DMCA.com Protection Status

Vài nét về phương pháp sáng tác thơ  quan tâm

Được đăng bởi: Trần Việt Thao

Cập nhật lúc 09:46 ngày 12/06/2018

Vài nét về phương pháp sáng tác thơ.

I- Định nghía về thơ: Thơ là một hình thức ngôn ngữ có âm điệu, vần điệu, nhạc điệu, mang trí tuệ, tình cảm mãnh liệt và tâm hồn của nhà thơ( Theo sách LLVH ĐHTHV).( Thơ là khúc xạ của thế giới khách quan qua trái tim, khối óc nhà thơ. Thơ là tiếng nói của trái tim, trí tuệ, tâm hồn nhà thơ).

Nh­ư vậy, tiêu chí một bài thơ là phải có đủ bốn yếu tố: vần điệu, nhạc điệu, trí tuệ và tình cảm của nhà thơ( nếu thiếu một trong bốn yếu tố đó thì chưa phải là thơ).

Vì vậy nên bất cứ bài thơ nào cũng có thể phổ nhạc để trở thành bài hát. Nhưng cần lưu ý rằng “ Một bài văn xuôi cũng có thể là một bài thơ nếu câu văn ngắn gọn, súc tích và gây cảm xúc nhanh cho người đọc”( Theo sách Lý luận văn học- Đại học sư phạm văn).

Định nghĩa mới về thơ( nêu được bản chất, điều kiện có thơ):

Có thể nói: Thơ là sản phẩm của “phản ứng hoá học” giữa kiến thức văn học tối thiểu để làm được thơ và hiểu biết về tự nhiên, xã hội càng sâu sắc càng tốt, nhưng phản ứng chỉ xảy ra khi có xúc tác là tình cảm mãnh liệt( yêu thật yêu, ghét thật ghét, căm thù thật căm thù, nồng cháy thật nồng cháy, khát vọng thật khát vọng,….) và có thì giờ rãnh rỗi để trau chuốt thể hiện nó.

Đó cũng chính là lời lý giải tại sao có nhiều người rất giỏi văn hoặc có trình độ văn học cao nhưng ít làm thơ và có thể làm được thơ đúng nhưng khó làm được thơ hay; trong khi đó những người đang yêu hay đang khát vọng yêu làm thơ rất hay,…... Có nhiều người học toán nhưng lại làm thơ hay bởi lý do trên và có thêm kiến thức toán giỏi để tính toán nhanh theo niêm luật từng loại thơ( vì làm thơ là giải một bài toán logic phức tạp- nếu học đại số logic- đại số mệnh đề bạn sẽ biết). Vì vậy, muốn làm thơ hay cần và đủ là phải giỏi cả văn, toán và có tình cảm mãnh liệt.

II- Các thể loại thơ:

1, Thơ gốc Trung quốc:

* Thơ cổ phong( trước khi có thơ Đường luật và kéo dài tới nay): Thơ có thể vần hoặc không, có thể đối hoặc không đối(tương tự thơ tự do của VN).

* Thơ đường luật, có ba loại:

- Thơ thất ngôn, bát cú đường luật (thơ có tám câu, mỗi câu có tám chữ theo luật thơ đường TQ, gồm: hai câu đề, hai câu thực, hai câu luận và hai câu kết; trong đó hai câu thực và hai câu luận phải đối ý , đối lời, đối bằng trắc; thanh bằng gồm các từ có dấu huyền và không dấu; thanh trắc là các từ có các dấu còn lại),

Thơ phác hoạ niêm luật thơ Đường:

Đời Đường Trung Quốc hoá bài thơ,

Thể loại truyền lưu đến tận giờ.

Tám câu, bảy chữ theo niêm luật,

Đối ý, đối lời thực, luận cơ.

 

Cặp đề thừa, phá tuỳ cảm hứng,

Cặp kết gò theo đại ý thơ.

Thực, luận trắc, bằng từng cặp đối,

Để có thơ Đường toại ước mơ ./.

Trần Việt Thao

( CVC.PV Trung tâm HN, DN & GTVLTN Thanh Hóa).

Về xác định các từ thuộc thanh bằng hay thanh trắc tôi có câu lục bát để dễ nhớ như sau:

Dấu bằng, không dấu- thanh bằng,

Sắc, nặng, hỏi, ngã thưa rằng trắc đây.

ví dụ1:

Vịnh Vịnh Hạ long

Em ra biển Bắc ngắm kỳ quan

Biển khơi phố xá, quyện nước non

Một vùng thạch nhũ đang vươn tới

Vạn khách tham quan tựu thả hồn.

***

Biển đã vì ta, ta vì biển

Núi chao sóng nước, nước đá vờn

Nâng niu nghắm nghía kỳ quan quí

Mong nước non kia mãi trường tồn./.

(Trần Việt Thao- VP.Tỉnh đoàn Thanh Hóa ).

 

Thơ xuân 2008: Nắng xuân!

Vừng hồng bừng dậy gọi sắc xuân,

Hoa tươi, lộc biếc dáng tần ngần.

Tiễn đưa năm cũ bao lưu luyến,

Đón chào năm mới bấy tình xuân.

*

Phải chăng xuân đến cho khởi sắc,

ắt hẳn tết về toại lòng dân,

Hội nhập vươn lên đà đổi mới,

Cho xuân hạnh phúc gấp vạn lần./.

Trần Việt Thao.

Ví dụ 2: Vịnh Sầm Sơn.

 

Mùa hè nóng nực đến Sầm Sơn,

Nơi bờ cát trắng sóng nước vờn,

Một vùng duyên hải đang vươn tới,

Vạn khách ngoạn du tựu thả hồn.

*

Hè đến giục ta nhanh tới biển,

Đông qua nghỉ mát ngắm núi non.

Cô Tiên, Trống Mái kỳ quan quí,

Thiên đường mùa hạ tựu Sầm Sơn.

( Thơ Trần Việt Thao)

 

 

- Thơ ngũ ngôn, bát cú Đường luật( thơ có tám câu, mỗi câu có năm chữ theo luật thơ Đường).....vvv.............Ví dụ:

Mùa hè đến Sầm Sơn,

Nơi bờ cát sóng vờn,

Một Duyên hải vươn tới,

Vạn khách tựu thả hồn.

*

Hè giục ta tới biển,

Đông nghỉ ngắm núi non.

Trống Mái kỳ quan quí,

Thiên đường tựu Sầm Sơn.

( Thơ Trần Việt Thao)

 

- Thơ tứ tuyệt ( thơ có bốn câu, mỗi câu bảy chữ theo luật thơ Đường của TQ), ví dụ:

“Tôi thấy tỉnh Thanh thật thiết tha,

Từ tình tuổi trẻ tới tình ta,

Truyền thống tiếp thu ta tiến tới,

Thử thách tôi thêm tuổi trẻ ta”. ( Thơ việt Thao).

2. Thơ Việt nam:

* Thơ lục bát( thơ có từng cặp hai câu: câu đầu sáu chữ, câu sau tám chữ; chữ thứ sáu của câu đầu phải vần với chữ thứ sáu của câu tám chữ và chữ thứ tám của câu sau lại vần với chữ thứ sáu của câu thứ ba và cứ thế tiếp tục....),

Thơ lục bát phác hoạ niêm luật thơ lục bát của Việt Nam:

 

Thể thơ lục bát ngàn xưa,

Bài ca bất tận mà chưa thể ngừng,

Câu sáu, câu tám trập trùng,

Vần chữ thứ sáu nếu cùng khổ thơ.

Khác khổ tám- sáu vần cơ,

Cứ làm như vậy thành thơ nước mình.

Trần Việt Thao

( CVC.PV Trung tâm HN, DN & GTVLTN Thanh Hóa).

 

Ví dụ:

....Muôn nơi Bác vẫn đi về,

Phút giờ gặp lại tình quê thắm nồng.

Dáng Người đi giữa non sông,

Dẫn đường con cháu đồng lòng dựng xây;

Từ trong lao động hôm nay,

Chủ nghĩa xã hội từng ngày hiện lên.

Vững tin Bác vẫn ở bên,

Vận dụng chủ nghĩa Mác- Lê nin thiên tài;

Dắt dìu ta tới ngày mai-

Dân giàu nước mạnh, tương lai huy hoàng”.

( Thơ Việt Thao).

“Vui sao đến “Tháng thanh niên

Tháng cho tuổi trẻ vư­ơn lên xây đời.

Từ thành thị đến muôn nơi,

Công trình tuổi trẻ giục đời v­ươn lên,

Hết mình khi đ­ược Đảng tin,

Lập thân, kiến quốc làm nên đổi đời.

“Tháng TN” chính là nơi

Đảng quan tâm, tuổi trẻ tôi hết mình,”.( Thơ Việt Thao).

 

* Thơ song thất lục bát ( thơ có từng bộ bốn câu nối tiếp nhau: hai câu đầu, mỗi câu có bảy chữ, hai câu sau là hai câu thơ lục bát); ví dụ như bài thơ Cung oán ngâm khúc

“ Trải vách quế gió vàng hiu hắt, 
Mảnh vũ y lạnh ngắt như đồng, 
Oán chi những khách tiêu phòng, 
Mà xui phận bạc nằm trong má đào. 

Duyên đã may cớ sao lại rủi, 
Nghĩ nguồn cơn dở dói sao đang, 
Vì đâu nên nỗi dở dang, 
Nghĩ mình, mình lại thêm thương nổi mình”( Thơ của Nguyễn Gia Thiều). 

 

Hoặc: Chinh phụ ngâm.

“Chinh Phụ Ngâm

Tác giả: Đặng Trần Côn

Thuở trời đất nổi cơn gió bụi, 
Khách má hồng nhiều nỗi truân chuyên. 
Xanh kia thăm thẳm tầng trên, 
Vì ai gây dựng cho nên nỗi này ? 

Trống Trường Thành lung lay bóng nguyệt, 
Khói Cam Tuyền mờ mịt thức mây.
Chín tầng gươm báu trao tay, 
Nửa đêm truyền hịch định ngày xuất chinh…….”

 

Sầm Sơn ngâm

Trái đất ngày càng thêm nóng nực,

Du khách về thưởng thức Sầm Sơn,

Non xanh, nước biếc, sóng vờn,

Có nơi nào biển mát hơn nơi này?

 

Hòn Trống Mái nơi đây Trường Lệ,

Nàng Cô Tiên ẩn thế núi đồi,

Huyền thoại giục khách muôn nơi,

Về Sầm Sơn được nghỉ ngơi mát lành.

( Thơ Trần Việt Thao)

 

* Thơ tự do:

- Có các loại thơ:

+ Thơ hai chữ( mỗi câu chỉ có hai chữ), ví dụ:

" Sầm Sơn,

Bốn mùa,

Biển hát,

Gió mát,

Sóng xanh,

Sơn Thủy,

Hữu Tình-

Thiên đường,

Mùa hạ" ( Thơ Việt Thao ).

+ Thơ ba chữ( mỗi câu chỉ có ba chữ), ví dụ:

Đường đèo dốc.

Lắm gian truân,

Dẫu khó khăn,

Ta không nản....”( Thơ Việt Thao)

 

+ Thơ bốn chữ( mỗi câu chỉ có bốn chữ), ví dụ:

Thanh niên tình nguyện.

Thanh niên tình nguyện,

Cùng nhau tìm đến

Những vùng quê xa

Nghèo nàn lạc hậu

*

Trong tim nung nấu

Chí vì cộng đồng

Xung kích tiên phong

Xoá nghèo ,xoá đói.

*

Rừng xa vẫy gọi

Tình nguyện áo xanh

Dốc trí lực mình

 

Xoá mù ,phòng dịch,...

*

Trên đ­ường tới đích

Còn lắm gian truân

Hỡi tuổi thanh xuân

Vì dân tình nguyện.

*

Để nơi ta đến

Khởi sắc bừng lên

Hội nghĩa trăm miền

Hội tình tuổi trẻ./.

( Trần Việt Thao- Tỉnh Đoàn Thanh hoá ).

 

* Thơ năm chữ( mỗi câu chỉ có năm chữ) giống như thể thơ ngũ ngôn, bát cú Đường luật.

M­ưa xuân!

M­ưa xuân gửi vào thơ

Nhành hoa đào vừa nở,

Cây quất hồng chín rộ,

Cả mùa xuân ngỡ ngàng.

*

Thơ đón mùa xuân sang,

Hoa cúc vàng rực rỡ,

Nụ c­ời xuân bừng nở,

Cho xuân rộ quê nhà.

*

Mùa xuân ru hồn ta,

Bằng chồi non lộc biếc,

Ươm màu xanh tha thiết,

Cho ta biết xuân về.

*

Phố mang hồn đồng quê,

Chất chứa trong đào quất,

Huyền ảo m­a phảng phất,

Trong ngào ngạt h­ơng đồng.

*

Bánh ch­ng trẻ thơ mong,

Ng­ời già r­ợu nếp nồng,

Cây nêu có còn không?

Bản sắc làng mong nhớ!

*

Xuân về mang hơi thở,

Của hoa lá đồng quê,

Cứ mùa xuân hẹn về,

Cùng phố xuân đổi mới.

*

Mùa xuân tha thiết gọi

ấm no, hạnh phúc về./.

1/2/2008.

Trần Việt Thao

 

Thơ sáu chữ( mỗi câu chỉ có sáu chữ).

  •  

Tuổi xuân tình nguyện hè nay,

Đồng lòng lao động hăng say,

Làm nên khởi sắc đất này,

Xây nông thôn mới chung tay,

Đổi đời làng xã từng ngày,

Giảm nghèo, xóa đói từ đây,

ấm no về lại đất này,

……vvvv…..

+ Thơ bảy chữ( giống thể thơ thất ngôn, bát cú Đường luật và các thể thơ sáng tạo từ đó, Ví dụ thể thơ: dùng bốn câu đầu ghép liên tiếp với nhau; hoặc dùng bốn câu sau ghép liên tiếp với nhau; hoặc dùng bốn câu giữa ghép liên tiếp với nhau.

+ Còn có thể thơ mỗi câu có thể có bảy hoặc tám chữ( Loại thơ này sáng tạo từ thể thơ lục bát bằng cách thêm chữ vào mỗi câu nhưng vẫn giữ vần).

“...Cho mùa thi, lứa tuổi học sinh

Vươn tới trường thi an toàn, thuận tiện,

Để ước mơ xanh tuổi xuân lại đến,

Để em vào đại học, hóa sinh viên.

Mỗi ngôi nhà ngói mới mọc lên,

Có của công thanh niên giúp sức,

Để mái tranh nghèo lâu nay tấm tức,

Chỉ còn là dĩ vãng ở làng quê.

Ôi vui sao anh tình nguyện lại về,

Như giục giã làng quê tiến tới,

" Xóa đói, giảm nghèo" theo đường đổi mới,

Cho làng quê nhanh tiến tới văn minh....”.(Thơ Việt Thao).

+ Thơ tám chữ( mỗi câu có tám chữ), ví dụ:

“Niềm vui nào qua báo chí nhân lên,

Ta càng nhớ, càng ơn nhà báo trẻ,

Qua gian truân vẫn xông pha như thế,

Vẫn yêu nghề, tươi trẻ với Đoàn ta....” .(Thơ Việt Thao).

+ Thơ từ tám đến chín chữ trở lên- giống như thơ Nga( mỗi câu có thể có rất nhiều chữ).

“ Bạn Nhớ không tám m­ươi năm về tr­ước,

Chính ngày này Bác lập Báo Thanh niên,

Vì nhân dân, vì sự nghiệp tuyên tryuyền,

Bài báo, bản tin,… nối liền dân với Đảng.

Báo chỉ đ­ường hư­ớng dân ta theo ánh sáng,

Theo Mác-Lê nin, theo cách mạng đấu tranh,

Cách mạng tháng m­ời Nga đã thức tỉnh dân mình,

Đi theo Đảng giành tự do độc lập,

Gian khổ, hy sinh, đau thương bất chấp,

Quyết xông lên giành chiến thắng về ta...”. ( Thơ Việt Thao).

 

Thơ: Tình nguyện lên đỉnh Pù Giàng.

Ta được về đây nơi Lâm phú, Yên khương,…

Phá đá, bạt đồi mở đường liên bản,

Lên đỉnh Pù Giàng dốc cao không nản,

Kết nạp Đoàn theo bạn lại xông pha.

*

Bảy trăm người từ hai bản cách xa,

Hướng tới nhau bằng xuyên đồi, xẻ núi,

Nghìn mét cao Pù Giàng vẫy gọi,

Đoàn thanh niên lên biên giới mở đường....

( Thơ Việt Thao).

III- Thi pháp( phương pháp sáng tác thơ):

1, Phương pháp sáng tác văn học:

* " Đề tài tác phẩm: là một ph­­ương diện của nội dung tác phẩm, nó chỉ phạm vi hiện thực cụ thể đã đ­­ược nhà văn nhận thức, lựa chọn và phản ánh trong tác phẩm. Bất kỳ tác phẩm văn học nào cũng có một đề tài nhất định xem nh­­ư một nhân tố t­­ương ứng với đối t­ư­ợng riêng của tác phẩm.

Tư­­ t­­ưởng tác phẩm: là sự đánh giá và bộc lộ ý nghĩa của những gì đã đ­­ược thể hiện, là cách giải quyết vấn đề đã đặt ra trong tác phẩm theo một khuynh h­­ướng nhất định vốn có ở lập tr­­ường, quan điểm của tác giả.

T­­ư t­­ưởng tác phẩm chính là sự bộc lộ t­­ư t­­ưởng tác giả bằng tác phẩm văn .

*Ph­­ương pháp sáng tác văn học:

Ph­­ương pháp là cách thức giúp chủ thể thực hiện một công việc một cách có hiệu quả( ph­­ương pháp là cấp cụ thể hoá của ph­ương pháp luận, nh­­ưng đồng thời nó lại là một công cụ độc lập của chủ thể nghiên cứu khoa học).

" Phong cách là một cấu trúc hữu cơ cuả tất cả các kiểu lựa chọn tiêu biểu, hình thành một cách lịch sử, và chứa đựng một giá trị lịch sử có thể cho phép ta nhận diện một thời đại, một thể loại, một tác phẩm, hay một tác giả.

ĐN: " Phong cách là cách diễn đạt riêng của mỗi ng­­ười, mỗi tr­­ường phái, hay môĩ thời đại, về mặt t­­ư t­­ưởng và tình cảm".

Ph­­ương pháp là linh hồn của một nội dung vận động- đ­­ược biểu hiện thành những giải pháp khắc phục trở ngại để từ khởi điểm(A) đạt tới mục đích (B) một cách tối ­­ưu.

Ph­ương pháp sáng tác là linh hồn của một nội dung hoạt động sáng tạo nghệ thuật- đ­­ược biểu hiện thành các bình diện mang tính chất các giải pháp thẩm mỹ nhằm khắc phục các trở ngại để từ chân lý đời sống đạt tới chân lý nghệ thuật một cách tối ­­ưu”.

b, Phương pháp sáng tác thơ(thi pháp):

+ Trước hết phải có tâm hồn thơ và tấm lòng yêu thích thơ ca bởi vì “ Thiên tài là ái tình”- tức là có tài về lĩnh vực nào thì tất yếu phải có tình yêu tha thiết, mãnh liệt; sự say mê, ham thích đặc biệt đối với lĩnh vực đó( Ví dụ như Ê đi xơn, ác si mét, Xuân Quỳnh,.....).

+ Phải có một vốn kiến thức về lý luận về thơ, vốn thơ ca ban đầu để gây cảm xúc tương tự làm cơ sở thực tiễn cho sự sáng tạo trong sáng tác.

+ Phải tạo cho mình nguồn cảm hứng sáng tác, nguồn thi hứng lãng mạn: trực tiếp quan sát, ngắm cảnh thiên nhiên, mây , gió, trăng sao, đồi núi, núi rừng; trực tiếp chứng kiến những hoạt động trong xã hội, những tình cảm đặc biệt, lãng mạn,... biết cảm nhận được cái hay, cái đẹp,...

+ Phải ghi lại nhanh những ngôn từ, ngữ cảnh,... do cảm hứng nảy sinh về một chủ đề nào đó,....................và tìm được thể loại thơ phù hợp để kiến tạo nó.

+ Vừa kết hợp chiêm ngưỡng thiên nhiên, nghiên cứu xã hội để tìm được cái khúc xạ qua trái tim, khối óc của mình và biểu đạt nó bằng những ngôn từ phù hợp nhất,thông minh nhất,...trong quá trình đó cần chỉnh sửa, gọt giũa, tu từ, chỉnh ngữ,... sao cho mình thấy vừa ý nhất.

+ Phải tạo được những ngôn từ thể hiện cảm xúc của mình một cách tự nhiên nhất, sinh động, tình cảm sâu sắc và trí tuệ nhất; đối chiếu và điều chỉnh dần sao cho bài thơ có một thể loại nào đó, phải có âm điệu, nhạc điệu, phản ánh được trí tuệ, tình cảm của mình bằng những ngôn từ độc đáo, thông minh biểu đạt thiên nhiên, xã hội trong sáng, tinh khiết như một khúc xạ hiện thực qua lăng kính tâm hồn, trí tuệ và ái tình của mình,....vvv....

+ Chỉ sáng tác thơ về những vấn đề, đối tượng, sự vật, cảnh quan,…mà mình có tình cảm mãnh liệt( yêu thật yêu, ghét thật ghét, căm thù thật căm thù,….).

Với đôi nét về thơ có tính chất gợi ý, hy vọng các bạn yêu thơ sẽ tìm hiểu thêm, đầu tư nghiên cứu, bổ sung thật hoàn chỉnh và vận dụng một cách năng động, sáng tạo vào công việc sáng tạo nên những bài thơ hay./. Chúc các bạn thành công!

Trần ViệtThao

( Trung tâm hướng nghiệp, DN & GTVLTN Thanh Hoá- Nguyên hiệu phó chuyên môn Trường THPT Huỳnh Thúc Kháng, Tiên Phước- Quảng Nam, nguyên phóng viên chuyên mục phát thanh “ Tuổi trẻ Lam Sơn” 1993- 1998; nguyên CVC Ban tư tưởng- văn hóa Tỉnh đoàn Thanh Hóa).

 

GT.Một số bài thơ của TVT minh họa- Thơ- Thành phố nơi “ Thiên đường mùa hạ”:

https://www.facebook.com/photo.php?fbid=1890580001219892&set=a.1549722095305686.1073741830.100008037314601&type=3&theater

 

Chùm thơ về chiến dịch TN HS, SV tình nguyện hè tại Thanh Hóa:

https://www.facebook.com/permalink.php?story_fbid=1897619330515959&id=100008037314601


 

 

 

19