544-603 )

 

 

Thuộc Tùy (603-617)

Thuộc Ðường (618-906)

Cuộc khởi nghĩa Mai Thúc Loan (722)

Cuộc khởi nghĩa Phùng Hưng (766-791)

Họ Khúc giành quyền tự chủ (905-930)

Dương Ðình Nghệ (931-937)

Ngô Quyền chiến thắng Bạch Ðằng (938)

Ngô Vương (939-967)

Ðinh (968-980)

Tiền Lê (980-1009)

Lê Hoàn và k/c chống Tống lần 1 (981)

Nhà Lý (1010-1225)

K/c chống Bắc Tống lần 2 (1075-1077)

Nhà Trần (1225-1400)

K/c chống Nguyên Mông (1258)

K/c chống Nguyên Mông lần 2 (1285)

K/c chống Nguyên lần 3 1287-1288)

Hồ (1400-1407) Quý Ly

Hậu Trần (1407-1413)

Thuộc Minh (1414-1427)

-Kháng chiến chống Minh (1406-1407)

-Khởi nghĩa Trần Ngỗi (1409-1413)

-K/nghĩa Trần Quý Khoáng (1409-1413)

-         K/nghĩa Lam Sơn (1418) và đại thắng quân Minh 1427 .

Nhà Lê (1428-1527, trước Lê -Trịnh)

Nhà Mạc (1527-1595 )

Hậu Lê (Lê -Trịnh):1533-1788

(Ðàng Ngoài & ÐàngTrong chúa Nguyễn)

 

Tây Sơn (1788-1802) Nguyễn Huệ

Kháng chiến chống Mãn Thanh (1788-1789)

Nhà Nguyễn (802-1945) (+)

Cánh mạng Tháng Tám 1945

Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (1945-1975)

Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam

(từ 1976)

Nhà Hạ (tk 21-17 tr.CN)

Thương (17-11tr CN) và Aân

Chu: Tây Chu  (11-8 tr.CN)

Ðông Chu (8-3 tr.CN) :

-         Xuân Thu (8-5 tr.CN)

-         Chiến Quốc (5-3 tr.CN)

Tần (221-206 tr CN)

Hán: Tây Hán (206 tr CN-24 sau CN)

 

 

 

Ðông Hán (25- 220)

 

 

Tam quốc (220-280) :

-         Ngụy  220-265

-         Thục  221- 265

-         Ngô   222-280

Tấn : Tây Tấn (265- 316)

Ðông Tấn(317-420)

Nam Bắc triều (420-589)

Nam triều (420-589)

Tống (420- 479)

Tề  (479-502)

Lương (502-557)

Trần (557-589)

Bắc Nguỵ 386-534, Đông Nguy 534-550, Bắc Tề 550-577 Tây Nguỵ 535-556, Bắc Chu 557-581

Tùy (581-617)

Ðường (618- 907)

 

 

Ngũ Ðại (907- 960)

Bắc Tống (960-1127)

 

 

 

Nam Tống (1127-1279)

Liêu  907-1125,  Kim 1115-1234

Nguyên (1271-1368)

 

 

 

 

 

Minh (1368- 1644)

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Thanh (1644 – 1911)

-         Thuận Trị ,

-         Khang Hy ,

-         Ung Chính

-         Càn Long ,

-         Gia Khánh,

-         Hàm Phong (chồng Từ Hy), Ðồng Trị (hai bà),Từ Hi, Đạo Quang, Quang Tự & Phổ Nghi.

Trung Hoa Dân Quốc (1911-1949 )

Cộng Hòa Nhân dân Trung Hoa từ 1949

 

(+) Ghi thêm về các vua nhà Nguyễn

 

Gia Long    (1802-1819),

Minh Mạng (1820),

Thiệu Trị     (1841),

Tự Ðức       (1848),

Kiến Phúc   (1883),

 

Hàm Nghi     (1885),

Ðồng Khánh (1886),

Thành Thái   (1889),

Duy Tân        (1907),

Khải Ðịnh      (1916),

Bảo Ðại        (1926-1945).

 


PHỤ LỤC 2

10 NHÂN VẬT VĂN HÓA ẢNH HƯỞNG NHẤT NƯỚC TRUNG QUỐC MỚI

Mạng www.china.com.cn, văn phòng thông tin chính phủ TQ tổ chức bình chọn

          (Chỉ bình chọn người sáng tác sau ngày thành lập nước Trung Hoa mới 1.10.1949)

 

BẢNG XẾP HẠNG VĂN HỌC

1.      Lão Xá nhà văn TQ (1899-1966)

2.      Băng Tâm nhà thơ TQ (1900-1999)

3.      Hải Tử nhà thơ TQ (1964-1989)

4.      Ba Kim nhà văn TQ (1904-2005)

5.      Kim Dung, nhà văn Hồng Công (1924 – )

6.      Quỳnh Dao, nữ nhà văn Đài Loan (1938 – )

7.      Trương Ái Linh, nữ nhà văn Hoa kiều Mỹ (1920-1995)

8.      Phó Lôi,  phiên dịch, bình luận văn học TQ

9.      Hàn Hàn, nhà văn TQ (1982-)

10.  Tam Mao, nữ nhà văn Đài Loan (1943-1991)

 

BẢNG XẾP HẠNG TỔNG HỢP (văn chương, sân khấu, âm nhạc)

1        Đặng Lệ Quân, ca sĩ Đài Loan

2.  Vương Phi, ca sĩ Hongkong

3.      Châu Kiệt Luân, ca sĩ Đài Loan

4.      Hàn Tái Phấn diễn viên kịch TQ

5.      Lão Xá, nhà văn  TQ(1899-1966 tự tử chết trong CMVH)

6.      Mao Uy Đài, diễn viên Việt kịch TQ

7.      Băng Tâm nhà thơ, nhà văn 1900-1999 TQ

8.      Lỗ Đại Hữu, nhạc sĩ Đài Loan

9.      Hà Chiếm Hào, nhạc sĩ TQ

10.  Triệu Lệ Dung, diễn viên kịch TQ

 

—


PHỤ LỤC 3

 

DANH MỤC KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

Về MÔN VĂN HỌC TRUNG QUỐC

 

1. Đặc điểm nghệ  thuật của những bài thơ tình bằng hữu tiêu biểu trong Đường Thi

      (SV Dương Thị Thúy Hằng, lớp ĐH 1C3, Khóa 1)

 

2. Hình tượng “Gió” trong thơ Đường

    (SV Tạ Thanh Hảo, lớp ĐH 2C2, Khóa 2)

 

3. Tìm hiểu cảm hứng xuất thế trong thơ Đường

     (SV Trần Văn Cẩm,  Lớp ĐH 3C2, Khóa 3)

 

4.  Hình tượng nhân vật nho sinh và nhân vật phụ nữ trong “Liêu trai chí dị”

của Bồ Tùng Linh.

       (SV Nguyễn Thị Thu Giang, lớp ĐH 4C2, Khóa 4)

 

5. Nghệ thuật miêu tả xung đột tư tưởng giữa hai kiểu nhân vật phụ nữ quí tộc tài hoa

trong tiểu thuyết Hồng lâu mộng

    (SV Nguyễn Hoàn Anh, lớp ĐH 5C2, Khóa 5)

 

6. Tìm hiểu hình tượng nhân vật trong một số truyện ngắn Trung Quốc đương đại

    (SV Huỳnh Phương Đan, lớp ĐH 6C2, Khóa 6)

 

7. Tìm hiểu tiểu thuyết “Báu vật của đời” của nhà văn Mạc Ngôn

     (SV Nguyễn Trung Nam, lớp ĐH 6C2, Khóa 6)

 

 

 

(Văn bản khóa luận lưu tại:

Thư viện Đại học An Giang,

Khoa sư phạm,

và Bộ môn Ngữ văn)

 

 

 



TÀI LIỆU THAM KHẢO

 

1. Giáo trình Văn học Trung Quốc tập I, II. GS Nguyễn Khắc Phi, GS Trương Chính, GS Lương Duy Thứ. NXB Giáo dục, 1988.

2. Thần thoại Trung Quốc, Ðinh Gia Khánh biên soạn, Nhà xuất bản Khoa Học Xã Hội, Hà Nội 1994

3. Lịch sử văn  minh Trung  Quốc, Will Durant, ÐHSP Thành phố  HCM 1990.

4. Nhân sinh quan và thơ văn Trung Hoa, Lâm Ngữ Ðường. Nhà xuất bản Ca Dao 

     Sài Gòn 1970.

5. Tinh hoa lý luận văn học cổ điển T rung Quốc. Phương Lựu, Nxb Giáo  dục 1989

6. Một số bài giảng chuyên đề Cao học khoá XI Khoa Ngữ văn

Trường Ðại học Sư phạm Hà Nội 1 .

7.  Lỗ Tấn tuyển tập, Nhà xuất bản Hậu Giang 1987.

1.   Thơ Ðường (2 tập), Nhiều người dịch, Nhà xuất bản Văn học HN 1985

2.   Ðường thi, Trần Trọng Kim dịch

10 . Đường thi tam bách thủ, Ngô Văn Phú dịch, Nxb Hội nhà văn 2000

11. Thiên gia thi, Ngô Văn Phú soạn, Nxb Hội nhà văn 1998

12. Tam quốc, Tây du, Thuỷ hử, Liêu Trai chí dị, Đông chu liệt quốc, Hồng lâu mộng,

Nho lâm ngoại sử, Tình sử …

13. Lịch sử văn học hiện đại Trung Quốc, Ðường Thao chủ biên tập I . Lê Huy Tiêu

và nhóm tác giả dịch  Nxb Giáo dục 1999

14. Lịch sử văn học hiện đại Trung Quốc, Ðường Thao chủ biên – tập 2 . Lê Huy Tiêu

và nhóm tác giả dịch,  Nxb Giáo dục, 2002

15. Sử Trung Quốc, Nguyễn Hiến Lê, Nxb Văn hóa 1999 hai tập .

16. Thi tiên Lí Bạch, Lê Ðức Niệm, Nxb Văn nghệ TP. HCM 2001

17. Tống từ. Nguyễn Xuân Tảo biên dịch. Nxb Văn học 1999

18. Thi ca từ Trung Hoa, Phùng Hoài Ngọc, Nhà xuất bản Đại học quốc gia tp.Hồ Chí Minh

2008

19. Tứ thư, Hà Nội, Nhà xuất bản Quân đội nhân dân, Trần Trọng Sâm, Kiều Bách Vũ Thuân biên dịch, Hà Nội: 2003

20. Three ways of Asian  Wisdoms. New York  1968. Nancy  Willson Ross.

Và một số sách, tạp chí khác.

Mạng internet www.china.com ngày 5.03.2009

 

Hết

Biên giả

Phùng Hoài Ngọc

 

(·) Tiểu thuyết Trăm năm cô đơn của G.G Marquez, nhà văn Columbia, vùng Mỹ La tinh được giải Nobel văn học.

(ª) Trước đây giới nghiên cứu văn học miền Bắc ít quan tâm, thậm chí phê phán hai cây bút này. Cũng khó trách được, bởi văn học hồi ấy tập trung vào cuộc đấu tranh ý thức hệ, tuân thủ yêu cầu nghiêm ngặt của công cuộc đấu tranh thống nhất nước nhà và kháng chiến chống Mỹ. Văn học XHCN hồi ấy có lẽ coi Quỳnh Giao và Kim Dung như loại văn gây “nhiễu văn học” trong việc giáo dục tuyên truyền công chúng. Còn ở miền Nam, Kim Dung được dịch in trên báo chí hàng ngày và xuất bản thành sách, trở thành một dấu ấn khá đậm trong nhiều lớp người đọc. Một số bản sách ấy bằng những cách nào đó cũng lọt ra các tỉnh phía Bắc vào tay dân “ghiền” truyện võ hiệp. .

 

Share this:

Like this:

Like

Be the first to like this post.

Gửi phản hồi Cancel reply

Top of Form

Enter your comment here...

 

Email (yêu cầu) (Not published)

Tên (yêu cầu)

Trang web

Please log in to WordPress.com to post a comment to your blog.

You are commenting using your Twitter account. (Đăng xuất)

You are commenting using your Facebook account. (Đăng xuất)

Connecting to %s

Báo cho bạn khi có người bình luận tiếp theo đề tài này bằng điện thư

Notify me of new posts via email.

Bottom of Form

Tìm kiếm

Top of Form

Bottom of Form



  • Xác lập lại một quan niệm vững chắc về hiến pháp | phamdinhtan: [...] http://giangnamlangtu.wordpress.com/2011/10/06/xac-l%e1%ba%adp-l%e1%ba%a1i-m%e1%bb%99t-quan-ni%e1%bb... Like this:LikeBe the first to like this

  • Hương: Gaddafi Đồng Hòa - Hải Phòng (Trích từ http://webphunu.net/forum/showthread.php?t=3553) Qua nội dung của cuốn "Tập bài đạ

  • giangnamlangtu: Bài này bàn bạc rộng rãi hơn bài Chu Hảo, nêu được lịch sử các Hiến pháp trên thế giới để chúng ta tham khảo . Cũ

Chuyên mục

Lưu trữ

Blog at WordPress.com.

Theme: Albeo by Design Disease.

Follow

Follow http://giangnamlangtu.wordpress.com

Top of Form

Get every new post delivered to your Inbox.

Join 4 other followers

Bottom of Form

Powered by WordPress.com