DMCA.com Protection Status

VIỆC PHỤNG THỜ LÝ NAM ĐẾ Ở CÁC LÀNG VEN ĐÔ HÀ NỘI  quan tâm

Được viết bởi: Ẩn danh

Cập nhật lúc 15:04 ngày 30/12/2017

  • Nguyễn Thị Thanh Mai

 
Nguyễn Thị Thanh Mai. Việc phụng thờ Lý Nam Đế ở các làng ven đô Hà Nội
 

Người dân các làng ven đô Hà Nội trong quá trình chuyển đổi từ làng lên phố, từ người nông dân trở thành cư dân đô thị, từ nền kinh tế sản xuất nông nghiệp sang nền kinh tế đa ngành nghề một mặt đang nỗ lực để lưu giữ những giá trị văn hóa truyền thống, mặt khác thay đổi để thích nghi với bối cảnh xã hội đương đại. Hiện nay, người dân ở các làng ven đô vẫn luôn tin vào sự hiện diện, phù trợ của đức vua Lý Nam Đế đối với đời sống cộng đồng. Trong dịp lễ hội, những khuôn mẫu văn hóa truyền thống đã được duy trì, bảo tồn qua nhiều thế hệ để rồi được tái hiện một cách sinh động qua các lễ thức, trò diễn dân gian, tục hèm… Điều đó đã đưa lại cho người dân ý thức rõ rệt về đạo lý uống nước nhớ nguồn, truyền thống văn hóa tốt đẹp từ bao đời nay của dân tộc ta.

1. Hệ thống di tích thờ Lý Nam Đế ở các làng ven đô Hà Nội

Hiện nay, Hà Nội có 69/80 điểm phụng thờ Lý Nam Đế và các tướng lĩnh cùng thời. Trong đó, nhiều làng xã tại Hoài Đức, Đông Anh, Quốc Oai, Từ Liêm… tôn Lý Nam Đế làm thành hoàng làng. Mật độ dày đặc của các di tích thờ Lý Nam Đế tại xứ Đoài đã khẳng định sự gắn bó mật thiết giữa vùng đất này với vị vua sáng lập nhà tiền Lý.

Theo các tư liệu lịch sử, Lý Nam Đế sinh ra ở thôn Cổ Pháp, xã Tiên Phong, huyện Phổ Yên, Thái Nguyên, năm 13 tuổi ông đã cùng với Pháp tổ thiền sư về tu tại chùa Bảo Phúc, làng Giang Xá. Đây chính là mảnh đất gắn liền với tuổi thơ ông, là nơi rèn luyện ý chí, chiêu binh luyện sĩ, phất cờ khởi nghĩa chống giặc Lương. Tại làng Giang Xá, hiện vẫn còn cụm di tích đình, đền, chùa đều liên quan đến Lý Nam Đế, thờ cúng ngài với 3 tư cách khác nhau: một người con của Phật, một phúc thần, một anh hùng dân tộc. Từ ngôi làng này nghĩa quân của Lý Nam Đế đã đi khắp nơi để luyện binh, chuẩn bị ngày khởi nghĩa. Làng Lưu Xá (xã Đức Giang) được coi là đại bản doanh của Lý Nam Đế, làng Đại Tự (xã Kim Chung) là mảnh đất đấu vật, thi võ tuyển quân vào ngày 4 - 1, đồng thời là nơi thu nhận lương thảo của nhân dân gom góp ủng hội cho nghĩa quân. Làng Tu Hoàng, Di Trạch, Miêu Nha là nơi nghĩa quân đã đi qua và nghỉ lại. Có thể thấy, vùng ven đô Hà Nội là địa điểm thuận lợi để Lý Nam Đế chiêu binh luyện sĩ, phất cờ khởi nghĩa.

Từ xưa đến nay, dân làng ven đô không chỉ coi Lý Nam Đế là một vị tướng tài ba, người anh hùng dân tộc, mà còn coi ông là người con của vùng đất này, được tôn thờ, kính trọng. Việc phụng thờ xuất phát từ đạo lý uống nước nhớ nguồn, từ nhu cầu tâm linh, nguyện vọng được tiếp thêm sức mạnh, niềm tin từ quá khứ.

2. Tác động của đô thị hóa tới việc phụng thờ Lý Nam Đế ở các làng ven đô Hà Nội

Làng ven đô là nơi diễn ra quá trình giao thoa giữa văn hóa nông thôn và văn hóa thành thị, chịu ảnh hưởng đậm nét nhất của quá trình đô thị hóa. Quá trình này tác động tới mọi mặt của đời sống xã hội, đặc biệt là đời sống tín ngưỡng, tôn giáo. Trong đó, việc phụng thờ Lý Nam Đế cũng có nhiều biến đổi.

Không gian,cảnh quan di tích

Trong những năm gần đây, xuất hiện ngày càng nhiều khu công nghiệp, dịch vụ dẫn đến sự thay đổi trong mục đích sử dụng đất ở các làng ven đô. Chính vì vậy, các di tích không được tập trung thành một khu vực mà nằm xen kẽ giữa nhà dân, cửa hàng, công trình sinh hoạt... Kiến trúc cổ của di tích được đặt giữa những kiến trúc hiện đại, mất đi nét thâm nghiêm, cổ kính.

Bên cạnh đó, sự chuyển đổi nghề nghiệp, cơ cấu lao động cũng ít nhiều làm thay đổi bộ mặt của làng xã ven đô. Sự đa dạng ngành nghề là nhân tố thúc đẩy đời sống kinh tế phát triển, người dân có điều kiện để đóng góp tu bổ tôn tạo di tích: làm mới, sơn sửa, bổ sung những đồ thờ tự mới, hiện đại. Đa phần các di tích hiện nay đều có không gian, cảnh quan khang trang với nhiều đồ thờ tự mới, hiện đại. Làng Đại Tự (xã Kim Chung) từ một làng thuần nông, sau khi du nhập nghề cơ khí dân dụng làm két sắt, nghề mộc đời sống nhân dân được nâng cao, xuất hiện nhiều doanh nghiệp, các cơ sở sản xuất. Chính vì vậy, trong nhiều năm trở lại đây đình làng Đại Tự được sửa sang nhiều lần: nắn lại dòng mương chảy qua, kè đá ao sen của đình, san bằng khuôn viên trong đình, xây tường bao quanh, trồng toàn bộ cây cảnh, cây xanh bóng mát tại đình làng lắp hệ thống đèn chiếu sáng, lát gạch, đổ bê tông các con đường trong đình. Năm 2010, lễ hội làng tổ chức quy mô lớn với tổng chi phí 364 triệu đồng với sự tài trợ của các doanh nghiệp. Bên cạnh đó, một số làng có con em lên thành phố làm ăn, trở về đóng góp xây dựng đình, cúng tiến nhiều đồ thờ tự mới. Trong 10 năm trở lại đây, di tích đình, đền Giang Xá cũng được tu sửa nhiều lần, đặc biệt, năm 2015, đền mang bộ mặt mới với khuôn viên cảnh quan được mở rộng, sân đền được bê tông hóa...

Tuy nhiên, quá trình đô thị hóa khiến đất đai trở nên chật hẹp, phát sinh nhiều yếu tố mới không phù hợp với văn hóa truyền thống. Đặc biệt là hiện tượng làm mới di tích, gây mất mỹ quan truyền thống. Sau nhiều lần tu bổ, cụm di tích đình, đền Giang Xá mất dần những yếu tố cổ kính, thâm nghiêm, truyền thống, thay vào đó là hình ảnh mới có phần phô trương lòe loẹt. Cây cối lâu năm bị chặt bỏ, tác môn với hàng chữ Bính Tuất 2006 trước cổng đình được cạo bỏ thay bằng hình đầu con vật dữ tợn làm mất đi cảm giác yên bình, hoan lạc khi bước chân đến làng.

Hiện nay, nhiều làng xã ven đô đã mở rộng thêm ngành nghề mới, phát triển các hoạt động kinh doanh nhỏ lẻ. Hàng quán, dịch vụ kinh doanh buôn bán tấp nập, nằm sát cạnh di tích. Trước mặt đình làng Lưu Xá, Giang Xá là khu chợ họp hàng ngày, vừa ồn ào, vừa mất vệ sinh… Thậm chí, nhà tiền tế còn được trưng dụng trở thành nơi để đồ chợ cho gia đình buôn bán ngay sát di tích, biển chỉ dẫn đến đình làng nghiễm nhiên trở thành nơi phơi phóng, để vật dụng của những người làm hàng quán…

Sự biến đổi trong nhu cầu tâm linh

Trước đây, người dân tham gia các hoạt động tín ngưỡng địa phương theo tâm lý tự tôn làng xã. Nhưng ngày nay, đổi mới kinh tế đã vạch ra nhiều con đường tìm kiếm sinh kế khác nhau, đem đến cả vận may và rủi ro cho mọi tầng lớp xã hội. Nền kinh tế nông nghiệp cổ truyền thiên về tự cung tự cấp chuyển sang phát triển kinh tế hàng hóa nhiều thành phần được vận hành theo cơ chế thị trường đã tạo ra sự cạnh tranh gay gắt trong quá trình phát triển, sự phân hóa giàu - nghèo ngày càng rõ rệt. Trong bối cảnh ấy, tôn giáo tín ngưỡng được xem như một nguồn lực tinh thần được trông cậy. Ngoài ước mong về cuộc sống no đủ, mưa thuận gió hòa… người ta còn cầu tài lộc, công danh.

Trước đây, đình, đền chỉ mở cửa vào dịp lễ hội, lễ tết, ngày sóc, vọng, thì nay người dân có thể đến lễ bất cứ ngày nào. Các di tích thờ cúng không chỉ là điểm đến của dân làng mà còn thu hút dân các làng lân cận, du khách thập phương.

Mở rộng giao lưu đồng nghĩa với việc dân làng không còn quá độc tôn thần, thánh của làng mình như trước đây nữa mà tìm đến những chốn linh thiêng khác như đền Bà Chúa Kho, phủ Dày Nam Định...

Trước đây, ở làng Giang Xá, ngoài tục cầu tự, người ta còn hay nhắc đến lệ bán khoán. Đứa trẻ được coi là con nuôi của đức ông, đức thánh, được gọi là con mày. Gia đình nào có người bán khoán cảm thấy rất vinh dự, ngày tết, rằm, mồng một hàng tháng đều ra đền làm lễ. Ngày nay tục lệ này không còn phổ biến nữa, nhiều gia đình tìm đến chùa Hương để cầu xin phúc lộc con cái, gửi bán khoán tại chùa Phúc Khánh…

Sự biến đổi trong lễ nghi, phong tục

Trước sự thay đổi của đời sống xã hội, lễ nghi tôn thờ Lý Nam Đế ở các làng ven đô ít nhiều bị mai một, một số nghi lễ giản tiện hơn, thời gian diễn ra lễ hội được rút ngắn… cho phù hợp với nhịp sống mới.

Lễ hội phụng thờ Lý Nam Đế trước đây thường kéo dài từ 5 - 7 ngày, nhưng hiện nay chỉ diễn ra trong khoảng từ 2 - 3 ngày, 5 năm mới tổ chức một lần. Hội làng Đại Tự diễn ra từ ngày 7 đến 9 - 3 hàng năm, lễ hội làng Giang Xá từ 11 đến 13 tháng giêng. Lễ hội đình làng Ngọc Than trước đây thường kéo dài từ ngày mồng 8 đến ngày 15 - 11 âm lịch, quãng thời gian Lý Bí về làng chiêu tập binh lính đánh giặc. Tuy nhiên, hiện nay, thời gian tổ chức lễ hội được rút ngắn lại từ ngày 10 đến 13.

Bên cạnh đó, thành phần tham gia việc làng còn trẻ, không am hiểu luật tục, lễ nghi nên nhiều khi thực hành nghi lễ còn thiếu sót, không phù hợp với lễ thức truyền thống.

Tại Giang Xá, trong mỗi kỳ lễ hội hay những dịp lễ quan trọng trong năm thường phải có lễ tạ quá (lễ tạ) nhằm xin đức thánh, thần linh lượng thứ cho những sơ suất, thiếu sót. Theo các cụ cao niên trong làng, đây cũng là lễ để cúng tiễn các quan, linh hồn không nơi nương tựa trong làng. Nhưng tại lễ tiết ngày 12 - 1 - 2016 lễ tạ quá không được thực hiện.

Dân làng Giang Xá còn thực hiện tế tuần vào ngày 12 - 2, được coi là tuần lĩnh sắc chỉ triều đình. Thường có 4 chiếu tế: 1 chiếu dành cho chủ tế, 2 chiếu cho bồi tế dải trong đền, 1 chiều dải ngoài đền. Ở đây có 9 giáp, mỗi chiếu có 3 người thứ tự từ giáp nhất cho đến giáp chín, nên các chiếu phải dải cách xa nhau. Hiện nay, ban tổ chức đều cho dải chiếu hết trong đền, khiến cho khoảng cách quá gần nhau, không đúng nghi thức tế. Khi quan tế dâng rượu phải có nhạc đi theo thì nay các phường nhạc ngồi tại chỗ.

Về chuẩn bị lễ vật dâng cúng, người ta không làm các loại bánh cúng tiến vua như trước mà đơn giản hóa đi rất nhiều, có thể đặt trước, mua sẵn tại các hàng quán. Tại Giang Xá, hiện nay có khoảng 10 gia đình sản xuất bánh bác, bánh cốm, thức bánh đặc sản gắn liền với Lý Nam Đế.

Sự tham gia của người dân vào sinh hoạt văn hóa cộng đồng

Dưới tác động của quá trình đô thị hóa, không gian văn hóa ở các làng ven đô Hà Nội càng trở nên động và mở, không đơn thuần là không gian văn hóa của một làng hay một số làng nhất định mà dần dung hợp dấu ấn của nhiều vùng văn hóa khác nhau. Hiện nay, người dân ở các làng ven đô Hà Nội không còn sống khép kín, co cụm trong mối quan hệ họ hàng, huyết thống, láng giềng như trước đây mà dần trở thành cư dân đô thị, cư dân bác tạp, không thân quen. Sự hình thành khu công nghiệp, khu đô thị vệ tinh tại các làng ven đô xung quanh Hà Nội khiến cho lượng dân nhập cư ngày càng tăng. Thành phần dân cư ở các làng xã trở nên phong phú, đa dạng hơn. Mặt khác, một bộ phận có xu hướng dịch cư ra đô thị, nguồn nhân lực nhập cư từ các địa phương về Hà Nội làm ăn sinh sống ngày càng nhiều. Điều này ảnh hưởng không nhỏ đến nếp sống, tâm lý của người dân đặc biệt là việc tham gia vào lễ hội.

Ở các làng xã, người cao tuổi, nam giới luôn là lực lượng nòng cốt, là cơ sở vững chắc để các khuôn mẫu văn hóa được trao truyền. Hiện nay, nữ giới có thể cùng tham gia trong một số nghi thức, nghi lễ cộng đồng. Tại lễ hội đình làng Đại Tự, phụ nữ được vào đình làm lễ ở phía trước hoặc gian ngoài đình. Các cụ bà, nữ thanh niên (chưa chồng), thiếu niên cũng được tham gia vào các đội rước như đội cờ tổ quốc, đội trống, đội cờ reo, đội rước kiệu thánh... Điều này cho thấy tinh thần dân chủ, bình quyền nam nữ của thời đại mới đã được đưa vào hệ thống nghi lễ ở làng.

Lực lượng tham gia lễ hội hiện nay không còn bó hẹp trong nhóm cư dân trong làng mà được mở rộng hơn với sự tham gia của các thành phần ngoài làng. Cư dân mới chuyển đến tích cực tham gia vào các hoạt động tế tự tại đình, chùa, đặc biệt là dịp hội làng với tinh thần tự nguyện, ý thức rõ trách nhiệm với việc làng. Bên cạnh đó, nhiều tổ chức, tín đồ thuộc tôn giáo khác cũng được ban tổ chức mời tham dự hội làng. Hội làng chính là dịp để các gia chủ mời họ hàng thân thích, bạn bè gần xa về tham dự. Có thể thấy rằng, quá trình đô thị hóa đã đem đến một không gian rộng mở cho các mối quan hệ của người dân những làng ven đô, tạo điều kiện để họ có thể xích lại gần nhau trong mối quan hệ cộng cảm, cộng mệnh.

Sự biến chuyển về kinh tế trong thời kỳ đổi mới mang lại cả những yếu tố tích cực và tiêu cực, một mặt giúp người dân ven đô có điều kiện chú trọng hơn đến các hoạt động văn hóa tinh thần, một mặt do áp lực công việc làm giảm thời gian, tâm, lực cho hoạt động cộng đồng. Việc tế lễ ở đình, đền phải tuân thủ theo quy tắc chặt chẽ vì thế người tham gia trong các ban tế lễ, ban chấp sự phải học chi tiết, tỉ mỉ. Để có cách đi đứng khoan thai, các động tác đều, đẹp, nhịp nhàng, thời gian luyện tập có khi kéo dài hàng tháng. Nhưng hiện nay, do sức ép công việc mà thời gian luyện tập được rút ngắn đáng kể.

Trong bối cảnh mới tâm lý đương thời cũng ảnh hưởng rất nhiều đến quan niệm, thái độ của những người tham gia vào việc phụng sự nhà thánh cũng như đến với lễ hội. Phần đông người tham gia vẫn có niềm tin vào sự linh thiêng, phù trợ của đức thánh. Theo tục lệ, hầu hết các làng thờ Lý Nam Đế đều có một số kiêng kỵ như: kiêng tên húy của vua, kiêng sử dụng màu vàng tía, màu đỏ (màu áo của thánh)… Nếu ai vi phạm sẽ bị làng phạt vạ, ảnh hưởng tới uy tín của gia đình, dòng họ. Chính vì vậy, mọi người đều cố gắng tuân thủ những quy định của cộng đồng làng xã. Ngày nay, những người vi phạm chỉ bị nhắc nhở, khiển trách.

Ta có thể bắt gặp không ít sự lai tạp, pha trộn của các yếu tố hiện đại không phù hợp với truyền thống trong lễ hội thờ Lý Nam Đế ở ven đô Hà Nội. Trong đoàn rước, có quá nhiều trang phục hiện đại, những chiếc áo sơ mi, giày da, giày thể thao được vận cùng với trang phục truyền thống không mấy phù hợp, nhiều người ăn mặc xộc xệch, thiếu nghiêm túc. Trong khi rước, các hàng đô vẫn chạy ngược chạy xuôi hay nói chuyện bàn tán sôi nổi. Người tham gia lễ hội cười đùa, trò chuyện, trêu ghẹo nhau. Tính áp chế của cộng đồng giảm xuống, dẫn đến sự tùy tiện, bất tuân lệnh trong lời nói, hành động… của những người tham gia đó làm giảm đi tính thiêng liêng, vẻ trang nghiêm của lễ hội.

Bên cạnh những người đến với lễ hội bằng niềm tôn kính, tưởng nhớ tới công lao của đức vua Lý Nam Đế thì không ít người coi đó như một dịp để vui chơi, giải trí đơn thuần, không để tâm tới chiều sâu tâm linh, ý nghĩa của việc phụng thờ. Nhiều người đến với lễ hội với tâm lý thực dụng, đồng tiền đã bắt đầu len lỏi vào trong những hoạt động thiêng liêng của việc phụng thờ đức thánh. Trước đây, nếu ai được phân công làm việc nhà thánh là một điều rất vinh dự, tự hào. Gia đình tự chuẩn bị sắm sửa quần áo, khăn lụa đỏ để con cháu tham gia lễ hội. Nhà nào được phân công làm cỗ thì che rạp mời nhân dân đến làm cùng. Nội tộc thân tình phải đến hỏi han trước nửa tháng, có thể trợ giúp về kinh tế để lo chu toàn hơn. Tất cả đều hoàn toàn tự nguyện với tinh thần, trách nhiệm cao. Nhưng ngày nay, tất cả đều được quy bằng tiền với sự trả công rõ ràng.

Người dân các làng ven đô Hà Nội trong quá trình chuyển đổi từ làng lên phố, từ người nông dân trở thành cư dân đô thị, từ nền kinh tế sản xuất nông nghiệp sang nền kinh tế đa ngành nghề một mặt đang nỗ lực để lưu giữ những giá trị văn hóa truyền thống, mặt khác thay đổi để thích nghi với bối cảnh xã hội đương đại. Hiện nay, người dân ở các làng ven đô vẫn luôn tin vào sự hiện diện, phù trợ của đức vua Lý Nam Đế đối với đời sống cộng đồng. Trong dịp lễ hội, những khuôn mẫu văn hóa truyền thống đã được duy trì, bảo tồn qua nhiều thế hệ để rồi được tái hiện một cách sinh động qua các lễ thức, trò diễn dân gian, tục hèm… Điều đó đã đưa lại cho người dân ý thức rõ rệt về đạo lý uống nước nhớ nguồn, truyền thống văn hóa tốt đẹp từ bao đời nay của dân tộc ta.

Nguồn : Tạp chí VHNT số 389, tháng 11-2016