DMCA.com Protection Status

Xã hội học quản lý( ST)  quan tâm

Được đăng bởi: Trần Việt Thao

Cập nhật lúc 09:07 ngày 24/01/2018

Xã hội học quản lý

( Nguồn: http://vn.360plus.yahoo.com/nhanvanxahoihoc/article?mid=502&fid=-1 ).

NỘI DUNG  THUYẾT QUẢN LÝ CỦA KHỔNG TỬ VÀ HÀN PHI TỬ 

-Khổng Tử và Hàn Phi Tử, đều có những đóng góp rất lớn cho học thuyết quản lý XH. Nếu Khổng Tử tập trung vào quan điểm đức trị: là lấy tấm gương của người cán bộ, lãnh đạo, quản lý để hướng dẫn cho cấp dưới cho nhân dân noi theo thực hiện những kỹ cương của đất nước, thì Hàn Phi Tử dựa vào tính cứng rắn của quyền lực mà chi phối khống chế, ép buộc hành vi con người tuân theo (Pháp trị). Tuy 2 quan điểm khác nhau, nhưng trong những lĩnh vực những điều kiện và hoàn cảnh XH cụ thể, chúng có những ý nghĩa XH tích cực.

Khổng tử

Hàn Phi tử

                                 Nhân trị

- “Nhân chi sơ tính bản thiện”. Cái thiện vốn có trong mỗi con người. Người quản lý phải có đức nhân. Nó giữ vai trò chủ đạo, bao trùm các Đức khác. Tính thiện là lòng thương người, yêu người, giúp người thành đạt.

- Nhân và nghĩa: hai đức quan trọng nhất của một cán bộ quản lý (họ phải hội đủ hai đức đó).

- Khổng Tử chủ trương dạy người người biết đạo, nhà nhà biết đạo, mỗi quốc gia biết đạo, đạo là bổn phận của đường lối. ông cho rằng con người cũng là một vật, một loài, một hệ thống nhất trong trời đất. nhưng con người có ý thức, có tình cảm, có cuộc sống xã hội.

- Khổng Tử đưa ra ba mối quan hệ tam cương, ngũ thường: Vua – tôi; vợ - chồng; cha – con và nhân – lễ - nghĩa – trí – tín-dũng.

Người cán bộ phải có Đức – Nhân – Dũng để mọi người tuân thủ, làm thiện.

- Người quản lý phải trung thực, xem việc đào tạo cán bộ quản lý phải là công việc thường xuyên, chủ yếu, coi giáo dục là hàng đầu

- Giữa giáo dục và đào tạo có mối liên hệ với nhau

                                      Pháp trị

- “Nhân chi sơ tính bản ác”. Cái ác vốn có ở mỗi con người. Ác là sự hám lợi, là tranh giành quyền lực, tiền tài,… tính thiện chỉ có ở rất ít người như ở kẻ sĩ, vĩ nhân.

- Người quản lý phải có trí. Trí, Nhân và Nghĩa ở bậc trung bình cũng được. Trí là thấu hiểu con người – lịch sử và XH.

- Phải hiểu và tuân theo phép tắc, đó là pháp luật. HPT cho rằng: phải có Thế - Pháp – Thuật.

+ Thế: cán bộ quản lý phải có thế lực, địa vị mới cai trị được.

+ Pháp: Là phép tắc đưa ra buộc kẻ dưới phải tuân thủ.

+ Thuật: Kỹ thuật và cách dùng người, không cho kẻ dưới biết ý đồ của nhà quản lý.

 

- Dùng quyền thế trong quản lý để cai trị, trừng phạt kẻ bị trị thưởng - phạt.

                                                ĐỐI TƯỢNG CỦA XHH QUẢN LÝ

1. KN XHH quản lý:  Đây là một khái niệm XH , là 1 học thuyết XH, 1 hệ thống các mối quan hệ XH diễn ra giữa người với người được thể hiện trên các mặt các lĩnh vực đời sống XH như: Chính trị - kinh tế - XH – lối sống – phong tục – tập quán – tôn giáo – thẩm mỹ…., là khoa học nghiên cứu các sự kiện, hiện tượng XH, các quá trình diễn ra diễn ra dưới sự tác động của cá nhân với tư cách là chủ thể xã hội, đồng thời còn là khoa học nghiên cứu cách thức ứng  xử, phạm vi giao tiếp của mối quan hệ XH thông qua các  hoạt động XH của con người trên tất cả các tiêu chí này cần có sự tham gia của công tác quản lý.

+ XHH nói chung và XHHQL nói riêng là 1 môn khoa học còn rất mới mẽ, thuật ngữ XHH lần đầu tiên được sử dụng (A.Comte 1839).Tuy là 1 ngành khoa học còn non trẻ nhưng ngày nay XHH đã xâm nhập sâu rộng vào tất cả các mặt đời sống XH, nó đã và đang trở thành ngành khoa học có vị trí cực kỳ quan trọng đối với sự phát triển bền vững của XH, đồng thời với sự ra đời và phát triển XHH luôn đáp ứng 3 nhu cầu cơ bản của XH: Nhận thức XH – hoạt động thực tiễn – nhu cầu phát triển.

+ XHH và XHH quản lý luôn đáp ứng các nhu cầu thực tiễn trên cơ sở nhận thức thực trang của đời sống XH, những tiến bộ XH, vì chỉ dựa trên cơ sở thực tiễn con người mới có phương thức quản lý ý niệm, mới cải tạo được khách quan để duy trì tồn tại sản xuất và phát triển. XHH và XHH quản lý luôn đáp ứng nhu cầu phát triển của bản thân và sự vận động, phát triển của XH ngày càng đa dạng, phức tạp.

-Khi nghiên cứu các hiện tượng – sự kiện và các quá trình XH diễn ra giữa người với người, nghiên cứu các mối quan hệ, các hành vi hành động thì nhất thiết phải có sự tham gia của công tác quản lý XH, nhằm để duy trì sự vận động, tồn tại và phát triển chung của cộng đồng, vì lẽ đó khi nghiên cứu XHHQL nói riêng mỗi cá nhân với tư cách là 1 thực thể XH hãy luôn ý thức và tránh được 4 điều: “Chớ NÓI điều trái Lễ”; “Chớ NGHE điều trái Lễ”; “Chớ XEM điều trái Lễ”; “Chớ LÀM điều trái Lễ”.

2.  XHH quản lý :  

- Quản lý là một khái niệm chỉ chức năng điều hành toàn bộ hệ thống XH, là sự tác động liên tục có ý thức, mục đích, có tổ chức hướng tới một mục tiêu nhất định mà chủ thể đề ra nhằm  đạt được hiệu quả tối ưu so với yêu cầu đặt ra. Tất cả các mặt trong đời sống XH con người đều có sự tham gia của quản lý, vì vậy quản lý là sự tất yếu, khách quan, là cơ sở nền tảng của XHH quản lý. Quản lý là 1 thuộc tính vốn có trong tất cả XH các cộng đồng dân cư. Vì vậy khi xem xét khái niệm XHHQL cần chú ý mục đích của quản lý, phương thức tác động quản lý, đối tượng quản lý và hiệu quả quản lý.

-Quản lý XH cũng là một khái niệm cơ bản và quan trọng của XHH quản lý, đó là việc quản lý từng khía cạnh, từng mối quan hệ của đời sống XH, phải sử dụng các thiết chế XH với chức năng cơ bản của nó để duy trì trạng thái năng động và duy trì sự vận hành của hệ thống XH nhất định, trong đó quản lý nhà nước và quản lý hành chánh có vai trò quan trọng trong công tác quản lý XH. Đồng thời khi xem xét khái niệm quản lý XH thì cần phải hiểu rằng XHHQL với nội dung cơ bản là quản lý XH mà quản lý XH là quản lý con người.

-Quản lý khoa học: là 1 khái niệm cơ bản có mối quan hệ tương tác với quản lý XH, nó cũng là sự tác động có ý thức của con người nhằm sắp xếp và duy trì các phẩm chất đặc thù đối tượng quản lý, vì vậy khi xem xét quản lý XH 1 cách khoa học thì cần khẳng định rằng quản lý là điều vốn có trong tất cả các XH, là công việc thường xuyên phổ biến của cá nhân, nhóm XH nhằm duy trì sự tồn tại vận động và phát triển của mỗi tổ chức XH, hệ thống XH.

-XHHQL là 1 ngành khoa học chuyên biệt nghiên cứu cách thức phối hợp, hành động của các thành viên, các nhóm XH, các tổ chức dân cư, các bộ phận cụ thể đồng thời nó nghiên cứu các phương thức, các hành động hướng vào các cấu trúc XH của mỗi hệ thống XH cụ thể nhằm đạt hiệu quả cao.

3.      Ý nghĩa khi nghiên cứu XHHQL.

-XHHQL giúp chúng ta nhận thức được những vấn đề cơ bản trong quản lý XH, nhận thức được sự tồn tại và phát triển của hệ thống XH và những vấn đề liên quan của hệ thống phát triển đó.

-Trên cơ sở đối tượng nghiên cứu với tư cách tiếp cận, giúp cho nhà quản lý đặt ra được nội dung chương trình, cương lĩnh và hoạch định những đối sách cụ thể để quản lý XH 1 cách khoa học.

 ĐỐI TƯỢNG CỦA XHH QUẢN LÝ

1. Đối tượng của XHH quản lý

-Khi xem xét nội dung của XHHQL cần ý thức được cơ sở của đối tượng quản lý đó chính là hệ thống các mối quan hệ XH của con người, nó bao gồm: Mối quan hệ giữa người với tự nhiên; mối quan hệ giữa con người với khoa học, công nghệ; mối quan hệ giữa người với người trong gia đình, nhóm XH, tổ chức, tập thể lao động. Đồng thời XHHQL tập trung nghiên cứu thực trạng đời sống XH, tìm ra giải pháp tối ưu nhằm quản lý XH có hiệu quả.

-XHHQL còn nghiên cứu hệ thống các mối quan hệ chủ thể XH, các hiện tượng, những sự kiện liên quan đến XH, đến biểu hiện lệch lạc của XH, trên cơ sở đó để tìm ra cách thức, biện pháp để quản lý XH có hiệu quả.

2. Mục đích, nguyên tắc quản lý

-Mục đích quản lý XH: Là sử dụng tối ưu các qui luật về XH, kinh tế, văn hóa để tổ chức và huy động các nguồn vốn, nguồn lực, vật lực, tài lực nhằm giải quyết các vấn đề XH đặt ra trên cơ sở phát hiện kịp thời các mâu thuẫn, những lệch lạc để có cách điều chỉnh cho phù hợp hướng tới mục đích.

- Muốn thực hiện mục đích của quản lý, cần nguyên tắc tập trung dân chủ - tính giai cấp, tính Đảng – nguyên tắc không chủ yếu – ngành lãnh thổ.

3. Các yêu cầu của XHH quản lý

-     Trong công tác quản lý XH, muốn đạt hiệu quả cao thì chủ thể quản lý cần thực hiện những yêu cầu cơ bản:

+    Nhà quản lý phải có tâm, tín, hướng tới giá trị chân – thiện – mỹ.

+    Nhà quản lý có đức, có tài.

+    Nhà quản lý có sự thông thạo, am hiểu công việc.

+    Trong công tác quản lý cần chú ý quản lý con người, đến tập thể người, chú ý đến lợi ích của cả người quản lý, người bị quản lý.

                    LÝ THUYẾT QUẢN LÝ CỦA CÁC NHÀ XHH

1. A.Comte (1798 – 1857)

-A.comte là một nhà toán học, vật lý học, thiên văn học, luật học, triết học, đồng thời là 1 nhà XHH nổi tiếng người Pháp, ông là người đầu tiên sử dụng thuật ngữ XHH, là nhân vật có đóng góp cực kỳ quan trọng đối với sự phát triển của XHH nói chung và XHHQL nói riêng. Trong suốt cuộc đời hoạt động khoa học ông luôn quan tâm đến công tác quản lý XH, quản lý các tập thể lao động, các nhóm dân cư và ông được coi là cha đẻ, là người khởi sướng ra ngành XHH.

-Về tư tưởng quản lý XH thì ông cho rằng XHH là một khoa học về qui luật tổ chức và quản lý XH, đây cũng là phương pháp luận cơ bản để các chủ thể quản lý sử dụng, nhằm sử dụng hiệu quả các mặt, các lĩnh vực liên quan đến con người. Ông khẳng định rằng: trong 1 tổ chức XH, 1cộng đồng dân cư, mỗi nhóm XH cụ thể cần phải ứng dụng qui luật tổ chức để từ đó có biện pháp, cách thức quản lý hữu hiệu con người, quản lý XH chính là quản lý con người, đó chính là quản lý các hệ thống, các quan hệ XH, các hoạt động XH.

-Khi nghiên cứu công tác quản lý XH và qui luật tổ chức XH, ông đã chia XH thành 2 phần là: Động học XH và Tĩnh học XH, đó là lý thuyết tiến bộ và lý thuyết trật tự, 2 lý thuyết này có vai trò rất quan trọng đối với công tác quản lý, 2 lý thuyết này là cơ sở để duy trì sự tồn tại vận động và phát triển chung của XH.

-Khi thực hiện qui luât tổ chức va quản lý XH thì A.Comte luôn luôn phân chia XHH thành 4 loại nhóm: Quan sát; Thực chứng; So sánh; Phân tích lịch sử cụ thể.

2. K.Marx (1818-1883)

-K.Marx là 1 nhà triết học, nhà kinh tế chính trị học, nhà sáng lập ra CNXHKH, đồng thời cũng là một lãnh tụ của phong trào cộng sản và công nhân thế giới, là 1 nhân vật có những đóng góp to lớn đối với công tác quản lý XH, với sự phát triển của XH. Marx không để lại cho chúng ta 1 lý thuyết hoàn chỉnh về công tác quản lý, nhưng trong toàn bộ di sản của mình có ảnh hưởng rất lớn đối với sự phát triển chung của XH.

-Trong công tác quản lý XH Marx luôn quan tâm đến đối tượng quản lý đó chính là chủ thể quản lý là nhà quản lý và người bị quản lý, Marx quan tâm đến mối quan hệ giữa người quản lý và người bị quản lý trong quá trình thực hiện các quan hệ và hoạt động của XH. Marx đã chứng kiến trật tự XH TBCN, chứng kiến quan hệ giữa chủ với thợ, từ đó Maxr cho rằng chế độ sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất sẽ dẫn đến bất bình đẳng và phân tầng XH, vì vậy cần phải xóa bỏ chế độ đó đi, thay vào đó là chế độ công hữu XH về tư liệu sản xuất, đồng thời để xây dựng 1 Xh văn minh mọi người đều có cuộc sống tự do, ấm no, hạnh phúc thì quản lý XH là 1 tất yếu.

-Khi xem xét mối quan hệ giữa người với người liên quan đến lĩnh vực quản lý, Marx cho rằng sự phân hóa XH thành hệ thống các giai cấp là hệ thống các mối quan hệ XH ở đó nó hàm chứa những xung đột và mâu thuẫn, mâu thuẫn giai cấp dẫn đến đấu tranh giai cấp và đấu tranh giai cấp là động lực để phát triển XH.

3. E.Durkheim (1858-1917)

-Ông là nhà XHH nổi tiếng người Pháp, ông được coi như là 1 nhân vật có những đóng góp rất quan trọng trong công tác quản lý XH, ông luôn quan tâm đến vấn đề quản lý, ông cho rằng quản lý XH thực chất là quản lý các hành vi và hoạt động của con người, quản lý mối quan hệ giữa người với người trong các hoạt động sống của mình. Tư tưởng của ông được thể hiện ở 3 tác phẩm: Phân công lao động XH, Các qui tắc phương pháp của XHH, Tự tử.

-Khi nghiên cứu công tác quản lý XH ông cho rằng quản lý các hoạt động, các mối quan hệ của cá nhân, của nhóm cộng đồng dân cư là một tất yếu khách quan, ông cũng kế thừa tư tưởng quản lý XH và tổ chức XH của A.Comte và cho rằng phương pháp luận khoa học của XHH chính là ở vai trò quản lý, vai trò tổ chức của các sự kiện XH và ông đã qui tất cả vào các sự kiện XH.

-Khi nghiên cứu sự kiện XH ông luôn gắn nó trong mối quan hệ với tổ chức, với quản lý, từ đó ông đã đưa ra 1 loạt các khái niệm có liên quan như khái niệm đoàn kết, đoàn kết XH, đoàn kết hữu cơ, đoàn kết máy móc và ông cho rằng đoàn kêt là một phương thức tạo nên quan hệ, đoàn kết mang đến sức mạnh đối với tổ chức XH, nhóm dân cư.

-Ông luôn quan tâm đến những giá trị chuẩn mực trong công tác quản lý, ông cho rằng nếu không có các chuẩn mực XH loài người sẽ phát triển những thèm khát vô độ, những ham muốn không có giới hạn, nếu không chịu sự ép buộc của các chuẩn mực thì rất có thể là người hung bạo man rợ, nô lệ của những ý thức và niềm say mê bất chợt, vì vậy cá nhân thực hiện đúng các giá trị chuẩn mực thì sẽ luôn luôn hướng tới những giá trị Chân – Thiện – Mỹ. Ông cho rằng các XH tiến bộ được là do có sự góp phần chung của niềm tin và giá trị ở mỗi thành viên trong XH; các chuẩn mực XH, các giá trị XH luôn có tác dụng điều tiết hành vi và thái độ cá nhân thông qua những giá trị mà cá nhân đã nội tâm hóa.

             Vai trò của XHH quản lý trong quá trình quản lý và đổi mới phát triển XH

a. Các học thuyết trong quản lý XH

-Lý thuyết hành vi: Là cần phải nghiên cứu hành vi, thái độ của chủ thể XH nhà quản lý cần vận dụng lý thuyết hộp đen, nhà quản lý phải tính toán, phán đoán những yếu tố, những qui mô chất lượng sản phẩm để từ lý thuyết hành vi thì nhà quản lý có thể thăm dò nhu cầu của khách hàng và thông qua dư luận XH để đáp ứng nhu cầu XH.

-Nhà quản lý sử dụng Lý thuyết Hành động XH.

-Nhà quản lý sử dụng Lý thuyết Tương tác XH.

-Nhà quản lý sử dụng Lý thuyết Chức năng.

-Nhà quản lý sử dụng Lý thuyết Hệ thống.

b. Vận dụng phương pháp kỹ thuật điều tra XHH

-Trong công tác quản lý XH, dù ở cấp độ nào, muốn quản lý có hiệu quả cần phải có thông tin, có lượng thông tin chính xác, đầy đủ, chân thực đồng thời phải vận dụng có hiệu quả các phương pháp kỹ thuật điều tra XHH để nắm bắt phân tích và xử lý thông tin, cụ thể là 4 phương pháp: Phương pháp thu thập thông tin tư liệu sẵn có; Phương pháp quan sát; Phương pháp Anket; Phương pháp phỏng vấn.

 LỊCH SỬ XHH QUẢN LÝ

1. Sự hình thành khoa học của XHH

Để cho XHH ra đời và cho nó trở thành 1 ngành khoa học cần hội đủ 3 điều kiện và tiền đề cơ bản sau đây:

-Điều kiện kinh tế XH: Đây là điều kiện cơ bản nhất, chủ yếu nhất nó cũng là cơ sở để cho các nhà quản lý, quản lý hữu hiệu XH, đó là cuộc cách mạng công nghiệp bùng nỗ từ giữa những năm thế kỹ XVIII trở đi, đặc biệt là từ sau cuộc CMCN ở nước Anh, nó đã thúc đẩy lực lượng sản xuất và nền sản xuất XH phát triển, năng xuất lao động không ngừng được nâng cao từ đó nó dẫn đến sự thay đổi chung về cơ cấu XH, dẫn đến 1 làn sóng di dân từ nông thôn vào đô thị cùng nhiều vấn đề XH phức tạp đòi hỏi cần quản lý, đồng thời cũng do tác động của cuộc CMCN đã dẫn tới sự khác biệt giữa thành thị và nông thôn, giữa lao động chân tay và trí óc, đặc biệt nó làm cho XH nông thôn thời phong kiến bị tan vỡ dẫn đến sự phân hóa giàu nghèo và sự bất bình đẳng trong XH. Với tất cả những thực trạng trên thì nhu cầu công tác quản lý XH đặc ra là hết sức bức thiết.

-Điều kiện chính trị: Đó là những diễn biến, biến động diễn ra trong đời sống chính trị - XH, là hàng loạt cuộc CMTS liên tiếp nỗ ra ở Hà Lan, ở Anh, ở Mỹ, đặc biệt là từ sau cuộc CMTS Pháp nỗ ra vào năm 1789 ảnh hưởng đến tất cả các lĩnh vực của đời sống XH. Giai cấp tư sản đã đập tan chế độ quân chủ chuyên chế, kết thúc “đêm trương Trung cổ” của XH phong kiến ở châu Âu, từ đó đã xuất hiện hàng loạt các vấn đề XH như tự do, bình đẳng, bác ái. Đây là cơ sở nền tảng để cho XH nói chung và XHH quản lý nói riêng ra đời nhằm xem xét quá khứ, giải quyết những vấn đề hiện tại và dự báo trong XH tương lai.

-Tiền đề văn hóa tư tưởng: Đó là những diễn biến, biến động về văn hóa, tư tưởng, là sự phát triển của tri thức nhân loại, sự phát triển của lực lượng sản xuất, của khoa học, kể cả khoa học tự nhiên và XH, đó là những phát kiến vĩ đại của thời cổ như toán học của Pytago, hình học của Ơclic đã từng bước khôi phục sau “Đêm trường Trung cổ”, đồng thời những tư tưởng tiến bộ của Aristote, của Platon, của Decater cũng từng bước được kế thừa và phát huy, nó tạo điều kiện để cho con người nhận thức được quy luật của tự nhiên, của Xh trên cơ sở đó có biện pháp, cách thức cải tạo thế giới, cải tạo hiện tượng khách quan.

* TÓM LẠI: Trên đây là những điều kiện và tiền đề cơ bản để cho XHH ra đời, đó là những diễn biến, biến động diễn ra trong đời sống kinh tế, văn hóa, chính trị, XH, là cuộc CMCN bùng nỗ, là sự phát triển của đô thị, nó đã dẫn tới những xung đột, những mâu thuẫn đối kháng, XH luôn luôn biến động, khủng hoảng, mối quan hệ đa dạng, phức tạp nhiều chiều và để quản lý 1 XH như vậy đòi hỏi cần phải có 1 ngành khoa học ra đời đó là khoa học XHH nói chung và XHH quản lý nói riêng.

 Sự hình thành và phát triển của XHH quản lý

-Quản lý là một hiện tượng XH đã xuất hiện từ lâu trong lịch sử loài người, nó có một quá trình phát triển lâu dài, được nhiều nhà tư tưởng, nhà triết học, nhà khoa học nghiên cứu và phát triển công tác quản lý.

-4000 năm TCN thì người Ai Cập đã quan tâm đến công tác quản lý XH, đã lập ra kế hoạch, đã tổ chức điều khiển mọi hành vi lao động và có những thiết chế ràng buộc.

-4000 năm TCN thì người Hy Lạp cũng luôn quan tâm đến tính phổ quát của quản lý XH, tính khoa học và nghệ thuật để quản lý từ gia đình đến cộng đồng.

-Cuộc CMCN ở châu Âu từ giữa thế kỹ XVIII đã đánh dấu sự hồi sinh và phát triển tư tưởng XH, và từ đó đến nay XHH quản lý luôn luôn phát triển, vì nó là 1 ngành khoa học có vai trò rất lớn trong quá trình duy trì sự tồn tại và phát triển XH.

 LỊCH SỬ XHH QUẢN LÝ

1. Tổng quan về XHH quản lý

- Quản lý là một hoạt động thiết yếu nảy sinh khi có sự hoạt động của cá nhân, của nhóm XH, của những tập thể lao động nhằm đạt tới mục tiêu chung để thực hiện hiệu quả cao nhất. Quản lý có vị trí, vai trò cực kỳ quan trọng trong đời sống XH, K.Marx nói “một người độc tấu vĩ cầm thì tự mình điều khiển lấy mình, còn trong 1 dàn nhạc thì cần phải có 1 nhạc trưởng. Như vậy, trong mỗi tổ chức XH cần phải có 1 người, 1 bộ phận nắm giữ vai trò nhạc trưởng để quản lý XH.

-Ngay từ đầu xuất hiện XH loài người, cuộc sống thực tế của con người phải liên kết, cố kết lại với nhau nhằm đảm bảo cho XH tồn tại và phát triển, lúc này đã có quản lý nhưng quản lý mang tính bản năng, bởi vì lúc đó con người chưa có chữ viết, chưa có khái niệm về kỹ thuật, về khoa học và chỉ tới khi loài người đã phát triển tới một trình độ nhất định trong XH mới xuất hiện một sự phân công lao động; lao động trí óc, lao động chân tay đã có sự khác biệt thì lúc đó mới chính thức có khái niệm quản lý XH.

-Theo các tư liệu lịch sử những tư tưởng quản lý đầu tiên đã xuất hiện 5000 năm trước công nguyên thì người Babilon đã có khái niệm quản lý về trách nhiệm, về kiểm tra và người Trung Hoa đã biết phân công lao động vào thế kỹ XVI trước công nguyên và họ đã đưa ra được những nguyên tắc trong công tác quản lý, đã có sự phân công rành mạch và đã có những hoạt động của tổ chức hành chành nhà nước.

-Trong lịch sử phát triển của nhân loại ở các nước Trung Hoa cổ đại, Hy Lạp, Ai Cập đã xuất hiện những mầm móng của khoa học như triết học, thiên văn học,… đã xuất hiện những nhà tư tưởng chuyên nghiên cứu về công tác quản lý.

-Trong thời kỳ cổ đại của phương Đông gồm Ai Cập, Ấn Độ, Trung Hoa thì tư tưởng quản lý XH đã có hướng phát triển, nó đã tác động rất to lớn đối với các hoạt động của các tổ chức dân cư, những vấn đề liên quan đến quản lý như: Kế hoạch hóa, tổ chức kiểm tra,chức năng quản lý đã được vận dụng vào trong các hoạt động sống của con người và tư tưởng quản lý thời cổ của Trung Hoa được chia làm 2 xu hướng là Đức trị và Pháp trị. Xu hướng Đức trị gồm: Khổng Tử, Mạnh Tử, với quan điểm coi bản chất của con người là thiện, do vậy muốn xây dựng 1 XH tốt đẹp thì phải biết chăm lo đến đời sống của con người cụ thể và trong quản lý XH thì người quản lý phải biết thu phục nhân tâm, phải biết chọn người hiền tài có đủ năng lực phẩm chất để đứng ra cai quản công việc của XH. Còn ở xu hướng Pháp trị có Tuân Tử và Hàn Phi Tử với quan điểm coi bản chất của con người là ác; do vậy, muốn quản lý tốt XH thì nhất thiết phải lấy pháp luật răn đe, để uốn rắn tính xấu của con người và thiết lập nên kỹ cương của XH. Cả 2 xu hướng trên đây trong công tác quản lý XH hiện nay vẫn còn giữ nguyên giá trị.

2. Một số vấn đề quản lý ở Việt Nam

- Ở VN qua các triều đại phong kiến đã xuất hiện những tư tưởng quản lý rất chặt chẽ và hiệu quả như Lý Công Uẩn có tư tưởng “Trên vâng mệnh trời, dưới nghe ý dân, thấy thuận tiện thì thay đổi”. Đời Trần Minh Tông có tư tưởng “Sính dân hết thảy đều là đồng bào của ta, nỡ lòng nào để cho bốn bể khốn cùng”. Thời kỳ Nguyễn Trãi có tư tưởng “Chở thuyền cũng dân, lật thuyền cũng dân”. Lý Thường Kiệt có tư tưởng “Đạo làm chủ dân cốt ở nuôi dân”. Thời Trần Hưng Đạo có tư tưởng “hoang thư sức dân để làm kế sâu gốc bền rể đó là thượng sách để giữ nước”.

-Vận dụng những tư tưởng trên vào quản lý XH ở nước ta hiện nay?

3. Quản lý XH ở phương Tây

-Ở các nước phương Tây công tác quản lý XH cũng có 1 quá trình phát triển rất lâu dài cho đến cuộc CMCN từ giữa thế kỹ XVIII và đặc biệt là sự ra đời của máy hơi nước do Guewatch sáng chế thì những tư tưởng về quản lý về kinh tế đã được thể hiện rất rõ nét. Từ đó đến nay tư tưởng quản lý XH về các mặt, các lĩnh vực luôn luôn được các nhà khoa học, các nhà quản lý quan tâm triển khai và vận dụng; đặc biệt là Taylor, ông được suy tôn là cha đẻ của học thuyết quản lý theo khoa học.

4. Tư tưởng quản lý XH ở phương Đông

-Quản lý XH của Khổng Tử.

-Quản lý XH của Mạnh Tử.

-Quản lý XH của Tuân Tử.

-Quản lý XH của Hàn Phi Tử.

 

 QUAN NIỆM QUẢN LÝ XH CỦA KHỔNG TỬ (551-479 TCN)

1. Nội dung tổng quan: Khổng Tử là người sáng lập ra học thuyết Nho gia, có tên là Khâu tự là Trọng Ni, sinh ra ở nước Lỗ, là người học rộng tài cao, ông sinh ra trong 1 gia đình quý tộc đã sa sút, nhưng vì là người có nhiều hiểu biết, thông minh cho nên thời thiếu niên khi đã đến tuổi trưởng thành thì ông được điều làm một chức quan nhỏ làm quản lý kho và trông coi dê. Chỉ 6 năm làm quan ông đã thể hiện tài năng của nhà quản lý xuất sắc và được XH thừa nhận và trong sự nghiệp của mình Khổng Tử là một nhà tư tưởng lớn, là người sớm tham gia vào việc quản lý đất nước, ông luôn muốn có một Xh tôn ti trật tự, 1 XH có trên có dưới, vua ra vui tôi ra tôi, mọi người có cuộc sống vui vẻ hòa thuận, thiên hạ thái bình, XH công bằng, trong XH không có người quá giàu và cũng không có người quá nghèo. Và để thực hiện điều đó Khổng Tử luôn quan tâm đến mối quan hệ giữa người quản lý và người bị quản lý, và từ đó ông luôn luôn đề cao chữ Nhân và nâng cao lên thành đạo Nhân.

-Khổng Tử luôn quan tâm đến công tác quản lý XH, quản lý các hoạt động diễn ra trong đời sống của cộng đồng, vì vậy ông cho rằng muốn quản lý có hiệu quả thì cần phải chu ý đến vai trò của nhà quản lý, bỡi vì nhà quản lý muốn cai trị giỏi thì phải có nhân và nhân đức là 1 nguyên tắc để gắn kết giữa người quản lý và người bị quản lý để hoàn thành mục tiêu đã đề ra.

-Nội dung tổng quan của tư tưởng Đức trị là phải dùng chính pháp để dẫn dụ dân, dùng hình phạt để chỉnh tề dân, dân chỉ tạm thời không mắc tội lỗi, nhưng họ không có liêm sĩ và nếu dùng đạo đức để dẫn dụ dân, sữa lễ giáo để chỉnh tề dân thì chẳng những dân có liêm sĩ mà còn trừ bỏ được ác tâm để cho lòng người quy phục.

-Khổng Tử cho rằng trời là bật nhất và ông luôn luôn nói đến trời, đạo trời, mệnh trời, Khổng Tử tin có quỹ thần, nhưng ông cho đó là khí thiên của trời đất tạo thành, tuy nhìn mà không thấy, lắng mà không nghe, thể hiện mọi vật mà không bỏ sót những nơi nhiều người đến cung kính trang nghiêm để tế lễ ở cả bên tả lẫn bên hữu.

2. Học thuyết về đạo làm người

-Trong công tác quản lý XH thì Khổng Tử cho rằng người quản lý và người bị quản lý, đặc biệt là người quản lý muốn lãnh đạo quản lý XH tốt thì họ phải là người có đủ đức, đủ tài. Vì vậy ông luôn luôn muốn lập lại kỹ cương pháp chế của nhà Chu và xây dựng thuyết đạo làm người mà tư tưởng chủ yếu của học thuyết này là Nhân và Lễ.

-Khi nghiên cứu vấn đề quản lý XH ở trong XH thì ông cho rằng nhà quản lý muốn cai trị giỏi thì họ phải làm cho dân tin tưởng và phục tùng, vì vậy họ phải có Nhân, phải đề cao chữ Nhân như trong gia đình thì trọng hiếu lễ, yêu trẻ kính già, ngoài XH thì mọi người phải thương yêu nhau, giúp đỡ lẫn nhau.

-Muốn đạt được chữ nhân thì mọi người phải học, người quân tử học đạo thì phải yêu người, kẻ tiểu nhân học đạo thì dễ sai khiến, người quân tử ăn ở nhân hậu với người thân thì mọi người trong XH bắt chước noi theo để làm điều nhân. Vì vậy, tư tưởng Đức trị của Khổng Tử là một hệ thống lý luận về đạo cai trị XH bằng lòng nhân từ độ lượng của người bề trên chăn dắt nuôi dân, tu dưỡng đức hạnh đối với người bị cai trị.

-Trong Kinh dịch đã ghi rõ lập đạo của trời nói âm của dương, lập đạo của đất nói nhu mà cương, lập đạo của người nói nhân và nghĩa đó cũng là một trong những đức tính của đạo lý.

3. Nhân Lễ đạo làm người

-Trong công tác quản lý XH Khổng Tử luôn luôn quan tâm đến vai trò của người quản lý học phải là người đủ đức đủ tài, có nhân, lễ, nghĩa mà Nhân là lòng yêu thương người, Lễ, Nghĩa là thủy chung, bất nhân là ác, bất nghĩa là bạc.

-Trong công tác quản lý XH phải luôn chú ý đến đức nhân, bởi vì đức nhân bao gồm mọi sự tinh tuế của các đức khác. Người làm em, làm con trong quan hệ với cha me, với anh chị phải thương yêu nhau, kính trọng nhau, nhường nhịn nhau, chăm sóc phụng sự cho nhau đó là theo đạo nhân cao cả, có như vậy thì mới có được đức hiếu. Con người làm bề tôi trong quan hệ với vua, với người quản lý thì phải biết dâng hiến cả đời mình cho vua, do đó đã đạt được đức trung.

4. Đức tín của nhà quản lý

-Đức tín cơ bản của nhà quản lý vẫn được thể hiện trong đức nhân, mà đức nhân thì được biểu hiện ở 5 điều cơ bản đó là: Cung, khoan, tín, mẫn, huệ.

-Trong quản lý Xh thì Khổng Tử đưa ra học thuyết tam cương, ngũ thường. Tam cương là 3 kỹ cương và được biểu hiện ở ngũ luân: Vua –tôi; vợ - chồng; cha – con; anh – em; bè bạn, từ những mối quan hệ đó nó được biểu hiện ở 11 đức tính lớn trong quan hệ cộng đồng: Vua – nhân; Tôi – Trung; Cha – Từ; Con – Hiếu; Anh – Lành; Em – Hiền; Chồng có nghĩa; Vợ vâng lời; Trưởng có ân; ấu ngoan ngoãn; Bạn bè – Đức tin  Từ đó dẫn đến ngũ thường: Nhân - Lễ - Nghĩa – Trí – Tín.

HỌC THUYẾT VỀ QUẢN LÝ VÀ ĐÀO TẠO CÁN BỘ CỦA KHỔNG TỬ

1.      ĐÀO TẠO CÁN BỘ CHUYÊN NGHIỆP: Cán bộ quản lý chuyên nghiệp trước hết họ phải là người đủ đức, đủ tài, phải có đạo nhân là người có hiểu biết về con người, về lịch sử về xã hội điều đó phải được thể hiện ở những tư tưởng cơ bản sau đây:

+ Chú ý việc lựa chọn cán bộ

+ Chú ý các giai đoạn tu thân tích đức, tề gia trị quốc bình thiên hạ.

+ Chú ý đức tu thân tề gia, phải được học tập và chú ý hai kiểu làm quan, con cái của tầng lớp quý tộc quan lại thì được làm quan theo một phong tuc truyền tử tức làm quan trước sau đó đi học. Hai là con em bình dân sẽ được học trước khi làm quan, phải thi đỗ đạt trước mới đi làm quan.

2.      Phẩm chất vai trò chính sách cán bộ của nhà quản lý

-Phẩm chất quan trọng của nhà quản lý đó là tính trung thành trong tất cả các mặt các công việc, nhà quản lý phải có đức nhân mà cô đọng của đức nhân đó là những phẩm chất của ngũ thường: Nhân, lễ, nghĩa, trí, tín.

-Vai trò của giáo dục trong đào tạo phẩm chất của người quản lý thì Khổng Tử luôn quan tâm đến vấn đề học vấn, học không biết mỏi, dạy không biết chán. Muốn hiểu được chữ nhân, hiểu được chữ đức tín của nhà quản lý thì phải học, nếu không học phải bị ngu bởi vì muốn có cái trí mà không học thì cái trí sẽ làm hại cái nghĩa mà muốn có cái cương mà không học thì cái cương sẽ bị khinh xuất làm hỏng mọi việc.

3. Mối quan hệ giữa người quản lý với nhân dân

-Nhà quản lý muốn thực hiện trọn vẹn những hoạt động quản lý của mình trước hết họ phải có đầy đủ đức tín: nhân, lễ, nghĩa, trí, tín.

-Họ phải sử dụng thuyết chính danh trong công tác quản lý, phải đặt đúng tên gọi, đúng tên sự vật, làm việc xứng với chức vụ, với danh hiệu, Khổng Tử nói: “danh không chính thì lời nói không thuận lý, lời nói không thuận lý thì sự việc không thành, sự việc không thành thì lễ nhạc, chế độ không kiến lập được mà chế độ lễ nhạc không kiến lập được thì hình phạt sẽ không trúng, à hình phạt không trúng thì người dân – người bị quản lý không biết đặt tay vào đâu cho nên người quân tử phải chính danh”.

-Người quân tử muốn chính danh thì phải tu thân tề gia có như vậy mới trị quốc được, có như vậy mới làm cho thiên hạ thái bình thịnh vượng được.

 TƯ TƯỞNG PHÁP TRỊ TRONG QUẢN LÝ XÃ HỘI CỦA HÀN PHI TỬ

1.      Thân thế và sự nghiệp

- Hàn Phi Tử (280 – 233TCN), ông sống thời kỳ chiến quốc (403 -221 TCN) là thời kỳ mà Trung Hoa cổ đại đã có những bước phát triển toàn diện hơn ở thời ký Xuân Thu, đặc biệt là sự phát triển về kinh tế và thương mại, tuy nhiên trong xã hội có nhiều loạn lạc, luôn có sự bất ổn về chính trị. Chế độ chính trị xã hội của nhà nước phong kiến suy tàn, đạo đức suy đồi, quan tham lại nhũng, lối sống xa hoa trụy lạc, mối quan hệ người – người đa dạng phong phú và hết sức phức tạp, chiến tranh kéo dài những yếu tố vế chính trị xã hội luôn bất an từ đó đời sống của dân chúng ngày càng bị bần cùng hóa cao độ.

-Hàn Phi tử là công tử của nước Hàn, ông là người học rộng tài cao có sự hiểu biết về đạo Nho, đạo Lão những ông luôn ham thích học thuyết pháp gia và có tư tưởng mới về pháp trị, bởi vì khi xã hội bất ổn, lối sống, đạo đức suy đồi, mối quan hệ giữa người với người đa dạng thì cần phải có một chính sách quan lý mới cho phù hợp và những chính sách này nhằm mục đích chấn chỉnh lại các mối quan hệ và hoạt động xã hội.

-Nội dung xuyên suốt của tư tưởng Pháp trị của Hàn Phi Tử là Thế - thuật – và pháp luật. Đây là những công cụ hữu hiệu để thồng nhất đất nước để quản lý xã hội. Hàn Phi Tử cho rằng: muốn ổn định được đất nước, giữ cho đất thái bình mọi người an lạc thì trong điều kiện lịch sử mới học thuyết đức trị không còn phù hợp vì vậy tư tưởng Pháp trị của Hàn Phi Tử ra đời đây là tư tưởng mới lấy thế lấy thuật và đặc biệt phải dùng pháp luật đó là những công cụ dùng để cai trị đất nước, để quản lý xã hội.

   Nội dung tổng quan của học thuyết pháp trị

1.  bản chất hám lợi và hám quyền lực

-Khi nghiên cứu công tác quản lý xã hội thì Hàn Phi Tử là học trò xuất sắc của Tuân Tử. Tuân Tử lại là học trò xuất sắc của Khổng Tử, ông đã kế thừa nhiều những tư tưởng những quan điểm quản lý xã hội của Khổng Tử nhưng nếu như Khổng Tử và Tuân Tử cho bản chất con người là thiện thì HPT cho rằng bản chất của con người luôn có bản tính ác và chính bản tính ác này HPT giải thích và áp dụng trong việc cai trị đất nước, ông đã xem xét các hoạt động sống của con người ngay từ khi mới sinh ra vì vậy ông kết luận nhân tri sơ tính bổn ác.

-HPT cho rằng bản tính thiện của con người chỉ có ở rất ít một sối người đó là ở những bậc vĩ nhân, còn đại đa số con người đều có tính ác, họ tranh giành nhau về quyền lợi, quyền lực, chức vụ, về sự vinh quang và thực chất của hành vi đó đều xuất phát từ lợi ích và HPT kết luận sự hám quyền lực, quyền lợi là một trong những thuộc tính vốn có của con người.

- HPT là 1 nhà triết gia, 1 nhà quản lý xã hội, những tư tưởng quản lý của ông rất thực tế, quan điểm cái vị lợi của con người đã được ông giải thích trong mối quan hệ xã hội, mối quan hệ đó đã được thể hiện ngay trong gia đình. Ông cho rằng: trong gia đình nếu sinh ra được đứa con trai thì mừng, sinh ra được đứa con gái thì ghét, thậm chí là muốn giết bỏ nó đi vì họ luôn nghĩ đến cái lợi sau này có con trai để nối dõi tông đường để làm trụ cột.

-Trong công tác quản lý xã hội ông giải thích rằng việc hám quyền lợi, ham của cải, ham quyền lực nó có ở trong tất cả mọi người nhung cần chú ý rằng để thực hiện được điều đó thì vai trò chủ động sáng tạo của con người phải được đặt lên trên hết trong quá trình thực hiện hoạt động sản xuất ra của cải vật chất thì chủ thể của xã hội phải chủ động, phải sáng tạo và phải thực hiện mục đích, năng xuất phải hiệu quả.

2. Mối quan hệ giữa người cai trị và kẻ bị trị.

-Trong xã hội Trung Hoa cổ đại HPT cho rằng đây là quan hệ vua – tôi. Nếu Khổng tử dựa vào đạo đức và nhân nghĩa để cai trị đất nước thì HPT dựa vào khoảng cách về mối quan hệ về điạ vị giữa người cai trị và kẻ bị trị đó là mối quan hệ quyền lực. dựa vào mối quan hệ ấy xã hội sẽ có kỷ cương.

-Khi xem xét về mối quan hệ ông luôn quan tâm đến mới quan hệ giữa người quản lý và người bị quản lý, ông cho rằng: kẻ bị trị cũng như người cai trị đều có chung một bản chất người hám lợi và hám quyền lực, người bị cai trị thì quyền lực không có cho nên họ tập trung vào hám lợi và vì vậy họ luôn phục tình quyền lực. Vì thế ông cho rằng: muốn quản lý có hiệu quả thì nhà vua phải nắm cả 3 quyền; hành pháp, lập pháp và tư pháp. Nhà vua với tư cách người quản lý cần phải nghiêm tắc công tâm, ít chú ý đến lợi ích cá nhân của mình, phải chăm lo cho muôn dân, đáp ứng nhu cầu lợi ích của dân, có như vậy dân mới giàu, nước mới mạnh. Đồng thời trong quan lý xã hội thì người thi hành phải minh bạch, trung thực, cương thường thì nước mới mạnh, còn người thi hành pháp luật mà nhu nhược thì nước sẽ yếu.

-     Trong quản lý XH, tuy chế độ quản lý chuyên chế thì ông coi việc trị nước trị dân là công việc của 1 người đó là vua và mối quan hệ  trong quản lý là vua và bề tôi và trong quản lý thì vua trị quan, quan trị dân, muốn vậy vua phải dùng thuật, dùng thế, tức vua phải có uy, có danh, có kỹ thuật còn quan thì dùng pháp luật để cai trị dân.

   NHỮNG YẾU TỐ CHÍNH CỦA QUÁ TRÌNH QUẢN LÝ XH

1. Thế: Là quyền lực của kẻ làm chúa, của kẻ thống trị, của người quản lý vì vậy họ cần phải nắm lấy quyền thưởng phạt thể hiện uy danh của mình có như vậy thuật mới được thực thi pháp mới được tôn trọng.

-Liên quan đến công tác quản lý thì HPT cho rằng cần phải đặc địa vị, quyền lực lên trên chữ tài, chữ đức. Nhà quản lý muốn giỏi thì phải có thế. Thế được thể hiện ở 3 tiêu chí là.

+ Quyền lực được tập trung vào 1 số người hoặc 1 người đó là vua, đó là quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp.

+ Vua phải giữ 1 địa vị tối cao mọi người phải tuân lệnh không tuân lệnh không phải bề tôi.

+ Thưởng phạt là công cụ trong quyền của nhà vua và từ đó vua sử dụng hết năng lực của bề tôi.

2. Pháp: có nghĩa là phép tắc, có nghĩa là pháp luật nếu phép tắc Khổng Tử dùng là phép thì HPT cho rằng đó là pháp luật nó không tách rời yếu tố thế và thuật, nó có tầm quan trọng rất to lớn trong quản lý XH, pháp luật. Ông cho rằng khi dùng pháp trị tội thì dân chết cũng không oán, dùng pháp để định công lao thì dân được thưởng cũng ghanh tị. Khi sử dụng pháp luật để cai trị đất nước thì cần chú ý phải tuân theo 5 nguyên tắc:

+ Luật pháp phải kịp thời, hợp thơi, chính xác.

+ Luật pháp phải dễ hiểu, dễ thi hành.

+ Luật pháp phải soạn thảo theo tính bình dân, dễ tiếp thu.

+ Luật pháp phải công bằng và bên vực kẻ yếu.

+ Luật pháp phải được thực thi đúng với mọi người không phân biệt đẳng cấp, giai cấp.

3. Thuật cai trị đất nước

-Đây là phương pháp điều hành người cầm quyền người quản lý đó là cách thức là kỹ thuật là biện pháp tuyển dụng kiểm tra đồng thời nhiều khi phải sử dụng tâm thuật mưu mô để trị bề tôi, người quản lý phải có thế thuật để dùng người.

           HỌC THUYẾT QUẢN LÝ KHOA HỌC CỦA TAYLOR (1856-1915)

1. Tổng quan

- Taylor cũng như các nhà tư tưởng XH tiến bộ đã có đóng góp cực kỳ quan trọng đối với khoa học quản lý. Ông sinh ra và lớn lên trong thời kỳ CNTB phát triển tự do cạnh tranh đang chuyển sang giai đoạn Đế quốc chủ nghĩa, giai đoạn độc quyền. Ở trong thời kỳ này phương thức sản xuất TBCN đã phát triển ở 1 trình độ nhất định. Lực lượng sản xuất đạt tới 1 trình độ XH hóa cao độ, năng suất lao động do sự tác động của khoa học công nghệ càng ngày càng được cải thiện và nâng cao. Đây là cơ sở chủ yếu để Taylor từng bước xây dựng học thuyết quản lý khoa học của mình.

-Taylor sinh ra trong 1 gia đình trí thức tấng lớp trên ở Mỹ, gia đình đã tạo mọi điều kiện để Taylor ăn học, ngay từ thời thiếu niên ông đã được học ở Pháp, Đức, Ý. Ông là người học rộng có sự hiểu biết nhiều ở nhiều lĩnh vực, đặc biệt là lĩnh vực kinh tế. Ông luôn quan tâm đến quy trình khoa học công nghệ, quan tâm đến việc tổ chức bộ máy sản xuất. Trong sinh hoạt ông luôn nghiêm khắc với bản thân mình. Ngay từ khi còn trẻ ông đã nỗi tiếng về sự tuân thủ mọi luật chơi, còn trên sàn nhãy thì ông đã lập thời gian biểu cụ thể để chia đều cho các cô gái đẹp và các cô gái không đẹp.

-Trong nghiên cứu và trong quá trình quản lý ông được cấp gần 100 bằng sáng chế. Năm 1901 ông đã dồn hết sức cho việc quản lý khoa học. Trong 15 năm cuối đời ông dồn mọi tâm lực vào nghiên cứu để xây dựng 1 học thuyết quản lý khoa học vì vậy ông được suy tôn là cha đẻ của thuyết quản lý khoa học.

-Nội dung cơ bản của học thuyết quản lý khoa học: Taylor cho rằng quản lý là biết chính xác điều mình muốn người khác làm và cần hiểu rằng bằng cách nào đó họ hoàn thành công việc một cách tốt nhất, hiệu quả nhất và rẻ nhất với 1 chi phí và thời gian thấp nhất. Tư tưởng quản lý này được thể hiện ở 4 tiêu chí cơ bản:

+ Phát triển khoa học thay thế thao tác cũ, kinh nghiệm cũ.

+ Trong quá trình quản lý, tổ chức nền sản xuất cần chú ý, quan tâm đến biến số con người, lựa chọn người lao động phù hợp với nguyện vọng và quan tâm đến lợi ích của họ.

+ Quy trình sản xuất tổ chức lao động phải chặt chẽ, khoa học hợp lý, tạo mọi điều kiện để phát huy năng lực trong quá trình sản xuất đó là yếu tố con người.

+ Cần phải cải tạo mối quan hệ quản lý, phải tạo mối quan hệ giữa người quản lý và người được quản lý, đặc biệt là quản lý phải có thuật dùng người và nên nhớ rằng người lãnh đạo, nhà quản lý cái gì cũng biết nhưng không phải cái gì cũng làm.

Từ 4 tiêu chí này có thể nói nội dung học thuyết Taylor được thể hiện ở 4 nội dung cơ bản:

1. Cải thiện mối quan hệ giữa chủ và thợ

Trong quá trình quản lý cần nhận thức rằng quản lý chính là một quá trình thực hiện mối quan hệ giữa người có quyền lực và người bị chi phối bởi quyền lực, là mối quan hệ giữa chủ và thợ, vì thế nên nhận thức rằng cả chủ và thợ đều hướng tới và có nhu cầu về lợi ích, cần phải giải quyết mối quan hệ này để làm sao cho cả chủ và thợ đều tạo ra một bầu không khí thân thiện, cởi mở trong toàn bộ quá trình sản xuất, làm cho hiệu quả sản xuất ngày càng được nâng cao.

2. Vấn đề tiêu chuẩn hóa trong công việc

Trong quản lý thì nhà quản lý là nhà lãnh đạo tổ chức toàn bộ các hoạt động chung, họ phải là người hội đủ những phẩm chất năng lực, họ phải biết quán xuyến toàn bộ các hoạt động của nhà quản lý, đồng thời khi phân công công việc cần dựa vào tiêu chuẩn để đánh giá việc hoàn thành của người bị quản lý, và muốn quản lý có hiệu quả thì nhà quản lý cần có đủ tri thức, bản lĩnh.

Trong công tác quản lý xã hội cần căn cứ vào chức danh để đánh giá năng lực, trách nhiệm của mỗi cá nhân và cần phải có kế hoạch điều chỉnh những sai lệch, không phù hợp, đặc biệt nhà quản  lý cần phân trách nhiệm rõ ràng cho từng cá nhân với thời gian hoàn thành cụ thể.

3. Chuyên môn hóa lao động

Việc chuyên môn hoa lao động sẽ mang lại hiệu quả lao động rất cao, vì vậy nhà quản lý cần tạo mọi điều kiện để cho công nhân học tập, nâng cao trình độ làm việc, làm cho khả năng chuyên môn của họ được chuyên môn hóa cao, có như vậy hiệu quả và năng xuất lao động ngày càng được cải thiện. Ông cho rằng quản lý XH, quản lý xí nghiệp,… cũng giống như quản lý một cổ máy mà mỗi người với tư cách là một bộ phận sẽ có chức năng riêng đồng thời chuyên môn hóa lao động là phương tiện giúp nhà quản lý điều hành công việc một cách tốt hơn.

5. Yếu tố kinh tế trong quản lý

-     Taylor cho rằng động cơ hay bản chất sâu xa của con người trong đó công nhân đó là bản chất kinh tế, lợi ích kinh tế cho nên nhà quản lý phải có chính sách thưởng phạt cho hợp lý nhằm kích thích mọi người làm việc.

Vai trò của cá nhân trong công tác quản lý:

1/ KN: cá nhân là một cá thể riêng biệt hiện hữu đang tồn tại trong một khoảng không gian và thời gian, với những điều kiện hoàn cảnh lịch sử cụ thể. Cá nhân với tư cách là một chủ thể xã hội luôn giữ vai trò cực kỳ quan trọng trong công tác quản lý, tổ chức xã hội.

Bất cứ một ngành khoa học nào cũng quan tâm đến cá nhân, vì cá nhân tập hợp lại thành xã hội, vì vậy nếu như không có cá nhân với tư cách cá thể chuyên biệt thì không có giai cấp, không có xã hội. XHH quản lý tập trung nghiên cứu cá nhân. Coii cá nhân là một động lực đối với sự phát triển của xã hội.

2/ Đặc điểm của cá nhân đối với công tác quản lý xã hội:

- cá nhân là một  sản phẩm của tự nhiên nhưng là một sản phẩm đặc biệt chỉ xuất hiện một lần không lại lần thứ hai.

-cá nhân là một thực thể mang bản chất xã hội. không có sự sản xuất độc lập mà chỉ có sự sản xuất đơn chiếc. Do đó trong quản lý xã hội cần quan tâm đến đời sống vật chất và tinh thần của cá nhân.

- cá nhân là một chủ thể xã hội là động vật cao cấp, là con người có tư duy có ngôn ngữ có lao động sáng tạo, lao động có năng suất, có hiệu quả cao.

3/ quá trình xã hội hóa:

Xã hội hóa là một trong những khái niệm quan trọng của xã hội học quản lý, là một quá trình mà mỗi cá nhân tham gia vào nhóm xã hội, tổ chức xã hội, được xã hội thừa nhận cá nhân đó như là một thành viên chính thức của mình. Là quá trình cá nhân học tập và bắt chước lẫn nhau, là quá trình cá nhân học đóng vai trò khuôn mẫu trong đời sống. Là quá trình cá nhân tự tổ chức và quản  lý hệ thống cá quan hệ xã hội và các hoạt động xã hội của mình. Đặc biệt khi xem xét vai trò của mình.

Quá trình xã hội hóa của mỗi cá nhân sẽ trang bị cho cá nhân những kỹ năng cầ thiết để hòa nhập vào đời sống, đã hình thành nên mỗi cá nhân sự thông đạt và phát triển khả năng nói, đọc, viết, diễn tả tư duy của mình. Trong quản lý xã hội đòi hỏi mỗi cá nhân phải tự nâng cao trình độ mọi mặt, tính năng động sáng tạo để đáp ứng với những nhu cầu mà xã hội đòi hỏi.

 

 


16