DMCA.com Protection Status

BÀN VỀ SỰ TƯƠNG TÁC GIỮA MÔI TRƯỜNG TỰ NHIÊN VÀ MÔI TRƯỜNG VĂN HÓA TRONG QUÁ TRÌNH ĐÔ THỊ HÓA  quan tâm

Được viết bởi: Ẩn danh

Cập nhật lúc 16:39 ngày 30/12/2017

Trần Ngọc Khánh

ĐH Quốc gia TP.HCM

Môi trường là một khái niệm rộng, ứng dụng trên nhiều lĩnh vực, phạm vi khác nhau và ngày càng được sự quan tâm đặc biệt của toàn thể cộng đồng nhân loại. Tuy nhiên, cho đến nay vẫn có quan niệm chưa thống nhất, kể cả chưa đầy đủ khi coi môi trường là những ảnh hưởng, tác động một chiều từ bên ngoài vào trong một phạm vi không gian, từ đó phân biệt môi trường tự nhiên với môi trường văn hóa; hoặc đồng nhất môi trường văn hóa với môi trường xã hội đương đại, coi đó thuộc về phạm vi hẹp bên cạnh các môi trường kinh tế, chính trị, xã hội; hoặc bị lẫn khuất trong môi trường học tập, làm việc, cư trú… hoặc coi môi trường văn hóa là công cụ lý thuyết về các tiêu chí chuẩn mực của xã hội, để qua đó đánh giá sự tiến bộ hay lạc hậu của một nhóm xã hội hoặc cộng đồng.

Để góp phần làm rõ khái niệm môi trường về phương diện lý thuyết và thực tiễn, chúng tôi xin điểm lại một số quan niệm hiện nay về môi trường và môi trường văn hóa, qua đó góp phần bàn về mối quan hệ tương tác giữa môi trường tự nhiên và môi trường văn hóa, đặt trong bối cảnh của quá trình đô thị hóa để có nhận thức cụ thể hơn về các vấn đề xây dựng môi trường văn hóa đô thị hiện nay.

1. Môi trường.                                                        

Theo quan niệm thông thường, môi trường là tất cả sự vật, hiện  tượng bao quanh ta. Đó là một tập hợp bao gồm các yếu tố thuộc về tự nhiênnhân tạo cấu thành môi trường sống của xã hội loài người.

Các yếu tố này gắn với các hoạt động thuộc về đời sống của con người, có nhiều biến thái trong quá trình tiến hóa và có mối quan hệ tương tác ngày càng mật thiết đến nỗi hầu như khó phân biệt đâu là ranh giới, vì tự nhiên không còn là cõi hư vô và nhân tạo dù đạt nhiều tiến bộ về khoa học kỹ thuật vẫn không thể nào tách khỏi sự chi phối của quy luật tự nhiên. Các yếu tố này còn được coi là một tập hợp, vì mang ý nghĩa toàn thể, không tách rời. Chúng chi phối trực tiếp đời sống con người, không phải theo hướng từ bên ngoài vào mà ngược lại chủ yếu từ bên trong ra, thông qua đối trọng con người. Các quan niệm về văn hóa cho đến nay đều thống nhất coi con người là một thành phần của thế giới tự nhiên, chịu sự chi phối theo quy luật của tự nhiên. Trong mối quan hệ này, con người ngoài khả năng thích nghi còn có khả năng sáng tạo nhờ vào sự phát triển của nhận thức, mà không ít khi tưởng nhầm là khả năng “chinh phục” tự nhiên.

Thực vậy, trải qua các thời kỳ phát triển khác nhau, từ nguyên thủy đến hiện đại, con người đã tác động không ngừng vào thế giới tự nhiên, bằng nhiều cách thức khác nhau. Khởi đi từ nỗi ám ảnh sợ hãi trước khoảng không bao la huyền bí của vũ trụ, với những hiện tượng siêu phàm mà không kém khắc nghiệt của thế giới tự nhiên, con người đã tạo lập thế quân bình bằng các phương thức ứng xử bắt chước, mô phỏng hoặc dưới các hình thức tín ngưỡng. Trong mối quan hệ này, con người không hề tách rời hoặc cưỡng lại tự nhiên, cũng không đối lập hoặc chinh phục tự nhiên, mà đó là quá trình sống chung, hòa hợp, thậm chí tán tụng, xiển dương, luôn thể hiện ước muốn quay về cõi tự nhiên, sống theo lẽ tự nhiên, kết hợp nên một với tự nhiên. Quan niệm này coi môi trường tự nhiên là “ông trời”, dựng nên một thế lực hư vô để giải thích các hiện tượng tác động vào đời sống của con người từ bên ngoài.

Mặt khác, con người còn thể hiện ứng xử gắn bó với “người mẹ” tự nhiên đôn hậu mà nghiêm khắc, không chỉ bằng các phong tục, tập quán, tín ngưỡng, tôn giáo mà còn được nuôi dưỡng nhờ vào các hoạt động khai thác đáp ứng các nhu cầu vật chất, được kích thích bởi khát vọng khám phá, biến môi trường tự nhiên thành môi trường sống nhân văn, còn gọi là môi trường văn hóa, làm cho đời sống con người ngày càng phong phú. Bên cạnh quá trình này, không hiếm trường hợp con người đã xử sự kém ý thức, xâm hại, thậm chí tận diệt môi trường tự nhiên, mà hậu quả nghiêm trọng nhãn tiền là gây nguy hại cho môi trường sống của chính mình như hiệu ứng nhà kính, làm cho khí hậu trái đất nóng dần lên…

Môi trường là một từ đa nghĩa, trong đó về mặt từ nguyên đã có sự phát triển theo từ và nghĩa. Một cách khái quát, môi trường (environnement tiếng Pháp, environment tiếng Anh) mang từ căn vir là xoay quanh (virer), gốc tiếng Hy Lạp là gyros (vòng, vòng tròn), đổi sang tiếng Latinh là gyrarein gyrum. Trong tiếng Latinh, virare, vibrare là xoay quanh (tournoyer); ở người Gaulois, viria có nghĩa là vòng, vành, xuyến. Do đó, môi trường có nghĩa chung là “cái bao quanh” về không gian; “tròn” về hình dạng; “cái làm nên vòng tròn” về chuyển động; và đặc biệt “cái trong viền tròn” để định vị con người là tác nhân quan trọng, có nhiều chiều kích trong môi trường ấy. Như vậy, môi trường không đứng im mà luôn chuyển dịch từ động đến tĩnh, từ chuyển động (mouvement) đến hình dạng (forme), không chỉ hàm nghĩa chuyển động hoặc vật chứa (contenant) mà còn là vật được chứa (contenu)… thông qua hình ảnh tác nhân con người hoặc sản phẩm do con người tạo lập, trong đó các hình thái đô thị với các công trình kiến trúc trong quá trình phát triển văn minh của loài người là biểu hiện vật chất khá xuyên suốt.

Định nghĩa kỹ thuật đầu tiên về môi trường mới chỉ xuất hiện trong tiếng Anh vào những năm 1920, theo đó môi trường gồm có hai phương diện: các điều kiện tự nhiên (vật lý, hóa học, sinh vật học) và văn hóa (xã hội học) có khả năng tác động lên mọi cơ cấu sống và các hoạt động của con người. Mãi đến đầu những năm 1960, môi trường mới được hiểu như hiện nay. Theo nghĩa hẹp, môi trường là một cơ cấu vận hành gồm có: không khí, nước, đất đai, các nguồn tài nguyên tự nhiên, hệ thực vật, hệ động vật, con người và các quan hệ tương tác lẫn nhau giữa chúng (theo ISO 14001:1996); theo nghĩa rộng, môi trường là tập hợp các điều kiện tự nhiên và văn hóa có khả năng tác động lên các cơ cấu sống và các hoạt động của con người (theo Wikipédia). Mặc dù vậy, các định nghĩa cổ điển về môi trường trong thế kỷ XX nhìn chung đều có khuynh hướng thiên về môi trường tự nhiên, tách môi trường tự nhiên với môi trường xã hội, coi đó là các lực tác động riêng rẽ lên các hoạt động của đời sống con người.

2. Mối quan hệ tương tác giữa môi trường tự nhiên và môi trường văn hóa.

Đầu tiên, kể từ cuối thế kỷ XX, người ta giả định về sự phát triển theo quy luật và so sánh môi trường kinh tế với môi trường tự nhiên theo hai cách nhìn đối lập nhau. Một bên gồm các đặc điểm tự do, sáng tạo và cạnh tranh theo kiểu “đấu tranh sinh tồn”, giữa kẻ săn mồi có tiềm lực về tài chính thương mại và con mồi là thế giới tự nhiên được khai thác triệt để, dẫn đến trường hợp hủy hoại môi trường; một bên sử dụng phép ẩn dụ làm cho các mối quan hệ trở nên hài hòa, chia sẻ hơn theo kiểu cộng sinh, phụ thuộc lợi ích lẫn nhau, tạo ra các mối tương tác bền vững giữa con người, đơn vị kinh tế (môi trường kinh tế vĩ mô) và môi trường tự nhiên. Mặc dù có sự khác biệt trong cách nhìn nhận, song cần nhắc lại rằng kinh tế (économie) và sinh thái (écologie) vốn có chung ý nghĩa về mặt từ nguyên, vừa đối lập vừa gần gũi, dẫn đến quan niệm về sự phát triển bền vững trong môi trường văn hóa.

Cho nên, từ cuối thế kỷ XX, nhiều tổ chức chính trị hoặc hiệp hội đã lên tiếng cảnh báo về sự tổn thương của thế giới tự nhiên, do tính chất tự nhiên như là một bộ phận của môi trường bị con người tận dụng làm biến đổi; do môi trường tự nhiên là nguồn tài nguyên không thể, ít, khó, chậm hoặc đắt giá nếu muốn tái tạo lại; do môi trường chịu những tác động ngày càng tăng của phát triển và ô nhiễm. Điều này dẫn đến hệ quả có tính nguyên tắc ảnh hưởng đến chất lượng sống (quality of life) trong môi trường xã hội, đòi hỏi trở lại sự thân thiện của con người đối với môi trường tự nhiên.

Đã có nhiều nỗ lực nhằm hạn chế ô nhiễm và chất gây hại (đặc biệt là tiếng ồn), giảm phí phạm năng lượng, cải thiện xử lý chất thải, v.v. Những cố gắng này đôi khi vẫn còn khá mập mờ trong khái niệm bảo vệ môi trường (environnementalisme). Nhiều phong trào của các hiệp hội và đảng phái chính trị được gọi là “sinh thái”, “môi trường” hoặc “xanh”; nhiều cuộc vận động nhằm bảo vệ môi sinh (écologisme) thuộc cánh hữu hoặc cánh tả; nhiều cuộc thăm dò trong những năm gần đây, đã xếp môi trường bên cạnh các mối bận tâm về thất nghiệp và cuộc đấu tranh chống lại tình trạng mất an ninh.

Do đó, cả về mặt từ ngữ cũng không nên lẫn lộn giữa môi trường nói chung với môi trường sinh thái tự nhiên, vì một bên đi liền với các thời kỳ phát triển của xã hội loài người, còn bên kia là các chu kỳ sống mang tính quy luật của thế giới tự nhiên, không bị giới hạn, chinh phục hoặc phụ thuộc vào tác nhân con người, và đang có nguy cơ trở thành mối hiểm họa cho sự sống và sự sinh tồn của xã hội loài người.

Mặt khác, môi trường còn là khái niệm mang ý nghĩa tương đối, vì giới hạn vật lý giữa một cá thể với môi trường “bao quanh nó” rất khó xác định và nhất là giữa chúng còn bao hàm mối quan hệ tương tác hữu cơ. Chẳng hạn, trên thân thể con người, da được xem là hàng rào vật chất giới hạn các thành phần của môi trường bên trong (milieu) với môi trường bên ngoài. Song khi người ta hít thở không khí từ môi trường bên ngoài vào, một số tế bào của cơ thể hấp thu oxy, số khác được đưa ra bên ngoài dưới dạng khí cacbon CO2 và nhiều hơi nước. Trường hợp tương tự đối với thực phẩm và chất bài tiết, hoặc tinh tế hơn như đối với các hocmon được hấp thu hoặc tiết xuất bởi cây cối và loài động vật. Một thí dụ khác, cây cối mọc thành rừng không phải chỉ nhờ sự thích nghi với các điều kiện đất đai, không khí và độ ẩm của môi trường tự nhiên, mà cây cối cũng là tác nhân chính làm cho đất đai phù hợp để sinh trưởng (do phân hủy lá cây, cành mục, các vi khuẩn và loài nấm cộng sinh hoặc các loài ẩn trú), đưa thêm oxy vào không khí và làm cho độ ẩm cao hơn. Do đó, đất đai và cảnh quan khu rừng không hẳn là môi trường tự nhiên của cây cối mà còn là sản phẩm của chúng.

Ranh giới giữa môi trường tự nhiên và môi trường văn hóa, do đó, không hoàn toàn rõ ràng, song mối quan hệ tương tác giữa chúng với nhau ngày càng gắn bó, nhờ đó càng làm lộ rõ vai trò tác nhân của con người trong quá trình tạo lập nên các môi trường nhân văn thích ứng. Có thể kết luận, con người trải qua các thời kỳ phát triển khác nhau đã không hề bàng quan trước tự nhiên và những tác động của môi trường tự nhiên. Họ đã sử dụng nhiều cách thức khác nhau để thích ứng với môi trường tự nhiên. Và trong vài thế kỷ gần đây, cùng với sự phát triển mạnh mẽ của đô thị và những tiến bộ của thời kỳ công nghiệp hóa, nhận thức của con người về môi trường đã có sự biến đổi mạnh mẽ, đi từ thế giới nghệ thuật và xúc cảm thẩm mỹ đến thái độ quan tâm của các ngành khoa học và trách nhiệm công dân trong thế giới toàn cầu hóa. Chẳng hạn, tình trạng biến đổi khí hậu được xác định không phải do tác nhân từ bên ngoài, mà đó là hệ quả do hoạt động của con người từ bên trong và con người phải tìm cách khắc phục nó. Phải chăng cũng có thể coi đây là hệ phương pháp luận để nỗ lực khắc phục các hiện tượng xã hội, không “đổ thừa” cho hoàn cảnh khách quan, bên ngoài hoặc bên trong, khi tổ chức xây dựng môi trường văn hóa trong quá trình đô thị hóa hiện nay ở nước ta.

3. Về môi trường văn hóa và một số vấn đề xây dựng môi trường văn hóa đô thị.

Theo Hồ Sĩ Quý[1], môi trường văn hóa là khái niệm đặc biệt của môi trường xã hội, gần như trùng với khái niệm môi trường xã hội. Quan niệm này hoàn toàn đúng đắn khi đề cao tác nhân con người trên các phương diện của đời sống xã hội, song có lẽ còn chưa đầy đủ do giới hạn môi trường văn hóa trong phạm vi các hoạt động của con người tách rời môi trường tự nhiên, coi môi trường tự nhiên là tập hợp các yếu tố bên ngoài ít có tương quan với hệ thống xã hội – con người.

Thực ra, đến cuối thế kỷ XX, loài người đã nhận thấy những biến chuyển mạnh mẽ của môi trường trên nhiều lĩnh vực thuộc về xã hội, sinh thái, chính trị, văn hóa và ý thức. Môi trường mang chiều kích của thế giới toàn cầu hóa, ngày càng được nhiều giới quan tâm, nhất là kể từ sau Hội nghị thượng đỉnh về Trái đất tổ chức tại Rio tháng 6/1992. Nhiều hiệp ước bảo vệ môi trường được ký kết dưới sự bảo trợ của Liên hợp quốc (ONU) hoặc chính quyền nhiều khu vực, nhưng cho đến nay mới chỉ giảm bớt cấp độ tăng trưởng ở các nước công nghiệp phát triển. Ở các nước này, đa số người dân có ý thức hơn về môi trường, vì:

+ Môi trường sống ít yếu tố sinh thái tự nhiên, hoặc nông thôn ngày càng ít đi do đô thị xây dựng ngày càng nhiều;

+ Môi trường được kiểm soát bởi tập thể, kể cả được tư nhân hóa, nhưng mức độ tác động đối với từng cá thể ngày càng ít và cá thể phải chịu đựng nhiều hơn trong môi trường nhân tạo;

+ Môi trường không còn là đối tượng tự nhiên được nhận biết và khai thác (thế kỷ XVIII, 85% dân số khai thác trực tiếp môi trường – nông nghiệp, ngư nghiệp, lâm nghiệp… - đến đầu thế kỷ XXI tỷ lệ này còn lại ít hơn 15%);

+ Môi trường ngày càng được nhận thức là nguồn tài nguyên có giới hạn, không phải không cạn kiệt hoặc là có thể tái tạo bất tận;

+ Môi trường là tài sản chung, chúng ta có bổn phận để dành lại cho các thế hệ mai sau.

Ở EU, 79% tổng dân số sinh sống ở các vùng đô thị, cho nên họ nhận thức rõ ràng tầm quan trọng của chất lượng sống và những yếu tố môi trường trong các hoạt động kinh tế, đồng thời nhấn mạnh vai trò của các thành thị trong việc thực thi các chính sách nhằm đảm bảo môi trường sinh thái.

Mối quan hệ giữa con người và môi trường trở thành chủ đề trung tâm của các cuộc thảo luận không kém phần gay gắt về triết học, khoa học, về các hệ quả kinh tế - xã hội. Tựu trung, có thể khái quát hai quan niệm khác nhau:

- Một, tiếp tục khẳng định sự thống trị của con người đối với tự nhiên. Con người khai thác tài nguyên để có ăn, có mặc và mải mê đẩy mạnh hoạt động phát triển công nghiệp. Quan niệm này dựa theo Kinh thánh, thừa nhận việc khai thác tài nguyên tự nhiên trên cơ sở những tiêu chuẩn thuần kinh tế;

- Hai, ngược lại, đặt con người ngang mức với môi trường, quan niệm các hoạt động của con người và quá trình phát triển của môi trường mang tính phụ thuộc lẫn nhau, và nhấn mạnh trách nhiệm của con người trong việc quản lý tốt sử dụng nguồn tài nguyên môi trường.

Trên thực tế, môi trường có ý nghĩa khác nhau tùy theo hoàn cảnh văn hóa và tính chất xã hội - nghề nghệp. Nhà công nghiệp tham chiếu môi trường về mức độ ô nhiễm; cán bộ quan tâm đến lối sống, thợ thủ công và thương nhân nghĩ đến thành thị, trong khi nông dân nghĩ đến làng xã. Một cộng đồng lớn ở địa phương quan tâm đến hệ sinh thái, sinh thái cảnh quan, trong khi một thành thị nhỏ sẽ chú ý vấn đề quản lý nước, chất thải và không gian xanh… Môi trường trên mọi lĩnh vực và phạm vi không gian lớn hoặc nhỏ đều có khuynh hướng trở thành bộ phận không tách rời của đời sống con người.

Như vậy, theo chúng tôi, có thể khái quát môi trường văn hóa không hẳn là môi trường xã hội hoặc các tiêu chuẩn xã hội với từng mảng các mặt hoạt động như phong tục, tập quán, lối sống, đạo đức, pháp quyền, dân trí, tính năng động xã hội… mà thực chất đó là môi trường nhân văn, với các hoạt động ngày càng có trách nhiệm của xã hội đối với môi trường sống của con người. Về phương diện đồng đại, môi trường văn hóa có thể bao gồm một số các lĩnh vực hoạt động khá riêng biệt như: sinh thái, xã hội và kinh tế; song về phương diện lịch đại, môi trường văn hóa không chỉ là sự kế tục các giá trị truyền thống, mà còn là sự phát triển bền vững nhằm bảo đảm nhu cầu và lợi ích của các thế hệ mai sau.

Theo Báo cáo Brundtland năm 1987 của Hội đồng thế giới về môi trường và phát triển, “Phát triển bền vững là sự phát triển nhằm thỏa mãn các nhu cầu của thế hệ hiện  tại mà không lấy mất của các thế hệ tương lai khả năng thỏa mãn chính các nhu cầu của họ”. Đến năm 1991, định nghĩa của Hiệp hội bảo tồn quốc tế về thiên nhiên thuộc Chương trình Liên hợp quốc về môi trường và Quỹ thế giới về thiên nhiên đã bổ sung cụ thể hơn: “Phát triển bền vững có nghĩa là vừa cải thiện chất lượng sống vừa tôn trọng khả năng chịu đựng hiện có của các hệ thống sinh thái”.

Ngày nay, đô thị hóa vừa là quá trình tất yếu, vừa là điều kiện cho sự phát triển bền vững nhằm cải thiện chất lượng sống cho các thế hệ hiện tại và tương lai. Nhận thức về môi trường trong quá trình đô thị hóa đặt ra nhiều vấn đề xây dựng môi trường văn hóa đô thị. Ở đây, chúng tôi xin lưu ý hai vấn đề sau:

1- Xây dựng môi trường văn hóa đô thị khác với xây dựng môi trường văn hóa ở đô thị. Văn hóa đô thị là một quá trình liền lạc, thể hiện mối quan hệ tương tác gắn bó giữa con người với môi trường tự nhiên và môi trường xã hội. Các tiêu chí văn minh đô thị cần đáp ứng trước hết theo các yêu cầu tiêu chuẩn hóa của đô thị hiện đại; thứ đến các quy định về chủ trương chính sách cần phù hợp thích đáng với điều kiện sống của cư dân. Không thể cứ luôn “đổ thừa” người dân kém ý thức về văn minh đô thị trong khi các tiêu chí chuẩn mực quy hoạch đô thị về nhà cửa, đường sá và các công trình phục vụ dân sinh chưa đâu vào đâu, các điều kiện về cơ sở vật chất kỹ thuật hạ tầng chưa trang bị đầy đủ, và nhất là những tập quán, thói quen do điều kiện sinh sống của các cộng đồng cư dân khác nhau, thuộc các tầng lớp khác nhau, về nguyên tắc, không thể ”chuẩn hóa” trong một sớm một chiều.

Văn hóa nông thôn và văn hóa đô thị khác nhau chủ yếu về môi trường sống, trong đó cộng đồng cư dân ở nông thôn phụ thuộc lỏng lẻo hơn trong quan hệ tương tác với môi trường tự nhiên; khác với các cộng đồng cư dân ở thành thị chịu nhiều ràng buộc nghiêm ngặt hơn trong quan hệ tương tác với môi trường xã hội. Xây dựng môi trường văn hóa đô thị văn minh, hiện đại không chỉ nhằm làm cho đô thị sạch đẹp hơn, quy củ hơn, xanh hơn theo các góc nhìn từ bên ngoài, mà cần tiếp cận tiêu chí nhân văn, phải tạo điều kiện để mọi tầng lớp cư dân ở đô thị sống chất lượng hơn.

2- Xây dựng môi trường văn hóa đô thị là xây dựng môi trường mang tính nhân văn và phát triển bền vững theo bốn tiêu chí sau: lành mạnh, xanh, bền vững và sinh thái.

- Đô thị lành mạnh (en santé) cả về môi trường tự nhiên (physique) và môi trường xã hội. Đó là sự phát triển các nguồn tài nguyên thuộc về cộng đồng để họ trợ giúp nhau thực hiện các chức năng của đời sống và phát triển tối đa tiềm năng của họ (theo Hancock và Duhl, 1986). Đô thị lành mạnh, theo định nghĩa mới của Tổ chức y tế thế giới, không chỉ giảm bớt bệnh tật, mà phải đạt đến tình trạng hoàn hảo về thể chất, tinh thần và xã hội.

- Đô thị xanh (verte) nhằm bảo tồn tài nguyên, giảm chất thải và độc tố, bảo đảm công bằng xã hội, cho công dân quyền được tham gia quyết định, bảo vệ sức khỏe và sức sống văn hóa (theo Roelofs, 1996).

- Đô thị bền vững (durable) được hiểu theo nhiều cách khác nhau. Đó là nơi mà công lý, của ăn, chỗ ở, giáo dục, y tế và hy vọng được phân phối minh bạch, trong đó mọi người đều được quyền tham gia điều hành (theo Rogers, 1998). Đô thị bền vững khuyến khích mọi sinh hoạt công cộng hòa hợp với tự nhiên (theo Nozick, 1992); văn hóa và các đặc trưng văn hóa của mỗi cộng đồng đều được hiển thị và phát huy; kinh tế đủ trang trải và thỏa mãn các nhu cầu… Phát triển bền vững liên kết ba trục: công bằng xã hội, phát triển kinh tế và gìn giữ môi trường.

- Đô thị sinh thái (écologique) được bảo đảm theo ba nguyên tắc: đời sống, thẩm mỹ và minh bạch (theo Register, 1985). Môi trường đô thị lành mạnh bảo đảm nguồn lực ủng hộ các nhu cầu và nguyện vọng của cá nhân và cộng đồng; nguyên tắc thẩm mỹ chủ yếu ở các công trình xây dựng và đường sá giao thông; tính công bằng, minh bạch bảo đảm cho tất cả mọi người đều có cơ hội lựa chọn, sáng tạo và được sống trọn vẹn theo khả năng của mình.

Nguồn : TNK, 4/2008

Tài liệu tham khảo:

-  Hồ Sĩ Quý (2007). “Về môi trường văn hóa và môi trường văn hóa ở Việt Nam”. www.issi.gov.vn/tintuc/mlnewsfolder.2007-10-22...

-    Ban Tư tưởng Văn hóa Trung ương (2004). Xây dựng môi trường văn hóa, một số vấn đề lý luận và thực tiễn. Hà Nội.

-  L. Wirth (2002). Urbanism as a way of life. The City, Vol.IV, Part 1: Urban quality of life. Routledge, pp. 5-23.

-   Diane Pruneau, Elizabeth McLaughlin, Joanne Langis. L’éducation à la vitabilité urbaine. Des suggestions d’action pédagogiques et environnementales. http://classeur.pistes.org

-   George Frampton (2000). La santé des villes: solutions environnementales en milieu urbain. http://usinfo.state.gov/journals